Phương tiện truyền thông trong chính trị Mỹ – Phần XI


Trò chơi số lượng

Nhân cách và kỹ năng là hết sức quan trọng để giải thích tại sao một số chính trị gia (và phóng viên) thành công hơn những người khác trong việc vun đắp mối quan hệ với phía bên kia. Đồng thời, những tình huống đòi hỏi các tác nhân này phải gắn kết với nhau dường như cũng là nhân tố quyết định khả năng tìm ra một giải pháp mang tính hợp tác cho tình huống tiến thoái lưỡng nan của họ. Với ý nghĩa rất thực tế, cả các chính trị gia và các phóng viên đều nhận thấy họ đang ở trong một trò chơi số lượng trên hai mặt trận. Lúc đầu, các phóng viên cạnh tranh với đồng nghiệp để đưa tin tức ra trước công chúng, và tiếp đó họ hớt tay trên của đồng nghiệp và tránh bị hớt tay trên. Có lẽ càng có nhiều phóng viên và chính trị gia thì cuộc cạnh tranh càng căng thẳng. Và tất nhiên, sự thành công của mỗi bên phụ thuộc vào việc nó có thể tương tác tốt ở mức nào với phía bên kia. Ở đây cũng vậy, số lượng là vấn đề quan trọng. Ở nơi có tương đối ít nguồn tin đảm nhận việc cung cấp số lượng lớn sản phẩm đầu ra cho tin tức, những nguồn này có được lợi thế trong việc xác định thông tin nào sẽ được đưa ra và nó được chuyển tải đến khán giả như thế nào.

Một trường hợp của trò chơi số lượng xuất hiện trong các chiến dịch vận động tranh cử tổng thống, khi đông đảo phóng viên phụ thuộc hoàn toàn vào các ứng cử viên và nhân viên của họ để thu lượm tin tức. Các phóng viên không phải chỉ được cung cấp những thông tin báo chí nhạt nhẽo đầy tinh thần tự chúc mừng của ứng cử viên, mà họ cũng có thể tìm ra những cách thức tiếp cận chiến dịch riêng để có được các cuộc phỏng vấn và những thông tin thú vị hơn nhiều, tùy thuộc vào việc họ đối xử với các ứng cử viên như thế nào trong các bản tin trước đó của mình. “Các chàng trai trên xe buýt” có thái độ hợp tác sẽ được thưởng công bằng quyền tiếp cận và những “bản sao” tốt. Những người mô tả các ứng cử viên và chiến dịch vận động theo khía cạnh bất lợi sẽ nhanh chóng nhận thấy bị “từ chối tiếp cận” và thậm chí có thể bị thay thế ở khu vực săn tìm khi tổ chức của họ tìm cách xây dựng lại đầu mối cho những bản tin.

Tuy nhiên, sự bất cân đối này đôi khi bị đảo ngược, khi có quá nhiều chính trị gia chạy theo một số lượng quá ít các tổ chức đưa tin. Các chính trị gia bị đặt trong tình thế đối nghịch này cũng sẽ cảm thấy không vui vẻ giống như những phóng viên bị nhét vào hàng cuối của chiếc xe buýt dành cho chiến dịch vận động, hoặc giống như phóng viên thường trú của đài CBS không may bị lạc trong sa mạc trong khi tìm kiếm tin tức về cuộc chiến. Trong thời kỳ hoàng kim của các tập đoàn báo chí, trước khi truyền thanh và truyền hình ra đời, các chính trị gia thường phải hạ mình trước các ông chủ đầy quyền uy của ngành công nghiệp báo chí. Trong cuộc cạnh tranh đôi khi điên cuồng để giành độc giả và các nhà quảng cáo, những dây chuyền báo chí toàn quốc này đã chuyển từ tin tức giật gân này sang tin tức giật gân khác, lôi kéo các chính trị gia theo họ. Khi tờ New York World của Joseph Pullitzer và các đối thủ cạnh tranh của nó bị thu hút bởi những sự kiện diễn ra tại Cuba năm 1898 – những sự kiện đã dẫn tới Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha – các nhà lãnh đạo Washington bắt buộc phải có phản ứng. Khoảng 25 năm sau đó, khi Quốc hội tiến hành soạn thảo quy chế điều tiết đói với việc cấp phép hoạt động cho các đài truyền thanh, các thành viên Quốc hội lo ngại trước nguy cơ độc quyền kiểm soát tin tức đã viết nên những quy định hết sức chặt chẽ, nhằm ngăn chặn nỗ lực mở rộng quyền kiểm soát của báo chí đối với loại hình phương tiện truyền thông tin tức mới xuất hiện này.

Mối quan hệ giữa chính trị gia – báo giới từ đó tới nay

Các phóng viên báo chí kỳ cựu đôi khi vẫn luyến tiếc nhớ lại “những ngày xưa tươi đẹp”, khi phóng viên báo in chi phối tin tức và hợp tác chặt chẽ với chính trị gia trên cơ sở sự tin tưởng lẫn nhau và lợi ích cho cả hai bên. “Những ngày xưa tươi đẹp” đó có lẽ không bao giờ quá tươi đẹp như nhận thức sau này, nhưng một nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính trị gia – báo giới trong những năm 1930 và 1940 đã cho thấy một mối quan hệ thoải mái và hài lòng cho cả hai bên hơn rất nhiều so với hiện nay. Đó là kỷ nguyên trong đó tin tức về nền chính trị quốc gia bị chi phối bởi một nhóm nhỏ phóng viên thường trú tại Washington, những người đã phối hợp với nhau trong công việc để giảm bớt sự cạnh tranh khốc liệt. Các phóng viên này đã vun đáp những mối quan hệ gần gũi, thường là thân thiết, với một số ít chính trị gia đang tích cực tìm cách ảnh hưởng tới tin tức.

Khi đó cũng như hiện nay, tổng thống luôn là tâm điểm chú ý của giới truyền thông. Trong những năm ở Nhà trắng, Franklin Roosevelt (1933 – 1945) đã thực hiện 998 cuộc họp báo (hai tuần một lần) với một nhóm các phóng viên thường xuyên có mặt tại Washington. Tổng thống đã sử dụng “những buổi tụ họp trong gia đình” này, như cách ông thường gọi, để đưa ra những thông báo quan trọng. Các phóng viên thích những buổi họp báo bởi chúng tạo ra một sân chơi bình đẳng và hạn chế sự cạnh tranh trong việc thu lượm tin tức. Có một lần, khi Roosevelt phá vỡ những kỳ vọng của họ và dành cuộc phỏng vấn cho một chủ bút lâu năm của tờ New York Times, một trong những đại diện của nhóm phóng viên này đã phê phán ông trong buổi họp báo sau đó. “Đầu tôi thật lú lẫn”, tổng thống thốt lên một cách bỡn cợt, nhưng ông hứng sẽ không bao giờ làm như vậy nữa và đã giữ lời trong suốt tám năm sau đó.

Các phóng viên tới Văn phòng bầu dục với hy vọng thu được những tin tức cứng giúp bảo đảm họ sẽ có chỗ trên trang nhất của tờ báo ngày hôm sau. “[Roosevelt] chưa bao giờ để họ ra về tay không”, một phóng viên kỳ cựu nhớ lại và nói thêm rằng tất cả các phóng viên “đều hết lòng đối với một người có thể mang lại cho họ những tiếng cười và một vài tin tức để đưa lên trang nhất trong một chuyến viếng thăm 20 phút”. Để đáp lại, họ đã dành cho ông và Chính sách mới của ông rất nhiều tin tức và nhìn chung là theo hướng tích cực. Như vậy, cả hai bên đều có được những gì họ cần từ mối quan hệ lâu bền này. Có hai yếu tố then chốt giúp họ thành công trong việc tìm ra một giải pháp cho tình thế nan giải của tù nhân và hợp tác hiệu quả với nhau, đó là tính ổn định của cộng đồng và quy mô nhỏ. Tổng thống đóng vai trò là người cung cấp thông itn có thẩm quyền và có sẵn hàng ngày, và ông biết tên gọi thân mật của tất cả các phóng viên tại Nhà trắng. Mối quan hệ công việc vững chắc này cho phép nhóm phóng viên tại đây cùng nhau phát triển quan hệ qua lại tốt đẹp với tổng thống.

Một số sinh viên báo chí cho rằng quan hệ hạn hẹp giữa chính trị gia và báo giới trong thời hiện đại là do mối nghi ngờ phổ biến trong giới phóng viên rằng các tổng thống sẽ nói dối bất cứ khi nào điều đó có lợi cho họ và họ nghĩ họ có thể thành công với việc đó. Các phóng viên kỳ cựu đã dẫn ra hai sự kiện cụ thể – Việt Nam và Watergate – như những ví dụ điển hình cho việc tạo ra khoảng cách lòng tin rộng khắp và kéo dài. Những lời cáo buộc về sự thao túng của tổng thống xuất hiện hàng ngày trong suốt cuộc chiến tranh ở Việt Nam – cuộc chiến diễn ra chủ yếu trong thời kỳ cầm quyền của Lyndon Johnson. Trước khi khoảng cách lòng tin có cơ hội biến mất, vụ bê bối Watergate bùng nổ, và cuối cùng, thông qua những nỗ lực bền bỉ của các phóng viên, Tổng thống Nixon buộc phải từ chức năm 1974. Cả hai sự kiện đều cho thấy các tổng thống đã che giấu thông tin trước giới truyền thông. Năm 1977, Jimmy Carter vào Nhà trắng và tuyên thệ công khai: “Tôi sẽ không bao giờ nói dối các bạn”, và điều này dường như chỉ làm tăng gấp đôi nỗ lực của các phóng viên nhằm bắt quả tang ông đang nói dối. Mặc dù những sự kiện này chắc chắn góp phần tạo ra khoảng cách lòng tin hiện nay của các chính trị gia đối với báo giới, song khoảng cách lòng tin thuộc loại này gắn với sự căng thẳng giữa những tin tức mà chính trị gia ưa thích. Khi những điều kiện chín muồi, sự nghi ngờ lẫn nhau sẽ bùng nổ.

Nếu mối quan hệ thân thiện của kỷ nguyên trước phản ánh bối cảnh của nó, thì quan hệ thường là gay gắt đặc trưng cho các giao dịch hiện đại giữa những tác nhân này cũng vậy; những lời cáo buộc về việc nói dối, thủ đoạn và thiên kiến nhiều khi trở thành chủ đề các cuộc họp báo của tổng thống. Thương trường tự do ngày nay của các chính trị gia và phóng viên là rất khác so với bối cảnh phối hợp hành động chung đã từng chi phối quan hệ giữa chính trị gia – báo giới trước đây. Washington hiện nay có rất nhiều chính trị gia tham gia các cuộc đàm thoại chính trị nhằm thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Theo một ước tính, chỉ riêng ở Washington mỗi ngày đã có khoảng hơn 10.000 quan chức chính phủ dính líu tới báo giới và các mối quan hệ công chúng, theo cách này hay cách khác. Đồng thời, số lượng các tổ chức nghề nghiệp và các nhóm lợi ích khác tìm cách ảnh hưởng tới công luận còn vượt xa con số này. Đối với rất nhiều nguồn cung cấp thông tin tiềm năng, rào cản lớn nhất tới thành công chính là khối lượng lớn các tin tức đang cạnh tranh nhau để được đưa lên phương tiện truyền thông mỗi ngày.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Lý thuyết gia đứng sau Tập Cận Bình – Phần cuối


Trung Quốc và những kẻ thù

Tuy nhiên, việc phương Tây đạt tới bá quyền toàn cầu đến lượt nó lại tạo ra những thay đổi to lớn hơn. Ông Vương đặc biệt lưu ý tới một hiện tượng kỳ lạ. Đó là tại sao các nước tư bản sau khi thống trị phần còn lại của thế giới lại dần từ bỏ chủ quyền quốc gia phương Tây để tiến đến một tầm nhìn phổ quát về “điều hành toàn cầu”, “nhân quyền” và những thứ tương tự vậy? Ông lý giải chủ đề này trong nghiên cứu của mình, cũng chính là một bài viết đăng vào năm 1985 có tiêu đề “Về những phát triển mới trong Lý thuyết Hiện đại về Chủ quyền”, hay trong cuốn “Chủ quyền Nhà nước” xuất bản năm 1987 và nhiều ấn phẩm khác đầu thập kỷ 1990.

Vương Hộ Ninh cho rằng không phải ngẫu nhiên mà các nước phương Tây phát triển quan điểm bác bỏ chủ quyền nhà nước và chuyển sang ý tưởng toàn cầu ngay chính tại thời điểm họ tìm cách củng cố kiểm soát các đế chế thuộc địa rộng lớn. Sau Chiến tranh thế giới thứ Nhất, khi không còn nhiều vùng đất để xâm chiếm, nhưng lại có quá nhiều lãnh thổ chiếm đoạt cần phải giữ cho được, các quyền lực thực dân thiết lập những thiết chế quốc tế, như Hội Liên quốc, cùng với cách thức mới để bao biện cho việc thực thi kiểm soát thực dân hoặc bán thực dân đối với nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn trên thế giới, trong đó có nhiều vùng thuộc Trung Quốc. Cùng lúc, ý tưởng về tự quyết quốc gia vốn phát triển mạnh trong lý thuyết chủ quyền truyền thống thoái lui nhằm duy trì nguyên trạng quốc tế. Sau Chiến tranh thế giới thứ Hai và Chiến tranh Lạnh, các nước lãnh đạo phương Tây tiếp tục kìm kẹp hay kiểm soát tiến trình phi thực dân hóa, thường hợp tác để đè nén các dân tộc mà theo quan điểm của ông Vương là thực sự đại diện cho ý chí chính trị của Thế giới thứ ba. Việc Mỹ tiếp tục các nỗ lực kiềm chế CCP lúc đó có thể được cắt nghĩa từ khía cạnh này, như là một phần trong các nỗ lực bấy lâu của phương Tây duy trì chủ quyền đối với thế giới phi phương Tây, không cho phép dân tộc ngoài phương Tây có quyền chống lại nền thống trị này.

Vì thế khi nhà khoa học chính trị Samuel Huntington đưa ra thuyết “Xung đột giữa các nền văn minh” vào đầu thập kỷ 1990 với luận điểm xung độ giữa các nhóm văn minh lớn như Đạo Khổng, Đạo Hồi và thế giới phương Tây sẽ quyết định địa chính trị thế kỷ 21, Vương Hộ Ninh đã sẵn sàng tung ra một nghiên cứu về ý tưởng này, có sức nặng và có lợi cho đảng. Theo ông Vương, những giá trị được cho là phổ quát của văn minh phương Tây chính là hình thức của “bành trướng văn hóa” được thúc đẩy để xâm nhập xã hội Trung Quốc. Trung Quốc chỉ có thể chống lại được khi CCP đủ sức khẳng định vững chắc “chủ quyền văn hóa”, một thuật ngữ mà Vương là người đưa ra nhằm chỉ khả năng của Trung Quốc trong duy trì độc quyền tư tưởng và thống nhất chính trị chống lại chỉ trích của thế giới bên ngoài.

Theo quan điểm của ông Vương, những thảm kịch như đụng độ bạo lực sau khi xảy ra các cuộc biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn, là hệ quả tất yếu từ việc cho phép công dân được tiếp cận ảnh hưởng nước ngoài, làm suy yếu quyền lực nhà nước và kết cục là đe dọa đẩy Trung Quốc trở về cảnh chia cắt cát cứ. Vì thế cả chủ quyền bên ngoài của Trung Quốc, hay chính là tự do từ kiểm soát trực tiếp từ phương Tây và chủ quyền bên trong – tức năng lực của nhà nước trong tổ chức xã hội và ngăn chặn xung đột giữa các nhóm và giai tầng lợi ích, phụ thuộc vào khả năng của đảng trong xác định và áp đặt các giá trị chính trị và đạo đức theo ý muốn và được tuân thủ.

Lý luận của Vương Hộ Ninh mang tính tiêu cực, được hình thành trên việc đánh bại những ác quỷ tiềm tàng thay vì đạt tới một tầm nhìn tích cực phía trước. Và dù CCP tự mình tìm cách đề cao lý luận truyền thống Trung Hoa, các nghiên cứu của Vương Hộ Ninh không cho thấy điểm đáng chú ý nào về quan niệm chủ nghĩa vị chủng dân tộc trong vấn đề nhà nước. Trong tư tưởng của Vương, ít có chỗ cho những yếu tố thuộc bản chất Trung Hoa. Thay vào đó ông chú ý nhiều đến năng lực nhà nước và tầng lớp mà nhà nước là người đại diện lợi ích trong trung hòa bất kỳ một thế lực nào có ý định chia rẽ và làm suy yếu họ. Tương tự như vậy, các tác phẩm của Vương thời kỳ tiền Thiên An Môn đôi khi đề cập đến yêu ầu cần cải cách hài hòa, nhưng những ý tưởng đó luôn được đặt dưới việc phụng sự và phục vụ cho mục tiêu lớn hơn – đó là duy trì quyền lực nhà nước. Cuối cùng, phải thấy rằng không một khái niệm trừu tượng nào – dù là tự do, công lý, công bằng, hài hòa xã hội, nhân từ Khổng giáo, khiến Vương Hộ Ninh quan tâm bằng với thực tế chân thực về quyền lực, tuân thủ và trật tự.

Lý thuyết gia của Đảng

Việc Vương Hộ Ninh quá chú trọng vào chủ quyền cùng với những nghi ngờ của ông đối với xâm lấn văn hóa phương Tây vẫn thể hiện thống nhất trong các bài viết, ấn phẩm trong thập kỷ 1980 và 1990. Năm 1995, Tổng Bí thư Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) cùng với Tăng Khánh Hồng (Zeng Quinghong) và Ôn Gia Bảo triệu hồi ông Vương vào Văn phòng nghiên cứu Chính sách Trung ương Đảng, nghiên cứu, xử lý các vấn đề thuộc hệ tư tưởng. Tại đây, Vương Hộ Ninh là người giúp dự thảo thuyết “Ba đại diện”, được xem là đóng góp hệ tư tưởng của Giang Trạch Dân đối với điều lệ đảng. Những năm sau đó, ông Vương chính là người đảm nhận vai trò lãnh đạo trong phát triển lý thuyết của các đời Tổng Bí thư kế nhiệm, nổi bật là “Quan điểm phát triển khoa học” của Hồ Cẩm Đào và “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”. Ông Tập là nhà lãnh đạo đầu tiên sau Mao Trạch Đông có tên được ghi vào Điều lệ Đảng. Chính ở Tập Cận Bình, ông Vương lần đầu tiên nhận ra một “Quân vương” mạnh mẽ, mẫu hình mà Machiavelli từng tìm kiếm (tác phẩm cùng tên, The Prince) người có khả năng hiện thực hóa các ý tưởng của Vương Hộ Ninh về bảo vệ chủ quyền Trung Quốc và chống lại phương Tây.

Ủng hộ của Vương Hộ Ninh với Tập Cận Bình  sẽ ngày một bền chặt hơn, khi Vương đạt tới vị trí hiện tại không phải bởi quyền lực cá nhân ông, mà là do những toan tính của chính trị tinh anh. Đáng chú ý, là người làm việc gần gũi với ba đời lãnh đạo Trung Quốc thời kỳ hậu Đặng Tiểu Bình, Vương Hộ Ninh là Ủy viên Bộ Chính trị duy nhất mà cả Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình đều không có bất kỳ cảm giác bị đe dọa, bất tuân. Những lý thuyết gia của Đảng trước đây – dù leo tới các vị trí quyền lực cao như Trần Bá Đạt hay như những người nghi ngờ cải cách về sau như Hồ Kiều Mộc (Hu Qiaomu), Đặng Lực Quần (Deng Liqun giống nhau ở điểm họ thăng tiến hay ngã ngựa đều là do những thay đổi từ người bảo trợ tinh anh. Ý thức được điều này, Vương Hộ Ninh sẽ lại càng có thêm lý do để bảo đảm những đóng góp tư tưởng của cá nhân ông sẽ tiếp tục nhằm hợp thức quyền lực không thể thách thức của đảng và của Tập Cận Bình. Thực tế, kể từ sau tháng Đại hội 19, ông Vương công khai kêu gọi giới báo chí “kiên định theo đảng” và đưa ra nhiều bình luận đối với giới lãnh đạo công nghệ Trung Quốc và phương Tây về nhu cầu cần bảo vệ “chủ quyền mạng” đối với Trung Quốc.

Hiện chưa có đánh giá thống nhất về ảnh hưởng của Vương Hộ Ninh. Một số xem ông là người thực sự tin theo “chủ nghĩa tân chuyên chế”, số khác nhìn nhận Vương là người có tư tưởng tự do thận trọng, dựa trên những phát biểu của ông về giá trị dân chủ và pháp trị đối với các nhà nước hiện đại. Vậy nhưng sẽ là sai lầm nếu ai đó cố tìm kiếm tầm quan trọng tuyệt đối của cá nhân Vương Hộ Ninh để thu vén lợi ích cá nhân, dù là vai trò đó đã được thừa nhận hay còn “giấu kín”. Ngay cả khi tiến sát tới đỉnh cao quyền lực, Vương vẫn là người một mực quy lụy lợi ích của CCP. Công việc của Vương Hộ Ninh sẽ vẫn là phục vụ đảng. Thực tế, chính những lý thuyết của Vương đã là câu giải thích cho sự lệ thuộc của ông.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/china/2017-12-04/chinas-crown-theorist

TKNB – 11/12/2017

Vụ Sabeco lộ ra nhiều nguy cơ


Các chuyên gia kinh tế bày tỏ lo ngại về việc hơn 50% cổ phần của Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) rơi vào tay một nhà đầu tư nước ngoài. Họ cho rằng không nên vì cần tiền trả nợ mà làm lợi cho tư nhân nước ngoài, phá hỏng thương hiệu Việt.

Từ thành phố New York, Tiến sĩ kinh tế Vũ Quang Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia thuộc Cục Thống kê Liên hợp quốc, nói với VOA rằng việc bán cổ phần Sabeco cho nhà đầu tư nước ngoài đi ngược lại chính sách phát triển kinh tế tư nhân mà Việt Nam từng hô hào:

Chiến lược đi bán cho nước ngoài không phải là chiến lược phát triển tư nhân trong nước mà là phát triển kinh tế tư nhân nước ngoài. Bây giờ hướng họ giải quyết là ngược lại. Họ bán những công ty này cho nước ngoài. Sabeco là công ty có nhiều người trong nước biết và có lợi nhuận rất cao.

Tôi nhìn lại thống kê của Việt Nam và thấy rằng nền kinh tế tư nhân trong nước có chiều hướng giảm. Năm 2005 GDP của khu vực tư nhân là 8,5%, đến năm 2016 chỉ còn 8,26%. Trong khi đó, kinh tế của khu vực nước ngoài (FDI) tăng từ 15 – 18%. Vấn đề đặt ra là chính phủ Việt Nam muốn gì?”

Tiến sĩ Vũ Quang Việt nhận định, nếu Việt Nam muốn ưu tiên phát triển kinh tế trong nước thì nên bán các doanh nghiệp làm ăn sinh lãi như Sabeco cho các nhà đầu tư ở trong nước. Ông nêu ra một số nghi vấn về động cơ bán cổ phần Sabeco cho nước ngoài: “Sabeco đang có lãi trong khi rất nhiều công ty quốc doanh khác thua lỗ, tại sao không tìm cách bán những công ty không có lãi cao? Không cải cách những công ty lãi ít? Tại sao lại bán đi những công ty đang đóng góp lợi nhuận cho ngân sách quốc gia? Nếu phân chia cổ phần và bán trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì có rất nhiều người Việt Nam mua”.

Ngày 22/12, ThaiBev công bố thông tin về thương vụ mua cổ phần Sabeco lên Sở Giao dịch chứng khoán Singapore.

ThaiBev nói Sabeco là doanh nghiệp có chất lượng cao với lịch sử hơn 140 năm và có thương hiệu nổi tiếng như bia Sài Gòn và Bia 333. Sabeco có thị phần lớn nhất trong ngành bia Việt Nam, tình hình tài chính và kinh doanh tăng trưởng tốt. ThaiBev cho rằng thị trường bia Việt Nam rất hấp dẫn với vị trí lớn nhất ASEAN và đứng thứ 3 châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản.

Sabeco hiện chiếm hơn 40% thị phần Việt Nam và đạt lợi nhuận trước thuế hơn 5700 tỉ đồng trong năm 2016.

Báo Dân trí trích lời chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói:

Tôi đau nhất vẫn là không chỉ Sabeco mà nhiều doanh nghiệp nhà nước sau bao năm nuôi dưỡng, phải bán cho đối tác ngoại… Các doanh nghiệp trong nước vẫn đủ điều kiện để mua và có thể mua được. Tôi nghĩ xu hướng sính ngoại không chỉ trách người dân Việt Nam mà chính ngay từ chính sách chúng ta”.

Trong quá trình mua bán – sáp nhập (M&A), nhiều doanh nghiệp tầm trung tại Việt Nam đã bị “thôn tính”, nhưng những thương hiệu lớn như Sabeco và trước đó là Vinamilk, cũng lần lượt rơi vào tay nước ngoài là một làn sóng “rất đáng lo”.

Từ Hà Nội, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói rằng ngay từ đầu, các nhà đầu tư Việt Nam có tham gia mua cổ phần Sabeco, nhưng họ phải chấp nhận thua cuộc vì phía nước ngoài “đẩy giá quá cao”:

Chúng ta cần phải thấy là các nhà đầu tư Thái Lan đã nâng giá lên rất cao, vì vậy, nhà đầu tư Việt Nam rất cân nhắc. Lúc đầu, cũng có nhà đầu tư Việt Nam tham gia, nhưng khi đẩy giá lên cao thì các nhà đầu tư Việt Nam rời khỏi cuộc đua đó. Đó là sự tính toán chuyên nghiệp, hoàn toàn là phương thức đầu cơ để nhà đầu tư Thái ôm trọn cổ phiếu bán ra”.

Tiến sĩ Doanh cảnh báo rằng Sabeco, “con gà đẻ trứng vàng của Việt Nam”, khi được chuyển sang nhà đầu tư nước ngoài thì lợi nhuận mà công ty này thu được, phần hơn sẽ thuộc về nhà đầu tư nước ngoài.

Trả lời báo Straight Times, ông Phạm Phú Ngọc Trai, cựu Tổng giám đốc Pepsico Việt Nam, đồng thời là Chủ tịch GIBC cũng nhìn nhận các nhà đầu tư Thái có nhiều lợi thế hơn các đối thủ khác.

Bà Vũ Kim Hạnh, cụu Tổng Biên tập báo Sài Gòn tiếp thị, một trong những người sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp (SBA), công khai bày tỏ sự lo âu với báo chí: “Sau 7 năm vận động ưu tiên dùng hàng Việt, nay lại muốn đem bán hết những thương hiệu Việt mạnh nhất”.

Báo Người Lao động cảnh báo về nguy cơ “thiếu vắng tinh thần dân tộc” trong vụ Sabeco. Tờ báo này nói Thái Lan là đối thủ của Việt Nam về hàng tiêu dùng, khi lĩnh vực này bị thống trị bởi tỉ phú người Thái gốc Hoa thì hàng Thái và hàng Trung Quốc càng dễ đánh bật hàng Việt ngay trên “sân nhà” Việt Nam.

Tiến sĩ Vũ Quang Việt lý giải rằng có thể vì Việt Nam cần tiền trả nợ nước ngoài nên đành phải bán nững doanh nghiệp “ăn nên làm ra” như Sabeco:

Cả một thời gian dài vừa rồi, Việt Nam mượn vốn nước ngoài để phát triển doanh nghiệp quốc gia và hầu hết là lỗ và gây nợ rất lớn. Sắp tới phải trả khảon nợ chiếm 20% ngân sách quốc gia. Muốn tiếp tục có vốn cho các doanh nghiệp này thì họ nghĩ ngay đến việc bán công ty Việt Nam cho nước ngoài. Nhưng vốn này chưa chắc giúp nền kinh tế phát triển mà chỉ tiếp tay cho tham nhũng, tiêu hoang giống như từ trước đến nay”.

Ngay sau vụ Sabeco bị “thôn tín”, ông Trương Thanh Hoài, Cục trưởng Cục Công nghiệp Bộ Công Thương khẳng định với báo chí rằng Sabeco vẫn là doanh nghiệp Việt Nam, và “thương hiệu bia Việt Nam vẫn được giữ gìn và phát triển”.

Nguồn: TKNB – 28/12/2017

Phải cẩn thận với bệnh đột phá


Nhận xét về ý tưởng hướng TPHCM thành một đặc khu kinh tế, Luật sư Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch Công ty Invest Consult nói: “Đó là ý tưởng táo bạo”. Tuy nhiên, ông cũng nói: “Chúng ta luôn phải cẩn thận với bệnh: Đột phá”.

Thưa ông, ông có nhận xét gì về ý tưởng của Bí thư Thành ủy TPHCM, ông Đinh La Thăng muốn Thành phố này thành một ĐKKT ?

Đây là vấn đề rất khó. Về mặt ý tưởng, tôi không có lý do gì để không ủng hộ việc TPHCM đưa ra các đề xuất cải tiến mô hình để tạo ra một vùng kinh tế tốt hơn, trở thành vùng kinh tế động lực của khu vực phía Nam. Tuy nhiên, áp dụng kinh nghiệm của các đô thị phát triển trên thế giới cho các thành phố của Việt Nam, ví dụ trường hợp thành phố Thượng Hải, thì không đơn giản và cũng không dễ. Xét các điều kiện địa kinh tế thì thành phố Thượng Hải thuận lợi hơn TPHCM nhiều, vì Thượng Hải ở gần các trung tâm phát triển nhất của châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.

Sở dĩ người ta đưa ra mô hình các khu kinh tế mở, các thành phố mở là để thể nghiệm sự mở từ từ của một quốc gia. Khi chưa thực hiện được các điều kiện mở trọn vẹn ở qui mô quốc gia thì người ta thực hiện trong các vùng địa lý hẹp hơn và qua các giai đoạn mở ở cấp độ khác nhau, từ khu kinh tế mở đến thành phố mở như Thượng Hải. Đấy là những thể nghiệm từng bước của Trung Quốc trong việc tiếp cận dần dần với các tiêu chuẩn mở của một thành phố hiện đại. Chúng ta có điều kiện ấy hay không? TPHCM có những hàng xóm sung túc để có thể mở và có hiệu quả không?.

Chúng ta đã mở một loạt khu kinh tế ở miền Trung Việt Nam như Vân Phong, Chu Lai, Dung Quất, nhưng cho đến phút này chưa thành công ở khu nào. Tôi có dịp tham gia vào giai đoạn đầu của các khu kinh tế ấy và đã phát biểu rằng chưa đến lúc làm được chuyện ấy. Phải nói thẳng là các điều kiện tự nhiên, điều kiện tiềm năng của chúng ta hẹp, có mở nữa cũng vẫn không hấp dẫn.

Đề xuất của ông Đinh La Thăng phải chăng hướng tới một cải cách về thể chế để tạo cơ chế cho TPHCM có bước đột phá, phát triển ?

Tôi cho rằng, không nên xem việc cải cách thể chế, kể cả cải cách mô hình chính quyền như là một biện pháp dẫn đến việc cung ứng năng lượng phát triển một cách vô tận. Chúng ta vẫn quan niệm cải tiến chế độ chính trị hoặc chế độ hành chính thì sẽ hấp dẫn hơn. Nhưng đấy là kinh nghiệm của những nước chưa mở. Nếu đủ mạnh dạn để mở về mặt chính trị thì liệu sự mở ấy có tất yếu dẫn đến sự phát triển không? Cũng không.

Nghiên cứu để mở thì tốt, nhưng hy vọng mở sẽ tạo ra sự phát triển ồ ạt thì phải coi chừng, nhất là khi chúng ta mở mà có đầu tư. Nếu chỉ mở về chính sách không thôi thì có thể thay đổi được, nhưng khi đã bỏ tiền đầu tư thì phải cẩn thận, bởi vì những đầu tư ấy chủ yếu là đầu tư cho cơ sở hạ tầng rất lớn. Có thể chúng ta sẽ phạm phải sai lầm là đầu tư rất nhiều dẫn đến tình trạng nợ công cao mà lại không hiệu quả.

Nếu nhìn vào các khu kinh tế như Chu Lai, Dung Quất, Vân Phong… vừa qua, hầu hết đều mở các chính sách về thuế, đất đai, tài chính, miễn giảm rất nhiều thứ, nhưng hầu hết thất bại, nó chứng tỏ điều gì, thưa ông?

Nó chứng tỏ tất cả các sửa đổi có chất lượng chính sách không đủ để thay thế sự trống rỗng của các nguồn lực. Bởi vì phát triển về bản chất vẫn là phát triển các nguồn lực. Ví dụ, nguồn lực quan trọng nhất là thị trường lao động. Với tình trạng giáo dục, đào tạo như hiện nay chúng ta có thể cung ứng những người quản lý và những người lao động đủ chất lượng chưa? Khi không có các nguồn lực dù chính sách hay mấy cũng vẫn thế.

Ai cũng hỏi tại sao Singapore thành lập năm 1965 mà họ phát triển thế. Chúng ta nên nhớ rằng Singapore là một lỗ thủng được tạo ra từ sự kín bưng của cả khu vực Đông Nam Á. Tất cả những gì có giá trị tích cực cho sự phát triển đều chảy về Singapore. Trong lịch sử dân tộc của chúng ta khoảng hơn 200 năm trở lại đây chưa có ai được đào tạo kĩ như ông Lý Quang Diệu. Hình như chúng ta quên mất những chuyện như vậy.

Nhưng cứ e ngại mà không cố gắng thử nghiệm cho một hướng đi mới ở ta, dù thực tế đã thành công ở nơi khác thì làm sao có phát triển, đột phá, thưa ông ?

Chúng ta luôn luôn phải cẩn thận với bệnh sốt ruột, bệnh đột phá. Phát triển là quá trình chuyển hóa các năng lực của con người, năng lực chưa có là do lịch sử, năng lực có rồi mà chưa chuyển hóa được là do thể chế. Chúng ta chưa có cả năng lực lẫn các điều kiện thể chế để cho các năng lực chuyển hóa nhưng lại đòi hỏi phải bằng Singapore. Có một thời gian khá dài tôi làm việc với các tập đoàn lớn của họ và tiếp xúc với một số quan chức cấp bộ trưởng, nói đến cái gì họ cũng hiểu, hỏi câu khó mấy họ cũng trả lời được và trả lời có cơ sở khoa học chứ không phải chỉ là có lý về mặt chính trị đâu. Họ toàn học ở Cambridge và Oxford về cả. Chúng ta không có những người như thế.

Đặt ra vấn đề này có cần cho TPHCM không? Những dấu hiệu ban đầu nói rằng có thể cần, nhưng liệu có đúng lúc không và có tiềm năng thực hiện không, kể cả ở mức thấp là xây dựng mô hình mới của chính quyền đô thị? Tôi ủng hộ về mặt ý tưởng và kêu gọi sự thận trọng nghiên cứu để lựa chọn một cách đúng đắn.

– Xin cảm ơn ông!

Mạnh Quân (thực hiện)

Nguồn: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/chuyen-gia-nguyen-tran-bat-phai-can-than-voi-benh-dot-pha-20160330002402481.htm

Sự phát triển của hai truyền thống tư tưởng và sự xuất hiện của Trung quán tông – Phần XI


Ᾱrya Deva là cao đồ và là người nối pháp sáng giá của Nāgārjuna. Chính nhờ ông mà Trung quán tông mới được phổ biến rộng rãi và phát triển vững chắc. Nāgārjuna dùng biện chứng pháp để luận phá tông phái Ᾱbhidharma, và xác lập Tánh Không thành giáo lý trọng tâm của kinh điển. Đối với hữu ngã luận, ông chỉ đề cập một cách gián tiếp qua loa. Tuy nhiên, ông lại rất thành thạo triết học của Sãḿkhya và thậm chí Vaiśeṣika. Hệ thống triết học Trung quán tông chủ yếu là một cuộc cách mạng tư tưởng trong Phật giáo, do đó Nāgārjuna tập trung vào Phật giáo sơ kỳ là điều dễ hiểu. Trong tư tưởng Ᾱrya Deva, chúng ta không chỉ thấy sự phê phán các học phái Ᾱbhidharma mà còn tập trung phần lớn vào các khái niệm của Sãḿkhya và Vaiśeṣika. Điều này được thể hiện đầy đủ trong tác phẩm chính Catuh Śataka (Tử bách luận) của ông. Trong thực tế còn cần phải củng cố lập trường Trung quán tông trước các triết học ngoại đạo phi Phật giáo, và phải chứng tỏ biện chứng pháp cũng có giá trị tương đương trong việc phá bỏ kiến chấp của các tông phái đó. Song song với những tài liệu chứng minh Ᾱrya Deva là một luận sư vĩ đại, và đã khuất phục nhiều đối thủ trong các cuộc tranh luận, chúng ta còn tin chắc rằng ông có vinh dự là người đặt nền tảng cho hệ thống triết học Trung quán tông cùng với thầy mình là Nāgārjuna.

Tư liệu đáng tin cậy nhất về những sự kiện chính trong cuộc đời luận sư Ᾱrya Deva được Candrakīrti trình bày trong lời giới thiệu của bản chú sớ Catuh Śataka (Tứ bách luận): “Ᾱrya Deva sinh ra ở đảo Sinhala, và là con của vị vua cai trị xứ đó. Sau khi được tấn phong làm thí tử, ông quyết tâm từ bỏ thế gian để đi về phương Nam, và trở thành môn đồ của Nāgārjuna, rồi tu tập theo giáo lý của vị này. Do đó, chánh pháp trong tác phẩm Tứ bách luận của ông không có gì khác với chánh pháp trong Trung luận kệ tụng của Nāgārjuna. Kẻ nào cho rằng giáo lý của hai vị luận sư có sự sai biệt thì chứng tỏ kẻ đó kiến thức quá hời hợt, thô thiển, chỉ toàn là tưởng tượng sai lầm”.

Ᾱrya Deva rất có thể đã sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ II và đầu thế kỷ thứ III. Catuh Śataka (Tứ bách luận – hoặc chỉ đơn giản là Śataka) là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Trừ một vài phân đoạn rời rạc, nguyên bản tác phẩm này đã bị thất lạc, nhưng toàn bộ nội dung được lưu giữ đầy đủ trong bản dịch Tạng ngữ, nhờ đó mà nguyên bản Phạn ngữ đã được phục hồi. Dharmapāla (Hộ Pháp) và Candrakīrti đã viết nhiều bản chú sớ về luận điển này. Người trước chú giải được khoảng một nửa tác phẩm, còn người sau chú giải toàn bộ. Tứ bách luận có 400 bài tụng được sắp xếp cân đối thành 16 phẩm, mỗi phẩm có 25 kệ tụng. Nửa đầu của tác phẩm trình bày pháp môn tu tập của Trung quán tông, nửa sau đả phá kiến chấp của ngoại đạo cùng các tông phái Phật giáo khác như Sãḿkhya và Vaiśeṣika. Văn phong và nội dung của tác phẩm này chẳng khác gì Trung luận, và tầm quan trọng của nó trong hệ thống triết học. Trung quán tông chỉ đứng sau tác phẩm Trung luận mà thôi. Candrakīrti nhiều lần trích dẫn Tứ bách luận trong tác phẩm Trung luận thích luận, xem như là chứng điển cho các phát biểu của mình. Ᾱrya Deva đã phát huy lập trường tư tưởng chân chính của Trung quán tông, và tác phẩm này kết thúc bằng một bài kệ tụng mang đặc điểm của biện chứng pháp.

Śata Śātra (Bách luận được Kumārajīva dịch sang Hán ngữ năm 404) và Śata Śātra Vailupya (Quảng bách luận được Huyền Trang dịch sang Hán ngữ năm 605) có lẽ là 8 phẩm cuối cùng của Tứ bách luận, và nội dung bị xáo trộn rất nhiều.

Akṣara Śatakam (Bách tự luận rất có thể là tác phẩm của Ᾱrya Deva. Nguyên điển Phạn ngữ đã bị thất lạc nhưng bản dịch Hán ngữ vẫn còn. Còn có một bản dịch Tạng ngữ nhưng lại bị gán lầm cho Nāgārjuna. Về tính chân thực của tác phẩm này, ông Gokhale đã nhận xét:

Về mặt văn bản thì không thể xem Ᾱrya Deva là tác giả của Bách tự luận được. Nhàn đề của luận điển đúng là mang đậm phong cách của Ᾱrya Deva nên ta dễ bị lầm lẫn khi sắp xếp nó cùng chúng với các tác phẩm khác theo thứ tự thời gian: Tử bách luận, Bách luận và Bách tự luận. Tử bách luận nằm ở đầu danh sách các tác phẩm này khiến cho hệ thống có vẻ hợp lý hơn, và cho đến tận ngày nay, các luận điển đó đã phát triển thành nội dung nhất quán là đả phá trực tiếp triết học của Sãḿkhya Vaiśeṣika, vốn là những tông phái được hình thành vào thời kỳ Ᾱrya Deva và là đối thủ đáng gờm nhất của Phật giáo”.

Tuy nhiên có một điều mà ta phải chấp nhận, đó là Bách tự luận không hề dễ hiểu chút nào, cho dù có các chú sớ đi kèm. Xu hướng chung của luận điển này là phản bác cả lập trường đồng nhất lẫn dị biệt (bhāvā naikatvam bhinnatvam api), cả hữu lẫn vô (sat asatkāryavāda), và xác lập quan điểm nhất thiết pháp đều là huyễn tướng (svapnasamam). Hai mươi mệnh đề kỳ dị – tạo thành toàn bộ nội dung luận điển – được giới thiệu một cách đột ngột và bàn luận sơ sài đến nỗi chúng không giúp ta hiểu thêm về hệ thống triết học Trung quán tông được chút nào.

Tác phẩm Hasta-valā-Prakaraņa (Chướng trung luận), mà trong Hán tạng lại bị gán lầm cho Dignāga (Trần Na) – có thể xem là một nỗ lực khác của Ᾱrya Deva trong việc tóm lược nội dung giáo lý Trung quán tông trong sáu bài kệ. Cũng giống như nhìn dây thừng tưởng lầm là con rắn, nếu quán chiếu vạn pháp đến chỗ rốt ráo tận cùng, ta sẽ thấy chúng đều vô tự tính khi tách rời các thành phần cấu tạo nên chúng; nhưng chính các thành tố bất khả phân đó cũng không thực hữu. Người có tuệ trí thì tâm không còn chấp trước, nên không còn sợ hãi trước “con rắn dây thừng”. Sự khác biệt giữa tục đế hay chân lý thường nghiệm (lautika) và chân đế hay chân lý tuyệt đối (Paramārtha) được luận bàn trong bài kệ cuối của tác phẩm này.

Cittaviśuddhi Prakaraņa (Thanh tĩnh tâm luận) và Jňanasāra Samuccaya (Cam lồ trí tập) cũng được cho là do Ᾱrya Deva sáng tác, dù không có chứng cứ vững chắc. Trong Tam tạng Hán ngữ, thì hai luận điển sau đây, được nhắc tới trong kinh Lăng Già (Lankāvatāra Sūtra), cũng được gán cho Ᾱrya Deva:

+ Đề-Bà-Bồ-Tát phá Lăng-Già kinh trung ngoại đạo tiểu thừa tứ tông luận.

+ Đề-Bà-Bồ-Tát thích Lăng-Già kinh trung ngoại đạo tiểu thừa Niết Bàn luận.

Nếu điều này là thật thì nó sẽ cung cấp thêm cho ta những thông tin về một số tông phái và tôn giáo như Māheśvara, Vaiṣņava

B/ Giai đoạn thứ hai: Buddha-Pāita (Phật Hộ) và Bhāvaviveka (Thanh Biện)

Hai vị luận sư này đã mở ra một kỷ nguyên phát triển mới cho Trung quán tông. Buddha-Pālita xem điểm cốt tủy tinh yếu trong phương pháp lập luận của Trung quán tông là sử dụng prasanga-vāya tức lý luận quy kết bội lý [reductio ad absurdum]. Tư tưởng chân chính của Trung quán tông không thể phát huy được lập trường của Buddha-Pālita, nên ông không cần phải xây dựng tam đoạn luận, cũng không cần nhờ đến lý luận và ví dụ minh họa. Nỗ lực duy nhất của vị luận sư này là quy kết mọi lý luận của đối thủ vào chỗ phi lý, ngay cả đối với những nguyên lý được họ chấp nhận. Chúng ta có những bằng chứng cụ thể cho thấy Candrakīrti từng phát biểu rằng Buddha-Pālita xem quy kết bội lý hay quy mậu chứng pháp là phương pháp lý luận chân chính của Nāgārjuna và Ᾱrya Deva. Do đó, ông đã khai sáng nên hệ phái Prāsangika (Quy mậu luận chứng) của Trung quán tông.

Bhāvaviveka – còn gọi là Bhavya, người trẻ tuổi cùng thời với Buddha-Pālita – đã phê phán Buddha-Pālita chỉ biết đắm chìm trong việc đả phá chỉ trích mà không đề xuất được một lập trường tư tưởng đối lập. Tựa hồ như ông kiên quyết cho rằng Trung quán tông có thể đề xuất một quan điểm đối lập, vì khi phê phán lập luận trong nhân có quả (satkāryavāda: nhân trung hữu quả luận), thì phải đề xuất quan điểm nhân quả khác. Song hoàn toàn không thể biết chắc liệu Bhāvaviveka – bản thân một luận sư Trung quán tông – có ý tưởng này hay không. Hoặc có thể ông có riêng một lập trường đặc biệt đối với thực thể tồn tại trong thế giới kinh nghiệm, hoặc mục đích của ông là biện chính cho tính hợp lý trong thế giới thường nghiệm của hai luận chấp. Rất tiếc hiện không còn một tác phẩm nào của ông trong nguyên bản Phạn ngữ để làm sáng tỏ sự khác biệt giữa hai tông phái này. Bhāvaviveka là khai tổ của Svatantra [Svātantrika] Mādhyamika (Trung quán tự lập luận chứng phái). Tông phái này ban đầu có một số tín đồ, về sau kết hợp Sautrātika với Yogāāra. Candrakīrti phê phán nặng nề Bhāvaviveka về tính bất nhất này, vì dù là một học giả Trung quán tông mà ông lại đề xuất những luận chứng độc lập và ham thích biểu hiện kỹ xảo biện luận của một nhà lý luận. Thậm chí Ᾱrya Deva còn bị Candrakīrti chỉ trích vì đã phát biểu không chính xác về lập trường tư tưởng của đối phương. Theo một tư liệu liên quan khác, dường như Bhāvaviveka chủ trương liễu ngộ Tánh Không cũng không phải là điều tuyệt đối cần thiết để nhập Niết Bàn, và ông thừa nhận hàng Thanh Văn ((Śrāváka) và Duyên Giác (Pratyekabuddha) cùng có thể đạt đến quả vị giải thoát cuối cùng. Rõ ràng là điều này đối chọi lại Nhất thừa luận (ekanayavāda) của Nāgārjuna, theo đó những tín đồ nhiệt tâm của những tông phái khác phải tu tập theo pháp môn Tánh Không mới có thể đạt đến quả vị giải thoát cuối cùng được.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy triết học Phật giáo – NXB HĐ 2013.

Tư tưởng Trung Quốc – Phần đầu


Khi Phật giáo đến Trung Quốc trong khoảng thế kỷ thứ I thì gặp nơi đó một nền văn hóa hơn hai ngàn năm. Trong nền văn hóa này, các tư tưởng triết học đạt đỉnh cao trong những thời đại sau của nhà Chu (khoảng 500 – 221 trước Công nguyên), thời đại hoàng kim của triết học Trung Quốc, được sự tôn trọng cao nhất của thời bấy giờ.

Từ xưa nền triết học đó có hai khía cạnh bổ túc cho nhau. Vì người Trung Quốc vốn thực tiễn với một ý thức xã hội cao độ nên mọi trường phái triết học không ít thì nhiều đều có tính nhập thế, đều nói về quan hệ giữa người với người, về những vấn đề luân lý và trị nước. Thế nhưng đó chỉ là một mặt của tư tưởng Trung Hoa. Nó được bổ sung bằng mặt siêu hình của tính chất Trung Hoa, tính chất đó cho rằng mục đích cao nhất của triết lý là vượt qua đời sống hàng ngày của xã hội và đạt một bình diện tâm thức cao hơn nữa. Đó là bình diện của chân nhân, là hình ảnh lý tưởng của tư tưởng Trung Hoa về con người giác ngộ, đó là người đã đạt sự thống nhất huyền bí với vũ trụ.

Tuy thế chân nhân của Trung Quốc không chỉ sống trên bình diện tinh thần cao siêu, mà cũng còn quan hệ với các vấn đề thế gian. Đó là người dung hợp trong mình hai mặt tự tính con người – tuệ giác trực tiếp và suy luận cụ thể, tâm tư hướng nội và tác động ngoại cảnh – hai điều mà người Trung Quốc gắn với đặc trưng của chân nhân và hoàng đế. Theo lời của Trang Tử thì con người chứng thực là người “qua tĩnh lặng mà thành chân nhân, qua hoạt động mà ra hoàng đế”. Vào thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, hai mặt của triết học Trung Quốc biến thành hai trường phái triết học, đó là Khổng giáo và Lão giáo. Khổng giáo là triết lý của sự tổ chức xã hội, của đầu óc suy luận trước sau, của tri kiến thực tiễn. Nó cho xã hội Trung Quốc có một hệ thống giáo dục và quy tắc nghiêm nhặt về lễ nghĩa. Một mục đích chính của Khổng giáo là hình thành một nền tảng đạo đức cho hệ thống gia đình truyền thống với những quan hệ phức tạp và lễ nghi thờ cúng tổ tiên. Còn Lão giáo, trước hết quan tâm đến những quan sát thiên nhiên và tìm hiểu đường đi của chúng, đó là “Đạo”. Theo Lão giáo thì con người chỉ hạnh phúc khi nó đi theo đúng quy luật tự nhiên, hành động hồn nhiên và dựa trên trực giác.

Hai tư tưởng này đại biểu cho hai cực trong nền triết lý Trung Quốc, nhưng tại xứ này chúng luôn luôn được xem là hai cực của một tự tính con người duy nhất, chúng bổ túc lẫn nhau. Khổng giáo thường được sử dụng để giáo dục cho trẻ con, để chúng học những phép tắc cần thiết trong đời sống xã hội, trong lúc người già cả hướng về Lão giáo để tìm kiếm và phát huy lại sự hồn nhiên đã bị quy định của xã hội phá hủy. Vào thế kỷ 11 và 12 có nhiều nhà Khổng học hậu thế cố hình thành một sự dung hợp từ Khổng giáo. Phật giáo và Lão giáo, nó trở thành đỉnh cao trong triết học của Chu Hy, một trong những tư tưởng gia lớn nhất của Trung Quốc. Chu Hy là nhà triết học xuất sắc, người đã nối kết giáo lý Khổng Tử với chiều sâu tư tưởng Phật giáo, Lão giáo và xây dựng những yếu tố của ba dòng truyền thừa vào trong hệ thống triết học của mình.

Danh từ “Khổng giáo” xuất phát từ Khổng Phu Tử, vị “vạn thế sư biểu” xuất chúng, là vị thầy xem trách nhiệm của mình là truyền lại gia tài văn hóa cho học trò. Ngài vượt lên phương pháp truyền đạt kiến thức đơn giản bằng cách dùng những khái niệm đạo đức của chính mình để lý giải những ý niệm ngàn xưa truyền lại. Đạo lý của Ngài đặt nền tảng trên năm bộ sách cổ điển về triết lý, lễ nghi, thơ văn, âm nhạc và lịch sử; chúng là tài sản văn hóa và tâm linh của “thánh hiền” trong quá khứ của Trung Quốc để lại. Truyền sử Trung Quốc coi Khổng Tử như gắn liền với tất cả mọi tác phẩm đó, với tính chất là tác giả, nhà luận giải hay người phổ biến. Thế nhưng những khảo cứu gần đây cho thấy Ngài không phải là người viết hay lậun các tác phẩm đó, cũng không phải là người phổ biến. Tư tưởng của Ngài được nêu rõ trong Luận Ngữ, một tuyển tập do học trò của Ngài ghi lại.

Người sáng lập Lão giáo là Lão Tử, mà tên của Ngài có nguyên nghĩa là vị thầy già cả và theo tương truyền là người cùng thời nhưng già hơn Khổng Tử. Người cho rằng Ngài là tác giả của một tập sách, tập sách này được xem là tác phẩm then chốt trong Lão giáo. Tại Trung Quốc người ta gọi tập này đơn giản là Lão Tử, tại phương Tây là Đạo Đức Kinh, một cái tên người ta gán cho sau này. Tôi đã nhắc tới văn phong nghịch lý và ngôn ngữ mạnh mẽ, nên thơ của tập này mà Joseph Needham đã gọi là “không ai chối cãi là tác phẩm sâu sắc và tuyệt diệu nhất trong ngôn ngữ Trung Quốc”.

Tác phẩm quan trọng đứng thứ hai trong Lão giáo là bộ Trang Tử, một tác phẩm có quy mô lớn hơn Đạo Đức Kinh mà tác giả là Trang Tử, sống sau Lão Tử khoảng hai trăm năm. Theo những phát hiện sau này thì tập Trang Tử và cả tập Lão Tử không phải là tác phẩm của một người duy nhất, mà có lẽ là tập hợp những luận giải về Lão giáo, do nhiều tác giả trong nhiều thời kỳ khác nhau họp lại.

Cả Luận Ngữ cũng như Đạo Đức Kinh được viết với một văn phong gọn gàng, có tính chất gợi mở, nó là đặc trưng của tư duy Trung Quốc. Tinh thần người Trung Quốc không thích những loại tư duy logic trừu tượng và nó sản sinh một thứ ngôn ngữ khác xa ngôn ngữ phương Tây. Nhiều từ của họ dùng làm danh từ, tính từ hay cả động từ và thứ tự của chúng không do ngữ pháp quy định mà do nội dung cảm tính của câu văn hình thành. Từ cổ điển của ngôn ngữ Trung Quốc khắc hẳn với một nhóm chữ trừu tượng, mang một khái niệm nhất định. Từ Trung Quốc thường là một âm thanh có một sức kích thích tưởng tượng, nó mang một hình ảnh có phạm vi nhất định, mang lại một số cảm xúc nào đó. Người nói không chú tâm trình bày một ý niệm có tính suy luận mà là nói với người nghe hầu như để tạo một ảnh hưởng lên họ. Cũng vì thế mà các nét chữ của ngôn ngữ này không phải là những hình, dấu trừu tượng mà là một cấu trúc có liên hệ với nhau, đó là một dạng hình chứa đựng toàn bộ hình dung và sự kích thích của một từ.

Vì các triết gia có thể diễn tả tư duy của mình bằng một ngôn ngữ phù hợp như thế, nên các luận giải và quan niệm của họ một mặt được trình bày rất ngắn, không chính xác, một mặt lại đầy hình ảnh gợi mở. Rõ ràng là những hình ảnh này bị mất đi trong các bản dịch ra ngoại ngữ khác. Thí dụ bản dịch của một câu trong Đạo Đức Kinh chỉ phản ánh được một phần của nội dung phong phú đầy ý tưởng của nguyên bản. Vì thế mà các bản dịch khác nhau của tác phẩm này thường mang câu chữ hoàn toàn khác, nội dung có lúc mâu thuẫn lẫn nhau. Phùng Hữu Lan nói: “Người ta cần phải phối hợp nhiều bản dịch đã có cũng như nhiều bản cần có, để khám phá được sự phong phú của nguyên tác Đạo Đức Kinh và Luận Ngữ…”.

Cũng như người Ấn Độ, người Trung Quốc tin rằng có một thực tại cuối cùng, nó là nền tảng của mọi hiện tượng và biến cố, là nơi chúng thống nhất với nhau:

Có ba cách nói – “cái toàn triệt”, “cái bao trùm tất cả”, “cái tổng thể”. Những từ này khác nhau, nhưng tự tính nằm trong những chữ đó thì giống nhau: đó là một cái duy nhất.

Họ gọi cái tự tính này là “Đạo”, nguyên nghĩa của nó là “đường đi”. Đó là đường đi hay tiến trình của vũ trụ, là trật tự của tự nhiên. Về sau môn đệ của Khổng Tử cho nó một nghĩa khác. Họ nói về Đạo của con người hay Đạo của xã hội loài người và xem như là cách thế sống đúng đắn trong nghĩa đạo đức.

Trong nghĩa nguyên thủy, nói về vũ trụ thì Đạo là thể cuối cùng, không thể định nghĩa và như thế nó được đặt ngang tầm Brahman của Ấn Độ giáo và pháp thân của Phật giáo. Thế nhưng nó khác với các khái niệm Ấn Độ là đạo mang tính năng động nội tại, mà theo quan điểm Trung Quốc thì đó là tính chất then chốt của vũ trụ. Đạo là tiến trình vũ trụ trong đó mọi sự vật đều tham dự và thế giới là một sự trôi chảy liên tục và biến đổi không bao giờ ngừng.

Quan điểm của Phật giáo Ấn Độ với thuyết vô thường cũng có cái nhìn tương tự, tuy thế chủ yếu nói về tình trạng con người và hướng về những hệ quả có tính tâm lý. Còn người Trung Quốc không chỉ tin rằng tính biến đổi trôi chảy là tự tính của tự nhiên, mà còn cho rằng cũng có những cấu trúc bất dịch trong sự biến đổi mà con người biết được. Thánh nhân là người biết nhận ra những cơ cấu này và hành động phù hợp với chúng. Được như thế thì con người “là một với Đạo”, sống tùy thuận với tự nhiên và làm gì cũng thành cả. Sau đây là câu nói của Hoài Nam Tử, triết gia sống vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên:

Ai cùng tùy thuận với đạo, cùng thuận theo biến chuyển của trời đất, người đó làm chủ thiên hạ.

Thế thì những gì là cơ cấu của Đạo vũ trụ mà con người cần biết? Đặc điểm chính của đạo là tính chất chu kỳ trong quá trình vận động và biến đổi liên tục. Lão Tử nói: Quy căn viết Tịnh (trở về cội rễ, gọi là Tịnh) và Thệ viết viễn, viễn viết phân (mỗi vật đi đến cực độ phải biến, biến trở về cái đối địch). Đó là quan niệm mọi sự trong trời đất, trong thế giới vật lý, trong đời con người, có một cơ cấu “phản phục”, có sự lên xuống chu kỳ, cơ cấu của đến và đi, của giãn nở và co thắt.

Quan niệm này hiển nhiên bắt nguồn từ vận động của mặt trời, mặt trăng và các mùa trong năm, nhưng cũng được lấy từ quy luật của đời sống. Người Trung Quốc cho rằng, một tình hình khi đã đi tới cùng cực sẽ quay lùi và biến thành dạng ngược lại. Niềm tin cơ bản làm cho họ thêm dũng cảm và sức chịu đựng trong thời kỳ khó khăn cũng như làm cho họ thận trọng và khiêm tốn trong lúc thành công. Nó dẫn đến chủ trương trung dung mà cả Lão giáo hay Khổng giáo đều tin tưởng. Lão Tử nói: “Thị dĩ thánh nhân; khứ thậm, khứ xa, khứ thái” (Ấy nên thánh nhân, lánh bỏ những gì thái quá).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Fritjof Capra – Đạo của vật lý – NXB Trẻ 2015.

Kim tự tháp, máy móc, thị trường và gia đình: Tổ chức thông qua quốc gia – Phần X


Một lý thuyết động lực cổ điển của Mỹ là sự phân biệt của Douglas McGregor giữa “Lý thuyết X” và “Lý thuyết Y”. Tác phẩm của McGregor mang một đặc trưng nhân văn truyền giáo mạnh mẽ của những năm 1950, khi những ý tưởng của ông được hình thành. Các động lực chính của Lý thuyết X là những con người trung bình thì có một sự không thích cố hữu về công việc và sẽ tránh nó nếu anh ta có thể; vì vậy người dân phải bị cưỡng chế, trừng phạt và kiểm soát, để khiến họ đóng góp vào các mục tiêu của tổ chức. Các động lực chính của Lý thuyết Y là phí tổn của nỗ lực thể chất và tinh thần trong công việc là tự nhiên như chơi hay nghỉ ngơi, và rằng trong điều kiện thích hợp, người ta sẽ không chỉ chấp nhận mà thậm chí tìm kiếm trách nhiệm và nỗ lực làm việc hướng đến việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. McGregor rõ ràng là bảo vệ Lý thuyết Y. Trong những năm 1980, Geert được mời đến nói chuyện tại một hội thảo về phát triển nguồn nhân lực tại Jakarta, Indonesia. Có người đề nghị ông nên giải quyết vấn đề làm thế nào đào tạo các nhà quản lý Indonesia thay thế Lý thuyết X bằng Lý thuyết Y. Điều này làm cho ông phản ánh những gì là giả định văn hóa cơ bản, được hiểu ngầm đang có trong cả hai Lý thuyết X và Y. Ông đã đi đến danh sách sau đây:

1/ Công việc là tốt cho mọi người. Mong muốn của Chúa là mọi người nên làm việc.

2/ Năng lực của mọi người cần được sử dụng tối đa. Ý muốn của Chúa là mọi người nên sử dụng năng lực của mình đến mức tối đa.

3/ Có những “mục tiêu tổ chức” mà tồn tại tách khỏi người dân.

4/ Mọi người ở các tổ chức đối xử như những cá nhân không bị ràng buộc.

Những giả định này phản ánh những vị trí giá trị của một chủ nghĩa cá nhân, xã hội nam quyền, chẳng hạn như Hoa Kỳ, nơi McGregor đã lớn lên. Không ai trong số họ áp dụng nền văn hóa ở Indonesia hay các nước Đông Nam Á khác. Các giả định về Đông Nam Á đúng hơn sẽ là:

1/ Công việc là một điều cần thiết, nhưng không có mục tiêu trong chính nó.

2/ Mọi người nên tìm vị trí xứng đáng củ họ, trong hòa bình và hòa hợp với môi trường của họ.

3/ Các mục tiêu tuyệt đối chỉ tồn tại với Chúa. Trên thế giới, những người ở các vị trí có thẩm quyền đại diện cho Thiên Chúa, do đó, mục tiêu của họ nên được theo sau.

4/ Mọi người đối xử như các thành viên của một gia đình và/hoặc nhóm. Những người đó không bị xã hội từ chối.

Do những giả định được xác định về mặt văn hóa khác nhau này, sự phân biệt Lý thuyết X – Lý thuyết Y của McGregor là không thích hợp ở Đông Nam Á. Một khác biệt phù hợp với các nền văn hóa Đông Nam Á sẽ không phản đối giải pháp thay thế độc quyền lẫn nhau mà phá vỡ tiêu chuẩn của sự hòa hợp. Các mô hình lý tưởng sẽ là một cái đối lập bổ sung cho nhau và phù hợp hài hòa với nhau. Chúng tôi gọi đó là Lý thuyết T và Lý thuyết T+, trong đó T là viết tắt của “Truyền thống”.

Lý thuyết T có thể là như sau:

1/ Có một thứ tự của sự bất bình đẳng trong thế giới này mà trong đó mọi người đều có chỗ đứng của mình. Cao và thấp đều được bảo vệ bởi thứ tự này, cái mà theo ý chí của Chúa.

2/ Trẻ em phải học để hoàn thành nhiệm vụ của mình tại nơi mà chúng thuộc về khi sinh ra. Chúng có thể cải thiện vị trí của mình bằng cách học theo một giáo viên tốt, làm việc với một người bảo trợ tốt, và/hoặc kết hôn với một đối tác tốt.

3/ Truyền thống là một nguồn trí tuệ. Do đó, con người trung bình là có một sự không thích cỗ hữu của sự thay đổi và sẽ tránh nó một cách đúng đắn nếu anh ta hoặc cô ấy có thể.

Nếu không có mâu thuẫn với Lý thuyết T, Lý thuyết T+ sẽ khẳng định :

1/ Mặc dù có sự khôn ngoan trong truyền thống, kinh nghiệm trong những thay đổi của đời người là tự nhiên, tự nhiên như làm việc, vui chơi, hoặc nghỉ ngơi.

2/ Cam kết để thay đổi là một chức năng của phẩm chất của các nhà lãnh đạo – người dẫn đầu các thay đổi, các lợi ích gắn liền với thay đổi, và các hậu quả tiêu cực của việc không thay đổi.

3/ Năng lực lãnh đạo mọi người đến một tình hình mới là rộng rãi, không hạn hẹp, phân bố giữa các nhà lãnh đạo trong dân số.

4/ Năng lực học tập của các gia đình trung bình là đầy đủ hơn do hiện đại hóa.

Do đó, một Đông Nam Á tương đương với phát triển nguồn nhân lực có thể dựa trên một cái gì đó giống như Lý thuyết T và T+, không phải trên một sự nhập khẩu không liên quan giống như sự khác biệt Lý thuyết X – Lý thuyết Y.

Những khác biệt quốc gia trong mô hình động lực được phản ánh trong nhiều cách khác nhau của việc bồi thường. Tiền lương và các điều kiện khác được thiết lập bởi so sánh với những người khác trong cùng một thị trường lao động quốc gia. Một nghiên cứu trên 24 quốc gia đã tìm thấy tương quan đáng kể giữa các hoạt động bồi thường và các chỉ số của văn hóa của chúng ta như sau :

+ Người chủ lao động ở các nước có khoảng cách quyền lực nhỏ thường cung cấp việc chăm sóc trẻ tại nơi làm việc cho các nhà quản lý, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, và các lựa chọn cổ phiếu cho người không quản lý.

+ Người chủ lao động ở các nước chủ nghĩa cá nhân thường xuyên thực hiện thanh toán cá nhân hơn, và cung cấp những lựa chọn chứng khoán cho các nhà quản lý.

+ Người chủ lao động ở các nước nam quyền thường xuyên trả hoa hồng hơn cho người lao động không quản lý ; các nước nữ quyền, họ thường xuyên đưa các lợi ích linh hoạt, chăm sóc trẻ em và thai sản vào nơi làm việc cho nhân viên văn phòng và lao động chân tay.

+ Người chủ lao động ở các nước có sự né tránh bất định thường xuyên trả tiền theo thâm niên và kỹ năng.

Lãnh đạo, ra quyết định và trao quyền

Một trong những nhà lý thuyết lâu đời nhất về lãnh đạo trong tài liệu thế giới là Niccolò Machiavelli (1469 – 1527). Ông từng là một chính khách, cuốn sách Quân vương của ông mô tả các kỹ thuật hiệu quả nhất cho các thao tác và duy trì quyền lực, kể cả sự lừa dối, hối lộ và giết người, cuốn sách đã đem đến cho ông một danh tiếng xấu trong các thế kỷ sau đó. Trong thực tế, Machiavelli mô tả những gì ông đã quan sát được – ngày nay ông sẽ được gọi là một nhà xã hội học. Machiavelli đã viết ở Italy và về Italy trong thời của ông rằng những gì ông mô tả là một bối cảnh nam quyền có khoảng cách quyền lực lớn rõ ràng. Khoảng cách quyền lực ở Italy trong các nghiên cứu của IBM đã được tìm thấy là lớn ở mức trung bình, và không có lý do gì để giả định điều này sẽ khác trong thế kỷ thứ 16. Nước Italy trong các nghiên cứu của IBM vẫn ghi điểm rất nam quyền.

Như chúng tôi đã lập luận, lãnh đạo và tính phụ thuộc ở một quốc gia là không thể tách rời. Các quan hệ dọc trong các tổ chức được dựa trên những giá trị chung của cấp trên cấp dưới. Niềm tin về sự lãnh đạo phản ánh các nền văn hóa thống trị của một quốc gia. Yêu cầu mọi người mô tả những phẩm chất của một nhà lãnh đạo tốt là một cách để yêu cầu họ mô tả văn hóa của họ. Nhà lãnh đạo này là một anh hùng văn hóa, trong ý nghĩa của một mẫu cho hành vi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Jofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.