Tình trạng ngập lụt ở đô thị: Chuyên gia đề xuất biện pháp dài hạn


Xây thêm bể ngầm chống ngập, sử dụng cánh đồng, sân vận động làm nơi chứa nước… đang là giải pháp được Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đề xuất. Liệu những giải pháp này có khả thi? Đâu là căn nguyên của tình trạng ngập úng này và đâu là biện pháp xử lý mang tính dài hạn? Đài BBC ngày 2/6 dẫn ý kiến của một số chuyên gia về đô thị xung quanh vấn đề này:

“Công tác quản lý quy hoạch có vấn đề”

Bàn về nguyên nhân của tình trạng ngập hiện nay, Thạc sĩ Đỗ Đức Thắng, GIảng viên tại Đại học Xây dựng Hà Nội, cho rằng công tác quản lý quy hoạch thực sự có vấn đề: “Trong 10 – 15 năm qua, có rất nhiều khu đất đáng lẽ phải là công viên, hồ nước nhưng nhà quản lý quy hoạch không cứng rắn, thậm chí có những biểu hiện bị các nhóm lợi ích thao túng, cho phép mọc lên những công trình cao tầng, rồi những chỗ trống đáng lẽ có thể chứa được nước thì đã bị bê tông hóa mất khả năng hút nước đi”.

Cũng chung quan điểm này, ông Sơn Đặng, Kiến trúc sư trưởng của xưởng thiết kế quy hoạch Sproject ở New York (Mỹ), chỉ ra rằng các đô thị VIệt bị cứng hóa bề mặt quá nhiều, dẫn đến nước mưa không thấm xuống đất mà chảy tuột ra sông, nên mức nước ngầm giảm dẫn đến sụt lún toàn thành phố.

Không chỉ Hà Nội, các địa phương miền Bắc như Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang cũng biến thành biển nước sau mưa. Tiến sĩ Trương Ngọc Lân, Phó Trưởng khoa Kiến trúc và Quy hoạch Đại học Xây dựng Hà Nội, cho rằng nông thôn ngập do 2 vấn đề: một là các hiện tượng khí hậu cực đoan ngày càng tăng lên do biến đổi khí hậu; hai là những khu vực nông thôn ở ven đô bây giờ đã đô thị hóa rồi thì cũng tương tự như đô thị, thiếu không gian thoát nước tạm thời.

Theo các chuyên gia, thủ đô Hà Nội và khu vực miền Bắc nói chung vẫn sẽ tiếp tục xuất hiện mưa lớn, có khả năng ngập lụt trên diện rộng. Trong khi đó, việc giải quyết tình trạng này không thể ngày một ngày hai.

Sân vận động, cánh đồng thành bể chứa

Về khuyến nghị biến sân vận động, cánh đồng thành bể chứa, Thạc sĩ Đỗ Đức Thắng cho rằng đáng lẽ đáng lẽ việc này phải được thực hiện 10, 15 năm trước với một tầm nhìn quy hoạch tốt hơn: “Hà Nội chỉ có 2 sân vận động Mỹ Đình và Hàng Đẫy, không đáng bao nhiêu. Tôi nghĩ mở rộng cho tới sân các trường học, sân của các trường mẫu giáo cũng biến thành bể chứa thì may ra, nhưng chi phí đội lên rất lớn và cũng sẽ có khá nhiều chuyện xảy ra để có thể làm được điều đó. Nhưng rồi cũng phải làm thôi, có lẽ lúc này không còn cách nào khác. Việc làm hầm chứa lớn ở dưới lòng đường, các khoảng đất trống là các biện pháp kỹ thuật mà các nước tiên tiến đã làm rất triệt để.”

Kiến trúc sư Sơn Đặng ủng hộ ý kiến của Bộ trưởng Trần Hồng Hà: “Việc xây bể giữ nước mưa ngầm là một ý kiến tốt, cần được bình tĩnh hiểu và ủng hộ”. Trong khi đó, Tiến sĩ Trương Ngọc Lân nói: “Bề mặt sân vận động vốn cao hơn các khu vực xung quanh nên khó sử dụng nguyên trạng, trừ khi chúng ta xây hồ ngầm ở bên dưới, hoặc làm sân vận động ở chỗ trũng hơn. Tất nhiên, có thể tận dụng các sân vận động để thoát nước, nhưng quy mô vẫn nhỏ và không mang tính tổng thể, đồng thời đào thêm các hồ ngầm sẽ làm phức tạp thêm quy hoạch hạ tầng ngầm của các thành phố”.

Thạc sĩ Đỗ Đức Thắng nhấn mạnh: “Nâng cao hiệu quả quản trị, tức là quy hoạch ra sao, quản trị thế nào, dùng đồng tiền ngân sách hay người dân đóng góp như thế nào cho hiệu quả thì mới mang lại hiệu ứng tích cực nào đó”.

Nước ngoài đang sử dụng các biện pháp gì?

Bể trữ nước mưa ngầm: Việc xây dựng bể trữ nước mưa ngầm đã được các nước phát triển luật hóa, thành các mã code xây dựng. Theo Kiến trúc sư Sơn Đặng, Đức là nước tiên phong khuyến khích dân/khối dân sự/khối chức năgn nhà nước lắp đặt hệ thống trữ nước mưa. Điều này mang lại nhiều lợi ích đáng kể, bao gồm tái sử dụng nước mưa, giảm thiểu sử dụng nước sạch để tưới vườn, rửa đường, rửa xe…, bồi hoàn nguồn nước ngầm, giúp thu lại một phần nước mặt, giúp hệ thống cống bớt quá tải.

Thành phố xốp: Tiến sĩ Trương Ngọc Lân cho biết một số thành phố như ở Trung Quốc đã có những đô thị xây dựng theo mô hình “thành phố xốp”. Thay vì đưa toàn bộ nước mưa vào hệ thống thoát nước thì trong “thành phố xốp”, chúng sẽ được quản lý đa dạng hơn, chỉ một phần nước được xử lý bằng hệ thống thoát nước, còn một phần nước được để thấm tự nhiên xuống đất và chảy vào các ao hồ giúp bảo tồn hệ sinh thái nước, một phần nước còn lại được thu hồi, lưu trữ để tái sử dụng cho các mục đích khác.

Hồ ngầm khổng lồ: Theo Tiến sĩ Trương Ngọc Lân, ở Nhật Bản đã xây dựng hệ thống hồ ngầm khổng lồ trong lòng thành phố Tokyo để chứa nước khẩn cấp trong những lúc thời tiết cực đoan. Nhưng giải pháp này tốn kém, không thể áp dụng trong trường hợp của Việt Nam hiện nay.

Giải pháp nào cho Việt Nam?

Có 4 giải pháp chính đang được các chuyên gia ủng hộ và đề xuất:

Thứ nhất, xây thêm không gian điều hòa: Theo Tiến sĩ Trương Ngọc Lân, Việt Nam cần tăng không gian mặt nước của hồ, ao, sông ngòi, công viên, vườn hoa, sân chơi, nơi các bề mặt đất tự nhiên được bảo tồn, không bị bê tông hóa giúp hấp thụ nước…

Thứ hai, tận dụng mặt bằng làm bể chứa: Giải pháp tận dụng mặt bằng là làm các hầm ngầm sâu 5m – 7m từ tất cả các khoảng đất trống có thể khai thác, nhưng giải pháp này lại có hạn chế là chi phí đầu tư quá lớn, cũng như không thể giải phóng nhà dân được.

Thứ ba, quy hoạch nước và sử dụng đất: Theo Kiến trúc sư Sơn Đặng, về lâu dài, Việt Nam cần nỗ lực thay đổi để tiến đến các phương pháp quy hoạch đô thị tiến bộ hơn. Chẳng hạn, các nước phát triển đã tiến hành quy hoạch nước, tức dựa trên yếu tố trọng tâm là nước, nhưng chúng ta vẫn quy hoạch chủ yếu hướng đến việc phân lô. Các đô thị lớn như Hà Nội hay TPHCM, những nơi có mật độ dân số rất cao, nhưng mảng xanh rất ít, cần rà soát các quỹ đất công cuối cùng còn sót lại và nỗ lực biến thành công viên và ao hồ.

Thứ tư, cải thiện công tác dự báo: Việc dự báo sớm và chính xác cũng là một trong những biện pháp giảm thiểu ngập lụt mà các chuyên gia đề xuất. Thạc sĩ Đỗ Đức Thắng cho rằng trong những trận mưa lớn tuần qua, nếu được dự báo mưa có cường độ lớn như vậy, các công ty thoát nước sẽ tổ chức các hoạt động phù hợp. Trong khi đó, Kiến trúc sư Sơn Đặng đưa ra một đề xuất mang tính công nghệ cao hơn: Việt Nam rất cần các ứng dụng cảnh báo ngập lụt được toàn dân tiếp cận dễ dàng. Công tác cảnh báo sớm sẽ giúp giảm thiệt hại kinh tế đáng kể. Những công nghệ này hoàn toàn nằm trong tầm tay đội ngũ công nghệ Việt.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Chuyển đổi số và hạ tầng chất lượng quốc gia


Hạ tầng chất lượng quốc gia (National Quality Infrastructure – NQI) là nền tảng kỹ thuật quan trọng của một nền kinh tế phát triển bền vững, ổn định và thành công. Hạ tầng chất lượng quốc gia gồm tập hợp nhiều dữ liệu khác nhau dựa trên các phép đo và thử nghiệm có độ chính xác cao. Do đó, hạ tầng chất lượng quốc gia có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động đo lường.

Thế kỷ XXI là giai đoạn các quốc gia, nền kin tế đang trong quá trình chuyển đổi số toàn diện. Tiến trình này thiết lập một nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong kỷ nguyên số. Trong giai đoạn vừa qua, hoạt động số hóa đã được bổ trợ cùng với sự phát triển “theo cấp số nhân” về năng lực tính toán và lưu trữ của các hệ thống công nghệ thông tin, thiết bị điện tử. Tốc độ trao đổi dữ liệu của các thiết bị đa năng ngày càng tăng giúp nâng cao tính hiệu quả và giảm thiểu thời gian thao tác. Thực tế này mở ra tiềm năng to lớn để khai thác dữ liệu, lưu trữ thông tin, tạo ra các “mạng lưới mới” mang tính liên ngành giữa các đối tượng có liên quan trong phát triển kinh tế – xã hội.

Đo lường với chuyển đổi số

Các yếu tố của hạ tầng chất lượng quốc gia bao gồm đo lường, tiêu chuẩn, đánh giá sự phù hợp và công nhận. Những thành tựu về thuật toán, thống kê, bảo mật, công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication Technology – ICT) nói chung tạo ra một nền tảng vững chắc để tiến tới chuyển đổi số trong hoạt động đo lường cũng như lưu trữ dữ liệu đo lường được tạo ra hàng giây với tốc độ chóng mặt. Các yếu tố này trở thành nền tảng cho hoạt động chuyển đổi số trong đo lường pháp định.

Theo đó, các hoạt động đo lường pháp định (cùng với hoạt động đánh giá sự phù hợp, hệ thống thanh tra, kiểm tra, giám sát thị trường (Market Surveillance), sau đây gọi chung là thanh tra, kiểm tra), sẽ phải đượ điều chỉnh phù hợp. Đây là một trong các điều kiện tiên quyết để thực hiện quá trình chuyển đổi số trong đo lường, đưa đo lường kết chặt chẽ với phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0.

Đức là một trong những nền kinh tế đi đầu trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển đổi số về đo lường, phục vụ mục tiêu chuyển đổi số. Physikalisch-Technische Bundesanstalt (PTB) với tư cách là Viện Đo lường quốc gia Đức là cơ quan giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển năng lực chuyển đổi số về đo lường. Cùng với việc triển khai các hoạt động đo lường, PTB cũng phát triển nhiều thuật toán cao cấp, những phương pháp phân tích và xác nhận dữ liệu đo lường thông qua việc liên kết chuẩn đo lường đến Hệ đơn vị quốc tế (International System of Units – SI). Điều này thể hiện vai trò quan trọng của PTB trong hoạt động công nhận và hoạt động đo lường pháp định của Đức. PTB thực hiện vai trò là cơ quan đầu mối quốc gia trong việc xây dựng, duy trì và phát triển các chuẩn đo lường quốc gia và quốc tế; phối hợp với các cơ quan thực hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra trong phạm vi của Pháp lệnh Đo lường và Kiểm định (Measures and Verification Act, MessEG) và Sắc lệnh Đo lường và Kiểm định (Measures and Verification Ordinance, MessEV).

Cũng như các cơ quan/viện đo lường quốc gia (National Metrology Institute – NMI) (sau đây viết tắt là viện đo lường quốc gia) khác, PTB trở thành một trụ cột quan trọng của hạ tầng chất lượng quốc gia của Đức, một đối tác tin cậy đối với nhu cầu chuyển đổi số trong một số ngành công nghiệp của Đức. Ở cấp độ quốc gia, viện đo lường quốc gia cung cấp các dịch vụ đo lường, đồng thời kiểm soát quá trình chuyển đổi số đối với những hệ thống, thiết bị khác nhau (như: dữ liệu, cảm biến, thiết bị đo…). Ở cấp độ quốc tế, các chương trình nghiên cứu hợp tác chung giữa các viện đo lường quốc gia nhằm triển khai các ý tưởng, dự án nghiên cứu mới sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số trong hoạt động đo lường. Ví dụ, Viện Tiêu chuẩn Quốc gia Mỹ (American National Standards Institue – NIST) hợp tác với các tổ chức công lập, các đối tác tư nhân để xây dựng các nền tảng chuyển đổi số dựa trên công nghệ điện toán đám mây, dữ liệu lớn, bảo mật, học máy (Machine Learning)… Đây là cơ sở để triển khai hoạt động chuyển đổi số trong đo lường. Hiện nay, các nhóm nghiên cứu tương tự cũng được phát triển trên khắp thế giới. Với sự hỗ trợ của Chính phủ Đức, PTB đã phát triển năng lực để trở thành một trong những viện đo lường quốc gia hàng đầu thế giới về chuyển đổi số trong đo lường.

Định hướng

PTB và một số viện đo lường quốc gia đã thực hiện nghiên cứu về định hướng chuyển đổi số trong đo lường dựa trên năng lực hiện tại của các nền kinh tế sau khi phân tích về yêu cầu của người sử dụng. Trên cơ sở đó, 04 định hướng mới nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển đổi số trong đo lường được xác định bao gồm:

Thứ nhất, định hướng về chuyển đổi số trong các dịch vụ đo lường: Đây là định hướng trọng tâm của các viện đo lường quốc gia trong việc phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia và hệ thống đo lường pháp định. Để thực hiện mục tiêu này, viện đo lường quốc gia cần xây dựng, phát triển những công cụ tham chiếu, quy trình thống kê, hạ tầng số, từ đó thực hiện các hoạt động đánh giá sự phù hợp và thanh tra, kiểm tra trong đo lường.

Thứ hai, định hướng về phân tích lượng dữ liệu lớn trong đo lường: Mục tiêu là phát triển các phương pháp phân tích lương dữ liệu lớn trong đo lường, cùng với các phương thức đánh giá dữ liệu, phát triển các giải pháp số trong đo lường công nghiệp (song song với quá trình xử lý lượng dữ liệu lớn…).

Thứ ba, định hướng về đo lường trong hệ thống thông tin: Hướng tới việc đảm bảo an toàn, bảo mật, hiệu quả của thông tin đo lường trong bối cảnh thông tin bùng nổ của Cách mạng công nghiệp 4.0. Trong thời đại thông tin số như hiện nay, yêu cầu đối với hoạt động đo lường trong hệ thống thông tin phải đảm bảo tính chính xác, nhanh chóng, bảo mật đối với toàn bộ quá trình liên kết chuẩn của các phép đo phức tạp trong mạng 5G, các đại lượng đo phi tuyến, thống kê với tần số cao, các đại lượng đo từ các hệ thống thông tin số, các hệ thống ăngten phức tạp…

Thứ tư, định hướng về mô phỏng và thiết bị đo ảo trong đo lường: Đây là định hướng phát triển các phương pháp phân tích và phê duyệt đo lường đối với các hệ thống chuẩn đo lường  được kết nối và số hóa. Mô phỏng hoạt động thử nghiệm (như: kỹ thuật đo lường tọa độ), kiểm soát tự động hóa đối với các quy trình và chuẩn đo lường… sẽ có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thực hiện, đánh giá hoạt động đo lường.

Chiến lược

PTB và một số viện đo lường quốc gia hàng đầu khuyến nghị phải xây dựng chiến lược chuyển đổi số trong đo lường, đặc biệt là việc ủng hộ những sáng kiến, mô hình triển khai các hoạt động chuyển đổi số đối với những dự án mang tính liên ngành. Cụ thể như sau:

Sáng kiến Đám mây đo lường (Metrology Cloud – MC): Đám mây đo lường được hình thành để thiết lập một nền tảng cốt lõi, tin cậy cho các hạ tầng chất lượng quốc gia trên cơ sở hạ tầng và dữ liệu hiện có. Đám mây đo lường cho phép và hỗ trợ các hạ tầng chất lượng quốc gia thực hiện quyền truy cập, tham gia, khai thác và sử dụng cơ sở hạ tầng và dữ liệu nhằm mục tiêu chuyển đổi số trong hoạt động đo lường của nền kinh tế với lộ trình phù hợp.

Sáng kiến Chứng chỉ hiệu chuẩn số (Digital Calibration Certificate – DCC): Chứng chỉ hiệu chuẩn số là một cấu trúc thông tin số được chuẩn hóa để sử dụng trong hoạt động hiệu chuẩn. Chứng chỉ hiệu chuẩn số được chấp nhận trong hoạt động quản lý đo lường và được chấp nhận trong hệ thống phân cấp hiệu chuẩn của hạ tầng chất lượng quốc gia.

Sáng kiến đo lường với các thuật toán và thử nghiệm ảo: Sáng kiến phát triển năng lực xây dựng các mô hình ứng dụng, các mô phỏng, phân tích dữ liệu và các yếu tố cần thiết thực hiện các quy trình, thủ tục trong hoạt động đo lường.

Cùng với sự phát triển của mạng 5G, mô hình hạ tầng chất lượng quốc gia được chuyển đổi sang mô hình hạ tầng chất lượng quốc gia số (Digital NQI – D-NQI). Tuy nhiên, đây mới chỉ là những bước đầu. Để bảo đảm độ chính xác trong sản xuất, quá trình chuyển đổi số của hạ tầng chất lượng quốc gia cần được tiếp tục nghiên cứu với các yêu cầu cụ thể, đặc biệt cần phù hợp với lộ trình điều chỉnh của các quy định trong đo lường pháp định.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Hà Minh Hiệp – Chuyển đổi số về đo lường trong hạ tầng chất lượng quốc gia – NXB CTQG 2022

Xu thế của học thuật Trung Quốc – Phần XI


Cuộc đấu tranh giữa hai phái Chu, Lục chính là do trong cả một đạo lý hoàn chỉnh, một bên nói một nửa, nếu chúng ta có thể nhìn chung toàn thể sẽ biết được hai thuyết có thể cùng tồn tại. (1) Khổng Tử nói: “Học mà không suy nghĩ sẽ sai lầm, suy nghĩ mà không học sẽ bế tắc”. Chu Tử coi trọng việc học, Lục Tử coi trọng việc suy nghĩ, hai người vốn không thể bỏ đi bên nào. (2) Mạnh Tử nói: “Học rộng mà giãi bày rõ ràng, rồi mới trở lại giãi bày những điều trọng yếu”. Tôn chỉ của Chu Tử chính là cách nói này. Mạnh Tử còn nói: “Tác dụng của tâm là để suy nghĩ, suy nghĩ thì được, không suy nghĩ thì không được, đây là do ông trời ban cho ta, trước tiên xác lập được bộ phận quan trọng này đã thì những bộ phận thứ yếu khác sẽ không thể bị hồ đồ được”. Tôn chỉ của Lục Tử chính là cách nói này. Hai cách nói đều xuất phát từ Mạnh Tử, vốn là không xung đột với nhau. (3) Lục Tử tôn trọng đức tính, Chu Tử nói về học vấn, Trung dung nói: “Tôn đức tính mà xa học vấn”. Ở giữa có một chữ “mà”, hai thứ vốn có thể nối liền làm một. (4) Xét về mặt luân lý học thì Chu Tử dùng phép quy nạp, Lục Tử dùng phép diễn dịch, hai phép đều là thứ mà người nghiên cứu học vấn không thể thiếu được. (5) Xét về hiện tượng tự nhiên: Chu Tử quy vạn thứ khác nhau về một gốc, là hiện tượng hướng tâm, Lục Tử từ một gốc tỏa ra vạn thứ khác nhau, là hiện tượng lực li tâm, hai thứ vốn có tác dụng lẫn nhau. Chúng ta quan sát như vậy, kết hợp học thuyết của hai người lại để dùng là đúng đắn.

Học thuật của Minh Đạo chia thành hai phái Trình Chu và Lục Vương, Tượng Sơn bằng với Y Xuyên, Dương Minh bằng với Chu Tử. Có được cách vật chí tri “vạn thứ khác nhau quy về một gốc” của Chu Tử, tiếp sau đó liền có cách vật chí tri “một gốc tỏa ra vạn thứ khác nhau” của Dương Minh, giống như có được phép quy nạp của Bacon, tiếp sau đó liền có được phép diễn dịch của Descartes, học thuyết của Bacon giống với Y Xuyên và Chu Tử, học thuyết của Descartes giống với Tương Sơn và Vương Dương Minh. Chân lý của vũ trụ từ xua nay vốn là như nhau, cho nên sự phân chia bè phái về mặt học thuật và phương pháp nghiên cứu vấn đề xưa nay cũng vốn giống nhau.

15/ Sự chia hợp của học thuật

Khổng Tử là người “thuật nhi bất tắc”, noi gương Nghiêu Thuấn, hiến chương văn võ, dung hợp nhiều thuyết, lập thành một phái. Trong sách của Lão Tử có những câu như “cốc thần bất tử” và “tương dục thủ chi”, theo khảo chứng của người đời sau đều là trích dẫn từ sách cổ. Trong sách của ông có những câu như “dụng kinh hữu ngôn” và “kiến ngôn hữu chi”, càng rõ ràng là viện dẫn từ những học thuyết cổ, có thể thấy Lão Tử cũng là người “thuật nhi bất tắc”, rồi lập thành một phái. Ấn Độ có 96 ngoại đạo, Thích Ca lần lượt nghiên cứu hết sau đó lập riêng một thuyết, đây cũng là dung hợp học thuyết của nhiều người rồi lập thành một phái. Học thuyết của Tống Nho là dung hợp tam giáo Nho, Phật, Đạo mà thành, cũng là dung hợp học thuyết của nhiều người rồi lập thành một phái. Hiện tượng này là hiện tượng do chia mà hợp trong học thuật.

Phàm là loại học thuyết nào sau khi trở thành một phái độc lập tiếp theo trong phái đó sẽ phải chia nhỏ ra. Hàn Phi nói: “Nho chia làm tám, Mặc chia làm ba”, chính là tuân theo quỹ đạo này. Khổng học chia thành tám phái, sau khi nước Tần bị diệt, Khổng học tuyệt diệt, Hán Nho nghiên cứu kinh điển còn lại của họ, thành lập Hán học, tiếp sau đó lại chia làm rất nhiều phái. Học thuyết của họ Lão cũng chia làm rất nhiều phái. Phật học ở Ấn Độ chia làm nhiều phái, truyền vào Trung Quốc lại phân làm nhiều phái nữa. Cái mà Tống Nho gọi là Phật học tức là thiền tông. Thiền tông từ Đạt Ma truyền đến Ngũ Tổ, chia làm hai phái Nam Bắc, Thần Tú ở phương Bắc, Huệ Năng ở phương Nam, Huệ Năng là Lục tổ, môn hạ của ông lại chia làm năm phái. Minh Đạo sáng tạo ra một phái lý học, tiếp sau đó liền chia thành hai phái Trình Chu và Lục Vương. Mà môn hạ của Y Xuyên lại chia thành nhiều phái nữa, môn hạ của Chu Tử lại chia thành nhiều phái nữa, môn hạ của Chủ Tử lại chia thành nhiều phái nữa, môn hạ của Lục Vương cũng chia thành nhiều phái nữa. Loại hiện tượng này là do hợp mà chia.

Chân lý của vũ trụ là hình tròn, là một thứ nguyên vẹn, tri thức của loài người rất ngắn ngủi, không thể thấy hết được sự toàn vẹn của nó, nhất định phải chia rồi lại hợp, do hợp mà chia như vậy để nghiên cứu mới có thể nghiên cứu được rõ ràng thứ trọn vẹn đó. Phương thức của nó là mỗi khi các học thuyết trở nên quá nhiều liền có người dung hợp chúng lại, khiến chúng trở lại thành một, đây là làm công việc do chia mà hợp. Sau khi đã hợp lại thành một rồi, mọi người lại chia nhau ra nghiên cứu, đây là làm công việc do hợp mà chia.

Thời đại của chúng ta hiện nay là khi học thuyết của phương Tây được truyền bá vào Trung Quốc, xảy ra xung đột với những học thuyết vốn có, chính là thời kỳ mà các học thuyết trở nên quá nhiều. Chúng ta nên dung hợp các học thuyết của cả hai phái Đông Tây lại làm một, cố gắng làm công viẹc do chia mà hợp. Nhất định phải làm như vậy mới phù hợp với xu thế của học thuật, đợi sau khi đã dung hợp được rồi lại chia ra nghiên cứu, làm công việc do hợp mà chia.

II/ Tống học và Thục học

Thời Ngũ đại, Trung Nguyên đại loạn, những người nổi tiếng trong tam giáo đều tề tựu ở Thành Đô, giống như ba dòng sông lớn cùng đổ về một cửa sông hiểm yếu nhất, thiên nhiên nên dung hợp làm một, dường như các danh sĩ đều tụ tập ở Thành Đô cùng nhau thảo luận, để lại không ít học thuyết. Hai anh em Minh Đạo tới Tứ Xuyên, tập hợp những lời giảng đạo của Di lão trúc đài, dung hợp xuyên suốt và đưa vào ý kiến của mình, trở thành một hệ thống gọi là Tống học.

1/ Mối quan hệ giữa nhị Trình và Tứ Xuyên

Tư tưởng của người thường, ngoài việc chịu ảnh hưởng của thời đại thì còn chịu ảnh hưởng về mặt địa lý. Khổng Tử là người nước Lỗ cho nên học theo Chu Công; Quản Trọng là người nước Tề cho nên học theo Thái Công; Mạnh Tử là người phương Bắc cho nên suy tôn Khổng Tử; Trang Tử là người phương Nam cho nên suy tôn Lão Tử. Nguyên nhân của việc này là: (1) Phàm con người ta sống ở một nơi nào đó, mắt thấy tai nghe những chuyện xảy ra ở đó, bất tri bất giác liền trở thành ý kiến cố chấp. (2) Do sinh sống ở vùng đó nên có sự quan sát rất tỉ mỉ về những danh nhân ở đó, có thể thấy được chỗ hay của họ, do vậy đặc biệt tôn sùng họ. Có thể nói đây là hai đặc tính phổ thông của người bình thường, tôi viết bài văn này cũng không thoát khỏi loại ý vị đó.

Học thuyết của Trình Minh Đạo dung hợp tam giáo Nho, Phật, Đạo mà thành, là thuận theo xu thế của thời đại. Còn về quan hệ địa lý, ông sinh trưởng ở Hà Nam là nơi trung tâm của thiên hạ, là nơi dựng đồ của triều Tống, văn nhân đông đúc, là nơi hội tụ của học thuật, do vậy học thuyết của ông có thể dung hợp được học thuyết của các nhà, điểm này rất giống với Lão Tử. Lão Tử làm quan sử của triều Chu, địa điểm cũng ở Hà Nam, Chu thiên tử định đô ở đây, chư hầu qua lại triều bái, là nơi tập trung của các học thuyết được truyền bá, do vậy học thuyết của Lão Tử có thể thông suốt các học thuyết khác.

Chỉ riêng học thuyết của Trình Minh Đạo chịu ảnh hưởng rất lớn của Tứ Xuyên. Về điểm này ít có người chú ý tới, chúng ta có thể đưa ra để thảo luận:

Cha của Minh Đạo làm quan ở Hán Châu thuộc Tứ Xuyên, Minh Đạo cùng em trai là Y Xuyên từng theo cha tới Tứ Xuyên, trong văn tập của Y Xuyên có ba bài “Thay Thái trung làm đề thi vấn đáp cho học sinh ở Hán Châu”, “Tái thư”, “Thục thủ ký”…, đều là những bài văn được sáng tác ở Tứ Xuyên, lúc đó tam giáo Nho, Phật, Đạo rất thịnh hành ở Tứ Xuyên, nhị Trình ở Tứ Xuyên chịu ảnh hưởng rất sâu sắc, sự thật có đủ, rất đáng để chúng ta nghiên cứu.

2/ Dịch học ở Tứ Xuyên

“Tốn sử – Tiếu Định truyện” chép: “Cha của Trình Di là Hướng, làm quan ở Quảng Hán, Trình Di cùng anh là Trình Hạo đều đi theo, dạo chơi ở Thành Đô, thấy một người thợ đóng đai thùng đang đọc một quyển sách, lại gần nhìn xem, thì ra là “Chu Dịch”, cảm thấy có chút kinh ngạc bèn mốn thử hỏi ông ta xem sao. Ai ngờ người thợ đóng đai thùng lại mở miệng hỏi trước: “Ông đã học cái này chưa?” rồi chỉ vào câu “vị tế nam chi cùng” bảo Trình Di giảng giải. Trình Di biết rằng người này chắc chắn có lai lịch, bèn khiêm nhường nhờ ông ta chỉ giáo, người thợ đóng đai thùng nói ngắn gọn: “Ba hào dương đều ở sai vị trí”. Hai huynh đệ Trình Di nghe xong được gợi mở rất nhiều, ngay hôm sau quay lại thì người đó đã đi rồi”. Những năm cuối đời Trình Di chú giải “Chu Dịch” đối với những quẻ chưa đầy đủ, về sau ghi chép lại thuyết “tam dương thất vị”, còn nói: “Ý nghĩa này nghe được từ một người ẩn sĩ ở Thành Đô”. Đủ để thấy Tống sử ghi chép không sai. Theo “Thành Đô huyện chí” ghi chép lại: “Nơi mà nhị Trình gặp người thợ đóng đai thùng chính là chùa Đại Từ trong tỉnh thành”.

“Tiếu Định truyện” còn chép rằng: “Viên Tư tới Lạc Dương , hỏi Trình Di về “Chu Dịch”, Trình Di đáp: “Dịch học ở Thục đó, còn muốn đi đâu tìm nữa?” Viên Tư vào Thục tìm kiếm đã lâu mà không gặp, sau đó gặp được người bán tương là Tiết ông ở Mi Cung”. Chúng ta cẩn thận đọc kỹ mấy chữ “Dịch học ở Thục đó”, đại khái biết được trong thời gian nhị Trình ở Tứ Xuyên đã gặp được rất nhiều người hiểu rõ về Dịch học, không chỉ là một người thợ đóng đai thùng, cho nên mới nói như vậy.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB VH 2020

Mỹ tăng cường hợp tác với ASEAN


Theo tạp chí Eurasia Review ngày 01/6, nhiều thay đổi đã diễn ra kể từ cuộc gặp đầu tiên giữa các quan chức Mỹ và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 1977. Tuy nhiên, sau 45 năm gắn bó, mối quan hệ giữa Mỹ và ASEAN vẫn không ổn định.

Cuộc chiến ở Ukraine đã tạo động lực mới để khởi động lại quan hệ Mỹ – ASEAN theo những cách thực tế. Các nhà lãnh đạo của Mỹ và ASEAN đã gặp nhau tại Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt ở thủ đô Washington vào tháng 5/2022. Tại sự kiện này, quan điểm luôn thay đổi của Mỹ với khu vực Đông Nam Á kể từ sau Chiến tranh Việt Nam là chủ đề tiếp tục được tranh luận, đặc biệt là về sự nhất quán và độ tin cậy của Mỹ.

Một thực tế đã nổi lên đó là khu vực này cần sự hiện diện của Mỹ, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh và kih tế. Các nhà lãnh đạo ASEAN đã hoan nghênh lời mời của Tổng thống Joe Biden khi nó được đưa ra lần đầu tiên vào tháng 10/2021.

Mối quan hệ Mỹ – ASEAN đã được định hướng bởi các lợi ích kinh tế và an ninh chung lâu đời giữa hai bên. Nhưng sự trỗi dậy của các cường quốc mới như Trung Quốc, Nga và Ấn Độ đã khiến đối thoại cấp cao nhất giữa Mỹ và ASEAN trở nên cấp thiết hơn.

Niềm tin của các nhà lãnh đạo ASEAN đối với vai trò của Mỹ trong khu vực đã tăng lên dưới thời chính quyền Biden vì ông Biden cam kết sớm họp với các đồng nghiệp ASEAN. Tại hội nghị thượng đỉnh ở Washington, ông Biden đã bổ nhiệm một trong những cố vấn thân cận của mình, ông Yahannes Abraham, làm đặc phái viên mới của Mỹ tại Ban Thư ký ASEAN sau 6 năm bỏ trống. ASEAN đã hoan nghênh quyết định này của ông Biden.

Điều quan trọng cần lưu ý là Trung Quốc đã không bỏ lỡ hơn hai chục hội nghị cấp cao liên quan đến ASEAN kể từ khi Bắc Kinh trở thành đối tác đối thoại với ASEAN vào năm 1992. Các cuộc họp cấp cao thường xuyên đã củng cố quan hệ ASEAN – Trung Quốc và biến nó thành quan hệ đối thoại năng động nhất của khối. Quan hệ Trung Quốc – ASEAN đã được nâng cấp lên quan hệ đối tác toàn diện vào năm 2021. Trong bối cảnh đó, Mỹ cũng đã nhân cơ hội Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt ở Washington để nâng cấp quan hệ với ASEAN thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Australia cũng đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với ASEAN vào năm ngoái.

Với cuộc chiến Nga – Ukraine đang diễn ra, Mỹ đang cố gắng tăng cường sự ủng hộ của ASEAN đối với lệnh trừng phạt Nga, một vấn đề mà Mỹ và ASEAN đang có quan điểm khác nhau. Hai bên đã rất khó khăn trong việc xác lập lập trường chung về tình hình Ukraine trong Tuyên bố Tầm nhìn chung Mỹ – ASEAN. Tuyên bố chung, nhắc lại lời kêu gọi của ASEAN về việc “chấm dứt ngay lập tức các hành động thù địch”. Nhưng chính quyền Biden muốn có thêm một sự đảm bảo từ ASEAN rằng họ sẽ không đi ngược lại các cơ chế trừng phạt đang được áp dụng khi cuộc chiến ở Ukraine vẫn tiếp diễn.

ASEAN cũng có các ưu tiên khác trong các vấn đề khu vực – bao gồm khủng hoảng Myanmar, xung đột Biển Đông, Bán đảo Triều Tiên và khai thác tài nguyên xuyên biên giới ở tiểu vùng sông Mekong. VIệc Mỹ gây quá nhiều áp lực với ASEAN để buộc ASEAN ngả về phương Tây có thể sẽ phản tác dụng. Các bài học kinh nghiệm từ phản ứng của Ấn Độ trước sức ép chung của Mỹ và châu Âu rất hữu ích. Không thành viên ASEAN nào muốn làm tổn hại đến mối quan hệ lâu đời của họ với Nga và Trung Quốc. Singapore có thể khác biệt nhưng nước này sẽ đứng một mình.

Từ đầu năm 2021, chính quyền Biden đã nhận ra rằng để giành được sự ủng hộ và hợp tác từ ASEAN thì cần phải thực dụng và linh hoạt hơn. Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPEF) mới được công bố, một phần của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, dược thiết kế để đáp ứng lợi ích của cả Mỹ và các nước khu vực. 7 trong số 10 thành viên của ASEAN nằm trong số 13 nước tham gia thể hiện mong muốn thúc đẩy hợp tác kinh tế chặt chẽ hơn với Mỹ và các đồng minh. IPEF vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và các cuộc thảo luận và đàm phán về nội dung IPEF sẽ mất thời gian do sự khác nhau về các quan điểm và thực tiễn kinh tế.

Để tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mới, Mỹ nên tập trung vào các cách thức để tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh với ASEAN, từ đó sẽ thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN. Phải mất gần một thập kỷ nước Mỹ dưới thời chính quyền Obama mới chấp nhận vai trò lãnh đạo của ASEAN trong các vấn đề khu vực. Kể từ bây giờ, Washington phải thể hiện sự sẵn sàng hợp tác trong khuôn khổ chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương theo các đường hướng do ASEAN khởi xướng.

ASEAN đã ưu tiên bốn lĩnh vực hợp tác trong khuôn khổ Triển vọng ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – hợp tác hàng hải, kết nối, phát triển bền vững và hợp tác kinh tế. Mỹ phải cởi mở khi hợp tác với ASEAN vì các khuôn khổ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương khác đã cam kết làm như vậy. Bất kỳ dấu hiệu nào của sự thiếu khoan dung sẽ làm tổn hại đến uy tín của nước Mỹ.

Điều này sẽ xoa dịu sự lo lắng của ASEAN về nhóm không chính thức được gọi là Bộ Tứ, bao gồm Mỹ, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ. Hợp tác chung trên các khuôn khổ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương giữa Mỹ và ASEAN sẽ tăng cường vai trò trung tâm của ASEAN và giải quyết các thách thức trong khu vực. Một lĩnh vực thử nghiệm là Đối tác vaccine Bộ Tứ, có kế hoạch cung cấp một tỷ liệu vaccine COVID-19. Theo thời gian, cả hai bên có thể mở rộng hợp tác từ dịch COVID-19 và an ninh y tế toàn cầu cho đến khí hậu, cơ sở hạ tầng bền vững, các vấn đề hàng hải, giáo dục, giao lưu nhân dân và can dự kinh tế.

Chính quyền Biden đã khôn ngoan khi không lợi dụng hội nghị thượng đỉnh để đưa ASEAN ra chống lại Trung Quốc và Nga. Nếu không, Mỹ sẽ làm tổn hại thêm quan hệ với ASEAN và cán cân quyền lực ở Đông Nam Á. Để nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mới, cả hai bên bây giờ nên tập trung vào việc thúc đẩy chương trình nghị sự song phương và tận dụng sức mạnh tổng hợp của mình trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XV


Nội dung của RIE 2015 nêu ra 6 chiến lược then chốt sau:

+ Đầu tư vào khoa học cơ bản và tri thức để tạo ra nguồn “vốn trí tuệ” – là cơ sở cho đổi mới sáng tạo trong tương lai, đặc biệt là phục vụ cho giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế đổi mới sáng tạo. Các nhà khoa học nhận được sự hỗ trợ và tự chủ để theo đuổi những vấn đề khoa học xuất hiện từ nghiên cứu của họ, với mục đích thúc đẩy sự xuất sắc trong các lĩnh vực có tác động kinh tế và xã hội lâu dài.

+ Tập trung vào việc thu hút và phát triển tài năng khoa học để đáp ứng nhu cầu của các tổ chức nghiên cứu công nghiệp và khu vực công cộng của Singapore. Kinh phí sẽ được cung cấp cho học bổng và học bổng đào tạo tài năng tại các tổ chức nổi tiếng cả trong nước và nước ngoài, để tạo ra một nguồn nhân lực khoa học trẻ tài năng.

+ Chú trọng hơn vào tài trợ cạnh tranh để thúc đẩy đổi mới và đưa ra những ý tưởng tốt nhất. Một tỷ lệ lớn hơn của tài trợ cho R&D sẽ được cấp trên cơ sở cạnh tranh, trong khi vẫn duy trì một mức độ thích hợp kinh phí đảm bảo cho những nghiên cứu cốt lõi.

+ Tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức thực hiện R&D trong khi vực công và với ngành công nghiệp; ưu tiên tài trợ lớn hơn sẽ được trao cho những nỗ lực đa ngành và hợp tác, bao gồm cả với các phòng thí nghiệm R&D của doanh nghiệp.

+ Nâng cao hơn sự đóng góp cua R&D đối với tăng trưởng kinh tế. Điều này có nghĩa là hỗ trợ lớn hơn cho khu vực tư nhân R&D, hợp tác chặt chẽ hơn giữa R&D công và tư, và nhấn mạnh vào thương mại hóa các sản phẩm trí tuệ dẫn đến sản phẩm và dịch vụ mới và tốt hơn. Trong R&D công, Quỹ gắn kết công nghiệp sẽ khuyến khích các nhà nghiên cứu công hợp tác chặt chẽ hơn với các ngành công nghiệp.

+ Cung cấp hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho các nhà khoa học để biến ý tưởng của họ từ nghiên cứu cơ bản đến thương mại hóa, thông qua việc tăng tài trợ  để chuyển giao công nghệ và ươm tạo doanh nghiệp.

Ngày 09/01/2016, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã công bố RIE 2020 với khoản ngân sách lên tới 19 tỷ SDG (khoảng 13 tỷ USD) nhằm hỗ trợ R&D trong giai đoạn 2016 – 2020. Đây là khoản đầu tư kỷ lục mà Chính phủ Singapore dành cho R&D từ trước tới nay. Singapore đặt mục tiêu chiến lược trở thành “Quốc gia thông minh” (Smart Nation) và RIE 2020 được đưa ra với khẩu hiệu “chiến thắng tương lai thông qua khoa học và công nghệ”.

Để tối đa hóa tác động, kinh phí sẽ được ưu tiên trong 4 lĩnh vực công nghệ chiến lược mà Singapore có lợi thế cạnh tranh và cũng là những nhu cầu quan trọng quốc gia. Bốn ưu tiên là:

(1) Phát triển công nghệ sản xuất và kỹ thuật tiên tiến  (phát triển năng lực công nghệ hỗ trợ tăng trưởng và tính cạnh tranh của các ngành chế tạo và kỹ thuật);

(2) Đẩy mạnh các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y sinh học (đưa Singapore trở thành trung tâm hàng đầu thế giới về chăm sóc sức khỏe, y sinh học; tạo ra các giá trị kinh tế cho đất nước và người dân Singapore thông qua nghiên cứu xuất sắc và ứng dụng);

(3) Dịch vụ và nền kinh tế kỹ thuật số (phát triển, tích hợp và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo kỹ thuật số của Singapore nhằm đáp ứng các ưu tiên quốc gia, nâng cao năng suất và hỗ trợ các dịch vụ then chốt, tạo ra những cơ hội kinh tế bền vững và việc làm chất lượng);

(4) Phát triển các giải pháp đô thị bền vững (phát triển đất nước Singapore bền vững và đáng sống thông qua các giải pháp tích hợp không chỉ cho Singapore mà còn cho cả thế giới).

Ngoài ra, trong RIE 2020, Chính phủ Singapore đầu tư 2,5 tỷ SGD (tăng 900 triệu SGD so với RIE 2015) cho nghiên cứu các lĩnh vực “Không gian Trắng” (các lĩnh vực mới xuất hiện hoặc dự báo có vai trò lớn, như an ninh mạng…).

Chính sách tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học: Các nhà hoạch định chính sách cho rằng, thành công của đảo quốc này cũng nhờ vào chính sách gọi thầu – theo tiêu chuẩn quốc tế cho nghiên cứu khoa học. Trên thực tế, Chính phủ Singapore đã không sáng tạo ra mô hình mới nào, mà chủ yếu dựa trên các hệ thống đã tồn tại sẵn, nhất là mô hình của Anh. Theo đó, chính quyền thực hiện chính sách gọi thầu cho các dự án 3 năm, 5 năm hay 10 năm, theo quan điểm “chuyển giao công nghệ” thông qua hợp tác với các nhà công nghiệp và mua bằng sáng chế nhằm thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình từ khám phá đến ứng dụng.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những công nghệ lõi như blockchain, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, robot, in 3D cùng với quá trình chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Cuối năm 2016, Chính phủ Singapore với tham vọng khuyến khích các doanh nghiệp phát triển công nghệ tài chính đã chính thức cho áp dụng Sandbox – cơ chế thử nghiệm áp dụng trong phạm vi hạn chế – cho phép các công ty công nghệ trong những lĩnh vực chưa có quy định rõ ràng được phép thử nghiệm các giải pháp của họ trên thị trường, dưới sự giám sát của cơ quan quản lý. Theo đó, ngày 16/11/2016, cơ quan quản lý tiền tệ của Singapore (MAS) đã công bố Hướng dẫn về Khung pháp lý thử nghiệm cho ngành tài chính (FinTech Regulatory Sandbox Guidelines) để khuyến khích và cho phép thử nghiệm các giải pháp sử dụng công nghệ một cách sáng tạo để cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ tài chính. MAS công bố Hướng dẫn về Khung pháp lý thử nghiệm cho ngành tài chính hướng tới mục tiêu cụ thể là khuyến khích những khởi nghiệp sáng tạo về công nghệ tài chính có thể được thử nghiệm ở thị trường, sau đó được áp dụng tại Singapore và nhiều quốc gia khác. Những thử nghiệm này sẽ được tiến hành trogn một không gian và thời gian được xác định rõ ràng và với các biện pháp bảo vệ thích hợp để bảo vệ cho “hệ thống tài chính” của Singapore.

b/ Hệ thống khoa học – công nghệ  và đổi mới sáng tạo của Singapore

Về cơ cấu tổ chức, Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore là cơ quan chính phụ trách các vấn đề liên quan đến hoạt động khoa học – công nghệ. Cơ quan tham vấn và quản lý các vấn đề khoa học – công nghệ chính của Singapore là Cơ quan Khoa học và Công nghệ và Nghiên cứu (Agency for Science and Technology and Research – A*STAR), được thành lập từ năm 1991. A*STAR do Bộ Thương mại và Công nghiệp tài trợ và đảm nhiệm vai trò thúc đẩy kinh tế phát triển. A*STAR bao gồm 2 tổ chức nghiên cứu: Hội đồng Nghiên cứu Y Sinh (The Biomedical Research Council – BMRC), Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật (The Science and Engineering Research Council – SERC), mỗi tổ chức bao gồm 7 viện. Bên cạnh đó là hệ thống các viện nghiên cứu và trường đại học với năng lực nghiên cứu xuất sắc.

Hoạt động R&D là một trong những bộ phận quan trọng nhất của hệ thống khoa học – công nghệ Singapore, thu hút đầu tư và sự tham gia của mọi thành phần trong nền kinh tế bao gồm các doanh nghiệp khu vực tư nhân, các trường đại học, chính phủ, viện nghiên cứu công lập.

Hình 1.5

Ngoài ra, Hội đồng Nghiên cứu, Đổi mới và Kinh doanh (RIEC) có chức năng tư vấn cho Chính phủ Singapore về chính sách và chiến lược nghiên cứu, đổi mới quốc gia. Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn cho Chính phủ Singapore về chính sách, chiến lược nghiên cứu và đổi mới quốc gia nhằm đưa Singapore trở thành một nền kinh tế tri thức, có năng lực mạnh về R&D; dẫn dắt quốc gia thúc đẩy những động lực sáng tạo mới bằng các giải pháp khoa học và công nghệ, và xúc tác cho những tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Cơ quan giúp việc cho RIEC là Tổ chức Nghiên cứu quốc gia (NRF), được thành lập năm 2006, có chức năng điều phối các hoạt động nghiên cứu của các cơ quan và tổ chức trên cả nước theo một định hướng chiến lược tổng thể rõ ràng, xây dựng các chính sách và kế hoạch nhằm thực hiện năm động lực chương trình R&D quốc gia, thực hiện các chiến lược nghiên cứu, đổi mới, kinh doanh do RIEC phê duyệt và phân bổ kinh phí cho  cho các chương trình. NRF là cơ quan đầu mối cấp kinh phí nghiên cứu cho các viện, trường đại học, trường bách khoa công nghệ, các bệnh viện, các phòng thí nghiệm công và tư, các ngành công nghiệp và doanh nghiệp.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Dữ liệu là quyền lực: Hoa Kỳ cần xây dựng các quy tắc mới cho thời đại kỹ thuật số – Phần II


Chắp nối các quy tắc

Các thể chế quốc tế hiện nay chưa được trang bị để xử lý sự gia tăng nhanh của dữ liệu. Họ cũng chưa chuẩn bị để giải quyết những đứt gãy đang xuất hiện trong việc làm thế nào để tiếp cận dữ liệu. Khuôn khổ thể chế áp dụng cho thương mại quốc tế của Tổ chức Thương mại Thế giới và tổ chức tiền nhiệm của nó là Hiệp định chung về Thuế quan và mậu dịch, được xây dựng vào thời điểm mà chủ yếu là hàng hóa nông nghiệp và sản xuất được vận chuyển qua biên giới và các luồng dữ liệu chỉ xuất hiện trong tiểu thuyết hư cấu. Khuôn khổ của WTO phụ thuộc vào hai cách thức phân loại chính: xem là một thứ gì đó là hàng hóa hay dịch vụ và xem là nó xuất xứ từ đâu. Hàng hóa được kiểm soát bằng các quy tắc thương mại khác với các dịch vụ, và xuất xứ của một sản phẩm xác định các loại thuế hoặc các hạn chế thương mại được áp dụng.

Dữ liệu thách thức kiểu phân loại cơ bản này vì nhiều lý do. Thứ nhất là do lượng lớn dữ liệu – chẳng hạn như hoạt động duyệt trực tuyến của một người trước khi đặt mua quần áo – là những hệ quả không thể định giá của việc sản xuất và tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ khác. Thứ hai là thường khó xác định nơi dữ liệu được tạo ra và lưu trữ. Dữ liệu về hiệu suất kỹ thuật của một chuyến bay quốc tế bắt nguồn từ quốc gia nào? Công ty đa quốc gia lưu trữ dữ liệu trên đám mây của khách hàng ở quốc gia nào? Hơn nữa, không có phân loại thống nhất về việc định giá dữ liệu. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp thương mại, các nước thành viên của WTO có thể tìm biện pháp pháp lý và yêu cầu tổ chức này sửa một lần, nhưng các bản sửa lỗi đó không giải quyết được những mâu thuẫn cơ bản giữa khuôn khổ của WTO và bản chất của dữ liệu.

Việc thiếu một khuôn khổ quản lý dữ liệu được thế giới chấp nhận tạo ra những câu hỏi lớn chưa được giải đáp về nền kinh tế toàn cầu và an ninh quốc gia.

Liệu các quốc gia có chủ quyền có thể giới hạn vị trí và việc sử dụng dữ liệu công dân của họ trong biên giới quốc gia đó không? Khái niệm này thậm chí còn có ý nghĩa gì khi đám mây và dữ liệu của nó được phân phối trên Internet? Liệu các chính phủ có thể đánh thuế sự xuất hiện của dữ liệu từ các quốc gia khác, giống như việc họ đánh thuế nhập khẩu nhiều hàng hóa và dịch vụ? Điều này sẽ hoạt động như thế nào khi bản thân các luồng dữ liệu thường không được định giá, ít nhất là trong các công ty thu thập dữ liệu? Quốc gia có chủ quyền có thể áp đặt những biện pháp kiểm soát nào đối với dữ liệu nhập vào quốc gia của họ? Họ có thể yêu cầu dữ liệu được lưu trữ cục bộ hoặc họ được cấp quyền truy cập vào dữ liệu đó không?

VIệc không có một khuôn khổ quốc tế cũng đe dọa quyền riêng tư của mọi người dân. Ai sẽ đảm bảo rằng các chính phủ hoặc các tác nhân khác không lạm dụng dữ liệu của mọi người và vi phạm các quyền kinh tế, chính trị và quyền con người của họ?

Làm cách nào để các chính phủ có thể bảo vệ quyền riêng tư của công dân trong khi vẫn cho phép dữ liệu di chuyển xuyên biên giới? Hiện nay, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu không nhất trí về câu trả lời cho những câu hỏi này, gây ra mâu thuẫn làm ảnh hưởng đến hợp tác thương mại, đầu tư và an ninh quốc gia.

Về phần mình, Trung Quốc thể hiện rất ít cam kết về quyền riêng tư. Nếu không có các phương pháp phổ biến và có thể xác minh để ẩn danh dữ liệu nhằm bảo vệ quyền riêng tư cá nhân, thì khả năng đổi mới sáng tạo từ dữ liệu cá nhân sẽ bị mất, hoặc các quyền cơ bản sẽ bị vi phạm.

Trong trường hợp không có câu trả lời thống nhất và mang tính tập thể cho những câu hỏi này, thì các quốc gia và các khối thương mại đang tự ứng biến. Điều này vô hình trung tạo ra một tập hợp các quy định thiếu nhất quán, mơ hồ và chắp vá. Các thỏa thuận thương mại khu vực gần đây đã bao gồm một số điều khoản liên quan đến dữ liệu và thương mại điện tử. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (không bao gồm Hoa Kỳ) không cho phép các yêu cầu lưu trữ dữ liệu trong một quốc gia nhất định và cấm áp dụng thuế đối với các luồng nội dung điện tử xuyên biên giới. Hiệp định này cũng thừa nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật số, và cấm các nước tham gia Hiệp định không được yêu cầu quyền truy cấp vào mã nguồn phần mềm của các công ty. Hiệp định Hoa Kỳ – Mexico – Canada (USMCA) cũng đặt ra các điều khoản tương tự.

Cả hai hiệp định thương mại tự do đều nhằm mục đích cho phép các luồng dữ liệu không bị cản trở, nhưng phần lớn chúng chưa được kiểm định và bị hạn chế, do có tính chất khu vực.

Liên minh châu Âu làm rõ các quy định dữ liệu về quyền riêng tư trong Quy định chung về Bảo vệ dữ liệu, bằng cách này cố gắng trao quyền cho các cá nhân tự quyết định cách thức các công ty có thể sử dụng dữ liệu của họ. Tuy nhiên, nhiều người bày tỏ lo ngại rằng Quy định này đã thiết lập thành công các rào cản thương mại đối với các công ty nước ngoài đang hoạt động tại các quốc gia thành viên EU với những yêu cầu về các biện pháp tuân thủ tốn kém và tăng rủi ro trách nhiệm pháp lý của thị trường châu Âu. Hơn nữa, các quy tắc của EU là chủ đề tranh cãi và kiện tụng liên tục.

Mối quan tâm lớn hơn đối với Hoa Kỳ là hệ sinh thái kỹ thuật số khác biệt của Trung Quốc. Hơn một thế hệ trước, Trung Quốc đã bắt đầu thiết lập “Vạn lý hỏa tường” – một sự kết hợp giữa luật pháp và công nghệ nhằm hạn chế luồng dữ liệu ra vào Trung Quốc, một phần bằng cách ngăn chặn các trang web nước ngoài. Kể từ đó, Trung Quốc đã áp dụng mô hình quốc gia công nghệ bắt buộc phải cho phép chính phủ truy cập vào dữ liệu được tạo ra ở trong nước. Số lượng dữ liệu tuyệt đối đó thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo của Trung Quốc nhưng cũng cho phép hoạt động kiểm soát và giám sát chặt chẽ của quốc gia này, và với chi phí là các luồng dữ liệu quốc tế mở.

Hiện Bắc Kinh đang tìm cách mở rộng mô hình này với kế hoạch rõ ràng là sử dụng ngành công nghệ bản địa để thống trị các nền tảng kỹ thuật số quản lý dữ liệu, mới nhất là các mạng lưới viễn thông 5G. Để đạt được mục tiêu đó, Trung Quốc đã công bố một kế hoạch táo bạo Tiêu chuẩn Trung Quốc 2035 nhằm thiết lập các tiêu chuẩn toàn cầu về các công nghệ mới nổi. Và thông qua cái gọi là Con đường tơ lụa kỹ thuật số và Sáng kiến Vành đai và Con đường rộng lớn hơn, Trung Quốc đang nỗ lực truyền bá mô hình quản trị dữ liệu và mở rộng quyền truy cập và dữ liệu bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng Internet ở nước ngoài và thúc đẩy thương mại kỹ thuật số.

Còn Hoa Kỳ thì sao? Ở cấp độ liên bang, quốc gia này không giải quyết theo bất kỳ khuôn khổ pháp lý nào. Ngoài Hiệp định thương mại USMCA, họ cũng không tham gia vào bất kỳ thỏa thuận xuyên biên giới có ý nghãi nào về các luồng dữ liệu. Cho đến nay, Hoa Kỳ vẫn chưa đáp lại những nỗ lực của Trung Quốc bằng một kế hoạch mạch lạc nhằm định hình các tiêu chuẩn công nghệ hoặc đảm bảo các biện pháp bảo vệ quyền riêng tư trên diện rộng. Các phản ứng đặc biệt của Hoa Kỳ và các nỗ lực có mục tiêu nhằm khuyến khích các quốc gia khác từ chối công nghệ 5G của công ty Trung Quốc Huawei có thể sẽ phát huy tác dụng trong thời gian tới. Nhưng chúng không tạo thành một kế hoạch dài hạn hiệu quả để khai thác sức mạnh của dữ liệu.

(còn tiếp)

Người dịch: Lê Nguyễn

Nguồn: Matthew J. Slaughter & David H. McCormik – Data is Power: Washington needs to craft new rules for the digital age – Foreign Affairs – May/June 2021, p54-62

TN 2021 – 74

Các nhóm vũ trang sắc tộc Myanmar thời hậu đảo chính


Ở các vùng biên giới của Myanmar, những hành động tàn bạo của quân đội không phải là điều gần đây mới xảy ra. Do đó, cư dân thuộc các nhóm sắc tộc sinh sống ở các khu vực này đã phải đối mặt với kết quả của cuộc đảo chính tháng 2/2021 với các mức độ can dự khác nhau và với những chiến lược riêng biệt. Họ cũng đã phải đối mặt với những hậu quả theo những cách không giống nhau.

Những tuần gần đây đã chứng kiến những nỗ lực mới nhằm cùng nhau đoàn kết dưới một ngọn cờ, trong khi cùng lúc chính quyền quân sự đã mời các nhóm vũ trang tham gia đàm phán. Cơ hội cho một Myanmar được giải phóng với nhiều quyền tự trị hơn cho các nhóm sắc tộc và vai trò của Chính phủ Thống nhất Quốc gia (NUG) trong một Myanmar như vậy sẽ như thế nào? Yawd Serk, thủ lĩnh của một trong những nhóm vũ trang sắc tộc có ảnh hưởng nhất ở Myanmar, trước đây đã kịch liệt chỉ trích chế độ sát hại gần 2000 thường dân. Ngày nay, ông được nhà lãnh đạo của chính quyền quân sự tiếp đón trong cung điện. Ngay sau cuộc đảo chính, Yawd Serk tuyên bố rằng các nhà lãnh đạo của hội đồng quân đội “phải chịu trách nhiệm”, đồng thời “10 nhóm vũ trang kiên quyết đứng lên bảo vệ người dân”. Nhóm vũ trang sắc tộc Quân đội Nhà nước Shan-miền Nam (SSA-S) của Yawd Serk là một trong số 10 nhóm vũ trang trước đây đã ký Thỏa thuận ngừng bắn trên toàn quốc (NCA), nhưng sau khi quân đội tiếp quản, họ tuyên bố ủng hộ Phong trào Bất tuân dân sự (CDM) – một phong trào nhằm tìm cách làm tê liệt cơ quan hành chính, lĩnh vực năng lượng của chính quyền quân sự và khuyến khích quân đội đào ngũ.

Năm 2019, Yawd Serk cũng từng phát biểu rằng “đầu tiên, hệ thống quản trị của chúng ta phải là một hệ thống dân chủ liên bang. Tất cả chúng ta đều biết rằng chế độ độc tài quân sự là hoàn toàn không tốt”. Vào thời điểm đó, nhà lãnh đạo của SSA-S đã chỉ ra sự cần thiết phải thay đổi Hiến pháp năm 2008 và “tập trung thảo luận về việc quân đội Myanmar sẽ làm thay đổi vấn đề an ninh như thế nào”. Tuy nhiên, đến giữa năm 2022, sau một năm chiến đấu và hàng nghìn người trên khắp bang Shan, bang Kayah và các nơi khác trên đất nước bị mất nhà cửa, Yawd Serk là đại diện đầu tiên của các nhóm vũ trang sắc tộc bắt tay với chế độ để tiến hành các cuộc đàm phán hòa bình. Yawd Serk cho biết các cuộc đàm phán đã diễn ra “suôn sẻ” và hai bên không có nhiều khác biệt.

Trong khi đó, thông tin về các cuộc tấn công của các lực lượng của chế độ quân sự, chẳng hạn như vụ phóng hỏa hơn 40 ngôi nhà ở bang Shan, vẫn tiếp tục xuất hiện. Nhiều người bày tỏ sự phẫn nộ trước việc Yawd Serk giúp chính quyền quân sự củng cố tính hợp lệ, trong khi đối với những người khác, đó là một lời nhắc nhở rất rõ ràng về thực tế rằng tất cả những người nắm giữ vũ khí ở Myanmar đều không có tính hợp pháp dân chủ. Những diễn biến này diễn ra sau khi có các thông tin căng thẳng ngày càng tăng giữa các cư dân của bang Shan – vùng lãnh thổ lớn nhất của Myanmar. Tháng 3/2022, người đứng đầu của một tổ chức sắc tộc khác – Đảng Quốc gia Ta’ang – đã bị sát hại cùng với gia đình của mình. Nhiều người đổ lỗi cho SSA-S về hành động đó nhưng nhóm này bác bỏ cáo buộc, nói rằng vụ việc này nhằm cố ý gây thiệt hại cho SSA-S. Tuy nhiên, sự kiện đã gieo rắc nghi ngờ vào các mối quan hệ thân tình giữa các nhóm sắc tộc khác nhau ở bang Shan. Do Myanmar thời hậu đảo chính không tiến hành một cuộc điều tra đáng tin cậy, các lời cáo buộc lẫn nhau càng tăng lên gấp bội.

Trước đây, những nỗ lực nhằm đoàn kết các nhóm vũ trang sắc tộc ở bang Shan do các nhóm tôn giáo khởi xướng đều đã thất bại. Điều đó xảy ra bất chấp những chỉ trích về cuộc đấu đá giữa các nhóm sắc tộc mà theo nhiều nhà bình luận địa phương, có đặc điểm của các cuộc chiến tranh ủy nhiệm được tiến hành vì lợi ích của quân đội, Trung Quốc, hoặc cả hai, hơn là vì người dân. Tình hình luôn phức tạp, phản ánh tính phức tạp của các vấn đề nội bộ ở các khu vực khác. Thành lập một liên minh quân sự giữa các nhóm vũ trang sắc tộc và Lực lượng Phòng vệ Nhân dân (PDF), các lực lượng đứng về phía NUG, chính phủ lưu vong của Myanmar, trên thực tế là một “cuộc đàm phán bất khả thi” – một nhiệm vụ không thể hoàn thành.

Sự chia rẽ đã tồn tại và sẽ còn tiếp tục kéo dài. Mặc dù nhiều nhóm vũ trang đã thực hiện cách tiếp cận chờ đợi và quan sát ngay sau khi cuộc đảo chính diễn ra, song chính quyền quân sự đã có thể động viên hoặc lấy lòng được một số lãnh đạo của các nhóm vũ trang này trong những tháng gần đây. Điều này đã được chứng minh bằng danh sách những người tham gia các cuộc đàm phán hòa bình do các tướng lĩnh dẫn dắt. Theo tuyên bố của phát ngôn viên hội đồng quân sự, Thiếu tướng Zaw Min Tun, Myanmar có 21 tổ chức vũ trang sắc tộc, 10 trong số đó đã chấp nhận lời mời tham gia các cuộc đàm phán. Gần đây, 7 nhóm đã nhận được danh hiệu danh tự từ chính quyền quân sự, tạo tiền đề cho quá trình đàm phán hòa bình diễn ra suôn sẻ. Tuy nhiên, một số nhóm – chẳng hạn như Liên minh Quốc gia Karen, Quân đội Độc lập Kachin, Đảng Tiến bộ Quốc gia Karenni và Mặt trận Quốc gia Chin – đang tích cực tham gia đấu tranh vũ trang chống lại chế độ độc tài, phản đối cuộc đàm phán, cho rằng cuộc đàm phán này không có phổ quát sau khi NUG và PDF bị loại trừ.

Trước tình hình đó, nhiều người tin rằng các cuộc hòa đàm sẽ không mang lại một nền hòa bình lâu dài, do chế độ quân sự lâu nay luôn có “truyền thông” phá vỡ các cam kết của chính họ và rằng các cuộc gặp chỉ là cái cớ để kích động chia rẽ và thuyết phục các nhóm vũ trang rời xa NUG. Nhìn bề ngoài, những sự kiện gần đây là một đòn giáng mạnh vào NUG. NUG đã tìm cách tự định vị mình là đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân Myanmar với chiêu bài thống nhất và dân chủ. Nhưng nhìn sâu hơn, thành công PR của chính quyền quân sự được xây dựng trên địa hình không ổn định vì rất khó có khả năng họ sẽ trao quyền tự quyết dưới bất kỳ hình thức nào cho các cộng đồng sắc tộc như hy vọng của các nhà lãnh đạo được mời. Các nhà lãnh đạo cuộc đảo chính gần đây đã tái khẳng định sự cần thiết phải duy trì Hiến pháp năm 2008, loại bỏ cơ hội sẽ có bất kỳ quyền tự trị thực sự nào.

Vì chế độ quân sự có kế hoạch tổ chức một cuộc tổng tuyển cử vào năm tới, các cuộc đàm phán về chế độ liên bang sẽ bị hoãn lại cho đến khi đó. Tuy nhiên, những người chỉ trích nghi ngờ rằng nếu không thay đổi hiến pháp, một quốc gia liên bang có thể được xây dựng trong tương lai hay không. Do đó, rất có thể, trong những tháng tới, chúng ta sẽ chứng kiến cuộc đấu tranh vũ trang giữa các bên cạnh tranh với nhau sẽ còn kéo dài, với nhiều phe nhóm sẽ đứng về phía chính quyền, hoặc ít nhất là đứng ngoài cuộc chiến này. Trong bối cảnh đó, một thành viên của chính phủ lưu vong gần đây đã gặp bộ trưởng ngoại giao Malaysia. Việc bộ trưởng Ngoại giao Malaysia kêu gọi các thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mở các kênh không chính thức với NUG làm dấy lên câu hỏi họ đã sẵn sàng và quyết tâm tới mức nào để thay đổi tình trạng của Myanmar và cuộc xung đột nội bộ của quốc gia này.

Tuy nhiên, với sự hậu thuẫn của Trung Quốc và Nga, chính quyền quân sự Myanmar không phải lo lắng nhiều. Sức ép của quốc tế đã mang lại kết quả rất hạn chế và các nhóm kháng chiến vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh của họ, yêu cầu phương Tây cung cấp vũ khí sau khi chứng kiến những gì đã xảy ra ở Ukraine. Nhìn vào quốc gia châu Áu đó, nhiều người tự hỏi liệu Liên minh châu Âu (EU), Mỹ và các nước khác có làm mọi thứ có thể để hỗ trợ các lực lượng ủng hộ dân chủ hay không. Sức mạnh của sự phản kháng chống lại cuộc chiến của Putin đã khiến nhiều nhà quan sát choáng váng, chưa nói đến chính bản thân Putin, người đã tính toán quá kỹ các cơ hội của mình.

Với việc “Myanmar phải hứng chịu tình trạng sự chú ý của các phương tiện thông tin đại chúng hay bị thay đổi” như James Rodehaver của Liên hợp quốc đã nói, cuộc khủng hoảng ở Đông Nam Á này có thể đang rơi vào khu vực bị sao nhãng, thờ ơ và im lặng. Myanmar được chú ý ít hơn nhiều so với Ukraine.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Báo chí đa nền tảng – Phần I


Trong khi báo chí đa phương tiện vẫn đang được nhắc đến như một xu thế không thể khác đối với báo chí trên toàn thế giới, thì báo chí đa nền tảng (multi platform journalism) đã được dự đoán sẽ trở thành tất yếu trong tương lai. Trước thời điểm báo chí bị tác động mạnh mẽ bởi mạng xã hội và điện thoại thông minh, thuật ngữ báo chí đa nền tảng thường chỉ dùng trong lĩnh vực máy tính hay ngành công nghiệp phần mềm, nó chỉ bắt đầu được nhắc nhiều tại các hội thảo báo chí quốc tế vào khoảng năm 2010, thời điểm mang tính bước ngoặt của báo chí truyền thông thế giới. Giống như Thomas L. Friedman từng thốt lên: “Khi tôi viết “Thế giới phẳng” (2004), Facebook chưa tồn tại, Twitter là một âm thanh; mây thì ở trên trời; 4G là bãi đỗ xe, “ứng dụng” là những gì bạn gửi đến trường đại học, LinkedIn hầu như không ai biết đến và hầu hết mọi người nghĩ rằng đó là nhà tù, Big Data là cái tên hay cho một ngôi sao nhạc rap, và Skype, đối với hầu hết mọi người, là một lỗi đánh máy sai…”, tất cả đã thay đổi chỉ trong vòng 6 năm.

1/ Báo chí đa nền tảng là gì?

Hiểu một cách đơn giản nhất, báo chí đa nền tảng là xu hướng báo chí mà người đọc có thể tiếp cận tin tức trên tất cả các nền tảng khác nhau: Máy tính, thiết bị di động cầm tay (smartphone, iPad, Notebook…); báo giấy, báo mạng điện tử; các ứng dụng xã hội như Facebook, Snapchat, Twitter… Hay nói cách khác, trong tương lai, để có thể tồn tại, một tờ báo buộc phải “biến đổi” để công chúng có thể tiếp cận thông tin bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào họ muốn, trên bất cứ nền tảng nào mà họ có. Thậm chí, các chuyên gia đã đưa ra viễn cảnh, nếu công chúng đang đọc một bài báo trên máy tính xách tay và bỏ dở khi mở điện thoại di động, máy tính bảng, hay chiếc đồng hồ đeo tay có thể đọc tin tức, họ phải đọc tiếp được đúng đoạn đó trên các thiết bị này.

Vì sao báo chí đa nền tảng lên ngôi trong khi báo chí đa phương tiện và báo chí hội tụ vẫn còn đang là câu chuyện nóng bỏng? Có thể thấy rằng, sự phát triển mạnh mẽ của các thiết bị di động cũng như sự lên ngôi của mạng xã hội trong bối cảnh Internet đang phát triển như vũ bão trên toàn cầu đã buộc báo chí phải thay đổi.

Theo bản khảo sát World Press Trend 2016 (Các xu hướng báo chí thế giới thường niên năm 2016) của Hiệp hội Báo chí và các Nhà xuất bản tin tức thế giới (WAN-IFRA), 51% dân số thế giới đang sử dụng điện thoại di động và 31% sử dụng mạng xã hội, 30% dân số thế giới sở hữu một điện thoại thông minh và gần 90% người Mỹ truy cập tin tức bằng điện thoại thông minh và các thiết bị di động khác.

Nghiên cứu này dẫn số liệu của Hiệp hội Báo chí Mỹ cho biết, hơn nửa số công chúng báo mạng điện tử của nước này chỉ sử dụng thiết bị di động để đọc tin hàng ngày. Theo trang cung cấp số liệu ComScore, 37% công chún của 10 hãng truyền thông kỹ thuật số của Mỹ truy cập tin tức bằng thiết bị di động và 31% khác đọc tin bằng cả thiết bị di động lẫn máy tính bàn. Tại các thị trường như Pháp, Đức, Nhật Bản, Australia và Canada, hơn 1/3 số người trưởng thành sử dụng thiết bị di động để đọc tin tức. Đặc biệt, số lượng ngày càng tăng của điện thoại thông minh và máy tính bảng cũng thúc đẩy việc sử dụng ứng dụng dữ liệu lớn trên báo mạng điện tử, ví dụ như video. Theo thống kê, khoảng một nửa người tiêu dùng Internet tải lên video của riêng họ, 8 – 9 tỷ video mỗi ngày được theo dõi trên Facebook, 8 tỷ video/ngày được xem qua Snapchat và 4 tỷ được xem qua YouTube, hơn 50% lượng truy cập YouTube bây giờ là điện thoại di động, tăng từ 6% trong năm 2011. Nhờ xu hướng tiếp cận tin tức qua mạng, phương thức thu lợi nhuận từ phát hành kỹ thuật số cũng phát triển theo. Doanh thu phát hành kỹ thuật số thu tiền từ công chúng tiếp tục tăng trưởng 2 con số, tăng 30% trong năm 2015 và 547% trong 5 năm qua.

Báo cáo Global mobile media consumption: a “new wave” takes shape (Tiêu thụ truyền thông di động toàn cầu: Một làn sóng mới đang hình thành) được tiến hành vào năm 2014 của InMobi – mạng quảng cáo di động độc lập lớn nhất thế giới cũng cho thấy, tính trên toàn cầu, các khách hàng dành trung bình gần 2,2 giờ mỗi ngày dùng điện thoại di động (97 phút) và máy tính bảng (37 phút), chiếm 37% thời gian sử dụng các phương tiện truyền thông, bỏ xa xử dụng tivi (81 phút), máy tính để bàn (70 phút), radio (44 phút) và báo in (33 phút). Trong đó, có đến 60% người dùng truy cập Internet từ mobile, 30% số đối tượng hàng tháng của các kênh truyền thông là người dùng điện thoại di động.

Cùng với điện thoại di động, vài năm trở lại đây, mạng xã hội đã trở thành một hiện tượng toàn cầu, theo nghiên cứu của trang ComScore, cứ 5 phút online thì người dùng sẽ dành một phút cho mạng xã hội. Riêng với Facebook, trang này đánh giá, người dùng trên toàn thế giới tiêu tốn đến 35 phút mỗi ngày để lướt Facebook, cứ 3 trong 4 phút truy cập vào mạng xã hội là để dành cho Facebook. Trong khi đó, theo báo cáo của chính Facebook, người Mỹ tiêu tốn đến 50 phút mỗi ngày cho mạng xã hội này.

Không chỉ có tốc độ phát triển đáng kinh ngạc, vượt qua cả yếu tố kết nối đơn thuần, hơn bao giờ hết, các nền tảng xã hội đóng một vai trò quan trọng trong việc phối hợp truyền bá thông tin. Rất nhiều tin tức lan truyền trên mạng xã hội trước khi chính thức có mặt trên mặt báo, rất nhiều bài báo có nguồn tin từ mạng xã hội. Năm 2015, khi xảy ra vụ khủng bố đẫm máu khiến cho hơn 200 người thương vong. Paris sử dụng hashtag Twitter #PorteOuvert (cửa mở) để cung cấp nơi trú ẩn trong khi Facebook triển khai tính năng an toàn (I’m safe) khuyến khích người dân ở Paris thông báo mình an toàn thông qua tài khoản cá nhân của họ – lần đầu tiên ngoài một thảm họa tự nhiên. Đến nay, những tính năng này được sử dụng thường xuyên hơn khi xảy ra các thảm họa, ví dụ như vụ khủng bố ở khu chợ Giáng Sinh Berlin, vụ động đất ở Nepal hay sau cơn bão Dianmu đổ bộ vào Việt Nam tháng 8/2016, Facebook đều tự động kích hoạt tính năng an toàn.

Mạng xã hội cũng tiến đến gần hơn với báo chí, Twitter cho ra mắt ứng dụng xem video trực tiếp có tên Periscope và nó đã nhận được sự ủng hộ nồng nhiệt từ giới phóng viên. Chưa dừng lại ở đó, mạng xã hội này còn tiếp tục cho ra mắt ứng dụng Project Lightning, một sáng kiến mới được đánh giá là rất hữu ích khi giúp thu thập và sắp xếp một cách có hệ thống các tin tức xung quanh nhiều sự kiện trong đời sống. Facebook cũng giới thiệu thanh trượt mới trên giao dịch có tên Trending Now, là nơi cập nhật những nội dung, tin tức hiện đang được thảo luận nhiều nhất trên Facebook. Cùng với đó là các tính năng như Instant Articles và Live Video giúp truyền tải tin tức gần như ngay lập tức. Ngoài ra còn có thể kể đến các ứng dụng nổi tiếng khác như Snapchat Discover, Apple News, Twitter Moments…

Báo cáo xu hướng truyền thông 2017 của Viện Nghiên cứu Reuters thống kê từ phản hồi của 143 tổng biên tập, CEO và các “nhà lãnh đạo kỹ thuật số” được điều tra trên 24 quốc gia cho thấy những con số đáng suy ngẫm. 70% cho rằng các mối lo ngại về tình trạng lan truyền các tin tức giả/tin không chính xác trên các mạng xã hội sẽ củng cố vị thế của họ, 46% lo ngại nhiều hơn về vai trò của các nền tảng so với năm ngoái, 56% cho biết Facebook Messenger sẽ là một phần quan trọng hoặc rất quan trọng trong các sáng kiến bên ngoài website của họ trong năm nay, 53% nói điều tương tự về WhatsApp và 49% về Snapchat.

Sự lên ngôi của truyền thông xã hội, truyền thông di động trong thời đại của kỹ thuật số đã khiến cho báo chí cũng phải thay đổi, không còn đơn điệu riêng rẽ ở một loại hình, một phương tiện để tiếp cận công chúng, báo chí bắt buộc phải tiến đến hình thức đa nền tảng, trong đó, thứ tự ưu tiên là nền tảng xã hội (social), nền tảng di động (mobile) và cuối cùng mới là web.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Nguyễn Thị Trường Giang – Báo chí và truyền thông đa phương tiện – NXB ĐHQG HN 2017

Biện chứng pháp Nāgārjuna – Phần IV


II/ Giải đáp

[Bác bẻ về sự phản biện thứ nhất]

XXI. Nếu sự phát biểu của tôi không thật có trong sự kết hợp với nhân và các duyên, hoặc không tùy thuộc chúng, thì không tánh của các pháp được lập bởi sự hiện hữu không có tự tánh của chúng (śūnyatvvam siddham bhāvānām asvabhāvatvāt).

Nếu sự phát biểu của tôi không thật có trong nhân và trong các duyên của nó…, nó là không có tự tánh, và, sự hiện hữu không có tự tánh, thì nó là không. Bây giờ không tánh thuộc sự phát biểu này của tôi được lập bởi sự hiện hữu không có tự tánh của nó. Và cũng như sự phát biểu này của tôi là không bởi sự hiện hữu không tự tánh của nó, cũng vậy là tất cả các pháp bởi sự hiện hữu không có tự tánh của chúng. Trong những trường hợp này, sự phát biểu của bạn: “Bởi không tánh thuộc sự phát biểu của bạn vì nó không thể xảy ra để lập không tánh của tất cả các pháp”, thì không có giá trị.

Xa hơn nữa:

XXII. Tánh của các pháp tùy thuộc được gọi không tánh, vì tánh mà tùy thuộc là không có tự tánh (yaś ca pratītyahbhāvo bhavati hi tasyāsvabhātvam).

Bạn không hiểu nổi nghĩa lý không tánh cảu các pháp. Vì vậy bạn đã bắt đầu phê bình tôi , nói: “Vì sự phát biểu của bạn là không có tự tánh, sự phủ định về tự tánh của các pháp thì không có giá trị”. Tánh của các pháp tùy thuộc là không tánh. Tại sao? Bởi nó là hông có tự tánh. Các pháp đó được bắt nguồn tùy thuộc thì thật sự không được phú bẩm với tự tánh; vì chúng không có tự tánh (ye hi pratītyasamutpannā bhāvās te na sasvabhāvā bahavanti, svabhāvābhāvāt). Tại sao? Bởi chúng tùy thuộc vào nhân và duyên (hetupratyaya-sāpekșatvāt). Nếu các pháp đã là bằng tánh riêng của chúng (svabhāvatah), thì ngay cả chúng sẽ là không có sự tích tập của nhân và duyên (pratyākhyāyāpi hetupratyayam). Nhưng chúng thì không phải vậy. Vì lẽ đó chúng được nói là không có tự tánh, và từ đó là không. Nói khôn khéo hơn, nó dẫn theo sự phát biểu của tôi cũng vậy, được bắt nguồn tùy thuộc (pratītyasamutpannatvāt), là không có tự tánh, và, sự hiện hữu không có tự tánh, là không. Nhưng các pháp thì giống như xe bò/ngựa, cái bình, y phục,… dù không tánh (svabhāvaśūnya) bởi vì được bắt nguồn tùy thuộc, được chiếm giữ bằng các chức năng riêng của chúng, ví như chuyên chở gỗ, cỏ và đất, chứa đựng mật, nước và sữa, và bảo vệ chúng bằng cách tránh lạnh, gió và hơi nóng. Tương tự cách phát biểu của tôi, mặc dù không tánh bởi vì được bắt nguồn tùy thuộc, được liên quan trong sứ mệnh hình thành sự hiện hữu-không-tánh cảu các pháp (nihsvabhāvatvapra-sādhane bhāvānām vartate). Trong những trường hợp này, cách phát biểu của bạn: “Cách phát biểu của bạn, sự hiện hữu không tánh, là không, và đang là không, nó không thể phủ định tánh của tất cả các pháp”, thì không có giá trị.

Xa hơn nữa:

XXIII: Giả sử rằng một người, được nhân tạo (nirmitaka), sẽ ngăn cản (pratiședhayeta) người nhân tạo khác, hoặc người có phép thần thông (māyāpurușa) sẽ ngăn cản người khác được tạo ra do phép thần thông riêng của mình (svamāyayāsrștam) [khỏi phải làm điều gì]. Sự phủ định này sẽ thuộc về bản tánh giống nhau (pratiședho ‘yam tathaiva syāt).

Giả sử rằng người do nhân tạo sẽ ngăn cản người do nhân tạo khác bị chiếm đoạt bởi vài vật gì (kasmimścid arthe vartamānam), hoặc người thần thông do người có phép thần thông biến hóa ra (māyākārena srștah) sẽ ngăn cản người thần thông khác do phép thần thông riêng của vị ấy biến hóa ra và bị chiếm đoạt bởi vài vật gì. Có, người nhân tạo bị ngăn cản là không, và kẻ ấy (người nhân tạo) ngăn cản thì cũng không; người có phép thần thông bị ngăn cản là không, và vị ấy (người có phép thần thông) ngăn cản thì cũng không. Giống tích cách này, sự phủ định về tự tánh của tất cả các pháp do cách phát biểu của tôi có thể xảy ra, ngay cả dù sự phát biểu này là không (evam eva madvacanena śūnyenāpi sarvabhāvānām svabhāvapratiședha upapannah). Trong những trường hợp này, cách phát biểu của bạn: “bởi vì không tánh thuộc sự phát biểu của bạn, sự phủ định về tánh của tất cả các pháp là không thể xảy ra”, thì không có giá trị. Trong cách này cũng là bị chướng ngại sự bàn luận có thể gây ra tranh luận trong sáu điểm mà bạn đã nói (tatra yo bhavatā satkotiko vāda uktah so ‘pi tenaiva pratișiddhah). Vì, việc này đang là vậy, nó không đúng là sự phát biểu của tôi không được bao gồm trong tất cả các pháp; không có pháp nào là không phải khôn; cũng không phải là tất cả các pháp là không phải không.

Bây giờ về cách phát biểu của bạn [hàm tàng trong v. II ở trên]:

XXIV. Cách phát biểu này thì không được phú bẩm với tự tánh (na svābhāvikam etad vākyam). Vì lý do đó không bỏ mất đi vị trí trên phần của tôi (tasmān na vādahānir me). Không có phù hợp (nāsti ca vaișamikatvam) và [kể từ đó] không có nhân đặc biệt nào được phát biểu (viśeșahetuś ca na nigadyah).

Cách phát biểu này của tôi, được bắt nguồn tùy thuộc, thì không được phú bẩm bằng tự tánh (na svabhāvopapannam). Như đã phát biểu trước đó, vì nó không được phú bẩm bằng tự tánh, nên nó là không. Và vì sự phát biểu này của tôi là không, cũng như tất cả các pháp khác đều là không, thì không có sự phù hợp. Vì, sẽ có sự phù hợp [duy nhất] nếu chúng ta nói: Cách phát biểu này là không phải không (aśūnya), trong khi tất cả các pháp khác là không (śūnya). Thế nhưng, chúng ta không nói điều đó. Vì lẽ đó, không có sự phù hợp. Và vì sự không phù hợp tái diễn, cách phát biểu này là không phải không, trong khi tất cả các pháp khác là không, không hiện hữu, chúng ta không cần phải phát biểu cái nhân đặc biệt này (tasmād asmābhir viśeșahetur na vaktayah): Vì cái nhân này (anena hetunā) sự phát biểu này là không phải không trong khi tất cả các pháp khác là không. Trong những trường hợp này, cách phát biểu của bạn: “Có phần của bạn làm bỏ mất vị trí, thì không có sự phù hợp, và bạn phát biểu cái nhân đặc biệt này”, thì không có giá trị.

[Bác bẻ về sự phản biện thứ hai: xem v.III ở trên].

XXV. Ví dụ mà bạn đã đưa ra: “Ví dụ ấy thì giống như “Đừng gây tiếng động””, thì không thích hợp. Có tiếng động bị lấn át bởi tiếng động khác, nhưng trường hợp ở đây thì không giống như vậy (śabdena tac ca śabhasya vāranam naivam evaitat).

Ví dụ này, hơn nữa, không phải là của chúng ta (nāpy ayam asmākam drștāntah). Sự phát biểu “không” đó không ngăn ngại không tánh (na śūyatām pratiședhayati) như một người, khi vị ấy nói: “Đừng gây tiếng động”, thì tạo nên một tiếng động và ở cùng thời gian lấn át tiếng động khác. Tại sao? Bởi vì, trong ví dụ này, một tiếng động bị lấn át bởi tiếng động khác. Nhưng trường hợp ở đây thì không giống như thế. Chúng ta nói: Tất cả các pháp là không có tự tánh, và kể từ đó chúng là không. Tại sao?

XXVI. Bởi vì, nếu các pháp không có tự tánh bị ngăn ngại bởi một vài pháp không có tự tánh (naihsvābhāvyānām cen naihsvābhāvyena vāranam yadi), với sự hủy thể của sự hiện hữu không tánh của chúng sẽ được lập phú bẩm bằng tự tánh [của chúng] (naihsvābhāvyanivrttau svābhāvyam hi prasiddham syāt).

Ví dụ này sẽ phù hợp nếu bởi sự phát biểu không tánh bị ngăn ngại các pháp không tánh – như bởi tiếng động: “Đừng gây tiếng động” bị lấn át tiếng động khác. Thế nhưng, ở đây do sự phát biểu về không tánh bị phủ định tánh của các pháp (iha tu naihsvābhāvyena vacanena bhāvānām svabhāa-pratiședhah kriyate). Nếu do sự phát biểu không tánh đã bị phủ định sự hiện hữu không tánh của các pháp (yadi naihsvābhāvyena vacanena bhāvānām naihsvābhāvyapratiședhah kriyate), các pháp, bởi chính thực tế bị phủ định ở phẩm chất của chúng về sụ hiện hữu không tánh (naihsvābhāvyapratisiddhatvād eva) sẽ được phú bẩm với tự tánh (sasvabhāvā braveyuh). Được phú bẩm với tự tánh, chúng sẽ là không phải không. Thế nhưng, chúng ta tuyên bố rằng các pháp là không, chứ không phải chúng là không phải không (śūnyatām ca vayam bhāvānām ācaksmahe, nāśūnyatām). Vì lý do đó, đây không phải là ví dụ (adrștānta evāyam).

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: E.H. Johnston & Arnold Kunst – Biện chứng pháp Nāgārjuan – NXB PĐ 2014

Liệu Trung Quốc có sáp nhập Đài Loan vào năm 2030?


Theo đài BBC, tình báo Mỹ cho biết, Trung Quốc đang xây dựng năng lực quân đội có thể thôn tính Đài Loan vào năm 2030, nhưng liệu điều này có khả thi?

Đầu tháng 5/2022, Avril Haines, Giám đốc tình báo quốc gia Mỹ, cho biết mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra đối với Đài Loan đến năm 2030 là “cực kỳ nghiêm trọng”. Trung Quốc hiện không đủ năng lực để xâm lược Đài Loan, nhưng Bắc Kinh đang xây dựng một quân đội có thể thôn tính Đài Loan vào năm 2030.

Đó là một suy đoán dựa trên các nghiên cứu về việc mở rộng và hiện đại hóa các lực lượng vũ trang của Trung Quốc.

Ông Sean King, chuyên gia của công ty tư vấn Park Strategies ở New York (Mỹ), cho rằng khả năng Trung Quốc tấn công Đài Loan trong tương lai gần là rất thấp. Liên minh 3 bên Mỹ, Australia và Nhật Bản đã họp bàn về việc làm sao cùng nhau giải quyết mối đe dọa tiềm tàng với Đài Loan. Tập Cận Bình sẽ suy tính kỹ lưỡng trước khi đẩy chế độ của mình vào nguy hiểm.

Đài Loan khác với Ukraine

Cuộc tấn công của Nga ở Ukraine cũng làm dấy lên lo ngại về khả năng Trung Quốc sẽ thôn tính Đài Loan trong tương lai gần.

Trong chuyến thăm Đông Bắc Á vừa qua, Tổng thống Mỹ Joe Biden cảnh báo rằng Trung Quốc đang “vờn với mối nguy” xung quanh vấn đề Đài Loan, đồng thời tuyên bố sẽ can thiệp quân sự để bảo vệ hòn đảo này nếu bị tấn công.

Liệu Mỹ có bảo vệ Đài Loan về mặt quân sự nếu như Trung Quốc xâm lược? Ông Biden khẳng định, chính sách của Mỹ đối với Đài Loan là “không thay đổi” và thừa nhận chính sách “Một Trung Quốc”.

Ông Sean King nhận định việc Mỹ hiện diện mạnh mẽ ở khu vực sẽ khiến cho Bắc Kinh phải kiêng dè nếu muốn thử bất kỳ điều gì.

Mỹ có 50.000 quân đóng ở Nhật Bản, 28.500 quân ở Hàn Quốc và vài trăm thủy quân lục chiến ở Đài Loan với mục đích tập luyện. Nhiều người cho rằng, Đài Loan và Ukraine có tình cảnh khá giống nhau vì cả hai đều là vùng lãnh thổ độc lập nằm bên cạnh quốc gia có sự tương đồng về mặt văn hóa, nhưng quyền lực hơn nhiều.

Tuy nhiên, ông Sean King lại dẫn chứng, không giống như Ukraine vốn nằm sát Nga với đường biên giới chung dài khoảng 2000 km, Trung Quốc và Đài Loan cách nhau eo biển với khoảng cách gần nhất giữa lãnh thổ Trung Quốc và hòn đảo là khoảng 130 km.

Mỹ không có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, nhưng vẫn bán vũ khí cho hòn đảo này như một phần của Đạo luật Quan hệ với Đài Loan – tức Mỹ phải cung cấp cho Đài Bắc các phương tiện để tự vệ.

Ông Sean King nhấn mạnh Trung Quốc chưa bao giờ kiểm soát Đài Loan, chưa có lực lượng quân đội nào đặt chân đến hòn đảo.

Tầm quan trọng cảu Đài Loan

Đài Loan là hòn đảo nằm cách bờ biển phía đông nam của Trung Quốc khoảng 100 hải lý. Hòn đảo nằm trong chính sách gọi là “chuỗi đảo đầu tiên” có ý nghĩa quan trọng với chính sách ngoại giao của Mỹ từ những năm 1950, bao gồm các vùng lãnh thổ thân thiện với Mỹ.

Trong khi đó, sự tiếp cận tự do ra vùng biển lớn hơn của Trung Quốc lại bị kiềm hãm bởi “chuỗi đảo thứ nhất” – bao gồm hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ kéo dài từ Quần đảo Nhật Bản, Okinawa và Philippines, đến đảo Borneo, Sumatra.

Những nhóm đảo này được goi là “tuyến phòng thủ đầu tiên” vì chúng nằm ở vị trí án ngữ, có thể kiểm soát chuyển động của Hải quân Trung Quốc. Mỹ có sức ảnh hưởng đến những quốc gia nằm trong “chuỗi đảo đầu tiên” này.

Chuyên gia Sean King cho rằng, Đài Loan đóng vai trò quan trọng với một số quốc gia vì các nước đó đều có chương trình nghị sự của riêng mình, đặc biệt với Trung Quốc. Nếu Bắc Kinh chiếm được Đài Loan, sẽ phá vỡ cái gọi là “Chuỗi đảo đầu tiên” – để cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) có thể tiếp cận tự do và phát triển sức mạnh ở các phần rộng lớn của Thái Bình Dương, thậm chí có thể đe dọa các căn cứ quân sự ở xa của Mỹ như Guam và Hawaii.

Đây sẽ là bước lật ngược thế cờ, với chiến lược “chống tiếp cận/chống xâm nhập”, Bắc Kinh có thể chặn đứng sự tiếp cận và đẩy lực lượng Mỹ lẫn Nhật Bản vào khu vực Biển Đông. Đây sẽ là điều tồi tệ với Việt Nam.

Bên cạnh đó, sáp nhập thành công Đài Loan là một trong những tham vọng chính trị của Chủ tịch Tập Cận Bình. Ông nhấn mạnh việc hiện thực hóa sự thống nhất hoàn toàn Trung Quốc là sứ mệnh lịch sử và là cam kết không gì lay chuyển được của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Bài học từ Nga

Ông Sean King cho biết không nhìn thấy mối liên kết giữa Ukraine và Đài Loan vì đó là hai trường hợp rất hác biệt. Tập Cận Bình và Đảng Cộng sản Trung Quốc xem mình là một cường quốc đang trở lại, trong khi họ coi Nga là cường quốc chết dần chế mòn. Tuy nhiên, Trung Quốc có thể rút ra cho mình bài họ từ Nga. Trung Quốc đang học hỏi từ sự bành trướng của Nga, nghiên cứu kỹ lưỡng sai lầm, kinh nghiệm của Nga cũng như cách phản ứng của thế giới tự do đối với cuộc chiến, để tìm cho mình lối thoát nếu rơi vào thế bí.

Theo suy đoán của ông Sean King, trong ngắn và trung hạn, Trung Quốc sẽ gây sức ép khiến Đài Loan bị cô lập trên trường quốc tế và làm cho người Đài Loan cảm thấy vô vọng như thể chỉ còn có cách duy nhất là hợp nhất với Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 02/06/2022