Điều gì đe dọa tại Hội nghị thượng đỉnh G20? – Phần cuối


Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Hamburg: Liệu châu Âu có thể duy trì khuôn khổ?

Steven Blockmans, nghiên cứu viên cao cấp và Daniel Gros, Giám đốc, Trung tâm nghiên cứu chính sách châu Âu (Brussels, Bỉ)

Các nhà lãnh đạo tham gia hội nghị thượng đỉnh G20 tại Hamburg sẽ cố gắng dựa vào kết quả của hội nghị thượng dỉnh G7 gần đây tại Taormina, Italy, và tìm kiếm sự thống nhất về 3 nhóm vấn đề: các ưu tiên kinh tế, bao gồm tăng trưởng, thương mại, số hóa, việc làm, tài chính, thuế và tham nhũng; các ưu tiên bền vững, bao gồm phát triển, khí hậu, năng lượng, sức khỏe và giới; và các ưu tiên an ninh, bao gồm chống khủng bố, di cư và dòng người tị nạn.

Hội nghị thượng đỉnh G20 có tầm quan trọng đặc biệt đối với Thủ tướng Đức Angela Merkel, người, với tư cách chủ tịch hội nghị, sẽ có một cơ hội cuối cùng để tỏa sáng trên sân khấu quốc tế trước thềm cuộc bầu cử liên bang Đức vào tháng 9. Nhưng một thành công chưa được đảm bảo, nhất là đối với nhóm vấn đề thứ 2, khi xét tới việc Tổng thống Donald J. Trump rút Mỹ khỏi Thỏa thuận Paris lịch sử về biến đổi khí hậu. Một tuyên bố của 19 nhà lãnh đạo G20 khác về cam kết kiên định của họ đối với Thỏa thuận Paris dường như là có thể thực hiện được và nên được chào đón. Điều không may là đạt được sự đồng thuận về nhóm vấn đề thứ 1 và thứ 3 cũng sẽ không dễ dàng khi xét tới việc Mỹ rút khỏi cách tiếp cận đa phương mang tính lịch sử đối với thương mại và sự không thỏa hiệp của Nga – và ở mức độ nào đó, của Trung Quốc – về an ninh mạng, tham nhũng và pháp trị.

Hội nghị thượng đỉnh này cũng sẽ đem lại một bài kiểm tra về việc liệu Brexit có mở ra một vai trò mới cho Anh trên sân khấu quốc tế hay không. Nhìn bề ngoài, chủ nghĩa song phương của Mỹ có thể nâng cao vai trò toàn cầu của Anh, do nước này là một đối tác đáng tin cậy của Mỹ. Nhưng chủ nghĩa đơn phương của Mỹ đang khiến các khuôn khổ đa phương như G20 trở nên ít phù hợp hơn để phục vụ các mục tiêu tìm kiếm ảnh hưởng toàn cầu của nước Anh thời Brexit. Hơn nữa, 27 nước thành viên của EU (EU27) sẽ giám sát chặt chẽ mức độ Anh, hiện vẫn là một thành viên, tiếp tục trung thành với các lập trường của EU.

Hội nghị thượng đỉnh Hamburg đem lại một cơ hội cho Merkel và đối tác mới có của bà, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, đặt EU27 vào vị trí điểm tham chiếu cho những nước muốn đầu tư vào chủ nghĩa đa phương hiệu quả. Trong một thế giới dễ thay đổi, sự ổn định và tính có thể dự báo là một phần thưởng mà Thủ tướng Merkel và những nhà lãnh đạo tiên phong của EU dựa trên nguyên tắc có thể đem lại. Sự lãnh đạo của họ có thể đưa hội nghị thượng đỉnh Hamburg trở nên thành công ở mức độ nào đó là một câu hỏi mở mà sẽ định hình không chỉ tương lai của G20, mà cả vai trò của EU và Đức trên thế giới.

Các thách thức và cơ hội phía trước đối với G20

Tom Bernes, nghiên cứu viên danh dự kiêm cựu Giám đốc Trung tâm Đổi mới quản trị quốc tế (Waterloo, Canada)

Hội nghị thượng đỉnh G20 ở Hamburg, Đức, sẽ phải đối mặt với những thách thức mới khi lần đầu tiên có sự xuất hiện của Tổng thống Mỹ Donald J. Trump. Diễn đàn này, vốn được các nhà lãnh đạo quốc gia thúc đẩy với tư cách nền tảng chủ yếu của họ cho việc hợp tác kinh tế quốc tế, sẽ phải đương đầu với một vị Tổng thống Mỹ mà mục tiêu chính sách “nước Mỹ trước tiên” được ông tuyên bố tương phản trực tiếp với mục tiêu cốt yếu của G20. Khi xem xét lịch sử của hội nghị thượng đỉnh G20, người ta nhận thấy niềm tin của các thành viên của nó, rằng câu trả lời cho các thách thức toàn cầu phải được tìm thấy thông qua sự hợp tác tích cực. Điều này có khả năng sẽ bị thử thách ở Hamburg. Như những gì được chứng kiến ở các hội nghị thượng đỉnh G7 và NATO vào tháng 5, những bất ngờ có khả năng xảy ra.

Kể từ thành công bước đầu của mình trong việc hình thành một phản ứng trước cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, G20 đã phải rất vất vả để xác định rõ một chương trình trung hạn tạo được tiếng vang trong cộng đồng toàn cầu. Một số nhà quan sát thậm chí đã đặt câu hỏi liệu G20 có thể tiếp tục đóng vai trò một diễn đàn hữu ích gắn kết các nhà lãnh đạo quan trọng nhất thế giới hay không.

Hai trong số những thành tích lớn nhất của G20 sẽ thu hút sự xem xét kỹ lưỡng ở Hamburg khi mà Mỹ đã trực tiếp thách thức chúng. Thứ nhất là vấn đề biến đổi khí hậu: Dưới sự dẫn dắt của Mỹ và Trung Quốc, G20 đã ủng hộ Hiệp định Paris. Vào tháng 6, Mỹ đã tuyên bố ý định của nước này rút khỏi thỏa thuận. Thứ hai là vấn đề chủ nghĩa bảo hộ, điều mà trong mỗi hội nghị, G20 đều đã cam kết chống lại. Một lần nữa, Mỹ đã bày tỏ thái độ phản đối của nước này đối với một cam kết như vậy và những quyết định sắp được Chính quyền Trump đưa ra đối với ngành thép và ngành nhôm có nguy cơ khơi mào một cuộc chiến tranh thương mại. Một lĩnh vực nữa có tiềm năng gây lo ngại là những cải cách mà G20 tiếp nhận nhằm đảm bảo sự ổn định lớn hơn cho tài chính toàn cầu. Quyết định của Mỹ rút lại phần lớn các quy định trong đạo luật Dodd-Frank vốn được thiết lập sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đẩy những thành tựu đã đạt được kể từ khi cuộc khủng hoảng gây chấn động nền kinh tế thế giới này vào chỗ nguy hiểm

Các nhà lãnh đạo sẽ phản ứng ra sao ở Hamburg trước những vấn đề này? Một sự bác bỏ mạnh mẽ những lập trường của Mỹ của các thành viên khác trong G20 có thể đem lại sức mạnh mới cho những nỗ lực của họ nhằm thúc đẩy một nền kinh tế toàn cầu có sức chống đỡ, bền vững và công bằng hơn. Nhưng nó cũng sẽ dẫn tới những căng thẳng gia tăng với Mỹ. G20 sẽ có được động lực mới thông qua cảm giác về mục đích được khôi phục để phản ứng (và phản đối) trước thái độ của Mỹ, hay sẽ chứng kiến một sự sụt giảm tính thích đáng bằng việc cố gắng lấp liếm những khác biệt cơ bản này?

Một nghị trình G20 tập trung vào châu Phi

Elizabeth Sidiropoulos, Giám đốc điều hành Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế Nam Phi

Năm nay, Đức đã đưa châu Phi vào trọng tâm nhiệm kỳ chủ tịch G20 của nước này. Sáng kiến mấu chốt của nước này là “Hợp nhất với châu Phi” với mục đích tập hợp các thể chế tài chính quốc tế, các đối tác song phương và các quốc gia châu Phi nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho đầu tư tư nhân. Đã có 7 quốc gia châu Phi tham gia: Côte d’Ivoire, Ethiopia, Ghana, Maroc, Rwanda, Senegal và Tunisia. Được thúc đẩy bởi Bộ Tài chính Đức, sáng kiến này đã nhận được sự ủng hộ về chính trị của các bộ trưởng tài chính G20 ở Baden-Baden vào tháng 3 năm nay.

Trong khi cam kết này của G20 đối với châu Phi nên được nhìn nhận dưới góc độ tích cực, ở châu Phi đã dấy lên những mối quan ngại về mức độ mà nó có thể cạnh tranh với, thay vì bổ sung cho, các sáng kiến châu lục của chính châu Phi. Ngoài ra, các quy định về chính sách của nó có thể bị chỉ trích vì chúng chú trọng các cách tiếp cận chính thống đối với sự phát triển kinh tế, điều không phải lúc nào cũng đạt được những kết quả mong muốn. Nó cũng được coi là đang chuyển trách nhiệm hỗ trợ phát triển từ khu vực công sang khu vực tư nhân. Tuy nhiên, nếu sự ủng hộ về chính trị của G20 có thể tạo lực đòn bẩy đầu tư tư nhân ở các quốc gia đã quyết định tham gia, đây sẽ là một bước đi quan trọng theo hướng tạo ra các nền kinh tế năng suất có khả năng đem lại sinh kế thỏa đáng cho công dân các nước này.

Nhưng các vấn đề G20 không đặc trưng cho châu Phi cũng có tầm quan trong không kém đối với các châu lục này. Một cam kết rõ ràng đối với thương mại cởi mở, mặc dù đã có sự quay trở lại các biện pháp theo chủ nghĩa bảo hộ trong một vài năm, sẽ là then chốt đối với châu Phi, đặc biệt khi châu lục này cố gắng tăng cường khả năng chế tạo của mình. Không thể đạt được sự tăng trưởng mang tính dung nạp với các nền kinh tế khép kín.

Đức cũng đã tập trung vào nhu cầu về một khuôn khổ các chỉ tiêu và tiêu chuẩn cho nền kinh tế kỹ thuật số và thương mại điện tử. Tuy nhiên, điều này có thể có hậu quả không dự đoán được là đặt gánh nặng lớn hơn lên các nước châu Phi, khiến họ càng gặp nhiều khó khăn trong việc vượt qua khoảng cách kỹ thuật số. Các giải pháp thường phản ánh nhiều hơn những điều kiện của thế giới công nghiệp hóa và không xem xét thích đáng những hậu quả không dự đoán được ở các quốc gia đang phát triển. Đây là thách thức đối với các quốc gia đang phát triển trong G20 khi động lực giữa các nước G7 thay đổi. G20 về bản chất không mang tính dung nạp: tuy nhiên, nó có thể xây dựng tính hợp pháp, với điều kiện sự lãnh đạo của nó trong việc đặt ra các nghị trình và chỉ tiêu phải phản ánh những thực tế không chỉ ở các quốc gia công nghiệp hóa mà còn ở các nền kinh tế đang nổi lên và đang phát triển.

Điều chỉnh trật tự quốc tế tại G20

Carlos Ivan Simonsen Leal, Chủ tịch Quỹ Getulio Vargas

“Định hình một thế giới kết nối” là khẩu hiệu thích hợp cho hội nghị thượng đỉnh G20 ở Hamburg. Nó nêu bật thách thức của thời đại chúng ta: Làm thế nào để tạo ra sự hợp tác giữa các nước có chủ quyền nhằm giải quyết các vấn đề chung xuyên quốc gia. Việc hội nghị diễn ra ở Đức là rất thích hợp trong những năm gần đây, nước này đã thúc đẩy nhằm hòa giải những căng thẳng cố hữu giữa một bên là các nhà nước – dân tộc đang tìm kiếm an ninh và sự thịnh vượng của mình và bên kia là những thách thức bất chấp biên giới quốc gia.

G20 nhóm họp vào thời điểm mà ở đó có một cảm giác kiệt sức trên toàn cầu đối với trật tự quốc tế trong 70 năm qua. Các thể chế và thủ tục đã đưa chúng ta đến nơi ta đang đứng không thể phản ứng trước những cuộc vật lộn về kinh tế, chính trị và xã hội mà thế hệ hiện nay phải đối mặt.

Việc điều chỉnh trật tự quốc tế để đương đầu với những cuộc vật lộn này sẽ là một nhiệm vụ không tầm thường. Không có sự đồng thuận về điều cần làm, và các nguồn lực vẫn khan hiếm. Ngoài ra, các nhà hoạch định chính sách vốn dĩ có khuynh hướng níu giữ những mô hình cũ. Việc điều chỉnh lại thái độ chung của chúng ta đối với các nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền hạn và an ninh của các nước sẽ cần tới sự lãnh đạo và rất nhiều hoạt động khôn khéo.

G20 có thể đóng một vai trò trung tâm trong tiến trình này, và hội nghị thượng đỉnh Hamburg là một cơ hội có một không hai để làm điều đó. Những thách thức của việc quản trị toàn cầu sẽ không được giải quyết bởi bất kỳ nỗ lực nào nhằm quay trở lại thế giới trước toàn cầu hóa. Chỉ thông qua hành động phối hợp, G20 mới có thể tiến triển hướng tới tăng trưởng kinh tế cân bằng, bền vững và mang tính dung nạp mà giảm bớt những sự không chắc chắn về kinh tế, xã hội và chính trị ngày nay. Trong việc hoàn thành nhiệm vụ này, G20 sẽ củng cố sự ổn định và khả năng phục hồi của nền kinh tế toàn cầu và gia tăng an ninh cho tất cả.

Nguồn: Council on foreign relations – 05/07/2017

TLTKĐB – 08/07/2017

Nguồn gốc và sự phát triển của triết học trung quán tông trong triết học Ấn Độ – Phần V


Trong công trình nghiên cứu lý thú của mình – The basic conception of Buddhism (Quan niệm cơ bản về Phật giáo) -, giáo sư V. Bhattacharya, sau khi tìm tòi và phân tích tường tận, đã đi đến kết luận: phủ nhận tự ngã là giáo lý nền tảng của Phật giáo. Ông nói:

“Sự tồn tại của một tự ngã thường hằng, dù được trình bày theo nhiều phương thức, như được chấp nhận trong những hệ thống triết học khác, đã bị Đức Phật phủ nhận hoàn toàn, do đó đã làm sụp đổ toàn bộ nền tảng của tham dục”.

Một học giả lỗi lạc khác là giáo sư Stcherbatsky quá cố cũng nhấn mạnh ở điểm này.

Khi gọi học thuyết về một tự ngã thường hằng là “kiến giải của kẻ ngu muội” thì rõ ràng Đức Phật đã tuyên chiến với học thuyết giáo điều truyền thống. Trong mọi bài thuyết pháp, khi Ngài đề cập đến giáo lý vô ngã hay vọng tưởng về ngã sở kiến (satkãyadrşti), thì ta có thể dễ dàng cảm nhận được sự tương phản, thậm chí là thái độ đối kháng gay gắt, trong lời nói của Ngài. Giáo lý này, cùng với khía cạnh tích cực của nó – cho rằng chế ngự được mọi hoạt động của các uẩn riêng biệt mới có thể đạt đến sự Giải Thoát Vĩnh Cửu – là phần cốt lõi trung tâm trong toàn bộ giáo lý của Đức Phật. Và bà Caroline Rhys Davids nhận xét: “lập trường đối kháng lại thực thể luận đã được ấp ủ và tán dương một cách cẩn trọng và chu đáo biết là ngần nào”. Chúng ta có thể nói thêm rằng toàn bộ lịch sử triết học Phật giáo có thể được mô tả như một loạt các nỗ lực đào sâu hơn nữa vào trực giác độc đáo uyên nguyên của Đức Phật, trực giác mà Ngài tin là khám phá vĩ đại của mình”.

Đến lúc này, chúng ta đã có một lập trường chính xác để chỉ ra mối quan hệ giữa Upanişad và Đức Phật. Cả hai đều có chung một vấn đề cần phải quan tâm, đó là khổ (duhka), và cả hai đều nhận thấy nỗi khổ rất mãnh liệt và hiện diện ở khắp mọi nơi. Mọi hiện tượng tồn tại trên cõi đời này đều bất toàn và khổ não. Điều đó đã đặt ra cho chúng ta lý tưởng về một cảnh giới vượt qua mọi khổ đau và ràng buộc. Upanişad nói về cảnh giới đó mang tính tích cực, xem đó là trạng thái tâm thức thuần khiết, tịch lặng và hỷ lạc (Vijňãna ãnandarm brahma). Đức Phật lại nói đến khía cạnh tiêu cực của cảnh giới đó: Niết Bàn là sự tiêu trừ mọi khổ đau. Cả hai đều nói về cảnh giới tối hậu đó mà không dùng đến những khả năng khẳng định của kinh nghiệm, xem như không thể so sánh với bất cứ thứ gì trên thế gian này; do đó cả hai đều dùng một loại ngôn ngữ thích hợp: đó là sự yên lặng. Cả Upanişad lẫn Đức Phật đều nhất trí ở một điểm, đó là không một phương tiện kinh nghiệm nào, không một lễ hiến sinh hay một nghi thức sám hối nào có thể đưa ta đến cảnh giới đó được, mà chỉ có một trực kiến sâu thẳm về thể tính của thực tại mới làm được điều đó. Bởi vì theo các Upanişad thì tự ngã là thực hữu, còn việc ta đồng nhất nó với thân xác (kośas), với các trạng thái hay với một đối tượng của kinh nghiệm chỉ là sự kiện mang tính ngẫu nhiên mà thôi. Bằng cách phủ định sự đồng nhất sai lầm đó, phủ định những giới hạn không thực của nó, ta có thể biết bản thể chân thực của tự ngã. Tự ngã là Brahman, ngoài ra không có gì khác. Không một nỗi sợ hãi, sân hận hay tham chấp nào có thể làm tổn thương đến nó. Liễu ngộ được tự ngã (ãtmakãma) có nghĩa là làm thỏa mãn mọi dục vọng (ãptakãma), và nhờ đó mà vượt trên mọi dục vọng (akãma).

Đức Phật đạt đến chỗ rốt ráo tó cao của cảnh giới vô dục, nhưng không phải bằng cách phổ biến hóa “tự ngã” (ãtman), mà bằng cách phủ nhận nó hoàn toàn. Bởi vì, hễ một khi ta xem một đối tượng nào đó là vĩnh cửu và thọ nhận cảm giác hỷ lạc, xem như là tự ngã, thì tâm ta sẽ tham luyến vào nó, và nảy sinh ác cảm với những gì đối nghịch lại nó, và thế là đắm chìm trong vòng trói buộc của sinh tử luân hồi (samsãra). Tự ngã (attã) là căn nguyên của mọi khổ đau, và cần phải nhổ sạch tận gốc mọi ý niệm về nó để đạt đến Niết Bàn (Nirvãņa). Đối với các Upanişad thì tự ngã là thực hữu, còn đối với Đức Phật thì đó chỉ là một vọng niệm căn nguyên, không hề có thực. Các Upanişad không xem kinh nghiệm tối thượng – hay Phạm hữu (brahmãnubhava) – là sự hủy diệt “tự ngã”, mà là sự hủy diệt những điểm đặc thù và tính hữu hạn của nó mà thôi. Trên thực tế, chúng ta thể hiện được sự hiện hữu đa dạng phong phú của mình như là cái toàn thể (bhũmã). Đức Phật, bằng sự phủ định, đã đạt đến cảnh giới hỷ lạc tối cao đó như là Tánh Không, vắng bặt bóng dáng của tri thức và ý thức. Cả hai đều đạt đến cảnh giới toàn nhiên vô dục, nhưng bằng hai phương tiện khác nhau. Đức Phật đã dùng sức mạnh thiên tài của tâm linh để khai phá một con đường hoàn toàn mới lạ, con đường của sự phủ định.

Trong các tác phẩm của mình, giáo sư Radhakrishna đã đưa ra những nhận xét về sự khác biệt giữa Đức Phạt và Upanişad:

Nếu có sự khác biệt giữa giáo lý của Upanişad với Đức Phật thì đó không phải là sự khác biệt trong quan điểm về thế giới của kinh nghiệm, tức cõi sinh tử luân hồi (samsãra) mà trong quan niệm về thực tại, tức Niết Bàn (Nirvãna).

Điểm khác biệt cơ bản giữa giáo lý của Đức Phật với các Upanişad có vẻ là sự khác biệt về thực tại siêu hình của một bản thể thường hằng bất biến, được xem là chân ngã của con người… Quả thực là Đức Phật không hề tìm thấy một tâm điểm nào của thực tại, hay một nguyên lý vĩnh hằng nào giữa thế giới hiện tượng luôn lưu chuyển cuồn cuộn như thác đổ, song điều đó không có nghĩa là trong thế giới không hề có cái gì là thực hữu, ngoại trừ sự tác động của các lực”.

Có phải chăng sự khác biệt cơ bản về siêu hình học là căn nguyên của mọi sự khác biệt khác? Nếu Phật giáo “chỉ là sự trùng tuyên những ý tưởng của Upanişad”, với một chút khác biệt là đưa ra những trọng điểm mới, thì ta chỉ cần nhấn mạnh đến “trọng điểm” này là đủ, đặc biệt là vì bản chất của trọng điểm đó, về cơ bản, là siêu hình học. Các Upanişad và Phật giáo cùng thuộc về một thể loại [genus] tâm linh như nhau, chỉ khác nhau về giống [species]; và sự khác biệt nằm ở chỗ chấp nhận hay phủ nhận một bản thể thường hằng, là tự ngã.

IV/ Có phải Phật giáo nguyên thủy khẳng nhận có tự ngã?

Rất nhiều các chuyên gia Đông phương học đã cố gắng khám phá trong Phật giáo nguyên thủy giáo pháp thực sự của bậc đạo sư, để phân biệt với các học phái mang tính hàn lâm kinh viện về sau. Một số học giả như Poussin, Beck và nhiều người khác quả quyết rằng pháp môn Yoga và cách tu tập theo giới luật đã tạo nên giáo lý nguyên thủy của Đức Phật mà về sau lại được các học giả kinh viện biến thành giáo lý vô ngã.

Tác giả Rhys Davids, dựa vào rất nhiều tư liệu kinh văn trích dẫn, đã cho rằng:

Chúng ta có thể tìm thấy Đức Phật thật sự ở trong những điều mà kinh tạng (Piţakas) vô tình tiết lộ, và phải chịu đựng để tồn tại qua thời gian, nhiều hơn là trong những điều kinh tạng khẳng định là chính yếu và cơ bản. Sở dĩ có điều này là vì những người kết tập kinh điển sống cách xa Đấng Sáng Lập không ít hơn năm thế kỷ, vào thời điểm mà nhiều giá trị đã bị đổi thay”.

Theo bà Rhys Davids thì Đức Phật không hề trực tiếp phủ nhận tự ngã một cách dứt khoát, mà Ngài chỉ phủ nhận quan điểm cho rằng các uẩn là tự ngã.

Các câu nói “Thân không phải là tự ngã”, “Tâm không phải là tự ngã” không thể được phát biểu với hàm ý rằng không hề có tự ngã, linh hồn, hay “con người” thực sự. Điều này cũng giống như việc cho rằng tôi phủ nhận sự tồn tại người chỉ huy tàu, chỉ vì tôi nhìn vào hai người thủy thủ, và nói “các anh không phải là thuyền trưởng”. Ấy vậy mà người ta đã suy diễn về Phật giáo theo cách đó! Điều này thuộc về lịch sử hậu kỳ”.

“Nhưng tôi cho rằng người đàn ông đã hiện hữu, đã “là”, mặc dù không phải là những đồ vật mà anh ta đang sử dụng để làm việc. Tôi chỉ nói anh ta không phải là những thứ ấy, không phải là tâm, cũng chẳng phải là thân xác”.

Như vậy, những lời khẳng định, mà tôi dùng để giúp đỡ người này, xuất phát từ tôi, và những lời phủ định – là thứ khiến giáo pháp tôi trở nên vô giá trị -, cũng được nêu ra như là đặc thù nhất trong triết học của chúng ta”.

“Đức Gotama (Cồ Đàm) vừa thuyết giảng, vừa hoằng dương những tín ngưỡng cúng tế thần linh phổ biến đương thời”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy của triết học Phật giáo – NXB HĐ 2013.

Mô tả vấn đề “lời kẻ khác” – Phần cuối


“Phong cách hội họa” của sự truyền đạt lời kẻ khác (hướng thứ hai của tính năng động)

Ở hướng thứ hai của tính năng động trong sự định hướng tương hỗ giữa lời tác giả và lời kẻ khác, chúng ta nhận thấy những quá trình với bản chất hoàn toàn ngược lại. Ngôn ngữ phát triển những cách thức tinh tế và linh hoạt hơn để giúp những hồi đáp và bình chú của tác giả thâm nhập vào lời kẻ khác. Bối cảnh tác giả có xu hướng hướng tới việc phá vỡ tính hoàn chỉnh và đóng kín của lời kẻ khác, phân giải nó, xóa bỏ các ranh giới của nó. Phong cách truyền đạt lời kẻ khác như vậy chúng ta có thể gọi là phong cách hội họa. Xu hướng của nó là xóa bỏ các đường viền sắc nét bên ngoài của từ lạ. Đồng thời, bản thân lời nói được cá nhân hóa ở mức độ cao hơn rất nhiều; Sự cảm nhận các mặt khác nhau của phát ngôn của kẻ khác có thể được phân biệt một cách tinh tế. Khi đó, cái được tiếp nhận không chỉ là nội dung khách thể, điều khẳng định chứa đựng trong nó, mà cả những đặc điểm ngôn ngữ của sự diễn đạt nó bằng lời nói.

Trong khuôn khổ hướng thứ hai này có thể có nhiều dạng khác nhau. Động năng của sự suy yếu ranh giới phát ngôn có thể xuất phát từ bối cảnh của tác giả. Bối cảnh tác giả thâm nhập vào lời kẻ ngưỡng một hoặc khinh miệt. Dạng này là đặc trưng cho thời kỳ Phục hưng (nhất là ở tiếng Pháp), cho cuối thế kỷ XVIII và gần như toàn bộ thế kỷ XIX. Khi đó, tính giáo điều độc đoán, duy lý của từ hoàn toàn suy yếu. Khi đó thống trị là một thứ chủ nghĩa tương đối trong các đánh giá xã hội, cực kỳ thuận lợi cho sự tiếp nhận tích cực và nhạy cảm mọi sắc thái ngôn ngữ – cá nhân của tư tưởng, niềm tin, tình cảm. Trên nền tảng này cũng phát triển xu hướng “mầu mè” trong phát ngôn của người khác, đôi khi dẫn đến việc giảm thiểu yếu tố ngữ nghĩa và đề cao sự trang điểm (ví dụ, ở “trường phái tự nhiên”, và ngay cả ở Gogol, lời nói của các nhân vật đôi khi gần như mất hết ý nghĩa chỉ sự, trở thành một thứ đồ vật, tương tự như quần áo, vẻ ngoài, những đồ trang trí…).

Nhưng cũng có thể có một dạng khác: chủ âm của lời nói chuyển vào lời kẻ khác. Lời kẻ khác khi đó trở nên mạnh mẽ hơn và tích cực hơn so với bối cảnh tác giả định hình nó, và có thể nói là bắt đầu phân giải bối cảnh tác giả. Bối cảnh tác giả mất đi tính khách quan vốn có – và thông thường lớn hơn so với tính khách quan của lời kẻ khác. Nó bắt đầu được tiếp nhận và tự nhận thức chính mình với tính chủ quan hệ như “lời kẻ khác”. Trong các tác phẩm nghệ thuật điều này thường được biểu hiện về mặt cấu trúc bằng sự xuất hiện của người kẻ chuyện thay thế cho tác giả (theo nghĩa thông thường của từ này). Lời người kể chuyện cũng được cá nhân hóa, nhiều màu sắc và không đáng tin về mặt tư tưởng hệ như lời nói của các nhân vật. Lập trường của người kể chuyện là bất định, và trong nhiều trường hợp, anh ta nói bằng ngôn ngữ của các nhân vật được mô tả. Anh ta không thể đối lập những lập trường chủ quan của chúng với một thế giới đáng tin cậy hơn và khách quan hơn. Đó là bản chất lối kể chuyện của Dostoievski, Andreu Belưi, Remizov, Sologub, và các nhà tiểu thuyết Nga hiện đại.

Nếu sự xâm nhập của ngữ cảnh tác giả vào lời kẻ khác đặc thù cho sự tiếp nhận lời kẻ khác của cả chủ nghĩa duy tâm chừng mực lẫn chủ nghĩa tập thể chừng mực, thì việc phân giải bối cảnh tác giả minh chứng cho chủ nghĩa cá nhân tương đối luận trong tiếp nhận lời nói. Đối diện với phát ngôn chủ quan của kẻ khác là bối cảnh hồi đáp và chú giải của tác giả, cũng chủ quan không kém trong sự tự nhận thức chính mình.

Đặc trưng của toàn bộ hướng thứ hai là sự phát triển thái quá của các hình mẫu hỗn hợp trong sự truyền đạt lời kẻ khác: lời nói cận gián tiếp, và, đặc biệt là lời nói cận trực tiếp, trong đó ranh giới phát ngôn của kẻ khac bị suy yếu nhiều nhất. Thêm vào đó, những biến thể nào của lời nói gián tiếp và trực tiếp mà tỏ ra linh hoạt hơn và có nhiều khả năng thẩm thấu các xu hướng tác giả hơn (lời nói trực tiếp phân tán, các hình thức phân tích – ngôn từ của lời nói gián tiếp…) sẽ chiếm ưu thế.

Khi khảo sát các xu hướng này của sự tiếp nhận hồi đáp chủ động lời kẻ khác, luôn luôn phải tính đến mọi đặc thù của các hiện tượng lời nói được khảo sát. Đặc biệt quan trọng là tính định hướng mục đích của ngữ cảnh tác giả. Về mặt này, lời nói nghệ thuật tinh tế hơn hiều trong sự truyền đạt mọi thay đổi của sự định hướng tương hỗ xã hội bằng lời nói. Lời nói tu từ, khác với lời nói nghệ thuật, ngay trong chính định hướng mục đích của nó đã không được tự do như vậy khi xử lý lời kẻ khác. Nghệ thuật tu từ đòi hỏi một ý thức rõ ràng về ranh giới của lời kẻ khác. Đặc trưng của nó là cảm nhận sắc nét về quyền sở hữu đối với từ, thái độ nguyên tắc đối với tính xác thực. Đặc thù cho lời nói hùng biện trong tố tụng là cảm nhận rõ ràng về tính chủ quan ngôn từ của “các bên” trong vụ án so với tính khách quan của quan tòa, của quyết định của tòa án và của toàn bộ lời phân tích trong quá trình điều tra – xét xử. Thuật hùng biện chính trị cũng tương tự. Điều quan trọng là xác định tỷ trọng của các lối hùng biện, tố tụng hay chính trị, trong ý thức ngôn ngữ của một nhóm xã hội nhất định ở một thời đại nhất định. Hơn nữa, luôn luôn phải tính đến địa vị, thứ bậc xã hội trong lời kẻ khác được truyền tải. Cảm giác về độ cao thứ bậc của ngôn từ kẻ khác càng mạnh, ranh giới của nó càng rõ ràng, nó càng ít có khả năng xâm nhập vào các xu hướng hồi đáp và bình luận nó. Như vậy, trong khuôn khổ của chủ nghĩa Tân cổ điển, ở các thể loại thấp, có sự từ bỏ căn bản phong cách tuyến tính, giáo điều – duy lý trong cách truyền đạt lời kẻ khác. Rất đặc trưng, lời nói cận trực tiếp lần đầu tiên đạt đến một sự phát triển mạnh mẽ chính trị trong truyện ngụ ngôn và cổ tích của La Fontaine.

Tóm lược lại những gì đã nói về các xu hướng có thể có của mối quan hệ năng động giữa lời kẻ khác và lời tác giả, chúng ta có thể lưu ý những thời kỳ sau đây:

1/ Chủ nghĩa giáo điều độc đoán, đặc trưng bởi phong cách tượng đài tuyến tính và phi cá nhân trong truyền đạt lời kẻ khách (Trung cổ).

2/ Chủ nghĩa giáo điều duy lý, với phong cách tuyến tính còn rõ ràng hơn nữa (thế kỷ XVII và XVIII).

3/ Chủ nghĩa cá nhân hiện thực và phê phán, với phong cách “hội họa” và xu hướng thâm nhập của sự hồi đáp và bình luận của tác giả vào lời kẻ khác (cuối thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX); và, cuối cùng.

4/ Chủ nghĩa cá nhân tương đối luận với sự phân giải bối cảnh tác giả (hiện nay).

Ngôn ngữ không tồn tại tự thân, mà chỉ tồn tại trong sự kết hợp với tổ chức cụ thể của một phát ngôn cụ thể, một phát biểu bằng lời cụ thể. Chỉ thông qua phát ngôn, ngôn ngữ mới chạm đến sự giao tiếp, mới thấm đẫm sức sống của nó, mới trở thành hiện thực. Các điều kiện giao tiếp lời nói, các hình thức của nó cũng như các phương pháp khu biệt được quy định bởi các tiền đề xã hội của thời đại. Chính những điều kiện luôn thay đổi đó của giao tiếp xã hội bằng lời nói quyết định những biến đổi của hình thức truyền đạt lời kẻ khác mà chúng ta đã khảo sát. Hơn thế nữa, chúng tôi tin rằng chính ở những hình thức cảm nhận lời kẻ khác và cá nhân người nói bằng ngôn ngữ như vậy, các dạng giao tiếp tư tưởng – xã hội, luôn biến đổi trong lịch sử, được thể hiện nổi bật và rõ nét nhất.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQGHN 2015.

Đô thị với tính cách một dạng thức văn hóa – Phần II


Theo Ionin, quá trình định hình bản sắc của các cá nhân trong dạng thức văn hóa mới đồng thời cũng là quá trình nó hình thành, khai triển từ trạng thái chồi non. Bắt đầu cùng với sự giới thiệu đối tượng và hành vi ứng xử, và nó hoàn tất bằng sự hình thành của lợi ích xã hội.

Tác giả hệ quan niệm này từ bỏ các khái niệm phong cách văn hóa, phong cách sống, hình thức sống là những khái niệm được coi là có thể thay thế cho nhau. Dưới dạng chung nhất, “phong cách” có thể hiểu là phương thức đặc thù của hành động, của cách thể hiện, của lối thức sinh hoạt. Phong cách, theo Ionin, đối lập với quy thức (canon) truyền thống hiểu như là cái có thể lựa chọn với cái không được lựa chọn.

Khái niệm dạng thức sinh hoạt (forma vivendi) là phương thức đặc trưng cho một tập nhóm người nào đó để thỏa mãn các nhu cầu, các định chế xã hội, các quy phạm hành vi ứng xử và… Vào sơ kỳ thời Trung cổ, khái niệm này được dùng để miêu tả các đặc điểm của đời sống các tu sĩ, sau này thì miêu tả sinh hoạt của các dân tộc khác.

Khái niệm phong cách sinh hoạt (Lebensfuring) thường gặp ở M. Weber dùng để chỉ phương thức xử sự, phương cách tổ chức cuộc sống. T. Weblen gắn khái niệm phong cách sống với sự tiêu dùng theo chỉ định là nét biểu trưng cho tính sở thuộc một tập nhóm hay một giai cấp xác định (Weblen, 1984). Trong xã hội học phân chia giai tầng Anh quốc những năm 1960 và 1970, khái niệm phong cách sống (life-style) hiểu như là tổng hòa các hình mẫu quan hệ xã hội, tiêu dùng phúc lợi vật chất và văn hóa đã từng được sử dụng để phân tích các khác biệt giai cấp. Những khác biệt kể trên được hiểu như là các chỉ số rõ ràng của vị thế giai tầng, còn phong cách sinh hoạt thì được coi là một trong các phương thức thể hiện về mặt xã hội của các giai cấp kinh tế. Trong xã hội học Mỹ, khái niệm phong cách sống được sử dụng để phân biệt các dạng thức sinh hoạt xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa nội và ngoại (ven) đô. Gần đây nó được áp dụng với hàm nghĩa rộng hơn, để chỉ sở thích, phương châm, phúc lợi vật chất hoặc phương thức hành xử của một tập nhóm xã hội bấy kỳ, khu biệt nó với các tập nhóm khác (Aberkrombi, Hill, Terner, 2004).

Khái niệm lối sống được sử dụng phổ biến hơn trong tranh luận xã hội học ở Nga tập trung sự chú ý vào các dạng thức (loại hình, phương thức, đặc tính) xác định của hoạt động sống có chủ thể riêng của mình (cá thể, tập nhóm, xã hội) và có tính tất định bởi điều kiện nhất định (Butenko, 1978; Lối sống, 1983). Tương ứng, rõ ràng là đặc thù của lối sống đô thị (các dạng thức đô thị) một mặt là những điều kiện đô thị, và mặt khác là cư dân đô thị với tính cách là chủ thể tương ứng (Kobjak, 2003).

Nếu trong các định nghĩa kể trên vấn đề được đề cập chủ yếu là các đặc điểm quan sát được một cách khách quan thì dạng thức văn hóa trong sự tồn tại danh nghĩa của nó đúng hơn là cấu thể lý tưởng. Ionin xuất phát từ cách giải thích của F. Tenbruk về văn hóa là cái mang tính chất đặc trưng tiêu biểu: Văn hóa là một hiện tượng xã hội vì nó là cái mang tính đại diện, tức là đề ra các ý tưởng, ý nghĩa, giá trị có hiệu lực do chúng được công nhận trên thực tế. Do đó, văn hóa này bao gồm các xác tín (niềm tin), ý kiến đánh giá, bức tranh thế giới, các tư tưởng và hệ tư tưởng, tác động tới cách hành xử xã hội ở mức độ mà các thành viên xã hội hoặc tích cực chia sẻ, hoặc thừa nhận một cách thụ động (dẫn theo Ionin, 2004: 224). Theo Ionin, “văn hóa đại diện là cái tiêu biểu đại diện trong ý thức của các thành viên xã hội tất thảy mọi sự kiện thực tế, chỉ một cái gì đó đối với các cá nhân hành động. Và những hành vi đó, với họ, mang chính cái được coi là tiêu biểu về mặt văn hóa. Chỉ cái đó là tồn tại đối với các thành viên xã hội và chỉ như thế, tức là đại diện văn hóa, xã hội mới (có thể) tồn tại” (Ionin, 2004: 680). Nói cách khác, có thể diễn đạt tư tưởng cơ bản thế này: các hành động, quan hệ, định chế xã hội… là cái đại diện, tiêu biểu, tức là thể hiện các quan niệm xác định đằng sau nó – chính đó, trong cách tiếp cận này, mới là những điều kiện có tính tất định.

Logic định hình bản sắc trong quá trình đến với một dạng thức văn hóa thông qua sàn diễn văn hóa gồm các giai đoạn sau:

+ Có các thuộc tính bề ngoài của dạng thức văn hóa.

+ Xxx – cảm thụ những hình dung về thế giới đưa ra lời giải thích chỗ đứng của cá nhân và tập nhóm của nó, các tập nhóm khác ứng xử với nhau, vai trò, những điểm khác biệt, lịch sử… của chúng. Các quan niệm này cũng là cơ sở để định hình bản sắc hiểu theo nghĩa “kết nạp” cá nhân vào bức tranh thế giới của dạng thức văn hóa đó. Chẳng hạn, P. Berger và Th. Lukman nhấn mạnh rằng cá nhân đồng chất nhất mình với các tập nhóm xã hội này hay khác hay với các lập trường nào đó là dự trên các quan niệm của anh ta về toàn bộ cấu trúc các lập trường. (Berger, Lukman, 1995).

+ Đề ra trạng thái tình cảm – cảm xúc tương ứng với dạng thức văn hóa. Ionin viết: “Các phương châm đạo đức cũng giả định bản thân nội hàm của lý thuyết. Thực tế thì mọi thứ lý thuyết thường ngày đều vẽ nên một hình ảnh thế giới với hai màu đen – trắng, chia người ta ra thành hai: mình và họ (những người khác mình)… Tuy nhiên, các quy phạm hành vi ứng xử đối với người mình và người khác trong lý thuyết lại khác nhau. Chúng tùy thuộc vào lợi ích của bên mình và bên những người khác kia được quan niệm trong lý thuyết xung khắc đến mức nào, không thể dung hợp, trái ngược, đối lập nhau đến mức nào. Việc giảng dạy lý thuyết đồng thời cũng là giảng dạy các quy phạm đó và bồi bổ đạo đức và tình cảm” (Ionin, 2004: 284).

Khi xét rằng đa số dân cư hiện thời là người đô thị thì khó có thể nói rằng việc có bản sắc đô thị cũng giống như là nói về sàn diễn văn hóa (trừ những trường hợp nói về quá trình hội nhập bản sắc với đô thị mới hay di chuyển nơi cư trú từ nông thôn ra thành phố). Tuy nhiên, giải thích đô thị như là một dạng thức văn hóa tạo điều kiện để phân biệt các yếu tố của nó: môi trường quy phạm, hệ tư tưởng, môi trường bên ngoài, lợi ích (Ionin, 2004: 285 – 286).

Hiện có cả một loạt công trình kinh điển cho phép nghiên cứu đặc trưng đô thị như một dạng thức văn hóa. Nếu theo danh mục các yếu tố mà Ionin đã liệt kê thì có thể nêu những cách miêu tả sau đây về các yếu tố đó:

Lợi ích. Lợi ích xã hội – đó là việc ý thức được các điều kiện tồn tại khách quan của một tập nhóm. Trong trường hợp đô thị thì lợi ích chung trước hết gắn với việc đảm bảo khả năng hiện thực hóa các lợi ích và các mục tiêu riêng khác nhau của người dân sống ở thành phố (Zimmel, 2002: Park, 2002; Mumford, 1996). Điều này được đảm bảo bởi tính chất duy lý luận của tổ chức đời sống chung của dân đô thị, đặc biệt là về phương diện xây dựng và bảo vệ cơ sở hạ tầng cần thiết. Nói cách khác, ở đây nói về lợi ích dựa trước hết trên chức năng vận hành. Đây chính là khía cạnh cơ bản khi nói về sự hình thành “cộng đồng người đô thị” hay “các cộng đồng đô thị địa phương” được hiểu theo tinh thần một “cộng đồng dân sự” với tính cách một “cộng đồng trách nhiệm hữu hạn” (Janowitz, 1961) nhằm bảo vệ quyền (đối với) đô thị của mình (Lefebvre, 1996).

Hệ tư tưởng. Nhà kinh điển nghiên cứu đô thị Louis Maumford trong công trình “Đô thị là gì?” (Mumford, 1996) viết rằng đô thị là một tổng hòa các tập nhóm người có chung một mục đích. Quan điểm này được nhiều tác giả ủng hộ; họ coi một trong những mục tiêu chủ yếu là nhiệm vụ có cá tính riêng và không phải chịu sự chi phối của các cộng đồng bản địa (Zimmel, 2002; Park 2002). Hiểu theo nghĩa này, đô thị tất nhiên là biểu tượng tính duy lý của thời đại là điều đã được cả các nhà kinh điển của xã hội học lẫn các đại biểu của chủ nghĩa hậu hiện đại nhận định chẳng qua chỉ là công cụ để đạt đến những mục tiêu riêng, cá biệt của mình, một cái mà xét về nguyên tắc, đã mất hết tính chất thiêng liêng. Như R. Park đã viết về đô thị: “Đô thị là cái không mang tính tự nhiên và tính thiêng, mà có tính thực dụng và thể nghiệm. Do sức ép cần thiết thực tiễn, cấu thể nay đã không còn chỉ là một hình thức nghi lễ xã hội, chính sách đã trở nên thực dụng, đức tin tôn giáo giờ đây, nói cho đúng, là một quá trình tìm kiếm chứ không còn là truyền thống, là cái đáng ra là phải mất công mới có, chứ không phải đơn giản là nhận (Park, 2004: 4). Đô thị ở đây là điều kiện, là sân chơi, là vật mang các cơ hội để đạt được các mục tiêu – nó có giá trị vì nếu thiếu nó thì hoàn toàn không thể đạt được những mục tiêu (mà đôi khi là do người ta tự đề ra) kia. Tức là cái giá trị không chỉ là ở hạ tầng cơ sở (vật chất), mà còn là tính không thuần về nguyên tắc của người dân đô thị – đó là nhận định đã được thể hiện, chẳng hạn, trong tư tưởng của Z. Bauman (Bauman, 2008).

Yếu tố thể hiện rõ nhất về hệ tư tưởng trong trường hợp này là những khả năng (cơ hội) đa dạng (bao gồm cả khả năng tiếp xúc với cái mới), sự tự thể hiện, tính duy lý, và cả sự bình đẳng nhờ đó mà có, theo tinh thần của Durkheim, như là sự thể hiện “tính đoàn kết gắn bó hữu cơ” một mối phụ thuộc nhau trong hoạt động (thực hiện chức năng), thể hiện cả trong việc công nhận “quyền đối với thành phố” là bình đẳng đối với tất cả mọi người. Định hướng của hệ tư tưởng đô thị vào việc đạt mục đích cũng là yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc cập nhật các giá trị năng nổ, thành công, tiến bộ, phát triển, và như vậy cũng có nghĩa là góp phần vào tính hiện đại, cơ động, năng động và… Chính các giá trị này, thường được sử dụng để thiết kế nên các mô hình “tiêu dùng đô thị” như là sự thể hiện “lối sống đô thị” được quảng cáo với mục đích thương mại.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 5

Tầm quan trọng của giải quyết tranh chấp Biển Đông đối với hòa bình thế giới


Rajaram Panda

Biển Đông đã nổi lên như một điểm nóng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hầu như toàn bộ không gian Biển Đông và thậm chí đã bác bỏ phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế ở La Hay (Hà Lan) vào tháng 7/2016, trong đó khẳng định các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh không có bất cứ cơ sở pháp lý lịch sử nào. Trung Quốc tuyên bố Biển Đông là một trong những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, cùng với Tây Tạng và Đài Loan. Trong những năm qua, Trung Quốc gia tăng các hoạt động như xây dựng đảo, tạo ra khu vực đánh bắt cá mới ở Biển Đông nhằm kiểm soát không gian đại dương này và loại bỏ các bên yêu sách khác.

Trung Quốc đã tức giận khi Tòa Trọng tài quốc tế bác bỏ hầu hết các tuyên bố chủ quyền của nước này ở Biển Đông. Tuy nhiên, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, người nhậm chức một tháng trước khi có phán quyết, đã hạ thấp phán quyết của tòa trọng tài nhằm cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Bất chấp những nỗ lực của ông Duterte để xoa dịu mối quan hệ với Bắc Kinh, Trung Quốc đã phản đối khi các nhà lãnh đạo quân đội Philippines viếng thăm một hòn đảo đang tranh chấp ở Biển Đông. Chính phủ Philippines cho rằng họ sở hữu lãnh thổ nơi mà quân đội và người dân Philippines đã sống trong nhiều thập kỷ.

Để đạt được các mục tiêu của mình, Trung Quốc đã cố gắng tạo ra sự mất đoàn kết giữa các quốc gia ASEAN. Mặt khác, Trung Quốc đã sử dụng ngoại giao kinh tế để có được một số quốc gia thành viên nhất định của ASEAN vào nhóm của Trung Quốc. Chẳng hạn như, Trung Quốc đã tận dụng tối đa lợi thế của Philippines khi Tổng thống Duterte lên nắm quyền và cố gắng tiếp cận Bắc Kinh. Theo một báo cáo gần đây, Trung Quốc thậm chí đã lắp đặt các thiết bị phóng tên lửa trên Đá Chữ Thập ở Biển Đông, mặc dù Bắc Kinh tuyên bố các cơ sở này sẽ bị giới hạn trong các yêu cầu quốc phòng.

Hành động quân sự hóa của Trung Quốc

Giải quyết các tranh chấp về yêu sách chủ quyền lãnh thổ của một số quốc gia đối với Biển Đông là vô cùng quan trọng vì lợi ích của việc đảm bảo hòa bình và ổn định ở khu vực. Nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục đơn phương quân sự hóa vùng lãnh thổ đang tranh chấp mà không để ý đến sự nhạy cảm của các quốc gia nhỏ hơn có những yêu sách chính đáng của họ. Có bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã hoàn thành gần hết các công trình nhằm mục đích trang bị các hệ thống tên lửa đất đối không trên 3 tiền đồn lớn nhất của mình trong các khu vực tranh chấp ở Biển Đông như là một phần của mô hình quân sự hóa ổn định. Các cấu trúc như vậy đã xuất hiện ở các đảo đá nhân tạo được nạo vét bởi Trung Quốc như Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn và Đá Xu Bi và nơi đây cũng đã có các sân bay quân sự. Trung Quốc bắt đầu xây dựng những cấu trúc này vào tháng 9/2016 và đến nay đã xây dựng 8 công trình trên 3 tiền đồn của mình.

Các hành động của Trung Quốc có phải là để đối phó với những nỗ lực của Mỹ trong việc kiềm chế các hành động quyết đoán của Bắc Kinh ở Biển Đông hay không là điều không quan trọng. Vấn đề đáng quan tâm hơn là các hành động trên là một phần chiến lược quân sự hóa có hệ thống được xác định rõ ràng bởi Trung Quốc để tăng cường vị thế vững chắc của nó trong không gian đại dương này. Trung Quốc đã đưa tên lửa HQ-9 SAM với tầm bắt lên đến 200km tới tiền đồn trên quần đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Việc triển khai các tên lửa là nhằm mở rộng khả năng phòng thủ của Trung Quốc trong cái gọi là tuyên bố “đường 9 đoạn”. Năm 2015, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cam kết không “quân sự hóa” các đảo, nhưng Bắc Kinh đã đi trước một bước để bổ sung các hệ thống tên lửa phòng không trên các hòn đảo nhân tạo. Bắc Kinh tuyên bố những biện pháp này là phù hợp với yêu cầu an ninh quốc gia và là quyền hợp pháp của một quốc gia có chủ quyền.

Như dự đoán, các hoạt động của Trung Quốc gây ra sự báo động ở các thủ đô khác ở châu Á, những nước này có tuyên bố tương tự trên các vùng lãnh thổ đang tranh chấp. Trong khi không có bên tuyên bố yêu sách nào ở trong tình trạng đối đầu quân sự của Trung Quốc, họ lại nhìn Washington và các bên khác không liên quan trực tiếp đến tranh chấp, nhưng tôn trọng các nguyên tắc toàn cầu để đối phó với cách tiếp cận hung hăng của Bắc Kinh. Trong bất kỳ trường hợp nào, không thể có thay thế nào tốt hơn bằng việc theo đuổi các cuộc đối thoại và được coi là lựa chọn duy nhất để giải quyết vấn đề. Cho dù vậy, sự sẵn sàng của quân đội để đối đầu với Trung Quốc cũng không thể bỏ qua Một Bộ quy tắc ứng xử (COC) phải là chìa khóa để giải quyết tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế.

Mỹ phản ứng bằng việc tiến hành các hoạt động quân sự của mình để gửi thông điệp rõ ràng tới Trung Quốc. Mỹ đã cử nhóm tàu chiến gồm tàu sân bay lớp Nimitz USS Carl Vinson tới Biển Đông tham gia “hoạt động thường lệ” trên biển đầu tiên dưới thời chính quyền Tổng thống D. Trump. Mặc dù không đề cập đến hoạt động tuần tra “tự do hàng hải” ở Biển Đông nhưng việc cử các tàu chiến tới khu vực là minh chứng cho ý định của Mỹ nhằm hạn chế các tuyên bố chủ quyền biển quá mức của Bắc Kinh. Bắc Kinh cho thấy động thái của Mỹ là mối đe dọa quân sự lớn hơn đối với hòa bình trên biển. Trung Quốc nhận thức việc triển khai của Mỹ như một mối đe dọa quân sự trực tiếp.

Trong khi Washington nhận thức được rằng cần phải thể hiện cam kết của mình với các đồng minh trong những tình huống nguy kịch. Bắc Kinh luôn hoang tưởng với sự hiện của quân sự của Mỹ và cho rằng các hành động đó chỉ làm gia tăng căng thẳng khu vực. Chính quyền của Tổng thống Trump dường như không thể nới lỏng sự quản lý của nó khi Trung Quốc tiếp tục xây dựng các khu phức hợp quân sự lớn ở giữa Biển Đông. Đáng chú ý, trong động thái mới nhất hồi tháng 5 vừa qua, 2 máy bay chiến đấu J-10 của Trung Quốc đã ngăn chặn hoạt động của một máy bay P-3 của hải quân Mỹ trong khu vực không phận quốc tế ở Biển Đông. Tình huống tương tự đã xảy ra với một tàu khu trục của Mỹ trong hoạt động tự do hàng hải đầu tiên dưới thời Tổng thống D. Trump ở khu vực Biển Đông, gần đảo nhân tạo được Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Lập trường của Việt Nam

Việt Nam không muốn chiến tranh với Trung Quốc và ủng hộ một giải pháp hòa bình cho giải quyết tranh chấp Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhưng sẽ không ngần ngại phản công nếu Bắc Kinh áp dụng các biện pháp đơn phương nhằm chống lại các lợi ích an ninh quốc gia của Việt Nam. Trong lịch sử, Việt Nam đã đứng vững và đánh bại người Pháp à sau đó là Mỹ. Nhưng Việt Nam không muốn bị ảnh hưởng bởi cái bóng của lịch sử vì họ muốn hòa bình, đó là lý do tại sao chính quyền Obama quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí cho Việt Nam đã được thực hiện trong một thời gian dài. Việt Nam phản đối khi Bắc Kinh tìm cách thay đổi hiện trạng ở Biển Đông.

Thật không may, không có sáng kiến của bất kỳ nước láng giềng nào của Trung Quốc cho đến nay đã thành công trong việc thuyết phục Bắc Kinh thay đổi vấn đề. Điều này khiến Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tăng cường năng lực quốc phòng, thông qua việc thúc đẩy quan hệ quốc phòng với các nước thân thiện như Nhật Bản và Ấn Độ. Trong khi tìm kiếm một giải pháp cho các tranh chấp Biển Đông theo luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, Việt Nam gắn liền chính sách xây dựng liên minh với các nước nhưng không phải để chống lại bất kỳ quốc gia nào. Việt Nam đã phải chịu đựng rất nhiều trong cuộc Chiến tranh Lạnh và không muốn lặp lại một điều tương tự. Đó là điều dễ hiểu.

Sự cần thiết của COC

Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có ý nghĩa chiến lược rất lớn đối với nhiều quốc gia. Bên cạnh những khu vực đánh bắt cá phong phú và tiềm năng giàu có về dầu, khí đốt và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác dưới đáy đại dương, ước tính khoảng 5 nghìn tỷ USD thương mại toàn cầu hàng năm đi qua Biển Đông. Các vấn đề liên quan đến tranh chấp gồm tự do và an ninh hàng hải, các quy tắc của luật pháp, các tiêu chuẩn toàn cầu về thương mại quốc tế và COC. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đã đồng ý một dự thảo khung về COC nhằm tránh xung đột trong các khu vực tranh chấp Biển Đông. 15 năm trước, Trung Quốc và ASEAN đã cam kết soạn thảo COC, nhưng không thể có kết quả vì những khác biệt.

Tuy nhiên, sau khi dự thảo COC được thông qua có những mối quan ngại trong khối ASEAN về việc liệu Trung Quốc có thành thật hay liệu ASEAN có đủ đòn bẩy để buộc Bắc Kinh cam kết với loạt quy tắc hay không. Dự kiến, khuôn khổ dự thảo sẽ được đệ trình lên cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Manila vào tháng 8 tới để xem xét. Philippines tổ chức các cuộc họp của ASEAN vào năm nay và bắt đầu tham vấn lần đầu tiên với Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Philippines đã chọn một lập trường chủ động sau khi bắt đầu quan hệ nồng ấm với Bắc Kinh. Tuy nhiên, các nhà phân tích bày tỏ sự thất vọng khi cho rằng các quốc gia ASEAN đã khá mềm yếu đối với các hoạt động hiếu chiến của Trung Quốc trên biển. Họ lo ngại rằng Bắc Kinh có thể sẽ đẩy mạnh cuộc tấn công vào khu vực và điều này có thể làm suy yếu trung tâm của ASEAN. Việc không đưa ra được tuyên bố chung trong cuộc họp giữa các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc tại Côn Minh tháng 6/2016 được trích dân như là kết quả của một áp lực mà Trung Quốc áp dụng đối với các nhà lãnh đạo ASEAN.

Kể từ thời điểm La Hay ra phán quyết, nhóm ASEAN đã khôi phục lại các cuộc đối thoại và tham vấn với Trung Quốc với sự tự tin, nhưng không phải là “mở ra trang mới” về giải quyết vấn đề Biển Đông. Việc ngư dân Philippines được tiếp cận bãi cạn Scarborough sau nhiều năm bị các tàu Trung Quốc ngăn chặn phần nào đã làm giảm căng thẳng quan hệ song phương. Nhưng sự thiếu tin tưởng đã không biến mất. Phải mất 15 năm để đạt được một dự thảo, tuy nhiên, COC vẫn chưa được hoàn thiện, dẫn đến sự mở rộng những khác biệt khi Trung Quốc cứng rắn hơn. Trong khi đó, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đóng vai trò là một điểm tham chiếu khi xuất hiện vấn đề và căng thẳng và là cơ sở để đàm phán một COC chính thức.

Philippines sẽ tổ chức cuộc họp cấp cao lãnh đạo lần thứ hai vào tháng 11 tới cùng với các đối tác đối thoại ASEAN như Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Nga và Mỹ. Nó được kỳ vọng sẽ đạt được sự nhất trí và tìm thấy hướng mới cho giải quyết vấn đề Biển Đông. Mặc dù bản dự thảo COC đến nay vẫn được giữ kín, nhưng COC sẽ không hoàn chỉnh nếu không có cơ chế giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông, thiếu tính hợp pháp và cam kết của Trung Quốc về phi quân sự hóa các đảo tranh chấp. COC chính thức và có tính ràng buộc nên được thảo luận và hoàn tất khi Manila tổ chức cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN vào tháng 8 tới.

Nguồn: Eurasia Review (Ấn Độ) – 31/5/2017

TKNB – 02/06/2017

Phá tan Liên Xô – Phần XI


Tranh luận. Vài người tranh luận về con đường phát triển tiếp theo của đất nước. Với ý kiến cho rằng thị trường tự do, cạnh tranh lành mạnh – đó là quay lại thế kỷ trước, lập tức có câu trả lời : « Ừ thì sao, chúng ta sẵn sàng. Chúng ta còn chưa thể vươn lên hàng đầu được. Nếu cần chúng ta sẽ quay lại thế kỷ 18, nhưng sau 100 hay 150 năm chúng ta từ tình trạng chệch hướng hiện nay sẽ trở lại con đường đúng ». Nhà hùng biện này là một chuyên gia chuyên cần và có khả năng. Nhưng anh ta lại tiết lộ với người khác về các mặt tiêu cực trong đời sống của ông sếp trực tiếp, và thế là đời anh ta nhiều cái không được ổn. Khi nói về « sẵn sàng », ánh mắt anh ta cháy lên. Mọi nỗi khổ đều do chế độ. Anh ta như mới hồi sinh.

Gặp gỡ. « Chào ! Tôi thấy ai thế này. Anh vẫn chưa sang phương Tây à ? » – « Tôi không định đi”. – “Có thể làm gì được ở cái nước này. Còn anh với trình độ của mình thì người ta nhận ngay”. Đó là cháu của một trong những đồng chí của Lenin nói. Anh ta làm việc nhiều, đã 35 năm nghiên cứu tác phẩm của các lãnh tụ, nhưng là nhà khoa học chẳng có thành quả gì. Cuộc sống chẳng sung sướng gì. Lỗi lại là do chế độ.

Viếng thăm. Một người trong áo may ô lưới ngồi trước tivi. Người ta đang chiếu phim tài liệu từ những năm 30 – người đi trên đường phố, biểu tình, trên mặt họ sáng niềm vui. Anh ta chỉ vào màn hình, thậm chí không nói được lời nào, cười phá lên trước những thằng ngốc của Stalin.

Tìm lại chính mình. Một con người sáng tạo, sẵn sàng kiếm tiền. Vào thời Xô Viết đã khôn khéo xin mượn thiết bị để dùng cho việc riêng. Khi bị điều tra đã né sang một bên và đẩy ông sếp trực tiếp vào. Giờ đã tìm được chỗ trong cuộc sống mới, đứng đầu tổ chức những người dân chủ trong viện.

Xã hội sinh thái học. Cuộc gặp với đoàn đại biểu Mỹ. Có vài chiếc bàn. Sau mỗi bàn có một người Mỹ, nói được tiếng Nga. Thành viên phong trào sinh thái dường như xưng tội trước đại diện của thế giới văn minh. Toàn những lời về thảm họa sinh thái đang lan tràn ở Liên Xô. Trên nét mặt của những người Mỹ thể hiện sự khinh miệt và buồn chán.

Trong một phần dân chúng thành thị, thái độ đối với kẻ thù của « các nhà dân chủ » đã đi tới mức căm ghét cùng cực. Sau sự kiện Ủy ban Nhà nước về tình trạng khẩn cấp, phổ biến câu nói « đùa » : « tôi bắn phát đạn vào Pugo ». Còn trong sự kiện 1993, khi xe tăng bắn vào cửa sổ Tòa nhà Quốc hội, trong đám đông người tuổi từ 30 – 35 đứng trước Nhà Trắng có tiếng nói : « Chúng bị nướng khá kỹ ». Trong khi đó cũng có một số đông người sẵn sàng đấu tranh bảo vệ chế độ Xô Viết. Nhưng họ đã bị nhóm Gorbachev vô hiệu hóa.

Chiến dịch « Bầu cử »

Bước ngoặt xảy ra trong ý thức xã hội cần phải được củng cố. Muốn làm vậy phải thay đổi chính quyền ở tất cả các cấp. Trong điều kiện toàn dân mất phương hướng và chuyển sang một đức tin mới, có thể sử dụng các cuộc bầu cử. Trước đây, các đại biểu nhân dân được bầu trên cơ sở không có lựa chọn. Mặc dù có đại diện của đủ các nhóm xã hội, của mọi sắc tộc, có cả phụ nữ và thanh niên, nó không chỉ xưa cũ, mà còn tiêu cực, gây sự chống đối nội tâm ở phần đông dân chúng.

Mùa xuân năm 1988, lúc này sau vụ Nina Andreeva nhóm Gorbachev đã thống trị hoàn toàn BCH TW, chỉ trong một tháng đã đưa ra luật bầu cử mới, dù trên thực tế chưa được thảo luận trong quần chúng. Khi bắt đầu chiến dịch bầu cử, thì Đảng Cộng sản Liên Xô thực tế đã bị loại ra khỏi việc tham gia vào việc đấu tranh chính trị. Tại bất cứ nước nào, trong những điều kiện như vậy sẽ có một sự gia tăng tích cực hoạt động của Đảng. Còn ở đây mọi việc diễn ra ngược lại. Mà chính trong giai đoạn đấu tranh trước bầu cử sẽ quyết định vấn đề về chính quyền trong nước, bởi vì tất cả các chức năng điều hành sẽ được trao cho ủy ban. Chúng ta hãy xem xét các sự kiện được mô tả trong cuốn Cảnh báo của E.K. Ligachôp – Sự thật International, 1998 :

« Từ BCH TW liên tục có các chỉ thị xuống địa phương : không can thiệp, không can thiệp ! Phải giữ khoảng cách ! Trong nhiều Đảng bộ rất bối rối. Họ thấy rằng trong số ứng cử viên có nhiều kẻ không xứng đáng, thậm chí có tội phạm cũ, đã nhận án tù về những tội nghiêm trọng, kể cả giết người. Còn đám hùng biện và mỵ dân, xây dựng chương trình bầu cử của mình dựa hoàn toàn vào chủ nghĩa chống cộng, chống Xô Viết, thì quá là nhiều. Đáng ra, như trong điều kiện ấy thì cần phải triển khai tuyên truyền cho Đảng rộng rãi, cổ động cho các ứng cử viên của mình, vạch trần tính thiếu thực tế, thiếu cơ sở của những lời hứa chính trị.

Nhưng BCH TW không đưa ra các định hướng chính trị, tổ chức Đảng ở địa phương như bị tước vũ khí. Đó là một tình thế mới : lần đầu tiên từ trung ương không đưa ra những chỉ dẫn cụ thể, cần phải hành động như thế nào. Cái « lần đầu tiên » ấy lại rơi vào giai đoạn đấu tranh trước bầu cử, khi quyết định vấn đề về chính quyền ! Các Xô Viết là nền tảng chính trị của chế độ chúng ta. Vấn đề là phải kiên quyết củng cố vai trò của nó, trao toàn bộ chức năng điều hành cho nó. Thế mà Đảng lại giảm một cách đột ngột sự tích cực của mình.

Hơn nựa, sự không can thiệp của Đảng vào các cuộc bầu cử được một số người ca tụng như là biểu hiện của dân chủ. Ý tưởng đấu tranh với chủ nghĩa hình thức được đưa lên hàng đầu, nhưng cùng với nước người ta hắt đi cả em bé : Đảng thực tế đã bị loại không cho tham dự vào cuộc đấu tranh trước bầu cử.

Sự việc nghiêm trọng tới mức mà các ứng cử viên Cộng sản đấu lẫn nhau, giúp cho kẻ thù lý tưởng có thêm khả năng giành phần thắng. Không bị đánh lại, nên trong làn sóng mít tinh tự phát, các lực lượng gọi là dân chủ đã tung ra các khẩu hiệu chống cộng, bôi nhọ toàn bộ lịch sử, như là « chiến thuật trước bầu cử » của mình.

Hơn nữa, khi kết thúc việc đăng ký danh sách ứng cử viên, mới thấy là có quá ít đại diện của nông dân và công nhân.

Trong các cuộc họp của Bộ Chính trị vấn đề này được nói tới nhiều hơn. Chính Gorbachev cũng vài lần nói về chủ đề này. Nhưng chẳng có gì hơn ngoài câu than phiền… Có lần Gorbachev bay tới Leningrad, trong một cuộc gặp ngay tại xưởng, công nhân đã đặt thẳng vấn đề với ông ta về việc bầu cử không chỉ tiến hành theo địa phương, mà còn phải theo khu vực sản xuất, để đảm bảo tính đại diện của công nhân trong các Xô Viết. Mikhail Sergeevich ủng hộ tư tưởng đó của Lenin, và việc này đã được viết trong thông báo về chuyến thăm của Tổng Bí thư tới Leningrad.

Nhưng sau đó vài ngày, cái gọi là báo chí cấp tiến như theo hiệu lệnh đã đồng loạt chĩa mũi dùi vào « nguyên tắc bầu cử theo sản xuất ». Nổi lên một trận lốc phản đối trên báo chí và tivi, đòi phải tiến hành bầu cử chỉ theo địa phương, và lên án những người Leningrad là cố « kéo » vào Xô Viết những quan chức Đảng. Sự điên cuồng tiếp diễn ở nhiều nhà xuất bản.

Gorbachev không một lần nào công khai ủng hộ đề xuất ở Leningrad thêm nữa.

Thế là một khởi đầu lành mạnh đã bị thất bại. Kẻ thù của nguyên tắc bầu cử Xô Viết theo sản xuất, sử dụng báo chí cấp tiến, đã chôn vùi đề xuất quan trọng này. Quan điểm không can thiệp vào cuộc đấu tranh trước bầu cử đã thắng ».

Như vậy, ta có thể chỉ ra ba điểm quyết định.

1/ Tập đoàn Gorbachev đã loại Đảng ra khỏi cuộc đấu tranh trước bầu cử, nhân danh Đảng Cộng sản Liên Xô ra lệnh không can thiệp.

2/ Các kẻ thù của CNXH và Liên Xô đã được hoàn toàn tự do hành động, phương tiện thông tin đại chúng thực tế làm việc cho chúng.

3/ Bản thân Gorbachev không phát biểu trên phương tiện thông tin đại chúng một lời kiên quyết nào (khác với Bộ Chính trị). Hơn nữa, ông ta trên lời nói thường ủng hộ CNXH và những đề xuất cụ thể theo hướng như vậy (như đã nói ở trên), nhưng chẳng làm gì để thực hiện chúng, làm như quên mất.

Nói cách khác, trong chiến dịch bầu cử này không thể nói về các khả năng ngang bằng – trận đấu chỉ về một phía cầu môn. Đảng Cộng sản Liên Xô từng bước bị loại khỏi đời sống chính trị. Các hành động tiếp theo của Gorbachev theo hướng tiếp tục phá vỡ cơ cấu quyền lực. Vai trò của các Xô Viết bị giảm sút nghiêm trọng, đưa vào chức vụ Tổng thống Liên Xô, và năm 1991 bắt đầu chuẩn bị cái gọi là Hiệp ước Liên bang và sẵn sàng cho sự phân chia Liên bang Xô viết.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC II – 1999.

Tổng quan về tri thức – Phần II


1.3/ Tri thức

Hầu hết chúng ta đều có một cảm nhận trực quan rằng tri thức rộng hơn; sâu hơn dữ liệu và thông tin. Chúng ta thường dùng thuật ngữ “người có tri thức” để ám chỉ một người uyên thâm về một lĩnh vực, một người vừa có học vị cao vừa thông minh. Tuy nhiên, tất cả mọi người đều không nói “một mẩu tin nhắn đầy tri thức” hay “một cơ sở dữ liệu thông thái” kể cả khi đó là kết quả làm việc của những người hoặc nhóm những người có tri thức.

Hiểu tri thức là gì vốn là đề tài nguyên thủy của triết học. Ở đây và trong khuôn khổ của quản trị tri thức, chúng tôi sẽ tập hợp và đưa ra một định nghĩa dễ hiểu, thực tế giúp người đọc nhận định; sau đó cùng bàn luận về tri thức trong tổ chức. Định nghĩa sẽ thiên về mô tả các đặc tính riêng, có giá trị của tri thức, cũng như những đặc tính làm cho việc quản trị tri thức trở nên khó khăn nhưng cần thiết.

Tri thức là một dạng tổng hợp của cảm nhận, kinh nghiệm, giá trị, thông tin trong ngữ cảnh giúp tạo khuôn khổ cho việc đánh giá và tiếp nhận những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức nảy sinh trong bộ não của con người. Trong các tổ chức, tri thức thường thể hiện trong các tài liệu nhưng cũng có thể ẩn trong các tập quán, các quy trình, nguyên tắc thực hiện công việc hay những chuẩn mực chung.

Như vậy, rõ ràng tri thức không hề rõ ràng và đơn giản. Tri thức là một dạng tổng hợp của rất nhiều các thành tố, nó vừa có cấu trúc lại thể hiện sự linh hoạt trong kết hợp các thành tố. Đồng thời, tri thức là trực quan nên khó có thể nắm bắt, thể hiện ra thành lời hoặc hiểu trọn vẹn. Tri thức tồn tại trong con người, là một phần tạo nên tính phức tạp và khó nắm bắt của con người. Mặc dù chúng ta vẫn nghĩ rằng tài sản là cái gì có thể định nghĩa được, nắm bắt được, song tài sản tri thức lại không như thế.

Tri thức được tạo nên từ thông tin, giống như thông tin được hình thành từ dữ liệu. Thông tin trở thành tri thức thông qua các quá trình sau:

+ So sánh (Comparison): thông tin về hoàn cảnh hay sự việc này so với hoàn cảnh và sự việc khác mà chúng ta đã biết.

+ Đúc rút (Consequense): những bài học gì mà thông tin mang lại hỗ trợ cho các quyết định và hành động của chúng ta.

+ Kết nối (Connection): tri thức này liên hệ với tri thức khác như thế nào.

+ Hội thoại (Conversation): những người khác nghĩ gì về thông tin này.

Tiếp ví dụ 1 về trạm xăng ở mục 1.1/ Dữ liệu và 1.2/ Thông tin. Sau khi có được các thông tin có ý nghĩa, người quản lý trạm xăng có thể dựa thêm vào những kiến thức, kinh nghiệm có sẵn của mình để phân tích rằng khách hàng đến trạm xăng phần nhiều vào khoảng thời gian sáng hoặc chiều muộn, trùng với thời điểm họ đi làm và tan sở. Thời điểm này ai cũng rất vội và không kiên nhẫn. Do vậy, anh ta quyết định sẽ tăng cường nhân viên phục vụ, gồm cả nhân viên bơm xăng, nhân viên thu đổi tiền, nhân viên hướng dẫn khách hàng để đảm bảo việc bán hàng được nhanh chóng thuận lợi và làm khách hàng hài lòng.

Rõ ràng những hoạt động sáng tạo tri thức diễn ra trong và giữa con người với con người. Khi tìm kiếm dữ liệu trong các bản ghi hoặc các giao dịch, tìm kiếm thông tin trong các thông điệp, chúng ta thu được tri thức từ các cá nhân hoặc nhóm cá nhân, hoặc thông qua các thói quen, tập quán của tổ chức. Tri thức được chuyển qua những phương tiện như sách, tài liệu, quan hệ người – người, từ những trao đổi thông thường đến những trao đổi mang tính chính thống hơn.

1.4/ Tri thức trong hành động

Một trong những lý do khẳng định tri thức có giá trị hơn là vì tri thức gần hành động hơn dữ liệu và thông tin. Tri thức có thể và nên được đánh giá bằng các quyết định hành động mà nó dẫn tới. Chúng ta có thể sử dụng tri thức để đưa ra các quyết định hợp lý và hiệu quả hơn về chiến lược kinh doanh, đối thủ, khách hàng, kênh phân phối, chu kỳ sống của sản phẩm và dịch vụ. Tất nhiên, do tri thức và quyết định thường nằm trong bộ óc con người, rất khó có thể nhận định được đường dẫn cụ thể từ tri thức tới hành động.

Hiện nay nhiều tổ chức đang rất nỗ lực quản trị tri thức. Các nhà quản trị đều đưa ra câu hỏi “Làm thế nào để phân biệt được dữ liệu, thông tin và tri thức?” Họ thường khích lệ các sáng kiến nhằm cộng thêm giá trị vào dữ liệu và thông tin có thể tạo được tri thức.

Ví dụ 2: Hãng sản xuất ô tô Chrysler đã lưu giữ tri thức về việc phát triển một mẫu xe mới trong một series sách với nhan đề “Bộ sách kỹ thuật tri thức” (Engineering Books of Knowledge). Mục tiêu của “bộ sách” này, thực chất là các tệp tin trên máy tính, là tạo ra một “bộ nhớ điện tử” để lưu giữ tri thức của đội phát triển xe. Cuốn sách là kết quả tập hợp dữ liệu va chạm thử nghiệm của xe. Tác giả cuốn sách phân loại các kết quả đó như dữ liệu và động viên người nộp kết quả cộng thêm giá trị cho dữ liệu đó. Ngữ cảnh của các kết quả đó là gì? Tại sao các thử nghiệm va chạm lại được thực hiện? Việc so sánh kết quả của mẫu xe mới với các mẫu xe trước và các mẫu xe đối thủ ra sao? Những kết quả này có gợi ý gì liên quan tới thiết kế lại thanh chống va đập trước xe? Rất khó có thể xác định được chính xác ở mức nào thì dữ liệu trở thành thông tin và thông tin trở thành tri thức, tuy vậy, chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ ràng chuỗi giá trị cộng thêm trong từng bước công việc thực hiện.

Tri thức cũng có thể giảm giá trị, chuyển về trạng thái của thông tin và dữ liệu. Lý do điển hình nhất cho quá trình này thường là sự quá tải. Khi con người bị quá tải tri thức, họ không dùng đến nữa, tri thức với họ trở thành dữ liệu.

Do tính phức tạp và khó nắm bắt của tri thức, có rất nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra. Hộp 1.1 tập hợp một số định nghĩa để người đọc tham khảo. Việc sử dụng định nghĩa nào còn phụ thuộc vào ý tưởng và mục tiêu sử dụng của người dùng. Tuy vậy, nếu xét một cách tổng quát thì các định nghĩa tri thức đều nhấn mạnh ở các từ khóa chung như “kinh nghiệm”, “học tập”, “ngữ cảnh”, “hành động” và cũng phù hợp với khái niệm đã được dẫn ở trên. Như vậy, ta có thể hiểu về tri thức như sau:

Tri thức là một dạng tổng hợp của cảm nhận, kinh nghiệm, giá trị, thông tin trong ngữ cảnh giúp tạo khuôn khổ cho việc đánh giá và tiếp nhận những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức dẫn dắt hành động của chủ thể. Tri thức có thể là tri thức cá nhân nhưng cũng có thể là tri thức của tổ chức. Tri thức cá nhân nảy sinh trong bộ não con người. Trong các tổ chức, tri thức thường thể hiện trong các tài liệu nhưng cũng có thể ẩn trong các tập quán, các quy trình, nguyên tắc thực hành công việc hay những chuẩn mực chung.

Hộp 1.1 Các định nghĩa về tri thức

Tri thức là sự hiểu biết về một sự vật mà con người có được thông qua kinh nghiệm hoặc học tập. Tri thức có thể là của cá nhân một người, học một nhóm người nói chung.

Nguồn: http://dictionary.cambridge.org/dictionary/british/knowledge

Tri thức là những hiểu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội.

Nguồn: http://vdict.com/tri+th%E1%BB%A9c,3,0,0.html

Tri thức là hệ thống thông tin. Tri thức liên quan tới các sự kiện, sự thật, các nguyên tắc có được thông qua quá trình học hoặc tự tìm hiểu, nghiên cứu và trải nghiệm

Nguồn: www.seattlecentral.org/library/101/textbook/glossary.html

Tri thức là thông tin đã được đánh giá và tổ chức trong trí óc con người để phục vụ cho một mục đích nhất định.

Nguồn: www.aslib.co.uk/info/glossary/html

Tri thức là thông tin liên quan tới các quy luật cho phép hiểu thông tin và sử dụng thông tin vào các mục đích có ý nghĩa.

Nguồn: www.seanet.com/daveg/glossary/htm

Tri thức là sự quen thuộc, sự nhận thức hoặc những hiểu biết thu được thông qua quá trình trải nghiệm hoặc học tập.

Nguồn: www.ifcom.mil/about/glossary.htm

Tri thức là thông tin trong ngữ cảnh, là sự hiểu về ý nghĩa của thông tin.

Nguồn: www.cio.gov.bc.ca/other/daf/IRM_Glossary.htm

Tri thức là niềm tin đã được kiểm chứng, làm tăng khả năng hoạt động hiệu quả của một tổ chức (Nonaka).

Nguồn: www.sims.berkeley.edu/courses/is213/s99/Projects/P9/web_site/glossary.htm

Tri thức là thông tin cộng với ý nghĩa của nó.

Nguồn: www.wotug.ukc.ac.uk/parallel/acronyms/hpccgloss/all.html

Tri thức là sự hiểu biết và trí nhớ (recall) về thông tin được đánh giá bằng độ sâu, độ rộng và khả năng nghiên cứu để giải quyết các vấn đề.

Nguồn: www.csufresno.edu/humres/Classification.Compensation/Glossary%20of%20Terms.htm

Tri thức là thông tin mà con người sử dụng cùng với các quy luật và ngữ cảnh để sử dụng các thông tin ấy.

Nguồn: www.vnulearning.com/kmwp/glossary.html

Tri thức là thông tin cần thiết để phát triển các kỹ năng. Tri thức để thực hiện công việc gồm các khái niệm hoặc quy luật liên quan tới công việc đó (tri thức mô tả) và mối quan hệ tương hỗ giữa chúng (tri thức cấu trúc). Tri thức chứa đựng nội dung hoặc thông tin về một công việc cụ thể mà một người tiếp thu được thông qua quá trình đào tạo, giáo dục hoặc làm việc. Tri thức được xây dựng dựa trên nền tảng khả năng nhận thức mà một người đưa vào hoàn cảnh làm việc cụ thể.

Nguồn: www.eurocontrol.int/eatmp/glossary/terms/terms-11.htm

Tri thức là một phần trong hệ thống thứ bậc gồm dữ liệu, thông tin và tri thức. Dữ liệu là những sự việc nguyên bản. Thông tin là dữ liệu trong hoàn cảnh. Tri thức là thông tin với các hướng dẫn hành động dựa trên hiểu biết và kinh nghiệm.

Nguồn: www.itilpeople.com/Glossary/Glossary_k.htm

Thông tin định nghĩa sự việc (A là B). Tri thức định nghĩa những việc mà một người cần làm khi một sự việc nhất định xảy ra. Vì vậy, nếu A là B, thì hãy làm C. Tri thức có thể được mã hóa theo nhiều cách khác nhau. Các chính sách hay các quy tắc kinh doanh là những dạng phổ biến của tri thức.

Nguồn: www.bptrends.com/resources_glossary.cfm

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Đặng Thị Việt Đức & Nguyễn Thu Hương – Quản trị tri thức trong doanh nghiệp, NXB TTTT 2016.