Cơ hội để Mỹ tham gia UNCLOS


Theo geopoliticalmonitor.com, Tổng thống Mỹ Joe Biden đón tiếp các nhà lãnh đạo Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) từ ngày 12 – 13/5 tại Washington, báo hiệu nỗ lực của Washington trong việc can dự với châu Á – Thái Bình Dương trong bối cảnh cạnh tranh ảnh hưởng gia tăng với Trung Quốc ở khu vực này.

Trong khi căng thẳng giữa Washington và Bắc Kinh trở nên trầm trọng hơn do việc khởi động một số hiệp định thương mại châu Á. Hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN lần này mang đến cơ hội giúp xác thực Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của chính quyền Mỹ cũng như vạhc ra hướng đi trong tương lai của Mỹ với 10 quốc gia thành viên ASEAN.

Nếu một trong những mục tiêu của việc đăng cai tổ chức hội nghị ASEAN là nhằm đảo bảo sự tham gia của các nước vào một “Trật tự Mỹ đa đối tác ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” hoặc “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” để kiềm chế sức mạnh gia tăng của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, thì đây có phải là thời điểm tốt để Mỹ tham gia Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS).

Kể từ khi Washington điều chỉnh lại mối quan hệ chính sách đối ngoại của mình với Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) trong một phản ứng tập thể trước cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine, lợi ích của chính quyền Biden và lợi ích của Quốc hội có thể được thực hiện bằng cách đưa ra biểu quyết phê chuẩn UNCLOS – công cụ pháp lý được công nhận để xác định các vấn đề liên quan đến chủ quyền, lãnh hải, các quyền và nghĩa vụ của một quốc gia có biển.

Mặc dù hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN lần này là nhằm giải thích sứ mệnh của Mỹ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, với mục đích củng cố cam kết tuân thủ luật pháp quốc tế, nhưng việc phê chuẩn UNCLOS sẽ thuyết phục các nước ASEAN rằng Mỹ không chỉ đơn thuần đưa ra những lời hứa suông và những lời ngụy biện địa chính trị.

Các hoạt động gây hấn cũng như việc quân sự hóa các tiền đồn của Trung Quốc ở Biển Đông là đáng lo ngại hơn nhiều so với việc nêu bật sự cần thiết của việc Thượng viện Mỹ phải phê chuẩn UNCLOS. Hai tháng trước, Hạ viện Mỹ đã thông qua “Đạo luật Cạnh tranh Mỹ năm 2022” nhằm tăng khả năng cạnh tranh kinh tế và công nghệ của Mỹ với Trung Quốc.

UNCLOS đã được thông qua vào năm 1982 với 162 quốc gia, bao gồm cả Trung Quốc và Nga, là các bên ký hiệp ước quản lý các đại dương trên thế giới, trong khi đó Mỹ không tham gia. Những ủng hộ trong quá khứ từ các đời tổng thống Bill Clinton, Geroge W. Bush và Barack Obama đã không thể dẫn đến việc thông qua công ước này.

Một số nhà quan sát chính sách ở Washington không nghĩ rằng nghị quyết gần đây từ Hạ viện Mỹ là có hiệu quả. Ông Gregory Poling, một học giả cấp cao về Đông Nam Á và là Giám đốc Sáng kiến minh bạch hàng hải (AMTI) thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) có trụ sở tại Washington cho biết: “Chính quyèn Biden tỏ ra không quan tâm đến việc xem xét lại công ước này, và ngay cả khi họ làm vậy, nó cũng sẽ bị bác bỏ. Lần cuối cùng có một nỗ lực như vậy là vào năm 2012 khi ông John Kerry đưa vấn đề này ra cho dù ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng vin và Đảng Dân chủ chiếm đa số 53 ghế tại Thượng viện”.

Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người ủng hộ lập luận rằng công ước này sẽ tạo thêm đòn bẩy cho Washington trong việc gây áp lực buộc các quốc gia khác phải làm điều tương tự. Hải quân và Cảnh sát biển Mỹ phần lớn tuân theo các quy tắc hàng hải mà công ước này đưa ra.

Đã đến lúc gạt chính trị đảng phái sang một bên và tập trung vào lợi ích quốc gia. Trong khi Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ tiếp tục củng cố quyền tự do ở vùng biển tranh chấp trên Biển Đông, nhưng UNCLOS xác định giới hạn lãnh hải của một quốc gia và thiết lập các quy tắc rõ ràng cho quá trình đi lại qua “các eo biển quốc tế” và “các Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ)”. Với việc phê chuẩn công ước này, Mỹ sẽ có tư cách pháp lý để đưa bất kỳ khiếu nại nào lên cơ quan giải quyết tranh chấp quốc tế và do đó tránh được sự đối đầu có thể xảy ra với lực lượng hải quân và tàu đánh cá bán quân sự của Trung Quốc ở Quần đảo Trường Sa.

Ngày càng có nhiều sự đồng thuận trong giới lãnh đạo Bộ Quốc phòng Mỹ, các giám đốc điều hành Phòng Thương mại Mỹ, các chuyên gia về dầu khí, chính sách đại dương và các nhóm môi trường ủng hộ việc phê chuẩn công ước này tại Thượng viện.

Hiện tại, Mỹ công nhận hầu hết các phần của UNCLOS là luật tập quán quốc tế, nhưng đó là vị trí yếu hơn nhiều so với việc phê chuẩn và là điều khiến Mỹ luôn hứng chịu sự chỉ trích từ Trung Quốc, một bên ký công ước. Đối với nhiều nhà lãnh đạo ASEAN, việc Mỹ không ký UNCLOS sẽ làm suy yếu các cam kết của nước này ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) của Mỹ và các hoạt động đấu tranh, ngăn chặn đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không được kiểm soát (IUFF), vốn là những thách thức đối với luật pháp quốc tế, sẽ bị suy yếu do việc không phê chuẩn công ước.

Chính sách đối ngoại của Mỹ đã nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa đa phương và bác bỏ những nỗ lực do Bắc Kinh dẫn đầu nhằm giải quyết các vấn đề lãnh hải trên Biển Đông với các quốc gia Đông Nam Á. Chắc chắn, Mỹ sẽ đánh mất nền tảng đạo đức nếu không phê chuẩn cơ chế toàn diện nhất cho giải pháp đa phương này đối với các tranh chấp hàng hải.

Hơn nữa, công ước này sẽ cung cấp sự hợp tác chính thức với các quốc gia khác, vì hầu hết các đòng minh, láng giềng và bạn bè của Mỹ đều là thành viên của UNCLOS. Câu thần chú chính trị là rất rõ ràng và đơn giản: Mỹ yêu cầu quyền tự do tối đa cho cả tàu hải quân và tàu thương mại di chuyển và hoạt động ngoài khơi bờ biển nước ngoài mà không bị can thiệp.

Mỹ khẳng định quyền tự do hàng hải thông qua luật quốc tế. Việc phê chuẩn UNCLOS sẽ cho phép Mỹ lấy lại vị trí chiến lược đúng đắn của mình ở Thái Bình Dương và biến những lời nói thành hành động.

Cũng giống như thế giới đang theo dõi và chờ đợi hành động và lời  nói của Mỹ hội tụ như thế nào để giúp Ukraine, Mỹ cũng bắt buộc phải đưa ra quyết định táo bạo khi phê chuẩn UNCLOS để thể hiện cam kết làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác với các quốc gia Đông Nam Á.

Nguồn: TKNB – 12/05/2022

Việt Nam vẫn duy trì án tử hình


Theo đài BBC, trong báo cáo năm 2021 của Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International – AI), Việt Nam, Trung Quốc và Triều Tiên là những quốc gia luôn che giấu thông tin thật về số trường hợp bị kết án tử hình. AI cho biết họ chỉ có “một phần” số liệu, do chính quyền Việt Nam không công bố số liệu đầy đủ. Tổ chức này nói rằng hàng trăm người tiếp tục bị kết án tử hình mỗi năm tại Việt Nam trong khi xu thế chung trên thế giới là xóa bỏ án tử hình.

Theo báo cáo “Tử hình 2021: Sự thật và Số liệu” do AI thực hiện, khoảng 1200 tù nhân bị kết án tử hình tại Việt Nam tính đến cuối năm 2021. AI dẫn nguồn từ Cổng thông tin Điện tử Chính phủ Việt Nam ngày 11/9/2021 cho biết, chỉ trong khoảng 9 tháng (từ 01/10/2020 đến 31/07/2021), số trường hợp bị kết án tử hình ở Việt Nam tăng 30%.

Trả lời BBC News Tiếng Việt, bà Chiara Sangiorgio, chuyên gia về vấn đề kết án tử hình từ AI cho rằng việc thiếu khả năng tiếp cận thông tin đã khiến tổ chức này gặp rất nhiều thách thức trong việc giám sát quá trình kết án và thực thi án tử hình tại Việt Nam. Bà Chiara Sangiorgio cho biết: “Chúng tôi đang có những quan ngại về tính công bằng trong thủ tục tố tụng đối với một số vụ xử án ở Việt Nam. Những gì chúng tôi biết thật sự mang tính báo động. Chính quyền Việt Nam cho biết có việc tăng mức án tử hình trong khoảng thời gian từ 01/10/2020 đến 31/07/2021, số lượng người tử tăng cũng là vấn đề. Có hơn 1200 chỗ giam người bị kết án tử hình và có 11 nhà thi hành án tử hình bằng thuốc độc tại Việt Nam”.

Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức theo dõi nhân quyền – Human Rights Watch (HRW) cho rằng: “Việt Nam tiếp tục là một trong những quốc gia kết án tử hình cao trên thế giới, vượt qua các quốc gia trong khối ASEAN, xét về số lượng người bị kết án tử hình. Tuy nhiên, tương đối ít người ý thức được điều này vì chính phủ Việt Nam giữ bí mật thông tin và che giấu cộng đồng quốc tế”.

Nhiều nước xóa bỏ án tử hình

Theo AI, không thể biện minh việc tử hình như một hình thức răn đe tội phạm, nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tử hình không có khả năng răn đe độc nhất. Năm 2017, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Guterres từng nói rằng: “Tử hình không có chỗ trong thế kỷ 21”.

Bà Chiara Sangiorgio cho biết: “2/3 số quốc gia trên thế giới đều đã xóa bỏ hình thức tử hình hoặc không còn sử dụng nữa…”.

Theo bà Chiara Sangiorgio, vụ án Hồ Duy Hải bị y án tử hình mà AI đang theo dõi là điển hình trong nhiều vụ án xét xử oan sai tại Việt Nam: “Những hình phạt tử hình ở Việt Nam liên quan đến ma túy hay phạm tội kinh tế đều không phải là các loại tội đặc biệt nghiêm trọng. Theo những gì chúng tôi có thể giám sát thì có nhiều trường hợp tử hình trong năm ngoái liên quan đến ma túy”.

Theo AI, hiện có 108 quốc gia đã xóa bỏ hoàn toàn án tử hình cho tất cả các loại tội phạm; 55 nước vẫn còn duy trì án tử hình.

Theo Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc ngày 25/4, việc bãi bỏ hình phạt tử hình là “cần thiết để nâng cao phẩm giá con người và cho tiến trình phát triển”.

Xu thế nào cho Việt Nam?

Theo Liên hợp quốc, Việt Nam thuộc số ít các quốc gia vẫn duy trì án tử hình, phần lớn từ niềm tin rằng hình thức này có thể giúp ngăn chặn được tội phạm.

Vấn đề duy trì hay xóa bỏ án tử hình đã được tranh luận tại Việt Nam trong nhiều năm qua và có một số nghiên cứu được thực hiện. Nghiên cứu do Phó Giáo sư Vũ Công Giao và Tiến sĩ Nguyễn Quang Đức, từ Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện vào năm 2021 chỉ ra rằng: “Việt Nam còn duy trì án tử hình nhưng chỉ áp dụng đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng. Dù vẫn là quốc gia duy trì hình phạt tử hình trong pháp luật, nhưng số lượng tội danh bị kết án tử hình trong Bộ luật Hình sự Việt Nam đã giảm liên tục từ năm 1999. Điều đó cho thấy, Việt Nam đang đi theo xu hướng chung của thế giới là giảm bớt hình phạt này”.

Phó Giáo sư Vũ Công Giao và Tiến sĩ Nguyễn Quang Đức cho biết những yếu tố gây trở ngại cho việc xóa bỏ hình phạt tử hình ở Việt Nam là do hiểu biết thiếu chính xác về tác dụng của hình phạt tử hình và tâm lý báo thù: “Giống như nhiều dân tộc khác, người Việt Nam thường biện minh cho việc áp dụng án tử hình trên cơ sở “chủ nghĩa trừng phạt”, thể hiện qua quan điểm “lấy mạng đền mạng”, vốn ăn sâu cả vào văn học dân gian của Việt Nam. Dấu ấn của tâm lý báo thù trong văn hóa hiện nay vẫn còn thể hiện qua nhận thức của người dân Việt Nam về hình phạt tử hình”.

Nghiên cứu cũng đề cập khả năng: “Việt Nam vẫn sẽ theo xu hướng giảm hình phạt tử hình trong pháp luật và việc giảm áp dụng hình phạt này trong thực tế. Mặc dù vậy, đây sẽ không phải là một sự thay đổi nhanh chóng trong thời gian ngắn do vẫn còn thiếu động lực về duy trì hình phạt này”.

Theo ông Phil Robertson, các nhà ngoại giao của Liên hợp quốc nên gây sức ép để Hà Nội ngay lập tức cải tiến Bộ luật Hình sự, nhằm loại trừ tất cả các điều luật dẫn đến tử hình và thay đổi mức án tử hình cho những người đã bị kết tội.

Bà Chiara Sangiorgio cho biết: “Chúng tôi khuyến khích chính quyền Việt Nam ngay lập tức thay đổi lộ trình và bỏ ngay hình phạt tàn bạo này mãi mãi; cùng với các nước trong khu vực bãi bỏ hình thức xử tử hoặc cân nhắc cải cách”.

Luật sư Đặng Đình Mạnh không tán thành hình phạt tử hình, cho rằng: “Hình phạt được tuyên bởi những thẩm phán, họ là ocn người nên hoàn toàn có thể phạm sai lầm. Nếu phạm sai lầm dẫn đến tử hình oan thì điều đó không thể sửa chữa, khắc phục được. Cho nên, tôi vẫn mong Nhà nước Việt Nam sớm xem xét tu chỉnh luật hình sự Việt Nam, theo đó, cho bãi bỏ hình phạt tử hình. Điều này, cũng phù hợp với quan điểm xét xử hình sự chung mà thế giới đang đeo đuổi”.

Trong khi đó, Phó Giáo sư Đặng Minh Tuấn, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: “Việt Nam cần công khai dữ liệu tử hình sớm nhất có thể để cung cấp sự minh bạch cho công chúng. Việc bãi bỏ án tử hình ở Việt Nam chỉ diễn ra khi nhận thức của người dân về hình phạt này thay đổi. Song song với đó thì giới học thuật và các nhà làm luật cần phải nghiên cứu sâu hơn về những hình phạt thay thế có thể áp dụng trong tương lai. Những hình phạt này phải thỏa mãn những yêu cầu về kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội của Việt Nam, đồng thời đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa của luật hình sự”.

Án tử hình ở các nước ASEAN

Bà Chiara Sangiorgio cho rằng trong nội bộ ASEAN đã có những tiến bộ đáng kể trong những năm gần đây: “Malaysia đã đình chỉ tạm thời việc áp dụng và thi hành án tử hình. Chính phủ nước này cũng đã công bố các cải cách hợp lý. Thái Lan cũng đã giảm số người chịu án tử hình từ 551 xuống còn 158 trường hợp vào năm 2021. Tuy nhiên, cũng còn 2 quốc gia trong ASEAN vẫn có án tử hình. Singapore vào những năm gần đây vẫn giới hạn số lượng không lớn mỗi năm, dựa theo số liệu chính thức, trong khi Việt Nam thì vẫn không thể biết con số chính thức được”.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Philippines cân nhắc tiếp tục kiện Trung Quốc về Biển Đông


Trang Maritime Fairtrade, trụ sở tại Singapore ngày 13/4 đăng bài cho biết các luật sư hàng đầu của Philippines đang hối thúc chính phủ nước này đệ đơn kiện Bắc Kinh tương tự như vụ Manila đã thắng kiện tại Tòa trọng tài thường trực (PCA) năm 2016.

Tranh chấp hàng hải giữa Trung Quốc và Philippines lại bùng phát khi tàu tuần duyên Trung Quốc (CCG) thực hiện các thao tác nguy hiểm và thiếu chuyên nghiệp gần tàu của Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines (PCG) tại bãi cạn Scarborough hôm 2/3. PCG cho biết đây là lần thứ tư một tàu của CCG thực hiện hành động nguy hiểm được cho là vi phạm Quy định quốc tế về phòng ngừa va chạm trên biển năm 1972.

Thẩm phán Tòa án tối cao Philippines đã nghỉ hưu Antonio Carpio, một trong những luật sư đứng sau vụ PCA, cho biết một vụ trọng tài khác có thể dẫn đến các quy định cơ bản ở bãi cạn Scarborough, cũng như bồi thường thiệt hại cho ngư dân Philippines.

Ngư trường chung

Ông Carpio giải thích rằng bãi cạn Scarborough đã được xác định là ngư trường chung của Philippines, Trung Quốc và Việt Nam theo phán quyết của PCA năm 2016: “Nếu đó là ngư trường chung, điều đầu tiên cần làm là thống nhất các quy tắc trên thực địa. Phải có các quy tắc cơ bản nhưng Trung Quốc thậm chí từ chối thảo luận về điều này. Chúng ta có thể yêu cầu Việt Nam tham gia cuộc phân xử đó để chúng tôi có thêm nhiều quốc gia đứng về phía mình… Chúng ta có thể cô lập Trung Quốc bằng cách lôi kéo dư luận thế giới đứng về phía chúng ta và đó nên là chiến lược kỹ lưỡng. Những gì chúng ta có thể làm là thực hiện một vụ kiện khác để buộc Trung Quốc đồng ý với các quy tắc cơ bản. Chúng ta sẽ định lượng thiệt hại của ngư dân vì họ không thể tự do đánh bắt ở đó. Chúng ta sẽ định lượng thiệt hại và yêu cầu bối thường”.

Ngay sau khi vụ việc xảy ra, Philippines đã nối lại các cuộc tập trận với Mỹ và tiến hành cuộc tập trận quy mô lớn Balikatan với sự tham gia của gần 9000 binh sĩ Philippines và Mỹ. Cuộc tập trận kéo dài hơn 12 ngày.

Các cuộc tập trận quân sự trước đó, vốn bị đình chỉ khi Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte tuyên bố xoay trục sang Trung Quốc, tập trung vào xung đột tiềm tàng ở Biển Đông.

Tiếp tục tuần tra bảo vệ bờ biển

Tuy nhiên, Phó Đô đốc Artemio Abu, chỉ huy của PCG, cho biết PCG sẽ tiếp tục triển khai tài sản và lực lượng trong khu vực: “Chúng tôi hoàn toàn nhận thức được các tình huống nguy hiểm trên biển, song những điều này sẽ không ngăn cản việc triển khai tài sản và nhân sự của chúng tôi ở Scarborough và các khu vực khác trong vùng đặc quyền kinh tế của chúng tôi”.

Vi phạm luật pháp quốc tế

Tuy nhiên, ông Abu nhấn mạnh vụ việc cho thấy Trung Quốc đã vi phạm rõ ràng Quy định quốc tế về ngăn ngừa va chạm trên biển năm 1972. Ông Albert del Rosario, cựu Ngoại trưởng Philippines, cũng cho rằng hành động của CCG là “có chủ ý, ác ý và vi phạm luật và thỏa thuận hàng hải quốc tế”.

Del Rosario, người dẫn đầu nhóm Philippines trong cuộc phân xử của PCA, cho biết Trung Quốc đã bất chấp thỏa thuận trong khuôn khổ của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), gồm các quy định quốc tế năm 1972.

Thượng nghị sĩ Philippines Grace Poe cũng ca ngợi PCG đã tích cực tuần tra vùng biển Philippines và ngay lập tức báo cáo vụ việc cho các cơ quan hữu quan: “Sự hiện diện của CCG gây ra rủi ro cho sự an toàn của hàng hải và cản trở quyền của người dân Philippines được hưởng lợi từ tài nguyên biển trong vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta”.

Bất chấp sự hiện diện đều đặn của Trung Quốc ở bãi cạn Scarborough, ngày càng nhiều ngư dân Philippines đánh bắt trong khu vực này. Người phát ngôn, PCG Armand Balilo cho biết dù số lượng ngư dân Philippines tăng lên, song cũng có nhiều người Việt Nam hơn trong khu vực này: “Hiện chưa có bất kỳ số liệu nào, song dựa trên quan sát của chúng tôi, có vẻ như có nhiều ngư dân Việt Nam hơn. Có cả người Trung Quốc nữa”.

Về phần mình, ông Abu coi sự hiện diện ngày càng nhiều của ngư dân Philippines là một cột mốc quan trọng để thúc đẩy an ninh và an toàn hàng hải ở bãi Scarborough: “Nhiều tàu đánh cá Philippines hơn ở bãi Scarborough là bằng chứng về những nỗ lực của chúng tôi nhằm bảo vệ ngư dân Philippines, những người coi đánh bắt cá là nguồn sinh kế chính của họ”.

PCG cũng đảm bảo với các ngư dân Philippines rằng họ sẽ vẫn hoạt động và hiện diện trong khu vực: “Đó là lý do tại sao chúng tôi có các hoạt động tuần tra. Nhiệm vụ của chúng tôi là theo dõi ngư dân Philippines và kiểm tra tình trạng của họ trong khi họ đang tiến hành các hoạt động đánh bắt”.

Balilo cũng đảm bảo rằng các tàu PCG sẽ tiếp tục tuần tra Bãi Scarborough và các vùng biển khác của Philippines: “Chúng tôi tranh thủ thời tiết tốt, dù ở Tây Trường Sa, chúng tôi cũng cho tàu triển khai ở đó. Chúng tôi đang song hành với Cục Nghề cá và nguồn lợi thủy sản”.

Kêu gọi tự do hàng hải ở Biển Đông

Nhóm ngư dân Pamalakaya cũng khẳng định rằng Trung Quốc nên “công nhận và tôn trọng quyền đánh bắt của ngư dân Philippines ở Biển Tây Philippines (Biển Đông)”.

Người phát ngôn Ronnel Arambulo của Pamalakaya cho biết: “Chúng tôi ủng hộ mọi lời kêu gọi công nhận và thực thi quyền tự do hàng hải, đặc biệt là quyền đánh bắt cá ở Biển Tây Philippines. Chính Bắc Kinh nên bị buộc phải tuân theo phán quyết của trọng tài quốc tế đã vô hiệu hóa yêu sách “đường 9 đoạn” của họ. Bắc Kinh không có quyền ra lệnh cho ai có thể ở lại và ai sẽ bị đẩy ra khỏi vùng biển mà họ không có yêu sách chính trị và pháp lý. Bất kỳ hành động không đúng mực nào từ các lực lượng Trung Quốc sẽ phải đối mặt với các hành động ngoại giao, tập thể và mạnh mẽ từ những ngư dân của chúng tôi”.

Nguồn: TKNB – 15/04/2022

Lý do người dân Đông Á, Đông Nam Á cần hiểu biết về luật biển quốc tế


Theo bài viết trên trang lowyinstitute.org ngày 6/4, để ứng phó với những mưu đồ của Bắc Kinh tại Biển Đông, những quốc gia nhỏ hơn trong khu vực đã mở rộng và hiện đại hóa các lực lượng bảo vệ bờ biển hoặc những lực lượng hải quân và không quân bảo vệ biển của mình. Điều cần làm lúc này là phổ biến hệ thống quốc tế hiện nay để thiết lập luật lệ và trật tự hàng hải. Cho dù xét theo luật lệ và nguyên tắc hay xét theo những hoạt động thực sự trên biển, các quốc gia thường hành động với biện minh rằng hành động đó là nhằm bảo vệ lợi ích của người dân trong nước của họ. Vì vậy, điều cần làm đối với các nước này là nâng cao nhận thức của người dân trong nước về hệ thống luật lệ quốc tế và UNCLOS, để họ hiểu rằng đây là những công cụ cần thiết để thiết lập một trật tự hàng hải công bằng, hợp lý và có lợi.

Về mặt lý thuyết, luật lệ quốc tế hiện hành, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) có thể cung cấp phần lớn giải pháp đối với những mâu thuẫn và xung đột lợi ích này. UNCLOS bao gồm những quy định và luật lệ cơ bản để giải quyết những tuyên bố chủ quyền chồng lấn giữa các nước có tranh chấp lãnh hải. Do đó, tồn tại một mối liên hệ trực tiếp giữa việc duy trì và củng cố luật lệ và trật tự hàng hải quốc tế và việc theo đuổi và bảo vệ hệ thống luật lệ vốn được đưa ra trong UNCLOS. Tuy nhiên, cần có một cách tiếp cận thận trọng giữa việc khích lệ chủ nghĩa đươn phương và thúc đẩy chủ nghĩa đa phương nhằm giải quyết những nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng hỗn loạn và xáo trộn trong quá trình áp dụng và triển khai luật lệ và trật tự hàng hải.

Thông thường, giới học giả, chuyên gia và quan chức chính phủ có hiểu biết sâu rộng về những vấn đề liên quan đến hệ thống quốc tế và UNCLOS. Tuy nhiên, công dân của các chính phủ này cũng cần nắm bắt và hiểu biết những hệ thống luật lệ này, nhất là cộng đồng ngư dân của các nước đó, để toàn bộ người dân trong nước có thể hiểu được đầy đủ lý do và tác động khi các chính phủ của họ đưa ra những chính sách và hành động vốn được biện minh là đại diện cho người dân.

Cho dù những hoạt động của chính phủ có thể là một cuộc đấu khẩu căng thẳng về mặt ngoại giao hay một cuộc tập trận mang tính hợp tác với các nước khác, thì người dân của họ cần hiểu rõ những lợi ích của việc duy trì hệ thống luật lệ quốc tế hiện hành mà cốt lõi là UNCLOS. Giới học giả và chuyên gia cần phổ biến những diễn giải của mình đến đông đảo người dân, chứ không nên chỉ bó hẹp đối với giới chức chính phủ và các lực lượng chức trách trên biển.

Quá trình phổ biến kiến thức và hiểu biết về luật lệ quốc tế đối với người dân cần tiến hành một cách khẩn trương hơn và đòi hỏi này có thể thực hiện được, nhất là nhờ khả năng phát tán thông tin hiện nay thông qua các phương tiện truyền thông hiện đại. Sự hiện diện phổ quát của mạng xã hội cùng với sự hiểu biết và khả năng nhạy bén ngày càng gia tăng của người dân đối với những tranh chấp lãnh hải không còn là điều mới mẻ ở khu vực Đông Á. Tuy nhiên, nếu không có sự hướng dẫn và chỉ đạo tích cực với luồng thông tin phù hợp, thì người dân sẽ có xu hướng phát triển quan điểm dân tộc chủ nghĩa hoặc quan điểm thiển cận. Hệ quả là những người dân này có thể muốn các nước khác thì đơn giản tuân thủ những yêu cầu và quan điểm của họ mà không nhận thức được rằng họ cũng cần phải cân bằng và thỏa hiệp lợi ích theo cách phù hợp với hệ thống luật lệ vốn được thiết lập nhằm đạt được mục đích cân bằng đó.

Nhằm ngăn chặn những xu hướng này, điều cần thiết là đảm bảo rằng các kế hoạch và chương trình nâng cao nhận thức cho người dân cũng cần phải thúc đẩy quan điểm và hiểu biết mang tính quốc tế rộng lớn cho người dân, để họ đóng vai trò là những thành viên của những quốc gia thực sự tồn tại theo một hệ thống luật lệ quốc tế được công nhận. Nói cách khác, việc nâng cao nhận thức cộng đồng phải đi kèm với việc trang bị cho họ một thế giới quan mang bản chất quốc tế chủ nghĩa mở rộng. Đây là cách thức để giải quyết xu hướng người dân các nước có thể đi theo quan điểm chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa đơn phương đối với những vấn đề chung của các quốc gia.

Chắc chắn, các nước nhỏ hơn ở Đông Á cần phải ủng hộ nhiều hơn đối với trật tự luật pháp đa phương và thực tế vốn được UNCLOS và hệ thống luật pháp quốc tế hiện hành đề cập. Do đó, những nỗ lực theo hướng này có thể sẽ được hoan nghênh và sẽ thu hút được nhiều động lực và cổ vũ hơn nữa trong những năm tới.

Nguồn: TKNB – 08/04/2022

Tăng cường thực thi pháp luật hàng hải ở Đông Nam Á và Biển Đông


Trang tin của Viện Chính sách Chiến lược Australia (ASPI) ngày 4/2 đăng bài viết của Giáo sư Michael Heazle, Đại học Griffith, nêu một số đánh giá và giải pháp đáng chú ý nhằm tăng cường thực thi pháp luật hàng hải ở Đông Nam Á và Biển Đông. Sau đây là nội dung bài viết:

5 năm rưỡi trôi qua kể từ khi Tòa Trọng tài quốc tế bác bỏ yêu sách chủ quyền rộng lớn trên Biển Đông của Trung Quốc hồi tháng 7/2016, trật tự hàng hải quốc tế ở Đông Á rõ ràng vẫn đang gặp khó khăn. Trung Quốc tiếp tục củng cố quyền kiểm soát đối với quần đảo Hoàng Sa và phần lớn các đảo Trường Sa cũng như gia tăng các hoạt động xâm phạm các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) được công nhận của hầu hết các quốc gia ven Biển Đông mà hầu như không phải chịu sự trừng phạt nào.

Đặc biệt, Philippines và Việt Nam đã phải hứng chịu nhiều hành động xâm nhập của Trung Quốc; quần đảo Natuna của Indonesia và gần đây là EEZ của Malaysia cũng đã rơi vào tầm ngắm của Trung Quốc khi nước này nỗ lực kiểm soát vùng biển phía Nam của chuỗi đảo đầu tiên.

Trật tự hàng hải của khu vực theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) là trọng tâm của trật tự dựa trên luật lệ mà Australia, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ và các quốc gia có cùng chí hướng khác đã xác định là yếu tố chủ chốt của an ninh và thịnh vượng của khu vực. Tuy nhiên, các chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc vẫn tiếp tục diễn ra, làm suy yếu hiệu lực và tính liên quan của UNCLOS trong bối cảnh trong khu vực chưa có một lập trường phối hợp và thống nhất ủng hộ các quy định và hiệu lực của UNCLOS cả trên nguyên tắc và thực tế.

Các tác động rộng lớn hơn của việc Trung Quốc tiếp tục đơn phương áp đặt luật hàng hải của mình với các quốc gia khác, từ chối quyền được đánh bắt cá và các quyền hàng hải khác của các quốc gia khác, tạo ra lý do thuyết phục cho các quốc gia thành viên Đối thoại An ninh Bốn bên (Nhóm “Bộ Tứ”) và các quốc gia khác phải nỗ lực hơn trong việc đảm bảo các quyền và lợi ích của tất cả các quốc gia ven Biển Đông được quy định bởi UNCLOS được bảo vệ. Các mối đe dọa không chỉ là sự xói mòn hơn nữa tính hiệu lực và hợp pháp của trật tự dựa trên luật lệ có thể tới mức không thể khắc phục được, mà còn là sự gia tăng đáng kể đòn bẩy kinh tế và chính trị của Bắc Kinh đối với nhiều quốc gia Đông Nam Á vốn phụ thuộc vào đánh bắt hải sản, khai thác năng lượng, và các quyền chủ quyền khác mà Trung Quốc đang tìm cách kiểm soát.

Cho phép Bắc Kinh mở rộng hơn nữa sự hiện diện và ảnh hưởng đáng kể của mình ở Biển Đông sẽ khiến Australia, Nhật Bản và Mỹ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tăng cường sự ủng hộ ngoại giao trong khu vực trước các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông và những nơi khác, khiến xung đột quân sự giữa các cường quốc trong khu vực dễ xảy ra hơn.

Vai trò của ASEAN trong việc giải quyết các tranh chấp vẫn bị ảnh hưởng bởi sự chia rẽ nội bộ về trách nhiệm của khối với tư cách là một thể chế khu vực trong việc bảo vệ các quyền hàng hải của các quốc gia thành viên, bất chấp ASEAN đã đưa ra không ít tuyên bố khẳng định UNCLOS là cơ sở để giải quyết các tranh chấp về quyền hàng hải. Nhiều thành viên ASEAN lo sợ về hậu quả của việc buộc phải lựa chọn giữa Mỹ và Trung Quốc, về việc ASEAN bị gạt ra rìa trong nền chính trị nước lớn ngay tại khu vực “sân sau” của mình, và về việc khu vực này bị quân sự hóa hơn và dễ xảy ra xung đột hơn.

Việc ASEAN thiếu lập trường và phản ứng thống nhất trước các yêu sách của Trung Quốc cũng được giải thích là do lập trường “trung dung” của các quốc gia thành viên không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các tranh chấp ở Biển Đông hoặc các nhóm tinh hoa chính trị và kinh doanh của một số nước ưu tiên lợi ích của việc không chống đối Bắc Kinh. Hơn nữa, việc các nước có tranh chấp biển trong ASEAN còn có những cách giải thích khác nhau về các điều khoản UNCLOS cũng là một trở ngại nữa cho việc xây dựng một lập trường chung của ASEAN.

Nhưng trước các hành vi hung hăng của Bắc Kinh, các dấu hiệu về sự sẵn sàng hợp tác nhiều hơn về thực thi pháp luật hàng hải và các vấn đề hàng hải khác đã bắt đầu xuất hiện giữa các quốc gia ven biển ASEAN. Vào năm 2014, chính phủ hai nước Indonesia và Philippines đã đạt thỏa thuận về EEZ chồng lấn ở Biển Celebes. Việt Nam, Indonesia và Malaysia đang có kế hoạch ký một biên bản ghi nhớ về hợp tác an ninh hàng hải, giải quyết một số vấn đề, bao gồm cả việc đánh bắt cá trái phép của Việt Nam trong vùng biển của Malaysia. Trong khi đó, Việt Nam và Indonesia đang tiếp tục đàm phán để thiết lập lập ranh giới tạm thời tại các khu vực chồng lấn của vùng đặc quyền kinh tế mà họ yêu sách ở Biển Bắc Natuna; vào tháng 12 năm ngoái, hai nước đã ký một bản ghi nhớ cam kết cải thiện hợp tác về an ninh và an toàn hàng hải.

Các thỏa thuận song phương này được coi là sự khẳng định quyền hàng hải của các bên và sự bác bỏ rõ ràng các yêu sách “đường 9 đoạn” phi pháp của Trung Quốc.

Việc Bắc Kinh triển khai các tàu dân quân tham gia đánh bắt hải sản khiến Trung Quốc bị nghi ngờ tiến hành đánh bắt cá bất hợp pháp và do đó cũng hợp pháp hóa các hoạt động thực thi pháp luật hàng hải phù hợp với UNCLOS. Vì vậy, vấn đề đánh bắt cá bất hợp pháp, không được báo cáo và không được kiểm soát lâu nay ở Biển Đông có thể mang đến cơ hội lớn cho các quốc gia ở Biển Đông bị đe dọa nhiều nhất từ các yêu sách hàng hải phi pháp của Trung Quốc, bao gồm Philippines, Việt Nam, Malaysia và Indonesia, cùng nhau phát triển một cách thức phi quân sự dựa trên UNCLOS để đẩy lùi các tuyên bố chủ quyền và chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc, với sự hỗ trợ nâng cao năng lực và pháp lý nhiều hơn từ các quốc gia Nhóm “Bộ Tứ”.

Làm như vậy sẽ đảm bảo rằng các bên trong khu vực, thay vì bên ngoài, đi đầu trong việc duy trì và khẳng định các quyền hàng hải. Điều này cũng sẽ cung cấp một sự khẳng định rõ ràng và rộng rãi về hiệu lực và tính liên quan của UNCLOS, đồng thời buộc Trung Quốc chịu trách nhiệm cho bất kỳ sự leo thang quân sự nào bằng cách áp đặt các tình huống “vùng xám” khó xử cho giới lãnh đạo của Trung Quốc, đặc biệt là về các tính toán ngưỡng xung đột của chính nước này.

Bên cạnh mối đe dọa địa chiến lược của việc Trung Quốc chiếm Biển Đông gây ra, có một giải pháp thay thế cho việc quản lý mang tính hợp tác hơn các EEZ đặc quyền kinh tế và thực thi luật biển tốt hơn là Trung Quốc kiểm soát Biển Đông. Điều này sẽ làm mất đi nguồn tài nguyên và quyền tự do hàng hải của tất cả các quốc gia khác và làm cho bất kỳ kế hoạch quản lý hợp tác hoặc đa phương nào (chẳng hạn như thông qua một tổ chức quản lý nghề cá khu vực) đối với các nguồn tài nguyên và các quyền đó trở nên không cần thiết. Nguy cơ sụp đổ thảm khốc các nguồn hải sản lớn nhất trong khu vực do sự quản lý yếu kém của Trung Quốc, làm gia tăng cạnh tranh và xung đột, hoặc cả hai, sẽ tăng lên đáng kể. Một kết quả như vậy rất có thể đồng nghĩa với việc đánh bắt bất hợp pháp nhiều hơn ở các vùng biển vốn đã cạn kiệt của Đông Nam Á và ở các EEZ của các quốc gia khác, bao gồm cả Australia và Nhật Bản.

Bằng cách cùng nhau hỗ trợ Philippines, Malaysia, Việt Nam và Indonesia trong các nỗ lực quản lý và kiểm soát đánh bắt hải sản hiện quả hơn và các hoạt động hàng hải khác, các quốc gia trong Nhóm “Bộ Tứ” có thể gián tiếp đẩy lùi sự xâm phạm “vùng xám” của Trung Quốc đồng thời giúp các quốc gia ven biển quản lý tốt hơn mối đe dọa lâu nay đối với an ninh kinh tế xã hội và sự thịnh vượng trong tương lai của khu vực.

Nguồn: TKNB – 08/02/2022

Về việc trao quyền cho tỉnh chuyển đổi đất rừng mà không phải trình Thủ tướng


Theo đài RFA, trung tuần tháng 10/2021, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đã đại diện Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề xuất cho phép Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh được chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng để thực hiện các dự án mà không phải trình Thủ tướng chấp thuận.

Cũng tại buổi họp với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Trần Hồng Hà cho biết Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai, hoàn thiện quy định chuyển mục đích sử dụng đất, cho phép linh hoạt chuyển đổi cơ cấu cây trồng… để thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trao quyền cho UBND cấp tỉnh, thành phố.

Theo Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường: “Có thể trao quyền cho địa phương cấp tỉnh, bởi quyết định toàn bộ về đất đai hiện nay là UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định đối với các dự án đầu tư. Điều quan trọng là vấn đề kiểm soát của cấp Trung ương, tức kiểm soát của Chính phủ đối với các quyết định của UBND tỉnh và kiểm soát việc thực hiện của UBND cấp tỉnh như thế nào. Khâu đó, hiện nay là yếu nhất, còn thẩm quyền thì trao cho UBND cấp tỉnh là đúng và cũng phù hợp với pháp luật hiện hành.

Đất rừng và rừng phải là một, mà đất đã trao thẩm quyền cho UBND cấp tỉnh trước đây rồi. Chỉ có điều, hiện một số tỉnh làm đúng, một số tỉnh làm sai… Do đó, có thể xảy ra những sai sót ở cấp tỉnh làm câu chuyện chuyển đất rừng sang làm việc khác không phù hợp. Lúc này, điều quan trọng là có vai trò kiểm tra, thanh tra, quản lý chung của Chính phủ với các tỉnh phải như thế nào? Đây chính là khâu yếu nhất và là khâu phải kiện toàn”.

Ngày 27/10, Quốc hội khi thảo luận trực tuyến về dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An và Thừa Thiên Huế cũng đã nêu vấn đề cho phép UBND cấp tỉnh được chuyển mục đích sử dụng đất rừng để thực hiện các dự án mà không phải trình Thủ tướng chấp thuận.

Tại buổi thảo luận, một số đại biểu thuộc Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội, cho rằng việc phân cấp phải gắn với trách nhiệm cụ thể của từng cá nhân, tổ chức, trách nhiệm của người phân cấp phải gắn với trách nhiệm của người phân cấp và được phân cấp để đảm bảo công khai, minh bạch, tránh tiêu cực, thất thoát, lãng phí đất rừng.

Liên quan đến vấn đề này, Giáo sư Đặng Hùng Võ cho rằng: “Phân cấp thì phải gắn với quyền và trách nhiệm của từng cá nhân. Không phải chỉ phân cấp cho UBND cấp tỉnh thì tập thể lãnh đạo của UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm, cuối cùng sẽ không đâu vào đâu. BÍ thư của tỉnh, đảng bộ tỉnh chịu trách nhiệm gì về mặt lãnh đạo; Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm gì, hay Phó Chủ tịch phụ trách lâm nghiệp chịu trách nhiệm gì, cái này phải quy định rõ. Như vậy, mới có vai trò của cá nhân chịu trách nhiệm gì”.

Ngoài ra, một số đại biểu cũng cho rằng nên xem xét kỹ việc phân cấp này, đồng thời cần quy định chặt chẽ việc chuyển đổi phải đảm bảo phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất… Do đó, một số đại biểu đề nghị chỉ phân cấp theo hạn mức.

Theo quy định của luật đất đai hiện hành, thẩm quyền quyết định việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa 2 vụ trở lên với quy mô từ 10 ha đến dưới 500 ha và đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng với quy mô trên 50 ha, thẩm quyền điều chỉnh quy hoạch thuộc về Thủ tướng Chính phủ. Do vậy, cần đưa ra hạn mức phù hợp để UBND cấp tỉnh, thành phố có thể tự quyết định.

Liên quan đến vấn đề hạn mức chuyển đổi đất rừng, đất lúa mà lãnh đạo cấp tỉnh thành phố có thể tự quyết định, Giáo sư Đặng Hùng Võ cho rằng chưa phù hợp:

Chuyện hạn mức này đưa ra cũng không phù hợp vì theo luật đất đai đã trao thẩm quyền quyết định cho UBND cấp tỉnh, nhưng lại đặt ra một cơ chế “Thái Thượng Hoàng”, tức là cơ chế với diện tích lớn ở mức độ nào đó tùy theo đất lúa hay đất rừng, kể cả đến từng loại rừng, thì lại phải trình cơ quan có thẩm quyền cấp trên nữa, có thể là Quốc hội hay Thủ tướng Chính phủ… để cho phép thực hiện dự án đầu tư. Đây là cơ chế không cần thiết, vì thẩm quyền của ai được thực hiện đã nói rõ rồi, mà cơ sở thực hiện đã theo quy hoạch được thực hiện…”.

Tuy nhiên, một kỹ sư lâm nghiệp ở miền Trung không muốn nêu tên cho rằng, phải cận trọng và tùy trường hợp cụ thể, vì chủ trương chung là phải giữ rừng và đây cũng là quan điểm chính thống ở Việt Nam: “Bên cạnh đó, cũng có thể trong những trường hợp nhất định, mà thật sự cần thiết cho nhu cầu canh tác của dân tại một vùng nào đó, thì cũng có thể chuyển một số diện tích rừng, nhất là những cánh rừng hiện rơi vào tình trạng rừng nghèo không thể làm gì nữa, nhưng đây phải là những trường hợp thật sự đặc biệt. Việc xem xét của Quốc hội nên hay không nên, cần phải nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Ví dụ như mất rừng như vậy sẽ thiệt hại gì và đổi lại cái lợi gì?”

Vị kỹ sư lâm nghiệp này cho rằng, đối với từng trường hợp cụ thể phải xem xét bài toán “chi phí lợi ích” thật cẩn thận mới có thể ra quyết định. Những trường hợp phải thật sự đặc biệt, cái lợi phải được rất nhiều so với cái thiệt hại, kể cả về mặt rừng, cả về mặt tác động đến môi trường và vấn đề xã hội…

Nguồn: TKNB – 29/10/2021.

Kiểm duyệt phim và vai trò của nghệ thuật điện ảnh đối với đời sống và xã hội


Theo đài BBC, cuộc thảo luận ngày 14/9 của các đại biểu Quốc hội về dự thảo Luật Điện ảnh sửa đổi đã nổi lên quan ngại mới về khả năng kiểm duyệt phim ảnh tại Việt Nam càng được siết chặt.

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh Lê Tấn Tới cho rằng “một số bộ phim có tình tiết cổ súy cho hành vi vi phạm pháp luật, lối sống ích kỷ”, đồng thời đưa ra ví dụ về việc trong phim có người “phạm tội nhưng không bị xử lý, một số phim ảnh phản ánh quá chân thực, quá chi tiết về sự tự diễn biến, tự chuyển hóa làm cho người xem nhận thức sai và bắt chước làm theo”.

Theo ông Lê Tấn Tới, phim “Người phán xử”, năm 2017 đạt giải phim truyền hình ấn tượng của VTV, khiến tình hình các băng nhóm tội phạm xã hội đen xảy ra rất nhiều: “Đất nước chúng ta quản lý xã hội bằng pháp luật, nhưng trong phim thì pháp luật không giải quyết được, mà đưa cho ông trùm làm người phán xử, kể cả phán xử cả lực lượng công an, phán xử tất cả và phim đó chiếu trên giờ vàng thì ai chịu trách nhiệm về vấn đề này”.

Tại phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa – Giáo dục Nguyễn Đắc Vinh cho biết Thường trực Ủy ban đề xuất thêm phương án 3 là kết hợp hậu kiểm và tiền kiểm: “Hậu kiểm là chủ yếu, tiền kiểm đối với phim có ảnh hưởng xấu đến chính trị tư tưởng, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và phải phù hợp với điều kiện, khả năng quản lý của cơ quan nhà nước”.

Kiểm duyệt phim ở Việt Nam luôn là vấn đề gây quan ngại cho giới làm phim và những người ủng hộ tự do sáng tạo. Nhiều bộ phim sau khi qua tay “hội đồng” đã phải cắt bỏ rất nhiều để phù hợp với tiêu chí “hướng thiện”, “có tính giáo dục”. Không ít bộ phim đã “chết yểu” từ khâu kiểm duyệt.

Đạo diễn kiêm nhà giám tuyển Marcus Mạnh Cường Vũ nêu quan điểm: “Ta không thể phủ nhận rằng, bên cạnh muôn vàn ảnh hưởng tích cực của phim ảnh, hẳn cũng có phần tiêu cực, nhưng để khẳng định mối quan hệ nhân-quả từ việc phát sóng một bộ phim nhiều tập trên truyền hình đến sự phát triển của tội phạm ngoài đời thực thì cần có bằng chứng cụ thể, khoa học và rõ ràng. Nếu không chứng minh được thì phát biểu này nên được ghi nhận ở mức đánh giá quá cao vai trò của phim “Người phán xử” nói riêng và điện ảnh nói chung trong tác động đến đời sống xã hội”.

Về việc phim “Người phán xử” được chiếu trên đài truyền hình quốc gia, nơi mọi người ở mọi lứa tuổi đều có thể xem, nên chăng cần có quy định đối với các nền tảng công cộng này để vừa bảo vệ được các đối tượng dễ bị tổn thương, vừa không kìm hãm sự sáng tạo. Marcus Mạnh Cường Vũ cho rằng: “Vấn đề này rất quan trọng và nên có sự phối hợp của nhiều bên. Phía đài truyền hình phát sóng công cộng, cần có quy định về giờ phát sóng những nội dung không phù hợp với trẻ em. Ví dụ, những nội dung liên quan đến bạo lực cần được sắp xếp phát sóng ở những giờ muộn, sau giờ thông thường trẻ em đi ngủ. Trước khi chương trình bắt đầu, cần có cảnh báo bằng âm thanh vàhình ảnh về nội dung không phù hợp với độ tuổi nào.

Phía gia đình hay bên tiếp nhận sóng, cần chủ động làm theo hướng dẫn cảnh báo của nhà đài để biết được chương trình nào phù hợp với con em mình hay khán giả đang xem. Quy định về sự phối hợp này cần được thực hiện một cách tự nguyện và tin tưởng lẫn nhau trong một xã hội văn minh.

Nhà nước có thể can thiệp thông qua Luật Bảo vệ trẻ em, ví dụ quy định trẻ em không được xuất hiện trên các chương trình trực tiếp của truyền hình sau một giờ nhất định, chẳng hạn 22h00, để bảo vệ quyền được nghỉ ngơi của các em; hay thông qua các chế tài với nhà đài, cũng như người giám hộ trẻ em trong mỗi trường hợp cụ thể vi phạm”.

Luật pháp và tự do sáng tạo

Việc tăng cường các biện pháp siết chặt “tiền kiểm và hậu kiểm” sẽ thu hẹp không gian sáng tạo của nghệ sĩ, nhưng giúp ngăn chặn những tác động xấu có thể có đối với xã hội. Theo Marcus Mạnh Cường Vũ: “Bất kỳ một sự bó hẹp trong một không gian nào, dù có nằm dưới cơ chế kiểm duyệt hay không, đều đòi hỏi người nghệ sĩ phải sáng tạo hơn nữa để vượt thoát.

Tuy nhiên, nếu sự sáng tạo của nghệ sĩ luôn bị đặt dưới giá treo cổ, theo kiểu có thể bị xâm hại bất cứ lúc nào và không được bảo vệ bởi luật pháp thì sẽ không thể có sáng tạo. Do đó, mỗi cơ chế kiểm duyệt cần rất thận trọng và cụ thể hóa những điều khoản kiểm duyệt, chi tiết hóa những điều cấm kỵ bằng ngôn ngữ rành mạch và lượng hóa rõ ràng. Có như thế, nghệ sĩ mới biết cách tránh và tìm cách thể hiện thay thế để đạt đến tầm sáng tạo cao hơn”.

Về việc Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa – Giáo dục Nguyễn Đắc Vinh viện dẫn các tiêu chí “có ảnh hưởng xấu đến chính trị, tư tưởng, quốc phòng, an ninh, đối ngoại” để kiểm duyệt phim, Marcus Mạnh Cường Vũ cho rằng, tiêu chí này không thể lượng hóa nếu chỉ viết chung chung là “có ảnh hưởng xấu”. Bản chất xấu và tốt đều mang tính định tính, như chúng ta được giáo dục về hai mặt của một vấn đề và tầm quan trọng của góc quan sát: có thể tốt ở lúc này, điểm này, nhưng lại xấu ở lúc khác, điểm khác.

Nếu một tiêu chí không thể lượng hóa, câu hỏi đặt ra là tiêu chí ấy liệu có nhất thiết có. Trong trường hợp nhất thiết, cách lượng hóa duy nhất là thông qua cảm nhận của một số lượng người nhất định và cần đánh giá tác phẩm trên tổng thể, để ra được con số phần trăm nghiêng về bên nào. Chúng ta có thể hình dung về một “hội đồng tự nguyện” những cá nhân đại diện cho các tầng lớp và tổ chức khác nhau cùng ngồi xem và sau đó cho ý kiến. Tuy nhiên, để tránh việc mỗi người cho ý kiến đều chủ quan duy ý chí và bị tác động từ hiệu ứng đám đông, cần có cơ hội để nhà làm phim được đối thoại với hội đồng, trả lời các thắc mắc của hội đồng. Có như thế, những đánh giá chủ quan mới có thể đạt được độ khách quan nhất định khi được lượng hóa.

Theo Marcus Mạnh Cường Vũ, để tránh làm mất đi tính sáng tạo của nghệ thuật phim ảnh, giới hạn pháp luật cũng nên điều chỉnh. Chúng ta đều mong muốn được sống trong một xã hội mà mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và các quyền hiến định được thực thi. Một trong số các điều khoản quan trọng nhất của Hiến pháp là quyền tự do ngôn luận. Người nghệ sĩ làm nghệ thuật có thể được coi là đang biểu đạt ý kiến và quyền này được bảo vệ. Quyền này cũng giống như quyền được tự do phát ngôn về mối quan hệ nhân quả giữa xem phim và tội phạm đã nêu.

Thế nhưng, trong bất kỳ một quốc gia nào cũng có những điều cấm kỵ được luật hóa. Việc ra đời của Luật Điện ảnh và nay là luật sửa đổi nhằm giúp cho các nghệ sĩ làm nghề được thực thi quyền của mình một cách hợp pháp, minh bạch và góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước.

Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch nói riêng và Chính phủ nói chung đã nhận ra tầm quan trọng của điện ảnh trong vai trò là một ngành nghệ thuật đại chúng, tiếp cận được đông đảo đối tượng người thưởng thức, lại có thể thúc đẩy được các ngành kinh tế khác cùng phát triển. Hơn thế nữa, những giá trị của điện ảnh mang lại là bền vững và lâu đời, nếu giá trị đó dựa trên sáng tạo của nghệ thuật đích thực. Luật pháp chỉ nên làm một điều duy nhất là tạo ra một môi trường thông thoáng tối đa và đủ tin tưởng để nghệ sĩ có thể làm nghề.

Nguồn: TKNB – 20/09/2021.

Liệu đánh thuế nhà, đất bỏ hoang có dẹp được đầu cơ bất động sản


Theo đài RFA, trước tình trạng đất, nhà đã được phê duyệt dự án, nhưng bị bỏ hoang hàng chục năm gây lãng phí tài nguyên, thất thoát ngân sách, mới đây, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội đã đề xuất với Bộ Tài chính thực hiện phương án đánh thuế hoặc xử phạt chủ sở hữu nhà bỏ hoang, không đưa vào sử dụng.

Theo đó, nhà bỏ hoang ba tháng sẽ phải đóng khoảng 5% trên giá trị căn nhà. Nhà bỏ hoang sau một năm sẽ bị tính thuế 10% trên tổng giá trị. Ngoài ra, chủ sở hữu còn bị phạt từ 10 – 20 triệu đồng/căn. Bộ Tài chính cũng kiến nghị Chính phủ áp dụng thu thuế cao lũy tiến đối với người mua từ ngôi nhà thứ hai trở lên.

Chuyên gia kinh tế, Phó Giáo sư Tiến sĩ Đinh Trọng Thịnh đánh giá, việc đất đai, nhà cửa bỏ hoang không những gây tác hại cho nền kinh tế mà còn tạo hình ảnh rất xấu cho đô thị. Về kinh tế, người ta bỏ ra một số vốn đề xây dựng, đầu tư nhưng lại không được sử dụng. Thêm vào đó, lãng phí nguồn lực rất lớn của xã hội, đoó là đất đai. Về đô thị, nó tạo ra sự nhếch nhác, không đồng bộ trong việc phát triển đô thị và là nơi tụ tập của những phần tử bất hảo, tiêm chích ma túy.

Ông Thịnh đồng ý với giải pháp đánh thuế cao vào nhà, đất bỏ hoang để dẹp nạn đầu cơ, tích trữ đất. Chuyên gia Đinh Trọng Thịnh nói: “Việc đánh thuế là đúng và nên đánh thuế. Theo tôi, việc này hoàn toàn có thể làm được, còn mức thuế như thế nào thì lại phụ thuộc vào quan niệm của cơ quan chức năng, nhưng thoe quan điểm của tôi, việc đánh thuế vào những căn nhà bỏ hoang không khố. Những căn nhà này thường là những căn nhà chưa hoàn thiện, không có người ở. Còn những căn nhà có người ở, chính quyền địa phương hoàn toàn có thể kiểm soát được. Nhà đã hoàn thiện cho người khác thuê thì chỉ bị đánh thuế thuê nhà, còn nếu chưa được hoàn thiện, để nhếch nhác và không sử dụng sẽ bị đánh thuế cao hơn để buộc họ phải đưa vào sử dụng.

Đề nghị của Thành phố Hà Nội đánh thuế 10% trên giá trị căn nhà quá cao, nhưng rõ ràng mức thuế phải cao hơn mức cho thuê nhà mới hợp lý. Như vậy, sẽ giúp cho việc sử dụng các nguồn lực xã hội tốt hơn, kể cả đó là nguồn lực tư nhân. Anh có quyền mua bán, cho thuê nhưng nếu đầu cơ thì sẽ bị đánh thuế”.

Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, lại cho rằng Nhà nước nên nghiên cứu bãi bỏ quy định về bảng giá đất để thay bằng hình thức thuế bất động sản. Nếu duy trì thì bảng giá đất phải ngang bằng với giá thị trường, từ đó làm căn cứ thu thuế, phí. Khi thuế tăng thì hiện tượng đầu cơ tích trữ giảm. Ông phân tích: “Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện nay đã có chuyện này rồi. Tất nhiên, nó không phải là nhà mà là đất. Tức là cũng đánh thuế theo kiểu lũy tiến. Trong hạn mức là 0,03%; từ hai đến ba lần hạn mức là 0,07%; từ ba lần hạn mức trở lên là 0,15%.

Tôi cho rằng, chuyện đầu cơ thì ngay tỷ suất thuế thấp như thế có đánh vào đất hoang người ta vẫn đầu cơ. Phải có một ý tưởng toàn diện để xử lý vấn đề đầu cơ. Không phải nhìn thấy nhà bỏ hoang thì đánh thuế là hết đầu cơ. Trước đây, thuế đánh vào nhà hoang không cao nên người ta cứ để hoang, bây giờ đánh thuế vào nhà hoang cao thì người ta cho thuê, thậm chí hợp đồng thuê giả. Phải nhận thức được điều đó”.

Đầu cơ bất động sản được cho là việc một người hay tổ chức nào đó mua vào một số lượng lớn đất, bất động sản để tích trữ và bán ra khi có sự chênh lệch về giá. Do đất đai có hạn, đầu cơ gây ra sự khan hiếm giả đẩy giá đất tăng cao gây chậm trễ quá trình phát triển quỹ nhà ở đô thị, lâu ngày có thể sẽ gây ra các phản ứng mang tính chất dây chuyền dẫn đến tăng giá các sản phẩm khác.

Truyền thông nhà nước dẫn phát biểu của kiến trúc sư Trần Huy Ánh cho rằng, việc Thành phố Hà Nội đề xuất đánh thuế cao đối với những sản phẩm nhà, đất bỏ hoang là hoàn toàn chính đáng. Các nước phát triển trên thế giới đã thực hiện tốt mô hình này; những bất động sản không sử dụng phải đóng thuế đất gấp nhiều lần so với diện tích đang sử dụng, khai thác. Làm như vậy để triệt tiêu tất cả hoạt động đầu cơ đất mà không sử dụng, chỉ với mục đích mua đi bán lại kiếm lợi nhuận cao.

Từ đầu năm đến nay, những thông tin về đầu tư, quy hoạch đang bị giới đầu cơ lợi dụng để đẩy giá đất nhiều nơi tăng cao một cách bất thường. Nhà nước dường như không thể kiểm soát được tình trạng này do không đủ công cụ cần có. Thuế hiện nay vẫn rất lạc hậu như thời kỳ 10, 12 năm trước đây. Không có gì thay đổi. Nhiều lần Bộ Tài chính chuẩn bị đưa ra lấy ý kiến, nhưng đều gặp những phản ứng, kể cả từ Quốc hội, là chưa nên đụng đến chuyện này.

Theo quan điểm của ông Đặng Hùng Võ, hiện nay, luật thuế mới chỉ đánh vào đất hoang chứ chưa đánh vào nhà hoang. Hiện cũng có một số người đề xuất cứ thấy nhà hoang thì đánh thuế, nhưng theo ông, không chỉ đánh thuế vào nhà bỏ hoang là hết đầu cơ. Ông giải thích: “Thứ nhất, căn cứ vào đâu để biết đấy là nhà hoang. Đây là tiêu chí. Xã hội muôn hình vạn trạng, đầu tiên là phải định nghĩa thế nào là nhà hoang. Thứ hai, ai quản lý và kết luận đấy là nhà hoang. Phải làm sao luật đừng mang tính hình thức mà phải đi vào căn cơ những quy định mà hệ thống quản lý có thể phát hiện được.

Hiện nay, nói thực ra, không thể phát hiện được một người nào đó có bao nhiêu căn nhà bởi mỗi tỉnh có một hệ thống dữ liệu đất đai riêng mà lại chưa hoàn chỉnh. Như thế làm sao phát hiện được nhà nào hoang, rồi ở đâu vượt hạn mức bao nhiêu?

Hạ tầng quản lý phải đáp ứng được nhu cầu của việc đánh thuế trong từng giai đoạn. Đấy là điều rất quan trọng. Hạ tầng chưa đủ thì có đưa ra sắc thuế đẹp đến mấy cũng chỉ là vớ vẩn thôi”.

Theo một số chuyên gia bất động sản, tình trạng sốt đất tại nhiều nơi trong nước thời gian gần đây đang đẩy giá bất động sản tăng rất cao, thậm chí có nơi tăng tới 20 lần. Nguyên nhân được cho là xuất phát từ nạn đầu cơ – mua để đó, chờ giá lên bán lại kiếm lời.

Thêm vào đó, thời gian qua, hàng loạt ngân hàng đã tung ra các chương trình khuyến mại cho vay tiêu dùng. Nhiều dự án bất động sản được ngân hàng bảo lãnh với mức vay ưu đãi, tỉ lệ vay lên tới 70% tổng giá trị nhà, đất theo hợp đồng. Đây là lĩnh vực có mức tăng cao nhất so với các lĩnh vực khác, thậm chí là đầu tư kinh doanh chứng khoán.

Nguồn: TKNB – 24/06/2021.

Tình tiết mới về vụ kiện của các nạn nhân trong thảm họa Formosa Hà Tĩnh


Theo đài RFA, vụ kiện công ty Formosa ra tòa án ở Đài Loan của gần 8000 nạn nhân đã có bướoc tiến mới khi tòa thượng thẩm ở Đài Loan ngày 9/4 vừa qua đã ra một phán quyết có lợi cho những người khởi kiện Formosa.

Bà Nancy Bùi, Phó Chủ tịch Hội Công lý cho nạn nhân Formosa (JFFV), cho biết đây là tin vui, nhưng con đường đấu tranh giành quyền lợi cho những nạn nhân Formosa vẫn còn dài và nhiều khó khăn phía trước. Hội JFFV cam kết sẽ đồng hành cho đến khi nào những người dân chịu thiệt hại đòi được công lý, như chính cái tên gọi của hội.

Phán quyết mới nhất

Ngày 9/4/2021, Tòa Thượng thẩm Đài Loan đã ra phán quyết rằng hành vi xả thải trái phép của bị đơn là Công ty TNHH Giang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đã xâm phạm quyền làm việc, quyền sức khỏe của người khởi kiện và quyền sống trong một gia đình của nguyên đơn. Phán quyết này dựa trên báo cáo do Chính phủ Việt Nam công bố năm 2016, xác địn công ty Formasa đã xả nước thải có chứa chất độc hại như phenol và xyanua ra biển.

Phán quyết nêu tên 13 công ty bị đơn sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới và bồi thường cho các nguyên đơn. Các bị đơn sẽ phải ngay lập tức ngừng các hoạt động gây ô nhiễm, áp dụng các biện pháp cần thiết để loại bỏ ô nhiễm và áp dụng các biện pháp khắc phục để sửa chữa và cải thiện môi trường.

Phán quyết cũng giải thích rằng bản án trước đây của tòa là không đúng khi đưa ra phán quyết các nguyên đơn phải về nơi cư trú, trong trường hợp này là trở về Việt Nam để khiếu kiện. Quy chế quản lý của Đài Loan, Đạo luật điều chỉnh việc lựa chọn luật trong các vấn đề dân sự có yếu tố nước ngoài không quy định rõ ràng về cách phân bổ thẩm quyền xét xử vụ việc có yếu tố nước ngoài.

Theo bà Nancy Bùi, dù phán quyết mới nhất của Tòa Thượng thẩm có lợi cho các nạn nhân, song bản án này chưa giải quyết thỏa đáng các vấn đề bồi thường thiệt hại cho nạn nhân, cũng như yêu cầu Formosa phải xử lý ô nhiễm môi trường. Vì vậy, Hội JFFV tiếp tục kháng án vào ngày 19/4: “Nhìn chung, đây là một thắng lợi cho 7.875 nguyên đơn, vì tòa án Đài Loan đã công nhận quyền tố tụng của các nạn nhân của thảm họa môi trường lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, thắng lợi này chưa thỏa đáng vì tổng số 18 công ty và 4 tổng giám đốc là bị đơn, nhưng tòa mới chỉ phán quyết 13 bị đơn phải chịu trách nhiệm.

Một vấn đề khác nữa là những phán quyết của tòa về vấn đề bồi thường cho các nạn nhân và cải tạo môi trường chưa rõ ràng, chưa thỏa đáng. Do đó, các Luật sư của nguyên đơn đã có cuộc họp với nhóm 5 tổ hợp luật sư, bao gồm 2 tổ hợp tại Đài Loan, 2 tổ hợp tại Hoa Kỳ, 1 tổ hợp tại Canada và đưa ra quyết định kháng án”.

Hồi tháng 4/2016, Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh, một côngty con của tập đoàn Nhựa Formosa ở Đài Loan đã gây ra thảm họa môi trường tại 4 tỉnh miền Trung Việt Nam là Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế.

Hàng trăm người dân ở tỉnh Nghệ An đã nhiều lần đến Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh để nộp đơn kiện công ty này do không được nhận đền bù thỏa đáng, nhưng bị chính quyền ngăn chặn.

Tháng 6/2019, Hội JFFV thay mặt cho 7875 nạn nhân tại Việt Nam nộp đơn kiện Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh lên Tòa án Đài Bắc (Đài Loan).

Tháng 3/2020, Tòa Thượng thẩm Đài Bắc (Đài Loan) ra phán quyết bác bỏ vụ kiện của các nạn nhân Việt Nam, cho rằng tòa án nước này không có thẩm quyền xét xử và đề nghị chuyển vụ kiện về Việt Nam. Hội JFFV quyết định kháng án.

Đến ngày 18/11/2020, Tối cao Pháp viện Đài Loan ra một bản án dài 3 trang, hủy bỏ bản án của Tòa Thượng thẩm liên quan đến vụ kiện công ty Formosa gây ô nhiễm môi trường biển Việt Nam và yêu cầu cấp tòa này phải đưa ra phán quyết mới.

Còn nhiều khó khăn nhưng sẽ đi đến cùng

Ngày 6/4/2021 là đúng 5 năm kể từ khi thảm họa xảy ra. Bà Nancy cho biết, tính đến thời điểm hiện tại, Hội JFFV đã hoạt động được hơn 4 năm. Hơn 2 năm đầu, hội hoạt động trong âm thầm để điều tra tới ngọn nguồn của vụ án rồi lập hồ sơ và vụ án được chính thức đưa ra tòa đã gần 2 năm.

Đây là một quãng thời gian khá dài và chắc chắn sẽ kéo dài ít nhất là vài năm nữa do tính chất phức tạp của vụ án có liên quan đến luật pháp của Việt Nam, Đài Loan và Mỹ, cả Luật Môi trường và Nhân quyền quốc tế.

Nguồn: TKNB – 17/05/2021.

Những bất đồng trong việc giải quyết tranh chấp UNCLOS giữa Indonesia và Singapore


Theo Diễn đàn Đông Á ngày 7/4, trong những năm qua, Indonesia và Singapore đã giải quyết các cách hiểu khác nhau về Điều 51 của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Cụ thể là Singapore có quyền truyền thông để tiến hành các cuộc tập trận quân sự trong vùng biển thuộc một số đảo của Indonesia hay không?

Điều khoản quy định rằng “một quốc gia quần đảo phải tôn trọng các thỏa thuận hiện có với các quốc gia khác và sẽ công nhận các quyền đánh cá truyền thống và các hoạt động hợp pháp khác của các quốc gia láng giềng tại các khu vực nhất định thuộc vùng biển quần đảo”. Singapore lập luận rằng quyền tập trận quân sự truyền thống được hiểu rằng bao gồm trong thuật ngữ “các hoạt động hợp pháp khác” và Indonesia có nghĩa vụ chấp nhận để Singapore có quyền tiến hành các hoạt động này.

UNCLOS cũng quy định rằng “các điều khoản và điều kiện để thực hiện các quyền và hoạt động đó, bao gồm bản chất, phạm vi và các lĩnh vực mà chúng áp dụng, theo yêu cầu của bất kỳ quốc gia nào liên quan, sẽ được quy định bởi các hiệp định song phương giữa các quốc gia liên quan”. Tuy nhiên, một vấn đề khác đã nảy sinh tại đây.

Indonesia cho rằng cần có một điều kiện tiên quyết về “điều khoản và điều kiện” đối với nghĩa vụ tôn trọng “các hoạt động hợp pháp khác” vì các cuộc tập trận quân sự của nước ngoài trong vùng biển của Indonesia có thể gây nguy hiểm. Thuật ngữ “các hoạt động hợp pháp khác” được quy định trong Điều 51 nghe có vẻ mơ hồ, nhưng dựa trên hồ sơ của các cuộc đàm phán lịch sử đã được các quan chức UNCLOS Virginia ghi lại rõ rằng “chúng tôi biết văn bản cuối cùng của Điều khoản ban đầu do Singapore và Indonesia cùng đề xuất”.

Điều 51 của UNCLOS là kết quả của một quá trình đàm phán lâu dài giữa Indonesia và Singapore từ năm 1974 – 1982. Singapore yêu cầu Indonesia cho phép các cuộc tập trận quân sự truyền thống trong vùng biển của mình, đổi lại nước này công nhận là một quốc gia quần đảo theo UNCLOS. Indonesia từ chối đề xuất này vì đây là một chủ đề nhạy cảm và có thể sẽ bị quốc hội Indonesia từ chối, vì vậy họ đồng ý đưa “các hoạt động hợp pháp khác” vào văn bản và đàm phán về vấn đề quyền tập trận.

Indonesia và Singapore từng có Thỏa thuận hợp tác quốc phòng (DCA) trao cho Singapore quyền tiến hành các cuộc tập trận quân sự tại các khu vực cụ thể thuộc vùng biển quần đảo của Indonesia. Tuy nhiên, DCA đã hết hạn vào năm 2003 và Quốc hội Indonesia đã không thông qua phiên bản được 2 nước đàm phán lại vào năm 2007.

Sau đó, Indonesia lập luận rằng Singapore không thể tiến hành các cuộc tập trận quân sự trong vùng biển quần đảo của Indonesia nếu không có DCA. Mặt khác, Singapore tiếp tục khẳng định cách giải thích của riêng mình đối với Điều 51, rằng nước này có quyền huấn luyện quân sự theo quy định tại Điều 51, ngay cả khi không có các điều khoản và điều kiện khác.

Với các diễn giải khác nhau của Điều 51, có khả năng Singapore có thể chuyển vấn đề này lên Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) hoặc một tòa trọng tài theo quy định tại Điều 287 (3) của UNCLOS. Singapore và Indonesia đều là thành viên của UNCLOS và cả hai đều bị ràng buộc bởi các cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc. Theo Công ước, ITLOS có quyền tài phán đối với tất cả các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Công ước.

Indonesia đã không ngừng gửi công hàm tới Singapore để phản đối các cuộc tập trận quân sự trong trường hợp không có DCA hoặc các điều khoản và điều kiện. Trong tương lai, có khả năgn không quân và hải quân Indonesia có thể đánh chặn các tàu hoặc chiến hạm của hải quân Singapore trong các cuộc diễn tập quân sự này.

Để tránh các nguy cơ nhãn tiền này, hai nước nên tìm cách giải quyết những khác biệt của họ. Bằng cách đàm phán lại DCA và đạt được thỏa thuận về việc giải thích các điều khoản và điều kiện trong Điều 51 để Singapore tiến hành các hoạt động quân sự của mình, rất có thể Jakarta có thể được Quốc hội Indonesia phê chuẩn.

Đã có một số động lực hướng tới một giải pháp. Cả hai nước đã nhất trí về một khuôn khổ đưa ra các nguyên tắc và cân nhắc cốt lõi liên quan đến huấn luyện quân sự phù hợp với UNCLOS. Tại cuộc họp của các nhà lãnh đạo cấp cao vào tháng 10/2019, Thủ tướng Singapore, ông Lý Hiển Long đã nói với Tổng thống Indonesia Joko Widodo (Jokowi) rằng ông muốn bắt đầu giải quyết vấn đề này theo cách “cởi mở và mang tính xây dựng”. Ông Jokowi cho biết Indonesia hoan nghênh các khuôn khổ khuyến khích các cuộc đàm phán “đạt được kết quả cụ thể nhanh chóng”.

Tình trạng của quan hệ song phương giữa Singapore và Indonesia tốt lành sẽ giúp thúc đẩy các cuộc đàm phán tiến xa hơn. Vào tháng 3/2021, một hiệp ước đầu tư song phương giữa hai nước có hiệu lực, làm nổi bật mối quan hệ kinh tế lâu đời của hai bên. Liên minh của Jokowi cũng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của quốc hội, vì vậy chính quyền sẽ dễ dàng hơn trong việc yêu cầu quốc hội phê duyệt và giải quyết vấn đề tồn tại lâu nay này.

Nguồn: TKNB – 09/04/2021.