Định lý Brit


Khoảng hai ba chục năm trước, khi đó chúng ta cho rằng “hữu xạ tự nhiên hương”, cho rằng “vàng thật không sợ thử lửa”, tưởng rằng có thể “đánh rắn dập đầu”, bất kỳ sự khuếch trương thanh thế nào đều bị cho là đáng xấu hổ, là biểu hiện của sự kém cỏi thấp hèn. Khi đó, quảng cáo không được các nhà sản xuất coi trọng. Nhưng quảng cáo là sản vật của kinh tế thị trường, không nghi ngờ gì sẽ ngày càng lám sống dậy nền kinh tế, đóng một vai diễn ngày càng quan trọng trên vũ đài. Người ta thường nói hàng tốt vẫn phải tuyên truyền khéo. Một quảng cáo tốt có thể gây cảm hứng và cảm tình với người tiêu dùng, làm cho người tiêu dùng có ý muốn mua hàng, thúc đẩy hành động mua hàng của người tiêu dùng.

Nguyên chủ tịch hãng Coca Cola có một câu nói nổi tiếng: “Coca có tới 99,1% là nước, gas và đường nếu không tiến hành tuyên truyền quảng cáo, ai sẽ uống đây?”. Coca bán chạy trên thế giới, thâm nhập vào thị trường của 135 quốc gia và khu vực, được người ta coi là tượng trưng tinh thần nước Mỹ. Coca được mọi người yêu thích như vậy, ngoài những nguyên nhân khác ra, tác dụng của quảng cáo không thể xem nhẹ. Coca Cola bắt đầu từ năm 1886, đã không tiếc giá thành sản phẩm, sẵn sàng lợi dụng thủ đoạn quảng cáo để mở rộng tiêu thụ sản phẩm. Năm 1886, kim ngạch kinh doanh là 120.000 USD, chi phí quảng cáo là 100.000 USD; đến nay chi phí quảng cáo hàng năm là hơn 600 triệu USD. Ta thử tính xem tỷ lệ cho phí quảng cáo của Coca chiếm bao nhiêu kim ngạch kinh doanh: năm 1886 là 92%, năm 1901 là 83%. Có thể chính là hành động làm người ta phải ngạc nhiên này đã làm cho thứ đồ uống mà 91,1% là nước, gas và đường này lại bán chạy nhất thế giới.

Nâng cao danh tiếng của sản phẩm là một trong những nội dung quan trọng cả cạnh tranh doanh nghiệp, mà quảng cáo là vũ khí không thể thiếu để nâng cao danh tiếng cho sản phẩm. Một nhà doanh nghiệp mẫn tiệp luôn giỏi lợi dụng quảng cáo, nâng cao “thanh danh” của doanh nghiệp và sản phẩm, từ đó nâng cao “giá trị bản thân”, đẩy mạnh cạnh tranh, mở rộng thị trường.

Đã từng có một câu chuyện như thế này: một công ty thuốc lá ở một nước nào đó phái một một nhân viên marketing đi đến một khu du lịch ven vịnh giới thiệu thuốc lá thơm “nhãn hiệu vương miện”, nhưng thị trường thuốc lá ở khu vực đó đã bị hãng hiệu khác chiếm lĩnh, nhân viên marketing đó đang khổ tâm không cách nào, lại tình cờ bắt gặp sự gợi ý từ một tấm biển cấm thuốc lá, anh ta liền chế tác ra một loại quảng cáo cỡ lớn, trên biển quảng cáo viết hàng chữ lớn “cấm hút thuốc lá”, và thêm vào ở dưới đó hàng chữ “nhãn hiệu Vương miện cũng không nằm ngoài”. Kết quả thu hút sự hứng thú của nhiều du khách, thi nhau mua thuốc lá hiệu Vương miện, mở ra con đường tiêu thụ cho hãng.

Quảng cáo trong phương diện truyền đạt thông tin về sản phẩm là một trong những thủ đoạn nhanh nhất, tiết kiệm nhất và có hiệu quả nhất. Một sản phẩm tốt mượn sự trợ giúp của quảng cáo, thủ đoạn khoa học hiện đại hóa, thì tác dụng phát huy không biết sẽ cao hơn nhân lực bao nhiêu lần. Quảng cáo tốt không những có thể đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp, mà còn có lợi việc lập nên hình tượng xã hội của doanh nghiệp. Quảng cáo có thể làm cho lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội kết hợp lại với nhau. Cả hai cùng hỗ trợ thúc đẩy lẫn nhau, thì tác dụng cơ năng của toàn thể doanh nghiệp sẽ có thể phát huy mạnh hơn.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Đức Lân (bs) – 99 nguyên tắc giản đơn quyết định trong cuộc sống – NXB TN 2008.

Advertisements

Chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc: Từ Henry Kissinger tới Donald Trump – Phần III


Liệu Trung Quốc có vượt Mỹ với danh nghĩa siêu cường?

Một số chuyên gia lớn của Mỹ về quan hệ quốc tế từ lâu đã phổ biến ý tưởng cho rằng Trung Quốc sẽ thay Mỹ trở thành cường quốc đứng đầu thế giới. Giáo sư tại Đại học Chicago John Mearsheimer, trong tác phẩm “Bi kịch của những chính sách nước lớn” công bố năm 2001, giải thích rằng tiềm năng phát triển kinh tế của Trung Quốc tất nhiên biến nước này thành cường quốc cạnh tranh với Mỹ: “Nhưng nếu Trung Quốc trở thành một Hong Kong khổng lồ, họ có thể có sức mạnh tiềm tàng gấp 4 lần của Mỹ, cho phép họ đạt được lợi thế quân sự mang tính quyết định so với Mỹ”.

Đối với những người nắm giữ sức mạnh của Mỹ, dĩ nhiên cần phải đấu tranh chống lại một sự tiến triển như vậy. Năm 1992, học thuyết Wolfowitz đã đưa ra cảnh báo rằng sau khi Liên Xô sụp đổ, để giữ quyền bá chủ của mình, nước Mỹ nhất định không được để một siêu cường mới nổi lên. Khi đó, Paul Wolforwitz, Thứ trưởng quốc phòng phụ trách các vấn đề chính trị, bị cho là một nhân vật bảo thủ mới, hay chí ít là một nhân vật “diều hâu” về chính sách đối ngoại Mỹ.

Theo John Ikenberry, giáo sư Đại học Princeton, sức mạnh của Trung Quốc sẽ thực sự được tăng cường trong thế kỷ mới bắt đầu này, còn “thời khắc đơn cực” của Mỹ sắp kết thúc. Khác với Wolforwitz, John Ikenberry không có ý định đấu tranh chống lại tiến trình này, vì đối với một nhà sử học đó là điều đương nhiên. Ngược lại, ông tìm hiểu xem liệu nước bá quyền mới này có biết tôn trọng trật tự do quốc tế được Mỹ và các đồng minh thiết lập sau năm 1945 hay sẽ phá hoại nó. Theo Ikenberry, hệ thống này cần phải được gìn giữ vì trước hết nó thuộc về những lý do đạo đức. Thật vậy, nó bao hàm sự tôn trọng các chuẩn mực luật pháp và các nguyên tắc cởi mở thuận lợi cho sự ổn định thế giới và hạnh phúc của tất cả mọi người. Trung Quốc đã hưởng lợi từ hệ thống này bởi vì họ đã hòa vào dòng chảy của các luật lệ tự do thương mại. Vì vậy, Ikenberry mơ về một thế kỷ XXI với Trung Quốc sẽ thay Mỹ đứng đầu trật tự tự do quốc tế của 1945.

Vậy thì, cần phải suy nghĩ về bản chất của cường quốc Trung Hoa như nước này đang hình thành. Nếu như người ta không nghi ngờ gì sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc, thì sự triển khai sức mạnh mềm của họ lại không được đảm bảo cho lắm. Liệu Trung Quốc có một dự án tự do dành cho thế giới? Không chỉ vì ảnh hưởng văn hóa của Trung Quốc trên thế giới không thể so sánh được với ảnh hưởng của Mỹ, mà cần lưu ý rằng cho tới nay, Bắc Kinh vẫn thiếu một dự án toàn cầu. Chẳng hạn, Trung Quốc đã không cho biết quyết tâm áp đặt mô hình chính trị của họ đối với các nước khác. Đúng ra, họ chỉ định hình như là cường quốc kinh tế và thương mại lớn nhất trên thế giới, theo mô hình của Anh trong thế kỷ XIX. Vì vậy, dự án của Trung Quốc đối với thế giới chỉ giới hạn ở sự kiểm soát các tuyến đường biển và đường bộ, cũng như làm cho việc quản trị thế giới phù hợp hơn với các lợi ích của họ.

Một cách thức khác để xem xét vấn đề sức mạnh của Trung Quốc là nghĩ rằng Trung Quốc phát triển như là một đối thủ cạnh tranh khu vực hơn là đối thủ cạnh tranh toàn cầu của Mỹ. Trong lĩnh vực quân sự, Trung Quốc phát triển các phương tiện quân sự gọi là “chống tiếp cận và chống xâm nhập” (A2/AD), có khả năng giữ chân Mỹ tại chỗ ở châu Á, thậm chí đẩy lùi Mỹ. Như vậy, Mỹ sẽ giữ vai trò trên phạm vi thế giới, còn Trung Quốc giới hạn ở châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, cách tiếp cận này không tính tới sự hiện diện dày đặc các lợi ích thương mại và kinh tế của Trung Quốc tại châu Phi và Mỹ Latinh.

Liệu chế độ độc đoán của Trung Quốc có chuyển thành nền dân chủ tự do?

Cuộc bàn luận thứ 2 xuất phát từ ý tưởng, rất phổ biến ở các nhà quan sát phương Tây có đầu óc lý tưởng nhất, theo đó sự phồn vinh về kinh tế (thường đi kèm với các chính sách tự do được gọi là “Đồng thuận Washington”) đương nhiên tạo thuận lợi cho quá trình dân chủ hóa. Như vậy, mức sống của người dân càng tàng thì đòi hỏi tự do chính trị cũng tăng theo. Thực vậy, sự tồn tại của một phe đối lập chính trị tại Trung Quốc dù bị chính quyền trấn áp mạnh, cho thấy khả năng về một cách mạng dân chủ không hoàn toàn bị loại trừ.

Tuy nhiên, trong tác phẩm mới đây, “Sự kết thúc của thế kỷ châu Á”, Micheal Auslin, một nhà nghiên cứu tại Viện Hoover, lại giải thích rằng chế độ Trung Quốc không thể tự cải cách từ bên trong. Theo ông, giống như Liên Xô, sự khởi đầu của mọi tiến trình sẽ có thể dẫn tới sự sụp đổ của chế đọ, và vì thế chế độ này sẽ ra sức chống lại mọi mưu toan dân chủ hóa. Thái độ đó kìm hãm sự năng động và năng lực sáng tạo của xã hội Trung Quốc, do đó sẽ cản trở sự phát triển của cường quốc Trung Hoa và “thế kỷ của châu Á” sẽ kết thúc thậm chí trước cả khi nó được bắt đầu. Aaron Friedberg còn đi xa hơn. Theo ông, mọi cam kết hợp tác với Trung Quốc chỉ kéo dài thêm sự tồn tại của chế độ hiện nay. Vậy mà, mục tiêu của Mỹ là cần phải đưa tới sự thay đổi chế độ của Bắc Kinh một cách nhanh nhất có thể để đảm bảo hòa bình vì “Các nền dân chủ không gây chiến tranh”. Vì thế, thay vì chấp nhận các thỏa hiệp, nước Mỹ cần phải có giọng điệu cứng rắn hơn và kiên quyết triển khai sự hiện diện quân sự vây quanh Trung Quốc.

Kissinger đã đưa ra những khuyến nghị hoàn toàn trái ngược. Theo ông, cần phải đối thoại và hợp tác với Trung Quốc bằng cách chấp nhận các thỏa hiệp nếu cần. Mục tiêu của “cam kết” này không nhất thiết là khuyến khích tự do hóa chế độ Bắc Kinh: Kissinger nghĩ rằng một bước đi như vậy từ phía Mỹ sẽ chỉ quay sang chống lại chính mình và chống lại các nhà đấu tranh đòi dân chủ tại Trung Quốc. Nói đúng hơn, để đảm bảo sự ổn định trong khu vực, Mỹ cần phải tìm kiếm một tạm ước với chế độ độc đoán Bắc Kinh như nó vốn như vậy. Những người theo chủ nghĩa hiện thực cho rằng chế độ Trung Quốc sẽ không biến đổi theo hướng dân chủ trong những năm tới. Tuy nhiên, điều đó không thuộc phạm vi trách nhiệm đạo đức của Mỹ.

Đối đầu vũ trang giữa 2 nước có phải là điều tất yếu?

Luận thuyết mới đây của Graham Allison, “Liệu Mỹ và Trung Quốc cót hể tránh khỏi cái bẫy Thucydice?” (Nhà xuất bản Houghton Mifflin Harcourt, 2017), lấy cảm hứng từ cuộc chiến tranh Péloponnèse giữa Nhà nước Sparta, cường quốc đang suy tàn và Nhà nước Athena, cường quốc đang lên, để tranh giành sự thống trị thế giới Hy Lạp vào thế kỷ V trước công nguyên. Thông thường những quốc gia suy yếu và quốc gia đang mạnh lên chống lại nhau để giành sự thống trị thế giới bằng chiến tranh. Vì vậy, sẽ là bình thường khi Trung Quốc và Mỹ sớm muộn gì cũng trong tình trạng xung đột. Nghiên cứu bi quan này được nhiều nhà tư tưởng nổi tiếng chia sẻ, như Samuel Huntington, John Mearsheimer và giáo sư Đại học Princeton, Robert Gilpin.

Theo Kissinger, cũg như đối với một số nhà tư tưởng theo chủ nghĩa hiện thực như Micheal D. Swaine và Charles L. Glaser, cần phải ngăn chặn một kết cục như vậy trong thời đại hạt nhân bằng mọi giá. Vậy mà, có thể tránh một cuộc đối đầu bằng cách thiết lập một thói quen đối thoại bền vững với Trung Quốc. Bộ ngoại giao Mỹ đã kiên quyết đi theo hướng này, bởi vì hiện nay có 4 cuộc “đối thoại thường niên” song phương Mỹ – Trung: đối thoại ngoại giao và an ninh, đối thoại kinh tế toàn diện, đối thoại về thực thi pháp luật và an ninh mạng, và đối thoại về các vấn đề xã hội và văn hóa. Cũng có thể kể thêm Đối thoại Shangri-La về an ninh châu Á, một diễn đàn thảo luận đa phương về các vấn đề an ninh khu vực, do Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) tổ chức hàng năm từ năm 2002 và khoảng 50 quốc gia tham gia, trong đó có Trung Quốc. Các nhà ngoại giao là “những người theo chủ nghĩa kiến tạo lạc quan”, đi theo trường phái của Friedberg, bởi vì họ nghĩ rằng càng hiểu biết một đối tác lạ thì người ta càng đánh giá cao đối tác ấy. Trường phái bi quan trong quan hệ quốc tế, đặc biệt được đại diện bởi Reinhold Nieburg ở Mỹ, xuất phát từ một quan niệm tiêu cực hơn về bản chất của con người và lên án sự ngờ nghệch của niềm tin này.

Cuối cùng, một trường phái tư duy hoàn toàn khác với tư duy cho rằng một cuộc đối đấu giữa Mỹ và Trung Quốc là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn Robert Ross, giáo sư Đại học Boston, đánh giá Trung Quốc theo đạo Khổng là một cường quốc hoàn toàn bảo thủ. Bắc Kinh không muốn thách thức trật tự thế giới đã được thiết lập và rất dè dặt đi vào con đường xung đột với Mỹ. Sự hội nhập mạnh mẽ của Trung Quốc trong lĩnh vực thương mại thế giới từ năm 2001 đã củng cố giả thuyết này.

(còn tiếp) 

Nguồn: http://www.ocppc.ma/sites/default/files/Nardon_EtatsUnis_face_Chine_2017.pdf

TLTKĐB 24 & 25/02/2018

Những bài học của mười năm chuyển đổi nền kinh tế hậu xã hội chủ nghĩa – Phần III


Sự tăng thu nhập thực tế của dân cư, ổn định chính trị và các mong đợi lạc quan trong dân chúng là những tiền đề tăng vượt về mức độ tiết kiệm (so với tăng thu nhập). Trong báo cáo của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (năm 1996) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng tiết kiệm nhà nước bằng cách xem xét lại các hệ thống bảo hiểm xã hội, đảm bảo lương hưu và mở rộng cơ sở đánh thuế trong khi giảm thuế suất. Theo quan điểm này, việc quy định các mức lãi suất thực tế cao có vẻ là rất không hợp thời. Hoạt động thuế và giả thuế của các Ngân hàng Trung ương các nước hậu XHCN đã tạo ra những phí tổn của chính sách không sinh lời do sự phân cách quá mức các mức lãi suất và/hoặc giảm tỷ giá trao đổi. Trong một thời kỳ dài, các Ngân hàng Trung ương Cộng hòa Séc và Ba Lan đã mất gần 1% GDP do tiến hành chính sách này.

Xin nhấn mạnh một đặc điểm quan trọng nữa của sự đồng thuận đang xuất hiện. Cùng với vai trò chủ đạo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới, sự đồng thuận này phải bao quát nhiều đối tác hơn, chẳng hạn, Liên hiệp quốc, OECD, WTO, ILO và EBRD. Về nguyên tắc thì các tổ chức khu vực như ASEAN ở châu Á, CEWTA ở Trung Âu hay SNG phải tác động tích cực hơn tới quá trình thay đổi trật tự kinh tế và tài chính quốc tế. Như vậy, khi tìm kiếm sự đồng thuận mới, không chỉ phải dựa vào chính sách mới của Washington mà còn phải dựa vào chính sách đã được Washington và các đối tác khác trong nền kinh tế toàn cầu nhất trí.

Những phương tiện và mục tiêu của chính sách kinh tế

Việc không đạt được những kết quả to lớn trong khuôn khổ của sự đồng thuận Washington trước đây, phần nào là do sự lẫn lộn giữa phương tiện và mục tiêu của chính sách này. Lạm phát thấp, tỷ giá hối đoái ổn định và sự bền vững về tài chính cũng như tư nhân hóa và tự do hóa – đó chính là những phương tiện hay công cụ của chính sách kinh tế, trong khi đó thì phát triển kinh tế bền vững và nâng cao mức sống lại là các mục tiêu của chính sách. Những khác biệt giữa các mục tiêu và phương tiện này rất rõ ràng và không thể giải thích sự lẫn lộn giữa chúng chỉ bằng suy nghĩ ngây ngô hay lười biếng của các nhà kinh tế và chính khách.

Những điều lầm lẫn trong chính sách thường xảy ra do sự trung thành với các nhóm quyền lợi hay các trường phái lý luận đặc biệt. Điều này còn diễn ra cả trong sự vận động về tư tưởng và chính trị ngoài hành lang. Không có các bác sĩ và kỹ sư theo cánh tả và cánh hữu. Williamson chỉ ra một Washington mang tính “chính trị” và tính “kỹ nghệ”, đồng thời nhấn mạnh những ưu thế và sự nhiệt thành khác nhau của các chính khách. Tuy nhiên, những khác biệt nghiêm trọng tồn tại không chỉ giữa các bộ phận “chính trị” và “kỹ nghệ” của Washington, mà còn ngay cả ở bên trong các bộ phận này.

Tình hình phức tạp ở chỗ, một số nhân vật của cái gọi là bộ phận “kỹ nghệ” hoạt động trên sân khấu chính trị đang đóng rất đạt các vai chính khách, ngay cả khi không cố ý. Điều này rất đặc trưng cho các tổ chức của Bretton Woods, đặc biệt là IMF, một tổ chức mà trong quan điểm của mình đối với các nước như Nga, Ukraine, luôn nhấn mạnh rõ tình trạng đã nêu trên.

Các mục tiêu của chính sách phát triển rất phổ quát, còn việc giải thích chúng bởi những người đồng ý với sự đồng thuận Washington, mà trước hết là Ngân hàng Thế giới lại thay đổi theo thời gian. Không chỉ cân đối nền kinh tế và tăng trưởng lâu dài, mà cả những vấn đề cải thiện đời sống, phân phối thu nhập, môi trường và cuối cùng chính nền dân chủ cũng đang trở thành những ưu tiên quan trọng. “Cả những quan niệm của chúng ta về việc phát triển những công cụ nào là cần thiết để thúc đẩy thị trường hoạt động có hiệu quả cũng đã được mở rộng, còn danh sách những nhiệm vụ phát triển cũng được bổ sung thêm, như đảm bảo bền vững thị trường, giảm phân hóa thu nhập và củng cố các nguyên tắc dân chủ”. Quả thực, Ngân hàng Thế giới luôn tập trung chú ý vào các mục tiêu xã hội và phát triển vốn con người nhiều hơn so với các tổ chức tài chính quốc tế khác. Thường thì các ngân hàng quan tâm tới chỉ số lợi nhuận chứ không quan tâm tới chỉ số phát triển con người, đồng thời Ngân hàng Thế giới còn tham gia vào nhiều dự án (không chỉ ở các nền kinh tế đang chuyển đổi) nhằm nâng cao mức sống, giảm đói nghèo.

Hiện nay, ngay cả IMF cũng muốn định hướng vào việc phân phối một cách công bằng “các thành quả” tăng trưởng kinh tế. S. Fischer, phó giám đốc điều hành thứ nhất của IMF đã tự đặt ra câu hỏi, tại sao những lý lẽ về sự công bằng lại có ý nghĩa đối với IMF? Và cũng tự ông trả lời: “Mặc dù có những quan điểm khác nhau về việc phân phối thu nhập phải như thế nào thì được coi là công bằng, nhưng chúng tôi cho rằng về mặt xã hội, sự nghèo đói trong dư thừa là không thể chấp nhận được. Có lập luận mang tính công cụ có lợi cho lý lẽ công bằng là: các chương trình phát triển nhằm đạt được sự công bằng chắc chắn sẽ là các chương trình bền vững hơn”.

Rõ ràng là, kinh nghiệm cải cách ở các nước hậu XHCN, những khó khăn trong việc khắc phục sự biến đổi bất lợi của các chỉ tiêu kinh tế và chuyển sang tăng nhanh các chỉ tiêu này đóng vai trò đáng kể trong việc hình thành quan điểm trên. Chúng ta cũng là những người chứng kiến tốc độ tăng trưởng nhanh trong các nền kinh tế XHCN đã cải cách ở châu Á, mà khác với các nền kinht ế chuyển đổi của các nước Đông Âu và Liên Xô cũ, phần lớn họ không tuân theo các nguyên tắc sự đồng thuận Washington. Hiện giờ, kinh nghiệm này cùng với những hậu quả của cuộc khủng hoảng ở Đông Nam Á, đang tác động như một chất xúc tác để hình thành nên sự đồng thuận hậu Washington mới theo cách giống hệt như cuộc khủng hoảng nợ ở các nước Mỹ Latin những năm 80, đã dẫn tới hình thành phương án của sự đồng thuận trước đây.

Chuyển đổi với tư cách là quá trình cải tổ hệ thống

Sự hình thành các thể chế thị trường mà đôi khi phải xuất phát từ con số không – đó là yếu tố quyết định thành công của sự chuyển đổi. Khác với các nước Đông Âu, công việc này ở các nước cộng hòa hậu Xô Viết, khó khăn hơn nhiều, bởi lẽ, ở đây còn chưa có ngay cả những thể chế thị trường cơ bản như Ngân hàng Trung ương độc lập hay đồng tiền nội tệ, chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Ở các nền kinh tế XHCN đã được cải cách ở châu Á, quá trình này diễn ra còn chậm chạp hơn, nhưng nó vẫn hướng tới tự do hóa và mở cửa.

Một số nước hậu XHCN đã lựa chọn con đường tự do hóa và tư nhân hóa dần dần, thậm chí là rất chậm. Tuy rằng suy thoái sản xuất xảy ra sau khi lựa chọn có nhẹ hơn, song nó vẫn gây trì hoãn tiến trình của các cải cách cơ cấu quan trọng nhất. Giá như thời gian đó được sử dụng cho công cuộc xây dựng thể chế phù hợp, thì cơ hội mở rộng sản xuất lâu dài có lẽ sẽ lớn hơn rất nhiều. Một số nước đã đi theo cách thay đổi nhah. Với sự phát triển của các sự kiện như thế thì suy thoái sản xuất ở các giai đoạn đầu sẽ nặng nề hơn, nhưng công cuộc xây dựng thể chế lại hiệu quả hơn rất nhiều.

Thiếu sự can thiệp của nhà nước vào việc xây dựng các thể chế thì không thể hình thành được nền kinh tế thị trường. Nếu nhà nước không thể tạo dựng được cơ cấu thể chế phù hợp, sẽ xuất hiện “những đổ vỡ” thị trường và việc thể chế hóa không chính thức sẽ chiếm ưu thế. “Có thể dễ dàng xác định cơ cấu thể chế hoạt động một cách bình thường: mỗi chủ thể làm những gì được quy định, tổ chức phối hợp tốt, hầu như không có các xung đột, còn nền kinh tế thì phát triển nhanh và thuận lợi. Chúng ta cũng có thể xác định một cơ chế thể chế yếu kém: những thay đổi bị kìm hãm bởi các chỉ thị quan liêu hoặc là xuất hiện “CNTB ăn cướp” với nạn tham nhũng và lừa gạt tràn lan.

Những bệnh hoạn thể chế như thế có thể xuất hiện do sự biến đổi ngẫu nhiên chứ không phải biến đổi có kế hoạch. Vị tất, có thể gọi một hệ thống mà ở đó “chỉ những người ngu mới nộp thuế”, các hợp đồng không được thực hiện, còn các khoản tiền nộp không được thực hiện đúng thời hạn, là nền kinh tế thị trường hay không. Có lẽ đó chỉ là tình trạng hỗn loạn.

Nếu không hiểu hệ thống mới hoạt động như thế nào và không biết cách để thành lập hệ thống mới đó thì không thể đạt được mục tiêu đề ra một cách kịp thời và trọn vẹn. Thời kỳ chuyển đổi bị kéo dài, chi phí cao hơn mức cần thiết, và ngược lại với những người tán thành chuyển đổi ngẫu nhiên, những người tán thành chuyển đổi có kế hoạch nhấn mạnh rằng, tình trạng suy thoái vẫn tiếp diễn, còn việc khôi phục sẽ được tiến hành muộn hơn.

Việc xây dựng thể chế là nhiệm vụ quan trọng nhất trong thời kỳ quá độ khi khoảng trống hệ thống còn chiếm ưu thế. Chẳng hạn như, việc định giá tập trung hay phân phối các nguồn đầu tư bởi Ủy ban kế hoạch nhà nước và các bộ chuyên ngành không còn tồn tại, trong khi đó các thể chế mới như các ngân hàng đầu tư hay thị trường chứng khoán lại chưa hoạt động. Thị trường cần một cơ sở pháp lý phù hợp, có khả năng đảm bảo thực thi các nguyên tắc hoạt động thị trường và các thỏa thuận hợp đồng cũng như đảm bảo hoạt động đúng mức của các chủ thể kinh tế (các hãng, công ty, kinh tế hộ gia đình, các tổ chức và chính phủ). Vì vậy, khi chuyển sang thị trường trong bối cảnh mới, điều cần thiết không phải là loại bỏ chính phủ ra khỏi việc lãnh đạo các nền kinh tế mà lại cần có sự điều tiết tích cực của chính phủ. Khác với những người bảo vệ thuyết chính thống thị trường, Ngân hàng Thế giới lại cho phép nhà nước góp phần tối quan trọng vào sự phát triển kinh tế, khi vai trò của nhà nước phù hợp với những khả năng thể chế của mình. Nhưng, khả năng không phải là số mệnh. Có thể và cần phải hoàn thiện khả năng nếu điều đó là cần thiết cho xã hội. ba khối thể chế quan hệ lẫn nhau đang củng cố khả năng sáng tạo của nhà nước là giám sát việc thực hiện các nguyên tắc và những hạn chế trong xã hội cũng như trong nội bộ nhà nước; đảm bảo áp lực cạnh tranh từ bên ngoài cũng như ở bên trong đất nước; thúc đẩy phát triển các quan hệ đối tác cả ở bên trong lẫn bên ngoài nước.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đỗ Việt

Hiệu đính: Nguyễn Thị Luyến

Nguồn: TN 2000 – 45 & 46

Vai trò quan trọng của ngành kinh tế chính trị


Dani Rodrik

Đã từng có thời những nhà kinh tế học chúng ta tách rời khỏi chính trị. Chúng ta nhìn nhận công việc của mình là mô tả các nền kinh tế thị trường hoạt động ra sao, khi nào chúng sụp đổ, và các chính sách được thiết kế cẩn thận có thể tăng cường hiệu quả nền kinh tế như thế nào. Chúng ta phân tích sự đánh đổi giữa các mục tiêu mâu thuẫn nhau (ví dụ như sự bình đẳng và hiệu quả kinh tế), và các chính sách được thiết kế nhằm đạt những kết quả kinh tế mong đợi, bao gồm việc tái phân phối tài sản. Nó sẽ phụ thuộc vào việc các chính trị gia có sử dụng những lời khuyên của chúng ta và các quan chức có thực hiện chúng hay không.

Sau đó, một số trong chúng ta trở nên tham vọng hơn. Quá bức xúc với thực tế rằng nhiều lời khuyên bị bỏ qua (rất nhiều giải pháp cho thị trường tự do vẫn đang chờ được sử dụng!), chúng ta chuyển bộ công cụ phân tích của mình sang sử dụng cho hành vi của chính những chính trị gia và quan chức. Chúng ta bắt đầu nghiên cứu hành vi chính trị, sử dụng đúng khung ý tưởng mà chúng ta dùng để phân tích các quyết định của người sản xuất và tiêu dùng trong một nền kinh tế thị trường. Các chính trị gia trở thành những nhà cung cấp các ưu đãi chính sách nhằm tối đa hóa thu nhập; các công dân trở thành các nhóm lợi ích và nhóm vận động hành lang tìm đặc lợi; và các hệ thống chính trị trở thành những thị trường mà trong đó các phiếu bầu và ảnh hưởng chính trị được dùng để đổi lấy các lợi ích kinh tế.

Vì thế mới sinh ra lĩnh vực kinh tế chính trị với đặc thù lựa chọn lý tính, và một trường phái lý thuyết hóa mà rất nhiều nhà khoa học chính trị sẵn sàng mô phỏng. Cái lợi nhãn tiền là chúng ta giờ đây có thể giải thích tại sao các chính trị gia đã làm rất nhiều điều vi phạm tính hợp lý của kinh tế học. Thực tế, không có sự sai lệch kinh tế nào mà từ “nhóm lợi ích” không thể giải thích được.

Tại sao sao rất nhiều ngành đóng cửa không cho phép cạnh tranh? Bởi vì các chính trị gia bị thao túng bởi những người nắm giữ lợi ích cá nhân. Tại sao các chính phủ lại dựng lên những hàng rào thương mại quốc tế? Bởi vì nhóm hưởng lợi từ bảo hộ thương mại tập trung sức mạnh với nhau và có tầm ảnh hưởng chính trị, trong khi những người tiêu dùng thì lại phân tán và không có tổ chức. Tại sao những tầng lớp chính trị thượng lưu ngăn chặn những cải tổ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển? Bởi vì tăng trưởng và phát triển sẽ làm suy yếu sự nắm giữ quyền lực chính trị của họ. Tại sao lại tồn tại những cuộc khủng hoảng tài chính? Bởi vì các ngân hàng chi phối quá trình làm chính sách để họ có thể thực hiện những rủi ro quá mức, bất chấp quyền lợi của đa số quần chúng.

Để thay đổi thế giới, chúng ta cần phải hiểu nó. Và cách phân tích này dường như đưa chúng ta đến một nấc thang cao hơn trong khả năng hiểu những hệ quả kinh tế và chính trị.

Nhưng có một nghịch lý trong tất cả những điều này. Chúng ta càng cho rằng mình đang giải thích được các hiện tượng thì càng có ít khả năng cải thiện các vấn đề.  Nếu hành vi của các chính trị gia bị quyết định bởi các nhóm lợi ích mà họ chịu ơn, thì sự ủng hộ các chính sách cải cách của các nhà kinh tế học sẽ không bao giờ được lắng nghe. Khoa học xã hội của chúng ta càng hoàn thiện thì việc phân tích chính sách càng trở nên không cần thiết!

Đây là nơi mà sự tương đồng giữa khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên bắt đầu bị phá vỡ. Hãy xem mối quan hệ giữa khoa học và kỹ thuật. Khi hiểu biết của các nhà khoa học về quy luật tự nhiên vật chất ngày càng trở nên tinh vi hơn, các kỹ sư càng có thể xây những cây cầu và tòa nhà tốt hơn. Những cải tiến trong khoa học tự nhiên giúp thúc đẩy hơn là ngăn cản khả năng định hình môi trường vật chất của chúng ta.

Mối quan hệ giữa kinh tế chính trị và phân tích chính trị hoàn toàn không giống như thế. Bằng cách ngày càng hiểu rõ hành vi của các chính trị gia, kinh tế chính trị càng tước quyền của các nhà phân tích chính sách. Nó giống như khi các nhà vật lý học không chỉ đưa ra những lý thuyết giúp giải thích các hiện tượng tự nhiên mà còn xác định những cây cầu và tòa nhà nào các kỹ sư sẽ xây. Khi đó sẽ còn rất ít nhu cầu theo học tại các trường kỹ thuật xây dựng.

Nếu như bạn đọc còn thấy có gì đó chưa đúng ở đây, thì tức là bạn đã khám phá ra điều gì đó. Trên thực thế, khuôn khổ tri thức kinh tế chính trị đương đại của chúng ta đầy rẫy những giả định không được nói ra về hệ tư tưởng đứng sau sự vận hành của các hệ thống chính trị. Khi làm rõ những giả định đó, thì vai trò quyết định của những “nhóm lợi ích” biến mất. Thiết kế chính sách, lãnh đạo chính trị và yếu tố con người lại hiện diện lại.

Có ba cách mà tư tưởng định hình lợi ích. Thứ nhất, tư tưởng quyết định việc những tầng lớp chính trị tinh hoa định nghĩa họ và những mục tiêu họ theo đuổi như thế nào – tiền, danh dự, địa vị, thời gian nắm giữ quyền lực, hoặc đơn giản là một vị trí trong lịch sử. Những câu hỏi về bản sắc quyết định việc họ sẽ lựa chọn hành xử thế nào.

Thứ hai, tư tưởng quyết định cách các chủ thể chính trị nhìn nhận thế giới hoạt động như thế nào. Nhóm lợi ích kinh doanh đầy quyền lực sẽ vận động hành lang cho những chính sách khác nhau khi họ tin mở rộng tài khóa sẽ chỉ tạo ra lạm phát hơn là tạo ra tổng cầu lớn hơn. Những chính phủ thiếu nguồn thu sẽ áp đặt mức thuế thấp hơn khi họ nghĩ rằng thuế càng cao thì người dân càng muốn trốn lậu thuế.

Quan trọng nhất theo góc nhìn phân tích chính sách là các tư tưởng quyết định những chiến thuật mà các chủ thể chính trị tin rằng họ có thể theo đuổi. Ví dụ, một cách để các tầng lớp tinh hoa duy trì quyền lực là đàn áp tất cả các hoạt động kinh tế. Nhưng một cách khác là khuyến khích phát triển kinh tế trong khi đa dạng hóa nền tảng kinh tế của riêng họ, thành lập các liên minh, tăng cường công nghiệp hóa theo chỉ đạo nhà nước, hoặc theo đuổi nhiều chiến thuật khác mà chỉ bị giới hạn bởi trí tưởng tượng của giới này. Hãy mở rộng các chiến thuật khả thi (nhờ vào khả năng lãnh đạo giỏi và thiết kế chính sách tốt) và bạn sẽ thay đổi được hành vi và các kết quả một cách triệt để.

Thực ra, điều này giúp giải thích một số bước ngoặt kinh tế đáng kinh ngạc trong vài thập niên gần đây, ví dụ như tăng trưởng vượt bậc của Hàn Quốc và Trung Quốc (lần lượt trong những năm 1960 và cuối những năm 1970). Trong cả hai trường hợp này, những người chiến thắng lớn nhất là “các nhóm lợi ích” (các doanh nghiệp của Hàn  Quốc và Đảng cộng sản Trung Quốc). Điều thúc đẩy cải cách không phải là sự tái cơ cấu quyền lực chính trị, mà là sự xuất hiện của những chiến lược mới. Thay đổi kinh tế thường xảy ra không phải là khi các lợi ích nhóm bị đánh bại, mà là khi các chiến thuật khác nhau được sử dụng để theo đuổi những lợi ích đó.

Rõ ràng kinh tế chính trị sẽ tiếp tục duy trì tầm quan trọng của nó. Nếu không hiểu rõ việc ai được ai mất từ nguyên trạng sẽ gây khó khăn cho việc hiểu được các chính sách hiện hữu. Nhưng việc tập trung thái quá vào những “nhóm lợi ích” có thể dễ dàng làm chệch hướng chúng ta khỏi những đóng góp quan trọng mà phân tích chính sách và hoạt động chính trị có thể tạo ra. Khả năng mang lại thay đổi kinh tế bị hạn chế không chỉ bởi các thực tế quyền lực chính trị, mà còn bởi sự nghèo nàn ý tưởng của chúng ta.

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Dani Rodrik, “The Tyranny of Political Economy”, Project Syndicate, 08/02/2013

Dani Rodrik là Giáo sư Khoa học xã hội tại Viện nghiên cứu cao cấp Princeton, New Jersey. Ông là tác giả cuốn One Economics, Many Recipes: Globalization, Institutions, and Economic Growthvà gần đây nhất là cuốn The Globalization Paradox: Democracy and the Future of the World Economy.

Câu chuyện con voi và con cò: Các dạng văn hóa tổ chức – Phần III


Khi nội dung của các tác phẩm về văn hóa quốc gia trở nên ngày càng giống nhau trong thế giới hiện đại, bằng chứng trích dẫn sẽ được lấy từ chính thực tiễn: mọi người mặc giống nhau, mua cùng một sản phẩm, cùng ưa chuộng sử dụng một số từ ngữ thời thượng (các biểu tượng), xem cùng một chương trình truyền hình và phim ảnh (huyền thoại), chơi cùng một môn thể thao và các hoạt động giải trí (nghi lễ). Những biểu hiện văn hóa ở cấp độ mặt ngoài này đôi khi bị nhầm lẫn với cấp độ giá trị của văn hóa ở bề sâu hơn. Chính giá trị bề sâu mới là yếu tố quyết định và bao trùm mọi ý nghĩa của thực tiễn. Nghiên cứu về cấp độ giá trị tiếp tục cho thấy sự khác biệt đầy ấn tượng giữa các quốc gia, không chỉ nghiên cứu của IBM và những nghiên cứu lặp lại, mà cả những cuộc khảo sát liên tiếp về giá trị thế giới dựa trên nhóm đại diện cho toàn bộ dân số.

Nội dung bài này hầu hết dựa trên kết quả của dự án nghiên cứu diễn ra giữa những năm 1985 và 1987 dưới sự bảo trợ của Viện Nghiên cứu hợp tác đa văn hóa (IRIC). Dự án này sử dụng mô hình nghiên cứu xuyên quốc gia của IBM. Thật nghịch lý, dự án này không thể cung cấp thông tin trực tiếp về văn hóa doanh nghiệp IBM bởi tất cả các đơn vị được tiến hành nghiên cứu đều cùng trực thuộc một doanh nghiệp đã được nghiên cứu trước đó, và chẳng có điểm gì khác biệt bên ngoài để đem ra so sánh. Các nghiên cứu của IRIC trở thành nghiên cứu văn hóa xuyên tổ chức, bổ sung cho các kết quả nghiên cứu về văn hóa xuyên quốc gia. Trừ trường hợp ngoại lệ của một công ty, dự án này bao quát rất nhiều doanh nghiệp khác nhau ở hai nước Đan Mạch và Hà Lan.

Nghiên cứu IRIC đã nhận ra vai trò của giá trị và thực tiễn ở cấp độ tổ chức và cấp độ quốc gia là đối lập nhau. Khi so sánh nhân viên làm công việc giống nhau trong các tổ chức khác nhau, kết quả nhận được là sự khác biệt lớn về thực tiễn nhưng chỉ vài khác biệt nhỏ về giá trị.

Trong khi đó, một tác phẩm nổi tiếng về văn hóa doanh nghiệp ủng hộ ý kiến của Peters và Waterman đã khẳng định chắc chắn rằng những giá trị chung biểu hiện cho cái cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp. Dự án IRIC chỉ ra rằng, nhận thức chung về thực tiễn hàng ngày được xem như nòng cốt của nền văn hóa doanh nghiệp. Giá trị của nhân viên cũng khác biệt tùy theo giới tính, độ tuổi và trình độ giáo dục (và đương nhiên cả quốc tịch) nhiều hơn là dựa vào bản thân vai trò của họ trong tổ chức.

Sự khác biệt giữa các phát hiện của IRIC và các quan điểm của Peters, Waterman cũng như những người ủng hộ có thể được giải thích thông qua thực tế, là các tác phẩm quản lý của Mỹ nghiêng về miêu tả những giá trị huyền thoại doanh nghiệp (người sáng lập và các lãnh đạo chủ chốt), trong khi đó, IRIC lại cho rằng những nhân viên bình thường mới là người làm nên bản sắc của doanh nghiệp. IRIC đánh giá phạm vi ảnh hưởng của các lãnh đạo đến nhân viên của mình. Điều chắc chắn là giá trị của người sáng lập và lãnh đạo nòng cốt đã định hình nền văn hóa tổ chức, nhưng chính thực tiễn chung mới là con đường đưa văn hóa đến với mọi thành viên. Giá trị của người sáng lập hay lãnh đạo trở thành thực tiễn của các thành viên trong tổ chức.

Những thực tiễn chung có hiệu quả là điều kiện hoạt động của các doanh nghiệp đa quốc gia. Việc thuê nhân công từ nhiều nước khó tạo nên các giá trị văn hóa chung. Những nhân viên này kết hợp và kiểm soát hoạt động của mình thông qua thực tiễn toàn cầu, dưới ảnh hưởng của nguồn gốc dân tộc (như ở Mỹ, Nhật, Đức, Hà Lan). Nhưng thực tiễn này có thể được người lao động ở các nước khác nhau học hỏi, vận dụng.

Nếu giá trị của thành viên trong tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào tiêu chí hơn là vai trò của họ, thì các giá trị này sẽ thâm nhập vào tổ chức qua quá trình tuyển dụng: công ty tuyển nhân viên thuộc một quốc tịch xác định, hoặc giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn nhất định. Tính xã hội hóa trong tổ chức, do đó, sẽ chính là việc học hỏi thực tiễn: biểu tượng, huyền thoại và các nghi lễ.

Hai nhà nghiên cứu người Hà Lan, Joseph Soeters và Hein Schreuder đã so sánh nhân viên của công ty trong nước với công ty kế toán nước ngoài nhưng hoạt động ở Hà Lan. Họ đã nhận thấy sự khác biệt về giá trị giữa hai nhóm nhân viên, nhưng đồng thời cũng chứng minh được rằng những khác biệt đó thuộc về bản thân nhân viên được tuyển dụng chứ không liên quan đến những thay đổi do giao tiếp xã hội sua khi vào làm tại công ty. Phòng nhân sự lựa chọn những người được tuyển dụng, và là bộ phận đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ giá trị của công ty (tốt lên hoặc xấu đi), trưởng phòng nhân sự và các đồng nghiệp thường không nhận thức đầy đủ được vai trò của mình đối với nhiệm vụ này.

Phương thức tiếp cận định tính và định lượng trong Dự án IRIC

Ban đầu, dự án IRIC được thiết kế nhằm so sánh các tổ chức của cùng một quốc gia (Hà Lan). Khó khăn gặp phải là tìm kiếm đủ số người Hà Lan sẵn sàng tham gia dự án và chấp nhận chia sẻ chi phí. Tuy nhiên, một chuyên gia tư vấn Đan Mạch đã tình nguyện hỗ trợ dự án. Sự hào phóng của ông dẫn đến việc tham gia của nhiều công ty Đan Mạch khác. Cuối cùng, dự án đã được tiến hành trên 20 đơn vị thuộc 10 tổ chức khác nhau tại Đan Mạch và Hà Lan. Trên các chiều kích văn hóa dân tộc của IBM, hai quốc gia này mang rất nhiều nét tương đồng văn hóa: cả hai đều cùng thuộc nhóm nước Bắc Âu – Hà Lan. IRIC đã tìm được cách tiếp cận nhiều tổ chức ngành nghề ở hai nước này. Thông qua tìm hiểu mức độ khác biệt của văn hóa, người nghiên cứu sẽ hiểu được văn hóa của các tổ chức có thể giống nhau ra sao và khác biệt như thế nào. Đơn vị được tiến hành nghiên cứu toàn bộ tổ chức cũng như từng bộ phận của tổ chức với các nhóm quản lý được cho là có văn hóa đồng nhất (kết quả nghiên cứu về sau được dùng để kiểm chứng giả thiết này).

Bảng 10.1 – Các tổ chức tham gia dự án IRIC
Công ty chế tạo tư nhân (điện tử, hóa chất, hàng hóa)

Tổng số đơn vị sản xuất hoặc chi nhánh

Văn phòng điều hành hoặc đơn vị marketing

Đơn vị nghiên cứu và phát triển

Các công ty dịch vụ tư nhân (ngân hàng, giao thông, thương mại): số đơn vị

Các cơ quan công lập (truyền thông, cảnh sát): số đơn vị

 

6

3

2

5

4

Tổng số đơn vị được nghiên cứu 20

Bảng 10.1 liệt kê các hoạt động của 20 đơn vị. Kích thước đơn vị dao động từ 60 đến 2500 nhân viên. Số lượng đơn vị tham gia vào dự án tương đối nhỏ, cho phép tiến hành những nghiên cứu sâu, có chất lượng, như các nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên, số lượng này cũng đủ lớn để thực hiện các phép phân tích thống kê dữ liệu định tính tương đối trên các đối tượng nghiên cứu.

Giai đoạn thứ nhất của nghiên cứu là giai đoạn định tính, bao gồm các cuộc phỏng vấn chiều sâu với từng nhân viên công ty trong 2 đến 3 giờ. Mỗi đơn vị có 9 người cung cấp tin tức (tổng số là 180 cuộc phỏng vấn). Những buổi phỏng vấn giúp mang lại cảm nhận chung về văn hóa của cả đơn vị và thu thập các vấn đề liên quan nhằm thiết kế bảng câu hỏi khảo sát. Người cung cấp thông tin được chọn lọc kỹ sau khi các nhà nghiên cứu đã thảo luận với đại diện của đơn vị, dựa trên cơ sở là người được lựa chọn có thông tin thú vị hoặc mang tính chất vă hóa để kể với người phỏng vấn. Nhóm cung cấp thông tin trong mọi trường hợp phải bao gồm các nhà lãnh đạo hàng đầu, thư ký (nam giới). Ngoài ra, quá trình chọn lọc còn bao gồm nhân viên ở các ngành nghề khác nhau, mọi cấp độ, từ bậc lão thành đến người mới vào làm, nam hay nữ. Đôi khi người gác cổng, trực cửa ra vào được coi là những người cung cấp thông tin xuất sắc, và bao gồm đại diện cho nhân viên công ty (tương đương với phục vụ trong cửa hàng).

Nhóm phỏng vấn bao gồm 18 thành viên (từ Đan Mạch và Hà Lan), hầu hết được đào tạo về khoa học xã hội, nhưng không hiểu về các hoạt động diễn ra thực tế trong đơn vị được nghiên cứu. Mỗi cuộc phỏng vấn ở đơn vị sẽ do hai người phỏng vấn chịu trách nhiệm, một nam và một nữ, do giới tính của người phỏng vấn có thể ảnh hưởng tới những quan sát thu được. Tất cả những người phỏng vấn đều được đào tạo một khóa giống nhau trước khi tham gia dự án, và sử dụng cùng một bảng câu hỏi mở.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede, Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Vượt trên thế giới nhị nguyên – Phần cuối


Tính chất quan trọng của một bó sóng là độ dài sóng của nó không được định nghĩa rõ, tức là khoảng cách giữa hai đỉnh sóng không bằng nhau trong toàn bộ cấu trúc. Độ dài sóng tại hai biên (của X) lớn hơn độ dài sóng ở giữa, sự khác biệt đó phụ thuộc vào X, sự khác biệt càng lớn nếu X càng nhỏ. Điều này chưa liên hệ gì tới thuyết lượng tử, nó chỉ là tính chất của sóng nói chung. Thuyết lượng tử chỉ nhập cuộc khi người ta xem độ dài sóng và xung lượng (hay vận tốc) của hạt đó có liên hệ mật thiết với nhau. Cụ thể là khi không định nghĩa được xung lượng của hạt. Điều đó có nghĩa là không những chỉ có một sự bất định về vị trí của hạt, như độ dài X của bó sóng nói rõ, mà còn có một sự bất định của xung lượng gây ra từ sự khác biệt độ dài sóng ở giữa và hai biên của bó sóng. Hai sự bất định này phụ thuộc lẫn nhau, vì X càng nhỏ (bất định vị trí) thì sự khác biệt của độ dài sóng (bất định vận tốc) càng lớn. Nếu ta ép hạt vào một vị trí thật chính xác, tức là bó sóng sẽ rất ngắn thì độ dài sóng rất khác nhau giữa trung tâm và biên độ, thì ta có sự bất định về xung lượng (hay vận tốc) của hạt.

Định luật toán học về mối liên hệ giữa hai sự bất định về vị trí và xung lượng chính là định luật bất định của Heisenberg, hay nguyên lý bất định. Điều đó có nghĩa là trong vật lý hạ nguyên tử không bao giờ ta đồng thời biết được vị trí và xung lượng của một hạt, với độ chính xác cao. Vị trí của hạt càng rõ thì ta càng mơi hồ về xung lượng của nó, và ngược lại. Ta có thể quyết định đo lường chính xác trị số nào trong hai, nhưng trị số kia sẽ bị che kín. Sự hạn chế này, như đã nói, không phải do máy móc đo lường kém hiện đại, mà đó là một sự hạn chế có tính nguyên tắc. Nếu ta muốn đo lường chính xác vị trí của hạt thì nó không có một cái gọi là xung lượng chính xác để đo, và ngược lại.

Mối liên hệ giữa sự bất định vị trí và xung lượng của hạt không phải là dạng duy nhất của nguyên lý bất định. Có những liên hệ tương tự giữa các trị số khác, thí dụ giữa thời gian mà một tiến trình nguyên tử cần đến và năng lượng. Điều này cũng dễ hiểu nếu ta xem bó sóng bây giờ không phải là dao động trong không gian nữa mà theo thời gian, khoảng cách X bây giờ trở thành thời gian T. Khi một hạt đi ngang qua một điểm đo lường nhất định, thì cơ cấu sóng bắt đầu dao động (tại T = 0) với biên độ nhỏ, sau đó biên độ lớn dần và cuối cùng giảm lại và chấm dứt (T = T). Thời gian T mà hạt cần để thực hiện xong tiến trình này là thời gian nó đi ngang qua điểm đo của chúng ta. Chúng ta có thể nói quá trình đó xảy ra trong khoảng thời gian T đó, nhưng ta không thể nói chính xác lúc nào. Khoảng thời gian T là sự bất định về thời gian của tiến trình này.

Cũng như trong sự dao động không gian, ở đây ta cũng không định nghĩa được độ dài sóng, mà vì độ dài sóng trong thời gian nói lên tần số, tức là ta không định nghĩa được tần số. Thuyết lượng tử liên kết tần số của sóng với năng lượng của hạt, nên không định nghĩa được tần số có nghĩa là ta có bất định về năng lượng. Như thế mối liên hệ giữa sự bất định về thời điểm và sự bất định về năng lượng cũng tương tự như sự bất định giữa vị trí và xung lượng như ở trên. Điều đó có nghĩa là không bao giờ cùng lúc ta khẳng định được thời gian T của một tiến trình và năng lượng tương quan với nó. Một tiến trình mà chỉ cần một khoảng thời gian rất ngắn có nghĩa nó cho một sự bất định lớn về năng lượng: tiến trình cần một lượng năng lượng chính xác thì chỉ có thể xác định trong một thời gian dài hơn.

Ý nghĩa then chốt của nguyên lý bất định là nó cho thấy những hạn chế của khái niệm cổ điển của chúng ta, cho thấy bằng công thức chính xác của toán học. Như trước đây đã mô tả, thế giới hạ nguyên tử hiện ra như một mạng lưới đầy các mối liên hệ giữa những thành phần khác nhau của một cái toàn thể.

Khái niệm cổ điển của chúng ta, xuất phát từ những khái niệm thông thường vĩ mô, chúng không phù hợp để mô tả thế giới. Trước hết là khái niệm của một đơn vị lý tính riêng biệt, khi áp dụng lên một hạt thì đó chỉ là sự lý tưởng hóa, không có ý nghĩa đích thực. Hạt chỉ có thể định nghĩa trong mối quan hệ với cái toàn thể và những quan hệ này đều có tính chất xác suất, có tính khả năng nhiều hơn là khẳng định. Khi ta mô tả nhữgn chất của một đơn vị đo bằng những khái niệm cổ điển như vị trí, năng lượng, xung lượng… ta thấy xuất hiện ra nhiều cặp khái niệm, chúng liên hệ với nhau và không thể định nghĩa một cách chính xác cùng một lúc được. Khi ta càng coi trọng một khái niệm của một vật thể thì khái niệm kia sẽ càng bất định và nguyên lý bất định chỉ rõ mối liên hệ chính xác giữa chúng với nhau.

Nhằm làm sáng tỏ mối liên hệ của những khái niệm cổ điển, Niels Bohr đã đưa ra khái niệm bổ sung. Ông xem hình ảnh hạt và hình ảnh sóng là hai dạng bổ sung lẫn nhau để mô tả một thực thể, mỗi hình ảnh đều chỉ đúng một phần và chỉ có khả năng ứng dụng hạn chế. Để mô tả hoàn toàn thực thể nguyên tử, cả hai hình ảnh này đều cần thiết và cả hai đều được sử dụng trong giới hạn mà định luật bất định đã xác định.

Khái niệm bổ sung này đã giúp nhà vật lý một phần quan trọng trong cái nhìn về thế giới tự nhiên và Bohr cũng thường nói rằng, nó có thể hữu ích cho cả ngoài môn vật lý. Thực tế là khái niệm bổ sung đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng cách đây hai ngàn năm trăm năm trong thế giới tư tưởng cổ đại Trung Quốc, trong đó người ta đã biết rằng những khái niệm đối lập và phân cực – hay bổ túc – thật ra chúng liên hệ với nhau. Các vị hiền triết Trung Quốc diễn tả sự bổ túc lẫn nhau của các mặt đối lập bằng hình tượng Âm – Dương và thấy mối liên hệ động của chúng nằm ngay trong mọi hiện tượng thiên nhiên và mọi tình huống của con người.

Chắc chắn Niels Bohr cũng đã thấy sự tương đồng giữa khái niệm bổ sung của ông với tư tưởng Trung Quốc. Năm 1937 khi viếng thăm Trung Quốc, lúc đã hình thành lý giải thuyết lượng tử, khái niệm về đối cực của Trung Quốc tác động mạh lên ông và cũng kể từ đó ông bắt đầu quan tâm đến văn hóa phương Đông. Mười năm sau, Bohr được phong tước, thành tựu khoa học phi thường cũng như sự đóng góp vào nền văn hóa Đan Mạch của ông được thừa nhận. Khi tìm một biểu hiện phù hợp cho mình, Bohr đã lấy đồ hình Thái Cực, đồ hình diễn tả tính chất bổ túc của hai đối cực Âm – Dương. Với sự lựa chọn biểu tượng này với dòng chữ “Contraria sunt complementa” (Đối cực chính là bổ sung), Bohr đã nhận ra sự hòa điệu sâu sắc giữa nền đạo học phương Đông và nền khoa học phương Tây hiện đại.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Fritjof Capra – Đạo của vật lý – NXB Trẻ 2015.

Tăng cường hợp tác quốc phòng với Việt Nam, Nga “dấn thân” vào cuộc cạnh tranh giành quyền lực ở Biển Đông


Theo mạng www.newsweek.com ngày 5/4, Nga đã đạt được thỏa thuận về một lộ trình hợp tác quân sự mới với Việt Nam và điều này có thể đưa Moskva tham gia vào cuộc đấu tranh giành quyền lực đang diễn ra giữa Trung Quốc và Mỹ ở Biển Đông.

Hãng tin TASS của Nga cho biết thỏa thuận được Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu và người đồng cấp Việt Nam Ngô Xuân Lịch ký tại Moskva ngày 4/4, bên lề Hội nghị an ninh quốc tế Moskva lần thứ 7, đã vạch ra những chi tiết hợp tác quân sự giữa hai nước từ năm 2018 cho đến năm 2020. Tướng Ngô Xuân Lịch đã nói với Bộ trưởng Shoigu rằng ông hài lòng trước việc Nga và Việt Nam đang thực hiện các bước nhằm tăng cường sự phối hợp quân sự và hải quân của hai nước.

Như một phần của thỏa thuận, Nga sẽ triển khai một tàu cứu hộ thuộc Hạm đội Thái Bình Dương đến Việt Nam để tham gia các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ trong khu vực. Moskva cũng sẽ cử một phái đoàn đến Việt Nam để tiếp tục thảo luận về một dự thảo thỏa thuận liên quan đến các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ đó với những tàu ngầm gặp nạn.

Mặc dù Moskva và Hà Nội có mối quan hệ quốc phòng kể từ thời Chiến tranh Việt Nam, nhưng Nga hiện đang thúc đẩy một sự hiện diện công khai và mạnh mẽ hơn. Hải quân Nga và Việt Nam là một thành tố quan trọng trong mối quan hệ này. Hồi tháng 2/2018, 2 tàu khu trục lớp Gepard do Nga sản xuất đã được đưa vào phục vụ lực lượng Hải quân Việt Nam cùng với 2 tàu khác đã được Moskva bàn giao năm 2011 như một phần trong hợp đồng trị giá 350 triệu USD.

Hai nước đã nhất trí tiến hành huấn luyện quân sự chung. Tướng Ngô Xuân Lịch cho biết 176 binh sĩ Việt Nam sẽ được đào tạo tại Nga. Hồi cuối tháng 1/2018, có thông báo rằng quân đội Nga và Việt Nam đang lên kế hoạch tổ chức các cuộc tập trận chung trong 3 năm tới. Tháng 3/2018, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov cho biết sự liên kết quân sự Nga – Việt đang tiến tới “một cấu trúc hợp tác đảm bảo sự phát triển bền vững và đáp ứng các lợi ích an ninh” ở châu Á.

Chiến dịch ngoại giao này là một phần trong nỗ lực rộng lớn của Nga ở khu vực Đông Nam Á, nơi Moskva đang theo đuổi các mối quan hệ chặt chẽ hơn với Lào – nước láng giềng phía Tây của Việt Nam. Vào tháng 1/2018, ông Shoigu đã thăm quốc gia không có biển này nhằm xây dựng mối quan hệ quân sự ngày càng chặt chẽ. Sau chuyến thăm, Thủ tướng Lào Thongloun Sisoulith cho biết gần như “tất cả mọi thứ mà Lực lượng vũ trang Lào có hiện nay đều liên quan đến Nga”.

Rõ ràng, Nga coi khu vực Đông Nam Á là vùng đất màu mỡ cho các quan hệ ngoại giao gần gũi hơn cũng như cho việc bán vũ khí. Với Việt Nam và Lào, Moskva dường như cũng đang phát triển quan hệ với những chính phủ “cùng hội cùng thuyền”. Quan hệ gần gũi hơn giữa Moskva và Hà Nội có thể giúp Nga tiếp cận trực tiếp đến khu vực Biển Đông đang tranh chấp. Vào tháng 4/2017, 3 tàu thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Nga đã thăm cảng Cam Ranh của Việt Nam 5 ngày. Trong bối cảnh hợp tác quân sự giữa hai nước đang gia tăng, các chuyến thăm như vậy có thể sẽ trở nên thường xuyên hơn.

Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Brunei, Philippines và Đài Loan đều có các yêu sách chủ quyền tại các vùng biển ở Biển Đông, nơi có những tuyến đường biển trọng yếu và các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào. Trung Quốc đã bị chỉ trích vì đã xây dựng các hòn đảo nhân tạo nhằm củng cố yêu sách chủ quyền của họ, và Mỹ đã tiến hành một số hoạt động “tự do hàng hải” gần các hòn đảo này để khẳng định lại quyền lực của Washington.

Trung Quốc hiện đang đầu tư khá nhiều vào việc hiện đại hóa lực lượng hải quân và không quân nhằm thách thức ảnh hưởng của Mỹ và thực thi chính sách khu vực của Bắc Kinh. Còn Nga giờ đây dường như sẽ phô trương sự ảnh hưởng đáng kể của họ trong cuộc chơi này, mặc dù khả năng Moskva chọn về phe nào hay hành động một mình vẫn chưa rõ. Trung Quốc và Nga trước đây đã tổ chức các cuộc tập trận chung ở Biển Đông, cho thấy lực lượng hải quân hai nước có thể hợp tác cùng nhau.

Có khả năng Nga sẽ bị kẹt giữa Trung Quốc và các lợi ích của riêng họ ở Biển Đông. Nhưng cho đến nay, Bắc Kinh và Moskva vẫn đang hợp tác tốt. Ngày 4/4, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phụng Hòa nói rằng việc ông tham dự Hội nghị Moskva là “để cho người Mỹ thấy mối quan hệ gần gũi giữa các lực lượng vũ trang của Trung Quốc và Nga”. Cả Tổng thống Nga Vladimir Putin và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã củng cố được quyền lực trong nước của họ trong những tháng gần đây. Hai chính phủ độc đoán này bác bỏ chủ nghĩa tự do dân chủ của phương Tây và coi nhau là những đối trọng hữu ích đối với sức mạnh siêu cường của Mỹ, chưa kể mạng lưới các đồng minh phương Tây và NATO của Washington.

Tướng Shoigu cho rằng, nhờ những nỗ lực của Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Putin, quan hệ giữa Nga và Trung Quốc đang đạt tới mức “cao chưa từng có”. Vào tháng 11/2011, Tổng thống Mỹ Barack Obama cho biết ông đã đi đến một “quyết định thận trọng và mang tính chiến lược” rằng Mỹ “sẽ đóng vai trò lớn hơn và dài hạn hơn trong việc định hình khu vực châu Á – Thái Bình Dương và tương lai của nó”. Do sức mạnh “mềm” và “cứng” của Trung Quốc ngày càng gia tăng, trong khi ảnh hưởng của Nga đang lan rộng, diện mạo tương lai của khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ không được quyết định bởi chỉ một mình nước Mỹ.

Nguồn: TKNB – 09/04/2018