Phong tỏa Thượng Hải: Thử nghiệm các giới hạn của chính sách “Zero COVID” – Phần cuối


Lệnh phong tỏa Thượng Hải chỉ là một trong số những biện pháp dễ thấy được thực hiện để cố gắng đối phó với đợt bùng phát virus tồi tệ nhất của Trung Quốc trong hai năm. Theo tiêu chuẩn quốc tế, đợt bùng phát này vẫn là nhỏ – đạt mức kỷ lục 13.287 ca nhiễm trên toàn quốc vào hôm 3/4, với hơn một nửa trong số đó ở thành phố – nhưng đe dọa làm suy yếu biện pháp của chính phủ nếu nó không thể được kiểm soát. Đó là lý do một đội quân tình nguyện đến Thượng Hải. Xét nghiệm liên tục hàng triệu người đòi hỏi nhân lực dồi dào. Tại khu vực Quảng Đông, nơi có Thâm Quyến, tính đến giữa tháng 3, hơn 384.700 người đã tình nguyện giúp đỡ. Một tình nguyện viên, người trước đây làm việc trong một cơ quan chính phủ, nói rằng anh ta đang sống ở một phòng chung trong một khách sạn, nhưng những người khác ở trong các container hoặc ký túc xá tạm thời được thiết lập tại trường học. Tình nguyện viên này cho biết: “Cá nhân tôi nghĩ rằng [tình nguyện viên] làm điều này để đổi lấy một số quyền tiếp cận và thông tin”, thay vì bất kỳ nghĩa vụ yêu nước nào. “Mọi người sống trong tòa nhà bị cách ly, mọi người rất có thể bị cấm ra ngoài, ngoại trừ các tình nguyện viên”.

Tổn thất kinh tế

Khi Thượng Hải đi được gần nửa đường của đợt phong tỏa hai giai đoạn và lần đầu tiên trong nhiều tuần các trường hợp mắc COVID-19 được báo cáo, dữ liệu chính thức đã vẽ ra một bức tranh liên quan đến tình trạng kinh tế của đất nước.

Dữ liệu PMI sản xuất và phi sản xuất được công bố vào ngày 31/3, một thước đo hoạt động của nhà máy và lĩnh vực dịch vụ, cho thấy cả hai mảng sản xuất đều suy giảm trong tháng 3 so với một tháng trước đó – lần đầu tiên chỉ số của cả hai đều thu hẹp kể từ đầu năm 2020.

Chuyên gia Larry Hu, Trưởng bộ phận nghiên cứu kinh tế Trung Quốc tại tập đoàn Macquarie, cho rằng nền kinh tế “về mặt chất lượng sẽ suy giảm mạnh vào tháng 3 và có thể cũng vào tháng 4”, nhưng nói thêm rằng “thực sự rất khó để ước tính mức độ suy giảm lớn như thế nào”.

Trung Quốc đã hồi phục nhanh chóng sau cú sốc ban đầu của đại dịch vào đầu năm 2020, trái ngược với hiệu suất của các nền kinh tế lớn khác. Nhưng kể từ đó, nước này đã mất động lực, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản quan trọng. Ngoài ra còn vì những biện pháp hạn chế mạnh mẽ đối với hoạt động tiêu dùng thông qua các lệnh phong tỏa và tác động gây bất ổn từ việc nhiều thành phố bị đóng cửa cùng một lúc. Một phân tích của Financial Times về chỉ số tắc nghẽn giao thông từ Baidu, công cụ tìm kiếm và công ty Internet của Trung Quốc, đã phát hiện ra rằng 32 trong số 99 thành phố lớn cho thấy lưu lượng truy cập vào giờ cao điểm giảm vào ngày 1/4 so với mức trung bình năm 2021, với 13 thành phố bị giảm hơn 20% – một dấu hiệu của những hạn chế nghiêm trọng. Ba thành phố có lực lượng giao thông giảm nhiều nhất là Trường Xuân, Thượng Hải và Thẩm Dương, tất cả đều bị phong tỏa toàn thành phố.

Zheng của Amcham cho biết: “Có những tổn hại kinh tế và xã hội khổng lồ liên quan đến cách tiếp cận không khoan nhượng này nhưng đó là những gì chính phủ tiếp tục theo đuổi”, và bổ sung thêm rằng Trung Quốc đã thực hiện tốt việc ngăn chặn virus trong quá khứ nhưng tình hình trong những tuần gần đây đã thay đổi”.

Zheng chú ý đến việc triển khai các hệ thống cách ly “vòng kín” tại các nhà máy, nơi công nhân tạm thời sống tại chỗ. Đó là một mô hình gần tương tự với Thế vận hội mùa Đông Bắc Kinh, mà ông cho là “không bền vững”. Tại Thượng Hải, một số nhân viên tài chính đã ở lại làm việc, ngủ trên giường do công ty cung cấp trong văn phòng để tiếp tục làm việc tại thời điểm họ không thể di chuyển.

Tổn hại tài chính bởi đại dịch vẫn chưa rõ ràng – đặc biệt là liên quan đến sự phân biệt không rõ ràng giữa tình nguyện viên và nhân viên hiện tại của nhà nước, những người đã được chuyển sang công việc chống dịch. Larry Hu của Macquarie nói: “Tất nhiên, chiến dịch “Zero COVID” rất, rất tốn kém”. Tôi nghĩ rằng tại thời điểm này, [chính quyền] chỉ quyết tâm kiểm soát COVID… họ không nghĩ quá nhiều về tổn hại tài chính”.

Câu giờ để tiêm chủng

Việc phong tỏa ở Thượng Hải đã kéo dài hơn so với thông báo khiến người dân thành phố khiếu nại về khó khăn trong việc lấy thực phẩm và thuốc men và nỗi sợ hãi về thời gian có thể kéo dài khi số ca bệnh gia tăng. Cách tiếp cận rộng lớn hơn của Trung Quốc đối với đại dịch trong dài hạn cũng khó có thể dự đoán. Về nguyên tắc, chiến lược “Zero COVID” cho phép nước này có thêm thời gian để tiêm chủng cho những người cao tuổi. Ví dụ về Hong Kong nêu bật những rủi ro của việc không làm như vậy. Thành phố, nơi báo cáo không có ca nhiễm nào ở đó trong nhiều tháng trong năm 2021, đã bị ảnh hưởng bởi đợt bùng phát Omircron vào tháng 2 đã ghi nhận hơn 1 triệu ca nhiễm và khiến hơn 7000 người tử vong – đặc biệt là trong số những người chưa được tiêm chủng – chỉ trong hai tháng.

Yanzhong Huang, một thành viên cấp cao về y tế toàn cầu tại Hội đồng Quan hệ đối ngoại, kỳ vọng Thế vận hội mùa Đông kết thúc vào tháng 2 có thể mở ra “cơ hội thay đổi chính sách”. Nhưng bấy giờ ông nghĩ rằng Hong Kong đã “cơ bản gửi một tín hiệu cho các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh” rằng “chiến lược “Zero COVID” này cần phải được duy trì và thự chiện một cách nghiêm ngặt hơn nữa”.

Huang ám chỉ rằng việc tập trung vào xét nghiệm hàng loạt, phong tỏa và cách ly đã khiến chính phủ chuyển trọng tâm khỏi chiến dịch tăng cường tiêm chủng. Hơn 40% những người trên 80 tổi ở Trung Quốc đại lục vẫn chưa được tiêm chủng đầy đủ.

Larry Hu dự đoán rằng cách tiếp cận hiện tại có thể kéo dài từ 6 đến 12 tháng và chính phủ sẽ không chỉ nhắm mục tiêu tiêm chủng mà còn cách truyền đạt mối nguy hiểm của biến thể Omicron. Ông nói: “Nhận thức của hầu hết người dân Trung Quốc là COVID rất nguy hiểm”.

Bất chấp nhận thức đó, dữ liệu chính thức cho biết chỉ có hai trường hợp tử vong trong số 50.000 trường hợp có triệu chứng COVID-19 ở Trung Quốc đại lục vào năm 2022 tính đến cuối tuần trước – cả hai đều ở thành phố Cát Lâm, nơi bùng phát dịch lớn nhất.

Mặc dù các quan chức có vẻ đang tranh luận về các cách tiếp cận được thực hiện ở các thành phố khác nhau, nhưng những lời chỉ trích hoặc thậm chí thảo luận về các chính sách “Zero COVID” của chính phủ rất nhạy cảm ở Trung Quốc. Tại Thượng Hải, chính phủ cảnh báo về tin đồn xuất hiện khi cảnh sát điều tra hai cá nhân vào ngày 22/3 đã tuyên bố thành phố sẽ đóng cửa hoàn toàn trong khoảng từ 4 đến 7 ngày, nói rằng họ đã “bịa đặt thông tin” để thu hút sự chú ý.

Đối với Huang, cách truyền thông trong nước mô tả cách tiếp cận của Trung Quốc so với triển vọng “sống chung” với COVID-19 không chỉ là “sự cạnh tranh giữa hai hệ thống chính trị” mà còn là “giữa hai nền văn minh”.

Ông nói: “Nếu họ từ bỏ dễ dàng như vậy, thì sẽ giống như việc thừa nhận thất bại của chiến lược này… Họ không còn có thể sử dụng điều đó để thể hiện tính ưu việt của hệ thống chính trị”.

Nguồn: https://www.ft.com/content/11d1f525-6253-4238-b0f6-500f508ec073

TLTKĐB – 16/04/2022

Phong tỏa Thượng Hải: Thử nghiệm các giới hạn của chính sách “Zero COVID” – Phần đầu


Thomas Hale, Andy Lin & Primrose Riordan

Trong bối cảnh thành phố 26 triệu dân đối phó với số ca nhiễm biến thể Omicron gia tăng, có dấu hiệu cho thấy người dân cảm thấy tức giận hơn đối với các biện pháp nghiêm ngặt.

Vào cuối tháng 3, khi người dân Thượng Hải bắt đầu cảm thấy lo lắng về số ca mắc COVID-19 gia tăng khiến thành phố lần đầu tiên bị phong tỏa hàng loạt, chính quyền đã sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để xoa dịu tình hình.

“Vui lòng không tin hoặc lan truyền tin đồn”, chính quyền thành phố đã viết trên nền tảng Weibo của Trung Quốc vào ngày 23/3. Cảnh báo rằng mọi người sắp bị hạn chế ra khỏi nhà đăng tải trên đây đã khiến người dân hoảng loạn đi mua thực phẩm.

Chỉ vài ngày sau, những tin đồn – nếu không muốn nói là những thông tin chính xác – hóa ra lại là sự thật. Để đối phó với hàng ngàn ca nhiễm, thành phố lớn nhất của Trung Quốc hôm 3/4 đã công bố các biện pháp phong tỏa lớn nhất ở nước này kể từ khi phong tỏa Vũ Hán; thời điểm đại dịch COVID-19 xuất hiện lần đầu tiên hơn hai năm trước. Việc phong tỏa trung tâm tài chính hàng đầu – ban đầu giới hạn một nửa Thượng Hải, cuối cùng yêu cầu tất cả mọi người ở trong nhà vào cuối tuần – là một sự bác bỏ bất ngờ đối với bất kỳ sự phán đoán nào rằng Trung Quốc đang bắt đầu nới lỏng cách tiếp cận đối với virus. Vào giữa tháng 3, Chủ tịch Tập Cận Bình đã nhấn mạnh sự cần thiết phải giảm thiểu tác động của đại dịch đối với nền kinh tế. Những bình luận của ông đã được một số người hiểu là một tín hiệu cho thấy Bắc Kinh đang chuẩn bị giảm nhẹ chính sách “Zero COVID” cứng rắn.

Thay vào đó, các biện pháp được đưa ra tại Thượng Hải vào ngày 28/3 đã nhấn mạnh cam kết của chính phủ đối với một chiến lược độc nhất toàn cầu hiện nay – tinh chỉnh qua các đợt bùng phát từ Tây An đến Thâm Quyến – cố gắng loại bỏ hoàn toàn các ca nhiễm ở địa phương bất kể thiệt hại kinh tế và xã hội. Cho đến gần đây, Tập Cận Bình có thể nói với người dân Trung Quốc – và các nước trên thế giới – rằng Trung Quốc đã thành công trong việc ngăn chặn COVID-19. Nhưng hai năm đầu tư chính trị trong cách tiếp cận “Zero COVID” hiện đang chịu nhiều áp lực hơn bao giờ hết vì quốc gia này ghi nhận hàng ngàn trường hợp mỗi ngày cho dù nước này đã thực hiện một loạt các biện pháp hạn chế – ngay cả khi gần như không có trường hợp tử vong nào được thông báo chính thức.

Tại Thượng Hải, các cây cầu bắc qua sông Hoàng Phố bị đóng cửa, máy bay không người lái ghi nhận hình ảnh các đường phố trống trải, rào chắn tạm thời chặn các lối vào các tòa nhà và dịch vụ giao đồ ăn bị quá tải. Chiến lược này ban đầu liên quan đến một lệnh phong tỏa kéo dài 4 ngày được đưa ra vào ngày 28/3 ở phía Đông của con sông, sau đó là những hạn chế tương tự đối với những người ở phía Tây có hiệu lực vào lúc 5 giờ sáng ngày 01/4. Vào ngày 3/4, toàn bộ thành phố 26 triệu dân đã bị phong tỏa sau khi biện pháp tiếp cận ban đầu được mở rộng.

Cư dân phải đối mặt với các biện pháp nghiêm ngặt, bao gồm bị bắt giữ nếu rời khỏi nhà mà không làm xét nghiệm. Lãnh sự quán Pháp tuần trước đã cảnh báo về nguy cơ các gia đình bị chia tách do các xét nghiệm dương tính, cũng như các điều kiện tại các trung tâm cách ly rộng lớn có các trường hợp không có triệu chứng. Ở những nơi khác ở Trung Quốc, dữ liệu giao thông được Financial Times phân tích cho thấy hàng chục thành phố dường như chịu sự hạn chế.

Eric Zheng, Chủ tịch Văn phòng thương mại Mỹ tại Thượng Hải, cho biết: “Gần như tất cả mọi người đều bị ảnh hưởng, cá nhân hoặc doanh nghiệp” và công bố một cuộc khảo sát vào ngày 01/4 trong đó 99% số người được hỏi cho biết họ đã bị ảnh hưởng bởi đợt bùng phát gần đây. “Cuộc sống của bạn chắc chắn đang bị gián đoạn”.

Việc Thượng Hải bất ngờ bị phong tỏa đặt ra những câu hỏi khó khăn về cách tiếp cận “Zero COVID” của Trung Quốc. Không rõ chiến lược phogn tỏa có thể hiệu quả như thế nào đối với biến thể Omicron có khả năng lây truyền cao, mà đã càn quét Hong Kong vào tháng 2 và tháng 3. Dữ liệu tuần trước cho thấy dấu hiệu của một cú đánh kinh tế khó lường từ việc đóng cửa thành phố tại thời điểm diễn ra một cuộc khủng hoảng bất động sản mà đã làm rung chuyển đà tăng trưởng kinh tế của đất nước. Sự nhạy cảm gia tăng xung quanh cách tiếp cận của chính phủ – những lời chỉ trích bị kiểm duyệt trên phương tiện truyền thông xã hội và không tồn tại trên các phương tiện truyền thông chính thức – phản ánh mức độ mà cách tiếp cận này mang một ý nghĩa chính trị vượt ra ngoài các hậu quả kinh tế và xã hội của nó. Một đoạn ghi âm bị rò rỉ về một cuộc trò chuyện được cho là giữa một người dân Thượng Hải và một quan chức từ Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Trung Quốc, nơi tư vấn cho chính phủ về cách tiếp cận của họ đối với căn bệnh này, đã lan truyền vào cuối tuần sau khi quan chức này thừa nhận các biện pháp trong thành phố bị chi phối vì yếu tố chính trị và bỏ qua các khuyến nghị của các chuyên gia y tế.

Nội dung của cuộc gọi, mà Financial Times không thể kiểm chứng nhưng các nhà chức trách sau đó cho biết họ đang điều tra, trái ngược hẳn với những bình luận từ Ngô Tôn Hữu, nhà dịch tễ học hàng đầu của CDC. Ông tái khẳng định vào hôm 1/4 rằng đất nước phải tuân thủ chiến lược “Zero-COVID”, nó vẫn là “chiến lược tiết kiệm và hiệu quả nhất”.

Ngay cả khi căng thẳng đang trở nên rõ ràng, chiến lược này là nguồn tự hào mãnh liệt trong nước đối với ban lãnh đạo. Tờ Nhân dân Nhật báo viết vào tuần trước sau khi lệnh phong tỏa Thượng Hải được công bố rằng “Những lợi thế thể chế đáng chú ý của Trung Quốc và sức mạnh quốc gia mạnh mẽ đã được thể hiện đầy đủ trong cuộc chiến chống dịch bệnh và sẽ tiếp tục được thể hiện”.

Các biện pháp khắt khe

Thượng Hải ban đầu đã cố gắng giảm tỷ lệ lây nhiễm ngày càng tăng bằng cách cách ly các khu phức hợp riêng lẻ thường chứa vài trăm người – một cách tiếp cận được gọi là “chia nhỏ và khoanh vùng” – thay vì đưa toàn bộ thành phố vào bế tắc, như ở Vũ Hán hai năm trước. Jessica, một giáo viên tại một trường quốc tế ở Thượng Hải, người đã bị nhốt trong nhà 48 giờ vào tháng trước trước khi các biện pháp phong tỏa toàn thành phố được đưa ra, cho biết: “Mỗi ngày [vào tháng 3] đều có một tình huống ai đó bị nhốt trong văn phòng, hay như tôi có rất nhiều bạn bè bị cách ly tại trường. Chính quyền sau đấy thông báo bây giờ chúng tôi phải đặt tất cả mọi người vào tình trạng phong tỏa”.

Khi biện pháp cách ly từng tòa nhà, từng dãy nhà tỏ ra không hiệu quả ở Thượng Hải, thì chính quyền Thượng Hải đã chia thành phố thành hai – được phân chia bởi sông Hoàng Phố – và thực thi phong tỏa và kiểm tra hàng loạt. Nhưng thay vì giữ tất cả mọi người ở nhà cùng một lúc, chính quyền vạch ra một cách tiếp cận xen kẽ. Pudong (Phố Đông), khu tài chính bị phong tỏa từ ngày 28/3 đến ngày 01/4, với khu vực Puxi (Phố Tây) bị phong tỏa sau đó trong 4 ngày. Cả hai phía của thành phố hiện đã bị đóng cửa.

Mặc dù các thành phố trên toàn thế giới, từ London đến New York, đã áp đặt các biện pháp phogn tỏa trong hai năm qua để kiềm chế đại dịch, nhưng cách tiếp cận ở Thượng Hải thậm chí còn quyết liệt hơn. Một nhà nghiên cứu giấu tên Trung Quốc nói: “Ở Anh, “ở nhà” có nghĩa là một cái gì đó tương đối khác với “ở nhà” ở Trung Quốc. Ở Trung Quốc, “ở nhà thực sự có nghĩa là ở nhà”.

Nhà nghiên cứu chỉ ra nỗ lực thất bại của Thượng Hải trong việc “lựa chọn chính sách một số lĩnh vực để giảm thiểu tổn hại kinh tế” và cho rằng thành phố không có khả năng có bất kỳ quyền tự chủ nào khỏi Bắc Kinh để “điều chỉnh” các chính sách của mình. Hôm 2/4, Phó Thủ tướng Tôn Xuân Lan đã đến thăm Thượng Hải và yêu cầu phản ứng nhanh chóng đối với sự bùng phát, một dấu hiệu cho thấy sự can thiệp trực tiếp hơn từ Bắc Kinh.

Có những dấu hiệu cho thấy chính quyền trung ương đang quan sát chặt chẽ các đợt bùng phát ở từng thành phố để điều chỉnh cách tiếp cận. Tại Thâm Quyến, một trong những thành phố giàu nhất Trung Quốc, chính phủ đã áp đặt lệnh phong tỏa kéo dài một tuần vào tháng 3. Mặc dù một số hạn chế được dỡ bỏ, nhưng người dân trong trung tâm sản xuất phía Nam vẫn yêu cầu phải có xét nghiệm PCR âm tính để sử dụng phương tiện giao thông công cộng.

Một người gần gũi với CDC Trung Quốc cho biết: “Chìa khóa để giải quyết căn bệnh này nằm ở việc phát hiện sớm và hành động nhanh chóng. Trong trường hợp Thượng Hải, chính quyền đã không hành động cho đến khi bùng phát ở giai đoạn sau”. Người này nói thêm rằng Omicron “dễ lây lan hơn nhiều” so với các biến thể trước đó đã buộc phải thay đổi sang các hạn chế ngày càng chặt chẽ hơn.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.ft.com/content/11d1f525-6253-4238-b0f6-500f508ec073

TLTKĐB – 16/04/2022

Đại dịch và chính trị – Phần cuối


Luật mới đóng vai trò quan trọng trong việc “đảm bảo việc thực hiện kiên quyết, đầy đủ và trung thành chính sách một quốc gia, hai chế độ, theo đó người dân Hong Kong quản lý Hong Kong với mức độ tự chủ cao”. Luật bao gồm một điều khoản về quyền con người, quy định rằng các điều khoản của Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị và điều khoản về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đều phải được bảo vệ. Nhưgn sức ép chính của luật này là việc tuyên bố các quyền và quyền lực mới cho chính quyền Trung Quốc ở Hong Kong và liệt kê ra một loạt các hành vi vi phạm được xác định lỏng lẻo. Trong một danh sách dài các “hành động khủng bố”, Điều 24 bao gồm “các hành động gây nguy hiểm nghiêm trọng đến sức khỏe, an toàn hoặc an ninh cộng đồng”. Điều 20, về vấn đề ly khai, nghiêm cấm nhiều hành vi “có hoặc không bằng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực”, hình sự hóa một cách có hiệu quả các hình thức hành động chính trị bất bạo động.

Sau khi luật được thông qua, chính quyền Hong Kong đã trở nên khắc nghiệt hơn. Vào ngày 30/07/2020, 12 chính trị gia ủng hộ dân chủ đã bị truất quyền tham gia cuộc bầu cử vào Hội đồng Lập pháp dự kiến vào ngày 06/09/2020. Một ngày sau, các cuộc bầu cử này bị hoãn một năm theo Sắc lệnh Quy định Khẩn cấp hoàn toàn dựa trên lý do bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của người dân Hong Kong. Ngoài việc coi COVID-19 là cái cớ để kiểm soát dân sự chặt chẽ hơn, Trung Quốc có thể đã coi thường các vị thế quốc tế suy yếu của Mỹ và Anh do những nước này hoạt động kém trong cuộc khủng hoảng đại dịch khi gia tăng quyền tự do hành động để áp đặt các biện pháp độc tài mà không gây ra phản ứng quốc tế mạnh mẽ.

Ở một quốc gia có lịch sử nội chiến, chẳng hạn như Sri Lanka, các lực lượng vũ trang được tăng cường trách nhiệm thực thi pháp luật. Như nhà nghiên cứu Steven Simon đã quan sát ở các quốc gia khác, bao gồm Hungary, Philippines và Mỹ, mối đe dọa virus có thể được sử dụng để “lôi kéo công chúng vào việc giảm quyền tự do dân sự và mở rộng quyền hành pháp”. Ông thận trọng cho rằng những động thái như vậy cũng có những nguyên nhân khác và “cuộc khủng hoảng hiện tại dường như không thực sự dẫn đến tình trạng thay đổi cuộc chơi trong cuộc đấu tranh lâu dài giữa các nền dân chủ tự do và phi tự do – hay các nền dân chủ cạnh tranh – và các chế độ độc tài”. Học giả Francis Fukuyama đã đưa ra một loạt kịch bản mà COVID-19 có thể tác động, với một số bi quan (chủ nghĩa phát xít đang trỗi dậy) và một số lạc quan (nền dân chủ kiên cường). Ông hy vọng rằng cuộc khủng hoảng sẽ có tác động lựa chọn có lợi dẫn việc lộ diện những nhân vật độc tài liều lĩnh như Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro. TÍnh chuyên nghiệp và năng lực có thể lại được đánh giá cao. Nói rộng hơn, Fukuyama lưu ý rằng:

Các cuộc khủng hoảng lớn gây ra những hậu quả lớn, thường là không lường trước được. Cuộc Đại suy thoái đã thúc đẩy chủ nghĩa biệt lập, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa phát xít và Chiến tranh thế giới thứ Hai – nhưng cũng dẫn đến Chính sách kinh tế mới (New Deal), sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một siêu cường toàn cầu và cuối cùng là phi thực dân hóa. Vụ tấn công 11/9 đã dẫn đến hai sự can thiệp thất bại của Mỹ, sự trỗi dậy của Iran và các hình thức mới của chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã tạo ra một làn sóng chủ nghĩa dân túy đã thay thế các nhà lãnh đạo trên toàn cầu. Các nhà sử học trong tương lai sẽ theo dõi những ảnh hưởng tương đối lớn đối với đại dịch virus corona hiện nay; nhưng thách thức ở đây là phải phát hiện ra chúng trước.

Các đợt dịch bệnh trong quá khứ cho thấy một loạt các ảnh hưởng. Danh tiếng của Hoa Kỳ với tư cách là một thành viên quốc tế quan trọng đã bị suy giảm nghiêm trọng. Xu hướng này bắt đầu từ rất lâu trước đây trong Chiến tranh Việt Nam và càng được khẳng định thêm trong các cuộc xung đột khốc liệt ở Afghanistan và Iraq. Thái độ cố ý xa lánh các đồng minh và các tổ chức quốc tế của Hoa Kỳ đã đẩy nhanh và làm sâu sắc vấn đề. Trong cuộc khủng hoảng COVID-19, Tổng thống Trump đã thất bại trong việc bảo vệ đất nước mình. Các phát ngôn mang tính công kích của ông đối với Trung Quốc và WHO đã cho thấy ông thiếu khả năng kiềm chề sự bất đồng. Trong một loạt những sai lầm lớn, thất bại trong cuộc tái cử của Trump được cho là sự từ bỏ hoàn toàn trách nhiệm huy động hợp tác quốc tế trong đại dịch.

Kết luận

Ảnh hưởng lâu dài của dịch bệnh là rất lớn. Đối phó với các dịch bệnh luôn là điều khó khăn như đã được minh chứng trong lịch sử và cho đến ngày nay. Lịch sử của các đợt dịch bệnh cho thấy rằng cuộc khủng hoảng hiện tại có khả năng còn kéo dài và các dịch bệnh khác cũng được dự đoán sẽ xảy ra. Phạm vi của mối đe dọa chắc chắn là trên phạm vi quốc tế – COVID-19 lan nhanh  trên toàn cầu phần lớn là do các phương tiện đi lại hiện đại – và sự hợp tác quốc tế mạnh mẽ giữa các chuyên gia y tế là một đặc trưng cứu vãn cuộc khủng hoảng này. Vai trò chuyên môn của các tổ chức quốc tế như WHO vẫn rất cần thiết. Tuy nhiên, các vấn đề nảy sinh như quy mô và chi phí tốn kém của các nhiệm vụ họ phải giải quyết, mối hoài nghi liên tục giữa các quốc gia và xu hướng bất đồng giữa các cường quốc khiến các tổ chức quốc tế không thể chịu trách nhiệm chung về quản lý đại dịch.

Giải quyết dịch bệnh là nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất của các chính phủ quốc gia. Trách nhiệm này có từ thế kỷ XIV, khi các thành phố ở bán đảo Italy và Adriatic bắt đầu phát triển các hệ thống thực hiện các biện pháp hành chính chống lại bệnh dịch. Mặc dù virus không e ngại đến các đường biên giới, nhưng sự lây lan và cơ hội sống sót của chúng từ lâu đã phụ thuộc rất nhiều vào luật pháp, chính sách và hành vi của các quốc gia. Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia đều đáp ứng được với nhiệm vụ. Tính hiệu quả trong việc giải quyết các đại dịch dường như không làm bật lên vị trí mà họ chiếm giữ trong sự phân chia chế độ dân chủ – chế độ độc tài. Các yếu tố quan trọng hơn là năng lực của các nhà lãnh đạo, khả năng đưa ra quyết định nhanh chóng của họ, tâm thái sẵn sàng lắng nghe các nhà khoa học, tính hiệu quả của bộ máy hành chính và mức độ tin tưởng mà họ tạo ra đối với người dân.

Trong cuộc khủng hoảng này, đã có nhiều cuộc thảo luận về hiệu quả hoạt động của phụ nữ trong vai trò đứng đầu chính phủ. Hầu hết các chính phủ dưới sự lãnh đạo của phụ nữ đã đưa ra các quyết định nhanh chóng về việc phong tỏa và các biện pháp khác, cũng như có hiệu quả trong việc giao tiếp với công chúng. Trong hầu hết các trường hợp, các quốc gia này có tỷ lệ tử vong tương đối thấp. Trong các tài liệu phân tích điều này, có nhiều giải thích sơ bộ khác nhau về lý do tại sao phụ nữ hoạt động tương đối hiệu quả trong cuộc khủng hoảng này và hiện tượng này cần được nghiên cứu thêm.

Các cuộc đấu tranh chống lại dịch bệnh nhất thiết phải liên quan đến nhiệm vụ thiết lập mục tiêu sắp xếp nguy cơ. Trong trường hợp COVID-19, khả năng virus bùng phát lần thứ hai sau khi bị đánh bại ở một số khu vực cụ thể là một trogn nhiều lý do cần thận trọng trong việc hứa hẹn và tuyên bố thành công. Tất nhiên, việc loại bỏ hoàn toàn virus trên toàn thế giới nên là mục tiêu cuối cùng, nhưng gần như chắc chắn là không thực tế trong ngắn hạn hoặc trung hạn. Trong khi đó, mục tiêu chính là phải sử dụng nhiều biện pháp để giảm sự lây lan của virus trong dân cư và giảm thiểu khả năng lây nhiễm của người dân đối với virus đó, bao gồm các biện pháp cách ly kiểu cũ cũng như sự phát triển vacccine.

Tin tưởng và sự lãnh đạo là điều cần thiết bởi vì cuộc đấu tranh chống lại các bệnh truyền nhiễm đòi hỏi một mức độ hy sinh cá nhân vì lợi ích xã hội. Nếu người dân được yêu cầu ở trong nhà trong nhiều tháng, giãn cách xã hội, triển khai các kỹ năng của họ ở tuyến đầu hoặc chấp nhận vaccine bất chấp hàng loạt tuyên truyền thù địch trên Internet, họ cần hiểu rằng đó là những lời khuyên trung thực, vì những lý do chính đáng và có mục tiêu hợp lý. Dù lối suy diễn theo hướng chiến tranh rất thu hút, nhưng lại không phù hợp với các cuộc đấu tranh chống lại dịch bệnh bởi vì quá trình đối phó với các mối đe dọa của virus nhất thiết phải chậm rãi, phân cấp và thay đổi nhanh chóng về mặt hành chính và xã hội.

Quá trình chấm dứt các đợt phong tỏa vì đại dịch và các biện pháp khác có thể gây chia rẽ xã hội nhiều hơn so với việc thực hiện nó lúc ban đầu. Điều này đòi hỏi một số đánh giá vốn rất khó và dễ gây tranh cãi về việc làm thế nào để nới lỏng các biện pháp nhất định và những rủi ro có liên quan. Trong cộng đồng, nhân viên chăm sóc tại nhà hoặc giáo viên có thể cảm thấy không an toàn khi tiếp tục công việc bình thường của họ mà không được tiếp cận với một số bằng chứng chắc chắn, thiết bị bảo hộ, quy trình kiểm tra và các hỗ trợ khác. Trong nội bộ các quốc gia, có thể có những bất đồng cơ bản về việc các chính sách và thể chế cần thay đổi như thế nào khi có những trải nghiệm khác nhau về đại dịch này. Trong bối cảnh quốc tế, những bất đồng có thể nảy sinh khi hành động hoặc từ chối hành động của một quốc gia gây ra rủi ro cho các quốc gia khác và công dân của họ. Bất chấp sự cố chấp của một số nhà lãnh đạo, không thể phủ nhận yêu cầu cấp thiết  của việc phối hợp và hài hòa chính sách giữa các cấp chính quyền và xuyên quốc gia.

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Nguồn: Adam Roberts – Pandemics and Politics – The Survival: Global Politics and Strategy, Vol 62, Issue 5, p7-40.

TN 2021 – 3, 4, 5

Đại dịch và chính trị – Phần IV


Hậu quả chính trị của đại dịch

Những thảm họa lớn, đặc biệt nếu chúng có thể được đổ lỗi cho các chính phủ cụ thể, có thể thúc đẩy những phát triển chính trị đáng kể. Chẳng hạn như theo Richard Evans, mặc dù nhiều đợt bùng phát dịch tả ở Trung Âu vào thế kỷ XIX gần như trùng hợp với các cuộc cách mạng, nhưng “dịch bệnh thường là kết quả nhiều hơn là nguyên nhân tạo ra những chuyển biến mang tính cách mạng cũng như phản ứng của chính phủ liên quan”. Trong khi đó, đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918 – 1919 có thể đã tạo động lực cho phong trào độc lập mới chớm nở của Ấn Độ. Người ta cho rằng một trận đại dịch rốt cuộc có thể đã mang lại nền độc lập cho Ấn Độ vào năm 1947, và từ đó đã kích hoạt quá trình phi thực dân hóa. Tuy nhiên, mối liên hệ chặt chẽ giữa đại dịch và sự gia tăng của các hoạt động xã hội ở Ấn Độ không được thừa nhận.

Đôi khi, các biện pháp được thực hiện để xử lý dịch bệnh có thể dẫn đến sự phản đối của công chúng – cho dù vì lý do tôn giáo, sức khỏe, sự cẩn trọng hay các lý do khác. Đây không phải là hiện tượng mới. Năm 1691, trong đợt bệnh dịch hạch lớn cuối cùng của thành phố Dubrovnik, những người bị nghi nhiễm bệnh và buộc phải di dời đến đảo Lokrum đã nổi dậy, rõ ràng là do điều kiện cách ly quá đông đúc. Ở nước Anh hiện nay, một lý do khiến chính phủ chậm trễ quyết định phong tỏa (cuối cùng được áp dụng vào ngày 23/3/2020) xuất phát từ mối lo về nguy cơ tiềm ẩn của sự bất mãn vốn khá phổ biến ở nước này. Trong khi đó, ở Mỹ, những hành động phản đối chống lại việc phong tỏa bị coi là phản khoa học, chống chính phủ liên bang và bạo lực.

Trong những tháng đầu năm 2020, ở nhiều quốc gia có xu hướng mặc nhiên chấp nhận một giả định đơn giản về hậu quả chính trị của đại dịch rằng: COVID-19 là một mối đe dọa chết người đối với các xã hội mà chỉ có chính phủ mới có thể đối phó, do đó trách nhiệm cơ bản nhất của họ đó là bảo vệ người dân. Kết quả tất yếu là thời gian cho các cuộc bãi công và các phong trào chống đối kết thúc. Đây là chiến tranh và đòi hỏi phải đoàn kết dân tộc.

Lối suy diễn tất cả theo hướng chiến tranh tất nhiên là không ăn khớp với nhau. Cuộc đấu tranh chống lại virus, về bản chất rất khác với chiến tranh. Điểm tương đồng đúng nghĩa của cuộc đấu tranh chống lại virus có thể là sự phản kháng của dân chúng đối với chế độ chuyên chế. Cả hai hướng hành động đều dựa trên sự hiểu biết rằng kẻ thù – có thể là kẻ chuyên quyền cần những công dân ngoan ngoãn, hoặc virus cần vật chủ ấm áp để có thể nhân rộng và lây lan – phụ thuộc vào con người hợp tác hàng ngày. Cả hai phương thức đều nhằm mục đích làm suy yếu sức mạnh của đối thủ, không mất công chiến đấu quá nhiều bằng cách tước đoạt các nguồn lực thiết yếu của đối thủ. Và cả hai đều có xu hướng phải mất nhiều thời gian mới đạt được kết quả, dẫn đến cảm giác thất vọng ở những người đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh.

Tất nhiên, những khác biệt cũng rất rõ ràng. Phong tỏa có xu hướng là một hành động của nhà nước, trong khi phản kháng dân sự thường do các nhóm xã hội dân sự khởi xướng. Mặc dù vậy, việc phong tỏa không phải trong mọi trường hợp đều là sản phẩm của sự can thiệp của chính phủ, mà còn có thể là kết quả từ sáng kiến của người dân. Lawrence Freedman đã quan sát thấy rằng ở Vương quốc Anh vào tháng 3/2020, ngay cả trước khi lệnh đóng cửa do chính phủ áp đặt trở thành bắt buộc, công chúng đã tự hành động. Đến ngày 18/03/2020, tỷ lệ sử dụng phương tiện giao thông ở London đã giảm 40%. Khoảng 45% người dân London đã ngừng ghé thăm các địa điểm giải trí. Việc các nhà khoa học tham gia nhiều và công khai vào các quy trình của chính quyền dẫn đến hành động bắt buộc phong tỏa của chính phủ truyền tải thông điệp rằng đây không phải là một cuộc tranh giành quyền lực do chính phủ áp đặt, mà là một việc làm cần thiết về mặt xã hội và khoa học.

Bất kỳ điểm tương đồng nào giữa lệnh phong tỏa và các phong trào phản kháng dân sự không khiến chúng trở thành đồng minh tự nhiên. Ngược lại, nhiều chính phủ ra lệnh phong tỏa vì COVID-19 đã có một đường lối cứng rắn đối với các cuộc biểu tình, đặc biệt là thông qua các lệnh cấm tất cả các cuộc tụ họp cộng đồng đông người. Tuy nhiên, trong thời kỳ bị phong tỏa, nhiều phong trào, cho dù vì lý do sức khỏe hay thận trọng chính trị, đã giảm bớt các cuộc biểu tình. Các phong trào khác cố gắng điều chỉnh các chính sách và phương thức hoạt động của họ tuân theo quy định phải đứng cách nhau 3m và phải đeo khẩu trang.

Trong số rất nhiều phong trào xã hội đang hoạt động trong cuộc khủng hoảng COVID-19, phong trào dễ thấy và có ảnh hưởng nhất là phong trào quốc tế của cộng đồng người Mỹ gốc Phi chống lại bạo lực và phân biệt chủng tộc có hệ thống đối với người da đen “Black Lives Matter”. Những người Mỹ gốc Phi bị đàn áp thường được mô tả bằng tình trạng khó thở do hành vi bạo lực của cảnh sát, tạo ra mối liên hệ tượng trưng với dấu hiệu nhiễm bệnh COVID-19. Thêm vào đó là những bằng chứng ngày càng tăng cho thấy COVID-19 có nhiều khả năng gây tỷ lệ tử vong cao ở người nghèo và những người thuộc các nhóm người da đen, châu Á và dân tộc thiểu số. Các dữ kiện này tạo ra cảm giác về sự bất công.

Cuộc khủng hoảng COVID-19 còn gây ra những hậu quả phi tự do. Ở hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, bệnh dịch là lý do để hoãn các cuộc bầu cử quốc gia và địa phương. Ở một số nơi, nó còn là cơ sở để ban hành luật khẩn cấp đình chỉ một loạt các thủ tục hiến pháp và quyền công dân. Hai trường hợp điển hình là Hungary và Hong Kong.

Ở Hungary, mục tiêu lâu dài của Thủ tướng Viktor Orbán là tạo ra cái mà ông gọi là “nền dân chủ phi tự do”. Vào ngày 30/03/2020, quốc hội Hungary đã thông qua một đạo luật có tên là “Đạo luật bảo vệ chống lại virus corona” cho phép chính phủ ra phán quyết bằng sắc lệnh trong phạm vi cần thiết để giải quyết hậu quả của đại dịch mà không cần phải đưa ra Quốc hội để tranh luận. Pháp lệnh này đã bị chỉ trích trên quy mô rộng, Nghị viện châu Âu còn lên án nó là “hoàn toàn không phù hợp với các giá trị của châu Âu”.

Ở Hong Kong, những vấn đề gây ra cuộc khủng hoảng lớn vào năm 2020 đã tồn tại từ lâu. Tuyên bố chung Trung – Anh năm 1984, hiệp ước quốc tế quan trọng đảm bảo quyền tự chủ của Hong Kong ngoại trừ các vấn đề đối ngoại và quốc phòng, được cho là xác định vị thế Đặc khu hành chính Hong Kong trong 50 năm kể từ khi lãnh thổ này được trao trả cho Trung Quốc vào ngày 01/07/1997. Trong cộng đồng cư dân xuất hiện mối lo ngại lớn về sự xói mòn mức độ tự trị hiện có. Từ năm 2005 trở đi, đã có nhiều cuộc biểu tình lớn và chủ yếu là bất bạo động, hầu như là để yêu cầu mở rộng dân chủ. “Phong trào ô dù” do sinh viên lãnh đạo từ năm 2014, yêu cầu cải cách luật bầu cử của Hong Kong, đã được tổ chức rất bài bản. Sau đó, từ tháng 6/2019, các cuộc biểu tình quy mô lớn, chủ yếu do sinh viên lãnh đạo, đã được tổ chức do những lo ngại về một dự luật mới của Hong Kong được đề xuất liên quan đến dẫn độ đối với người phạm tội bỏ trốn và hỗ trợ pháp lý lẫn nhau giữa Hong Kong và bất kỳ nơi nào ngoài Hong Kong.

Vào đầu năm 2020, đại dịch đã làm thay đổi trọng tâm của vấn đề, dường như làm tăng thêm quyết tâm của chính quyền Hong Kong và Bắc Kinh trong việc chấm dứt những màn thể hiện thù địch công khai. Vào cuối tháng 3/2020, với sự khuyến khích từ Bắc Kinh, chính quyền Hong Kong đã thông qua quy định cấm tụ tập nhiều hơn 4 người với lý do kiểm soát dịch bệnh. Nhưng quy định không ngăn chặn được các cuộc biểu tình. Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc tại Bắc Kinh đã bỏ qua hoàn toàn chính quyền Hong Kong để thông qua “Luật An ninh Quốc gia” mới cho Hong Kong vào ngày 30/6, có hiệu lực ngay lập tức. Chính phủ Anh tuyên bố rằng luật mới “rõ ràng vi phạm nghiêm trọng Tuyên bố chung năm 1984 về Hong Kong”.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Nguồn: Adam Roberts – Pandemics and Politics – The Survival: Global Politics and Strategy, Vol 62, Issue 5, p7-40.

TN 2021 – 3, 4, 5

Đại dịch và chính trị – Phần III


Các tổ chức quốc tế

Bất kỳ nỗ lực kiểm soát đại dịch nào đều đòi hỏi cả hành động của các quốc gia và hợp tác quốc tế. Lý tưởng nhất là cả hai sẽ bổ sung cho nhau. Các tổ chức quốc tế từ tổ chức Bác sĩ không biên giới (Médecins sans Frontières) đến Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã tham gia vào cuộc khủng hoảng COVID-19. Cho đến nay, tổ chức quan trọng nhất và gây tranh cãi nhất là WHO với 194 quốc gia thành viên. Một trong những văn bản hướng dẫn chính của WHO là Điều lệ Y tế Quốc tế (IHR), được 196 quốc gia thông qua và sửa đổi cơ bản vào năm 2005, với mục đích và phạm vi là “ngăn ngừa, bảo vệ chống lại, kiểm soát và cung cấp dịch vụ sức khỏe cộng đồng trước sự lây lan bệnh dịch trên phạm vi quốc tế theo những cách tương xứng và hạn chế các rủi ro về sức khỏe cộng đồng và tránh sự can thiệp không cần thiết đối với giao thông và thương mại quốc tế”. Theo điều lệ này, WHO chịu trách nhiệm quyết định khi nào một tình huống cụ thể cần được tuyên bố là tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng. Họ không đề cập đến từ “pandemic” (đại dịch).

Trước khi COVID-19 xuất hiện, WHO đóng một vai trò quan trọng nhưng đôi khi gây tranh cãi trong việc giải quyết một số đợt bùng phát dịch bệnh do virus gây ra. Vào giai đoạn 2002 – 2004, SARS đã gây ra một đợt bùng phát dịch bệnh được quan tâm rộng rãi ở châu Á. WHO không coi đây là tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng, cũng không xác định đây là một đại dịch. Người ta cho rằng Trung Quốc ban đầu đã che đậy sự bùng phát dịch bệnh này và hoạt động của WHO còn yếu kém, dẫn đến việc WHO đã thông qua Điều lệ IHR vào năm 2005.

Ngược lại, dịch cúm H1N1 (hay “cúm lợn”) bùng phát được WHO tuyên bố là tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng vào ngày 26/04/2009 và là đại dịch vào ngày 11/06/2009 lại có tỷ lệ tử vong thấp. Nhưng WHO cũng bị cáo buộc vì phóng đại mối nguy hiểm lẫn việc chậm xác định rằng đây là một đại dịch.

Năm 2012, WHO đưa ra cảnh báo toàn cầu về hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS), một căn bệnh do virus corona gây ra chủ yếu ở Arab Saudi và một số quốc gia lân cận, sau đó bùng phát trở lại ở Hàn Quốc. WHO không xác định MERS là tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng.

Trong năm 2013 – 2014, sự chậm chạp của WHO trong việc tuyên bố dịch bệnh do virus Ebola bùng phát ở Tây Phi là tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng đã làm tăng quy mô và mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng y tế này. Cuối cùng WHO đã xác định nó là tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng vào ngày 08/08/2014.

Hoạt động thất thường của tổ chức WHO cho thấy có vấn đề. Điều lệ IHR vốn ưu tiên hợp tác đa phương, đã tỏ ra khó thực hiện ở nhiều nước. Một số bất cập cảu WHO là do họ tự gây ra khi tổ chức này bổ nhiệm Robert Mugabe, khi đó là tổng thống Zimbabwe với những tai tiếng về quản trị, tham nhũng và nhân quyền, làm đại sứ thiện chí. Nhưng tất cả các tổ chức quốc tế, ngay cả những tổ chức quan tâm đến các vấn đề sức khỏe, đều đã và đang bị xáo trộn liên quan tới một số vấn đề bởi sự khác biệt giữa các quốc gia thành viên. Dấu hiệu báo trước về thái độ thù địch hiện tại của Hoa Kỳ đã xuất hiện vào những năm 1920 và 1930, khi nước này từ chối gia nhập Tổ chức Y tế của Hội Quốc Liên có trụ sở tại Geneva. Hoa Kỳ vẫn là thành viên của Văn phòng Y tế Cộng đồng Quốc tế (OIHP), có trụ sở tại Paris, nhưng việc họ từ chối Hội Quốc Liên đã phá hủy nỗ lực hợp nhất các cơ quan có trụ sở tại Geneva và Paris. Do đó, châu Âu chủ quản hai tổ chức y tế toàn cầu vốn hoạt động cạnh tranh nhau cho đến khi WHO được thành lập vào năm 1948. WHO cũng gặp khó khăn đối với các quốc gia thành viên. Năm 1949, Liên Xô rời khỏi tổ chức này vì nhiều lý do, bao gồm sự hiểu biết khác biệt về nguyên nhân và cách chữa bệnh của Moscow và việc phủ nhận giá trị của hành động tập thể của WHO chống lại bệnh tật. Trung Quốc cũng mang mối hoài nghi về WHO, cùng với các cơ quan khác của Liên Hợp Quốc, cho đến năm 1971 do đã công nhận Đài Loan là chính quyền chính thức của Trung Quốc.

Trớ trêu thay, hiện nay Hoa Kỳ và những nước khác công kích WHO vì sự thao túng được cho là của Trung Quốc trong tổ chức này. WHO đã công nhận đợt bùng phát chủng virus corona mới là tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng vào ngày 30/01/2020, đặt tên bệnh là COVID-19 vào ngày 11/02 và xem xét những đặc điểm lây lan của nó như một đại dịch vào ngày 11/03. Nhưng các cáo buộc nổi lên rằng WHO đã quá dung túng cho việc báo cáo không đầy đủ và chậm trễ của Trung Quốc về dịch bệnh, đặc biệt là về việc lây nhiễm nhanh từ người sang người.

Những tuyên bố chính thức ban đầu của Trung Quốc về đợt bùng phát virus corona chủng mới ở Vũ Hán đã hạ thấp tầm quan trọng của sự kiện này, truyền tải ấn tượng rằng không có sự lây nhiễm từ người sang người và chỉ ra rằng đợt bùng phát này chỉ liên quan đến chợ động vật ở Vũ Hán. Sau đó, khi mối đe dọa cực độ do virus corona gây tử vong ở người trở nên rõ ràng, những lời chỉ trích đối với việc xử lý vấn đề chậm chạp của Trung Quốc đã tăng lên. Nhiều báo cáo chỉ ra rằng số ca mắc bệnh mới từ tháng 11/2019 trở đi cao hơn đáng kể so với con số được thừa nhận trong các tuyên bố chính thức. Phản ứng của WHO trong suốt tháng 01/2020 là tìm kiếm thêm thông tin từ Trung Quốc về đợt bùng phát một cách khó khăn. Quá trình này được nhận xét là: Sự chậm trễ đáng kể của Trung Quốc và sự thất vọng đáng kể của các quan chức WHO về việc không nhận được thông tin họ cần để chống lại sự lây lan của virus chết người… Bất chấp những lời phê phán, trên thực tế, Trung Quốc đã tham gia vào việc công bố bản đồ gen của virus hơn một tuần sau khi ba phòng thí nghiệm khác nhau của chính phủ đã giải mã đầy đủ thông tin. Kiểm soát chặt chẽ thông tin và cạnh tranh trong hệ thống y tế cộng đồng của Trung Quốc là nguyên nhân gây ra tình trạng này.

Các thông tin cho thấy bản thân WHO thay vì thông đồng với Trung Quốc như Trump đã tuyên bố, đã không hề hay biết gì bởi Trung Quốc chỉ cung cấp cho họ thông tin tối thiểu theo yêu cầu của luật pháp. Tuy nhiên, tổ chức này đã cố gắng làm sáng tỏ nhất có thể về tình hình Trung Quốc, đúng với tư cách là phương tiện để đảm bảo nhiều thông tin hơn. Các chuyên gia WHO thực sự nghĩ rằng các nhà khoa học Trung Quốc đã là “rất tốt” trong việc phát hiện và giải mã virus, bất chấp sự thiếu minh bạch từ các quan chức Trung Quốc.

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump ban đầu đánh giá cao nỗ lực của chính phủ Trung Quốc đối với việc xử lý cuộc khủng hoảng virus corona chủng mới. Nhưng không lâu sau, Trump nhanh chóng quay sang chỉ trích mạnh mẽ cả Trung Quốc và WHO khi không thấy được sự đóng góp của các chuyên gia y tế Trung Quốc đối với nhận thức toàn cầu về COVID-19. Vào ngày 14/04/2020, ông Trump dự định ngừng tài trợ cho WHO với lý do là tổ chức này “sai lầm nghiêm trọng trong quản lý và che giấu sự lây lan của virus corona”. Ông cũng nhiều lần bày tỏ sự giận dữ trước việc WHO phản đối lệnh cấm du lịch do Hòa Kỳ đề xuất về dừng các chuyến bay từ Trung Quốc. Ông Trump cũng cáo buộc Viện Virus học Vũ Hán là nguồn gốc của đại dịch này. Khi đó, Hoa Kỳ đe dọa cắt đứt mọi quan hệ với WHO, tuyên bố sẽ chuyển hướng quỹ tài trợ cho các nhu cầu y tế cộng đồng toàn cầu khác.

Tuy vậy, một số chỉ trích của Hoa Kỳ đối với WHO được cho là phi logic hoặc không nhận được nhiều sự ủng hộ. Nhiều người nghi ngờ Tổng thống Trump đang đổ lỗi cho Trung Quốc để làm chệch hướng dư luận khỏi việc chính ông không giải quyết hiệu quả cuộc khủng hoảng COVID-19 ở Mỹ.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Nguồn: Adam Roberts – Pandemics and Politics – The Survival: Global Politics and Strategy, Vol 62, Issue 5, p7-40.

TN 2021 – 3, 4, 5

Đại dịch và chính trị – Phần II


Những ghi chép trong lịch sử cũng cho thấy những khía cạnh khác nhau về vai trò của những nhà lãnh đạo trong đại dịch. Các xã hội khác nhau có những cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề quản lý dịch bệnh phần nào dựa trên những kinh nghiệm lịch sử, truyền thống văn hóa riêng biệt về các vấn đề như che mặt và bắt tay, hay dựa trên các hình thái tổ chức của chính phủ và xã hộ khác nhau. Theo François Heisbourg thì các biện pháp hiệu quả nhất hiện tại vẫn tương tự các biện pháp được áp dụng từ thời trung cổ như phong tỏa, đeo khẩu trang, giãn cách xã hội. Các trận thiên tai cũng có thể dẫn đến sự tan vỡ xã hội, các phản ứng tôn giáo cực đoan và sự biến đổi đáng kể của chính phủ.

Bốn thế kỷ sau đại dịch Cái chết đen, nhiều công trình nghiên cứu về bệnh dịch đã xuất hiện ở châu Âu. Những nghiên cứu này đôi khi được coi là bảo thủ và quá bận tâm đến các lý thuyết chiêm tinh, tôn giáo cổ đại hoặc chỉ đơn thuần là suy đoán về nguyên nhân bệnh dịch hạch. Nhưng họ ngày càng đưa ra những quan sát chi tiết và sắc sảo, thu hút sự chú ý đến các phương pháp điều trị đã được chứng minh là có tác dụng và ghi nhận vai trò của chính phủ. Họ lưu ý rằng người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương và cần được cung cấp lương thực và chỗ ở để bảo vệ họ và những người khác không bị lây bệnh.

Sử gia Samuel Cohn đúc rút hai kết luận từ nghiên cứu của mình về các vùng dịch như sau. Thứ nhất, “dịch bệnh không nhất dẫn đến đức tin vào thuyết siêu việt và làm suy yếu các quốc gia” và thứ hai, việc quản lý hiệu quả mối đe dọa hoặc thực trạng bệnh dịch có xu hướng dẫn đến sự tôn vinh các nhà lãnh đạo và giá trị của sự phục tùng đối với họ, “do đó thúc đẩy quyền lực chuyên chế vào cuối thế kỷ XVI và sau này”. Điều này đặt ra những câu hỏi hiển nhiên. Có phải các nhà chức trách thành công trong việc chống lại dịch bệnh đều là “chuyên chế”? Và tất cả những người theo chủ nghĩa chuyên chế đều thành công?

Các hình thái nhà nước và hệ thống chính trị

Nhiều quốc gia châu Á đã phản ứng kịp thời trước những báo cáo đầu tiên về bệnh dịch do virus corona chủng mới gây ra, ví dụ như Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam. Ngay cả Trung Quốc, sau những phủ nhận ban đầu về mức độ nghiêm trọng của vấn đề, đã có hành động nhanh chóng và dứt khoát trong việc ra lệnh phong tỏa Vũ Hán và các thành phố khác ở Hồ Bắc. Những phản ứng này ở Đông Á có thể có một lời giải thích rất đơn giản, ít liên quan đến hình thái hệ thống chính trị mà mọi thứ liên quan đến kinh nghiệm sống nhiều hơn. Các quốc gia này đã có nhận thức về đợt bùng phát hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS) năm 2002 – 2004, biết rằng nó khác với bệnh cúm, có tỷ lệ tử vong cao hơn. Ở những quốc gia khác, ít nhất là cho đến tháng 3 năm 2020, nhiều chính phủ vẫn cho rằng đó chỉ là một bệnh cúm thông thường và do đó cảm thấy mức độ khẩn cấp thấp hơn. Việc Trung Quốc phong tỏa thành phố Vũ Hán đã cho thế giới một minh chứng ấn tượng vè phương thức đã biết để ngăn chặn dịch bệnh.

Đánh giá về hiệu suất tương đối của các nền dân chủ và các nhà nước chuyên chế, trong bất kỳ trường hợp nào cũng khó. Trong thế kỷ này, việc phân chia các quốc gia thành hai nhóm cơ bản là các nền dân chủ hợp hiến và chế độ chuyên chế có vẻ bất cập. Theo học giả Martin Loughlin, khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ Hai, chỉ có 12 nền dân chủ hợp hiến được thành lập trên thế giới. Đến năm 1987, con số này đã tăng lên 66… và đến năm 2003, con số này tăng gần gấp đôi lên 121. Đến thiên niên kỷ mới, hầu hết các quốc gia tìm cách hợp pháp hóa quyền cai trị của mình trong mắt người dân và thế giới đều cảm thấy có nghĩa vụ phải thông qua hiến pháp nhằm nâng cao vai trò của các cơ quan pháp luật, cam kết tuân thủ pháp quyền, bảo vệ các quyền cá nhân và tổ chức các cuộc bầu cử tự do – công bằng. Vào cuối thế kỷ XX, có vẻ như chỉ có một trò chơi duy nhất là dân chủ hợp hiến.

Loughlin cho rằng nền dân chủ hợp hiến đã đạt đến đỉnh cao toàn cầu trong giai đoạn 2006 – 2011 và sau đó đi vào suy thoái. Các quốc gia dân chủ không bị lật đổ bằng cuộc đảo chính hoặc các kiểu sụp đổ cơ bản khác. Thay vào đó, một số quốc gia đã trở thành “các nền dân chủ khiếm khuyết” – các chế độ giữ lại các cạm bẫy về hình thái thể chế của các nền dân chủ hợp hiến trong khi đánh mất các chuẩn mực và giá trị mà chúng được xây dựng nên.

Hãy xem xét trường hợp Brazil. Trong báo cáo thường niên “Tự do trên thế giới” năm 2020, Tổ chức Freedom House phân loại Brazil là “tự do” và mô tả nước này là một nền dân chủ, nhưng đồng thời ghi nhận nhiều chỉ trích: các cuộc tấn công bạo lực nhằm vào các nhà báo độc lập và các nhà hoạt động xã hội dân sự, tỷ lệ tôi phạm bạo lực cao, tham nhũng ở cấp cao nhất vào bạo lực với các nhóm thiểu số. Peru cũng là một ví dụ tương tự. Một vấn đề khác đối với phương pháp đánh giá của tổ chức này là họ hầu như chỉ đề cập đến các vấn đề sức khỏe và điều trị y tế.

Người ta có thể cho rằng các nền dân chủ khiếm khuyết, đặc biệt là các nền dân chủ hạn chế tự do báo chí, sẽ hoạt động đặc biệt tồi tệ khi đối mặt với những thảm họa lớn, bao gồm cả đại dịch. Điều này sẽ gây chấn động với quan điểm phổ biến rằng các quốc gia có tự do báo chí, các thể chế độc lập và pháp quyền – nói cách khác, các nền dân chủ thực sự – ít phải chịu trách nhiệm về việc để cho các thảm họa xảy ra hơn là các quốc gia độc tài. Như Amartya Sen và những người khác đã chỉ ra, hạn hán và các thảm họa thiên nhiên khác có thể trở nên nghiêm trọng hơn nhiều nếu chúng xảy ra ở những quốc gia thiếu tự do chính trị và các phương tiện truyền thông độc lập. Các thể chế như vậy có xu hướng hoạt động như những người tố giác, buộc các chính phủ và các cơ quan khác huy động để giảm thiểu thiệt hại về vật chất và xã hội.

Trong một bài báo viết về cuộc khủng hoảng COVID-19, Sen lên tiếng bảo vệ nền dân chủ đã kích hoạt loại hình dự phòng đó: Giải quyết một thảm họa xã hội không giống như chiến đấu trong một cuộc chiến khi mà cách hiệu quả nhất là nhà lãnh đạo có thể sử dụng quyền lực để ra lệnh cho mọi người làm theo ý mình mà không cần tham khảo tư vấn. Ngược lại, điều cần thiết để đối phó với một thảm họa xã hội là quản trị với sự tham gia và thảo luận công khai. Điều này cũng áp dụng đối với thảm họa do đại dịch gây ra, trong đó một số những người giàu có hơn có thể chỉ lo lắng về việc không mắc bệnh trong khi những người khác còn phải lo lắng về thu nhập (có thể bị đe dọa bởi dịch bệnh hoặc bởi chính sách chống dịch bệnh, chẳng hạn như lệnh phong tỏa) và đối với những công nhân nhập cư xa hà còn cả vấn đề tìm kiếm các phương tiện để hồi hương. Các loại nguy cơ khác nhau mà các nhóm công dân khác nhau phải gánh chịu phải được giải quyết và điều này được hỗ trợ nhiều nhờ một nền dân chủ có sự tham gia của người dân.

Nước Anh và Mỹ, những quốc gia được coi là cường quốc dân chủ hàng đầu thế giới, dường như đã nêu gương xấu trong tám tháng đầu tiên của cuộc khủng hoảng COVID-19. Đặc biệt là trong những tuần đầu tiên, họ tỏ ra chậm chạp và thiếu quyết đoán và những thất bại của Mỹ vẫn còn nghiêm trọng vì những câu hỏi như đeo khẩu trang và làm thế nào để nới lỏng lệnh phong tỏa đã bị chính trị hóa một cách cay đắng. Sự yếu kém trong phản ứng của Anh và Mỹ là do có sự khác biệt đáng chú ý giữa việc hai quốc gia này đã hoạt động như thế nào trong thực tế vào năm 2020 và cách họ được xếp lạoi chỉ vài tháng trước đó trong bảng Chỉ số An ninh Y tế Toàn cầu (GHSI) năm 2019. Nhìn tổng thể và riêng trong hạng mục về “Phản ứng nhanh và giảm thiểu sự lây lan của đại dịch”, Anh và Mỹ đã được xếp hạng đầu tiên và thứ hai trong số 195 quốc gia. Các nước khác có tỷ lệ tử vong cao vào năm 2020 cũng được đánh giá cao trong bảng GHSI. Pháp, Tây Ban Nha và Thụy Điển nằm trong top 15 và bỉ ở vị trí thứ 53. Với sự thể hiện của họ trong năm 2020, London và Washington cần thừa nhận rằng họ đã đưa ra một số quyết định sai lầm – đặc biệt là lãng phí thời gian ở giai đoạn đầu của đại dịch – và nhiều quốc gia khác đã thành công hơn trong việc hạn chế số ca tử vong do COVID-19.

Khả năng phản ứng hiệu quả của một nhà nước trong cuộc khủng hoảng do đại dịch ít phụ thuộc vào kiểu hệ thống chính trị so với các yếu tố khác, có thể bao gồm kinh nghiệm liên quan trong việc xử lý dịch bệnh; nhà lãnh đạo có tư duy sáng sốt; và một bộ máy hành chính hiệu quả, thu hút được các tổ chức xã hội. Điều này không có nghĩa là không có sự phân biệt về khía cạnh đạo đức hoặc thực tiễn giữa các quốc gia độc tài và dân chủ, cho dù trên bình diện chung hay trong hoạt động đối phó với COVID-19. Ngược lại, một số vấn đề khó khăn nhất trong cuộc khủng hoảng đã nảy sinh do bản chất của một số nhà nước độc tài và các nhà lãnh đạo muốn che giấu và cân nhắc về một dịch bệnh trong phạm vi lãnh thổ của họ.

Tuy nhiên, sẽ phản tác dụng nếu tiếp cận cuộc khủng hoảng COVID-19 hiện tại theo hướng ủng hộ nền dân chủ thay vì chủ nghĩa độc tài. Ngay cả khi các quốc gia dân chủ đều hoạt động hiệu quả, thì vẫn cần có sự hợp tác toàn cầu giữa các quốc gia trong nhiều khía cạnh của cuộc khủng hoảng này, bao gồm việc sản xuất thuốc và thiết bị y tế, nghiên cứu khoa học, chương trình tiêm chủng, vận chuyển và kiểm dịch.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Nguồn: Adam Roberts – Pandemics and Politics – The Survival: Global Politics and Strategy, Vol 62, Issue 5, p7-40.

TN 2021 – 3, 4, 5

Đại dịch và chính trị – Phần đầu


Adam Roberts

Theo quan sát của sử gia người Anh A.J.P Taylor thì những sự kiện lớn có thể bắt đầu từ những nguyên nhân rất nhỏ và hoàn toàn không do chủ ý của con người. Đại dịch COVID-19 là bằng chứng mới cho nhận định này với nguyên nhân từ sự đột biến di truyền của một loại virus và hậu quả của nó vẫn còn đang rất tồi tệ cho tới lúc đại dịch chấm dứt hoàn toàn với hàng triệu người chết, hàng triệu việc làm bị mất, hoạt động thương mại, du lịch hạn chế, nhiều quốc gia bị rơi vào tình trạng khẩn cấp, phong tỏa nhiều nơi… Những bất đồng gay gắt đã nảy sinh về các vấn đề như khi nào và làm thế nào để bãi bỏ hạn chế di chuyển. Đại dịch COVID-19 cũng đã làm hồi sinh các thuyết âm mưu và những cáo buộc phi lý, cũng như thúc đẩy những bác bỏ vô lý về thực tiễn y tế cộng đồng quốc tế. Đại dịch còn làm tăng căng thẳng vốn tồn tại từ lâu liên quan tới các hoạt động thương mại và các vấn đề khác như trường hợp giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, hoặc nghi vấn về năng lực hệ thống của Liên hợp quốc và nhất là Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong vấn đề giải quyết dịch bệnh.

Các trường hợp xảy ra đại dịch và thiên tai trong lịch sử cho chúng ta nhiều bài học hiển nhiên về sự phức tạp trong việc quản lý và ứng phó với chúng. Và cũng không đơn giản chỉ dựa vào hành vi đối phó với đại dịch để có thể đưa ra so sánh về hiệu quả quản lý giữa các quốc gia dân chủ và quốc gia độc tài. Các tổ chức y tế, đặc biệt là WHO, có vai trò quan trọng trong việc đối phó với dịch bệnh, dù là trên phạm vi khu vực hay toàn cầu. Tuy nhiên, quyền hạn chính thức của họ bị hạn chế và hiệu quả của hoạt động của họ phụ thuộc vào sự hợp tác của các quốc gia. Các dịch bệnh và hành động kiểm soát chúng đôi khi góp phần làm gia tăng chủ nghĩa độc tài, nhưng chúng cũng có thể làm nảy sinh nhiều sáng kiến tích cực dưới nhiều hình thức khác nhau.

Lịch sử bệnh dịch

Các nghiên cứu lịch sử giúp làm sáng tỏ nhiều khía cạnh của dịch bệnh. Trước hết, chúng giúp truy tìm nguồn gốc và sự tồn tại, lây lan, lây truyền mầm bệnh giữa các đợt bùng phát. Đồng thời giúp dự báo và giải quyết các đợt bùng phát trong tương lai. Các nghiên cứu cũng vạch trần bất cập của các thuyết âm mưu để giải thích cho các đại dịch bằng cách cho thấy sự đa dạng và phức tạp về các con đường lây truyền bệnh cũng như thách thức trong việc loại bỏ hoàn toàn nguồn bệnh.

Thứ hai, lịch sử là một chỉ dẫn cho các biện pháp phòng ngừa. Các nghiên cứu lịch sử xác nhận rằng dịch bệnh là vấn đề nghiêm trọng, chỉ được giải quyết hiệu quả nhất khi coi là vấn đề sức khỏe cộng đồng và đòi hỏi một loạt biện pháp phòng ngừa đã phát triển qua nhiều thế kỷ ngoài việc điều trị cho bệnh nhân. Khi kiến thức về các tác nhân gây bệnh dần dần phát triển từ cuối thế kỷ XIX trở lại đây, một số biện pháp trong số này đã được cải tiến nhưng không biện pháp nào bị coi là không liên qua. Các trường hợp trước đây và gần đây khẳng định tầm quan trọng của việc chuẩn bị sẵn sàng, bao gồm cả việc tổ chức hợp lý các phản ứng của xã hội đối với dịch bệnh.

Thứ ba, các nghiên cứu lịch sử góp phần trả lời một số câu hỏi lâm sàng, bao gồm giá trị của các phương pháp điều trị cũ chống lại các mối đe dọa mới, dù có những hạn chế rõ rệt.

Thứ tư, lời nhắc nhở của người đi trước rất hữu ích, chẳng hạn liên quan đến nỗi sợ hãi về tình trạng hỗn loạn như cướp bóc và tội phạm phát sinh sau thảm họa, đôi khi dẫn đến khả năng bị can thiệp từ bên ngoài.

Thứ năm, các đợt bùng phát dịch vừa qua có thể tập trung sự chú ý vào các vấn đề chính sách then chốt, đặc biệt là mục tiêu của các biện pháp công cộng là tiêu diệt hoàn toàn mầm bệnh hay chỉ đơn thuần là ngăn chặn sự lây lan của nó.

Thứ sáu, lịch sử cho thấy việc bảo vệ khỏi dịch bệnh là một thuộc tính đã phát triển dưới tư cách nhà nước. Trong nhiều thế kỷ, các dịch bệnh được coi là một tai họa khủng khiếp nhưng không nhất thiết là tai họa mà các nhà nước có thể giải quyết một cách hiệu quả. Các học giả như Thucydides và Thomas Hobbes đã nhận thấy rằng quản lý bệnh dịch là một phần quan trọng của nghệ thuật quản lý nhà nước. Quan điểm này càng được nhấn mạnh hơn vào thế kỷ XIX khi kiến thức y học ngày càng tiến bộ.

Cuối cùng, các trường hợp lịch sử đặt ra câu hỏi về việc liệu nhưng khác biệt nhất định trên quy mô quốc gia và khu vực trong việc giải quyết một dịch bệnh (chẳng hạn như chuyện đeo khẩu trang) có mang tính xây dựng hay không. Những khác biệt như vậy có thể tuân theo và xuất phát từ các truyền thống văn hóa của các xã hội cụ thể, và chúng cũng có thể cung cấp những kinh nghiệm cũng như các thí nghiệm khoa học về những giải pháp hiệu quả và những giải pháp không hiệu quả đối với các dịch bệnh.

Với những gì đã được ghi chép lại trong lịch sử thì đợt dịch này không phải là thời kỳ nguy hiểm nhất mà nhân loại đã từng trải qua dù nhiều người có xu hướng đánh giá thấp các mối đe dọa trong quá khứ vì chúng ta đều thấy rằng loài người đã luôn sống sót. Tuy nhiên, vào thời điểm xuất hiện, các đợt dịch bệnh cũng gây ra những cuộc khủng hoảng và thiệt hại rất lớn như ghi nhận theo các ghi chép. Theo kết luận của nhà sử học Wiliam McNeil trong công trình nghiên cứu của mình thì: “Bệnh truyền nhiễm vốn xuất hiện trước loài người sẽ tồn tại chừng nào loài người còn sống và cho đến nay chắc chắn vẫn là một trong những thông số cơ bản và là yếu tố quyết định của lịch sử loài người”.

Bệnh dịch hạch được dẫn ra như một ví dụ điển hình với những tổn thất ghi sâu trong tâm thức loài người và cả trong Kinh thánh. Điểm qua các đợt dịch lớn đáng chú ý được ghi nhận trong lịch sử gồm đợt dịch bệnh gây họa cho người Philistines như được mô tả trong Sách Samuel, có thể xảy ra vào khoảng năm 1350 trước công nguyên, đã từng được coi là cơn thịnh nộ của Chúa và chuột cũng được chỉ ra là một nhân tố có thể gây bệnh. Tiếp theo là bệnh dịch hạch Justinian dưới thời trị vì của Hoàng đế Justinian I của Đế chế Byzantine (Đông La Mã) được coi là đại dịch xảy ra vào giai đoạn 541 – 549 sau công nguyên đã ảnh hưởng đến các nước Địa Trung Hải, châu Âu và Cận Đông, tái diễn vào năm 588, lan sang vùng đất hiện giờ là Pháp. Đến giai đoạn 1347 – 1349 là đại dịch Cái chết đen đã giết chết 30% dân số châu Âu. Trong nhiều thế kỷ, bệnh dịch hạch xảy ra khoảng mười năm một lần, và một trong những đợt bùng phát lớn cuối cùng là đợt đại dịch ở London vào năm 1665 – 1666. Những đợt dịch hạch liên tục tấn công các thành phố của Bắc Phi và cả Đế chế Ottoman cho đến tận vài thập kỷ đầu của thế kỷ XIX. Trận đại dịch hạch xảy ra vào năm 1855 – 1900 được cho là bắt đầu từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, nó đã lan sang Quảng Châu, Ấn Độ và Hong Kong, sau đó là Hawaii và San Francisco vào năm 1900.

Nguyên nhân của những đợt dịch bệnh được quy cho bắt nguồn từ chuột và bọ chét và sự lan rộng của bệnh dịch là do hệ thống kho trữ lương thực tạo điều kiện cho các sinh vật trên sinh sôi phát triển; hệ thống y tế không hiệu quả; quá trình di cư, các cuộc cách mạng, chiến tranh và suy thoái môi trường và cả quá trình toàn cầu hóa với các tuyến thương mại quốc tế ít nhất là từ thế kỷ XIV và cho đến ngày nay.

Đặc biệt, Trung Quốc được cho là nguồn gốc có thể gây ra cả ba đợt bệnh dịch hạch, cũng như đại dịch COVID-19 hiện nay. Một nhóm gồm 24 nhà sinh vật học cổ đã báo cáo vào năm 2010 rằng cả ba trận đại dịch trong lịch sử đều do cùng một loại vi khuẩn hình que Yersinia pestis gây ra, phát triển trong hoặc gần Trung Quốc và đã lây truyền qua nhiều đợt dịch bệnh theo nhiều con đường khác nhau, có thể bao gồm cả việc truyền sang Tây Á qua Con đường Tơ lụa, và đến châu Phi qua các chuyến đi biển của người Trung Quốc. Tuy nhiên, nghi ngờ này đã bị sử gia Ole Benedictow phản bác vào năm 2013. Ông đồng ý rằng vi khuẩn Y.pestis là tác nhân gây bệnh, nhưng không nhất trí về sự lây truyền của nó và rằng Trung Quốc là trung tâm của tất cả các dịch bệnh. Đặc biệt, ông không chấp nhận những nỗ lực diễn giải rất khác nhau về sự lây lan lịch sử của vi khuẩn Y.pestis do các đoàn lữ hành xuyên lục địa Á – Âu hoặc bằng đường biển từ Trung Quốc đến Đông Phi vì nó có thể đã lan sang phía tây Arab, Bắc Phi và Trung Đông. Ông đề xuất một cách giải thích dựa trên phương diện lịch sử nhiều hơn về thời kỳ dịch bệnh. Cái chết đen, vi khuẩn Y.pestis có thể đã di chuyển từ “khu vực tâm dịch kéo dài từ bờ biển phía bắc và tây bắc của Biển Caspian tới miền nam nước Nga”. Ông gợi ý rằng một số ổ bệnh dịch hạch đã phát triển qua nhiều thế kỷ và các loài gặm nhấm hoang dã là tác nhân làm lây lan bệnh. Và điều này phù hợp hơn với các ghi chép và các trường hợp bệnh dịch hạch trong các phẩm cổ điển khác nhau và trong Kinh thánh.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Nguồn: Adam Roberts – Pandemics and Politics – The Survival: Global Politics and Strategy, Vol 62, Issue 5, p7-40.

TN 2021 – 3, 4, 5

Chính sách “Zero COVID” có làm tổn thương sự phục hồi kinh tế của Trung Quốc – Phần cuối


Tổng cung thiếu hụt

Liệu sẽ luôn có đủ nguồn cung để đáp ứng nhu cầu toàn cầu đối với các sản phẩm của Trung Quốc hay không? Để có đủ nguồn cung, các nhà sản xuất phải có đủ nguyên liệu thô và lao động với giá cả phải chăng. Điều không may là Trung Quốc phải vật lộn với tình trạng thiếu năng lượng và lao động trầm trọng. Gần đây, một số chính quyền địa phương ở Trung Quốc đã công bố các kế hoạch cắt giảm điện trong những tháng tới.

Các nhà máy cần nhiều điện hơn để đáp ứng nhu cầu tăng vọt đối với hàng hóa Trung Quốc. Nhưng nhiều mỏ than đá đã bị đóng cửa trong những năm gần đây vì Trung Quốc thúc đẩy nguồn cung “điện xanh”. Số lượng các mỏ than đá giảm và nhu cầu điện cao hơn đương nhiên đã làm tăng giá than đá.

Đối với các nhà cung cấp điện, chi phí sản xuất đã tăng mạnh. Tuy nhiên, họ không thể tăng giá điện do sự kiểm soát của chính phủ. Điều này dẫn đến một số nhà cung cấp điện cắt giảm sản lượng, dẫn đến tình trạng thiếu điện. Theo đánh giá của công ty Goldman Sachs, tình trạng thiếu điện đã tác động tới 44% hoạt động công nghiệp của Trung Quốc. Nhiều nhà máy đã phải hoặc cắt giảm sản xuất hoặc chuyển chi phí sản xuất cao hơn cho người tiêu dùng. Điều đó có thể dẫn tới lạm phát ở cả trong nước lẫn trên toàn cầu.

Đồng thời, các nhà máy của Trung Quốc đang phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động. Thế hệ trẻ coi thường công việc ở nhà máy, vì họ cho rằng đó là công việc buồn tẻ và vô cùng vất vả. Mặc dù nhiều chủ nhà máy đã tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc, nhưng các nhà máy vẫn rất khó tìm được công nhân. Hơn nữa, dân số ở độ tuổi lao động của Trung Quốc (từ 15 đến 29 tuổi) đang thu hẹp. Tỷ lệ này giảm từ 70% trong tổng dân số năm 2010 xuống còn 63% vào năm 2020 (theo một báo cáo của tờ Wall Street Journal).

Lương đã và đang được tăng lên nhưng việc làm vẫn chưa được lấp đầy. Nhiều nhà máy đã từ chối các đơn hàng nước ngoài và giảm quy mô sản xuất của họ. Sự giới hạn công suất này chắc chắn đang làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.

Các chính sách của chính phủ

Trung Quốc đang tái cơ cấu nền kinh tế của mình, chuyển lĩnh vực sản xuất các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao hơn, và giảm mức nợ cao nhằm tránh một cuộc khủng hoảng nợ.

Hiện các nhà quản lý Trung Quốc đang nỗ lực hết sức để đối phó với tình trạng vỡ nợ của các nhà phát triển bất động sản và đang tìm cách giảm thiểu rủi ro mang tính hệ thống. Nếu cuộc khủng hoảng nợ do tập đoàn Evergrande gây ra không được giải quyết một cách hiệu quả, thì nó sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP trong quý IV, cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến các thị trường tài chính nước ngoài.

Tháng 10 vừa qua, Trung Quốc đã nới lỏng kiểm soát giá đối với điện, cho phép các công ty năng lượng thiết lập giá trên thị trường mở. Mặc dù điều này sẽ làm tăng giá điện, nhưng nó cũng khuyến khích các công ty cung cấp điện nhiều hơn.

Đầu năm nay, Trung Quốc đã công bố rằng nước này cho phép các cặp vợ chồng được sinh tới 3 con. Sau đó, Chính phủ đã quyết định chỉnh đốn việc dạy thêm tư nhân nhằm giảm bớt gánh nặng tài chính cho các cặp vợ chồng trẻ, với hi vọng rằng điều đó sẽ khuyến khích họ sinh nhiều con hơn. Chính sách này có thể không có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn. Tuy nhiên, trong dài hạn, các cặp vợ chồng có thể sinh thêm nhiều con hơn và điều này có thể góp phần lấp vào khoảng trống lao động.

Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 14 từ 2021 đến 2025, Trung Quốc ưu tiên thúc đẩy tiêu dùng nội địa. Để đạt được mục tiêu này, nhiều tỉnh thành phố đang điều chỉnh mức lương tối thiểu để gia tăng thu nhập hộ gia đình. Tuy nhiên, do sự gia tăng gần đây của giá lương thực thực phẩm, việc tăng lương có thể không đủ để bù đắp lạm phát.

Một nhân tố khác tác động đến triển vọng kinh tế là những căng thẳng quân sự giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan. Sự căng thẳng này được mô tả là “tồi tệ nhất trong 40 năm qua”. Hiện tại, khả năng xảy ra chiến tranh giữa đại lục và Đài Loan trong tương lai gần vẫn còn rất thấp. Nhưng nếu sự kiện thiên nga đen này xảy ra, nó sẽ có tác động không thể lường trước đối với tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.

Nguồn: TLTKĐB – 10/12/2021

Chính sách “Zero COVID” có làm tổn thương sự phục hồi kinh tế của Trung Quốc – Phần đầu


Theo đánh giá của tác giả bài viết đăng trên tờ The Strait Times ngày 15/11, mặc dù xuất khẩu của Trung Quốc đang hoạt động tốt, nhưng chính sách “Zero COVID” của chính phủ nước này cộng với các nhân tố khác đang ảnh hưởng đến tổng lượng cung cầu, đặt ra những thách thức cho sự phục hồi của Trung Quốc. Tăng trưởng kinh tế đang chậm lại của nước này tiếp đó lại đặt ra thách thức cho sự phục hồi kinh tế của thế giới.

Theo số liệu gần đây của Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc (NBS), tốc độ tăng trưởng kinh tế quý III của nước này đạt 4,9%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 7,9% trong quý II. Đặc biệt, chỉ số quản lý mua hàng (PMI) tháng 10 là 49,2 giảm so với mức 49,6 của tháng 9. Điều này cho thấy hoạt động sản xuất đang thu hẹp.

Trong khi đó, chỉ số giá sản xuất (PPI) tăng cao kỷ lục – trong tháng 9 tăng 10,7% so với cùng kỳ năm ngoái, phản ánh chi phí sản xuất của các ngành công nghiệp ở mức cao hơn. Nó làm gia tăng áp lực chuyển chi phí cao hơn cho người tiêu dùng. Điều này có thể dẫn đến lạm phát trên toàn thế giới.

Trung Quốc đã được coi là một trong những động lực của sự phục hồi kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, những số liệu trên, cùng với những thách thức nghiêm trọng gần đây như tình trạng thiếu điện, cuộc khủng hoảng nợ của tập đoàn bất động sản Evergrande, sự đứt gãy chuỗi cung ứng và những hạn chế phòng dịch gây gián đoạn hơn nữa, có thể cản trở sự phục hồi của nước này. Liệu những thách thức này có gây ra bất kỳ rủi ro mang tính hệ thống nào cho thị trường hay không? Liệu các chính sách của Trung Quốc có thể khôi phục được tăng trưởng kinh tế hay không? Các nước khác có nên cảnh giác trước sự suy thoái kinh tế của Trung Quốc? Câu trả lời có thể được tìm thấy bằng việc phân tích kỹ hơn về tổng lượng cung cầu của Trung Quốc.

Tổng cầu bị ảnh hưởng bởi chính sách “Zero COVID”

Tổng cầu là phép đo tổng lượng nhu cầu đối với tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong một nền kinh tế. Tiêu dùng, đầu tư và xuất khẩu ròng là ba nhân tố quan trọng quyết định tổng cầu. Tiêu dùng yếu kém là vấn đề dai dẳng ở Trung Quốc, làm chậm quá trình phục hồi tăng trưởng kinh tế của nước này. Năm 2020, chi tiêu tiêu dùng bình quân đầu người của Trung Quốc đã giảm thực tế 4% sau khi loại trừ các nhân tố về giá cả.

Bất chấp sự phục hồi trong ba quý đầu năm nay, số liệu bán lẻ tháng 8 rất đáng thất vọng, chỉ tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức kỳ vọng tăng trưởng 7%. Đây là kết quả của chính sách “Zero COVID” của Trung Quốc và việc phong tỏa địa phương được áp đặt nhằm kiểm soát biến thể Delta có khả năng lây nhiễm cao. Các chính sách đã làm gián đoạn hoạt động kinh doanh, khiến doanh số bán lẻ khó quay trở lại mức trước dịch bệnh.

Trước khi biến thể Delta xuất hiện, Trung Quốc đã thành công trong việc đưa số ca mắc COVID-19 về con số 0. Các ngành bán lẻ, du lịch và sản xuất nhanh chóng quay trở lại mức trước dịch bệnh. Nhưng điều này đã bị phá vỡ bởi biến thể Delta có khả năng lây nhiễm cao. Kể từ tháng 7, số ca nhiễm mới đã xuất hiện ở một thành phố. Các thành phố này sau đó đã phải dừng tất cả các chuyến bay và tàu hỏa, đóng cửa các tuyến đường cao tốc địa phương, bắt đầu xét nghiệm hàng loạt và áp đặt các biện pháp phong tỏa.

Không có dấu hiệu cho thấy các biện pháp này sẽ được nới lỏng trong thời gian tới. Các đợt bùng phát COVID-19 không liên tục, cùng với chính sách “Zero COVID”, gây ra mối đe dọa kinh tế và tình trạng không chắc chắn. Việc người dân phải ở nhà làm giảm nhu cầu đối với một số mặt hàng tiêu dùng. Các doanh nghiệp nhỏ, như các cửa hàng bán lẻ, nhà hàng và các đại lý du lịch phải chịu chi phí hoạt động cao hơn do tình trạng bắt trắc. Một số người lao động phải đối mặt với thu nhập thấp hơn hoặc thậm chí là thất nghiệp. Điều này sẽ làm giảm hơn nữa tiêu dùng trong nước.

Các chính sách “trấn áp” lĩnh vực bất động sản gần đây của Trung Quốc đã phủ một bóng đen khác lên nền kinh tế. Các nhà chức trách đã quyết định giảm sự phụ thuộc vào lĩnh vực bất động sản, một động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Theo tờ The Guardian, hoạt động liên quan đến nhà ở chiếm khoảng 29% GDP của Trung QUốc, cao hơn nhiều so với mức từ 10% đến 20% ở hầu hết các quốc gia phát triển.

Nhiều nhà phát triển bất động sản nợ nần chồng chất, dẫn đến một cuộc khủng hoảng cho toàn bộ nền kinh tế. Nổi bật nhất, tập đoàn Evergrande, một trong những nhà phát triển bất động sản lớn nhất ở Trung Quốc, đã gánh khoản nợ hơn 300 tỷ USD. Việc liệu các nhà chức trách có tham gia giải cứu hay không vẫn là điều không chắc chắn. Tâm lý hoang mang của các nhà đầu tư và người mua nhà sẽ ảnh hưởng đến tâm lý thị trường bất động sản. Những người có tài sản đang bị thu hẹp có xu hướng giảm tiêu dùng và đầu tư, từ đó ảnh hưởng nhiều hơn đến tổng cầu.

Điều may mắn là lĩnh vực xuất khẩu của Trung Quốc đã đạt được kết quả tốt hơn mong đợi vì sự kiểm soát hiệu quả virus SARS-CoV-2 vào đầu năm 2020. Sự bùng phát COVID-19 ở các nước đang phát triển như Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam đã thúc đẩy nhu cầu toàn cầu đối với các sản phẩm do Trung Quốc sản xuất. Các số liệu xuất khẩu của Trung Quốc trong tháng 9 tăng đột biến, lên 28,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Điều đó phản ánh nhu cầu toàn cầu vững chắc đối với các sản phẩm của Trung Quốc.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 10/12/2021

Biên niên sử về một đại dịch được báo trước: Kinh nghiệm từ thất bại của COVID-19 trước khi xuất hiện đợt bùng phát tiếp theo – Phần cuối


Các kế hoạch so với việc lập kế hoạch

Con người không có khả năng ngăn chặn mọi bệnh dịch hay đại dịch. Nhưng với đủ ý chí, nguồn lực và sự cam kết, chúng ta có khả năng giảm thiểu mức độ tàn phá của đại dịch.

Bước đầu, người Mỹ cần phải thay đổi cách suy nghĩ của họ về thách thức này. Mặc dù nhiều người trong lĩnh vực y tế cộng đồng không thích gắn họ với quân đội – họ nghĩ là họ chữa bệnh chứ không phải giết người – song họ có thể học hỏi rất nhiều điều từ việc lập kế hoạch của quân đội. Quân đội chú trọng tới sự linh hoạt, hậu cần và duy trì sự sẵn sàng cho bất cứ tình huống nào. Như Tướng Hoa Kỳ Dwight Eisenhower đã lưu ý, “Các kế hoạch thời bình không có giá trị đặc biệt, nhưng việc lập kế hoạch trong thời bình là tuyệt đối cần thiết”.

Điểm khởi đầu nên là ưu tiên các mối đe dọa sức khỏe về khả năng chúng xảy ra và các hậu quả tiềm ẩn nếu không được kiểm soát. Đứng đầu trong danh sách đó là loại virus gây chết người lây qua đường hô hấp. Ứng viên có vẻ thích hợp nhất sẽ là một chủng cúm gây tử vong cao khác, như chủng cúm năm 1918, mặc dù như SARS, MERS, Zika, và Covid-19 cho thấy, các vi sinh vật không phải chủng virus cúm mới và gây chết người đang xuất hiện hoặc đột biến theo những cách thức khó lường và nguy hiểm.

Ngay cả trước khi một mối đe dọa đặc biệt xuất hiện, một nhóm lớn các bên tham dự phải tập hợp lại với nhau để triển khai một chiến lược toàn diện – với đủ sự linh hoạt sẵn có để có thể triển khai theo yêu cầu tình hình – và sau đó họ phải liên tục thao luyện và diễn tập. Nỗ lực đó nên có sự tham gia của tất cả mọi người từ các quan chức chính phủ và y tế cộng đồng cấp cao cho tới những người cứu hộ, thực thi pháp luật, các chuyên gia và các nhà cung ứng trang thiết bị y tế, các nhà cung cấp lương thực, các nhà sản xuất và các chuyên gia trong lĩnh vực vận tải và truyền thông. Chiến lược phải đưa ra một kế hoạch hành động chi tiết về cách thức vượt qua đại dịch có thể sẽ kéo dài một hay hai năm, trong số những lợi ích của một kế hoạch chi tiết như vậy sẽ giúp đảm bảo rằng, các nhà lãnh đạo được chuẩn bị về mặt tâm lý cho những gì họ có thể phải đối mặt trong một cuộc khủng hoảng, giống như việc huấn luyện quân sự giúp cho những người lính lường trước bối cảnh chiến trường.

Ngoài việc sẵn sàng cho những viễn cảnh tiềm ẩn khác nhau, việc chuẩn bị đầy đủ cần phải bao gồm cả mô hình mua sắm và sản xuất giống như quân đội. Quân đội không chờ đợi cho đến khi tuyên bố chiến tranh mới bắt đầu xây dựng tàu sân bay, máy bay phản lực chiến đấu, hay các hệ thống vũ khí khác. Quân đội phát triển vũ khí trong nhiều năm với ngân sách tài trợ của quốc hội dự kiến trong toàn bộ quãng thời gian triển khai. Cần có cách tiếp cận tương tự để phát triển các hệ thống vũ khí nhằm ngăn chặn các đại dịch tiềm tàng. Việc chỉ dựa vào thị trường và khu vực tư nhân để xử lý vấn đề này là cách làm dẫn tới thất bại, bởi trong nhiều trường hợp, sẽ không có đối tác khả thi nào khác ngoài chính phủ có thể tài trợ cho cả quá trình phát triển lẫn sản xuất.

Điều đó tỏ ra đặc biệt đúng khi đề cập tới việc phát triển thuốc, ngay cả khi không có đại dịch. Đối với nhiều loại thuốc cấp thiết, cách tiếp cận theo hướng thị trường dựa vào các hãng dược tư nhân hoàn toàn không hiệu quả. Vấn đề được thể hiện rõ, chẳng hạn, trong việc sản xuất thuốc kháng sinh. Do vấn đề kháng thuốc kháng sinh ngày càng gia tăng – có nguy cơ quay trở lại thời kỳ đen tối khi thuốc kháng sinh chưa ra đời, khiến cho một vết cắt hay vết xước cũng có thể gây tử vong và phẫu thuật trở thành cơn ác mộng đầy rủi ro – nên việc các công ty dược dành nguồn nhân lực và tài lực khổng lồ để phát triển một loại kháng sinh mạnh mới, mà sau đó có thể hạn chế sử dụng chỉ trong những trường hợp hết sức cần thiết, trở nên không còn nhiều ý nghĩa. Nhưng trong một đại dịch cúm, những loại thuốc kháng sinh có hiệu quả cao như vậy sẽ rất cần thiết, bởi nguyên nhân chính gây tử vong trong những đợt bùng phát dịch cúm gần đây là bệnh viêm phổi nhiễm khuẩn thứ cấp khiến cho phổi bị suy yếu.

Điều tương tự xảy ra đối với việc phát triển vaccine hoặc các phương pháp điều trị đối với những căn bệnh như Ebola chẳng hạn. Nhìn chung, những loại thuốc như vậy hầu như không ai mua nhưng lại rất cần thiết để ngăn chặn dịch bệnh khi sự bùng phát dịch xảy ra. Các chính phủ cần phải sẵn sàng trợ cấp cho việc nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm lâm sàng và nâng cao năng lực sản xuất đối với những loại thuốc này giống như họ trợ cấp cho việc phát triển và sản xuất các máy bay chiến đấu và xe tăng.

Việc chuẩn bị cho đại dịch và cho các đợt đối phó y tế cần thiết cũng sẽ đòi hỏi phải lưu ý hơn tới nguồn cung cấp thuốc và vật tư y tế. Trong thời gian đại dịch, mỗi quốc gia sẽ phải cạnh tranh với nhau về nguồn cung cấp thuốc và vật tư y tế thiết yếu, vì vậy, hoàn toàn hợp lý khi kỳ vọng rằng mỗi quốc gia sẽ ưu tiên cho các nhu cầu của chính mình khi phân phối những gì họ sản xuất và kiểm soát. Ngoài ra, còn một mối đe dọa nữa đang diễn ra là một điểm nóng lây nhiễm cục bộ sẽ đóng cửa cơ sở sản xuất đang cung cấp những loại thuốc hay vật tư y tế quan trọng. Bất kể việc sẽ kéo theo những chi phí cao hơn, song điều quan trọng là Hoa Kỳ phải giảm bớt sự lệ thuộc vào Trung Quốc và Ấn Độ về các loại thuốc cứu sinh và phát triển thêm năng lực sản xuất ở chính Hoa Kỳ và ở những quốc gia phương Tây thân thiện tin cậy.

Chính phủ Hoa Kỳ cũng phải có chiến lược hơn nữa trong việc giám sát kho dự trữ chiến lược quốc gia. Hoa Kỳ không chỉ cần phải thực hiện các đánh giá thực tế về những gì có trong tay đáp ứng với những làn sóng nhu cầu vào bất cứ lúc nào, nhằm tránh lặp lại nỗi hổ thẹn hiện tại về việc không có đủ trang thiết bị bảo hộ cá nhân cho các nhân viên y tế và những người ở tuyến đầu; nguồn cung ứng cũng phải được luân chuyển vào ra thường xuyên sao cho kho hàng không rơi vào tình trạng chỉ còn khẩu trang bị bai dão dây đeo hay thuốc hết hạn sử dụng chẳng hạn.

Điều trị toàn diện

Để tạo những tiến bộ về vaccine đặc hiệu hoặc nền tảng vaccine cho những căn bệnh có khả năng xảy ra đại dịch, các chính phủ phải đóng vai trò chủ chốt. Điều đó bao gồm cả việc tài trợ cho nghiên cứu cơ bản, phát triển và các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 cần thiết để được phê chuẩn và cấp phép. (Giai đoạn này thường được nhắc đến là “thời kỳ cận kề cái chết”, bởi đó chính là thời điểm mà nhiều loại thuốc với hứa hẹn thử nghiệm ban đầu không cho kết quả tốt trong áp dụng thực tế). Ngoài ra, một điều cấp thiết nữa là các chính phủ phải cam kết mua các vaccine này.

Với sự tập trung hiện nay vào việc phát triển vaccine cho Covid-19 và các biện pháp đối phó y tế khác, Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Y sinh tiên tiến (BARDA) đã phải tạm dừng các dự án khác. Với mọi lời phàn nàn về quy trình ký kết rườm rà và các kiểm tra giám sát chặt chẽ (do những người chỉ trích đưa ra nhằm ngăn cản lối tư duy và thử nghiệm mang tính đột phá), BARDA rất giống với một quỹ đầu tư mạo hiểm của chính phủ Hoa Kỳ để đối phó với dịch bệnh. Cần thúc đẩy cam kết nâng cấp quỹ đầu tư này, và một nhóm chuyên gia nên thực hiện đánh giá ngân sách hàng năm và phạm vi của BARDA để xác định cơ quan này cần gì để đáp ứng và đối phó với những thách thức y sinh học trong tương lai.

Trong tất cả các loại vaccine đáng được ưu tiên, đứng đầu danh sách phải là loại vaccine cúm “phổ biến”, giúp làm thay đổi cuộc chơi. Hai lần trong năm, một lần với bán cầu Bắc và một lần với bán cầu Nam, thông qua một quy trình quan sát và không quá nghiêm ngặt của ủy ban, các quan chức y tế cộng đồng quốc tế cố gắng phỏng đoán chủng cúm nào có khả năng bùng phát vào mùa thu tới, và sau đó họ gấp rút đưa ra một vaccine mới dựa trên những phỏng đoán này vào sản xuất và phân phối. Vấn đề là bệnh cúm có thể biến chủng và tài sắp xếp gen của nó một cách hết sức dễ dàng khi nó truyền từ vật chủ sống là người hay động vật sang người hay động vật khác, vì vậy vaccine cúm mùa hàng năm thường chỉ có hiệu quả phần nào – còn hơn là không có gì, nhưng nó không phải là viên đạn chính xác và trúng đích như vaccine phòng bệnh đậu mùa hay bệnh sởi. Khát vọng đạt được miễn dịch cúm sẽ là việc phát triển loại vaccine nhằm vào những phần tử được bảo tồn của virus – nghĩa là, những phần không biến đổi từ chủng cúm này sang chủng cúm tiếp theo, bất kể virus trải qua bao nhiêu lần biến chủng hay lặp đi lặp lại.

Loại vaccine cúm phổ biến sẽ đòi hỏi nỗ lực khoa học to lớn, với quy mô đầu tư hàng tỷ USD hàng năm như đã chi cho cuộc chiến phòng chống HIV/AIDS. Cái giá phải trả sẽ rất lớn, nhưng khi một đại dịch cúm gây tử vong khác chắc chắn sẽ ghé thăm địa cầu vào một thời điểm nào đó, thiệt hại được đánh giá sẽ gấp nhiều lần. Một loại vaccine như vậy sẽ là thành tựu y tế cộng đồng lớn nhất kể từ khi bệnh đậu mùa được kiểm soát.

Tất nhiên, không một quốc gia nào có thể đơn độc chiến đấu chống lại đại dịch. Các vi sinh vật chẳng quan tâm tới các đường biên giới, và chúng xoay sở tìm cách đối phó với những hạn chế trong việc đi lại bằng đường hàng không quốc tế. Như Joshua Lederberg, nhà sinh học phân tử giành giải Nobel đã cảnh báo, “Hôm qua vi sinh vật đã quật ngã một đứa trẻ ở một lục địa xa xôi thì hôm nay nó có thể vươn tới chỗ bạn và gieo mầm đại dịch toàn cầu vào ngày mai”. Với sự hiểu biết sâu sắc đó, nên có một cuộc diễn tập thảm họa lớn, được phối hợp cẩn thận hàng năm, tương tự như những cuộc diễn tập quân sự mà Hoa Kỳ tổ chức với các đồng minh, nhưng với phạm vi đối tác rộng lớn hơn nhiều. Những cuộc diễn tập này phải có sự tham dự của các chính phủ, các tổ chức y tế cộng đồng và ứng phó khẩn cấp và các ngành công nghiệp sản xuất lớn liên quan tới y tế của các quốc gia khác nhau, họ sẽ phải làm việc với nhau một cách nhanh chóng khi sự giám sát dịch bệnh quy mô toàn cầu – một thành phần thiết yếu khác của việc chuẩn bị sẵn sàng cho đại dịch – ghi nhận sự bùng phát.

Thế giới có thể tiêu diệt được bệnh đậu mùa, một trong những thảm họa to lớn trong lịch sử, nhờ hai siêu cường là Hoa Kỳ và Liên Xô đều cam kết làm như vậy, ngay sau lời kêu gọi tại cuộc họp năm 1958 của Đại hội đồng Y tế Thế giới, một cơ quan ra quyết định của WHO. Bối cảnh địa chính trị căng thẳng hiện nay khiến cho một cam kết chung như vậy khó đạt được. Nhưng thiếu cam kết chung, chúng ta rất ít có cơ hội để chuẩn bị đầy đủ cho đại dịch tiếp theo. Kiến trúc y tế toàn cầu hiện thời còn xa mới đủ khả năng. Rất ít hy vọng về việc kiềm chế được một đợt bùng phát thậm chí còn nguy hiểm hơn nữa. Thay vào đó, sẽ cần đến một cái gì đó theo đường lối của NATO – một tổ chức hiệp ước hướng tới y tế cộng đồng với nguồn cung được đặt trước, một kế hoạch triển khai chi tiết, và sự thỏa thuận giữa các bên ký kết rằng sự bùng phát bệnh dịch ở một quốc gia sẽ được tất cả các quốc gia khác đối phó với một phản ứng có sự phối hợp và mạnh mẽ như nhau. Một tổ chức như vậy có thể hoạt động hài hòa với WHO và các thể chế hiện có khác nhưng hành động với tốc độ, hiệu quả và nguồn lực lớn hơn.

Chúng ta quá dễ dàng bác bỏ các cảnh báo về một đại dịch khác giống năm 1918: đại dịch tiếp theo có thể xuất hiện trong cuộc đời của chúng ta, và vào thời điểm nó xảy ra, khoa học có thể đưa ra các biện pháp đối phó y tế mạnh mẽ để kiềm chế với tổn thất về người và kinh tế thấp hơn. Đây là những triển vọng có cơ sở. Nhưng có đủ cơ sở để chúng ta cùng đánh cược mạng sống của mình không? Lịch sử đã cho thấy một hiện thực khác.

Người dịch: Quỳnh Hoa

Nguồn: Michael T. Osterholm, Mark Olshaker – Chronicle of a Pandemic Foretold: Learning from the COVID-19 failure – Before the Next Outbreak Arrives – Foreign Affairs, July/August 2020, Vol.99, No. 4, p.10-24.

TN 2021 – 1,2