Tiến bộ của Trung Quốc trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ


William Weightman

Trung Quốc từ lâu đã được coi là “công xưởng của thế giới”, nơi sản xuất ra hàng hóa chất lượng thấp, bắt chước sản phẩm và mô hình kinh doanh của các công ty nước ngoài. Mặc dù có sự can thiệp mạnh mẽ của chính quyền hay các giá trị giáo dục của tư tưởng Nho giáo, Trung Quốc vẫn là mảnh đất của công nghệ sao chép và không tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ (IPR).

Điều này có chính xác không?

Nhiều công ty Mỹ vẫn tin như vậy. Theo một cuộc điều tra năm 2017 do Phòng Thương mại Mỹ thực hiện tại Trung Quốc, các doanh nghiệp có quan điểm chia rẽ về luật và các quy định về quyền sở hữu trí tuệ của Trung Quốc; nhưng hơn một nửa số doanh nghiệp được hỏi hoài nghi rằng luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ được thực thi đầy đủ ở Trung Quốc.

Các công ty nước ngoài than phiền rằng việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc là rất khó do chủ nghĩa bảo hộ của nhánh tư pháp ở địa phương, khó khăn trong thu thập bằng chứng, các khoản đền bù thiệt hại nhỏ, và có sự thiên vị cho các doanh nghiệp trong nước.

Tuy nhiên, trong một thập kỷ qua, Trung Quốc đã ngày càng đổi mới và chứng minh rằng nước này đang nghiêm túc thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Thật vậy, khi các công ty Trung Quốc mở rộng hoạt động ở nước ngoài và đổi mới công nghệ ở trong nước, các công ty này ngày càng đòi hỏi chính phủ thực hiện nghiêm việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Trên thực tế, nhiều quan ngại của các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc đã được giải quyết thông qua cải cách hệ thống pháp luật và các cơ chế thực thi mới.

Chủ nghĩa bảo hộ của nhánh tư pháp ở địa phương

Một quan ngại lớn nhất đối với việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc là các vụ kiện được đệ trình lên tòa án cấp uận, huyện sẽ bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa bảo hộ của nhánh tư pháp ở địa phương. Sách Trắng của Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc cho biết nước này đã có những bước đi quan trọng để loại bỏ chủ nghĩa bảo hộ của nhánh tư pháp ở địa phương và đảm bảo quy trình xét xử công bằng trong các vụ kiện liên quan đến sở hữu trí tuệ ở cấp quốc gia. Tháng 10/1995, Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc đã thành lập một cơ quan chuyên giám sát các vụ kiện liên quan tới sở hữu trí tuệ. Năm 2014, 3 thành phố của Trung Quốc là Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu, Thành Đô, và Vũ Hán cũng thành lập các tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ.

Do các tòa án chuyên trách này có quyền xét xử sơ thẩm tất cả các vụ kiện về sở hữu trí tuệ tại tỉnh, thành tương ứng, điều này sẽ làm giảm tác động tiêu cực của chủ nghĩa bảo hộ ở địa phương bằng cách loại bỏ cấp địa phương (quận, huyện) khỏi quy trình xét xử. Hệ thống tòa án chuyên trách cũng có thể cung cấp các thẩm phán có trình độ, cùng các điều tra viên về kỹ thuật có chuyên môn để giải quyết các vụ kiến phức tạp. Như vậy, việc này sẽ đảm bảo các đương sự trong và ngoài nước được xét xử công bằng.

Những thách thức trong việc thu thập chứng cứ

Để có thể khởi kiện, nguyên đơn cần có bằng chứng xác thực. Tại Mỹ, các bên thường thu thập thông tin qua thủ tục điều tra trước khi xét xử, bao gồm thẩm vấn và cung cấp lời khai, cũng như yêu cầu được tiếp cận các tài liệu, tài sản thực và hạng mục khác liên quan. Tuy nhiên, Trung Quốc hiện chưa có một quy trình chính thức nào như vậy và không có quy định yêu cầu những bên xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cung cấp bằng chứng, chẳng hạn như tài liệu bán hàng hoặc sổ sách kế toán, mà có thể được sử dụng để chứng minh sự vi phạm. Trên thực tế, nguyên đơn phải đảm nhận hoàn toàn gánh nặng cung cấp bằng chứng. Nhiều công ty cho rằng điều này làm cho họ không thể khiếu kiện tại Trung Quốc.

Tuy nhiên Điều 65 của Luật tố tụng dân sự Trung Quốc quy định: “Tòa án nhân dân có thẩm quyền thu thập chứng cứ từ các đơn vị, cá nhân có liên quan, và các đơn vị, cá nhân đó không được từ chối cung cấp bằng chứng”; quy định này giúp giảm nhẹ gánh nặng cung cấp bằng chứng cho nguyên đơn, song hiện nay vẫn chưa được áp dụng rộng rãi.

Năm 2015, Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc đã ban hành một văn bản diễn giải mới cho Luật tố tụng dân sự. Điều 112 của văn bản này cho phép một bên của vụ kiện liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ yêu cầu tòa án ra lệnh cho bên kia đưa ra các bằng chứng cụ thể. Cách diễn giải mới có mục tiêu tạo ra một quy trình công bằng để thu thập thông tin.

Tiền bồi thường không đáng kể

Các diễn giải mới về bằng chứng cũng sẽ giúp giải quyết vấn đề tiền bồi thường thiệt hại. Nhiều doanh nghiệp cho rằng việc khởi kiện về sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc là không đáng làm, vì khoản bồi thường thiệt hại quá nhỏ. Một tính toán cho thấy, người chiến thắng trong một vụ kiện về sở hữu trí tuệ nhận được khoảng 36% khoản bồi thường họ đòi, với mức đền bù trung bình khoảng 80.000 NDT (12.400 USD), trong khi chi phí pháp lý vào khoảng 10.000 NDT đến 30.000 NDT (1.550 USD đến 4.650 USD).

Tuy nhiên vào tháng 7/2017 tại Hội nghị công tác tài chính quốc gia, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố nước này “phải tăng cường nỗ lực trừng phạt các vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ và buộc những bên vi phạm phải trả giá đắt”. Tuyên bố trên của ông Tập được phản ánh qua đề xuất thay đổi luật sáng chế lần thứ tư. Các mức bồi thường theo luật định sẽ tăng từ 10.0000 NDT lên 1 triệu NDT (1.550 USD đến 155.000 USD), và tăng từ 100.000 NDT lên 5  triệu NDT (155.000 USD đến 775.000 USD).

Thực hiện tuyên bố của lãnh đạo tối cao Trung Quốc, các tòa án của nước này đã nỗ lực nâng mức bồi thường để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Năm 2016, Tòa án về sở hữu trí tuệ tại Bắc Kinh đã xử phần thắng cho nguyên đơn Watchdata System Co., Ltd và ra lệnh cho công ty Hengbao phải bồi thường 49 triệu NDT do vi phạm một bằng sáng chế, cùng chi phí pháp lý là 1 triệu NDT (tổng cộng khoảng 7,2 triệu USD). Tiếp theo là các chiến thắng mang tính bước ngoặt về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc như vụ kiện của hãng giày New Balance đối với 3 nhà sản xuất giày của nước này. 3 nhà sản xuất giày đã phải trả cho New Balance 10 triệu NDT (khoảng 1,5 triệu USD) cho hành vi sao chép logo của New Balance. Ngoài ra, một phán quyết điển hình khác là việc tòa án ra quyết định yêu cầu công ty công nghệ Baofeng trả hơn 6 triệu NDT (930.000 USD) cho Tencent do đã phát sóng 6 tập của chương trình “The Voice of China” mà chưa có bản quyền.

Những trường hợp này cho thấy xu hướng chung là tăng mức bồi thường đối với các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trên thực tế, mức bồi thường trung bình của một vi phạm bằng sáng chế tại Bắc Kinh đã được tòa án tăng hơn 3 lần, từ mức 450.000 NDT (70.000 USD) vào năm 2015 lên mức 1,4 triệu NDT (217.000 USD) trong năm 2016. Hiện tại, các vi phạm về tên thương mại có mức bồi thường trung bình khoảng 1,7 triệu NDT (263.500 USD), còn các vụ kiện về bản quyền có mức bồi thường khoảng 458.000 NDT (71.000 USD).

Vấn đề phân biệt đối xử đối với doanh nghiệp nước ngoài

Cuối cùng, một loạt tổn thất trước các doanh nghiệp ít tên tuổi của Trung Quốc trong các vụ kiện vi phạm bằng sáng chế của các tập đoàn lớn như Apple, Samsung, Sony và Dell, đã khiến nhiều nhà quan sát tin rằng các công ty nước ngoài hầu như không thể có được sự đối xử công bằng tại các tòa án của Trung Quốc.

Nhưng trên thực tế, các công ty nước ngoài vẫn được đối xử công bằng khi đối đầu với các doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ. Một nghiên cứu được tiến hành vào năm 2016 đã chỉ ra rằng từ năm 2006 đến năm 2011, các công ty nước ngoài đã giành chiến thắng trong hơn 70% các vụ kiện về vi phạm bằng sáng chế trước doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc. Hiện nay, tỳ lệ giành chiến thắng đã được tăng lên khoảng 80%. Con số trên đã giúp Trung Quốc trở thành nơi mà các công ty nước ngoài lựa chọn tiến hành các vụ kiện trong tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ.

Về chính sách, tháng 12/2017, Trung Quốc đã hoàn thành một chiến dịch trên phạm vị toàn quốc kéo dài 4 tháng sự phối hợp của 12 cơ quan thuộc chính phủ nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các công ty nước ngoài. Chiến dịch được kỳ vọng sẽ giúp các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ tăng cường hợp tác, tạo ra môi trường lành mạnh cho nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời ngăn chặn các vi phạm trong tương lai.

Mặc dù một số lập luận cho rằng các rào cản chính trị đã ngăn chặn Trung Quốc cải thiện môi trường pháp lý tại nước này, song việc nước này bắt tay thực hiện nhiệm vụ khó khăn là cải cách cơ chế quyền sở hữu trí tuệ đã cho thấy những biến chuyển; nước này không chỉ sửa đổi luật và quy định về sở hữu trí tuệ theo hướng mở rộng việc thu thập chứng cứ, tăng mức bồi thường đối với hành vi vi phạm, Trung Quốc còn thực hiện các chính sách mới nhằm hạn chế sự bảo hộ trong nước và sự phân biệt đối xử với doanh nghiệp nước ngoài.

Tuy hệ thống quy định liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ còn xa mới hoàn hảo, nhưng tác động của những cải cách này không nên bị đánh giá thấp. Những thay đổi trên được đánh giá là đại diện cho một xu hướng tích cực trong môi trường thương mại của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Nếu các doanh nghiệp nước ngoài bỏ qua sự tiến bộ này tại Trung Quốc, họ có thể để lỡ cơ hội kinh doanh tại đây.

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/01/chinas-progress-on-intellectual-property-rights-yes-really/

TLTKĐB – 30/01/2018

Advertisements

Ba trường phái cải cách pháp luật Việt Nam sau Đổi mới


John Gillespie

Có ba luồng tư tưởng chính trong các bài viết đã từng được công bố.

Một, hầu hết các nhà nghiên cứu sử dụng ngôn ngữ pháp lý kỹ thuật để phân tích pháp luật nước ngoài.

Hai, một số nhà nghiên cứu đã thử tái định hình chủ nghĩa Marx – Lenin để khiến cho việc vay mượn pháp luật trở nên khả thi về mặt lý thuyết[1].

Ba, một số ít các nhà nghiên cứu đã thầm lặng thay thế chủ nghĩa Marx – Lenin bằng các lý thuyết xã hội học phương Tây bằng cách đưa việc vay mượn pháp luật vào những bối cảnh thảo luận rộng hơn.

Quay trở lại luồng tư tưởng đầu tiên, hầu hết các nhà nghiên cứu pháp luật đều né tránh việc so sánh về chính trị, kinh tế và đạo đức hết sức nhạy cảm giữa luật nước ngoài và các điều kiện trong nước bằng cách tự thu hẹp chủ đề thảo luận trong các vấn đề kỹ thuật (Đào Bảo Ngọc 1999; Phạm Duy Nghĩa 2000).

Hãy xem xét nhận xét có thể so sánh được của nhà nghiên cứu Hoàng Thế Liên (1996) về năng lực pháp lý trong Luật dân sự châu Âu và Việt Nam. Phân tích của ông tập trung đánh giá câu chữ trên văn bản pháp luật mà không đi sâu vào những học thuyết pháp lý bên dưới, và càng ít hơn nữa các phân tích về chính trị, kinh tế và đạo đức đã hình thành nên những ưu điểm về mặt pháp lý. Ví dụ, năng lực pháp lý của công ty được phân tích bằng cách so sánh ý nghĩa câu chữ của các điều luật khác nhau, mà không tính tới việc giải thích các điều luật này được sử dụng trong các điều kiện kinh tế xã hội và pháp lý khác nhau.

Không nghi ngờ rằng tồn tại nhiều cách giải thích cho cách tiếp cận theo nghĩa đen của pháp luật vay mượn như trên, ví dụ như là sự thiếu hụt về luật so sánh[2] hay các kỹ năng nghiên cứu. Ngoài ra, còn có một mối quan ngại về chính trị vì theo giải thích của Đảng, luật nên “phản ánh ý chí của giai cấp thống trị”. Dự án LNA, được điều phối bởi Bộ Tư pháp, minh họa cho vấn đề trên. Nó phân tích sự phù hợp của luật Việt Nam và các cơ quan pháp luật dựa trên khả năng của họ nhằm hoàn thành bốn chiến lược phát triển kinh tế xã hội được thông qua tại Đại hội IX của Đảng năm 2001[3]. Các viên chức của Bộ đã bỏ qua các báo cáo kinh tế thể hiện rằng các chính sách hội nhập kinh tế của Đảng đã mang lại những kết quả không công bằng và cam kết của chính phủ về cải cách tư pháp đòi hỏi “phải thỏa mãn những tiêu chuẩn quốc tế nhằm giúp Việt Nam thực thi những cam kết quốc tế của mình” (Bộ Tư pháp 2002:25). Các quan điểm cho rằng việc nhập khẩu pháp luật cũng có thể làm “xói mòn” các giá trị văn hóa Việt Nam cũng bị bỏ qua.

Nếu các nhu cầu pháp luật chủ yếu được xem xét từ góc độ chính trị của Đảng và nhà nước, thì vấn đề liệu pháp luật nước ngoài có tương thích với hoàn cảnh trong nước không sẽ trở thành không quan trọng. Mặc dù các nhà làm luật nhìn chung khá cảnh giác với thực tế là các bộ luật không phù hợp sẽ thường đưa ra những kết quả không mong muốn, họ bị giới hạn trong việc nội địa hóa pháp luật trong một môi trường nhận thức khép kín nơi mà các quan điểm pháp lý phải lệ thuộc vào chính trị. Pháp luật được vay mượn thường xuyên được coi như là một lĩnh vực kỹ thuật, không dính dáng gì tới các ngữ cảnh chính trị, kinh tế, đạo đức và văn hóa.

Luồng tư tưởng thứ hai để lộ ra sự căng thẳng giữa các giới hạn chính trị và các tư tưởng pháp lý, và các chính sách của chính phủ giờ đây khuyến khích các nhà lập pháp xem xét tới ảnh hưởng xã hội của các luật mới[4]. Chính sách này làm các các nhà lập pháp dũng cảm hơn trong việc tìm kiếm những phương pháp mới để nội địa hóa luật nước ngoài. Trong khi vẫn giữ vững niềm tin rằng chủ nghĩa Marx – Lenin “vẫn là hệ tư tưởng khoa học và sáng tạo nhất trên thế giới”, họ nhấn mạnh tới việc cần thiết phải áp dụng các lý thuyết xã hội chủ nghĩa một cách uyển chuyển hơn trong hoàn cảnh mới (Lê Hồng Hạnh 1998:319).

Trao đổi với các luật sư Liên Xô trở nên khó khăn và chậm chạp hơn sau khi Cộng hòa Liên bang Nga được thành lập, và các nhà lý thuyết Việt Nam bắt đầu tìm kiếm những nguồn tư tưởng pháp lý mới. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều không có đủ khả năng ngôn ngữ cần thiết để hiểu sâu hơn về lý thuyết của Trung Quốc và, trong một số trường hợp, họ coi các tư tưởng pháp lý Trung Hoa là kém phát triển. Một vài nhà nghiên cứu đã chuyển sang tìm kiếm từ các nguồn tư tưởng trong nước, trong khi một số khác lại tìm kiếm ở nước ngoài.

Đào Trí Úc là một trong số rất nhiều các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm các tư tưởng pháp luật mới từ chính các nguồn trong nước. Như đã nói ở trên, ông ta cố gắng làm cho pháp luật vay mượn từ Liên Xô trở nên liên quan hơn bằng việc tái xác định lại hệ thống quan điểm kiến trúc thượng tầng – cơ sở hạ tầng của Marx để đánh giá việc vay mượn pháp luật từ các nước tư bản. Một số nhà nghiên cứu khác thì đã sáng tạo sử dụng tư tưởng pha trộn từ phương Tây, chủ nghĩa Marx – Lenin và các quan điểm truyền thống Việt Nam của Hồ Chí Minh như là “một cái ô về chính trị” để lén đưa những khái niệm mới vào trong các tranh luận pháp lý. Họ tìm kiếm và chọn lọc những tư tưởng của Hồ Chí Minh về “pháp quyền” hoặc những cách ngôn của Khổng giáo để mở ra một môi trường nhận thức chấp nhận những quan điểm vượt ngoài những phân tích giai cấp được Đảng cho phép (Trần Đình Huỳnh 1999; Lê Minh Tông 2000).

Mượn ý tưởng từ các nghiên cứu nước ngoài, một số lý thuyết gia đã cố gắng để mở rộng danh mục nhận thức bằng việc gia tăng cái khung hạn hẹp của các quan hệ pháp luật Xô viết chính thống. Khoa luật học Liên Xô du nhập vào Việt Nam những năm 1960 coi pháp luật là công cụ để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trước tiên, Nhà nước phân loại các quan hệ xã hội tùy theo các đặc điểm giai cấp và sau đó ban hành các đạo luật để điều chỉnh các mối quan hệ này trong “ngành tư pháp độc lập” đã được xác định từ trước. Phép phân loại của pháp luật Xô viết vẫn vận hành tốt trong nền kinh tế kế hoạch, nhưng giờ đây lại giới hạn giới lập pháp Việt Nam trong việc suy nghĩ về pháp luật thị trường theo một cách có hệ thống.

Hệ thống phân loại của pháp luật tài chính Liên Xô minh họa vấn đề này. Những hệ thống này đã được phát triển để phân loại các giao dịch tài chính trong một nền kinh tế chỉ huy tập trung và ảnh hưởng tới việc các pháp nhân nhận thức về pháp luật. Ví dụ, hệ thống phân loại Xô viết coi hoạt động đấu thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của luật tài chính công, bởi tiền được trả từ ngân sách nhà nước. Bởi vậy, rất khó khăn cho các luật sư để xem xét luật tư trong luật đấu thầu của Liên Xô.

Khái niệm được du nhập rằng sự “công bằng pháp luật” phải cân đối với lợi ích xã hội đã trực tiếp thách thức quan điểm Xô viết coi pháp luật là công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Như một nhà nghiên cứu đã chỉ ra, “luật nên gắn liền với chính trị nhưng không phải là nô lệ của nhà nước” (Nhà nước và Pháp luật 1996:116 – 7). Nói cách khác. luật cụ thể hóa những chính sách chính trị, nhưng không phải công cụ quản lý. Cách suy nghĩ mới này cho phép các luật sư vượt qua hệ thống phân loại từ trên xuống kiểu Xô viết và khái niệm hóa những quan hệ pháp luật mới.

Một số nhà nghiên cứu khác đã cố gắng pha trộn những quan điểm Marxist với những lý thuyết phương Tây nhấn mạnh tới sự kết nối giữa luật và văn hóa, đặc biệt là văn hóa pháp lý phương Tây. Tác phẩm của họ đã vô thức vay mượn khái niệm “vô thức tập thể[5]” của Durkheim – cho rằng nếu xã hội là một môi trường đạo đức không nhìn thấy được bao quanh mỗi cá nhân, thì pháp luật chính là sự biểu thị của “tình cảm cộng đồng” (Durkheim 1960). Thông qua việc lập luận rằng pháp luật phản ánh những tập tục của xã hội và “tình làng nghĩa xóm”, họ không bằng lòng với việc cự tuyệt hệ quan niệm kiến trúc thượng tầng – cơ sở hạ tầng của Marx và nắm chặt lấy một lý thuyết xã hội có thể giải thích hoàn toàn sự phụ thuộc lẫn nhau giữa luật pháp và xã hội (Lê Minh Tâm 1998). Nếu không có bước cuối cùng này, lý thuyết của họ sẽ thiếu đi một phương pháp luận mà các nhà lập pháp cần để luật lệ hóa những quan điểm truyền thống.

Luồng quan điểm thứ ba tương phản với những cách tiếp cận mang tính lý thuyết của hai luồng quan điểm trước, bởi vì nó sử dụng lý thuyết xã hội học phương Tây để né tránh chủ nghĩa Marx – Lenin. Sự chuyển dịch tế nhị trong tư tưởng này được bộc lộ bởi những ý nghĩa hàm ẩn trong câu chữ chứ không phải trên mặt giấy. Những nhà nghiên cứu [theo trường phái này] hiếm khi đề cập tới các công thức của chủ nghĩa Marx – Lenin và phân tách rõ ràng những quan điểm chính trị, kinh tế, đạo đức và pháp luật. Được giải phóng khỏi hệ thống lý luận về kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng, họ hoàn toàn tự do trong việc khái niệm khóa những tương tác phức tạp giữa những hệ luật pháp được du nhập và xã hội bản xứ.

Một số luật sư được đào tạo ở Đức, dựa trên lý thuyết của Weber[6] rằng du nhập pháp luật kinh tế nước ngoài chỉ tạo ra những hành vi như mong muốn [trong xã hội bản xứ] khi chúng [những pháp luật vay mượn] trở nên quen thuộc và phổ thông với quần chúng, được định nghĩa rõ ràng, có thể dự đoán được và trong sáng[7] (Phạm Duy Nghĩa 2000, 2001). Họ duy trì quan điểm cho rằng những hệ thống pháp luật vay mượn vội vàng từ phương Tây sẽ không tương thích với tư duy pháp lý nội địa và sẽ không thể “bén rễ” thành công ở Việt Nam.

Phạm Duy Nghĩa (2000) lập luận rằng rất nhiều những tiêu chuẩn pháp lý về thương mại ở phương Tây được dựa trên những quan điểm của hệ thống chính trị và kinh tế tư bản chủ nghĩa, do đó sẽ không tương thích với những cấu trúc gia đình truyền thống và những mối liên kết tình cảm đã định hình “nền pháp lý nông dân[8]” của Việt Nam. Ông ta minh họa quan điểm này bằng Điều 8 và Điều 9 Luật Thương mại 1997[9], vay mượn những nguyên lý [điều chỉnh] cạnh tranh không lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng từ pháp luật phương Tây, lại có chức năng như là những khẩu hiệu chính trị lý tưởng trong nền kinh tế Việt Nam vốn bị nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Ông ta kết luận rằng nhìn chung, các hệ thống pháp luật vay mượn từ phương Tây không tương thích với điều kiện kinh tế và văn hóa quốc gia, mà việc vay mượn pháp luật chỉ là phương tiện mang tính thực tiễn nhằm nhanh chóng ban hành khung pháp lý thương mại do yêu cầu bắt buộc của việc hội nhập kinh tế quốc tế. “Sự hài hòa của pháp luật” là một dự án dài hơi đòi hỏi nhà nước phải dành nhiều nỗ lực cho các công tác nghiên cứu cũng như điều chỉnh những xung đột giữa các quan điểm của nước ngoài với tình hình xã hội Việt Nam.

Dịch giả: Étranger Nguyen

Dịch từ chương Changing Concepts of Socialist Law in Vietnam” của tác giả John Gillespie

Trích từ “Asian Socialism and Legal Change: The Dynamics of Vietnamese and Chinese Reform” (“CNXH và thay đổi luật pháp ở châu Á: Động năng của cải cách ở Việt Nam và Trung Quốc”)

—-

Chú giải của tác giả

[1] Tức là làm cho việc vay mượn pháp luật không mâu thuẫn với chủ nghĩa Marx – Lenin

[2] comparative law

[3] Tham khảo http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/noidungvankiendaihoidang?categoryId=10000714&articleId=10038387

[4] Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (chú thích của tác giả).

Tham khảo: http://www.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=27885

[5] Tham khảo https://en.wikipedia.org/wiki/Collective_consciousness

[6] Max Weber (1864 – 1920) là nhà xã hội học, triết học, luật gia và nghiên cứu chính trị người Đức. Được coi là một trong những cha đẻ của ngành xã hội học. Tham khảo https://en.wikipedia.org/wiki/Max_Weber

Một số tác phẩm của Weber đã được xuất bản tại Việt Nam. Tham khảo http://www.nxbtrithuc.com.vn/Danh-muc-tu-sach/2654751/329/Nen-dao-duc-Tin-lanh-va-tinh-than-chu-nghia-tu-ban.html

[7] Trong nguyên bản, tác giả chú thích: “tinh pho thong”, “xac dinh on dinh”, “co the du doan truoc”, “tinh ro rang’. Người dịch thay đổi một số thuật ngữ cho phù hợp với văn cảnh.

[8] Tác giả chú thích bằng tiếng Việt không dấu. Tìm kiếm trên Internet không cho thấy kết quả liên quan, có thể là do cách dịch khác nhau.

[9] Tham khảo toàn văn tại http://moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=8540

Không thể dựa vào liên kết quyền lực mà vi phạm pháp luật


Bình luận trên đài BBC, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), cho rằng những lãnh đạo ngân hàng hiện nay đã rút ra được bài học rằng kh6ong thể chỉ dựa vào liên kết với cán bộ cao cấp trong bộ máy quyền lực mà vi phạm pháp luật.

Bình luận về thực trạng của một số vụ án trong ngành ngân hàng, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói: “Hệ thống ngân hàng Việt Nam là một hệ thống phát triển rất nhanh trong thời gian vừa qua. Để có thể hoạt động tốt, một số lãnh đạo ngân hàng đã liên kết với các cán bộ cấp rất cao trong bộ máy quyền lực. Họ nghĩ là với những liên kết như vậy, họ có thể bước lên trên các quy định pháp luật để phục vụ lợi ích nhóm. Điều đó có thể thực hiện được khi nhân vật đó còn nắm quyền lực trong tay, nhưng khi người đó không còn làm việc hay nghỉ hưu, có thể phải đối mặt với những cáo trạng về pháp luật. Đó là thực trạng của một số vụ án chúng ta thấy như hiện nay”.

Bài học cho lãnh đạo ngân hàng

Theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, những sai phạm của hệ thống ngân hàng gần đây được đưa ra khá rầm rộ. Ông nói: “Có tới hơn 100 vụ được khởi tố với hàng trăm nhân vật trong hệ thống ngân hàng đã và sẽ bị điều tra hay bị bắt. Đến một lúc nào đó, người ta sẽ đặt câu hỏi trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước như thế nào. Trách nhiệm đó gồm trách nhiệm tinh thần, hành chính, tài chính và hình sự. Trong thời gian sắp tới, sớm hay muộn, vấn đề (quy trách nhiệm) này sẽ được quyết định”.

Về bài học mà các lãnh đạo ngân hàng hiện nay có thể rút ra sau những sai phạm trong ngành ngân hàng, Tiến sĩ Doanh nói: “Những người lãnh đạo ngân hàng hiện nay đã học được những bài học kinh nghiệm là không thể chỉ dựa vào mối quan hệ quen biết với một số người có quyền lực mà có thể hành động vi phạm pháp luật. Vì việc đó có thể sẽ bị trả giá rất đắt. Chẳng hạn, ngân hàng nhà nước trước đây đã mua lại một số ngân hàng với giá 0 đồng, hay nỗ lực sáp  nhập ngân hàng, hay kiểm tra và đặt một số ngân hàng dưới sự giám sát đặc biệt. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mới được bổ nhiệm đã có những chính sách rất thận trọng trong việc xử lý tỷ giá, lãi suất tín dụng. Tôi hy vọng tình hình ngân hàng trong thời gian tới sẽ được ổn định hơn”.

Ở Việt Nam, lãnh đạo ngân hàng dễ bị khép tội

Một luật sư tại TPHCM bình luận rằng các lãnh đạo ngân hàng thường “có quan hệ thân hữu với giới lãnh đạo cấp cao nên xem nhẹ việc tuân thủ quy định” và “rất dễ bị khép tội”. Sau gần 6 tháng trả hồ sơ, dự kiến ngày 28/8, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội sẽ mở lại phiên sơ thẩm vụ Hà Văn Thắm và 50 đồng phạm. Phiên tòa đại án kinh tế xảy ra tại Ngân hàng Đại Dương (Oceanbank) dự kiến kéo dài 20 ngày.

Trong một diễn biến khác, báo Zing ngày 9/8 cho hay ông Trần Bắc Hà, cựu Chủ tịch Hội đồng Quản trị ngân hàng BIDV “từ chối bình luận về mối liên quan của mình với các sai phạm của ông Trầm Bê và Phạm Công Danh trong đại án làm thất thoát hơn 6000 tỷ đồng”.

Hồi đầu tháng này, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng (C46) ra quyết định khởi tố, bắt tạm giam 4 tháng đối với ông Trầm Bê, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm chủ tịch Hội đồng tín dụng Sacombank.

Ngày 9/8, Luật sư Phùng Thanh Sơn, Giám đốc công ty Luật Thế giới Luật pháp nói: “Các sếp ngân hàng dễ bị khép tội. Dễ bị khép tội ở đây không đồng nghĩa với việc nhà nước buộc tội họ một cách vô tội vạ mà là vì quá nhiều quy định khắt khe trong lĩnh vực ngân hàng cần phải được tuân thủ. Hệ thống Ngân hàng được ví như là “huyết mạch” của nền kinh tế. Nếu hệ thống ngân hàng bị đổ vỡ thì ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của đất nước. do đó, có nhiều quy định nghiêm ngặt để bảo vệ “huyết mạch” ấy. Tuy nhiên, lãnh đạo ngân hàng thường là giới đại gia và có quan hệ thân hữu với lãnh đạo cấp cao trong chính phủ.

Có thể vì vậy mà họ có khuynh hướng xem nhẹ việc tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của ngành ngân hàng hơn. Đến khi thiệt hại phát sinh, họ rất dễ bị khép vào các tội như: Vi phạm các quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, hoặc Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”.

Theo luật sư Phùng Thanh Sơn, cần nhìn nhận một thực tế là không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới, các tập đoàn kinh tế lớn thường có mối liên hệ chính trị nhất định với chính phủ, đảng cầm quyền. Bê bố của tập đoàn Samsung ở Hàn Quốc là một ví dụ. Mà một khi có mối liên hệ chính trị, việc xử lý sai phạm của những người lãnh đạo trong các tập đoàn đó ít nhiều sẽ bị cản trở, nhất là trong bối cảnh hệ thống chính trị của Việt Nam không theo thiết chế tam quyền phân lập. Và khi mối quan hệ chính trị không còn hoặc không đủ mạnh, tất yếu các sai phạm của lãnh đạo tập đoàn đó phải được xử lý Không thể để cái sai tồn tại mãi được.

Do đó, theo tôi, việc bắt ông Trầm Bê mới đây cũng như các lãnh đạo ngân hàng ACB, Đông Á, Xây dựng, Đại Dương trước đó là quy luật tất yếu. Chỉ khi nào các lãnh đạo ngân hàng này không có sai phạm mà chính quyền với đội ngũ lãnh đạo mới cố tình xử lý hình sự họ để đưa người có mối quan hệ thân hữu lên thay thì đó mới có thể xem là chuyện đấu đá nội bộ. Nếu các sai phạm của các ngân hàng này diễn ra trong một thời gian dài mà Ngân hàng Nhà nước không có động thái xử lý hoặc xử lý không thích đáng thì tổ chức này không thể vô can được.

Về vai trò của luật sư trong những phiên tòa xét xử lãnh đạo vừa qua, ông Phùng Thanh Sơn cho rằng trong quá trình điều tra, không loại trừ khả năng các bị cáo có những lời khai “nhạy cảm” về các lãnh đạo của Việt Nam có liên quan hoặc có những thông tin ảnh hưởng đến vấn đề an ninh tiền tệ. Do đó, luạt sư trong các “đại án” ngân hàng sẽ không được thoải mái như những vụ án hình sự thông thường khác.

Theo ông Phùng Thanh Sơn, chắc chắn phía có mối liên hệ giữa các vị lãnh đạo ngân hàng vướng vòng lao lý và nợ xấu vì để có thể truy tố các lãnh đạo ngân hàng theo các tội danh trên thì đòi hỏi phải có hậu quả (tức nợ xấu) xảy ra. Nợ xấu vượt mức cho phép là biểu hiện rõ nhất của các sai phạm trong quản lý và điều hành hoạt động của ngân hàng. Nếu hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn tuân thủ đúng quy định pháp luật thì chắc chắn sẽ không có xảy ra tình trạng tỷ lệ nợ xấu vượt ngưỡng cho phép.

Tuy nhiên, cũng cần phân biệt rõ là không phải mọi khoản nợ xấu của ngân hàng đều xuất phát từ hành vi sai trái của lãnh đạo, cán bộ ngân hàng. Chỉ những khoản nợ xấu nào phát sinh từ các khoản cho vay không đúng quy định pháp luật dẫn đến không thu hồi được nợ thì mới được xem là thiệt hại.

Về trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước trong các vụ đại án này, luật sư Phùng Thanh Sơn cho rằng một trong những chức năng của Ngân hàng Nhà nước là quản lý và giám sát hoạt động của ngân hàng thương mại. Do đó, nếu các sai phạm của các ngân hàng này diễn ra trong một thời gian dài mà Ngân hàng Nhà nước không có động thái xử lý hoặc xử lý không thích đáng thì tổ chức này không thể vô can được.

Chí ít các cán bộ ngân hàng nhà nước liên quan cũng có dấu hiệu của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Theo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ là một cơ quan ngang bộ trực thuộc chính phủ. Do đó, tính độc lập của tổ chức này là thấp và chịu sự can thiệp hành chính toàn diện từ chính phủ.

Trong khi đó, ngoài chức năng quản lý, giám sát các hoạt động các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn thực hiện chức năng của một ngân hàng trung ương. Do đó, sự can thiệp của chính phủ thông qua Ngân hàng Nhà nước sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại. Vì vậy, để hệ thống ngân hàng tại Việt Nam nói chung và Ngân hàng Nhà nước nói riêng hoạt động hiệu quả thì về lâu dài, cần phải tách Ngân hàng Nhà nước ra khỏi chính phủ. Có như vậy, Ngân hàng Nhà nước mới thực hiện được chức năng của một ngân hàng trung ương đúng nghĩa.

Nguồn: BBC

TKNB – 11/08/2017

Người nghiên cứu khoa học xã hội phải chăng là một tác nhân của quá trình thực thi pháp luật – Phần cuối


II.2/ Những bài học của cuộc tranh luận đối với viên chức tòa án

Có một quan hệ gần gũi giữa các vụ án đương đại, nhưng bề ngoài thì chẳng có một sợi dây liên lạc nào cả. Vụ việc máu nhiễm độc cũng như vụ án Papon thể hiện một quá trình đang diễn ra của sự trừng phạt trong tố tụng công cộng : quả vậy, từ nay các quan chức phải trả lời trên cương vị cá nhân về những hành động của họ. Trách nhiệm của các quan chức càng ngày càng ít phụ thuộc vào luật hành chính, thường được « bên bị » viện đến nhiều nhất, nhưng các quan tòa của những vụ xét xử hình sự thì lại thường không biết đến.

Thông thường hơn, những vụ án này thể hiện một số chuyển hóa đương đại của bản thân luật hình sự, đặc biệt trong lĩnh vực trách nhiệm : như Mireille Delmas-Marty nhấn mạnh, khái niệm « rủi ro » có khuynh hướng thay thế cho khái niệm tội lỗi, điều này có thể dẫn đến chỗ làm tê liệt việc tố tụng công cộng mà tính chất của nó về cơ bản là « bấp bênh ». Hơn thế cái gọi là « rủi ro số không » lại ở ngoài tầm kiểm soát. Cùng một kiểu như vậy, khái niệm « tính nguy hiểm » dường như thay thế cho khái niệm tính phạm tội. Như thế trong vụ án máu nhiễm độc trước tòa án tư pháp của nước Cộng hòa, người ta khiển trách các Bộ trưởng là đã hành động quá chậm trễ, quá muộn (và như thế đã tạo nên rủi ro). Trong vụ án Papon, Viện công tố khiển trách bị cáo cả về thái độ không hành động và cả về những hành động tích cực. Trong các cuộc tranh luận, Viện này thường quen phát triển luận điểm về một « tính bị động đồng lõa ».

II.3/ Những điều không tương hợp giữa logic tư pháp và logic của các khoa học xã hội

Có hai điều khác biệt về thực chất đã xuất hiện giữa logic tư pháp và logic của các khoa học xã hội.

Một mặt, cách tiếp cận cá nhân về trách nhiệm trong luật hình sự không cho phép suy nghĩ về tố tụng công cộng trong chừng mực mà sự tố tụng đó tất yếu nằm ở dây chuyền những trách nhiệm, mà sự xác định các « mắt xích » lại có một sự phức tạp nhất định. Điều này giải thích tạo sao những phân tích của Marc Olivier Baruch ở vụ án Papon về vấn đề « ủy quyền chữ ký » lại vẫn không có tiếng vang. Cũng như vậy, ở vụ án máu nhiễm độc, khi Michel Setbon nhấn mạnh rằng những thông tri của chính phủ nói chung là ít được áp dụng, thì điều đó đã làm các quan toàn kinh ngạc. Trong cả hai trường hợp, dường như các quan tòa đều không biết đến cái logic quan liêu, phương thức tổ chức của nó và những mối quan hệ phức tạp giữa các cấp khác nhau. Rõ ràng là nguyên tắc cho rằng « không ai chỉ chịu trách nhiệm về những hành động của chính mình » là một sự bảo đảm cơ bản đối với tự do cá nhân, nhưng phải nhận định rằng nó rất ít coi trọng những cơ chế của tố tụng công cộng.

Mặt khác, cách tiếp cận tư pháp có khuynh hướng gạt bỏ mất bối cảnh : cá nhân hóa, thẩm định sự việc và giới hạn chính xác phạm vi của một sự xét xử dẫn đến việc xa rời bối cảnh, nghĩa là những điều kiện xã hội và khuôn khổ tập thể của hành động. Khi bối cảnh được đưa lại vào trong các vụ án về tội ác chống nhân loại, thì nó lại bị cố tình tách rời khỏi những sự việc được xét xử. Các nhà sử học được mời đến vụ án Papon đã phải gợi lên một bối cảnh chung với một sự chỉ đạo ngầm là không nói đến người bị cáo. Nhưng thế nào là một « bối cảnh tự thân » ? Như từ nguyên học đã gợi ra, điều đó không có nghĩa là đích thực.

Mặc dầu rằng hoạt động tư pháp đặc biệt dẫn đến một cách tiến hành theo kiểu vi lịch sử (căn cứ trên những nghiên cứu về các trường hợp được khoanh vùng rất rõ về mặt thời gian và không gian, thì cách tiến hành đó không thể được chấp nhận trong một vụ án, bởi vì rõ ràng nó giả định một sự suy nghĩ về những « bối cảnh lồng ghép nhau » từ mức độ địa phương nhất cho đến những mức độ quốc gia và cả quốc tế. Lăng kính tư pháp cấm chỉ việc đặt ra mối quan hệ giữa các sự việc được xét xử và các sự việc khác – tương tự hay không – không dự phần vào phạm vi phán quyết của tòa án (vả chăng điều đó là một đảm bảo trên bình diện những tự do cá nhân). Trong vụ án Papon, người ta không phác họa một cách tiếp cận so sánh nào về các chính quyền cấp tỉnh, trong khi bối cảnh quốc tế đã có phần bị bỏ rơi, nhưng tình hình khu vực tình Gironde ở vùng bị chiếm đóng (cho tới năm 1942) đòi hỏi một sự soi sáng về vai trò của lực lượng chiếm đóng.

Rủi ro chủ yếu của một cách tiếp cận như vậy là sự lỗi thời : ngành tư pháp ngầm ưu tiên cho những so sánh trong thời gian, giữa hôm nay và hôm qua hơn là trong không gian, giữa hôm qua ở đây và hôm qua ở chỗ khác. Trong quá trình vụ án máu nhiễm độc, Jean-Noel Jeanneney đã chỉ rõ bản thân hành động tố cáo đã đặt ra như thế nào một cách tìm hiểu lỗi thời về các sự việc. Nỗ lực « hiểu biết » về đối tượng nghiên cứu, với kích thước cường điệu của nó, rốt cuộc là xa lạ với logic tư pháp, trước hết là một logic xét xử ăn khớp với một tiêu chuẩn đã được luật học cụ thể hóa.

Nói một cách khái quát, các khoa học xã hội và ngành tư pháp phân biệt với nhau về phương thức đặt câu hỏi, về phương pháp, chế độ thời gian và về chức năng xã hội của chúng.

Những vấn đề tư pháp trước hết là những vấn đề về luật, đặc biệt như Yann Thomas đã nhấn mạnh. Điều đó kéo theo một số hậu quả về sự tiếp cận tư pháp đối với các sự việc xã hội. Cách tiếp cận này đề cao chẳng hạn phần có chủ ý của hành động cá nhân, một phương diện thường là khó xác định, có thể là không mấy xác đáng xét theo quan điểm các khoa học xã hội. Như thế ở vụ án Papon, một phần không thể bỏ qua những cuộc tranh luận là nhằm vào vấn đề quy kết pháp lý của việc cố tình gây tội ác, liên hệ chặt chẽ với vấn đề bị cáo nhận biết kết cục cuối cùng vào thời điểm xảy ra các sự việc. Vấn đề thuộc loại « tâm lý – nhận thức » này dường như có thể không giải quyết được trên quan điểm lịch sử vốn không thể « thăm dò cả ngọn nguồn lạch sông ».

Trong khi, xét trên quan điểm phương pháp luận, ngành tư pháp và các khoa học xã hội (đặc biệt là sử học) đều thuộc về một « chuẩn thức chỉ số », nếu ta muốn ấy lại cách phát biểu của Carlo Ginzburg, các mục tiêu tương ứng của chúng là không giống nhau. Không trở lại sự phân biệt cổ điển xét xử/hiểu biết, chúng ta nhấn mạnh những chức năng xã hội khác nhau của chúng. Ngành tư pháp, nói riêng, có một chức năng điều tiết, những quyết định của nó đều mang tính ép buộc trên bình diện cụ thể. Nó có một quyền lực ép buộc ngay cả đối với thân xác của bị cáo. Sự xúc động gây nên bởi việc trả tự do cho Maurice Papon vào đầu vụ án thì ngược lại cho ta thấy cái trách nhiệm biểu trưng gắn liền với quyền lực đó. Các khoa học xã hội, trái lại, xét trên nguyên tắc có mục tiêu đầu tiên là nhận thức các hiện tượng xã hội, ngay cả khi người nghiên cứu còn hoàn thành các chức năng khác.

Cuối cùng phải nhấn mạnh rằng ngành tư pháp và các khoa học xã hội không thuộc về cùng chế độ thời gian. Công việc tư pháp phụ thuộc vào thời gian xét xử được đặc trưng bằng một mức độ nào đấy của tính thường xuyên và tính lặp lại ; diễn biến tư pháp phụ thuộc vào thời gian « ngắn », thời gian của sự kiện chính xác và được giới hạn. Các khoa học xã hội đặc biệt là sử học rõ ràng là không tùy thuộc vào một cách đặt vấn đề lặp đi lặp lại như thế và đối tượng của chúng có thể quy về những « lớp » thời gian khác nhau (thời gian ngắn, trung bình hoặc dài).

II.4/ Sự giám định ở điểm gặp gỡ của hai logic

Những suy nghĩ về những điều không tương hợp giữa tư pháp và các khoa học xã hội, phần lớn nảy sinh từ một cuộc tranh luận về tính chính đáng của việc hợp tác của người nghiên cứu với thể chế tư pháp.

Trước hết chúng ta hãy trở lại định nghĩa pháp lý của việc giám định : nó là chính xác và ép buộc. Mặc dầu những khác biệt giữa việc giám định và việc làm chứng của các nhà sử học (đối chất, giai đoạn tố tụng, nói miệng), thì hai vị thế này là thuộc về sự giám định theo nghĩa rộng, trong mức độ mà thẩm quyền chuyên môn của một người giám định đều cần thiết ở cả hai trường hợp. Điều còn lại là phạm trù này đặt cơ sở trên tính dị trị của vấn đề ít nhiều có phần mơ hồ, xét vì biên giới giữa sự tự chủ và dị trị không rõ ràng đến mức ấy. Đâu là những tiêu chuẩn xác minh rằng nhà nghiên cứu đã xây dựng cách đặt vấn đề của mình một cách « tự chủ » ?

Ngoài ra, phải có sự phân biệt giữa việc giám định đặt trong một quá trình có những hậu quả thực tiễn (giám định chính trị hay tư pháp) và việc giám định thoát ra khỏi những trách nhiệm như thế, ít nhất là trực tiếp (lịch sử công cộng).

Quả vậy, trong trường hợp thứ nhất, trách nhiệm của người giám định là nặng nề, là quá nặng nề đối với một số người (như Henry Rousso).

Như thế, trong sự phân tích cuối cùng, chính là ngành tư pháp giải quyết, nó làm chủ toàn bộ quá trình. Đóng khung trong việc giám định, các khoa học xã hội ở vào một vị trí phụ. Quả vậy các quan tòa lựa chọn câu hỏi, thời điểm, các thể thức và một phần các đương sự. Vị trí quyền lực này có thể dẫn họ đến chỗ phản bác suy lý của các khoa học xã hội. Như thế trong vụ án Papon, luật sư chính Marc Robert đã không ngần ngại chống lại Michel Bergès trên địa hạt phương pháp. Quả vậy nhà sử học tỏ ra rất gay gắt đối với hành động tố cáo mà thông ông là đầy những « sai lạc » và những lầm lẫn, chẳng hạn giữa những tài liệu gốc và tài liệu « chính ». Ở phiên tòa ngày 19/1/1998, Marc Robert uốn chứng minh rằng Michel Bergès « không biết đến hồ sơ ». Nói một cách khái quát hơn, ngành tư pháp có ý muốn rất rõ tự biến mình thành một cấp cung cấp sự hiểu biết : trong vụ án đặt đối lập Jean-Luc Einaudi và Maurice Papon hồi tháng 2/1999, tòa án tiểu hình Paris đã thừa nhận trong phán uyết của mình « sự nghiêm túc và chất lượng của công trình nghiên cứu » của Einaudi. Sự thừa nhận « tư pháp » này lại càng đáng chú ý vì Einaudi, do chỗ không phải là nhà sử học được đào tạo, nên không nhận được sự tôn trọng trong giới sử học đối với những công trình của mình.

II.5/ Ký ức tập thể, phải chăng là một sự sử dụng khác về quá khứ trong lòng các vụ án này ?

Người ta có thể nhận xét rằng những vụ án này là nơi của ba quyền sử dụng quá khứ : (quyền sử dụng) tư pháp/sử học hoặc (quyền sử dụng) xã hội học/ký ức. Làm thế nào để khớp quyền sử dụng ký ức với hai quyền sử dụng đầu ? Nếu quyền sử dụng này tuân theo một logic gần gũi với logic của quyền sử dụng tư pháp, thì chức năng xã hội của nó lại không như vậy : ký ức tập thể trước hết đóng một vai trò nhận dạng. Nó sản sinh ra sự nhất quán và sự tán đồng. Nó tham gia tích cực vào sự xác định và sự phân chia ranh giới các nhóm người trong lòng một không gian xã hội. Ở những vụ án như vậy, ký ức của nhóm nạn nhân nói riêng (« được đại diện » bởi các bên dân sự) mang theo một trách nhiệm biểu trưng cực kỳ lớn. Tuy vậy, nó không đồng nhất và đơn nghĩa trong mức độ nó cũng có những căng thẳng nội bộ và ở trong tình thế « cạnh tranh » với những ký ức khác. Sự lây truyền giữa các quyền sử dụng tư pháp và quyền sử dụng ký ức đối với quá khứ là xuất phát từ chỗ ngành tư pháp đã trở thành một công cụ trong « cơ cấu nhận thức hiện nay ». Quả vậy « đòi hỏi càng ngày càng thường xuyên về một quy chế nạn nhân (…) có lẽ đã thể hiện nguyện vọng đối với quyết định tư pháp về các vụ xung đột, một hy vọng được thấy sự thừa nhận cách giải quyết qua trung gian một tòa án ».

Ở nơi xử án, nhà nghiên cứu đứng giữa một logic tư pháp và những logic ký ức tác động cả bên trong cũng như bên ngoài vụ án (tính đến sự phóng đại của các phương tiện thông tin). Vị trí này lại càng bất lợi khi lời nói của người giám định (hoặc của nhân chứng) trên nguyên tắc hướng về sự nhận thức lại do yêu cầu của một trong những bên có mặt nghĩ rằng nhận thức đó có thể phục vụ cho mục đích của họ. Vậy, mỗi một bên (bên bị, viện công tố và các bên dân sự) lại nắm giữ một ký ức tập thể nhất định nhằm vào sự thừa nhận của nhóm. Dù muốn hay không, nhà nghiên cứu không thể hoàn toàn thoát ra khỏi logic của « trận đấu » tư pháp vốn chắc chắn tuân theo những quy tắc chính xác, nhưng ở đó mỗi người làm tất cả những gì có thể làm được (hoặc gần như thế) để bảo vệ mục đích của mình.

* * *

Sự cọ xát các kinh nghiệm « tư pháp » của ba nhà nghiên cứu, ngoài những phương hướng tư duy mà nó mở ra, còn có giá trị là làm rõ những mối quan hệ tương ứng của ngành tư pháp cùng các khoa học xã hội với những hiện tượng xã hội, tính đến những phương thức đặt vấn đề, phương pháp luận, mục tiêu và chức năng xã hội đích thực của chúng. Việc các nhà nghiên cứu trở lại suy nghĩ về thực tiễn của mình, nếu nó góp phần soi sáng những logic khá là không tương hợp với nhau, thì cũng không phải vì thế mà làm cạn kiệt vấn đề đang tranh cãi về tính chính đáng của sự hiện diện của họ ở nơi xử án.

Người dịch: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Liora Israel, Guillaume Mourails – Le chercheur en sciences sociales comme acteur du procès? – “Droit et Societé” – 44/45-2000, pp159 – 175.

TN 2000 – 112 & 113

Người nghiên cứu khoa học xã hội phải chăng là một tác nhân của quá trình thực thi pháp luật – Phần IV


Năm 1999, vào vụ án những cựu Bộ trưởng trước Tòa án tư pháp của nước Cộng hòa, nhắc lại toàn bộ công việc của mình đã tiến hành, Setbon đã có thể trình bày một cách chi tiết bản báo cáo giám định thực hiện theo yêu cầu của Laurent Fabius. Trong bản phân tích của mình, nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến những nguyên nhân đa dạng (rất ít nguòi tin ở tầm quan trọng của bênh lý này, rủi ro trong việc truyền máu bị mọi người đánh giá rất thấp…) cho phép phủ nhận cách tiếp cận tư pháp tập trung vào tội lỗi cá nhân. Theo Michel Setbon, phải cho thấy rõ sự không phù hợp cơ bản giữa hiện tượng là ngành tư pháp cần những sự việc chính xác để kết tội hành động của những người mà mình xét xử, đặc biệt bằng cách dựa vào những ngày tháng rất chính xác, và tính chất mơ hồ về sự hiểu biết ý tế hay vệ sinh : người ta có thể nói đến sự gia tăng tuần tự của mức độ tin chắc nhưng không thể nói đến sự chuyển biến đột ngột từ chỗ không biết đến chỗ hiểu biết (như tòa án đã giả thiết trong khi khiển trách các Bộ trưởng đã để một khoảng cách ba tháng được coi như « vô ích » kể từ khi biết giả thiết về cơ chế gây nhiễm độc đến khi quyết định chính sách). Cách tiếp cận này đã làm cho các thành viên của tòa án bối rối, nhưng lại cho phép họ phát hiện một cách nhìn nhận vấn đề khác. Hiện tượng được Michel Setbon đưa ra ánh sáng – tầm quan trọng cốt yếu của việc tuyển chọn không tốt những người cho máu từ năm 1983 cho đến nay – đã không được ngành tư pháp tính đến, như ta đã thấy điều đó qua sự kinh ngạc của các quan tòa trong tòa tư pháp của nước Cộng hòa. Lúc đó vị Kiểm sát trưởng đã nói đến một « sự hoảng loạn tập thể của đội ngũ y tế ».

Như thế, vấn đề lại chuyển qua một câu hỏi thứ hai : phải chăng các Bộ trưởng chịu trách nhiệm về việc không áp dụng các thông tri ? Sự thực thì thông tri 1983 đã không được các nhà chuyên môn ngành y tế coi trọng trong bố cảnh của tình trạng bấp bênh khoa học thời bấy giờ. Như thế cần phải làm cho tòa án hiểu rằng một thông tri có tính kỹ thuật như thông tri 1983 rõ ràng không thuộc về sáng kiến hay sự theo dõi của ông Thủ tướng, ông Bộ trưởng Bộ Y tế hay ông Bộ trưởng Bộ Công tác xã hội, và do đó thấy rõ rằng hiện tượng các thông tri, « thành phần thấp hèn » trong môi trường quy chế của hệ thống hành chính, không được áp dụng là chuyện bình thường. Ở đây nữa, việc làm rõ hiện tượng này cũng gây nên những phản ứng kinh ngạc cho phiên tòa.

Về những gì liên quan đến mối quan hệ tư pháp và mối quan hệ xã hội, dựa theo kinh nghiệm này người ta có thể rút ra một số kết luận. Cho dù có một số tiến bộ mới đây (trong vụ án về máu nhiễm độc, quan điểm của Michel Setbon đã bị thay thế bằng quan điểm của các phương tiện thông tin), thì cái hố ngăn cách xã hội còn lớn giữa đòi hỏi tư pháp và những đề xuất của các khoa học xã hội :

+ Khái niệm tố tụng công cộng là hoàn toàn xa lạ đối với logic tư pháp : việc tố tụng công cộng về cơ bản có tính chất bấp bênh, hơn thế thái độ các tác nhân luôn luôn là một ẩn số. Phương diện này đã không được tính đến bởi ngành tư pháp hình sự vốn thường cá nhân hóa việc tố tụng.

+ Việc chuyển từ sự bấp bênh đến sự tin chắc khoa học là rất khó xác định. Quả vậy ở thời điểm nào thì một kiến thức khoa học trở nên chắc chắn ? Trong những vụ án, ngành tư pháp đã có một sự hình dung đơn giản hóa thậm chí là ngây thơ về khoa học và về sự áp dụng khoa học trong y tế công cộng, không có khả năng hội nhập được tính bấp bênh cố hữu của tố tụng công cộng trong những lĩnh vực này, dù đó là việc làm rõ những nguy cơ gắn liền với việc truyền máu hay những gì liên quan đến việc sử dụng thử nghiệm phát hiện. Không phải vì có một sự thử nghiệm mà đã đủ để xác định việc thực hiện nó trong chính sách của một nước có những đòi hỏi chính trị và pháp luật để cho một việc thực hiện nó trong chính sách của một nước có những đòi hỏi chính trị và pháp luật để cho một việc thực hiện như vậy có những hậu quả phải đánh giá được. Việc coi trọng thời gian tiềm ẩn gắn liền với sự tiến triển của nhận thức khoa học cũng như những hậu quả cần phải tính đến làm cho ta khó mà giải thích tình hình của nước Pháp một cách thích đáng – tình hình được đặc trưng bởi một số lớn những vụ nhiễm độc so với các nước công nghiệp hóa khác – bằng những quyết định quá muộn. Ngược lại sự phân tích xã hội học đã cho thấy rõ sự chậm trễ của nước Pháp trong việc tuyển chọn những người cho máu, việc tuyển chọn này có thể thực hiện ngay lập tức, không phí tổn và cho phép tránh được phần lớn những vụ nhiễm độc. Hai khía cạnh quan trọng như thế đã bị ngành tư pháp bỏ qua : tác động của thái độ do dự (sự dốt nát ?) của những người thầy thuốc đối với việc tuyển chọn người cho máu, vấn đề này phải chăng thoạt đầu đã bị coi là ít quan trọng hay không quan trọng ? Ở đây, ngành tư pháp không thể giải quyết. Và sự so sánh giữa các nước khác nhau có vị trí như thế nào ? Nhiều nước cũng có nhiều nạn nhân như vậy nhưng lại không có việc kiện cáo, đặc biệt ở Hoa Kỳ.

Ngành tư pháp dựa vào các tiêu chuẩn để xét xử những cá nhân vi phạm tiêu chuẩn đó. Vậy nhưng, trong y tế công cộng, tố tụng nằm trong hiện tượng chung của tố tụng công cộng vốn có tính chất chính trị và ở đấy những người có trách nhiệm phải luôn luôn đổi mới để đối phó với những vấn đề chưa hề có. Cuộc tranh luận là như sau : hoặc là người ta phủ nhận sự bấp bênh cố hữu của tố tụng công cộng (và người ta nhằm vào sự rủi ro số không, đều này dẫn đến chỗ làm tê liệt tố tụng, nguy cơ là xử phát tố tụng công cộng về mặt y tế và coi như tội phạm những người đã hành động sai cũng như những người đã hành động đúng nhưng quá muộn, và dựng lên thành tội ác những hậu quả của một sự lựa chọn tồi), hoặc là người ta chấp nhận nó và suy nghĩ lại về tố tụng công cộng, làm thế nào cho nó ít tốn kém nhất đến mức có thể. Đó chính là điều cuối cùng tòa án tư pháp của nước Cộng hòa chuẩn y bằng cách, ngay cả trong bản án, tự mình xem xét vấn đề trung tâm là việc các cơ quan y tế đã tuyển chọn không tốt những người cho máu. Hơn thế, tòa án đã không phán xét rằng sự chậm trễ của chính quyền công cộng là một yếu tố quan trọng (về điểm này một vụ án sau đó đã diễn ra).

II/ Bình luận về cuộc tranh luận

II.1/ Những bài học của cuộc tranh luận đối với những người tham gia

Trong thời gian tranh luận, những người tham gia đã tìm đến một số điểm (thường thấy nhất là vấn đề liên quan đến vụ án Papon) mà chúng tôi ghi nhận lại một cách ngắn gọn :

+ Trong một vụ án như vụ án Papon, một kiểu « đức tính chất phác » đã được đưa lên hàng đầu bởi vì người ta đòi hỏi các « nhân chứng » (cũng như các bồi thẩm viên) phải không biết gì về hồ sơ. Ngoài ra có thể phải tính đến sự thâm nhập của các quan tòa vào sự hiểu biết lịch sử tồn tại trước đó. Người ta có thể nghĩ rằng nó trùng hợp với cách tiếp cận của Robert O. Paxton trong chừng mực là cách tiếp cận đó đã thắng thế (cả đến trong bản án). Nói chung, nó không tính đến những tiến bộ của kiến thức lịch sử. Như thế, quan điểm của Philippe Burrin (mơ hồ hơn nhiều), đã không được tòa đại hình ghi nhận. Nói tóm lại, ngành tư pháp chỉ muốn lắng nghe những gì mà nó đã biết, nhưng không phải do các nhà sử học phát biểu.

+ Trong vụ án Papon, người ta thấy lại vấn đề trách nhiệm : (trách nhiệm) cá nhân trên nguyên tắc nhưng cũng là (trách nhiệm) tập thể trong chừng mực mà hành động của Papon được đặt trong một dây chuyền trách nhiệm (một bộ phận hợp thành trong hoạt động của Nhà nước). Cái hố ngăn cách ngày càng được đào sâu giữa các cá nhân và những gì mà cá nhân đó thể hiện (hoặc biểu tượng).

+ Trong trường hợp của Maurice Papon, ta phải ngầm hiểu, những gì mà ông không chịu trách nhiệm, cũng như những gì mà ông chịu trách nhiệm (ở đây người ta gặp lại một vấn đề trong những vụ án liên quan đến máu nhiễm độc), dẫn đến quá trình buộc tội thái độ « không xử lý » của những quan chức (cao cấp). Điều này vượt xa cái khái niệm « không giúp đỡ người gặp nguy hiểm ». Vụ án này như vậy nằm trong một vận động rộng lớn hơn của sự trừng phạt trong tố tụng công cộng.

+ Ngành tư pháp thực hiện một sự úng dụng « thực chứng » đối với lịch sử. Trong vụ án Papon, sự thiếu vắng so với những trường hợp tương tự lại không cho phép rút ra những quy luật khái quát.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Liora Israel, Guillaume Mourails – Le chercheur en sciences sociales comme acteur du procès? – “Droit et Societé” – 44/45-2000, pp159 – 175.

TN 2000 – 112 & 113

Người nghiên cứu khoa học xã hội phải chăng là một tác nhân của quá trình thực thi pháp luật – Phần III


Bản chất của sự giám định

Những vấn đề xới lên do sự giám định lịch sử chỉ là một khía cạnh của vấn đề chung được đặt ra bởi sự giám định tư pháp : nhiều ngành khoa học cũng gặp phải những vấn đề này. Ở vụ án Papon, nói cho đúng vấn đề không phải là việc giám định, bởi vì nói chung người ta đòi hỏi một sự giám định vào thời điểm thẩm cứu, và điều đó thay đổi tất cả (tiếp cận hồ sơ, xem xét tài liệu). Trong trường hợp chính xác của vụ án Papon, phần lớn các nhà sử học đã được lắng nghe như những chứng nhân trước tòa đại hình, ngay cả khi hai người trong số họ đã được mời đến trong khuôn khổ của cấp thẩm cứu thứ nhất (Jacques Delarue và Michel Berges).

Trong khi một người giám định đưa ra một báo cáo viết để bổ sung cho lập luận tư pháp có từ trước, thì ở vụ án Papon – ngược lại, những nhân chứng – nhà sử học lại ở vị trí nổi bật.

Trong khi sự giám định tư pháp được đóng khung một cách chặt chẽ theo kế hoạch tư pháp, thì trong vụ án Papon, nhân chứng – nhà sử học – lại dường như chấp nhận ít nhiều ngấm ngầm vị trí của người giám định của mình. Từ đó sự mơ hồ này dẫn đến một vấn đề cơ bản : « Làm chứng bằng hiểu biết của mình » nghĩa là thế nào ?

Để trả lời điều đó, phải tự hỏi về tính chất của sự giám định. Người ta có thể thực hiện một sự phân biệt giữa những giám định nhằm xác lập các sự việc và những giám định nhằm vào người vi phạm (giám định tâm thần chẳng hạn). Sự giám định lịch sử không thuộc vào một trong hai loại đó. Với tư cách là nhân chứng, nhà sử học không tiếp xúc với hồ sơ : cách bố trí nghịch lý này không cho phép sự làm chứng của anh ta thuộc vào khuôn khổ thứ nhất nêu ở trên. Nó cũng không thuộc khuôn khổ thứ hai, bởi vì người ta không yêu cầu anh ta nói một điều gì đó về tâm lý của Papon, mà về sự ứng xử của ông (hơn thế, theo một quy tắc ngầm, ít nhiều được tôn trọng, các nhân chứng không được nói tên của bị cáo, bởi vì nội dung của « giám định » không nhằm trực tiếp vào anh ta).

Như vậy, nhà sử học dường như có nhiệm vụ nói lên « bối cảnh ». Điều đó nghĩa là gì ? Đâu là những mối liên hệ giữa câu hỏi này và « tính không mất hiệu lực » ? Quả vậy một trong những đặc tính của loại vụ án này là sự thực đa số những thành viên của tòa án đều không sống qua thời kỳ đó, và điều này đặt ra một trách nhiệm to lớn cho các nhà sử học.

Những nhà sử học ra trước tòa là những người sau đây, mỗi người có một địa hạt chuyên môn đặc biệt : Robert O. Paxton và Henri Amouroux được giao trách nhiệm nói lên bối cảnh chung của thời kỳ chiếm đóng, rồi Jean-Pierre Azéma nói về cuộc Cách mạng dân tộc, Philippe Burrin nói về sự hợp tác của Nhà nước, Marc Olivier Baruch nói về hệ thống hành chính, và cuối cùng René Rémond nói về chủ nghĩa bài Do thái (ông này có đôi chút ngập ngừng khi phải làm chứng về vấn đề này, vì cho rằng đó không phải là chuyên môn của ông). Cuối cùng phải chú ý rằng không một bên nào yêu cầu có một bản trình bày về lực lượng quân chiếm đóng.

Rốt cuộc vấn đề này dẫn đến hai câu hỏi lớn : phải chăng một bối cảnh tồn tại tự thân, và phải chăng người ta có thể không cần có trong đầu một câu hỏi tiên quyết ? Để trả lời, phải nhấn mạnh rằng câu hỏi tiên quyết không thuộc về người giám định. Hơn thế, mọi lý lẽ xét xử đều dựa trên một sự thẩm định tiên nghiệm các sự việc (ngay cả nếu nó có thể mơ hồ, như trường hợp ở Nuremberg, đã có những sự quy tội liên quan đến quá khứ), không nói đền phần « tính chủ quan » của nhà sử học về một số vấn đề, chẳng hạn « thành tích kháng chiến » của một quan chức trong những năm 1943 – 1944. Vấn đề khác : các nhà sử học từng chứng kiến từ đầu toàn bộ vụ án, sau đó không bao giờ được gọi lại, trong khi vụ án đôi lúc vấp phải những vấn đề lịch sử đã từng được tranh luận ngay từ đầu như những sự việc đơn thuần về dư luận (đó từng là trường hợp ở vụ án Touvier). Chắc chắn vấn đề sẽ không được đặt ra theo một cách như vậy, nếu các nhà sử học can thiệp trong khi thẩm cứu.

Cuối cùng, làm thế nào để cho một sự chứng minh đi từ cái riêng đến cái chung rồi sau hết lại trở về cái riêng ?

Chức năng của giám định

Sự trình bày bối cảnh ắt hẳn là quan trọng đối với Ban bồi thẩm. Tuy vậy có điều là các thành viên của nó không từng sống qua thời kỳ này. Người ta có thể cảm giác rằng việc giám định của các nhà sử học giống với việc giám định tâm thần học hơn là giám định kỹ thuật vì nó rốt cuộc lại phục vụ cho việc đánh giá những ý định của Papon (đó chắc hẳn cũng là trường hợp của vụ án Touvier).

I.3/ Tư pháp và khái niệm tố tụng công cộng (tham luận của Michel Setbon)

Trong cuộc hội thảo « Các khoa học xã hội và tố tụng », Michel Setbon đã kết luận rằng theo ông, vấn đề quyền chính đáng cho sự hiện diện của ông trên vũ đài tư pháp đã không được đặt ra đúng như vậy trong chừng mực mà sự can thiệp của ông được chứng minh bằng ba nhân tố : sự tồn tại một công trình nghiên cứu đã được thực hiện về chủ đề này, tính ngoại hiện của nó so với đại hạt có liên quan, cuối cùng là thực tế ông đã quan tâm đến vấn đề trước khi ngành tư pháp đề cập đến nó. Điều mà ông rút ra từ kinh nghiệm này liên quan nhiều hơn đến việc làm nổi bật một sự đó lập cơ bản giữa logic tư pháp và logic khoa học, vì logic thứ nhất tìm những tội phạm và những người chịu trách nhiệm, trong khi logic thứ hai lại nhằm hiểu và giải thích hiện tượng, và trong trường hợp này là hiện tượng nhiễm virus HIV sau khi truyền máu trong khoảng những năm 1981 – 1985 ở Pháp.

Michel Setbon đã bước tới vũ đài tư pháp lần thứ nhất vào năm 1993 khi ông được mời ra tòa với tư cách là nhân chứng trong vụ án được xét xử ở tòa thượng thẩm, tiếp theo vụ án ở tòa tiểu hình của Michel Garretta, Jean-Pierre Allain, Jacques Roux và Robert Netter. Được gọi đến làm chứng để trình bày những kết luận trong cuốn sách của ông vừa mới xuất bản, nhà xã hội học cảm thấy hoàn toàn không hiểu gì cả, tựa như người ta không cùng nói một ngôn ngữ ở hai phía của vành móng ngựa, vì tòa án trước hết muốn biết xem ba người bị tố cáo có phải là tội phạm hay không. Song song với « vụ án đầu tiên » về máu nhiễm độc, là hai công cuộc thẩm cứu được tiến hành ; cuộc thứ nhất dẫn đến việc ba ông cựu Bộ trưởng phải ra trước Tòa án tư pháp của nước Cộng hòa, trong khi vụ thẩm cứu thứ hai lại liên quan đến việc xem xét tội đầu độc hay giết người không có chủ ý của các cố vấn bộ trưởng, của những người thực hiện truyền máu và của những thành viên Ban lãnh đạo chung của cơ quan y tế. Chính là trong khuôn khổ của cuộc thẩm cứu thứ hai này mà Michel Setbon được yêu cầu thực hiện sự giám định đối với hồ sơ. Sự giám định này đã dẫn Laurent Fabius đến chỗ yêu cầu để ông có mặt với tư cách là nhân chứng trong vụ án trước tòa án tư pháp tối cao. Để trình bày một công trình nghiên cứu được tiến hành trong những năm 1989 – 1992, cuối cùng bảy năm sau, Michel Setbon đã can thiệp trước tòa án tư pháp của nước Cộng hòa.

Cách tiếp cận mang tính giải thích và nhân quả đối với hiện tượng – cách tiếp cận của người giám định – dẫn đến những kết luận hoàn toàn khác với những kết luận của ngành tư pháp, trong khi từ chối một cách tiếp cận cá nhân đối với tội lỗi. Quả vậy, đối với ngành tư pháp, khiếm khuyết là ở tình trạng được coi là quá chậm trễ của những thử nghiệm – phát hiện do chính quyền công cộng thực hiện (1985). Setbon cho rằng phải tìm nguyên nhân ở xa hơn nữa, trong việc không chịu áp dụng thông tri tháng 6/1983, đó là điều duy nhất cho phép giải thích con số rất lớn những người bị nhiễm độc ở Pháp, so sánh với những nước khác như Anh (ở đó việc thử nghiệm lâu hơn 2 tháng) hay Thụy Điển. Đặc điểm của nước Pháp là cho đến khi tiến hành việc thử nghiệm phát hiện, không có một biện pháp ngăn chặn nào để tách xa những người cho máu có thể có vấn đề.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Liora Israel, Guillaume Mourails – Le chercheur en sciences sociales comme acteur du procès? – “Droit et Societé” – 44/45-2000, pp159 – 175.

TN 2000 – 112 & 113

Người nghiên cứu khoa học xã hội phải chăng là một tác nhân của quá trình thực thi pháp luật – Phần II


Làm thế nào để giải quyết vấn đề này? Phải chăng là nên đối lập một danh sách các nhà sử học được thừa nhận trước tòa án cũng như đối với người giám định khác? Làm gì ở tòa án một khi người ta có mặt với tư cách là một nhà sử học?

Sự thực là người ta có thể được lắng nghe trên một số điểm này nhưng không phải trên một số điểm khác. Chẳng hạn Baruch đã được mời đến như một nhà sử học chứ không phải như một quan chức, ngay cả khi ông đòi hỏi cả hai tư cách này một lần. Có thể coi là ông đã thực hiện một bài giảng sử học, đặc biệt khi trở lại niên đại chính xác của Vichy, với vấn đề đặt ra là phạm vi hoạt động của các quan chức trong thời kỳ này. Sau đó ông nghĩ là đã không được người ta lắng nghe khi phát biểu về những vấn đề hành chính tương đối có tính kỹ thuật, và đặc biệt về sự khác biệt, hiển nhiên là rất dễ thấy, giữa sự ủy quyền bằng chữ ký và sự ủy quyền bằng quyền lực. Là một trong những cơ sở cho sự vận hành của một tổ chức Nhà nước, vấn đề này dường như không được các bên biết đến nhiều – đặc biệt là Tòa án. Baruch đã không được lắng nghe như đáng ra ông phải được lắng gnhe, ông cảm thấy như vậy, khi ông nhấn mạnh đến một sự thực là, theo ông, logic của sự hợp tác mạnh hơn logic bài Do thái đích thực.

Khó khăn khác mà ông gặp phải là sự công bố đồng thời luận án của ông: quả vậy kể từ khi người ta xuất bản sách, thì có một nguy cơ là những gì đã viết ra của mình bị đem làm công cụ (bởi các luật sư, tòa án, báo chí, đòi hỏi xã hội về ký ức…), và có thể được tái hiện tùy theo những mục đích đặc biệt của họ.

Hai thí dụ thể hiện rõ những vấn đề này:

“Tội ác văn phòng”: vấn đề này nằm ở trung tâm của vụ án Maitre Zaoui và dẫn tới nguyên tắc đã được đặt ra ở Nuremberg, về “tổ chức tội ác” (sự liên kết với một tổ chức tội ác làm thành sự tham gia vào tội ác). Trong khuôn khổ đó, thì một logic cá nhân hóa là điều không thể được: người ta ở trong một dây chuyền trách nhiệm. Đồng thời kiểu tiếp cận này không căn cứ trên luật trong khuôn khổ của một tòa đại hình;

+ So với pháp luật học về tội ác chống nhân loại, thì vấn đề thực sự là thấy người quan tòa “nói lịch sử” hay ngay cả phương pháp lịch sử đúng đắn (xem vụ án Aubrac/Chauvy, trong đó Chauvy bị phê phán là đã không sử dụng tốt phương pháp lịch sử).

Những hậu quả của vụ án này dường như là có tính nghịch lý. Nếu một số người, như Marek Halter, nhận định rằng nó đã góp phần làm cho rối rắm sự hiểu biết về thời kỳ đó, thì trong phát biểu chính thức mới đây (phát biểu nằm trong tham luận của Jacques Chirac hồi tháng 7/1995, đi theo hướng cho rằng đây là sự tiếp tục hiểu biết về thời kỳ đó) dường như không được chấp nhận một cách phổ biến. Điều nên chú ý là câu trả lời của Bộ trưởng Bộ Nội vụ cho luật sư của Mauris Papon khi ông này yêu cầu đem tách nhiệm dân sự của Nhà nước thay thế cho trách nhiệm của Mauris Papon: người ta trở lại vấn đề là xem Vichy có phải là nước Pháp hay không? Điều đó một lần nữa lại để ngỏ vấn đề loại hình trừng phạt, trong mức độ mà sự trừng phạt hành chính đơn giản thật là khó khăn cho xã hội nhìn thấy và dường như không đầy đủ khi đứng trước những sự việc như vậy.

Từ đấy hai kiểu phát triển đều khả dĩ, có liên quan đến sự tiến triển quan trọng của những mối quan hệ giữa chính trị – hành chính – xã hội: tại sao lại có sự trừng phạt đối với Nhà nước (và khái quát hơn đối với vụ án công cộng) trong xã hội Pháp; làm thế nào nghĩ ra những hình thức trách nhiệm hành chính rõ rệt hơn?

Điều đó cũng đặt ra một cách rộng rãi hơn với đề tìm hiểu khoa học là gì theo quan điểm của ngành tư pháp, một mặt, đặt xã hội vào khuôn khổ bằng tư pháp và bằng các khoa học xã hội có khả năng mang tính “cạnh tranh” (ngay cả nếu các khoa học xã hội có thể ảnh hưởng đến tư pháp), mặt khác để tương đối hóa sự đối lập giám định/nhân chứng (trong hai trường hợp đấy là những vị thế “tương đối”).

I.2/ Trở lại sự giám định của nhà sử học (tham luận của Henry Rousso)

Thái độ của người nghiên cứu đứng trước yêu cầu của tư pháp phải như thế nào?

Ngày nay, có thể lùi lại để nhìn nhận từ xa những suy nghĩ đương thời về vụ án của Papon, vì biết rằng ở thời kỳ đó sự giám định còn ít bị thắc mắc hơn nhiều. Chỉ sau khi sự việc xảy ra, Henry Rousso mới thực sự hiểu ý nghĩa đầy đủ sự từ chối của ông ta ngay cả nếu ông ta không phải bao giờ cũng tin mình có lý. Như vậy phải thực sự đặt ra vấn đề “giám định lịch sử”.

Chính là qua báo chí mà Henry Rousso biết rằng ông đã được Maurice Papon mời ra trước tòa án. Do thủ tục tố tụng, thoạt đầu ông nghĩ rằng ông không thể vắng mặt. Ông đã phải thương lượng về sự không – có mặt của mình (trong hoàn cảnh mà luật sư chính là người đầu tiên đã mời các nhà sử học tới tòa án trước khi Maitre Varaut, luật sư của Mauris Papon ngăn cản ông ta). Henry Rousso đã viết một bức thư cho tòa án để bảo vệ lập trường của mình. Maitr Varaut đã yêu cầu tổng thống sử dụng quyền cưỡng bức của mình, và tổng thống đã tuyên bố thực hiện án treo, và quyết định chính thức (tích cực) chỉ được đưa ra vài ngày sau khi vụ án kết thúc.

Việc nhắc lại hoàn cảnh này rốt cục cho phép hiểu rằng ở đây vấn đề không phải là sự lựa chọn cá nhân thuần túy mà phải tính đến quyền cưỡng bức dành riêng cho ngành tư pháp.

Bối cảnh

Sự xuất hiện của các nhà sử học trước một cấp xét xử hình sự là một tình thế chưa hề có ở nước Pháp, xuất hiện vào dịp có vụ án Touvier. Cần chú ý rằng trước đó không một nhà sử học nào dính dáng đến vụ án Barbie. Làm thế nào để giải thích sự đổi mới này?

Mong đợi một chân lý không thể chối cãi liên quan đến quá khứ giải thích việc người ta tự động gọi các nhà sử học đến, chẳng hạn để phản bác lại những “luận đề” phủ định. Sự cầu viện đến những hội đồng giám định lại là một triệu chứng khác của mong đợi đó, ngay cả nếu những người giám định này không phải là mới vì đã có những người như thế, chẳng hạn sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất ở Pháp, nhưng cũng cả ở Thụy Sĩ, Đức, Hoa Kỳ…

Một tầm cỡ quan trọng khác của vấn đề là ở chỗ người ta coi việc nhìn nhận pháp lý đối với quá khứ là một hành động chính đáng. Ở đây ta cũng có thể nghĩ đến hai thí dụ: một mặt, pháp luật xác nhận tội diệt chủng ở Armenia và mặt khác, tuyên bố của chính quyền xác nhận “chiến tranh Algeria”. Trong cả hai trường hợp, pháp luật được sử dụng để trở lại lý giải một sự kiện của quá khứ. Vụ án Papon rõ ràng là nằm trong quá trình tái thẩm định quá khứ đó.

Tính không thể mất hiệu lực, sự khác biệt cơ bản của những vụ án về tội ác chống nhân loại, làm cho sự can thiệp của các nhà sử học trở thành hầu như là cần thiết (tính đến khoảng cách giữa thời gian xảy ra sự việc và thời gian xét xử), điều đó không có nghĩa rằng sự can thiệp đó là chính đáng. Ở vụ án Eichmann, mở đầu cho phần lớn những vụ án thuộc loại này, nhà sử học Salo Baron đã được triệu tập tới tòa án để gợi lại chủ nghĩa bài Do thái qua lịch sử. Ngoài ra một số nhà sử học đã chứng kiến với tư cách là nạn nhân hay chứng nhân trực tiếp.

Rốt cuộc, những vụ án hiện thời đối với những tội ác chống nhân loại thể hiện rõ rệt sự thay đổi trong mối quan hệ của xã hội chúng ta với quá khứ.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Liora Israel, Guillaume Mourails – Le chercheur en sciences sociales comme acteur du procès? – “Droit et Societé” – 44/45-2000, pp159 – 175.

TN 2000 – 112 & 113