Xung quanh việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 123/2013


Việc thông qua khoản 3 Điều 19 (Luật sư tố cáo thân chủ) vẫn đang tạo nên làn sóng tranh cãi lẫn bức xúc trong dư luận, ngày 3/7, một bài viết trên báo Pháp luật, TPHCM với tiêu đề “Luật sư không được nói bậy trên mạng” một lần nữa khiến giới luật sư có ý kiến.

Nội dung chính của bài viết đề cập đến Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 123/2013 của chính phủ. Theo đó, Bộ Tư pháp cho rằng tổ chức và hoạt động của luật sư thời gian qua có vướng mắc, bất cập. Luật Luật sư đã quy định tiêu chuẩn về chuyên môn để trở thành luật sư nhưng chưa quy định cụ thể về các tiêu chuẩn liên quan đến phẩm chất đạo đức, tuân thủ pháp luật để hành nghề luật sư.

Luật sư Nguyễn Văn Hậtu, Phó Chủ tịch Hội Luật gia TPHCM, Chủ tịch Trung tâm Tài chính Thương mại Luật gia Việt Nam, cho rằng cách diễn giải như thế sẽ gây ra những suy nghĩ sai lệch về quy trình đào tạo một luật sư, kể cả phẩm chất của một luật sư. Sự sai lệch đó sẽ được hiểu là từ trước đến nay, các tiêu chuẩn liên quan đến phẩm chất đạo đức, các quy định tuân thủ pháp luật để hành nghề luật sư chưa từng được định chế cụ thể trong các văn bản của pháp luật hoặc Bộ Tư pháp. Cho nên theo ông, cần phải cụ thể hóa những quy định, nguyên tắc đã có sẵn trong Luật Luật sư.

Theo luật sư Nguyễn Văn Hậu, nguyên tắc luật sư hiện nay quy định khá đầy đủ nhưng chưa hết. Theo quan điểm của ông, trong cuộc sống, ranh giới giữa đúng và sai rất mong manh. Chính vì vậy, con người sẽ dễ dàng phạm phải sai lầm, chỉ cần một khoảnh khắc không tự chủ, họ sẽ vi phạm pháp luật. Và đặc biệt, ông nhấn mạnh “khi biết luật, càng dễ phạm luật”. Do đó, theo ông rất cần có những ràng buộc cụ thể để bảo vệ quyền và lợi ích của người dân”. Ông Hậu nói: “Nếu không quy định thì dễ xảy ra một vấn đề rằng họ lợi dụng là họ biết nghề. Trong khi những nguyên tắc hành nghề, luật chỉ nói bao quát, cho nên phải có những hướng dẫn. Tuy nhiên, những hướng dẫn đó không được xâm phạm những nguyên tắc mà luật đã quy định”.

Liên quan đến điều này, dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định 123/2013 nêu quy định chi tiết hóa những trường hợp bị coi là không đáp ứng đủ hiến pháp, pháp luật và tiêu chuẩn có phẩm chất đạo đức tốt.

Một nội dung khác của dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định 123/2013 được nêu ra có vẻ như là cách giải thích chi tiết cho tiêu đề “Luật sư không được nói bậy” đó là “Phải phát ngôn chuẩn mực”. Bài viết ghi rõ: “Luật sư không được ứng xử và phát ngôn trên phương tiện thông tin đại chúng, trang mạng xã hội, với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác gây ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín nghề của luật sư, phương hại đến hoạt động của cơ quan tổ chức khác”.

Luật sư Nguyễn Văn Hậu không đồng tình với cách dẫn giải của bài báo. Ông cho rằng cách nói như thế là không cần thiết vì không được đầy đủ và không đúng. Dựa vào 5 nguyên tắc hành nghề luật sư mà Luật Luật sư đã quy định, luật sư Nguyễn Văn Hậu nói rằn gkhi phát ngôn, luật sư tuyệt đố không được xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, phát biểu những gì mà pháp luật cho phép. Đó là chuẩn mực đã được quy định đối với việc hành nghề luật sư. Ông Hậu nói: “Trước hết, luật sư phải tuân thủ pháp luật. Khi họ phát ngôn, họ phải chịu trách nhiệm về phát ngôn của mình. Khi anh phát ngôn, là luật sư thì phải phát ngôn một cách chính xác. Thứ nhất là đúng luật, thứ hai là phù hợp với đạo đức xã hội, khung cảnh mà anh ta phát biểu”.

Chính vì vậy, những nội dung nêu ra trong dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định 123/2013 và được giới luật sư bày tỏ sự bất bình, họ cho rằng nghị định và thông tư của Bộ Tư pháp phải làm sao phù hợp với hiến pháp và phù hợp với Luật Luật sư.

Thực tế gần đây cho thấy một số số luật sư qua trang cá nhân đưa ra một số thông tin, ý kiến liên quan đến các phiên tòa và qua trang cá nhân của các luật sư đó, công luận có thể biết được nhiều chi tiết hơn nếu đó là phiên tòa chính trị không ai được vào. Ngoài ra, với nhiều diễn biến xảy ra gần đây trong xã hội Việt Nam, quan điểm của giới luật sư cũng được thể hiện rất rõ trên trang cá nhân của họ.

Sau bài báo “Luật sư không được nói bậy trên mạng”, phải chăng đó chính là nguyên nhân mà luật sư Trần Vũ Hải gọi trên trang Facebook của ông là: “Bộ Tư pháp muốn ‘siết’ tư tưởng giới luật sư, sau khi đã đeo vòng kim cô 19.3 (luật sư phải tố thân chủ) cho giới này”.

Nguồn: RFA

TKNB – 06/07/2017

Bí ẩn của thất bại pháp lý – Phần cuối


Chính  những người này là những người mà giới lãnh đạo chính trị phải sắp vào hàng ngũ để tấn công một cách vũ bão vào hiện trạng và để thực hiện chương trình quốc gia không thể tránh khỏi về chính thức hóa quyền sở hữu. Tuy nhiên, một đội quân như vậy không bước lên phía trước một cách tự phát. Mỗi luật sư phải được định vị và tuyển chọn. Cùng nhau, họ sẽ tạo thành đội quân tiên phong, đội có thể chứng minh cải cách là đúng cho các luật sư đồng nghiệp của họ. Chính họ là những người sẽ có khả năng đánh bạo con khủng long và giải thích cho những người trong giới luật gia bằng chính ngôn ngữ của họ rằng, việc tích hợp tất cả các quyền sở hữu vào một hệ thống pháp luật thống nhất mở ra cho tất cả mọi người có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với họ và đối với tương lai của quốc gia. Chỉ riêng họ có thể giải thích cho phần còn lại của giới luật gia rằng, các thủ tục pháp lý hiện hành đã trở nên không chỉ đơn thuần là một mối phiền toái, mà còn chướng ngại vật không thể vượt qua được, cái kìm hãm hầu hết người dân của thế giới khỏi khả năng tạo ra tư bản. Các luật sư cũng là những con người. Một khi họ hiểu rằng hệ thống mà họ bảo vệ là hệ thống lỗi thời một cách vô vọng, hõ sẽ phản ứng một cách tích cực.

Các nhà kỹ trị. Các nước đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây luôn tiêu hàng trăm triệu USD về công nghệ lập bản đồ và hồ sơ tin học hóa để hiện đại hóa các hệ thống quyền sở hữu của họ – và họ vẫn không thể tích hợp các khu vực ngoài pháp luật của họ. Điều này chẳng còn làm ngạc nhiên bất kể ai đã suy ngẫm kỹ càng về các ưu tiên của cải cách quyền sở hữu. Năm 1993, một chuyên gia Ngân hàng Thế giới đã cảnh báo rằng “có xu hướng coi cấp chứng thư quyền sở hữu đất là một vấn đề kỹ thuật. Thường các bản đồ được lập và việc đo đạc được tiến hành, nhưng các chứng thư quyền sở hữu không được làm hoặc được cấp bởi vì có sự tắc nghẽn trong hệ thống hoặc có các vấn đề pháp lý”.

Thậm chí các nhà kỹ thuật lo ngại rằng họ có thể bị quá mê hoặc bởi các công nghệ mới gây kinh ngạc. Một trong những chuyên gia Canada lỗi lạc nhất về đất đai và các hệ thống công nghệ thông tin đã bày tỏ sự lo ngại rằng, một số chính phủ tiếp tục coi việc lập bản đồ là nền tảng của quyền sở hữu:

Chúng ta hiện lâm vào tình trạng nguy hiểm về việc duy trì chuyện hoang đường này bằng cách cố gắng quy việc quản lý tài nguyên về vấn đề hệ thống thông tin bản đồ (GIS). Công nghệ là hấp dẫn, nó tạo ra các kết quả hữu hình. Nhưng đó chỉ là một phần của giải pháp… Các nhà tư vấn và các tổ chức viện trợ thường xuất khẩu các hệ thống mà họ quen thuộc (thường là của chính họ hoặc là các hệ thống mà họ đã từng làm việc) mà không cân nhắc đủ tới những nhu cầu và ràng buộc của nước tiếp nhận… Cần có sự khiêm tốn hơn từ các nhà tư vấn chuyên nghiệp; đôi khi cần thú nhận rằng, họ không phải lúc nào cũng biết câu trả lời hoặc hệ thống của họ có thể không thích hợp.

Các chương trình tạo quyền sở hữu sẽ tiếp tục thất  bại chừng nào chính phủ còn nghĩ rằng việc tạo quyền sở hữu chỉ cần đến việc làm quen với các thứ tự nhiên – rằng một khi họ đã chụp ảnh, kháo sát, đo đạc và tin học hóa các bảng kê các tài sản vật lý của họ, họ đã có mọi thông tin cần thiết để cấp các chứng thư quyền sở hữu. Họ không có. Các bức ảnh và các bảng kê chỉ thông báo cho các nhà chức trách về trạng thái vật chất của các tài sản; chúng chẳng nói được điều gì về các quyền, những cái chi phối chúng. Tất cả các bức ảnh và các bảng kiểm kê trên máy tính trên thế giới không thể nói cho bất kể ai về quy tắc địa phương nào thực thi các quyền này hoặc mạng lưới các mối quan hệ nào duy trì chúng. Dẫu quan trọng, các bản đồ và các bảng kiểm kê là để đo và định vị các tài sản vật chất mà quyền sở hữu được neo vào, chúng không nói cho các chính phủ biết phải xây dựng khế ước xã hội quốc gia ra sao để cho phép họ tạo ra quyền sở hữu rộng rãi.

Xu hướng một số nước cố ép vấn đề liên quan đến quyền sở hữu vào các cục bản đồ và công nghệ thông tin đã làm lu mờ bản chất thực của quyền sở hữu. Quyền sở hữu không phải là một phần thực của thế giới vật chất: môi trường sống tự nhiên của nó là pháp lý và kinh tế. Quyền sở hữu là các thứ vô hình, trong khi các bản đồ tương tự như các thứ vật chất trên thực tế. Các bản đồ thể hiện thông tin vật chất của các tài sản nhưng không thấy bức tranh lớn. Không có thông tin thể chế và kinh tế thích đáng về những thỏa thuận ngoài pháp luật, thì chúng không thể lột tả thực tế ở ngoài lồng kính. Như thế, chúng không có khả năng thực hiện công việc thật của chúng, công việc giúp néo chặt các khía cạnh quyền sở hữu trong thực tại vật chất sao cho có thể duy trì thế giới ảo và thế giới thực đồng bộ với nhau.

Cho đến khi các trở ngại cho sử dụng các hệ thống quyền sở hữu chính thức được loại bỏ những thỏa thuận ngàoi pháp luật đã được thay thế bằng luật, người dân ít có động lực cung cấp thông tin cần thiết để giữ cho các bản đồ và các cơ sở dữ liệu được cập nhật và tin cậy. Người dân không muốn đi vào trong hệ thống quyền sở hữu chính thức chỉ vì họ hăm hở để được vẽ bản đồ, được lập hồ sơ, hoặc bị đánh thuế; họ sẽ gia nhập hệ thống khi những lợi ích kinh tế của nó là hiển nhiên đối với họ và khi họ chắc chắn rằng các quyền của họ sẽ tiếp tục được bảo vệ.

Chừng nào các quyền này được bảo vệ bởi khế ước xã hội ngoài pháp luật, người dân sẽ chẳng có lý do gì để thông báo cho các nhà chức trách bất kể thay đổi nào trong việc chuyển nhượng tài sản của họ. Chỉ khi luật chính thức thay thế những thỏa thuận ngoài pháp luật như nguồn bảo vệ cho quyền sở hữu, thì người dân sẽ chấp nhận tính hợp pháp của nó và quan tâm đến việc cung cấp cho các nhà chức trách những thông tin cần thiết để giữ cho các bản đồ và các hồ sơ của họ được cập nhật. Địa điểm, nơi mà khế ước xã hội định vị, quyết định nơi các hồ sơ và bản đồ có thể được giữ để cập nhật.

Đây không phải là điểm tầm thường. Các đề án cấp chứng thư quyền sở hữu thiên về (bị dẫn dắt bởi) kỹ thuật thường có xu hướng thoái hóa thành các hệ thống chứng minh cho kho vật chất, các Sổ điền thổ lỗi thời, hoặc các di tích lịch sử. Công nghiệp bản đồ và máy tính chịu tổn thất như một hệ quả. Ngân sách cho đề án của họ được phê duyệt bởi các nhà chính trị, những người mong đợi rằng các phương pháp mới này sẽ kết nạp những người nghèo vào. Một khi họ nhận ra rằng chúng không làm được vậy, các đề án lập bản đồ và tin học hóa sẽ cắt giảm hoặc chấm dứt. Nhóm của tôi và tôi đã thấy điều này diễn ra lặp đi lặp lại.

Lý do các công nghệ này hoạt động tốt đến như vậy ở các quốc gia tiên tiến, mà không cần nhiều đến sự vá ví pháp lý và chính trị, là sự chắp vá đó đã được tiến hành hơn một trăm năm trước rồi. Khế ước xã hội về quyền sở hữu bao trùm toàn bộ đã có chỗ đứng vững chãi. Khi các hệ thống cơ sở dữ liệu, các hệ thống thông tin bản đồ GIS, đo đạc từ xa, các hệ thống định vị toàn cầu GPS, và tất cả các công cụ công nghệ thông tin tuyệt vời trở nên sẵn có trong 30 năm qua, chúng thật ăn khớp với một hạ tầng thông tin và pháp lý đã được tích hợp tốt. Như vậy các công cụ và phương tiện biểu diễn bằng văn bản và đồ họa cho lưu trữ, truy tìm, phục ồi và xử lý thông tin có thể được đưa vào sử dụng tốt.

Tôi không nói rằng kỹ thuật ứng dụng, tích hợp hệ thống, các công ty công nghệ thông tin, các hãng bán thiết bị, các cố vấn đăng ký, và tất cả những người khác, những người cung cấp các dịch vụ quyền sở hữu được cuyên môn hóa về đo đạc, vẽ bản đồ, và hiện đại hóa đăng ký, là không quan trọng đối với việc tạo ra quyền sở hữu – mà hoàn toàn ngược lại. Nếu được làm cho thích ứng một cách hợp lý với đăng ký hàng loạt và với hoạt động trong môi trường pháp luật, không thể thiếu chúng trong việc xác định các vị trí vật lý cũng như xử lý và tích hợp thông tin. Chúng sẽ ngốn phần lớn tiền chi cho cải cách quyền sở hữu, nhưng chỉ sau khi vấn đề lôi kéo về mặt pháp lý và chính trị đối với khu vực ngoài pháp luật đã được giải quyết.

* * *

Chỉ có người lãnh đạo chính trị thật sự mới có thể dỗ dành luật quyền sở hữu ra khỏi sự bận tâm với quá khứ và chuyển sang một nhận thức sâu sắc về hiện tại, từ quả thần phục công nghệ sang quan tâm đến lợi ích của xã hội. Cần đến các nhà chính trị bởi vì các định chế hiện hành có xu hướng ưu ái và bảo vệ hiện trạng. Đây là một nhiệm vụ chính trị để thuyết phục chế độ kỹ trị tự thay đổi mình và ủng hộ sự thay đổi.

Sự can thiệp chính trị là cần thiết, bởi vì các tổ chức chính phủ, ở trong phạm vi của lồng kính, thường không được thiết kế để đảm đương các chương trình cải cách rộng lớn, mau lẹ. Chúng thường được tổ chức thành các bộ phận chuyên môn hóa, một cơ cấu có nhiều ý nghĩa hơn ở các quốc gia phát triển, nơi chỉ cần sự thay đổi từ từ bởi luật và quyền sở hữu chính thức đã hoạt động cho mọi người. Quá trình tạo quyền sở hữu hoàn toàn khôn giống một chương trình tư nhân hóa, cái liên quan đến bán vài chục hoặc một số gói tài sản mỗi năm. Mục đích của cải cách quyền sở hữu là trao quyền sở hữu hàng triệu tài sản cho hàng triệu người trong một thời gian ngắn. Điều này có nghĩa rằng, ít nhất một nửa công việc là về truyền thông. Các nhà lãnh đạo cải cách cần phải mô tả chủ nghĩa tư bản sẽ ảnh hưởng ra sao đối với nhiều nhóm lợi ích khác nhau, chỉ cho họ những lợi ích mà họ sẽ thu được từ nó, và thuyết phục họ rằng nó là một cuộc chơi mà các bên đều thắng, cho mọi mảng của xã hội. Đối với khu vực ngoài pháp luật, các nhà lãnh đạo phải đề cập đến năng lực kinh doanh bị dồn nén của họ và giải thích rõ những ưu điểm của việc tích hợp một luật chính thức. Đối với khu vực hợp pháp, họ phải giải thích rằng những cải cách được kiến nghị sẽ không làm tổn hại đến các quyền hợp pháp và có thể thực thi, và sẽ có những khoản lợi tổng hợp cho tất cả các nhóm được hưởng lợi.

Việc tạo ra một hệ thống quyền sở hữu, hệ thống có thể tiếp cận được cho tất cả mọi người, trước hết là một công việc chính trị bởi vì nó phải được theo dõi bởi những người hiểu rằng, mục đích cuối cùng của một hệ thống quyền sở hữu không phải là thảo ra các quy chế tinh vi, kết nối các máy tính bóng loáng, hoặc in ra các bản đồ nhiều màu sặc sỡ. Mục đích của quyền sở hữu chính thức là đưa vốn vào tay cả dân tộc.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Bí ẩn của thất bại pháp lý – Phần XI


Đối xử với những người canh giữ lồng kính

Khi các nhà cải cách đã có những người nghèo và ít nhất một số người tinh hoa đứng về phía mình, thì đó là lúc đề cập tới bộ máy hành chính công và tư, những người cai quản và duy trì hiện trạng – chủ yếu là, các luật sư và các nhà kỹ trị.

Các luật sư. Về lý thuyết, cộng đồng pháp lý phải có thiện ý với cải cách bởi vì nó sẽ mở rộng quy tắc của luật. Nhưng, thực tế, hầu hết các luật sư ở các nước đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây đã được đào tạo không phải để mở rộng quy tắc của luật mà để bảo vệ nó như họ thấy nó. Các luật sư là các nhà chuyên môn liên quan nhiều nhất đến công việc hàng ngày về quyền sở hữu. Họ ngồi ở các văn phòng chủ chốt của chính phủ, nơi mà họ có thể chặn các quyết định chính lại. Không có nhóm nào – trừ những kẻ khủng bố – lại ở vị thế tốt hơn [các luật sư] để phá hoại sự mở rộng tư bản chủ nghĩa. Và không giống với những kẻ khủng bố, các luật sư biết làm việc ấy thế nào cho hợp pháp.

Mặc dù các nghiệp chủ và dân thường là các nhà tạo dựng tư bản và chủ nghĩa tư bản, nhưng chính các luật sư là những người cố định các quan niệm quyền sở hữu vào hình dạng biểu thị hữu hình có thể sờ mó được và định nghĩa các khái niệm ấy trong các quy chế. Sự an toàn của quyền sở hữu, tính có trách nhiệm giải trình của các chủ sở hữu, và tính có thể thực thi của các giao dịch, cuối cùng phải được cụ thể hóa trong các thủ tục và quy tắc được các luật sư thảo ra. Thực tế, chính giới luật sư là giới hoàn thiện tất cả các đồ tạo tác của quyền sở hữu hình thức: các chứng thư, các hồ sơ, thương hiệu, quyền tác giả, lệnh phiếu, hối phiếu, bằng sáng chế, cổ phiếu của chứng khoán công ty. Bất luận bạn thích các luật sư hay không, không một sự thay đổi thật sự nào trong chế độ quyền sở hữu và quá trình tạo vốn xảy ra mà lại không có sự hợp tá của ít nhất một số trong số họ.

Cái khó là ít luật sư hiểu được những hệ quả kinh tế của công việc của họ, và phản xạ vô điều kiện [phản xạ đầu gối khi gõ vào xương bánh chè] của họ đối với ứng xử ngoài pháp luật và sự thay đổi quy mô lớn thường là thù địch. Tất cả các nhà cải cách mà tôi đã gặp, trong các hoạt động giúp những người nghèo có thể tiếp cận nhiều hơn đến quyền sở hữu, đều làm việc với thành kiến rằng, giới luật gia là kẻ thù tự nhiên của họ. Các nhà kinh tế liên quan đến cải cách trở nên thất vọng với chủ nghĩa bảo thủ pháp lý đến mức họ đã đầu tư thời gian và tiền bạc để làm mất uy tín của nghề luật. Sử dụng số liệu kinh tế của 52 nước từ năm 1960 đến năm 1980, Samar K. Datta và Jefferey B. Nugent đã chỉ ra rằng, với mỗi điểm phần trăm tăng lên của số luật sư trong lực lượng lao động (thí dụ, từ 0,5 lên 1,5%), tăng trưởng kinh tế giảm từ 4,76 xuống 3,68% – như vậy tăng trưởng kinh tế tỷ lệ nghịch với sự thận trọng của các luật sư.

Điều đặc biệt chọc tức nhiều nhà cải cách là cách thức mà các luật sư đổ lỗi của các hệ thống quyền sở hữu tồi sang cho người khác. Tôi thường nghe các luật sư tán dương luật quyền sở hữu hiện hành, trong khi ngay lập tức thừa nhận rằng các chứng thư sở hữu được cấp một cách hợp pháp là rất khó hoặc không thể sử dụng được. Điều này tất nhiên là không thể chấp nhận được. Một luật sư không thể thiết kế luật và các thủ tục hành chính để thi hành nó và sau đó lại đổ lỗi thất bại của nó cho sự yếu kém của các nhà kỹ trị cấp thấp hơn, những người thi hành luật, hoặc cho trình độ giáo dục thấp của những người dùng nó. Thảo ra các luật tinh vi là không đủ. Chúng cũng phải hoạt động trong thực tế hành chính và xã hội mà chúng phục vụ.

Thật khá lý thú, sự chỉ trích mạnh nhất đối với các nỗ lực của các luật sư nhằm trì hoãn cải cách quyền sở hữu thường là từ chính các luật sư đồng nghiệp. Đây là cách mà S. Rowton Simpson, một luật sư và tác giả lừng danh nhất thế giới về đề tài đăng ký đất, viết về các đồng nghiệp của mình:

Các luật sư, trên khắp thế giới, khét tiếng về sự miễn cưỡng của họ để chấp nhận ngay những sự thay đổi dù nhỏ nhất trong các thủ tục truyền thống của họ… Torrens [người Australia sáng chế ra một trong những hệ thống lập hồ sơ an toàn nhất của thế giới], người đã bị giới luật gia phản đối kiên quyết và bền bỉ, đã đánh bại sự chống đối của các luật sư ở miền Nam Australia; nhưng câu chuyện của ông ta là ngoại lệ hiếm hoi. Cần dùng kim cương để cắt kim cương, và trong hầu hết các nước, việc đăng ký quyền sở hữu, như một quy tắc, được áp dụng nhờ nỗ lực của một luật sư, người có thể bị tàn phế bởi sự chống đối mạnh mẽ của các thành viên hành nghề trong giới của anh ta; và phe chống đối thụ động có thể thậm chí còn tồi hơn phe chống đối tích cực, phe ít nhất hoặc là thắng hoặc là thu. Chống đối thụ động xảo quyệt hơn; nó có thể làm cho sự tiến bộ mất tác dụng. Chẳng ít đạo luật đã héo tàn sau khi nhận được sự hoan nghênh của những người hành nghề, mà hóa ra chỉ là ủng hộ suông hoặc thậm chí là “nụ hôn của thần chết”, là đòn chí tử; các đạo luật khác đã gắn vào chúng một thủ tục dài hạn đến mức làm cho sự tiến triển hầu như không thể cảm nhận được; những đạo luật như vậy chắc chắn không hề gây nguy hiểm cho tập quán đã được thiết lập, và như vậy có chiều hướng được giới luật gia chấp nhận, nhưng chúng không thật sự đạt mục đích; chúng đơn thuần chỉ làm tăng danh mục, nếu không phải các thất bại, thì ít nhất là của những trường hợp “không thành công”.

Mặc dù các luật sư thường thừa nhận các ngành khác phải năng động, nhưng họ lập luận rằng luật phải ổn định. Sự sùng kính như vậy với quy tắc luật, bất kể các hệ quả, có thể đạt tới mức mà các luật sư ủng hộ cải cách có thể bị rủi ro bị tẩy chay bởi các đồng nghiệp. Ở các nước nói tiếng Đức trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, sự thù ghét của giới luật gia đối với cải cách quyền sở hữu đã lên cao đến mức bất kể luật sư cải cách nào đều bị họ gọi là Mestbeschmutzer – con thú làm ô uế ổ của chính mình.

Tin vui cho các nhà cải cách là, các luật sư tài ba nhất (nhưng không nhất thiết thành công nhất) tin rằng luật được làm ra để phục vụ cuộc sống chứ không phải ngược lại. Các luật gia có tầm nhìn xa cuối cùng đã thắng xu hướng phản động của giới của họ ở phương Tây, thậm chí trong bối cảnh cảu luật La Mã. Phải công nhận rằng, cuộc chiến liên tục khó khăn, chủ yếu bởi vì, như Peter Stein đã nhận xét, “sự đóng góp [của các luật sư] cho sự hiểu biết đúng về các định chế pháp lý đã bị làm cho khó hiểu bởi sự nhấn mạnh của họ đến tính không hợp thời và sự chấp thuận của họ đối với luật La Mã như một sản phẩm hoàn tất. Tuy nhiên, với thời gian, các luật gia châu Âu vĩ đại đã khắc phục được sự cứng nhắc quá đáng như Stein chỉ ra, họ “đã làm cho giới của họ trở nên tinh thông về những phức tạp của luật La Mã, và đảm bảo rằng nó chuyển động với thời gian”. Chống lại sự lãnh đạm tràn lan của các đồng nghiệp ở mọi nước châu Âu, một toán các luật sư ưu tú đã nổi lên để giúp nhấc lồng kính đi.

Vì thế, bất cứ chính phủ nào thiết tha theo đuổi một hệ thống quyền sở hữu được tích hợp cũng phải đưa ra một chiến lược kỹ lưỡng đối xử với giới luật gia. Điểm cốt lõi là chọn đúng các luật sư. Cần có một nhà lãnh đạo chính trị sáng suốt và lanh lợi để tránh các luật sư thành thạo dùng các mưu mẹo tinh vi làm hoảng sợ các nhà chính trị, dẫn họ đến trạng thái bất động, mà thay vào đó phải tìm ra những người sẽ đem hình thức pháp luật vào các chương trình nghị sự cho biến đổi, ngay cả khi nó có nghĩa là chống lại hệ thống. Trừ phi nhà chính trị có đầu óc cải cách lựa chọn thật kỹ càng các luật sư của mình, ông ta sẽ bị phó mặc cho các nhà kỹ trị pháp lý cai trị, những người sẽ ủng hộ suông cải cách trong khi ngấm ngầm phá hoại nó trong bóng tối.

Các luật sư dũng cảm, có đầu óc cải cách tồn tại ở mọi quốc gia, và một khi các tiêu chuẩn tuyển chọn đối với các phẩm chất như vậy là rõ ràng, thì có thể nhận ra đúng họ. Nhiều người hiểu rằng các yếu tố căn bản quyết định thay đổi nằm ở ngoài luật. Ở mọi nước mà tôi đã viếng thăm, tôi đều thấy các nhóm luật sư của chính phủ rất thân thiết với khu vực ngàoi pháp luật, phấn đấu hàng ngày để tìm sự hài hòa giữa hệ thống chính thức và những thỏa thuận ngoài pháp luật hoạt động đồng thời. Nhưng công trình của họ có xu hướng không được để ý tới ở tầm cao của chính phủ, và như thế, cả họ nữa, cũng vẫn là vô hình. Thực vậy, gần như có một quy tắc rằng, những luật sư rành rõi về sự tồn tại của hai trật tự và có thiện cảm với cải cách lại bị đẩy ra bên lề của quá trình ra quyết định chính trị.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Bí ẩn của thất bại pháp lý – Phần X


Thâu nạp giới tinh hoa

Một khi tiềm năng kinh tế của những người nghèo – số cử tri lớn nhất trong quốc gia – đã được phát hiện và thể hiện sự ủng hộ của họ đối với cải cách, các nhà cải cách sẽ phải chú ý đến tầng lớp ưu tú. Đây là thời điểm để phá vỡ ảo giác của họ rằng, việc nhấc lồng kính đi chỉ làm lợi cho những người nghèo. Khắc phục khoảng cách giữa các giai cấp không chỉ có lợi ích xã hội chung. Sự tích hợp pháp luật kiểu này có thể giúp hầu hết mọi nhóm lợi ích trong quốc gia. Hệt như khi các nhà cải cách thu thập những sự thực và các số liệu để giành được sự ủng hộ của những người nghèo, họ phải dùng những sự thật và số liệu khác để lôi kéo những giới có thế lực. Các giới ưu tú phải ủng hộ cải cách không phải từ chủ nghĩa yêu nước hoặc chủ nghĩa vị tha, mà bởi vì nó cũng sẽ làm cho túi tiền của họ lớn lên.

Thí dụ, đưa khu vực ngoài pháp luật vào trong luật sẽ mở ra cơ hội cho các chương trình to lớn về xây dựng nhà ở rẻ tiền, những chương trình sẽ cung cấp cho những người nghèo nhà ở không chỉ được xây tốt hơn mà còn rẻ hơn nhiều so với việc họ phải tự xây dựng trong khu vực ngoài pháp luật. Làm một cái nhà trong thế giới hỗn loạn của khu vực ngoài pháp luật tương đương với việc mặc quần áo bằng cách đi giày trước rồi sau đó mới đi tất. Hãy xem một người nhập cư mới từ vùng nông thôn phải làm gì để tạo ra một chỗ ở cho gia đình mình trong một khu phố ổ chuột ở ngoại ô của một thành phố lớn. Đầu tiên, anh ta không chỉ phải tìm một nơi cho chỗ ở của anh ta, mà anh ta còn phải đích thân chiếm miếng đất ấy cùng với gia đình mình. Bước tiếp theo là dựng lên một cái lều bạt hoặc một cái chòi làm bằng, tùy thuộc vào mỗi nước, chiếu cói, vách đất, giấy bồi, gỗ dán, tôn múi, hoặc thùng sắt tây – và như thế khoanh chiếm đất về mặt vật lý (bởi vì không có cách chiếm hợp pháp). Người nhập cư và gia đình anh ta sau đó sẽ dần dần đưa đồ gỗ và các đồ gia dụng vào. Hiển nhiên, họ cần dinh thự tốt hơn và bền chắc hơn. Nhưng làm sao để xây nó nếu không khả năng tiếp cận tín dụng? Họ làm như bất kể ai khác làm – tích trữ các vật xây dựng rắn và bắt đầu xây một căn nhà khá hơn, từng giai đoạn một, phù hợp với loại vật liệu xây dựng nào họ có thể tích tụ được.

Một khi dân cư của một trong những vùng mới này được tổ chức khá tốt để bảo vệ gia sản của họ hoặc các nhà chức trách địa phương cảm thấy thương hại sự túng thiếu của họ, họ có thể làm vỉa hè, chỗ đổ rác, đưa điện và nước vào – đặc biệt, cái giá phải trả là một phần nhà của họ để nối vào các tiện ích công. Chỉ sau nhiều năm xây đi xây lại, và tiết kiệm vật liệu xây dựng, cuối cùng các chủ nhà mới có khả năng sống thoải mái.

Ở phương Tây, việc tạo ra một chỗ ở tương đương với việc đi tất trước khi đi giày và như thế ít nguy hiểm, ít tốn kếm và ít xuống cấp hơn. Một người phát triển nhà ở thường có chứng thư quyền sở hữu đối với đất, cái mà cho anh ta sự an toàn để phát triển hạ tầng (lát đường, các tiện ích công như điện, nước, viễn thông…). Sau đó anh ta bán nhà, cái mà anh ta sẽ xây theo sở thích của người mua. Các chủ mới, những người có lẽ vay phần lớn tiền mua nhà từ một ngân hàng, sau đó sẽ đưa đồ gỗ của họ vào và cuối cùng, đưa lũ trẻ và chó, mèo đến.

Ngay khi những người nghèo trở nên có trách nhiệm giải trình dưới luật chính thức, họ sẽ có đủ khả năng mua nhà giá rẻ và như thế thoát khỏi thế giới hỗn độn của khu vực ngoài pháp luật. Giới ưu tú sau đó cũng sẽ bắt đầu được thưởng: các nhà xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng sẽ thấy thị trường của họ mở rộng, các ngân hàng, các công ty thế chấp, các cơ quan về quyền sở hữu và các hãng bảo hiểm cũng vậy. Chính thức hóa cũng sẽ giúp các nhà cung cấp các tiện ích công cộng biến các địa chỉ nhà ở thành các địa điểm tiếp nhận đáng tin cậy. Nó sẽ cung cấp cho các chính phủ và các doanh nghiệp thông tin và địa chỉ phục vụ cho việc buôn bán, bảo đảm lợi ích, và thu nợ, phí và thuế. Ngoài ra, một hệ thống quyền sở hữu chính thức sẽ cung cấp một cơ sở dữ liệu cho các quyết định đầu tư về y tế, giáo dục, đánh giá thuế và lên kế hoạch bảo vệ môi trường.

Quyền sở hữu hợp pháp phổ biến thậm chí sẽ giúp giải quyết những phàn nàn, kêu ca ầm ĩ nhất và dai dẳng nhất của họ về sự phình lên ngày càng nhiều người nghèo đô thị – sự cần thiết phải có nhiều “luật và trật tự” hơn. Xã hội dân sự trong các nền kinh tế thị trường không phải đơn thuần tạo ra do sự phồn vinh hơn. Quyền đối với quyền sở hữu cũng sinh ra sự tôn trọng pháp luật. Như nhà sử học kiệt xuất Richard Pipes đã chỉ ra trong cuốn sách của ông về Cách mạng Nga:

Quyền sở hữu tư nhân có thể được cho là định chế quan trọng duy nhất của sự hội nhập xã hội và chính trị. Quyền sở hữu tài sản tạo ra một cam kết đối với trật tự chính trị và pháp lý, bởi vì cam kết đói với trật tự chính trị và pháp lý bảo đảm các quyền sở hữu: nó biến người công dân thành một người đồng tự chủ, như nó vốn có. Như thế, quyền sở hữu là phương tiện chính để khắc sâu vào tâm trí quần chúng nhân dân sự tôn trọng pháp luật và mối quan tâm bảo tồn hiện trạng. Bằng chứng lịch sử chỉ ra rằng, các xã hội với sự phân phối quyền sở hữu rộng rãi, cụ thể là về đất và nhà ở, có tính bảo thủ hơn và ổn định hơn, và vì lý do đó nó có khả năng chống đỡ và phục hồi hơn đối với các loại biến động. Theo cách đó, nông dân Pháp, những người ở thế kỷ XVIII là một nguồn gây bất ổn định, thì ở đầu thế kỷ XIX, do kết quả của Cách mạng Pháp, đã trở thành cột trụ của chủ nghĩa bảo thủ.

Khi những người nghèo có lòng tin rằng, đất đai và các doanh nghiệp của họ là của họ một cách hợp pháp, thì sự tôn trọng của họ với quyền sở hữu của những người khác tăng lên.

Các hồ sơ quyền sở hữu chính thức, được cập nhật, cũng sẽ cung cấp cho cảnh sát thông tin cần thiết để giữ gìn văn minh. Trong các quốc gia đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây, một trong những đặc điểm chính của những người sống ngoài vòng pháp luật là không có một địa chỉ hợp pháp. Khi có tội phạm, cảnh sát không có hồ sơ, manh mối, hoặc những thông tin cần thiết khác trên cơ sở quyền sở hữu để “lần theo dấu vết” những kẻ bị tình nghi hàng đầu. Đó là lý do vì sao các nhà chức trách thực thi pháp luật không thể có khả năng chọn lựa như các đồng nghiệp phương Tây khi vây bắt các nghi can và như vậy dễ có nguy cơ vi phạm các quyền dân sự của những người dân vô tội.

Quyền sở hữu chính thức cũng có xu hướng ngăn bớt những ứng xử ngỗ ngược. Khi người dân buộc phải chia tài sản đất đai của mình thành những mảnh nhỏ và nhỏ hơn, những người thừa kế của những người thừa kế, bị chen lấn bật ra khỏi đất của gia đình, có nhiều khả năng sẽ đi chiếm đất ở nơi khác. Cũng vậy, khi một cá nhân không thể chứng minh được anh ta sở hữu bất kể thứ gì, nhiều khả năng là anh ta sẽ phải hối lộ bộ máy quan liêu, hoặc với sự giúp đỡ của hàng xóm của mình, nắm lấy luật vào tay của chính anh ta. Còn tồi hơn, không có luật tốt để thực thi các nghĩa vụ, xã hội sẽ mời gọi bọn gangster và bọn khủng bố đến làm việc. Các đồng của tôi và tôi đã tiến hành các chiến dịch cấp chứng thư quyền sở hữu chính thức, những chiến dịch đã loại bỏ bọn khủng bố bằng cách thâu nạp chúng với vai trò là lực lượng an ninh của khu vực, chống lại sự đe dọa thực sự hoặc tưởng tượng về tướt đoạt đất.

Quyền sở hữu cũng cung cấp một giải pháp khả dĩ hợp pháp cho buôn bán ma túy. Chừng nào mà những người nông dân còn là những người chủ đất bất hợp pháp, thì các cây trồng ngắn ngày đem lại tiền, như coca và thuốc phiện, vẫn là sự lựa chọn khả dĩ duy nhất của họ. Đối với những người nông dân nhỏ ở một số vùng của thế giới đang phát triển, tiền ứng trước của những kẻ buôn bán ma túy trên thực tế là khoản tín dụng duy nhất sẵn có, và bởi vì những thỏa thuận quyền sở hữu của họ không xuất hiện trong hệ thống chính thống, các cơ quan thực thi pháp luật thậm chí chẳng thể tìm nổi họ, đứng nói đến tiến hành một thỏa thuận thay thế cây trồng có thể thực thi được. Thiếu sự bảo vệ pháp lý cũng có nghĩa là những người trồng cây ma túy phải tụ họp lại thành đoàn để bảo vệ tài sản của họ hoặc mời bọn buôn bán ma túy đến bảo vệ. Không có một hệ thống quyền sở hữu chính thức, hệ thống bao gồm cả những người chủ đất như vậy, thì việc kiểm soát trồng cây may túy, săn đuổi những kẻ buôn bán ma túy, và xác định những người gây ô nhiễm môi trường, trở nên không thể thực hiện được. Chẳng có cách nào để các nhà chức trách thâm nhập vào những thỏa thuận quyền sở hữu ngoài pháp luật chặt chẽ mà người dân tạo ra để bảo vệ quyền lợi của họ.

Hợp pháp hóa quyền sở hữu không phải là việc cứu tế đối với những người nghèo. Tạo ra một thị trường có trật tự, cái làm cho các chủ sở hữu có trách nhiệm giải trình và cấp cho họ các chứng thư sở hữu nhà có giá để tài trợ, sẽ tạo ra một thị trường mở rộng, cổ vũ luật và trật tự, và đặt tiền bạc vào túi giới tinh hoa.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Bí ẩn của thất bại pháp lý – Phần IX


Phần II: Thách thức chính trị

Đã chẳng có ai lên kế hoạch cho sự tiến hóa từ các hệ thống phong kiến và tôn giáo sang các hệ thống quyền sở hữu hiện đại, những hệ thống đang tồn tại ở phương Tây ngày nay. Tuy vậy, trên con đường tiến hóa lâu dài đến hiện đại, trong những khoảng thời gian dài liên tục của cuộc hành trình, khi các nhà cải cách bắt tay vào các chương trình có tính toán để làm cho quyền sở hữu có thể được tiếp cận nhiều hơn đối với một diện rộng các công dân, các chương trình thành công bởi vì chúng được trụ đỡ bởi các chiến lược chính trị được ái mộ. Đó là điều mà Thomas Jefferson đã làm ở Virginia cuối thế kỷ XVIII, khi ông là tăng tính có thể chuyển đổi của quyền sở hữu bằng cách bãi bỏ, cùng nhiều thứ khác, tập quán kế thừa theo thứ tự (không có khả năng chuyển nhượng tài sản ra ngoài gia đình). Khi Stein và Hardenberg làm cho các quyền sở hữu phổ quát thành hiện thực ở Đức vào đầu thế kỷ XIX, và khi Eugen Huber, ở Thụy Sĩ vào đầu thế kỷ XX, bắt đầu tích hợp tất cả các hệ thống quyền sở hữu rải rác khắp đất nước ông, họ cũng vậy, đã sử dụng các chiến lược được lên kế hoạch một cách chu đáo để tấn công sấm sét vào các chướng ngại vật của hiện trạng. Họ bảo đảm chắc chắn rằng, họ được trang bị bằng pháp chế nhắm đích một cách tinh ranh, nó đã cho phép chính phủ tạo ra những cuộc cách mạng không đổ máu, được nhân dân ủng hộ, không thể dừng lại được.

Vì sao ngày nay cần đến một chiến lược chính trị? Ai có thể chống đối việc xóa bỏ nạn phân biệt pháp luật, điều bất công một cách hiển nhiên đến như vậy? Thực ra, một số ít sẽ tranh luận về sự cần thiết của cải cách. Nhưng một nhúm thiểu số đầy quyền uy sẽ cảm thấy rằng, cải cách nhất thiết làm xáo trộn địa vị đặc quyền của họ, và họ sẽ chống lại một cách âm thầm và xảo quyệt. Cũng có một vấn đề liên quan: nhiều quy chế, những cái ngăn cản đại đa số nhân dân khỏi tư bản, cũng có thể chứa các điều khoản bảo vệ các lợi ích sống còn của các nhóm có quyền lực. Mở cửa chủ nghĩa tư bản cho những người nghèo sẽ không đơn giản như lái một chiếc xe ủi qua đống rác. Nó giống việc sắp xếp lại hàng ngàn cành và nhánh của một caái tổ đại bàng khổng lồ hơn – mà không chọc tức con đại bàng. Mặc dù việc sắp xếp lại này chỉ gây ra một ít bất tiện cho nhúm người thiểu số này, khi so sánh với những lợi ích toàn quốc gia của việc đưa vốn đến cho những người nghèo, những người bị ảnh hưởng sẽ không thấy điều này trừ khi cải cách được tiến hành bởi một sáng kiến chính trị mạnh mẽ với thông điệp và các con số hỗ trợ nó.

Rõ ràng, đây là một công việc cho những người hoạt động chính trị có kinh nghiệm với sự tinh tế để sắp đặt lại tổ chim đại bàng mà không để bị vồ. Họ là những người duy nhất có thể đồng bộ hóa sự thay đổi cho đại đa số và sự ổn định cho những thiểu số đầy cảnh giác. Một chiến lược vốn hóa cho những người nghèo phải tích hợp hai hệ thống quyền sở hữu, rõ ràng là mâu thuẫn nhau, vào một bộ luật. Nếu muốn thành công, thì một tổng thống hay một thủ tướng, người có vai trò nhiều hơn một nhà kỹ trị, phải chịu trách nhiệm và tiến hành chính thức hóa một cột trụ của chính sách chính phủ. Chỉ ở cấp chính trị cao nhất thì cải cách mới có thể có sự ủng hộ áp đảo và quét sạch quán tính ương ngạnh của hiện trạng. Chỉ có cấp cao nhất của chính phủ mới có thể ngăn chặn sự đấu tranh nội bộ của các quan chức và những mâu thuẫn chính trị khỏi làm tê liệt quá trình cải cách. Mỗi khi một quốc gia bắt đầu tiến hành một sự thay đổi lớn, bất kể để ổn định hóa đồng tiền, tư nhân hóa các cơ quan chính phủ, hoặc mở cửa trường học cho mọi chủng tộc, nguyên thủ quốc gia phải đứng ra để lãnh trách nhiệm tiên phong. Giải phóng những người nghèo chắc chắn nằm trong trách nhiệm của nhà lãnh đạo quốc gia.

Kinh nghiệm lịch sử và cá nhân đã dạy chúng ta rằng, để tiến hành một cuộc cách mạng về quyền sở hữu, một nhà lãnh đạo phải làm ít nhất ba việc cụ thể: nhìn bằng con mắt của những người nghèo, thâu nạp tầng lớp ưu tú, và đối xử với bộ máy hành chính pháp lý và kỹ thuật, những người chăm sóc hiện thời của lồng kính.

Nhìn bằng con mắt của những người nghèo

…Với những người nghèo ở bên mình, một nhà lãnh đạo có ý muốn cải cách đã chiến thắng ít nhất nửa cuộc chiến rồi. Bất cứ người đối lập nào đều sẽ bị đuổi sát trong cuộc thách đố với nguyên thủ quốc gia và đa số nhân dân. Nhưng để thắng, ông ta hay bà ta sẽ phải thu thập các sự thật đủ để biện hộ. Điều này liên quan đến việc tiến hành nghiên cứu sáng tạo: các nhà cải cách phải đặt mình vào tình cảnh của những người nghèo và đi dạo qua những con đường của họ. Các số liệu thống kê chính thức và không chứa những thông tin họ cần. Sự thực và các con số chỉ có thể được nhìn thấy từ ngoài lồng kính.

Khi tôi bắt đầu nghiên cứu khả năng để được những người nghèo tiếp cận đến quyền sở hữu chính thức ở Peru trong những năm 1980, mọi văn phòng luật sư lớn mà tôi đã tham khảo đều bảo đảm với tôi rằng, lập một doanh nghiệp chính thức để tiếp cận đến vốn sẽ chỉ tốn vài ngày. Tôi biết rằng điều này đúng với tôi và các luật sư của tôi, nhưng tôi đã linh cảm rằng nó không đúng với đại đa số người Peru. Vì thế các đồng nghiệp của tôi và tôi đã quyết định lập một nhà máy may có 2 máy khâu trong khu ổ chuột ở Lima. Để trải nghiệm quá trình theo quan điểm của người nghèo, chúng tôi đã dùng đồng hồ bấm giờ đo lượng thời gian mà một nghiệp chủ điển hình ở Lima phải dùng để qua được các cửa ải quan liên. Chúng tôi phát hiện ra rằng, để trở thành hợp pháp cần phải tốn đến hơn 300 ngày, làm việc 6 giờ một ngày. Chi phí: 32 lần lương tháng tối thiểu. Chúng tôi tiến hành một thí nghiệm tương tự để tìm xem một cá nhân sống trong khu nhà định cư ngoài pháp luật, mà sự hiện diện của người ấy đã được chính quyền xác nhận rồi, sẽ phải làm gì để nhận được chứng thư quyền sở hữu hợp pháp cho một căn nhà. Để nhận được sự phê chuẩn của riêng chính quyền tự trị đô thị của Lima – chỉ là một trong mười một cơ quan chính quyền có liên quan – cần đến 728 bước hành chính (xem Hình 6.3). Điều này xác nhận điều mà tôi đã hoài nghi từ ban đầu: hầu hết các số liệu quy ước phản ánh lợi ích của những người, như các luật sư mà tôi đã tham vấn, ở bên trong lồng kính. Đó là lý do vì sao lồng kính chỉ có thể thấy được từ bên ngoài nhìn vào – từ con mắt, từ viễn cảnh của những người nghèo.

Một khi chính phủ nhận được thông tin này, họ sẽ có khả năng giải thích chủ ý của mình theo cách mà những người nghèo có thể thấu hiểu và cảm thông. Kết quả là, họ sẽ ủng hộ chương trình cải cách một cách nhiệt tình. Những người nghèo sẽ trở thành bộ máy uqan hệ với công chúng, PR hữu hiệu nhất cho cải cách, cung cấp phản hồi những điều cần thiết từ đường phố để giữ cho chương trình tiến triển.

Đó là những gì đã xảy ra ở Peru. Từ năm 1984 đến năm 1994, các đồng nghiệp của tôi và tôi đã hướng mọi nỗ lực của mình vào thông báo cho công chúng về những lợi ích của việc nhấc lồng kính đi (khi ấy chúng tôi gọi nó là “hình thức hóa, chính thức hóa”). Mục tiêu của chúng tôi là chứng minh cho các nhà chính trị thấy rằng đã có một sự đồng thuận ngầm toàn quốc gia đối với cải cách và chính thức hóa các tài sản của những người nghèo là một chiến lược chính trị thắng lợi. Vào cuối những năm 1980, cuộc bầu cử đã xác nhận điều này: kiến nghị của chúng tôi về thay đổi hệ thống quyền sở hữu chính thức đã nhận được sự tán thành gần 90%. Với các con số như thế, không có gì ngạc nhiên rằng, khi những phần đầu của luật và quy chế mà tổ chức của tôi dự thảo cho việc chính thức hóa được đưa ra trước Quốc hội Peru vào năm 1988 và đầu 1990, chúng đã được nhất trí thông qua. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1990, mọi ứng cử viên, kể cả Mario Vargas Llosa, người viết tiểu thuyết và ứng cử viên của liên minh tự do – bảo thủ, lẫn Alberto Fujimori, một người theo chủ nghĩa dân túy kín miệng giấu tài và cuối cùng thắng cuộc, cùng với tổng thống hết nhiệm kỳ thuộc phe dân chủ Alan Garcia, đã tán thành chương trình chính thức hóa. Ngay cả ngày nay, bất chấp những nỗ lực triển khai thất thường và rất không đầy đủ, việc chính thức hóa là một mốc không thể tranh cãi và vĩnh cửu của bức tranh phong cảnh chính trị Peru.

Với sự thực, số liệu và công luận, tất cả đều ủng hộ cải cách, chính phủ sẽ có vị thế để di chuyển toàn bộ vấn đề nghèo đói một cách đầy kịch tính sang chương trình tăng trưởng kinh tế. Giảm nghèo đói sẽ không còn được xem như một mục tiêu nhân đạo được tiến hành nếu và khi nào có đủ khả năng. Ngược lại, tương lai của những người nghèo bây giờ có thể nằm trên đỉnh danh mục của chương trình tăng trưởng của chính phủ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Bí ẩn của thất bại pháp lý – Phần VIII


Bằng một ít hồ sơ lịch sử mà chúng tôi có thể tìm thấy và cách tự lấp các lỗ hổng bằng nghiên cứu thực nghiệm riêng của mình, chúng tôi đã lần mò đường đi của mình qua các thế giới ngoài pháp luật và cuối cùng chúng tôi đã học được cách tiếp xúc với các khế ước xã hội, những cái tạo nền tảng cho các quyền sở hữu ở đó. Khám phá ra những thỏa thuận này chẳng có gì giống với tìm kiếm các bằng chứng của quyền sở hữu trong một hệ thống pháp lý chính thức, nơi có thể dựa vào một hệ thống lưu trữ hồ sơ mà qua nhiều năm đã tạo ra một dấu vết trên giấy, một “chuỗi xích chứng thư”, cho phép tìm ra nguồn gốc của nó. Trong khu vực được vốn hóa thấp, chuỗi xích chứng thư, may lắm, cũng rất mờ nhạt đối với người ngoài. Khu vực được vốn hóa thấp không có, trong những thứ khác, bộ máy đăng ký, lưu trữ và theo dõi hồ sơ, bộ máy phải có ở trung tâm của một xã hội có thể thức. Cái mà những người dân trong khu vực được vốn hóa thấp thật sự có là những hiểu biết mạnh mẽ, rõ ràng và chi tiết giữa họ với nhau về ai sở hữu cái gì ngày hôm nay.

Vì vậy, cách duy nhất để tìm ra khế ước xã hội ngoài pháp luật về quyền sở hữu ở một khu vực cụ thể nào đó là tiếp xúc với những người sống và làm việc ở đó. Nếu quyền sở hữu giống như một cái cây, thì hệ thống quyền sở hữu chính thức là lịch đại (diachronic), theo nghĩa nó cho phép lần theo dấu vết để tìm ra nguồn gốc của mỗi chiếc là từ nhánh của cành đến thân và cuối cùng đến gốc. Cách tiếp cận đến quyền sở hữu ngoài pháp luật phải có tính đồng bộ: cách duy nhất mà một người ngoài có thể xác định những quyền nào thuộc về ai là đi cắt lát cái cây ở một góc thích hợp với thân cây để xác định trạng thái của mỗi cành và lá trong quan hệ với xung quanh của nó.

Để nhận được thông tin đồn gbộ, cần điều tra thực địa: đi trực tiếp đến các khu vực mà quyền sở hữu không được đăng ký chính thức (hoặc được đăng ký và lập hồ sơ một cách không chính đáng) và tiếp xúc với các nhà chức trách hợp pháp và ngoài pháp luật ở địa phương để tìm ra những thỏa thuận quyền sở hữu là những gì. Điều này không khó như nó có vẻ. Mặc dù truyền thống truyền miệng có thể chiếm ưu thế ở những vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh của một số nước, hầu hết người dân ở các khu vực đô thị được vốn hóa thấp đã tìm ra những cách để biểu diễn quyền sở hữu của họ bằng văn bản theo các quy tắc mà họ tôn trọng và chính phủ, ở một số cấp, buộc phải chấp nhận.

Thí dụ, ở Haiti, không ai tin rằng chúng tôi sẽ tìm thấy các hồ sơ xác định những biểu thị của các quyền sở hữu. Haiti là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới; 55% dân số m2u chữ. Tuy nhiên, sau một khảo sát chuyên sâu các khu vực đô thị Haiti, chúng tôi không thấy một lô đất, lều, hoặc tòa nhà ngoài pháp luật nào mà chủ của nó lại không có ít nhất một tài liệu để bảo vệ quyền của mình – ngay cả “các quyền chiếm đất” của anh ta. (Xem hình 6.2 về một phần của các chứng thư sở hữu phi chính thức ở Haiti). Ở mọi nơi chúng tôi đã đến trên thế giới, hầu hết những người phi chính thức đều có một số vật nhân tạo nào đó để biểu diễn và chứng minh cho yêu sách cảu họ đối với quyền sở hữu. Và chính trên cơ sở của những biểu thị ngoài pháp luật này, cũng như các hồ sơ và các cuộc phỏng vấn, mà ở mọi nơi chúng tôi đều có khả năng chắt lọc ra các khế ước xã hội bảo vệ quyền sở hữu.

Mặc dù các nguồn thông tin ngoài pháp luật để nhận diện các quy ước về quyền sở hữu là quan trọng, nhưng cũng có các nguồn chính thức và hợp pháp. Các nhà chính trị ở trên cao thường hiếm khi có ý thức về mức độ mà theo đó những người ở các cấp hành chính thấp hơn của chính quyền thường xuyên tiếp xúc với khu vực ngoài pháp luật. Các nhà chức trách thành phố, các nhà quy hoạch đô thị, các quan chức vệ sinh y tế, cảnh sát, và nhiều người khác phải đưa ra đánh giá về mức độ bất hợp pháp của các nhóm định cư phi chính thức hoặc các nhóm doanh nghiệp mới mọc lên liên tục khắp các quận của họ. Chúng tôi đã học được cách đọc các tư liệu chính thức ra sao để nhận ra những nơi mà các khế ước xã hội ngoài pháp luật thịnh hành.

Một khi các chính phủ biết phải tìm các biểu thị ngoài pháp luật ở đâu và nhúng tay vào, để mắt đến chúng, họ sẽ thấy sợi chỉ Adriane dẫn tới khế ước xã hội. Các biểu thị là kết quả của một nhóm người cụ thể đã đạt được một sự đồng thuận được tôn trọng, như ai sở hữu tài sản nào và mỗi chủ sở hữu có thể làm gì với nó. Để đọc bản thân các biểu thị và chắt lọc ý nghĩa từ chúng, không cần đến một học vị nào về khảo cổ học. Chúng không chứa các mã số bí ẩn nào đó để phải giải mã. Những người dân, với các chủ ý rất thẳng thắn, thiết thực đã viết ra các tư liệu này để làm rõ một cách tuyệt đối cho tất cả những người có liên quan về những quyền mà họ đòi trên các tài sản cụ thể mà họ kiểm soát. Họ muốn thông báo tính hợp pháp của các quyền của họ và sẵn sàng cung cấp nhiều bằng chứng ủng hộ cho yêu sách của mình ở mức có thể. Các biểu thị của họ chẳng có gì để giấu giếm; chúng được thiết kế để có thể nhận ra chúng là gì. Điều này không phải rõ ràng bởi vì, thật đáng tiếc, khi chúng ta giao thiệp với những người nghèo chúng ta c1o xu hướng lẫn lộn giữa sự thiếu phương tiện lưu trữ hồ sơ tập trung và sự ngu dốt. Như John P. Powelson kết luận một cách đúng đắn trong The Story of Lan (Câu chuyện về đất), là ngay ở các vùng nông thôn nguyên thủy của các quốc gia đang phát triển, bản thân những người dân đã là những người [luật sư] biện hộ hữu hiệu nhất cho chính mình và luôn luôn có năng lực biểu thị bản thân mình một cách thông minh.

Khi các chính phủ có được bằng chứng bằng văn bản về các biểu thị, khi đó họ có thể “tháo rời” chúng ra để nhận diện các nguyên tắc và quy tắc, những cái tạo thành khế ước xã hội. Một khi các nhà cải cách làm việc đó, họ sẽ có những phần chính, quan trọng của luật ngoài pháp luật. Nhiệm vụ tiếp theo là hệ thống hóa chúng – tổ chức chúng trong các quy chế chính thức tạm thời sao cho chúng có thể được khảo sát và so sánh với luật chính thức hiện hành. Mã hóa các hệ thống lỏng lẻo cũng không phải là vấn đề. Thực ra, nó chẳng khác mấy các thủ tục của chính phủ để làm cho các văn bản luật thống nhất phạm vi cả nước (như Luật Thương mại Thống nhất của Hoa Kỳ) hoặc giữa các nước ở phạm vi quốc tế (như nhiều quy tắc bắt buộc được tích hợp do Liên minh châu Âu hay Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tạo ra). Bằng cách so sánh các quy tắc ngoài pháp luật với các quy tắc của luật, các nhà lãnh đạo chính phủ có thể cân nhắc hiệu chỉnh cả hai ra sao để khớp với nhau và sau đó xây dựng một khung khổ điều chỉnh cho quyền sở hữu – một nền tảng chung về luật cho tất cả mọi công dân – cái thật sự hợp pháp và có thể thực thi được bởi vì nó phản ánh cả sự thực hợp pháp và ngoài pháp luật. Đó là con đường cho các quốc gia đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây giải quyết thách thức pháp lý, và đó là cách căn bản mà luật phương Tây đã được xây dựng: từng bước loại bỏ những cái không hữu dụng, không thể thực thi và hấp thu những cái có hiệu lực.

Nếu tất cả những điều này nghe giống như một cuộc phiêu lưu nhân chủng học hơn là cơ sở cho cải cách pháp lý, thì chính là vì tri thức về những người nghèo đã bị độc quyền hóa bởi các học giả, những ký giả, và các hoạt động chính trị xã hội bị xúc động bởi lòng trắc ẩn hoặc tính hiếu kỳ trí tuệ, hơn là bởi những chi tiết thực tế cơ bản của cải cách pháp luật. Vậy các luật sư ở đâu? Vì sao họ không xem xét nghiêm túc luật và trật tự do chính những người trong bọn họ tạo ra? Sự thật là các lậut sư của các nước này thường quá bận rộn trong việc học luật phương Tây và làm thích nghi nó. Họ được dạy rằng, các tập quán địa phương không phải là luật thật mà là một lĩnh vực nghiên cứu lãng mạn, tốt nhất là để cho các nhà nghiên cứu dân gian. Nhưng nếu các luật sư muốn đóng một vai trò để tạo ra các luật tốt, họ phải bước ra khỏi các thư viện luật của mình và đi vào khu vực ngoài pháp luật, nơi là nguồn thông tin duy nhất mà họ cần để xây dựng một hệ thống pháp luật chính thức, thật sự hợp pháp. Bằng cách khảo sát “những luật của dân” này và hiểu lôgích của chúng, các nhà cải cách có thể có cảm giác về cái mà họ cần làm để tạo ra một hệ thống pháp luật tự – thực thi.

Khi họ đã làm xong việc này, chính là lúc các chính phủ đã chạm vào khế ước xã hội. Họ sẽ có thông tin cần thiết để tích hợp những người nghèo và những vật sở hữu của họ vào một khung khổ pháp luật, để cuối cùng giúp họ có thể bắt đầu có một khoản đặt cược trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Nhưng thực hiện cải cách pháp luật sẽ có nghĩa là phá rối hiện trạng. Điều đó làm cho nó trở thành một nhiệm vụ chính trị to lớn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Bí ẩn của thất bại pháp lý – Phần VII


Lắng nghe chó sủa

Hầu hết các chính phủ của các quốc gia đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây có lẽ sẵn sàng công nhận rằng, việc các khu vực ngoài pháp luật của họ đang tăng nhanh theo hàm số mũ không phải bởi vì người dân dột nhiên từ bỏ sự tôn trọng của họ với luật pháp, mà bởi vì họ không có lựa chọn khả dĩ nào khác để bảo vệ quyền sở hữu và để kiếm sống. Một khi các chính phủ đã chịu chấp nhận sự thực này của cuộc sống hiện đại, họ sẽ phải đi đến thỏa thuận. Mặc dù những người ngoài pháp luật sẵn sàng đi qua cầu để sang với sự công nhận pháp lý, nhưng họ sẽ chỉ làm vậy nếu chính phủ của họ làm cho chuyến đi được dễ dàng, an toàn, và rẻ tiền. Những người chủ tài sản trong khu vực ngoài pháp luật đã được tổ chức tương đối tốt rồi; họ cũng là những người “tuân theo luật”, mặc dù các luật mà họ tuân theo không phải là luật của chính phủ. Việc tìm ra những thỏa thuận ngoài pháp luật này là gì và sau đó tìm cách tích hợp chúng vào hệ thống quyền sở hữu chính thức là tùy thuộc vào chính phủ. Nhưng họ sẽ không có khả năng làm điều đó bằng cách thuê các luật sư ở các văn phòng cao ngất ở Delhi, Jarkarta, hoặc Moscow để thảo các luật mới. Họ phải đi ra phố, ra đường và lắng nghe chó sủa.

Luật thịnh hành ngày nay ở phương Tây đã không đến từ các bộ sách phủ đầy bụi hoặc từ các sách luật chính thức của chính phủ. Nó là một thực thể sống, được sinh ra trong thế giới thực và được nuôi dưỡng bởi người dân bình thường khá lâu trước khi nó rơi vào tay của các luật sự chuyên nghiệp. Luật phải được khám phá ra trước khi nó có thể được hệ thống hóa. Như nhà luật học Bruno Leoni nhắc nhở chúng ta:

Những người La Mã và người Anh đã đồng ý rằng, luật là cái gì đó phải được phát hiện ra hơn là phải được ban hành và chẳng ai có uy quyền trong xã hội đến mức có thể đồng nhất hóa ý chí riêng mình với luật của đất nước. Ở hai nước này, nhiệm vụ “phát hiện ra” luật đã được giao phó lần lượt cho tư vấn luật và cho các thẩm phán – hai loại người có thể so sánh, ít nhất ở một mức độ nào đấy, với các chuyên gia khoa học ngày nay.

“Phát hiện ra luật” chính xác là việc mà các đồng nghiệp của tôi và tôi đã làm ở nhiều nước khác nhau trong suốt 15 năm qua, như một bước đầu tiên để giúp các chính phủ ở các nước đang phát triển xây dựng các hệ thống quyền sở hữu chính thức bao quát mọi người dân của họ. Khi bạn dẹp sang một bên các hình mẫu do Hollywood tạo ra về những người thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây giống như hỗn hợp sặc sỡ của những người bán hàng rong, các du kích quân có ria mép rậm rì, và bọn gangster gốc Slave, bạn sẽ thấy có ít sự khác  biệt giữa các nền văn hóa phương Tây so với các nơi khác về khía cạnh bảo vệ tài sản và tiến hành kinh doanh. Sau hàng năm nghiên cứu ở nhiều nước, tôi tin chắc rằng, hầu hết các khế ước xã hội về quyền sở hữu căn bản là giống các khế ước xã hội quốc gia ở các nước phương Tây. Cả hai đều có chiều hướng chứa đựng một số quy tắc rõ ràng hoặc ngầm định về ai có các quyền đối với cái gì, và về các giới hạn đối với các quyền ấy và các giao dịch; chúng cũng bao gồm các điều khoản để lập hồ sơ quyền sở hữu của tài sản, các thủ tục để thực thi các quyền sở hữu và các yêu sách, các biểu tượng để xác định các ranh giới nằm ở đâu, các quy phạm để quản lý các giao dịch, các tiêu chuẩn để xác định cái gì cần phải được chuẩn y và cái gì có thể được thực hiện mà không cần xin phép, những hướng dẫn để xác định những biểu diễn nào là hợp lệ, các công cụ để khuyến khích người dân thực hiện đúng các hợp đồng và tôn trọng luật, và các tiêu chuẩn để xác định mức độ ẩn danh được cho phép đối với mỗi giao dịch.

Bởi vậy, có thể cho rằng, người dân đã được chuẩn bị để nghĩ về các quyền sở hữu theo những cách rất giống nhau. Điều này chẳng phải là một sự ngạc nhiên lớn; các quy ước dân gian luôn luôn lan truyền bằng phép loại suy từ một địa điểm này sang địa điểm khác một cách tự phát. Hơn nữa, sự di cư hàng loạt trong 40 năm vừa qua, chưa kể đến cách mạng toàn cầu trong truyền thông, có nghĩa là chúng ta đang chia sẻ ngày càng nhiều giá trị và khát vọng. (Những người thuộc thế giới thứ ba cũng xem tivi; họ cũng đi xem phim, sử dụng điện thoại, và mong muốn con em mình được giáo dục tốt và thoát mù máy tính). Điều không thể tránh khỏi là các khế ước xã hội ngoài pháp luật riêng rẽ trong cùng một nước sẽ giống nhau nhiều hơn là khác biệt.

Vấn đề của các khế ước xã hội ngoài pháp luật là những biểu diễn quyền sở hữu của chúng không được hệ thống hóa một cách đầy đủ và không chuyển đổi được để có một phạm vi ứng dụng ngoài các tham số địa lý riêng của chúng. Các hệ thống quyền sở hữu ngoài pháp luật là ổn định và có ý nghĩa với những người thuộc nhóm, nhưng chúng hoạt động ở mức có hệ thống thấp và không có những biểu diễn cho phép chúng tương tác dễ dàng với nhau. Lại một lần nữa, điều này giống với quá khứ của phương Tây khi các chứng thư quyền sở hữu chưa tồn tại. Trước thế kỷ XV ở châu Âu, chẳng hạn, mặc dù đã có một số cơ sở đăng ký biệt lập ở một vài nơi của vùng mà ngày nay là nước Đức, hầu hết cách thức tiến hành các quy tắc chính thống về các giao dịch quyền sở hữu tài sản đã không được viết thành văn và chỉ được biết thông qua truyền thống truyền miệng.

Nhiều người coi các nghi lễ và biểu tượng như những tiền thân biểu diễn của các chứng thư, cổ phần và hồ sơ chính thức ngày nay. Theo triết gia và sử gia Anh thế kỷ XVIII David Hume, ở một số nơi nhất định của châu Âu trong thời đại của ông, những chủ đất đã trao các cục đá và đất cho nhau để làm vật kỷ niệm việc chuyển giao đất đai; các nông dân đã biểu tượng hóa việc bán lúa mì bằng cách trao cho nhau chìa khóa của kho, nơi lúa mì được lưu giữ. Các bản viết trên da thuộc làm bằng chứng cho các giao dịch quyền sở hữu về đất đai được ấn xuống đất theo nghi lễ để biểu thị sự thỏa thuận. Tương tự, hàng thế kỷ trước ở đế quốc La Mã, Rome, luật La Mã đã quy định rằng, cỏ và cành cây phải được chuyển giao từ tay người này sang tay người khác để đại diện cho sự chuyển giao pháp lý các quyền sở hữu. Cũng vậy, những người Nhật đã có những xác nhận mang tính nghi lễ về các giao dịch; thí dụ, ở vùng Gumma Kodzuke, trong thời đại Tokugawa từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX khi việc bán đất nông nghiệp bị luật cấm, các chủ đất vẫn chuyển nhượng các tài sản của họ, xác nhận những thương vụ ngoài pháp luật này bằng các văn kiện thành văn được họ hàng của người bán và trưởng thôn niêm phong.

Dần dần, các hồ sơ thành văn được thu thập ở các sở đăng ký. Phải mất một thời gian trước khi những biểu thị này được đưa vào dạng sách. Nhưng chỉ đến thế kỷ XIX thì các sở đang ký quyền sở hữ khác nhau này và các khế ước xã hội điều chỉnh chúng mới được chuẩn hóa và được gom lại để tạo ra các hệ thống quyền sở hữu chính thức được tích hợp mà phương Tây có ngày nay.

Các quốc gia xã hội chủ nghĩa trước đây và thế giới thứ ba hiện giống như châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ vài trăm năm trước. Giống như phương Tây, họ phải nhận diện ra và gom những biểu thị quyền sở hữu hiện hành bị tản mát khắp đất nước họ và đưa chúng vào một hệ thống được tích hợp để cho các tài sản của tất cả các công dân của họ có tính chuyển đổi, có bộ máy hành chính, và có mạng lưới cần thiết để tạo tư bản.

Giải mã luật ngoài pháp luật

Khi các đồng nghiệp của tôi và tôi lần đầu tiên đối mặt với nhiệm vụ tích hợp những thỏa thuận quyền sở hữu tiền tư bản chủ nghĩa vào một hệ thống quyền sở hữu chính thức tư bản chủ nghĩa, phương Tây là khát vọng của chúng tôi. Nhưng khi chúng tôi bắt đầu tìm kiếm thông tin về cách các quốc gia tiên tiến đã tích hợp những thỏa thuận ngoài pháp luật của họ vào luật ra sao, thì chẳng có kế hoạch nào để chúng tôi sử dụng. Việc các quốc gia phương Tây đã nhận biết các loại bằng chứng ngoài pháp luật nào của quyền sở hữu làm các mẫu số chung của một hệ thống quyền sở hữu chính thức được tiêu chuẩn hóa, đáng tiếc được ghi lại rất sơ sài. John Payne giải thích tình trạng ở Anh:

Bằng chứng chính thức của chứng thư sở hữu như một phần của các giao dịch thương mại về đất đai rõ ràng là một sự phát triển muộn trong luật Anh, nhưng thông tin hiện thời ít đến mức làm cho một giả thuyết như vậy đơn thuần chỉ có tính phỏng đoán. Điều làm sử gia bực bội là, trong khi các sự kiện lớn được ghi chép chi tiết, thì người dân hiếm khi cảm thấy cần thiết phải ghi lại bản kê khai những hoạt động giản dị hàng ngày của họ. Làm như vậy có vẻ như thừa và vô vị, bởi vì chẳng ai muốn bị nhắc nhở về những cái hiển nhiên. Vì vậy cái mà mọi người cho là hiển nhiên ở một thời đại lại không được nhắc đến ở thời đại sau, và việc dựng lại các thủ tục bình thường đòi hỏi phải tỉ mẩn ráp các nguồn, những cái được lưu lại cho một mục đích hoàn toàn khác, lại với nhau. Điều này chắc chắn là đúng với các thói quen của các luật sư chuyên thảo giấy chuyển nhượng tài sản, bởi vì, cho đến thế kỷ [mười chín] chúng ta chỉ có hiểu biết hạn chế về việc họ làm công việc của họ như thế nào trên thực tế.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.