Thị trường là động lực tối thượng – Phần II


Hầu hết những ngân hàng lớn tại châu Á hiện đang cung cấp các dịch vụ ngân hàng thông qua các kênh điện tử (e-banking) hoặc qua môi trường di động (m-banking). Các nhà bán lẻ đang tích cực tung ra các nền tảng trực tuyến như một phương tiện thay thế để thực hiện các hoạt động kinh doanh với khách hàng. Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp ô tô và giao thông vận tải đang cung cấp các ứng dụng trực tuyến và/hoặc ứng dụng di động nhằm mang lại trải nghiệm số cho các khách hàng của họ. Ngay cả khu vực công cũng đang trở nên sôi nổi hơn với dịch vụ quản trị điện tử (e-gorvernance) dựa trên nền tảng kỹ thuật số cho các công dân.

Không cần nói cũng thấy công nghệ đã đặt ra một thách thức lớn cho hầu hết các doanh nghiệp dưới hình thức những xáo trộn thị trường. Nhưng dưới sự đe dọa của những thách thức cũng còn đó những cơ hội cho những doanh nghiệp nào dám đương đầu với tình thế một cách sáng tạo.

Diện mạo mới của cạnh tranh

Những xáo trộn gây ra bởi công nghệ không chỉ giúp loại bỏ ranh giới cạnh tranh giữa các quốc gia như Harold Sirkin đã đề cập. Số hóa cũng làm mất ranh giới giữa các ngành nghề. Cạnh tranh ngày nay có thể xảy ra ở bất kỳ ngành công nghệ hay lĩnh vực nào.

Hãy thử xem qua một ví dụ khác trong ngành khách sạn. Các khách sạn không chỉ cạnh tranh với những đối thủ của mình, mà còn phải đối mặt với những mối đe dọa từ các doanh nghiệp như Airbnb, nơi chỉ đơn giản là tập hợp các danh sách những căn hộ cho thuê tại một thành phố cụ thể. Trang web của doanh này có trên 1.500.000 danh sách ở 190 quốc gia và 34.000 thành phố và cung cấp đủ loại hình lựa chọn cho các khách du lịch dựa trên giá, chất lượng chỗ ở và địa điểm. Được thành lập vào tháng 8/2008 và có trụ sở tại San Francisco, California, Airbnb là một công ty được điều hành và sở hữu tư nhân (Brennan, 2011).

Các công ty vận tải truyền thống dường như đang “hoảng loạn” khi phải đối mặt với mối đe dọa thực sự. Sự nổi lên của các mạng lưới vận tải dựa trên nền tảng trực tuyến như Uber – tương tự như một số loại hình khác tại châu Á – Grab của Malaysia, Didi Chuxing của Trung Quốc (trước đó là Didi Kuaidi), và GoJek của Indonesia – đã tạo nên một làn sóng phản ứng tiêu cực từ các doanh nghiệp vận tải truyền thống, đặc biệt từ những nhà cung cấp dịch vụ taxi. Về phía các chính phủ liên uan cũng đang gánh chịu nhiều áp lực. Họ đang phải đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan đặc biệt kể từ khi những mạng lưới vận tải với nền tảng trực tuyến ngày càng trở nên phổ biến đối với khách hàng, dù cho vẫn còn tồn tại câu hỏi rằng có nên cho phép những mạng lưới này phát triển mạnh mẽ hay không khi mà chúng đang ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp vận tải truyền thống. Các doanh nghiệp này nhận thấy được tình thế bất lợi vì sự tiện nghi cùng mức giá cả hợp lý mà những công ty vận tải thay thế mang lại thậm chí các công ty này có thể không tuân thủ theo những quy định hoạt động chung.

Những sự xáo trộn tương tự từ lâu đã xuất hiện ở các ngành công nghiệp khác. Craigslist, một trang web quảng cáo rao vặt, nơi liên kết những người mua và người bán địa phương lại với nhau, đã làm cho vị thế của báo chí trở nên lỗi thời. Trang Amazon.com đã gây nên sự xáo trộn đối với các nhà xuất bản và những hiệu sách. Google và Baidu đã làm cho các thư viện trở nên ít được quan tâm hơn. Và danh sách này vẫn còn kéo dài. Trên thực tế, ngay cả những lĩnh vực bảo thủ như ngân hàng cũng không còn tránh được ảnh hưởng từ những sự xáo trộn nữa. Hiện tại, các ngân hàng đang phải cạnh tranh với những đối thủ mới, từ các nhà khai thác viễn thông và các công ty tài chính (Khung 3.1).

Khung 3.1: Các đối thủ mới trong ngành ngân hàng châu Á

Hệ thống tiền di động

Hệ thống tiền di động, còn được biết đến với tên gọi thanh toán di động hay ví điện tử, là các dịch vụ thanh toán hoạt động dưới các quy định, luật lệ về tài chính và được thực hiện từ hoặc thông qua một thiết bị di động. Thay vì phải chi trả bằng tiền mặt, chi phiếu, hoặc thẻ tín dụng, khách hàng có thể sử dụng điện thoại di động để thanh toán cho một loạt các sản phẩm và dịch vụ khác nhau.

Theo số liệu từ Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2012, các nước có tỷ lệ tài khoản ngân hàng chính thức thấp nhất ở hu vực châu Á lần lượt là: Campuchia đứng đầu với 3,6%, xếp thứ hai là Pakistan với 10% và Indonesia xếp thứ 3 với 19,5%; Việt Nam và Philippines lần lượt chiếm 21 và 26%. Ở khu vực Nam Á, có khoảng 33% người từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại một tổ chức tài chính chính thống vào năm 2012, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới. Số liệu này cũng cho thấy rằng 67% dân số tiềm năng chưa có giao dịch tài chính tại các ngân hàng, điều này làm cho Nam Á trở thành một trong những khu vực tăng trưởng tiềm năng nhất trên thế giới đối với ngành công nghiệp thương mại di động.

Sandy Shen, giám đốc nghiên cứu của công ty Gartner cho biết: “Đối với khu vực phi ngân hàng, các ngân hàng không nắm giữ vai trò dẫn dắt. Khu vực này đang được kiểm soát chủ yếu bởi ngành viễn thông với phạm vi phủ sóng rộng hơn về mạng lưới phân phối và có mối quan hệ khách hàng tốt hơn với những người sử dụng dịch vụ di động của họ”.

Cho vay ngang (Peer-to-Peer Lending)

Cho vay ngang hàng (P2P Lending) là việc cung cấp các khoản vay cho các cá nhân hoặc doanh nghiệp thông qua các dịch vụ trực tuyến giúp kết nối người đi vay người cho vay lại với nhau. Do các công ty cho vay theo hình thức P2P cung cấp những dịch vụ này hoàn toàn dựa trên nền tảng trực tuyến nên họ có thể hoạt động với chi phí quản lý thấp hơn và cung cấp các dịch vụ với mức giá rẻ hơn so với các tổ chức tài chính truyền thống. Vì vậy, những người cho vay thường kiếm được phần lợi nhuận cao hơn so với các sản phẩm tiết kiệm và đầu tư mà ngân hàng cung cấp, trong khi người đi vay có thể vay tiền với lãi suất thấp hơn, ngay cả sau khi công ty cho vay P2P đã thu một khoản phí cho việc tìm đối tác cho vay cũng như kiểm tra khả năng trả nợ của người đi vay.

Theo Tổ chức Quốc tế các Ủy ban chứng khoán, Hàn Quốc và Trung Quốc là những quốc gia chiếm thị phần lớn nhất trong thị trường tài chính P2P và thị trường chứng khoán vào năm 2013. Một báo cáo khác từ công ty nghiên cứu và tư vấn Celent đã chỉ ra rằng thị trường cho vay P2P ở Trung Quốc đã đạt đến mức giao dịch 940 triệu USD Mỹ vào năm 2012 và được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng vào những năm sắp tới.

Ngân hàng chỉ hoạt động trực tuyến

Các nhà khởi nghiệp công nghệ ở Trung Quốc là những người tiên phong trong lĩnh vực ngân hàng chỉ hoạt động trực tuyến tại châu Á. Ngân hàng trực tuyến đầu tiên của Trung Quốc là một liên doanh được điều hành bởi tập đoàn Tencent Holdings – nơi sản xuất, phát hành các trò chơi và mạng xã hội. WeBank là một trong năm tổ chức được cấp giấy phép hoạt động theo một chương trình thí điểm của chính phủ nhằm thành lập những ngân hàng do tư nhân điều hành, đây được xem như là một phần trong các động thái mở rộng ngành ngân hàng Trung Quốc. Các ngân hàng được cấp phép trong chương trình này dự kiến sẽ tập trung vào việc mở rộng tiếp cận tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ, cũng như cho các cá nhân.

Tencent nắm quyền quản lý WeChat – ứng dụng nhắn tin di động và mạng xã hội rất phổ biến và là một trong những mạng xã hội lớn nhất tại Trung Quốc, với 549 triệu người dùng hoạt động hàng tháng (tính đến quý I năm 2015). WeChat hiện đã cung cấp các dịch vụ tài chính cho người dùng dưới dạng thẻ ngân hàng kết nối với tài khoản WeChat của họ cùng với nền quản lý tài sản của Tencent, mang đến cho khách hàng cơ hội đầu tư vào các sản phẩm đầu tư của bên thứ bên thứ ba thông qua điện thoại thông minh của họ.

WeBank phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt đến từ tập đoàn mua sắm trực tuyến Alibaba Group Holding Ltd. và đối tác tài chính – dịch vụ của tập đoàn này là Ant Financial Services Group. Tập đoàn Ant Financial điều hành một ngân hàng trực tuyến với tên gọi Mybank và đã bắt đầu đợt huy động vốn lần thứ hai vào năm 2016. Một năm trước đó, Ant Financial đã huy động được hơn 12 tỷ NDT (1,82 tỷ USD) trong đợt huy động vốn đầu tiên từ các nhà đầu tư bên ngoài.

Mức độ mà những đối thủ trực tuyến có thể thâm nhập và làm xáo trộn ngành ngân hàng Trung Quốc phần nào vẫn còn phụ thuộc vào những quy định của chính phủ Trung Quốc. WeBank và Mybank có thể chưa phải là mối đe dọa đối với các ngân hàng Trung Quốc hiện tại, nhưng trong tương lai có thể thấy rằng những đối thủ mới sẽ bắt đầu thay đổi viễn cảnh về ngành ngân hàng ở Trung Quốc.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hermawan Kartajaya, Philip Kotler, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Advertisements

Về thế trận ngoại giao của Trung Quốc hiện nay – Phần cuối


Dự kiến bố trí nhân sự ngoại giao thời gian tới

Tờ Minh báo của Hong Kong phân tích, nhìn về độ tuổi, Dương Khiết Trì và Vương Nghị đã lần lượt 67 tuổi và 64 tuổi, chỉ có thể giữ chức một khóa. Bí thư Đảng ủy Bộ Ngoại giao Trương Nghiệp Toại đã gần 65 tuổi, hơn thế đã được bầu là ủy viên chủ nhiệm Ủy ban Ngoại sự Nhân đại toàn quốc. Cho nên, Trương Nghiệp Toại giữ chức ở Bộ Ngoại giao chỉ là quá độ, sẽ rất nhanh rút về tuyến hai. Trong tương lai người có thể kế thừa Dương Khiết Trì và vương Nghị, nhân vật “nóng” đầu tiên chính là đương kim Trưởng Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Tống Đào (Song Tao).

Tống Đào từng làm việc ở trường đại học, cơ quan nghiên cứu khoa học, huyện ủy, doanh nghiệp ngoại thương và từng lưu học tại Australia, hiện được đánh giá là cán bộ có năng lực chuyên môn, trình độ học vấn cao và được rèn luyện qua nhiều cương vị công tác. Năm 2000, Tống Đào được tuyển chọn và sau đó được bổ nhiệm làm Đại sứ Trung Quốc tại Philippines. Sau năm 2008, Tống Đào được đưa lên giữ chức Bí thư Ban Kỷ luật, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Năm 2013, Tống Đào được điều động giữ chức Phó Chủ nhiệm Văn phòng Tiểu Ban Lãnh đạo Trung ương về công tác ngoại sự, năm 2014, được đưa lên cấp bộ trưởng với chức phó Chủ nhiệm thường trực Văn phòng Tiểu Ban Lãnh đạo Trung ương về công tác ngoại sự và năm 2015 được điều động sang Ban Liên lạc đối ngoại trung ương. Tống Đào năm nay 63 tuổi, theo nhu cầu công việc, độ tuổi của các chức vụ cơ quan đảng vụ được mở rộng thích hợp, đến Đại hội XX sẽ là 67 tuổi, có thể được đưa lên giữ chức vụ cao hơn và nhiều khả năng sẽ thay Dương Khiết Trì giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban công tác Ngoại sự Trung ương.

Nhân vật thứ hai là Lạc Ngọc Thành, 54 tuổi. Lạc Ngọc Thành giữ chức vụ cấp thứ trưởng gần 4 năm, đã qua mặt nhiều vị thứ trưởng lão luyện, giữ chức thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao. Sự sắp xếp này của Tập Cận Bình chính là để Lạc Ngọc Thành thay Vương Nghị giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao khóa sau. Hơn thế, tại Đại hội XIX, Lạc Ngọc Thành được bầu là ủy viên Trung ương dự khuyết. Tuy nhiên, vẫn còn một quan chức khác có thể thay thế Vương Nghị. Đó chính là cựu Trợ lý ngoại trưởng đã chuyển chiến tuyến sang hệ thống kiểm tra kỷ luật là Lưu Kiến Siêu (Liu Jianchao). Mới đây, Lưu Kiến Siêu đang giữ chức Bí thư Ban kỷ luật Tỉnh ủy Chiết Giang đã được đưa về Bắc Kinh giữ chức phó Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban Ngoại sự Trung ương, trực tiếp phục vụ lãnh đạo cấp cao. Đây chính là sự sắp xếp của Tập Cận Bình để bồi dưỡng Lưu Kiến Siêu. Giống như Lạc Ngọc Thành, trong tương lai Lưu Kiến Siêu sẽ là nhân vật quan trọng trong hệ thống ngoại giao và cũng là ứng cử viên thay Vương Nghị giữ chức Ngoại trưởng khóa tới.

Ngoại giao – mặt trận thứ hai sau chống tham nhũng của Tập Cận Bình

Trong nhiệm kỳ thứ hai, Tập Cận Bình đặc biệt coi trọng lĩnh vực ngoại giao. Đây có thể là mặt trận thứ hai của Tập Cận Bình sau chiến dịch chống tham nhũng được triển khai ngay từ khi Tập Cận Bình mới lên nắm quyền.

Nguyệt san Ngoại tham bản tiếng Trung phát hành tại Hong Kong, nhận định, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị được đưa lên giữ chức Ủy viên Quốc vụ (chức vụ riêng có của Trung Quốc, trên bộ trưởng dưới Phó thủ tướng) chính là Tập Cận Bình đã khôi phục lại mô hình của Tiền Kỳ Tham 25 năm trước. Điều này không chỉ là nổi bật địa vị của Bộ Ngoại giao trong hệ thống Quốc Vụ viện (Chính phủ), mà còn tạo thành tổ hợp Dương Khiết Trì – Vương Nghị cùng phụ trách lĩnh vực ngoại giao ở hai hệ thống Đảng và Chính phủ. Đây là minh chứng cho thấy Tập Cận Bình bắt đầu coi trọng lĩnh vực ngoại giao trong công tác toàn cục.

Chuyên gia vấn đề Trung Quốc thuộc trường Đại học George Washington, giáo sư David Shambaugh (tên tiếng Trung là Thẩm Đại Vĩ) phân tích, Trung Quốc hiện nay tập trung cho phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa, điều này không chỉ đồng nghĩa với việc phải nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, mà một khẩu ngữ đặc biệt quan trọng là nâng tầm sức ảnh hưởng quốc tế. Bố trí nhân sự và cải cách mở rộng thể chế ngoại giao của Trung Quốc hiện nay cũng là để thích ứng với nhu cầu này. Theo giáo sư David Shambaugh, bằng chứng cụ thể nhất cho thấy Tập Cận Bình bắt đầu coi trọng công tác ngoại giao là trong cải cách Đảng, chính quyền, quân đội, đã thành lập Văn phòng Hợp tác quân sự quốc tế Quân ủy Trung ương. Cải cách cơ cấu Quốc Vụ viện đã thành lập Cục phát triển hợp tác quốc tế, ngoài nghiệp vụ thường nhật, còn đảm nhận viện trợ quân sự và viện trợ tài chính. Đáng chú ý hơn là trong cải cách cơ quan Đảng lần này, Tiểu ban Lãnh đạo Trung ương về công tác đối ngoại đã được nâng cấp thành Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương. Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương phụ trách ngoại giao của Đảng đã thiết lập thêm cơ quan mới là Cục điều phối ngoại sự các đảng.

Tại hệ thống Quốc Vụ viện trong cải cách cơ cấu đợt này cũng đã làm nổi bật vai trò và vị thế của công tác đối ngoại, nhất là công tác ngoại giao kinh tế. Ví như, ngoài Bộ Thương mại phụ trách ngoại thương ra, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, đều thiết lập thêm cơ cấu mở rộng công tác đối ngoại, lần lượt là Vụ Kinh tế quốc tế Bộ Ngoại giao, Vụ Quan hệ kinh tế quốc tế và Vụ Hợp tác tài chính quốc tế Bộ Tài chính. Những cơ quan này phụ trách xử lý công việc của các sân chơi như G20, APEC, BRICS. Theo giáo sư David Shambaugh, trong công tác ngoại giao kinh tế, Phó Thủ tướng Lưu Hạc đóng vai trò mấu chốt, trực tiếp triển khai thực hiện quyết sách liên quan và báo cáo với Tập Cận Bình. Hiển nhiên, phía sau Lưu Lạc còn có Vương Kỳ Sơn, có kinh nghiệm phong phú trong lĩnh vực kinh tế quốc tế hỗ trợ.

Liên quan đến vấn đề này, tờ Minh báo (Hong Kong) cho biết, trong 5 năm cầm quyền tiếp theo, Tập Cận Bình sẽ cùng với Vương Kỳ Sơn coi lĩnh vực ngoại giao là mặt trận thứ hai sau chiến dịch chống tham nhũng. Như vậy, lãnh đạo tối cao của Đảng và Nhà nước là Tập Cận Bình, cùng với lãnh đạo tối cao cảu Quốc Vụ viện (Chính phủ) là Lý Khắc Cường đều trở thành lãnh đạo thượng tầng của Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương. Điều này không chỉ thể hiện Trung Quốc đặc biệt coi trọng ngoại giao chính trị, mà còn chú trọng ngoại giao kinh tế. Hơn thế, Lý Khắc Cường thay vị trí vốn có của Phó Chủ tịch nước giữ chức phó Chủ nhiệm Ủy ban ngoại sự Trung ương chính là Tập Cận Bình muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác ngoại giao và Quốc Vụ viện không thể đứng ngoài cuộc chơi.

Theo Minh báo, bố trí Lý Khắc Cường mà không phải là Vương Kỳ Sơn thay Lý Nguyên Triều, giữ chức phó Chủ nhiệm Ủy ban ngoại sự Trung ương đã phản ánh tư duy của Tập Cận Bình trong lĩnh vực ngoại giao là Trung ương tăng cường thiết kế đỉnh cao đối với công tác ngoại sự. Tờ Thời báo học tập của trường Đảng trung ương mới đây đăng bài viết thừa nhận, so với Tiểu ban Lãnh đạo Trung ương về công tác ngoại sự, chức năng của Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương nhiều hơn, bố trí cơ cấu quy phạm hơn, thành viên tham dự đa nguyên, điều phối thống nhất có hiệu lực hơn, quyền uy quyết sách nghị sự cao hơn. Đây chính là bước đi đáp ứng yêu cầu công tác ngoại giao thời đại mới của Trung Quốc hiện nay, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc tập trung triển khai sáng kiến “Vành đai và Con đường”.

Liên quan đến bố trí nhân sự và cải cách cơ cấu trong hệ thống ngoại giao của Trung ương hiện nay, nguồn thạo tin Trung Quốc cho biết, Vương Kỳ Sơn ngoài chức phó Chủ tịch, còn giữ chức ủy viên Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương. Điều này cho thấy Vương Kỳ Sơn đã thực sự trở thành một trong những người xây dựng các quyết sách quan trọng của nền ngoại giao Trung Quốc hiện nay. Theo đó, Vương Kỳ Sơn có toàn quyền kiểm soát ngành ngoại giao cũng như chịu trách nhiệm về chiến lược ngoại giao trước Tập Cận Bình. Ví dụ điển hình là Ủy viên Quốc vụ, Ngoại trưởng Trung Quốc mới đây thăm Nhật Bản chính là thực hiện theo yêu cầu của Vương Kỳ Sơn, mục đích nhằm cải thiện quan hệ Trung – Nhật.

Theo nguồn thạo tin Trung Quốc, Lý Khắc Cường giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương là sự bố trí khéo léo, hợp lý, đảm bảo bộ máy ngoại giao của Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo luôn kiên cố và ổn định. Thứ nhất, Tập Cận Bình tránh được sự công kích của những người bất đồng chính kiến về việc làm “trống rỗng” quyền lực của Thủ tướng Lý Khắc Cường do Lý Khắc Cường là người của phái “Đoàn Thanh niên”. Thứ hai, ngoại giao là lĩnh vực liên quan đến bên ngoài, thành bại luôn tồn tại rủi ro lớn, Lý Khắc Cường đứng trong tầng quyết sách ngoại giao đồng nghĩa với gánh vác một phần trách nhiệm thất bại trong hoạt động đối ngoại. Thứ ba, Tập Cận Bình muốn đưa thông điệp ngoại giao kinh tế không kém phần quan trọng so với ngoại giao chính trị, là người đứng đầu Quốc Vụ viện, Lý Khắc Cường không thể đứng ngàoi cuộc. Ngoài ra, để tăng cường công tác ngoại sự, Tập Cận Bình sẽ tận dụng mọi nguồn lực trong hệ thống Quốc Vụ viện.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần IV


Hoa Kỳ cũng có thể hoàn tất những cam kết liên minh của mình bằng cách chuyển giao ưu thế thông tin chứ không cần thiết phải triển khai quân đội. Đặc biệt là cách viện trợ này có thể nới lỏng việc hợp nhất các quốc gia mới gia nhập các liên minh của Hoa Kỳ. Thật vậy, Hoa Kỳ đã nhấn mạnh sẽ cung cấp cho các quốc gia là “đối tác vì Hòa Bình” các hệ thống dựa trên cơ sở tình báo, coi đó là một bước nhằm tiến tới nhất thể hóa hàon toàn. Khác với việc quan hệ với các thành viên của liên minh, viện trợ thông tin có thể được cung cấp theo mức độ khác nhau cho từng nước cụ thể, tùy theo sự sẵn sàng của nước đó tiến tới thiết lập các mối quan hệ chặt chẽ hơn (thí dụ Cộng hòa Czech so với Tajikistan có thể được giúp đỡ tốt hơn). Những dữ liệu thu lượm từ xa (mỗi năm một thêm đáng giá) có thể thay thế công việc tuần tiễu biên giới vốn tốn kém và mạo hiểm. Được trang bị như vậy, các đồng minh có thể không cần phải xâm phạm qua bên kia biên giới mà vẫn có thể bảo vệ biên giới của mình chống lại mọi sự xâm nhập (chẳng hạn như cuộc truy quét năm 1995 của Thổ Nhĩ Kỳ đối với phiến loạn PKK người Kurd và Iraq).

Tương tự như trên, chuyển giao ưu thế thông tin có thể giúp phát triển an ninh khu vực. Các quốc gia cũng chỉ vì nghi kị các nước láng giềng, nên thường chuyển sang tích trữ quân bị, rồi chuyển thành xúc tiến chạy đua vũ trang. Nay nếu mọi nước đều có thể thấy rõ ý đồ của nước láng giềng muốn làm gì (nhờ có “dòng bits” do Hoa Kỳ cung cấp) và nếu mỗi nước cũng hiểu rằng việc tiếp cận với thông tin của Hoa Kỳ sẽ tùy thuộc vào việc quốc gia đó từ bỏ vũ khí tiến công và giữ vững một tư thế tốt, thì mọi việc khích lệ tìm kiếm vũ khí cũng sẽ được giảm đi. Thí dụ tại châu Á, nơi có các nước tuy về mặt chính thức thì liên kết với Hoa Kỳ (Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia) nhưng lại vẫn nhìn nhau với con mắt nghi kị, thì việc viện trợ được tiến hành như trên có thể làm dịu đi các mối lo sợ cũ, đồng thời không gây thêm những mối lo âu mới.

Gìn giữ Hòa Bình có thể là một ứng dụng khác nữa. Hiệp nghị Sinai giữa Israel và Ai Cập được tăng cường bởi các hệ thống cảm ứng của Hoa Kỳ, cho phép mỗi bên theo dõi những cuộc chuyển quân có thể là dấu hiệu về một cuộc tiến công của phía bên kia. Các hệ thống thông tin đến một lúc nào đó trong tương lai sẽ được người ta triển khai trên khu vực cao nguyên Golan, có thể cung cấp các thông tin không những chỉ rõ các cuộc tấn công sắp xảy ra, mà còn cả thông tin phát hiện mục tiên – khiến bất kỳ người xâm phạm khu phi quân sự đều là nguy hiểm. Hai thí dụ về an ninh khu vực và gìn giữ hòa bình trên đây đủ minh họa việc Hoa Kỳ không cần phải cung cấp một “con người cầm một khẩu súng đứng trên mặt đất” mà vẫn có thể có tác động ảnh hưởng đến các vùng xa xôi, vì lợi ích ổn định và hòa bình.

Để phát triển và duy trì một năng lực như thế cần có một số đổi mới về trang bị lực lượng. Trong danh mục khí tài của Hoa Kỳ vốn sẵn có các hệ thống cảm ứng có năng lực nhất (như tuần dương hạm Aegis và máy bay AWACS và JSTARS) như mọi người đều thấy rõ. Năng lực đó cần được phân bổ cho các mục tiêu, làm sao có thêm nhiều đối tượng được cung cấp, bao gồm những đối tượng ít có giá trị. Cần thiết nữa là những kỹ thuật tích hợp “dòng bits” với các hệ thống tác chiến đạn dược và chỉ huy xạ kích của các nước khác và với hệ thống cảm ứng của bản thân các nước đó. Bởi lẽ các đồn gminh ngày mai có thể bao gồm cả những nước thoạt đầu còn có ý nghi ngại (như Kuwait năm 1990) hoặc những nước vốn ở bên ngoài trách nhiệm phòng vệ của Hoa Kỳ (như Hàn Quốc năm 1950), việc tích hợp cần thực hiện sao cho đạt thời gian gần thực.

Nếu chuyển giao ưu thế thông tin trở thành phương thức có ích giúp đỡ được các nước khác, thì nó có thể tác động tương đối trực tiếp đến địa chiến lược. Thí dụ, cho một “dòng bits” phải đi qua không gian, nên việc nhận “dòng bits” ở bất kỳ nơi nào trên thế giới cũng phải chi phí tốn kém như nhau. Vì vậy trên thực tế, người ta không cần thiết phải đến tận nước Mỹ mới nhận được viện trợ.

Tuy nói như thế nhưng nhân tố địa lý vẫn là quan trọng đối với việc thu thập thông tin. Không gian tác chiến càng gần đất bạn, hoặc ít ra gần lãnh hải quốc tế, sẽ càng thuận tiện cho việc sử dụng khí cụ cảm ứng không vận hoặc đặt ở biển xanh. Xây dựng và thử nghiệm các phần mềm mô phỏng nếu không có kiến thức dựa trên quan sát trực tiếp chiến trường, sẽ trở thành một công việc khó khăn. Cũng như người ta từng ghi nhận rằng một biện pháp thuần túy chỉ dựa vào “dòng bits” thường là không thực tế. Công việc chuyển giao khoản mục cùng với việc cử nhân viên liên lạc – đó đúng là những việc có tính liên kết cụ thể. Do vậy khái niệm cho rằng viện trợ có thể được thực hiện, bất chấp địa lý, là lời nói thái quá và mỗi năm qua đi người ta càng ít nói những lời lẽ như thế.

Điều khiển học không gian xúc tiến ổn định như thế nào

Trao ưu thế thông tin cho đồng minh khiến các cường quốc lớn có thể tác động ảnh hưởng đến các sự kiện mà không mấy quan tâm đến địa lý. Và trên thực tế, kể từ năm 1945, Hoa Kỳ đã tỏ rõ năng lực sử dụng lực lượng vũ trang tại những nơi xa xôi nhất và thực hiện việc chỉ huy lực lượng với thời gian thực. Nhưng đạt tới việc chỉ đạo lực lượng của các quốc gia khác với thời gian thực – đó mới thật sự là một chiến tích. Nhưng bản thân việc đó vẫn không làm thay đổi tính toán cơ bản của một quốc gia dân tộc về an ninh quân sự.

Cái có khả năng làm thay đổi những tính toán này – đó chính là năng lực điều khiển học không gian tạo điều kiện để có thêm nhiều vai mới tham dự trò chơi an ninh, bao gồm cả những quốc gia dân tộc kém sung túc cũng như các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xuyên quốc gia, thậm chí cả các cá nhân hữu quan.

Cơ chế cơ bản của nó rất đơn giản: chỉ riêng các quốc gia dân tộc mới có quyền hợp pháp về sử dụng lực lượng vũ trang và chỉ những quốc gia giàu có mới đủ khả năng chi phí cho các hệ thống phức tạp phục vụ việc sử dụng lực lượng. Những thông tin quan trọng nhất – cơ sở của mọi tác chiến quân sự tương lai được toàn cầu hóa một cách nhanh chóng. Mọi việc trở nên minh bạch rõ ràng khiến tiến công là công việc khó khăn hơn so với việc phòng ngự và cũng khiến thách thức đối với hiện trạng là khó khăn hơn so với duy trì nó. Như vậy cũng có nghĩa là thông tin toàn cầu hóa đã bắt đầu chi phối việc sử dụng thuần túy lực lượng quân sự.

Dễ hiểu nguyên nhân vì sao lại như thế, chúng ta hãy xem xét “Mạng thế giới” (World Wide Web), sự vụ Rodney King, cuộc tiến công của Croatia vào Krajina và tàu vũ trụ Clementine là những báo hiệu về các nhân tố tác động ảnh hưởng đến an ninh toàn cầu trong thế kỷ XXI.

a/ Mạng Web giờ đây đã là yếu tố quen thuộc trong đời sống văn hóa đại chúng Mỹ, nó trở thành một khí cụ để bất kỳ ai cũng có thể dùng nó nhắn tin vào vũ trụ. Người ta không cần biết phải chăng nó có thể trở thành thư viện lớn nhất, hoặc là tấm biển quảng cáo lớn nhất của thế giới về lĩnh vực thông tin, nhưng rõ ràng ngày càng có thêm nhiều người nhận thức rằng người ta có thể dễ dàng có được điện tín toàn cầu, đi đôi với sự xuất hiện phần mềm có khả năng dạo quanh khắp nơi để thu lượm những “sợi nhung – điện toán” đủ để may nên một bộ đồ thời trang. Trường hợp một sự thật bất kỳ, nếu có thể trình bày được, thì sẽ có thể đưa được vào mạng. Và một khi sự thật đã có mặt mà bất kỳ ai thấy hứng thú và chăm chú theo dõi thì rốt cuộc cũng đều có thể tìm thấy được.

b/ Sự vụ Rodney King chứng tỏ rõ là người ta có thể dễ dàng biến đổi đời sống đường phố trở thành một khu hành chính, ở đó khắp mọi nơi đều có mặt sự giám sát tư nhân. Trong một thành phố lớn với số dân hàng triệu của châu Á ngày mai phải chăng rồi cũng có cơ may có một sự giám sát tương tự như thế? Sự kết hợp giữa giao thông trên đường phố tấp nập với chi phí gia tăng của mọi người mua các mặt hàng tiêu phí như máy quay camera video và các hệ thống điện thoại số, chứng tỏ người ta chỉ còn trải qua một vài bước nhảy cóc nữa thôi là có thể tiến tới bước tiến vọt từ sự kiện đến hình ảnh, “dòng bits” và điện tín toàn cầu. Đương nhiên hầu hết những gì người ta thu lượn được có thể còn vụt vặt. Nhưng sau khi có đủ số lượng, chọn mẫu một cách rộng rãi, sàng lọc kỹ lưỡng, tổng hợp một cách thông minh, sẽ đủ bảo đảm rằng không một điều có ý nghĩa nào lại không được đưa vào quan sát.

Những gì con người “tài tử” bỏ qua, thì các nhà báo chuyên nghiệp sẽ nắm bắt được. Những ỹ thuật như vệ tinh truyền phát trực tiếp (đi đôi với nén ép mã số để nén tín hiệu nhiều gấp bốn đến mười lần trên mỗi kênh), cộng với cạnh tranh toàn cầu làm sao tranh thủ được nhiều hơn nữa các nhà báo đi tới nhiều vũ đài khác nhau, đều nhằm bảo đảm phổ cập thông tin rộng khắp hơn nữa. Tại một hội nghị mùa hè năm 1995 do Hội đồng chiến lược quốc gia tài trợ nhóm họp ở ngoại ô Chicago, người ta đã rõ được rằng các nhà quân sự Hoa Kỳ thừa nhận sự có mặt phổ biến của báo chí trong các cuộc xung đột ngày mai. Và người ta cũng kết luận không thể có cách gì che mắt báo chí, không cho họ biết các công việc được tiến hành.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Bước đại nhảy vọt lùi của Trung Quốc – Phần đầu


Jonathan Tepperman

Trong suốt hàng thập kỷ, Trung Quốc đã tìm cách tránh khỏi hầu hết các vấn đề mà những chế độ độc tài gặp phải. Giờ đây, cuộc chơi quyền lực cá nhân của Tập Cận Bình có nguy cơ làm suy yếu tất cả những gì từng giúp Trung Quốc trở thành một trường hợp ngoại lệ.

Trong 40 năm qua, Trung Quốc đã tích lũy được một danh sách dài những thành tựu nổi bật của mình. Trong giai đoạn 1978 – 2013, nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ trung bình là 10%/năm, khiến thu nhập trung bình của người trưởng thành tăng gấp 10 lần. Sự tăng trưởng như vậy đã giúp khoảng 800 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo đói; đồng thời, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh của Trung Quốc cũng giảm 85% và tuổi thọ trung bình của nước này tăng thêm 11 năm.

Điều khiến cho tất cả những thành tựu này trở nên nổi bật hơn là việc Chính phủ Trung Quốc đã đạt được chúng trong khi vẫn duy trì nền chính trị đàn áp – điều được cho là rất khó xét theo tiền lệ lịch sử và lý thuyết chính trị. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi học giả về Trung Quốc Orville Schell mô tả bảng thành tích này là “một trong những phép lạ gây sửng sốt nhất về phát triển kinh tế trong lịch sử thế giới”.

Sự phi thường trong những thành tựu của Trung Quốc khiến cho những gì đang diễn ra ở đất nước này hiện nay đặc biệt bi thảm và đáng báo động. Với vỏ bọc chống tham nhũng, Chủ tịch Tập Cận Bình đang xóa bỏ một cách có hệ thống gần như mọi cải cách đã giúp Trung Quốc tăng trưởng ngoạn mục như vậy trong 4 thập kỷ qua. Nhằm thay thế một hệ thống còn thiếu sót nhưng rất thành công, ông đang gây dựng sự sùng bái cá nhân với quy mô rất lớn chỉ xoay quanh mình ông, tập trung trong tay quyền lực nhiều hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào kể từ thời Mao Trạch Đông.

Trong ngắn hạn, những nỗ lực của Tập Cận Bình có thể khiến Trung Quốc dường như bớt tham nhũng và trở nên ổn định hơn. Nhưng bằng việc phá hủy nhiều cơ chế từng khiến phép màu Trung Quốc có thể trở thành hiện thực, Tập Cận Bình có nguy cơ đảo ngược những thành quả đó và biến Trung Quốc thành một nhà nước khác theo “chế độ dùi cui” (hãy nghĩ tới một Triều Tiên phiên bản lớn và cởi mở hơn): yếu kém, thiếu hiệu quả, dễ vỡ và hiếu chiến. Và điều đó không chỉ khiến 1,4 tỷ công dân Trung Quốc mà còn cả những người khác phải lo ngại.

Để hiểu được điều gì khiến cho chiến dịch xây dựng đế chế cá nhân của Tập Cận Bình trở nên nguy hiểm đến thế, trước hết nên hiểu điều gì đã khiến cho Trung Quốc trở thành một trường hợp ngoại lệ trong thời gian dài đến vậy. Trong suốt lịch sử hiện đại, hầu hết các nhà độc tài và các nước độc đảng đều có chung một vài đặc điểm cơ bản. Quyền lực do một số rất nhỏ các cá nhân nắm giữ. Để duy trì quyền lực của mình, những cá nhân này đàn áp sự bất đồng quan điểm và cai trị bằng sự đe dọa. Vì cả quan chức lẫn người dân đều sống trong sợ hãi, nên họ cạnh tranh lẫn nhau để tâng bốc ông chủ của mình. Không ai nói ra sự thật, đặc biệt khi điều đó có thể làm xấu đi hình ảnh của họ hoặc các nhà lãnh đạo của họ. Kết quả là những bạo chúa ẩn dật – cái tôi của họ được những lời khen ngợi xum xoe không ngớt thổi phồng – nhận thấy mình ngày càng rời xa thực tế và phần còn lại của thế giới (hãy nghĩ tới Kim Jong-un, Bashar al-Assad hay Robert Mugabe) và cuối cùng cai trị bằng ý nghĩ nhất thời và bản năng, mà hầu như không có chút cảm giác nào về những gì đang thực sự diễn ra ở đất nước họ. Sự thiếu hiểu biết này có tác động tai hại đối với chính sách đối nội và đối ngoại.

Trong khoảng 35 năm – từ khi Mao Trạch Đông qua đời và Đặng Tiểu Bình phát động các cải cách của mình vào cuối những năm 1970 cho tới khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012 – Trung Quốc đã tránh khỏi rất nhiều cạm bẫy trong số này và thách thức quy luật về tính trung bình trong chính trị bằng cách xây dựng cái mà các học giả gọi là chế độ “chuyên quyền thích ứng”. Trong khi vẫn đi theo chủ nghĩa cộng sản trên danh nghĩa, quốc gia này đã đón nhận chủ nghĩa tư bản thị trường dưới nhiều hình thức và một số cải cách tự do hóa khác. Đương nhiên, hệ thống cũ vẫn rất hà khắc (hãy nhớ đến quảng trường Thiên An Môn) và còn lâu mới đạt đến sự hoàn hảo trên nhiều phương diện khác. Tuy nhiên, nó quả thực đã cho phép Chính phủ Trung Quốc hoạt động hiệu quả khác thường và tránh khỏi nhiều biểu hiện lệch lạc thường thấy ở các chế độ chuyên chế. Chẳng hạn, quyền kiểm duyệt chưa bao giờ biến mất, nhưng các đảng viên có thể không đồng tình và tranh luận về các ý tưởng, và những báo cáo nội bộ có thể thẳng thắn đến mức đáng ngạc nhiên.

Điều đó giờ đây không còn nữa. Ngày nay, Tập Cận Bình đang làm suy yếu một cách có hệ thống hầu hết những đặc tính từng khiến Trung Quốc trở nên khác biệt và từng giúp nước này vận hành tốt đến như vậy trong quá khứ. Những nỗ lực của ông có thể thúc đẩy quyền lực và uy tín của chính ông trong ngắn hạn và giảm bớt tình trạng tham nhũng dưới một số hình thức. Tuy nhiên, nhìn chung, chiến dịch của Tập Cận Bình sẽ gây ra những hậu quả tai hại về lâu dài đối với đất nước của ông và với thế giới.

Có lẽ đặc tính khác thường nhất của hệ thống do Đặng Tiểu Bình tạo dựng là cách nó phân bổ quyền lực giữa các nhà lãnh đạo khác nhau. Thay vì để cho một người thực thi quyền lực tối cao giống như hầu hết các chế độ độc tài, Đặng Tiểu Bình phân chia quyền lực cho Tổng bí thư Đảng Cộng sản (người đồng thời giữ chức Chủ tịch nước), Thủ tướng và Bộ Chính trị.

Đặng Tiểu Bình hy vọng hệ thống này sẽ bảo đảm rằng không một cá nhân nào có thể một lần nữa thực thi quyền kiểm soát theo kiểu Mao Trạch Đông – vì quyền lực không được kiểm soát của ông đã dẫn tới những sự lạm dụng và những sai lầm lớn, chẳng hạn như Đại nhảy vọt (ước tính đã có 45 triệu người thiệt mạng trong giai đoạn này) và Cách mạng Văn hóa (trong giai đoạn này, chính Đặng Tiểu Bình cũng bị thanh trừng và con trai ông bị tra tấn nặng nề dẫn tới tàn tật). Theo cách lý giải của Bùi Mẫn Hân, một chuyên gia về Trung Quốc thuộc Đại học Claremont McKenna, mô hình lãnh đạo tập thể mà Đặng Tiểu Bình đã thiết kế giúp loại bỏ những ý tưởng tồi tệ và thúc đẩy những ý tưởng tốt bằng cách nhấn mạnh sự suy tính thận trọng và ngăn chặn sự mạo hiểm.

Từ khi nắm quyền vào năm 2012, Tập Cận Bình đã có những hành động nhằm dỡ bỏ hệ thống lãnh đạo tập thể của Trung Quốc theo nhiều cách. Thứ nhất, trên danh nghĩa chống tham nhũng – một mục tiêu quan trọng mà Trung Quốc rất cần theo đuổi – ông đã thanh trừng với số lượng lớn các quan chức mà tội ác thực sự của họ, theo quan điểm của Tập Cận Bình, là không thể hiện đầy đủ sự trung thành đối với nhà lãnh đạo tối cao. Mạnh Hoành Vĩ, người đứng đầu Interpol bị Trung Quốc đột ngột bắt giữ gần đây, chỉ là trường hợp đáng chú ý diễn ra gần đây nhất: câu chuyện của ông hầu như chẳng có gì khác thường.

Trong 6 năm qua, đã có 1,34 triệu quan chức – một con số đáng kinh ngạc – trở thành mục tiêu của chiến dịch này, và hơn 170 lãnh đạo cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng đã bị cách chức (và phần lớn bị cầm tù). Cảnh ngộ của Mạnh Hoành Vĩ, giống như tình cảnh của Bạc Hy Lai – bí thư thành ủy Trùng Khánh đầy quyền lực bị hạ bệ vào năm 2012 – cho thấy cuộc thanh trừng của Tập Cận Bình không chừa một ai. Quả thật, số lượng ủy viên Ban chấp hành Trung ương đầy quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc bị xử lý kỷ luật từ năm 2012 đến nay còn nhiều hơn trong toàn bộ giai đoạn tính từ đó trở về Cách mạng Cộng sản.

Không hài lòng với việc chỉ loại bỏ mọi sự cạnh tranh, Tập Cận Bình còn củng cố quyền lực của mình bằng việc loại bỏ giới hạn về nhiệm kỳ đối với chức vụ của ông và từ chối chỉ định người kế nhiệm như những người tiền nhiệm đã làm vào giữa nhiệm kỳ của họ. Ông cũng đã đưa “Tư tưởng Tập Cận Bình” vào Hiến pháp Trung Quốc (một vinh dự mà ngoài ông ra chỉ có Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình có được); nắm quyền kiểm soát trực tiếp các lực lượng vũ trang; và biến mình thành “chủ tịch của mọi thứ” bằng cách thành lập nhiều nhóm công tác về các chính sách từ tài chính, vấn đề Đài Loan cho tới an ninh mạng – tất cả đều chịu trách nhiệm trực tiếp trước ông.

Đặc tính quan trọng thứ hai của hệ thống cũ là các quan chức ở mọi cấp đều có thể trông đợi được tưởng thưởng nếu đạt thành tích tốt. Đây không hẳn là chế độ nhân tài, và trong hệ thống này vẫn tồn tại tình trạng tham nhũng và bảo trợ ở mức độ khá lớn. Nhưng cả hai đặc tính này thực sự phục vụ cho điều tốt đẹp chung theo một cách chính: Nếu một quan chức đạt thành tích tốt, thì người đó có thể trông đợi nhận được một phần tiền thu được và được đề bạt đều đặn. Trái lại, Tập Cận Bình đã “thay thế hệ thống dựa trên sự khích lệ này bằng hệ thống dựa trên sự sợ hãi, theo cách nói của Bùi Mẫn Hân. Và sự thay đổi này có 2 vấn đề lớn. Thứ nhất, nó bóp méo ưu tiên của các quan chức, từ việc cho thấy thành quả sang việc thể hiện lòng trung thành. Vấn đề thứ hai, theo Alexander Gabuev, một chuyên gia về Trung Quốc thuộc Trung tâm Carnegie Moskva, là “khi chẳng còn gì khác ngoài nỗi sợ hãi, các quan chức sẽ hoảng sợ đến mức không làm bất kỳ việc gì nếu không có chỉ thị rõ ràng từ cấp trên. Vậy là cả bộ máy quan liêu trở nên bị động. Họ chẳng làm được bất ỳ việc gì”.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://foreignpolicy.com/2018/10/15/chinas-great-leap-backward-xi-jinping/

TLTKĐB – 24/10/2018

Chiến lược dùng nạn đói – Phần cuối


Đi đôi với điều đó, phần của giá phân bón trong giá sản phẩm nông nghiệp tăng từ 11 lên 16%. Những hậu quả của chiến lược này không chỉ hạn chế ở tình trạng đất bị nghèo đi, mà sức mua của lân bị giảm sút, mà còn bao gồm việc tăng giá trên thị trường. Ở nước kém phát triển, những hậu quả ấy còn nghiêm trọng hơn và sản xuất nông nghiệp còn giảm sút hơn. Những con số sau đây – có tính tới những sự khác nhau về khí hậu và địa chất – đem lại một ý niệm rõ ràng về sự mất cân bằng do việc dùng những kỹ thuật khác nhau và sự mất cân đối giữa các số lượng phân bón được sử dụng đẻ ra:

Sản lượng (tạ/ha)
Nước Lúa mì Lúa đại mạch Ngô
Pháp 38,88 33,60 41,04
Tây Ban Nha 15,06 15,93 34,91
Bồ Đào Nha 13,10 9,38 13,32

Như vậy, không những các nước nghèo khổ mà cả các nước châu Âu cũng có nguy cơ bị đẩy về phê các nước nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp. Liên Xô, sau Mỹ là nước xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới phốt-phát nhưng gần đây cũng đã chuyển sang phe các nước nhập khẩu, với 10 triệu tấn năm 1972.

Có lẽ đó là lý do duy nhất đã thúc đẩy chính phủ Pháp cải tổ lại khu vực phân hóa học năm 1977 và quyết định sáp nhập hai công ty Nhà nước, EMC (Doanh nghiệp mỏ và hóa chất) và CDF – Hóa chất. Đồng thời chính phủ Pháp cũng khuyến cáo tập trung khu vực tư nhân vào chuyên ngành này: GESA (Tổng công ty phân bón), chi nhánh của Rhône-Poulenc và của Pechiney – Ugine – Kulmann), phải kiểm soát được SOPAG (Công ty cổ phần Gardinier), đứng đầu trong khu vực này.

Phải đặt “vấn đề nhỏ” về vùng Sahara thuộc Tây Ban Nha cũ trong bối cảnh này. Vùng đất ấy, do sự giàu có về phốt-phát và sự dễ dàng khai thác nó, có thể củng cố sức mạnh của Mỹ về phân bón và… uranium. Vì phốt-phát không phải là sự giàu có duy nhất của Sahara như người ta thường tưởng. Một mỏ sắt khoảng 70 triệu tấn đã được phát hiện trong vùng Rio de Oro. Cũng vậy, mọi cái cho thấy ở đó có cả đồng, uranium, dầu mỏ (và nước nữa!). Về dầu mỏ, làm sao có thể nghĩ rằng các công ty lão luyện như Exxon, Texaco, Mobil Oil, Gulf Oil, Elf Erap lại bỏ mất chừng 500 triệu USD mỗi năm với những hy vọng không chắc chắn được? Còn về uranium, một công ty Mỹ, Gardinier Big River, và một công ty Pháp, CDF-Hóa chất, chi nhánh của Công ty Than đá Pháp, đã bắt đầu khai thác theo một hệ thống cho phép khai thác nó từ… Phốt-phát. Điều này sẽ không thể làm được nếu không điều hòa những lợi ích “vô tư” của một số nước đã cố giữ không can thiệp vào cuộc xung đột Sahara” (Mỹ, Pháp, Anh…).

Còn về nước, người ta đã phát hiện được một tầng nước ngầm 60.000 km2 mà nếu được khai thác, sẽ làm hoàn toàn thay đổi sự cằn cỗi của vùng này và, do đó, những triển vọng kinh tế và nông nghiệp của nó.

Mỏ Fos Bucraa là gì? Đó là mỏ phốt-phát lộ thiên rộng 268 km2. Công ty Fos Bucraa, về mặt chính thức, là một chi nhánh của Viện công nghiệp quốc gia (Tây Ban Nha) mặc dầu vốn của nó cũng đến từ những khu vực khác ít chính thức hơn: Ngân hàng Paris và Hà Lan, Ngân hàng Rothschild, Eximbank, Wisconsin National Bank…

Năm 1969, các công trình được khởi đầu ở Fos Bucraa, dưới dấu hiệu “hợp tác quốc tế”.

+ Cảng mỏ, có thể nhận những chiếc tàu 100.000 tấn, được xây dựng bởi C&T (Tây Ban Nha), Hersent (Pháp), Straban (Đức) và De Long and Co (Mỹ). Chi phí cho các công trình này: 25 triệu USD.

+ Nhà máy nghiền và rửa quặng có trị giá 12 triệu USD, do Centauro (Tây Ban Nha) và Klockn, Humboldt và Deutz (Đức) thực hiện.

+ Những thảm quay chuyển quặng mỏ ra cảng (100 km, với năng lực vận tải 2000 tấn mỗi giờ, tốc độ 16km/h) và những trạm tương ứng của chúng, với giá thành trên 100 triệu USD, do Krupp (Đức) thực hiện.

+ Những nhà máy điện do General Electric ký hợp đồng, những máy xúc do Bucyrus, những xe tải do Wabco.

Tóm lại, một sự thông đồng quốc tế tuyệt vời!

Kiểu khai thác lộ thiên này và giá nhân công thấp cho phép bán mỗi tấn phốt-phát ở Fos Bucraa (một trong những thứ phốt-phát có hàm lượng giàu nhất thế giới: theo chỉ số BLP, hàm lượng này là từ 65 đến 80%), với giá 10 USD FOB.

Việc buôn bán và xử lý thứ phốt-phát này (để biết nó thành axit phosphoric được dùng trong nông nghiệp) được thực hiện qua trung gian một công ty khác của Tây Ban Nha (trong đó thấy có những quyền lợi nếu không phải của người Marocco thì ít ra cũng của các nhân vật Marocco). Công ty này đã xử lý và buôn bán phốt-phát Marocco từ các mỏ Yusufia và Kuribia… Xin chú ý rằng việc thanh toán về xử lý phốt-phát Marocco này được người Marocco thực hiện theo giá biểu nguyên liệu 12 USD mỗi tấn đã xử lý. Marocco còn bảo đảm cho Tây Ban Nha một giá biểu ưu tiên về việc mua phốt-phát của mình bằng 40% thời giá thế giới.

Khi việc khai thác và xử lý phốt-phát Bucraa vừa bắt đầu, người ta liền thấy rõ sự sáng suốt của những khoản đầu tư này: tiền lãi ròng năm 1974 là 15 triệu USD; năm 1975, với sản lượng 2,8 triệu tấn, tiền lãi ròng 25 triệu USD, trong đó 15 triệu dành để trả các khoản vay và 10 triệu trả cho các “cổ đông”.

Năng lực sản xuất của những cơ sở hiện có là 12 triệu tấn mỗi năm. Tức là một nửa mức tiêu dùng thế giới.

Thế còn dự trữ của Fos Bucraa là bao nhiêu? Nó được ước lượng khoảng 8000 đến 10000 triệu tấn. 10.000 triệu tấn dự trữ cho một năng lực sản xuất 12 triệu: thật là một công cụ đẹp đẽ trong chiến lược nạn đói, và công cụ này, từ khi Tây Ban Nha nhường Sahara lại cho Marocco, đã nằm trong tay Mỹ và các công ty đa quốc gia.

Uranium, phốt-phát, sắt: ba lý do thật sự của nhiều cuộc thông đồng, liên minh, “tránh né” trong cuộc xung đột ở Sahara, trong đó cả phía này lẫn phía kia đã không đếm xỉa tới quyền lợi của những người chủ sở hữu tự nhiên và chính đáng của lãnh thổ này, như từ bao giờ vẫn thế.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần IV


Tuy nhiên, cần lưu ý rằng thực chất của cảnh báo chiến lược mà NATO nhận được về cuộc xâm lược hay gây hấn của Nga ở quy mô nhỏ hơn cũng là một vấn đề gây tranh cãi. Các giả định khác mà nghiên cứu của RAND đưa ra cũng gây tranh cãi – chẳng hạn như quy mô của lực lượng xâm lược của Nga, bản chất chính xác của chiến dịch của Nga và cách nước này tổ chức cuộc tấn công, và liệu Belarus có cố gắng duy trì lập trường trung lập hay không.

Trong suốt Chiến tranh Lạnh, có một nhất trí chung rằng những lợi thế về chất lượng của NATO trong các khả năng thông thường đã giúp bù lại cho lợi thế về số lượng lớn hơn của Hiệp ước Vácsava. Hiện nay, cân bằng quân sự NATO – Nga dọc theo đường biên giới chung của họ thể hiện một bức tranh phức tạp hơn khi các yếu tố định tính được cân nhắc, một lý do khiến các đánh giá của phương Tây về mối đe dọa quân sự của Nga đối với sườn Đông biến động và có thể thay đổi đáng kể. Chẳng hạn như, cách đây không lâu, nhiều chuyên gia đánh giá NATO có lợi thế quyết định trong trường hợp xảy ra đối đầu quân sự. Tuy nhiên, theo sự đồng thuận hiện nay, một lực lượng xâm lược của Nga có thể nhanh chóng áp đảo các tuyến phòng thủ của NATO, phần lớn là vì Nga đã thu hẹp khoảng cách về chất lượng với NATO trong các khả năng thông thường. Những người ủng hộ quan điểm này đã nhấn mạnh các diễn tiến sau:

+ Kể từ năm 2008, khi Nga phát động một chương trình cải cách và hiện đại hóa quân sự đầy tham vọng và đầy đủ nguồn lực, các khả năng phòng không của Nga đã cải thiện đáng kể. Đặc biệt đáng lo lắng là việc nâng cấp các khả năng A2/AD ở Kaliningrad với việc triển khai hệ thống phòng không S-400 mới; dàn phóng tên lửa phòng vệ bờ biển đặt trên đất liền; và các tên lửa hành trình có khả năng hạt nhân đặt trên tàu; gây ra một thách thức nghiêm trọng cho các tàu và máy bay của NATO trên vùng lãnh thổ của chính họ và trên biển Baltic.

+ Nhờ có các cơ cấu mệnh lệnh, nhân sự, vũ khí và các cuộc tập trận đượ cải thiện, các lực lượng Nga được tổ chức hiệu quả hơn, được huấn luyện và trang bị tốt hơn, và trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao hơn so với thời gian chiến tranh với Gruzia. Điều đặc biệt quan trọng là, Nga đã tăng cường số lượng các cuộc tập trận thường xuyên và chớp nhoáng có sự tham gia của tất cả các lực lượng vũ trang, các quân khu, và các hoạt động liên ngành và liên quân thường xuyên Các cuộc tập trận này đã giúp quân đội Nga tiến bộ trong việc khắc phục các thiếu sót trong các sắp xếp chỉ huy và kiểm soát mới và thống, cùng với việc huy động và tăng cường khả năng trên khắp các quân khu của Nga.

+ Quân khu phía Tây của Nga có một số đơn vị chiến đấu trên bộ hạng nặng được chỉ định mà cực kỳ cơ động và luôn trong trạng thái sẵn sàng cao dưới sự chỉ huy của các cơ quan đầu não cấp quân đoàn. Có nguồn tin cho biết Nga đã cải thiện khả năng ra quyết định và tiếp viện nhanh, và khả năng cho các hoạt động tấn công quy mô lớn.

+ Nga có lợi thế là các tuyến thông tin liên lạc nội bộ và một mạng lưới các tuyến đường sắt mở rộng hướng đến Nga trên khắp khu vực Baltic. Cả ba quốc gia Baltic đều bị kẹp giữa Kaliningrad và nước Nga lục địa – và một số cảng và sân bay quan trọng đối với các hoạt động phòng thủ của NATO trong khu vực Baltic đều nằm trong phạm vi 30 dặm của biên giới Nga.

Tuy nhiên, trong việc đánh giá những diễn tiến này, quan trọng là phải hiểu rằng các quan chức Nga thường xây dựng hình ảnh công khai tích cực về các lực lượng vũ trang của mình vì những lý do chính trị trong nước các tuyên bố của Nga về vị thế nước lớn. Tháng 6/2016, một cuộc thanh trừng các quan chức cấp cao đã được tiến hành trong bộ chỉ huy Hạm đội Baltic vì đã bóp méo mức độ sẵn sàng trong các cuộc thanh tra chớp nhoáng. Các báo cáo khác cũng đã cho thấy các vấn đề mang tính hệ thống khi quân đội báo cáo về các cuộc thanh tra đã phóng đại sự sẵn sàng và các chỉ số biểu hiện khác. Ngoài ra còn có các dấu hiệu cho thấy các báo cáo về việc sản xuất vũ khí đã phóng đại mức độ các trang thiết bị mới và cải tiến được nhập kho thay vì các thiết bị nâng cấp và tân trang.

Những nỗ lực này nhằm che đậy sự yếu kém trong quân đội Nga, cùng với các yếu tố hoạt động và cơ cấu khác gây tác động xấu tới hiệu quả chiến đấu của các lực lượng Nga, đã làm dấy lên nghi vấn đối với một số đánh giá mang tính báo động hơn về các khả năng thông thường của Nga. Các nhà phân tích đỡ bi quan hơn về thế cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga đã lập luận như sau:

+ Từ năm 1991 đến 2008, các lực lượng vũ trang Nga đã bị suy giảm nghiêm trọng tinh thần sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và trang thiết bị. Cuối những năm 1980, ước tính Nga đã dành 15% GDP cho quốc phòng và ngành công nghiệp quốc phòng của Nga đã tuyển dụng hơn 6 triệu người. Năm 1997, chi tiêu quốc phòng Nga chỉ chiếm hơn 4% của con số GDP nhỏ hơn nhiều và và tỷ lệ việc làm trong ngành công nghiệp quốc phòng đã giảm khoảng 50%. Chương trình cải cách và hiện đại hóa được phát động trong năm 2008 do đó đã bắt đầu từ một nền tảng vô cùng thấp. Những tiến bộ mà lực lượng vũ trang Nga đạt được trong vòng 8 năm qua cần phải được đánh giá trong bối cảnh này;

+ Những hoạt động quân sự Nga đã tham gia trong thập kỷ vừa qua không phải là một bài kiểm tra nghiêm túc về hiệu quả chiến đấu, xét bản chất của lực lượng đối kháng, địa lý, và môi trường tương đối ôn hòa trong đó các lực lượng của Nga đang hoạt động; các điều kiện chiến đấu họ sẽ phải đương đầu khi chống lại các lực lượng NATO trên mặt trận phía Đông cũng khác biệt đáng kể.  Tại Syria, các đơn vị của Nga đã cho thấy sự tổ chức, phối hợp, chỉ huy và điều khiển tốt hơn so với các đơn vị đã tham chiến với Gruzia, nhưng vẫn thiếu các loại đạn dược có độ chính xác cao và các máy bay không người lái liên tục. Hơn nữa, những vấn đề đang tiếp diễn trong việc huấn luyện và tinh thần của các lực lượng trên bộ của Nga, mà sẽ làm giảm hiệu quả chiến đấu, làm dấy lên những nghi ngờ nghiêm túc về khả năng của họ trong việc chiến đấu với những lực lượng mạnh hơn nhiều đối thủ từng gặp ở Gruzia, Ukraine và Syria;

+ Gần đây hơn, vào năm 2014, có tin cho biết Bộ tổng tham mưu Nga buộc phải tập hợp gấp một tiểu đoàn xe tăng từ các đơn vị đóng quân gần Mông Cổ để tiếp viện cho các lực lượng ly khai ở miền Đông Ukraine do thiếu nhân sự được đào tạo tốt gần khu vực hoạt động;

+ Ngoại trừ các hệ thống pháo tầm xa và hệ thống vũ khí khai hỏa trực tiếp khác, các lực lượng vũ trang Nga vẫn thua các lực lượng Mỹ và NATO về vũ khí công nghệ cao mà phần lớn các chuyên gia quân sự Nga đều tin rằng đó là trọng tâm của chiến tranh hiện đại và sẽ quyết định kết quả của một cuộc chiến. Những vũ khí này bao gồm C4ISR (chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, điện toán, tình báo, giám sát, do thám) hiện đại bậc nhất và khả năng tác chiến điện tử, các vũ khí tấn công thông thường chính xác cao, và máy bay không người lái – những thiếu hụt mà Tổng tham mưu trưởng của Nga Valery Gerasimov đã thừa nhận. Hầu hết trang thiết bị do các lực lượng trên bộ và trên không của Nga vận hành đều là phiên bản cập nhật của các mô hình thế hệ cũ của Xô viết.

+ Chương trình cải cách quân sự của Nga không thống nhất, thiếu hoàn thiện và không thể khắc phục một số thiếu sót nghiêm trọng. Những thiếu sót này bao gồm tính bền vững và tính cơ động chiến lược bị hạn chế do thiếu công tác hậu cần, hỗ trợ hậu phương, và các phương tiện vận tải; các đơn vị thường xuyên thiếu quân số và huấn luyện sơ sài, tiếp tục phụ thuộc vào số lính nhập ngũ ngắn hạn không đồng đều và một nhóm hạn chế gồm nhân viên hợp đồng và hạ sĩ quan quân đội; một ngành công nghiệp quốc phòng tiếp tục sản xuất tràn lan trang thiết bị chất lượng kém do tham nhũng, quản lý kém, công nghệ lạc hậu, mất khả năng tiếp cận các ngành công nghiệp quốc phòng chuyên biệt ở Ukraine, và các biện pháp trừng phạt của phương Tây làm suy yếu khả năng của Nga trong việc nhập khẩu các công nghệ kép và áp dụng chúng vào các hệ thống quân sự.

(còn tiếp)

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018

Việt Nam tận dụng xung đột Mỹ – Trung để tái cân bằng quan hệ kinh tế và an ninh


Cả châu Á đều chung tâm trạng “thấp thỏm” khi Trung Quốc và Mỹ chưa chắc liệu sau thời hạn “ngừng chiến” 90 ngày có tháo gỡ được bế tắc liên quan đến cuộc xung đột thương mại hay không. Trong khi đó, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc đang làm thay đổi mối quan hệ của Việt Nam với nước láng giềng phương Bắc và tạo điều kiện để Hà Nội đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế và an ninh.

Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc để thúc đẩy nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng vì đây là đối tác thương mại lớn nhất. Tuy nhiên, có dấu hiệu cho thấy Hà Nội đang tái cân bằng mối quan hệ này.

Người dân đã phản ứng trước dự luật thành lập 3 đặc khu, dẫn đến cuộc biểu tình rầm rộ hồi tháng 6 để phản đối kế hoạch được xem là tạo điều kiện cho Trung Quốc hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam. Quốc hội Việt Nam đã hoản bỏ phiếu vào tháng 10/2018 và lặng lẽ trì hoãn lần nữa việt xem xét dự luật này cho đến tháng 5/2019. Động thái này được coi là dấu hiệu cho thấy Việt Nam cảnh giác hơn với ảnh hưởng của Trung Quốc và đang lợi dụng sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc để tái cân bằng mối quan hệ.

Ông Nguyễn Ngọc Trường, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển quốc tế (CSSD) tại Hà Nội cho rằng về mặt chính trị, việc cân bằng mối quan hệ với Trung Quốc rất tốt cho Việt Nam: “Quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ nếu tốt đẹp thì không hẳn là tốt cho Việt Nam, mà xấu đi cũng không phải là điều tệ với Việt Nam. Với những quốc gia nhỏ như Việt Nam, quan hệ tốt đẹp giữa hai cường quốc lại có khía cạnh nguy hiểm hơn. Dưới thời Obama, khi Mỹ và Trung Quốc có quan hệ tốt đẹp, Trung Quốc đã cố gắng làm những việc rất có hại liên quan đến các đảo nhân tạo trên Biển Đông”.

Có ý kiến cho rằng lời lẽ phản đối của Hà Nội đối với Bắc Kinh liên quan đến những tranh chấp trên biển cũng quyết liệt hơn khi Việt Nam có quan hệ với một nước Mỹ quyết đoán hơn.

Chiến lược về thương mại

Trong thương mại, Việt Nam đã không bỏ lỡ cơ hội bùng phát cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung để trở thành điểm đến hàng đầu cho các nhà sản xuất muốn tránh đòn thuế quan.

Ông John Rockkeep, giám đốc Phòng Thương mại Mỹ chi nhánh TPHCM, cho biết ông đã chứng kiến sự gia tăng lớn về số lượng các công ty quan tâm đến việc chuyển dịch sản xuất từ Trung Quốc đến Việt Nam. Từ tháng 9/2018, cứ mỗi tuần, có 4 công ty tiếp cận chi nhánh của ông để được tư vấn về việc chuyển đến Việt Nam – gấp 4 lần so với các tháng trước.

Zhang Zhang Diansheng, tổng giám đốc Trung tâm dịch vụ kinh doanh Hàng Sinh, cho biết hiện tượng chuyển dịch sản xuất bắt đầu vào cuối tháng 8/2018, nhưng sự gia tăng cực kỳ rõ ràng. Trong 3 tháng, Zhang nhận được câu hỏi từ hơn 100 công ty, gấp 2 đến 3 lần số vụ so với cùng thời điểm năm ngoái. Ông tin rằng đây mới chỉ là sự khởi đầu, vì thỏa thuận đình chiến giữa Trung Quốc và Mỹ chỉ là tạm thời và xung đột thương mại là không thể ngăn chặn được.

Cuộc chiến thương mại cũng nêu bật tình trạng phụ thuộc kinh tế mang tính lịch sử của Việt Nam vào Trung Quốc và làm tăng rủi ro cho Việt Nam. Lý do là càng nhiều công ty chuyển dịch từ Trung Quốc sang Việt Nam, thì càng nhiều khả năng Washington sẽ từ chối các sản phẩm của Việt Nam.

Vì vậy, cuộc chiến thương mại càng củng cố quyết tâm của Việt Nam đa dạng hóa các rủi ro và thúc đẩy phát triển dựa trên nỗ lực tích cực theo đuổi các hiệp định thương mại với nhiều đối tác.

Ông Max Maxfield Brown, người đứng đầu đơn vị tình báo kinh doanh Dezan Shira Muff phụ trách khu vực ASEAN, cho rằng không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam đã cố gắng phát triển mối quan hệ với các đối tác đầu tư lớn như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan. Từ góc độ đầu tư, Việt Nam đang lấy những đối tác này làm đối trọng với Trung Quốc mà không phải hạn chế đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam.

Trong những năm gần đây, Việt Nam cũng ráo riết theo đuổi các hiệp định thương mại lớn cũng như tăng số lượng đối tác. Tháng này, Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định thương mại đối tác toàn diện và tiến bộ (CPTPP – không có Trung Quốc và Mỹ) và trong năm nay cũng đã đạt được thỏa thuận về Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU.

Brown nói: “Đây không phải là cơ hội để Việt Nam trở thành một thế lực thống trị khu vực, vì vẫn còn Trung Quốc ở đây, nhưng Việt Nam có thể chơi bài của mình để trở thành nền kinh tế thực sự phát triển và thành công”.

Quan hệ đối ngoại

Hà Nội đã cố gắng áp dụng chính sách đa dạng hóa-đa phương hóa trong quan hệ ngoại giao. Sách lược này cũng giúp Việt Nam chống lại Trung Quốc.

Zhang Jie, nhà nghiên cứu về Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, nói: “Thiếu lòng tin chính trị với Bắc Kinh, trong khi an ninh không đủ mạnh, Việt Nam đã nỗ lực tăng cường quan hệ với Mỹ và các nước khác để lấy làm đối trọng với Trung Quốc”.

Ở Biển Đông, Việt Nam đã thúc đẩy mạnh mẽ một giải pháp đa phương thông qua bộ quy tắc ứng xử trong ASEAN và đã tìm thấy sự ủng hộ từ chính quyền Trump quyết đoán hơn.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã gặp nhau tại Thượng Hải vào tháng 11, cam kết tăng cường quan hệ song phương, nhưng điều đó không ngăn được nhà lãnh đạo Việt Nam nêu ra những vấn đề nhạy cảm như Biển Đông.

Chỉ vài ngày sau đó, Bắc Kinh đã bị cả Washington và Hà Nội đả kích vì những động thái trên quần đảo Trường Sa: Việt Nam yêu cầu Trung Quốc ngừng vận hành các trạm thời tiết mới trên các đảo nhân tạo, nói rằng hành động của Bắc Kinh đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này; Washington lặp lại những lời chỉ trích của Việt Nam trong một động thái chưa từng có, yêu cầu Trung Quốc gỡ bỏ các cơ sở tên lửa khỏi Trường Sa, dù tại Washington vừa diễn ra cuộc họp cấp cao Mỹ – Trung về vấn đề an ninh.

Việt Nam và một Washington ngày càng quyết đoán đang tìm kiếm nhiều hiệp lực hơn trong lĩnh vực an ninh.

Tại hội nghị cấp cao ASEAN ở Singapore vào giữa tháng 11/2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã gặp Phó tổng thống Mỹ Mike Pence và cảm ơn Mỹ vì ủng hộ quan điểm của ASEAN về vấn đề Biển Đông. Về phía mình, ông Pence cam kết bảo vệ quyền tự do hàng hải trên khắp khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Theo ông Dereck Grossman, nhà phân tích quốc phòng cao cấp của RAND Corporation, Hà Nội đã tăng cường quan hệ quốc phòng với nhiều cường quốc – bao gồm và đáng kể nhất là với Mỹ – để làm phức tạp mọi nỗ lực của Trung Quốc nhằm thay đổi hiện trạng ở Biển Đông trong tương lai.

Collin Koh, chuyên gia nghiên cứu tại Chương trình An ninh Hàng Hải thuộc Đại học Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, bình luận Việt Nam là một trong những tiếng nói lớn nhất ở châu Á trong việc chống lại Bắc Kinh trên biển: “Việt Nam liên tục lên tiếng bất cứ khi nào có vấn đề gì xảy ra ở Biển Đông. Việt Nam đã phản ứng, trong khi các bên liên quan khác chỉ im lặng, và vì thế, Trung Quốc sẽ không muốn làm cho to chuyện thêm nữa”.

Song song với chiến lược đối ngoại đa dạng hóa – đa phương hóa, Việt Nam vẫn tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi của mình như chính sách “ba không”: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất kỳ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.

Ngay cả không có Mỹ, Việt Nam cũng vẫn tiếp tục đa dạng hóa các đối tác an ninh – điều này giúp Việt Nam đối phó với những bất đồng trong quan hệ với Trung Quốc.

Trong chuyến thăm của Tổng thống Ấn Độ Ram Nath Kovind đế Việt Nam tháng trước, lãnh đạo hai nước đã nhất trí thúc đẩy hợp tác thương mại và tăng cường hợp tác về dầu khí và quốc phòng. Tổng thống Ấn Độ cũng tuyên bố hai nước có tầm nhìn chung về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với cam kết tự do hàng hải và thương mại trên biển.

Cái giá cho Việt Nam

Năm ngoái, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đề nghị Việt Nam tăng mua vũ khí để giảm thặng dư thương mại lớn với Mỹ, nhưng chưa có thỏa thuận nào được công bố.

Ông Koh Koh nói: “Chính phủ Việt Nam không thể hiện là quá thân thiết với Mỹ. Ông Trump muốn bán vũ khí, nhưng vấn đề là Việt Nam không có khả năng mua được. Thay vào đó, Việt Nam có thể sẽ tập trung vào các giao dịch mua hàng ở “cấp độ thấp” như các thiết bị điện tử, thay vì các mặt hàng rất đắt đỏ. Việt Nam không muốn quá “chịu ơn” Mỹ, mà hướng đến mục tiêu duy trì một cơ sở đối tác cung cấp vũ khí đa dạng, từ Hàn Quốc đến Ấn Độ và chủ yếu là từ nguồn vũ khí truyền thống là Nga”.

Theo Reuters, Việt Nam đã mua hơn 1 tỷ USD vũ khí Nga vào tháng 9/2018 và cũng đã mua tầu ngầm tấn công, tàu chiến và máy bay chiến đấu phản lực từ Nga.

Zhang Jie thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ – Trung, việc tái cân bằng để thoát khỏi Trung Quốc sẽ xảy ra, nhưng các nước nhỏ như Việt Nam lo sợ mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát: “Đối với Việt Nam, sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ thực sự có lợi ở một mức độ nào đó và Hà Nội có thể tận dụng điều đó để chống lại Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ không dễ dàng thay đổi mối quan hệ. Trung Quốc sẽ không nhượng bộ Việt Nam về vấn đề Biển Đông chỉ vì sự canh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Dù căng thẳng, Việt Nam và Trung Quốc vẫn dựa vào sự trao đổi giữa hai đảng Cộng sản ở hai nước, cũng như các hình thức hợp tác có giới hạn khác”.

Nguồn: The South China Morning Post – 11/12/2018

TKNB – 13/12/2018