Chế độ tổng thống Mỹ – Phần cuối


Trong khi đàm phán thỏa thuận ngân sách với các nghị sĩ Đảng Dân chủ, ông Bush đã hầu như phớt lờ các nghị sĩ Đảng Cộng hòa, vì họ là phái thiểu số và không linh hoạt. Kết quả là, họ không nhiệt tình với kế hoạch này, lo ngại rằng trong cuộc bầu cử Quốc hội sắp tới, họ với tư cách là những người cùng đảng với tổng thống, sẽ phải chịu trách nhiệm với các cử tri về việc tăng thuế này. Các nghị sĩ Đảng Cộng hòa công khai phản đối, làm cho Tổng thống Bush rơi vào thế khó xử. Ông có thể cho phép dự luật đang thịnh hànhg tiếp tục tiến triển và tự động giảm thâm hụt bằng việc cắt giảm toàn diện và mạnh mẽ chi tiêu hiện thời, hoặc ông có thể quay lại bàn đàm phán và giành lấy sự ủng hộ mạnh hơn của phe Dân chủ tuy có thể dẫn đến một kết quả thỏa thuận kém dễ chịu hơn. Đây không phải là chuyện đơn giản. Ông đã chọn cách thứ hai, có thể vì lo ngại rằng ông sẽ bị phê phán vì đột ngột cắt giảm các chương trình phổ biến của liên bang.

Ngay sau khi ký vào dự luật mới, ông rời thành phố để tiến hành một số hoạt động hỗ trợ những nghị sĩ thuộc Đảng Cộng hòa trong chiến dịch vận động tái cử để cải thiện quan hệ. Cho dù ông đã nghiêm túc thề nguyện trong tương lai ông sẽ “hoàn toàn giữ vững mức thuế”, nhưng những đồng nghiệp Đảng Cộng hòa của ông vẫn tỏ ra nghi ngờ. Và rất nhiều ứng cử viêng nghị sĩ Đảng Cộng hòa không dễ dàng cộng tác với tổng thống. Trong hàng trăm người quay phim vận động tranh cử cùng với ông Bush đầu mùa đông, chỉ có vài người đem cuốn phim ra sử dụng để tranh cử. Khá nhiều ứng cử viên hủy cuộc viếng thăm của tổng thống tới khu vực bầu cử của ho, và một số người cần đến sự hiện diện của ông để quyên tiền ủng hộ tranh cử đã ở lại Washington với lý do “công việc khẩn cấp”. Thậm chí, một vài người khác còn tỏ thái độ chống đối: trong một buổi ra mắt của tổng thống, một nghị sĩ đương nhiệm Đảng Cộng hòa đã đặt vấn đề với các khán giá “Tháng Năm vừa rồi, tại sao tổng thống lại quyết định đem vấn đề mà ông đã tranh đấu và giành thắng lợi ra để làm điểm thương lượng? Chúng ta đang nói về lời hứa của ông trong vấn đề thuế”.

Với tất cả các yếu tố khách quan, chiến lược của ông Bush đã thất bại. Tỷ lệ ủng hộ tổng thống giảm mạnh từ mức 75% xuống còn khoảng 55% chỉ trong vài tuần trước cuộc bầu cử Quốc hội giữa nhiệm kỳ. Khi các cử tri bỏ phiếu, Đảng Dân chủ chiếm đa số lại giành thêm chín ghế tại Hạ viện. Còn Tổng thống Bush, sự thay đổi thái độ của ông về thuế tiếp tục ảnh hưởng xấu tới ông trong cuộc vận động tái cử và ông đã thu đối thủ Bill Clinton.

Thành công

Năm năm sau, thất bại của Bush vẫn còn in dấu trong tâm trí các nhà lãnh đạo Quốc hội khi phải xem xét một dự thảo ngân sách khác của tổng thống. Tuynhiên, lần này, Quốc hội do Đảng Cộng hòa kiểm soát và Bill Clinton, một người Đảng Dân chủ, làm ông chủ Nhà trắng. Clinton đã đánh bại Bush, tổng thống Đảng Cộng hòa một phần bằng cách nhắc nhở các cử tri về việc ông Bush đã không giữ nổi lời hứa “không có thêm thuế mới”, điều này không làm hại ai cả. Và đây là cơ hội để trả món nợ bầu cử. Các nghị sĩ Đảng Cộng hòa, do Chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich đứng đầu, và Lãnh đạ phe đa số tại Thượng viện, Bob Dole tuyên bố họ có thể làm cho Tổng thống Clinton phải hợp tác với họ giống như các nghị sĩ Đảng Cộng hòa “đã làm” với Tổng thống Bush.

Trong hai năm đầu đảm nhiệm cương vị tổng thống, không có dấu hiệu gì chứng tỏ Tổng thống Clinton có thể đương đầu với áp lực này. Tính cách dễ dàng thỏa hiệp của ông khiến ngay cả các nhân viên trung thành cũng lo lắng không biết lập trường của ông là gì. Đầu năm 1995, đối mặt với một Quốc hội mới thành lập do Đảng Cộng hòa kiểm soát, Tổng thống Clinton dường như rõ ràng ở thế yếu. Khi các nghị sĩ Đảng Cộng hòa bận rộn thông qua chương trình lập pháp “Khế ước với nước Mỹ”, vị trí của Tổng thống Clintn tại Washington và trong lòng cả nước cho thấy tầm mức mới. Tháng Hai, Gingrich phát biểu một “Thông điệp liên bang” chưa từng có trong chương trình truyền hình trực tiếp đến khán giả cả nước.

Đến mùa đông, dự kiến ngân sách của Đảng Cộng hòa với rất nhiều điểm cắt giảm các chương trình mà Đảng Dân chủ ủng hộ đã đi đến giai đoạn phê duyệt cuối cùng tại Quốc hội. Rõ ràng, Tổng thống Clinton đã thất bại trong việc điều hòa mức cắt giảm mạnh chi tiêu xã hội trong dự kiến ngân sách của Đảng Cộng hòa. Ông cũng không ngăn chặn được việc giảm thuế quy mô lớn có lợi cho các cử tri giàu có. Khi cuộc chơi sắp kết thúc, các nhà lãnh đạo Đảng Cộng hòa tin rằng họ nắm con át chủ bài trong tay và có thể vượt qua mối đe dọa tổng thống phủ quyết dự luật: họ gắn dự luật thu nhập và chi tiêu của mình với một dự luật về mức nợ tối đa mà chính phủ đang cần để thực hiện các nghĩ vụ trả lương và trợ cấp. Tổng thống phải chấp nhận toàn bộ chương trình này hoặc phải giải tán chính phủ. Năm 1991, Bush đã chùn bước trước một lựa chọn ít khắc nghiệt hơn nhiều, và vị tổng thống yếu thế hiện nay nhiều khả năng cũng sẽ làm như vậy. Nghị sĩ Đảng Cộng hòa John Kasich, Chủ tịch Ủy ban ngân sách Hạ viện, dự đoán: “Tôi cho rằng tổng thống sẽ buộc phải thuận theo chúng tôi. Vào cuối ngày, ông sẽ giải thích tại sao chương trình của chúng tôi hợp lý và ký chương trình này”.

Tuy nhiên, ngày 13 tháng Mười một, Tổng thống Clinton phủ quyết dự thảo ngân sách của Đảng Cộng hòa và thông báo với cả nước chuẩn bị tinh thần chính phủ sẽ đóng cửa. Clinton khẳng định: “Nếu nước Mỹ phải ngừng cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho giáo dục, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe cộng đồng để giữ cho chính phủ hoạt động, vậy thì cái giá phải trả là quá cao”. Ông nói thêm: “Ủng hộ việ cân bằng ngân sách. Nhưng không cắt giảm chi tiêu”. Một trợ lý Nhà rắng bật mí cho phóng viênrằng tổng thống đã “chuẩn bị sẵn sàng để chiến đấu  suốt mùa đông” về vấn đề này. Hai ngày sau, 800.000 nhân viên liên bang được nghỉ ở nhà. Họ không đến làm việc trong sáu ngày liền.

Các cuộc thăm dò dư luận lập tức cho thấy dư luận đã chuyển sang phe tổng thống. Trong cuộc thăm dò dư luận của tờ Wall Street Journal, khi được hỏi liệu tổng thống có nên phủ quyết dự thảo ngân sách không, có đến 56% người trả lời nên, 36% trả lời không nên. Trong khi đó, hai ông Gingrich và Dole chỉ nhận được tỷ lệ tương ứng là 33 và 30%.

Sau hàng tuần đàm phán không có kết quả và thăm dò lẫn nhau – trong đó Clinton mô tả đặc điểm các nghị sĩ Đảng Cộng hòa là những kẻ hay bắt nạt và chiến lược ngân sách của họ là “một biểu hiện quyền lực thô thiển và trần trụi” – một lần nữa, chính phủ lại ngừng hoạt động. Đến giữa tháng Giêng, hai bên phải đối mặt với khả năng vỡ nợ của chính phủ. Chủ tịch Hạ viện Gingrich mệt mỏi với một phiên đàm phán dài dằng dặc đến “gần kiệt sức’ và thừa nhận với phóng viên rằng tổng thống và phái đoàn của ông “cứng rắn hơn tôi tưởng… Họ ít linh hoạt hơn tôi tưởng. Chiến lược của chúng tôi đã thất bại”. Một vài tuần sau, các nhà lãnh đạo Đảng Cộng hòa phải rút lại cam kết bằng ngân sách trong bảy năm và hơn một nửa khoản cắt giảm thuế mà họ đã thông qua ba tháng trước đây. Đến tháng Hai, các nhà đàm phán Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ nhất trí tài trợ thấp hơn. Họ cắt bỏ một số chương trình và đạt được mức tiết kiệm hợp lý cho cả hai bên bằng việc sắp xếp lại chi tiêu trong nước.

Trong những điều khoản chặt chẽ về ngân sách, cả hai bên đều nhận thấy những đặc điểm của bản thỏa thuận tháng Hai khiến họ hài lòng. Tuy nhiên, về mặt chính trị, Clinton với Đảng Dân chủ đã thắng lợi vang dội. Tổng thống đã tái khẳng định sự hiện diện của ông ở Washington và lại thu hút được sự chú ý của công chúng. Tỷ lệ công chúng ủng hộ ông, thay vì giảm mạnh sau khi chính phủ đóng cửa, lại tăng lên đến mức khiến cho việc tái cử của ông năm 1999 là dễ hiểu. Trong khi đó, các lãnh đạo Đảng Cộng hòa Gingrich và Dole nhận thấy sự nghiệp của mình xuống dốc. Trước tháng Chín, cuộc thăm dò dư luẩn Viện Gallup về cuộc đụng đầu của Clinton với Bob Dole, người cuối cùng sẽ được Đảng Cộng hòa đề cử tham gia cuộc tranh cử tổng thống, cho thấy phe Cộng hòa hơn 5 điểm phần trăm. Sáu tháng sau vụ đối đầu ngân sách, tổng thống giành hơn hẳn 12 điểm mà ông không bao giờ bỏ qua. Với việc chống lại Quốc hội do Đảng Cộng hòa kiểm soát bằng cách phủ quyết và kêu gọi công chúng Mỹ ủng hộ, Bill Clinton đã cứu nguy được chức vụ tổng thống của mình.

Hầu như không có sự khác biệt trong cách hành động của Bush và Clinton nhưng lại cho kết quả khác nhau. Mỗi ông đều đe dọa phủ quyết; đều tìm kiếm sự ủng hộ của công chúng Mỹ. Clinton đã nắm được toàn bộ lợi thế này, trong khi Bush không tranh thủ được và, cuối cùng, nhận thấy mình, một vị tổng thống Đảng Cộng hòa, lại đang ủng hộ những gì thuộc kế hoạch của phe Dân chủ. Kết quả khác biệt rõ ràng của hai cuộc đấu tranh chính trị này nhắc nhở chúng ta rằng cho dù được trang bị quyền lực nhưng chế độ tổng thống giành cho người giữ chức vụ này không gì khác ngoài cơ hội tạo ra sự khác biệt. Việc tổng thống sẽ thành công hay thất bại phụ thuộc vào sự may mắn – những thứ nằm ngoài tầm kiểm soát của họ, như hành động và hướng ưu tiên của người khác – và dựa vào kỹ năng chính trị của họ. Chúng tôi bắt đầu với Hiến pháp và, cho dù đã xảy ra một cuộc cách mạng đáng kể trong hai thế kỷ qua, chúng tôi cũng kết thúc bài này bằng Hiến pháp. Các nhà Lập hiến, trong sự mâu thuẫn tư tưởng về một chức vị tổng thống độc lập, ủy quyền cho tổng thống là nhà lãnh đạo nhưng lại chỉ dành cho họ những công cụ hoạt động không hơn một thư ký.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell và Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trung Quốc có can dự vào đàm phán hòa bình ở Myanmar hay không


Ngày 15/10, tại thủ đô Naypyidaw, Chính phủ Myanmar và 8 nhóm sắc tộc thiểu số vũ trang đã long trọng ký kết thỏa thuận ngừng bắn trên toàn quốc. Hiện vẫn còn 10 nhóm sắc tộc thiểu số vũ trang chưa tham gia ký thỏa thuận này. Sau lễ ký, người phát ngôn của Tổng thống Myanmar U Ye Htut bày tỏ hy vọng Trung Quốc giúp đỡ thuyết phục các nhóm sắc tộc thiểu số vũ trang chưa tham gia ký kết thay đổi lập trường.

Ngày 8/10, trả lời phỏng vấn của phóng viên Reuters, trưởng Nhóm điều phối ngừng bắn thuộc Trung tâm hòa bình Myanmar Min Zaw Oo cáo buộc đặc phái viên Trung Quốc Tôn Quốc Tường đã khuyên lực lượng Quân đội Kachin độc lập và Quân đội bang Wa thống nhất từ chối ký thỏa thuận ngừng bắn. Tuy nhiên, khi trả lời phỏng vấn phóng viên Tân Hoa Xã hai ngày sau đó, ông Min Zaw Oo lại phủ nhận tuyên bố của mình với Reuters về việc Trung Quốc can dự vào tiến trình ngừng bắn ở Myanmar.

Theo phương châm ngoại giao “không can thiệp vào công việc nội bộ” mà Chính phủ Trung Quốc đã kiên trì trong nhiều năm, “thuyết phục” ký kết và “khuyên nhủ” không ký kết trên thực tế đều tính là một kiểu “can thiệp” hay “can dự”. Như vậy, phải chăng Trung Quốc đã thực sự “can dự” vào tiến trình hòa bình của Myanmar? Trung Quốc có nên “can dự” hay không?

Thỏa thuận ngừng bắn không có nghĩa là hòa bình

Trả lời phỏng vấn của tạp chí “The Irrawaddy”, chuyên gia người Thụy Điển rất am hiểu về vấn đề Myanmar, Bertil Lintner cho rằng thỏa thuận ngừng bắn do Chính phủ quân sự Myanmar giữ vai trò chính lần này về cơ bản không liên quan đến hòa bình. Chính phủ Myanmar muốn thực hiện gấp việc ký thỏa thuận ngừng bắn với các nhóm sắc tộc thiểu số vũ trang trước thềm cuộc tổng tuyển cử chỉ là nhằm làm nổi bật thành tựu chính trị của chính phủ đương nhiệm, chứ không thực sự quan tâm đến yêu cầu của các nhóm này. Các nhóm sắc tộc thiểu số vũ trang yêu cầu có một chế độ liên bang thực sự, tự quản lý, nhưng đây là vấn đề Chính phủ Myanmar không thể chấp nhận và họ cần phải kiểm soát mọi mặt. Trước khi vấn đề nút thắt này chưa được thảo luận và giải quyết, thỏa thuận ngừng bắn chỉ là trên giấy tờ.

Cuối những năm 1980, đã có gần 20 nhóm sắc tộc thiểu số vũ trang lần lượt ký thỏa thuận ngừng bắn với Chính phủ Myanmar, nhưng chiến tranh về cơ bản không kết thúc. Thỏa thuận ngừng bắn lần này rất giống với phiên bản của thời kỳ đó, vào ngày ký thỏa thuận ngừng bắn, thậm chí cho đến hôm nay, khói lửa chiến tranh ở miền Bắc Myanmar vẫn chưa dứt. Các bên không đạt được sự đồng thuận trong các vấn đề cơ bản, cái gọi là “thỏa thuận ngừng bắn toàn quốc” khó tránh khỏi trở thành một câu chuyện cười.

Ngay trong nội bộ Myanmar, quan điểm của những người ở các đảng phái khác nhau về thỏa thuận ngừng bắn lần này đang có sự bất đồng lớn. Trước đó, lãnh tụ đảng đối lập Aung San Suu Kyi từng công khai tuyên bố không lạc quan trước thỏa thuận hiện nay, bà cũng nhiều lần khuyến cáo các nhóm sắc tộc thiểu số vũ trang không nên vội vã ký thỏa thuận ngừng bắn.

Lập trường của Trung Quốc và những thay đổi gần đây

Trong những tuyên bố chính thức của chính phủ, Trung Quốc luôn tuân theo phương châm đã định “không can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, hy vọng Myanmar đạt được hòa bình”. Trong tiến trình hòa bình của Myanmar, Trung Quốc xác định mình là quan sát viên và điều phối viên. Tuy nhiên, kể từ đầu năm 2015, một loạt sự kiện xảy ra ở khu vực biên giới Trung Quốc – Myanmar đã dẫn tới sự thay đổi tế nhị trong thái độ của Trung Quốc.

Mối quan tâm của Trung Quốc đối với tình hình Myanmar chủ yếu tập trung trên hai phương diện. Một là sự ổn định ở khu vực biên giới; hai là lợi ích đầu tư tại Myanmar. Đối với Trung Quốc, Myanmar luôn có vai trò quan trọng bất luận là trong chiến lược về năng lượng hay Sáng kiến “Một vành đai, một con đường”, việc thắt chặt mối quan hệ với chính phủ và các bên ở Myanmar là nhân tố cần thiết để đảm bảo lợi ích của Trung Quốc. Vì vậy, vào tháng 2, khi nhóm vũ trang Kokang giao tranh với quân đội Chính phủ Myanmar, Trung Quốc về cơ bản vẫn duy trì thái độ không can dự.

Tuy nhiên, diễn biến của tình hình sau đó đã vượt ra khỏi dự tính của Trung Quốc. Máy bay của quân đội Chính phủ Myanmar ném bom nhầm vào lãnh thổ Trung Quốc khiến 5 công dân nước này thiệt mạng, sự phẫn nộ của dư luận trong nước khiến phía Trung Quốc trở tay không kịp. Ngoài ra, trong năm nay đã xảy ra một số sự kiện khác: tháng 1/2015, hơn 100 công nhân phát rừng người Trung Quốc bị phía Myanmar bắt giữ và phạt nặng; tháng 4, Chủ tịch Đảng Đoàn kết Thống nhất và Phát triển (USDP) cầm quyền của Myanmar, Shwe Mann sang thăm Trung Quốc và thiết lập quan hệ tốt đẹp với các nhà lãnh đạo nước này, nhưng đến tháng 8 bỗng nhiên ông Shwe Mann bị cách chức.

Các sự kiện này khiến Trung Quốc cảm thấy bị mất mặt, tình hình Myanmar ngày càng vượt ra khỏi tầm kiểm soát của họ. Vì vậy, việc lãnh tụ đảng đối lập Myanmar Aung San Suu Kyi được mời sang thăm Trung Quốc vào tháng 6/2015 được bên ngoài xem là một dấu hiệu trong sự chuyển hướng chính sách của Trung Quốc. Đêm trước khi nhóm sắc tộc thiểu số vũ trang lớn nhất Myanmar, Quân đội bang Wa thống nhất công khai tuyên bố không ký kết thỏa thuận ngừng bắn, Trung Quốc đã cử đoàn đại diện tiếp xúc với Quân đội bang Wa thống nhất và Quân đội Kachin độc lập, việc này cho thấy cách nói “không can dự vào tiến trình hòa bình Myanmar” của Trung Quốc là không đáng tin cậy.

Điều phối, gây sức ép và can dự

Ông Min Zaw Oo nói rất đúng, phía Trung Quốc một mặt hy vọng miền Bắc Myanmar ổn định, mặt khác lại không muốn từ bỏ việc gia tăng ảnh hưởng lên các nhóm sắc tộc vũ trang khu vực này. Tuy nhiên, việc Trung Quốc có thể đảm nhận được vai trò như vậy hay không lại là một chuyện khác.

Tháng 3/2013, trong vai trò là điều phối viên, Trung Quốc từng mời phía Chính phủ Myanmar và Quân đội Kachin độc lập tham gia vàong đàm phán ngừng bắn được tổ chức tại Thụy Lệ, Vân Nam. Bản tin sau sự kiện này của phía Trung Quốc cho biết đây là một cuộc hội đàm thành công, nhưng phản ứng của các bên liên quan khác lại khác xa những gì phía Trung Quốc nói. Theo nguồn tin đáng tin cậy, đặc phái viên của Trung Quốc khi ấy là Vương Anh Phàm rất hung hăng, độc đoán. Ông ta muốn nhanh chóng xong việc, ép các bên đàm phán thâu đêm, chưa có kết quả thì không được nghỉ ngơi. Hội đàm kéo dài cả ngày cho đến hơn 1 giờ sáng, đại diện của phía Kachin khi đó cho biết bị tổn thương và bị áp lực từ phía Trung Quốc, đến mức thỏa thuận đạt được một cách vội vàng nhưng lại không đề cập đến việc CHính phủ Myanmar làm thế nào để đảm bảo thực thi kết quả cuộc hội đàm.

Không những thế, trước cuộc đàm phán này, đại diện phía Kachin từng nêu mong muốn cuộc hội đàm có sự tham gia của đại diện Trung Quốc, Mỹ, Anh và Liên minh châu Âu (EU) nhằm tăng cường mức độ giám sát đối với Chính phủ Myanmar. Song Vương Anh Phàm lại nhấn mạnh chỉ cần sự tham gia của phía Trung Quốc, đại diện Kachin cuối cùng cũng phải từ bỏ sự kiên trì của mình. Tuy nhiên, sau cuộc hội đàm này, quân đội Chính phủ Myanmar lại một lần nữa đơn phương khuấy động cuộc chiến với Quân đội Kachin độc lập, khiến Trung Quốc với vai trò là bên điều phối, đã bị mất uy tín trong con mắt người Kachin, Vương Anh Phàm cũng bị thay thế không lâu sau đó.

Tháng 6/2015, nhiều nhóm sắc tộc thiểu số vũ trang ở Myanmar từng tổ chức hội nghị cấp cao về việc có ký kết thỏa thuận ngừng bắn hay không, người kế nhiệm Vương Anh Phàm là Tôn Quốc Tường đã bất ngờ xuất hiện tại hội nghị, đồng thời trong lời nói đầu đã ngâm nga một khúc trong bài “Mãn Giang Hồng” của Mao Trạch Đông. Trong đó, câu “một vạn năm quá lâu, chỉ tranh thủ được ít thời gian” được giải thích là muốn kêu gọi các nhóm sắc tộc vũ trang Myanmar đẩy nhanh tiến trình hòa bình, song câu “hoàn cầu nho nhỏ, có mấy con ruồi lao đầu vào vách, kêu vo ve” lại khiến người ta liên tiếp suy đoán, “con ruồi” rốt cuộc là chỉ ai?

Từ bỏ phương châm “không can thiệp vào công việc nội bộ”?

Do những cân nhắc về địa chính trị, Trung Quốc không muốn phương Tây và Nhật Bản nhúng tay vào vấn đề miền Bắc Myanmar, đây cũng không phải là trường hợp đặc biệt trong ngoại giao quốc tế, Chính phủ Myanmar và các nhóm sắc tộc thiểu số vũ trang đều bày tỏ có thể lý giải. Chuyên gia về vấn đề Myanmar, người phụ trách các tổ chức phi chính phủ (NGO), Richard Horsey cũng cho rằng: “Hiện nay Trung Quốc và Nhật Bản đang ở vào trạng thái đối kháng, xuất hiện việc này không có gì là lạ, hoàn toàn nằm trong dự tính”.

Tuy nhiên, những năm gần đây, đầu tư của Trung Quốc ở Myanmar liên tục vấp phải thách thức, đặc biệt là sau khi cuộc chiến ở miền Bắc Myanmar lan sang cả lãnh thổ nước này, dư luận Trung Quốc ngày càng nghiêng về “can dự trực tiếp” bởi vì năng lực giải quyết các vấn đề sắc tộc của Chính phủ Myanmar bị nghi ngờ, lợi ích của Trung Quốc không thể được đảm bảo, mà sự “mạo phạm” ở khu vực biên giới chính là quân đội Myanmar “đi đầu can thiệp vào hòa bình của Trung Quốc”.

Cách đây vài năm, các học giả phương Tây bắt đầu thảo luận về việc phương châm “không can thiệp vào công việc nội bộ” của Trung Quốc vẫn có ý nghĩa hiện thực hay không, số đông cho rằng Trung Quốc sớm muộn cũng nên từ bỏ phương châm chính sách này. Giáo sư chính trị học về Trung Quốc thuộc Đại học Sydney (Australia), Kerry Brown từng có bài viết cho rằng một nước có năng lực kinh tế hùng mạnh như Trung Quốc nếu muốn đóng vai trò quan trọng hơn trong cộng đồng quốc tế thì nên tích cực chủ động tham gia các công việc của khu vực, thậm chí là toàn cầu.

Một số học giả khác cho rằng, về cơ bản không tồn tại lập trường “không can thiệp vào công việc nội bộ”, đó chẳng qua là một kiểu kiếm cớ để trốn tránh trách nhiệm. Trên thực tế, tại nhiều quốc gia độc tài hay quốc gia có uy quyền, “không can dự” chính là “dung túng”, là một kiểu “can thiệp” khác.

Trong vấn đề Myanmar, ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Chính phủ Myanmar đang tiếp tục giảm đi, tất nhiên họ sẽ tăng cường ảnh hưởng đối với các sắc tộc thiểu số ở miền Bắc Myanmar để tìm sự cân bằng. Tuy nhiên, trong các vấn đề quốc tế Trung Quốc lại thiếu “quyền lực mềm” thực chất, thiếu nền tảng đạo đức để thiết lập “sự can thiệp”, bởi vậy cho dù có nâng tầm vai trò trong các vấn đề quốc tế thì vẫn không có sự tự tin có thể thuyết phục được công chúng. Trung Quốc không thể lấy thái độ lý do Chính phủ Myanmar đối xử công bằng với các sắc tộc thiểu số để công khai lên án nước này, càng không thể dựa vào sự tổn hại lợi ích để trở mặt. Vì vậy, trong tương lai gần, Trung Quốc vẫn sẽ một mặt tiếp tục giương khẩu hiệu “không can thiệp vào công việc nội bộ”, mặt khác sẽ thông qua thế lực chính trị có thể gây ảnh hưởng của họ để cân bằng nền chính trị Myanmar nhằm đạt được mục đích “can dự mà không phải can dự”.

Nguồn: Voachinese – 20/10/2015

TLTKĐB 06/11/2015

ASEAN vận dụng “ngoại giao cân bằng nước lớn” trong vấn đề Biển Đông – Phần III


b) Campuchia, Lào và Myanmar

Do quan hệ trong lĩnh vực chính trị, kinh tế và an ninh giữa Campuchia, Lào và Myanmar với Trung Quốc rất mật thiết, thêm vào đó, các nước này đều không phải là các nước ven Biển Đông. Nếu khái quát về mặt tổng thể đối với “ngoại giao cân bằng nước lớn” của ASEAN, chúng ta phát hiện ra rằng nếu nói chính sách của 4 nước tranh chấp là Philippines, Việt Nam, Malaysia và Brunei và hai nước không tranh chấp là Singapore và Indonesia đều thể hiện hai mặt “kiềm chết” Trung Quốc ở mức độ khác nhau, thì chính sách của 3 nước không tranh chấp là Campuchia, Lào, Myanmar lại rất rõ ràng, chủ trương của các nước này trong việc xử lý và giải quyết vấn đề tranh chấp thậm chí gần với Trung Quốc hơn.

Do ba nước Campuchia, Lào, Myanmar giữ quan hệ kinh tế, chính trị và an ninh ngày càng mật thiết với Trung Quốc nên không muốn làm cho mối quan hệ này bị tổn hại vì áp dụng lập trường bất lợi cho Trung Quốc, đặc biệt là Campuchia không muốn gây ra sự bất an cho Trung Quốc. Với tư cách là Chủ tịch thờng trực luân phiên ASEAN năm 2012, Campuchia đề nghị loại trừ tranh chấp Biển Đông ra ngoài chủ đề chính thức của ASEAN. Trong Hội nghị cấp cao ASEAN được tổ chức tháng 4 cùng năm, Campuchia còn chủ trương cần phải mời Trung QUốc tham gia ngay từ đầu tiến trình xử lý và quản lý tranh chấp, bao gồm đàm phán và soạn thảo Bộ quy tắc ứng xử. Kết quả tại Hội nghị cấp cao lần này, ASEAN chỉ cần trao đổi ý kiến về việc đàm phán những yếu tố mà “Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông” trong tương lai cần phải bao hàm và thực hiện tiến trình DOC. Tuyên bố chủ tịch đưa ra sau hội nghị một lần nữa đã khẳng định DOC là một văn kiện mang tính dấu mốc giữa Trung Quốc với ASEAN, đã phát huy vai trò lớn trong việc thiết thực thúc đẩy giải quyết tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, tăng cường lòng tin lẫn nhau. Tại cuộc họp báo được tổ chức sau khi bế mạc Hội nghị cấp cao, Thủ tướng Campuchia Hunsen bày tỏ thái độ rất đáng tiếc đối với tin đồn xuất hiện, cho rằng quan điểm Campuchia chịu sức ép từ thế giới bên ngoài là “rất ngu xuẩn”, “Trung Quốc không bao giờ làm việc đó (can thiệp), không giống như một số quốc gia khác”. Hunsen nhấn mạnh vấn đề Biển Đông cần phải được giải quyết bởi các nước ở khu vực này, chứ không nên chịu sự chỉ huy của các nước ngoài khu vực. Ông còn chỉ rõ, biểu hiện của một số nước ASEAN trên thực tế là đang phủ nhận tinh thần của Tuyên bố, là biểu hiện muốn tách ra khỏi ASEAN.

Tại Hội nghị cấp cao ASEAN được tổ chức vào tháng 7 cùng năm, Thủ tướng Hunsen với tư cách là Chủ tịch hội nghị đã kiên trì lập trường, từ chối không nhượng bộ đối với những đòi hỏi vô lý mà Philippines và Việt Nam kiên trì đòi đưa vấn đề Biển Đông và “sự kiện đảo Hoàng Nham” vào thông cáo của hội nghị đồng thời tiến hành chỉ trích Trung Quốc, khiến cho ý đồ của Philippines và Việt Nam không đạt được. Hội nghị tuy không đưa ra được “Thông cáo chung”, đã tránh được việ mở rộng tranh chấp Biển Đông đến cấp độ giữa Trung Quốc với ASEAN, bảo vệ ổn định tổng thể quan hệ song phương, đồng thời cũng giúp thúc đẩy việc tham vấn đối thoại.

4) Bàn thêm về sự khác nhau và giống nhau trong chính sách Biển Đông của các nước thành viên ASEAN

Bản thân những phân loại nói trên đối với các nước thành viên ASEAN đã thể hiện sự khác nhau và giống nhau về chính sách ngoại giao trong vấn đề Biển Đông của các nước thành viên với những đòi hỏi lợi ích khác nhau, đồng thời đã lần lượt phân tích động cơ khác nhau của các nước. Bài viết tổng kết thêm về vấn đề này.

ASEAN thực sự có nhận thức chung về một số chính sách cơ bản, đó là nhấn mạnh việc tuân thủ luật pháp quốc tế, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và tránh sử dụng vũ lực, ngoài ra, còn bao gồm cả thực hiện các biện pháp tin cậy lẫn nhau, giảm bớt xung đột… Nhưng ngoài những nhận thức chung cơ bản này, các nước thành viên ASEAN đã không thống nhất ý kiến về việc làm thế nào đối phó Trung Quốc, xử lý tranh chấp, tìm kiếm các phương án giải quyết… trong vấn đề Biển Đông. Những sự khác biệt này chủ yếu được quyết định bởi những nhân tố sau: Thứ nhất, liệu có thể phân định biên giới đảo, bãi đá và vùng biển phụ cận ở Biển Đông cho các nước đòi hỏi chủ quyền hay không. Căn cứ theo sự phân định này, sự khác biệt về chính sách Biển Đông của các nước ASEAN có thể phân chia rõ rệt thành hai loại nước tranh chấp và không tranh chấp. Thứ hai, liệu có thể cho rằng tranh chấp này có liên quan đến lợi ích của bản thân nước đó và liên quan với mức độ lớn hay không. Thứ ba, liệu có thể cho rằng tranh chấp này có ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đối với quan hệ của nước đó với Trung Quốc hay không. Đằng sau 3 nhân tố này còn tiềm ẩn nhân tố thứ tư, đó là sự khác biệt về hình tượng của Trung Quốc ở trong các nước ASEAN. Căn cứ vào những phân tích nói trên có thể thấy rằng nhận thức của 3 loại quốc gia đối với Trung Quốc lần lượt phù hợp với “Thuyết về mối đe dọa từ Trung Quốc”, “Thuyết về cơ hội từ Trung Quốc”, “Thuyết về bạn bè từ Trung Quốc”. Có thể nói vai trò tổng hợp của 3 nhân tố sau đã tạo ra sự khác biệt về chính sách giữa Việt Nam, Philippines với Malaysia, Brunei, và cũng là nguyên nhân chủ yếu về sự khác biệt chính sách giữa các nước không tranh chấp là Indonesia, Singapore, Thái Lan với Campuchia, Myanmar, Lào. Trước tiên là giữa Việt Nam, Philippines với Malaysia, Brunei. Khoảng cách giữa hai nước Malaysia, Brunei với Trung Quốc khá xa, có khuynh hướng giảm nhẹ tranh chấp. Ngoài ra, giữa 4 nước này cũng tồn tại tranh chấp (đòi chủ quyền chồng lấn), điều này cũng khiến cho các nước này không thể có được lập trường thống nhất. Thứ hai là, đối với Indonesia và Singapore, hai nước này tuy không phải là nước đương sự tranh chấp (không có đòi hỏi chủ quyền về đảo), nhưng cảm thấy lo ngại đối với việc đòi chủ quyền cảu Trung Quốc, trong đó, Indonesia đã chính thức đưa ra kháng nghị lên Liên hợp quốc về việc đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc, Singapore lại yêu cầu Trung Quốc xác định rõ chủ trương của mình. Bốn nước không nằm ở vùng ven biển rõ ràng giữ im lặng về vấn đề Biển Đông, đồng thời cho rằng không có quan hệ lợi ích trực tiếp đến tranh chấp, do đó cũng không coi tranh chấp này là vấn đề cấp bách.

IV/ Ngoại giao cân bằng nước lớn trong vấn đề Biển Đông của tổ chức ASEAN

Mặc dù tính hội tụ và tính thống nhất của ASEAN hiện nay còn khá thấp, nhưng về mặt chính sách đối ngoại đã hình thành phương thức ứng xử hay thái độ bày tỏ tương đối nhất trí. Có học giả đã tiến hành khảo sát đối với ASEAN với tư cách là “Cộng đồng ngoại giao”. Theo ý kiến của tác giả, tuy tính điều hòa của ASEAN vẫn không đủ để khiến Hiệp hội này trở thành một thực thể ngoại giao nhất trí cao độ, nhưng từ trong đó chúng ta vẫn có thể quan sát được chính sách ngoại giao của ASEAN có tính tập thể nhất định, hoặc có thể nói quan sát được nỗ lực của ASEAN về phương diện này.

Xét về mặt ý nghĩa, vấn đề Biển Đông không phải là vấn đề giữa Trung Quốc với ASEAN, nó chỉ liên quan đến quan hệ song phương giữa Trung Quốc với một vài nước thành viên ASEAN đưa ra đòi hỏi chủ quyền. Nhưng cùng với sự phát triển không ngừng của chủ nghĩa khu vực ASEAN và tiến trình nhất thể hóa khu vực, các nước ở khu vực này ngày càng có khuynh hướng coi ASEAN là cơ cấu an ninh khu vực tổng thể để giải quyết tranh chấp này, bản thân ASEAN cũng có sự quan tâm liên tục và sâu sắc đối với vấn đề Biển Đông. Bắt đầu từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20, vấn đề Biển Đông đã trở thành một trong những đề tài quan trọng trong cơ chế đa phương mà ASEAN tạo dựng, nhiều lần xuất hiện trong chương trình nghị sự của các hội nghị đa phương như Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN, Hội nghị cấp cao ASEAN và Diễn đàn khu vực ASEAN…, đồng thời cũng trở thành điểm tựa để ASEAN tìm kiếm nâng cao địa vị chủ đạo của mình trong các công việc ở khu vực bằng “ngoại giao cân bằng nước lớn”. Cách làm này của ASEAN xét về mặt chủ quan là nhằm nắm quyền chủ động và quyền quyết định các công việc ở khu vực Đông Nam Á, làm nổi rõ địa vị lãnh đạo của bản thân ở khu vực này (theo cách nói của bản thân ASEAN là một “địa vị cốt lõi”), xét về mặt khách quan lại là tạo điềukiện cho các nước lớn ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ… can dự vào vấn đề Biển Đông.

1/ Phân tích nguyên nhân

“Cân bằng nước lớn” là một chiến lược ngoại giao toàn diện mà ASEAN thực hiện trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, an ninh… Vấn đề Biển Đông được coi là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến bố cục chiến lược và cục diện an ninh ở khu vực này, đương nhiên là lĩnh vực trọng điểm để ASEAN đẩy mạnh chiến lược ngoại giao này. Tuy ASEAN không đòi hỏi các nước thành viên thực thi chính sách ngoại giao và an ninh chung nhất trí cao độ giống như Liên minh châu Âu (EU), nhưng giữa các nước thành viên của Hiệp hội này có nhiều lợi ích chung và đặc tính chung, bao gồm địa vị thực lực của các nước nhỏ yếu, hoàn cảnh quốc tế bị nước láng giềng lớn bao vây, trình độ kinh tế ở vào tình trạng đang phát triển, tranh thủ môi trường xung quanh hòa bình ổn định và tranh thủ kết cấu sức mạnh xung quanh có lợi cho mình… những đặc tính và lợi ích chung này đã quyết định các nước ASEAN cũng có nhận thức chung nhất định về phương diện xử lý các vấn đề lớn trong quan hệ đối ngoại. Nói cách khác, ASEAN tuy không xây dựng chính sách đối ngoại thống nhất cho các nước thành viên, nhưng những đòi hỏi lợi ích tương đồng hay gần nhau khiến cho các nước thành viên có thể đạt được những nhận thức chung về ngoại giao nào đó. “Cân bằng nước lớn” chính là biểu hiện điển hình của nhận thức chung về ngoại giao, mặc dù đối tượng trọng điểm, lĩnh vực và mức độ chú trọng mà mỗi nước thành viên ASEAN đang thực thi vẫn có sự khác biệt.

Khảo sát về mặt vĩ mô, nguyên nhân ASEAN thực thi “ngoại giao cân bằng nước lớn” chủ yếu bao gồm các nhân tố như địa chính trị, lý luận về thế cân bằng lực lượng, tình hình quốc tế và ký ức lịch sử… Hơn nữa, xét về vấn đề cụ thể ở Biển Đông, ngoài điểm chung nói trên, còn có một số nguyên nhân đặc biệt: Thứ nhất, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và vị trí được coi là tuyến hàng hải trọng yếu là động lực quan trọng thúc đẩy ASEAN tiếp tục quan tâm. Thứ hai, trong các nước ASEAN dù là nước đòi hỏi chủ quyền đều mong muốn duy trì và phát triển quan hệ hữu hảo với Trung Quốc, cũng đều mong muốn Trung Quốc và Mỹ thiết lập quan hệ mang tính hợp tác, cùng hết lòng để ổn định Biển Đông và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Ý nguyện ban đầu của ASEAN không phải là đẩy mạnh quốc tế  hóa vấn đề Biển Đông, mà là để “bảo vệ ổn định và phồn vinh ở khu vực Đông Nam Á”. Thứ ba, ASEAN không muốn nhìn thấy Trung Quốc một mình chi phối các công việc ở khu vực, mà hy vọng đồng thời với việc hoan nghênh Trung Quốc phát huy vai trò mang “tính xây dựng”, còn tiến hành hạn chế địa vị “độc tôn” của Trung Quốc ở khu vực này. Từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20 đến nay, quan hệ giữa Trung Quốc với ASEAN đã thực sự phát triển nhanh chóng, đây là kết quả của việc Trung Quốc thực thi “tấn công mềm” và từ đó giảm bớt sự lo ngại của ASEAN đối với Trung Quốc, nhưng Trung Quốc cũng thực sự đang nhanh chóng trở thành nước lớn khu vực. Mặc dù các nhà lãnh đạo Đông Nam Á đã không còn hoặc rất ít nhắc đến “Thuyết về mối đe dọa từ Trung Quốc”, nhưng “Thuyết về thách thức từ Trung Quốc” vẫn là từ ngữ mà họ sử dụng khá nhiều, hơn nữa hầu như tất cả các nhà lãnh đạo của các nước Đông Nam Á đều bày tỏ sự lo ngại đối với ý đồ chính sách của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông. Thứ tư, ASEAN không muốn nhìn thấy sức quy tụ của bản thân bị yếu đi bởi vấn đề Biển Đông, đồng thời cũng hy vọng thông qua việc tham gia quản lý tranh chấp để thể hiện quyền lực mềm của mình. Theo quan điểm của các nhà lãnh đạo ở đại đa số các nước ASEAN đặc biệt là các nước biển đảo, tranh chấp Biển Đông là một sự thử thách về ý nguyện và khả năng đối với sự tin cậy và quản lý vấn đề an ninh khu vực của ASEAN. Hơn nữa chỉ dựa vào sức mạnh của bản thân ASEAN rõ ràng không thể đạt được mục tiêu nói trên, thực thi chính sách ngoại giao cân bằng nước lớn đương nhiên trở thành sự lựa chọn tất yếu của ASEAN.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Châu Á – Thái Bình Dương đương đại – số 1/2014 – TQ

TLTKĐB 18 + 19/07/14

Tư tưởng của Weber về quan hệ giữa tôn giáo và phát triển


Lời mở đầu

Max Weber là một trong ba nhà triết học có khả năng giải thích cho chúng ta một cách cặn kẽ nhất về hệ thống kinh tế đặc thù có tên gọi Chủ nghĩa tư bản (Karl Marx và Adam Smith là hai người còn lại).

Sinh ra tại Erfurt, Đức vào năm 1864, Weber lớn lên trong bối cảnh đất nước của ông chấn động bởi những biến chuyển mạnh mẽ bắt nguồn từ Cuộc Cách mạng Công nghiệp. Các thành phố bùng nổ diện tích, những công ty lớn được hình thành, một thế hệ lãnh đạo quản lý mới dần thay thế sự thống trị của tầng lớp quý tộc cũ. Cha của Weber, một người thành công trong cả kinh doanh lẫn chính trị, đã làm ăn thịnh vượng trong thời kỳ mới này và để lại cho Weber một gia tài có thể đảm bảo cho ông sự độc lập để trở thành một học giả. Mẹ ông là tuýp người hướng nội và điềm đạm điển hình, phần lớn thời gian bà ở nhà như một con chiên Cơ đốc ngoan đạo và nghiêm ngặt trong sinh hoạt tình dục.

Weber thành công trong lĩnh vực học thuật khi tuổi đời còn trẻ. Nhưng vào năm khoảng hơn ba mươi tuổi, trong một buổi họp mặt gia đình, ông đã tranh cãi kịch liệt với cha về cách cư xử đối với mẹ. Cha ông mất vào ngay ngày hôm sau, và Weber tin rằng ông đã vô tình giết chết cha mình. Điều này đẩy ông chìm sâu trong tuyệt vọng và lo lắng. Weber buộc phải từ bỏ công việc ở trường đại học và dành thời gian nằm dài yên lặng trên ghế sofa trong suốt hai năm.

Cũng như mẹ của ông, Marianne – vợ ông – không giúp đỡ được gì nhiều. Cuộc hôn nhân của ông không trọn vẹn và tràn ngập những lời chỉ trích căng thẳng từ cả hai phía. Con đường quay lại học thuật của Weber lại mở ra sau khi ông trải qua cuộc tình phóng khoáng với Else von Richthofen, một sinh viên 19 tuổi có tư tưởng tân tiến về tình dục (Frida, chị của Else, cũng có tính khí tương tự, đã kết hôn với tiểu thuyết gia D. H. Lawrence). Ông đặc biệt thích nhìn những vết răng Else để lại trên cánh tay mình vào buổi sáng sau những đêm họ ân ái. Nhà tâm lý học Freud hẳn là được sinh ra để nghiên cứu lối sống của triết gia cùng thời, Max Weber.

Trong cuộc đời mình, Weber không được biết đến rộng rãi. Nhưng về sau tiếng tăm của ông cứ dần tăng theo cấp số nhân – bởi ông là người đã khởi nguồn một vài ý tưởng giải thích cho sự vận hành và tương lai của Chủ nghĩa tư bản.

1.Tại sao Chủ nghĩa tư bản tồn tại?

Chúng ta có thể cảm thấy Chủ nghĩa tư bản là cái gì đó thông thường và tất yếu, nhưng dĩ nhiên là không phải như vậy. Tính trong chiều dài lịch sử, nó mới tồn tại khá gần đây, và chỉ bén rễ thành công ở một số nước.

Theo quan niệm chuẩn, Chủ nghĩa tư bản là kết quả của quá trình phát triển công nghệ (cụ thể là phát minh ra năng lượng từ hơi nước). Nhưng Weber cho rằng thứ cấu thành nên Chủ nghĩa tư bản không phải những khám phá về khoa học, mà là một tập hợp những tư tưởng – cụ thể ở đây là những tư tưởng tôn giáo.

Tôn giáo thúc đẩy Chủ nghĩa tư bản ra đời. Không phải một tôn giáo bất kì nào; mà là một loại phi-Công giáo đã thịnh hành ở Bắc Âu, nơi Chủ nghĩa tư bản đã và đang tiếp tục tồn tại mạnh mẽ. Chủ nghĩa tư bản được hình thành bởi đạo Tin lành, cụ thể là Thần học Calvin – được phát triển bởi John Calvin từ Geneva và những tín đồ theo Thanh giáo ở nước Anh.

Trong tác phẩm nổi tiếng của mình: “Nền đạo đức Tin lành và Tinh thần của Chủ nghĩa Tư bản” (The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism) xuất bản năm 1905, Weber đưa ra một vài luận điểm lý giải tại sao ông tin rằng đạo Cơ đốc Tin lành có những ảnh hưởng sâu sắc đến Chủ nghĩa Tư bản: 

i) Đạo Tin lành khiến con người luôn luôn cảm thấy tội lỗi:

Theo phân tích của Weber, những con chiên Công giáo hẳn sẽ trải qua điều này một cách dễ dàng. Những tín đồ trót lầm lạc có thể thú tội thường xuyên và được các linh mục “rửa sạch tội lỗi”, và do đó được phục hồi nhân phẩm trước Chúa. Nhưng những con chiên theo đạo Tin lành không có sự thanh lọc như vậy, bởi chỉ có Chúa mới có quyền tha thứ và Chúa sẽ không hé lộ ý định của mình cho tới Ngày Phán quyết (Day of Judgement). Theo Weber, cho tới tận ngày đó, những người Tin lành sẽ luôn gánh chịu cảm giác lo lắng cũng như ước vọng hèn mọn cả đời là được minh chứng đức hạnh của họ trước một vị Chúa nghiêm khắc, nhìn thấu tất cả nhưng lại luôn giữ im lặng.

ii) Chúa thích sự chăm chỉ

Trong quan điểm của Weber, cảm giác tội lỗi của người Tin lành thường được chuyển hướng vào đam mê làm việc. Tội lỗi của Adam chỉ có thể được xóa bỏ bằng cách lao động cực nhọc liên tục. Nghỉ ngơi, thư giãn và đi săn – như giới quý tộc Công giáo xưa thích làm – sẽ gây thêm phiền nhiễu cho Chúa. Không ngẫu nhiên mà đạo Tin lành có ít lễ hội và ngày nghỉ hơn. Chúa không thích thời gian nhàn rỗi. Tiền bạc kiếm được không phải để ném vào hội hè và ăn mừng hiện tại. Tiền luôn luôn chỉ được dùng để tái đầu tư cho ngày mai.

iii) Mọi công việc đều thiêng liêng

Những người theo Công giáo cho rằng khái niệm về công việc thiêng liêng chỉ giới hạn trong những hoạt động của giới tăng lữ. Nhưng hiện tại những người theo đạo Tin lành tuyên bố rằng công việc thuộc bất cứ lĩnh vực nào cũng có thể và nên được thực hiện nhân danh Chúa lòng lành, ngay cả những nghề như thợ làm bánh hay nhân viên kế toán. Điều này tiếp thêm nghị lực tinh thần và sự nghiêm túc mới cho mọi ngành nghề chuyên nghiệp. Lao động không chỉ là để kiếm sống, mà nó còn là một phần trong thiên hướng tôn giáo muốn thể hiện phẩm hạnh của con chiên với Chúa. Một nhân viên kế toán cũng phải có ý thức hoàn thành công việc tại nơi làm việc với tất cả sự nghiêm túc và lòng mộ đạo như của một thầy tu.

iv) Cộng đồng – chứ không phải gia đình – mới là điều quan trọng

Ở những quốc gia theo Công giáo, gia đình từng đã (và thường vẫn đang) là tất cả. Một người có thể thường xuyên tìm việc làm cho họ hàng, giúp đỡ các ông chú biếng nhác và đôi khi gian lận qua mặt chính quyền vì chút lợi ích của gia đình mà không cảm thấy ăn năn nhiều. Nhưng đạo Tin lành có cái nhìn ít rộng lượng hơn về gia đình. Gia đình có thể là nơi chứa đựng những toan tính ích kỷ và vị kỷ, trái ngược hẳn với những huấn thị của Jesus rằng một người Thiên Chúa nên quan tâm đến gia đình của mọi tín đồ, chứ không chỉ riêng gia đình của mình. Với những con chiên đạo Tin lành thời kỳ đầu, người ta phải quên mình cống hiến sức lực cho toàn bộ cộng đồng nơi mà mọi người đều xứng đáng có được sự công bằng và phẩm hạnh. Việc đặt gia đình lên trên và đi ngược lại những đòi hỏi của số đông chính là một tội lỗi; đã đến lúc chấm dứt những quyền lợi được đảm bảo nhỏ nhen và lòng trung thành chỉ dành riêng cho dòng tộc.

v) Phép màu không tồn tại

Đạo Tin lành quay lưng với những điều kỳ diệu. Chúa không đứng sau để tạo lực đẩy cho con người ngày qua ngày. Con người không thể cầu nguyện và trực tiếp được Chúa hồi âm. Sức mạnh siêu nhiên không thể can thiệp một cách kỳ cục và ngây ngô như vậy. Weber gọi điều này là “sự đập tan ảo mộng của thế giới.” Thay vào đó, triết học của đạo Tin lành nhấn mạnh vào hành động của con người: thế giới hàng ngày được thống trị bởi những sự việc, bởi lý lẽ và bởi những quy luật khoa học được khám phá. Và do đó, sự phồn vinh không phải được Chúa bí ẩn sắp đặt và cũng không thể đạt được bằng những lời cầu nguyện. Nó chỉ có thể là kết quả của quá trình suy nghĩ có phương pháp, hành xử lương thiện, lao động hăng say và hiệu quả trong nhiều năm.

Tóm lại, trong quan điểm của Weber, cả năm yếu tố này đã hình thành nên những nguyên liệu xúc tác quan trọng cho Chủ nghĩa tư bản cất cánh. Trong phân tích của mình, Weber thể hiện rõ sự không đồng tình với Karl Marx, bởi Marx đã đề xuất một cách nhìn duy vật về Chủ nghĩa tư bản (trong đó công nghệ được xem như đã cấu thành một hệ thống xã hội tư bản mới); trong khi đó Weber ủng hộ cách nhìn duy tâm (cho rằng trên thực tế một tập hợp những tư tưởng đã cấu thành Chủ nghĩa tư bản và tạo ra lực đẩy cho những phát triển công nghệ và tài chính mới).

Cuộc tranh luận giữa Weber và Marx xoay quanh vai trò của tôn giáo. Marx cho rằng tôn giáo là “thuốc phiện của quần chúng”, một thứ thuốc gây ra sự chấp thuận bị động với những khía cạnh đen tối của Chủ nghĩa tư bản. Nhưng Weber cắt nghĩa câu nói này theo một hướng hoàn toàn khác. Trên thực tế chính tôn giáo là căn nguyên và cũng là nguồn ủng hộ trước nhất với Chủ nghĩa tư bản. Con người không chấp nhận Chủ nghĩa tư bản bởi vì tôn giáo, mà họ chỉ trở thành những nhà tư bản như một hệ quả xuất pháttừ chính tôn giáo của mình.

  1. Chủ nghĩa tư bản phát triển khắp thế giới như thế nào?

Chủ nghĩa tư bản hiện đang phát triển mạnh mẽ ở khoảng 35 quốc gia. Hệ thống này vận hành tốt nhất có lẽ ở Đức, nơi mà Weber lần đầu quan sát nó. Nhưng ở 161 quốc gia còn lại, có lẽ nó không đi đúng đường.

Đây là nguồn cơn của tình trạng rối ren và bần cùng. Hàng tỉ đô la cứu trợ được chuyển từ các nước giàu sang các nước nghèo mỗi năm, được sử dụng vào thuốc chữa sốt rét, những tấm pin năng lượng mặt trời và những khoản trợ cấp cho các dự án tưới tiêu nông nghiệp và thúc đẩy giáo dục cho phụ nữ.

Nhưng phân tích của Weber cho chúng ta thấy rằng những sự can thiệp về vật chất này sẽ không bao giờ có kết quả, bởi ngay từ đầu đây thực sự không phải là một vấn đề về vật chất. Chúng ta phải bắt đầu từ cấp độ tư tưởng.

Thứ mà World Bank và IMF nên chuyển đến Châu Phi hạ-Sahara không phải là tiền và công nghệ, mà là tư tưởng.

Trong phân tích của Weber, một số nước thất bại trong việc vận hành Chủ nghĩa tư bản bởi họ không cảm thấy đủ lo lắng và tội lỗi, họ đặt quá nhiều niềm tin vào phép màu, họ thích tận hưởng hiện tại hơn là tái đầu tư cho tương lai, và người dân cảm thấy việc trộm cắp từ cộng đồng để làm giàu cho gia đình là chấp nhận được, họ ủng hộ sống vì dòng tộc hơn là vì dân tộc.

Weber không tin con đường duy nhất để trở thành một đất nước tư bản thành công là phải cải đạo sang đạo Tin lành. Ông tranh luận rằng đạo Tin lành chỉ mang lại những ý niệm thực thi đầu tiên, mà bản thân chúng hiện có thể tồn tại bên ngoài hệ tư tưởng tôn giáo.

Ngày nay, với những ai muốn mở rộng Chủ nghĩa tư bản, Weber có thể sẽ đề xuất việc tập trung vào một lĩnh vực tương đương với tôn giáo: văn hóa. Chính thái độ, hy vọng và cảm nhận của một dân tộc về cuộc sống là những yếu tố sản sinh ra một nền kinh tế hoặc phồn vinh hoặc lụi tàn. Bởi thế con đường cải cách một nền kinh tế không nên đi qua trợ cấp về vật chất mà nên vòng qua trợ giúp từ văn hóa. Vấn đề quyết định của một nền kinh tế không phải ở việc lạm phát đạt mức bao nhiêu, mà nằm ở câu chuyện tối nay TV chiếu chương trình gì.

  1. Tại sao Chủ nghĩa tư bản không thành công ở nước Cộng hòa Dân chủ Congo (quốc gia nghèo nhất trên thế giới)?

Hẳn Weber sẽ nói với chúng ta, đó là bởi vì quốc gia không may mắn này có tư tưởng lầm lạc, trái ngược với những người Đức sống dọc sông Rhine (người Congo sống dọc sông Congo – NBT). Họ tin vào dòng tộc, họ chờ đợi điều kỳ diệu, họ không tin rằng chính Chúa muốn họ phải trở thành một thợ máy hay thợ cắt tóc lương thiện…

Luận điểm của Weber chỉ ra rằng nếu Chủ nghĩa tư bản muốn bén rễ ở các nước đang phát triển – và đem lại năng suất lao động cao hơn và nền kinh tế thịnh vượng hơn – thì khi đó chúng ta sẽ cần hướng đến việc thay đổi thái độ, khích lệ tinh thần của Thuyết thần học Calvin – nhưng ở một phiên bản cập nhật hơn.

Quan điểm của Weber về phát triển toàn cầu được nêu lên trong hai cuốn sách ông viết về hai tôn giáo mà ông cảm thấy chúng chẳng giúp ích gì cho Chủ nghĩa tư bản, đó là “Tôn giáo Ấn Độ” (The Religion of India) và “Tôn giáo Trung Hoa” (The Religion of China). Với Weber, chế độ đẳng cấp của đạo Hindu phân cho mọi người một địa vị mà họ chẳng thể chối bỏ, và vì thế nó khiến cho bất cứ nỗ lực bền bỉ nào nhằm phát triển kinh tế cũng trở thành vô ích. Niềm tin vào kiếp luân hồi (samsara) – sự đầu thai chuyển kiếp của linh hồn – cũng truyền cảm hứng cho quan niệm rằng chẳng có điều gì có thể thay đổi trừ khi tới tận kiếp sau. Trong khi đó, quan niệm về dòng tộc của đạo Hindu không đặt nặng trách nhiệm cá nhân và khuyến khích chế độ gia đình trị hơn là trọng dụng người tài. Những tư tưởng này dẫn đến những hệ quả về kinh tế; mà theo thuyết của Weber, chúng giải thích vì sao ngày nay số lượng bệnh viện công có chất lượng ở Geneva và Erfurt rất nhiều trong khi lại thưa thớt ở Chennai hay Varanasi.

Weber cũng ghi nhận những nhân tố kém hiệu quả tương tự ở Trung Quốc. Ở đây đạo Khổng đã ăn sâu vào nề nếp truyền thống. Không ai có khả năng suy nghĩ để tìm cách lật lại vấn đề. Sự tận tụy tìm cách tham gia hệ thống quan liêu củng cố nền tảng cho một xã hội ‘tĩnh’ – trong khi kỹ năng kinh doanh phải xuất phát từ sự đan xen hữu ích giữa bất an và hy vọng.

  1. Chúng ta thay đổi thế giới bằng cách nào?

Weber đã viết trong một kỷ nguyên cách mạng. Rất nhiều người quanh ông đã nỗ lực để tạo ra thay đổi: những người cộng sản, những người theo chủ nghĩa xã hội, những người chủ trương vô chính phủ, những người ủng hộ chủ nghĩa dân tộc, và những người hướng đến chủ nghĩa phân lập (ly khai).

Bản thân ông cũng muốn thực tế thay đổi, nhưng ông tin rằng trước hết phải tìm hiểu quyền lực chính trị vận hành trên thế giới ra sao.

Ông tin rằng nhân loại đã trải qua ba loại quyền lực   khác biệt trong suốt chiều dài lịch sử. Những xã hội cổ xưa nhất vận hành theo cái ông gọi là “quyền lực truyền thống.” Đó là khi đế vương dựa vào sức hấp dẫn từ truyện dân gian và thần thoại để củng cố địa vị quyền lực của mình. Những xã hội như vậy bị sự trì trệ ăn sâu và rất hiếm khi chấp thuận sáng kiến mới.

Những xã hội kiểu này dần dần bị thay thế bởi một kỉ nguyên của “quyền lực lôi cuốn”, nơi mà một cá nhân anh hùng, điển hình như một Napoleon, có thể vươn tới quyền lực nhờ vào cá tính lôi cuốn – và có khả năng thay đổi mọi thứ quanh mình bằng khao khát và ý chí.

Tuy nhiên, theo Weber, hiện giờ chúng ta đã đi qua giai đoạn lịch sử đó rất lâu rồi, và đã bước sang một kỉ nguyên thứ ba của “quyền lực tổ chức”. Đây là loại quyền lực được nắm bởi những hệ thống quản lý phức tạp khổng lồ – mà những công dân bình thường khó có thể nắm được cách chúng vận hành. Nó rõ ràng không phải những việc các công chức làm trong cuộc họp và ở bàn làm việc của họ. Hệ thống tổ chức nắm quyền hành thông qua kiến thức: chỉ có những công chức mới biết cách mọi thứ vận hành, trong khi một người bên ngoài phải mất hàng năm mới nắm được điều đó (chẳng hạn như chính sách nhà ở hay chương trình giáo dục có cấu trúc thực sự như thế nào). Phần lớn mọi người sẽ đơn giản từ bỏ – điều này lại vô cùng có lợi cho những người nắm quyền…

Sự thống lĩnh của hệ thống quản trị này có tác động lớn đến bất cứ ai muốn đem lại sự thay đổi cho một quốc gia. Thông thường sẽ có một mong muốn dễ hiểu nhưng sai lầm về mặt nhận thức là chỉ cần thay đổi lãnh đạo, người được tưởng tượng như là một “siêu nhân” tự mình quyết định mọi thứ. Nhưng trên thực tế, việc loại bỏ lãnh đạo hầu như không bao giờ gây được ảnh hưởng lớn như mong đợi. (Ví dụ như việc Obama thay chỗ cho Bush chẳng dẫn đến những thay đổi nhiều người hy vọng – và Weber chắc hẳn sẽ chẳng ngạc nhiên về điều này).

Weber biết rằng ngày nay một cá nhân không thể đem lại thay đổi lớn lao cho xã hội chỉ vì tính cách của ông ta lôi cuốn. Chúng ta có thể có cảm tưởng các biến chuyển chính trị nên được thúc đẩy bằng những lời hùng biện nồng nhiệt, bằng diễu hành, bằng những cử chỉ kích động lòng dân, lớn lao và mãnh liệt, như xuất bản một cuốn sách bán chạy về cách mạng chẳng hạn. Nhưng Weber lại khá bi quan về những hy vọng như vậy, bởi chúng đi lệch khỏi hiện thực vận hành thế giới hiện đại. Cách duy nhất để vượt qua được quyền lực gắn liền với hệ thống quản trị quan liêu là con đường thông qua tri thức và tổ chức có hệ thống.

Weber khích lệ chúng ta thấy rằng thay đổi không hẳn là bất khả thi, nhưng phức tạp và cần thời gian. Nếu chúng ta muốn mọi việc tốt đẹp hơn, phần lớn chúng sẽ không cần trải qua những biến cố thăng trầm. Thay vào đó sẽ là sự sắp đặt cẩn trọng những bằng chứng thống kê, những báo cáo tóm tắt kiên trì tới các bộ trưởng, những chứng cứ cho các phiên điều trần và các nghiên cứu kỹ lưỡng về ngân sách.

Kết luận

Mặc dù bản thân là một người thận trọng, Weber lại khơi gợi nguồn ý tưởng không ngờ về cách thức thay đổi hiện thực. Ông cho chúng ta thấy quyền lực vận hành như thế nào, và nhắc chúng ta nhớ rằng tư tưởng có thể còn quan trọng hơn nhiều so với công cụ và tiền bạc ở những quốc gia đang chuyển mình. Đó thực sự là một luận điểm đầy ý nghĩa. Chúng ta học được rằng rất nhiều những thứ chúng ta gắn cho nguồn lực khách quan bên ngoài (và do đó dường như hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của chúng ta) trên thực tế lại phụ thuộc vào một thứ thực sự gần gũi và có lẽ còn dễ kiểm soát hơn: chính là những ý nghĩ ngay trong đầu chúng ta.

Biên dịch: Phạm Hồng Anh

Nguồn: The Philosophers’ Mail

Xác định các chiến lược kinh doanh ở mức độ nguồn lực – Phần cuối


4/ Xác định nguồn lực nào cần xây dựng và duy trì

a) Tổng quan về quá trình

Sự đầu tư vào xây dựng và bảo vệ các nguồn lực phải tập trung vào những nguồn lực:

  • tạo ra giá trị khách hàng
  • có thể ngăn chặn sự bắt chước và thay thế

Rõ ràng nên tập trung khả năng tài chính vào các nguồn lực đáp ứng những điều kiện này và do đó mới có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.

Có thể nhận dạng các nguồn lực nào cần được xây dựng hoặc duy trì theo một quá trình gồm ba bước như sau:

  1. Nhận dạng các nguồn lực tạo ra giá trị khác hàng
  2. Xác định các nguồn lực nào tạo ra giá trị khách hàng là hiếm có
  3. Đánh giá khả năng bền vững của các nguồn lực tạo ra giá trị khách hàng và được coi là hiếm có

Phần kế tiếp sẽ xem xét từng bước trên để nhận dạng có nguồn lực nào cần được xây dựng hoặc duy trì.

b) Nhận dạng các nguồn lực tạo ra giá trị khách hàng

Bước đầu tiên trong quá trình xác định nguồn lực nào cần xây dựng hoặc duy trì trong toàn bộ hệ thống là nhận dạng các nguồn lực giữ vai trò chủ yếu trong việc tạo ra giá trị khách hàng. Vì giá trị khách hàng được tạo ra trong phối thức, cho nên phải bắt đầu từ đó. Các tiếp cận có phương pháp cho phép liên kết các lợi thế cạnh tranh trong phối thức với các nguồn lực cơ bản là phân tích chuỗi giá trị của Porter (1985, p33). Phương pháp này được trình bày trong Khung 13 – 1.

Khung 13 – 1: Phân tích chuỗi giá trị của Porter1. Hệ thống giá trị, chuỗi giá trị và hoạt động giá trịCác hoạt động của một công ty tập trung hoặc một lĩnh vực kinh doanh của một công ty đa dạng hóa sẽ tạo thành một tổng thể. Tập hợp các hoạt động như thế được gọi là một chuỗi giá trị. Các chuỗi giá trị không đứng độc lập mà nên được xem như một phần của quá trình tạo ra giá trị rộng hơn hoặc các hệ thống giá trị (Porter, 1985, p59). Hình 13 – 2 trình bày hai ví dụ về các hệ thống giá trị, một nhà buôn sỉ mặt hàng da và một công ty nước giải khát với ba lĩnh vực kinh doanh: sản xuất bia, sản xuất nước khoáng thiên nhiên và nước ngọt và bán sỉ thức uống.Nhiều hoạt động khác nhau có thể xuất hiện trong chuỗi giá trị của một công ty tập trung hoặc của một lĩnh vực kinh doanh. Ví dụ như các hoạt động cần thiết để sản xuất bia và các hoạt động là để điều hành hoạt động kinh doanh bán sỉ mặt hàng da, có thể thấy là rất khác nhau. Nhưng thậm chí nếu chỉ giới hạn trong lĩnh vực bia, thì cũng sẽ khó tìm thấy nơi nào có hai chuỗi giá trị là giống nhau. Phân tích của Porter dựa trên sự đa dạng trong các chuỗi giá trị khác nhau và công nhận chín loại hoạt động chính. Các hoạt động này được nhóm thành năm hoạt động chính góp phần trực tiếp vào sản phẩm đầu ra, và bốn hoạt động hỗ trợ, nhằm duy trì các hoạt động chủ yếu bằng cách tìm và thiết lập các nguồn lực cần thiết (Porter, 1985, p36). Hình 13 – 3 giới thiệu mô hình chuỗi giá trị với chín loại hoạt động.

Khung 3-1 Phân tích chuỗi giá trị Porter 2

Chín loại hoạt động của Porter bao hàm toàn diện các hoạt động của một công ty tập trung hoặc một hoạt động kinh doanh và của các đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp và khách hàng. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế trong sử dụng chuỗi giá trị cho thấy đối với những ngành nhất định thì khi phát triển các loại hoạt động sẽ hơi khác. Điều này đặc biệt có ích khi dùng phân tích chuỗi giá trị để khảo sát các hoạt động trong những ngành dịch vụ. Nếu ưa thích chuỗi giá trị điều chỉnh, thì cũng có thể sử dụng nó để phân tích các đối thủ. Bởi vì nếu sử dụng cùng một hệ thống để phân tích các khác biệt có ý nghĩa trong những chuỗi giá trị của các đối thủ cạnh tranh sẽ hiện ra rõ ràng hơn nếu sử dụng cùng một hệ thống để phân tích.

Trong phạm vi một công ty hoặc một lĩnh vực kinh doanh, chuỗi giá trị hợp thành nhiều các hoạt động liên kết khác nhau. Porter gọi các hoạt động này là các hoạt động giá trị (1985, p39). Số lượng hoạt động, loại hoạt động, và cách chúng liên kết có tầm quan trọng quyết định đối với các khác biệt sản phẩm hoặc dịch vụ, đối với các khác biệt truyền thống và đối với các chi phí cho công ty hay lĩnh vực kinh doanh đang xem xét. Những hoạt động giá trị xác định các lợi thế cạnh tranh trong phối thức và do đó, có tầm quan trọng chiến lược cao.

Để hiểu rõ tình hình, điều quan trọng là tập trung riêng biệt cho từng hoạt động:

  • có những mối quan hệ qua lại khác nhau với các hoạt động bên trong hay bên ngoài chuỗi giá trị và/hay
  • có một tiềm lực lớn cho sự khác biệt hóa và/hay
  • có chi phí cao hoặc gia tăng (Porter, 1985, p45)

Ngoài ra, các hoạt động phải được phân đúng loại. Công việc này thường không phức tạp: ví dụ như sản xuất hàng hóa được phân loại theo các hoạt động. Nhưng có những trường hợp cần xem xét: ví dụ như việc xử lý các đơn đặt hàng có thể được xem như một phần của công việc tiếp thị và bán hàng hoặc như một phần của hệ thống phân phối ra bên ngoài (Porter, 1985, p45). Nếu chủ yếu là vấn đề kỹ thuật, thì tốt hơn nên đặt vào hệ thống hậu cần, nhưng nếu hoạt động dường như giữ vai trò quan trọng đối với việc giao tiếp khách hàng, thì nên xem đó là hoạt động trong tiếp thị và bán hàng.

2. Phân tích chuỗi giá trị là một công cụ để nhận dạng các lợi thế cạnh tranh trong phối thức

Phân tích chuỗi giá trị của Porter giúp nhận dạng các lợi thế cạnh tranh mục tiêu hay hiện hữu trong phối thức. Có thể sử dụng phân tích theo bốn cách khác nhau, đưa ra bốn cách tiếp cận để nhận dạng các lợi thế cạnh tranh.

Đầu tiên, sử dụng phân tích chuỗi giá trị đơn giản bao gồm việc nhận dạng các hoạt động chủ yếu hay hỗ trợ khác nhau mà các hoạt động này có đóng góp quan trọng vào việc giảm chi ph1i hoặc tạo ra tính độc đáo (Porter, 1985, p38).

Khung 3-1 Phân tích chuỗi giá trị Porter 4

Phương pháp tiếp cận thứ hai để nhận dạng các lợi thế cạnh tranh bao gồm khảo sát các khả năng mới cho việc liên kết các hoạt động giá trị trong chuỗi giá trị. Miễn là cong ty kiểm soát các liên kết thì có thể:

  • nhận dạng các quá trình khác nhau và chọn giải pháp tối ưu. Ví dụ như một công ty có thể đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng hoặc bằng sự kiểm soát chất lượng tất cả thành phẩm hoặc thông qua sai số thấp trong các tiêu chuẩn sản xuất.
  • giảm chi phí, ví dụ như có thể giảm chi phí lưu kho bằng cách cải thiện sự phối hợp trong các hoạt động hậu cần
  • giảm thời gian xử lý đơn đặt hàng để cung cấp cho khách hàng nhanh hơn
  • cải tiến chất lượng và hạ thấp tỉ lệ phế phẩm

Các công ty muốn đưa ra chiến lược giá sẽ cần phải thiết kế lại các liên kết giữa các hoạt động sao cho giảm thiểu số lượng các giao tiếp và nhu cầu phối hợp (Porter, 1985, p48).

Phương pháp tiếp cận các lợi thế cạnh tranh thứ ba được tìm thấy trong các liên kết giữa chuỗi giá trị riêng của công ty và các chuỗi giá trị riêng của các nhà cung cấp và nhà buôn. Ý tưởng của Porter không phải là tiết kiệm chi phí trên chi tiêu của các nhà cung cấp hay nhà buôn mà là cả hai bên đều có thể thu lợi, bởi vì đây không phải là trò chơi có tổng bằng 0. Để minh họa, có thể dùng ví dụ sau, một người làm mứt kẹo quyết định chọn nguyên liệu sôcôla lỏng thay vì các thanh sôcôla đặc từ nhà cung cấp. Quyết định này giúp người làm mứt kẹo tiết kiệm được quá trình nấu chảy trong khi nhà cung cấp sôcôla cũng cắt giảm được các công đoạn cần thiết là đổ vào khuôn và cô đặc để sản xuất ra các thanh sôcôla (Porter, 1985, p50).

Phương pháp tiếp cận thứ tư, đây cũng là phương pháp cuối cùng, bao gồm việc phối hợp chuỗi giá trị của công ty với chuỗi giá trị của người tiêu dùng cuối cùng tùy thuộc vào sản phẩm hoặc dịch vụ có liên quan, có thể là một công ty hay một gia đình ở địa phương. Nếu khách hàng là một công ty, thì các chuỗi giá trị có thể được phối hợp trực tiếp, như trong trường hợp của các nhà cung cấp và nhà buôn. Nếu khách hàng là những người tiêu dùng nội địa, thì vấn đề là phải hiểu biết chuỗi giá trị của khách hàng và đáp ứng các sản phẩm và dịch vụ phù hợp. Ví dụ, đối với nhà sản xuất dụng cụ leo núi và đi du lịch vùng núi, thì điều rất quan trọng là phải biết các loại địa hình và điều kiện thời tiết mà sản phẩm sẽ được sử dụng. Những sản phẩm càng phù hợp với nhu cầu và khả năng thực tế, có lẽ bao gồm cả các tình huống cực kỳ kh1o khăn và nguy hiểm, thì sự thành công thương mại sẽ càng lớn.

Hình 13 – 4 trình bày cách nhận dạng các nguồn lực tạo ra giá trị khách hàng bằng cách làm ngược lại. Quy trình này giả sử rằng các lợi thế cạnh tranh chính trong phối thức (các tiềm lực thành công IIA) được xác định tạm thời (chúng chỉ có thể ấn định dứt khoát khi phân tích dựa trên nguồn lực cho thấy rằng việc xây dựng hoặc duy trì trong thời gian dài hạn là khả thi, và có khả năng tài chính). Chúng ta bắt đầu tại A, ở bên phải sơ đồ, bằng cách nhắc lại các lợi thế cạnh tranh trong phối thức. Kế đến, tạo ra một danh sách các hoạt động giá trị và nhận dạng các hoạt động thiết yếu cho các lợi thế cạnh tranh mục tiêu trong phối thức. Vì phối thức phụ thuộc trực tiếp vào các hoạt động chủ yếu, nên tốt nhất bắt đầu bằng cách xem xét các hoạt động này. Đây là B1 trên sơ đồ. Sau đó, các hoạt động hỗ trợ cần thiết (= B2) có thể được nhận dạng và đánh giá theo sự đóng góp của chúng vào các lợi thế cạnh tranh trong phối thức. Bước cuối cùng là khảo sát các nguồn lực cần cho các hoạt động tạo ra giá trị này xảy ra (= C1 và C2). Không cần thiết phải tạo ra một danh sách chi tiết toàn diện với các tòa nhà, nhà xưởng, thông tin, tri thức… Sẽ có ích hơn nếu một sự hiểu biết rõ ràng và cụ thể các yếu tố nguồn lực đặc thù cần để tạo ra các lợi thế cạnh tranh mục tiêu trong phối thức. Khi các ưu thế nguồn lực cần thiết đã sẵn sàng thì các biện pháp được dùng trong suốt giai đoạn triển khai chiến lược sẽ nhằm đảm bảo rằng các ưu thế này được duy trì thích đáng. Ví dụ như cần có các ngân sách cho việc bảo trì hay thay mới thiết bị và để phát triển và tuyển dụng nhân viên. Nếu các nguồn lực không đủ, thì sẽ cần đến các chương trình xây dựng những ưu thế nguồn lực cần thiết.

Hình 13-4 Sử dụng mô hình chuỗi giá trị để nhận dạng của nguồn lực tạo ra giá trị KH

c) Xác định các nguồn lực tạo ra giá trị khách hàng hiếm có

Chuỗi giá trị giúp nhận dạng các nguồn lực trong hệ thống để làm cơ sở cho các lợi thế cạnh tranh trong phối thức. Nhưng mà các nguồn lực tạo ra giá trị khách hàng này sẽ khác nhau rất nhiều tùy theo mức độ hiếm có của chúng. Tập hợp các nguồn lực nằm sau các lợi thế cạnh tranh của phối thức trong cùng một thời gian sẽ bao gồm:

  • một số nguồn lực nói chung là có sẵn trong ngành
  • một số nguồn lực có sẵn đối với một số ít đối thủ cạnh tranh trong ngành
  • một số nguồn lực độc đáo vì được liên kết với công ty

Vì vậy, ở bước thứ hai trong việc nhận dạng các nguồn lực để duy trì hoặc xây dựng đòi hỏi phải xác định các nguồn lực thuộc vào các nhóm mà chỉ có một vài công ty sở hữu, hoặc chỉ có một công ty duy nhất sở hữu. Bằng cách loại bỏ các nguồn lực khác để lập ra một danh sách ngắn gọn về các nguồn lực vừa tạo ra giá trị khách hàng vừa hiếm. Việc chọn lựa này rất quan trọng bởi vì các nguồn lực không khan hiếm thì hoặc là đối thủ cạnh tranh cũng đã có, hoặc có thể đạt được dễ dàng. Vì vậy, khi các nguồn lực không khan hiếm có đóng góp thuận lợi vào phối thức, chúng cũng không thể làm nền tảng cho các lợi thế cạnh tranh bền vững. Ví dụ như người cung cấp các món đặc sản thị, cá cho các khách sạn và nhà hàng có thể tìm thấy sự khác biệt hóa thông qua một dịch vụ giao hàng tối. Xe cộ cần thiết cho việc giao hàng chắc chắn là một yếu tố trong hệ thống nguồn lực quan trọng, nhưng chúng không thể đưa ra cơ sở cho dịch vụ giao hàng nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh. Các nguồn lực có thể đạt được lợi thế cạnh tranh có thể là:

  • phần mềm xử lý đơn đặt hàng tốt hơn cho các đối thủ cạnh tranh
  • khả năng kho chứa lớn
  • dịch vụ đặt hàng 24 giờ và/hoặc
  • các nhân viên hướng về khách hàng và sẵn sàng xử lý các đơn đặt hàng khẩn cấp được thông báo trong thời gian ngắn và ngoài giờ làm việc bình thường.

Rõ ràng để đảm bảo lợi thế cạnh tranh, cần biết là các nguồn lực nào chỉ một vài đối thủ cạnh tranh có sẵn, và nguồn lực nào là độc đáo đối với công ty.

Trong những trường hợp mà các lợi thế nguồn lực chưa có nhưng cần phải xây dựng thì phương pháp tiếp cận cũng giống nhau. Trong số các nguồn lực khác nhau cần bảo đảm cho các lợi thế cạnh tranh mục tiêu trong phối thức, phải nhận dạng được các nguồn lực không có sẵn và nỗ lực được tập trung vào việc xây dựng các nguồn lực này.

Như đã nêu trong Phần 3/ ở trên, tính hiếm có của nguồn lực được xác định bởi

  • nguồn lực có thể được mua trong các thị trường yếu tố hay không
  • nguồn lực có được tích hợp chặt chẽ vào công ty hay không

Cách tiến hành thực tế là khảo sát lần lượt từng nguồn lực tạo ra giá trị khách hàng, và dùng hai tiêu chuẩn này để đánh giá tính hiếm có của chúng.

d) Đánh giá tính bền vững của các nguồn lực tạo ra giá trị khách hàng và được coi là hiếm

Kết quả của quá trình mô tả ở trên, đưa ra một danh sách các nguồn lực đáp ứng được hai điều kiện là tạo ra giá trị khách hàng và khan hiếm. Các nguồn lực này có thể thiết lập nên những lợi thế cạnh tranh ở mức độ nguồn lực. Bước thứ ba trong quá trình liên quan đến việc đánh giá tính bền vững của các lợi thế nguồn lực này. Đây là việc quan trọng vì công ty sẽ đầu tư chủ yếu vào các lợi thế cạnh tranh có thể chống lại sự bắt chước và thay thế. Chỉ có các nguồn lực bền vững là có thể tạo ra các lợi thế cạnh tranh lâu dài.

Các đối thủ cạnh tranh có thể tiến hành theo bốn cách và do đó bốn cách này phải được khảo sát:

  • Khảo sát tính sẵn có của các nguồn lực tương đương và khoảng thời gian cần thiết để đạt được chúng và để tích hợp vào hệ thống nguồn lực.
  • Khảo sát xem có thể xây dựng các nguồn lực tương đương hay không và cần bao lâu để làm điều đó.
  • Khảo sát xem các nguồn lực có thể được thay thế hay không và cần bao lâu để thu được các nguồn lực thay thế và để tích hợp chúng.
  • Kiểm tra xem có thể xây dựng các nguồn lực thay thế hay không và cần bao lâu.

Nếu bất kỳ phương án nào dường như khả thi trong một thời đoạn thực tế, thì lợi thế nguồn lực không thể bền vững. Nếu không có phương án nào nêu trên có thể xảy ra, thậm chí trong một khoảng thời gian dài thì lợi thế cạnh tranh là bền vững.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Rudolf Griinig, Richard Kuhn – Hoạch định chiến lược theo quá trình – NXB KHKT 2003.

Những quy luật chính trị trong sử Việt – Phần I


Vũ Tài Lục

Tựa

Không đọc sử không đủ tư cách nói chuyện chính trị

Các nhà lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ theo thói quen cũng như do thực tế của kinh nghiệm đấu tranh đưa họ lên nắm quyền nặng tính chất của một thứ “businessmen” (người kinh doanh) cho nên họ không đánh giá đúng mức nếu không muốn nói là họ hoàn toàn thiếu khả năng nhận thức lịch sử. Họ coi quốc gia nào cũng là một hiện tượng chung, để đưa ra một giải pháp giống hệt nhau khi các quốc gia ấy gặp khó khăn. Các chính trị gia Hoa Kỳ chỉ chăm sóc đến vấn đề nào khi họ mang trách nhiệm với vấn đề ấy, họ khoanh chân họ trong phạm vi một cục bộ mà chẳng thèm biết đến toàn bộ, đồng thời họ lại hay nhìn vấn đề một cách hết sức đơn giản, ưa chú trọng bề ngoài qua vài lời nói, ít diễn từ chứ không tìm hiểu những điều kiện lịch sử. Tỉ dụ: thái độ của Hoa Kỳ đối với De Gaulle là trường hợp khá rõ ràng, nếu De Gaulle đã chống Mỹ thì Mỹ chẳng có chuyện gì nói hay bàn với De Gaulle. Tóm lại, Hoa Kỳ về việc dùng khoa học và kỹ thuật có thể tạo ra những thành quả rất tốt nhưng khi phải đương đầu với vấn đề thuộc diễn tiến lịch sử thì lại rất bết bát. Bởi vậy, trong những năm sắp tới, vấn đề quan trọng nhất cho chánh sách của Hoa Kỳ là tính chất triết của nó (Le problème le plus grave de la politique américaine sera philosophique).

Trên đây là lời nói của Henry Kissinger trong một bài viết phê bình chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Nó đã được phát biểu sau khi thấy có những dấu hiệu đầu tiên về sự vô hiệu quả của hành động can thiệp trực tiếp bằng quân sự ồ ạt. Và nó được tán thưởng bởi đa số lực lượng chính trị nắm quyền ở Mỹ sau khi chính sách đã rõ rệt thất bại gây thành rối loạn nội bộ đến nỗi Tổng Thống Johnson, bằng nét mặt buồn thảm, phải tuyên bố không tái ứng cử.   

Sự thất bại ấy không giống như thất bại một “áp phe” vì nó kéo theo khủng hoảng trên nhiều phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, tinh thần và luôn cả lòng tin cậy cho quốc gia Hoa Kỳ.

Hầu hết phần tử trí thức Hoa Kỳ đều mong mỏi hoặc phấn đấu để có thể có được cơ hội nghiên cứu, tìm hiểu biến cố quan trọng này. Tất cả đều đồng ý rằng các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đã thiếu hẳn một ý thức lịch sử đứng đắn. Bắt đầu kể từ lúc Tổng Thống Roosevelt chỉ có hiểu biết rất mơ hồ nghĩ Việt Nam là một quận huyện của Trung Quốc, vậy hãy trả nó về với sự cai quản của chính phủ Tưởng Giới Thạch. Do sai lầm căn bản đó mà đi thành một chuỗi cho tới ngày toàn bộ vấn đề buộc phải đặt lại. Đặt lại vấn đề cũng như Pháp quốc năm 1952, sau 6 năm chiến tranh Việt Pháp, đã tìm hiểu duyên do thất bại trong cuốn sách: “Việt Nam Sociologie d’uneguerre” của Paul Mus với câu kết luận trên chương chót “Que faire: La nation vietnamienne est pleinement formée et consciente d’elle même” (Nước Việt Nam đã là một quốc gia hoàn chỉnh và hoàn toàn ý thức được lịch sử của mình)… “Une conviction traditionnelle, inséparble de son patriotisme l’assure bien qu’il est le dernier, juge de son destin” (Người Việt với niềm tin truyền thống gắn chặt vào lòng yêu nước để nghĩ rằng chỉ có người Việt là kẻ quyết định cuối cùng vận mệnh nước Việt).   

Niềm tin truyền thống ấy là niềm tin lịch sử, lòng yêu nước ấy là tinh thần sử được nung đúc qua bao ngàn năm đấu tranh.

Khối tình yêu thiên cổ dòng kim cương

Ngày khai sinh nhưng chọn chốn quê hương

Hòn núi Trắng sông Xanh của nòi Việt

Cỏ hoa còn gìn giữ mặc tang thương

Tất cả bởi cháu con bền bỉ mãi

Nền kế khai đạo thống dãi Viêm Phương [1]

Ông A. Pazzi, một người Ý từng ở Việt Nam hơn hai mươi năm, đã viết trong tác phẩm: “Người Việt cao quí” rằng: “Dân Việt là một dân tộc tự cường bất khuất đến một mức độ khá cao và tinh thần ấy giúp họ trở thành một kẻ bé nhỏ nhất mà lại mạnh nhất, bị chèn ép nhiều nhất nhưng lại quật khởi oai hùng bậc nhất. Người ta sẽ không bao giờ hiểu hết được sức mạnh ấy và sự cao lớn của tinh thần ấy nếu không đi vào bề sâu lịch sử của nòi giống Việt, nếu chỉ quan sát hời hợt sinh hoạt bình thường. Với một nhận định theo lối hình thức Tây phương người ta không sao hiểu được giá trị đích thực của nó… Kẻ thù của dân tộc Việt chỉ bắt đầu thấy được sức mạnh ấy khi bọn họ đã thất bại và thật là quá muộn màng”. [2]

SỬ HỌC VÀ TINH THẦN SỬ VIỆT

Hồn lịch sử sống trong dây nguyện ước   

Vẫn chu lưu tồn tại há phong sương 

Bừng tỉnh ngộ bằng đồ thư đất nước 

Kín uyên nguyên sâu thẳm đáy cửu trường

Thái Địch 

Phải biết dân tộc bằng đời sống lịch sử.            

Sống về mồ về mả           

Không ai sống về cả bát cơm

Chúng ta thường hiều sai lầm phương ngôn trên nảy sinh từ khoa phong thủy để đất để cát. Nếu đem ghép liền với câu:

Mồ cha không khóc khóc đống mối           

Mồ mẹ không khóc khóc bối bòng bong

thì sẽ thấy rằng đó là căn bản ý thức lịch sử của người Việt. Trong cuộc đấu tranh để sống, không chỉ dành bát cơm manh áo cho sinh mệnh cá nhân mà còn điều quan trọng hơn là bảo vệ mồ mả. Mồ mả không có nghĩa là ba thước đất vùi chôn một xác người đã tận số trần gian. Mồ mả đây là anh linh tiên tổ hay anh linh lịch sử. Cho nên suốt dòng lịch sử Việt, cái thất bại chính trị lớn nhất bao giờ cũng là chuyện:

Rước voi về dầy mồ  từng xảy ra cuối đời nhà Hồ, đời Lê mạt và đầu triều Nguyễn Gia Long.

Lịch sử là gì?

Tri thức của loài người tuy nói rằng còn ngàn vạn cửa mênh mông không bến bờ nhưng nếu thu lại cũng chỉ còn hai loại:

– một thuộc tự nhiên, và

– một thuộc nhân văn

Mọi hiện tượng trên thế giới không đi ra ngoài hai loại đó. Tự nhiên là tất cả những gì thuộc nhân dĩ ngoại, nhân văn là tất cả những gì thuộc bản thân xã hội loài người. Đành rằng một người sinh vào cõi đời hoàn toàn là một chuyện thuộc tự nhiên, nhưng vì ta đứng trên lập trường người và xem trọng địa vị nhân sinh cho nên ta mới phân thế giới thành hai đại loại tự nhiên và nhân văn. Điều này chẳng có chi nghịch lý, vì có thể nói một cách rất thường thức rằng:

Tự nhiên từ buổi khai thủy chỉ thuần là vật chất, rồi do sự đào dã tự nhiên mà thành ra có sinh mệnh rồi lại do sự đào dã của sinh mệnh mà sản sinh tâm linh, từ tâm linh sản sinh thành lịch sử.

Lịch sử tức là nhân sinh, toàn bộ nhân sinh và toàn bộ kinh nghiệm nhân sinh. Bản thân lịch sử là tất cả những kinh nghiệm dĩ vãng. Dùng văn tự ghi chép hoặc gìn giữ những kinh nghiệm dĩ vãng để cho người đời sau liễu giải tìm về nhận thức những việc đời trước gọi là sử học. Phải suy xét gốc ngọn, tìm tòi căn nguyên những việc đã qua để hiểu rõ những vận hội tri loạn của một nước, những trình độ tiến hóa của một dân tộc. Chủ đích là để làm cái gương chung kim cổ cho người cả nước được đời đời coi vào đấy mà biết sự sinh hoạt cùa người trước đã phải lao tâm lao lực như thế nào mới chiếm giữ được cái địa vị ở dưới bóng mặt trời này. (Trần Trọng Kim- Việt Nam sử lược).

Nghiên cứu và liễu giải sử học nhưvậy không phải chỉ để bảo lưu kinh nghiệm nhân sinh mà còn để phát huy giá trị cùng ý nghĩa trọng đại của lịch sử truyền tới hậu thế, căn cứ vào đó mà chỉ đạo tương lai bởi vì lịch sử không phải là một thứ dĩ vãng chết mà là dĩ vãng đã đúc kết thành tinh thần kiên cố và những sức mạnh tối linh (Force obscures) vượt khỏi tầm với của lập luận “logique” tầm thường. Nếu không vượt khỏi tầm của lập luận “logique” tầm thường hỏi làm sao vua Quang Trung sau khi nghe bọn Ngô Văn Sở, Ngô Thời Nhiệm dâng lời chịu tội kể chuyện quân Tầu thế mạnh sợ đánh không nổi nên phải lui thì cười mà nói rằng:

“Chúng sang phen này là mua cái chết cả đó thôi. Ta chuyến này thân coi việc quân đánh giữ đã định mẹo rồi, đuổi quân Tầu về chẳng qua mười ngày là xong việc”.

Vấn đề quan trọng chỉ ở chỗ có vận dụng hay không vận dụng được sức mạnh lịch sử. Vậy thôi. Cái “logique” tầm thường ấy đã từng được nhân dân Việt trả lời bẳng thần thoại: Thánh Gióng Phù Đổng Thiên Vương. Sách “Lĩnh Nam Chích Quái” kể:

“Về đời Hùng Vương thứ sáu thiên hạ thái bình, dân gian sống yên vui, vua không đem lễ vật triều cống nhà Ân bên Tầu. Bạo chúa nhà Ân thấy vậy, mượn cớ đi tuần thú nhưng ngầm mang quân sang cướp nước Nam.

Vua Hùng Vương lo sợ, vời quần thần vào hỏi kế đối phó, có người tâu: “Bệ hạ nên kêu khấn với Long quân để ngài giúp mới xong”.

Vua nghe lời lập đàn cúng tế ba ngày đêm. Bỗng trời nổi cơn giông, sấm sét ầm ầm mưa nhưtrút nước. Có một ông cụ già mặt mũi to lớn, đầu râu bạc trắng cao đến 9 thước ngồi ở ngã ba đường vừa cười vừa nói, ngâm hát múa may.

Ai trông thấy cũng cho làm lạ mới báo cho vua hay. Vua thân hành ra mời ông cụ ấy và dâng cơm rượu thết đãi. Ăn xong, ông cụ ấy chẳng nói câu gì. Vua mới hỏi:

– Sắp có giặc Bắc xâm phạm nước Nam, được thua thế nào xin cụ dạy bảo cho.

Ông cụ lâu mãi mới nói rằng:  – Sau ba năm nữa, giặc Bắc tất kéo đến đây. Nhà vua nên tìm khắp cả thiên hạ mà cầu lấy người kỳ tài phá được giặc.Nếu được người giỏi mà phá giặc thì không khó gì nữa.

Nói đoạn ông cụ bay vụt lên trời biến mất.

Vua hiểu ông cụ đó tức là Long quân giáng hiện.

Vừa đúng ba năm, quan quân trấn giữ biên ải cáo cấp về triều có giặc Ân kéo tới. Vua liền cho người đi khắp nước tìm người dẹp giặc.

Bầy giờ ở làng Phù Đổng huyện Võ Ninh có một nhà hiếm hoi sinh độc một đứa con trai mà khốn nỗi nó đã bốn tuổi mà chưa biết nói, không ngồi đứng được chỉ nằm ngửa. Khi sứ giả nhà vua đến làng ấy, người mẹ cười nói bỡm con rằng:

– Đẻ được một mụn con trai chỉ biết ăn uống, ngồi đứng còn không được thì đánh thế nào được giặc mà lĩnh thưởng vua ban.

Thằng bé nghe vậy, bỗng nhiên bật nói thành tiếng bảo mẹ gọi sứ giả lại đây.

Mẹ nó lấy làm lạ, nói chuyện với chòm xóm. Ai ai cũng khuyên bà ta hãy làm theo lời thằng bé.  Sứ giả đến trông thấy nó bé bỏng hỏi:

– Tiểu nhi kia, mày còn nhỏ mới bập bẹ, gọi ta đến làm gì?

Thằng bé ngồi dậy bảo với sứ giả rằng:  – Mau về tâu với vua đúc cho ta một con ngựa sắt cao 18 trượng, một thanh kiếm dài bảy thước, một chiếc nón sắt đem lại đây cho ta. Giặc đến trông thấy ta tự nhiên phải sợ mà chạy, nhà vua chẳng cần phải nhọc công lo lắng.

Sứ giả mừng rỡ về tâu với vua. Vua vui sướng bảo đám quần thần:

– Đây là Long quân cứu ta đây.

Rồi hối hả sai thợ rèn đúc ngựa sắt, kiếm sắt sai người đem lại đưa cho thằng bé làng Phù Đổng.  Sứ giả sắp tới nơi, người mẹ ở nhà lo lắm, chỉ sợ con nói xằng bậy thì vạ lây đến cả nhà.  Thằng bé cười ầm lên nói rằng:

– Mẹ cứ kiếm rượu thịt cho nhiều để con ăn uống còn việc đánh giặc mẹ khỏi phải lo.  Thằng bé từ đấy ăn mỗi ngày một lớn, cơm mẹ kiếm không đủ cho con, nên xóm giềng phải xúm vào kẻ đỡ tiền người cho thóc, người dâng rượu thịt, thế mà thằng bé ăn vẫn không đủ.

Khi giặc Ân kéo đến núi Châu Sơn thì sứ giả đem ngựa kiếm đến nhà giao cho thằng bé. Gặp sứ giả, nhận đủ đồ binh giáp, nó bỗng đứng lên vươn vai mạnh một cái, mình liền cao vọt hơn mười trượng, ngẩng mặt lên trời gầm vài mươi tiếng, rồi rút thanh trường kiếm khỏi vỏ, nhảy lên mình ngựa sắt, chân đạp vào mình ngựa, ngựa hét ra lửa mà phóng chạy như bay.

Phù Đổng trỏ gươm đi trước quan quân kéo theo sau, tiến sát đến trại giặc. Giặc bày trận dưới chân núi Châu Sơn, ngài xông vào trận đánh giết một hồi lâu, gãy mất cả kiếm, mới lấy tre mọc bên đường nhổ cả tảng mà quật vào đám giặc. Quân giặc tan nát tựa hồ đất lở ngói tan, tranh nhau lạy phục xuống đất xin hàng”.

Thằng bé làng Phù Đổng chính là lực lượng tối linh nung luyện bởi kinh nghiệm dĩ vãng của lịch sử. Long quân là tri thức để vận dụng sức mạnh tối linh kia.

Bằng ấy thứ đánh bạt hẳn cái “logique” tầm thường cho rằng một nước nhỏ đánh với một nước quá lớn thì khác chi chuyện châu chấu đá voi. Nhờ đó, lịch sử Việt đã lập nên những đại công mà văn chương bình dân ca tụng với vẻ ngạo nghễ đầy tự tin:

Nực cười châu chấu đá xe

Tưởng rằng chấu ngả ai ngờ xe nghiêng

Chim chích cắn cổ diều hâu

Gà con tha quạ biết đâu mà tìm

Có người hỏi quá khứ nhân sinh trên lịch sử làm sao diễn lại một lần nữa được? Quang Trung, Lê Lợi, Gia Long đã đi hẳn vào quá khứ không thể có Quang Trung, Lê Lợi, Gia Long nữa. Việc cũ xong, chúng ta nên hướng về phía trước mà tìm kiếm những điều mới. Lịch sử đã thành quá khứ làm sao chúng ta có thể dựa trên quá khứ để chỉ đạo tương lai?

(còn tiếp)

Nguồn: Vietnamthuquan.net

—–

[1] Trích thơ Thái Địch

[2] Theo bản dịch của Hồng Cúc

Kinh tế học và Tri thức – Phần I


Freidrich A. von Hayek

Bài phát biểu của chủ tịch trước Câu lạc bộ Kinh tế London, tháng 10, 1936; được in lại trong Economica, Vol. IV, 1937, pp. 33-54.

Đinh Tuấn Minh dịch và giới thiệu

Giới thiệu của dịch giả

Tôi bắt đầu dịch bài tiểu luận này của F.A. Hayek cách đây khoảng 10 năm, và có lẽ đã đến lúc phải kết thúc công việc dang dở này. Khó khăn chính mà tôi gặp phải khi dịch bài tiểu luận này chủ yếu là do nội dung tương đối rời rạc của nó. Như Hayek đã có lần hồi tưởng, bài luận này được viết ra trong “một phút xuất thần”. Có lẽ chính vì sự “xuất thần” này nên bài luận có đặc điểm là mở ra các vấn đề cần phải giải quyết thay vì giải quyết trọn vẹn một vấn đề nào đó. Nó là một bước chuyển tiếp từ Hayek I, một nhà kinh tế kỹ thuật chuyên về lý thuyết tiền tệ và chu kỳ kinh doanh, sang Hayek II, một tư tưởng gia về khoa học xã hội, trong đó có kinh tế học.

Độc giả sẽ thấy bài luận đề cập đến một loạt các vấn đề hết sức nền tảng về phương pháp luận trong kinh tế học. Cụ thể đó là những câu hỏi: Liệu có khả năng phân tách giữa hai lĩnh vực kinh tế lý thuyết và kinh tế ứng dụng được không? Vì sao phương pháp nghiên cứu kinh tế lý thuyết thuần túy lại là công việc triển khai một hệ thống logic hình thức kín kẽ còn phương pháp nghiên cứu kinh tế ứng dụng lại nên là phương pháp phân tích so sánh các mô thức lý tưởng? Khái niệm cân bằng trong kinh tế học có nội hàm như thế nào? Làm thế nào đưa được yếu tố thời gian vào trong phân tích cân bằng? Vì sao thế giới thực lại có xu hướng hướng đến trạng thái cân bằng? Vai trò của các định đề về quá trình tiếp thu và truyền tải tri thức trong việc giải thích xu hướng hướng đến trạng thái cân bằng là như thế nào? Tại sao nền kinh tế vẫn có thể đạt được trạng thái cân bằng hay tại sao trật tự tự phát có thể tồn tại bất chấp thực tế là mỗi cá nhân trong xã hội chỉ sở hữu một mảnh nhỏ tri thức tổng thể? Vì sao trạng thái cân bằng lại chưa hẳn là trạng thái tối ưu Pareto? v.v…

Những vấn đề Hayek đặt ra là những thử thách thật sự cho giới kinh tế học hàn lâm. Bản thân Hayek sau này cũng đã tốn nhiều giấy mực để giải quyết chúng. Một phần tác phẩm “The Counter-Revolution of Science: Studies on the Abuse of Reason” (1952) hướng đến xác lập một nền tảng để phân tách giữa kinh tế học lý thuyết và kinh tế ứng dụng. Với vấn đề tiếp thu và truyền tải tri thức, ông đã tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau, từ góc độ tâm lý trong tác phẩm “The Sensory Order” (1952), góc độ hệ thống giá cả trong bài tiểu luận nổi tiếng “The Use of Knowledge in Society” (1945), cho đến góc độ thể chế xã hội trong tác phẩm “Law, Legislation, and Liberty” (1973-1979). Đây cũng là vấn đề được các nhà kinh tế học vi mô xem xét giải quyết dưới các hình thức như lý thuyết quyết định Bayesian, các lý thuyết về tiếp nhận và lan truyền thông tin (G.J.Stingler), hay lý thuyết về giải quyết vấn đề (H. Simon). Khái niệm cân bằng liên thời gian (inter-temporal equilibrium) của Hayek cũng được các kinh tế gia hàng đầu sau này tiếp nhận ở nhiều mức độ khác nhau để ứng dụng trong lý thuyết trò chơi, đưa vào lý thuyết cân bằng tổng thể (bởi Arrow và Debreu), hay giải thích chu kỳ kinh doanh (bởi R. Lucas).

Tôi hy vọng rằng bản dịch cuối cùng này, tuy vẫn còn những khiếm khuyết nhất định, đã truyền tải trung thực nội dung bài tiều luận quan trọng này của Hayek. Tuy nhiên, để có thể thực sự hiểu ý nghĩa của bài tiểu luận này đối với sự nghiệp học thuật của Hayek nói riêng cũng như kinh tế học nói chung, độc giả nên tham khảo thêm các tác phẩm khác viết về Hayek, chẳng hạn chương 10 “‘Economics and Knowledge’ and Hayek’s Transformation” trong tác phẩm “Hayek’s Challenge: An Intellectual Biography of F.A. Hayek” (2004) của Bruce Caldwell, và chương 13 của tác phẩm “Friedrich Hayek: cuộc đời và sự nghiệp” của Alan Ebenstein, do NXB Tri Thức ấn hành năm 2007. Tôi tin rằng việc tìm hiểu những trăn trở của một nhà kinh tế có tầm ảnh hưởng sâu rộng như Hayek về phương pháp luận của kinh tế học và truy tìm cách thức bản thân ông và giới kinh tế học hàn lâm giải quyết chúng sẽ giúp chúng ta nằm bắt được những tiến bộ thực sự của kinh tế học hiện đại trong những thập kỷ gần đây.

I

Sự mơ hồ của tiêu đề bài luận này không phải là vô tình. Dĩ nhiên chủ đề chính mà nó bàn đến là về vai trò mà các giả thiết và định đề về tri thức sở hữu bởi các thành viên khác nhau trong xã hội hiện diện trong phân tích kinh tế. Nhưng không có nghĩa bài luận không hề quan tâm gì tới một câu hỏi khác có thể được bàn luận với cùng tiêu đề: phân tích kinh tế hình thức truyền tải được bao nhiêu tri thức về các hiện tượng xảy ra trong thế giới thực? Thực ra, luận điểm chính của tôi là: các hằng đề (tautologies), thành phần thiết yếu của phân tích cân bằng hình thức trong kinh tế học, chỉ có thể trở thành các định đề truyển tải tri thức về mối quan hệ nhân quả trong thế giới thực chừng nào chúng ta có khả năng thổi vào hệ thống những định đề hình thức đó các mệnh đề xác định về cách thức tiếp thu và truyền đạt tri thức. Nói ngắn ngọn, tôi cho rằng yếu tố thực nghiệm trong lý thuyết kinh tế – phần duy nhất liên quan không chỉ tới các cách suy luận mà còn tới các nguyên nhân và kết quả trong thế giới thực, và do vậy đem đến những kết luận, trên nguyên tắc, có thể kiểm chứng được (3) – chứa đựng các định đề về sự tiếp thu tri thức.

Tôi xin bắt đầu bằng việc nhắc lại một thực tế thú vị. Rất nhiều nỗ lực nhằm đưa nghiên cứu lý thuyết vượt ra ngoài phạm vi phân tích cân bằng truyền thống trong thời gian gần đây ở nhiều chuyên ngành khác nhau đều nhanh chóng quay trở lại đòi hỏi phải làm sáng tỏ các giả thiết, mà nếu không hoàn toàn đồng nhất với thuật ngữ của tôi thì ít nhất cũng là một phần của nó, về khả năng tiên đoán (foresight). Như nhiều người khác, tôi nghĩ rằng lý thuyết về rủi ro là lĩnh vực đầu tiên thu hút rộng rãi tranh luận về các giả thiết về khả năng tiên đoán.(4) Công trình nghiên cứu của Frank H. Knight trong lĩnh vực này có lẽ là một cú hích tạo ảnh hưởng mạnh mẽ vượt ra ngoài phạm vi chuyên ngành của nó. Không lâu sau đó, các giả thiết về khả năng tiên đoán đã thể hiện vai trò nền tảng trong việc giải đáp các vấn đề hóc búa về lý thuyết cạnh tranh không hoàn hảo, về lưỡng độc quyền và độc quyền đầu sỏ. Các giả thiết về khả năng tiên đoán và “phỏng đoán” cũng ngày càng thể hiện vai trò quan trọng không kém trong nghiên cứu về các vần đề “động” (dynamic) liên quan tới tiền tệ và dao động ngành. Cụ thể hơn, những khái niệm đã được đưa vào trong các lĩnh vực này từ phân tích cân bằng hình thức, chẳng hạn như những khái niệm về mức lãi suất cân bằng, có thể được định nghĩa chính xác chỉ với sự hiện diện của các giả thiết liên quan tới khả năng tiên đoán. Mấu chốt ở đây có lẽ là, trước khi có thể giải thích tại sao người ta phạm sai lầm, trước tiên chúng ta phải giải thích tại sao họ lại đúng cái đã.

Nói chung, dường như đã tới điểm mà tất cả chúng ta đều nhận thấy là bản thân khái niệm cân bằng chỉ có thể được xác định và làm rõ ràng khi có sự hiện diện của các giả thiết về khả năng tiên đoán, bất chấp việc chúng ta vẫn chưa hoàn toàn nhất trí được với nhau các giả thiết cốt yếu này chính xác là gì. Đây là câu hỏi khiến tôi phải tốn nhiều giấy mực ở phần sau của bài viết. Nhưng hiện tại mối bận tâm duy nhất của tôi là chỉ ra dù chúng ta có muốn xác định ranh giới cho việc phân tích tĩnh kinh tế (economic statics) hay là muốn đi xa hơn nữa thì chúng ta vẫn không thể tránh khỏi vấn đề gây tranh cãi: các giả thiết về khả năng tiên đoán chính xác nằm ở đâu trong lập luận của chúng ta? Chẳng lẽ chúng có thể nằm tùy tiện bất cứ chỗ nào?

Thực ra thì câu hỏi trên có lẽ chỉ là một khía cạnh rất nhỏ của một vấn đề khổng lồ hơn nhiều mà chúng ta đã nêu ra ngay ở phần đầu. Trên thực tế, những câu hỏi về cơ bản tương tự các câu hỏi trên sẽ nảy sinh ngay khi chúng ta thử áp dụng hệ thống các hằng đề – các chuỗi định đề chắc chắn đúng vì chúng đơn thuần chỉ là những biến đổi của các giả thiết đưa ra ban đầu, và chúng cấu thành nội dung chính của phân tích cân bằng (5) – vào
trong bối cảnh một xã hội gồm một số người độc lập. Đã từ lâu, tôi cảm thấy rằng bản thân khái niệm cân bằng và các phương pháp được sử dụng trong phân tích hình thức thuần tuý chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng ta giới hạn chúng trong phân tích hành động của một cá nhân đơn lẻ và rằng chúng ta thực sự đang bước sang một lĩnh vực khác và lặng lẽ đưa vào trong phân tích một yếu tố mới với đặc điểm hoàn toàn khác khi chúng ta áp dụng hệ thống các hằng đề để giải thích các tương tác của một số cá nhân khác nhau.

Tôi tin rằng có nhiều người không còn đủ kiên nhẫn và tin tưởng vào xu hướng chung xuất hiện trong các phân tích cân bằng hiện đại: xu hướng chuyển kinh tế học thành một bộ môn logic thuần tuý, một tập các định đề hiển nhiên, tương tự như toán học hay hình học, có sự nhất quán nội tại, không phụ thuộc vào các kiểm nghiệm. Tuy nhiên, nếu chỉ theo đuổi quá trình này, kinh tế học có lẽ chỉ còn là một mớ công cụ. Trong quá trình chắt lọc những phần tử thuần tuý tiên nghiệm từ những lý giải của chúng ta về các thực tế trong đời sống kinh tế, chúng ta chẳng những tách ra được một phần tử tiên nghiệm dưới dạng Logic Thuần tuý về Lựa chọn (Pure Logic of Choice), mà còn cô lập và làm nổi bật vai trò của một phần tử tiên nghiệm khác vốn chẳng được ai nhòm ngó đến. Phê phán của tôi đối với những xu hướng gần đây về xây dựng lý thuyết kinh tế ngày càng hình thức không phải là ở chỗ chúng ta đã đi quá xa mà là chúng ta vẫn chưa làm đến nơi đến chốn việc phân tách bộ môn logic này nhằm đưa việc nghiên cứu các quá trình nhân quả trong thế giới thực vào đúng vị trí của nó thông qua việc sử dụng lý thuyết kinh tế hình thức như là một công cụ giống như toán học.

(còn tiếp)

Nguồn: http://www.vepr.org.vn

———–

(3) Hay cho phép phủ chứng (falsification) (xem K. R. Popper, Logik der Foschung, Vienna, 1935, nhiều đoạn).

(4) Một khảo cứu hoàn thiện hơn về quá trình theo đó vai trò của các phỏng đoán được dần đưa vào trong phân tích kinh tế có lẽ nên bắt đầu bằng tác phẩm của Irving Fisher, Appreciation and Interest, 1896.

(5) Tôi muốn làm rõ ràng ngay từ đầu là thuật ngữ “phân tích cân bằng” mà tôi sử dụng xuyên suốt bài viết này có nghĩa hẹp hơn, tương đương với thuật ngữ “cách tiếp cận chức năng” của Hans Mayer (phân biệt với “cách tiếp cận nhân quả tổng quát” (causal-generic)), và tương đương cách dùng của “trường phái toán học” (một cái tên chưa thật sự chuẩn xác lắm). Hầu hết các tranh luận lý thuyết xảy ra cách đây mươi mười lăm năm xảy ra xung quanh cách tiếp cận này. Đúng là Mayer đã đi trước chúng ta một bước khi kiên trì theo đuổi phương pháp “nhân quả tổng quát”, nhưng cũng không thể chối bỏ là cách tiếp cận “chức năng” này vẫn còn nhiều hứa hẹn. Tại đây tôi cũng muốn xác nhận là một số gợi ý quan trọng trong bài báo của ông có liên quan mật thiết với những vấn đề được giải quyết ở đây. Xem H. Mayer, “Der Erkenntniswert der funktionellen Preistheorien,” Die Wirtschaftstheorie der Gegenwart, Vol. II, 1931; P. N. Rosenstein- Rodan, “Das Zeitmoment in der Mathematischen Theorie des wirtschaftlichen Gleichgewichts,” Zeitschrift fur Nationalokonomie, Vol. I, No. 1, và “The Role of Time in Economic Theory,” Economica (N.S.), Vol. I (1), 1934.