So sánh tư duy pháp lý của tư pháp Trung Quốc với Việt Nam


Ngô Ngọc Trai

Hồi tháng 9/2018, một số báo điện tử Việt Nam đưa tin về một vụ việc pháp lý xảy ra tại Trung Quốc. Theo Vnexpress, ngày 1/9, cảnh sát thành phố Côn Sơn, tỉnh Giang Tô đã tuyên bố ông Dư 41 tuổi, không phải chịu bất cứ trách nhiệm hình sự nào liên quan đến cái chết của tài xế Lưu 36 tuổi, và vụ án sẽ được khép lại.

Trước đó, vào đêm 27/8, hai người đàn ông này đã ẩu đả sau khi Lưu điều khiển xe ô tô đi vào làn đường xe đạp và suýt tông trúng ông Dư đang đi xe đạp điện ở phía trước. Sau đó, Lưu ra khỏi xe gây gổ với ông Dư, rồi quay lại lấy mã tấu từ ghế sau và dọa chém người thợ điện đi xe đạp. Không may, Lưu bị ông Dư quật ngã, cướp vũ khí và chém liên tiếp khiến tài xế xe sang phải bỏ chạy. 5 nhát chém trong vòng 7 giây khiến Lưu bị đứt một trong các tĩnh mạnh chính và ruột. Lưu được đưa tới bệnh viện cấp cứu nhưng tử vong do mất quá nhiều máu, trong khi ông Dư chỉ bị thâm ở cổ và người.

Báo chí đưa tin, vụ việc tạo ra cuộc tranh luận sôi nổi trên mạng xã hội Trung Quốc về việc liệu hành động của người đi xe đạp có vượt quá quyền tự vệ hợp pháp hay không?

Truyền thông đaưa tin Lưu từng có tiền án, tiền sự, bao gồm bắt người đòi tiền chuộc, trộm cắp và hành hung. Khi xảy ra ẩu đả, Lưu cũng đang lái xe trong tình trạng say xỉn.

Theo cảnh sát, Lưu đã đe dọa tính mạng của người đi xe đạp và phạm tội hành hung nghiêm trọng. Ông Dư được xác định chỉ hành động tự vệ và kết luận này đã được công tố viên tán đồng.

Có tiến bộ về quyền con người

Trung Quốc lâu nay vốn bị xem là nhà nước độc tài kém tôn trọng nhân quyền, nhưng vụ xét xử trên cho thấy họ cũng có tiến bộ lớn trong vấn đề bảo hộ nhân quyền.

Bình luận về vụ án, một giáo sư thuộc Đại học Luật và Khoa học Chính trị Trung Quốc khuyến khích việc chấp nhận điều này một cách rộng rãi hơn trong bộ máy tư pháp. Truyền thông nhà nước Trung Quốc bày tỏ sự ủng hộ với cuộc điều tra của cảnh sát, mô tả đây là “một thắng lợi của luật pháp”.

Bản thân tôi là một luật sư hành nghề ở Việt Nam thường xuyên quan tâm đến những tiến bộ của nền tư pháp, tôi đánh giá cao phán quyết của cơ quan tư pháp Trung Quốc trong vụ này. Đó là một sự trưởng thành, tiến bộ lớn về vấn đề tôn trọng và bảo hộ tính mạng sức khỏe công dân. Vì khi xác định vô tội đối với người đàn ông tự vệ, mặc dù đã đánh chết kẻ kia, đó chính là sự bảo hộ tính mạng sức khỏe công dân là bất khả xâm phạm.

Một điểm đáng chú ý nữa là khoảng thời gian từ khi xảy ra vụ án đêm 27/8 đến khi công an có kết luận là ngày 1/9 là chỉ 6 ngày, với thời gian không dài, cơ quan tư pháp Trung Quốc đã đưa ra được một phán quyết như vậy, tôi cho rằng những tư duy pháp lý của họ đã tiến bộ rất xa.

Nhìn lại Việt Nam

Mới đây, ngày 1/11, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên án 9 năm tù đối với một người đàn ông 51 tuổi ở Bắc Từ Liêm về tội giết người vì đã chém trọng thương một thiếu niên 17 tuổi nửa đêm vào nhà ăn trộm. Phán quyết này cũng gây ra tranh cãi với nhiều ý kiến bất bình vì lẽ chống trộm là phòng vệ chính đáng và tôi đồng ý với quan điểm này.

Đặt vụ án trong bối cảnh xã hội Việt Nam lâu nay đã xảy ra rất nhiều vụ đột nhập vào nhà mà ban đầu là trộm cắp, sau đó là giết người khi bị phát hiện. Mà không chỉ giết 1 người, nhiều vụ đã giết cả nhà. Đỉnh cao tội ác là vụ án Lê Văn Luyện giết 3 người trong 1 gia đình xảy ra hồi năm 2011 ở Bắc Giang. Hay như mới đây, giữa đêm 17/8, một người đàn ông từng là cán bộ tư pháp phường ở thành phố Hưng Yên đã đột nhập vào nhà người khác để ăn trộm, khi bị phát hiện đã đâm chết cả 2 vợ chồng chủ nhà.

Cũng ở Hưng Yên, ngày 5/11, một thiếu niên hàng xóm cũng đột nhập vào nhà một nữ giáo viên về hưu ở huyện Phù Cừ để ăn trộm, và khi bị phát hiện đã giết bà giáo.

Ngày 6/11, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An cũng đưa ra xét xử, tuyên án 16 năm tù đối với 1 bị cáo vì ban đêm đột nhập vào nhà một phụ nữ ăn trộm, khi bị phát hiện đã chém 23 nhát dao giết chết chủ nhà. Và rất nhiều vụ mà báo chí đã đưa tin.

Đặt trong tình trạng xã hội mất an ninh như vậy thì hành vi chém trộm của người đàn ông ở Bắc Từ Liêm cần được xem là tự vệ chính đáng, và ngành tòa án đúng ra phải trao quyền cho người dân được tự vệ giết kẻ đột nhập mới phải. Nếu Tòa án Hà Nội tuyên bố vô tội cho người đàn ông chém trộm thì đó sẽ là một bước tiến bộ lớn về tư duy pháp lý, giống như bước đột phá trong phán quyết của vụ án tại Trung Quốc. Tuy nhiên, Tòa án Thành phố Hà Nội lại xử bị cáo kia 9 năm tù, và nhiều tòa án khác cũng xử lý những vụ tương tự, thì đó là một sai lầm về tư pháp, bộc lộ trình độ tri thức pháp lý yếu kém và không coi trọng quyền được bảo hộ tính mạng sức khỏe và tài sản của công dân.

Trừng phạt người phòng vệ vì đã tấn công kẻ xâm nhập nhà mình, đó là đặt tính mạng và tài sản công dân vào thế rủi ro. Điều đó cũng giống như nhiều việc làm khác bộc lộ cùng một quan điểm, nhận thức, như việc lạm dụng bắt bớ để xảy ra chết người, dễ dàng khám xét và thu giữ tài sản hay những quy định cho phép được thu hồi đất, trưng thu, trưng dụng tài sản. Các hành vi đó đều là biến tướng khác nhau của cùng một lối nhận thức bản chất không coi trọng quyền sống và quyền sở hữu tài sản của công dân.

Nền tư pháp Việt Nam lâu nay chưa khiến cho người dân yên tâm về thứ công lý mà nó mang lại và nó đóng góp rất hạn chế cho công cuộc quản trị đất nước. Nhiều vấn đề, tệ trạng của đất nước có cùng một nguyên nhân, bản chất là do tư pháp yếu kém, không đủ năng lực quản trị xã hội thực thi công lý. Đã đến lúc vấn đề cải cách nền tư pháp cần được coi trọng, đặt ngang với các chính sách quan trọng khác đang được thực hiện lâu nay như chống tham nhũng của Đảng Cộng sản và phát triển kinh tế của Chính phủ. Có như vậy thì một trong những mảng ghép lớn của bộ máy nhà nước (Ở các nước theo thể chế tam quyền phân lập thì tư pháp là 1 trong 3 trụ cột quốc gia) mới phát triển được xứng tầm, đảm đương được vai trò quản trị xã hội và bảo hộ công dân như vai trò vốn có.

Quay trở lại với vụ án tại Trung Quốc. Cách xử lý của họ cho thấy những tư duy pháp lý của tư pháp Trung Quốc đã tiến bộ, bỏ xa Việt Nam. Sự tiến bộ của tư pháp Trung Quốc còn thể hiện qua việc từ hàng chục năm trước, họ đã cải cách thể chế bộ máy nhà nước, chuyển giao quyền quản lý các trại giam giữ từ Bộ Công an sang cho Bộ Tư pháp, tiệm cận với khung khổ pháp lý chuẩn mực tiến bộ, cái mà Việt Nam hiện nay vẫn chưa làm được.

Nguồn: BBC

TKNB – 11/12/2018

Advertisements

Giải pháp nào cho mục tiêu một triệu doanh nghiệp


Ngô Ngọc Trai

Từ những năm trước, các ban ngành nhà nước đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 cả nước sẽ có một triệu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, mục tiêu này đến nay được đánh giá là không thể đạt được. Chỉ còn 2 năm nữa đến mốc thời hạn cuối cùng, nhưng theo số liệu báo cáo của Tổng cục Thống kê mới đây về tình hình doanh nghiệp, tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế tính đến thời điểm 31/12/2017 mới chỉ đạt 561.064 doanh nghiệp.

Trong 9 tháng đầu năm 2018, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 96.611, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 22.897, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh là 23.053, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể là 50.050, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 11.536. Đến tháng 9/2018, số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trong toàn bộ nền kinh tế đạt khoảng 595.933 doanh nghiệp.

Vậy làm thế nào để gia tăng số doanh nghiệp hoạt động cho nền kinh tế? Giải pháp nào nếu được thực hiện sẽ giúp gia tăng số doanh nghiệp và nâng cao chất lượng của nền kinh tế?

Không thấy “phá sản”

Trong các số liệu của Tổng cục Thống kê nêu trên được thể hiện trong báo cáo của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tại kỳ họp thứ 6 không thấy có số liệu về doanh nghiệp pháp sản. Trong khi báo cáo có các số liệu cập nhật rất đầy đủ về doanh nghiệp giải thể, doanh nghiệp ngừng hoạt động có đăng ký và không đăng ký, doanh nghiệp chờ giải thể.

Theo luật hiện nay, giải thể là hình thức chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp trong khi vẫn đủ khả năng trả hết các khoản nợ. Còn phá sản là thủ tục chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp khi đã mất khả năng thanh toán. Nhưv ậy, đối với số doanh nghiệp giải thể có thể lạc quan là vấn đề nợ đọng của doanh nghiệp vẫn được đảm bảo và hy vọng về khả năng quay trở lại của doanh nghiệp vẫn còn. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp phá sản thì sự vắng bóng của số liệu phải chăng do người ta không muốn làm tối màu bức tranh kinh tế?

Vì sao vậy?

Dù không có số liệu về doanh nghiệp phá sản nhưng làm phép loại suy, chúng ta vẫn có thể hình dung ra được con số. Theo số liệu thống kê, số doanh nghiệp ngừng hoạt động có đăng ký đã có, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể đã có, còn lại là số doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc đang chờ giải thể là 50.050 doanh nghiệp.

Do vậy, những doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký mà cũng không làm thủ tục giải thể có thể quy là lâm vào tình trạng mất khả năng trả nợ. Như vậy, có thể nhận định số doanh nghiệp thực chất lâm vào tình trạng phá sản là một phần nào đó nằm trong con số 50.050 doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc đang chờ giải thể này. Đây mới chỉ là con số của 9 tháng đầu năm 2018, nếu tính cộng số liệu trong nhiều năm thì con số doanh nghiệp thực chất lâm vào tình trạng phá sản sẽ còn cao hơn.

Nếu có cơ chế giúp giải quyết nhanh chóng số doanh nghiệp này, tất toán các khoản công nợ và kết thúc mọi nghĩa vụ cho chủ doanh nghiệp, khi đó, chúng ta sẽ mở ra cơ hội cho sự quay trở lại của một số lượng rất lớn doanh nhân có kinh nghiệm. Đó chính là mấu chốt của vấn đề giúp gia tăng số lượng để đạt đến mục tiêu một triệu doanh nghiệp.

Phá sản giúp giải thoát khỏi nợ nần

Vì sao lâu nay số lượng doanh nghiệp thự chiện thủ tục phá sản lại ít đến nỗi không có số liệu để mà báo cáo? Nguyên nhân một phần là do nhận thức, một phần là do năng lực thực thi.

Về nhận thức, hiện tại nhiều người vẫn chưa hiểu hết về phá sản doanh nghiệp và thường hay đánh đồng phá sản với tội phạm trốn nợ, trong khi chỉ một số nhất định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản do chủ doanh nghiệp làm việc gì đó vi phạm pháp luật.

Còn lại rất nhiều trường hợp tình trạng mất khả năng trả nợ đơn thuần là do vấn đề năng lực quản trị, kế hoạch kinh doanh, nghị lực vươn lên, hoặc những biến động thị trường.

Khi đó, việc mất khả năng trả nợ chỉ đơn thuần là quan hệ pháp luật dân sự. Trong quan hệ pháp luật dân sự, khi hết tài sản không còn gì nữa thì con nợ cũng được giải thoát khỏi trách nhiệm trả nợ.

Giống như trong rất nhiều bản án dân sự do tòa án tuyên buộc bên này phải trả tiền cho bên kia, nhưng nếu không có tiền để thi hành án thì cũng thôi chứ không làm gì được bên có nghĩa vụ nữa.

Trong các doanh nghiệp như cổ đông góp vốn trong công ty cổ phần hay thành viên góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn thì những người này cũng chỉ chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp của họ. Khi đó, thủ tục phá sản thực ra là quy trình pháp lý giúp tất toán các hợp đồng, kết thúc một chu kỳ quan hệ về quyền lợi nghĩa vụ dân sự.

Sau khi xác định các khoản nợ và mức độ tài sản hiện còn của doanh nghiệp, thủ tục phá sản sẽ được thực hiện. Khối tài sản ít ỏi còn lại sẽ được dùng để chi trả cho các khoản nghĩa vụ lần lượt được xác định. Sẽ có những khoản nợ không được hoàn trả vì tài sản doanh nghiệp đã hết. Và khi đó, chủ nợ cũng đành phải chấp nhận. Lúc đó, thủ tục phá sản chính là cách để giải thoát trách nhiệm cho các doanh nhân khỏi các vướng mắc pháp lý, làm sạch bản thân để từ đó có thể có một khởi đầu mới.

Theo Luật Phá sản năm 2014 đang có hiệu lực thi hành, chế tài cuối cùng mà một chủ doanh nghiệp có thể phải chịu là bị cấm thành lập doanh nghiệp hoặc tham gia quản lý doanh nghiệp trong thời hạn 3 năm. Tuy nhiên, chế tài đó chỉ áp dụng cho những người đã có hành vi bất hợp tác chống đối trong quá trình xử lý thủ tục phá sản. Còn lại hầu như không có vấn đề gì đối với một chủ doanh nghiệp thực hiện thủ tục phá sản.

Lợi ích như vậy mà lâu nay rất ít doanh nghiệp thực hiện cho xong thủ tục phá sản một doanh nghiệp. Và điều đáng buồn là tình trạng này lại một lần nữa làm lộ ra vấn đề năng lực của ngành tư pháp Việt Nam. Bởi lẽ, thủ tục phá sản là một trình tự tư pháp được thực hiện bởi tòa án. Quyết định về phá sản doanh nghiệp có hiệu lực thực thi tương tự bản án. Song những thủ tục tư pháp nhiêu khê và năng lực thực thi yếu kém đang là nguyên nhân khiến cho rất ít doanh nghiệp thực hiện thủ tục phá sản, ít đến nỗi không có cả số liệu thống kê về phá sản.

Hiện nay, để gia tăng số lượng doanh nghiệp hoạt động trong nền inh tế, các ban ngành cần phải giải quyết cho thông suốt vấn đề doanh nghiệp phá sản.

Nguồn: BBC

TKNB – 20/11/2018

CPTPP đòi hỏi Việt Nam thay đổi hệ thống pháp luật


Tuần qua, có nhiều sự kiện quốc tế quan trọng và Việt Nam đã tham gia tích cực vào những sự kiện này. Hội nghị cấp cao APEC đã kết thúc với việc lãnh đạo các nền kinh tế trong khu vực thảo luận về những rủi ro và thách thức đối với nền kinh tế toàn cầu, về chủ nghĩa bảo hộ và nền kinh tế kỹ thuật số.

Đầu tuần qua, Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Bà Tatiana Flegontova, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu APEC, Học viện Kinh tế quốc dân và hành chính quốc gia trực thuộc Tổng thống, cho rằng sự tham gia của Việt Nam vào CPTPP sẽ làm tăng thu nhập thực tế của nước này lên 11 tỷ USD vào năm 2030. Nếu Mỹ không rút khỏi thỏa thuận, con số này có thể lên đến 41 tỷ USD. Tuy nhiên, CPTPP cũng mở rộng cửa cho các nước khác trong khu vực, và các quốc gia, vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Indonesia và Đài Loan đang thể hiện sự quan tâm đến nó. Nếu họ cũng tham gia hiệp định, thu nhập thực tế của Việt Nam sẽ lên tới 25 tỷ USD.

Bà Tatiana Flegontova nói: “CPTPP có kiểu cơ cấu tổ chức mới. Đây không chỉ là một khu vực thương mại tự do quy mô lớn. Ở đây, hoạt động của các công cụ thuế quan bị hạn chế, và điều quan trọng nhất là điều hòa các biện pháp phi thuế quan. Mỹ từng đề xuất nhiều biện pháp như vậy. Điều đó đã gây ra sự phản đối và dẫn đến các cuộc tranh luận gay gắt giữa các bên khác tham gia thỏa thuận. Tuy nhiên, các nước đó rất muốn thâm nhập vào thị trường Mỹ đầy hứa hẹn, vì vậy, họ đã chấp nhận các biện pháp không hấp dẫn đối với mình.

Hiện nay, sau khi Mỹ rút khỏi thỏa thuận, nhiều biện pháp bị đóng băng. Các nước tham gia CPTPP không từ bỏ hiệp định vì vẫn hy vọng Mỹ sẽ quay trở lại. Kết quả là nội dung về sở hữu trí tuệ được quy định tại Chương 18 của hiệp định đang bị đóng băng. Đây là lĩnh vực Mỹ đứng hàng đầu và là động cơ của cuộc cải cách đang được thực hiện ở các nước – đối tác thương mại. Các nước này cũng đưa ra những sửa đổi quy tắc đầu tư”.

Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư (ISDS) vẫn giữ nguyên. Công ty nước ngoài có thể khởi kiện Chính phủ lên tổ trọng tài quốc tế, bỏ qua các tòa án quốc gia, khi quốc gia này vi phạm nghĩa vụ của mình và vi phạm đó gây tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài. Chương riêng về các doanh nghiệp nhà nước do Mỹ đề xuất cũng giữ nguyên. Các điều khoản của chương này gây phức tạp cho các công ty nhà nước để nhận tài trợ và được cấp ưu đãi.

Cuối cùng, thỏa thuận không cho phép các quốc gia thành viên đòi hỏi các công ty phải nội địa hóa dữ liệu và cho phép sử dụng hệ thống máy chủ toàn cầu. Quy định này trái với Luật An ninh mạng của Việt Nam. Tuy nhiên, văn bản Hiệp định CPTPP giải thích rõ thêm rằng, quy tắc này sẽ không được áp dụng tại Việt Nam chừng nào các cơ quan chức năng chưa áp dụng các cơ chế pháp lý để bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Bà Tatiana Flegontova nói: “Việc tham gia CPTPP đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện nhiều công việc nghiêm túc liên quan đến Luật lao động. Ở đây nói về việc thành lập các tổ chức công đoàn và cơ chế giải quyết tranh chấp lao động. CPTPP áp đặt tiền phạt nặng nề đối với các vụ vi phạm tiêu chuẩn lao động. Hiện nay, theo CPTPP, Việt Nam phải phê chuẩn tất cả 8 công ước cơ bản của Tổ chức lao động quốc tế. Đại diện Việt Nam đã yêu cầu đóng băng chương này. Tuy nhiên, theo kết quả các cuộc đàm phán, các bên thông qua quyết định giữ nguyên nó. Việt Nam còn 7 năm để đưa ra những sửa đổi pháp luật cần thiết trước khi các biện pháp trừng phạt thương mại có hiệu lực”.

Điều gì sẽ xảy ra nếu Mỹ quyết định quay trở lại TPP? Sau đó, thỏa thuận phải được sửa đổi một lần nữa, phải khôi phục các chương đang “bị đóng băng”. Xét theo lập trường của Tổng thống Donald Trump, việc khôi phục các chương cũ là không đủ, ông Trump có thể yêu cầu tạo điều kiện đặc biệt cho Mỹ. Vì vậy, Washington có thể gia nhập CPTPP sau khi ông Trump rời ghế tổng thống.

Nguồn: Sputnik

TKNB – 20/11/2018

Hợp tác tư pháp Viêt – Pháp


Theo đài RFI, trong số các lĩnh vực hợp tác lâu năm giữa Pháp và Việt Nam, hợp tác về pháp luật, tư pháp đã được khởi xướng ngay từ năm 1986, nhằm hỗ trợ công cuộc “Đổi mới” của Việt Nam, sau này nhằm hỗ trợ cho cải cách tư pháp ở Việt Nam. Việt Nam có thể học hỏi nhiều kinh nghiệm của Pháp trong lĩnh vực như tư pháp đối với tội phạm vị thành niên, phát triển án lệ.

Theo sáng kiến của luật sư Thi My Hanh NGO-FOLLIOT, Chủ tịch Ủy ban Việt Nam trong Luật sư đoàn Paris, trong khuôn khổ kỷ niệm 45 năm quan hệ ngoại giao Pháp – Việt và 5 năm quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước, ngày 16/10, một cuộc hội thảo về hợp tác Pháp – Việt đã diễn ra tại Nhà Luật sư đoàn (Maison du Barreau) ở Paris.

Khách mời danh dự của cuộc hội thảo này là hai giáo sư Lê Kim Ngọc và Trần Thanh Vân – hai sáng lập viên của Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành, những người đã có nhiều đóng góp cho hợp tác Pháp – Việt.

Tuy chỉ kéo dài chưa đầy 3 giờ đồng hồ, hội thảo đã điểm qua những kết quả và triển vọng hợp tác giữa hai nước trong nhiều lĩnh vực, từ y tế, giáo dục, quốc phòng cho đến tư pháp, với phần trình bày của các diễn giả, trong đó có cựu Đại sứ Pháp tại Việt Nam Claude Blanchemaison, bác sĩ Gildas Treguier, Phó Chủ tịch Liên đoàn Y tế Pháp – Việt, thẩm phán Patrick Matet thuộc Tòa Phá án của Pháp và Đại sự Việt Nam tại Pháp Nguyễn Thiệp. Đối với luật sư Thi My Hanh NGO-FILLIOT, các diễn giả có điểm chung, họ đều rất tâm huết với hợp tác Pháp – Việt.

Nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống François Mitterrand tháng 2/1993, hai thỏa thuận quan trọng đã được ký kết: Thỏa thuận hợp tác pháp luật và tư pháp giữa Pháp và Việt Nam và Thỏa thuận thành lập Nhà Pháp luật Việt – Pháp tại Hà Nội.

Nhà Pháp luật Việt – Pháp, được thành lập năm 1993 và hoạt động cho đến năm 2012, đã tư vấn và hỗ trợ Việt Nam thực hiện cải cách cũng như tổ chức các đợt nghiên cứu thực tiễn tại Pháp, đào tạo cho các chuyên ngành pháp lý (thẩm phán, luật sư, công chứng viên, thừa phát lại), đào tạo tiếng Pháp chuyên ngành luật…

Tiếp nối công việc của Nhà Pháp luật Việt – Pháp, luật sư Thi My Hanh NGO-FOLLIOT từ mấy năm qua đã có nhiều hoạt động để giúp đào tạo, nâng cao trình độ cho các thẩm phán, luật sư Việt Nam. Sau hội thảo, luật sư Thi My Hanh NGO-FOLLIOT cho biết: “Chúng tôi có dự án giữa tháng 5 và tháng 6/2019 tổ chức nhiều hội thảo ở Việt Nam, ở Hà Nội về luật hợp đồng, Huế về luật cầm cố, thế chấp tài sản; TPHCM và Quy Nhơn hội thảo về trọng tài quốc tế. Đây là lĩnh vực mới, Việt Nam có rất nhiều nhu cầu về đào tạo, nâng cao trình độ, để các trọng tài Việt Nam có thể tham gia hoạt động trên thế giới”.

Một hợp tác đáng chú ý khác giữa Pháp và Việt Nam là thỏa thuận hợp tác giữa Tòa Phá án (Cour de cassation) của Pháp với Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam, ký vào năm 2013.

Thẩm phán Patrick Matet cho biết thêm: “Tòa phá án của Pháp đã ký một hiệp định với Tòa án Tối cao Việt Nam để tăng cường hợp tác giữa hai nước và đáp ứng nhu cầu của các thẩm phán Việt Nam, cũng như của Tòa án Tối cao Việt Nam. Đây là phương cách để tòa án của hai bên bổ túc kiến thức cho nhau.

Cũng như các cơ chế khác của Việt Nam, Tòa án Tối cao Việt Nam, về luật dân sự, dựa theo luật của nước Pháp chính quốc, gàn giống với luật hiện hành tại Pháp, không phải giống các điều luật, mà về cơ cấu của luật.

Kể từ khi ký kết thỏa thuận, chúng tôi đã nhiều lần tổ chức cho các phái đoàn Pháp và Việt Nam đi thăm lẫn nhau, tổ chức nhiều cuộc hội thảo để các thẩm phán Việt Nam và Pháp có dịp trao đổi với nhau về nhiều chủ đề: tư pháp vị thành niên, giải thích các phán quyết, phổ biến các quyết định của Tư pháp, phát triển án lệ. Đó là những vấn đề liên quan đến hai nước Pháp và Việt Nam”.

Những lĩnh vực thẩm phán Matet vừa nêu, đặc biệt tư pháp đối với tội phạm vị thành niên và phát triển án lệ, là những lĩnh vực Việt Nam đang học hỏi kinh nghiệm từ các nước. Theo thẩm phán Matet, Pháp có thể đóng góp nhiều kinh nghiệm cho các thẩm phán Việt Nam, đặc biệt, Pháp là quốc gia có lịch sử phát triển án lệ từ lâu, như nhiều nền tư pháp tiên tiến khác trên thế giới:

Việt Nam đã phát triển hệ thống tư pháp vị thành niên riêng. Chúng tôi đã có rất nhiều kinh nghiệm từ năm 1945 trong lĩnh vực này. Nước Pháp có thể đóng góp cho Việt Nam những kinh nghiệm đó, nhất là về mặt hỗ trợ giáo dục vị thành niên.

Về án lệ, vì những lý do liên quan đến tổ chức hệ thống tư pháp, Việt Nam không muốn có những án lệ, những án lệ không có trọng lượng giống như ở châu Âu, nhất là ở Pháp. Dần dần, Việt Nam mới nhận thấy sự cần thiết phải cho một người biết về cách thi hành các phán quyết của thẩm phán. Từ khoảng 2 năm nay, Tòa án Tối cao đã xem xét một số phán quyết của họ là án lệ. Nhưng hiện giờ, việc tiếp nhận khái niệm án lệ còn hạn chế. Chỉ có 17 trên tổng số 300 phán quyết của Tòa án Tối cao Việt Nam được gắn nhãn hiệu án lệ.

Về việc phổ biến các phán quyết, ở Việt Nam có một cơ chế khá độc đáo, cho phép người dân tiếp cận được những phán quyết của tòa, nhất là của Tòa án Tối cao. Tất cả các phán quyết này có thể được tham khảo trên mạng. Bây giờ phải tìm hiểu xem việc phổ biến như vậy có tác động như thế nào đối với công luận. Đây chỉ mới là giai đoạn đầu. Phía Việt Nam phải tiến hành đánh giá về hiệu quả của cơ chế đó.

Trong thời đại mở cửa như hiện nay, việc phổ biến các quyết định của tư pháp phải mang tính toàn diện. Nước Pháp cũng đang theo hướng thiết lập một trung tâm dữ liệu mở để phổ biến toàn bộ các quyết định tư pháp, Việt Nam sẽ biết cách để thích ứng với tình hình mới. Tương lai sẽ cho chúng ta biết là Việt Nam đi về hướng nào”.

Ngoài việc cung cấp những kinh nghiệm, Pháp tiếp tục giúp Việt Nam về mặt đào tạo trong lĩnh vực tư pháp. Chẳng hạn như nhân chuyến thăm của phái đoàn Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam đến Paris, Trường đào tạo thẩm phán quốc gia Pháp năm 2017 đã ký kết Thỏa thuận chung về hợp tác đào tạo tư pháp với Học viện Tòa án Việt Nam.

Tại cuộc hội thảo ngày 16/10 ở Nhà Luật sư đoàn tại Paris, một số diễn giả, trong đó có Đại sứ Việt Nam tại Pháp Nguyễn Thiệp, cũng nêu lên khả năng phục hồi hoạt động của Nhà Pháp luật Việt – Pháp.

Nguồn: TKNB – 24/10/2018

Người Việt bị buôn sang Scotland: Nạn nhân hay tội phạm


Cảnh sát Scotland đang tìm cách trấn áp các hoạt động buôn người đằng sau nạn nô lệ mới mà nạn nhân là những người Việt đã bỏ tiền ra để được đưa sang châu Âu với đích đến cuối cùng là Anh. Những người này hy vọng tìm được một việc làm có mức lương khá, nhưng đã trở thành những nạn nhân bị khai thác sức lao động hoặc bị lạm dụng.

Đeo đuổi giấc mơ đổi đời, nhiều người trẻ tuổi từ Việt Nam đã được thực hiện những cuộc hành trình đầy gian nan đi qua các nước Đông Âu rồi Tây Âu, để cuối cùng tới được Scotland. Đối với nhiều người, thực tế lại vô cùng phũ phàng. Rất nhiều người Việt tới Scotland theo cách này bị khai thác sức lao động tại các trại trồng cần sa hoặc các tiệm làm móng tay, có người đã trở thành những nô lệ tình dục tại đất nước họ từng hy vọng có thể mưu tìm một cuộc sống tử tế.

Những người Việt này nằm trong số 40 triệu người đã trở thành những “con mồi” của một kỹ nghệ toàn cầu mang về món lợi khổng lồ ước lượng 150 tỷ USD hàng năm cho những kẻ buôn người. Trong khi nhiều người bị khai thác sức lao động một cách công khai, bán dâm trên các đường phố hoặc lao động trong các cửa tiệm làm móng, cảnh sát Scotland gặp rất nhiều khó khăn trong nỗ lực chống lại các hoạt động buôn người vì rất ít người Việt chịu xuất đầu lộ diện, công khai nói về tình cảnh bi đát của mình. Thanh tra Brian Gallagher nói: “Rất khó lấy được niềm tin của các nạn nhân để có một bức tranh toàn cảnh, bởi họ rất sợ cảnh sát. Rất khó thâm nhập vào các cộng đồng người Việt cư ngụ tại các thị trấn và thành phố của chúng ta. Đó chính là tình huống mà những kẻ buôn người khuyến khích”.

Phát biểu tại trụ sở chính của đơn vị chống buôn người ở Glasgow, Thanh tra Gallagher cho rằng điều cần làm là nâng cao nhận thức của các nhân viên công lực để họ nhận biết hành vi tội phạm bên dưới những hoạt động bình thường, hoặc đằng sau những cánh cửa đóng kín, và những tội ác được che đậy bên dưới các tội hình sự khác.

Năm 2017, có tất cả 213 vụ tình nghi là buôn người. Con số này đã tăng so với 150 vụ năm 2016. Một nửa số nạn nhân đến từ Việt Nam.

Các nhóm tội phạm quảng cáo Anh là “vùng đất hứa” đối với nhiều người Việt, khiến nhiều người thực hiện những cuộc hành trình gian nan kéo dài nhiều tháng, có lúc phải đi bộ hàng ngàn dặm, có lúc lên tàu hay xe tải để tới điểm cuối cùng.

Miền Bắc nước Pháp vẫn là một cửa ngõ quan trọng cho những người Việt Nam muốn tới Anh, bất chấp chiến dịch càn quét người di dân và những kẻ buôn người quanh cảng Calais. Nhiều người di chuyển tới miền Bắc, vượt ranh giới vào Scotland, nhưng theo các giới chức ở đây, một số phụ nữ Việt Nam đã tới Anh qua ngả Scandinavia và Bắc Ireland, trong khi cảnh sát dự kiến có những đường mới xuất hiện giữa lúc những kẻ buôn người tìm những phương thức mới để tránh lưới công lý.

Bà Mimi Vũ thuộc Quỹ liên kết Thái Bình Dương, một tổ chức chống buôn người nói rằng bất kể bao nhiêu khó khăn trước mắt, hoặc đã được cảnh báo bao nhiêu lần, sức hấp dẫn của cuộc sống tốt đẹp bên trời Tây là một nam châm thu hút rất nhiều người trẻ tuổi Việt Nam.

Bà Mimi Vũ bỏ rất nhiều thời gian làm việc để nâng cao nhận thức ngay tại Việt Nam, địa điểm xuất phát. Bà nói: “Rất khó có thể phản bác câu chuyện do những kẻ buôn người thêu dệt. Một bên là lời hứa hẹn đối với những người ra đi rằng họ “sẽ tìm được hũ vàng” đang chờ họ ở vương quốc Anh so với những lời cảnh báo của chúng tôi, coi chừng bị lạm dụng hoặc kẻ xấu bắt làm nô lệ”.

Theo bà Mimi Vũ, những khuyến cáo người Việt ở trong nước về những làn sóng di dân đang gia tăng ở Anh và về tình trạng bất định xoay quanh Brexit cho tới nay vẫn tỏ ra vô hiệu quả.

Các tổ chức từ thiện cho biết những lo sợ sẽ bị bắt và trục xuất về nước, hoặc sợ thân nhân ở Việt Nam bị những kẻ buôn người trả thù, đã khiến nhiều “nô lệ mới” người Việt cam chịu cuộc sống nô lệ trong bóng tối. Chính phủ Anh cho biết rất nhiều nô lệ người Việt trên khắp nước Anh bị bác đơn xin tị nạn khi bước sang tuổi 18. Trong năm 2017, có khoảng 50 trường hợp so với tổng cộng 54 người trong 3 năm từ 2014 – 2016. Theo các luật sư, nhiều thanh niên bị trục xuất sau khi thọ án tù về những tội mà họ bị ép buộc phải làm trong thời gian bị các tổ chức tội phạm giam giữ, như tội liên quan tới ma túy vì đã từng làm việc torng các trại trồng cần sa. Bà Debbie Beadle, Giám Đốc chương trình tại tổ chức từ thiện chống buôn người ECPAT UK nói: “Nhiều nạn nhân trẻ tuổi người Việt bị coi như những tội phạm thay vì nạn nhân của một tội ác”.

Trong một cuộc khảo sát do chính phủ thực hiện năm ngoái, một nửa người dân Scotland không tin nạn buôn người là một vấn đề tại Scotland, bất chấp nạn buôn người diễn ra tại 27 địa điểm trong tất cả 32 địa phương ở Scotland.

Tuy vậy, theo Chỉ số nô lệ toàn cầu của tổ chức nhân quyền Walk Free Foundation, tội ác liên quan tới buôn người đang phát triển và biến đổi trên khắp nước Anh với tổng cộng 136.000 nô lệ mới. Con số này cao gấp 10 lần so với con số ước lượng do chính phủ đưa ra vào năm 2013.

Nguồn: Reuters

TKNB – 21/09/2018

Vì sao khối tư pháp vắng mặt trong Bộ Chính trị


Ngô Ngọc Trai

Trong các ngày 4 – 5/9, Ủy ban Tư pháp Quốc hội dưới sự chủ trì của bà Lê Thị Nga đã họp bàn và lắng nghe các báo cáo của Bộ Công an, Thanh tra Chính phủ, Viện Kiểm soát Nhân dân Tối cao và Tòa án Nhân dân Tối cao. Nhiều vấn đề quan trọng và nổi cộm của đất nước được nêu ra mổ xẻ trách nhiệm và luận bàn giải pháp.

Báo cáo về tinh hình tội phạm của Bộ Công an cho rằng, thời gian qua, đã có “những tổ chức phản động trong và ngoài nước” kích động lôi kéo người dân và các đối tượng hình sự tại nhiều địa phương biểu tình gây rối trật tự công cộng.

Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa, Ủy viên Ủy ban Tư pháp cho rằng biểu tình là quyền Hiến định của công dân, nếu xử lý không khéo thì sẽ coi những người đi biểu tình là tội phạm, là xấu hết, trong khi chưa có Luật biểu tình.

Ông Trương Trọng Nghĩa lưu ý rằng luật này đã lùi, hoãn nhiều lần và cho rằng càng khó thì càng nên nghiên cứu để ban hành chứ không nên bỏ dở.

Nhắc lại câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng dân chủ là để làm sao cho dân có quyền biểu đạt, đại biểu Trương Trọng Nghĩa đề nghị nên tổ chức nhiều hoạt động sinh hoạt tập thể để dân có quyền biểu đạt và nêu ý kiến cá nhân.

Liên quan đến báo cáo của Thanh tra Chính phủ về công tác phòng chống tham nhũng, các đại biểu chất vấn việc 1,1 triệu bản kê khai tại sao lại chỉ xác minh có 44 bản?

Theo đại biểu Nguyễn Thị Thủy, 6/44 trưởng hợp xác minh có vi phạm là khá lớn, chiếm 13,6%. Vậy còn hơn 1 triệu người chưa xác minh thì đề nghị Tổng Thanh tra Chính phủ đánh giá xem tỷ lệ vi phạm trong số đó lớn thế nào?

Đối với báo cáo của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, các đại biểu chất vấn về tình trạng vì sao hồ sơ các vụ án kinh tế, tham nhũng cứ phải trả đi, trả lại.

Ông Lê Minh Trí, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao than phiền nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ trả hồ sơ loại tội phạm kinh tế, chức vụ tham nhũng cao vì “đó là đối tượng có trình độ, có quan hệ, có tiền, có khả năng đối phó, thậm chí còn có những quan hệ tác động khác. Đặc biệt là tham nhũng trong hoạt động tư pháp nên chính cơ quan bảo vệ pháp luật vi phạm pháp luật”.

Ngoài các vấn đề đó, Ủy ban Tư pháp còn chất vấn về nguyên nhân, lý do để xảy ra những vụ án lớn đang được dư luận quan tâm như vụ đánh bạc liên quan đến 2 cán bộ công an cấp cao là Phan Văn Vĩnh và Nguyễn Thanh Hóa, vụ án Vũ “nhôm” ở Đà Nẵng, cùng nhiều vấn đề khác.

Những điều đó cho thấy mức động rộng mở bao quát các vấn đề mà Ủy ban Tư pháp Quốc hội đã bàn luận, và đó đều là những vấn đề quan trọng trong chương trình nghị sự quốc gia.

Vị thế tư pháp thấp

Trong khi Quốc hội có 1 Hội đồng và 9 Ủy ban, nhưng các cơ quan đều kém nổi bật về vai trò và khả năng xử lý các vấn đề nổi cộm của đất nước so với Ủy ban Tư pháp, ví như Ủy ban Pháp luật của Quốc hội kém dấu ấn hơn.

Ủy ban Tư pháp hiện nay tuy thuộc về cơ quan lập pháp là Quốc hội, nhưng hiện đang đóng them vai trò của tư pháp, tháo gỡ, tạo lực đẩy hoạt động cho các cơ quan tư pháp thông qua luận bàn và định ra phương hướng giải quyết các sự vụ.

Ở những nước thiết lập bộ máy nhà nước theo mô hình “tam quyền phân lập” thì Tư pháp do Tòa án đứng đầu có vai trò ngang ngửa với Lập pháp và Hành pháp, là một trong 3 trụ cột của bộ máy nhà nước, Tư pháp đảm trách một khối lượng công việc đồ sộ, cũng như giữ vai trò to lớn.

Ở Việt Nam hiện nay, bộ máy nhà nước thiết kế theo mô hình khác, nhưng tính chất mức độ phạm vi các sự vụ thuộc về thẩm quyền giải quyết của tư pháp cũng vẫn thế trong đời sống vận động của quốc gia.

Khối lượng công việc nhiều là thế, song các ngành tư pháp ở Việt Nam lại giữ một vai trò hạn chế, khiêm tốn. Bằng chứng là lãnh đạo các ngành tư pháp như Tòa án, Viện Kiểm sát không có chân trong Bộ Chính trị, khối tư pháp chỉ giữ vài ba vị trí Ủy viên Trung ương trong một Ban Chấp hành khoảng 200 người.

Vị thế khiêm tốn như vậy chắc chắn sẽ để lại những khoảng trống về các vấn đề mà ngành tư pháp không đủ khả năng xử lý.

Và do vậy, hiện tại, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội tuy là cơ quan thuộc về Lập pháp nhưng lại đóng them vai trò thúc đẩy giải quyết các sự vụ, bổ khuyết cho năng lực còn hạn chế của các cơ quan tư pháp.

Tòa án yếu kém?

Trong nền tư pháp thì tòa án thiết chế giữ vai trò trung tâm. Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ Tòa án thực hiện quyền tư pháp bên cạnh Quốc hội thực hiện quyền lập pháp và Chính phủ thực hiện quyền hành pháp.

Nhưng thực tế lâu nay, tòa án giữ vị trí quyền hạn yếu kém trong lĩnh vực chính trị đã nêu trên và trong hoạt động chuyên ngành cũng vậy.

Ngày 22/8, tại phiên họp Ủy ban Tư pháp về Báo cáo giám sát việc giải quyết các vụ án hành chính, đại biểu Hoàng Văn Hùng, Ủy viên Ủy ban Tư pháp cho biết khi làm việc tại 2 tỉnh, thành phố lớn ở phía Nam, trong quá trình làm việc có Bí thư một thành phố tuyên bố: Tôi còn làm Bí thư thì tôi chưa chấp hành bản án này.

Các đại biểu cho rằng việc lãnh đạo chính quyền địa phương không tham gia đối thoại, không tham gia phiên tòa, thậm chí không chấp hành các bản án hành chính đã có hiệu lực, là m6o5t sự coi thường, bất chấp pháp luật.

Trong hoạt động tố tụng hình sự, tòa án hiện đang bị san sẻ, chia quyền với các cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát trong việc thực hiện các hoạt động bắt giữ, khám xét và thu giữ đồ vật. Những quyền hạn này đáng ra chỉ thuộc về tòa án.

Bản án của tòa án còn bị làm cho suy yếu bởi hoạt động đặc xá tha tù trước thời hạn có tính chất đại trà hàng loạt mỗi năm. Hoạt động này về bản chất là cơ quan khác đã tranh giành, lấy đi một phần quyền phán quyết hình phạt của tòa án.

Mới đây, Bộ luật hình sự mới ban hành đã quy định về việc ân xá, đặc xá, theo đó, các phạm nhân khi chấp hành án tốt sẽ được tòa án xem xét ra quyết định trả tự do trước thời hạn.

Việc trả tự do trước thời hạn lâu nay vốn là hoạt động đặc xa đại trà thì nay thuộc thẩm quyền phán quyết của tòa án về tha tù trước thời hạn. Theo đó, Tòa án được trả lại ủy quyền của mình đối với giá trị của bản án và số phận của bị cáo. Để đảm bảo đúng rằng Tòa án là nơi đưa ra hình phạt thay vì phải chia sẻ quyền ra phán quyết hình phạt với cơ quan khác.

Một mảng vấn đề mới tới đây cũng có khả năng sẽ giúp gia tăng vị thế, quyền hạn cho tòa án đó là ngày 6/9, tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách, khi thảo luận về Luật phòng chống tham nhũng sửa đổi, các ý kiến đại biểu cơ bản nhất trí về phương hướng xử lý đối với tài sản quan chức kê khai không rõ nguồn gốc.

Theo đó, những khối tài sản, thu thập tăng them mà người có nghĩa vụ kê khai tài sản không giải trình được hợp lý về nguồn gốc thì sẽ do Tòa án xem xét, quyết định. Nội dung này nhiều khả năng sẽ được Quốc hội thông qua và như vậy sẽ gia tăng quyền hạn cho tòa án.

Tóm lại, với những diễn tiến của chương trình nghị sự quốc gia như lâu nay cho thấy, phạm vi tính chất công việc của khối các thiết chế tư pháp đang ngày một mở rộng và quan trọng. Các vấn đề tư pháp đang ngày một trở thành trọng tâm của đời sống chính trị quốc gia, các sự vụ tư pháp chiếm một thời lượng lớn trong các chương trình nghị sự đất nước.

Đã đến lúc khối ngành tư pháp cần có vị trí cao hơn để tương xứng với phạm vi công việc, giúp cân bằng kiểm soát các hoạt động, theo đó cần bổ sung đưa người của khối cơ quan tư pháp tham gia vào cơ quan quyền lực cao nhất nước.

Không giống như nhiều nước đa đảng, bộ máy tư pháp được yêu cầu không tham gia đảng phái chính trị để giữ sự trung lập khách quan, ở Việt Nam hầu hết cán bộ nhà nước là đảng viên, cho nên, để cân bằng kiểm soát các hoạt động, cần bổ sung đưa người của khối cơ quan tư pháp tham gia vào cơ quan quyền lực cao nhất nước.

Sẽ là hợp lý nếu dành cho Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp và Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao có “chân” trong Bộ Chính trị.

Nguồn: BBC

TKNB – 14/09/2018

Tiến bộ của Trung Quốc trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ


William Weightman

Trung Quốc từ lâu đã được coi là “công xưởng của thế giới”, nơi sản xuất ra hàng hóa chất lượng thấp, bắt chước sản phẩm và mô hình kinh doanh của các công ty nước ngoài. Mặc dù có sự can thiệp mạnh mẽ của chính quyền hay các giá trị giáo dục của tư tưởng Nho giáo, Trung Quốc vẫn là mảnh đất của công nghệ sao chép và không tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ (IPR).

Điều này có chính xác không?

Nhiều công ty Mỹ vẫn tin như vậy. Theo một cuộc điều tra năm 2017 do Phòng Thương mại Mỹ thực hiện tại Trung Quốc, các doanh nghiệp có quan điểm chia rẽ về luật và các quy định về quyền sở hữu trí tuệ của Trung Quốc; nhưng hơn một nửa số doanh nghiệp được hỏi hoài nghi rằng luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ được thực thi đầy đủ ở Trung Quốc.

Các công ty nước ngoài than phiền rằng việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc là rất khó do chủ nghĩa bảo hộ của nhánh tư pháp ở địa phương, khó khăn trong thu thập bằng chứng, các khoản đền bù thiệt hại nhỏ, và có sự thiên vị cho các doanh nghiệp trong nước.

Tuy nhiên, trong một thập kỷ qua, Trung Quốc đã ngày càng đổi mới và chứng minh rằng nước này đang nghiêm túc thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Thật vậy, khi các công ty Trung Quốc mở rộng hoạt động ở nước ngoài và đổi mới công nghệ ở trong nước, các công ty này ngày càng đòi hỏi chính phủ thực hiện nghiêm việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Trên thực tế, nhiều quan ngại của các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc đã được giải quyết thông qua cải cách hệ thống pháp luật và các cơ chế thực thi mới.

Chủ nghĩa bảo hộ của nhánh tư pháp ở địa phương

Một quan ngại lớn nhất đối với việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc là các vụ kiện được đệ trình lên tòa án cấp uận, huyện sẽ bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa bảo hộ của nhánh tư pháp ở địa phương. Sách Trắng của Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc cho biết nước này đã có những bước đi quan trọng để loại bỏ chủ nghĩa bảo hộ của nhánh tư pháp ở địa phương và đảm bảo quy trình xét xử công bằng trong các vụ kiện liên quan đến sở hữu trí tuệ ở cấp quốc gia. Tháng 10/1995, Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc đã thành lập một cơ quan chuyên giám sát các vụ kiện liên quan tới sở hữu trí tuệ. Năm 2014, 3 thành phố của Trung Quốc là Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu, Thành Đô, và Vũ Hán cũng thành lập các tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ.

Do các tòa án chuyên trách này có quyền xét xử sơ thẩm tất cả các vụ kiện về sở hữu trí tuệ tại tỉnh, thành tương ứng, điều này sẽ làm giảm tác động tiêu cực của chủ nghĩa bảo hộ ở địa phương bằng cách loại bỏ cấp địa phương (quận, huyện) khỏi quy trình xét xử. Hệ thống tòa án chuyên trách cũng có thể cung cấp các thẩm phán có trình độ, cùng các điều tra viên về kỹ thuật có chuyên môn để giải quyết các vụ kiến phức tạp. Như vậy, việc này sẽ đảm bảo các đương sự trong và ngoài nước được xét xử công bằng.

Những thách thức trong việc thu thập chứng cứ

Để có thể khởi kiện, nguyên đơn cần có bằng chứng xác thực. Tại Mỹ, các bên thường thu thập thông tin qua thủ tục điều tra trước khi xét xử, bao gồm thẩm vấn và cung cấp lời khai, cũng như yêu cầu được tiếp cận các tài liệu, tài sản thực và hạng mục khác liên quan. Tuy nhiên, Trung Quốc hiện chưa có một quy trình chính thức nào như vậy và không có quy định yêu cầu những bên xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cung cấp bằng chứng, chẳng hạn như tài liệu bán hàng hoặc sổ sách kế toán, mà có thể được sử dụng để chứng minh sự vi phạm. Trên thực tế, nguyên đơn phải đảm nhận hoàn toàn gánh nặng cung cấp bằng chứng. Nhiều công ty cho rằng điều này làm cho họ không thể khiếu kiện tại Trung Quốc.

Tuy nhiên Điều 65 của Luật tố tụng dân sự Trung Quốc quy định: “Tòa án nhân dân có thẩm quyền thu thập chứng cứ từ các đơn vị, cá nhân có liên quan, và các đơn vị, cá nhân đó không được từ chối cung cấp bằng chứng”; quy định này giúp giảm nhẹ gánh nặng cung cấp bằng chứng cho nguyên đơn, song hiện nay vẫn chưa được áp dụng rộng rãi.

Năm 2015, Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc đã ban hành một văn bản diễn giải mới cho Luật tố tụng dân sự. Điều 112 của văn bản này cho phép một bên của vụ kiện liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ yêu cầu tòa án ra lệnh cho bên kia đưa ra các bằng chứng cụ thể. Cách diễn giải mới có mục tiêu tạo ra một quy trình công bằng để thu thập thông tin.

Tiền bồi thường không đáng kể

Các diễn giải mới về bằng chứng cũng sẽ giúp giải quyết vấn đề tiền bồi thường thiệt hại. Nhiều doanh nghiệp cho rằng việc khởi kiện về sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc là không đáng làm, vì khoản bồi thường thiệt hại quá nhỏ. Một tính toán cho thấy, người chiến thắng trong một vụ kiện về sở hữu trí tuệ nhận được khoảng 36% khoản bồi thường họ đòi, với mức đền bù trung bình khoảng 80.000 NDT (12.400 USD), trong khi chi phí pháp lý vào khoảng 10.000 NDT đến 30.000 NDT (1.550 USD đến 4.650 USD).

Tuy nhiên vào tháng 7/2017 tại Hội nghị công tác tài chính quốc gia, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố nước này “phải tăng cường nỗ lực trừng phạt các vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ và buộc những bên vi phạm phải trả giá đắt”. Tuyên bố trên của ông Tập được phản ánh qua đề xuất thay đổi luật sáng chế lần thứ tư. Các mức bồi thường theo luật định sẽ tăng từ 10.0000 NDT lên 1 triệu NDT (1.550 USD đến 155.000 USD), và tăng từ 100.000 NDT lên 5  triệu NDT (155.000 USD đến 775.000 USD).

Thực hiện tuyên bố của lãnh đạo tối cao Trung Quốc, các tòa án của nước này đã nỗ lực nâng mức bồi thường để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Năm 2016, Tòa án về sở hữu trí tuệ tại Bắc Kinh đã xử phần thắng cho nguyên đơn Watchdata System Co., Ltd và ra lệnh cho công ty Hengbao phải bồi thường 49 triệu NDT do vi phạm một bằng sáng chế, cùng chi phí pháp lý là 1 triệu NDT (tổng cộng khoảng 7,2 triệu USD). Tiếp theo là các chiến thắng mang tính bước ngoặt về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc như vụ kiện của hãng giày New Balance đối với 3 nhà sản xuất giày của nước này. 3 nhà sản xuất giày đã phải trả cho New Balance 10 triệu NDT (khoảng 1,5 triệu USD) cho hành vi sao chép logo của New Balance. Ngoài ra, một phán quyết điển hình khác là việc tòa án ra quyết định yêu cầu công ty công nghệ Baofeng trả hơn 6 triệu NDT (930.000 USD) cho Tencent do đã phát sóng 6 tập của chương trình “The Voice of China” mà chưa có bản quyền.

Những trường hợp này cho thấy xu hướng chung là tăng mức bồi thường đối với các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trên thực tế, mức bồi thường trung bình của một vi phạm bằng sáng chế tại Bắc Kinh đã được tòa án tăng hơn 3 lần, từ mức 450.000 NDT (70.000 USD) vào năm 2015 lên mức 1,4 triệu NDT (217.000 USD) trong năm 2016. Hiện tại, các vi phạm về tên thương mại có mức bồi thường trung bình khoảng 1,7 triệu NDT (263.500 USD), còn các vụ kiện về bản quyền có mức bồi thường khoảng 458.000 NDT (71.000 USD).

Vấn đề phân biệt đối xử đối với doanh nghiệp nước ngoài

Cuối cùng, một loạt tổn thất trước các doanh nghiệp ít tên tuổi của Trung Quốc trong các vụ kiện vi phạm bằng sáng chế của các tập đoàn lớn như Apple, Samsung, Sony và Dell, đã khiến nhiều nhà quan sát tin rằng các công ty nước ngoài hầu như không thể có được sự đối xử công bằng tại các tòa án của Trung Quốc.

Nhưng trên thực tế, các công ty nước ngoài vẫn được đối xử công bằng khi đối đầu với các doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ. Một nghiên cứu được tiến hành vào năm 2016 đã chỉ ra rằng từ năm 2006 đến năm 2011, các công ty nước ngoài đã giành chiến thắng trong hơn 70% các vụ kiện về vi phạm bằng sáng chế trước doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc. Hiện nay, tỳ lệ giành chiến thắng đã được tăng lên khoảng 80%. Con số trên đã giúp Trung Quốc trở thành nơi mà các công ty nước ngoài lựa chọn tiến hành các vụ kiện trong tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ.

Về chính sách, tháng 12/2017, Trung Quốc đã hoàn thành một chiến dịch trên phạm vị toàn quốc kéo dài 4 tháng sự phối hợp của 12 cơ quan thuộc chính phủ nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các công ty nước ngoài. Chiến dịch được kỳ vọng sẽ giúp các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ tăng cường hợp tác, tạo ra môi trường lành mạnh cho nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời ngăn chặn các vi phạm trong tương lai.

Mặc dù một số lập luận cho rằng các rào cản chính trị đã ngăn chặn Trung Quốc cải thiện môi trường pháp lý tại nước này, song việc nước này bắt tay thực hiện nhiệm vụ khó khăn là cải cách cơ chế quyền sở hữu trí tuệ đã cho thấy những biến chuyển; nước này không chỉ sửa đổi luật và quy định về sở hữu trí tuệ theo hướng mở rộng việc thu thập chứng cứ, tăng mức bồi thường đối với hành vi vi phạm, Trung Quốc còn thực hiện các chính sách mới nhằm hạn chế sự bảo hộ trong nước và sự phân biệt đối xử với doanh nghiệp nước ngoài.

Tuy hệ thống quy định liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ còn xa mới hoàn hảo, nhưng tác động của những cải cách này không nên bị đánh giá thấp. Những thay đổi trên được đánh giá là đại diện cho một xu hướng tích cực trong môi trường thương mại của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Nếu các doanh nghiệp nước ngoài bỏ qua sự tiến bộ này tại Trung Quốc, họ có thể để lỡ cơ hội kinh doanh tại đây.

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/01/chinas-progress-on-intellectual-property-rights-yes-really/

TLTKĐB – 30/01/2018