Xu hướng tương lai và lựa chọn hiện nay về văn hóa – Phần III


Quy luật thứ năm: Từ khép kín tới mở ngỏ

Trong xã hội cổ đại, trước khi chế độ tư bản chủ nghĩa xuất hiện, thế giới là phân tán, giữa các quốc gia rất ít giao tiếp. Nhưng từ sau khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, thế giới biến thành một thị trường thống nhất. Sau khi có chế độ tư bản chủ nghĩa mới có lịch sử thế giới. Các nước liên hệ với nhau, không còn là khép kín nữa, mà là mở ngỏ. Triều Thanh muốn đóng cửa, nhưng không được, anh muốn đóng cửa người ta sẽ phá vỡ anh, anh không tiếp nhận giao thương cũng vẫn phải tiếp nhận giao thương, hoặc là tiếp nhận một cách hòa bình, hoặc là tiếp nhận một cách nhục nhã. Sau khi anh mở cửa, lúc đầu là nhục nhã, chịu rất nhiều thiệt thòi, nhưng càng về sau, cái lợi nhận được sẽ càng nhiều, văn hóa sẽ tiến bộ, văn minh sẽ tiến bộ, sản phẩm sẽ phong phú, kỹ thuật sẽ được nâng cao. Có Chiến tranh Thuốc phiện sau đó mới có Phong trào Dương vụ, sau khi Phong trào Dương vụ nổi lên, Đông, Tây đều đến. Cho nên nói, thực hiện đóng cửa là không ổn, đóng cửa cần phát triển thành mở cửa. Sau Hội nghị 3 UBTW khóa 11 Đảng Cộng sản Trung Quốc, chính sách mở cửa do Đặng Tiểu Bình thực hiện là sáng suốt, đánh giá thế nào về ý nghĩa chiến lược này cũng không quá cao. Sau “Lục Tứ”, có người nêu ra: giảm thiểu giao tiếp với các nước phương Tây thì lưu học sinh sẽ giảm thiểu. Trên thượng tầng phát sinh bất đồng: đóng cửa hay tiếp tục mở cửa? giảm thiểu hay tiếp tục gia tăng? Cuối cùng ý kiến mở cửa chiếm địa vị chủ đạo. Không thể vì một việc mà đi ngược lại quy luật, nếu chúng ta ở bên ngoài dòng chính của trào lưu thế giới, thực hiện phát triển theo kiểu khép kín, thì đó là một sự thụt lùi.

Quy luật thứ sáu: Từ mê tín tới lý tính

Lúc đầu là mê tín, dần dần là lý tính tăng lên, trước đây vì lý trí hạn chế, tri thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội đều có hạn, cho nên mê tín rất nhiều, thì ngày nay lý tính dần nhiều lên. Kể cả tôn giáo vốn dĩ cũng có mê tín, nhưng lý tính tôn giáo hiện nay cũng tăng lên. Ngày nay bàn về tôn giáo, nếu vẫn chỉ coi nó là thuốc phiện tinh thần thì không toàn diện, có mặt thuốc phiện, mặt ma túy, nhưng còn có mặt lý tính. Tác giả từng tới Đài Loan khảo sát văn hóa truyền thống Trung Hoa ở Đài Loan, nhìn thấy Phật giáo Đài Loan hiện nay vẫn rất nhiều, sự nghiệp từ thiện Phật giáo làm rất lớn. Tôi tới núi Phật Quang, có một cuộc tọa đàm với đại sư Tinh Vân (Jing Yun). Ông nói, trên thế giới 170 quốc gia và khu vực đều có hội viên Hội Phật Quang của họ, tổng số có mấy chục triệu người. Sách của họ được phiên dịch thành nhiều loại văn tự, phát hành tại các nơi trên thế giới. Núi Phật Sơn lộ vẻ rất oai nghiêm. Tôi hỏi ông: “Thưa đại sư Tinh Vân, tại sao sự nghiệp Phật giáo của ngài lớn lao vậy? Ảnh hưởng lớn lao vậy?” Ông trả lời: “Có rất nhiều người thông minh hơn tôi, cũng có rất nhiều tín đồ Phật giáo kiên định hơn tôi, nhưng tại sao họ không có thành công như tôi? Sự khác biệt của tôi với họ là ở một chữ “vô”, có nghĩa là không có. Người khác đều theo đuổi rất nhiều thứ: của cải, danh lợi…, tôi chỉ theo đuổi một cái “vô”, không cần gì, không có gì. Bao nhiêu tỷ tài sản của núi Phật Sơn ai cần cứ lấy. Hàng trăm hàng nghìn căn nhà ở chỗ này không căn nào là của tôi, trên tay tôi không có một khoản tiền tiết kiệm. Tôi dựa vào một chữ vô mới phát triển được lớn như thế này”. Qua đó có thể thấy, tư tưởng Phật giáo của ông có rất nhiều nhân tố lý tính. Tư tưởng Lão Tử thời cổ đại cho rằng đại vô là đại hữu. Cánh hôn quan kia sở dĩ sụp đổ, hôm nay muốn cái này, ngày mai muốn cái kia, cảm thấy không bao giờ là đủ, vẫn cứ phải tham lam thêm một chút, cuối cùng sụp đổ. Điều này cho tôi một gợi mở rất lớn, vô, đó là trí tuệ cao thâm của đại sư Tinh Vân, cũng là bí quyết thành công của ông. Cho nên sự nghiệp Phật giáo, sự nghiệp từ thiện của ông rất nhiều, mỗi năm đều mấy trăm triệu NDT. Phật giáo giúp đỡ người dân nhiều thứ, khuyên người ta hướng thiện, khuyên người ta phải có lòng tôn kính và e sợ, bất kể là nam hay nữ, là quan hay dân, không thể muốn làm gì thì làm, phải có lý tính, phải tuân thủ đạo đức và pháp luật, phải tránh cái ác, làm điều thiện. Cho nên nói, tôn giáo không hoàn toàn là mê tín, mà có rất nhiều thành phần lý tính. Những người tin Phật cũng có thể ăn thịt, đây chính là sự phát triển của lý tính.

Quy luật thứ bảy: Từ phi nhân đạo tới nhân đạo

Quy luật xã hội này cũng phản ánh qua việc trừng trị phạm nhân. Trước kia có móc mắt, chọc vào mặt, cắt ngón tay, chặt chân, cắt tai, còn có hình phạt cắt cơ quan sinh dục, tứ mã phanh thây, tùng xẻo, moi tim, rất tàn khốc. Cùng với văn minh không ngừng tiến bộ, giờ đây không có những hình phạt này, có quốc gia còn bỏ án tử hình. Án tử hình ở Trung Quốc từng chém bằng đao, đao lại có các loại khác nhau, có đao sắc và đao cùn, đao sắc thì chết nhanh gọn, đao cùn thì khi bị chém rất khổ, trong Biến pháp Mậu Tuất 6 vị quân tử bị chém bằng đao cùn tại cổng chợ rau Bắc Kinh, chết cũng bắt anh chết rất đau đớn. Về sau đổi lại dùng súng bắn, hiện nay dùng kim tiêm, đau đớn dần giảm nhẹ. Điều kiện của trại giam cũng không ngừng trở nên nhân đạo, có trại được xây cất rất đẹp, rất sáng sủa, không đem lại cho người ta cảm giác tăm tối u ám. Lấy con người làm gốc, điều này được đặt ra từ xã hội nô lệ, nhưng không làm được, chủ nghĩa tư bản cũng đề ra lấy con người làm gốc, cũng chưa hoàn toàn làm được, ngày nay Đảng Cộng sản trung Quốc cũng đề ra lấy con người làm gốc, đây là một tiến bộ quan trọng. Nhưng rốt cuộc lấy ai làm gốc? Lấy toàn thể công dân làm gốc hay là lấy tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân làm gốc? Còn đang thảo luận. Nói chung, xã hội không ngừng phát triển về phía trước, không ngừng trở nên nhân đạo, không ngừng trở nên lý tính. Tác giả cho rằng, lấy con người làm gốc mà hiện nay những người cộng sản chúng ta chủ trương phải là lấy toàn thể công dân làm gốc. Điều này không hề mâu thuẫn với việc trừng trị các phần tử xấu. Bởi vì các phần tử xấu phá hoại việc lấy con người làm gốc, chúng giết người, chúng cường bạo, chế phục chúng chính là bảo vệ nguyên tắc lấy con người làm gốc. Các dịch vụ công trong xã hội chúng ta hiện nay, chỉ cần anh tuân thủ pháp luật, thì đều được trao, bất kể là tỷ phú hay giai cấp vô sản, đều không phân biệt, đều cung cấp dịch vụ.

Quy luật thứ tám: Từ bảo thủ đến tiến bộ

Thụt lùi cũng có, nhưng thụt lùi là tạm thời, cục bộ, muốn thụt lùi toàn diện thì không được. Chúng ta nhìn vào lịch sử, sau khi Cách mạng Tân Hợi thực hiện cộng hòa, Viên Thế Khải (Yuan Shiqi) muốn quay về đế chế, chỉ làm được giấc mộng hoàng đế 83 ngày, cuối cùng quân phiệt Bắc Dương không ủng hộ ông ta, ông ta thụt lùi không được. Trương Huân (Zhang Xun) muốn khôi phục, tuổi thọ hoàng đế càng ngắn, 12 ngày là bật ra khỏi Cố cung. Cho nên, muốn thụt lùi rốt cuộc thụt lùi không nổi, vẫn cứ phải đi về phía trước.

Ngoài ra, ngày nay có người đề xuất khôi phục chữ phồn thể, đặt ra tại Quốc hội và Hội nghị Hiệp thương Chính trị toàn Trung Quốc, đây thực tế là một chủ trương thụt lùi. Tôi đã viết một bài, “Bàn về việc tái giản hóa chữ Hán”, cho rằng không những không thể khôi phục chữ phồn thể mà còn thế giản hóa hơn nữa. Hương Cảng, Áo Môn, Đài Loan dùng chữ phồn thể, để tiện giao lưu, khôi phục chữ phồn thể, nhưng Hương Cảng, Áo Môn, Đài Loan cũng cảm thấy phiền phức về chữ phồn thể. Hương Cảng có chuyên gia kêu gọi nên dùng chữ giản thể của Đại Lục, hiện giờ Singapore, Malaysia, Liên hợp quốc đều dùng chữ giản thể. Ngày nay khi xã hội theo đuổi tốc độ cao, hiệu quả cao, khôi phục chữ phồn thể là sự thụt lùi lịch sử, cho nên không thể được ủng hộ.

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2014 – 6 & 7

Advertisements

Liệu việc kinh doanh với lợi nhuận khổng lồ của ngành xuất bản khoa học có tổn hại cho khoa học? – Phần cuối


Maxwell hiểu rõ cách thức các tập san khoa học ngày nay trở thành một tác nhân quyền lực đưa ai đó lên vị trí đỉnh cao trong khoa học như thế nào. Nhưng mối quan tâm chủ yếu của ông ta là việc mở rộng các tập san, và ông vẫn đang thiết tha với tầm nhìn về việc khoa học sẽ đi về đâu và những lĩnh vực nghiên cứu mới nào mà ông ta có thể đô hộ. Richard Charkin, nguyên là người điều hành cấp cao của nhà xuất bản Anh Macmillan, vốn là một người biên tập ở Pergamon năm 1974, nhớ lại rằng Maxwell vẫy tay chào Watson với bản báo cáo dài một trang của Crick về cấu trúc DNA trong một cuộc họp của các biên tập và tuyên bố rằng tương lai thuộc về khoa học sự sống và nhiều vấn đề nhỏ của chuyên ngành này, mỗi vấn đề ấy có thể có một tập san riêng cho nó. Charkin nói: “Tôi nghĩ chúng tôi đã cho ra đời hàng trăm tập san mới trong năm đó. Tôi có ý nói là, đến Chúa cũng phải khóc thét lên”. 

Pergamon cũng tạo ra thương hiệu trong khoa học xã hội nhân văn và tâm lý học. Một loạt tập san với tiếp đầu ngữ “Máy tính và…bla bla..” cho thấy Maxwell chú ý tầm quan trọng của công nghệ số. “Nó quả là bất tận”. Peter Ashby cho tôi biết. “Oxford Polytechnic (nay là Oxford Brookes University) khởi xướng khoa du lịch với một người đứng đầu. Chúng tôi phải tìm xem ai sẽ là người đứng đầu khoa này và biến anh ta thành người khởi sự một tập san. Và, bùm! Tập san Quốc tế về Quản lý Du lịch Lữ hành ra đời”.

Đến cuối những năm 70, Maxwell cũng đã đạt được thỏa thuận với những thị trường đông người đọc hơn. Charkin nói; “Lúc đó tôi đang ở Oxford University Press. Chúng tôi đứng lên và nói: Quỷ sứ! Những tập san này kiếm ra khối tiền”. Trong khi đó, ở Hà Lan, Elsvier đã bắt đầu mở rộng những tập san tiếng Anh của họ, cạnh tranh nội địa trong hàng loạt vụ thu tóm và tăng trưởng ở mức 35 đầu tập san mỗi năm.

Như Maxwell đã tiên đoán, cạnh tranh không làm giảm giá. Trong khoảng từ năm 1975 đến 1985, giá trung bình của các tập san đã tăng gấp đôi. Tờ New York Times cho biết muốn đăng ký tập san Nghiên cứu Thần kinh sẽ tốn 2.500 USD vào năm 1984 và cái giá này là 5.000 USD vào năm 1988. Cùng năm đó, thư viện Harvard đã tiêu vượt ngân sách đến nửa triệu đô la Mỹ.

Các nhà khoa học đã có lúc đặt vấn đề về tính công bằng của công cuộc kinh doanh với lợi nhuận khủng khiếp mà họ cho không sức lao động, nhưng các nhà thư viện mới là những người đầu tiên nhận ra cái bẫy trong thị trường mà Maxwell tạo ra. Các thư viện dùng tiền của trường đại học để mua các tập san nhân danh các nhà khoa học. Maxwell hiểu điều này rất rõ. “Các nhà khoa học là những người chẳng biết gì về giá cả, chủ yếu là vì đó không phải là tiền túi của họ”. Ông ta nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn năm 1988 với tờ Global Business. Và vì chẳng có cách nào đổi từ tập san này sang tập san khác rẻ hơn, kết quả là, Maxwell nói tiếp, “một cơ chế tài chính không bao giờ kết thúc hay thay đổi”. Các thư viện bị kẹt cứng trong hàng ngàn tập san độc quyền trong những chuyên ngành rất hẹp. Hiện nay có trên một triệu bài báo khoa học được công bố mỗi năm, và họ buộc phải mua nó với bất cứ giá nào các nhà xuất bản muốn.

Theo quan điểm kinh doanh, đó là một sự toàn thắng của Maxwell. Các thư viện là một thị trường bị cầm tù, và các tập san đang đặt mình vào vị trí người giữ cửa bất đắc dĩ của uy tín khoa học – nghĩa là các nhà khoa học không thể nào đơn giản chỉ bỏ rơi không ngó tới các tập san nếu có một phương pháp mới chia sẻ kết quả nghiên cứu xuất hiện. “Nếu không quá ngây thơ chúng tôi đã phải nhận ra từ lâu vị trí thực sự của mình: rằng chúng tôi đang ngồi trên đỉnh của một đống tiền mà những người thông minh ở tất cả các phía đang ra sức lôi kéo sang phía họ”. Người phụ trách thư viện của University of Michigan, Robert Houbeck nói như vậy trong một tạp chí thương mại năm 1988. Ba năm trước đó, mặc cho ngân sách dành cho khoa học sụt giảm nhiều năm liền, Pergamon báo cáo tỉ suất lợi nhuận của họ là 47%.

Maxwell không phải chỉ quan tâm tới đế chế đã chiến thắng của mình. Bản chất thâu tóm đã dẫn tới thành công của Pergamon cũng khiến anh ta lao vào những cuộc đầu tư lấy được, trông lấp lánh nhưng tốn kém và nhiều nghi vấn, chẳng hạn như đầu tư vào đội bóng chày Oxford United and Derby County FC, vào các đài truyền hình trên khắp thế giới, và vào tập đoàn báo chí Mirror của Anh năm 1984, nơi anh ta dành thời gian vào đó ngày càng nhiều. Năm 1991, để có tiền mua tờ Tin tức hàng ngày New York, Maxwell đã bán Pergamon cho đối thủ kín tiếng ở Đức là Elsevier với giá 440 triệu bảng Anh (khoảng 919 triệu bảng ngày nay).

Rất nhiều người trước đây từng làm cho Pergamon đã nói với tôi rằng họ biết tất cả đã kết thúc với Maxwell khi ông ta bán Pergamon cho Elsevier vì Pergamon là công ty mà ông ta thực sự yêu quý. Cuối năm đó ông ta trở thành sa lầy vào hàng loạt scandal về những món nợ nần, về những bê bối tiền bạc, và bị nhà báo Mỹ Seymour Hersh buộc tội là gián điệp của Israel với những mối liên hệ với việc buôn bán vũ khí. Ngày 5 tháng 11 năm 1991, người ta phát hiện Maxwell chết chìm trong chiếc thuyền của anh ta trên đảo Canary Islands. Cả thế giới choáng với tin ấy, và ngày hôm sau, tờ báo lá cải giật gân Sun đối thủ của Mirror nêu ra câu hỏi trong đầu tất cả mọi người: “Phải chăng anh ta đã té ngã…. Hay anh ta nhảy xuống biển?” (Một cách giải thích thứ ba, là anh ta bị ai đó đẩy xuống biển, cũng đã nảy sinh).

Câu chuyện này rùm beng trên mặt báo Anh trong nhiều tháng, với nghi ngờ ngày càng tăng là anh ta đã tự sát, sau khi một cuộc điều tra cho biết anh ta biển thủ hơn 400 triệu bảng từ quỹ hưu của tờ Mirror để trả các món nợ của anh ta. (Vào tháng 12 năm 1991, một báo cáo của cơ quan điều tra Tây Ban nha cho biết cái chết là một tai nạn).  Những truyền thuyết về anh ta quả là bất tận: năm 2003, hai nhà báo Gordon Thomas và Martin Dillon công bố một cuốn sách khẳng định rằng Maxwell đã bị Mossad giết chết nhằm che giấu hoạt động gián điệp của anh ta, nhưng không có bằng chứng nào đáng tin cậy. Vào lúc đó, Maxwell mất đã lâu, nhưng việc kinh doanh tập san khoa học mà anh ta đã khởi sự thì vẫn tiếp tục thịnh vượng trong tay những người mới, đạt tới một trình độ mới về mức lợi nhuận và quyền lực toàn cầu của họ sẽ còn tiếp diễn trong nhiều thập kỷ tới.

Nếu khả năng sáng tạo thiên tài của Maxwell được mở rộng, Elsevier đã có thể mạnh hơn và vững chắc hơn. Với việc mua lại 400 catalogue hùng mạnh của Pergamon, Elsevier ngày nay kiểm soát hơn 1000 tập san khoa học, biến nó trở thành một nhà xuất bản khoa học lớn nhất trên thế giới.

Vào thời điểm sáp nhập, Charkin, nguyên là CEO của Macmillan, nhớ lại lời Pierre Vinken, CEO của Elsevier, nhận định Pergamon là một doanh nghiệp già dặn, và Elsevier đã trả giá quá cao cho nó. Nhưng Vinken không nghi ngờ gì điều đó, ông nói: “Bạn không thể hình dung nổi những tập san này mang lại mức lợi nhuận kinh khủng như thế nào khi bạn ngừng làm bất cứ thứ gì.  Khi bạn xây dựng một tập san khoa học, bạn dành thời gian để có một ban biên tập xuất sắc, bạn đối xử tốt với họ, bạn mời họ ăn tối. Thế rồi bạn tiếp thị mọi thứ và nhân viên bán hàng của bạn đem món hàng này đi bán, một việc chậm và khó khăn, và bạn cố gắng để làm tập san tốt nhất có thể. Và rồi chúng tôi mua nó và chúng tôi ngừng làm tất cả những việc trên, còn tiền mặt thì cứ thế mà chảy vào túi, và bạn không thể tin nổi là điều đó tuyệt diệu như thế nào”. Ông ta đúng còn tôi thì nhầm.

Đến năm 1994, ba năm sau khi thâu tóm Pergamon, Elsevier nâng giá tập san 50%. Các trường đại học phàn nàn rằng ngân sách của họ bị phân tán mỏng tới mức nguy ngập – tờ tuần báo của giới xuất bản ở Mỹ tường thuật lại là các thư viện nói đó là ngày tận thế của công nghiệp kinh doanh này – và, lần đầu tiên, họ bắt đầu hủy các đơn đặt hàng với những tập san không mấy phổ biến.

Vào lúc đó, cách xử sự của Elsevier gần như là tự sát. Họ giận dữ với các khách hàng chỉ vì internet đã mang lại cho họ một sự lựa chọn khác miễn phí. Một bài báo trên tờ Forbes năm 1995 miêu tả các nhà khoa học chia sẻ kết quả nghiên cứu của họ trên những máy chủ internet, và tự hỏi liệu Elsevier có phải là “nạn nhân đầu tiên của internet”. Thế nhưng, như xưa giờ vẫn thế, các nhà xuất bản hiểu rõ thị trường hơn nhiều so với các nhà khoa học.

Năm 1998, Elsevier chuyển kế hoạch sang thời đại internet, được gọi là “Một Thỏa thuận lớn”. Nó bán trọn gói quyền tiếp cận trực tuyến hàng trăm tập san khoa học với một khoản chi phí hàng năm – theo một báo cáo, giá cả tùy vào mức độ tự do trong truy cập thông tin. Cornell University vào năm 2009 trả khoản tiền chừng 2 triệu đô la Mỹ– và bất cứ sinh viên hay giáo sư nào cũng đều có thể tải về bất kỳ bài báo khoa học nào họ muốn từ trang web của Elsevier. Các trường đại học lại nườm nượp đăng ký.

Những dự đoán về việc sụp đổ của Elsevier dựa trên giả định là trải nghiệm của các nhà khoa học về việc chia sẻ công trình miễn phí trên mạng sẽ làm chậm lại sự cạnh tranh của Elsvier và thay thế nó từ từ. Để đáp lại, Elsvier tạo ra một sự thay đổi: hợp nhất hàng ngàn tập san độc quyền trong những chuyên ngành rất hẹp lại thành một gói lớn đến nỗi, giống như những nguồn năng lượng cơ bản như điện hay nước, các trường đại học không thể nào vận hành được mà không có nó. Trả tiền, và ánh sáng của khoa học tiếp tục chiếu ngời. Nhưng một số tập san bị từ chối như là cái gì không đáng giá và ở bất cứ trường nào cũng có khoảng một phần tư tư liệu thành văn của khoa học bị tống vào góc tối. Thỏa thuận này tập trung quyền lực to lớn vào tay những nhà xuất bản lớn nhất, và lợi nhuận của Elsvier bắt đầu tăng vọt ở mức đưa họ lên hàng tỉ phú vào những năm 2010. Năm 2015, một bài báo trên tờ Financial Times “phong thánh” cho Elsevier với danh hiệu “một doanh nghiệp mà internet không thể giết chết nổi”.

Các nhà xuất bản giờ đây bị tổn thương khá nặng vì nhiều bộ phận khác nhau trong cơ thể khoa học đã có thể đá họ ra khỏi vị trí quyền lực trước đây. Trong một báo cáo năm 2005, một nhà khoa học thông tin của Trường University of Montreal, tên Vincent Larivière, cho thấy rằng Elsevier làm chủ 24% thị trường tập san khoa học, trong lúc đối tác cũ của Maxwell là Springer, và đối thủ Wiley-Blackwell, kiểm soát khoảng 12% mỗi bên. Ba công ty này chiếm một nửa thị phần toàn cầu (một đại diện của Elsvier khá quen thuộc với bản báo cáo này cho tôi biết họ tự ước lượng là Elsvier đang xuất bản chỉ 16% tổng số ấn phẩm khoa học).

“Mặc cho tôi đi giảng giải khắp nơi trên thế giói về chủ đề này, có vẻ như các tập san khoa học vẫn cứ giữ sự kiểm soát (đối với khoa học) thậm chí với mức độ còn nổi bật hơn cả trước đây”. Randy Schekman nói với tôi. Chính là ảnh hưởng của các tập san, hơn là lợi nhuận, đã là động lực mở rộng hệ thống này, và đó là điều bực mình nhất với các nhà khoa học ngày nay.

Elsevier nói rằng mục tiêu chính của họ là tạo điều kiện cho công trình của các nhà khoa học được chia sẻ. Một đại diện của Elsvier lưu ý rằng công ty này nhận được 1,5 triệu bài báo khoa học nộp cho các tập san của họ năm ngoái, và chỉ xuất bản có 420.000 bài; 14 triệu nhà khoa học tin tưởng Elsvier trong việc công bố kết quả nghiên cứu của họ, và 800.000 nhà khoa học cho không thời gian của họ để giúp biên tập và bình duyệt. “Chúng tôi giúp các nhà nghiên cứu trở nên hiệu quả hơn, làm việc có năng suất cao hơn”, Alicia Wise, phó chủ tịch phụ trách chiến lược toàn cầu nói với tôi như thế. “Và đó là một chiến thắng của các tổ chức nghiên cứu cũng như các nhà tài trợ nghiên cứu như chính phủ chẳng hạn”.

Về câu hỏi vì sao quá nhiều nhà khoa học phê phán các nhà xuất bản khoa học, Tom Reller, phó chủ tịch phụ trách quan hệ doanh nghiệp ở Elsevier nói: “Nói về động cơ của người khác không phải là việc của chúng tôi. Chúng tôi nhìn vào các con số (các nhà khoa học tin tưởng kết quả nghiên cứu của họ nên công bố ở các tập san của Elsvier) và con số đó cho thấy chúng tôi đang làm công việc của mình rất tuyệt”. Khi được hỏi về những ý kiến phê phán mô hình kinh doanh của Elsevier, Reller nói trong một email là những ý kiến phê phán đó đã bỏ qua “tất cả những thứ các nhà xuất bản làm để tăng giá trị– cao hơn và xa hơn nhiều những đóng góp mà tài trợ của ngân sách mang lại”. Cái đó, ông ta nói, chính là thứ mà người ta phải trả tiền”.

Theo một nghĩa nào đó, không hẳn tất cả là lỗi của các nhà xuất bản trong việc thế giới khoa học bị uốn theo lực đẩy của ngành công nghiệp hấp dẫn mãnh liệt này. Khi chính phủ các nước trong đó có Trung Quốc và Mexico đưa ra các lợi ích tiền bạc với các tác giả có bài công bố trên các tập san có chỉ số tác động cao, họ không đáp ứng đòi hỏi của một nhà xuất bản cụ thể nào, nhưng đã theo đuổi phần thưởng của một hệ thống cực kỳ phức tạp đã hòa trộn lý tưởng lãng mạn của khoa học với mục tiêu kiếm tiền của các nhà xuất bản đang thống trị thị trường này. “Các nhà khoa học chúng ta không mấy để ý đến thứ nước mà chúng ta đang bơi trong đó”, Neal Young bảo tôi như thế.

Kể từ những năm đầu thập kỷ 2000, các nhà khoa học bắt đầu đi tiên phong trong một con đường khác trong công bố khoa học, được gọi là “open access”, tức là mở ra cho mọi đối tượng có thể tiếp cận. Con đường này giải quyết cái khó trong việc cân bằng những đòi hỏi của khoa học và của tính chất thương mại đơn giản bằng cách xóa bỏ nhân tố thương mại. Trong thực tế, nó có hình thức của một tập san trực tuyến, trong đó các nhà khoa học trả trước một khoản phí để trang trải chi phí biên tập và ai cũng có thể tiếp cận các kết quả nghiên cứu đó không thời hạn. Thế nhưng mặc dù được hậu thuẫn bởi một số tổ chức tài trợ lớn nhất thế giới trong đó có Quỹ Gates và Wellcome Trust, chỉ một phần tư bài báo khoa học được chọn công bố theo cách này khi nghiên cứu được hoàn thành.

Ý tưởng cho rằng nghiên cứu khoa học nên được mở ra cho bất cứ ai cũng có thể tiếp cận là một sự khởi đầu sắc bén, thậm chí một mối đe dọa cho hệ thống hiện tại– vốn dựa trên khả năng của các nhà xuất bản ngăn chặn việc tiếp cận các tư liệu thành văn của khoa học nhằm duy trì lợi nhuận khủng khiếp của họ. Trong những năm gần đây, sự phản đối quan trọng nhất với hiện trạng này đã bùng lên cùng với sự ra đời của trang web gây nhiều tranh luận trái chiều, có tên là Sci-Hub– một thứ giống như ứng dụng chia sẻ âm nhạc Napster dành cho khoa học, cho phép bất cứ ai cũng có thể tải về các bài báo khoa học hoàn toàn miễn phí. Người tạo ra nó, Alexandra Elbakyan, một cô gái người Kazhakstan, đối mặt với buộc tội vi phạm luật của Mỹ về bản quyền và về việc bẻ khóa trang web. Elsevier gần đây đã đạt được án tòa xử cho thắng 15 triệu đô la (con số tối đa được phép) vì những thiệt hại của họ.

Elbakyan là con người lý tưởng một cách tự tin và kiêu hãnh. “Khoa học nên thuộc về các nhà khoa học chứ không phải là các nhà xuất bản”, cô nói với tôi trong một email. Trong một lá thư gửi tới tòa án, cô trích dẫn Điều 27 của Tuyên bố chung của Liên Hợp Quốc về Quyền Con người, khẳng định quyền “chia sẻ tiến bộ khoa học và các lợi ích của nó”.

Cho dù số phận của Sci-Hub như thế nào, có vẻ như sự thất vọng với hệ thống hiện tại đang tiếp tục tăng lên. Nhưng lịch sử cho thấy cá cược với các nhà xuất bản khoa học là một động thái rủi ro. Cuối cùng, quay lại năm 1988, Maxwell từng dự đoán rằng trong tương lai sẽ chỉ còn lại một số công ty xuất bản cực kỳ hùng mạnh và họ sẽ kinh doanh trong thời đại điện tử mà không tốn một xu chi phí in ấn, dẫn đến hầu như chỉ còn “lợi nhuận thuần túy”. Điều đó nghe có vẻ rất giống với thế giới mà chúng ta đang sống.

Người dịch: Phạm Thị Ly (2017)

Nguồn:  “Is the staggeringly profitable business of scientific publishing bad for science?” Tác giả: Stephen Buranyi. Đăng trên Guardian ngày 27.06.2017

Hứng khởi và ức chế – Phần cuối


Tuy nhiên, trường hợp thể hiện sự chưa hoàn thành là ưu trội hơn so với trường hợp hoàn thành và tạo ra tính tương đối đặc biệt. Bởi vậy, Vương Phu Chi ghi nhận, nếu sự hỗn độn bị đẩy lui, trong cả hai trường hợp, tới cực điểm của nó, quan điểm quẻ này nuôi dưỡng quẻ kia khi đối mặt với nhau là khác biệt: quẻ hoàn thành được nhìn nhận như tình huống khởi đầu mà từ đó ta có thể “xác lập nền tảng”; còn quẻ chưa hoàn thành được thể hiện như tình huống chưa bắt đầu và, từ đó, không đáng tin. Điều này có thể được giải thích từ một khía cạnh khác: bởi vì sự vượt qua của âm là gây tai họa cho nó; theo cách mà, bởi nguyên nhân của sự đứt đoạn, âm không thể được dùng để hoàn thành sự vượt qua của nó (cũng như trong trường hợp hoàn thành). Từ đó rút ra tính chất mơ hồ của quẻ chưa hoàn thành (ta có thể nói, bằng sự khác biệt với tính chất dối trá của quẻ trước đó mà dưới hình thức thích đáng bề ngoài nó cho thấy sự phát triển không tốt): một mặt, ta tìm thấy ở đây, và đi vào vai trò (sau các lời từ), môtip con cáo mà nó là điểm xấu, nhưng cùng lúc một sự luân chuyển còn lại, thì một sự lựa chọn sẽ được hé ra: âm, không còn chuyển qua được nữa, có thể tiếp nhận giữ nguyên vị trí và không tìm cách vượt qua, và trong trường hợp này quẻ không còn đóng vai trò tiêu cực.

Cả hai quẻ này, đều gợi lên về cùng một tình huống, tình huống hết sức hỗn độn, được sinh ra từ sự thiếu vắng khuynh hướng định hướng, nhưng khi mà quẻ hoàn thành không mở ra tương lai, thì quẻ này lại mở ra và xuất hiện sự đình hoãn trong khả năng hiện thực hóa của nó. Cho nên, chỉ với sự khác biệt duy nhất này của cái triển vọng đủ để sinh ra các kết quả hiển nhiên là (phụ trợ) thứ yếu, tuy nhiên chúng dẫn tới sự chuyển hóa các điều kiện của chức năng hành dụng của quẻ, chúng quay lại chống các tiêu chuẩn chung nhất của sự diễn giải. Ta có thể kiểm tra từ điểm sau đây: đây chỉ là đề cập tới quẻ cuối cùng của hai quẻ này vốn nhằm nêu lên sự hiệu quả của sự tương hợp giữa các khoảng cách (cương nhu ứng) (mỗi hào đều tìm được kẻ đồng hành từ loại đối lập từ quẻ đơn khác, hào sơ âm với hào tứ dương, và cứ thế tiếp tục). Cho nên, như Vương Phu Chi đã ghi nhận, mối quan hệ đồng hành này cũng tồn tại, theo cách hệ thống, trong trường hợp “hoàn thành”, nhưng khi đó thành tố tích cực này dường như bị hủy bỏ bởi một dạng thức khác, cũng là tích cực, khi hào nào ở đúng vị trí hào đó: cũng như mỗi một trong hai tác tố hiện diện, âm dương, trở thành bất động và từ đó sống “một cách tự chủ” khi theo đuổi ý hướng duy nhất của mình (các đàn kì sở lợi nhi tư kì tình chi sở yên), mối quan hệ đồng hành này nằm giữa các hào tương ứng (và do vậy, giữa các tác tố đối lập) không phục vụ cho một cái gì cả. Trong khi đó, trong trường hợp “chưa hoàn thành”, nó tạo ra hiệu quả còn hơn thế mà không một hào nào khi đó nằm đúng chỗ của nó (mọi hào âm đều ở vào vị trí số lẻ và ngược lại): do vậy nó dẫn tới khuynh hướng cá nhân (“vị kỉ”) tự do, ở mỗi hào, do vắng mặt khuynh hướng chung (và có định hướng), nhanh chóng bị cản trở bởi tình huống mà ở đó nó gia nhập, nó có mặt ngay từ đầu với khả năng hài hòa tiếp diễn của các tác tố đối lập. Khi dùng lại các thuật ngữ theo mã hóa Trung Hoa: cái “cứng” nằm ở vị trí “cái mềm” cũng không thể “kiêu kì”; cái “mềm” ở vị trí của cái “cứng” cũng không thể rời xa… Một cách thức phối kết mới xuất hiện, giữa hào và vị trí trái ngược mà nó chiếm giữ, bởi nó cắt đứt với chính sách tự cung tự cấp mà tại đó mỗi hào đều bị đóng lại, tiếp theo sự sai lệch với mọi khuynh hướng chủ đạo, chuyển đổi một cách đặc biệt theo hướng tiện lợi mà cho tới khi đó, có nghĩa là cho tới quẻ cuối cùng của cuốn sách, là một tác tố tiêu cực.

Tôi cũng nghĩ rằng ta có thể dễ dàng theo đuổi suy nghĩ được Vương Phu Chi đưa ra về điểm này: trong khi mà sự chồng chéo của các kiểu trật tự khác nhau (mỗi hào đều đúng chỗ của nó, mỗi hào đều có bạn đồng hành…) bắt đầu, trong quẻ trước đó, với sự trùng lặp của sự chân thực tương ứng của chúng, và từ đó, sự bất đồng bị phá vỡ, ngược lại mở ra, khi đề cập đến quẻ này, một kiểu nào đó không thích hợp (tương tự như sự không phù hợp của các hào trong quan hệ với vị trí của chúng) không chỉ đưa ra một cách tốt nhất sự phù hợp với kiểu khác (ở đây, quan hệ đồng hành giữa các quẻ đơn) nhưng, hơn thế, cho phép quẻ này thực hiện và nhìn lại được kết quả lao động của nó. Sự tương thích được xem xét từ mọi điểm, từ mọi cách nhìn, trong trường hợp quẻ trước đó có được kết quả cần thiết mà mỗi tác tố tự rời bỏ khỏi nó, và nó dẫn dắt tới chỗ, dưới hình thức bên ngoài hết sức thuận lợi, với một sự không toàn vẹn được bổ sung, trái lại, sự không tương thích của quẻ này đóng vai trò đầy đủ bởi mọi sự đan kết khác có thẻ tái tạo lại một áp lực giữa các tá tố tương ứng và đưa ra cách thức để bù trừ: nó dẫn tới cùng lúc, bí mật, trong lòng sự hỗn độn ấy, một chức năng điều chỉnh. Chắc chắn, chức năng này không điều khiển ngay lập tức quẻ – bởi vì quẻ này phải chịu, tương tự như quẻ trước, sự thiếu vắng khuynh hướng định hướng – tuy thế nó mở ra, từ chỗ này qua chỗ khác, một sự uống nắn liên tục: vấn đề không còn là cỗ máy điều chỉnh vũ trụ vĩ đại của vũ trụ, ở cấp toàn cầu hay vương triều (như quẻ Thái chỉ sự phồn vinh) mà là quy tắc thuộc cấp độ mang màu sắc cá nhân, hết sức đơn lẻ – của cái thường nhật.

Như vậy các hào khác nhau đã chỉ ra sự sai lệch về khuynh hướng qua các quẻ, như trong trường hợp hoàn thành, nhưng lần này được định hướng về một nghĩa thuận lợi. Tương tự quẻ trước đó cũng được làm sáng tỏ, chỉ duy nhất các hào là bị nghịch chuyển. Hào sơ và hào tam, vốn là âm, muốn tiến lên phía trước để “vượt qua” và hào nhị, hào tứ, vốn là dương, giữ chúng lại trong sự tăng tiến: hào nhị (dương) “kéo lết bánh xe” (kéo lùi lại sau: như hào sơ dương của quẻ trước đó) trong khi hào sơ (âm) con cáo “bị ướt đuôi” (như hào nhị âm của quẻ trước đó). Hào tứ dương lấy lại môtip “phản ứng trừng phạt” (trong phương hướng của sự tiến lên này từ âm) được gợi lại ở hào tam dương chỉ sự “hoàn thành”, nhưng nó cũng sử dụng cùng lúc sự đảo ngược kí hiệu, từ quẻ này sang quẻ khác, để mở ra: không chỉ hào từ đã thêm thắt lời vào hào này mà bởi nó “bao gộp” và là “cát” và “sự tiếc nuối biến mất”; đặc biệt hơn, vào chỗ mà cuộc chinh phạt này kéo dài “ba năm”, bắt đầu, như quẻ trước đó, nhờ sự cạn kiệt của dương, nó kết thúc một cách thuận lợi nhờ ân huệ, để “thưởng công” không ngờ từ “các triều đại lớn”, dấu hiệu của sự thành công không cần nghị bàn.

Tương tự hào ngũ không có lí do nào để rút ra các tiện ích từ sự sai lệch khuynh hướng đang ngăn cản nó, trong khi đó hào âm, khi đạt đến đỉnh (ở vị trí thứ 6). Nó được đặt vào giữa hai hào dương ngay trong lòng ngoại quái theo cách như nó tương thích trong quẻ khác, hào nhị âm chỉ sự “hoàn thành” (cũng như quẻ Li); nhưng ở chỗ hành động của nó bị trộn lẫn với hai hào dương mang nghĩa tiêu cực vì thiếu đi sự bẽn lẽn từ phía “người vợ” (đánh mất “tấm màn” xe, ở quẻ trước đó), tình huống “pha tạp” này dần dần được sáng tỏ, bằng sự đảo ngược giá trị của nó, “sự tỏa sáng” của “người quân tử” (sự tỏa sáng này là âm ngay từ trung tâm của nó bởi vì người quân tử ảnh hưởng đến khá nhiều người khác khi nó là “rỗng” với mọi suy đoán, không đặt ra cho người khác cũng không thêm thắt một cái gì cho nó ngoài công trạng). Bởi vì khuynh hướng có thể đưa tới hoàn thành việc “vượt qua” (khi bước lên vị trí số 6) đã bị cản trở, nó “không rời khỏi trung tâm” (của quẻ đơn); và bởi vì nó không rời khỏi vị trí lí tưởng ở trung tâm, nó gắn với “sự tin cẩn” (hữu phù) ở gần không phải với một hào âm khác, gần cạnh nó (bởi vì nó không có các mặt, tiếp theo sự sai lệch của khuynh hướng) còn với hào dương nằm ở vị trí mà nó đạt tới một cách bình thường, vị trí số 6. Từ một bình diện đặc biệt, Vương Phu Chi nhấn mạnh, quan hệ về sự “tin cậy” này luôn luôn là “cát” được nuôi dưỡng cùng một cách (hào âm với hào âm) mà với cả hào khác: trong lòng một sự hỗn độn như vậy, một sự liên kết mới được phản ánh, một kiểu trật tự khác xuất hiện.

Mối quan hệ tin cậy gần gũi được nuôi dưỡng như vậy bằng một cách thức mới, ở cực điểm của cuốn sách, giữa các tác tố đối lập, nó vẫn còn cứng rắn khi được xác nhận qua lại: hào dương cuối cùng, ở đỉnh của quẻ, bắt đầu gợi ra, bằng hình thức hội hè “lòng tin ngự trị giữa mọi người cùng uống rượu” (và, cần thêm vào, là “không có lỗi – nguyên văn: hữu phu vu ẩm tửu, vô cữu – ND). Nhưng một kiểu quan hệ qua lại như vậy không cần phải quên đi sự không đối xứng giữa các vị trí (âm dương như đã biết, không tiếp nhận cùng một sự xác thực): như vậy, khi nó được kéo dài bởi dương và thực hiện đối diện với âm (ở đây hào tam âm tương thích với hào lục dương không bị chối bỏ), không cần dẫn dắt dương để đi vào liên kết với âm và “làm hư hỏng” nó (sự lây nhiễm là quá dễ trong tình huống ở đó diễn ra sự pha tạp lớn). Cho nên nổi lên một cách logic sự mạo hiểm khi bị chìm nghỉm với nó dẫn âm theo đuổi ý hướng của nó: mà nguy hiểm “khi nhô đầu lên” (trên mặt nước), từ đó hoàn thành quẻ trước đó, do vậy, hào cuối cùng này luôn luôn là hiện tại.

Hào cuối cùng của quẻ cuối cùng này, kết thúc cuốn sách bằng một bức tranh mơ hồ: niềm vui được hòa hợp (giữa các tác tố đối lập) – đe dọa sự cập bến. Như vậy có thể nói rằng cuốn sách chưa hoàn thành mà chỉ kết thúc bằng sự đình hoãn. Tương lai được mở ra: từ trong bản thân cái hỗn độn, một sự liên kết mới xuất hiện nhưng đang còn ở dạng thận trọng sự đình hoãn mà từ đó cuốn sách dừng lại là sự đình hoãn mang tính lý thuyết. Vương Phu Chi ghi nhận rằng trong trường hợp hai quả cuối cùng này và trái ngược với những gì mà ta có thể quan niệm khi đề cập tới mọi quẻ khác, hoạt động của các hào không nằm đúng chỗ cho thấy qua đây, mặt tích cực. Tương tự, với hai hào cuối cùng của quẻ cuối cùng, mối quan hệ “tin cậy gần gũi” (theo kiểu phù (fu) đối lập với quan hệ đồng hành theo khoảng cách, kiểu yingứng trong quan hệ với phù) thiết lập bình diện “đặc biệt” không phải cùng với nó mà với cái khác; âm không còn trong quan hệ tương hỗ với âm mà với dương. Những cái đặc biệt này, Vương Phu Chi kết luận, cho thấy Điển thư về sự chuyển hóa không thể dùng cho “bình diện đứng im” (dịch chi bất khả vi điển yếu). Bởi vậy cuốn sách, khi hoàn thành, đã đặt ra vấn đề về các nguyên tắc diễn giải riêng của nó, mà tính hệ thống khi kết thúc, lại thoát khỏi chính nó. Đây là hình thức khá tốt, nhưng hình thức này, để trở nên hiệu quả, không cần thiết phải trở thành rập khuôn máy móc; có một hệ thống khá tốt nhưng hệ thống này – để tránh khỏi việc thực hành một cách cơ giới, và do đó tránh được “sự trống rỗng” – cần phải được đổi mới thêm. Với hình ảnh về thực tại, vốn luôn ở trong quan hệ tương hỗ bền chặt, không ngừng phản ánh khả năng đổi mới của nó, cuốn Điển thư về sự chuyển hóa giải phóng mọi quy tắc về chức năng hành dụng từ mọi sự mã hóa cố định và luôn luôn mở trong bước chuyển vượt của chúng.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: François Jullien – Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về Kinh dịch – NXB ĐN 2007.

Thay đổi chính sách cộng đồng – một bài toán khó cho nước Anh?


Ba vụ tấn công khủng bố trong vòng 3 tháng, đặt nước Anh trước một thách thức lớn: Làm sao chống và ngăn ngừa khủng bố? Bởi vì, theo nhận định của ủy ban đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp, những kẻ sát nhân không phải là thành viên của một mạng lưới rõ ràng, mà chỉ là những cá nhân riêng lẻ đi theo con đường Hồi giáo cực đoan. Nghiêm trọng hơn là ngày càng có nhiều phần tử Hồi giáo cực đoan sinh ra và lớn lên ở ngay tại nước Anh, cho dù hưởng thụ nền giáo dục dân chủ của Anh quốc, nhưng vẫn dễ dàng trở thành kẻ khủng bố ngay trên chính đất nước này.

Nước Anh vốn có truyền thống lạnh lùng và không thể hiện cảm xúc ra bên ngoài, đặc biệt là vẫn lạc quan vui vẻ khi bị tấn công khủng bố. Nhưng lần này, sau liên tục 3 vụ thảm sát chỉ tron vòng 3 tháng, Thủ tướng Anh Theresa May tuyên bố đã đến lúc cần phải có những cuộc trao đổi đáng xấu hổ để ngăn chặn khủng bố leo thang, và nước Anh đã quá dung thứ cho các hệ phái tư tưởng cực đoan. Bà nói: “Chúng ta không thể và không được giả đò như là sự việc cứ thế tiếp tục như vậy. Nhiều điều cần phải thay đổi, và phải thay đổi theo 4 hướng quan trọng: Trước hết, bởi vì các vụ tấn công không liên kết với nhau qua các mạng lưới hoạt động thường gặp, mà kết nối với nhau qua một điều quan trọng, là cùng chí hướng với nhau theo duy nhất một tư tưởng ác quỷ Hồi giáo cực đoan, đã truyền bá sự chia rẽ và cổ xúy chủ nghĩa giáo phái. Đó là tư tưởng cho rằng các giá trị phương Tây của chúng ta về tự do, dân chủ và nhân quyền không phù hợp với đạo Hồi.

Đó là tư tưởng muốn đem đạo Hồi đi theo chiều hướng xấu xa, và bẻ cong sự thật. Đánh bại tư tưởng này là một trong số những thách thức vĩ đại nhất cho thời đại của chúng ta. Nhưng không thể đánh bại chỉ bằng can thiệp quân sự mà thôi. Cũng sẽ không thể đánh bại được chúng bằng việc tiếp tục duy trì một chiến dịch vĩnh viễn để chống khủng bố, bất kể giới chuyên gia và chỉ huy giỏi đến mức nào. Chỉ có thể đánh bại hệ tư tưởng đó bằng cách đưa suy nghĩ của con người rời xa xu hướng bạo lực này và khiến họ hiểu rằng giá trị của chúng ta, giá trị đặc trưng của nước Anh là cao cả hơn bất kỳ điều gì mà những kẻ truyền bá và ủng hộ cho lòng thù hận rao giảng”.

Người tị nạn – một bài toán khó

Những lời rao giảng thù hận và chia rẽ sắc tộc đã khiến cho rất nhiều thiếu nữ Anh sinh ra và lớn lên ở đây sẵn sàng lên đường sang Trung Đông để làm vợ cho các chiến binh Daech, hay thanh niên sang tham gia vào lực lượng vũ trang, chống lại chính những người đồng bào Anh của mình.

Những lời rao giảng đó thậm chí không chỉ ảnh hưởng riêng trong các cộng đồng có nguồn gốc từ nền văn hóa Hồi giáo, mà mới gần đây trên thế giới từng ồn ào về trường hợp của một người gốc Việt Nam, cũng tham gia hoạt động tài chính và truyền thông cho khủng bố, bị cảnh sát bắt và tước quốc tịch rồi dẫn độ sang Mỹ để ra tòa và chịu án tù vì có liên quan tới âm mưu khủng bố quốc tế.

Sau khi những vùng căn cứ địa và trại huấn luyện ở Trung Đông bị liên quân xóa bỏ, nhiều thành viên của hệ tư tưởng quá khích đã quay trở về nước Anh và bắt đầu thực hiện những vụ tấn công khủng bố bằng những phương tiện thô sơ nhất.

Ban đầu là vụ đâm chết một thanh niên Anh mặc quân phục đi trên đường, rồi bây giờ là dùng xe hơi và dao kiếm tấn công vào khách du lịch hay người dân đang vui chơi ngoài đường. Thủ tướng Anh nói đã đến lúc nước Anh phải chấm dứt việc dung thứ quá mức cho tư tưởng cực đoan.

Nước Anh nổi tiếng là một đất nước tự do dân chủ, chủ trương mô hình xã hội cộng đồng, tức cho phép nhiều tôn giáo khác nhau cùng rao giảng, và nhiều hệ tư tưởng khác nhau cùng được tự do phát triển. Vấn đề đặt ra là với mô hình xã hội của Anh hiện nay, sẽ khó mà phân biệt được đâu là tư tưởng cực đoan không được phép, và đâu là sự phản đối chính nghĩa để bảo vệ cho tự do tư tưởng? Đây sẽ là một thách thức lớn cho anh, một đất nước với bề dày lịch sử phức tạp. Ngày xưa, nơi đây từng nổi tiếng với việc đàn áp người theo đạo Công giáo La Mã, giết hại linh mục và nhiều giáo dân phải lén lút hành đạo. Đó cũng chính là lý do khiến cho người Anh hôm nay cảm thấy cần phải trả nợ với quá khứ, và chấp nhận rất nhiều hồ sơ tị nạn theo diện tôn giáo. Thế nhưng, với một bộ máy hoạt động quá tải, và thái độ lơ là của nhân viên, thì việc để lọt lưới những người giả mạo hay thậm chí những kẻ quá khích là chuyện dễ hiểu. Từng có một số kẻ quá khích từ Iraq lọt lưới thanh lọc và được chính phủ Anh cho phép tị nạn, rồi lại hoạt động chống phá ngay trên mảnh đất này.

Ví dụ trong cộng đồng người Việt cũng có rất nhiều người dù là ở miền Bắc nhưng vẫn khai là theo đạo Hòa Hảo để xin tị nạn, mà trong đời chưa bao giờ biết địa danh đó nằm ở An Giang hay Đồng Tháp. Rồi cũng có nhiều trường hợp khai là trẻ em, mà theo luật thì cho đến khi kết luận người này không phải là trẻ em, thì vẫn được đi học trong trường Trung học cơ sở hay thậm chí là Trung học phổ thông cùng với trẻ em người Ah. Đó là chưa kể có đến trên dưới 1 triệu người không có giấy tờ vượt biên vào Anh. Đây cũng chính là vấn đề chung của những nước châu Âu đang bị khủng bố tấn công như Pháp và Đức, khiến cho một số nước mạnh tay như Hungary tuyệt đối không nhận người tị nạn.

Brexit – một giải pháp khả thi để chống khủng bố?

Đâu là giải pháp cho vấn đề nan giải này? Một ý kiến trong cuộc vận động Brexit vừa qua cho rằng sau ngày nước Anh rút khỏi cam kết phải tuân thủ tòa án châu Âu thì sẽ giảm bớt được gánh nặng về việc phải cho những người mà nước Anh không muốn nhận được tạm thời cư trú, và như vậy sẽ yên ổn phần nào về an ninh?

Dẫu sao đây cũng chỉ là một ý kiến tranh cãi, vì bản chất của vấn đề là làn sóng người di tản từ các quốc gia đang bất ổn vì Hồi giáo cực đoan vẫn đang tiếp diễn. Thuyền nhân tràn ngập ở vùng Địa Trung Hải tràn vào Hy Lạp, rồi ngược lên Pháp, tìm mọi cách trốn qua phà biển Manche vào Anh, mà có đủ loại mọi máy móc thiết bị thì vẫn có người lọt lưới.

Thủ tướng Anh của đảng Bảo thủ đương quyền nói không thể nào chiến thắng Hồi giáo cực đoan chỉ bằng vũ khí, còn Chủ tịch Công đảng bên kia phía đối lập thì nói bà Theresa May lẽ ra phải từ chức vì cắt giảm chi tiêu cho cảnh sát khiến bạo lực gia tăng thành khủng bố.

Một số ý kiến cũng chỉ trích cả hai chính phủ đã cắt giảm ngân sách dành cho ngành giáo dục, bỏ bê việc chăm sóc trẻ em từ khi còn nhỏ, hay các cộng đồng sắc tộc, khiến thanh niên dễ dàng nghe theo tuyên truyền của kẻ xấu. Có ý kiến thậm chí còn lần ngược trở lại quyết định của nước Anh cùng Hoa Kỳ tham chiến, tấn công Taliban sau vụ khủng bố 11/9. Thực sự, đó chính là những điều, mà như Thủ tướng Anh đã nói, là một cuộc trao đổi không hề dễ dàng và rất xấu hổ. Nước Anh từng ý thức được về chuyện này sau vụ London bỗng nhiên bị đốt phá ở khắp nơi, nhưng thực sự cho tới thời điểm này, chưa có chính sách hay hành động cụ thể nào để đối phó với một nguy cơ tấn công hoàn toàn mới, và không dễ gì giải quyết trong xã hội.

Đã vậy, nước Anh lại còn đang trong giai đoạn bầu cử để chọn ra một chính phủ mới, vừa lèo lái quá trình Brexit, lại vừa đối phó với tình hình kinh tế không mấy khả quan, và giờ đây lại thêm các vấn đề mới về văn hóa và cộng đồng, thực ra khó có câu trả lời nào cụ thể cho một giải pháp ổn định lâu dài.

Nguồn: RFI

TKNB – 09/06/2017

Mỹ có thể bắt đầu với Việt Nam chưa?


Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam có thể ít phức tạp hơn như Washington mong muốn, bất chấp mối đe dọa sử dụng vũ lực chống lại Hà Nội gần đây của Bắc Kinh nhằm ngăn chặn việc khoan dầu ở Biển Đông.

Điều thú vị là chẳng có gì trong tuyên bố chung ngày 31/5 của Tổng thống Donald Trump và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói là Mỹ sẽ cam kết hỗ trợ Hà Nội trong việc đối phó với các mối đe dọa của Trung Quốc.

Những người ở Washington xem Việt Nam như một đồng minh tiềm năng chống lại Trung Quốc có thể là đã hoàn toàn bỏ qua ảnh hưởng mạnh mẽ của nền thương mại qua biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Trong khi tham dự IMDEX tại Singapore vào tháng 5/2017, một nguồn tin công nghiệp quốc phòng cấp cao của Mỹ nói rằng một cuộc họp gần đây tại Hà Nội đã kết thúc đột ngột sau khi các quan chức Bộ Quốc phòng thông báo cho phái đoàn Mỹ rằng sẽ đòi “25% hoa hồng”. Một nguồn tin thứ cấp tại Singapore cũng cho biết các quan chức Chính phủ Việt Nam đã rửa tiền tại Singapore thông qua các bà vợ của họ.

Mỹ đã cấm hoạt động kinh doanh theo cách này bằng Đạo luật Chống tham nhũng nước ngoài 1977, theo đó hối lộ sẽ là một tội hình sự liên bang. Điều này có thể giải thích tại sao Việt Nam sẽ tiếp tục dựa vào vũ khí của Nga và do đó từ chối mọi hợp tác quân sự giữa Mỹ và Việt Nam.

Thời gian gần đây đã khẳng định việc Việt Nam sẽ mua 64 xe tăng T-90S/SK từ Moskva, và Nga đang cung cấp cho Việt Nam hệ thống tên lửa phòng không S-400 và máy bay chiến đấu MiG-35 để thay thế phi đội MiG-21 về hưu của Việt Nam. Nếu Việt Nam chọn MiG-35 sẽ kết thúc mọi hy vọng, sau Indonesia, Việt nam sẽ mua F-16A/B từ Mỹ. Carl Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales (Australia) nói: “Sự hợp tác quân sự Mỹ – Việt Nam còn phải đối mặt với những vấn đề khác. Một là chính sách quốc phòng của Việt Nam “Ba không”: không có liên minh quân sự, không có căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam và không phụ thuộc vào bất cứ nước nào để chống lại nước khác. Điều này “cùng với sự nghi ngờ sâu sắc của Mỹ đối với một số sĩ quan quân đội cao cấp đã về hưu và còn đương nhiệm đã làm giảm đi mọi bước tiến trong quan hệ quốc phòng”.

Tong khi đó, ông Ralph Cossa, Chủ tịch của Pacific Forum CSIS tại Honolulu nói: “Nếu chúng ta đã học được bất cứ điều gì về Việt Nam trong nửa thế kỷ qua, thì đó là không có ai thúc đẩy được Hà Nội đến bất cứ nơi nào họ không muốn đi. Không có sự mất lòng nhau giữa Hà Nội và Bắc Kinh, nhưng người Việt Nam sẽ phải cẩn thận để không công khai đứng về phía nào với bất cứ ai. Điều đó nói rằng đã có và vẫn còn là một cơ hội tuyệt vời cho Washington và Hà Nội để làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác và Trung Quốc cung cấp thêm sự khuyến khích cho cả hai để làm như vậy”.

Mỹ và Việt Nam đã ký một biên bản ghi nhớ (MOU) vào năm 2011 đề ra 5 lĩnh vực ưu tiên hợp tác: an ninh, hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai, trao đổi giữa các trường đại học quốc phòng, các viện nghiên cứu, và các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc.

Tuy  nhiên, theo ông Thayer, biên bản ghi nhớ năm 2011 đã làm Mỹ thất vọng. Ví dụ, Việt Nam đã từ chối lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter cho sĩ quan quân đội Việt Nam bay và uan sát trên P8 Poseidon tuần tra hàng hải trên Biển Đông.

Từng bước có sự liên kết chặt chẽ hơn nhưng không có liên minh, ông Patrick Cronin, cố vấn cao cấp kiêm giám đốc cấp cao của Chương trình An ninh châu Á – Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh mới của Mỹ nói: “Việt Nam bảo vệ một sự cân bằng lợi ích và Mỹ sẽ nhiệt tình củng cố quốc phòng của Việt Nam hơn là cung cấp một sự bảo đảm an ninh. Điều đó nói rằng, việc này có thể chỉ phụ thuộc vào cách Trung Quốc sẽ trở thành kiên định như thế nào nếu Việt Nam không chống nổi hải quân Trung Quốc”.

Tuy nhiên, đã có hoạt động về các vấn đề bảo vệ bờ biển. Trong tháng 5/2017, Cảnh sát biển Việt Nam đã được cung cấp 6 tầu tuần tra kim loại Shark và vào tháng 4/2017, nhận bàn giao một tàu lớp Hamilton đã ngừng hoạt động của Cảnh sát biển Mỹ.

Cho đến nay, Hà Nội dường như quan tâm chủ yếu tới việc nâng cao hiệu quả răn đe qua hợp tác quốc phòng khiêm tốn với Mỹ. Ông Richard Fisher, thành viên cao cấp tại Trung tâm Chiến lược và Đánh giá quốc tế nói:

Mặc dù Việt Nam đã đa dạng hóa các nguồn vũ khí của họ trong thập kỷ qua, họ đã cẩn thận để tránh phụ thuộc vào sự bảo vệ của một cường quốc nước ngoài”.

Cuộc xâm lược Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc, dù được thể hiện rất kém, đã chứng minh cho lãnh đạo Hà Nội rằng một người bạn nước ngoài sẽ không bảo vệ họ khi có nguy cơ chiến tranh với Bắc Kinh. Fisher nói:

Trung Quốc không đẩy Việt Nam vào vòng tay người Mỹ. Còn hơn thế, nó đang đẩy Hà Nội vào việc mua sắm vũ khí hạt nhân – là thứ sẽ đe dọa Bắc Kinh nhiều hơn so với một liên minh với Washington”.

Nguồn: Shephard.com

TKNB – 01/08/2017

Mối quan hệ biện chứng giữa một số lợi ích chủ yếu với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội – Phần III


Cá nhân bao giờ cũng là thành viên của một cộng đồng hay một nhóm xã hội cụ thể. Bản thân các cộng đồng tồn tại là bởi sự tồn tại của các cá nhân cùng các quan hệ qua lại giữa họ và các cá nhân cùng bị quy định bởi cộng đồng của mình.

Mối quan hệ cá nhân và cộng đồng là hết sức đa dạng. Do đó, mối quan hệ giữa lợi ích riêng và lợi ích chung cũng rất đa dạng. Đối với mỗi con người, lợi ích riêng của bản thân bao giờ cũng có ý nghĩa quyết định trực tiếp thôi thúc anh ta hành động. Đối với con người, khi người ta làm một cái gì đó thì thường là cái đó gắn liền với một nhu cầu hay lợi ích cụ thể nào đó của họ.

Con người nói chung là sống thực tế. Đối với con người hiện đại, tính thực tế cập nhật càng đậm nét hơn. Xã hội càng biến động, càng phức tạp, càng bất thường bao nhiêu thì tính hiệu quả trực tiếp nơi hành vi con người càng được đề cao bấy nhiêu. Do vậy, các quan hệ lợi ích, đặc biệt là lợi ích kinh tế ngày càng trở nên gay gắt, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay.

Trong các loại lợi ích, như đã nói trên, lợi ích kinh tế có tác dụng cuốn hút rất mãnh liệt. Vì vậy, các chủ trương phát triển kinh tế hộ gia đình, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, dân chủ hóa đời sống xã hội, trong mấy năm qua đã tạo nên một diện mạo mới của sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Sở dĩ như thế là vì, nó đáp ứng đúng tâm tư, nguyện vọng của đông đảo nhân dân – cái tâm tư nguyện vọng luôn luôn hiện diện như là lực lượng tinh thần, là động cơ tư tưởng chi phối mọi hành vi của con người. Động cơ ấy không phải là cái gì khác mà chính là sự phản ánh những lợi ích thiết thân và cấp bách của họ.

Con người hoạt động trước hết vì lợi ích của bản thân, của gia đình và người thân của mình, sau đó mới là vì cộng đồng, vì tập thể gần gũi với anh ta, rồi mới đến các cộng đồng, các tập thể lớn hơn, “xa” hơn (xã hội, khu vực, nhân loại…).

Nhưng nếu nhìn từ góc độ chung hơn ta lại thấy, một cá nhân không là gì cả, hơn thế, anh ta sẽ không thể tồn tại được chứ đừng nói là phát triển được nếu không có cộng đồng. Cá nhân bao giờ cũng gắn bó với một cộng đồng nhất định, một mặt, anh ta góp phần tạo nên sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, nhưng mặt khác, đời sống của anh ta cũng bị quy định hết sức chặt chẽ bởi sự tồn tại và phát triển của cộng đồng ấy. Điều này cũng có nghĩa là, việc thực hiện các lợi ích riêng của cá nhân hay lợi ích chung của cộng đồng cũng đều có tác động ảnh hưởng đến nhau.

Dĩ nhiên, lợi ích riêng bao giờ cũng là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất thôi thúc cá nhân hoạt động. Và, nó cũng là nhân tố quyết định trước hết. Vì thế có thể nói, nó là cơ sở để thực hiện lợi ích chung, ngược lại, lợi ích chung với ý nghĩa là những lợi ích hướng vào thỏa mãn những nhu cầu chung của nhiều thành viên hợp thành cộng đồng nên nó lại là điều kiện và đóng vai trò định hướng cho việc thực hiện lợi ích riêng.

Vì những lý do trên nên chỉ khi nào tạo lập được mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng thì mới có thể tạo nên được sự phát triển không những của các cá nhân, mà của cả cộng đồng. Từ đó một yêu cầu được đặt ra là cần tạo lập một cơ chế kích thích sao cho mỗi cá nhân riêng lẻ, mỗi cộng đồng riêng lẻ khi hoạt động thực hiện các lợi ích riêng của mình, nhất là những lợi ích riêng được phản ánh trong các lợi ích chung của xã hội, cũng sẽ đồng thời tạo nên một xu hướng vận động chung của cả cộng đồng theo hướng chúng ta mong muốn. Khi ấy hoạt động của từng cá nhân riêng lẻ nhằm thực hiện các lợi ích riêng của mình cũng đồng thời góp phần thúc đẩy xã hội vận động theo hướng chung.

Để tạo ra sự kết hợp thống nhất và hài hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng của xã hội ta giai đoạn hiện nay thì cần phải nhận thức được hệ thống các nhu cầu và lợi ích cấp bách mà các cá nhân cũng như các cộng đồng đang theo đuổi thực hiện, trong đó phải đặc biệt làm rõ những lợi ích nào đang là những lợi ích cấp bách nhất.

Chẳng hạn trong giai đạon hiện nay, lợi ích kinh tế đang là lợi ích quan trọng nhất đối với đa số nhân dân ta, bởi vì nó hướng vào thỏa mãn những nhu cầu vật chất tồn tại tối thiểu của mỗi gia đình và cá nhân. Do vậy, lợi ích kinh tế, lợi ích vật chất cũng đang là lợi ích chung của cả xã hội. Từ chỗ xác định được lợi ích cấp bách của các cá nhân, các gia đình riêng lẻ ta có thể thấy được lợi ích cấp bách của các nhóm xã hội. Và, tương tự thế, từ chỗ xác định được lợi ích cấp bách của các nhóm xã hội riêng lẻ khác nhau ta có thể vạch ra lợi ích cấp bách của cả một xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định.

Ở đây cần lưu ý rằng, lợi ích chung của cộng đồng xã hội không phải là sự phản ánh đơn thuần trực tiếp các lợi ích cấp bách của từng cá nhân như là một tập hợp rời rạc, mà nó là sự phản ánh một cách tổng thể những lợi ích đặc trưng của các nhóm xã hội như là một số thành .

Nhưng khi vạch ra hệ thống lợi ích cấp bách của cá nhân hay của một nhóm xã hội ta cần phải khảo sát nội dung và tính chất của chúng. Đối với hệ thống lợi ích riêng cần phân biệt lợi ích nào mang tính chất riêng tư cá biệt chỉ của một cá nhân hay một nhóm xã hội riêng và lợi ích nào mang tính chất chung của nhiều thành viên hay của cả một cộng đồng, nhiều cộng đồng. Từ sự khảo sát và phân loại này ta mới có thể chỉ ra được những lợi ích nào sẽ trực tiếp tham gia vào việc thúc đẩy sự phát triển chung của cả cộng đồng và xã hội.

Xem xét mối quan hệ giữa lợi ích riêng và lợi ích chung ta xem xét một trong các mối quan hệ căn bản của một cá nhân (hay một nhóm xã hội) với cả cộng đồng xã hội. Là sản phẩm của các quan hệ con người, xã hộ vừa tồn tại như một cơ thể tự nhiên tự điều chỉnh, vừa tồn tại trên cơ sở được tổ chức và điều hành bởi hệ thống các nguyên tắc được thiết lập bởi sự thỏa thuận hay áp đặt giữa các thành viên. Các nguyên tắc đó được thể hiện dưới hình thức các bộ luật, các lệ, khế ước xã hội hay bằng các hương ước cụ thể.

Trong hệ thống các quan hệ xã hội, ta thấy, quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của cá nhân và cộng đồng (hay của cộng đồng nhỏ với cộng đồng lớn) là quan hệ phản ánh mối tương quan giữa lợi ích riêng và lợi ích chung.

Quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân và cộng đồng như thế nào phụ thuộc vào tính chất của chế độ xã hội. Và, quan hệ này chỉ xuất hiện một cách thực sự ở các xã hội dân chủ – người dân là người chủ xã hội. Đối với những xã hội chuyên chế hay độc tài sẽ không tồn tại quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ. Điều này cũng có nghĩa là, về thực chất cũng sẽ không tồn tại tương quan giữa lợi ích riêng và lợi ích chung.

Mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ không nên quan niệm một cách đơn thuần trong từng quan hệ riêng lẻ. Đành rằng, lợi ích riêng là tối thượng đối với mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội cụ thể, mỗi cộng đồng xã hội cụ thể. Nhưng, như ta vẫn thấy, các lợi ích tối thượng ấy trong rất nhiều trường hợp hoặc không thực hiện được, hoặc nếu có thực hiện được thì cũng sẽ chẳng có ý nghĩa gì nữa nếu các lợi ích chung không được tôn trọng và sự không tôn trọng lợi ích chung đó dẫn đến phá hủy cộng đồng.

Do đó, trong các quan hệ lợi ích, mặc dù chủ thể nào cũng chịu sự dày vò của câu hỏi: ta được cái gì hay mất cái gì trong quan hệ với cộng đồng, nhưng đến một lúc nào đó, nhiều khi cũng xuất phát từ những toan tính riêng tư, họ sẽ nhận ra rằng mình phải có trách nhiệm và nghĩa vụ như thế nào đối với sự tồn tại và phát triển chung của cộng đồng trên cơ sở các nguyên tắc bảo đảm đã được thỏa thuận bởi vì nếu không thế thì bản thân họ cũng không thể tồn tại và phát triển được. Vậy là, không chỉ các quan hệ xã hội khách quan, mà ngay cả những tính toán riêng tư đã buộc họ phải tự giác nhận thức và thực hiện các trách nhiệm và nghĩa vụ nhất định đối với cộng đồng mà anh ta là thành viên.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.

Các nhóm lợi ích ở Mỹ – Phần IV


Truman và các học giả theo trường phái đa nguyên khác cũng nhấn mạnh rằng hệ thống chính trị Mỹ là đặc biệt có ích đối với nền chính trị đa nguyên. Cơ cấu phi tập trung hóa của nó mang lại vô số điểm tiếp cận – các đảng phái chính trị, các ủy ban và tiểu ban của quốc hội và tòa án, vô số các cơ quan chính quyền của liên bang, bang và địa phương – tại đó các nhóm có thể cạnh tranh để có được chính sách có lợi. Nó cũng tạo ra một tập hợp các tác nhân chính trị – những quan chức được bầu – mà mục tiêu của họ có thể được đáp ứng bởi những liên minh được xây dựng vững chắc trên diện rộng và những giá trị chung được bảo vệ rộng rãi. Trong khái niệm lý tưởng này, nền chính trị đa nguyên tạo ra một sự cân bằng chính sách phản ánh cả sự phân phối lợi ích trong xã hội và cường độ mạnh mẽ của việc theo đuổi lợi ích. Những lợi ích chung rộng rãi có sức nặng bởi các cuộc bầu cử khiến cho số đông trở thành vấn đề quan trọng; cường độ là yếu tố cần tính tới bởi những người quan tâm tới vấn đề nhất chính là những người có khả năng tham gia vào tổ chức và hành động nhất.

Như vậy, rõ ràng là quan điểm này của chủ nghĩa đa nguyên Mỹ không bao hàm sự khinh miệt đối với “các nhóm lợi ích cụ thể” hoặc “các nhóm gây áp lực” theo như quan niệm thông thường. Thay vào đó, các nhóm lợi ích được xem là những người tham gia rất quan trọng và quý báu trong nền chính trị dân chủ của xã hội công nghiệp hiện đại. Nếu không có sự tham gia của chúng, chính sách có thể được tạo ra mà không hề quan tâm tới những mong muốn thực tế của công dân đối với chính phủ.

Với ý nghĩa là sự mô tả thực tế, khái niệm chủ nghĩa đa nguyên tích cực hiển nhiên đã bị một số người chỉ trích. Không ai nghi ngờ rằng các nhóm có tổ chức thường là những người chơi rất quan trọng trong lĩnh vực chính trị; điều này không phải là vấn đề. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng các nhóm hoạt động nổi bật nhất trong nền chính trị không đại diện một cách cân bằng cho các nhóm lợi ích kinh tế và xã hội. Một số nhóm lợi ích, ví dụ như nhóm của các tập đoàn công nghiệp lớn, dường như chiếm tỷ lệ đại diện quá lớn; trong khi các nhóm khác, chẳng hạn nhóm lao động nhập cư và người thất nghiệp, không hề được đại diện. Như nhà khoa học chính trị E.E. Schattschneider đã nói: “Khiếm khuyết trong thiên đường của những người đa nguyên chủ nghĩa là ở chỗ dàn đồng ca của thiên đường hát lên với âm giọng chi phối của tầng lớp trên”. Lời giải thích rõ ràng nhất cho sự lệch này là các nguồn lực của tổ chức – tiền bạc, thông tin, tiếp cận quyền lực, kỹ năng, khả năng thương lượng – được phân phối rất bất bình đẳng giữa các nhóm lợi ích chính trị. Do vậy, khi các tổ chức đầu tư vào chính trị, kết quả sẽ bị thiên lệch theo hướng có lợi cho các nhóm được sự ủng hộ của những người giàu có, có nhiều thông tin và quyền lực.

Vấn đề của hành động tập thể

Một cách giải thích tế nhị hơn nhưng cũng không kém phần quan trọng cho sự thiên lệch rõ rệt trong tỷ lệ đại diện của các nhóm xuất phát từ sự khác biệt trong động cơ của hành động tập thể và những trở ngại đối với tổ chức giữa các loại nhóm khác nhau. Lời giải thích này, được nhà kinh tế học Mancur Olson đưa ra trong cuốn Logic của hành động tập thể (The Logic of Collective Action) (1965), bắt đầu bằng việc chỉ ra rằng những nhà đa nguyên chủ nghĩa kinh điển như Truman đã sai lầm khi cho rằng mọi người sẽ hình thành các nhóm lợi ích một cách tự phát để thúc đẩy hoặc bảo vệ những lợi ích chung. Một số người buộc phải đảm nhiệm việc tổ chức nhóm và tìm kiếm các nguồn lực để duy trì chúng. Và để thành công, những nhà tổ chức phải vượt qua một vấn đề kinh điển của hành động tập thể: đa số các nhóm lợi ích chính trị đều theo đuổi những lợi ích tập thể mà các thành viên của nhóm được hưởng lợi từ đó, bất chấp việc họ có giúp đạt được chúng hay không. Tính tư lợi có lý trí dẫn tới tình trạng ngồi không hưởng lợi rất phổ biến, làm suy yếu tổ chức và các nỗ lực của nó trừ phi nó tìm ra một cách thức nào đó cho vấn đề khó khăn này.

Một số nhóm giải quyết vấn đề này dễ dàng hơn nhiều so với các nhóm khác. Các nhóm nhỏ dễ tổ chức hơn các nhóm lớn bởi chi phí giao dịch thấp hơn và tình trạng ngồi không hưởng lợi ít nghiêm trọng hơn, do những kẻ ngồi không hưởng lợi dễ bị phát hiện hơn, dễ bị khinh miệt và trừng phạt về mặt xã hội hơn. Thêm vào đó, các nhóm có quyền lợi bị ảnh hưởng nhiều hơn trong một lĩnh vực chính sách sẽ sẵn sàng hành động hơn so với những người không bị ảnh hưởng (xem hộp “Quy tắc thiểu số”). Khi chi phí hoặc lợi ích tiềm năng là lớn, động cơ để đầu tư vào hành động chính trị cũng sẽ lớn.

Quy tắc thiểu số

“Các nhóm lợi ích đặc biệt” mang tai tiếng không thể cứu vãn trong nền chính trị Mỹ ngay từ những ngày đầu của nền Cộng hòa, khi James Madison cảnh báo về “bạo lực của bè phái” trong bài Người liên bang số 10. Theo quan điểm phổ biến, khi các lợi ích đặc biệt ảnh hưởng tới chính sách công, thì nền dân chủ sẽ bị thiệt hại. Điều này không nhất thiết đúng như vậy. Ngay cả khi các chính trị gia tập trung vào việc tối đa hóa số phiếu bầu của mình trong cuộc bầu cử kế tiếp và do vậy sẵn sàng đáp ứng quy tắc đa số, các nhóm lợi ích đặc biệt vẫn có rất nhiều cơ hội thành công trong việc vận động cho những chính sách mang lại lợi ích cho họ.

Để hiểu tại sao lại như vậy, chúng ta đơn giản chỉ cần thừa nhận rằng thông tin là rất đắt đỏ. Các cử tri sẽ giám sát hành động của những người đại diện cho mình trên những vấn đề quan trọng đối với họ và chỉ khi nào các thông tin như vậy có thể thay đổi sự ủng hộ của họ đối với ứng cử viên A hoặc ứng cử viên B trong cuộc bầu cử kế tiếp. Một đạo luật trợ cấp cho sản phẩm sữa đang được xem xét tại Quốc hội, nếu được thông qua, sẽ làm tăng thêm một hoặc hai xu đối với người tiêu dùng. Tuy nhiên, đa số các cử tri sẽ bỏ qua vấn đề này bởi chi phí để biết về việc này và nghiên cứu cách thức bỏ phiếu của những người đại diện cho họ sẽ vượt qua những lợi ích có được từ việc biết được thông tin này.

Mặc dù phần lớn cử tri sẽ bỏ qua các đạo luật trợ cấp sản phẩm sữa, song những người nông dân cung cấp sữ chắc chắn không làm như vậy. Một khoản phụ thu nhỏ từ sản phẩm sữa có thể giúp cải thiện đáng kể thu nhập của họ. Bởi vậy, những người nông dân này sẽ trả chi phí cao hơn để biết từng chi tiết của chính sách cũng như theo dõi hành động của các đại diện của mình. Thường thường, chi phí này sẽ bao gồm cả chi phí thuê các nhà vận động hành lang.

Giống với việc sử dụng thông tin, việc truyền bá thông tin cũng rất tốn kém. Hầu như không người tiêu dùng nào tình cơ nghe được thông tin về dự thảo luật trợ cập sữa chịu bỏ công sức để chứng tỏ sự phản đối của họ, trong khi những người nông dân cung cấp sữa sẽ dành đáng kể thời gian và tiền bạc để tuyên truyền về sự ủng hộ của họ.

Các chính trị gia sẽ nhận thấy rằng đa số công dân không quan tâm nhiều lắm tới việc trợ cấp và ít khả năng họ sẽ bỏ phiếu dựa trên vấn đề này. Đồng thời, họ cũng nhận ra rằng một số ít người khác – những nông dân cung cấp sữa – hết sức quan tâm tới vấn đề và có thể dành lá phiếu của họ cũng như các khoản đóng góp cho chiến dịch vận động tranh cử trên cơ sở hành động của các đại diện của họ trên vấn đề này. Bởi vậy, ngay cả các chính trị gia luôn cố gắng đạt được càng nhiều phiếu càng tốt đôi khi cũng sẽ đặt những ưu tiên của một nhóm lợi ích đặc biệt lên trên lợi ích của đông đảo các công dân bình thường khác.

 

Quy mô của nhóm và phần đóng góp của các thành viên thường có quan hệ tỷ lệ nghịch, khiến cho tình trạng thiên lệch càng tồi tệ thêm. Đối với một số ít nhóm may mắn, một thành viên riêng rẽ có thể có lợi ích đủ mạnh để sẵn sàng chi trả toàn bộ chi phí cho việc theo đuổi lợi ích chung của cả nhóm. Chẳng hạn như Exxon có thể nhận thấy nó vẫn có lợi khi đầu tư vào việc vận động nhằm bãi bỏ việc kiểm soát giá xăng dầu ngay cả khi nó phải chi trả toàn bộ chi phí để tạo ra một lợi ích mà toàn bộ các nhà sản xuất xăng dầu sẽ cùng được hưởng. Ngược lại, có rất nhiều lợi ích tập thể phổ biến, được chia sẻ bởi quá nhiều người sẽ có tỷ lệ đại diện rất kém nếu những người chia sẻ chúng hành động một cách lý trí và duy trì vị thế người ngồi không hưởng lợi.

Phân tích này có thể giải thích tại sao các nhóm vận động hành lang đại diện cho những lợi ích kinh tế hạn hẹp có xu hướng chi phối tại Washington, nhưng nó cũng đặt ra một câu hỏi mới: tại sao vẫn có rất nhiều nhóm vận động hành lang mạnh lên tiếng đề đạt nguyện vọng cho các lợi ích phổ biến và rộng rãi? Thực tế, một trong những thay đổi đáng kinh ngạc nhất đố với các nhóm lợi ích trong ba thập niên vừa qua chính là sự phổ biến của các tổ chức tuyên bố đại diện cho hàng triệu công dân tập trung vào một số loại hình lợi ích công. Sự phổ biến này bắt nguồn một phần từ thực tế rằng rất nhiều người sẵn sàng góp sức cho các nhóm ủng hộ những vấn đề họ quan tâm mà không hề lo lắng về việc liệu những đóng góp của họ có tạo nên sự khác biệt đáng kể này hay không. Những động cơ đạo đức, sự hài lòng của cá nhân về việc được chứng tỏ bản thân, đã thắng thế khái niệm về sự suy xét lý trí của các nhà kinh tế học trong trường hợp của vô số công dân quan tâm – những người đã gửi tiền đóng góp cho các nhóm vận động, cho việc bảo vệ môi trường, cải cách chính trị, cấm nạo phá thai, quyền của động vật, và hàng loạt vấn đề xã hội khác. Những nhóm này không ra đời một cách tự phát thông qua hành động của những công dân quan tâm; phần lớn được hình thành bởi những nhà hoạt động mạnh dạn được hỗ trợ bởi các tổ chức từ thiện, những cá nhân giàu có hoặc bản thân chính quyền. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều nhóm được duy trì nhờ phí hội viên và các khoản đóng góp nhỏ của đông đảo công dân.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.