Dư luận về sở hữu đất đai toàn dân


Theo đài RFA, cổng thông tin điện tử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới đây đăng bài cho rằng, những ý kiến kêu gọi nên thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai hoặc thừa nhận chế độ đa sở hữu đất đai giống như nhiều nước là “sai lầm”.

Trong khi một số chuyên giaphe6 phán chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là “mù mờ về mặt pháp lý” vì không xác định được ai là chủ sở hữu trong quan hệ đất đai, nhất là khi xảy ra tranh chấp, cơ quan này cho rằng nếu tư hữu về đất đai sẽ có nhiều điều kiện bất lợi cho Việt Nam ngay cả khi chưa xét đến yêu cầu định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư hữu cũng sẽ làm xáo trộn quan hệ sở hữu, sử dụng đất đai hiện tại mà không đem lại lợi ích cho người sử dụng đất cũng như quốc gia.

Ngày 31/3, TS kinh tế Nguyễn Huy Vũ từ Na Uy bày tỏ không đồng tình với giải thích của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: “Về vấn đề sở hữu đất đai và tài sản trên đất, chính quyền nên cho phép đa dạng các hình thức sở hữu. Làm như vậy sẽ giúp dễ dàng thực hiện giao dịch trên thị trường bất động sản, giúp thị trường phát triển dễ dàng. Việc có các sự đa dạng trong sở hữu và nhà nước bảo vệ bằng pháp luật còn giúp các nhà đầu tư yên tâm bỏ tiền phát triển thị trường địa ốc. Sự phát triển của thị trường địa ốc lúc này sẽ có sự tham gia của nhiều nhà đầu tư khác nhau và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế”.

Ngược lại, TS Nguyễn Huy Vũ cho rằng, việc duy trì hình thức sở hữu toàn dân, tức nhà nước nắm quyền sở hữu như hiện nay, đất đai nghiễm nhiên trở thành tài sản của nhà nước. Nhà nước có quyền tiếp tục cấp phép, duy trì quyền sử dụng cho nhiều người đáng lẽ là chủ đất và tải sản trên đất. Điều này chỉ khiến cho giới đầu tư bất an rằng iệc đầu tư vào đất đai có một rủi ro về mặt hành chính. Khi có rủi ro thì sẽ dẫn đến chi phí để xử lý, bảo hộ khỏi rủi ro và những chi phí đó rơi vào chỗ tham nhũng: “Nhà nước nắm quyền sở hữu đất đai, nhưng nhà nước là một thực thể rất lớn và khi quá lớn thì lại mất kiểm soát. Sự mất kiểm soát dẫn đến quá trình quản lý đất đai trở thành cơ hội kiếm chác của giới quan chức địa phương, từ đó dẫn đến vô số vụ chiếm đất, cưỡng đoạt đất đai, xử lý đất đai không đúng với pháp luật, nhưng người bị hại không thể kêu oan vì họ phải đối chọi lại giới quan chức địa phương.

Nói như vậy để thấy rằng, việc tiếp tục chính sách sở hữu toàn dân chỉ làm thiệt hại cho chính nhà nước và hình ảnh của Đảng. Các cấp dưới ở địa phương họ muốn duy trì, vì đây là cơ hội “kiếm chác” của họ, trong khi chính quyền trung ương trong một thời gian dài ngó lơ vì muốn nhận được sự ủng hộ của địa phương”.

Theo TS Nguyễn Huy Vũ, đã đến lúc chính quyền trung ương phải cải tổ lại chính sách này nếu muốn vực dậy nền kinh tế đem lại nhiều thâm dụng lao động, cung cấp một sức bật cho sự phát triển quốc gia.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai không phủ nhận quyền sử dụng đất của các pháp nhân, chỉ yêu cầu các pháp nhân này sử dụng đất đúng mục đích được giao, cũng như bảo hộ lợi ích của chủ sử dụng đối với tài sản của họ là quyền sử dụng đất.

Ngày 31/3, GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, cho rằng cần phải quy định rõ hơn về vấn đề này: “Sở hữu đất đai là đặc biệt, không bao giờ tư nhân hay công hữu một cách đầy đủ nhằm phát triển… đó là nói trong hoàn cảnh chấp nhận kinh tế thị trường và có đầu tư phát triển, như Triều Tiên thì không bàn tới. Đối với những nước có nhu cầu phát triển, ngay cả những nước chấp nhận sở hữu tư nhân thì người nắm giữ đất cũng không có quyền toàn bộ. Hiện nay, Việt Nam cứ loay hoay với việc nên chấp nhận chế độ sở hữu nào, dưới góc độ sở hữu đồ vật cụ thể. Chính vì vậy, nó cứ quẩn quanh chuyện này”.

Theo GS Đặng Hùng Võ, chấp nhận chế độ sở hữu đất đai toàn dân hay cho tư nhân sở hữu đất đai cũng đều được, vì đó chỉ là một thuật ngữ. Tuy nhiên: “Điều quan trọng là luật phải quy định rõ, Nhà nước quyền đến đâu, được làm gì, người giữ đất được có những quyền nào và được làm gì. Câu chuyện nằm ở đó. Đó là sở hữu đất đai đích thực phù hợp với cơ chế thị trường. Việt Nam có thể đi từ chế độ công hữu mở rộng đi lại từ bên phải… hoặc chấp nhận chế độ sở hữu tư nhân hạn chế đi từ bên trái. Còn thuật ngữ sở hữu gì chỉ mang tính biểu tượng, không phải là nội dung cụ thể. Luật đất đai lần này phải làm rõ được nhà nước quyền đến đâu, tư nhân quyền đến đâu… trong tất cả các trường hợp khác nhau về người sử dụng, người nắm giữ, cũng như thể loại đất. Đừng lấy cái lý sở hữu đồ vật để nói về sở hữu đất đai”.

Không chỉ phê phán ý kiến nên thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn cho rằng sở hữu tư nhân về đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường là điều bất lợi, vì sẽ dẫn đến tình trạng phân hóa giàu nghèo, khiến có người sở hữu quá nhiều đất, trong khi có người không có tấc đấc cắm dùi, nhất là tình trạng đầu cơ đất nông nghiệp của người giàu.

Theo GS Đặng Hùng Võ: “Muốn hay không muốn thì đất đai có yếu tố được thụ hưởng toàn dân. Vậy thì nó nằm ở sắc thuế như thế nào để toàn bộ người dân được thụ hưởng về đất đai. Tôi cho rằng người càng có nhiều đất mà sử dụng hiệu quả thì càng nên khuyến khích. Đừng nhìn vào đó để tị nạnh, có những người không có đất nông nghiệp thì sao? Phải có hệ thống kiểm soát hiệu quả sử dụng đất như thế nào? Sử dụng tốt có thể động viên nhận chuyển nhượng thêm, có thêm đất để phát triển. Nếu sắc thuế phù hợp thì người sử dụng đất không hiệu quả sẽ tự tìm cách chuyển nhượng đi”.

Luật Đất đai nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định rõ đất đai là sở hữu toàn dân. Tuy nhiên, người dân thực chất không có quyền sở hữu, mà khi mua đất hay đất do ông bà cha mẹ để lại thì sẽ được nhà nước cấp cho giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Khắc Mai cho rằng, Luật Đất đai phải sửa để công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai. Nếu xử lý vấn đề này một cách có văn hóa, có đạo lý thì xã hội sẽ ổn định và sẽ không có những vụ việc tranh chấp đất đai giữa chính quyền và người dân như Đồng Tâm, Thủ Thiêm hay Lộc Hưng, gieo rắc nỗi đau đớn cho con người. Vì vậy, Quốc hội mới tại Việt Nam cần nghiên cứu để có những bước tiến mới nhằm xử lý tốt vấn đề đất đai.

Nguồn: TKNB – 02/04/2021.

Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc: Khu vực cần cảnh giác điều gì?


Trang HK01 dẫn lời Trần Vĩnh Phong, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản tại Đại học Đông Hải, phân tích: bất kể Hiệp định đầu tư Trung Quốc – EU, vụ bắt giữ các nhà dân chủ ở Hong Kong, vụ máy bay quân sự quấy rối Đài Loan cho đến việc thông qua Luật Hải cảnh, đều có thể được coi là một phần trong thử thách sức ép của Bắc Kinh đối với tân Tổng thống Mỹ Joe Biden. Việc Trung Quốc thông qua Luật Hải cảnh là để đặt quần đảo Điếu Ngư/Senkaku vào phạm vi quản lý của cảnh sát Trung Quốc và luật hóa các xung đột lãnh thổ.

Ngoài ra, cần phải xem Trung Quốc thực thi Luật Hải cảnh trong thực tiễn như thế nào? Dùng cách nào để xua đuổi tàu Indonesia, Việt Nam và Philippines? Như vậy, cái giá phải trả sẽ rất cao, đặc biệt là quân đội Mỹ luôn khẳng định Biển Đông là khu vực tự do hàng hải, là tuyến đường hàng hải quan trọng ở khu vực Biển Đông Nam, và cũng là tuyến đường Trung Đông vận chuyển dầu đến Đông Á, cần phải được thông qua một cách vô hại.

Giáo sư Tống Học Văn, Viện Chiến lược và Các vấn đề quốc tế thuộc Đại học Trung Chính (Đài Loan) cho rằng Luật Hải cảnh là một sự vận dụng chiến lược quân sự linh hoạt của Trung Quốc, dùng khái niệm để duy trì an ninh xã hội và xử lý các hoạt động quân sự, nâng cao xung đột giữa hai bờ eo biển Đài Loan và các nước láng giềng thông qua các hành vi bán quân sự. Trong tương lai, Trung Quốc có thể tùy tiện kiểm tra và ngăn chặn các tàu cá hoặc nghiên cứu khoa học của các nước khác. Trung Quốc có thể khiến Biển Đông trở thành nơi bùng phát các vụ đụng độ.

Việc trao quyền rất lớn cho lực lượng cảnh sát biển Trung Quốc sử dụng vũ lực như một lực lượng bán quân sự với các tàu thuyền và ngư dân hoặc các đối tượng bên ngoài xâm nhập vào vùng biển của Trung Quốc, thực hiện cái gọi là quyền quản lý ở eo biển Đài Loan, biển Hoa Đông và Biển Đông, e rằng sẽ gây bất ổn cao độ trong khu vực. Giáo sư Tống Học Văn nói: “Trao cho họ tính hợp pháp để nổ phát súng đầu tiên, lại có vùng đệm, không phải là sử dụng lực lượng Hải quân để nổ phát súng đầu tiên, nhưng lại là phát súng đầu tiên để thực hiện các hoạt động dân sự. Đây là một vấn đề lớn đối với ổn định, hòa bình trong khu vực, và là thách thức tự do hàng hải trên biển mà Mỹ nhấn mạnh”.

Chính phủ Trung Quốc tự nhận “phạm vi quản lý” rất lớn và nhận định Đảng Cộng sản Trung Quốc thậm chí cho rằng eo biển Đài Loan không có đường trung tuyến. Nếu eo biển Đài Loan không có đường trung tuyến thì toàn bộ eo biển Đài Loan sẽ do họ quản lý. Biển Đông phải theo “đường 9 đoạn của họ. Họ thành lập cơ sở ở Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa), đảo Vĩnh Hưng (Việt Nam gọi là đảo Phú Lâm), đá Vĩnh Thử (Đá Chữ Thập) đều nằm trong phạm vi của họ. Đằng sau việc trao cho “Luật Hải cảnh” thực thi cái gọi là quyền lợi công vụ của Trung Quốc là sự mở rộng sức mạnh quân sự của họ. Tống Học Văn cho biết cảnh sát biển của Trung Quốc có trang thiết bị và biên chế quân sự, “treo đầu dê bán thịt chó”, chẳng khác nào là “lực lượng hải quân thứ hai”. Nếu họ để lực lượng cảnh sát biển nổ súng thì đối phương rất khó có thể dùng tàu quân sự bắn trả.

Tờ Minh báo đăng bài phân tích của Lâm Tuyền Trung, học giả nghiên cứu quan hệ quốc tế Đông Á, Tiến sĩ luật học thuộc Đại học Tokyo (Nhật Bản) về tác động của Luật Hải cảnh Trung Quốc đến tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, cho rằng cùng với việc thông qua Luật Hải cảnh lần này, Trung Quốc hy vọng sẽ thay đổi nhanh hơn cục diện Nhật Bản đơn phương kiểm soát quần đảo Điếu Ngư, đồng thời từng bước hình thành cục diện mới – Trung Quốc và Nhật Bản cùng kiểm soát, thậm chí phát triển theo hướng sức mạnh kiểm soát quần đảo Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản bị đảo ngược.

Đồng quan điểm với học giả Tống Học Văn, tiến sĩ Lâm Tuyền Trung cho rằng ý nghĩa lớn nhất của việc Trung Quốc ban hành Luật Hải cảnh đối với vấn đề bảo vệ lãnh thổ và quyền lợi biển nằm ở việc xác lập vị thế của lực lượng cảnh sát biển với tư cách là một lực lượng hỗ trợ cho Hải quân Trung Quốc.

Tờ South China Morning Post cho rằng việc thông qua luật mới này có thể làm các nước láng giềng của Trung Quốc lo ngại về khả năng Trung Quốc sẽ tích cực hoạt động hơn ở các khu vực này.

Các tàu cảnh sát biển của Trung Quốc đã đóng một vai trò dẫn đầu trong việc khẳng định các yêu sách hàng hải của Trung Quốc, bao gồm cả trong các tranh chấp đánh bắt ngoài khơi quần đảo Natuna của Indonesia và đối đầu với Việt Nam ở Bãi Tư Chính. Trong một tài liệu được xuất bản hồi tháng 12/2020, Mỹ cho biết sẽ sáp nhập lực lượng cảnh sát biển vào lực lượng hải quân để chống lại sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Đông. Theo tờ báo này, các bên tranh chấp khác ở Biển Đông đang chạy đua để trao quyền cho lực lượng cảnh sát biển của họ. Chẳng hạn như Việt Nam đã thông qua luật cho phép đội tàu của lực lượng cảnh sát biển hoạt động bên ngoài lãnh hải quốc gia.

Tiến sĩ Collin Koh, nhà nghiên cứu tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam thuộc Đại học Công nghệ Nanyang (Singapore), cho biết ngôn ngữ không rõ ràng trong luật có thể làm tăng nguy cơ tính toán sai lầm trong vùng biển tranh chấp: “Dù Trung Quốc ban hành Luật Hải cảnh là thông lệ chung mà các quốc gia khác đã và đang thực hiện (chẳng hạn như Việt Nam đã ban hành vào cuối năm 2018), nhưng luật này hàm chứa ngôn ngữ mơ hồ, cần được định nghĩa phù hợp hơn, chẳng hạn như “vùng nước thuộc quyền tài phán quốc gia”.

Điều này cũng có nghĩa là lậut này cho phép chính phủ sử dụng vũ lực để khẳng định những quyền đó chống lại các nước khác ngay cả khi họ hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế hợp pháp của bên khác. Nhìn chung, luật này của Trung Quốc làm gia tăng nguy cơ tính toán sai lầm, thậm chí có thể tạo ra hiệu ứng răn đe đối với những hành động thực thi pháp luật của các bên khác đối với ngư dân Trung Quốc”.

Ông Koh cho rằng khi lực lượng tuyến đầu của Trung Quốc được trao quyền quyết định có nên nổ súng hay không thì bản chất lỏng lẻo của các điều khoản trong luật “có thể dễ bị lạm dụng” và có thể khiến cho tình hình căng thẳng leo thang.

Nguồn: TKNB – 22/02/2021.

Bảo hộ hoa trái trí tuệ – Phần cuối


IV/ Về thực thi quyền sở hữu trí tuệ

1/ Nghĩa vụ chung

Để chống các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, các nước cần phải quy định bằng pháp luật trình tự thực thi hiệp định này một cách có hiệu quả, trong đó gồm có cả các biện pháp ngăn chặn và phòng ngừa tái diễn nhưng hành vi xâm phạm nghiêm trọng hơn. Có thể quy định việc thực hiện những trình tự như vậy ở trong nước và vùng biên giới bằng luật dân sự, luật hành chính, hoặc vận dụng một cách chính đáng luật hình sự, hoặc các hình thức hỗn hợp các hình luật. Khi thực thi các trình tự này, cần tránh cản trở buôn bán hợp pháp và phải phòng ngựa sự lạm dụng.

Trình tự thựcthi quyền sở hữu trí tuệ phải công bằng, hợp lý, đơn giản, kịp thời, không gây phiền hà, lãng phí thời gian, cũng không bị ràng buộc vô lý về thời hạn, không kéo dài.

Các quyết định của các vụ án phải được giải trình bằng văn bản và nhanh chóng thông báo cho các bên tranh chấp. Cần có quy định về việc chống án đối với những kết án của tòa án sơ thẩm và mệnh lệnh hành chính.

2/ Thủ tục dân sự và hành chính

Các nước ký hiệp định này cần thông báo cho những người sở hữu bản quyền biết thủ tục tư pháp dân sự trong việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Trong trường hợp có chứng cứ, cơ quan tư pháp có quyền ra lệnh cấm, chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bất kể hành vi của bị cáo là cố ý hay nhầm lẫn. Tòa án có quyền phán quyết về việc đền bù thiệt hại. Trường hợp chính phủ sử dụng bản quyền, hoặc bản quyền được sử dụng cho chính phủ mà bị tố cáo là xâm phạm bản quyền thì phải bổ cứu sự xâm phạm của chính phủ bằng cách đền bù đầy đú cho người sở hữu bản quyền.

Về các biện pháp bổ cứu khác, về quyền của tòa án trong việc thu nhận thông tin, về sự đền bù của bị cáo, về việc đòi bồi thường và các thủ tực hành chính khác đều có quy định cụ thể.

3/ Biện pháp tạm thời

Khi nhận được yêu cầu, cơ quan tư pháp có quyền tuyên bố áp dụng biện pháp tạm thời phòng ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là phòng ngừa những sản phẩm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ lọt vào kênh thương mại. Nếu người ta thấy rằng, sự chậm trễ sẽ gây cho người sở hữu bản quyền thiệt hại không thể bù đắp được, hoặc có nguy cơ là chứng cứ bị tiêu hủy thì phải lập tức áp dụng biện pháp tạm thời. Nếu là cơ quan hải quan thực hiện biện pháp tạm thời thì có thể yêu cầu người tố cáo xuất trình các tư liệu chứng minh rằng quyền sở hữu trí tuệ đã bị xâm phạm.

4/ Các yêu cầu có liên quan với các biện pháp ở biên giới

Nếu có chứng cứ để nghi ngờ rằng các sản phẩm hoặc tác phẩm nào đó đã xâm phạm bản quyền của mình có thể đã hoặc sẽ được nhập khẩu, thì người sở hữu bản quyền có thể làm đơn trình lên cơ quan tự pháp hoặc hành chính chủ quản đề nghị hải quan không cho hàng hóa ấy nhập khẩu.

Các nước ký hiệp định này cũng phải quy định thủ tục ngăn chặn những sản phẩm như thế từ nước mình xuất khẩu ra nước ngoài.

Đơn tố giác phải có chứng cứ bước đầu về cái gọi là xâm phạm bản quyền và chứng tỏ người tố giác là người sở hữu bản quyền. Người tố giác còn có thể được yêu cầu cung cấp các tư liệu cần thiết khác để giám định hàng hóa. Các nước phải phòng ngừa việc lạm dụng sự tố giác không trung thực hoặc vô nghĩa để cản trở thương mại qua biên giới.

Việc đóng cửa hải quan không cho hàng hóa thâm nhập vào nước ấy phải được thông báo kịp thời cho hãng nhập khẩu và người tố giác. Hãng nhập khẩu và chủ hàng có quyền đòi người tố giác đền bù đầy đủ mọi thiệt hại nếu vì tố giác sai mà hàng của họ bị lưu giữ.

Với điều kiện không vi phạm quy định về bảo vệ tài liệu mật, cơ quan chủ quản có quyền cho người sở hữu bản quyền kiểm nghiệm hàng hóa bị hải quan lưu giữ để chứng minh lý do họ tố cáo hàng hóa này xâm phạm bản quyền của họ.

Với điều kiện là không làm thiệt hại các quyền lợi khác của người sở hữu bản quyền, cơ quan chủ quản cần chuẩn bị tiêu hủy hoặc xử lý hàng hóa xâm phạm bản quyền, không cho hàng hóa ấy tái xuất khẩu tại nước ấy, hoặc cho làm lại thủ tục hải quan.

5/ Thủ tục hình sự

Các nước ký hiệp định này phải định ra thủ tục tố tụng hình sự và hình phạt để áp dụng vào các vụ án giả mạo nhãn hàng và đánh cắp bản quyền một cách cố ý vì mục đích thương mại và các vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vì mục đích thương mại. Các biện pháp bổ cứu gồm cả việc nghiêm cấm đủ để ngăn chặn sự vi phạm lẫn biện pháp phạt tiền, bắt giữ, tịch thu và tiêu hủy hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và mọi trang thiết bị, vật dụng được dùng để sản xuất ra hàng hóa ấy.

6/ Về việc được công nhận quyền sở hữu trí tuệ

Giấy công nhận và sự đăng ký bản quyền là tiêu chuẩn để được coi là có quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy, các nước cần xác lập trình tự cấp giấy công nhận và đăng ký bản quyền.

Các quy định bằng pháp luật về quy trình từ chối cấp giấy công nhận quyền sở hữu trí tuệ hoặc hủy bỏ giấy công nhận quyền sở hữu trí tuệ đã được cấp phát và việc thực thi các quy định ấy phải thể hiện được các yêu cầu nhanh chóng, hữu hiệu, công bằng, ngay thẳng. Mọi quyết định hành chính có liên quan đối với việc công nhận quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép các đương sự được kháng cáo lên tòa án hoặc cơ quan tư pháp cấp trên.

V/ Về buôn bán hàng giả và hàng có nhãn hiệu phi pháp

1/ Mục đích của quy định này

a/ Tạo ra công cụ pháp lý và các biện pháp bổ cứu để hạn chế nạn buôn bán hàng giả hoặc hàng có nhãn hiệu phi pháp trong thương mại quốc tế, đồng thời bảo đảm cho việc buôn bán hàng hợp pháp diễn ra suôn sẻ.

b/ Bảo đảm cho những trình tự và các biện pháp bổ cứu ấy không biến thành vật cản đối với việc buôn bán hợp pháp, bảo đảm cho cạnh tranh thương mại, hàng nhập khẩu không bị phân biệt đối xử.

c/ Bảo đảm hàng hóa lưu thông tự do, đề phòng các xí nghiệp thương nghiệp sử dụng các mánh lới để chia cắt thị trường, hạn chế cạnh tranh.

2/ Nguyên tắc và quy phạm về chống hàng giả

a/ Định nghĩa về buôn bán hàng giả

Buôn bán hàng giả là buôn bán hàng xâm phạm bản quyền nhãn hiệu của hàng hóa đã đăng ký hợp pháp tại nước nhập khẩu; buôn bán hàng có nhãn hiệu phi pháp là buôn bán hàng hóa, các xuất bản phẩm không có tính sáng tạo, được chế tác theo các tác phẩm được pháp luật của nước nhập khẩu bảo hộ bản quyền.

b/ Đề phòng cản trở thương mại

Các nước ký hiệp định này phải bảo đảm khi áp dụng các biện pháp và trình tự thực thi quyền sở hữu trí tuệ không gây ra cản trở đối với thương mại quốc tế, không bóp méo thông lệ thương mại quốc tế, hạn chế sử dụng các biện pháp phân biệt đối xử, tuân thủ quy chế tối huệ quốc về nguyên tắc ưu đãi chung.

c/ Giữa các nước, phải nghiêm cấm việc đe dọa người tố giác, hạn chế việc đơn phương quyết định biện pháp kinh tế để thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

d/ Các nước phải hợp tác với nhau bảo đảm cho hàng hóa được tự do lưu thông, phòng ngừa các xí nghiệp dàn xếp với nhau gây cản trở thương mại quốc tế hoặc chống cạnh tranh do buôn bán bị lỗ vốn.

e/ Yêu cầu về sự trong sáng

Các nước phải công bố công khai các quy định về pháp luật, pháp quy, các quyết định tư pháp và hành chính có liên quan tới việc buôn bán, và phải cung cấp chúng cho các nước khác.

3/ Các biện pháp tại biên giới

a/ Về việc ngừng nhập khẩu

Các nước cần có các biện pháp và trình tự tư pháp hoặc hành chính cần thiết để khi người sở hữu trí tuệ có lý do chính đáng nghi ngờ sản phẩm nhập khẩu xâm phạm quyền sở hữu nhãn hàng hoặc bản quyền của họ thì họ có quyền thông qua cơ quan hải quan ngăn chặn nhập khẩu hàng hóa ấy. Thời hạn ngừng nhập khẩu do cơ quan chủ quản xác định. Các biện pháp và trình tự về mặt này không được cản trở buôn bán hợp pháp.

b/ Về việc xử lý đối với hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Nếu cơ quan tư pháp nước nhập khẩu phán quyết hàng hóa ấy xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thì cơ quan chủ quản phải tịch thu, tiêu hủy hoặc xử lý hàng hóa ấy theo phương thức không gây thiệt hại cho lợi ích của người sở hữu trí tuệ.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Bảo hộ hoa trái trí tuệ – Phần V


5/ Về bản quyền phát minh

a/ Đối tượng của bản quyền phát minh.

Bản quyền được dành cho những sản phẩm và công nghệ được phát minh sáng tạo trong mọi lĩnh vực kỹ thuật. Nó có đặc điểm: mới, hiếm thấy, có tính sáng tạo, có tính thực dụng hoặc có thể ứng dụng trong công nghiệp. Phải đăng ký mới được cấp giấy chứng nhận bản quyền.

Những trường hợp sau đây không được cấp giấy chứng nhận bản quyền: việc công bố hoặc sử dụng phát minh này sẽ vi phạm quy định về trật tự công cộng, vi phạm pháp luật, vi phạm các tiêu chuẩn đạo đức được thừa nhận rộng rãi, vi phạm vệ sinh công cộng, hoặc trái với những nguyên tắc cơ bản về giá trị mà loài người tôn trọng; lý luận khoa học, phát minh khoa học, phương pháp toán học đã được phát hiện có cùng một hình thức trong các tài liệu và vật thể hác; các phương pháp điều trị y học cho người hoặc động vật; mọi thực vật hoặc động vật và quá trình sản xuất của chúng; sản xuất, ứng dụng và sử dụng vật chất hạt nhân, các vật chất được sản xuất theo phương thức hạt nhân.

b/ Quyền của người sở hữu bản quyền.

Người sở hữu bản quyền có quyền: không cho người thứ ba chế tạo, sử dụng, khi mình chưa đồng ý; không cho người khác chế tạo, sử dụng hoặc tiêu thụ sản phẩm bản quyền ấy hoặc sử dụng công nghệ bản quyền ấy vào mục đích thương mại hoặc công nghiệp; chuyển nhượng hoặc thừa kế quyền chuyển nhượng bản quyền ấy, ký hợp đồng cho phép sử dụng; khi nhà nước sử dụng bản quyền ấy, hoặc cấp phép cưỡng chế cho sử dụng bản quyền ấy thì được đòi đền bù hợp lý.

Những trường hợp ngoại lệ được phép sử dụng mà không có sự đồng ý của người sở hữu bản quyền là: quyền được ưu tiên sử dụng, sử dụng cho cá nhân hoặc không vì mục đích thương mại; nhà nước sử dụng.

c/ Nghĩa vụ của người sở hữu bản quyền

Trước khi được cấp giấy chứng nhận bản quyền phát minh, người sở hữu bản quyền phải trình bày rõ ràng, hoàn chỉnh cho người tinh thông kỹ thuật sử dụng phát minh ấy vào thực tiễn; cung cấp thông tin về việc xin cấp phép và tình hình được cấp phép ở nước ngoài; trong thời hạn quy định tại đạo luật trong nước, phải thực thi phát minh ấy trên lãnh thổ của nước ký hiệp định này.

d/ Thời hạn bảo hộ

Thời hạn bảo hộ bản quyền phát minh tối thiểu là 15 năm. Khuyến khích các nước tăng thời hạn bảo hộ bản quyền phát minh, đền bù tổn thất do chậm trễ thẩm tra đơn xin cấp chứng nhận bản quyền gây ra. Thời hạn bảo hộ phải được quy định bằng luật của nhà nước.

e/ Về cấp phép

Các nước ký hiệp định này cần hạn chế tới mức tối đa việc cấp phép cưỡng chế. Chỉ được cấp phép cưỡng chế trong các trường hợp: để sửa chữa những vi phạm luật cạnh tranh; khi tuyên bố tình trạng khẩn cấp; vì lợi ích chung. Chỉ sau khi việc đàm phán phù hợp với thông lệ thương mại giữa người xin được sử dụng bản quyền và người sở hữu bản quyền bị tan vỡ thì mới được cấp phép cưỡng chế. Phép cưỡng chế chỉ được sử dụng trong phạm vi mục đích cấp phép, hơn nữa phải không có tính chất chèn ép, không được chuyển nhượng, chỉ được dùng để sản xuất trên thị trường sở tại. Người sở hữu bản quyền phát minh phải được đền bù một giá trị kinh tế hợp lý. Mức tiền đền bù do cơ quan tư pháp cấp trên xem xét quyết định.

g/ Hủy bỏ, thu hồi giấy chứng nhận bảo hộ, và sự bảo hộ có tính chất quá độ.

Vì lợi ích chung và vì không thực hiện được việc cấp phép cưỡng chế, có thể hủy bỏ chứng nhận bản quyền. Việc thu hồi chứng nhận bản quyền phải do cơ quan tư pháp quyết định.

Trước khi chấp nhận hiệp định này, các nước ký Hiệp định chung cần bảo hộ mang tính chất quá độ đối với những sản phẩm là đối tượng được bảo hộ bản quyền theo luật của bản quyền của nước họ. Thủ tục chính thức về chứng nhận bản quyền phải được quy định bằng pháp luật.

6/ Đối với thiết kế mạch tổ hợp

Các nước ký Hiệp định chung đồng ý bảo hộ bản quyền thiết kế mỹ thuật mạch tổ hợp theo “Hiệp ước về quyền sở hữu trí tuệ đối với mạch tổ hợp” (tức là “Công ước Washington” ký kết ngày 26/05/1989). Sự bảo hộ này không ngăn cản sự bảo hộ của các đạo luật khác.

Chưa được người sở hữu bản quyền chấp thuận mà đã sử dụng thiết kế mỹ thuật của họ vào mạch tổ hợp, nhập khẩu và tiêu thụ vì mục đích thương mại thiết kế mỹ thuật mạch tổ hợp được bảo hộ bản quyền, hoặc mạch tổ hợp có sử dụng thiết kế mỹ thuật được bảo hộ bản quyền, hoặc sản phẩm có lắp mạch tổ hợp loại ấy, là phạm pháp. Phục chế thiết kế mỹ thuật mạch tổ hợp để dùng cho giảng dạy, dùng vào mục đích phân tích đánh giá khi chuẩn bị thiết kế, thì được miễn truy cứu trách nhiệm.

Thời hạn bảo hộ bản quyền thiết kế mỹ thuật tại những nước lấy đăng ký làm điều kiện bảo hộ là không dưới 10 năm kể từ ngày đăng ký và từ ngày lần đầu tiên thiết kế ấy được đem ra buôn bán bất kỳ nơi nào trên thế giới. Thời hạn bảo hộ  ở nước không lấy đăng ký làm điều kiện bảo hộ cũng không được quá 10 năm kể từ ngày lần đầu tiên thiết kế ấy được đem ra buôn bán tại bất kỳ nơi nào trên thế giới. Nếu luật pháp yêu cầu phải đăng ký mà lại không đăng ký thì sau 2 năm kể từ ngày thiết kế đó lần đầu tiên đem ra buôn bán tại bất kỳ nơi nào trên thế giới, thiết kế ấy tự động mất quyền được bảo hộ.

7/ Bảo hộ thông tin chưa bị tiết lộ

Để ngăn ngừa một cách hữu hiệu hiện tượng cạnh tranh không công bằng, các nước phải cung cấp phương tiện pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân để họ ngăn chặn người khác tiết lộ, sử dụng thông tin của họ mà không được họ đồng ý; các nước ký hiệp định này không được tăng các điều kiện cấp phép một cách quá hà khắc hoặc có tính chất phân biệt đối xử để cản trở việc xin phép sử dụng thông tin chưa công khai, cũng không nên cấp phép cưỡng chế cho sử dụng thông tin.

Nhiều nước yêu cầu công bố hoặccung cấp những số liệu thí nghiệm chưa công bố, thì phải bảo hộ bản quyền về các số liệu đó để đề phòng những người cạnh tranh sử dụng số liệu ấy một cách không công bằng.

Các nước chỉ được tiết lộ bí mật thương mại cho người thứ ba trong trường hợp được sự đồng ý của người sở hữu những thông tin bí mật về thương mại, hoặc trong trường hợp cần thiết để hoàn thành chức năng của chính phủ.

Trong quá trình xin được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, mọi sự tiết lộ thông tin cho người thứ ba hoặc cho các cơ quan khác của chính phủ, đều phải xin ý kiến của người sở hữu trí tuệ và phải được cơ quan tư pháp phê duyệt.

8/ Biện pháp lấp chỗ trống

Nếu chưa thể thực hiện hiệp định này hoặc chưa thể thực hiện được nghĩa vụ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được quy định bằng pháp luật trong nước, các nước phải có các biện pháp lấp lỗ trống, gồm: nếu bản quyền không thể đưa vào ứng dụng được, hoặc phạm vi ứng dụng có hạn, thì cấp phép cưỡng chế; vì lợi ích của công chúng và để bảo đảm tự do cạnh tranh, phòng ngừa người sở hữu bản quyền lạm dụng bản quyền, nếu cần thiết thì cũng có thể cấp phép cưỡng chế; trường hợp luật pháp trong nước yêu cầu nhãn hiệu phải đưa ra sử dụng thì mới được bảo hộ bản quyền, thế nhưng sau một thời gian hợp lý vẫn không đưa ra sử dụng, trừ trường hợp có lý do chính đáng, còn thì đều phải hủy bỏ việc đăng ký nhãn hàng ấy; nếu trong hợp đồng có điều khoản mang tính chất lạm dụng hoặc chống cạnh tranh thì tuyên bố hợp đồng ấy không có hiệu lực.

Các nước phải bảo đảm cho những công dân nước mình có quyền sở hữu trí tuệ, tôn trọng nghĩa vụ của họ quy định trong hiệp định này, tôn trọng nghĩa vụ của họ được quy định trong luật của các nước khác.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Bảo hộ hoa trái trí tuệ – Phần IV


b/ Về đăng ký và trình tự đăng ký nhãn hiệu.

Các nước ký hiệp định này cần định ra chế độ đăng ký nhãn hiệu, thúc đẩy việc đăng ký quyền sở hữu nhãn hiệu để được sử dụng và bảo hộ, không lấy tính chất của hàng hóa, hoặc dịch vụ làm điều kiện đăng ký nhãn hiệu, cần khuyến khích đăng ký quốc tế về nhãn hiệu. Sauk hi đăng ký phải công bố ngay và phải dành một thời gian để các nước khác có đủ điều kiện yêu cầu hủy bỏ việc đăng ký hoặc có ý kiến phản đối; các nước ký hiệp định này cần căn cứ vào hình thức hoặc yêu cầu được quy định trong luật pháp của mình để bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và tiêu chí dịch vụ đăng ký tại nước mình.

c/ Quyền của người sở hữu bản quyền nhãn hiệu.

Người sở hữu bản quyền nhãn hiệu đã đăng ký có quyền không cho người thứ ba sử dụng tiêu chí giống hoặc tương tự với tiêu chí của hàng hóa hoặc dịch vụ đã đăng ký nhãn hiệu của mình. Nếu nhãn hàng nào đó có thể gây ra nhầm lẫn với nhãn hãng của nước khác thì không cho đăng ký và cấm sử dụng. Người sở hữu nhãn hàng có quyền ngăn chặn việc sử dụng nhãn hàng để cạnh tranh không chính đáng.

d/ Ngoại lệ và bảo hộ

Do tính tới lợi ích hợp pháp của người sở hữu nhãn hàng và của người thứ ba, người ta có thể định ra những quy định ngoại lệ có hạn, như cho phép sử dụng một cách công minh, ngay thẳng những thuật ngữ có tính chất giải thích.

Thời hạn đăng ký đầu tiên ít nhất là 10 năm, có thể cho phép gia hạn mãi mãi, hoặc do luật trong nước quy định thời hạn bảo hộ.

e/ Yêu cầu về sử dụng nhãn hàng

Nhãn hàng đã đăng ý phải được sử dụng, nếu không được sử dụng thì có thể hủy bỏ việc đăng ký nhãn hàng ấy, trừ trường hợp người sở hữu nhãn hàng có lý do chính đáng chứng minh được rằng việc sử dụng nhãn hàng ấy đang có trở ngại. Nếu được người sở hữu đồng ý, người khác sử dụng nhãn hàng ấy, thì được coi là có sử dụng. Lý do được coi là lý do chính đáng trong việc chưa sử dụng nhãn hàng phải là việc sử dụng nhãn hàng có khó khăn cho nên việc chưa sử dụng nhãn hàng ấy nằm ngoài ý muốn của người sở hữu nhãn hàng, như hàng hóa được bảo hộ nhãn hiệu bị hạn chế nhập khẩu hoặc bị cấm.

Các nước cần quy định điều kiện sử dụng nhãn hàng bằng pháp luật. Không được gây ra những trở ngại vô lý đối với việc sử dụng nhãn hàng, như đòi sử dụng chung với nhãn hàng khác, vì làm như thế sẽ làm giảm công năng của nhãn hàng ở khía cạnh nó là tiêu chí của nơi sản xuất.

g/ Về cấp giấy phép và chuyển nhượng.

Không được cấp phép cưỡng chế về nhãn hàng. Quyền sở hữu nhãn hàng có thể được chuyển nhượng cùng với hoặc không cùng với thực thể làm nhãn hàng. Các nước cần quy định bằng luật việc sử dụng và chuyển nhượng một tiêu chí nào đó về nhãn hàng.

3/ Tiêu chí nơi sản xuất

a/ Định nghĩa

Tiêu chí nơi sản xuất là tiêu chí quốc gia, khu vực hoặc nơi sở tại của nguồn hàng hoặc dịch vụ. Nó cho người ta biết hàng hóa được sản xuất tại nước nào, khu vực nào, các đặc trưng cụ thể về chất lượng, về danh tiếng của hàng hóa ấy.

b/ Về bảo hộ

Các nước ký hiệp định này phải căn cứ vào quy định trong “Hiệp định Madrid về xử phạt những sản phẩm giả mạo tên gọi nơi sản xuất” được ký kết năm 1891 và mới sửa đổi năm 1967 để bảo hộ theo địa danh, ngăn chặn những sản phẩm giả mạo địa danh.

Các nước phải từ chối đăng ký hoặc vô hiệu hóa việc đăng ký những nhãn hàng có nội dung sau: được trình bày như tính chất của sản phẩm được sản xuất ở nơi khác khiến công chúng hiểu sai hoặc lầm lẫn. Các nước cần đề ra phương pháp thích đáng để các bên đương sự không dùng cùng một cách thể hiện cho những sản phẩm khác nhau về nơi sản xuất. Các nước cần cấp đăng ký chứng nhận nơi sản xuất để bảo hộ theo địa danh, đề phòng công chúng lầm lẫn tiêu chí.

c/ Đăng ký quốc tế.

Các nước ký hiệp định này đồng ý hợp tác, thực hiện bảo hộ, kể cả bảo hộ theo tên gọi nơi sản xuất, để lập ra hệ thống đăng ký quốc tế các tiêu chí địa lý được bảo hộ, khi cần thiết sẽ cung cấp các văn bản chứng nhận quyền sử dụng tiêu chí địa lý.

Bất kỳ nước nào cũng không được mượn cớ bảo hộ tiêu chí địa lý để phân biệt đối xử giữa những người sở hữu bản quyền những nhãn hàng có tiêu chí địa lý hoặc gọi giống nhau đã sử dụng hoặc đăng ký trước và sau khi hiệp định này có hiệu lực.

4/ Thiết kế công nghiệp

a/ Yêu cầu về bảo hộ

Các nước ký hiệp định này phải bảo hộ các thiết kế công nghiệp mới hoặc thiết kế ban đầu và lấy việc đăng ký làm điều kiện bảo hộ. Bảo hộ bản quyền thiết kế chứ không bảo hộ đặc điểm kỹ thuật. Bảo hộ thiết kế công nghiệp được thực hiện với điều kiện không ảnh hưởng tới bảo hộ theo luật bản quyền hoặc bảo hộ theo quy định trong các đạo luật khác.

b/ Về thiết kế hàng dệt

Không được biến các yêu cầu đặc biệt như: kiểm tra tính chất mới của thiết kế trước khi đăng ký, sự giải trí bắt buộc của bản thân việc thiết kế hoặc việc đông đảo những người sử dụng phải chi khoản phụ phí không thỏa đáng, thành lý do ngăn cản người thiết kế nhận được quyền sở hữu thiết kế hàng dệt hoặc hàng may mặc.

c/ Quyền lợi và nghĩa vụ của người thiết kế công nghiệp.

Người sở hữu thiết kế công nghiệp đã đăng ký và được bảo hộ có quyền ngăn chặn người thứ ba sản xuất, tiêu thụ, sử dụng hoặc nhập khẩu với mục đích thương mại những thứ họ có quyền sở hữu thiết kế công nghiệp mà không được sự đồng ý của họ. Nghĩa vụ của họ được áp dụng theo điều quy định về yêu cầu đối với phát minh sáng chế.

d/ Thời hạn bảo hộ và cấp giấy phép

Thời hạn bảo hộ ít nhất là 10 năm. Thời hạn bảo hộ bước đầu đối với thiết kế công nghiệp đã đăng ký ít nhất là 5 năm, kể từ ngày xin đăng ký, đồng thời có thể được gia hạn 5 năm.

Ngoại trừ trường hợp buộc phải uốn nắn những vi phạm luật cạnh tranh, còn thì các nước không được cấp phép cưỡng chế đối với thiết kế công nghiệp. Việc bảo hộ thiết kế công nghiệp không mất hiệu lực do việc sử dụng nó bị thất bại.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Bảo hộ hoa trái trí tuệ – Phần III


III/ Các tiêu chuẩn về hiệu lực, phạm vi và công dụng của quyền sở hữu trí tuệ

1/ Quyền xuất bản và các quyền liên quan

Các nước ký hiệp định này phải dành cho tác giả hoặc người thừa kế của họ quyền sở hữu kỹ thuật theo quy định tại “Công ước Berne” được ký kết năm 1971.

a/ Đối tượng bảo hộ.

Bản quyền được bảo hộ, ngoài tác phẩm văn học ra, còn có chương trình máy tính trong đó gồm cả các số liệu. Để bảo hộ bản quyền về chương trình máy tính, trong sắc luật ở trong nước, các nước phải quy định về tính chất, về phạm vi và về khái niệm của đối tượng được bảo hộ. Do việc bảo hộ bản quyền chương trình máy tính có thể nảy sinh những vấn đề phức tạp về pháp luật và kỹ thuật, các nước cần hợp tác với nhau để định ra biện pháp bảo hộ thích hợp và hình thành nguyên tắc quốc tế về việc bảo hộ này.

b/ Quyền của tác giả.

Là quyền xuất khẩu hoặc cho phép xuất khẩu bản quyền hợp pháp vào các nước ký hiệp định này, và quyền ngăn chặn xuất khẩu bản quyền mà chưa được người sở hữu bản quyền cho phép; là quyền bán nguyên tác xuất bản lần đầu bằng phương thức bán ra hoặc cho thuê. Các nước cần trao quyền sở hữu cho tác giả, họ có quyền cho phép hoặc cấm thuê mượn nguyên tác của họ.

c/ Bảo hộ xuất bản phẩm của tư nhân.

Theo quy định của pháp luật trong nước của các nước ký hiệp định này về nguyên tác trong nước, tác phẩm được bảo hộ gồm cả xuất bản phẩm của một tập đoàn tư nhân hoặc của cá nhân.

d/ Truyền bá công cộng.

Truyền bá công cộng (như biểu diễn, triển lãm, trưng bày, phát thanh hoặc phát thanh lại) cái được coi là có bản quyền là: truyền bá một tác phẩm cho công chúng, hoặc trong các cuộc hội họp vượt quá phạm vi gia đình và khuôn khổ trao đổi bình thường; dùng bất kỳ phương thức nào để truyền bá một tác phẩm trước mặt công chúng.

e/ Chuyển nhượng bản quyền.

Có thể tựdo chuyển nhượng bản quyền được bảo hộ. Thông qua thương lượng tự do, người chuyển nhượng và người được chuyển nhượng được hưởng mọi quyền lợi và quyền hạn đã chuyển nhượng cho nhau.

g/ Thời hạn bảo hộ.

Thời hạn bảo hộ tác phẩm mà tác giả là một pháp nhân thì không nên dưới 50 năm, kể từ cuối năm, năm xuất bản. Thời hạn bản quyền chương trình máy tính không nên dưới 50 năm, kể từ cuối năm, năm chế ra chương trình máy tính đó.

h/ Hạn chế, ngoại lệ và cấp phép cưỡng chế.

Khi định ra bất kỳ sự hạn chế hoặc quy định ngoại lệ nào đối với quyền độc chiếm bản quyền, các nước phản nhận rõ ranh giới để không gây ra thiệt hại về thị trường hoặc giá trị của quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ. Trước khi cấp phép, phải tạo điều kiện cho người sở hữu quyền tác giả biết lý do dịch và tái bản tác phẩm của họ. Bất kỳ sự cấp phép cưỡng chế nào cũng đều phải đảm bảo các tiêu chuẩn về rút tiền đền bù và lợi nhuận chuyển nhượng trên cơ sở tự nguyện được thực hiện thỏa đáng.

Các nước phải bảo hộ người biểu diễn, tổ chức phát thanh và người ghi âm đĩa hát theo tiêu chuẩn tối thiểu mà họ được hưởng theo quy định tại điều khoản thực thể trong “Hiệp ước Rome”:

+ Về quyền lợi của người ghi âm đĩa hát.

Các nước cần trao cho người ghi âm đĩa hát quyền cho phép hoặc cấm trực tiếp hoặc gián tiếp ghi âm lại đĩa hát của họ. Bảo hộ đối với người ghi âm đĩa hát gồm có ngăn chặn bên thứ ba bán đĩa hát trên thị trường mà không được phép của người ghi âm.

+ Về quyền lợi của người biểu diễn.

Bảo hộ người biểu diễn là ngăn ngừa các hành vi: ghi âm, ghi hình, phát lại, chiếu lại, diễn lại các diễn xuất của người biểu diễn; nhân bản các đĩa, băng ghi âm, ghi hình các diễn xuất của người biểu diễn rồi cung cấp, bán cho công chúng.

+ Về quyền lợi của tổ chức phát thanh.

Tổ chức phát thanh phải có quyền ngăn chặn khả năng xảy ra các hành vi sau: ghi vào đĩa, vào băng những điều họ phát thanh; nhân bản các đĩa, băng ghi âm các lời phát thanh của họ; truyền bá việc phát thanh của họ cho công chúng; phát lại bằng vô tuyến điện; phát lại phát thanh của họ; bán trên thị trường những sản phẩm ghi âm phát thanh của họ.

+ Về giao lưu công cộng đối với đĩa hát.

Nếu xuất bản hoặc tái bản đĩa hát với mục đích thương mại và trực tiếp dùng để phát thanh hay truyền bá cho công chúng, thì người sử dụng phải trả thù lao thích đáng cho người biểu diễn hoặc cho người ghi âm đĩa hát hoặc cho cả hai người ấy.

+ Thời hạn bảo hộ.

Thời hạn bảo hộ đối với người ghi âm, người diễn xướng và tổ chức phát thanh từ 25 – 50 năm, kể từ cuối năm ghi âm sự diễn xướng, phát thanh ấy.

+ Về quyền được bảo hộ.

Các nước ký hiệp định này bảo hộ trước hết đối với: đĩa hát được xuất bản ở nước khác, kể cả đĩa hát xuất bản ở nơi khác mà sau đó 30 ngày lại được xuất bản ở nước ấy; đĩa hát mà hãng xuất bản là công dân nước ấy, hoặc đĩa hát mà trụ sở của người ghi đĩa hát đặt tại nước ấy. Việc nhận quyền được bảo hộ bản quyền và hiệu lực của bản quyền không bị ràng buộc bởi bất kỳ hình thức nào, sau khi xuất bản, chúng tự động được bảo hộ.

2/ Về nhãn hàng

a/ Đối tượng được bảo hộ.

Nhãn hàng là tiêu chí phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của xí nghiệp này với hàng hóa hoặc dịch vụ của xí nghiệp khác. Các nước ký hiệp định này phải căn cứ vào hình thức hoặc yêu cầu được quy định trong các đạo luật có liên quan để bảo hộ nhãn hiệu đã đăng ký tại lãnh thổ nào đó.

Nếu nhãn hiệu thiếu các đặc trưng phân biệt giữa hàng hóa này với hàng hóa khác, nếu tính chất, chất lượng hoặc nơi sản xuất của hàng hóa hoặc dịch vụ có tính chất lừa bịp công chúng, hoặc có mâu thuẫn với quyền lợi trước kia, nhất là khi nhãn hiệu trái với quy định về trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục, thì không được bảo hộ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Dư luận xung quanh Luật Bảo vệ môi trường vừa được Quốc hội thông qua


Theo đài RFI, ngày 17/11, Luật  Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội Việt Nam thông qua với hơn 96% phiếu thuận. Điểm đáng chú ý là bộ luật quan trọng này đã phải lùi lại một tuần để sửa đổi do sự phản đối mạnh mẽ của giới khoa học, giới bảo vệ môi trường trong nước. Ngay trước khi Quốc hội bỏ phiếu, giới khoa học, giới bảo vệ môi trường tiếp tục kêu gọi hoãn dự luật.

Luật Bảo vệ môi trường do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì soạn thảo. Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phụ trách thẩm tra và được thảo luận tại Việt Nam từ cuối năm 2019. Cho đến trước khi Quốc hội bỏ phiếu, đã có ít nhất 7 phiên bản dự luật khác nhau được thảo luận. Truyền thông tại Việt Nam đăng tải rộng rãi nhiều ý kiến phản biện, kiên quyết phản đối việc thông qua dự luật. Bên cạnh đó, cũng có nhiều ý kiến cho rằng cơ quan soạn thảo đã tiếp thu khá nhiều ý kiến phản biện và dự luật trước khi được thông qua đã được cải thiện khá nhiều so với ban đầu. Vậy tại sao Luật Bảo vệ môi trường bị phản đối mạnh mẽ trong giới khoa học và liệu Luật Bảo vệ môi trường vừa được thông qua có thực sự tiếp thu các ý kiến phản biện?

Trái với nguyên tắc “Không đánh đổi môi trường để phát triển kinh tế”

Ngày 3/11, TS. Hoàng Xuân Lương, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu quyền con người vùng dân tộc, miền núi kiêm Chủ tịch Nhóm Hành động vì công lý, sức khỏe và môi trường, một trong 5 tổ chức liên minh tham gia “Kiến nghị hoãn thông qua Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi”, cho biết: “Những kiến nghị của các nhà khoa học, nhà bảo vệ môi trường được tiếp thu, nhưng không đầy đủ, đặc biệt, có mấy vấn đề:

Thứ nhất, sự giám sát của người dân trong quá trình thực hiện Đánh giá tác động môi trường của các nhà máy, khu công nghiệp lớn và việc minh bạch các số liệu để người dân thực hiện quyền giám sát chưa được tốt lắm.

Thứ hai, vai trò của các nhà khoa học tham gia vào việc giám sát, phản biện về các tác động đến môi trường chưa được chú trọng.

Thứ ba, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước khi có ảnh hưởng môi trường mới nói chung chung, không xác định cụ thể.

Nói một cách tóm tắt, trong quá trình đóng góp ý kiến, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã tiếp thu, nhưng chỉ tiếp thu một phần.

Do ảnh hưởng của các doanh nghiệp, nên những đấu tranh của người dân, của các nhà khoa học chưa đạt kết quả mỹ mãn. Trong số các phản biện của chúng tôi, họ đã chấp nhận việc đưa vào luật để người dân, nhà khoa học được tham gia vào qá trình giám sát, phản biện, nhưng họ không đưa đầy đủ các ý đề xuất. “Đầy đủ” có nghĩa là phải được giám sát ngay từ đầu, ngay từ khâu xây dựng dự án. Công khai, minh bạch và tham gia ngay từ đầu, như vậy mới tránh được những việc làm tiêu cực của doanh nghiệp, vì sự phát triển kinh tế, vì lợi nhuận mà không quan tâm nhiều đến ảnh hưởng về môi trường. Mặc dù lãnh đạo chính phủ đã chỉ đạo không đánh đổi môi trường  để phát triển kinh tế, mà phải bảo vệ môi trường, nhưng rõ ràng Luật Bảo vệ môi trường vẫn nghiên về hướng phát triển kinh tế”.

Thạc sĩ Phạm Thị Hương Giang, người sáng lập Quỹ hỗ trợ và phát triển cộng đồng sống bền vững khẳng định, luật này là một “bước lùi” nghiêm trọng, mang tên là bảo vệ môi trường, nhưng thực chất để phục vụ lợi ích của các chủ đầu tư: “Cái cốt lõi của luật này chính là Báo cáo đánh giá tác động môi trường. Các dự án bất động sản, thủy điện, tất cả các dự án liên quan đến tác động môi trường đều phải có đánh giá tác động môi trường. Đó là chìa khóa quan trọng để việc “mở cửa” cho việc sản xuất, kinh doanh, khai thác có đúng cách hay không, hay lại là “phá cửa” để vào nhà.

Đánh giá đó phải là đánh giá trung thực, khách quan. Để chứng minh cho sự trung thực, khách quan, đánh giá tác động môi trường phải được công khai, đầy đủ, rõ ràng. Đây là điều quan trọng nhất, nhưng hiện tại, nhà nước lại đẩy cho phía doanh nghiệp. Thực ra, đây là một bước thụt lùi so với luật cũ, thụt lùi là do Nhà nước đã đẩy việc này cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không chịu trách nhiệm thì sao? Nếu doanh nghiệp từ chối cho tiếp cận thì công chúng làm gì doanh nghiệp? Trong khi môi trường không phải là tài sản của doanh nghiệp, đó là tài sản của Nhà nước. Đó là bước thụt lùi rất lớn khi thông qua dự luật này.

Có hai chuyện quan trọng nhất ở đây: thứ nhất, báo cáo không được công khai, minh bạch bởi chính cơ quan quản lý nhà nước; thứ hai, báo cáo không được đánh giá một cách toàn diện và không lấy ý kiến của những người ảnh hưởng trực tiếp. Đó là điều không chấp nhận được. Vì vậy, luật này không phải để bảo vệ môi trường mà bảo vệ quyền lợi và lợi ích của chủ đầu tư. Đây là một sự đi xuống rất thảm hại của việc bảo vệ môi trường, trong khi Việt Nam đang phải đối mặt với những thảm họa rất lớn về thiên tai và nhân tai, có liên quan đến yếu tố môi trường, đặc biệt là nhân tai thì cần phải có các quy định pháp luật chặt chẽ”.

Bác sĩ Trần Tuấn nhấn mạnh đến thực tế là do bộ luật nghiêng hẳn về phía các chủ đầu tư, vì vậy, các đóng góp căn bản để luật được xây dựng trên nền tảng của các thành tựu về khoa học môi trường đầu Thế kỷ 21 đã không được tiếp thu: “Nhìn vào phiên bản dự luật được Quốc hội thông qua, tôi thấy nổi lên hai điểm chính: thứ nhất, dự luật mất “cơ bản”, tức không có được nền tảng khoa học xây dựng Luật Bảo vệ môi trường của thập niên thứ 3 của thế kỷ 21; thứ hai, mục đích bảo vệ môi trường của dự luật bị biến thái, nghiêng hẳn về bảo vệ chủ dự án đầu tư, can thiệp hay khai thác môi trường. Mục tiêu bảo vệ môi trường là phải bảo vệ cho môi trường khi bị ảnh hưởng khỏi những can thiệp, chủ yếu là của con người, làm thay đổi những tính chất, thành phần của môi trường, theo hướng phá vỡ cân bằng sinh thái, tăng nguy cơ độc hại cho các sinh thể sống trong môi trường đó, bao gồm cả con người, động thực vật… các hệ sinh vật trong môi trường sinh thái. Nhìn vào chương đánh giá tác động môi trường, có thể nói, đánh giá tác động môi trường rất bất cập. Đánh giá tác động môi trường bản chất là một nghiên cứu khoa học, phải khách quan, trung thực, phải độc lập, nhưng trong dự luật này lại giao cho chủ đầu tư thực hiện. Rõ ràng, các chủ đầu tư sẽ đi theo hướng bảo vệ cho việc các dự án của họ bảo đảm đủ các tiêu chuẩn. Muốn đánh giá được độc lập, khách quan thì phải có những người không dính dáng tới lợi ích với chủ đầu tư, cũng như với nhà nước. Nói một cách khác, phải có các cơ quan độc lập tham gia, phải tổ chức các nghiên cứu khoa học theo hướng độc lập, khách quan… Trong quá trình phát triển một năm vừa rồi, đi qua phiên bản này là phiên bản cuối cùng, là phiên bản thứ 8, vẫn không khắc phục được các tồn tại trên, vẫn để chủ đầu tư chịu trách nhiệm thực hiện đánh giá tác động môi trường”.

Ngoài “Kiến nghị hoãn thông qua Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi” tham gia cùng với 5 liên minh, tổ chức khác, ngày 9/11, Liên minh Phòng chống bệnh không lây nhiễm Việt Nam (NCDs-VN) do bác sĩ Trần Tuấn làm Trưởng ban điều phối, gửi đến Quốc hội và chính phủ Việt Nam một văn bản phân tích chi tiết nhấn mạnh 3 điểm yếu lớn của dự thảo luật, trong đó, điểm yếu hàng đầu là “Dự thảo luật rơi vào tình trạng mất cơ bản nền tảng khoa học bảo vệ môi trường”. Bài viết có mục tiêu cung cấp trước hết cho các đại biểu Quốc hội các trả lời cho câu hỏi, dựa vào đâu Liên minh phòng chống bệnh không lây nhiễm Việt Nam đánh giá dự thảo luật nói trên là “mất cơ bản”.

Bà Ngụy Thị Khanh, Giám đốc Trung tâm phát triển sáng tạo xanh (GreenID), một trong các tổ chức tham gia vào “Kiến nghị Quốc hội hoãn thông qua dự luật”, đặc biệt ghi nhận tình trạng thụt lùi của Luật Bảo vệ môi trường so với chính các phiên bản dự luật đầu tiên, cũng như quá trình làm luật thiếu rõ ràng, minh bạch: “Vấn đề công khai thông tin môi trường trong quá trình xây dựng luật, phiên bản cuối cùng không quy định chi tiết trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước đối với việc thực hiện đảm bảo trách nhiệm của Nhà nước đối với việc công khai, báo cáo đánh giá tác động môi trường, mà lại cho rằng đây là trách nhiệm của doanh nghiệp. Trong việc công bố thông tin, trong phiên bản cuối cùng lại bỏ đi yêu cầu công khai thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng. Trong quá trình tham gia góp ý, dự thảo lúc bắt đầu đưa vào Quốc hội để thẩm tra thì rất tiến bộ, có rất nhiều kiến nghị góp ý của các cơ quan, tổ chức được tiếp thu, tích hợp vào các bản thảo lần thứ hai, lần thứ ba, nhưng rồi sau cứ yếu dần đi. Ví dụ, một kiến nghị của chúng tôi về quản lý “chất lượng không khí liên vùng” thì cần phải quy định như thế nào, dự thảo lần hai, lần ba có tiếp thu, nhưng đã bị loại ra trong các dự thảo sau đó.

Ngày 17/11, Quốc hội thông qua, nhưng đến tối 16/11 mới cập nhật lên cổng thông tin điện tử bản cuối cùng. Như vậy, có bao nhiêu người, trong đó có các đại biểu Quốc hội, sẽ đọc bản thảo ấy. Nói chung, khi theo dõi mới thấy quá trình làm luật cũng đặt ra rất nhiều vấn đề, cần phải quan tâm để cải tiến về chất lượng”.

Nguồn: TKNB – 27/11/2020.

Bảo hộ hoa trái trí tuệ – Phần II


b/ Quan điểm của các nước đang phát triển

Các nước đang phát triển đang ở vào quá trình công nghiệp hóa, năng lực nghiên cứu phát triển khoa học còn thấp, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ một cách cứng nhắc sẽ khiến họ không thể nào tự do lựa chọn phương thức thích hợp để có được kỹ thuật của nước ngoài, và qua cải tạo, “tiêu hóa”, tiếp thu để sử dụng cho nước mình. Vì vậy, các nước đang phát triển, đặc biệt là Ấn Độ và Brazil, đề nghị: phải nhấn mạnh sự cân bằng lợi ích; không được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ một cách phiến diện, bất chấp sự chênh lệch rõ rệt về trình độ phát triển giữa các nước; phải có biện pháp bổ cứu tương ứng khi không công khai và phổ biến đầy đủ các phát minh kỹ thuật; cần có biện pháp để khắc phục tình trạng bản quyền nước ngoài không được sử dụng hoặc không được sử dụng đầy đủ tại nước đăng ký các bản quyền ấy; cho phép các nước đang phát triển xuất khẩu hàng hóa sản xuất bằng công nghệ có sử dụng bản quyền của nước ngoài đã đăng ký ở nước họ, cho phép các nước đang phát triển không bảo hộ kỹ thuật và sản phẩm sinh vật; phải tránh những hiện tượng lạm dụng bảo hộ giấy phép bản quyền; chỉ bảo hộ bản quyền phần mềm máy tính trong phạm vi có hạn; thúc đẩy việc chuyển nhượng kỹ thuật cho các nước đang phát triển và định ra các biện pháp ưu đãi dễ dàng.

Dự thảo hiệp định cuối cùng tại vòng đàm phán Uruguay thể hiện được mức độ nhất định những đòi hỏi hợp lý của các nước đang phát triển.

II/ Nguyên tắc chung và nguyên tắc cơ bản về quyền sở hữu trí tuệ

1/ Nguyên tắc chung

a/ Người có tư cách được hiệp định bảo hộ.

Nước ký hiệp định này phải áp dụng các quy định trong hiệp định này đối với công dân các nước.

Người được hưởng bản quyền sở hữu trí tuệ là bản thân người sở hữu bản quyền; thể nhân hoặc pháp nhân đã được trao cho quyền ấy; hoặc những người khác được trao cho quyền ấy, gồm cả các hiệp hội và tổ chức có quyền ấy theo luật pháp trong nước.

Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ không ngăn cản các nước ký hiệp định này bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ rộng rãi hơon so với hiệp định này. Đồng thời cũng không miễn trừ cho nước ký hiệp định này bất kỳ nghĩa vụ nào quy định trong Hiệp định chung. Các nước phải tôn trọng các điều khoản về quyền lợi kinh tế trong “Công ước Paris” ký năm 1967, “Công ước Berne” ký năm 1971 và “Hiệp ước Rome”.

b/ Ưu đãi chung

Các nước ký hiệp định phải dành cho công dân nước khác những ưu đãi chung về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (tương đươnghoặc không kém đãi ngộ theo quy chế ưu đãi chung). Không kể các quy định ngoại lệ trong ba hiệp ước trên và trong “Hiệp ước về quyền sở hữu trí tuệ mạch tổ hợp”.

Mọi ngoại lệ đối với nước được hưởng chế độ ưu đãi chung, gồm cả việc chỉ định điểm dịch vụ và người đại diện tư pháp, không được làm tổn hại tới cạnh tranh thị trường một cách bình thường, công bằng của nước ấy.

Khi quyền sở hữu trí tuệ cần được đăng ký và phê chuẩn để được bảo hộ bản quyền thì các nước phải phê chuẩn và cho đăng ký, không được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào ở góc độ pháp luật hoặc trong thực tế giữa các công dân các nước ký hiệp định này.

c/ Ưu đãi tối huệ quốc

Về mặt bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, những ưu đãi, đặc quyền và miễn giảm của bất kỳ nước nào ký hiệp định này dành cho công dân một nước nào đó sẽ lập tức được áp dụng một cách vô điều kiện đối với công dân các nước khác.

Việc thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không được võ đoán và phân biệt đối xử giữa các công dân các nước, cũng không được biến thành biện pháp hạn chế được ngụy trang để gây tổn hại cho sự cạnh tranh thị trường một cách bình thường, công bằng giữa họ với nhau.

Những quy định dưới dây về ưu đãi, đặc quyền và miễn giảm là ngoại lệ:

+ Những biện pháp cưỡng chế được thực hiện theo hiệp ước về phối hợp tư pháp quốc tế không chỉ để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

+ Những trình tự quy định trong các hiệp ước quốc tế chỉ áp dụng vào việc xin cấp giấy phép và duy trì quyền sở hữu trí tuệ của một số nước, và để ngỏ đối với các nước khác.

+ Những đãi ngộ theo “Công ước Berne” ký năm 1971 và “Hiệp ước Rome” không phải là đãi ngộ theo chế độ ưu đãi chung mà là ưu đãi do một nước khác quy định.

+ Những ưu đãi quy định trong các hiệp ước quốc tế trước đây đã có hiệu lực về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhưng lại không có quy định cấm phân biệt đối xử và võ đoán.

+ Những quy định vượt quá các quy định trong hiệp định này, hoặc những quy định đối với các nước ký hiệp định này khi gia nhập hiệp ước quốc tế khác.

2/ Nguyên tắc cơ bản

a/ Nguyên tắc cân bằng.

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có nghĩa là công nhận cống hiện của người phát minh sáng chế, và cũng giúp vào việc truyền bá tri thức kỹ thuật, truyền bá cho những người được hưởng phúc lợi kinh tế – xã hội. Do vậy, cần tôn trọng sự cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ vốn có trong quyền sở hữu trí tuệ.

b/ Nguyên tắc tự chủ.

Khi soạn định hoặc sửa đổi các đạo luật và quy định về quyền sở hữu trí tuệ, các nước ký hiệp định này có quyền có những quy định thích đáng để bảo vệ phong tục tập quán tốt đẹp, an ninh quốc gia, bảo vệ sức khỏe chung bảo vệ lợi ích chung trong các ngành phát triển kinh tế – kỹ thuật quan trọng.

c/ Nguyên tắc cùng có lợi.

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phải có lợi cho việc thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, có lợi cho việc tăng cường giao lưu kỹ thuật trên thế giới, về người phát minh và người sử dụng phát minh đều có lợi.

d/ Nguyên tắc bảo hộ thích đáng.

Các nước ký hiệp định này phải có những biện pháp thích đáng để ngăn ngừa sự lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ, phải thực thi các biện pháp ngăn chặn những hiện tượng hạn chế thương mại hoặc những ảnh hưởng bất lợi đối với việc chuyển nhượng kỹ thuật trên thế giới. Các nước phải thương lượng và hợp tác với nhau về mặt này.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Dư luận về Nghị định “ngân hàng phải cung cấp thông tin cá nhân cho sở thuế”


Theo đài RFA, nhiều người dân Việt Nam đang lo lắng một nghị định mới cho phép Sở thuế được phép yêu cầu ngân hàng thương mại cung cấp thông tin cá nhân khách hàng. Một số luật sư cho rằng nghị định này trái luật.

Nghị định 126 có quy định gây tranh cãi này sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 5/12/2020.

Điều 30 trong Nghị định này quy định: “Ngân hàng thương mại có trách nhiệm cung cấp thông tin giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản, số liệu giao dịch theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế, để phục vụ cho mục đích thanh tra, kiểm tra xác định nghĩa vụ thuế phải nộp và thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế theo quy định của pháp luật về thuế.

Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm bảo mật thông tin và hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự an toàn thông tin theo quy định của Luật Quản lý thuế và quy định của pháp luật”.

Các ngân hàng sẽ xác định các tài khoản có giao dịch với những nhà cung cấp ở nước ngoài mà chưa đăng ký, nộp thuế ở Việt Nam. Từ đó, ngân hàng sẽ khấu trừ, trích tiền để nộp thay chủ tài khoản.

Thậm chí, Ngân hàng thương mại còn có nghĩa vụ phong tỏa tài khoản của người nộp thuế bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế.

Người dân lo lắng

Nhiều người ở Việt Nam cho biết họ lo ngại về vấn đề bảo mật thông tin cá nhân và số dư tài khoản ngân hàng sẽ bị đánh thuế như thế nào.

Anh S. người dân sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhận định rằng đây là một nghị định bất hợp lý và rất khó áp dụng: “Nghị định 126 không ổn. Việc làm lộ thông tin tài khoản ngân hàng là người dân đã cảm thấy khó chịu rồi. Nếu áp dụng thì làm sao để bảo mật thông tin của khách hàng. Ai biết được quy trình có bị rò rỉ các thông tin tài khoản quan trọng của người dùng hay không. Mặt khác, phải nêu ra rõ ràng các trường hợp để truy thu thuế hợp lý chứ.

Ngoài ra, còn rất nhiều trường hợp khác có thể phát sinh các giao dịch ngân hàng như: Chuyển khoản cho người thân, bạn bè mượn tiền. Vậy người thân, bạn bè cũng phải trả thuế cho trường hợp này à? Hay việc tôi thuê một kế toán làm bán thời gian, hàng tháng tôi chỉ chuyển khoản đến kế toán để kế toán sắp xếp và chuyển khoản lại cho các nhân viên khác. Vậy kế toán phải trả thuế rồi nhân viên cũng trả thuế tiếp, như vậy là phải trả 2 lần thuế?

Tôi chuyển khoản cho người quen để đi mua giúp các thiết bị cần thiết. Vậy số tiền chuyển khoản này cũng phải đóng thuế?

Nói chung, còn rất nhiều trường hợp bất cập khác nữa. Đặc biệt, việc lộ thông tin tài khoản cá nhân khiến người dùng rất khó chịu”.

Ông M. chủ một cơ sở buôn bán ở Hà Nội lo ngại rằng khi áp dụng quy định này, người dân sẽ chuyển sang giao dịch bằng tiền mặt và khi đó sẽ càng khó quản lý hơn: “Tôi thấy nếu thực hiện Nghị định thì người dân và doanh nghiệp sẽ chuyển qua giao dịch tiền mặt. Khi đó khó quản lý hơn và lượng giao dịch tiền mặt sẽ rất khủng, gây hỗn loạn thị trường giao dịch. Ngành ngân hàng cũng không thu được phí.

Vấn đề bảo mật tài khoản cá nhân cũng không được chắc chắn sẽ dẫn đến việc người dân không tin tưởng để tiền trong tài khoản”.

Nghị định trái luật

Luật sư Đặng Đình Mạnh từ Thành phố Hồ Chí Minh nói Nghị định 126 này trái với nguyên tắc tố tụng và nguyên tắc bảo mật thông tin: “Theo nguyên tắc thì ngân hàng phải bảo mật tất cả mọi thông tin của khách hàng. Ngân hàng chỉ có thể tiết lộ các thông tin của khách hàng trong trường hợp điều tra tội phạm. Có nghĩa là chỉ những cơ quan tiến hành tố tụng, ví dụ như công an điều tra hay là viện kiểm sát hoặc là tòa án mới có thể yêu cầu ngân hàng cung cấp những thông tin khách hàng của mình.

Sở thuế không được coi như là một cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, nếu cơ quan thuế yêu cầu như vậy là trái nguyên tắc tố tụng, trái nguyên tắc bảo mật khách hàng của hệ thống ngân hàng”.

Nghị định 117/2018 quy định về việc bảo mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng nêu rõ: Thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải được giữ bí mật, không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng cho tổ chức, các nhân khác. Trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng.

Luật sư Phạm Công Út cho rằng vấn đề nằm ở “cái đuôi”. “Trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” được ghi trong luật này. Bởi vì, quy định này dễ dẫn đến tình trạng lạm quyền của cơ quan thuế: “Ngân hàng phải bảo mật thông tin của khách hàng, nhưng mà nó còn thòng thêm một điều khoản nữa là “trừ trường hợp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì ở Việt Nam có đến hàng trăm loại, song chưa có một danh mục nào nói cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào có quyền yêu cầu phải thực hiện cả.

Đó là luật, nhưng chưa thật chặt chẽ để đưa vào thực tiễn, dễ dẫn đến lạm quyền để phong tỏa tài khoản của một pháp nhân. Điều đó tạo ra “quyền lực” đối với cơ quan thuế. Bình thường có thể truy tố đối với hành vi trốn thuế trên 50 triệu đồng trở lên, chứ phong tỏa tài khoản như thế sẽ không hợp lý”.

Theo ý kiến của các luật sư, khi Nghị định 126 này chính thức được áp dụng, nếu ai bị trừ thuế từ tài khoản ngân hàng có thể khiếu nại. Luật sư Phạm Công Út cho rằng: “Đầu tiên, họ phải khiếu nại ngân hàng để ngân hàng xem xét lại, hoặc có thể khởi kiện phía ngân hàng do bị thiệt hại. Họ có quyền khiếu nại cơ quan thuế vì đã tính thuế sai. Sau đó, có quyền khởi kiện ngân hàng như một vụ án hành chính”.

Giải đáp thắc mắc về chuyện ngân hàng sẽ thu thuế ra sao đối với số dư trong tài khoản cá nhân, đối với những khoản tiền không phải là thu nhập,… luật sư Đặng Đình Mạnh cho biết: “Mình phải đặt ra cả hai phía. Đối với khách hàng, luật thuế thu nhập cá nhân yêu cầu rằng khi mình có phát sinh thu nhập thì mình phải có nghĩa vụ khai báo thuế.

Còn đối với cơ quan thuế, một khi họ phát hiện ra dòng tiền và cho rằng đây là nguồn thu nhập của người dân, cơ quan thuế phải chứng minh được điều đó. Nếu cơ quan thuế không chứng minh được thì đó được coi như là một nguồn tài sản hợp pháp của người dân.Không được tự tiện coi nguồn tiền vào tài khoản đó là thu nhập của người dân”.

Ngày 25/11, ông Đặng Ngọc Minh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế trả lời báo VnExpress khẳng định rằng đối tượng chủ yếu mà ngành thuế hướng tới chính là những người kiếm tiền trực tuyến như bán hàng online hay có nguồn thu nhập từ nước ngoài như sản xuất nội dung trên nền tảng YouTube và Facebook… Nhiều người có nguồn thu nhập lớn trên mạng nhưng vẫn “chây ì” trong việc đóng thuế vì họ cho rằng ngành thuế sẽ không nắm được thu nhập của họ.

Nguồn: TKNB – 27/11/2020.

Bảo hộ hoa trái trí tuệ – Phần I


I/ Bảo hộ quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ

1/ Khái niệm, tính chất của quyền sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là bản quyền mà pháp luật dành cho người phát minh được hưởng thành quả hoạt động trí óc của họ, là bộ phận hữu cơ trong quyền dân sự của thể nhân và pháp nhân. Quyền sở hữu trí tuệ có hai bộ phận là quyền sở hữu công nghiệp và bản quyền xuất bản. Nội dung chủ yếu gồm có: 1) Quyền lợi được hưởng về tác phẩm văn học nghệ thuật và khoa học; 2) Quyền lợi về biểu diễn, ghi âm và phát thanh; 3) Quyền lợi về phát minh; 4) Quyền lợi về thiết kế mỹ thuật; 5) Quyền lợi về nhãn hàng, nhãn hiệu dịch vụ, tên gọi và nhãn hiệu cửa hàng; 6) Quyền ngăn chặn cạnh tranh không thích đáng; 7) Quyền hưởng thành quả sáng tạo của hoạt động trí óc trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn nghệ.

Về mặt tính chất, quyền sở hữu trí tuệ có các đặc trưng: 1) Là sở hữu tài sản vô hình; 2) Có tính chất độc chiếm; 3) Có tính chất khu vực; 4) Có tính chất thời gian; 5) Hưởng theo luật định.

2/ Tổ chức thế giới về quyền sở hữu trí tuệ

Hiện nay, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ quốc tế do Tổ chức thế giới về quyền sở hữu trí tuệ thực hiện. Tổ chức này được thành lập 26/4/1970, từ ngày 17/12/1974 trở thành một tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc, có trụ sở tại Geneva. Các hiệp định quốc tế do tổ chức thế giới về quyền sở hữu trí tuệ quản lý gồm có:

+ Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.

+ Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật.

+ Hiệp định Madrid về đăng ký nhãn hàng quốc tế.

+ Hiệp định Madrid về chế tài các hàng háo có biểu hiện giả dối hoặc lừa gạt.

+ Hiệp định La Haya về đăng ký quốc tế thiết kế mỹ thuật hàng công nghiệp.

+ Hiệp định về phân loại quốc tế các danh mục hàng hóa và dịch vụ để đăng ký nhãn hàng.

+ Hiệp định Lisbon về bảo hộ tên gọi nơi sản xuất và đăng ký quốc tế.

+ Hiệp định quốc tế về phân loại thiết kế mỹ thuật công nghiệp.

+ Hiệp định quốc tế về phân loại bản quyền.

+ Hiệp ước hợp tác bản quyền.

+ Hiệp ước đăng ký nhãn hàng.

+ Hiệp ước Budapest về quốc tế công nhận bản quyền vi sinh vật.

+ Hiệp ước Rome (Công ước quốc tế về người biểu diễn, người làm đĩa hát và tổ chức phát thanh).

+ Công ước quốc tế về bảo hộ người ghi âm.

+ Công ước về vệ tinh.

+ Công ước quốc tế về bảo hộ sản phẩm thực vật mới.

+ Hiệp ước Nairobi về bảo hộ huy chương đại hội Olympic.

+ Hiệp định Vienna về phân loại có tính chất quốc tế đối với hình vẽ nhãn hàng.

+ Hiệp định Vienna về bảo hộ bìa sách và đăng ký quốc tế về bìa sách.

+ Hiệp ước Geneva về đăng ký quốc tế các phát minh khoa học.

+ Công ước Madrid nhiều bên về tránh đánh thuế trùng lặp đối với thu nhập từ bản quyền.

+ Hiệp ước về quyền sở hữu trí tuệ mạch tổ hợp.

Thực tế cho thấy Tổ chức thế giới về quyền sở hữu trí tuệ và các định ước quốc tế mà họ quản lý có vai trò quan trọng đối với việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, do sức ràng buộc pháp lý và sức cưỡng chế trong giải quyết tranh chấp không mạnh, cho nên bị hạn chế rất nhiều. Cộng vào đó là các đạo luật của các nước về quyền sở hữu trí tuệ có sự khác nhau rất lớn, thậm chí nhiều nước đang phát triển chưa có luật về mặt này, do vậy rất bất lợi cho sự bảo hộ quốc tế đối với quyền sở hữu trí tuệ.

3/ Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với thương mại quốc tế

Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật mới đã làm thay đổi kết cấu kinh tế và thương mại quốc tế. Năng lực nghiên cứu phát triển khoa học và tiếp thu, tiêu chuẩn hóa kỹ thuật mới của các nước công nghiệp mới và của một số ít nước đang phát triển không ngừng tăng lên, thực lực khoa học – kỹ thuật của họ cũng tăng lên. Vị trí bá chủ khoa học – kỹ thuật của các nước phát triển đứng trước những thách thức gay gắt. Trong tình hình đó, tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là điều vô cùng cần thiết để nhanh chóng thu hồi các khoản chi phí khổng lồ về nghiên cứu khoa học, độc chiếm và độc quyền thị trường hàng hóa quốc tế, mở rộng thương mại kỹ thuật, thúc đẩy công ty xuyên quốc gia phát triển. Trong những năm 70, thương mại kỹ thuật thế giới chứa đựng quyền sở hữu trí tuệ chỉ đạt khoảng 10 tỷ USD, nhưng trong những năm 90 đã tăng lên tới khoảng 100 tỷ USD. Nếu không bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì không thể có điều kiện và môi trường phát triển ổn định buôn bán giấy phép bản quyền, cho thuê bản quyền, thực hiện các công trình chìa khóa trao tay, chuyên doanh đặc biệt và dịch vụ tư vấn. Hiện nay, các hiện tượng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, như giả mạo, phỏng chế, đánh cắp,… đã trở thành một loại “nghề nghiệp quốc tế”, gây ra tai hại rất lớn. Do vậy, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã trở thành công việc quan trọng có ảnh hưởng tới sự phát triển của thương mại thế giới.

4/ Quan điểm của các nước tại vòng đàm phán Uruguay

a/ Quan điểm của các nước phát triển

Quan điểm thống nhất của các nước phát triển gồm Mỹ, Nhật Bản và EEC cho rằng: quyền sở hữu trí tuệ không được bảo vệ đầy đủ, có khi lại quá phân biệt đối xử gây ảnh hưởng nặng nề tới thương mại quốc tế. Vì thế họ ra sức chủ trương phải đưa ra đề mục bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vào vòng đàm phán Uruguay. Song, trọng điểm mà các nước này nhấn mạnh lại khác nhau. Mỹ và Nhật Bản thì cho rằng tăng thêm phụ lục tiêu chuẩn quốc tế thống nhất về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vào Hiệp định chung, pháp quy và trình tự thực hiện của các nước phải phải phối hợp thống nhất với quy định trong phụ lục ấy. Nhưng EEC lại chủ trương phải định ra một Bộ tiêu chuẩn quốc tế thống nhất về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, các nước phải tôn trọng tiêu chuẩn đó, nhưng không buộc phải có sự phối hợp về luật của các nước với Bộ tiêu chuẩn ấy.

Các nước phát triển đều đưa bản quyền phát minh, bản quyền xuất bản, nhãn hàng, mạch tổ hợp, đĩa mềm, chế phẩm âm thanh, hình ảnh vào phạm vi bảo hộ, nhưng chúng lại khác nhau về thời hạn bảo hộ.

Các nước phát triển xuất phát từ góc độ thương mại để đề cập tới quyền sở hữu trí tuệ, nhấn mạnh một chiều lợi ích của người sở hữu trí tuệ và bảo hộ lợi ích. Họ coi nhẹ tác dụng chủ yếu của quyền sở hữu trí tuệ ở các mặt thúc đẩy tiến bộ khoa học – kỹ thuật, chuyển nhượng kỹ thuật, sử dụng kỹ thuật.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.