Chiến thuật cốt lõi: Từ khác biệt hóa đến mã hóa – Phần I


Tôi nghĩ các hãng hàng không rất giống loài vẹt. Họ chỉ nhại theo những gì người khác làm. Và phải cần đến một người ngoài ngành như tôi hoặc Richard Branson thì mới nói được với họ: “Này, thử làm cái gì mới hơn đi chứ”.

Tony Fernandez – Tổng giám đốc điều hành nhóm công ty AirAsia

Như đã thảo luận, việc định vị cơ bản là lời hứa do một công ty đề xuất đến khách hàng. Để khách hang không bị mất niềm tin vào công ty, lời hứa đó phải được thực hiện. Do đó, định vị phải tạo được sự khác biệt mạnh mẽ. Nếu công ty thất bại trong việc tạo ra sự khác biệt đủ vững chắc sẽ dẫn đến tình huống “hứa thật nhiều thất bại cũng thật nhiều”. Sau cùng, chính danh tiếng của công ty sẽ gặp nguy hiểm. Ngược lại, khi sự khác biệt được triển khai đồng bộ với định vị khi truyền thông, nó sẽ giúp xây dựng tính nhất quán cho thương hiệu một cách tự nhiên.

Trong kỷ nguyên cũ, được hỗ trợ bởi quá trình khác biệt hóa vững chắc, định vị trở thành yếu tố chính yếu cho sự thành công của công ty. Trong một bài viết kinh điển đăng trên tờ Harvard Business Review, nhà chiến lược Porter (1996) đã kết luận lựa chọn một chiến lược về bản chất là tạo ra một vị thế quý giá và duy nhất, và điều đó cần đến nhiều hoạt động khác nhau. Bản chất của sự khác biệt hóa này nằm ở việc chọn ra những hoạt động nào có thể giúp công ty tách biệt hơn so với đối thủ. Do đó, lợi thế cạnh tranh bền vững của công ty sẽ được tạo ra khi tìm ra, trong vô vàn lựa chọn, được những hoạt động nào có thể “thích nghi chiến lược”. Trong cuốn sách Rethinking Marketing: Sustainable Market-ing Enterprise in Asia (Thay đổi tư duy marketing: Doanh nghiệp marketing bền vững tại châu Á) (2003), chúng tôi nhấn mạnh các công ty có thể tạo ra “thích nghi chiến lược” nếu quá trình khác biệt hóa được triển khai đồng bộ với định vị, vì định vị là cốt lõi của chiến lược marketing còn khác biệt là bản chất của các chiến thuật.

Ngoài việc giúp định hình sự nhất quán của thương hiệu, khác biệt hóa còn cần thiết cho bất kỳ công ty nào đang cân nhắc giữa nhiều lựa chọn mà khách hàng có thể gặp phải. Tác giả Jack Trout và Steve Rivkin gọi hiện tượng này là “sự chuyên chế của lựa chọn”. Những ai không tách biệt khỏi đám đông sẽ bị biến mất. Trong cuốn sách Khác biệt hay là chết, hai tác giả đưa ra một số ghi chú quan trọng liên quan đến việc tạo khác biệt (Trout và Rivkin, 2001):

1/ Nếu công ty phớt lờ sự độc nhất của mình và cố làm mọi thứ cho tất cả mọi người, họ sẽ nhanh chóng làm xói mòn những thứ tạo nên sự khác biệt cho họ.

2/ Nếu công ty phớt lờ những thay đổi trên thị trường, sự khác biệt của họ sẽ trở nên kém quan trọng hơn.

3/ Nếu công ty luôn núp sau cái bóng của những đối thủ lớn hơn, họ sẽ không bao giờ tạo lập được sự khác biệt và luôn luôn yếu thế.

Làm sao để công ty tìm được điểm khác biệt và định hình nó cũng quan trọng như chính bản thân của điểm khác biệt ấy. Theo Kotler và Amstrong (2008) thật sự đây là cách công ty đưa ra sản phẩm/dịch vụ khác biệt vào thị trường để tạo ra giá trị vượt trội cho người dùng. Nói rõ hơn, sự khác biệt được miêu tả gồm “thống nhất nội dung, hoàn cảnh và cơ sở hạ tầng của những thứ chúng ta mang đến cho khách hàng” (Kotler và cộng sự, 2003). Để tạo nên một sự khác biệt, hoặc là công ty cần phải tập trung vào một trong những khía cạnh này, hoặc tốt hơn hết là kết hợp cả ba để tạo nên một sự khác biệt vững chãi hơn (xem Hình 8.1).Như trong hình vẽ, có ba yếu tố làm nên sự khác biệt công ty cần phải cân nhắc: nội dung (“mang đến cái gì”), hoàn cảnh (“mang đến như thế nào”) và cơ sở hạ tầng (“yếu tố kích hoạt”). Nội dung là khía cạnh có liên quan đến giá trị cốt lõi mang đến cho khách hàng. Đối với một số công ty, đây có thể là thứ hữu hình. Đối với những công ty nước giải khát như Thai Beverage và San Miguel của Philippines, nội dung có thể liên quan đến hương vị và cảm giác tươi mát từ sản phẩm của họ. Đối với công ty xe hơi Honda, Toyota, Huyndai,… nội dung có thể là về sức mạnh của những chiếc xe thể hiện thông qua động cơ – chạy nhanh như thế nào hay tiết kiệm nhiên liệu ra sao.

Trong ngành dịch vụ, theo mô hình đóa hoa của Christopher Lovelock và Jochen Wirtz, nội dung là sản phẩm cốt lõi công ty mang đến (Lovelock và Wirtz, 2011). Đối với dịch vụ khách sạn, khách sạn Banyan Tree của Singapore, Oberoi của Ấn Độ và JKH của Sri Lanka, nội dung chính là phòng ốc trong khách sạn. Đối với công ty công nghệ như Huawei, khác biệt về nội dung nằm ở việc cung cấp những giải pháp mạng đầu cuối toàn diện. Những khách hàng doanh nghiệp của Huawei có thể tìm thấy đủ mọi thể loại hub, bộ chuyển switch, trang thiết bị mạng không dây tại một điểm duy nhất mà không cần phải liên hệ với nhiều nhà cung cấp khác. Ý tưởng kinh doanh “một cửa” này của Huawei giúp giảm chi phí và tăng hiệu quả cho quy trình kinh doanh.

Hoàn cảnh có thể ví như cách công ty giới thiệu sản phẩm hoặc dịch vụ đến cho khách hàng. Khác biệt thông qua hoàn cảnh sẽ cho phép khách hàng cảm nhận về sản phẩm của công ty khác biệt hơn so với đối thủ. Đối với nước giải khát và hàng tiêu dùng, “hoàn cảnh” khác biệt có thể là bao bì của sản phẩm. Đối với công ty xe hơi, “hoàn cảnh” có thể là không gian bên trong phòng trưng bày xe. Trong ngành nhà hàng khách sạn, hoàn cảnh là cảm xúc gợi lên từ bên trong căn phòng khách sạn cũng như môi trường xung quanh. Còn đối với những công ty như Huawei, hoàn cảnh có thể có được nhờ dịch vụ và hỗ trợ đi kèm với các giải pháp được cung cấp.

Khía cạnh thứ ba của khác biệt chính là cơ sở hạ tầng bao gồm công nghệ, con người và trang thiết bị. “Nôi dung” và “hoàn cảnh” độc nhất sẽ cần thêm sự hỗ trợ từ cơ sở hạ tầng nội bộ độc nhất. Đối với công ty xe hơi, đây có thể là dây chuyền sản xuất tối tân và lao động có tay nghề để sản xuất ra sản phẩm có chất lượng phù hợp với phân khúc mục tiêu. Công ty nước giải khát như Thai Beverage và San Miguel chạy đua để mở rộng thị trường nhờ kênh phân phối rộng khắp. Để tạo sự khác biệt cho khách sạn có điểm nhấn độc đáo như W. Hotel, chuỗi khách sạn hạng sang do Starwood Hotel & Resorts WorldWide sở hữu, đặc biệt nhắm tới khách hàng trẻ tuổi, có thể sẽ cần sự hỗ trợ từ công nghệ, cơ sở vật chất và nhân lực phù hợp.

Khác biệt của cơ sở hạ tầng thường là yếu tố cần thiết để có thể kết hợp công nghệ tinh vi (máy móc công nghệ cao và cơ chế vận hành giữa máy với máy) với con người đối với những công ty hàng đầu (tiếp cận giữa người với người). Một ví dụ về công ty đã thực hiện thành công là ngân hàng Bank Rakyat Indonesia (BRI) ở Indonesia nhắm tới phân khúc tài chính vi mô. Để cạnh tranh với các ngân hàng khác cùng phân khúc, chiến lược của BRI là mở rộng nhanh chóng mạng lưới của mình. Cách thực hiện chiến lược này là yếu tố then chốt tạo nên khác biệt về cơ sở hạ tầng của công ty.

BRI có một kênh đặc biệt gọi là Teras BRI. Đây là một văn phòng giao dịch được thiết kế theo kiểu bình dân và được đặt tại những khu chợ địa phương. Kênh này tương đối hiệu quả để tiếp cận đến nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn vẫn giữ khoảng cách với các sản phẩm ngân hàng và cảm thấy không thoải mái khi bước chân vào khi bước chân vào các phòng giao dịch hiện đại. Để vươn tới những vùng hẻo lánh ở Indonesia, nhánh mở rộng mang tên Teras BRI Mobile – Ngân hàng di động Teras BRI được triển khai. Theo đúng nghĩa đen, đó là một chiếc xe thùng – ngân hàng bốn bánh – chạy vòng quanh khu vực hẻo lánh để phục vụ khách hàng. Không chỉ đường sá, BRI Teras Mobile còn biến cả tàu thuyền thành “ngân hàng nổi” để vươn tới những khu vực không thể tiếp cận bằng đường bộ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCRDC

Nguồn: Hermawan Kartajaya, Philip Kotler, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Advertisements

Báo cáo công tác Chính phủ Trung Quốc năm 2019 – Phần IV


Chính sách tiền tệ thận trọng cần phải được nới lỏng và thắt chặt vừa phải. Mức tăng chỉ số M2 và quy mô huy động vốn xã hội phải đồng bộ với mức tăng GDP để đáp ứng tốt hơn yêu cầu duy trì kinh tế vận hành trong phạm vi hợp lý. Trong thực hiện thực tế cần phải nắm chặt van điều tiết cung ứng tiền tệ, không tiến hành cái gọi là “nước nhiều tưới chậm”, nhưng phải vận dụng linh hoạt nhiều công cụ chính sách tiền tệ, khơi thông kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ, duy trì tính thanh khoản hợp lý và dồi dào, làm dịu hiệu quả vấn đề huy động vốn khó và huy động vốn đắt của nền kinh tế thực, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, phòng ngừa và hóa giải rủi ro tài chính. Thúc đẩy cuộc cải cách thị trường hóa về lãi suất, hạ thấp mức lãi suất thực tế. Hoàn thiện cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái, duy trì tỷ giá hối đoái của đồng NDT cơ bản ổn định ở mức cân bằng và hợp lý.

Thúc đẩy toàn diện chính sách ưu tiên tạo việc làm. Việc làm là gốc của dân sinh, ngọn nguồn của cải. Năm nay lần đầu tiên đặt chính sách ưu tiên việc làm lên cấp độ chính sách vĩ mô, nhằm tăng cường định hướng cho các mặt chú trọng tạo việc làm, ủng hộ tạo việc làm. Trước mắt và trong trung hạn, sức ép về tổng lượng việc làm của Trung Quốc sẽ không giảm, mâu thuẫn mang tính kết cấu nổi cộm, sự tác động của các nhân tố mới tiếp tục gia tăng, cần phải đặt công tác tạo việc làm lên vị trí nổi bật hơn. Ổn định tăng trưởng trước hết phải bảo đảm cho tạo việc làm. Việc tạo thêm việc làm mới ở thành thị năm nay phải phấn đấu đạt quy mô thực tế của mấy năm gần đây trên cơ sở thực hiện mục tiêu dự báo, tức vừa phải bảo đảm việc làm cho lao động ở thành thị, cũng phải dành ra không gian việc làm cho lao động dôi dư chuyển dịch từ nông nghiệp. Miễn là việc làm ổn định, thu nhập tăng, chúng ta sẽ càng tự tin hơn.

Cần phải dốc sức thực hiện theo 8 chữ là “củng cố, tăng cường, nâng cấp, thông suốt” trong khi tiếp tục kiên trì lấy cải cách cơ cấu theo hướng trọng cung làm sợi chỉ xuyên suốt. Áp dụng nhiều biện pháp cải cách hơn, vận dụng biện pháp thị trường và pháp trị nhiều hơn, củng cố thành quả “ba loại bỏ, một giảm, một trợ cấp” (giải quyết ổn thỏa tình trạng dư thừa năng lực sản xuất, hỗ trợ doanh nghiệp hạ giá thành, giảm lượng tồn đọng bất động sản, tháo gỡ đòn bẩy tài chính, bù đắp thiếu hụt để nâng cao hiệu quả đầu tư), tăng cường sức sống của các chủ thể vi mô, nâng cấp trình độ của chuỗi ngành nghề, làm thông suốt vòng tuần hoàn kinh tế quốc dân, thúc đẩy kinh tế phát triển chất lượng cao.

Cần phải tiếp tục thực hiện tốt ba “cuộc chiến” lớn, đột phá chính xác, chú trọng hiệu quả thực tế. Muốn phòng ngừa và hóa giải rủi ro quan trọng cần phải tăng cường tư duy về giới hạn đỏ, kiên trì loại bỏ đòn bẩy mang tính kết cấu, đề phòng thị trường tài chính xuất hiện bấp bênh bất thường, xử lý thỏa đáng rủi ro nợ công của chính quyền đại phương, phòng chống rủi ro từ bên ngoài lan truyền vào. Thoát nghèo chính xác cần phải kiên trì tiêu chuẩn hiện hành, tập trung vào khu vực rất nghèo và nhóm người nghèo đặc thù, tăng thêm cường độ giải quyết, nâng cao chất lượng thoát nghèo. Việc phòng chống ô nhiễm cần phải tập trung và các nhiệm vụ trọng điểm như bảo vệ được bầu trời trong xanh, quy hoạch tổng thể, trị cả gốc lẫn ngọn, cải thiện một cách bền vững chất lượng môi trường sinh thái.

Muốn làm tốt công tác chính phủ năm nay cần phải chú trọng nắm bắt tốt các mối quan hệ dưới đây.

Một là, phải tính toán một cách ổn thỏa mối quan hệ giữa trong nước với quốc tế, tập trung tinh thần và sức lực làm tốt công việc của mình. Trung Quốc đã và sẽ tiếp tục ở trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội, vẫn là nước đang phát triển lớn nhất trên thế giới. Phát triển là nền tảng và mấu chốt cho việc giải quyết mọi vấn đề của Trung Quốc, cần phải nắm chắc trọng tâm xây dựng kinh tế, kiên trì tư tưởng chiến lược phát triển là chân lý, đó là phát triển một cách khoa học và phát triển chất lượng cao, không ngừng giải phóng và phát triển sức sản xuất xã hội. Trong bối cảnh tình hình quốc tế phức tạp, khó lường, chúng ta phải duy trì động lực phát triển, thúc đẩy các công việc theo mục tiêu và quy hoạch đã định, tận dụng tốt hai thị trường và hai nguồn lực trong nước, quốc tế, dám đương đầu với thách thức, giỏi chuyển hóa nguy cơ thành cơ hội, nắm chắc quyền chủ động phát triển.

Hai là, phải cân bằng tốt mối quan hệ giữa ổn định tăng trưởng với phòng ngừa rủi ro, bảo đảm kinh tế phát triển lành mạnh và bền vững. Cần phải hóa giải các hiểm họa rủi ro tích tụ lâu nay, nhưng phải tuân thủ quy luật, chú trọng cách thức và phương pháp, từng bước hóa giải trong phát triển theo yêu cầu kiên định, có thể kiểm soát, có trật tự và vừa phải, kiên quyết tránh xảy ra rủi ro mang tính hệ thống và khu vực. Trong tình hình sức ép kinh tế đi xuống hiện nay, việc ban hành các chính sách và biện pháp công tác cần phải có lợi cho ổn định dự báo, ổn định tăng trưởng, điều chỉnh kết cấu, việc phòng ngừa rủi ro cần phải nắm bắt tốt nhịp độ và cường độ, phòng ngừ hiệu ứng thiểu phát chồng chéo và mở rộng, quyết không để vận hành kinh tế đi chệch khỏi phạm vi hợp lý. Bên cạnh đó cũng không được chỉ chú trọng trước mắt, áp dụng chính sách kích thích ngắn hạn gây tổn hại sự phát triển lâu dài, làm nảy sinh các rủi ro và hiểm họa mới.

Ba là, phải xử lý tốt mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường, khơi dậy sức sống thị trường dựa trên cải cách và mở cửa. Chỉ cần chủ thể thị trường có sức sống sẽ có thể tăng cường động lực phát triển nội tại, trụ vững trước sức ép kinh tế đi xuống. Cần ra sức thúc đẩy cải cách và mở cửa, đẩy nhanh xây dựng hệ thống thị trường hiện đại cởi mở, cạnh tranh có trật tự, nới lỏng cho phép thâm nhập thị trường, tăng cường giám sát và quản lý công bằng, tạo dựng môi trường kinh doanh pháp trị hóa, quốc tế hóa, thuận lợi hóa, để các chủ thể thị trường càng thêm năng động. Xét về căn bản, sức sống thị trường và sức sáng tạo xã hội bắt nguồn từ việc phát huy tính tích cực của quần chúng nhân dân. Cần phải kiên trì tư tưởng phát triển lấy nhân dân làm trung tâm, làm theo khả năng, lượng sức mà làm, bảo đảm thiết thực vấn đề dân sinh cơ bản, thúc đẩy giải quyết các vấn đề dân sinh trọng điểm, thúc đẩy công bằng, chính nghĩa xã hội, để nhân dân có cuộc sống tốt hơn. Nhân dân Trung Quốc cần cù và thông minh, có tiềm năng sáng tạo đổi mới vô hạn, miễn là được giải phóng đầy đủ, sự phát triển của Trung Quốc nhất định sẽ có không gian rộng mở hơn.

III/ Nhiệm vụ cônh tác của chính phủ năm 2019

Sự phát triển kinh tế – xã hội năm nay có nhiệm vụ nặng nề, thách thức nhiều và yêu cầu cao. Chúng ta cần nêu bật trọng điểm, nắm vững nhiệm vụ then chốt và làm tốt công tác.

1/ Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện sự điều tiết vĩ mô, đảm bảo kinh tế vận hành trong phạm vi hợp lý. Kiên trì giải quyết các vấn đề nan giải trong phát triển bằng tư duy và biện pháp cải cách thị trường hóa, phát huy tốt vai trò điều tiết ngược chu kỳ của chính sách vĩ mô, làm phong phú và vận dụng linh hoạt các công cụ chính sách tài chính, tiền tệ và tạo việc làm, tăng cường tính đi trước đón đầu, tính đối tượng và tính hiệu quả của công tác điều tiết, tạo điều kiện cho kinh tế vận hành bình ổn.

Thực hiện cắt giảm thuế quy mô lớn hơn. Áp dụng song song biện pháp giảm thuế mang lại ưu đãi cho toàn xã hội và mang tính kết cấu, trọng điểm là giảm gánh nặng thuế cho ngành sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Đi sâu cải cách thuế giá trị gia tăng, sẽ giảm thuế của ngành sản xuất từ 16% hiện nay xuống 13%, giảm thuế của ngành giao thông – vận tải, xây dựng… từ 10% hiện nay xuống 9%, bảo đảm giảm đáng kể gánh nặng thuế của các ngành nghề trọng yếu; duy trì không thay đổi mức thuế suất bậc 1 là 6%, song thông qua áp dụng các biện pháp đồng bộ như tăng khấu trừ thuế cho các ngành sản xuất dịch vụ đời sống để đảm bảo mức thuế của tất cả các ngành chỉ giảm chứ không tăng, tiếp tục hướng tới thúc đẩy hợp nhất ba bậc thuế thành hai bậc, đơn giản hóa cơ chế thuế. Làm tốt việc thực hiện các chính sách giảm thuế mang tính ưu đãi phổ quát dành cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đã ban hành đầu năm nay. Việc giảm thuế lần này là biện pháp quan trọng để giảm gánh nặng cho doanh nghiệp, khơi dậy sức sống thị trường, theo đó tập trung “dẫn nước nuôi cá”, tăng cường nội lực phát triển và cân nhắc tới tài chính bền vững, là cuộc cải cách quan trọng nhằm hoàn thiện chế độ thuế, tối ưu hóa bố cục phân phối thu nhập, đồng thời cũng là lựa chọn quan trọng của chính sách vĩ mô nhằm hỗ trợ tăng trưởng ổn định, bảo đảm việc làm và điều chỉnh cơ cấu.

(còn tiếp)

Nguồn: Mạng Tân Hoa (TQ) – 05/03/2019

TLTKĐB – 07, 08 & 09/03/2019

Khuôn khổ thể chế thương mại quốc tế nhiều bên – Phần II


Nước ký kết hiệp định không được lập ra hoặc duy trì hạn chế số lượng ở trong nước buộc việc lắp ráp, gia công hoặc sử dụng loại sản phẩm nào đó phải phù hợp với số lượng cụ thể hoặc tỷ lệ nào đó, trực tiếp hoặc gián tiếp đòi hỏi việc cung cấp hàng phải là hàng trong nước với số lượng hoặc tỷ lệ đã quy định trong điều lệ. Khi áp dụng điều lệ hạn chế số lượng trong nước yêu cầu việc lắp ráp, gia công hoặc sử dụng sản phẩm phải phù hợp với số lượng cụ thể hoặc tỷ lệ quy định thì không được phân chia số lượng hoặc tỷ lệ ấy cho các nguồn hàng nhập của nước ngoài.

Nhưng điều này không áp dụng với các pháp lệnh, điều lệ hoặc quy định quản lý các vật phẩm chính phủ mua để sử dụng, vật phẩm tiêu thụ phi thương nghiệp hoặc không dùng để sản xuất rồi cung cấp cho một thương nghiệp tiêu thụ. Đồng thời, điều này cũng không ngăn cản trợ cấp đặc biệt cho người sản xuất trong nước, gồm cả trợ cấp cho ngươi sản xuất trong nước trích từ thu nhập thuế trong nước và bằng biện pháp chính phủ mua sản phẩm trong nước.

Điều 4 là điều quy định riêng về điện ảnh.

Điều 5 nói về tự do quá cảnh. Điều này quy định rằng, hàng hóa (kể cả hành lý), tàu bè và các công cụ vận tải khác đi qua lãnh thổ của một nước thành viên nào đó, dù có chuyển tàu hay không, có kho chứa hay không, có xếp dỡ hàng hay không hoặc có thay đổi phương thức vận chuyển hay không, chỉ cần đoạn đường mà chúng đi qua là một bộ phận của toàn bộ vận trình, mà điểm khởi hành và điểm kết thúc của cả vận trình ấy nằm ngoài lãnh thổ của nước có hàng hóa đi qua ấy, thì được gọi là quá cảnh lãnh thổ của nước thành viên ấy; vận tại như vậy được gọi là “vận tải quá cảnh”.

Vận tải quá cảnh từ nước thành viên khác tới, hoặc đi tới nước thành viên khác theo lộ trình quá cảnh quốc tế tiện lợi nhất đi qua lãnh thổ của các nước thành viên là vận tải quá cảnh tự do. Sự khác nhau của tàu bề về quốc tịch, nơi đến, nơi xuất phát, bến nhập cảng, bến xuất cảng hoặc cảng tới đích, mọi tình hình về quyền sở hữu hàng hóa, tàu bè hoặc các công cụ vận tải khác, không được dùng làm cớ để đãi ngộ khác nhau.

Các nước thành viên có thể yêu cầu việc vận tải quá cảnh qua lãnh thổ của mình làm báo cáo hải quả tích hợp. Trừ trường hợp không tuân thủ pháp lệnh hải quan, còn thì không được gây ra những cậm trễ hoặc hạn chế không cần thiết đối với vận tải quá cảnh, không đánh thuế hải quan, thuế quá cảnh hoặc các phụ phí khác về quá cảnh, nhưng việc thu chi phí vận tải, chi phí hành chính có liên quan tới quá cảnh và chi phí dịch vụ không nằm trong điều cấm này. Những đãi ngộ mà nước thành viên này dành cho vận tải quá cảnh từ các nước thành viên khác tới hoặc đi tới các nước thành viên khác về các mặt chi phí quá cảnh, điều lệ và thủ tục quá cảnh không được ít hơn đã ngộ dành cho vận tải quá cảnh từ bất kỳ nước thứ ba nào tới hoặc đi tới bất kỳ nước thứ ba nào. Đãi ngộ dành cho những sản phẩm quá cảnh ra lãnh thổ nước thành viên khác không ít hơn đãi ngộ dành cho những sản phẩm ấy khi chúng được chuyển thẳng từ nơi sản xuất tới điểm đích mà không quá cảnh lãnh thổ một nước thành viên khác.

Quy định này không áp dụng đối với công cụ hàng không, nhưng vẫn áp dụng đối với hàng hóa (kể cả hành lý) quá cảnh đường không.

Điều 6 là điều về chống bán phá giá và chống trợ cấp. Nó quy định rằng, nếu dùng thủ đoạn bán phá giá để đưa sản phẩm có giá trị thấp hơn bình thường xâm nhập vào thị trường nước khác khiến ngành công nghiệp nào đó đã có sẵn trên lãnh thổ nước thành viên này thật sự bị tổn thất hoặc bị đe dọa thật sự, hoặc gây khó khăn thật sự cho ngành công nghiệp mới của họ, thì việc bán phá giá đó phải bị chỉ trích. Điều này định nghĩa bán phá giá là “giá cả của sản phẩm của nước này xuất khẩu sang nước khác: a) thấp hơn giá sản phẩm cùng loại tiêu dùng trong nước xuất khẩu; hoặc b) Nếu không có giá trong nước, thì thấp hơn giá cao nhất của sản phẩm cùng loại xuất khẩu sang nước thứ ba trong tình hình thương mại bình thường”. Để triệt tiêu hoặc phòng ngừa việc bán phá giá với mức thuế không vượt quá mức phá giá. Về kim ngạch, thuế chống trợ cấp không được vượt quá lượng tiền mà sản phẩm ấy trực tiếp hoặc gián tiếp được thưởng hoặc trợ cấp khi chế tạo, sản xuất hoặc xuất khẩu. Thuế chống trợ cấp được định nghĩa là “một loại thuế nhằm triệt tiêu mọi khoản thưởng hoặc trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho hàng hóa khi chúng được sản xuất, chế tạo hoặc xuất khẩu”.

Khi sản phẩm từ lãnh thổ của một nước thành viên này nhập khẩu vào lãnh thổ nước thành viên khác, không được vì chúng được miễn những sắc thuế mà sản phẩm cùng loại tiêu dùng tại nước sản xuất hoặc tại nước xuất khẩu phải nộp, hoặc do sắc thuế đó đã bị bãi bỏ mà đánh thuế chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cấp. Đồng thời, không được vì để triệt tiêu bán phá giá hoặc trợ cấp xuất khẩu mà vừa đánh thuế chống bán phá giá vừa đánh thuế chống trợ cấp.

Khi sản phẩm của nước thành viên này nhập khẩu vào lãnh thổ của nước thành viên khác, nước nhập khẩu không được đánh thuế chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cấp, ngoại trừ đoán định rằng hậu quả của việc bán phá giá hoặc trợ cấp sẽ gây ra tổn thất thật sự hoặc đe dọa thật sự đối với ngành công nghiệp nào đó đã có sẵn, hoặc sẽ gây khó khăn thật sự cho việc xây dựng mới ngành công nghiệp nào đó của mình.

Điều 7 nói về tính giá hải quan. Điều này quy định rằng, “tính giá hải quan hàng nhập khẩu phải tính theo giá thực tế của hàng nhập khẩu hoặc của hàng cùng loại chứ không được lấy giá hàng trong nước mình, hoặc giá vũ đoán, hoặc giá hư cấu để làm căn cứ tính thuế. Giá cả thực tế là giá bán của hàng hóa nào đó hoặc của hàng hóa cùng loại trong điều kiện thương mại bình thường có cạnh tranh tại thời gian và địa điểm nào đó mà luật pháp của nước nhập khẩu đã quy định”. Tính giá hải quan đối với sản phẩm nhập khẩu không được tính cả mọi sắc thuế mà nước sản xuất hoặc nước xuất khẩu áp dụng đối với sản phẩm sản xuất trong nước nhưng miễn trừ đối với sản phẩm nhập khẩu, hoặc sắc thuế đã được bãi bỏ hoặc sẽ bãi bỏ.

Khi tính giá hải quan mà phải quy giá đồng tiền nước khác thành đồng tiền nước mình thì hối suất quy đổi phù hợp với quy định trong hiệp định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, hoặc căn cứ vào hối suất mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế thừa nhận, hoặc dựa vào quy định trong hiệp định ngoại hội. Nếu không có hối suất đã quy định hoặc được chấp nhận đó thì hối suất quy đổi phải phản ánh đúng giá trị hiện hành của đồng tiền ấy trong giao dịch thương mại.

Nếu lấy giá trị hàng hóa làm căn cứ thu thuế và thu các phụ phí khác hoặc thực hiện hạn chế thì căn cứ vào phương pháp xác định giá trị sản phẩm phải ổn định, và phải công bố rộng rãi để các hãng buôn biết chính xác ước giá tính giá hải quan.

Điều 8 nói về các lệ phí và thủ tục xuất nhập khẩu, trong đó quy định rằng, các nước thành viên không được dùng bất kỳ loại lệ phí, và phụ phí nào ngoài thuế xuất nhập khẩu và có liên quan đến nhập khẩu cũng như thuế nội địa, làm phương tiện bảo hộ gián tiếp, không được biến chúng thành một loại thuế nhập khẩu hoặc thuế xuất khẩu và được thu nhằm mục đích tài chính. Phải giảm lượng và loại lệ phí, phụ phí, phải hạn chế tới mức thấp nhất chi phí và sự phức tạp về thủ tục xuất nhập khẩu; giảm và đơn giản hóa biên lai chứng từ xuất nhập khẩu.

Không phạt quá nặng những vụ việc vi phạm nhẹ quy chế và thủ tục hải quan. Đặc biệt là đối với những chứng từ hải quan có chỗ dễ sửa và không có ý đồ lừa bịp, hoặc có chỗ sai sót, ghi nhầm lớn, không nên khép tội là đã vượt quá mức độ để rồi xử phạt.

Điều quy định này áp dụng với cả các lệ phí, phụ phí, thủ tục và quy định do các nhà đương cục các chính phủ thực hiện có liên quan tới xuất nhập khẩu, bao gồm các công việc: về lãnh sự; hạn chế số lượng; giấy phép; kiểm soát ngoại hối; công việc thống kê; các văn kiện, chứng từ và chứng nhận; phân tích, kiểm tra và kiểm dịch, vệ sinh và tiêu khử độc hại.

Điều 9 nói về nhãn hàng nơi sản xuất. Điều này quy định rằng những đãi ngộ về nhãn hàng mà nước thành viên này dành cho sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của nước thành viên khác không được ít hơn sản phẩm cùng loại của nước thứ ba. Khi áp dụng pháp lệnh và điều lệ về nhãn hàng của nước sản xuất không được gây khó khăn cho thương nghiệp và công nghiệp của nước xuất khẩu. Nhưng phải chú ý đề phòng nhãn giả hoặc dễ gây ra hiểu lầm để bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Hiểu hơn về các cuộc biểu tình ở Hong Kong – Phần cuối


Kevin Lin: Các cường quốc nước ngoài thường bị cáo buộc xúi giục các phong trào xã hội ở Hong Kong, dù đó là “Phong trào Ô dù” hay các cuộc biểu tình hiện nay. Ông có suy nghĩ như thế nào về điều này?

Au Loong Yu: Theo tuyên bố của Chính quyền Bắc Kinh và Hong Kong, các cuộc biểu tình được Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ Mỹ (NED) tài trợ. Quả thực là hầu hết cac đảng ủng hộ dân chủ đã nhận được sự tài trợ của NED, nhưng cũng không thể phủ nhận rằng các cuộc biểu tình và đụng độ lớn vào ngày 9 và 12/6 vừa qua không phải do các đảng này kích động. Mặt trận nhân quyền dân sự Hong Kong là một liên minh gồm hơn 50 tổ chức, trong đó phần lớn là các hiệp hội dân sự và các nghiệp đoàn, các đảng ủng hộ dân chủ chỉ chiếm thiểu số.

Kevin Lin: Nhiều người so sánh các cuộc biểu tình hiện nay với “Phong trào Ô dù”, trong đó hàng chục nghìn người đã xuống đường biểu tình để phản đối việc Chính phủ Trung Quốc từ chối phương thức bầu cử phổ thông đầu phiếu đối với vị trí lãnh đạo cao cấp của Hong Kong. 5 năm sau, ông có đánh giá như thế nào về “Phong trào Ô dù”?

Au Loong Yu: “Thế hệ Ô dù” đại diện cho một sự đoạn tuyệt với thế hệ cũ về khía cạnh bản sắc văn hóa: Giờ đây, họ thừa nhận mình là người Hong Kong, chứ không phải người Trung Quốc. Điều này ẩn chứa tình cảm với Hong Kong vốn thiếu hụt ở thế hệ trước đây. “Thế hệ Ô dù trở nên đặc biệt bởi họ đã bị chính trị hóa khi Chính phủ Trung Quốc từ chối yêu cầu của họ đòi quyền bầu cử phổ thông đầu phiếu. Năm nay, dự luật dẫn độ lại chính trị hóa một thế hệ trẻ hơn. Tôi còn nhớ, vào ngày cuối cùng của Phong trào Ô dù, những người biểu tình đã treo một biểu ngữ lớn với nội dung: “Chúng tôi sẽ trở lại”, và điều này đã trở thành sự thật.

Kevin Lin: Kể từ “Phong trào Ô dù”, ở Hong Kong đã xuất hiện một thế hệ các nhà  hoạt động và lãnh đạo trẻ. Họ là ai?

Au Loong Yu: Các đảng ủng hộ dân chủ đã mất uy tín vì thái độ rụt rè của họ trong “Phong trào Ô dù”. Khoảng trống chính trị nhanh chóng được lấp đầy bởi 2 lực lượng mới, đó là những người ủng hộ quyền tự quyết và những người ủng hộ độc lập. Những lực lượng này chủ yếu gồm những người trẻ tuổi.

Cuộc bầu cử Hội đồng Lập pháp Hong Kong năm 2016 đã chứng kiến sự thắng cử của 5 nhân vật chính trị mới thuộc 2 lực lượng nói trên. Điều này cho thấy nhiều cử tri, đặc biệt là thế hệ mới, không còn chấp nhận chính sách quá ôn hòa của những người ủng hộ dân chủ trong mối quan hệ với Bắc Kinh.

Kevin Lin: Các nhà hoạt động xã hội ở Hong Kong đã trợ giúp đắc lực các nhà hoạt động xã hội ở Trung Quốc đại lục trong những thập kỷ gần đây, một phần vì họ cho rằng tương lai nền dân chủ ở Hong Kong sẽ phụ thuộc vào sự phát triển dân chủ ở Trung Quốc đại lục. Ông có thể nói rõ hơn về sự trợ giúp này, và liệu sự phát triển chính trị ở Hong Kong có ảnh hưởng tiêu cực tới sự trợ giúp này hay không?

Lam Chi Leung: Từ những năm 1990, các nhà hoạt động xã hội ở Hong Kong đã luôn đứng về phía những người lao động, ủng hộ nhân quyền, quyền phụ nữ, quyền của những người đồng tính, và đã góp phần vào sự phát triển của các phong trào xã hội và xã hội dân sự Trung Quốc.

Quyền tự do dân sự ở Hong Kong đã cho phép công dân đăng tải các thông tin và những phân tích về các phong trào xã hội ở Trung Quốc, thúc đẩy các hoạt động giao lưu trí tuệ giữa các nhà hoạt động ở Hong Kong và Trung Quốc đại lục. Nhiều cuốn sách trước đây chỉ có thể được xuất bản ở Hong Kong nay đã được phát hành tại Trung Quốc đại lục, bao gồm các bài viết của các tác giả Trung Quốc.

Nhưng với sự kiểm soát chính trị ngày càng tăng của Chính phủ Trung Quốc đối với Hong Kong, các hoạt động giao lưu này có thể bị thu hẹp. Khi những mâu thuẫn xã hội của Trung Quốc gia tăng, Chính phủ sẽ cảnh giác hơn nữa về ảnh hưởng của Hong Kong đối với các phong trào xã hội ở Trung Quốc.

Kevin Lin: Ông nghĩ thế nào về việc Trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong Lâm Trịnh Nguyệt Nga quyết định hoãn thảo luận về dự luật dẫn độ? Trong chừng mực nào thì đó được coi là một chiến thắng?

Au Loong Yu: Bà Lâm chỉ tạm hoãn, chứ không hủy bỏ dự luật theo như yêu cầu của những người biểu tình. Đó không phải là một chiến thắng hoàn toàn, mà chỉ là chiến thắng một phần. Việc tãm hoãn dự luật dẫn độ là một thất bại lớn đối với bà Lâm. Điều này cũng mang lại cho phe đối lập nhiều thời gian hơn để củng cố phong trào.

Dự kiến việc tạm hoãn dự luật này sẽ kéo dài. Năm nay và năm sau đều diễn ra các cuộc bầu cử, do vậy trong khoảng thời gian này Lâm Trịnh Nguyệt Nga sẽ không cho phép các đảng thân Bắc Kinh đề xuất lại dự luật dẫn độ để chuốc lấy nguy cơ thua cuộc trong bầu cử. Và năm thứ ba cũng không phải là năm lý tưởng đề xuất lại dự luật dẫn độ bởi đó là năm cuối cùng trong nhiệm kỳ của bà. Việc đề xuất lại này, nếu có, có lẽ là nhiệm vụ của trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong nhiệm kỳ tiếp theo.

Kevin Lin: Tương lai của Hong Kong và của các phong trào đấu tranh vì dân chủ và công bằng kinh tế sẽ như thế nào?

Au Loong Yu: Ở Hong Kong, một thế hệ mới đang hình thành. Việc huy động lực lượng biểu tình chống dự luật dẫn độ sang Trung Quốc chủ yếu là kết quả nỗ lực của họ. Nếu thế hệ này không phát triển được chính sách của họ theo đường lối dân chủ cánh tả và khắc phục được sự chia rẽ, thì họ khó có thể trở thành một lực lượng tiến bộ mạnh mẽ. Tuy nhiên, quỹ đạo lịch sử đã khiến Hong Kong trở thành một thành phố thù địch với các giá trị đoàn kết, bác ái và bình đẳng của cánh tả, khiến cho các lực lượng cánh tả khó có thể phát triển ở Hong Kong.

Lam Chi Leung: Bối cảnh chính trị ở Hong Kong dường như sẽ ngày càng trở nên khó khăn hơn. Thời kỳ tương đối tự do 1997 đến 2008 đã kết thúc. Chính quyền Hong Kong sẽ xử lý nghiêm khắc hơn đối với các phong trào dân chủ và xã hội.

Chính quyền Hong Kong sẽ đứng về phía giai cấp tư bản và lực lượng bảo thủ, vốn luôn phải đối các quyền của người lao động, quyền của phụ nữ, quyền của người đồng tính, và phản đối việc phân phối của cải một cách công bằng. Người dân Hong Kong phải chịu sự áp bức kép của tư bản quan liêu Trung Quốc và tư bản độc quyền Hong Kong. Bất cứ cải cách xã hội và kinh tế nào cũng đều phải đối mặt với thực tế của chủ nghĩa tư bản độc đoán này.

Chúng ta cũng cần tăng cường trao đổi với các phong trào xã hội và các nhà hoạt động cánh tả ở Trung Quốc đại lục. Chỉ bằng cách hợp tác nhiều hơn với xã hội dân sự và các phong trào xã hội Trung Quốc vốn phản đối chủ nghĩa tư bản độc tài của Trung Quốc, người dân Hong Kong mới có thể đảm bảo công bằng xã hội và một nền dân chủ thực sự.

Nguồn: www.alencontre.org – 20/06/2019

TLTKĐB – 28/06/2019

Tháng bọ cạp, năm rắn đỏ – Phần II


2/ Tử số và mẫu số

Chúng ta hãy đánh giá Cách mạng Tháng Mười theo cách phân nhỏ ra: kết quả thu được và cái giá của nó. CNXH nhà nước ở Nga đã đạt được điều gì? Trước hết là nó đã giữ được tính toàn vẹn của Nhà nước Nga. Đó là một thành tích rất to lớn vì tất cả các đế chế lớn trong thế kỷ XX đều đã sụp đổ.

Thành tích thứ hai gắn liền với cái thứ nhất. Đã bảo vệ được đất nước nhờ đã đưa ra được một giải pháp mới về vấn đề dân tộc cho loài người. Đã tách ra được không phải là một, mà cả một nhóm các dân tộc đi đầu.

Thành tích thứ ba của CNXH nhà nước là trong nước đã tạo ra được một tiềm lực công nghiệp độc lập về mặt quốc phòng.

Nhưng cũng đã phải trả giá cho tất cả những thành quả đó. Cái giá thứ nhất và cũng là quan trọng nhất – đó là số sinh mạng con người lớn khủng khiếp. Hàng chục triệu người đã chết. Trong nội chiến. Trong công cuộc tập thể hóa. Trong đàn áp thanh trừng. Chết vì việc chế tạo tên lửa và bom nguyên tử. Và đơn giản là chết để “làm trong sạch” nhân dân và chuẩn bị cho nó đi tới một tương lai tươi sáng. Các nhân vật trong cuốn “Lũ quỷ” của Dostoevsky: “…cho dù người có chữa trị thế giới này thế nào đi nữa cũng không chữa được, rồi sau khi đã chặt phăng hàng trăm triệu cái đầu để trấn an bản thân trước khi nhảy qua một con mương nhỏ… có gì mà phải sợ nếu như với những ước mơ hão huyền chậm chạp, chế độ chuyên chế trong trăm năm xơi không phải một trăm, năm trăm triệu cái thủ cấp?

Cái giá đắt thứ hai là đã xóa bỏ tầng lớp ưu tú của xã hội – cả của người Nga lẫn của các dân tộc khác. Đồng thời cũng đã phá tan tành các nền văn hóa dân tộc mà trước hết là văn hóa Nga. Kết quả là các phong tục tập quán đạo lý, tư tưởng trật tự pháp luật, tinh thần ý thức của người làm chủ và sở hữu đều tiêu tán.

Cái giá thứ ba là sự mất mát cực kỳ to lớn các nguồn lực không chỉ con người mà là cả tài nguyên thiên nhiên. Người ta đã phung phí không hề xóa xa từ dầu mỏ, rừng cho đến đất đai phì nhiêu.

Cái giá thứ tư là đã phá hủy nghiêm trọng thế cân bằng sinh thái trong nước, gây ra những thảm họa sinh thái.

Kết quả của những phương án phát triển theo con đường CNXH đã chọn là hệ thống đàn áp các quyền tự do công dân trong chính trị và phân phối cào bằng trong kinh tế. Và cái giá thứ năm là tính ỳ củ đại bộ phận người dân.

Đã có mấy thế hệ những kẻ ăn bám sinh ra và lớn lên.

Tiềm lực công nghiệp – quân sự đã độc quyền nền kinh tế, làm méo mó cả cấu trúc của nó, khiến cho các ngành sản xuất phục vụ tiêu dùng chỉ còn có cái xác ngoài. Còn ở nông thôn, nơi trở thành khu vực chu cấp tiền của cho công cuộc công nghiệp hóa, thì lâm vào cơn khủng hoảng triền miên và không cách gì nuôi nổi đất nước nếu không nhập khẩu lương thực “của CNTB”.

Nhưng có lẽ nguy hại nhất là lĩnh vực tiến bộ KHKT. Về thực chất, tất cả các thành tựu KHKT của chúng ta đều là những thứ vay mượn của những nước mà chúng ta vẫn gọi là “thối nát”.

Sự tụt hậu về KHKT có nghĩa là: cả tư tưởng CNXH với tính cách là một chế độ tiến bộ hơn, lẫn tư tưởng bảo vệ nước Nga với tính cách là một nước lớn – đều đang trong tình trạng hết sức nguy ngập. Vấn đề không chỉ là ở những khoản chi phí quá sức cho cuộc thực nghiệm. Vấn đề là ở chỗ nó đã không đạt được mục đích của mình. Chế độ Xô viết, xét cho cùng, đã không giải quyết được một cuộc khủng hoảng nào sinh ra nó. Đó là kết quả mà Cách mạng Tháng Mười đưa lại cho nước Nga. Còn đối với thế giới thì sao?

Có một chuyện tiếu lâm nổi tiếng về mục đích của việc chúng ta sống ở Liên Xô: chúng ta sống ở đó là để phương Tây dễ dàng hơn và có sức thuyết phục hơn trong việc hù dọa công dân các nước bên ấy – trông đấy, chớ dại mà làm như nước Nga.

Nhưng phản ứng đầu tiêncủa phương Tây trước cuộc thực nghiệm XHCN ở nước Nga… cũng lại là một thứ CNXH, có điều không phải là CNXH quốc tế, mà là CNXH dân tộc, cái mâu thuẫn với chủ nghĩa phát xít.

Nếu những người Bolsevich vẫn thường nói rằng CNXH là cái cần cho toàn thể loài người, thì CNXH dân tộc xác nhận rằng cNXH đó là cái chỉ dành riêng cho các dân tộc, chính xác hơn là chủng tộc được tuyển chọn. Còn như ý tưởng về một xã hội được tổ chức theo kiểu tổng tài thì đó là ý tưởng chủ yếu trong cả hai cuộc thực nghiệm.

CNXH dân tộc động viên được nhanh hơn, đạt được thành quả nhanh hơn – cả trong nước lẫn khi bành trướng ra ngoài. Và trong CNXH dân tộc cũng có nhiều mâu thuẫn hơn cũng như nhiều mặt yếu kém hơn. Vì thế nó cũng bị loại khỏi vũ đài lịch sử trước tiên: CNXH Xô viết, rốt cuộc cũng đá phá sản hoàn toàn.

Vậy ai thắgn? Chế độ mới – chế độ hậu công nghiệp. Ra đời cũng với “đường lối mới cả Roosevelt ở Mỹ. Được làm phong phú hơn bằng những biện pháp của Kế hoạch Marshall. Bằng các cải cách dân chủ – xã hội.

Trong kinh tế – chế độ đa nguyên các hình thức sở hữu: 1/4 của nhà nước và cộng đồng, 1/2 – tập thể cổ đông, hợp và 1/4 – sở hữu tư nhân cổ điển. Trong chính trị – các khoản bảo trợ. Đã có lúc trong phút lóe sáng thiên tài, Charles Phurie đã láng máng biết đến chế độ này và đặt tên cho nó là chế độ bảo trợ xã hội.

Thực tế của Liên Xô đã buộ côcng dân các nước phương Tây phải coi trọng tự do và dân chủ. Cũng giống như biết quý nước ăn khi nước mỗi ngày một trở nên khan hiếm hơn.

Các nước phương Tây đã buộc phải – do có sự tác động của Liên Xô – có những cách tân. Tổ hợp các biện pháp xã hội, thực hiện các nguyên tắc chăm sóc sức khỏe và giáo dục không mất tiền.

Sự tác động của CNXH Xô viết tới vai trò của nhà nước, tới lĩnh vực hoạt động và các phương pháp hoạt động của nó cũng rõ nét không kém. Sau nhiều năm nhạo báng các kế hoạch 5 năm của Liên Xô, hết nước này đến nước khác ở phương Tây lần lượt lập ra các ủy ban về kế hoạch hóa.

CNXH đã tô đậm thêm, cho mọi nhược điểm và chỗ tồi tệ CNTB, làm cho chúng càng trở nên gay gắt hơn và vì vậy đã đặt ra một lưỡng đề khắc nghiệt: hoặc là phải đầu hàng CNXH, hoặc là phải tìm cho ra giải pháp cho các vấn đề ấy, những giải pháp vẫn giữ được mặt tích cực của CNXH khi đã phủ định chính thực chất của XHCN nhà nước.

CNXH Xô viết đã có đóng góp rất quan trọng vào việc tổng kết và vượt qua CNTB bằng phương án CNXH dân tộc.

Liên Xô đã là một trong những nhân tố góp phần đẩy nhanh bước quá độ CNTB tiến lên xã hội hậu công nghiệp. Bằng sự tác động trực tiếp và gián tiếp. Tích cực và tiêu cực. Bằng cách làm cho sự cần thiết phải có những giải pháp cấp thời trở nên gay gắt hơn. Bằng cách làm cho các đối án XHCN trở nên mất uy tín trước chủ nghĩa hậu công nghiệp.

Có thể lưu ý ba thành quả chủ yếu của Cách mạng Tháng Mười. Một là, nó đã giúp loài người phủ nhận phương án vượt qua CNTB bằng CNXH dân tộc. Hai là, trên con đường của Cách mạng Tháng Mười đã thử nghiệm và xác nhận thất bại của CNXH nhà nước. Ba là đã góp phần đẩy nhanh bước quá độ của các chế độ không phải cộng sản sang chế độ hậu công nghiệp và ghìm chậm lại nhiều thập niên bước quá độ đó của các nước XHCN.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TĐB 97 – 21

Cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc – Phần III


Đoạn mở đầu lá thư mà nhà du hành người Ba Tư “Rica” gửi cho người bạn “Ibben” của ông từ Paris năm “1712” sẽ cung cấp cho chúng ta một sự tương phản đáng chú ý.

Giáo hoàng là nhà lãnh đạo tối cao của tín đồ Thiên chúa; ngài là thần tượng từ thời cổ đại mà ngày nay người ta vẫn quen tôn thờ. Ngài từng là nỗi sợ hãi với ngay cả các thái tử, bởi ngài thường phế truất họ dễ dàng, giống như các Quốc vương Hồi giáo (sultan) vĩ đại của chúng ta từng phế truất vua của Iremetia hoặc Georgia. Nhưng giờ đây không ai còn sợ ngài nữa. Ngài xưng ngài là người nối nghiệp một rtong những tín đồ Thiên chúa đầu tiên, thánh Peter, và đó dĩ nhiên là sự kế thừa giàu có, bởi người được sở hữu của cải vô tận và cai quản một đất nước vĩ đại.

Những bịa tạo có chủ ý và phức tạp của tín đồ Công giáo thế kỷ XVIII này [Montesquieu – ND] phản ánh chủ nghĩa hiện thực chất phác của vị tiền bối thế kỷ XIII của ông, nhưng giờ đây quá trình “tương đối hóa” và “lãnh thổ hóa” lại hoàn toàn tự giác và có chủ đích chính trị. Khi Ayatollah Ruhollah Khomeini đồng nhất Đại Sa tăng không phải với một dị giáo, cũng không phải với một nhân vật bị quỷ ám (Carter mờ nhạt nhỏ bé không phù hợp với vai diễn này), mà là với một dân tộc, liệu ta có thể coi đây là một phát triển nghịch lý truyền thống đang diễn tiến này?

Thứ hai là sự suy tàn dần của bản thân các ngôn ngữ thiêng. Viết về Tây Âu thời Trung cổ, Bloch nhận thấy “tiếng Latin không chỉ là ngôn ngữ để dạy học, nó còn là ngôn ngữ duy nhất được truyền dạy”. (Chữ “duy nhất” cho thấy rõ tính thiêng liêng của tiếng Latin – không một ngôn ngữ nào khác được coi là đáng truyền dạy). Nhưng vào thế kỷ XVI tất cả điều này đã thay đổi một cách nhanh chóng. Ở đây chúng ta chưa cần phải giải thích chi tiết lý do dẫn tới sự thay đổi này: vai trò trung tâm của chủ nghĩa tư bản in ấn sẽ được thảo luận dưới đây. Chúng ta chỉ cần nhớ đến quy mô và tốc độ của nó. Theo ước tính của Febvre và Martin, 77% số sách được in ra trước năm 1500 vẫn bằng tiếng Latin (nghĩa là chỉ 23% được in bằng phương ngữ). Nếu như trong 88 đầu sách xuất bản ở Paris năm 1501 có tới 80 cuốn in bằng tiếng Latin, thì sau 1575 phần lớn sách được in bằng tiếng Pháp. Tuy có sự khôi phục tạm thời trong thời kỳ Chống Cải cách, song vị thế bá chủ của tiếng Latin đã mất. Chúng ta cũng không chỉ nói đến một sự phổ biến chung chung. Có phần muộn hơn, nhưng với tốc độ không kém chóng mặt, tiếng Latin đã đánh mất vị thế ngôn ngữ của tầng lớp trí thức thượng lưu trên toàn châu Âu. Trong thế kỷ XVII Hobbes (1588 – 1678) là một nhân vật danh tiếng của châu Âu đại lục bởi ông đã viết bằng thứ ngôn ngữ chân lý này. Còn Shakespeare (1564 – 1616), sáng tác bằng phương ngữ, lại hầu như không được biết đến ở bên kia eo biển Anh. Hai trăm năm sau, nếu tiếng Anh không trở thành một ngôn ngữ đế chế vượt trội của thế giới thì có lẽ ông vẫn vô danh trên hòn đảo quê hương mình. Trong khi Descartes (1596 – 1650) và Pascal (1623 – 1662), hai người ở bên kia eo biển Anh gần nhưc ùng thời với những nhân vật này, đã thư từ chủ yếu bằng tiếng Latin thì hầu như toàn bộ thư từ của Voltaire (1694 – 1778) lại viết bằng phương ngữ. “Sau năm 1640, khi sách in bằng tiếng Latin ngày càng ít đi, sách in bằng phương ngữ ngày một nhiều hơn, thì xuất bản không còn là một ngành kinh doanh mang tính quốc tế [nguyên văn] nữa”. Tóm lại, sự suy tàn của tiếng Latin tiêu biểu cho một tiến trình lớn hơn, trong đó các cộng đồng thiêng được gắn kết bằng những ngôn ngữ cổ linh thiêng dần dần bị phân mảnh, đa nguyên hóa và lãnh thổ hóa.

Ta cũng cần nhớ rằng những nhà nước quân chủ cổ xưa này đã mở rộng không chỉ bằng chiến tranh mà còn bằng chính trị tình dục – một kiểu chính trị khác hẳn với ngày nay. Nhờ nguyên lý thẳng đứng phổ biến này, những cuộc hôn nhân của vương quyền đã gắn kết các cư dân phồn tạp dưới những đỉnh chóp mới. Ở khía cạnh này Nhà Habsburg là một trường hợp điển hình, đúng như một phát ngôn về nó, Hãy để kẻ khác gây chiến, còn ngươi, nước Áo hạnh phúc, hãy cưới nhau đi! (Bella gerant alii, tu felix Austria, nube). Trong một hình thức có phần vắn tắt, đây chính là tước vị của những ông vua Nhà Habsburg sau này.

Hoàng đế Áo; Vua Hungary, Bohemia, Dalmatia, Croatia, Slavonia, Galicia, Lodomeria và Illyria; Vua Jerusalem… Thái tử Áo [nguyên văn]; Đại công tước Tuscany và Cracow; công tước Lotharingia, Slazburg, Styria, Carinthia, Carniola và Bukovina; Đại công tước Transylvania, Bá tước Moravia, công tước vùng Thượng và Hạ Silesia, công tước Modena, Parma, Placenza và Guastella, Auschwitz và Sator, Teschen, Friaull, Raguas và Zara; bá tước Harburg và Tyrol, Hyburg, Gӧrz và Gradiska; công tước Trient và Brizen; bá tước vùng Thượng và Hạ Lausitz, bá tước Istria; bá tước Hohenembs, Feldkirch, Bregenz, Sonnenberg…; huân tước Trieste, huân tước Cattaro và Windisch Mark; đại thống lĩnh của Voyvodina, Servia…

Như Jászi đã chỉ ra một cách chính xác, các tước vị “không phải không có một khía cạnh khôi hài nào đó… chúng là chứng tích của vô số những cuộc hôn nhân, những vụ mặc cả và tước đoạt của Nhà Habsburg”.

Trong những vương quốc chấp nhận về mặt tôn giáo tình trạng đa thê, các hệ thống thê thiếp thứ bậc và phức tạp có vai trò rất quan trọng đối với sự thống nhất của vương quốc. Trên thực tế, phải chăng uy thế của huyết thống hoàng tộc, ngoài nguồn gốc thần thánh, còn thường bắt nguồn từ hôn nhân dị tộc (miscegenation)? Bởi lẽ những cuộc hôn phối này là dấu hiệu cho thấy địa vị chí tôn. Việc không có một vương triều “Anh” nào thống trị ở London thế kỷ XI (giả sử trước đó từng có) chính là một ví dụ tiêu biểu cho điều này; vậy thì đâu là “dân tộc” (nationality) mà chúng ta quy cho Nhà Bourbons?

Tuy nhiên trong thế kỷ XVII – vì những lý do mà chúng ta không cần nêu ra ở đây – tính hợp thức mặc nhiên của chế độ quân chủ linh thiêng bắt đầu suy tàn dần ở Tây Âu. Năm 1649, Charles Stuart bị chém đầu trong cuộc cách mạng đầu tiên của thế giới hiện đại; trong những năm 1650, một trong những nhà nước châu Âu quan trọng được cai trị bởi một vị quan Bảo hộ xuất thân bình dân, không phải bởi một ông vua. Song ngay trong thời đại của Pope và Addison, Anne Stuart vẫn chữa bệnh bằng cách đặt tay hoàng tộc lên bệnh nhân; cách chữa này cũng được Louis XV và Louis XVI của Nhà Bourbon tiến hành ở nước Pháp Khai sáng cho đến cuối thời quân chủ (ancien régime). Nhưng sau năm 1789, nguyên lý Hợp thức cần phải được bảo vệ một cách nhiệt thành và tự giác, và trong quá trình này, “chế độ quân chủ” trở thành một mô hình bán chuẩn. Thiên hoàng và Thiên tử trở thành những “hoàng đế”. Ở nước Xiêm xa xôi, Rama V (Chulalongkorn) đã gửi con cháu của mình sang triều đình St. Petersburg, London và Berlin nhằm học hỏi cơ chế phức tạp của mô hình thế giới này. Năm 1887, ngài thiết lập nguyên tắc con trai trưởng thừa kế về mặt pháp lý, nhờ đó đưa nước Xiêm “ngang hàng với các nền quân chủ “văn minh” của châu Âu”. Năm 1910 hệ thống mới này đã đem đến cho ngai vàng một ông vua đồng tính dị thường, người chắc chắn sẽ bị gạt đi trong thời đại trước đó. Tuy nhiên các nước quân chủ vẫn chấp nhận ông lên ngôi trở thành vua Rama VI, thể hiện qua sự tham dự của các thái tử Anh, Nga, Hy Lạp, Thụy Điển, Đan Mạch, thậm chí cả Nhật Bản vào lễ tấn phong của ông.

Đến tận năm 1914, các nhà nước vương triều vẫn chiếm phần đa trong hệ thống chính trị thế giới, nhưng như chúng tôi sẽ chỉ ra cụ thể dưới đây, ở một số thời điểm nhiều vị vua đã có được dấu ấn “dân tộc” ngay khi nguyên lý Hợp thức cũ đang âm thần suy tàn. Trong khi quân đội của Frederick Đại đế (trị vì từ 1740 đến 1786) vẫn còn tràn ngập những “người ngoại quốc” thì quân đội người cháu vĩ đại của ông, Frederick Wilhelm III (trị vì từ 1797 đến 1840), nhờ những cải cách ngoạn mục của Scharnhorst, Gnei-senau và Clausewitz, lại chỉ toàn “quốc dân Phổ”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng – LHNB 2019.

Vụ Lockheed – Phần VIII


“Tính hợp thời” của vụ bê bối ở Italy đã hoàn toàn trùng hợp với chiến lược trung lập hóa hoặc loại trừ “đường lối Bilderberg”, tức là của cánh hữu, cực kỳ bảo thủ và thân châu Âu của Đảng dân chủ Cơ đốc giáo. Bạn đọc sẽ thấy tại sao vụ này sẽ không bao giờ được kết thúc và các nhân vật phải bị “loại trừ” sẽ thoát nạn, hoặc bằng cách nhanh chóng chuyển sang theo các lý thuyết của Ba bên, hoặc bị đẩy ra ria một cách kín đáo và êm thấm mặc dầu những yếu tố bằng chứng do ủy ban điều tra của Nghị viện Italy nắm được đã quá đủ.

Nhân vật được bàn cãi nhiều nhất – tuy lúc đầu không bị những sự buộc tội nhằm vào – là thủ tướng Andreotti, người đã vượt lên mọi trở lực để xây dựng những “thỏa hiệp lịch sử” nhỏ, có lợi cho các cuộc bầu cử. Có lẽ vì lý do này mà, rất nhanh chóng, người ta thấy xuất hiện nhiều tài liệu (không thuyết phục lắm) trình bày ông ta như “người hưởng lợi” về những sự rộng rãi của Lockheed. Đó là một cách kín đáo để nhắc nhở về tính dễ tổn thương của ông ta cũng như về những rủi ro của một sự mở ra về phía tả mà ủy ban Ba bên không kiểm soát được.

Nạn nhân đầu tiên của vụ này chắc chắn là cựu chủ tịch Hội đồng Mariano Rumor, thủ lĩnh trào lưu đa số của Đảng dân chủ Cơ đốc giáo, người nắm giữ nhiều bí mật của Cộng hòa Italy, nhất là tất cả những gì có liên quan tới những tội trạng của Mafia Italy (cũng như tới sự thông đồng của nó với giai cấp chính trị Italy) và tới “chiến lược gây căng thẳng”. Ta hãy nhớ rằng Rumor là kẻ khởi xướng ra chiến thuật cát bồi (ensablement), phân tán các hồ sơ tư pháp, các quỹ đen,…

Đây là những yếu tố được các tài liệu của Church đưa ra:

Thứ nhất là tài liệu đề ngày 28 tháng Ba 1969 tại Grand Hote ở Rome. Đó là một bức thư gửi cho ông Valentine, người lãnh đạo Lockheed, do đại diện doanh nghiệp này ở châu Âu (đóng trụ sở tại Paris) viết. Người đại diện này, ông Roger Bixby Smith, vừa có một cuộc họp với anh em Lefebvre, những trung giang Lefebvre, những trung gian của Lockheed ở Italy, và đã trình bày những kết quả đàm phán cho ban lãnh đạo công ty này.

Một đoạn trong bức thư ấy cho Lefebvre yêu cầu trả “Cumshaw” một số tiền 120.000 USD cho mỗi máy bay được bán (tất cả 14 chiếc) “một con số tuy cao nhưng thích hợp với tầm quan trọng của vụ mua bán này: không được quên rằng chúng ta đang muốn chiến thắng những kẻ cạnh tranh Pháp và Đức đang dùng những chiến thuật tương tự (…). Tuy Lefebvre không thể tham gia các cuộc thương lượng chính thức, nhưng ông ta nhờ có Antelope Cobbler (anh hãy dùng cuốn sách đen nhỏ của anh đi, cuốn của tôi đề ngày 15 tháng Mười 1965) đã biết rõ những đòi hỏi kinh tế của những người bảo hộ chúng ta (…). Ngoài Cobbler và Pun ra, còn nhiều nhân vật rất quan trọng khác mà con số và tên tuổi của họ sẽ được trực tiếp cung cấp cho người phụ trách nào của công ty có thể đến Italy được để thu thập những tin tức này, với điều kiện không chuyển chúng qua đường bưu điện”…

Bức thư ấy kết thúc bằng một lời yêu cầu giữ kín hoàn toàn, “nhất là về những khoản tiền thưởng cho những người thứ ba. Đó chính là thuốc nổ đấy! Vụ này có những ảnh hưởng và hệ quả đáng buốn ở những nơi khác nữa”…

Tài liệu tiếp theo, đề tháng Tư 1970, được ban lãnh đạo Lockheed gửi cho công ty Tezorefo, đóng ở Panama và thuộc về Lefebvre. Tài liệu này thông báo cho Lefebvre rằng Lockheed đã đưa Tezorefo “tham dự những cuộc thương lượng của nó với chính phủ Italy”, tham dự những cuộc thương lượng của nó với chính phủ rõ ràng các khoản tiền trả – mỗi chiếc 140.000 USD – phải được thực hiện như sau:

1/ Khi nhận được thư bày tỏ ý định của Bộ Quốc phòng… 500.000 USD.

2/ Khi ký hợp đồng dứt khoát với Bộ Quốc phòng… 500.000 USD.

3/ Khi Tòa án về các tài khoản chấp thuận… 456.000 USD.

Tổng cộng… 1.456.000 USD

“Yêu cầu trả lại cho chúng tôi một bản hợp đồng đã ký hợp thức…”.

Tài liệu thứ ba (số 093007086, “Italian C-130, Contracts problems) là một thông báo nội bộ của Lockheed, do đại diện của nó ở châu Âu ký, trong đó nói về những khó khăn gặp phải trong việc tài trợ cho hợp đồng đã ký giữa công ty và chính phủ Italy (việc tài trợ này phải được Eximbank Mỹ và IMI Italy tán thành), và đó là nguyên nhân của việc – chậm trả tiền cho đợt thù lao và tiền thưởng thứ hai như đã được dự tính trong hợp đồng”.

Tài liệu này cũng nhắc lại rằng người ta vừa mới đi tới một thỏa thuận sửa đổi về những chi phí “chào hàng” và những chi phí này phải được trả thành hai đợt, đợt thứ nhất khi nhận được thư bày tỏ ý định, đợt thứ hai khi ký hợp đồng dứt khoát. Còn về các khoản thanh toán “đặc biệt”, tài liệu nói rõ ràng “số tiền 78.000 trả thêm sẽ được dùng để đền bù cho bộ trưởng (Quốc phòng – ghi chú của tác giả) trước đây cũng như cho một số người trong văn phòng ông ta”. Một khoản tiền thưởng riêng 50.000 USD “phải được đưa cho bộ trưởng để cảm ơn hành động của ông ta vì đã tăng thêm giá may bay vừa mới thỏa thuận”.

Tóm lại, sơ đồ thanh toán là như sau:

Chi phí chào hàng: 1.680.000 USD

Chi phí cộng thêm: 128.000 USD

Thù lao cho Lefebvre: 210.000 USD

Cộng thêm 85% số tiền này cho đảng chính trị của bộ trưởng hiện nay và của tổng thống (sic)”.

Tức là, theo tài liệu này, 128.000 USD được dành cho bộ trưởng là đã ký hợp đồng và đã “giúp tăng thêm giá máy bay” và đại bộ phận số tiền 1.680.000 USD được trả cho các đảng của bộ trưởng trước đây và bộ trưởng hiện thời, tức là Đảng Dân chủ Cơ đốc giáo và Đảng Xã hội – Dân chủ, các đảng của các ông Gui và Tanasi.

Theo tài liệu này, “bộ trưởng đã than phiền về sự chậm trả tiền đợt hai, ông ta tưởng rằng chúng ta đang chờ đợi một cuộc đảo chính để khỏi phải trả số tiền đó”.

Tài liệu kết thúc bằng sự cam đoan rằng, sau khi thanh toán đợt hai, những thể thức khác cũng sẽ được thực hiện nhanh chóng, “phù hợp theo lịch trình sau đây”:

“Bộ trưởng sẽ ký hợp đồng và gửi nó kèm theo ý kiến tán thành cho Bộ trưởng Ngân khố ngày 22 tháng Ba.

“Bộ trưởng Ngân khố sẽ phê chuẩn và gửi nó cho Tòa án về các tài khảon ngày 29 tháng Ba.

“Cuối cùng, việc đăng ký chính thức bản hợp đồng sẽ được thực hiện ngày 30 tháng Tư…”

(Hãy chú ý tới tầm quan trọng của những sự thông đồng chính thức để có thể định ra một lịch cụ thể cho những hành vi thuộc về các cơ quan chính thức khác nhau như thế.

Cuối cùng, tài liệu thúc ép ban lãnh đạo Lockheed giảm bớt thời hạn trả tiền đợt hai, “do tính bất ổn của chính phủ Italy…”.

Tài liệu thứ tư là một bức thư do Chủ tịch công ty Ikaria (đóng ở Vaduz, Liechtenstein). Ông Melka, tửi cho ông Lefebvre và chính phủ Italy khi thương lượng với Lockheed. Tài liệu này chỉ rõ rằng “780.000 USD tiền hoa hồng phải được trả cho tài khoản số 5052 thuộc Ngân hàng thương mại Israel – Thụy Sĩ ở Geneva”. Như vậy, theo tài liệu số 3, 78.000 USD “dành cho bộ trưởng” lẽ ra được trả trực tiếp thì lại được đưa vào vào một hợp đồng phụ ký với một công ty đóng tại thiên đường thuế khóa, và phải được gửi vào một ngân hàng nước ngoài…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.