Các phương pháp ra quyết định – Phần III


Chúng ta cùng xem xét tình huống Anita và phương pháp đồng thuận (Hộp 2).

Hộp 2: Tình huống Anita và phương pháp đồng thuận

Anita Lopez được bổ nhiệm vị trí quản trị cách đây hai tháng. Lúc này cô đang phải đối mặt với quyết định đầu tiên thực sự quan trọng: đề ra mục tiêu sản lượng cho năm tới. Cô biết nếu cô làm tốt việc này, cô sẽ thực sự được quản trị cấp cao nhìn nhận. Cô nhận thấy mình đã quá quen thuộc với việc đưa ra quyết định và vừa hoàn thành một khóa học về “Chiến lược ra quyết định” mới đây. Cô lại có tận một tháng để đề xuất con số đưa ra. Vì thế, cô không cảm thấy áp lực về mặt thời gian. Anita chắc chắn rằng nhân viên của cô đều tham gia vào tất cả các quyết định. Cô có một niềm tin mãnh liệt vào phương pháp đồng thuận.

Cô triệu tập một cuộc họp với 12 nhân viên trong bộ phận và trình bày với họ về quyết định cần đưa ra:

“Mục tiêu sản lượng cho năm tới là bao nhiêu?”

Tất nhiên cô có ý kiến riêng của mình nhưng cô vẫn tin rằng con số nhân viên đưa ra có thể thực tế hơn. Cô tuyên bố tại cuộc họp: “Tất cả chúng ta đều biết rằng chúng ta phải quyết định. Tôi muốn mọi người hãy đưa ra một con số quyết định về sản lượng cho năm tới. Chúng ta hãy cùng thảo luận về nó”.

Cô rất ngạc nhiên về những lời nhận xét phát sinh sau đó.

“Con số hiện tại đã là quá cao rồi. Chúng ta vẫn nên giữ nguyên như thế”.

“Chúng ta có thể tăng gấp đôi sản lượng nếu công ty thực hiện theo đề xuất của tôi đó là…”.

“Tôi đang phải làm việc quá sức”.

“Cao nhất là 5%”.

“Nếu công ty muốn tăng sản lượng thì cần trang bị cho tôi những thiết bị mới”.

“Các đơn vị khác phải làm gì?”

“Chúng tôi có nhận được khoản phụ phí nào không?”

“Chúng tôi có thể sản xuất tốt hơn nếu Brian có trách nhiệm với công việc của anh ta”.

Toàn bộ cuộc họp diễn ra với những ý kiến như vậy và kết thúc khi không có quyết định nào đưa ra. Anita đã họp nhân viên hơn hai lần trước khi cô nhận ra thời hạn cuối cùng sắp đến. Cô phải có câu trả lời vào ngày thứ Ba tuần sau, tức là chỉ còn 8 ngày nữa. Cô có thể nhận thấy phương pháp đồng thuận đã không phát huy tác dụng và quyết định yêu cầu nhân viên bỏ phiếu cho phương án do cô đề xuất.

Vào ngày thứ Sáu trong tuần cô yêu cầu họ biểu quyết và buộc phải công nhận đề án cô đưa ra là quá cao trong năm nay. Cô nói cô sẽ lấy phương án của số đông. Nhóm biểu quyết, 7 trên 12 người tán thành mức tăng 7% so với mục tiêu năm ngoái. Hầu như gần như một nửa số nhân viên kết thúc cuộc họp vẫn còn xôn xao “quá thấp” hay “quá cao”.

Anita chết lặng người. Tất cả các phòng ban khác đều đề ra mục tiêu tăng tối thiểu 15% so với năm nay. Cô đã hy vọng ít nhất có thể tăng 20% sản lượng hiện có. Anita không biết phải làm sao. Cô đã bị rơi vào tình huống phải đối mặt với một quyết định quan trọng. Cô có thể áp đặt mục tiêu lên đơn vị của mình, bỏ qua sự biểu quyết của những nhân viên mà cô đã nhiệt tình khích lệ, hay nói với sếp rằng cô chỉ đề xuất mục tiêu tăng trưởng là 7%. Dù làm thế nào đi nữa thì cô cũng là kẻ thua cuộc.

Anita lẽ ra nên chọn phương pháp quyết định khác thay vì phương pháp đồng thuận. Cô có một số ý tưởng về mục đích hướng đến nhưng lại không trao đổi điều này với nhân viên. Cô đã có thể thành công hơn nếu sử dụng phương pháp tham vấn tức là trình bày ý kiến của mình và hỏi ý kiến của những người khác. Với cách này ít nhất cô có thể không đi lệch khỏi quyết định và giữ được một phần ý tưởng của mình ở kết quả cuối cùng. Cô đã sai lầm khi cô gắng lôi kéo tất cả nhân viên vào mỗi quyết định. Đơn giản vấn đề ở đây không thích hợp với phương pháp đó. Bằng việc cố thay đổi các phương pháp quyết định giữa chừng, rõ ràng cô đã gây mơ hồ thêm cho nhân viên và khiến một số trở nên xa lánh. Ở bước này, Anita lẽ ra nên đề xuất một vài kế hoạch sau đó dùng lý lẽ để thuyết phục nhân viên ủng hộ một trong các kế hoạch đó. Tất nhiên, đây không phải là lời giải thích duy nhất cho trường hợp của Anita.

Chúng ta tiếp theo sẽ xem xét việc khi nào, tại sao phải lôi kéo những người khác vào tiến trình quyết định và lôi kéo họ bằng cách nào? Sự tham gia của họ ở giai đoạn nào trong tiến trình hay toàn bộ quá trình ra quyết định. Cũng cần nhớ rằng trong trường hợp bạn phải đối mặt với một quyết định phức tạp thì cách tốt nhất là lôi kéo họ vào các giai đoạn như đề ra phương án, đánh giá phân tích phương án, và cuối cùng lựa chọn phương án.

Luôn có một số giải pháp cho một vấn đề gặp phải. Trong một số trường hợp có rất nhiều phương án đưa ra cho vấn đề đó. Nếu không có sự chọn lọc phương án thích hợp thì sẽ không thể có quyết định nào được thực hiện. Công việc của bạn là sử dụng nhóm để xác định tất cả các phương án có thể. Một số người cho rằng, bạn cần phải xem xét mọi phương án và kết quả của những phương án đó. Tất cả chúng ta đều biết rằng điều đó là không thể trong hầu hết các tình huống. Chúng ta không có khả năng nhìn thấy mọi điều có thể xảy ra. Điều bạn cần làm là xét tất cả các phương án hiện có và sau đó quyết định phương án đem lại giải pháp thực tiễn nhất. Nói cách khác bạn sẽ chọn giải pháp khả thi nhất, giải pháp có thể đáp ứng mục tiêu của bạn và đã tính đến cả nhữung hạn chế của hoàn cảnh.

III/ Sáng tạo trong ra quyết định

Việc sáng tạo để đưa ra các ý tưởng mới rất quan trọng trong việc ra quyết định. Khi tìm kiếm ý tưởng, hãy cố gắng đạt được sự cân bằng giữa tưởng tượng và tính thực tế.

Chúng ta hãy hoàn thành bảng câu hỏi khảo sát nhà quản trị sáng tạo như ở Bảng 4. Bảng 4 sẽ cung cấp một điểm khởi đầu giúp bạn nhận thức được khái niệm sáng tạo thông qua việc đưa ra một thước đo đơn giản về sự sáng tạo trong phong cách quản trị. Khoanh vào các câu bạn cho rằng miêu tả bạn chính xác nhất và để trống các câu khác. Trong bước này bạn chỉ cần hoàn thành cột đầu tiên, toàn bộ cột thứ hai để trống.

STT Mệnh đề Điểm
1 Tôi thích các ý tưởng  
2 Tôi không cảm thấy thoải mái với những nhân viên có tư tưởng cách tân  
3 Tôi gắn bó với truyền thống của tổ chức  
4 Tôi sợ sự thay đổi  
5 Tôi luôn cảm thấy nhu cầu cần thay đổi  
6 Tôi thích một môi trường có trật tự và không thích bị đảo lộn  
7 Tôi cho phép nhân viên được tự do bày tỏ  
8 Tôi khích lệ nhân viên mạo hiểm hơn  
9 Tôi đánh giá tính sáng tạo của nhân viên  
10 Tôi có xu hướng tự mãn  
11 Tôi sẵn sàng hành động liều lĩnh  
12 Người khác dường như sáng tạo hơn tôi  
13 Tôi thường để tuột mất các cơ hội  
14 Tôi cảm thấy xấu hổ khi mắc sai lầm  
15 Tôi dễ dàng từ bỏ khi những giải pháp đưa ra cho vấn đề không rõ ràng  
16 Tôi trung thành với nhiệm vụ  
17 Tôi gặp khó khăn trong việc đưa ra ý tưởng  
18 Tôi khích lệ những giải pháp mới lạ đối với vấn đề  
19 Tôi cố gắng học hỏi từ những sai lầm  
20 Tôi không thích sự thiếu chắc chắn  
  Tổng điểm  

Với mỗi câu số 1, 4, 5, 7, 8, 9, 11, 16, 18, 19 bạn được 5 điểm. Viết điểm số vào “ô điểm số”. Sau đó tính tổng điểm của bạn.

Nếu điểm của bạn từ 35 trở lên, khả năng sáng tạo của bạn tương đối cao và bạn có xu hướng khích lệ sự sáng tạo của nhân viên. Điểm số càng thấp thì độ sáng tạo cũng càng thấp đi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang: SCDRC

Nguồn tham khảo: Hoàng Văn Hải (cb) – Ra quyết định quản trị – NXB ĐHQGHN 2014.

Advertisements

Dẫn luận vào lĩnh vực học thuyết chiến tranh mới – Phần XII


Bằng việc kích động bạo loạn, Hoa Kỳ muốn cho biết ai đang là chủ nhân ở châu Âu và đặt châu Âu trở lại chỗ của mình. Cũng bằng cách thức sử dụng các chiến lược mạng lưới đó, các nhà công nghệ chính trị Hoa Kỳ đang hành động chống Nga.

Lẽ đương nhiên cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ năm 2008 và những căng thẳng tiếp theo đó sẽ được sử dụng để những chiến lược mạng lưới trên lãnh thổ Nga trở nên hiệu quả hơn. Chúng ta biết chiến tranh mạng lưới được thự chiện trong tình huống hòa bình lẫn khủng hoảng và chiến tranh nóng. Có nghĩa khủng hoảng là môi trường nuôi dưỡng chiến tranh mạng lưới. Mục tiêu chính của chiến tranh mạng lưới là phá hủy không gian lớn, phân tán không gian này và đặt nó dưới sự kiểm soát. Tình hình càng khủng hoảng bao nhiêu, việc thực hiện chiến lược mạng lưới càng đơn giản bấy nhiêu. Nói cho dễ hiểu hơn, đầu tiên cần hơi mào một cuộc khủng hoảng, bởi trong bối cảnh xã hội ổn định và hòa bình, các điệp viên mạng lưới khó hoạt động hơn hết. Ở đây cần tập trung chú ý vào việc ở Anh (nơi xuất hiện phong trào đầu trọc) đã diễn ra việc định cư của hàng loạt người Arab theo sau giai đoạn hậu thuộc địa, do hậu quả của sự tan rã đế chế biển. Đế chế biển này với mẫu quốc và các thuộc địa của nó là một đối lập với đế chế lục địa của chúng ta vốn xây dựng theo nguyên tắc “trung tâm – ngoại vi”. Những thuộc địa của nó không có chung biên giới với Anh quốc, nằm tận “ngoài khơi”, rất xa các biên giới của vùng phân bố châu Âu. Còn những “người mới đến” của chúng ta cùng thuộc về một không gian rộng lớn với chúng ta, cho dù đó là đế chế Nga, Liên Xô hay SNG hiện nay, và là người dân từ lãnh thổ của chúng ta, đế chế hay ngoại vi.

Mưu toan xây dựng một môi trường xã hội, văn hóa đối nội chống lại người dân thuộc các nước bao quanh nước Nga chính là âm mưu chia cắt nước Nga khỏi thế giới còn lại, ngăn cách nó bằng một hàng rào cách ly (cordon sanitaire) xây trên những vùng biên cương của chúng ta. Những lãnh thổ này gắn kết chặt chẽ với chúng ta. Đó không phải là những thuộc đại của Anh, không có biên giới chung với chính nước Anh. Đó là biên giới của chúng ta, một không gian văn minh thống nhất với chúng ta mà trong trường hợp xung đột phát triển sẽ cắt đứt quan hệ của chúng ta với phía nam, phong tỏa lối ra biển ấm của chúng ta. Ở đây không nói về việc mở cửa biên giới cho sự dịch chuyển không kiểm soát những người nhập cư từ không giang hậu Xô viết vào Nga, bởi điều đó sẽ dẫn đến sự xóa nhòa bản sắc văn minh văn hóa Nga.

Cái gọi là chủ nghĩa dân tộc được mang đến từ phương Tây trong những hình thái “đầu trọc” quái đản của nó là sự tiếp nối chiến lược địa chính trị của Hoa Kỳ không cho Nga lối ra những vùng biển ấm áp. Đó là đại diện của châu Âu mà sang nước Nga nó trở thành chủ nghĩa dân tộc Nga, một thứ hàng xuất khẩu của phương Tây du nhập vào Nga cùng với “McDonald” để đóng lại khả năng tiếp cận chiến lược của Nga với phía nam, cách ly nó và lý tưởng nhất là chia nó thành nhiều phần riêng biệt. Thành “Cộng hòa Nga” và “các cộng hòa dân tộc”. Món đồ chơi xã hội này của châu Âu đang cố kích động chủ nghĩa dân tộc, sắc tộc trong lòng nước Nga để làm nó bùng nổ và qua đó, kết liễu nó như một chủ thể địa chính trị độc lập. “Skinhead” – đó là mỹ học của phương Tây, là thương hiệu phương Tây, âm nhạc, giày dép, bề ngoài, phong cách, những thứ phái sinh, xa lạ với môi trường văn hóa chúng ta. Đó là người đứng ở phía kẻ thù địa chính trị của chúng ta. Còn các mạng lưới “đầu trọc” – đó là vũ khí chiến tranh mạng lưới chống chúng ta, đặt sự tồn tại của Đại Nga vào hiểm họa.

Phương thuốc vạn ứng để chữa khỏi cái hiện nay được gọi là “chủ nghĩa dân tộc” Nga, được hình dung như một bản sao các hình thái cực đoan của “chủ nghĩa dân tộc” phương Tây là phải sớm phục hồi bản sắc Nga. Bản sắc trong trường hợp của chúng ta là Chính thống giáo với mong muốn ở hình thái khởi thủy, căn bản; còn “những nhà dân tộc Nga” đa phần không ai biết thế nào là Chính thống giáo kể cả khi họ cho rằng mình theo Chính thống giáo. “Nhà dân tộc Nga” phải để râu dài, trong khi đa số họ lại chẳng có tóc trên đầu. “Nhà dân tộc Nga” phải biết văn hóa của mình, dẫu chỉ trong một số hình thái phổ biến nhất – đọc Dostoyevski, Tosltoi và Pushkin như một bộ tối thiểu những nhà kinh điển hàng đầu. Để là “nhà dân tộc Nga” cần phải hiểu những điều cơ bản của triết học Nga, nghiên cứu các công trình của Ivan Iliyn, Vladimir Solovyov, Vasili Rozanov, Guimilyov, Alexander Dugin và suy nghĩ về “Khả năng của triết học Nga”. Tiếp thu được chút ít về văn hóa, “nhà dân tộc” Nga cũng nên tìm hiểu về xã hội học dân tộc, văn hóa và truyền thống các dân tộc cùng sống trong một không gian với chúng ta và nghiên cứu nhân chủng học cho dẫu chỉ là lớt phớt để có thể phân biệt người Armenia với người Do Thái, các nền tảng của Á – Âu, địa chính trị, để hình dung được nền văn minh phương Tây chấm dứt ở đâu và bắt đầu nền văn minh phương Đông ở đâu. Cuối cùng, khi thực hiện những chuyển đổi như thế, anh ta sẽ trở thành người mang chủ nghĩa đại dân tộc, đại diện một chủ thể văn minh văn hóa thống nhất của dân tộc Nga, dân tộc đã thành lập nhà nước Nga lục địa đi vào lịch sử.

Nhà nước – như hình thái chính trị của một quốc gia châu Âu – quá nhỏ đối với người Nga. Nhà dân tộc trong nghĩa đen của từ này – đó là người ủng hộ một đất nước nhỏ, một nước Nga bị cắt vát, một quốc gia người lùn. Nhà dân tộc ở châu Âu là người mà với anh ta, quốc gia dân tộc là một giá trị, bị đặt trước hiểm họa của chủ nghĩa tự do. Vì thế ở châu Âu nhà dân tộc thường là người trẻ và chống chủ nghĩa tự do. Còn nhà dân tộc ở Nga phải như thế nào? Đó là một người Nga mà với anh ta quốc gia đế chế Nga bao la – đế chế các dân tộc – chính là giá trị cao nhất. Và vì thế nhà dân tộc Nga càng không thể được xuất khẩu đồng bộ cùng với những thứ đồ chợ trời còn lại của phương Tây, một tay đầu trọc Anh trong đôi ủng cao thắt dây và áo khoác “bomber”. Muốn là người Nga – cứ là người Nga nhưng hãy để suy nghĩ thoát khỏi các thứ đại diện của phương Tây đang hủy diệt nước Nga, đó là luận điểm chính của nhà dân tộc đế chế Đại Nga.

Tất cả những gì diễn ra hiện nay trong việc làm nóng lên hận thù giữa các dân tộc là hậu quả của chiến lược công cụ, của việc thực hiện chiến tranh mạng lưới, những cuộc chiến xuất phát từ chiến lược địa chính trị cách ly và chia nhỏ nước Nga. Đó là những gốc rễ thật sự của cái gọi là “chủ nghĩa dân tộc Nga” nhỏ bé theo xuất khẩu của phương Tây mà sự chủng ngừa chính là việc phục hồi bản sắc Nga, ở Nga mà theo truyền thống và trong mọi lúc có nghĩa là sự tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc cùng sống trong một không gian địa chính trị chung, thống nhất, có cùng số phận và một lịch sử chung với người Nga. Ở đây các mạng lưới còn được hướng vào việc kích động vũ lực phá hoại nước Nga với sự tham gia trực tiếp của các giám tuyển và sứ giả phương Tây. Vì vậy, các mạng lưới của các “nhà dân tộc Nga” du nhập vào Nga từ phương Tây cũng như những mạng lưới của Hồi giáo cực đoan và của những nhà dân tộc sắc tộc trong nước Nga cùng thực hiện một mục tiêu: làm suy yếu và phá hủy tính nhà nước Nga, và chúng giống nhau trong khía cạnh này.

Những cuộc chiến tương lai: Sự ra đời các cách tiếp cận

Chiến lược hành xử trên mạng lưới được đặt nền móng trong tương lai gần, còn chính bây giờ các nền tảng của phát triển chiến tranh mạng lưới, của các công nghệ xã hội mới nhất của “chiến tranh thế hệ thứ sáu” đang được hình thành. Ai không lĩnh hội kịp, người đó phải cam chịu thất bại.

Thoạt nhìn, có vẻ như sự bảo vệ hệ thống mạng của Hoa Kỳ khá dễ bị tổn thương bởi tất cả chỉ dựa vào sợi cáp quang trải dài trong lòng Đại Tây Dương, và cả trên vệ tinh nữa. Chỉ cần cắt đứt sợi cáp quang kết nối Hoa Kỳ và châu Âu, phá hủy các vệ tinh liên lạc thì tất cả những phát triển này của Hoa Kỳ sẽ trở nên vô dụng.

Vâng, có thể làm như thế. Nhưng chỉ cần chúng ta cắt đứt cáp quang Đại Tây Dương và tắt các vệ tinh Hoa Kỳ – ngay lập tức Hoa Kỳ sẽ tấn công tên lửa trực tiếp vào Nga, bởi điều đó cũng ngang bằng với thách thức quân sự và khơi mào xung đột quân sự với Hoa Kỳ. Khi nào ban lãnh đạo chúng ta hiểu ra họ sẵn sàng xung đột trực tiếp với Hoa Kỳ, khi nào tất cả chúng ta sẵn sàng cho cuộc đối đầu này – khi đó mới có thể cắt đứt cáp xuyên Đại Tây Dương và bắn hạ vệ tinh Mỹ. Và mọi người sẽ hiểu: đây là giai đoạn nóng của chiến tranh. Nhưng đó sẽ là kết thúc hợp lý của cuộc Thế chiến thứ ba với quy mô toàn diện – cuộc chiến không rõ ràng, cuộc chiến tranh mạng lưới đang diễn ra hiện nay.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Một số xu hướng lý thuyết và thực hành địa chính trị trên thế giới – Phần VI


Đến tháng 6 năm 1887, Mackinder được bổ nhiệm là phó giáo sư địa lý học tại Đại học Oxford. Tại đây, ông bắt đầu giảng về sự ảnh hưởng địa lý đối với lịch sử châu Âu.

Năm 1902, Mackinder viết cuốn sách quan trọng đầu tiên: Nước Anh và các vùng biển của Anh. Mặc dù ông tuyên bố là chỉ quan tâm trước hết đến việc giới thiệu một bức tranh về các đặc điểm và điều kiện tự nhiên của nước Anh, nhưng nhiều chương sách của ông đã cho thấy những hiểu biết sâu sắc của ông về các vấn đề toàn cầu, mà chúng sẽ báo trước cho các công trình địa chính trị của ông sau này.

Trong cuốn sách nói trên, Mackinder mô tả nước Anh là “thuộc châu Âu nhưng không phải nằm trong châu Âu” và ưu thế của nước Anh trên thế giới là dự vào “quyền làm chủ trên biển” của nó, vì theo Mackinder, nước Anh có một sự thống nhất về đại dương. Tuy nhiên, ông cũng cho thấy là đã xuất hiện một sự cân bằng thế lực mới, bao gồm 5 quốc gia lớn trên thế giới là Anh, Pháp, Đức, Nga và Mỹ. Ông cũng gợi ý rằng, vị trí ưu thế cường quốc thế giới của nước Anh đang gặp nguy hiểm do có “các sự kiện thường xuyên của địa lý tự nhiên” dưới hình thức “sự có mặt của các cường quốc rộng lớn, dựa trên nguồn lực của một nửa châu lục” (tức Nga và Mỹ).

Mối đe dọa dành cho ưu thế của nước Anh và cho trật tự của thế giới đã trở thành chủ đề bài tiểu luận táo bạo của Mackinder năm 1904: “Trục địa lý của lịch sử”. Trong bài viết này ông cho rằng giờ đây (tức là thời điểm đầu thế kỷ 20), “Mọi sự bùng nổ của lực lượng xã hội đều nhận được sự hô ứng từ những miền xa xôi của trái đất và hậu quả là những thành phần yếu kém trong cái cơ thể chính trị và kinh tế của thế giới sẽ bị tan vỡ”. Nói một cách khác, các quốc gia không còn được an toàn nếu bỏ qua các sự kiện quan trọng xảy ra tại những nơi xa xôi của trái đất.

Mục đích công khai của Mackinder khi viết bài báo này là xác lập “một mối tương quan giữa những điều khái quát rộng lớn về địa lý với những điều khái quát rộng lớn về lịch sử”, để cung cấp một công thức có khả năng biểu hiện được một số khía cạnh của mối quan hệ nhân quả địa lý trong lịch sử thế giới.

Với mục đích đó, Mackinder đã đưa ra một học thuyết nổi tiếng trong lĩnh vực địa chính trị, đó là “học thuyết về miền đất trái tim” (tiếng Anh: “Heartland Theory”, với nghĩa là “miền đất trung tâm). Miền đất trái tim đó chính là trung tâm của lục địa Á – Âu.

Mackinder mô tả châu Âu và châu Á như là một lục địa lớn và ông gọi là hòn đảo thế giới. Ông lưu ý rằng, từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ 16, lần lượt các tộc người du mục từ Trung Á tỏa ra đi chinh phục các quốc gia và dân tộc ở vùng vành đai ngoại vi (châu Âu, Tây – Nam Á, Trung Quốc, Đông Nam Á, Triều Tiên, Nhật Bản). Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ 15, “các thủy thủ vĩ đại của thế hệ Colombus” đã sử dụng sức mạnh biển để bao vây Trung Á. Tác động chính trị rộng lớn của sự trỗi dậy của các cường quốc biển là nó đã làm đảo ngược mối quan hệ Á – Âu. Ông cho thấy “Nếu như vào thời trung đại, châu Âu bị bao vây giữa một sa mạc không thể vượt qua ở phía Nam, một đại dương xa lạ ở phía Tây, một vùng nước đóng băng hoặc rừng rậm ở phía Bắc và Đông – Bắc và luôn luôn bị đe dọa bởi các tộc người kỵ mã cơ động ở phía Đông và Đông Nam thì giờ đây nó nổi lên mạnh mẽ, mở rộng diện tích mặt biển và vùng đất duyên hải lên gấp hơn 30 lần, bao trùm ảnh hưởng lên cường quốc đất liền Á – Âu mà từ trước đến giờ vẫn đe dọa chính sự tồn tại của nó”. Tuy nhiên, Mackinder còn lưu ý một điều thường ít được quan tâm là, trng khi châu Âu bành trướng ra khu vực hải ngoại phía Tây thì nước Nga nằm ở khu vực Đông Âu và Trung Á đã bành trướng xuống phía Nam và phía Đông, chiếm giữ một vùng không gian rộng lớn dồi dào nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên, từ đó tăng cường sức cơ động và tầm chiến lược của một cường quốc đất liền.

Với một cơ sở địa – lịch sử như vậy, Mackinder xác định chính cái hạt nhân Bắc – Trung của lục địa Á – Âu là “khu vực trục” hay “quốc gia trục” của nền chính trị thế giới. Nó chính là “miền đất trái tim”, hay trục của “hòn đảo thế giới” Á  – Âu. Nó được che chắn xung quanh, ngăn cách với biển cả, có khả năng tự cung tự cấp. Con đường bộ duy nhất có khả năng tiếp cận với nó là khu vực Đông Âu, để từ đó có thể tiến tới làm chủ thế giới. Và ông lập luận như thế này:

Ai cai trị được Đông Âu sẽ khống chế được miền đất trái tim;

Ai cai trị được miền đất trái tim thì sẽ khống chế được hòn đảo thế giới (tức lục địa Á – Âu);

Ai cai trị được hòn đảo thế giới thì sẽ khống chế được cả thế giới.

Như vậy, trong quan điểm của Mackinder, Đông Âu có vai trò chìa khóa để mở đường cho việc làm chủ toàn thế giới. (Chúng tôi xin lưu ý: Ở đây không nên nhầm lẫn vai trò của Đông Âu với miền đất trái tim: Đông Âu chỉ quan trọng với tư cách là con đường dẫn đến miền đất trái tim của hòn đảo thế giới, chứ nó không phải là bản thân trung tâm của hòn đảo thế giới, càng không phải là trung tâm thế giới. Tuy nhiên, chỉ thế thôi cũng cho thấy, dưới con mắt của Mackinder, khu vực Đông Âu quan trọng như thế nào.

Xung quanh miền đất trái tim đó, Mackinder đặt các nước Đức, Áo, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ và Trung Quốc, những miền đất cận kề ngay với khu vực trục, trong một “vành đai trong”, còn các quốc gia biển đảo như Anh, Nam Phi, Australia, Hoa Kỳ, Canada và Nhật Bản được xếp vào một “vành đai bên ngoài”. Mackinder gợi ý rằng, hoặc khối liên minh Nga – Đức, hoặc đế quốc Trung – Nhật (sau khi xâm chiếm lãnh thổ Nga) đều có thể giành được quyền bá chủ thế giới. Trong cả hai trường hợp, “mặt tiền trông ra đại dương sẽ được bổ sung cho nguồn lực của lục địa lớn”, tạo ra những điều kiện chính trị cần thiết để sản sinh ra một thế lực lớn áp đảo cả trên đất liền lẫn trên biển.

Ít lâu sau khi Chiến tranh thế giới kết thúc, Mackinder cho xuất bản cuốn sách Các lý tưởng dân chủ và hiện thực: Nghiên cứu chính trị học tái thiết (1919). Đây có thể được coi là công trình quan trọng nhất về chính trị quốc tế, được viết bởi một nhà địa lý học. Ở đây, Mackinder đã phát triển quan điểm bài viết về “trục” thế giới của ông từ năm 1904 và rút ra những bài học mới từ Chiến tranh thế giới thứ nhất. Ông nói: “Chính cuộc chiến tranh đã củng cố cho những quan điểm trước đây của tôi”.

Ngay từ đầu cuốn sách, Mackinder đã nhấn mạnh tầm quan trọng hàng đầu của địa lý đối với việc nghiên cứu lịch sử và chính trị toàn cầu. Ông viết: “Những cuộc chiến tranh lớn của lịch sử đều là kết quả trực tiếp hoặc gián tiếp của sự tăng trưởng không đồng đều của các quốc gia, và sự tăng trưởng không đồng đều này… phần lớn lại là kết quả của sự phân bố không cân bằng về độ phì nhiêu và sự thuận lợi chiến lược trên bề mặt của địa cầu. Mackinder cho rằng chính cái cách tập hợp đất đai và biển cả, cùng với các vùng đất phì nhiêu và đường giao thông tự nhiên, là cái làm gia tăng sự phát triển của các đế quốc và dẫn đến kết cục của một đế quốc thế giới. Và để tránh những cuộc xung đột thế giới trong tương lai, ông khuyến nghị rằng “Cần phải công nhận các thực tiễn địa lý và có biện pháp để ngăn chặn sự ảnh hưởng của chúng”.

Về mặt địa lý, thế giới trong cuốn sách nói trên của Mackinder được phác họa như sau:

1/ Nó có một đại dương bao phủ 9 phần 12 diện tích bề mặt địa cầu;

2/ Một đại châu lục bao gồm châu Âu, châu Á, châu Phi;

3/ Nhiều hòn đảo nhỏ bao gồm cả nước Anh, Nhật Bản, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Australia.

Cái đại châu lục đó, được Mackinder gọi là hòn đảo thế giới, lại được ông chia nhỏ ra thành 6 khu vực:

1/ Vùng duyên hải châu Âu (gồm miền Tây và Trung Âu);

2/ Vùng gió mùa hay là vùng duyên hải châu Á (Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á, Triều Tiên, Đông Siberia);

3/ Khu vực bán đảo Arabia;

4/ Khu vực Sahara (Bắc Phi);

5/ Khu vực phía Nam miền đất trái tim (khu vực châu Phi Nam Sahara);

6/ Quan trọng nhất là miền đất trái tim (hạt nhân nằm ở miền Trung – Bắc của lục địa Á – Âu mà bài báo năm 1904 ông đã gọi là “khu vực trục”).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Văn Dân – Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia – NXB KHXH 2011.

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần V


Hiệp định đưa đến một số bất trắc mới. Một số quan chức và trí thức tại hai nước kêu gọi Trung Quốc và Ấn Độ hãy phát triển lập trường chung đối với các vấn đề quốc tế, hàm ý trong hầu hết trường hợp sẽ chống chính sách của Mỹ. Tuy nhiên do lịch sử nghi kỵ lâu dài giữa Trung Quốc và Ấn Độ, triển vọng trông chừng cũng chỉ vừa phải.

Hiệp định Trung Quốc – Ấn Độ gây nỗi lo lắng cho các nước láng giềng của Ấn Độ. Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham viếng thăm ba nước láng giềng Nam Á quan trọng nhất của Ấn Độ – Pakistan, Bangladesh và Sri Lanka – vào cuối tháng 2 và đầu tháng 3 năm 1994 trong một hành trình bao gồm cả Iran và Maldives. Hiển nhiên mục đích đầu tiên của ông nhằm làm yên lòng ba nước láng giềng trực tiếp của Ấn Độ là hòa giải của Trung Quốc với Ấn Độ không có nghĩa Trung Quốc ủng hộ bá quyền của Ấn Độ đối với Nam Á. Việc này hiển nhiên cũng thúc giục Bộ trưởng ngoại giao Ấn Độ, Dinesh Singh, hối hả đến Tehran, gặp Tiền vào trước lúc ông này quay trở về Bắc Kinh. Tóm lại, dường như Trung Quốc đang ở vào địa vị có thế lực được mọi nước Nam Á lấy lòng!

Hiệp định Trung – Ấn tháng 9 có thể bao gồm một số giao dịch phụ không công bố. Chẳng hạn, Ấn Độ dường như chấp thuận ảnh hưởng của Trung Quốc gia tăng ở Nepal, một điểm gay cấn từ nhiều năm nay. Một tháng sau Hiệp định, người ta thông báo: Trung Quốc mở thêm ba cửa khẩu tại biên giới Tây Tạng – Nepal, nhằm phát triển mậu dịch biên giới và du lịch. Trước đó ở đấy chỉ có một cửa khẩu như vậy, Tây Tạng, trong một động tác cũng có thể có liên quan, trước thời điểm đó đã mở một văn phòng liên lạc thương mại tại Kathmandu.

Tại Bangladesh vào năm 1994, Trung Quốc bày tỏ họ có nguồn lực kinh tế để xây dựng một dự án viện trở nước ngoài theo kiểu Nhật Bản. Và Trung Quốc sẽ bỏ ra 200 triệu USD để xây dựng ở Bangladesh một mỏ than được lắp đặt toàn bộ thiết bị khai thác mỏ của Trung QUốc. Đây là loại dự án mà người ta từng trông đợi ở người láng giềng kề bên Bangladesh là Ấn Độ tài trợ, giá như Ấn Độ đã có thể phát triển được một nền kinh tế mạnh mẽ và hướng ngoại

Mối quan hệ của Trung Quốc với Pakistan đã được người ta viết tới từ nhiều năm nay. Ở đây không cần thiết điểm lại lịch sử mối quan hệ đó, trải qua những thay đổi hay thăng trầm của chính trị hai quốc gia. À cũng sẽ chưa chin muồi để đánh giá tác động của Hiệp định Trung – Ấn ký tháng 9/1993 đối với Pakistan. Mối quan hệ về quân sự vẫn được duy trì chặt chẽ, mặc dầu chưa mang đặc trưng là một liên minh. Người ta có thể giả thiết, dựa trên những bằng chứng sẵn có cùng với những tố cáo của chính phủ Hoa Kỳ, Trung QUốc qua nhiều năm vẫn tiếp tục trợ giúp chương trình vũ khí hạt nhân và kỹ thuật tên lửa cho Pakistan. Bằng chứng cho thấy mối quan hệ quân sự giữa hai bên vẫn được duy trì chặt chẽ sau khi có Hiệp định Trung – Ấn là thông báo được công bố vào tháng 3/1994 về việc Trung Quốc thỏa thuận chuyển giao cho Pakistan “năng lực chế tạo xe tăng hiện đại như MBT-2000 và pháo tăng nòng trơn 125 mm”.

Trung Quốc và Pakistan vẫn phát triển từ từ một mối quan hệ kinh tế trong lĩnh vực quân sự. Trong hầu hết trường hợp, hợp tác của họ có ảnh hưởng cụ thể về chiến lược. Thí dụ, Trung Quốc cam kết chi 40 triệu USD để xây dựng trường trục tại Pakistan. Và người ta đưa tin rằng hai bên cùng cam kết phát triển đường trục Karakoram ở độ cao, nối liền Pakistan với Tân Cương (Trung Quốc) làm thành tuyến đường trong mọi thời tiết. Tuyến đường này tiềm tang ý nghĩa quân sự quan trọng.

Sau hết, Trung Quốc đưa ra đề nghị tham dự trong các liên doanh chế tạo hàng công nghiệp nhẹ tại Pakistan, sản xuất đồ điện, máy bơm và thực phẩm đóng gói. Trung Quốc “gợi ý” sản phẩm làm ra sẽ được xuất khẩu và ngoại tệ thu về sẽ được “đầu tư cho khu vực quốc phòng” – nói cách khác, để mua trang thiết bị quân sự hoặc công nghệ sản xuất của Trung Quốc. Một lần nữa điều đáng chú ý ở đây là Trung Quốc có cơ sở công nghiệp và của cải khiến các đề nghị kiểu như thế trở thành thực tế và có khả năng thực hiện.

Lợi ích của Trung Quốc tại Trung Á

Chính Trung Á là nơi hội tụ của hai sự kiện có tính lịch sử to lớn đang diễn ra tại Đại lục Á – Âu. Một là đế chế Nga và chế độ Cộng sản Xô viết tiếp tục sụp đổ, hai là kinh tế Trung Quốc cùng với lực lượng quân sự tăng trưởng nhanh chóng – một xu thế dường như chắc chắn biến Trung Quốc thành một siêu cường phát triển đầy đủ vào đầu thế kỷ tới. Ảnh hưởng của sự kiện thứ nhất đối với Trung Á được người ta thảo luận rộng rãi và xem xét kỹ càng. Trong khi đó, ảnh hưởng của sự kiện thứ hai đối với khu vực này chỉ mới đây mới được người ta nói đến. Quả thực, đợt phân tích thứ nhất về hậu quả quốc tế của sự xuất hiện “năm nước châu Á mới độc lập” chỉ mới được bàn đến qua loa, nếu không nói là không hề, trong mối quan hệ với Trung Quốc. Nhưng giờ đây, rõ ràng một Trung Quốc năng động về kinh tế, đang lên về quân sự, cần phải được coi là một vai chính trong khu vực chỉ sau nước Nga.

Kể từ lúc Liên Xô bắt đầu tan rã, lợi ích của Trung Quốc ở Trung Á đã được người ta nhiều lần xác định đúng, như một nhà quan sát khái quát, “chủ yếu nhằm phòng ngừa, ngăn không cho sự bất ổn tràn vào vùng Turkestan của Trung Quốc”, là khu tự trị Uighur Tân Cương mà bất chấp tên gọi của nó, nó vẫn là một khu vực của Trung Quốc do Bắc Kinh kiểm soát chặt chẽ. Theo nghĩa hẹp thì việc miêu tả đặc điểm của mối quan tâm của Trung Quốc đối với Trung Á như đã được nêu là chính xác. Các nhà cai trị Trung Quốc qua các thế kỷ đều coi Tân Cương là một vấn đề toàn vẹn lãnh thổ. Ngay trong thế kỷ này người ta đã chứng kiến nhiều lần những người Hồi giáo Turkic Tân Cương mưu toan giành độc lập thực sự khỏi Trung Quốc. Mới đây nhất từ 1989 đến 1991, tình trạng bất ổn thỉnh thoàng đạt tới mức nghiêm trọng, và đôi khi dẫn đến những cuộc khởi nghĩa, trong số các thành phần Hồi giáo Turkic.

Chỉ đến khi nhìn lại sự việc mới có thể thấy là nhà đương cục Trung Quốc cũng như các nhà phân tích có thể đã đánh giá quá mức ý nghĩa của những vụ bạo loạn đó. Hiện giời người ta không còn nghi ngờ nhiều về việc người dân Trung Quốc đã phản ứng quá mức. Nhưng nếu cộng với các sự kiện khác xảy ra đồng thời với các vụ bạo loạn, thì phản ứng của Trung Quốc lại là điều hoàn toàn có thể hiểu được. Mùa Xuân 1989, có một sự kiện nổi bật là các cuộc biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn và chúng kết thúc bằng bạo lực ngày 4 tháng 6. Và bây giờ chúng ta được biết, chỉ đến cuối 1991 lãnh đạo Trung Quốc mới thật sự khôi phục được thăng bằng và lòng tự tin. Đồng thời Liên Xô tiếp tục tan rã, dẫn tới các tiên đoán: chủ nghĩa Lenin bại vong khắp mọi nơi, kể cả ở Trung Quốc. Cùng với việc Liên Xô chính thức tan vỡ vào tháng 12/1991 tiếp theo thất bại của cuộc đảo chính do những người theo đường lối cứng rắn khởi sự vào tháng 8 trước đó, rồi 5 nước Cộng hòa Trung Á rút cuộc tách ra. Sự thể diễn ra như vậy khiến các nhà phân tích trong phạm vi thế giới có ý kiến cho rằng tình hình Trung Á không chỉ bất ổn mà còn biến hóa khôn lường. Trung Quốc cũng không thể tránh khỏi bị tác động bởi tin tức đó, nhất là vào lúc bạo loạn ở Tân Cương ngầm cho thấy các lực lượng nhiễu loạn ở Liên Xô trước đây dầu sao cũng đã nhảy cóc, vượt sang biên giới. Quan chức Tân Cương công khai thừa nhận rằng họ lo ngại về ảnh hưởng của việc Liên Xô tan rã, vì vậy binh lính Trung Quốc được đưa lên tăng cường biên giới Tân Cương, lúc ấy còn là với Trung Á của Xô viết.

Đã có nhiều yếu tố cộng thêm sự việc những người ủng hộ công cuộc cải cách được phục hồi về chính trị đã giúp vào việc làm sáng tỏ lý do vì sao nhà cầm quyền Trung Quốc không kéo dài thêm nữa cảnh giác đề phòng trước tình hình Tân Cương và Trung Á. Một là làn sóng bạo loạn Hồi giáo giảm đi. Tình hình này có lẽ phần lớn nhờ ở Trung Quốc từng có chính sách lâu dài đối với vấn đề dân tộc thiểu số. Kể từ năm 1949, trừ thời kỳ cuộc đại nhảy vọt và cách mạng văn hóa, thì chính sách dân tộc thiểu số của Trung Quốc đã được người ta đưa ra thảo luận, xem như không phải là vấn đề êm dịu nhất mà thuộc số các vấn đề phức tạp nhất trên thế giới. Bắc Kinh một mặt cố tình không để ai nghi ngờ họ sẵn sàng sử dụng vũ lực dập tắt bất kỳ cái gì có hơi hướng ly khai dân tộc, mặt khác Bắc Kinh tiếp tục vận động người Hán di chuyển lên Tân Cương và các vùng dân tộc thiểu số khác, nhằm làm cho tỉ lệ số dân nghiêng về phía ngườI Hán. Tuy điều tra dân số chính thức của Trung Quốc công bố rằng người Hồi giáo Turkic chiếm 60% số dân, nhưng thực tế bây giờ họ chỉ bao gồm một nửa cư dân Tân Cương.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09

Những sự chuyển giao quyền lực: Thucydides không tồn tại ở châu Á – Phần IV


Hai số liệu này cho thấy một câu chuyện chính xác, kéo dài và thường bị bỏ qua về Đông Á. Trung Quốc đã tiến hành một cuộc chuyển giao quyền lực khu vực nhanh đáng ngạc nhiên. Câu hỏi duy nhất là khoảng cách giữa Trung Quốc và các nước láng giềng sẽ trở nên lớn hơn như thế nào. Các nước đang ngày càng gia tăng quan hệ kinh tế với Trung Quốc và với nhau. Và các nước Đông Á đã dần giảm chi tiêu quốc phòng của họ, điều cho thấy các nước này nghĩ phần lớn các vấn đề chưa giải quyết được của khu vực không đáng phải để tranh đấu. Tất cả các nước phải cùng tồn tại với nhau – không nước nào sẵn sàng đứng lên và di chuyển đi nơi khác. Các nước đang đối phó với hiện thực đó và tìm kiếm các giải pháp ngoại giao thay vì quân sự với nhau.

Phản ứng chuẩn mực đối với hơn 1/4 thế kỷ ổn định là công nhận nỗ lực của Mỹ: Tất cả các nước châu Á hẳn “phải” đang ngồi không hưởng lợi từ cam kết của Mỹ với khu vực. Tuy nhiên, điều này trái ngược với bằng chứng cho thấy trong cùng thời kỳ, cam kết quan sự của Mỹ đã sụt giảm, sự chú ý của Mỹ đã dao động, và quả thực nhận thức về sự lơ là của Mỹ trong vài thập kỷ qua thậm chí đã khiến cho Chính quyền Obama tuyên bố họ đang “xoay trục” sang châu Á. Hai xu hướng này khó có thể điều chỉnh cho phù hợp: Nếu các nước Đông Á thậm chí không phản ứng với sự suy giảm triển khai lực lượng và sự chú ý của Mỹ, thì có lẽ họ không nhận thấy các vấn đề còn lại đáng để tranh đấu. Xét cho cùng, các nước này không cho thấy dấu hiệu phòng ngừa, hoặc trong quan hệ kinh tế của họ với Trung Quốc hoặc trong chi tiêu quân sự của họ. Nếu các nước lo ngại và nghĩ Mỹ có thể rời đi, có lẽ họ sẽ chuẩn bị ít nhất là một phần cho khả năng đó. Thay vào đó, các xu hướng chi tiêu quốc phòng cho thấy một cách mạnh mẽ một sự sụt giảm dần dần, kéo dài hàng thập kỷ, ngay cả trước những sự gia tăng to lớn trong sức mạnh của Trung Quốc và cam kết ngày càng dao động của Mỹ với khu vực.

Hiện thực Đông Á này trái ngược với luận điệu thổi phồng về mối đe dọa phần lớn theo kiểu phương Tây vốn coi sự nổi lên của Trung Quốc là nguy hiểm và khu vực ngày càng bất ổn. Quả thực, trong hơn 1/4 thế kỷ, một số học giả đã đưa ra những dự đoán thảm khốc và liên tục rằng Đông Á sắp trải qua một cuộc chạy đua vũ trang, rằng thế tiến thoái lưỡng nan an ninh khu vực đang càng ngày càng tăng lên, và sự bất ổn nguy hiểm do Trung Quốc gây ra đang ở ngay gần. Trong những năm gần đây, nhận thức về sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc, nỗi lo sợ trong khu vực và một nỗ lực tái cân bằng đầy sức mạnh của Mỹ sang Thái Bình Dương đã khiến các nhà quan sát ngày càng lo ngại rằng khu vực có thể đang hướng tới các khối cạnh tranh và kiềm chế. Tuy nhiên, hầu như không có bằng chứng cho thấy các nước Đông Á tham gia một cuộc chạy đua vũ trang, và rất ít nước đang gửi đi những tín hiệu cho thấy quyết tâm của họ gánh chịu phí tổn chiến tranh. Những bài học và ý nghĩa cho lý thuyết chuyển giao quyền lực từ Đông Á cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17 đáng để truyền lại cho ngày nay. Quả thực, việc biết rõ hơn quan điểm đầy sắc thái của các cuộc chuyển giao quyền lực sẽ dẫn tới 3 nhận định về an ninh Đông Á đương đại.

Thứ nhất, nhà Minh đã sụp đổ từ bên trong – chắc chắn là một câu chuyện đầy tính cảnh báo cho bất kỳ cường quốc đang suy sụp nào rằng bất cứ tình hình chính trị và nền kinh tế trong nước lành mạnh là những yếu tố chính của bất cứ đại chiến lược hoặc địa vị bá quyền lâu dài nào. Những bài học của cuộc chuyển giao Minh – Thanh từ lịch sử hướng chúng ta đến xem xét sâu hơn nền chính trị trong nước và sự sinh động kinh tế của Mỹ cũng như Trung Quốc ngày nay, và hướng đến tìm kiếm những manh mối cho thấy liệu các nước này và các nhà lãnh đạo của họ có sự ổn định nội bộ và tầm nhìn hay không. Những vết thương tự gây ra có thể nguy hiểm hơn những vết thương thật sự.

Chẳng hạn, vào năm 1990 người ta tin rộng rãi rằng Nhật Bản là đối thủ cạnh tranh ngang hàng sắp tới của Mỹ. Hiện nay, điều đó không còn đúng, không phải vì bất kỳ cuộc chiến tranh nà, mà vì Nhật Bản chưa bao giờ hồi phục sau khó khăn kinh tế của những năm 1990. Những thách thức trong nước đã loại bỏ Nhật Bản khỏi tư cách đối thủ cạnh tranh ngang hàng với Mỹ. Về phần Trung Quốc cũng vậy, các vấn đề trong nước to lớn có thể giới hạn khả năng trước mắt của nước này thách thức Mỹ. Những giấc mơ của Trung Quốc về lãnh đạo khu vực và thậm chí toàn cầu sẽ phụ thuộc cũng nhiều như hoặc thậm chí nhiều hơn vào cách họ xử lý các vấn đề xã hội, môi trường, kinh tế và chính trị trong nước bên trong Trung Quốc so với dựa vào cách Trung Quốc xử lý quan hệ đối ngoại của mình. Susan Shirk lập luận rằng Trung Quốc “mạnh ở bên ngoài nhưng mong manh ở trong nước”. Năm 2015, chuyên gia về Trung Quốc David Shambaugh lập luận rằng “hệ thống chính trị của Trung Quốc vỡ vụn nặng nề”, viết rằng kiểm duyệt chính trị và đàn áp đã tăng vọt dưới thời Tập Cận Bình, tiền bạc và giới tinh hoa đang tháo chạy khỏi đất nước, nạn tham nhũng tràn lan, và cải cách kinh tế bị ngăn chặn bởi các nhóm lợi ích đầy sức mạnh. Dư luận rộng rãi cho rằng Trung Quốc chi tiêu nhiều vào an ninh trong nước hơn là vào phòng thủ bên ngoài.

Các tác giả không đưa ra dự đoán về việc liệu các vấn đề nội bộ này có được giải quyết hay không. Xét cho cùng, Trung Quốc đã tiếp tục sự phát triển kinh tế, xã hội và chính trị xa hơn và nhanh hơn so với hầu hết mọi người nghĩ là có thể một vài thập kỷ trước. Chắc chắn, những người bi quan đã liên tục cường điệu các vấn đề Trung Quốc đang phải đối mặt – tác giả Gordon Chang đã tự tin dự đoán sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong hơn 15 năm, mặc dù đảng này có vẻ mạnh mẽ hơn bao giờ hết trong năm 2018. Liệu chế độ Trung Quốc có sắp sụp đổ hay không hoặc liệu nền kinh tế có sắp đình trệ không phải là quan điểm của các tác giả. Thay vào đó, điều quan trọng hơn là chỉ ra rằng các vấn đề trong nước có thể mang đến nhiều hậu quả hơn cho tương lai của Trung Quốc, và cho vị trí của Trung Quốc trên thế giới, so với bất kỳ cuộc đấu tranh to lớn nào với Mỹ để giành địa vị thống trị toàn cầu.

Nhận định này cũng đúng với Mỹ. Như nhiều người đã chỉ ra, vấn đề chính đối với Mỹ không phải là thách thức nào đó từ Trung Quốc vốn có thể xảy ra trên lý thuyết, cũng không phải thách thức của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) vốn nằm bên lề những lợi ích của Mỹ. Thay vào đó, nhiều nhà quan sát tin rằng thách thức chính đối với bá quyền của Mỹ xuất phát từ các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội bên trong chính nước Mỹ. Từ một cuộc khủng hoảng tài chính to lớn cho đến một xã hội dân sự đang đổ vỡ theo những cách chưa từng thấy trong một nửa thế kỷ, Mỹ có thể gây nhiều thiệt hại hơn cho chính mình so với bất kỳ đối thủ cạnh tranh bên ngoài nào có thể gây ra.

Bài học thứ 2 cho an ninh Đông Á là các khoảng trống quyền lực thường nguy hiểm hơn các cuộc chuyển giao quyền lực. Nhà Thanh đã thành công phần lớn vì nhà Minh sụp đổ, không phải vì 2 bên tham gia một cuộc chiến khổng lồ giành quyền thống trị và sự sống còn. Trong thế kỷ 21, ngày càng có tranh luận và lo ngại rằng Mỹ đang nhường lại vị thế lãnh đạo của mình ở Đông Á. Sự lãnh đạo khu vực gắn với quyền lực mềm, và quyền lực có sức hấp dẫn cũng giống như quyền lực quân sự cứng và việc bắt nạt kẻ khác.

(còn tiếp)

Nguồn: The Washington Quarterly – Spring 2018

CVĐQT số 7/2018

Sự phát triển đuổi kịp các nước tiên tiến – Phần VI


Để phát triển, sáng tạo ra được các tư bản mới thì điều sống còn là thiết tạo ra được môi trường cạnh tranh mà hiệu quả đạt được là các lĩnh vực mà sẽ có những nguồn tiền được bơm vào, điều này khác với sự phân bổ ngân sách nhà nước. Phát triển các hình thái tư bản mới ở các nước đang phát triển là điều không dễ dàng khi xã hội có những trình độ phát triển rất khác nhau giữa các vùng miền.

Để điều hành được kinh tế siêu vĩ mô thì cần phải thấy được những thảm họa tiềm ẩn, từ những vấn đề nội tại trong nước tới những vấn đề quan hệ với các nước khác, tới những phản ứng của các nước khác, đặc biệt là phản ứng của các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của các nước khác.

Tiến trình phát triển đi từ diện rộng tới chuyên sâu. Sau khi phát triển hàng loạt lĩnh vực hoạt động kinh tế siêu vĩ mô và điều hành thuần thục, một xã hội định hình được nhu cầu phát triển của mình, khả năng phát triển, và cách thức vươn ra bên ngoài. Khi đó, các đại doanh nghiệp phải đồng thời hoạt động ở ba tầng mức vi mô, vĩ mô, siêu vĩ mô và thu được các loại tiền tương ứng từ các chủ thể điều hành kinh tế. Một khi diện rộng được khai thác hết, và tiến trình đó trở nên tự động, thì người ta đi đến sự phát triển thực chất, chuyên sâu. Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô đã đem lại sự nhìn nhận mới về năng lực của con người. Một người làm bộ trưởng hay làm giám đốc doanh nghiệp nhà nước thì ít người cho rằng người đó có tài năng nào đó đáng để ca ngợi hay học tập, vì đó là các chức vụ được bổ nhiệm mà người ta có thể dùng các quan hệ thân quen hay chạy chọt để đạt được, thậm chí là dùng những thủ đoạn không lấy gì được ca ngợi cả để đạt được các chức vụ đó. Nhưng một chủ doanh nghiệp trong khu vực tư nhân thì lại khác, người ta mặc nhiên coi rằng người đó là người có năng lực thực sự và được xã hội thừa nhận. Vì thế, nếu như một tổ chức bí mật của các đại tư bản quyết định bổ nhiệm một người của mình vào làm tổng giám đốc thì xã hội đã mặc nhiên coi người đó đã có một tài năng thiên bẩm nào đó.

Chủ thể phải phát triển nguồn nhân lực để có thể giải quyết được những vấn đề về phát triển. Chẳng mấy chốc, khi một xã hội điều hành thuần thục kinh tế siêu vĩ mô thì xã hội đó sẽ thiếu nguồn nhân lực, kể cả nguồn nhân lực phổ thông, không còn việc xuất khẩu lao động ra nước ngoài, thậm chí phải tính đến chuyện nhập khẩu lao động. Để giải quyết cơ bản về nguồn nhân lực trong tương lai, chủ thể tổ chức các loại hình doanh nghiệp mới với những ưu đãi về tiền ảo, tổ chức các cơ quan nghiên cứu các loại chuyên ngành đào tạo và sử dụng các nguồn nhân lực. Phát triển kinh tế ở lĩnh vực nào là tùy thuộc vào trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực, ở đây có vấn đề là đào tạo nguồn nhân lực trong nước và thuê mướn nguồn nhân lực trình độ cao từ bên ngoài. Do hạn chế về nguồn nhân lực ở trình độ cao, nhất là những lĩnh vực đòi hỏi tài năng bẩm sinh như nghiên cứu khoa học ở đỉnh cao, các lĩnh vực nghệ thuật, nên nhiều lĩnh vực có tiền, thậm chí nhiều tiền, cũng không thể làm được. Như người ta nói, không thể dùng tiền mà mua được tri thức, nhất là tri thức đỉnh cao. Không thể dùng tiền mà đào tạo được nhà khoa học, sẽ đoạt giải thưởng Nobel trong tương lai, không thể đào tạo đạo diễn điện ảnh sẽ đoạt giải Oscar, hay nhà thiết kế thời trang hàng đầu. Không thể dùng tiền mà đạt được tri thức mới trong nền kinh tế tri thức.

Vấn đề nảy sinh ra là dùng tiền ảo để hỗ trợ các tài năng như thế nào, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự hình thành tài năng, như môi trường cạnh tranh vừa có hợp tác phù hợp với những lĩnh vực cụ thể trong hoạt động khoa học, công nghệ, kinh tế, xã hội. Trên cơ sở đó xác định được xu hướng, lĩnh vực nào mà có thể đạt được đỉnh cao, những xu hướng, lĩnh vực nào dù có đầu tư nhiều tiền của vẫn không thể đạt được các đỉnh cao.

Một xã hội không chỉ giới hạn với những người ở trong lãnh thổ nước đó mà còn có những mối liên quan với kiều bào ở nước ngoài, và những người nước ngoài ở nước đó, những tổ chức và doanh nghiệp nước ngoài liên quan tới nước đó. Chỉ phát triển kinh tế siêu vĩ mô đến trình độ nhất định thì xã hội mới nhận diện được mình có thế mạnh gì. Lúc đó xã hội mới có cách xử lý mới về những gì nội tại của mình và có cách đánh giá mới về tiềm năng của xã hội.

Khi tính GDP cho một nước, người ta không tính đến đầu tư ra nước ngoài của nước đó. Vì thế người ta không tính được sức mạnh kinh tế thực sự của nước đó. Người Nhật Bản đầu tư ở nơi nào đó thì chính phủ Nhật Bản tham gia vào xây dựng các điều kiện sống vì nhiều công dân của Nhật Bản sẽ làm việc ở nơi mới, hàng hóa nhật Bản sẽ đi trên các con đường đó. Khi người ta giầu có rồi, người ta đòi hỏi đời sống mới, người ta cần một môi trường mới. Thế là có hiện tượng xuất khẩu sự giàu có. Có như vậy mới có các cánh tay và khối óc mới ở nước ngoài để bảo đảm được chất lượng về mặt vệ sinh, môi trường đối với các hàng hóa nhập khẩu về nước mình. Có những nhu cầu trước đây có tiền cũng không dám nghĩ đến nhưng ngày nay thì đã nghĩ đến. Những người bị bệnh tim có nhu cầu về quả tim khỏe mạnh hơn quả tim đang suy yếu của mình.

IV/ Sự phát triển đuổi kịp

Trước cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính Châu Á 1997, khi Hàn Quốc đánh giá sự phát triển của họ trong 20 năm bằng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong 200 năm đã là điều gây ra ngạc nhiên thì sắp tới người ta còn ngạc nhiên hơn nữa khi trong 20 năm nữa có xã hội phát triển bằng chủ nghĩa tư bản phát triển trong gần 250 năm.

Sự phát triển đuổi kịp là điều hoàn toàn có khả năng với một xã hội hiện còn nghèo nàn, nhưng người dân thông minh, hiếu học, cần cù, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám vạch ra con đường đi của riêng mình, mở ra cho mình bình diện hoạt động ngang với những xã hội tiên tiến nhất về kinh tế, khoa học công nghệ. Trên bình diện đó, người ta thấy được những yếu tố tiềm lực và triển vọng phát triển. Xã hội đó có khả năng phát triển nguồn nhân lực, tạo được chỗ đứng của mình và có khả năng tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực then chốt nhất nằm trong thế mạnh của mình, và từ đó lan tỏa ra các lĩnh vực khác.

Đối với các nước đang phát triển, sự phát triển đuổi kịp các nước tiên tiến hơn phụ thuộc trước hết vào khả năng điều hành kinh tế siêu vĩ mô thuần thực đến mức độ nào, và xã hội có khả năng lan tỏa những loại tư bản đã có nhanh đến đâu. Tiếp đó là sự sáng tạo ra các kết hợp mới về nguyên tắc, từ đó sáng tạo ra các loại tư bản mới.

Một nước chỉ đuổi kịp các nước tiên tiến khi nước đó có khả năng sáng tạo ra những tạo phẩm vật thể và phi vật thể ngang tầm các nước tiên tiến, sáng tạo ra được những tư bản mới và có cách thức lan tỏa các loại tư bản trong xã hội và ra bên ngoài nhanh chóng như ở các nước tiên tiến. Bản thân nội tại nước đó cần phải có khả năng sáng tạo rất lớn. Muốn đuổi kịp thì phải sáng tạo ra được tư bản mới, và phải có cách làm cho tư bản mới nhanh chóng lan tỏa ra toàn xã hội và ra bên ngoài, sản sinh ra được các kết hợp siêu vĩ mô.

Việc phát triển đuổi kịp phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, mà mỗi giai đoạn có những bước đi và sự chuẩn bị cụ thể. Không chỉ có tiến lên mà còn phải biết kiểm soát tình hình khi có khủng hoảng. Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô xoa dịu các mâu thuẫn xã hội, tạo môi trường ổn định chính trị cho việc hoạch định các chính sách phát triển.

Trong giai đoạn ban đầu, vấn đề thiết tạo chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô phải giải quyết vấn đề gai góc, cấp bách là mở rộng việc cấp tiền cho xã hội, phải thiết lập các cách thức mới để tạo nên các nguồn lực mới trong xã hội. Tại sao phải vay tiền nước ngoài để phát triển kinh tế trong khi hoàn toàn được việc đó bằng phát triển điều hành kinh tế siêu vĩ mô? Với những nước phát triển sau, có khối lượng công việc khổng lồ cần phải làm.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt, Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2007.

Học hỏi mà không cần viện đến lý thuyết


Ricardo Hausmann

Làm thế nào chúng ta có thể cải thiện được tình trạng của thế giới? Làm thế nào chúng ta có thể giúp các quốc gia cạnh tranh hơn, tăng trưởng bền vững và cho mọi người hơn, và bình đẳng giới hơn?

Có một cách, đó là phải có lý thuyết đúng đắn về mối quan hệ giữa hành động và kết quả và sau đó thực hiện hành động nhằm đạt được mục tiêu của chúng ta. Tuy nhiên, trong hầu hết các tình huống mà chúng ta phải đối mặt, chúng ta thiếu một lý thuyết như vậy, hoặc nếu có, chúng ta không chắc là nó đúng. Vậy chúng ta có thể làm gì? Chúng ta có nên trì hoãn hành động cho đến khi tìm hiểu được mọi việc diễn ra như thế nào? Nhưng làm sao có thể tìm hiểu nếu như chúng ta không hành động? Và nếu chúng ta hành động, làm sao chúng ta có thể biết là mình đã làm đúng?

Những tiến bộ mới trong máy học và nhân học sinh học đang làm sáng tỏ cách học hỏi diễn ra như thế nào và điều gì giúp cho quá trình học tập thành công. Nhưng cho dù lý thuyết rất quan trọng, hầu hết những gì chúng ta học không phụ thuộc vào chúng.

Ví dụ, có thể có một lý thuyết giúp chúng ta định nghĩa một con mèo là một con mèo, nhưng đó không phải là cách mà trẻ con học cách nhận biết chúng. Như lập luận của Leslie Valiant ở Harvard trongquyển sách xuất bản năm 2013 của ông, chúng ta học khái niệm về “đặc tính của một con mèo” (“catness”) theo lối không mang tính lý thuyết bằng cách suy luận từ một tập hợp các hình ảnh của loài vật được gắn nhãn thích hợp là mèo hay không-là-mèo. Và càng nhiều ví dụ chúng ta thấy, chúng ta càng trở nên “có thể, gần đúng.”

Chúng ta học cách nhận biết ngôn ngữ nói mà không cần kiến thức về ngôn ngữ học, và phần mềm nhận dạng giọng nói sử dụng một thuật toán học hỏi không mang tính lý thuyết được gọi là “chuỗi ẩn Markov” dựa trên tập hợp các âm thanh và văn bản của chúng, chứ không dựa vào ngôn ngữ học, như Ray Kurzweil cho chúng ta biết trong quyển sách của ôngCách tạo nên trí tuệ. Nhiều người trong giới học thuật chúng ta thất vọng bởi vì lý thuyết thường không cần thiết.

Quá trình tiến hóa sinh học cũng dựa trên một thuật toán không mang tính lý thuyết, sinh vật nhận biết được kiểu gen nào tạo ra các cá thể thích nghi tốt hơn mà không cần lý thuyết cho biết những thay đổi nào trong bộ gen sẽ cải thiện hiệu quả hoạt động. Nó chỉ sử dụng biến đổi ngẫu nhiên và chọn lọc dạng thích nghi nhất, lặp đi lặp lại liên tục qua thời gian.

Trong khi quá trình tiến hóa sinh học thông qua sinh sản hữu tính đòi hỏi trải qua hàng thế hệ, chúng ta có thể học hỏi lẫn nhau nhanh hơn nhiều thông qua sự phát triển văn hóa, giải thích vì sao loài người đã có bước phát triển dài. TheoRobert Boyd, Peter Richerson, và Joseph Henrich, khả năng bắt chước của chúng ta chính là cốt lõi thành công của chúng ta như một loài (sinh vật). Đó là điều khiến sự phát triển văn hóa có thể xảy ra, tích lũy và mạnh mẽ. Đó là điều cho phép chúng ta học hỏi từ những người khác và do đó đạt được tiến bộ nhanh hơn nhiều so với khi chúng ta tự học. Thêm vào đó, bởi bắt chước, giống như nhân bản gen, không phải là hoàn hảo, chúng ta vô tình phát hiện ra những cách khác để làm cùng một việc (hoặc thậm chí những việc mới và tốt hơn).

Loài người chúng ta được trang bị để bắt chước người khác, và chúng ta đặc biệt thích bắt chước những người thành công nhất trong số chúng ta. Điều này có ý nghĩa về mặt tiến hóa, khi các đặc tính của những người thành công có nhiều khả năng liên quan tới sự thành công của họ so với các đặc tính của những người khác.

Nhưng điều này có thể dẫn đến sai lầm khi chúng ta bắt chước những thứ không liên quan đến thành công. Quảng cáo đã khai thác điểm yếu này trong hệ thống nối kết của chúng ta, khiến chúng ta nghĩ rằng, nếu George Clooney (diễn viên nổi tiếng trong vai Batman – ND) trông thật ngầu và khoác lên mình trang phục nào đó, chúng ta cũng có thể trông có vẻ ngầu bằng cách mặc giống như vậy.

Mang tính xây dựng hơn, thế giới kinh doanh sử dụng bắt chước thông qua thực hành tạo chuẩn mực, theo đó các công ty chia sẻ thông tin hiệu quả hoạt động để tất cả họ có thể học hỏi những gì có thể thực hiện được và nên cố gắng bắt chước công ty nào, do đó thuận lợi cho việc xác định “thực hành tốt nhất”. Để phát triển, bạn có thể bắt đầu bằng cách bắt chước những gì mà các công ty thành công thực hiện mà không cần có một lý thuyết giải thích tốt lý do vì sao.

Tạo chuẩn mực được chuyển đến lĩnh vực chính sách, bao gồm các vấn đề như phát triển bền vữngmôi trường kinh doanhnăng lực cạnh tranhbình đẳng giới, và, rất gần đây, tăng trưởng cho mọi người. Một số trong số các ứng dụng này tạo ra các đo lường tin cậy về hiệu quả hoạt động, cho phép người dùng đánh giá kết quả và theo dõi tiến độ.

Những ví dụ hay về sự diễn tập tạo chuẩn mực này là Chỉ số Khoảng cách Giới Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) hay Chỉ số Phát triển Con người của Liên Hiệp Quốc. Chúng không mang tính lý thuyết theo nghĩa chúng không cho bạn biết làm thế nào để cải thiện hiệu quả hoạt động; nhưng chúng cho bạn biết bạn đã cải thiện hay chưa – tức là, chúng thông báo về những thay đổi trong việc trở nên “thích nghi nhất”.

Theo quan điểm của tôi, các chỉ số khác lẫn lộn giữa đo lường hiệu quả hoạt động với đo lường nguyên nhân giả thuyết về hiệu quả hoạt động. Chúng nhầm lẫn giữa “cái gì” và “làm thế nào”, và chúng đặt cả hai một cách không thích hợp trong chỉ số. Chúng cố gắng hướng về lý thuyết hơn là kiến thức của chúng ta cho phép.

Hai ví dụ cho điều này là Chỉ số Cạnh tranh Toàn cầu của WEF và Chỉ số Phát triển và Tăng trưởng cho mọi người mới của nó. Ví dụ, năng lực cạnh tranh liên quan đến khả năng tăng thị phần mà không hy sinh lợi nhuận hoặc giảm tiền lương, là cái gì đó phản ánh năng suất vượt trội. Tính cho mọi người của tăng trưởng liên quan đến chênh lệch về thu nhập và tăng trưởng giữa các vùng và các nhóm xã hội khác nhau.

Nhưng đây không phải là những gì mà các chỉ số này thực sự đo lường. Thay vào đó, các chỉ số này bao gồm các biến – những gì chúng gọi là “không gian chính sách” – được cho là tạo rahoặc khả năng cạnh tranh hoặc tăng trưởng cho mọi người. Và các tác giả thậm chí không kiểm tra xem liệu chúng có tạo ra hay không. (Trong trường hợp năng lực cạnh tranh, các vị đồng tác giả và tôi đã thấy rằng chúng không có).

Việc nhầm lẫn giữa “cái gì” và “làm thế nào” gây phản tác dụng. Nó đã khiến từng quốc gia, bao gồm Colombia, Mexico, Morocco, và Saudi Arabia, cố gắng cải thiện thứ hạng năng lực cạnh tranh của họ bằng cách thực hiện hành động dựa trên những gì có trong chỉ số nhưng không thực sự cải thiện hiệu quả hoạt động của họ. Và họ chậm trễ trong việc phát hiện ra, vì họ cải thiện thứ hạng của mình trong chỉ số.

Chúng ta không thực sự biết những gì có thể giúp tăng trưởng cho mọi người hơn, các nước cạnh tranh hơn, và phát triển bền vững hơn ở mỗi quốc gia và khu vực; và chúng ta không nên giả vờ rằng mình làm được. Chúng ta có thể giúp thế giới tiến bộ bằng cách đo lường những kết quả mà chúng ta quan tâm, tạo điều kiện bắt chước và theo dõi hiệu quả hoạt động. Nhưng nhầm lẫn giữa phương tiện và kết quả sẽ khiến tất cả chúng ta ăn mặc như George Clooney và tự hỏi tại sao mình không thực sự cảm thấy ngầu chút nào.

Nguyễn Hoàng Mỹ Phương dịch

Nguồn: “Learning Without Theory”, Project Syndicate, March 2016.

Ricardo Hausmann, cựu Bộ trưởng Bộ Kế hoạch của Venezuela và cựu Kinh tế Trưởng của Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ, là Giáo sư Thực hành Phát triển Kinh tế tại Đại học Harvard, nơi ông là cũng Giám đốc Trung tâm Phát triển Quốc tế. Ông là Chủ tịch Siêu Hội đồng Chương trình Nghị sự Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Tăng trưởng cho mọi người.