Nền tư pháp đóng góp ít ỏi cho quản trị quốc gia Việt Nam?


Ngô Ngọc Trai

Dư luận đang xôn xao về vụ ấu dâm xảy ra ở quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh và vụ gian lận điểm thi xảy ra tại một số tỉnh miền núi phía Bắc. Trong cả 2 vụ việc, người dân đòi hỏi cơ quan tư pháp khẩn trương xử lý thủ phạm dâm ô trẻ em và xử lý hình sự các bậc phụ huynh đã chạy điểm cho con mình đô vào các trường đại học. Sự chậm trễ của cơ quan tư pháp trong xử lý khiến cho dư luận bức xúc.

Vụ ấu dâm ảy ra từ ngày 2/4, hình ảnh camera thu giữ được rõ ràng, nhưng mãi 20 ngày sau mới có quyết định khởi tố. Vụ gian lận điểm thi xảy ra trong kỳ tuyển sinh đại học năm 2018, tới nay đã sắp hết một năm học, nhưng nhiều vấn đề sai phạm vẫn chưa được làm rõ. Dư luận đang đòi hỏi công khai danh tính các quan chức có con được nâng điểm, kỷ luật cách chức và xử lý những người này về hành vi hối lộ.

Gần đây, dư luận cũng phẫn nộ với việc cơ quan tư pháp huyện Chương Mỹ (Hà Nội) đã mắc sai lầm nghiêm trọng nhận định, đánh giá về một vụ việc hiếp dâm trẻ em ở vườn chuối. Sau những bức xúc của dư luận về vụ việc Công an thành phố Hà Nội đã trực tiếp điều tra, kết luận và thay đổi tội danh từ dâm ô sang hiếp dân trẻ em, và bắt giam trở lại thủ phạm trước đó được cho tại ngoại.

Một vụ việc khác xảy ra trong một thang máy chung cư tại Hà Nội, đó là hành vi sàm sỡ cưỡng hôn một cô gái, nhưng sau đó chỉ bị phạt 200 nghìn đồng. Hình phạt rẻ rúng như thế khiến dư luận xã hội cười chê, mạng xã hội xuất hiện rất nhiều video clip được dân chúng tự quay chế giễu hình phạt 200 nghìn cho hành vi cưỡng hôn trong thang máy.

Những vụ việc đó và nhiều vụ việc khác xảy ra rải rác theo thời gian đều được báo điện tử, mạng xã hội và ngay cả đài truyền hình quốc gia loan tin rộng rãi. Người nghiêm túc, thận trọng thì đặt câu hỏi về năng lực của ngành tư pháp, người thô tục thì nói “chúng nó chạy chọt, luồn lọt hết rồi”. Tóm lại, người dân đang dần mất niềm tin vào khả năng, năng lực thực thi công lý của cơ quan tư pháp.

Vắng bóng công lý

Ở nhiều nước, Công lý là thuật ngữ cổ xưa đã được ý niệm từ rất sớm, đó được xem như khúc hoan ca được xướng lên trong mọi buổi khởi đầu của chính thể xã hội. Trải qua thời gian hàng ngàn năm dù biết bao những biến động, mọi thực thể chính quyền đều chỉ có thể đạt được chỗ đứng nơi dân chúng nếu có khả năng thực thi công lý. Cho tới ngày nay, quyền tư pháp ở nhiều nước là một trong ba trụ cột quốc gia sánh vai cùng với lập pháp và hành pháp. Tư pháp đảm đương một phần khối lượng công việc to lớn trong đời sống đất nước, đóng góp quan trọng trong quản trị quốc gia.

Trong khi đó, ở Việt Nam, lâu nay ý niệm về công lý còn là mộng ảo xa vời. Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên từ công lý mới được đưa vào câu “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý” mà các bản hiến pháp 1960, 1980, 1992 trước đó không có. Tiếp theo đó, lần đầu tiên Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng đưa vào gọi tên hai từ Công lý mà các Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và năm 1988 không có. Và sự thiếu vắng đó liệu có ảnh hưởng đến sự hiển lộ của công lý trong xã hội? Sự thật là sự vắng bóng của từ công lý không chỉ trong các văn bản quan trọng, nó đồng thời cũng vắng bóng trong các diễn ngôn của đời sống.

Những vụ như ấu dâm, gian lận điểm thi, cưỡng hôn trong thang máy đều là những vi phạm pháp luật hình sự cần được khởi tố, nhưng vì năng lực và quyền hạn của ngành tư pháp địa phương hạn chế nên đã không thể thực thi công lý như người dân mong đợi. Hành vi đã rõ và pháp luật đã có, vấn đề chỉ là ở sự nhận thức đánh giá và thực thi theo pháp luật, nhưng điều đáng tiếc là các cơ quan tư pháp đã không thể khiến người dân cảm thụ được công lý. Từ đó sẽ ảnh hưởng xấu tới hành xử của dân chúng, tác động xấu tới quản trị quốc gia. Người dân sẽ sử dụng tiền bạc và quyền lực trong các mối quan hệ để xử lý công việc. Điều đó đồng nghĩa với sự suy đồi của đạo đức cá nhân và đạo đức công vụ, tạo ra sự hỗn loạn nhất định trong trật tự xã hội và tạo ra các xung động xấu trong sự vận đồng đời sống xã hội.

Để công cuộc quản trị quốc gia được tốt lên, điều nên làm là phải xử lý đúng đắn các vụ việc đang thu hút sự chú ý của xã hội. Hãy làm sao để người dân chứng kiến và cảm thụ được công lý. Về lâu dài, cần tập trung đầu tư cải cách, nâng cao năng lực, bổ sung thêm quyền hạn cho ngành tư pháp để ngành tư pháp phát huy hết vai trò, đóng góp cho quản trị quốc gia.

Nguồn: BBC

TKNB – 23/04/2019

Advertisements

Dự luật công chức sửa đổi có mở cửa cho việc “hạ cánh an toàn”?


Theo đài RFA, Bộ Nội vụ vừa trình Chính phủ dự luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức, trong đó quy định chỉ xử lý cán bộ nghỉ hưu cấp Thứ trưởng trở lên gây nhiều tranh cãi. Nếu được thông qua, liệu các quan chức có chức vụ từ Tổng cục trưởng trở xuống có thể yên tâm “hạ cánh an toàn”?

Cụ thể, Bộ Nội vụ đề nghị sửa đổi, bổ sung Khoản 2 và Khoản 3 Điều 82 trong Luật Công chức hiện hành về quy định kỷ luật cán bộ, công chức, theo đó cán bộ, công chức khi đã nghỉ hưu vẫn bị xem xét xử lý kỷ luật hoặc truy tố theo quy định.

Ông Lê Văn Cuông, nguyên Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa, nhận định: “Bộ Nội vụ mới trình dự thảo, như vậy, theo tôi, chỉ là ý kiến chủ quan của Bộ Nội vụ. Tôi thấy vấn đề đó chưa thật bình đẳng, bởi vì nếu nói về quyền lợi và trách nhiệm thì nó phải áp dụng cho tất cả mọi người, từ cán bộ nhân viên đến cán bộ lãnh đạo, chứ không phải từ Thứ trưởng trở lên mới xử lý, còn ở dưới thì cho qua, như vậy là không thích hợp lắm. Theo tôi, tất cả cán bộ công chức thuộc đối tượng về hưu, nếu vi phạm đều phải xử lý như nhau, bình đẳng như nhau chứ không phân biệt như Dự luật công chức đó”.

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, có tội thì phải chịu tội, vi phạm thì phải bị xử lý, đó là điều đương nhiên, ai cũng tán thành. Tuy nhiên, trong văn bản soạn thảo Dự luật công chức sửa đổi trình Chính phủ lại có 2 phương án riêng biệt: Một là xử lý tất cả cán bộ, công chức đã về hưu, nghỉ việc hoặc chuyển công tác, khi phát hiện sai phạm. Hai là, chỉ quy định xử lý đối với những người có vi phạm khi chưa về hưu từ cấp thứ trưởng và tương đương trở lên ở trung ương. Như vậy, nếu Chính phủ chọn phương án thứ hai thì từ cấp Cục trưởng, Tổng cục trưởng trở xuống có thể yên tâm “hạ cánh an toàn”?

Thầy giáo Đỗ Việt Khoa, một viên chức đang làm việc torng ngành giáo dục, từng nhiều lần lên tiếng tố cáo tham nhũng, cho rằng: “Pháp luật là phải công minh, đã mắc tội là phải xử dù nghỉ hưu hay chưa, dù là quan chức, tại sao lại phân biệt xử từ Thứ trưởng trở lên, như vậy là bất hợp lý. Tôi cho rằng nếu đưa vấn đề này ra dư luận thì nhiều người không đồng tình. Hiện nay, tình trạng tham nhũng ở Việt Nam hết sức nghiêm trọng, diễn ra ở mọi cấp, mọi ngành, khi đưa ra xử lý thì hầu hết họ được bao che, nâng đỡ”.

Luật sư Võ An Đôn cũng khẳng định: “Luật pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, mọi người đều như nhau, không phân biệt, quyền lợi đều như nhau, nghĩa vụ đều như nhau”.

Còn Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Chánh Văn phòng Quốc hội Việt Nam, thì tỏ vẻ nghi ngờ về Dự luật công chức sửa đổi này: “Chắc là có những điều luật quy định như thế nào, chứ điều đó là không đúng về nguyên tắc. Mọi người, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.

Theo dự thảo Luật cán bộ, công chức mới đưa ra, Bộ Nội vụ cũng bổ sung Khoản 5 vào Điều 78 của Luật cán bộ, công chức hiện hành. Cụ thể, nếu cán bộ sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có vi phạm và đã bị xử lý kỷ luật Đảng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu 1 trong 3 hình thức kỷ luật sau: khiển trách, cảnh cáo hoặc xóa tư cách, chức vụ đã đảm nhiệm.

Điều khoản này trước đây từng được Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân, khi trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội, nhìn nhận việc kỷ luật hành chính đối với cựu Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng là vấn đề khó vì chưa có tiền lệ.

Cựu Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng bị cách chức Bí thư Ban Cán sự Đảng giai đoạn 2011 – 2016 do có những sai phạm bổ nhiệm trong thời gian giữ chức vụ này, đồng thời bị tước tư cách quyền bộ trưởng. Ông Lê Vĩnh Tân khi đó nói “phải tạo cơ sở hành lang pháp lý để đảm bảo xử lý nghiêm cán bộ công chức, kể cả người đã nghỉ hưu có sai phạm trong lúc còn đương chức”. Ông dùng từ “không thể có chuyện hạ cánh an toàn” để thể hiện quyết tâm chính trị và cảnh báo những quan chức đương thời. Tuy nhiên, trong dự luật đưa ra lần này, Bộ Nội vụ lại tạo điều kiện cho các quan chức cấp thấp hơn “hạ cánh an toàn”.

Dự luật này cũng cho rằng luật cán bộ công chức hiện hành quy định thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng kể từ thời điểm có hành vi vi phạm đến khi phát hiện là quá ngắn, dẫn đến một số trường hợp khi xét kỷ luật theo quy định của luật thì đã hết thời hiệu. Bộ Nội vụ đề nghị sửa đổi theo hướng tăng lên 60 tháng.

Điều này cũng gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, ông Lê Văn Cuông lại đồng tình: “Thời gian 24 tháng theo tôi là hơi ngắn, nên là 5 năm, vì 2 năm thì có thể chưa phát hiện ra, nếu phát hiện ra lại quá thời hạn xử lý thì cũng không thỏa đáng. Quan điểm của tôi là nên cho thời hạn 5 năm, nếu phát hiện ra vi phạm thì xử lý”.

Còn theo thầy Đỗ Việt Khoa, 5 năm vẫn không thích hợp. Ông nói: “Thực tế, với cương vị một người dân, chúng tôi cho rằng, đối tượng vi phạm có nghỉ hưu, có thôi chức, hoặc sự việc đã xảy ra trước đó dù 24 tháng hay 24 năm, thì chúng tôi vẫn mong muốn sai phạm bị xử lý… Họ tham nhũng hàng nghìn tỷ đồng, tội đó phải tử hình, chứ không phải tham tội bằng những văn bản như thế này…”.

Ông Lê Văn Cuông cho rằng, dù sao đây cũng chỉ là dự luật, còn phải lấy ý kiến rộng rãi. Theo ông, mọi người phải bình đẳng trước pháp luật, chống tham nhũng không trừ một ai, bất kể người đó chức vụ gì, nếu vi phạm đều bị xử lý, chứ không phải trên nặng, dưới nhẹ.

Nguồn: TKNB – 13/02/2019

CPTPP sẽ mở đường cho việc thành lập công đoàn độc lập


Ngày 12/11/2018, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Như vậy, Việt Nam là nước thứ 7 thông qua hiệp định này, sau các nước New Zealand, Canada, Australia, Nhật Bản, Mexico và Singapore. CPTPP sẽ có hiệu lực kể từ ngày 30/12/2018.

Không chỉ tác động về mặt kinh tế, CPTPP, một hiệp định tự do thương mại thế hệ mới, còn có những tác động to lớn về mặt xã hội ở Việt Nam, đặc biệt về lao động. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), hiệp định này đặt ra những yêu cầu cụ thể về quyền lao động và điều kiện làm việc nhằm đảm bảo tự do thương mại, nói chung là buộc Việt Nam phải hiện đại hóa pháp luật về lao động, giúp người lao động và doanh nghiệp cùng được hưởng lợi ích về kinh tế một cách công bằng.

Theo thống kê, tại Việt Nam đã có hơn 6000 cuộc đình công diễn ra kể từ giữa thập niên 90 và tất cả đều là đình công tự phát, không phải do công đoàn khởi xướng. Trả lời phỏng vấn RFI, luật sư Cao Hoàng Sang, Văn phòng luật sư Hoàng Luật Việt, cũng đưa ra nhận định tương tự:

Hiện tại, ở Việt Nam, đa phần người lao động bị thiệt thòi vì tổ chức công đoàn lại ăn lương của người sử dụng lao động, cho nên, công đoàn này thường hoạt động không hiệu quả và không bảo vệ được người lao động. Chính vì vậy, tất cả tranh chấp, đình công đều mang tính tự phát. Khi mà tự phát như vậy thì họ không biết được đâu là quyền của mình và đâu là nghĩa vụ của mình, cho nên người lao động thường là bị ép hoặc không được đảm bảo quyền lợi.

Một điều nữa là pháp luật Việt Nam hiện nay cũng chưa tham gia những công ước bảo vệ người lao động, cũng như bảo vệ người sử dụng lao động một cách tốt nhất theo luật quốc tế”.

Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP yêu cầu tất cả các nước tham gia phải thông qua và duy trì các quyền được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO về Các nguyên tắc và Quyền cơ bản trong lao động trong pháp luật, thể chế và thông lệ của họ. Các quyền này được quy định trong 8 công ước cơ bản của ILO.

Tuy nhiên, theo ILO, cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa phê chuẩn ba công ước cơ bản (Công ước số 87, 98 và 105) liên quan đến quyền tự do hiệp hội, quyền thương lượng tập thể và xóa bỏ lao động cưỡng bức. Luật sư Hoàng Cao Sang cho biết:

Điều quan trọng nhất mà hiệp định này đưa ra, đó là Việt Nam phải cam kết về vấn đề chế độ lao động, cụ thể là trong chương 19 của hiệp định, họ viện dẫn rất nhiều quy định pháp luật, trong đó có Tuyên bố của ILO 1998. Trong tuyên bố đó có 8 công ước, Việt Nam mới ký được 5 công ước, còn 3 công ước nữa chưa ký.

Tôi cho rằng đây là những công ước rất quan trọng đối với việc Việt Nam phải thay đổi cơ chế làm việc của mình trong các doanh nghiệp, đối với người sử dụng lao động cho đến người lao động và pháp luật đối với quan hệ lao động này.

Trong 3 công ước chưa ký đó, tôi cho rằng công ước 87 hơi “nhạy cảm” với cơ chế và pháp luật Việt Nam, đó là quyền tự do hiệp hiệp và việc bảo vệ quyền được tổ chức. Đó là công ước quan trọng nhất đã gây cản trở nhiều nhất trong quá trình đàm phán gia nhập CPTPP. Công ước có quy định là người lao động và người sử dụng lao động được quyền tự tạo một tổ chức và tham gia tổ chức theo sự lựa chọn của mình, chứ không phải như quy định bây giờ phải theo công đoàn chính thức.

Còn công ước 98 về những nguyên tắc quyền tổ chức và thương lượng tập thể đối với người lao động. Công ước 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức. Điều quan trọng mà họ đưa ra là khi người lao động đình công hoặc bị xử lý kỷ luật thì sẽ không bị cưỡng bức, không bị bắt làm một công việc nào đó mang tính cưỡng bức, không bị phân biệt đối xử chủng tộc, xã hội, tôn giáo”.

Về lộ trình phê chuẩn 3 công ước cơ bản này, luật sư Hoàng Cao Sang cho biết:

Khi Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn tham gia thì tất nhiên Việt Nam phải sửa đổi pháp luật và những cơ chế đúng với 3 công ước nói trên. Theo lộ trình, Việt Nam sẽ phê chuẩn công ước 98 vào năm 2019, công ước 105 vào năm 2020 và công ước 87 vào năm 2023. Công ước 87 là công ước gây cản trở nhiều nhất, Việt Nam phải có một thời gian nhất định để tham gia ký kết và phê chuẩn công ước ấy”.

Để thực thi những nguyên tắc được đề ra trong các công ước cơ bản, việc sửa đổi Bộ Luật Lao đ6ọng là bước đầu tiên và quan trọng nhất tại Việt Nam. Theo kế hoạch, dự thảo Bộ Luật Lao động sửa đổi sẽ được trình Quốc hội thông qua vào cuối năm 2019.

Về lâu dài, sau khi CPTPP có hiệu lực, người lao động ở Việt Nam trên nguyên tắc sẽ được phép thành lập hay gia nhập các tổ chức do họ tự lựa chọn ở cấp cơ sở, và những tổ chức đó có thể không thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tổ chức công đoàn chính thức. Như vậy, CPTPP sẽ mở đường cho việc hình thành công đoàn độc lập ở Việt Nam, một xu thế mà chính quyền đã cố trì hoãn, nhưng cuối cùng buộc phải chấp nhận đi theo. Đối với luật sư Hoàng Cao Sang, CPTPP và tiếp đến là hiệp định tự do mậu dịch với Liên minh châu Âu (EU) là những động lực buộc Việt Nam phải thay đổi.

Nguồn: TKNB – 05/12/2018

Ai có thể phạm tội lộ bí mật nhà nước?


Theo đài RFA, cuối tháng 10/2018, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, trong đó quy định thời gian giữ kín, không công khai các “bí mật nhà nước”. Sau thời gian này, các “bí mật” đó được tự động công khai hóa.

Lần ngược thời gian, năm 2009, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra một quy định về thời gian giải mật các tài liệu của Đảng là 60 năm. 6 năm sau, năm 2015, một bộ văn kiện có tên gọi Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1996 – 2000 được xuất bản, mà báo chí trong nước nói rằng, trong bộ văn kiện này có những thông tin được đưa ra dựa theo quy định về giải mật của Đảng Cộng sản.

Tuy nhiên, việc cho phép giải mật vào năm 2009 chỉ là một quy định chứ không phải luật, và cũng không thấy nói là người dân thường có được phép tiếp cận những thông tin đó một cách trực tiếp hay không.

Nhà báo Mai Phan Lợi và Thạc sĩ luật Hoàng Việt đều cho rằng Luật Bảo vệ bí mật nhà nước là một tiến bộ trong việc minh bạch xã hội tại Việt Nam. Ông Hoàng Việt nêu rõ: “Đây là một tiến bộ về mặt lý thuyết, vì ở Việt Nam, có những chuyện không biết bao giờ mới được minh bạch, nhưng không có sự xác nhận của tài liệu. Thế nên, việc đưa ra luật này về mặt lý thuyết cũng tốt, ít nhất là một xu hướng minh bạch hóa thông tin”.

Ông Hoàng Việt đưa ra một ví dụ cho việc những sự việc được đồn đại rất nhiều, nhưng không biết là có thật hay không, ví dụ như lời đồn đại về sự nhân nhượng của Việt Nam quá nhiều cho Trung Quốc trong cái gọi là Hiệp ước Thành Đô năm 1990, dẫn tới việc bình thường hóa quan hệ Việt – Trung. Cho tới nay, vẫn không có tài liệu chính thức nào của nhà nước Việt Nam công bố rằng “Hiệp ước Thành Đô” là có thật hay không?

Theo nhà báo Mai Phan Lợi, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước được đưa ra là để bổ sung cho bộ luật Tiếp cận thông tin, đã được đưa ra hồi năm 2016, và có hiệu lực vào tháng 7/2018. Luật này đưa ra những quy định về chuyện công dân và các tổ chức được phép yêu cầu cơ quan chức năng cung cấp thông tin như thế nào. Ông nói: “Trước đây, khi soạn thảo (Luật tiếp cận thông tin), người ta lường trước là sẽ động tới vấn đề bí mật nhà nước. Việt lập ra Luật Bảo vệ bí mật nhà nước như vậy là hiển nhiên nằm trong lộ trình, chỉ sợ không đưa ra thì không biết thực hiện luật kia thế nào. Nó vừa nằm trong lộ trình, mà cũng là tiến bộ”.

Tuy nhiên, cả ông Hoàng Việt và Mai Phan Lợi đều có những nghi ngại về một số điểm trong bộ luật mới này. Ông Hoàng Việt nói: “Ngay trong luật cũng có ghi rằng có thể tiếp tục gia hạn để không giải mật. Ở Việt Nam hiện nay, có vấn đề tùy tiện trong việc đóng dấu mật hay không mật. Và còn một vấn đề nữa là ở Việt Nam ai sẽ phán quyết các cơ quan nhà nước nếu họ không tuân thủ? Ở các quốc gia khác có một hệ thống tòa án độc lập, có thể khởi kiện được, chứ ở Việt Nam thì vô phương”.

Ông Hoàng Việt đưa ra ví dụ về sự tùy tiện đóng dấu mật là những hợp đồng mà Phó Bí thư thành ủy TPHCM Tất Thành Cang ký hợp đồng giao đất tại Thủ Thiêm, đổi cơ sở hạ tầng với nhiều công ty, việc này chỉ là những hợp đồng giữa tư nhân và chính quyền, nhưng cũng đóng dấu mật. Ông Tất Thành Cang vừa bị kỷ luật Đảng ngày 7/12 do những sai phạm tại Thủ Thiêm.

Theo nhà báo Mai Phan Lợi, việc tùy tiện đóng dấu mật là do quy định lâu nay rằng người đứng đầu các cơ quan, đơn vị được phép làm điều đó. Ông nói: “Trao quyền xác định độ mật quá lớn cho người thủ trưởng đơn vị nên có thể dẫn đến việc sử dụng tùy tiện dấu mật. Như vậy, người ta sẽ lợi dụng che đậy những gì người ta không muốn cho công chúng giám sát”.

Ông dẫn ra một thí dụ gần đây, trong vụ mua công ty AVG của Tập đoàn viễn thông nhà nước, chính Thanh tra Chính phủ Việt Nam cũng nói rằng những hợp đồng của vụ mua bán này đã được đóng dấu mật một cách tùy tiện.

Nhà báo Mai Phan Lợi còn đưa ra một sự khác biệt rất lớn giữa Luật Bảo vệ bí mật nhà nước của Việt Nam và các quốc gia khác, đó là ai phải chịu trách nhiệm về việc tiết lộ bí mật thông tin. Ông nêu rõ: “Quy cả trách nhiệm (lộ bí mật) cho cả công dân và nhà báo là không đúng, vì nhà báo chỉ đi săn tin, họ đâu có năng lực để biết cái nào là bí mật nhà nước”.

Ông Mai Phan Lợi đưa ra dẫn chứng vụ án PMU18 năm 2008. Trong vụ án này, một công ty quản lý vốn xây dựng cơ sở hạ tầng là PMU18 đã sử dụng vốn sai mục đích. Tướng công an Phạm Xuân Quắc được giao điều tra vụ án này. Ông Quắc đã tiết lộ thông tin cho 2 nhà báo là ông Nguyễn Văn Hải, báo Tuổi Trẻ, và ông Nguyễn Việt Chiến, báo Thanh Niên. Theo ông Mai Phan Lợi, lẽ ra chỉ có ông Phạm Xuân Quắc bị truy tố, nhưng cả hai nhà báo cũng bị rơi vào vòng lao lý.

Trong dự thảo về Luật Bảo vệ bí mật nhà nước vẫn còn quy định tại điều số 4 rằng trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước thuộc về cơ quan, tổ chức và cá nhân, và việc quy định thông tin mật hay không mật vẫn được người đứng đầu cơ quan hay tổ chức có thẩm quyền quy định. Ông Mai Phan Lợi cho rằng đáng ra, những người có thẩm quyền này phải là những nhân vật từ cấp bộ trưởng trở lên.

Nguồn: TKNB – 14/12/2018

So sánh tư duy pháp lý của tư pháp Trung Quốc với Việt Nam


Ngô Ngọc Trai

Hồi tháng 9/2018, một số báo điện tử Việt Nam đưa tin về một vụ việc pháp lý xảy ra tại Trung Quốc. Theo Vnexpress, ngày 1/9, cảnh sát thành phố Côn Sơn, tỉnh Giang Tô đã tuyên bố ông Dư 41 tuổi, không phải chịu bất cứ trách nhiệm hình sự nào liên quan đến cái chết của tài xế Lưu 36 tuổi, và vụ án sẽ được khép lại.

Trước đó, vào đêm 27/8, hai người đàn ông này đã ẩu đả sau khi Lưu điều khiển xe ô tô đi vào làn đường xe đạp và suýt tông trúng ông Dư đang đi xe đạp điện ở phía trước. Sau đó, Lưu ra khỏi xe gây gổ với ông Dư, rồi quay lại lấy mã tấu từ ghế sau và dọa chém người thợ điện đi xe đạp. Không may, Lưu bị ông Dư quật ngã, cướp vũ khí và chém liên tiếp khiến tài xế xe sang phải bỏ chạy. 5 nhát chém trong vòng 7 giây khiến Lưu bị đứt một trong các tĩnh mạnh chính và ruột. Lưu được đưa tới bệnh viện cấp cứu nhưng tử vong do mất quá nhiều máu, trong khi ông Dư chỉ bị thâm ở cổ và người.

Báo chí đưa tin, vụ việc tạo ra cuộc tranh luận sôi nổi trên mạng xã hội Trung Quốc về việc liệu hành động của người đi xe đạp có vượt quá quyền tự vệ hợp pháp hay không?

Truyền thông đaưa tin Lưu từng có tiền án, tiền sự, bao gồm bắt người đòi tiền chuộc, trộm cắp và hành hung. Khi xảy ra ẩu đả, Lưu cũng đang lái xe trong tình trạng say xỉn.

Theo cảnh sát, Lưu đã đe dọa tính mạng của người đi xe đạp và phạm tội hành hung nghiêm trọng. Ông Dư được xác định chỉ hành động tự vệ và kết luận này đã được công tố viên tán đồng.

Có tiến bộ về quyền con người

Trung Quốc lâu nay vốn bị xem là nhà nước độc tài kém tôn trọng nhân quyền, nhưng vụ xét xử trên cho thấy họ cũng có tiến bộ lớn trong vấn đề bảo hộ nhân quyền.

Bình luận về vụ án, một giáo sư thuộc Đại học Luật và Khoa học Chính trị Trung Quốc khuyến khích việc chấp nhận điều này một cách rộng rãi hơn trong bộ máy tư pháp. Truyền thông nhà nước Trung Quốc bày tỏ sự ủng hộ với cuộc điều tra của cảnh sát, mô tả đây là “một thắng lợi của luật pháp”.

Bản thân tôi là một luật sư hành nghề ở Việt Nam thường xuyên quan tâm đến những tiến bộ của nền tư pháp, tôi đánh giá cao phán quyết của cơ quan tư pháp Trung Quốc trong vụ này. Đó là một sự trưởng thành, tiến bộ lớn về vấn đề tôn trọng và bảo hộ tính mạng sức khỏe công dân. Vì khi xác định vô tội đối với người đàn ông tự vệ, mặc dù đã đánh chết kẻ kia, đó chính là sự bảo hộ tính mạng sức khỏe công dân là bất khả xâm phạm.

Một điểm đáng chú ý nữa là khoảng thời gian từ khi xảy ra vụ án đêm 27/8 đến khi công an có kết luận là ngày 1/9 là chỉ 6 ngày, với thời gian không dài, cơ quan tư pháp Trung Quốc đã đưa ra được một phán quyết như vậy, tôi cho rằng những tư duy pháp lý của họ đã tiến bộ rất xa.

Nhìn lại Việt Nam

Mới đây, ngày 1/11, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên án 9 năm tù đối với một người đàn ông 51 tuổi ở Bắc Từ Liêm về tội giết người vì đã chém trọng thương một thiếu niên 17 tuổi nửa đêm vào nhà ăn trộm. Phán quyết này cũng gây ra tranh cãi với nhiều ý kiến bất bình vì lẽ chống trộm là phòng vệ chính đáng và tôi đồng ý với quan điểm này.

Đặt vụ án trong bối cảnh xã hội Việt Nam lâu nay đã xảy ra rất nhiều vụ đột nhập vào nhà mà ban đầu là trộm cắp, sau đó là giết người khi bị phát hiện. Mà không chỉ giết 1 người, nhiều vụ đã giết cả nhà. Đỉnh cao tội ác là vụ án Lê Văn Luyện giết 3 người trong 1 gia đình xảy ra hồi năm 2011 ở Bắc Giang. Hay như mới đây, giữa đêm 17/8, một người đàn ông từng là cán bộ tư pháp phường ở thành phố Hưng Yên đã đột nhập vào nhà người khác để ăn trộm, khi bị phát hiện đã đâm chết cả 2 vợ chồng chủ nhà.

Cũng ở Hưng Yên, ngày 5/11, một thiếu niên hàng xóm cũng đột nhập vào nhà một nữ giáo viên về hưu ở huyện Phù Cừ để ăn trộm, và khi bị phát hiện đã giết bà giáo.

Ngày 6/11, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An cũng đưa ra xét xử, tuyên án 16 năm tù đối với 1 bị cáo vì ban đêm đột nhập vào nhà một phụ nữ ăn trộm, khi bị phát hiện đã chém 23 nhát dao giết chết chủ nhà. Và rất nhiều vụ mà báo chí đã đưa tin.

Đặt trong tình trạng xã hội mất an ninh như vậy thì hành vi chém trộm của người đàn ông ở Bắc Từ Liêm cần được xem là tự vệ chính đáng, và ngành tòa án đúng ra phải trao quyền cho người dân được tự vệ giết kẻ đột nhập mới phải. Nếu Tòa án Hà Nội tuyên bố vô tội cho người đàn ông chém trộm thì đó sẽ là một bước tiến bộ lớn về tư duy pháp lý, giống như bước đột phá trong phán quyết của vụ án tại Trung Quốc. Tuy nhiên, Tòa án Thành phố Hà Nội lại xử bị cáo kia 9 năm tù, và nhiều tòa án khác cũng xử lý những vụ tương tự, thì đó là một sai lầm về tư pháp, bộc lộ trình độ tri thức pháp lý yếu kém và không coi trọng quyền được bảo hộ tính mạng sức khỏe và tài sản của công dân.

Trừng phạt người phòng vệ vì đã tấn công kẻ xâm nhập nhà mình, đó là đặt tính mạng và tài sản công dân vào thế rủi ro. Điều đó cũng giống như nhiều việc làm khác bộc lộ cùng một quan điểm, nhận thức, như việc lạm dụng bắt bớ để xảy ra chết người, dễ dàng khám xét và thu giữ tài sản hay những quy định cho phép được thu hồi đất, trưng thu, trưng dụng tài sản. Các hành vi đó đều là biến tướng khác nhau của cùng một lối nhận thức bản chất không coi trọng quyền sống và quyền sở hữu tài sản của công dân.

Nền tư pháp Việt Nam lâu nay chưa khiến cho người dân yên tâm về thứ công lý mà nó mang lại và nó đóng góp rất hạn chế cho công cuộc quản trị đất nước. Nhiều vấn đề, tệ trạng của đất nước có cùng một nguyên nhân, bản chất là do tư pháp yếu kém, không đủ năng lực quản trị xã hội thực thi công lý. Đã đến lúc vấn đề cải cách nền tư pháp cần được coi trọng, đặt ngang với các chính sách quan trọng khác đang được thực hiện lâu nay như chống tham nhũng của Đảng Cộng sản và phát triển kinh tế của Chính phủ. Có như vậy thì một trong những mảng ghép lớn của bộ máy nhà nước (Ở các nước theo thể chế tam quyền phân lập thì tư pháp là 1 trong 3 trụ cột quốc gia) mới phát triển được xứng tầm, đảm đương được vai trò quản trị xã hội và bảo hộ công dân như vai trò vốn có.

Quay trở lại với vụ án tại Trung Quốc. Cách xử lý của họ cho thấy những tư duy pháp lý của tư pháp Trung Quốc đã tiến bộ, bỏ xa Việt Nam. Sự tiến bộ của tư pháp Trung Quốc còn thể hiện qua việc từ hàng chục năm trước, họ đã cải cách thể chế bộ máy nhà nước, chuyển giao quyền quản lý các trại giam giữ từ Bộ Công an sang cho Bộ Tư pháp, tiệm cận với khung khổ pháp lý chuẩn mực tiến bộ, cái mà Việt Nam hiện nay vẫn chưa làm được.

Nguồn: BBC

TKNB – 11/12/2018

Giải pháp nào cho mục tiêu một triệu doanh nghiệp


Ngô Ngọc Trai

Từ những năm trước, các ban ngành nhà nước đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 cả nước sẽ có một triệu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, mục tiêu này đến nay được đánh giá là không thể đạt được. Chỉ còn 2 năm nữa đến mốc thời hạn cuối cùng, nhưng theo số liệu báo cáo của Tổng cục Thống kê mới đây về tình hình doanh nghiệp, tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế tính đến thời điểm 31/12/2017 mới chỉ đạt 561.064 doanh nghiệp.

Trong 9 tháng đầu năm 2018, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 96.611, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 22.897, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh là 23.053, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể là 50.050, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 11.536. Đến tháng 9/2018, số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trong toàn bộ nền kinh tế đạt khoảng 595.933 doanh nghiệp.

Vậy làm thế nào để gia tăng số doanh nghiệp hoạt động cho nền kinh tế? Giải pháp nào nếu được thực hiện sẽ giúp gia tăng số doanh nghiệp và nâng cao chất lượng của nền kinh tế?

Không thấy “phá sản”

Trong các số liệu của Tổng cục Thống kê nêu trên được thể hiện trong báo cáo của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tại kỳ họp thứ 6 không thấy có số liệu về doanh nghiệp pháp sản. Trong khi báo cáo có các số liệu cập nhật rất đầy đủ về doanh nghiệp giải thể, doanh nghiệp ngừng hoạt động có đăng ký và không đăng ký, doanh nghiệp chờ giải thể.

Theo luật hiện nay, giải thể là hình thức chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp trong khi vẫn đủ khả năng trả hết các khoản nợ. Còn phá sản là thủ tục chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp khi đã mất khả năng thanh toán. Nhưv ậy, đối với số doanh nghiệp giải thể có thể lạc quan là vấn đề nợ đọng của doanh nghiệp vẫn được đảm bảo và hy vọng về khả năng quay trở lại của doanh nghiệp vẫn còn. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp phá sản thì sự vắng bóng của số liệu phải chăng do người ta không muốn làm tối màu bức tranh kinh tế?

Vì sao vậy?

Dù không có số liệu về doanh nghiệp phá sản nhưng làm phép loại suy, chúng ta vẫn có thể hình dung ra được con số. Theo số liệu thống kê, số doanh nghiệp ngừng hoạt động có đăng ký đã có, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể đã có, còn lại là số doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc đang chờ giải thể là 50.050 doanh nghiệp.

Do vậy, những doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký mà cũng không làm thủ tục giải thể có thể quy là lâm vào tình trạng mất khả năng trả nợ. Như vậy, có thể nhận định số doanh nghiệp thực chất lâm vào tình trạng phá sản là một phần nào đó nằm trong con số 50.050 doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc đang chờ giải thể này. Đây mới chỉ là con số của 9 tháng đầu năm 2018, nếu tính cộng số liệu trong nhiều năm thì con số doanh nghiệp thực chất lâm vào tình trạng phá sản sẽ còn cao hơn.

Nếu có cơ chế giúp giải quyết nhanh chóng số doanh nghiệp này, tất toán các khoản công nợ và kết thúc mọi nghĩa vụ cho chủ doanh nghiệp, khi đó, chúng ta sẽ mở ra cơ hội cho sự quay trở lại của một số lượng rất lớn doanh nhân có kinh nghiệm. Đó chính là mấu chốt của vấn đề giúp gia tăng số lượng để đạt đến mục tiêu một triệu doanh nghiệp.

Phá sản giúp giải thoát khỏi nợ nần

Vì sao lâu nay số lượng doanh nghiệp thự chiện thủ tục phá sản lại ít đến nỗi không có số liệu để mà báo cáo? Nguyên nhân một phần là do nhận thức, một phần là do năng lực thực thi.

Về nhận thức, hiện tại nhiều người vẫn chưa hiểu hết về phá sản doanh nghiệp và thường hay đánh đồng phá sản với tội phạm trốn nợ, trong khi chỉ một số nhất định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản do chủ doanh nghiệp làm việc gì đó vi phạm pháp luật.

Còn lại rất nhiều trường hợp tình trạng mất khả năng trả nợ đơn thuần là do vấn đề năng lực quản trị, kế hoạch kinh doanh, nghị lực vươn lên, hoặc những biến động thị trường.

Khi đó, việc mất khả năng trả nợ chỉ đơn thuần là quan hệ pháp luật dân sự. Trong quan hệ pháp luật dân sự, khi hết tài sản không còn gì nữa thì con nợ cũng được giải thoát khỏi trách nhiệm trả nợ.

Giống như trong rất nhiều bản án dân sự do tòa án tuyên buộc bên này phải trả tiền cho bên kia, nhưng nếu không có tiền để thi hành án thì cũng thôi chứ không làm gì được bên có nghĩa vụ nữa.

Trong các doanh nghiệp như cổ đông góp vốn trong công ty cổ phần hay thành viên góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn thì những người này cũng chỉ chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp của họ. Khi đó, thủ tục phá sản thực ra là quy trình pháp lý giúp tất toán các hợp đồng, kết thúc một chu kỳ quan hệ về quyền lợi nghĩa vụ dân sự.

Sau khi xác định các khoản nợ và mức độ tài sản hiện còn của doanh nghiệp, thủ tục phá sản sẽ được thực hiện. Khối tài sản ít ỏi còn lại sẽ được dùng để chi trả cho các khoản nghĩa vụ lần lượt được xác định. Sẽ có những khoản nợ không được hoàn trả vì tài sản doanh nghiệp đã hết. Và khi đó, chủ nợ cũng đành phải chấp nhận. Lúc đó, thủ tục phá sản chính là cách để giải thoát trách nhiệm cho các doanh nhân khỏi các vướng mắc pháp lý, làm sạch bản thân để từ đó có thể có một khởi đầu mới.

Theo Luật Phá sản năm 2014 đang có hiệu lực thi hành, chế tài cuối cùng mà một chủ doanh nghiệp có thể phải chịu là bị cấm thành lập doanh nghiệp hoặc tham gia quản lý doanh nghiệp trong thời hạn 3 năm. Tuy nhiên, chế tài đó chỉ áp dụng cho những người đã có hành vi bất hợp tác chống đối trong quá trình xử lý thủ tục phá sản. Còn lại hầu như không có vấn đề gì đối với một chủ doanh nghiệp thực hiện thủ tục phá sản.

Lợi ích như vậy mà lâu nay rất ít doanh nghiệp thực hiện cho xong thủ tục phá sản một doanh nghiệp. Và điều đáng buồn là tình trạng này lại một lần nữa làm lộ ra vấn đề năng lực của ngành tư pháp Việt Nam. Bởi lẽ, thủ tục phá sản là một trình tự tư pháp được thực hiện bởi tòa án. Quyết định về phá sản doanh nghiệp có hiệu lực thực thi tương tự bản án. Song những thủ tục tư pháp nhiêu khê và năng lực thực thi yếu kém đang là nguyên nhân khiến cho rất ít doanh nghiệp thực hiện thủ tục phá sản, ít đến nỗi không có cả số liệu thống kê về phá sản.

Hiện nay, để gia tăng số lượng doanh nghiệp hoạt động trong nền inh tế, các ban ngành cần phải giải quyết cho thông suốt vấn đề doanh nghiệp phá sản.

Nguồn: BBC

TKNB – 20/11/2018

CPTPP đòi hỏi Việt Nam thay đổi hệ thống pháp luật


Tuần qua, có nhiều sự kiện quốc tế quan trọng và Việt Nam đã tham gia tích cực vào những sự kiện này. Hội nghị cấp cao APEC đã kết thúc với việc lãnh đạo các nền kinh tế trong khu vực thảo luận về những rủi ro và thách thức đối với nền kinh tế toàn cầu, về chủ nghĩa bảo hộ và nền kinh tế kỹ thuật số.

Đầu tuần qua, Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Bà Tatiana Flegontova, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu APEC, Học viện Kinh tế quốc dân và hành chính quốc gia trực thuộc Tổng thống, cho rằng sự tham gia của Việt Nam vào CPTPP sẽ làm tăng thu nhập thực tế của nước này lên 11 tỷ USD vào năm 2030. Nếu Mỹ không rút khỏi thỏa thuận, con số này có thể lên đến 41 tỷ USD. Tuy nhiên, CPTPP cũng mở rộng cửa cho các nước khác trong khu vực, và các quốc gia, vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Indonesia và Đài Loan đang thể hiện sự quan tâm đến nó. Nếu họ cũng tham gia hiệp định, thu nhập thực tế của Việt Nam sẽ lên tới 25 tỷ USD.

Bà Tatiana Flegontova nói: “CPTPP có kiểu cơ cấu tổ chức mới. Đây không chỉ là một khu vực thương mại tự do quy mô lớn. Ở đây, hoạt động của các công cụ thuế quan bị hạn chế, và điều quan trọng nhất là điều hòa các biện pháp phi thuế quan. Mỹ từng đề xuất nhiều biện pháp như vậy. Điều đó đã gây ra sự phản đối và dẫn đến các cuộc tranh luận gay gắt giữa các bên khác tham gia thỏa thuận. Tuy nhiên, các nước đó rất muốn thâm nhập vào thị trường Mỹ đầy hứa hẹn, vì vậy, họ đã chấp nhận các biện pháp không hấp dẫn đối với mình.

Hiện nay, sau khi Mỹ rút khỏi thỏa thuận, nhiều biện pháp bị đóng băng. Các nước tham gia CPTPP không từ bỏ hiệp định vì vẫn hy vọng Mỹ sẽ quay trở lại. Kết quả là nội dung về sở hữu trí tuệ được quy định tại Chương 18 của hiệp định đang bị đóng băng. Đây là lĩnh vực Mỹ đứng hàng đầu và là động cơ của cuộc cải cách đang được thực hiện ở các nước – đối tác thương mại. Các nước này cũng đưa ra những sửa đổi quy tắc đầu tư”.

Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư (ISDS) vẫn giữ nguyên. Công ty nước ngoài có thể khởi kiện Chính phủ lên tổ trọng tài quốc tế, bỏ qua các tòa án quốc gia, khi quốc gia này vi phạm nghĩa vụ của mình và vi phạm đó gây tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài. Chương riêng về các doanh nghiệp nhà nước do Mỹ đề xuất cũng giữ nguyên. Các điều khoản của chương này gây phức tạp cho các công ty nhà nước để nhận tài trợ và được cấp ưu đãi.

Cuối cùng, thỏa thuận không cho phép các quốc gia thành viên đòi hỏi các công ty phải nội địa hóa dữ liệu và cho phép sử dụng hệ thống máy chủ toàn cầu. Quy định này trái với Luật An ninh mạng của Việt Nam. Tuy nhiên, văn bản Hiệp định CPTPP giải thích rõ thêm rằng, quy tắc này sẽ không được áp dụng tại Việt Nam chừng nào các cơ quan chức năng chưa áp dụng các cơ chế pháp lý để bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Bà Tatiana Flegontova nói: “Việc tham gia CPTPP đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện nhiều công việc nghiêm túc liên quan đến Luật lao động. Ở đây nói về việc thành lập các tổ chức công đoàn và cơ chế giải quyết tranh chấp lao động. CPTPP áp đặt tiền phạt nặng nề đối với các vụ vi phạm tiêu chuẩn lao động. Hiện nay, theo CPTPP, Việt Nam phải phê chuẩn tất cả 8 công ước cơ bản của Tổ chức lao động quốc tế. Đại diện Việt Nam đã yêu cầu đóng băng chương này. Tuy nhiên, theo kết quả các cuộc đàm phán, các bên thông qua quyết định giữ nguyên nó. Việt Nam còn 7 năm để đưa ra những sửa đổi pháp luật cần thiết trước khi các biện pháp trừng phạt thương mại có hiệu lực”.

Điều gì sẽ xảy ra nếu Mỹ quyết định quay trở lại TPP? Sau đó, thỏa thuận phải được sửa đổi một lần nữa, phải khôi phục các chương đang “bị đóng băng”. Xét theo lập trường của Tổng thống Donald Trump, việc khôi phục các chương cũ là không đủ, ông Trump có thể yêu cầu tạo điều kiện đặc biệt cho Mỹ. Vì vậy, Washington có thể gia nhập CPTPP sau khi ông Trump rời ghế tổng thống.

Nguồn: Sputnik

TKNB – 20/11/2018