CPTPP sẽ mở đường cho việc thành lập công đoàn độc lập


Ngày 12/11/2018, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Như vậy, Việt Nam là nước thứ 7 thông qua hiệp định này, sau các nước New Zealand, Canada, Australia, Nhật Bản, Mexico và Singapore. CPTPP sẽ có hiệu lực kể từ ngày 30/12/2018.

Không chỉ tác động về mặt kinh tế, CPTPP, một hiệp định tự do thương mại thế hệ mới, còn có những tác động to lớn về mặt xã hội ở Việt Nam, đặc biệt về lao động. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), hiệp định này đặt ra những yêu cầu cụ thể về quyền lao động và điều kiện làm việc nhằm đảm bảo tự do thương mại, nói chung là buộc Việt Nam phải hiện đại hóa pháp luật về lao động, giúp người lao động và doanh nghiệp cùng được hưởng lợi ích về kinh tế một cách công bằng.

Theo thống kê, tại Việt Nam đã có hơn 6000 cuộc đình công diễn ra kể từ giữa thập niên 90 và tất cả đều là đình công tự phát, không phải do công đoàn khởi xướng. Trả lời phỏng vấn RFI, luật sư Cao Hoàng Sang, Văn phòng luật sư Hoàng Luật Việt, cũng đưa ra nhận định tương tự:

Hiện tại, ở Việt Nam, đa phần người lao động bị thiệt thòi vì tổ chức công đoàn lại ăn lương của người sử dụng lao động, cho nên, công đoàn này thường hoạt động không hiệu quả và không bảo vệ được người lao động. Chính vì vậy, tất cả tranh chấp, đình công đều mang tính tự phát. Khi mà tự phát như vậy thì họ không biết được đâu là quyền của mình và đâu là nghĩa vụ của mình, cho nên người lao động thường là bị ép hoặc không được đảm bảo quyền lợi.

Một điều nữa là pháp luật Việt Nam hiện nay cũng chưa tham gia những công ước bảo vệ người lao động, cũng như bảo vệ người sử dụng lao động một cách tốt nhất theo luật quốc tế”.

Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP yêu cầu tất cả các nước tham gia phải thông qua và duy trì các quyền được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO về Các nguyên tắc và Quyền cơ bản trong lao động trong pháp luật, thể chế và thông lệ của họ. Các quyền này được quy định trong 8 công ước cơ bản của ILO.

Tuy nhiên, theo ILO, cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa phê chuẩn ba công ước cơ bản (Công ước số 87, 98 và 105) liên quan đến quyền tự do hiệp hội, quyền thương lượng tập thể và xóa bỏ lao động cưỡng bức. Luật sư Hoàng Cao Sang cho biết:

Điều quan trọng nhất mà hiệp định này đưa ra, đó là Việt Nam phải cam kết về vấn đề chế độ lao động, cụ thể là trong chương 19 của hiệp định, họ viện dẫn rất nhiều quy định pháp luật, trong đó có Tuyên bố của ILO 1998. Trong tuyên bố đó có 8 công ước, Việt Nam mới ký được 5 công ước, còn 3 công ước nữa chưa ký.

Tôi cho rằng đây là những công ước rất quan trọng đối với việc Việt Nam phải thay đổi cơ chế làm việc của mình trong các doanh nghiệp, đối với người sử dụng lao động cho đến người lao động và pháp luật đối với quan hệ lao động này.

Trong 3 công ước chưa ký đó, tôi cho rằng công ước 87 hơi “nhạy cảm” với cơ chế và pháp luật Việt Nam, đó là quyền tự do hiệp hiệp và việc bảo vệ quyền được tổ chức. Đó là công ước quan trọng nhất đã gây cản trở nhiều nhất trong quá trình đàm phán gia nhập CPTPP. Công ước có quy định là người lao động và người sử dụng lao động được quyền tự tạo một tổ chức và tham gia tổ chức theo sự lựa chọn của mình, chứ không phải như quy định bây giờ phải theo công đoàn chính thức.

Còn công ước 98 về những nguyên tắc quyền tổ chức và thương lượng tập thể đối với người lao động. Công ước 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức. Điều quan trọng mà họ đưa ra là khi người lao động đình công hoặc bị xử lý kỷ luật thì sẽ không bị cưỡng bức, không bị bắt làm một công việc nào đó mang tính cưỡng bức, không bị phân biệt đối xử chủng tộc, xã hội, tôn giáo”.

Về lộ trình phê chuẩn 3 công ước cơ bản này, luật sư Hoàng Cao Sang cho biết:

Khi Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn tham gia thì tất nhiên Việt Nam phải sửa đổi pháp luật và những cơ chế đúng với 3 công ước nói trên. Theo lộ trình, Việt Nam sẽ phê chuẩn công ước 98 vào năm 2019, công ước 105 vào năm 2020 và công ước 87 vào năm 2023. Công ước 87 là công ước gây cản trở nhiều nhất, Việt Nam phải có một thời gian nhất định để tham gia ký kết và phê chuẩn công ước ấy”.

Để thực thi những nguyên tắc được đề ra trong các công ước cơ bản, việc sửa đổi Bộ Luật Lao đ6ọng là bước đầu tiên và quan trọng nhất tại Việt Nam. Theo kế hoạch, dự thảo Bộ Luật Lao động sửa đổi sẽ được trình Quốc hội thông qua vào cuối năm 2019.

Về lâu dài, sau khi CPTPP có hiệu lực, người lao động ở Việt Nam trên nguyên tắc sẽ được phép thành lập hay gia nhập các tổ chức do họ tự lựa chọn ở cấp cơ sở, và những tổ chức đó có thể không thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tổ chức công đoàn chính thức. Như vậy, CPTPP sẽ mở đường cho việc hình thành công đoàn độc lập ở Việt Nam, một xu thế mà chính quyền đã cố trì hoãn, nhưng cuối cùng buộc phải chấp nhận đi theo. Đối với luật sư Hoàng Cao Sang, CPTPP và tiếp đến là hiệp định tự do mậu dịch với Liên minh châu Âu (EU) là những động lực buộc Việt Nam phải thay đổi.

Nguồn: TKNB – 05/12/2018

Advertisements

Ai có thể phạm tội lộ bí mật nhà nước?


Theo đài RFA, cuối tháng 10/2018, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, trong đó quy định thời gian giữ kín, không công khai các “bí mật nhà nước”. Sau thời gian này, các “bí mật” đó được tự động công khai hóa.

Lần ngược thời gian, năm 2009, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra một quy định về thời gian giải mật các tài liệu của Đảng là 60 năm. 6 năm sau, năm 2015, một bộ văn kiện có tên gọi Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1996 – 2000 được xuất bản, mà báo chí trong nước nói rằng, trong bộ văn kiện này có những thông tin được đưa ra dựa theo quy định về giải mật của Đảng Cộng sản.

Tuy nhiên, việc cho phép giải mật vào năm 2009 chỉ là một quy định chứ không phải luật, và cũng không thấy nói là người dân thường có được phép tiếp cận những thông tin đó một cách trực tiếp hay không.

Nhà báo Mai Phan Lợi và Thạc sĩ luật Hoàng Việt đều cho rằng Luật Bảo vệ bí mật nhà nước là một tiến bộ trong việc minh bạch xã hội tại Việt Nam. Ông Hoàng Việt nêu rõ: “Đây là một tiến bộ về mặt lý thuyết, vì ở Việt Nam, có những chuyện không biết bao giờ mới được minh bạch, nhưng không có sự xác nhận của tài liệu. Thế nên, việc đưa ra luật này về mặt lý thuyết cũng tốt, ít nhất là một xu hướng minh bạch hóa thông tin”.

Ông Hoàng Việt đưa ra một ví dụ cho việc những sự việc được đồn đại rất nhiều, nhưng không biết là có thật hay không, ví dụ như lời đồn đại về sự nhân nhượng của Việt Nam quá nhiều cho Trung Quốc trong cái gọi là Hiệp ước Thành Đô năm 1990, dẫn tới việc bình thường hóa quan hệ Việt – Trung. Cho tới nay, vẫn không có tài liệu chính thức nào của nhà nước Việt Nam công bố rằng “Hiệp ước Thành Đô” là có thật hay không?

Theo nhà báo Mai Phan Lợi, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước được đưa ra là để bổ sung cho bộ luật Tiếp cận thông tin, đã được đưa ra hồi năm 2016, và có hiệu lực vào tháng 7/2018. Luật này đưa ra những quy định về chuyện công dân và các tổ chức được phép yêu cầu cơ quan chức năng cung cấp thông tin như thế nào. Ông nói: “Trước đây, khi soạn thảo (Luật tiếp cận thông tin), người ta lường trước là sẽ động tới vấn đề bí mật nhà nước. Việt lập ra Luật Bảo vệ bí mật nhà nước như vậy là hiển nhiên nằm trong lộ trình, chỉ sợ không đưa ra thì không biết thực hiện luật kia thế nào. Nó vừa nằm trong lộ trình, mà cũng là tiến bộ”.

Tuy nhiên, cả ông Hoàng Việt và Mai Phan Lợi đều có những nghi ngại về một số điểm trong bộ luật mới này. Ông Hoàng Việt nói: “Ngay trong luật cũng có ghi rằng có thể tiếp tục gia hạn để không giải mật. Ở Việt Nam hiện nay, có vấn đề tùy tiện trong việc đóng dấu mật hay không mật. Và còn một vấn đề nữa là ở Việt Nam ai sẽ phán quyết các cơ quan nhà nước nếu họ không tuân thủ? Ở các quốc gia khác có một hệ thống tòa án độc lập, có thể khởi kiện được, chứ ở Việt Nam thì vô phương”.

Ông Hoàng Việt đưa ra ví dụ về sự tùy tiện đóng dấu mật là những hợp đồng mà Phó Bí thư thành ủy TPHCM Tất Thành Cang ký hợp đồng giao đất tại Thủ Thiêm, đổi cơ sở hạ tầng với nhiều công ty, việc này chỉ là những hợp đồng giữa tư nhân và chính quyền, nhưng cũng đóng dấu mật. Ông Tất Thành Cang vừa bị kỷ luật Đảng ngày 7/12 do những sai phạm tại Thủ Thiêm.

Theo nhà báo Mai Phan Lợi, việc tùy tiện đóng dấu mật là do quy định lâu nay rằng người đứng đầu các cơ quan, đơn vị được phép làm điều đó. Ông nói: “Trao quyền xác định độ mật quá lớn cho người thủ trưởng đơn vị nên có thể dẫn đến việc sử dụng tùy tiện dấu mật. Như vậy, người ta sẽ lợi dụng che đậy những gì người ta không muốn cho công chúng giám sát”.

Ông dẫn ra một thí dụ gần đây, trong vụ mua công ty AVG của Tập đoàn viễn thông nhà nước, chính Thanh tra Chính phủ Việt Nam cũng nói rằng những hợp đồng của vụ mua bán này đã được đóng dấu mật một cách tùy tiện.

Nhà báo Mai Phan Lợi còn đưa ra một sự khác biệt rất lớn giữa Luật Bảo vệ bí mật nhà nước của Việt Nam và các quốc gia khác, đó là ai phải chịu trách nhiệm về việc tiết lộ bí mật thông tin. Ông nêu rõ: “Quy cả trách nhiệm (lộ bí mật) cho cả công dân và nhà báo là không đúng, vì nhà báo chỉ đi săn tin, họ đâu có năng lực để biết cái nào là bí mật nhà nước”.

Ông Mai Phan Lợi đưa ra dẫn chứng vụ án PMU18 năm 2008. Trong vụ án này, một công ty quản lý vốn xây dựng cơ sở hạ tầng là PMU18 đã sử dụng vốn sai mục đích. Tướng công an Phạm Xuân Quắc được giao điều tra vụ án này. Ông Quắc đã tiết lộ thông tin cho 2 nhà báo là ông Nguyễn Văn Hải, báo Tuổi Trẻ, và ông Nguyễn Việt Chiến, báo Thanh Niên. Theo ông Mai Phan Lợi, lẽ ra chỉ có ông Phạm Xuân Quắc bị truy tố, nhưng cả hai nhà báo cũng bị rơi vào vòng lao lý.

Trong dự thảo về Luật Bảo vệ bí mật nhà nước vẫn còn quy định tại điều số 4 rằng trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước thuộc về cơ quan, tổ chức và cá nhân, và việc quy định thông tin mật hay không mật vẫn được người đứng đầu cơ quan hay tổ chức có thẩm quyền quy định. Ông Mai Phan Lợi cho rằng đáng ra, những người có thẩm quyền này phải là những nhân vật từ cấp bộ trưởng trở lên.

Nguồn: TKNB – 14/12/2018

So sánh tư duy pháp lý của tư pháp Trung Quốc với Việt Nam


Ngô Ngọc Trai

Hồi tháng 9/2018, một số báo điện tử Việt Nam đưa tin về một vụ việc pháp lý xảy ra tại Trung Quốc. Theo Vnexpress, ngày 1/9, cảnh sát thành phố Côn Sơn, tỉnh Giang Tô đã tuyên bố ông Dư 41 tuổi, không phải chịu bất cứ trách nhiệm hình sự nào liên quan đến cái chết của tài xế Lưu 36 tuổi, và vụ án sẽ được khép lại.

Trước đó, vào đêm 27/8, hai người đàn ông này đã ẩu đả sau khi Lưu điều khiển xe ô tô đi vào làn đường xe đạp và suýt tông trúng ông Dư đang đi xe đạp điện ở phía trước. Sau đó, Lưu ra khỏi xe gây gổ với ông Dư, rồi quay lại lấy mã tấu từ ghế sau và dọa chém người thợ điện đi xe đạp. Không may, Lưu bị ông Dư quật ngã, cướp vũ khí và chém liên tiếp khiến tài xế xe sang phải bỏ chạy. 5 nhát chém trong vòng 7 giây khiến Lưu bị đứt một trong các tĩnh mạnh chính và ruột. Lưu được đưa tới bệnh viện cấp cứu nhưng tử vong do mất quá nhiều máu, trong khi ông Dư chỉ bị thâm ở cổ và người.

Báo chí đưa tin, vụ việc tạo ra cuộc tranh luận sôi nổi trên mạng xã hội Trung Quốc về việc liệu hành động của người đi xe đạp có vượt quá quyền tự vệ hợp pháp hay không?

Truyền thông đaưa tin Lưu từng có tiền án, tiền sự, bao gồm bắt người đòi tiền chuộc, trộm cắp và hành hung. Khi xảy ra ẩu đả, Lưu cũng đang lái xe trong tình trạng say xỉn.

Theo cảnh sát, Lưu đã đe dọa tính mạng của người đi xe đạp và phạm tội hành hung nghiêm trọng. Ông Dư được xác định chỉ hành động tự vệ và kết luận này đã được công tố viên tán đồng.

Có tiến bộ về quyền con người

Trung Quốc lâu nay vốn bị xem là nhà nước độc tài kém tôn trọng nhân quyền, nhưng vụ xét xử trên cho thấy họ cũng có tiến bộ lớn trong vấn đề bảo hộ nhân quyền.

Bình luận về vụ án, một giáo sư thuộc Đại học Luật và Khoa học Chính trị Trung Quốc khuyến khích việc chấp nhận điều này một cách rộng rãi hơn trong bộ máy tư pháp. Truyền thông nhà nước Trung Quốc bày tỏ sự ủng hộ với cuộc điều tra của cảnh sát, mô tả đây là “một thắng lợi của luật pháp”.

Bản thân tôi là một luật sư hành nghề ở Việt Nam thường xuyên quan tâm đến những tiến bộ của nền tư pháp, tôi đánh giá cao phán quyết của cơ quan tư pháp Trung Quốc trong vụ này. Đó là một sự trưởng thành, tiến bộ lớn về vấn đề tôn trọng và bảo hộ tính mạng sức khỏe công dân. Vì khi xác định vô tội đối với người đàn ông tự vệ, mặc dù đã đánh chết kẻ kia, đó chính là sự bảo hộ tính mạng sức khỏe công dân là bất khả xâm phạm.

Một điểm đáng chú ý nữa là khoảng thời gian từ khi xảy ra vụ án đêm 27/8 đến khi công an có kết luận là ngày 1/9 là chỉ 6 ngày, với thời gian không dài, cơ quan tư pháp Trung Quốc đã đưa ra được một phán quyết như vậy, tôi cho rằng những tư duy pháp lý của họ đã tiến bộ rất xa.

Nhìn lại Việt Nam

Mới đây, ngày 1/11, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên án 9 năm tù đối với một người đàn ông 51 tuổi ở Bắc Từ Liêm về tội giết người vì đã chém trọng thương một thiếu niên 17 tuổi nửa đêm vào nhà ăn trộm. Phán quyết này cũng gây ra tranh cãi với nhiều ý kiến bất bình vì lẽ chống trộm là phòng vệ chính đáng và tôi đồng ý với quan điểm này.

Đặt vụ án trong bối cảnh xã hội Việt Nam lâu nay đã xảy ra rất nhiều vụ đột nhập vào nhà mà ban đầu là trộm cắp, sau đó là giết người khi bị phát hiện. Mà không chỉ giết 1 người, nhiều vụ đã giết cả nhà. Đỉnh cao tội ác là vụ án Lê Văn Luyện giết 3 người trong 1 gia đình xảy ra hồi năm 2011 ở Bắc Giang. Hay như mới đây, giữa đêm 17/8, một người đàn ông từng là cán bộ tư pháp phường ở thành phố Hưng Yên đã đột nhập vào nhà người khác để ăn trộm, khi bị phát hiện đã đâm chết cả 2 vợ chồng chủ nhà.

Cũng ở Hưng Yên, ngày 5/11, một thiếu niên hàng xóm cũng đột nhập vào nhà một nữ giáo viên về hưu ở huyện Phù Cừ để ăn trộm, và khi bị phát hiện đã giết bà giáo.

Ngày 6/11, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An cũng đưa ra xét xử, tuyên án 16 năm tù đối với 1 bị cáo vì ban đêm đột nhập vào nhà một phụ nữ ăn trộm, khi bị phát hiện đã chém 23 nhát dao giết chết chủ nhà. Và rất nhiều vụ mà báo chí đã đưa tin.

Đặt trong tình trạng xã hội mất an ninh như vậy thì hành vi chém trộm của người đàn ông ở Bắc Từ Liêm cần được xem là tự vệ chính đáng, và ngành tòa án đúng ra phải trao quyền cho người dân được tự vệ giết kẻ đột nhập mới phải. Nếu Tòa án Hà Nội tuyên bố vô tội cho người đàn ông chém trộm thì đó sẽ là một bước tiến bộ lớn về tư duy pháp lý, giống như bước đột phá trong phán quyết của vụ án tại Trung Quốc. Tuy nhiên, Tòa án Thành phố Hà Nội lại xử bị cáo kia 9 năm tù, và nhiều tòa án khác cũng xử lý những vụ tương tự, thì đó là một sai lầm về tư pháp, bộc lộ trình độ tri thức pháp lý yếu kém và không coi trọng quyền được bảo hộ tính mạng sức khỏe và tài sản của công dân.

Trừng phạt người phòng vệ vì đã tấn công kẻ xâm nhập nhà mình, đó là đặt tính mạng và tài sản công dân vào thế rủi ro. Điều đó cũng giống như nhiều việc làm khác bộc lộ cùng một quan điểm, nhận thức, như việc lạm dụng bắt bớ để xảy ra chết người, dễ dàng khám xét và thu giữ tài sản hay những quy định cho phép được thu hồi đất, trưng thu, trưng dụng tài sản. Các hành vi đó đều là biến tướng khác nhau của cùng một lối nhận thức bản chất không coi trọng quyền sống và quyền sở hữu tài sản của công dân.

Nền tư pháp Việt Nam lâu nay chưa khiến cho người dân yên tâm về thứ công lý mà nó mang lại và nó đóng góp rất hạn chế cho công cuộc quản trị đất nước. Nhiều vấn đề, tệ trạng của đất nước có cùng một nguyên nhân, bản chất là do tư pháp yếu kém, không đủ năng lực quản trị xã hội thực thi công lý. Đã đến lúc vấn đề cải cách nền tư pháp cần được coi trọng, đặt ngang với các chính sách quan trọng khác đang được thực hiện lâu nay như chống tham nhũng của Đảng Cộng sản và phát triển kinh tế của Chính phủ. Có như vậy thì một trong những mảng ghép lớn của bộ máy nhà nước (Ở các nước theo thể chế tam quyền phân lập thì tư pháp là 1 trong 3 trụ cột quốc gia) mới phát triển được xứng tầm, đảm đương được vai trò quản trị xã hội và bảo hộ công dân như vai trò vốn có.

Quay trở lại với vụ án tại Trung Quốc. Cách xử lý của họ cho thấy những tư duy pháp lý của tư pháp Trung Quốc đã tiến bộ, bỏ xa Việt Nam. Sự tiến bộ của tư pháp Trung Quốc còn thể hiện qua việc từ hàng chục năm trước, họ đã cải cách thể chế bộ máy nhà nước, chuyển giao quyền quản lý các trại giam giữ từ Bộ Công an sang cho Bộ Tư pháp, tiệm cận với khung khổ pháp lý chuẩn mực tiến bộ, cái mà Việt Nam hiện nay vẫn chưa làm được.

Nguồn: BBC

TKNB – 11/12/2018

Giải pháp nào cho mục tiêu một triệu doanh nghiệp


Ngô Ngọc Trai

Từ những năm trước, các ban ngành nhà nước đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 cả nước sẽ có một triệu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, mục tiêu này đến nay được đánh giá là không thể đạt được. Chỉ còn 2 năm nữa đến mốc thời hạn cuối cùng, nhưng theo số liệu báo cáo của Tổng cục Thống kê mới đây về tình hình doanh nghiệp, tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế tính đến thời điểm 31/12/2017 mới chỉ đạt 561.064 doanh nghiệp.

Trong 9 tháng đầu năm 2018, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 96.611, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 22.897, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh là 23.053, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể là 50.050, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 11.536. Đến tháng 9/2018, số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trong toàn bộ nền kinh tế đạt khoảng 595.933 doanh nghiệp.

Vậy làm thế nào để gia tăng số doanh nghiệp hoạt động cho nền kinh tế? Giải pháp nào nếu được thực hiện sẽ giúp gia tăng số doanh nghiệp và nâng cao chất lượng của nền kinh tế?

Không thấy “phá sản”

Trong các số liệu của Tổng cục Thống kê nêu trên được thể hiện trong báo cáo của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tại kỳ họp thứ 6 không thấy có số liệu về doanh nghiệp pháp sản. Trong khi báo cáo có các số liệu cập nhật rất đầy đủ về doanh nghiệp giải thể, doanh nghiệp ngừng hoạt động có đăng ký và không đăng ký, doanh nghiệp chờ giải thể.

Theo luật hiện nay, giải thể là hình thức chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp trong khi vẫn đủ khả năng trả hết các khoản nợ. Còn phá sản là thủ tục chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp khi đã mất khả năng thanh toán. Nhưv ậy, đối với số doanh nghiệp giải thể có thể lạc quan là vấn đề nợ đọng của doanh nghiệp vẫn được đảm bảo và hy vọng về khả năng quay trở lại của doanh nghiệp vẫn còn. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp phá sản thì sự vắng bóng của số liệu phải chăng do người ta không muốn làm tối màu bức tranh kinh tế?

Vì sao vậy?

Dù không có số liệu về doanh nghiệp phá sản nhưng làm phép loại suy, chúng ta vẫn có thể hình dung ra được con số. Theo số liệu thống kê, số doanh nghiệp ngừng hoạt động có đăng ký đã có, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể đã có, còn lại là số doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc đang chờ giải thể là 50.050 doanh nghiệp.

Do vậy, những doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký mà cũng không làm thủ tục giải thể có thể quy là lâm vào tình trạng mất khả năng trả nợ. Như vậy, có thể nhận định số doanh nghiệp thực chất lâm vào tình trạng phá sản là một phần nào đó nằm trong con số 50.050 doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc đang chờ giải thể này. Đây mới chỉ là con số của 9 tháng đầu năm 2018, nếu tính cộng số liệu trong nhiều năm thì con số doanh nghiệp thực chất lâm vào tình trạng phá sản sẽ còn cao hơn.

Nếu có cơ chế giúp giải quyết nhanh chóng số doanh nghiệp này, tất toán các khoản công nợ và kết thúc mọi nghĩa vụ cho chủ doanh nghiệp, khi đó, chúng ta sẽ mở ra cơ hội cho sự quay trở lại của một số lượng rất lớn doanh nhân có kinh nghiệm. Đó chính là mấu chốt của vấn đề giúp gia tăng số lượng để đạt đến mục tiêu một triệu doanh nghiệp.

Phá sản giúp giải thoát khỏi nợ nần

Vì sao lâu nay số lượng doanh nghiệp thự chiện thủ tục phá sản lại ít đến nỗi không có số liệu để mà báo cáo? Nguyên nhân một phần là do nhận thức, một phần là do năng lực thực thi.

Về nhận thức, hiện tại nhiều người vẫn chưa hiểu hết về phá sản doanh nghiệp và thường hay đánh đồng phá sản với tội phạm trốn nợ, trong khi chỉ một số nhất định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản do chủ doanh nghiệp làm việc gì đó vi phạm pháp luật.

Còn lại rất nhiều trường hợp tình trạng mất khả năng trả nợ đơn thuần là do vấn đề năng lực quản trị, kế hoạch kinh doanh, nghị lực vươn lên, hoặc những biến động thị trường.

Khi đó, việc mất khả năng trả nợ chỉ đơn thuần là quan hệ pháp luật dân sự. Trong quan hệ pháp luật dân sự, khi hết tài sản không còn gì nữa thì con nợ cũng được giải thoát khỏi trách nhiệm trả nợ.

Giống như trong rất nhiều bản án dân sự do tòa án tuyên buộc bên này phải trả tiền cho bên kia, nhưng nếu không có tiền để thi hành án thì cũng thôi chứ không làm gì được bên có nghĩa vụ nữa.

Trong các doanh nghiệp như cổ đông góp vốn trong công ty cổ phần hay thành viên góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn thì những người này cũng chỉ chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp của họ. Khi đó, thủ tục phá sản thực ra là quy trình pháp lý giúp tất toán các hợp đồng, kết thúc một chu kỳ quan hệ về quyền lợi nghĩa vụ dân sự.

Sau khi xác định các khoản nợ và mức độ tài sản hiện còn của doanh nghiệp, thủ tục phá sản sẽ được thực hiện. Khối tài sản ít ỏi còn lại sẽ được dùng để chi trả cho các khoản nghĩa vụ lần lượt được xác định. Sẽ có những khoản nợ không được hoàn trả vì tài sản doanh nghiệp đã hết. Và khi đó, chủ nợ cũng đành phải chấp nhận. Lúc đó, thủ tục phá sản chính là cách để giải thoát trách nhiệm cho các doanh nhân khỏi các vướng mắc pháp lý, làm sạch bản thân để từ đó có thể có một khởi đầu mới.

Theo Luật Phá sản năm 2014 đang có hiệu lực thi hành, chế tài cuối cùng mà một chủ doanh nghiệp có thể phải chịu là bị cấm thành lập doanh nghiệp hoặc tham gia quản lý doanh nghiệp trong thời hạn 3 năm. Tuy nhiên, chế tài đó chỉ áp dụng cho những người đã có hành vi bất hợp tác chống đối trong quá trình xử lý thủ tục phá sản. Còn lại hầu như không có vấn đề gì đối với một chủ doanh nghiệp thực hiện thủ tục phá sản.

Lợi ích như vậy mà lâu nay rất ít doanh nghiệp thực hiện cho xong thủ tục phá sản một doanh nghiệp. Và điều đáng buồn là tình trạng này lại một lần nữa làm lộ ra vấn đề năng lực của ngành tư pháp Việt Nam. Bởi lẽ, thủ tục phá sản là một trình tự tư pháp được thực hiện bởi tòa án. Quyết định về phá sản doanh nghiệp có hiệu lực thực thi tương tự bản án. Song những thủ tục tư pháp nhiêu khê và năng lực thực thi yếu kém đang là nguyên nhân khiến cho rất ít doanh nghiệp thực hiện thủ tục phá sản, ít đến nỗi không có cả số liệu thống kê về phá sản.

Hiện nay, để gia tăng số lượng doanh nghiệp hoạt động trong nền inh tế, các ban ngành cần phải giải quyết cho thông suốt vấn đề doanh nghiệp phá sản.

Nguồn: BBC

TKNB – 20/11/2018

CPTPP đòi hỏi Việt Nam thay đổi hệ thống pháp luật


Tuần qua, có nhiều sự kiện quốc tế quan trọng và Việt Nam đã tham gia tích cực vào những sự kiện này. Hội nghị cấp cao APEC đã kết thúc với việc lãnh đạo các nền kinh tế trong khu vực thảo luận về những rủi ro và thách thức đối với nền kinh tế toàn cầu, về chủ nghĩa bảo hộ và nền kinh tế kỹ thuật số.

Đầu tuần qua, Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Bà Tatiana Flegontova, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu APEC, Học viện Kinh tế quốc dân và hành chính quốc gia trực thuộc Tổng thống, cho rằng sự tham gia của Việt Nam vào CPTPP sẽ làm tăng thu nhập thực tế của nước này lên 11 tỷ USD vào năm 2030. Nếu Mỹ không rút khỏi thỏa thuận, con số này có thể lên đến 41 tỷ USD. Tuy nhiên, CPTPP cũng mở rộng cửa cho các nước khác trong khu vực, và các quốc gia, vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Indonesia và Đài Loan đang thể hiện sự quan tâm đến nó. Nếu họ cũng tham gia hiệp định, thu nhập thực tế của Việt Nam sẽ lên tới 25 tỷ USD.

Bà Tatiana Flegontova nói: “CPTPP có kiểu cơ cấu tổ chức mới. Đây không chỉ là một khu vực thương mại tự do quy mô lớn. Ở đây, hoạt động của các công cụ thuế quan bị hạn chế, và điều quan trọng nhất là điều hòa các biện pháp phi thuế quan. Mỹ từng đề xuất nhiều biện pháp như vậy. Điều đó đã gây ra sự phản đối và dẫn đến các cuộc tranh luận gay gắt giữa các bên khác tham gia thỏa thuận. Tuy nhiên, các nước đó rất muốn thâm nhập vào thị trường Mỹ đầy hứa hẹn, vì vậy, họ đã chấp nhận các biện pháp không hấp dẫn đối với mình.

Hiện nay, sau khi Mỹ rút khỏi thỏa thuận, nhiều biện pháp bị đóng băng. Các nước tham gia CPTPP không từ bỏ hiệp định vì vẫn hy vọng Mỹ sẽ quay trở lại. Kết quả là nội dung về sở hữu trí tuệ được quy định tại Chương 18 của hiệp định đang bị đóng băng. Đây là lĩnh vực Mỹ đứng hàng đầu và là động cơ của cuộc cải cách đang được thực hiện ở các nước – đối tác thương mại. Các nước này cũng đưa ra những sửa đổi quy tắc đầu tư”.

Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư (ISDS) vẫn giữ nguyên. Công ty nước ngoài có thể khởi kiện Chính phủ lên tổ trọng tài quốc tế, bỏ qua các tòa án quốc gia, khi quốc gia này vi phạm nghĩa vụ của mình và vi phạm đó gây tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài. Chương riêng về các doanh nghiệp nhà nước do Mỹ đề xuất cũng giữ nguyên. Các điều khoản của chương này gây phức tạp cho các công ty nhà nước để nhận tài trợ và được cấp ưu đãi.

Cuối cùng, thỏa thuận không cho phép các quốc gia thành viên đòi hỏi các công ty phải nội địa hóa dữ liệu và cho phép sử dụng hệ thống máy chủ toàn cầu. Quy định này trái với Luật An ninh mạng của Việt Nam. Tuy nhiên, văn bản Hiệp định CPTPP giải thích rõ thêm rằng, quy tắc này sẽ không được áp dụng tại Việt Nam chừng nào các cơ quan chức năng chưa áp dụng các cơ chế pháp lý để bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Bà Tatiana Flegontova nói: “Việc tham gia CPTPP đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện nhiều công việc nghiêm túc liên quan đến Luật lao động. Ở đây nói về việc thành lập các tổ chức công đoàn và cơ chế giải quyết tranh chấp lao động. CPTPP áp đặt tiền phạt nặng nề đối với các vụ vi phạm tiêu chuẩn lao động. Hiện nay, theo CPTPP, Việt Nam phải phê chuẩn tất cả 8 công ước cơ bản của Tổ chức lao động quốc tế. Đại diện Việt Nam đã yêu cầu đóng băng chương này. Tuy nhiên, theo kết quả các cuộc đàm phán, các bên thông qua quyết định giữ nguyên nó. Việt Nam còn 7 năm để đưa ra những sửa đổi pháp luật cần thiết trước khi các biện pháp trừng phạt thương mại có hiệu lực”.

Điều gì sẽ xảy ra nếu Mỹ quyết định quay trở lại TPP? Sau đó, thỏa thuận phải được sửa đổi một lần nữa, phải khôi phục các chương đang “bị đóng băng”. Xét theo lập trường của Tổng thống Donald Trump, việc khôi phục các chương cũ là không đủ, ông Trump có thể yêu cầu tạo điều kiện đặc biệt cho Mỹ. Vì vậy, Washington có thể gia nhập CPTPP sau khi ông Trump rời ghế tổng thống.

Nguồn: Sputnik

TKNB – 20/11/2018

Hợp tác tư pháp Viêt – Pháp


Theo đài RFI, trong số các lĩnh vực hợp tác lâu năm giữa Pháp và Việt Nam, hợp tác về pháp luật, tư pháp đã được khởi xướng ngay từ năm 1986, nhằm hỗ trợ công cuộc “Đổi mới” của Việt Nam, sau này nhằm hỗ trợ cho cải cách tư pháp ở Việt Nam. Việt Nam có thể học hỏi nhiều kinh nghiệm của Pháp trong lĩnh vực như tư pháp đối với tội phạm vị thành niên, phát triển án lệ.

Theo sáng kiến của luật sư Thi My Hanh NGO-FOLLIOT, Chủ tịch Ủy ban Việt Nam trong Luật sư đoàn Paris, trong khuôn khổ kỷ niệm 45 năm quan hệ ngoại giao Pháp – Việt và 5 năm quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước, ngày 16/10, một cuộc hội thảo về hợp tác Pháp – Việt đã diễn ra tại Nhà Luật sư đoàn (Maison du Barreau) ở Paris.

Khách mời danh dự của cuộc hội thảo này là hai giáo sư Lê Kim Ngọc và Trần Thanh Vân – hai sáng lập viên của Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành, những người đã có nhiều đóng góp cho hợp tác Pháp – Việt.

Tuy chỉ kéo dài chưa đầy 3 giờ đồng hồ, hội thảo đã điểm qua những kết quả và triển vọng hợp tác giữa hai nước trong nhiều lĩnh vực, từ y tế, giáo dục, quốc phòng cho đến tư pháp, với phần trình bày của các diễn giả, trong đó có cựu Đại sứ Pháp tại Việt Nam Claude Blanchemaison, bác sĩ Gildas Treguier, Phó Chủ tịch Liên đoàn Y tế Pháp – Việt, thẩm phán Patrick Matet thuộc Tòa Phá án của Pháp và Đại sự Việt Nam tại Pháp Nguyễn Thiệp. Đối với luật sư Thi My Hanh NGO-FILLIOT, các diễn giả có điểm chung, họ đều rất tâm huết với hợp tác Pháp – Việt.

Nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống François Mitterrand tháng 2/1993, hai thỏa thuận quan trọng đã được ký kết: Thỏa thuận hợp tác pháp luật và tư pháp giữa Pháp và Việt Nam và Thỏa thuận thành lập Nhà Pháp luật Việt – Pháp tại Hà Nội.

Nhà Pháp luật Việt – Pháp, được thành lập năm 1993 và hoạt động cho đến năm 2012, đã tư vấn và hỗ trợ Việt Nam thực hiện cải cách cũng như tổ chức các đợt nghiên cứu thực tiễn tại Pháp, đào tạo cho các chuyên ngành pháp lý (thẩm phán, luật sư, công chứng viên, thừa phát lại), đào tạo tiếng Pháp chuyên ngành luật…

Tiếp nối công việc của Nhà Pháp luật Việt – Pháp, luật sư Thi My Hanh NGO-FOLLIOT từ mấy năm qua đã có nhiều hoạt động để giúp đào tạo, nâng cao trình độ cho các thẩm phán, luật sư Việt Nam. Sau hội thảo, luật sư Thi My Hanh NGO-FOLLIOT cho biết: “Chúng tôi có dự án giữa tháng 5 và tháng 6/2019 tổ chức nhiều hội thảo ở Việt Nam, ở Hà Nội về luật hợp đồng, Huế về luật cầm cố, thế chấp tài sản; TPHCM và Quy Nhơn hội thảo về trọng tài quốc tế. Đây là lĩnh vực mới, Việt Nam có rất nhiều nhu cầu về đào tạo, nâng cao trình độ, để các trọng tài Việt Nam có thể tham gia hoạt động trên thế giới”.

Một hợp tác đáng chú ý khác giữa Pháp và Việt Nam là thỏa thuận hợp tác giữa Tòa Phá án (Cour de cassation) của Pháp với Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam, ký vào năm 2013.

Thẩm phán Patrick Matet cho biết thêm: “Tòa phá án của Pháp đã ký một hiệp định với Tòa án Tối cao Việt Nam để tăng cường hợp tác giữa hai nước và đáp ứng nhu cầu của các thẩm phán Việt Nam, cũng như của Tòa án Tối cao Việt Nam. Đây là phương cách để tòa án của hai bên bổ túc kiến thức cho nhau.

Cũng như các cơ chế khác của Việt Nam, Tòa án Tối cao Việt Nam, về luật dân sự, dựa theo luật của nước Pháp chính quốc, gàn giống với luật hiện hành tại Pháp, không phải giống các điều luật, mà về cơ cấu của luật.

Kể từ khi ký kết thỏa thuận, chúng tôi đã nhiều lần tổ chức cho các phái đoàn Pháp và Việt Nam đi thăm lẫn nhau, tổ chức nhiều cuộc hội thảo để các thẩm phán Việt Nam và Pháp có dịp trao đổi với nhau về nhiều chủ đề: tư pháp vị thành niên, giải thích các phán quyết, phổ biến các quyết định của Tư pháp, phát triển án lệ. Đó là những vấn đề liên quan đến hai nước Pháp và Việt Nam”.

Những lĩnh vực thẩm phán Matet vừa nêu, đặc biệt tư pháp đối với tội phạm vị thành niên và phát triển án lệ, là những lĩnh vực Việt Nam đang học hỏi kinh nghiệm từ các nước. Theo thẩm phán Matet, Pháp có thể đóng góp nhiều kinh nghiệm cho các thẩm phán Việt Nam, đặc biệt, Pháp là quốc gia có lịch sử phát triển án lệ từ lâu, như nhiều nền tư pháp tiên tiến khác trên thế giới:

Việt Nam đã phát triển hệ thống tư pháp vị thành niên riêng. Chúng tôi đã có rất nhiều kinh nghiệm từ năm 1945 trong lĩnh vực này. Nước Pháp có thể đóng góp cho Việt Nam những kinh nghiệm đó, nhất là về mặt hỗ trợ giáo dục vị thành niên.

Về án lệ, vì những lý do liên quan đến tổ chức hệ thống tư pháp, Việt Nam không muốn có những án lệ, những án lệ không có trọng lượng giống như ở châu Âu, nhất là ở Pháp. Dần dần, Việt Nam mới nhận thấy sự cần thiết phải cho một người biết về cách thi hành các phán quyết của thẩm phán. Từ khoảng 2 năm nay, Tòa án Tối cao đã xem xét một số phán quyết của họ là án lệ. Nhưng hiện giờ, việc tiếp nhận khái niệm án lệ còn hạn chế. Chỉ có 17 trên tổng số 300 phán quyết của Tòa án Tối cao Việt Nam được gắn nhãn hiệu án lệ.

Về việc phổ biến các phán quyết, ở Việt Nam có một cơ chế khá độc đáo, cho phép người dân tiếp cận được những phán quyết của tòa, nhất là của Tòa án Tối cao. Tất cả các phán quyết này có thể được tham khảo trên mạng. Bây giờ phải tìm hiểu xem việc phổ biến như vậy có tác động như thế nào đối với công luận. Đây chỉ mới là giai đoạn đầu. Phía Việt Nam phải tiến hành đánh giá về hiệu quả của cơ chế đó.

Trong thời đại mở cửa như hiện nay, việc phổ biến các quyết định của tư pháp phải mang tính toàn diện. Nước Pháp cũng đang theo hướng thiết lập một trung tâm dữ liệu mở để phổ biến toàn bộ các quyết định tư pháp, Việt Nam sẽ biết cách để thích ứng với tình hình mới. Tương lai sẽ cho chúng ta biết là Việt Nam đi về hướng nào”.

Ngoài việc cung cấp những kinh nghiệm, Pháp tiếp tục giúp Việt Nam về mặt đào tạo trong lĩnh vực tư pháp. Chẳng hạn như nhân chuyến thăm của phái đoàn Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam đến Paris, Trường đào tạo thẩm phán quốc gia Pháp năm 2017 đã ký kết Thỏa thuận chung về hợp tác đào tạo tư pháp với Học viện Tòa án Việt Nam.

Tại cuộc hội thảo ngày 16/10 ở Nhà Luật sư đoàn tại Paris, một số diễn giả, trong đó có Đại sứ Việt Nam tại Pháp Nguyễn Thiệp, cũng nêu lên khả năng phục hồi hoạt động của Nhà Pháp luật Việt – Pháp.

Nguồn: TKNB – 24/10/2018

Người Việt bị buôn sang Scotland: Nạn nhân hay tội phạm


Cảnh sát Scotland đang tìm cách trấn áp các hoạt động buôn người đằng sau nạn nô lệ mới mà nạn nhân là những người Việt đã bỏ tiền ra để được đưa sang châu Âu với đích đến cuối cùng là Anh. Những người này hy vọng tìm được một việc làm có mức lương khá, nhưng đã trở thành những nạn nhân bị khai thác sức lao động hoặc bị lạm dụng.

Đeo đuổi giấc mơ đổi đời, nhiều người trẻ tuổi từ Việt Nam đã được thực hiện những cuộc hành trình đầy gian nan đi qua các nước Đông Âu rồi Tây Âu, để cuối cùng tới được Scotland. Đối với nhiều người, thực tế lại vô cùng phũ phàng. Rất nhiều người Việt tới Scotland theo cách này bị khai thác sức lao động tại các trại trồng cần sa hoặc các tiệm làm móng tay, có người đã trở thành những nô lệ tình dục tại đất nước họ từng hy vọng có thể mưu tìm một cuộc sống tử tế.

Những người Việt này nằm trong số 40 triệu người đã trở thành những “con mồi” của một kỹ nghệ toàn cầu mang về món lợi khổng lồ ước lượng 150 tỷ USD hàng năm cho những kẻ buôn người. Trong khi nhiều người bị khai thác sức lao động một cách công khai, bán dâm trên các đường phố hoặc lao động trong các cửa tiệm làm móng, cảnh sát Scotland gặp rất nhiều khó khăn trong nỗ lực chống lại các hoạt động buôn người vì rất ít người Việt chịu xuất đầu lộ diện, công khai nói về tình cảnh bi đát của mình. Thanh tra Brian Gallagher nói: “Rất khó lấy được niềm tin của các nạn nhân để có một bức tranh toàn cảnh, bởi họ rất sợ cảnh sát. Rất khó thâm nhập vào các cộng đồng người Việt cư ngụ tại các thị trấn và thành phố của chúng ta. Đó chính là tình huống mà những kẻ buôn người khuyến khích”.

Phát biểu tại trụ sở chính của đơn vị chống buôn người ở Glasgow, Thanh tra Gallagher cho rằng điều cần làm là nâng cao nhận thức của các nhân viên công lực để họ nhận biết hành vi tội phạm bên dưới những hoạt động bình thường, hoặc đằng sau những cánh cửa đóng kín, và những tội ác được che đậy bên dưới các tội hình sự khác.

Năm 2017, có tất cả 213 vụ tình nghi là buôn người. Con số này đã tăng so với 150 vụ năm 2016. Một nửa số nạn nhân đến từ Việt Nam.

Các nhóm tội phạm quảng cáo Anh là “vùng đất hứa” đối với nhiều người Việt, khiến nhiều người thực hiện những cuộc hành trình gian nan kéo dài nhiều tháng, có lúc phải đi bộ hàng ngàn dặm, có lúc lên tàu hay xe tải để tới điểm cuối cùng.

Miền Bắc nước Pháp vẫn là một cửa ngõ quan trọng cho những người Việt Nam muốn tới Anh, bất chấp chiến dịch càn quét người di dân và những kẻ buôn người quanh cảng Calais. Nhiều người di chuyển tới miền Bắc, vượt ranh giới vào Scotland, nhưng theo các giới chức ở đây, một số phụ nữ Việt Nam đã tới Anh qua ngả Scandinavia và Bắc Ireland, trong khi cảnh sát dự kiến có những đường mới xuất hiện giữa lúc những kẻ buôn người tìm những phương thức mới để tránh lưới công lý.

Bà Mimi Vũ thuộc Quỹ liên kết Thái Bình Dương, một tổ chức chống buôn người nói rằng bất kể bao nhiêu khó khăn trước mắt, hoặc đã được cảnh báo bao nhiêu lần, sức hấp dẫn của cuộc sống tốt đẹp bên trời Tây là một nam châm thu hút rất nhiều người trẻ tuổi Việt Nam.

Bà Mimi Vũ bỏ rất nhiều thời gian làm việc để nâng cao nhận thức ngay tại Việt Nam, địa điểm xuất phát. Bà nói: “Rất khó có thể phản bác câu chuyện do những kẻ buôn người thêu dệt. Một bên là lời hứa hẹn đối với những người ra đi rằng họ “sẽ tìm được hũ vàng” đang chờ họ ở vương quốc Anh so với những lời cảnh báo của chúng tôi, coi chừng bị lạm dụng hoặc kẻ xấu bắt làm nô lệ”.

Theo bà Mimi Vũ, những khuyến cáo người Việt ở trong nước về những làn sóng di dân đang gia tăng ở Anh và về tình trạng bất định xoay quanh Brexit cho tới nay vẫn tỏ ra vô hiệu quả.

Các tổ chức từ thiện cho biết những lo sợ sẽ bị bắt và trục xuất về nước, hoặc sợ thân nhân ở Việt Nam bị những kẻ buôn người trả thù, đã khiến nhiều “nô lệ mới” người Việt cam chịu cuộc sống nô lệ trong bóng tối. Chính phủ Anh cho biết rất nhiều nô lệ người Việt trên khắp nước Anh bị bác đơn xin tị nạn khi bước sang tuổi 18. Trong năm 2017, có khoảng 50 trường hợp so với tổng cộng 54 người trong 3 năm từ 2014 – 2016. Theo các luật sư, nhiều thanh niên bị trục xuất sau khi thọ án tù về những tội mà họ bị ép buộc phải làm trong thời gian bị các tổ chức tội phạm giam giữ, như tội liên quan tới ma túy vì đã từng làm việc torng các trại trồng cần sa. Bà Debbie Beadle, Giám Đốc chương trình tại tổ chức từ thiện chống buôn người ECPAT UK nói: “Nhiều nạn nhân trẻ tuổi người Việt bị coi như những tội phạm thay vì nạn nhân của một tội ác”.

Trong một cuộc khảo sát do chính phủ thực hiện năm ngoái, một nửa người dân Scotland không tin nạn buôn người là một vấn đề tại Scotland, bất chấp nạn buôn người diễn ra tại 27 địa điểm trong tất cả 32 địa phương ở Scotland.

Tuy vậy, theo Chỉ số nô lệ toàn cầu của tổ chức nhân quyền Walk Free Foundation, tội ác liên quan tới buôn người đang phát triển và biến đổi trên khắp nước Anh với tổng cộng 136.000 nô lệ mới. Con số này cao gấp 10 lần so với con số ước lượng do chính phủ đưa ra vào năm 2013.

Nguồn: Reuters

TKNB – 21/09/2018