Pháp luật, công lý, lẽ công bằng – Phần cuối


3/ Lẽ công bằng – cầu nói giữa luật pháp và công lý

Trong mối quan hệ giữa luật pháp và công lý – xuất hiện lẽ công bằng. Lẽ công bằng chính là sự vận dụng công lý vào đời sống pháp luật.

Diễn văn mở đầu của Bộ luật dân sự Pháp 1804 đã chỉ rõ một nhược điểm to lớn của luật pháp – tính chật hẹp: “luật pháp – một khi đã soạn thảo xong, vẫn giữ nguyên những nội dung đã được viết ra. Nhưng con người thì trái lại, không ngơi nghỉ bao giờ: họ luôn hành động. Điều đó có nghĩa là dù có làm gì đi nữa thì luật thực định cũng không thể thay thế cho việc sử dụng các lý lẽ tự nhiên trong đời sống hàng ngày. Nhu cầu của xã hội quá đa dạng; giao tiếp giữa con người quá tích cực, lợi ích của họ quá phong phú và mối quan hệ giữa họ rất rộng mở, những điều đó làm cho công việc dự liệu của  nhà lập pháp trở thành không thể.

Công lý là điều mà nhân loại mong mỏi trong giải quyết mọi xung đột xã hội. Nhưng khái niệm công lý quá trừu tượng và chủ quan – đến mức người ta không thể viện dẫn như là một quy phạm.

Dưới thời cổ xưa, Nghị viện (cơ quan tư pháp thời đó) đã từng có quyền tuyên xử dựa trên công lý. “Chúa giữ cho ta sự công bằng thông qua Nghị viện” (Dieu nous garde de l’équité des Parlements). Tuy nhiên cho đến nay, các thẩm phán đều xử dựa trên luật pháp.

Lý do là xã hội cần đến sự an toàn pháp lý, con người cần phải được biết trước về hậu quả của hành động của chính mình. Luật pháp cần phải thống nhất trên một lãnh thổ toàn vẹn nhất định. Đây chính là những bảo đảm cho tự do cá nhân và sự bình đẳng của công dân trước pháp luật.

Tuy nhiên mặt khác khi pháp luật và công lý cũng không luôn được phân định rõ ràng. Nhà lập pháp đôi khi cho phép các thẩm phán xác định công lý. Ví dụ Điều 1135 Bộ luật dân sự Pháp quy định rằng: “hợp đồng có giá trị ràng buộc đối với các bên giao kết – không chỉ bao gồm các nội dung được thể hiện công khai mà còn bao gồm cả những điều suy luận từ bản chất của nó, từ tập quán, từ lẽ công bằng và từ pháp luật” (Le contrat valablement formé oblige ceux qui l’ont conclu non seulement pour ce qu’ils sui – vant les usages, l’équité ou la loi). Cũng như vậy Điều 700 của Bộ luật tố tụng dân sự Pháp cho phép thẩm phán được buộc một bên phải trả một khoản tiền nhất định nếu thẩm phán cho rằng việc bên kia phải trả khoản tiền đó là không công bằng – ví dụ như chi phí cho luật sư của bên đó. Rõ ràng là quyền xác định công lý được trao một cách gián tiếp cho thẩm phán.

Tóm lại thì thẩm phán có thể được tuyên trên cơ sở lẽ công bằng – nếu khi các bên hoặc luật pháp trao cho thẩm phán quyền đó. Trong quan hệ dân sự thì thẩm phán không phải là trọng tài hòa giải mà là người phán xử dựa trên nguyên lý công bằng. Thẩm phán bởi vậy được xét ử theo niềm tin nội tâm. Ngoài điều này ra thì rõ ràng thẩm phán không thể phán quyết một cách chung chung mà chỉ có thể dựa theo luật pháp. Có thể nói rằng lẽ công bằng là giải pháp làm giảm đi tính cứng nhắc và xa rời thực tế – nếu có – của một hệ thống pháp luật.

Saint Thomas đã nói rằng: “lẽ công bằng không đi ngược lại những cái gì đúng tự thân, nhưng có thể đi ngược lại những cái gì được cho là đúng theo pháp luật”. Với tiếp cận này thì lẽ công bằng rất gần với công lý.

Tính có thể xác định dễ hơn – đó là lý do mà lẽ công bằng được cầu viện hơn là công lý khi cần đưa ra phán quyết cho những tình huống phức tạp của đời sống. Vậy lẽ công bằng được hiểu là gì?

Lẽ công bằng được hiểu cả ở phương diện khách quan và chủ quan. Lẽ công bằng khách quan: đó là hệ thống các quy tắc mà thẩm phán sáng tạo ra – trong khi áp dụng các quy phạm pháp luật đang tồn tại thực tiễn. Đối mặt với những quy tắc quá cứng nhắc, thẩm phẩm sẽ làm mềm hóa chúng để việc áp dụng được đúng đắn hơn. Có thể nói rằng đây chính là các nguyên tắc đúc rút trong án lệ, hay đôi khi được gọi thẳng tên là các nguyên tắc pháp luật – (đối với thẩm phán ở các nước Civil law).

Lẽ công bằng chủ quan: được cân nhắc tùy theo từng trường hợp – do thẩm phán dùng để làm thích ứng một quy phạm vào tình huống cụ thể của các bên.

Bởi tính trừu tượng của lẽ công bằng cho nên về nguyên tắc, thẩm phán không thể trước tiên dựa trên lẽ công bằng để đưa ra phán quyết. Trước tiên thẩm phán phải dựa trên một quy định của pháp luật. Và pháp luật đôi khi sẽ chi phép thẩm phán cầu viện đến lẽ công bằng – trong khi áp dụng pháp luật.

Ví dụ: Điều 1135 Bộ luật dân sự quy định rằng khi xử một vụ việc hợp đồng, thẩm phán có thể áp dụng tất cả các luật, pháp quy liên quan đến hợp đồng, tất cả các nội dung quy định của hợp đồng nhưng cũng có thể cầu viện đến lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp.

Việc áp dụng lẽ công bằng có rủi ro là dựa trên sự đánh giá chủ quan nên dễ dẫn đến việc không công bằng. Bởi vậy quan điểm chung là thẩm phán tránh áp dụng lẽ công bằng – mà ưu tiên áp dụng quy định luật. Các thẩm phán nói chung có khuynh hướng tránh áp dụng lẽ công bằng, thậm chí có thể áp dụng luật pháp thậm chí không công bằng hơn là thay thế bằng một nguyên tắc công bằng thuần túy.

Ví dụ Án lệ của Tòa phá án ngày 11/05/1994 đã hủy phán quyết của Hội đồng giải quyết tranh chấp lao động – khi xử một vụ việc liên quan đến tranh chấp lao động – đã phán quyết rằng một người lao động bị đuổi việc không có quyền hưởng bồi thường. Tòa phá án cho rằng cấp xử dưới đã sai lầm khi không sử dụng quy định luật mà lại đã áp dụng lẽ công bằng.

Cá biệt cũng có tác giả cho rằng lẽ công bằng – thứ làm cho – có thể coi như một nguồn của luật pháp, nhưng chỉ là những trường rất ngoại lệ.

Sự vận dụng lẽ công bằng thường được cụ thể hóa thông qua các nguyên tắc pháp luật. Ví dụ khái niệm “thiện tâm” (bonne foi) là khái niệm rất phổ biến trong một số quốc gia thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa. Trong lĩnh vực luật dân sự, thẩm phán thường sử dụng đến khái niệm này trong hành trình tìm đến công lý. Theo tác giả J. Michel, “tương đương với sự thiện tâm về đạo đức, và có mối liên quan kín đáo với công lý, thiện tâm là khái niệm cầu nối giữa các nguyên tắc của pháp luật với nội hàm cốt lõi của công lý. Việc pháp điển hóa khái niệm này vào Bộ luật dân sự của các nước châu Âu lục địa sẽ ảnh hưởng lớn đến việc giao kết, thực hiện và đặc biệt là giải thích, giải quyết tranh chấp hợp đồng. Việc đưa ra các nguyên tắc của pháp luật chính là cầu nối trên hành trình đi tìm công lý.

Bởi vậy hệ quả khi viện dẫn mục tiêu công lý sẽ tạo tiền đề cho việc mở rộng nguồn pháp luật. Lý do là bởi lẽ công bằng hay công lý là khái niệm trừu tượng, để viện dẫn chúng thì thẩm phán cần lập luận – và đưa ra các tiêu chí về sau này có thể trở thành tiền lệ hay nguyên tắc pháp luật mà chính những điều này về sau cũng trở thành các vỏ hình thức mới của pháp luật.

Nguồn: Đào Trí Úc, Vũ Công Giao (đcb) – Công lý và quyền tiếp cận công lý – NXB HĐ 2018.

Pháp luật, công lý, lẽ công bằng – Phần II


3/ Mối quan hệ giữa pháp luật và công lý

Giữa pháp luật và công lý có mối quan hệ chặt chẽ. Đây là cảm nhận chung: mọi người đều thấy không đồng tình – dù trên phương diện luật pháp hay công lý – khi cảnh sát trục xuất người đã có đóng góp lâu dài, sống chăm chỉ và lương thiện trên một đất nước – dù buổi ban đầu họ đã vào đây do nhập cư bất hợp pháp; hoặc khi có một tội phạm kinh hoàng lại không bị đưa ra xét xử.

Rõ ràng pháp luật và công lý là những giá trị gần gũi. Nhưng cũng không thể nói rằng luật pháp luôn đồng nhất với công lý.

a/ Sự gần gũi

Theo quan điểm của Épicure (từ thế kỷ thứ ba trước Công nguyên): luật pháp bản chất là sự thỏa thuận – sự thỏa thuận này thay đổi theo cảnh huống của đời sống xã hội. Mặt khác luật pháp cũng là sản phẩm do con người đặt ra nhằm tránh hủy diệt lẫn nhau khi cùng chung sống trong cộng đồng. Mà công lý cũng là một khế ước giữa các xã hội, có thể ở bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào – được lập nên để tranh gây thiệt hại hay phải chịu các tổn hại. Giữa những mệnh lệnh ấn định – tức là pháp luật, cũng sẽ là công lý nếu chúng được thừa nhận chung là có ích cho xã hội – dù quan niệm về chúng hông giống nhau cho mọi người.

Cũng chính với ý tưởng đó, Hobbes đã viết: “luật là các quy tắc của công bằng và bất công: chẳng thể có điều gì bị coi là bất công nếu như nó không trái với một luật nhất định”. Các đạo luật dân sự – tức là các đạo luật được xác lập bởi nhà lập pháp – cũng có thể là công lý, khi mà chúng được hình thành do các công dân xác lập nên một khế ước với nhà nước; công dân chấp nhận đặt mình dưới quyền của nhà nước, và đổi lại thì họ được nhà nước bảo vệ. Pháp luật chỉ là công cụ để nhà nước bảo vệ trật tự xã hội – và luật pháp có công dụng, mục đích chung. Nếu như vậy thì luật pháp luôn là công bằng – bởi nó là sản phẩm của sự đồng thuận giữa các công dân. Hobbes cũng cho rằng: “nếu không có một quyền lực công cộng thì không thể có luật pháp; và nếu không có luật pháp thì cũng chẳng có công bằng”. Nếu không có quy tắc nào được thông qua trước đó, không có quyền nào đã được chuyển giao, và mọi người đều có quyền đối với mọi thứ, và do đó không có hành động nào bị coi là không công bằng. Ngược lại khi một quy tắc được thông qua, vi phạm nó là không công bằng. Định nghĩa về bất công không thực chất chỉ là việc không thực hiện một quy tắc. Và lúc này, tất cả những gì không phải là bất công thì sẽ là công lý [Hobbes, Léviathan, 1651].

Nhưng Hobbes cũng thừa nhận rằng chủ thể làm ra luật chính là công quyền. Hơn nữa việc sử dụng công cụ pháp luật phụ thuộc vào từng chủ thể nên luật pháp sẽ biến chuyển theo từng xã hội, và khái niệm về công lý cũng biến đổi theo.

Tuy  nhiên, quan điểm này thường bị phản đối bởi trường phái  pháp luật thực chứng – mà điển hình là Kelsen, cho rằng: “luật xuất hiện như một trật tự xã hội, như là hệ thống các quy tắc điều chỉnh hành vi tương tác giữa con người”.

b/ Sự khác biệt

+ Thứ nhất, luật pháp không đòi hỏi nhiều những yếu tố về phẩm hạnh – như công lý. Luật pháp có tính xác định và chuẩn mực rõ ràng. Luật pháp có tính khách quan: người ta đòi hỏi quyền (theo luật pháp); còn công lý thì có giá trị trừu tượng và có tính chủ quan: người ta cầu mong công lý.

Sự khác biệt giữa pháp luật và công lý có thể thấy chủ yếu ở pháp luật khách quan, bởi pháp luật khách quan là những quy tắc được đưa ra bởi nhà cầm quyền, bởi vậy thường thay đổi theo các quốc gia. Sự khác biệt này không nhiều khi so sánh với pháp luật tự nhiên: bởi các quyền tự nhiên thì lại là một giá trị phổ quát và không thay đổi dù ở quốc gia nào.

+ Thứ hai: Sự khác nhau còn thể hiện: luật pháp không nhất thiết trùng với công lý – bởi luật pháp trước hết còn được sử dụng để bảo đảm trật tự xã hội. Goethe đã nói: “Thà không công bằng còn hơn là hỗn loạn” (Il vaut mieux une injustice qu’un désordre).

Nhiều quan điểm cho rằng thẩm phán xét xử dựa trên luật, chứ không trên những điều cho là công lý, bởi vì luật pháp luôn không đồng nghĩa với công lý: luật pháp còn phải là biểu hiện không chỉ riêng công lý mà cả trật tự xã hội, an toàn và hòa bình.

+ Luật pháp không thể là bản thân công lý, mà luật pháp phải là công cụ sử dụng để thực thi công lý.

Điều này không đồng nghĩa với việt luật phải đạt tới mục tiêu đó… rằng luật phải tuyệt đối là đúng.

Sự khác nhau: tính vô giới hạn của công lý. Theo Kelsen: “Theo ý nghĩa của nó thì ý tưởng về công lý được hiểu như là một giá trị tuyệt đối, một nguyên tắc hiện diện mọi nơi và mọi chốn; độc lập với thời gian và không gian, và bởi vậy là vĩnh cửu và không thể thay đổi. Khoa học pháp lý hay bất cứ một khoa học nào khác đều không thể xác định được nội dung của nó, bởi nó biến động đến vô cùng”.

Bởi vậy theo Kelsen thì không có một chuẩn mực công lý tuyệt đối và toàn diện. Thậm chí công lý còn bị gán cho là sự bất hợp lý lý tưởng – bởi nó không thể được định nghĩa một cách hợp lý được.

Điều này được cắt nghĩa bởi: “con người rất chia rẽ nhau về các giá trị: có những thứ người này coi là tồi tệ thì người khác lại coi là tuyệt vời. Chính là động cơ tâm lý đã thúc đẩy nên những sự khác biệt ý tưởng này – ví dụ cùng phán xét về một mô hình xã hội, có người dựa trên ý tưởng về tự do cá nhân, có người lại dựa trên ý tưởng về trật tự xã hội.

Sự khác nhau về mặt hình thức: luật pháp khá chuẩn mực và xác định, trong khi đó thì công lý trừu tượng và khó thống nhất, xác định hơn.

Không thể có luật pháp thể hiện trọn vẹn hay tuyệt đối gần kề công lý. Theo Kelsen, bởi vì không có công lý được hiểu như một giá trị tuyệt đối – không có một quy chuẩn công lý nào lại có thể loại trừ được một quy chuẩn công lý không phù hợp với nó – bởi vậy có thể suy ra rằng: không thể có một pháp luật nào tương hợp hoàn toàn với một quy chuẩn công ty đã tồn tại. Nếu giả dụ ngược lại thì sẽ dẫn đến kết luận rằng – nếu một hệ thống pháp luật nào đó được coi là tương thích với những quy chuẩn công lý mà nó lấy làm cơ sở, thì nó sẽ đi ngược lại với các quy chuẩn công lý khác. Bởi vậy thì chẳng có một hệ thống pháp luật nào có thể tự thừa nhận như là chính đáng tuyệt vời.

c/ Mối quan hệ

Luật pháp là công cụ để xác định công lý:

Theo trường phái luật thực định, luật là một hệ thống quy chuẩn điều chỉnh mọi hành vi của con người. Từ góc độ của luật thì các hành vi của con người luôn rơi vào hai nhóm: hoặc bị cấm hoặc cho phép. Nguyên tắc cơ bản của pháp luật là tất cả những gì không bị cấm đều được cho phép – điều được ghi nhận trong Điều 5 của Tuyên ngôn về Quyền con người và Công dân năm 1789: “Pháp luật chỉ có quyền cấm những hành vi nguy hiểm cho xã hội. Tất cả những gì không quy định cấm trong luật thì không bị cấm trong thực tiễn, và không ai có thể bắt buộc mọi người phải làm những gì mà luật không quy định”.

Do đó, có thể thấy luật chỉ có thể tự xác định tính chính đáng từ bản thân nó chứ không phải từ một chuẩn mực về công lý bên ngoài nó.

Tự thân lậut pháp xác định công lý, định nghĩa cái gì là đúng.

Luật pháp định ra những điều phải tôn trọng – đây là những đòi hỏi cho bản thân mỗi con người và cũng như cho người ngoài. Công lý lại là sự phù hợp với những điều đó, là chuẩn mực mà mọi người tuân thủ. Nói cách khác thì luật pháp phụ thuộc vào công lý, bởi sự tôn trọng luật pháp chính là điều kiện để công lý tồn tại.

Tóm lại: dù công lý là giá trị tuyệt với mà con người theo đuổi, tôn thờ, nhưng trong đời sống xã hội hàng ngày, người ta sử dụng pháp luật – một công cụ thực tiễn. Câu hỏi đặt ra là: i) tại sao pháp luật lại được sử dụng để đánh giá hành vi con người, chứ không phải là công lý; và ii) làm thế nào để pháp luật được áp dụng gần kề nhất với công lý?

(còn tiếp) 

Nguồn: Đào Trí Úc, Vũ Công Giao (đcb) – Công lý và quyền tiếp cận công lý – NXB HĐ 2018.

Pháp luật, công lý, lẽ công bằng – Phần I


PGS.TS. Nguyễn Hoàng Anh

1/ Pháp luật

Luật pháp là tổng thể những quy tắc xử sự ràng buộc con người sống trong xã hội. Nhưng luật pháp thường được hiểu theo nhiều nghĩa: luật tự nhiên, luật thực định; pháp luật khách quan và các quyền chủ quan.

Theo các học giả phương Tây thì luật tự nhiên là một phần luật của Chúa mà lý tính của con người có thể tiếp cận được nhờ lẽ phải chân thật. Luật của Chúa là đạo trời thống trị thế giới mà con người không thể hiểu biết được toàn bộ. Luật của Chúa là sự hiện hình của Chúa và thuộc lĩnh vực lòng tin.

Luật tự nhiên lại là những quy tắc có giá trị chung, độc lập với các yếu tố không gian và thời gian. Đó là luật lý tưởng, có giá trị phổ quát, gắn liền với bản chất con người, có vị trí cao hơn các luật thực định – do nhà cầm quyền tự quy định để điều chỉnh một xã hội nhất định. Việc tuân thủ luật tự nhiên là vô điều kiện – có nghĩa là không phụ thuộc vào bối cảnh nào – nó có giá trị tuyệt đối.

Luật thực định là “toàn bộ các quy phạm có mục đích điều chỉnh các quan hệ giữa người với người trong một tổng thể địa chính trị nhất định”. Với ngữ nghĩa này, pháp luật là sản phẩm của một lãnh thổ, quốc gia và có hiệu lực bắt buộc đối với các hành vi của con người xảy ra trên địa bàn lãnh thổ quốc gia đó. Theo Julien Freund thì luật thực định là tổng thể các quy phạm có hiệu lực trong một xã hội nhất định; được ấn định bởi quyền lực (lập pháp, hành pháp) có tính mệnh lệnh giả định – có nghĩa là chỉ có giá trị với một cộng đồng này mà không có giá trị với cộng đồng khác. Các quy phạm có thể bị thay đổi hay bãi bỏ tùy theo biến động của xã hội. Luật khách quan chỉ có giá trị trong những điều kiện lịch sử, chính trị, kinh tế và xã hội xác định.

Người ta cũng hay nói đến pháp luật khách quan và các quyền chủ quan. Pháp luật khách quan là pháp luật theo nghĩa thông thường, đó là những quy phạm pháp luật nói chung, được áp dụng cho mọi người và được thể hiện một cách trừu tượng.

Pháp luật chủ quan là những quyền thuộc về mỗi cá nhân, những quyền riêng của mỗi người. Người ta gọi đó là những quyền chủ quan (droit subjectif) vì chúng ta, những người có các quyền này, là những chủ thể pháp luật, mà chủ thể trong tiếng latin là Subjectum. Pháp luật khách quan đồng nghĩa với các quy phạm pháp luật; nhưng quyền chủ quan lại là sự vận dụng các quy phạm đó vào quan hệ cụ thể của các cá nhân, và tạo nên các quyền, nghĩa vụ pháp lý cho các cá nhân.

Bởi vậy khki nói về mối quan hệ giữa pháp luật và công lý thì điều quan trọng là cần chỉ ra pháp luật đây được hiểu theo nghĩa nào: khách quan hay là chủ quan? Pháp luật tự nhiên hay pháp luật thực định. Bởi với nghĩa luật tự nhiên – thì pháp luật gần với công lý. Nhưng với nghĩa luật thực định, luật chủ quan – thì pháp luật không luôn luôn phản ánh những giá trị công lý: do nhóm cầm quyền đặt ra theo nhu cầu xã hội, nên pháp luật còn có nhiệm vụ bảo vệ các lợi ích này. Hoặc pháp luật khách quan chỉ là sự ghi nhận đơn thuần các giá trị về công lý – trong khi đó pháp luật chủ quan phản ánh sự hiện thực của công lý.

2/ Công lý

Nếu như định nghĩa về pháp luật là khá xác định, thì định nghĩa về công lý hết sức phức tạp và có nhiều nghĩa khác nhau.

+ Thứ nhất, với nghĩa là một thiết chế: khái niệm “công lý” đôi khi được hiểu là các thiết chế áp dụng pháp luật. Từ mặt ngữ nghĩa thì công lý chính là phán quyết của thẩm phán – người phát ngôn của pháp luật. Thuật ngữ “công lý” (justice) xuất phát từ tiếng latin “jus” – có nghĩa là luật. Và “juger” hoặc “judicare”, có nghĩa là xét xử.

Bởi vậy công lý được hiểu như một thiết chế có chức năng áp dụng pháp luật – tức là cơ quan tư pháp. Sự ra đời của khái niệm công lý thoạt tiên xuất phát từ ý tưởng: xã hội cần pháp luật trị vì thay vì bạo lực; rằng nếu có những xử sự xấu thì sự trừng phạt (bằng pháp luật) phải được thay thế cho sự trả thù đơn thuần.

+ Thứ hai, với nghĩa là một giá trị: Công lý cũng là giá trị mà người ta thường gán cho khi một phán quyết được đưa ra. Thật vậy, trên thực tế vẫn có những luật công bằng hay chưa công bằng; có những phán quyết đúng đắn hay chưa đúng đắn. Tuy nhiên hiểu theo nghĩa là giá trị cũng có những điểm khó xác định, ví dụ: đối với người này thì phán quyết là công bằng, nhưng với người kia lại là không công bằng.

Chỉ có điều chắc chắn là cảm giác về công bằng hay không công bằng chỉ có thể được xác lập trong quan hệ giữa người với người.

Có một mâu thuẫn lớn: Cảm giác về công bằng hay không công bằng thì luôn mang màu sắc chủ quan và do đó khó đạt tới một sự thống nhất chung. Nhưng công lý thì lại là chung cho tất cả mọi người. Dựa vào cảm giác để tìm các tiêu chí xác lập sự công bằng hay không công bằng – điều này dẫn đến rủi ro nhầm lẫn giữa lợi ích, mong muốn và lẽ công bằng, bởi con người vốn thiên vị cho các lý lẽ của mình. Đây là điều cắt nghĩa tại sao khó đưa ra được những chuẩn xác định cho công lý.

Tuy nhiên cảm giác về công bằng/bất công lại có thể lan truyền – từ một người sang nhóm người hoặc một cộng đồng. Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa này.

+ Trong tác phẩm “Lý luận về công lý”, John Rawls cho rằng điều dễ được mọi người chấp nhận là: các thiết chế phải công bằng; và sự công bằng này xuất phát từ việc chúng không tạo ra sự phân biệt hay thiên vị về quyền và nghãi vụ giữa các cá nhân; khi các quy tắc định ra được một sự cân bằng giữa những quy luật sinh tồn của cạnh tranh và các lợi ích của cộng đồng xã hội. Nếu như khái niệm về công lý như trên được nhiều người ủng hộ, thì điều hay bị tranh cãi là các khái niệm về “phân biệt”, thiên vị hay cân bằng – những khái niệm có độ tùy nghi rộng rãi.

(còn tiếp) 

Nguồn: Đào Trí Úc, Vũ Công Giao (đcb) – Công lý và quyền tiếp cận công lý – NXB HĐ 2018.

Tranh chấp Việt – Trung ở Biển Đông: Giới hạn của luật pháp quốc tế


Theo đài RFI, nhóm nghị sĩ hữu nghị Pháp – Việt của Thượng viện và Hạ viện Pháp vừa tổ chức hội thảo quốc tế về tình hình Biển Đông. Các chuyên gia quốc tế, đặc biệt là Pháp, nói chung ủng hộ Việt Nam trong tranh chấp chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng  cuộc hội thảo này một lần nữa cho thấy sự hạn chế của luật pháp quốc tế trước thái độ lấn lướt của Trung Quốc đối với các nước tranh chấp, đặc biệt là Việt Nam.

Cuộc hội thảo diễn ra ngày 27/2, dưới sự bảo trợ của nữ dân biểu gốc Việt Stéphanie Do, Chủ tịch Nhóm Hữu nghị Pháp – Việt tại Hạ viện và với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Việt Nam. Với đề tài “Biển Đông: Thách thức và thời cơ đối với Pháp và Việt Nam, các nước ven bờ và các cường quốc Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, cuộc hội thảo quy tụ các nhà nghiên cứu Pháp, Việt, dưới sự điều phối của Giáo sư Pierre Journoud, Đại học Paul – Valéry Montpellier 3.

Tại hội thảo, Giáo sư Monique Chemillier-Gendreau (Đại học Paris-Diderot) nói về luật quốc tế đối với vấn đề chủ quyền lãnh hải ở Biển Đông, đặc biệt Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 để xác định chủ quyền quốc gia đối với vùng biển, đảo, phân định biên giới trên biển giữa các quốc gia cũng như ranh giới các vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, trong đó có phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) tại La Hay (Hà Lan) năm 2016.

Giáo sư Laurent Gédéon (Cao đẳng Sư phạm Lyon) cũng có bài tham luận về hoạt động của các cường quốc tại Biển Đông hiện nay.

Theo Giáo sư Jean-Marie Crouzatier, có rất nhiều nguồn tài liệu lịch sử tại châu Âu, đặc biệt là tại Pháp, có thể được sử dụng vào việc giải quyết tranh chấp Biển Đông, như các văn thư của nhà Nguyễn, các bản sao trong kho lưu trữ của chính quyền thuộc địa Pháp vẫn còn được lưu giữ ở Pháp.

Là một trong những chuyên gia kỳ cựu về Biển Đông, giáo sư Monique Chemillier-Gendreau, nhấn mạnh đến chính sách của Trung Quốc nhằm áp đặt chủ quyền trên Biển Đông: “Đó là một phần trong chính sách của Trung Quốc. Trung Quốc vẫn thi hành chính sách gọi là sự đã rồi, họ hành xử như thể là những đòi hỏi của Bắc Kinh chính là luật pháp quốc tế! Từ rất lâu, họ vẫn thao túng dư luận trong nước, tuyên truyền, Trung Quốc có đầy đủ các quyền trên toàn bộ vùng biển mà rất tiếc vẫn được gọi là biển Hoa Nam (Biển Đông). Nay Trung Quốc đã có một sức mạnh đáng kể về hải quân và không quân, không phải như cách đây 50 năm, nên cứ tiếp tục lấn tới, với hy vọng sự đã rồi sẽ dần dần biến thành luật. Các nước trong vùng, toàn bộ các nước ASEAN, đặc biệt Việt Nam phải phản đối mỗi lần Trung Quốc có hành động như vậy, phải đệ trình lên Liên hợp quốc để ngăn chặn chính sách sự đã rồi của Trung Quốc được chấp nhận”.

Giáo sư Monique Chemillier-Gendreau lưu ý về sự hạn chế của luật pháp quốc tế trong việc phân xử các vụ tranh chấp chủ quyền như ở Biển Đông, cho dù theo bà, Việt Nam có một hồ sơ rất vững chắc nếu kiện Trung Quốc ra trước một tòa án quốc tế: “Luật pháp quốc tế rất giới hạn. Quốc gia nào muốn đưa vụ việc ra trước Tòa án Công lý quốc tế phải có sự đồng ý của cả quốc gia kia. Khả năng duy nhất đó là kiện lên Tòa Trọng tài Thường trực như Philippines đã làm, kết quả đạt được cũng rất hạn chế, vì tòa này không thể phân xử về vấn đề chủ quyền.

Nếu kiện Trung Quốc, Việt Nam có một hồ sơ rất tốt. Chúng ta không biết trong hồ sơ của phía Trung Quốc có những gì. Tôi đã từng đến Trung Quốc, gặp nhiều nhà sử học Trung Quốc. Họ nói, chúng tôi có nhiều tư liệu xưa, những chứng cứ để xác nhận chủ quyền, họ chưa bao giờ đưa ra những tư liệu, chứng cứ đó. Tôi không tin họ thật sự có những chứng cứ đó. Một tòa án rất khách quan như Tòa án Công lý Quốc tế phải c1o trong tay toàn bộ những hồ sơ của hai bên. Việt Nam có một vị thế rất tốt”.

Đại sứ Nguyễn Hồng Thao, Phó Chủ tịch Ủ ban Luật pháp quốc tế của Liên hợp quốc, cho rằng đây vẫn là một cơ sở pháp lý quan trọng đối với những nước như Việt Nam: “Phán quyết này chỉ có giá trị đối với Philippines và Trung Quốc, hai bên có liên quan đến việc tuân thủ phán  quyết. Trung Quốc đã không chấp nhận thẩm quyền của tòa án và cũng không công nhận phán quyết. Song, theo quy định của Phụ lục 7 của UNCLOS năm 1982, phán quyết của tòa án quốc tế là phán quyết chung thẩm và có giá trị bắt buộc đối với các bên, đối với các quốc gia không phải là các bên thêm gia trong vụ kiện.

Chúng ta có thể coi các phán quyết của tòa án quốc tế cũng như của Tòa Trọng tài là nguồn bổ sung của luật quốc tế để so sánh trong việc xem xét những lập trường và những áp dụng giải thích của điều 123, khoản 3 về quy chế pháp lý của các đảo, đá tại Trường Sa”.

Viện trưởng Viện Biển Đông thuộc Học viện Ngoại giao Nguyễn Hùng Sơn trình bày quan điểm của Hà Nội về những diễn biến mới nhất tại Biển Đông, trong đó có vụ Trung Quốc đưa tàu khảo sát vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam năm 2019.

Ông Nguyễn Hùng Sơn nhận xét: “Qua sự tham gia của các đại biểu tại hội thảo, tôi thấy đáng mừng ở chỗ vấn đề Biển Đông đang ngày càng được cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Pháp và Liên minh châu Âu quan tâm. Họ quan tâm đến Biển Đông theo nhiều khía cạnh khác nhau, không phải chỉ vì đó là một vùng biển có nhiều xung đột, còn là một nơi hội tụ rất nhiều lợi ích của cộng đồng quốc tế và cũng có nhiều triển vọng hợp tác.

Biển Đông còn là nơi kiểm chứng mức độ thượng tôn pháp luật của cộng đồng quốc tế, hiệu lực của pháp luật quốc tế, nhất là UNCLOS. Tôi thấy các đại biểu Pháp nói rất nhiều về việc tăng cường hiệu lực của luật pháp quốc tế, một nước, dù lớn hay nhỏ đều cần phải tuân thủ luật pháp quốc tế. Họ cũng kêu gọi tăng cường hợp tác, nhất là hợp tác đa phương, để tăng cường việc áp dụng UNCLOS 1982, không chỉ ở Biển Đông, mà ở khắp nơi trên thế giới, với hy vọng khi tất cả các nước đều tôn trọng UNCLOS, nhất là nước đã ký và phê chuẩn Công ước, như Trung Quốc, trật tự, hòa bình, ổn định trên biển sẽ được duy trì”.

Ông Nguyễn Hùng Sơn cho biết Việt Nam vẫn để ngỏ khả năng đưa Trung Quốc ra trước một tòa án quốc tế, nếu Bắc Kinh tiếp tục những hành động xâm lấn chủ quyền lãnh hải của Việt Nam, giống như năm 2019.

Ngoài ra, các ý kiến tại hội thảo còn tập trung nói về những thách thức và tiềm năng kinh tế, môi trường, khoa học và văn hóa ở Biển Đông. Đây là lần đầu tiên một cuộc hội thảo về Biển Đông được tổ chức cùng ngày tại hai viện của Quốc hội Pháp.

Các diễn giả đã phân tích các khía cạnh pháp lý chính trị – chiến lược của vấn đề tranh chấp chủ quyền và hoạt động của các bên ở Biển Đông, nêu bật những quan ngại của quốc tế về những hoạt động của Trung Quốc quân sự hóa và thay đổi nguyên trạng các thực thể ở Biển Đông. Họ đặc biệt nhấn mạnh các nước tranh chấp, đặc biệt là Trung Quốc, phải tuân thủ UNCLOS năm 1982, kêu gọi tôn trọng quyền chính đáng của các quốc gia liên quan.

Nguồn: TKNB – 11/03/2020.

Những ý định của Trung Quốc đằng sau tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông


Douglas Guifoyle

Trung Quốc nổi tiếng với tuyên bố về các quyền hàng hải đặc biệt ở Biển Đông, trong phạm vi “đường 9 đoạn”, xuất hiện trên các bản đồ chính thức của Trung Quốc. Hiện chưa rõ nguồn gốc chính xác của “đường 9 đoạn” này. Nó không xuất hiện trên bản đồ chính phủ Trung Quốc trước năm 1947 hay trong các bản đồ vẽ tay trước năm 1933. Mới đây nhất vào năm 2013, các học giả nổi tiếng của Trung Quốc thừa nhận nước này chưa bao giờ nói rõ ý nghĩa pháp lý quan trọng của “đường 9 đoạn” bao trùm Biển Đông.

Những tuyên bố gần đây của Trung Quốc về quyền tài phán độc quyền đối với các nguồn tài nguyên trong “đường 9 đoạn” đã làm gia tăng căng thẳng không chỉ với nguồn tài nguyên dầu khí, mà còn cả với trữ lưỡng cá đang bị khai thác quá mức và đang suy giảm ở Biển Đông. Tài nguyên cá giữ vai trò cơ bản trong “an ninh lương thực của hàng trăm triệu cư dân ven biển”. Nhưng lập luận pháp lý của Trung Quốc về Biển Đông cần được nhìn nhận trong bối cảnh lịch sử và lý luận của Trung Quốc về chiến tranh thông tin.

Luật pháp đóng vai trò quan trọng trong tranh chấp về “đường 9 đoạn”, vì đường này ăn sâu vào các vùng biển mà các quốc gia ven biển, bao gồm Việt Nam và Philippines, xác định là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý của các nước này theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Trớ trêu là trong các cuộc đàm phán kéo dài về UNCLOS, Trung Quốc là quốc gia ủng hộ nhiệt tình cho khái niệm EEZ, đứng về phía các nước đang phát triển chống lại Nga và Mỹ.

Sẽ rất hữu ích khi xem xét những vấn đề quan tâm cơ bản của Trung Quốc trong các cuộc đà phán UNCLOS. Những vấn đề này được ghi lại tại các văn bản làm việc của Trung Quốc trình lên Ủy ban Đáy biển Liên hợp quốc vào đầu những năm 1970 và trong các bài phát biểu của Trung Quốc trong quá trình đàm phán.

Trung Quốc ủng hộ 5 vấn đề chính.

Thứ nhất, không có chiều rộng tối đa cố định cho vùng lãnh hải – phạm vi vùng biển quốc gia được quyết định bởi quốc gia có chủ quyền dựa trên các nhu cầu kinh tế và an ninh.

Thứ hai, tàu chiến không được phép tự động qua lại các vùng lãnh hải và eo biển.

Thứ ba, eo biển Chiungchow và Vịnh Bột Hải rộng lớn của Trung Quốc có một tư cách đặc biệt, là vùng “nội thủy”.

Thứ tư, ranh giới hàng hải chỉ nên được giải quyết bằng tham vấn và UNCLOS không nên có quy định về việc giải quyết tư pháp các tranh chấp như vậy.

Thứ năm, một quốc gia lục địa có chủ quyền với một quần đảo xa xôi có thể vẽ các đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo này và sử dụng chúng để xác định lãnh hải.

Đáng chú ý, mặc dù Trung Quốc rõ ràng đã đòi hỏi tư cách đặc biệt đối với một số vùng biển, nhưng lại chưa hề làm điều này đối với Biển Đông. Trung Quốc duy trì yêu sách về eo biển Chiungchow và Vịnh Bộ Hải trong suốt các cuộc đàm phán, cũng như quan điểm về tàu chiến và quyền qua lại vô hại. Nhưng Bắc Kinh đã từ bỏ lập trường của mình về chiều rộng của lãnh hải và “các quần đảo xa xôi”. Lịch sử này cho thấy việc Trung Quốc gần đây cho rằng mình có “các quyền lịch sử đặc biệt” trong phạm vi “đường 9 đoạn” chỉ là sản phẩm của một yêu sách pháp lý rất mới.

Một đòn đánh mạnh vào quan điểm của Trung Quốc và có lợi cho các quốc gia ven biển có vùng EEZ “thông thường” của ình là phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế về vụ việc Philippines kiện Trung Quốc. Kể từ đó, chính phủ Trung Quốc quay lại với lập trường về “quần đảo xa xôi”, vốn đã bị nước này từ bỏ trong các đàm phán UNCLOS trước đây. Lập luận này đã được hồi sinh trong một nghiên cứu quan trọng của Hiệp hội Luật pháp Quốc tế Trung Quốc về phán quyết trọng tài trong vụ Philippines kiện Trung Quốc. Trung Quốc tuyên bố có thể kết hợp các thực thể khác nhau trên biển thành “các quần đảo”, vẽ ra các đường cơ sở thẳng và xác định EEZ cho các nhóm đảo này.

Lập luận trên vừa có tính xét lại lịch sử, vừa không thuyết phục về mặt pháp lý. Tuy nhiên, ngoài việc tạo ra các yêu sách EEZ, việc xác định lại một số thực thể thành các đảo hay quần đảo cho phép Trung Quốc tuyên bố rằng tàu chiến của Mỹ bị hạn chế hoạt động gần các thực thể trên. Mỹ bảo lưu quan điểm rằng các thực thể này không có lãnh hải và Mỹ đang thực hiện quyền tự do hàng hải trong vùng EEZ hoặc trên vùng biển quốc tế. Nhưng tại sao Trung Quốc lại quan tâm tới việc đưa ra các lập luận như vậy?

Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) đánh giá cao sức mạnh của luật pháp. Học thuyết “ba cuộc chiến tranh” vạch ra một bộ ba phương pháp phi động lực để đạt được mục tiêu quốc gia của Trung Quốc: chiến tranh dư luận, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng chiến tranh pháp lý (luật pháp) được lý giải bởi Livermore là “tận dụng các chế độ và quy trình luật pháp hiện có để hạn chế hành vi bất lợi, chống lại các tình huống bất lợi, xóa bỏ các án lệ và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan tới lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Ba cuộc chiến tranh trên nhằm tăng cường tính hợp pháp của CCP cả bên trong và bên ngoài. Tranh chấp các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông được xem là hành động làm suy yếu tính hợp pháp của CCP. CCP cho rằng mình bị bao vây bởi các mối đe dọa bên trong và bên ngoài, và nhìn nhận các tranh luận pháp lý chống lại Đảng là một hình thức của xung đột chiến lược.

Hy vọng rằng Trung Quốc, hiện là một cường quốc biển đang trỗi dậy, được xích lại tới vị trí pháp lý của các cường quốc hải quân truyền thống, chưa thể xảy ra. Các học giả về luật pháp quốc tế và quan hệ quốc tế nên thấy rằng các lập luận pháp lý của Trung Quốc trong lĩnh vực hàng hải, mặc dù mang tính cơ hội, không phải không có nguồn gốc lịch sử trong tư duy pháp lý của Trung Quốc. Trung Quốc cũng hiểu rằng để hưởng và khai thác những gì mà nước này giành được bằng vũ lực, cần phải được củng cố bằng luật pháp. Tranh chấp yêu sách hàng hải là một cuộc đấu tranh pháp lý được thực hiện trong lĩnh vực “ý tưởng”. Tuy nhiên cuộc chiến pháp lý không đơn giản là việc che giấu cho hành động “cướp đất” trên biển. Nó chính là một phần của hành vi “cướp đất”.

Nguồn: Diễn đàn Đông Á (Australia)

TKNB – 13/09/2019.

Thực chất kế hoạch sửa đổi Hiến pháp của Vladimir Putin


Vai diễn của Mel Gibson trong bộ phim Tequila Sunrie là một tên trùm buôn ma túy bị mắc kẹt với ý định rời bỏ công việc tội lỗi này. Anh ta muốn dừng lại (hoặc tuyên bố là muốn điều đó) song không một ai ủng hộ. Những con nghiện cần nguồn cung ma túy. Tổ chức cần những mối quan hệ. Vợ cũ muốn được chia một phần lợi nhuận. Thậm chí cả cảnh sát cũng muốn hắn tiếp tục công việc để họ có thể bắt giam tay buôn ma túy này và đồng bọn. Nhân vật của Mel Gibson sau đó thừa nhận, việc ra đi chẳng hề đơn giản như người ta vẫn nghĩ.

Tổng thống Nga Vladimir Putin có lẽ cũng đang ở hoàn cảnh tương tự. Trong Thông điệp Liên bang hồi tháng 1/2020, ông đã nhắc đến những thay đổi Hiến pháp nhằm thu hẹp quyền hạn của tổng thống và cấm một người nắm giữ cương vị này hơn hai nhiệm kỳ. Đề xuất này đã khiến dư luận cả trong và ngoài nước vô cùng ngạc nhiên, dự đoán rằng sẽ có một cuộc tải tổ chính quyền mạnh mẽ sau đó, và làm dấy lên hàng loạt đồn đoán về những mục đích của Putin sau khi nhiệm kỳ (được quy định theo Hiến pháp) của ông kết thúc vào năm 2024. Liệu ông sẽ thật sự chấm dứt việc ngồi trên cương vị tổng thống sau 4 năm nữa? Liệu có phải Putin sẽ trở thành Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội hay lãnh đạo Hội đồng Nhà nước mới được củng cố quyền lực, để từ đó tiếp tục thâu tóm quyền lực theo một cách khác hay không?

Đáp án ban đầu Putin đưa ra cho những thắc mắc này gần như rất mơ hồ, song ông có lý do để làm như vậy. Putin lãnh đạo một hệ thống chính trị với quyền lực tập trung vào chính ông và không thể vận hành trừ phi ông chỉ đạo. Tuy nhiên, những tồn tại dài hạn của Nga, từ trì trệ kinh tế, giáo dục thiếu hiệu quả và suy giảm nhân khẩu học, lại không phải là những thứ mà Putin có thể kiểm soát hoàn toàn. Putin cần biết rằng sẽ phải mất ít nhất hàng thập kỷ để nước Nga có thể đạt được mục tiêu mà ông tuyên bố là khôi phục vị thế đáng gờm trên trường quốc tế cho nước Nga, đưa họ trở lại thành một quốc gia vĩ đại và thịnh vượng. Putin sẽ phải đối mặt với vấn đề kế nhiệm nếu ông muốn đất nước đi theo lộ trình ông đã vạch sẵn để đạt được thành quả mà ông mong muốn.

Tuy nhiên, kế nhiệm chưa bao giờ là một việc làm đơn giản. Putin hiểu rõ ông chắc chắn sẽ ngay lập tức kích động một cuộc tranh giành quyền lực nếu những từ ngữ như “nghỉ hưu” hay “người kế nhiệm” được chính ông nhắc đến. Putin cũng biết rằng việc nói đến ý định duy trì quyền lực ở vị trí tổng thống sẽ gây ra một rắc rối khác. Trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình quốc gia gần đây, Putin nói: “Tình hình sẽ rất đáng lo ngại nếu chúng ta trở về thời kỳ như giữa thập niên 1980, khi các nhà lãnh đạo tại vị đến cuối đời, hết người này đến người khác, và rời khỏi chính trường mà không hề đảm bảo những điều kiện cần thiết cho việc chuyển giao quyền lực”.

Với những lo ngại ấy, câu hỏi đặt ra là tại sao Putin dường như lại thay đổi lộ trình khi công khai ủng hộ “đề xuất” của Hạ viện Nga về việc thông qua một đạo luật cho phép ông ta tại vị tới tận 2036 nếu các cử tri đồng tình? Nhiều nhà quan sát cho rằng đó vốn là một kế hoạch ngay từ đầu của Putin, và những dè dặt trước đây thực chất chỉ đơn giản là phép thử thông minh của chính trị gia này nhằm đánh giá sự ủng hộ đối với các dự định về hiến pháp của ông là ở mức nào. Xét cho cùng, có thể Putin biết rằng việc để ngỏ ý định ra đi chắc chắn sẽ khiến nhiều nhân vật trong giới chóp bu, những người lâu nay vẫn dựa vào quyền lực của ông để đảm bảo vị trí cho mình, cho tài sản và bảo vệ trước các đối thủ, phải giật mình và đồng loạt kêu gọi ông tiếp tục cầm quyền.

Tuy nhiên, sự xuất hiện của những nhân tố quốc tế mới và nguy hiểm cũng có thể đã góp phần quan trọng trong quyết định có phần trực diện này của Putin. Trong vài tuần trở lại đây, Nga đã tiến sát bờ vực xung đột quân sự với Thổ Nhĩ Kỳ, một thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tại Syria. Mối đe dọa từ dịch COVID-19 cũng đang từ lo ngại trở thành hiện thực và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng với hệ thống chăm sóc sức khỏe của Nga cũng như nền kinh tế phụ thuộc xuất khẩu năng lượng của nước này. Bất ổn chính trị tại Iran, Trung Quốc, châu Âu và cả Mỹ đang bị lu mờ trước việc chính phủ các quốc gia này phải vật lộn để kiềm chế dịch COVID-19, hạn chế thiệt hại và trấn an dư luận. Trong khi đó, Nga và Saudi Arabia gần đây đã vướng vào các tranh cãi về sản lượng dầu mỏ trong bối cảnh nguy cơ suy thoái toàn cầu đang tới gần và cạnh tranh trên thị trường năng lượng ngày càng căng thẳng. Nga cũng đã tận dụng tranh cãi này để chỉ trích các đòn trừng phạt mà Mỹ áp đặt đối với hệ thống đường ống dẫn khí đốt Dòng chảy phương Bắc 2, cho rằng chính các biện pháp này đã khiến giá dầu giảm và cản trở ngành công nghiệp dầu đá phiến của Mỹ trong cuộc cạnh tranh với các nhà sản xuất năng lượng Nga tại thị trường châu Âu.

Phản ứng tự nhiên khi nỗi sợ gia tăng là tìm kiếm sự an toàn trong những gì quen thuộc, thay vì mạo hiểm hướng đến những điều chưa được kiểm chứng và chưa biết. Điều này đúng cả với những kẻ cai trị và tầng lớp bị cai trị. Putin gần đây đã nhắc đến dịch COVID-19 và thất bại của Nga cùng OPEC về thỏa thuận cắt giảm sản lượng để lý giải vì sao ông sẵn sàng chấp thuận việc dỡ bỏ giới hạn về nhiệm kỳ tổng thống. Thực tế Putin đã “tinh tế” thể hiện rằng giờ không phải là lúc thích hợp để nói đến việc chuyển giao quyền lực lãnh đạo tại Nga.

Những diễn biến này cho thấy sẽ là không khôn ngoan nếu Mỹ tính toán các chính sách đối phó Nga trên cơ sở hy vọng rằng một nhà lãnh đạo tự do hơn thời hậu Putin sẽ sớm xuất hiện trong tương lai gần. Quan trọng hơn, Mỹ cần nhận thức được rằng Kremlin đang ngày càng cảnh giác trước nguy cơ các mối đe dọa cả từ bên trong và bên ngoài sẽ đặt ra những mối đe dọa thật sự đối với lợi ích của Nga, và thậm chí là đối với cả quyền lực mà họ có được. Đúng như những gì Putin từng cảnh báo trong cuốn hồi ký của mình, một con chuột có xu hướng tấn công điên cuồng nhất khi cảm thấy bị dồn vào chân tường.

Nguồn: www.nationalinterest.org

TKNB – 18/03/2020.

Về dự thảo xử lý kỷ luật cán bộ đã nghỉ việc, nghỉ hưu nhưng có sai phạm


Theo đài RFA, Bộ Nội vụ Việt Nam đang đưa dự thảo ra lấy ý kiến người dân về việc xử lý kỷ luật những cán bộ đã nghỉ việc, nghỉ hưu nhưng có sai phạm trong thời gian công tác trước đó.

Nội dung mới

Dự thảo mới được cập nhật gồm có 5 chương và 32 điều. Những điều khoản này dựa trên Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, cùng với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

Đáng quan tâm hơn hết, dự thảo lần này có 2 nội dung nhận được nhiều sự chú ý gồm việc xử lý kỷ luật những cán bộ đã nghỉ việc, nghỉ hưu có sai phạm trong thời gian cộng tác được thực hiện sau khi có quyết định xử lý kỷ luật đảng và không phải thành lập hội đồng kỷ luật.

Trao đổi với RFA, ông Lê Văn Triết, nguyên Bí thư Thành ủy TPHCM, nguyên Bộ trưởng Thương mại từng nhiều năm làm việc cho chính phủ Hà Nội nhận định: “Đứng về nguyên tắc, người ta chỉ xử lý một cá nhân nếu cá nhân đó bị khuyết điểm, nếu cá nhân đó còn là đảng viên, còn có chức vụ trong đảng khi xử lý đưa ra tòa thì tòa không thể tuyên bố xử người đó là cán bộ của Đảng, người ta tránh chuyện đó nên tòa không xử người đó trước khi có án về mặt Đảng”.

Trên các diễn đàn, nhiều nhà quan sát nhận xét, khi chính phủ làm luật xử lý kỷ luật cán bộ nghỉ hưu sai phạm vẫn chưa nỗ lực hết sức, vì kỷ luật đảng và kỷ luật bằng luật pháp là hai phạm trù riêng biệt.

Luật sư Đặng Đình Mạnh cho biết việc phải xử lý kỷ luật đảng trước mới đến kỷ luật hành chính, hình sự không được nêu ra trong luật Việt Nam. Theo quan điểm cá nhân của ông thì điều này không hợp lý. Luật sư Mạnh giải thích:

Vấn đề xử lý về mặt đảng chỉ trong phạm vi của đảng và chỉ có giá trị đối với đảng viên và trong tổ chức đảng mà thôi. Điều này không phù hợp với pháp luật vì pháp luật không quy định. Một người có dấu hiệu hình sự bị khởi tố phải bị khai trừ đảng trước để khi người đó ra tòa người ta không nói là xử lý đảng viên mà là xử lý công dân”.

Thêm vào đó, tiến trình như Bộ Nội vụ đưa ra trong dự thảo sẽ tránh phức tạp về trình tự, thủ tục, thẩm quyền do đã có kết luận về sai phạm, hình thức xử lý kỷ luật cũng đã được xác định rõ. Vì vậy, không cần phải thực hiện các quy định về thành lập Hội đồng kỷ luật, triệp tập họp… theo Bộ Nội vụ là rất khó khả thi.

Tính răn đe?

Việc sửa đổi luật để xử lý những cán bộ về hưu mắc sai phạm khi còn đương chức vẫn luôn là đề tài được công luận quan tâm. Những điều khoản được bổ sung trong các bản dự thảo được đưa ra trong thời gian gần đây thường xuyên vấp phải các chỉ trích.

Cụ thể, trong phiên họp Quốc hội mới đây, khi thảo luận về những nội dung trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, một đại biểu quốc hội đề xuất cắt lương vĩnh viễn đối với cán bộ nghỉ hưu và xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm của công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu. Đề xuất này ngay lập tức bị nhiều người phản đối với lý do không đúng với luật pháp hiện hành.

Trong văn bản soạn thảo dự án luật công chức sửa đổi trình chính phủ vào tháng 11/2019, Bộ Nội vụ cũng đề ra hai phương án riêng biệt: phương án một là xử lý đối với tất cả cán bộ, công chức đã về hưu, nghỉ việc hoặc chuyển công tác, khi phát hiện sai phạm. Hai là chỉ quy định xử lý đối với những người có vi phạm khi chưa về hưu từ cấp thứ trưởng và tương đương trở lên ở trung ương. Dự thảo này gây nhiều tranh cãi vì nếu được thông qua, liệu các quan chức có chức vụ từ tổng cục trưởng trở xuống có thể yên tâm “hạ cánh an toàn”?

Nhiều người bày tỏ lo ngại liệu những quy định được đề xuất trong dự thảo lần này có thật sự mang tính răn đe đối với những cán bộ đang tại chức, hay chỉ là đề xuất trên giấy, không mang tính thực tiễn?

Theo ông Lê Văn Triết, việc bổ sung để luật hoàn thiện hơn là tốt. Tuy nhiên: “Vấn đề vẫn là xử lý kỷ luật nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đừng kiểu tội to nhưng án kỷ luật nhỏ, không tương xứng với tội gây ra mà lâu nay đất nước vẫn có. Nếu xử phát với mức kỷ luật như vậy coi như bắt cóc bỏ đĩa chứ không phải xử lý kỷ luật. Nên từ giờ nếu có chấn chỉnh lại phải theo tinh thần công minh, công bằng, đúng người, đúng tôi, tội nặng xử nặng, tội nhẹ phạt nhẹ”.

Còn theo Luật sư Đặng Đình Mạnh, dự luật mới được Bộ Nội vụ đưa ra có lẽ vẫn chưa đủ. Nếu phải đặt vấn đề kỷ luật như hiện nay hoặc kỷ luật hơn nữa, điều này chỉ có thể làm giảm, chứ để chấm dứt tình trạng tham nhũng hoặc những vấn đề khác phát sinh thì không đủ khả năng để làm được điều đó.

Luật sư Đặng Đình Mạnh nói: “Những người hiện đang làm ở cơ quan nhà nước, đầu vào của họ không phải nhờ vào khả năng của họ. Ở Việt Nam hiện nay có tình trạng chính cơq uan Đảng cũng phải thừa nhận là có việc mua quan bán chức. Khi họ vào đó bằng tiền bạc, tâm lý làm việc của họ là con buôn, con buôn khi đã bỏ tiền ra để vào làm, họ bằng mọi cách phải có lời. Vì vậy, vấn đề không phải ở chỗ kỷ luật vì họ không bị tha hóa mà bản chất là con buôn do đó vấn đề ở chỗ là sửa đổi luật theo chiều hướng bảo đảm đầu vào của cán bộ công nhân viên chức là người phải có thực tài, thực tâm và có đạo đức”.

Dưới góc nhìn cá nhân, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nhà hoạt động xã hội dân sự tại Hà Nội nhận xét: “Chắc chắn luật này sẽ làm cho những người đang đương chức phải chùn tay một chút nhưng có lẽ không hiệu quả cho lắm chừng nào luật trị tức thượng tôn pháp luật không trừ ai, nếu đã phạm pháp phải xử theo pháp luật. Muốn như thế phải có tư pháp độc lập, lúc đó mới giải quyết rốt ráo”.

Thời gian gần đây, một số vụ đại án có liên quan đến cán bộ cấp cao của nhà nước được đưa ra xét xử. Một ủy viên Bộ Chính trị như ông Đinh La Thăng bị án tù. Thực tế đó được nhiều người cho là sự quyết tâm trong cuộc chiến chống tham nhũng do ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ xướng.

Nguồn: TKNB – 03/03/2020.