Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần II


Giá trị đích thực của các xí nghiệp này theo thời giá thị trường không dưới một nghìn tỷ USD. Thế mà các liệu pháp sốc chỉ bán với 7,2 tỷ USD, rẻ hơn 150 lần.

Các tay anh chị địa phương cũng kiếm khá. Xí nghiệp chế bịt Ostankino mua một dây chuyền hiện đại vào năm 91 – 92 với giá 35 triệu USD, được chúng bán lại với giá 3,1 triệu USD.

Nga bị cướp giữa ban ngày, nhưng chỉ mới khởi đầu. Chỉ mấy năm sau cải tổ, cải cách, tư hữu hóa, nền kinh tế Nga từ chỗ đứng thứ 2 thế giới rơi xuống hàng các nước chậm phát triển.

GDP năm 96 kém 3 lần so vớ 85, sản lượng công nghiệp tụt giảm 5,5 lần, nông nghiệp giảm 4 lần, lương thực giảm 5,5 lần, nhập khẩu giảm 2,8 lần, xuất khẩu giảm 1,5 lần, sản lượng Nga trên trường quốc tế giảm 3 lần. Nhưng Nga giành kỷ lục về lạm phát – 1700 lần và về mức sống – giảm hơn 2 lần. Mọi lĩnh vực sản xuất và dịch vụ đều bị phá hủy.

Chính IMF, cơq uan kiểm soát và chỉ đạo mọi quá trình kinh tế của Nga, là kẻ tòng phạm phá hủy nền kinh tế Nga. Hình 1 nêu biểu đồ hiệu quả kinh tế Nga (đầu tư, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp) lấy từ nghiên cứu. Nó thể hiện rõ thảm họa. Nga bị đẩy lùi về quá khứ 40 năm tính từ thời điểm này. Lịch sử đương đại chưa từng có chuyện đó. Xin dẫn thêm một số số liệu:

Nếu lấy hiệu quả sản xuất làm chỉ số cải cách thị trường thì sản xuất công nghiệp bị giảm sút chưa từng thấy. Tổng sản lượng năm 1995 chỉ đạt 50% năm 1990. Các nhà cải cách đổ lỗi cho kinh tế cạnh tranh kém. Phần nào đúng như vậy, nếu nói về công nghiệp nhẹ, nhưng tổng quát lại, sản xuất giảm ở các ngành có lợi nhuận cao.

Thời kỳ 90 – 95 khai thác dầu giảm 41%, khí đốt giảm 7%, than (cho nhu cầu nội địa) giảm 33%, điện giảm 23%, – tức tất cả các ngành thu ngoại tệ. Xí nghiệp thua lỗ trong công nghiệp chế biến dầu tăng 4,6 lần, khí tăng 2,3 lần, luyện kim tăng 2,1 lần.

Năm 1995 so với năm 1990 sản xuất hàng hóa cạnh tranh đạt (%): – luyện kim và chế máy: thép cán giảm 71%, dây chuyền chế tạo máy giảm 9%, máy đột dập giảm 11%…

Cả những ngành sản xuất được gọi là con gà đẻ trứng vàng như khai thác kim cương, một ngành trước kia mang lại siêu lợi nhuận cho Nga, sau 3 năm cải cách, nó rơi vào nợ nần vô vọng (Báo Tin tức ngày 2 tháng 8 năm 1996). Khai thác vàng cũng bị lỗ.

Sản xuất bia rượu cũng giảm. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 96 đã giảm 45%. Chính mặt hàng này có thời chiếm đến 1/3 số lượng ngân sách Nhà nước thu được”.

Nếu nói đến bức tranh toàn cảnh hoạt động của các “nhà cải cách”, có thể gọi đó là hệ thống phá hủy tổng thể nền kinh tế họ dùng khẩu hiệu cần loại bỏ Nhà nước khỏi quản lý kinh tế quốc dân. Kết quả là kinh tế trở nên hỗn loạn và mất cân đối nghiêm trọng giữa trị giá sản phẩm công nghiệp và giá cả. Sự thua lỗ nhiều ngành tạo ra phản ứng dây chuyền lạm phát và mất khả năng chi trả. Không có đổi mới trang thiết bị. Đầu tư cơ bản chỉ đạt 1/4 so với năm 1991 và đừng nói gì đến hiện đại hóa, ngay cả đảm bảo sản xuất cũng khó.

Nơi bị các nhà “cải cách” đánh tàn tệ nhất là việc sản xuất công nghệ và thiết bị hiện đại nhất, là các cán bộ trình độ giỏi nhất. Phần lớn các tập thể Công nghiệp Quốc phòng giỏi nhất bị giải tán. Thị trường hàng tiêu dùng lệ thuộc nhiều vào phương Tây. Công nghiệp nhẹ và dệt sút giảm hơn 80%. Nhiều nhà máy chế tạo vật liệu chiến lược bị bán thẳng cho phương Tây. Họ hướng tới các ngành khai thác nguyên liệu vốn ít bị sút giảm nhất.

Những năm gần đây, hệ thống giá cả thế giới, trên thực tế là cơ chế thương mại quốc tế nhằm mang lại lợi nhuận một chiều cho phương Tây, ngày càng bành trướng. Khác với giá cả thị trường nội bộ một quốc gia, giá quốc tế nảy sinh không ngẫu nhiên và không liên quan đến chi phí lao động trung bình, mà do các nhà chính trị và áp đặt có chủ định bằng vũ lực. Trong điều kiện đó, tăng trưởng thương mại quốc tế chỉ có lợi cho những nước đủ sức áp đặt giá cả. Như vậy, giá nguyên, nhiên liệu sẽ giảm liên tục, giá lương thực, thực phẩm tăng. Nguyên liệu Nga do nhu cầu trong nước giảm phải bán ra nước ngoài và giá sẽ giảm, mất lợi nhuận. Giá nguyên liệu sẽ xuống gần trị giá và Nga trở thành kẻ lao động nô lệ. Lao động chỉ để nhận được mỗi khoản tiền công. Tất cả điều đó được che giấu bằng các khẩu hiệu “hội nhập kinh tế thế giới”, “buôn bán cùng có lợi”, “thị trường quốc tế tự do”, “toàn cầu hóa kinh tế”.

Thủ tiêu nông nghiệp

Đến thời điểm này, nông nghiệp bị phá tận gốc. Trước 1991, do khô hạn, trình độ cơ giới hóa cao và một vài yếu tố khác, nông nghiệp Liên Xô dù thua kém một số nước về năng suất nhưng hoan toàn không thua kém bất kỳ nước phương Tây nào về hiệu quả nhờ tận dụng tiềm năng đất đai – khí hậu tới 70 – 80%. Bằng hàng loạt biện pháp, các nhà cải cách đã làm cho nông nghiệp phá sản. Có thể coi đó là nạn diệt chủng kinh tế. Bắt đầu từ năm 1992, sản lượng nông nghiệp giảm đều đặn 15 – 20%/năm. Ngũ cốc giảm trong 4 năm từ 130 xuống 63,5 triệu tấn. Máy móc kỹ thuật nông nghiệp thời kỳ 1990 – 1994 giảm: máy kéo 85%, ô tô 91%, gặt đập liên hợp 76%…

Sản xuất tập thể đảm bảo cung cấp lương thực thực phẩm cho đất nước bị phá vỡ. Trước nạn diệt chủng, nông nghiệp Liên Xô đứng thứ hai thế giới, và đứng đầu châu Âu. Liên Xô đứng đầu thế giới về sản lượng lúa mì, củ cải đường, khoai tây, sữa. Theo số liệu của Liên hợp quốc, các nông trường, nông trang Liên Xô đủ sức nuôi 800 triệu người. Giá bánh mình Liên Xô rẻ nhất thế giới. Quá trình tiêu diệt nền nông nghiệp của các nhà cải tổ vẫn còn tiếp tục. Đất tiếp tục thoái hóa do không được bón phân. Thủy lợi bị phá bỏ. Máy móc nông nghiệp hư hỏng dần không có thay thế, sản xuất nông nghiệp giảm sút vì thiếu máy móc và xăng dầu. Đầu tư giảm 7 lần.

An ninh lương thực bị đe dọa nghiêm trọng:

Chúng ta hiểu an ninh lương thực là khả năng nhà nước bảo đảm đầy đủ và ổn định lương thực cho nhân dân không phụ thuộc vào tác động của các ảnh hưởng và đe dọa bên trong và bên ngoài. Khả năng đó là một trong những yếu tố cần thiết của chủ quyền quốc gia và bảo đảm các quyền công dân cơ bản”.

Đối với các nước phát triển, giới hạn nhập lương thực không được vượt quá 25 – 30%. Nga ngay năm 1995 đã phải nhập hơn 40% lương thực. Nga đánh mất an ninh lương thực với đường lối hiện nay sẽ bị lệ thuộc nước ngoài. Quá trình thủ tiêu nông nghiệp vẫn tiếp diễn. Burdukov viết về cơ chế thủ tiêu chăn nuôi như sau:

Chỉ sau 3 năm, nhập khẩu thịt tăng 600%, gia cầm tăng 800%, bơ 320%. Khuynh hướng đó đang tiếp tục tăng. Nông nghiệp chỉ đóng góp ngân sách 3% so với 19% trước kia, tức giảm 6 lần! Té ra, khủng hoảng bơ là nhân tạo. Hàng ngàn tấn bơ do ta sản xuất nằm chết gí trong kho từ năm 1994, không được tiêu thụ. Giá bơ bị thổi phồng, gia súc bị giết mổ. Giờ đây cứ thử nhìn xem, trong các cửa hàng thịt không tìm đâu ra hộp thịt lợn, trong khi thịt bò chất đống. Vì sao? Không có thức ăn, lợn bị bỏ đói, bò bị giết”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.

Advertisements

Aung San Suu Kyi vẫn là niềm hi vọng tốt nhất của Myanmar – Phần đầu


Tej Parikh

Kể từ tháng 04/2016, khi biểu tượng nhân quyền quốc tế Aung San Suu Kyi trở thành nhà lãnh đạo dân chủ đầu tiên của Myanmar, các nhà hoạt động, các nhà báo và các nhà hoạch định chính sách khắp thế giới đã bày tỏ sự sửng sốt và thất vọng trước thành tích của bà. Ngoài việc nêu lên những câu hỏi về vai trò lãnh đạo của bà đối với các cải cách kinh tế và chính trị, mà bà phần lớn đã không thể thực hiện được, những người chỉ trích bà đã buộc tội bà vì làm ngơ trước những tội ác chống nhân loại do quân đội nước này thực thực chống lại dân tộc thiểu số Hồi giáo Rohingya. Đại sứ dưới thời cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc, Keith Harper, đã buộc tội Aung San Suu Kyi không thể sử dụng địa vị của mình để lên tiếng chống lại những hành động tàn bạo. Những người khác đã thẳng thắn hơn – một bài báo đăng trên The Intercept vào tháng 4/2017 đã gọi bà là “người biện hộ cho tội diệt chủng chống lại người Hồi giáo”.

Những đánh giá khắc nghiệt như vậy về sự chính trực và năng lực của Aung San Suu Kyi ít liên quan đến vai trò lãnh đạo của bà và liên quan nhiều hơn đến những kỳ vọng thái quá của cộng đồng quốc tế đối với bà. Tương tự như vậy, những người chỉ trích thường quá chú trọng vai trò của những đặc điểm cá nhân của bà Aung San Suu Kyi trong khi giảm đến mức tối thiểu các nhân tố mang tính cấu trúc và tình huống ảnh hưởng đến những quyết định của bà. Đặt trong bối cảnh môi trường chính trị, lịch sử và thể chế của nước này bị hiểu sai, Aung San Suu Kyi không phải là vị cứu tinh như bà từng được cho là vậy, cũng không phải là nhân vật phản diện trong những bức tranh biếm họa hiện nay.

Một công việc khó khăn

Tháng 11/2015, đảng Liên đoàn quốc gia vì dân chủ (NLD) của người đoạt giải Nobel Hòa bình Aung San Suu Kyi bất ngờ lên cầm quyền trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên của Myanmar sau những thập kỷ dưới sự cai trị của quân đội. Quả thật đó là thời khắc đáng chúc mừng. Nhưng truyền thông quốc tế, phớt lờ tiến trình lâu dài xây dựng nhà nước và dân chủ hóa vẫn còn ở phía trước, đã bán rẻ chiến thắng của NLD như hồi kết trong một câu chuyện đơn giản và lạc quan quá mức về sự tiến bộ ở Myanmar. Chẳng hạn, một bài viết đăng trên tạp chí Time vào tháng 1/2016 đã chúc mừng “bình minh của một kỷ nguyên dân chủ mới” ở Myanmar. Một đoạn video của Liên hợp quốc đã tuyên bố một cách đơn giản: “Chế độ dân chủ giành chiến thắng”.

Sau khi lên nắm quyền, Aung San Suu Kyi đã thông qua một cách tiếp cận hòa bình trước tiên. Bà đã ngay lập tức thả hàng chục tù nhân chính trị và bắt đầu theo đuổi các cuộc đàm phán ngừng bắn với vô số nhóm phiến quân sắc tộc của quốc gia này. Nhưng tiến trình hòa bình vẫn thiếu sự đối thoại có ý nghĩa, với một số cuộc xung đột thậm chí còn gay gắt hơn, trong khi những hạn chế quyền tự do ngôn luận trong kỷ nguyên quân đội cai trị vẫn còn đó. Trên mặt trận kinh tế, các biện pháp trừng phạt làm tê liệt của Mỹ đã được dỡ bỏ, và Myanmar đã thông qua một đạo luật mới về đầu tư được tạo ra nhằm mở cửa nền kinh tế của mình. Tuy nhiên, hầu như không có mấy dấu hiệu của sự phát triển thực sự ở mức độ cơ bản. Đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh, tham nhũng vẫn lan tràn khắp nơi, và các kế hoạch cho nền kinh tế của NLD vần còn mơ hồ.

Do đó, thành tích của Aung San Suu Kyi là đáng thất vọng. Nhưng bà sẽ luôn bị cản trở bởi một số thực tế khắc nghiệt. Thứ nhất, Myanmar là một quốc gia có tình trạng bất bình đẳng trầm trọng về kinh tế, một trong các cuộc nội chiến kéo dài nhất thế giới, và những sự chia rẽ thâm căn cố đế về sắc tộc, tín ngưỡng và địa lý, với một chính quyền trung ương từ lâu đã phải chật vật để kiểm soát các khu vực dân tộc thiểu số ở vùng ngoại vi. Hơn nữa, phần lớn những sự chia rẽ trong xã hội này đều theo các đường lối về sắc tộc và tôn giáo, đi ngược lại với sự phát triển dân chủ và xây dựng hòa bình hiệu quả. Tức là ngay cả trong những hoàn cảnh tốt nhất, đất nước này cũng bị chia rẽ và khó quản lý.

Thứ hai, ngoài những chia rẽ trong xã hội, Myanmar còn có các thể chế vận hành kém và một bộ máy quan liêu kỹ năng kém và tham nhũng. Những hạn chế này khiến cho nhà lãnh đạo mới của đất nước này có thể hoạch định chính sách, chưa nói gì đến việc thực hiện những hứa hẹn của bà trong chiến dịch tranh cử là mang lại sự phát triển về mặt kinh tế cho đất nước này, một trong những nước nghèo nhất châu Á. Và để khắc phục tình trạng bất lực của Myanmar trong việc đưa ra quyết định phân quyền, vai trò chính của bà là cố vấn nhà nước – một vai trò được tạo ra xung quanh những hạn chế về hiến pháp ngăn cản bà trở thành tổng thống. Điều này vừa là gánh nặng quá sức đối với bà vừa dẫn đến những cáo buộc về sự độc đoán ngày càng tăng của bà. Sự vận hành bất thường của các thể chế đủ để giải thích cho sự trì trệ trong chính sách của NLD.

Thứ ba và quan trọng không kém, quân đội Myanmar, Tatmadaw, vẫn có quyền lực đáng kể. Hiến pháp, được dự thảo vào năm 2008, trước thời kỳ chuyển tiếp dân chủ, dành 25% số ghế trong Quốc hội cho quân đội và trao cho quân đội quyền kiểm soát các bộ phận quan trọng về nội vụ, biên giới và quốc phòng, nghĩa là các lực lượng vũ trang của Myanmar có thể hành động độc lập với nhà lãnh đạo được bầu của nước này. Trong khi đó, các cải cách về hiến pháp vẫn bị cản trở bởi yêu cầu rằng những sửa đổi được thông qua với đa số phiếu là 75% trong Quốc hội, mang lại quyền phủ quyết hiệu quả cho quân đội. Những hy vọng giảm bớt sự kiểm soát của quân đội đã bị cản trở hơn nữa vào tháng 1/2017, khi vị cố vấn của NLD được giao nhiệm vụ tạo ra một hiến pháp mới, luật sư ưu tú người Hồi giáo U Ko Ni bị bắn chết trong một tình huống đáng ngờ. Các cựu sĩ quan bị chỉ đích danh là những kẻ tình nghi trong cuộc điều tra.

Việc Aung San Suu Kyi nắm quyền – và khả năng bà theo đuổi các ưu tiên chính trị của riêng mình – là rất mong manh. Nó phụ thuộc vào khả năng của bà xoa dịu các nhóm lợi ích có quyền lực lớn ở trong nước, bao gồm quân đội, nhóm dân tộc Barmar theo đạo Phật chiếm đa số của nước này, và giới Phật tử có ảnh hưởng. Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, sợ hãi Hồi giáo  và chống dân tộc thiểu số phổ biến trong cả 3 nhóm này, khiến cho bất cứ nỗ lực nào nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng nhân đạo ở người Rohingya trở thành một nhiệm vụ bất ổn hơn rất nhiều so với những gì mà hầu hết những người ngoài cuộc đánh giá. Trên thực tế, những vụ bạo lực công cộng gây chết người trước đó giữa tín đồ Phật giáo và tín đồ Hồi giáo chính là do những tin đồn và sự kích động của truyền thông xã hội gây ra.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/burma-myanmar/2017-05-19/aung-san-suu-kyi-still-myanmars-best-hope

TLTKĐB – 17/08/2017

Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô – Phần VI


Nhu cầu về các loại tư bản thuộc những đẳng cấp cũ không phải là vô hạn mà là có giới hạn. Khi số lượng các đồng tiền này đạt tới những giới hạn nhất định thì lạm phát bùng nổ, dẫn tới sự đổ vỡ của các loại tư bản cũ. Sự đổ vỡ của tư bản cũ kéo theo những hậu quả xã hội trầm trọng như nạn thất nghiệp, giá cả leo thang, mà lúc đó rất nhiều người có ý thức về sự thiệt thòi của mình sẽ dẫn đến những xáo động xã hội. Cách thức duy nhất để thoát khỏi tình trạng này là phải duy trì được mức phát triển tư bản sang những đẳng cấp mới.

Vì tư bản xuất phát từ tiền ảo là tư bản ứng trước, vậy nó có thời gian tính, nếu sự phát triển chậm hơn những gì đã ứng trước thì có sự dồn tích tư bản, gây ra những vấn đề dẫn tới khủng hoảng. Trong tiến trình khủng hoảng, việc tạo ra tiền lại bị giới hạn thì có những ngân hàng sẽ không có đủ khả năng giải quyết khó khăn của mình, dẫn đến tình trạng phá sản hàng loạt.

Các nước lớn tìm cách hạn chế việc tạo tiền ảo của nhau, hạn chế việc biến các loại tiền ảo đó thành tư bản hậu công nghiệp có đẳng cấp cao. Tiền ảo không dễ mua được các cổ phiếu khi đã phát hành đợt đầu của các công ty cổ phần của các nước khác. Việc các nước mua trái phiếu của chính phủ Mỹ bằng USD, mua tài sản của nước Mỹ là để ép Mỹ có biện pháp hạn chế bớt việc tạo ra tiền ảo và biến ảo thành thật. Nó làm cho tư bản Mỹ phải tính tới các yếu tố có khả năng gây ra khủng hoảng cho chính nước Mỹ.

Các nước tư bản phát triển các biện pháp chống rửa tiền tạo thành tiền của họ từ các nước khác, từ các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của các nước khác, đặc biệt ngăn cản các đồng tiền ảo có thể tiếp cận được các nguồn tài sản thực như các công nghệ cao, các nhà máy, hay các tài sản mà cần có một số lượng tiền lớn mới mua bán được như các trang thiết bị lớn. Tư bản từ đồng tiền ảo sử dụng các nguồn lực của các nước nhận đầu tư, hầu như không sử dụng gì đến các tư bản đẳng cấp cao như công nghệ cao, công nghệ đầu nguồn của các loại tư bản ở đảng cấp cao, như xây dựng khách sạn, đầu tư vào bất động sản và các loại hình kinh doanh khai thác thị trường của các nước sở tại. Xét đến đầu tư của các trung tâm tài chính hải ngoại thì Mỹ là nước có đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm vị trí thứ ba ở Việt Nam chứ không phải là nước đứng hàng thứ mười một như thống kê hiện nay.

Việc tạo ra tiền có những giới hạn của nó. Trước hết tổng lượng các đồng tiền đó phụ thuộc vào đẳng cấp tư bản của nước có đồng tiền đó. Các đồng tiền này chỉ biến thành các loại tư bản mà nước đó đã đạt được, không lan tỏa ra các đẳng cấp khác được. Việc tạo ra tiền luôn luôn làm cho thế giới ở trong nguy cơ thừa tiền. Điều khó khăn là không để xã hội mất niềm tin về chuyện thừa tiền, vì như thế làm mất luôn giá trị chung của đồng tiền. Các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của mỗi nước cạnh tranh với nhau, và sử dụng những biện pháp tổng hợp để triệt hạ nhau, song cũng thỏa thuận phân chia thế giới theo từng đẳng cấp tư bản khác nhau. Các chủ thể này có những biện pháp ngăn ngừa việc tạo ra tiền ảo của nước mình do các chủ thể khác tạo ra chỉ hoạt động giới hạn ở những đẳng cấp tư bản nhất định. Vì thế những khoản thanh toán lớn phải chịu sự kiểm soát thông qua yêu cầu phải nhận được sự bảo lãnh nào đó thì mới có thể thực hiện được. Ngoài ra, chu trình tạo ra tiền ảo của các nước khác phụ thuộc vào đẳng cấp tư bản, vào các khả năng thâm nhập vào các vùng địa lý và lãnh thổ của các doanh nhân khi đầu tư trực tiếp.

Khi kinh tế đất nước phát triển, người ta cần rất nhiều chuyên môn mới, cần rất nhiều người tài thì người ta dùng tiền ảo đầu tư cho giáo dục để nâng mặt bằng dân trí lên, nhưng để đạt tới đỉnh cao trong các chuyên môn nhất định thì người ta cần phải tạo nên một môi trường mới đòi hỏi những người có tài phải nỗ lực nâng mình lên để đáp ứng nhu cầu đó, không phải là cứ có tiền mà làm được.

Việc tạo ra tiền ảo gây ra những vấn đề xã hội mà nếu không xử lý thích đáng thì sẽ dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng. Về góc độ xã hội thì xuất hiện hiện tượng mới của tham nhũng. Do lượng tiền ảo ngày càng nhiều đổ vào các nước đang phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau, nên đã tạo cơ sở cho hiện tượng tham nhũng phát triển tràn lan. Trong kinh tế siêu vĩ mô có quan niệm mới về sự thất thoát các nguồn lực. Tham nhũng đồng tiền thuế của dân và tham nhũng đồng tiền ảo là hai việc khác hẳn nhau, song chúng đều làm rộng ra các khoảng cách bất bình đẳng xã hội. Điều này đòi hỏi chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô phải có cái nhìn toàn diện về các vấn đề kinh tế xã hội khi tạo ra tiền ảo và biến chúng thành tư bản.

Để phát triển kinh tế bền vững, vượt qua được các giới hạn mà điều hành kinh tế siêu vĩ mô đem lại, vượt qua được những ảo thuật về tài chính tiền tệ của nền kinh tế hiện đại thì cần phải đạt được những gì thực chất, tức là phải đạt được trình độ cao trong việc sản xuất các tạo phẩm vật thể và phi vật thể, đạt được đẳng cấp cao hơn của tư bản hậu công nghiệp.

Nhật Bản và Trung Quốc có các đồng USD không dùng đến vì có cách sản xuất ra các đồng USD ảo dùng ở các nơi khác, nên các nước này gửi đồng USD thật vào Mỹ. Số lượng đồng USD của Trung Quốc tiêu được trên đất Mỹ là một lượng nhất định, không vượt quá được lượng nhất định đó.

Vấn đề là làm thế nào để tiêu hóa được tiền ảo. Quy mô xã hội tiêu hóa tiền ảo là gì? Khủng hoảng ở Argentina năm 2001 là do nước này đã không tạo ra được những đẳng cấp tư bản cần thiết tương ứng với số tiền ảo đã được tạo ra và được đưa vào từ nhiều nguồn khác nhau. Một khi đã tạo ra được tiền ảo thì vấn đề đặt ra là phải giữ được giá trị tiền ảo để kiểm soát được sự lạm phát, và phải làm cho quảng đại quần chúng thấy rằng kiếm tiền là việc khó khăn và thường xuyên nâng ngưỡng giàu của xã hội lên để cho người dân có động lực phấn đấu. Vấn đề đặt ra là một xã hội chấp nhận được lượng tiền bao nhiêu, mà vượt số đó sẽ dẫn tới khủng hoảng. Do số lượng tiền ảo khổng lồ đã và đang được tạo ra và tương quan của số lượng đó với tài sản của những doanh nghiệp hoạt động bình thường trong các nền kinh tế không thể là quá lớn và nhanh chóng tích tụ trong thời gian ngắn nên các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô phải thành lập rất nhiều doanh nghiệp, rất nhiều tổ chức mới để phân tán lượng tiền ảo khổng lồ đó.

Vì sản xuất ra được tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản nên kiếm tiền không phải là mục đích của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Mục đích của chủ nghĩa tư bản hiện đại là tìm mọi cách để việc gia tăng lượng tiền thuộc các chủng loại khác nhau của nó được các xã hội nào đó chấp nhận, do đó cần phải áp đặt các giá trị của mình cho xã hội, biến những thứ ảo thành thật, biến tiền ảo thành tư bản, qua đó không những bóc lột giai cấp vô sản ở chính quốc, mà đã mở rộng ra những giai tầng xã hội mới, và bóc lột các dân tộc khác với quy mô chưa từng có. Việc áp đặt này theo những con đường rất khác nhau, mà chủ yếu làm cho việc kiếm tiền của các nước phát triển kém hơn trở nên rất khó khăn, vì thế không lấy gì làm lạ là mặc dù nhiều nước mở rộng cửa đón nhận đầu tư nước ngoài mà các đầu tư đó không vào.

Các nước phát triển dùng đạo luật chống bán phá giá để ngăn chặn việc biến tiền ảo của các nước khác thành tiền của nước mình.

Vai trò của ngân hàng không còn như trước nữa, hoạt động của ngân hàng không còn tài trợ cho các đại công ty nữa, mà chủ yếu phục vụ cho các công ty vừa và nhỏ, và các cá nhân và hộ gia đình.

Thời của Lenin là mâu thuẫn giữa các tập đoàn tư bản với nhau. Có những mâu thuẫn lớn hơn là mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ một nước, khi cả một nước là đối tượng nô dịch mới của các trùm tư bản nước ngoài, nơi mà tiêu thụ tiền ảo.

Nếu như trước đây, các thế lực trùm tư bản phân chia của ăn cướp bao giờ cũng là việc khó khăn thì hiện nay với sự sản xuất ra tiền ảo, tính chất của ăn cướp cũng khác đi, người ta phân chia những thứ mình không có, nhưng lại có thể biến thành có trong tương lai. Sự phân phối cũng phải quan niệm khác đi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.

Cần thừa nhận vai trò của Trung Quốc trong quản trị toàn cầu


Javier Solana

Rõ ràng biến động địa chiến lược nổi bật nhất trong hai thập niên vừa qua là sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuy vậy, phương Tây lại không thể chấp nhận việc Trung Quốc có một tầm ảnh hưởng tương xứng với sức mạnh của nước này trong hệ thống quản trị toàn cầu ngày nay, chưa nói đến các nền kinh tế lớn mới nổi khác. Nhưng điều này có khả năng sẽ phải thay đổi.

Hiện nay, Trung Quốc dựa vào các dàn xếp song phương để tăng cường can dự vào các quốc gia khắp châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Được hậu thuẫn bởi lượng dự trữ ngoại hối 3,8 nghìn tỉ USD, Trung Quốc đã cung cấp các khoản đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng để đổi lấy hàng hóa, qua đó biến mình trở thành nước cung cấp tài chính lớn nhất cho các nước đang phát triển, với việc Ngân hàng Phát triển Trung Quốc hiện đã cho vay nhiều hơn cả Ngân hàng Thế giới.

Tuy vậy, do được thực hiện bởi các tập đoàn nhà nước, những thỏa thuận nói trên vẫn thường không tuân thủ các quy chuẩn quốc tế chung. Phương Tây vì thế đã thúc giục Trung Quốc hướng tới các tiến trình đa phương vốn đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời mở rộng cung cấp hàng hóa công toàn cầu. Tổng thống Mỹ Barack Obama thậm chí đã gọi Trung Quốc là “kẻ ngồi không hưởng lợi” vì nước này không màng đến trách nhiệm được kỳ vọng đối với một cường quốc toàn cầu.

Thế nhưng, nếu những sáng kiến chính sách ngoại giao gần đây của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ám chỉ điều gì đó, thì có lẽ đó là thay đổi trong tương lai gần. Tháng Bảy năm 2014, Trung Quốc khởi xướng việc thành lập Ngân hàng Phát triển Mới của năm nước khối BRICS (Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, và Nam Phi) và đóng góp một khoản đáng kể vào số vốn 100 tỉ USD của ngân hàng này.

Tương tự, tại cuộc họp gần nhất của Diễn đàn hợp tác Á-Âu tại Bắc Kinh, Trung Quốc lại khởi xướng việc thành lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB). Nước này đã thiết lập một Quỹ Con đường Tơ lụa trị giá 40 tỉ USD, nhằm phục vụ tham vọng tái tạo lại con đường nối liền châu Á với châu Âu cả trên đất liền và trên biển.

Để theo đuổi chiến lược với tên gọi “Một vành đai, Một con đường”, Trung Quốc sẽ tiếp tục các khoản đầu tư có ảnh hưởng tới khoảng 60 nước, bao gồm cả khu vực Trung Á, nơi Trung Quốc đã rút hầu bao ra chi tới hơn 50 tỉ USD cho các dự án ở đây. Tuyến đường trên biển sẽ bao gồm cả Ấn Độ Dương, biển Đông (biển Nam Trung Hoa), và biển Địa Trung Hải. Khi hợp thành một thể, đây sẽ không đơn thuần là một con đường, mà là một mạng lưới xúc tiến trao đổi cả hàng hóa và sáng kiến giữa hai châu lục.

Trong sáng kiến này, châu Âu đã có vai trò quan trọng hơn khi Cảng Piraeus – Hy Lạp, nơi có sự tham gia vận hành của Công ty Vận tải biển Trung Quốc COSCO, được xác định là một điểm dừng trong tuyến đường tơ lụa trên biển. Những cơ sở hạ tầng được Trung Quốc đầu tư xây dựng tại Balkans và Hungary sẽ giúp nối liền Cảng Piraeus với các khu vực khác của châu Âu, củng cố thêm vai trò của Trung Quốc như một đối tác thương mại chính của EU.

Sáng kiến Con đường Tơ lụa Mới tái khẳng định tham vọng của Trung Quốc trong việc biến mình thành một cường quốc ở lục địa Á Âu. Con đường ấy sẽ không chỉ kết nối các nền kinh tế năng động tại Đông Á với Tây Âu, mà còn vươn tới các quốc gia Trung Á – nơi mà tầm ảnh hưởng của Nga đang trên đà sụt giảm. Sáng kiến này cũng có thể giúp xoa dịu các căng thẳng về tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc với một số nước láng giềng của mình.

Cho đến nay, những nỗ lực tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc dường như đang phát huy hiệu quả, không chỉ trong khối các nước đang phát triển. Gần đây Vương quốc Anh đã tuyên bố ý định tham gia với tư cách là một thành viên sáng lập AIIB, khuấy động một trào lưu xin gia nhập  từ nhiều nước như Úc, Braxin, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha.

Tuy nhiên, nước Mỹ lại coi những bước đi ấy là trở ngại về mặt địa chính trị cho mình. Quan điểm này về cơ bản là một sai lầm. Xét đến cùng, chính việc các nước phát triển từ chối trao cho Trung Quốc vai trò tương xứng với sức mạnh kinh tế của nước này đã đẩy Trung Quốc tới quyết định bỏ qua các định chế tài chính quốc tế ra đời sau Thế chiến II.

Lấy ví dụ như trong trường hợp Ngân hàng Phát triển châu Á, Nhật Bản và Mỹ mỗi bên luôn nắm giữ 13% số phiếu biểu quyết, trong khi con số này của Trung Quốc chỉ là chưa đầy 6%, chưa kể đến việc chủ tịch Ngân hàng luôn là người Nhật Bản. Tương tự, người nắm quyền cao nhất ở Ngân hàng Thế giới luôn là người Mỹ, và Giám đốc điều hành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế luôn là người châu Âu. Kể cả khi khối G-20 có một bước đi nhỏ đúng hướng là đồng ý tăng tỉ lệ phiếu bầu của Trung Quốc từ 3,65% lên 6,19% vào năm 2010, Quốc hội Mỹ lại từ chối phê chuẩn thỏa thuận này, chặn đứng việc tiến hành những cải cách đó.

Sự thật ở đây là sáng kiến mới của Trung Quốc không mang tính xét lại, mà là phản kháng. Nếu các cường quốc mới không được tiếp cận các kiến trúc quản trị toàn cầu đang tồn tại, họ sẽ tự tạo ra các hệ thống khác cho riêng mình. Điều này cũng có nghĩa là các nước phát triển có khả năng ngăn chặn việc trật tự thế giới bị vỡ vụn thành nhiều khối tư tưởng và kinh tế – nhưng chỉ khi họ có thể vượt qua sự mất lòng tin chiến lược đối với Trung Quốc.

Theo đó, sự tham gia của các nước châu Âu vào AIIB là một bước đi tích cực, vì nó giúp đảm bảo rằng ngân hàng mới này sẽ hỗ trợ chứ không cạnh tranh với các thể chế tài chính hiện hành. (Thực tế, ảnh hưởng của châu Âu sẽ còn lớn hơn nữa nếu bản thân liên minh này, chứ không phải các nước thành viên đơn lẻ, có được sự hiện diện ở AIIB, như đã có ở G-20 và Tổ chức Thương mại Thế giới.)

Phương Tây phải làm nhiều điều, không chỉ là chào mừng Trung Quốc tham gia vào hệ thống quản trị toàn cầu, mà còn phải thừa nhận và hợp tác với các định chế mà Trung Quốc đang kiến tạo nên. Chỉ có thể bằng thái độ cởi mở, phương Tây mới có thể đảm bảo rằng những thể chế do Trung Quốc dẫn dắt sẽ áp dụng các quy chuẩn về đa phương hóa và trách nhiệm giải trình, đồng thời tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về lao động và môi trường.

Hiện tại là thời điểm lý tưởng để bắt đầu những công việc đó. Vì nếu châu Âu, Mỹ, và Trung Quốc có thể dung hòa các ý định của mình sao cho phù hợp với các lợi ích chung trong năm nay thì họ sẽ ở tư thế sẵn sàng để tận dụng tối đa Hội nghị thượng đỉnh G-20 tại Trung Quốc vào năm 2016.

Việc Trung quốc tham gia vào các tiến trình đa phương là một tín hiệu tích cực đối với thế giới. Châu Âu – và đặc biệt là nước Mỹ – phải vượt qua được sự mất lòng tin chiến lược đối với Trung Quốc. Để tối đa hóa việc chia sẻ lợi ích, họ không được phép phung phí cơ hội tham gia vào và định hình các tiến trình này.

Biên dịch: Nguyễn Thị Thanh Xuân | Hiệu đính: Phạm Trang Nhung

Nguồn: Javier Solana, “China and Global Governance”, Project Syndicate, 30/3/2015

Javier Solana nguyên là Đại diện cấp cao của Liên minh châu Âu phụ trách chính sách Đối ngoại và An ninh, Tổng thư ký NATO, và nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Tây Ban Nha.

“Verum est ipsum factum” – Hiện thực là cái được tạo ra như vậy – Phần III


John Locke và David Hume thể hiện rõ sự tin tưởng vào đấng sáng tạo thiêng liêng và bất diệt (Chúa trời/Thượng đế) và đồng thời họ bày tỏ những nghi ngờ theo thuyết bất khả tri của họ đối với các tôn giáo. Những gì dẫn tới nghi ngờ của Locke được ông viết trong Bài luận của mình như sau:

Chúng ta có thể, tôi nghĩ, ở chừng mực phù hợp, quy những điều vô lý vốn có này ở hầu hết các tôn giáo mà loài người có và chia ra cho việc tán dương niềm tin – đối lập với lý trí – này. Vì mọi người về nguyên tắc cho rằng, họ không phải tham vấn lý trí về các vấn đề tôn giáo, mặc dù rõ ràng là trái ngược với lẽ thường,… dẫn tới những quan điểm xa lạ, và những thông lệ vô lý trong tôn giáo tới mức một người thận trọng không thể không ngạc nhiên về các vở kịch màu mè của chúng, và đánh giá chúng là không thể chấp nhận được trước Chúa trời vĩ đại và thông thái, đến nỗi anh ta không thể tránh khỏi việc cho rằng những thông lệ đó là lố bịch và gây khó chịu đối với một người nghiêm túc, có đức hạnh. Do đó, thực ra mà nói, tôn giáo… là cái mà ở đó mọi người thường hành động hết sức phi lý và vô thức hơn cả chính các con vật”. (Locke 1979 [1689]: 696).

Theo cùng cách giống như Locke, Hume bày tỏ mạnh mẽ những nghi ngờ theo thuyết bất khả tri của ông đối với bản thể học tôn giáo như sau:

Nếu chúng ta có trong tay bất kỳ tác phẩm nào về, chẳng hạn, tính thần thánh hay của trường phái siêu hình học, chúng ta hãy xem nó có chứa đựng bất kỳ lập luận mang tính thực nghiệm nào liên quan tới vấn đề sự thực và sự tồn tại không? Không. Khi đó hãy đốt nó, vì nó có thể chẳng có cái gì ngoài sự ngụy biện và ảo tưởng”. (Hume 1995 [1758]: 173).

Kiến thức tiên nghiệm liên quan tới khái niệm về những ý tưởng thiên bẩm mà chúng ta có thể có hay không có ngay sau khi ra đời. Trẻ em, chẳng hạn, biết rõ – trước khi biết nói – về sự khác nhau giữa các ý niệm về ngọt và đắng, song chúng không biết, ví dụ, sự khác nhau giữa các con số 3 và 4, chúng cũng chẳng có ý niệm bẩm sinh về Chúa trời, thần thánh, hay vị Chúa đó phải được tôn thờ cho đến khi chúng được dạy để biết về những khái niệm và những nguyên tắc này. Vậy đâu là khái niệm về chính Chúa trời? Theo David Hume, đó không thể là một ý niệm hay một nguyên tắc bẩm sinh, bởi bạn phải dạy cho trẻ biết về nội dung của khái niệm đó. Nếu đó là một ý niệm bẩm sinh bạn không phải dạy về nó. Và hơn nữa, tại sao khái niệm về Chúa lại phải là một ý niệm bẩm sinh nếu có nhiều cách giải thích đến vậy. Do đó, “chân lý” mà các tôn giáo trên thế giới dạy cho chúng ta cần phải được học hỏi sau đó và được suy ra từ những cảm thụ và những ý niệm trước đó và, vì vậy, những chân lý này được tạo dựng từ những thực tế thay đổi khác nhau giữa các tôn giáo và giữa các dân tộc.

Nếu con người có nguyên tắc phổ quát hay ý niệm tiên nghiệm bẩm sinh nào đó, nó có thể là động lực hướng tới hạnh phúc và sự yên ổn, nhưng thậm chí đây chỉ là những nguyên tắc mang tính tương đối bởi hạnh phúc và sự yên ổn của ai đó có thể đạt được bằng sự gia tăng tính bất ổn của người (hay dân tộc) khác. Hầu hết những nguyên tắc như đạo đức, pháp luật và công lý, trên thực tế, ít nhiều đều mang tính tương đối, xét về bản chất của chúng, cho dù chúng ta có lẽ mong chúng mang tính chất phổ quát. Chúng được xây dựng trên phương diện xã hội là những nhận thức mang tính liên ngành, và khác hẳn nhau, chẳng hạn như nội dung tôn giáo hay khái niệm về Chúa trời. Không có hai nước có chung các bộ luật luật lệ, và thậm chí công lý và đạo đức cũng được trải nghiệm theo những cách thức khác nhau. Vậy thì câu hỏi hóc búa ở đây là liệu chúng ta có nên trải nghiệm và định nghĩa chúng một cách phổ quát và có thể đồng lòng nhất trí không? Có lẽ nên như vậy, song ai và cái gì có thể có quyền làm việc đó, nếu chúng ta không đồng ý về sự tồn tại của Thần thánh/Chúa, về lòng tốt hay sự xấu xa của vị thần đó, hay thậm chí là về cách mà sự tồn tại của chúng ta được bắt đầu?

Chủ nghĩa kinh nghiệm và Chủ nghĩa duy lý – “Những gì hiện hữu có thể không tồn tại”

Sự khác nhau giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm nằm trong nhận thức luận – nguồn gốc và giới hạn của kiến thức của chúng ta. Sự khác biệt này có thể bị quy định bởi ba câu hỏi chủ chốt: 1) Đâu là bản chất của kiến thức mang tính xác nhận rằng thế giới là có thực? 2) Chúng ta có thể thu nạp kiến thức như thế nào? và 3) Đâu là những hạn chế của kiến thức của chúng ta? Sự bất đồng giữa những người theo chủ nghĩa duy lý và các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa chủ yếu liên quan tới câu hỏi thứ hai. Khi tìm kiếm tri thức (Chúng ta có thể thu nạp kiến thức như thế nào?), chủ nghĩa kinh nghiệm có lẽ hoạt động nhiều hơn ở khía cạnh tính chất đến sau (kiến thức dựa vào sự trải nghiệm giác quan), trong khi chủ nghĩa duy lý lại hoạt động ở khía cạnh mang tính tiên nghiệm (kiến thức có thể đạt được một cách độc lập bằng sự trải nghiệm giác quan qua trực giác và sự suy luận).

Kiến thức mang tính chất có sau có được dựa trên sự quan sát (tức là, kiến thức có được do kinh nghiệm), có nghĩa là điều gì có thể được nói ra cho mọi người biết sau khi bằng chứng được đưa ra. Chủ nghĩa kinh nghiệm cố đạt được tri thức qua các giác quan và kinh nghiệm, trong khi chủ nghĩa duy lý lại khư khư cho rằng các giác quan của chúng ta là chưa đủ để đưa ra bất kỳ bằng chứng nào về thế giới xung quanh chúng ta. Trong truyền thống triết học phương Tây, chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý đều bắt nguồn từ tư tưởng của các nhà triết học Hy Lạp, như Plato và Aristotle. Kể từ thời kỳ Khai sáng (từ cuối thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 18), các đại diện của chủ nghĩa kinh nghiệm (các triết gia người Anh như John Locke và David Hume) và chủ nghĩa duy lý (các triết gia lục địa châu Âu như René Desartes người Pháp và Benedic de Spinoza người Hà Lan) đều có những tranh luận mang tính chất bản thể học và nhận thức luận về, chẳng hạn, sự tồn tại của Chúa và cách thức chúng ta có thể thu nhận được kiến thức nói chung.

Chủ nghĩa kinh nghiệm – kiến thức thông qua sự trải nghiệm

Chủ nghĩa kinh nghiệm có thể được hiểu là “lý thuyết cho rằng mọi kiến thức đều bắt nguồn từ sự trải nghiệm cảm giác” (Pearsall, 2001: 604). Chủ nghĩa kinh nghiệm phát triển vào thế kỷ 17 và 18, đặc biệt qua các tác phẩm của John Locke và David Hume. Theo Locke, tất cả các kiến thức và lý lẽ của chúng ta đều dựa trên sự cảm giác, các ý niệm, sự suy ngẫm, sự so sánh và trải nghiệm khi còn nhỏ. Bạn chỉ phải “đi theo đứa trẻ từ khi nó được sinh ra, và quan sát những thay đổi mà thời gian tạo ra, và bạn sẽ nhận thấy, khi Tâm trí nhờ các giác quan ngày càng được trang bị thêm các ý niệm, nó càng ngày càng nhận thức rõ hơn; càng suy nghĩ lại càng có nhiều vấn đề để nghĩ đến hơn”. (Locke 1979 [1689]: 117).

Cả Locke và Hume đều tập trung vào các giác quan của con người, vào các ý niệm và thói quen của tâm trí khi cố tìm hiểu về sự tồn tại của chúng ta. Cả hai người đều theo chủ nghĩa kinh nghiệm, song chính Thomas Hobbes mới là người đề cập đến triết lý của tâm trí, sự nhận thức và các nguyên tắc theo chủ nghĩa kinh nghiệm, thậm chí còn trước cả Locke và Hume. Về cơ bản, Hobbes được biết đến với quan niệm của ông về tình trạng hỗn loạn/vô chính phủ: “Vì họ thấy bất mãn dưới chế độ quân chủ, họ gọi đó là chính thể chuyên chế; và họ thấy khó chịu với chế độ quý tộc, họ gọi đó là chính thể đầu sỏ; cũng như vậy, họ nhận thấy mình đau khổ dưới nền dân chủ, họ gọi đó là tình trạng vô chính phủ…” (Hobbes 1985 [1651]: 240). Chủ nghĩa kinh nghiệm của Hobbes dựa trên các giác quan và sự hoài nghi như là nguồn gốc cơ bản của kiến thức của chúng ta: “Không thuyết giảng bất cứ điều gì, có thể Kết thúc khi hiểu hết về Thực tế, ban đầu bao giờ cũng là Cảm giác, và mãi sau này là Ký ức. Và… không ai có thể biết qua sự thuyết giảng rằng điều này hay điều kia được, đã, hay sẽ được biết; mà là nhất định sẽ biết” (Hobbes 1985 [1651]: 131).

Điều khiến cho Hobbes khác với Locke và Hume là Hobbes không tập trung vào triết lý của tâm trí như Locke và Hume đã làm, và chính Locke là người bắt đầu truy tìm một cách có hệ thống các ý niệm của chúng ta bắt nguồn từ sự trải kinh chúng [từ kinh nghiệm bên ngoài (cảm giác) tới kinh nghiệm bên trong (phản ánh)]. Hume tiếp tục “theo dõi những bí ẩn của tâm trí” theo cách mà Locke đã làm trong hơn nửa thế kỷ trước. Cả Locke và Hume đều là những người theo thuyết bất khả tri, nhưng có thể không phải là những người theo thuyết vô thần. Cả hai người đều nhấn mạnh đến sự cần thiết của lòng khoan dung (tức là, tự do tôn giáo) và mang âm hưởng về các giá trị tự do trong các bản văn của họ. Điều đó có thể chỉ là, có lẽ, bởi tất cả bọn họ, cả Hobbes, đều là người Anh và nước Anh đã cải đạo theo đức tin đạo Tin Lành vào năm 1603.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thái Hà

Nguồn: Torsti Sirén – “Verum est ipsum factum” – True is what has been made as such – Journal of Military Studies, Vol. 1, No. 1 (2010).

TN 2014 – 12, 13,14, 15 & 16.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần IX


h/ Lý thuyết về mô hình phát triển ở các nước châu Á gió mùa

Lý thuyết này do nhà kinh tế học Nhật Bản Harry Toshima trình bày trong cuốn Tăng trưởng kinh tế ở châu Á – gió mùa. Theo H. Toshima, lý thuyết về mô hình kinh tế nhị nguyên của A. Lewis cho rằng, việc tăng trưởng kinh tế do chuyển lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp mà không làm giảm sản lượng nông nghiệp là không đúng đối với các nước nông nghiệp châu Á – gió mùa. Khác với phương Tây, ở các nước châu Á – gió mùa có hiện tượng thiếu lao động nông nghiệp trong thời vụ đỉnh cao, nhưng lại thừa lúc nông nhàn. Vì vậy, để phát triển, các nước này phải giải quyết các vấn đề theo một trình tự nhất định. Đó là: một mặt, giữ nguyên lao động trong nông nghiệp, tạo thêm việc làm trong thời kỳ nhàn rồi để tăng sức cầu cho nông nghiệp bằng các hoạt động đầu tư của nhà nước như thủy lợi, giao thông, phát triển công nghiệp địa phương… Mặt khác, đa dạng hóa sản xuất để ổn định và tăng thu nhập cho nông dân do tính thời vụ và tính phức tạp của thời tiết, qua đó mở rộng thị trường cho nông nghiệp. Nhờ cả hai hoạt động trên với các hình thức, bước đi thích hợp, lao động trong nông nghiệp, nông thôn được phân bố lại, tăng lao động trong tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành khác. Khi thị trường lao động nông nghiệp bị thu hẹp, tiền lương thực tế sẽ tăng lên, các nông trại, xí nghiệp chuyển sang cơ giới hóa, làm cho năng suất lao động tăng nhanh, GNP và GDP/người cũng tăng lên khi sử dụng hết lao động nông nghiệp. Từ sự phân tích trên, Harry Toshima cho rằng, “nông nghiệp hóa” là con đường tốt nhất để phát triển của các nước châu Á – gió mùa, tiến tới xã hội có cơ cấu nông nghiệp – dịch vụ hiện đại.

i/ Lý thuyết hiện đại hóa

Đại diện tiêu biểu cho lý thuyết hiện đại hóa là W. Rostow, A.F.K. Organski; S. Huntington; T. Parsons; D.S. Landes…

Đây là lý thuyết phát triển nhìn nhận sự phát triển hay kém phát triển như là hậu quả của những điều kiện nội tại của từng nền kinh tế (vai trò của chủ thể phát triển, yếu tố động lực, điều kiện vật chất – kỹ thuật, phương thức tiến hành,…). Tiếp cận hiện đại hóa là luận giải sự phát triển thông qua tiếp thu, kế thừa kinh nghiệm hay mô hình, nhận sự hỗ trợ phát triển từ các nước phát triển hiện nay. Chẳng hạn, W.W. Rostow đã khái quát các giai đoạn phát triển, được vận dụng cho tất cả các nước. S. Huntington nhìn nhận sự phát triển theo đường tuyến tính mà mỗi nước buộc phải trải qua. Nhà nước đóng vai trò chủ thể trung tâm trong việc hiện đại hóa các xã hội lạc hậu và kém phát triển. Để đuổi kịp các xã hội phát triển, các nước đang phát triển phải dựa vào những trợ giúp từ các nước tiên tiến nhằm tạo ra sự đột phá tăng trưởng kinh tế từ các yếu tố như giáo dục, đào tạo, công nghệ, kỹ năng…

k/ Lý thuyết phụ thuộc

Đại diện tiêu biểu: các nhà marxist mới (neo-marxists). Vào những năm 1940, bắt đầu làn sóng mới trong việc tiếp tục những tiếp cận lý luận và tư tưởng kinh tế của Marx ở các nước phương Tây phát triển như Mỹ, Anh… với các học giả như: Maurice H. Dobb, Joan Robinson, Paul Sweezy, Paul Baran, Ernst Mandel và Oskar Lange, Ronald Meek, Francis Seton, Andras Bródy, Paul A. Samuelson, William J. Baumol, Domenico Nuti, Anwar Shaikh, Gerard Dumenil, Duncan Foley, Michio Morishima và Shigeto Tsuru, Kozo Uno, Nubuo Okishio và Makoto Itoh… Tu tưởng chính của lý thuyết phụ thuộc là nhìn nhận sự phát triển trong tương quan của nhiều yếu tố giữa các quốc gia, trình độ phát triển và văn minh. Thế giới được phân chia thành các nh1om nước trung tâm giàu có và các nhóm nước ngoại vi nghèo đói. Trung tâm thâu tóm và chi phối ngoại vi trong quá trình tận dụng các yếu tố, cơ hội phát triển như nhân công dồi dào và rẻ mạt, nguồn nguyên liệu thô phong phú. Tương quan lợi ích thiên lệch cho các nước giàu có dẫn tới sự bất bình đẳng và chênh lệch về trình độ phát triển. Nước giàu ngày càng giàu thêm, hiện đại hơn, nước nghèo ngày càng nghèo hơn và nguồn lực cạn kiệt hơn vì sức hút từ trung tâm. Nói về mô hình phát triển này, trong tác phẩm Giới thiệu về lý thuyết phát triển P.W. Preston đã nhận xét: “Các nước kém phát triển cung cấp những nguyên liệu thô và những sản phẩm chế biến với công nghệ thấp sang các nước phát triển để nhập về những hàng hóa chất lượng công nghệ cao. Sự phụ thuộc mang tính kinh tế này phản ánh một sự phụ thuộc sâu rộng hơn về chính trị và văn hóa. Hậu quả là sự kém phát triển sẽ mãi mãi tồn tại trong những điều kiện phụ thuộc mang tính hệ thống”. Điều này có nghĩa là sự phát triển và kém phát triển là kết quả của mối quan hệ bất bình đẳng giữa các nước giàu với các nước nghèo, giữa các khu vực trung tâm với ngoại vi cũng như giữa chính quốc với thuộc địa.

Như vậy, nếu như lý thuyết phát triển hiện đại hóa nhấn mạnh vào sự phát triển của từng quốc gia thì lý thuyết phát triển phụ thuộc lại nhấn mạnh đến sự phát triển ở cấp độ liên quốc gia, liên quan đến chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa đế quốc mới, đến chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa thực dân mới. Xuất phát từ thực trạng đó, các học giả lý thuyết phụ thuộc đề xuất ý tưởng rằng, các nước kém phát triển cần đoạn tuyệt với các nước phát triển và xây dựng cho mình năng lực tự chủ cho tăng trưởng. Một trong những can thiệp này là chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu vào những năm 1950.

l/ Lý thuyết hệ thống thế giới

Đại diện cho lý thuyết này là nhà xã hội học Mỹ Immanuel Wallerstein. Lý thuyết hệ thống thế giới xuất hiện vào những năm 1970, nguồn gốc của nó xuất phát từ xã hội học nhưng được phát triển thành lĩnh vực liên ngành với tiếp cận vĩ mô, bao hàm từ lịch sử thế giới tới sự thay đổi xã hội. Lý thuyết hệ thống thế giới được coi là lý thuyết thay thế lý thuyết hiện đại hóa. Theo quan điểm của Wallerstein, phân công lao động quốc tế là căn cứ cơ bản trong việc xác định hệ thống trên thế giới. Theo đó, thế giới được phân chia thành ba loại hệ thống chính là hệ thống các nước trung tâm, bán ngoại vi và ngoại vi. Các nước trung tâm tập trung vào kỹ năng cao hơn, sản xuất hàm chứa nhiều vốn, phần còn lại của thế giới tập trung vào kỹ năng thấp hơn, sản xuất hàm chứa nhiều lao động và khai thác nguyên vật liệu thô. Wallerstein khái quát hệ thống thế giới như tập hợp các cơ chế cho phép phân bổ lại nguồn lực từ ngoại vi (hệ thống kém phát triển) tới trung tâm (hệ thống phát triển, công nghiệp hóa) thông qua cơ chế thị trường. Hiện nay, hệ thống thế giới hiện đại là hệ thống các nền kinh tế thế giới chủ nghĩa tư bản đầy đủ trên toàn cầu. Chủ nghĩa tư bản là hệ thống dựa vào cạnh tranh tự do giữa các nhà sản xuất trên thị trường.

5/ Các lý thuyết phát triển xã hội dựa trên một yếu tố chủ đạo

Ngoài yếu tố kinh tế ra, trong quá trình tìm kiếm mô hình phát triển đã có nhiều học giả và nhiều nhà quản lý đưa ra những lý thuyết phát triển khác nhau, trong đó tìm cách cắt nghĩa sự phát triển của các quốc gia dựa vào một yếu tố chủ đạo, mang tính quyết định nào đó. Chẳng hạn, có lý thuyết cắt nghĩa sự phát triển của một quốc gia căn cứ vào mức độ giàu có và phong phú của nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, không phải quốc gia nào giàu tài nguyên thiên nhiên cũng là những quốc gia phát triển. Trái lại, nhiều quốc gia phát triển lại rất nghèo tài nguyên thiên nhiên. Có lý thuyết cho rằng, sự phát triển phụ thuộc vào vị trí địa lý. Nhà kinh tế Jeffrey Sachs (Đại học Columbia) và một số người có ý kiến rằng, vị trí nhiệt đới, không có bờ biển và sự tùy thuộc vào “hàng hóa” (nhất là tài nguyên thô, thay vì dịch vụ) là những yếu tố trực tiếp cản trở phát triển. Không phải tình cờ mà hầu hết các nước chậm phát triển đều ở vùng nhiệt đới. Những nước nghèo nhất thế giới, có thu nhập tính theo đầu người không bằng 1/20 mức của Mỹ, đều nằm sát đường xích đạo với những đặc trưng là khí hậu rất nóng, mưa dữ dội và nhiều bệnh dịch nhiệt đới. Địa lý là yếu tố quyết định của tình trạng khí hậu, tài nguyên thiên nhiên và nhiều thứ bệnh tật, phí tổn giao thông, vận chuyển. Địa lý cũng là yếu tố ngăn cản sự lan truyền kiến thức, phát minh từ những vùng tiến bộ đến những vùng kém và chậm phát triển, qua đó có ảnh hưởng lớn đến năng suất nông nghiệp và “chất lượng của tài nguyên con người”. Thực tiễn cho thấy những lập luận trên chưa có sức thuyết phục về mặt khoa học. Yếu tố địa lý có tác động nhất định, nhưng không thể có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của một quốc gia hay vùng lãnh thổ. Các quốc gia có trình độ phát triển cao hiện hữu ở các châu lục, cả ở phương Tây và phương Đông, cả ở Bắc bán cầu và Nam bán cầu, không phải quốc gia phát triển nào cũng có vị trí địa lý thuận lợi. Có những quốc gia phát triển nhanh nhờ biết phát huy vị trí địa lý thuận lợi, biến nó thành lợi thế cạnh tranh và thu hút đầu tư, trong khi các quốc gia khác lại không làm được như vậy. Có lý thuyết cho rằng, sự phát triển phụ thuộc vào quy mô và dân số của một quốc gia. Tuy nhiên, thực tiễn khẳng định quy mô và dân số của một quốc gia cũng không phải là yếu tố quyết định. Trong số các quốc gia phát triển có quốc gia lớn, quốc gia nhỏ cả về diện tích và dân số. Có lý thuyết hoặc lập luận cho rằng, sự phát triển của một quốc gia chủ yếu phụ thuộc vào tiến bộ về kỹ thuật công nghệ và những phát minh khoa học. Đương nhiên, một quốc gia được coi là phát triển không thể là một quốc gia lạc hậu, yếu kém về khoa học, công nghệ, không có những phát minh. Tuy nhiên, có những quốc gia sở hữu nhiều phát minh khoa học, đạt những thành tựu lớn về nghiên cứu cơ bản, nhưng do không tạo dựng được cơ chế và điều kiện phù hợp để sử dụng và phát huy chúng cho sự phát triển của mình, nên cũng không nằm trong số những quốc gia phát triển nhất.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Sự lột xác và quay về loại trừ (bớt) và đưa thêm (thêm) – Phần IV


Vậy thì khi giải thích “tâm điểm” của Thiên và Địa không dẫn tới việc nhân cách hóa chúng sao? Do đó, ta lại rơi vào, vin cớ lý giải sự vận hành thực tại bắt đầu từ kinh nghiệm của ta theo cách nhìn ngây thơ của thuyết nhân hình hay sao? Về phần ông, Vương Phu Chi không vô thức trước những nguy hiểm được dẫn tới từ cách tiếp cận như vậy. Bởi vì ông biết, ít nhất cũng từ sau Tuân Tử (Xunzi) (một cội nguồn khác của đạo đức Trung Hoa, ở thế kỷ III tr CN), rằng Thiên và Địa không có “tâm điểm” (Thiên Địa vô tâm nhi thành hóa), có nghĩa là chúng theo đuổi quá trình vận hành tự nhiên không hề cảm biết sợ hãi cũng như mong muốn của con người (không chệch khỏi sự cố định của sự vận hành của chúng để tránh loại người “bị lạnh”). Như vậy cần phân biệt rõ ràng hai nghĩa vốn là nguyên nhân của chúng: bằng hành động, khi phản lại một “sự vô tâm”, ở đây sự vô cảm là vấn đề thích hợp cụ thể, bằng sự dửng dưng thể hiện ra khi đối mặt với các lợi ích riêng tư (khi chúng được cổ vũ lẫn nhau và từ đó, dẫn tới chệch hướng với sự liên tục của quá trình), với tính chất ngẫu nhiên của sự xúc động đạo đức tương tự nổi lên trong ta (như trong trường hợp được đưa ra trước đó, đứa trẻ sắp rơi xuống giếng: ta hành động ngay lập tức, như một phản xạ và bằng một động tác cần thiết khẩn trương không cần nghĩ tới việc tự hỏi ai sẽ thừa nhận việc làm đó). Cho nên theo cách, ở đó, trong quá trình sinh sống của các sinh thể, Thiên và Địa “luôn ở ngưỡng với một sự cần thiết tương tự”, “không dung thứ một sự chậm trễ nào” (nhược hữu sở tất nhiên nhi bất dung dĩ giả) mà “khi so sánh về con người”, khi đó ta có thể nói đến “tâm điểm”.

Một ý kiến bác bẻ nữa đến từ, theo Vương Phu Chi, những đạo “không chính thống” (Đạo giáo và Phật giáo hỗn hợp) coi tâm điểm của hiện thực là “điểm dừng” (tĩnh). Ông nói, họ gắn liền với con người “tĩnh tại” hoàn toàn “trơ ì”, của trời và của đất, như họ nhìn thấy nó trước mặt, và họ tìm cách “bắt chước” nó: và tương tự từ đây, họ làm hỏng nguyên lý (về cái) không nhìn thấy nhờ đó sự vận hành của thực tại không ngừng diễn ra đột ngột “những kích hoạt” và “liên hợp”, nhờ nó “hiệu quả không nhìn thấy” và “hiện tại cụ thể” gợi lên liên tục hết cái này đến cái khác và tại đó nó tiếp nhận sự sinh sôi vô tận của các sinh thể? Một khái niệm của Trung Hoa thời xưa được dùng để xác định “sức mạnh bên trong”, luôn luôn “báo động” (“Trong tình trạng báo động”, tương tự) và không ngừng hành động (khái niệm cơ, kì linh kính ứng cơ). Nhưng bởi vì sự hiểu biết thực tại của họ “bị làm cho rắc rối” bởi sự rối nghĩa, những người dị giáo này “không tin” vào những gì đến với “chức năng hành dụng tốt nhất”. Như vậy họ chọn cách thể hiện giá trị điểm dừng khi đưa lý do cho sự vận động, từ khi sự vận động này kết tủa lại, dẫn tới sai lệch. Nhưng “điểm dừng” nghĩa là “hết”, Vương Phu Chi nói, trong cả ý thức lẫn xã hội: các giác quan và các đối tượng bên ngoài dừng lại “cái nào biết cái ấy” “không còn thu hút nhau nữa”; và nếu, tương tự, trên và dưới (cha – con, chồng – vợ,…) tự thấy riêng mình là đủ và không còn có thể kích hoạt lẫn nhau nữa, cuộc sống nhanh chóng bị tan rã. Tâm điểm của hiện thực do đó không phải là “điểm dừng”; mà nó cũng không đơn giản là sự trái ngược nữa, sự “vận động” (bởi vì khi đó hai quan niệm này quay lưng lại với nhau và đều trở thành đáng ngờ): như đã nêu lên ở quẻ Phục, nó là “khởi đầu của sự vận động” (động chi đoạn nãi, thiên địa chi tâm), giai đoạn đầu tiên của nó, là sự khởi động không ngừng đổi mới và từ đó đi ra tất cả.

Nhưng cũng có thể có lý khi tự hỏi nếu trong con người không có một nguyên tắc kích hoạt của sức sống như cảm xúc đạo đức (chẳng hạn sự xấu hổ, sự khinh bỉ, tình thương… được ta cảm nhận): nếu chỉ các ý muốn, từ đó ta biết vì sao chúng thu hút “vào” (lưu vu lợi dục), vì chúng không phải là tương đương. Nhưgn trong hành động, Vương Phu Chi ghi nhận, các ý muốn này chỉ sinh ra một trạng thái hưng phấn giả tạo đối mặt với bên ngoài, và nếu chúng dẫn dắt ta nhằm “thúc đẩy” ta; chúng “rút lui” sau đó và đưa ta vào trạng thái “trơ ì”: chúng không biết cách, do vậy, để tạo ra một sự “kích hoạt” đích thực (khái niệm hứng – đây cũng là một từ cổ của Trung Hoa được phản ánh trong thơ ca Trung Hoa và dùng để xác định môtip xúc cảm từ đó bắt đầu bài thơ, từ sự chủ động về ý thức khi gặp gỡ thế giới và làm sống lại sự phát triển sau cùng của văn bản). Sự kích hoạt đích thực, Vương Phu Chi chỉ rõ, là sự kích hoạt mà “sự tinh tế” của nó “được mở rộng trong khoảnh khắc đột ngột” (dương chi động dã, nhất niệm chi cơ vi chi phát vu nga khuynh), trải qua “mọi sự dồn nén cảu những xúc động và sự vật trong ta”, cho ta nắm được mối quan hệ cơ bản liên kết ta và thế giới, “không thể phân biệt một cách hoàn hảo mối quan hệ này” và “không có hoạt động nào của các giác quan từ ý thức có thể vừa có thể mở ra vừa có thể rút gọn lại”. Cái mở đầu khi đó trong ta là bất khả kháng, bởi vì khác với cách nhìn về những gì trong trật tự các đam mê hay các lợi ích, và được dẫn dắt tự bản thân nó nhằm đạt tới thăng; khi trở lại với hai khái niệm hậu Khổng Tử vừa được sử dụng rất nhiều, ta nói được rằng “thực thể tạo sinh” là “rất nhỏ” nhưng còn “chức năng hành dụng” của nó thì lại “rất lớn”. Mọi ứng xử đạo đức chỉ là hệ quả và là sự kéo dài. Theo cách tương đồng, nó không ngừng mở rộng thành một kiểu kích hoạt mà quá trình vận hành của thế giới theo đuổi thành đường không chệnh hướng và các sinh thể có thể sinh sôi mãi mãi.

Trong biểu tượng tạo thành quẻ Phục, hào sơ dương xuất hiện dưới sự chồng chất của các hào âm, được xác định: tất cả các hào tiếp nối đánh giá toàn bộ và chúng biết hành động từ sự kích hoạt hiệu quả này để lan tỏa đi qua chúng. Bởi thế hào dương được coi là “căn” cát: nó phong phú về mọi “kiểu logic” cần thiết để điều khiển thực tại, làm phồng to mọi sự mở rộng để đi tới. Tương tự, với giai đoạn mở đầu, sự “trở về” (khắc phục sự chệch hướng) không chậm trễ (nó không mở ra “quá xa”, bắt đầu từ hào từ nói về quẻ), nó không đến để chứng minh, ở cấp độ của nó, để “tiếc nuối”. Bằng quan hệ với sự vận hành của hiện thực, hào sơ dương này biểu tượng cho thăng qua khả năng khởi nguyên riêng từ quẻ Càn (so sánh quẻ 1). Trên bình diện riêng tư của ứng xử nhân văn, nó thể hiện khi giáp mặt với cái là “ít xa cách với ta”, để biết “nhân cách” đạo đức của ta, sự xúc động đột ngột mở ra con đường đạo lý và cho phép dàn xếp sớm nhất mọi sai lầm hay các sai phạm của ta. Bởi vì chỉ có phản ứng tức thì, Vương Phu Chi nhấn mạnh, bởi nó là biểu hiện trực tiếp của ý thức khởi thủy và không bị cản trở bởi sự tính toán và “điều phỏng đoán” (đánh giá bằng “khen ngợi” hay “nguyền rủa”), đưa lại sự ứng xử hoàn toàn thỏa đáng (bởi sự thỏa đáng này được mở ra ngay khi đó); trái lại, khi “kiếm cách” hành động tốt hơn, theo cách tỉ mỉ nhất, và “được vận dụng” thì nó không còn cảm thấy sự cần thiết khẩn trương mà cái ngẫu nhiên dẫn đường và luôn luôn có nguy cơ chệch hướng.

Tác động của hào sơ là khá mạnh đối với toàn quẻ vốn dĩ khó khu biệt trong chuỗi tiếp nối các hào âm: bởi vì mọi hào đều vui vẻ trước sự trở về của dương, nó mở ra tương tự từ sự kích hoạt hiệu quả và do đó hướng tới trộn lẫn cùng một cảm xúc. Giữa chúng, sự biến đổi là rất nhỏ: hào nhị nhấn mạnh tính chất “thuận lợi” bởi vì nó có thể “dựa vào” khả năng đạo đức của hào sơ (xuất hiện như sự hóa thân của kiểu chữ nhân của Khổng Tử vốn nằm ngay ở dưới nó; hào tam, tuy hãy còn gần hào dương nhưng không còn tương tác (nghĩa của Pin – theo Vương Phu Chi), cần hoạt động một cách riêng biệt trước ảnh hưởng tiêu cực của hào lục vốn tương ứng với nó nằm trong quẻ đơn khác, và vì vậy nó chỉ được đánh giá với cách nhìn về “tính trầm trọng” của tình huống, cũng “không mắc lỗi”; hào tứ có lợi thế của một vị trí trung tâm giữa năm hào dương này nhưng ở đây, ngay trong lòng triều đình này, nó muốn tạo ra quyền lực, nó bỏ rơi các bạn đồng hành và trở lại “hoàn toàn một mình” gần hào sơ (tương tự ở đây nó được mời vào vị trí “thụt lùi”) để tiếp nhận sự “trở lại” của nó; hào ngũ, cuối cùng, không rút được một thuận lợi nào từ vị trí thống trị của nó để ngăn cản sự trở về này nhưng “kiểm tra những khiếm khuyết riêng của nó”, Vương Phu Chi chỉ rõ, quy thuận tùy ý với sự chi phối của dương. Bởi vậy, trong trường hợp này, như ta hiểu, hiệu quả chân thực không chỉ được phản ánh ở hào ngũ mà ngay từ hào sơ: không phải ở giai đoạn cực điểm mà ở giai đoạn của sự suy thoái.

Ở một thái cực khác, khi sự mở rộng đã hoàn thành, hào lục tạo ra một ngoại lệ. Nó không chia sẻ cái tổng thể đẹp đẽ này. Nó là hào li khai. Bởi vì nó có thể tận dụng tiện ích của hành động mà nó đã xa rời bởi sự kích hoạt khởi đầu để tìm cách ngăn cản sự quay về này. Cũng từ đó, nó “bị lạc đường” và tất nhiên nó là “hung”. Cũng như nó muốn đối lập với cả tiến trình của hiện thực, đây là “những thảm họa tự nhiên” xác nhận về quẻ này; và nếu nó lao vào một sự đối đầu vũ trang (ngược với hào sơ dương) nó sẽ đạt tới một “thảm họa” cho nó.

Hình thức cuối cùng của hào từ mang lại một bóng tối cho bức tranh. Khi tất cả được khớp lại ở đây để thiết lập cái nhìn về tính xác thực, sau đó tính xác thực này bị kích động, được mang lại để mở rộng ra vô cùng, tại chỗ tận cùng này là sự lo âu: bên kia của “thảm họa” mà nó phải chịu ngay lập tức, sự li khai này (qua uqan hệ với logic của sự điều chỉnh) có thể nó bị bài xuất hoàn toàn không? Hào từ kết luận bằng sự ghi nhận có thể dùng cảnh báo: “chi vu thập niên, bất khắc chinh – nghĩa là: tới mười năm (chung cục) cũng không phá được”). Lịch sử chứng minh khá rõ, trong thực tế, rằng thủ lĩnh của nó có bị giết cũng chưa đủ để cho cuộc bạo loạn dịu đi. Tiến trình tương tự như trong trật tự đạo đức, Vương Phu Chi nhấn mạnh: nếu dưới sự kích hoạt của tình cảm đạo đức, mong muốn của ta chịu theo lý trí (theo cách như các hào âm trước đó đối diện với hào dương) nó không còn gì, ở cấp độ ứng xử của ta, ngoài việc mạo hiểm thay đổi thói quen mà nếu quá nhỏ có thể xuất hiện, đưa tới những khó khăn khó có thể xua đuổi. Một vài sự vật còn giữ, bằng trật tự của các di hại, phản kháng lại sự loại trừ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: François Jullien – Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về kinh dịch – NXB ĐN 2007.