Kết quả nghiên cứu cơ bản là cơ sở của một nền công nghiệp đủ sức cạnh tranh – Phần đầu


E.M. Dianov

LTS: Đưa các kết quả nghiên cứu khoa học vào công nghiệp đang là một mệnh lệnh của thời đại, góp phần tạo nên các công nghệ mới, các ngành sản xuất mới. Nói cách khác, đó là cơ sở để phát triển nền kinh tế quốc dân, còn đối với khoa học – đó là nguồn tài chính bổ sung. Theo tác giả bài viết, quá trình này chỉ có thể thành công nếu đề ra được một bộ luật về sở hữu trí tuệ, có tác dụng hỗ trợ và khuyến khích đưa các triển khai khoa học vào nền công nghiệp. Cần phải tổ chức một hạ tầng cơ sở tương ứng mà những hợp phần quan trọng của nó là các cơ quan đăng ký pháp lý và cấp bằng sáng chế, các nhóm phát minh sáng chế trực thuộc các cơ quan khoa học.

Chúng ta đều biết rõ vai trò to lớn của khoa học trong xã hội hiện đại, ảnh hưởng có ý nghĩa quyết định của nó đối với sự tăng trưởng kinh tế, tiềm năng quân sự, giáo dục và văn hóa, và xét cho cùng, tới phúc lợi vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, chính sách của nhà nước đối với khoa học trong những năm 90 thực tế đang dẫn đến chỗ làm khoa học cơ bản ở Nga lụn bại, đang buộc chúng ta phải trở lại vấn đề về vai trò của các nghiên cứu cơ bản và phương hướng đưa các kết quả nghiên cứu khoa học vào công nghiệp. Kinh nghiệm phát triển khoa học của thế giới chỉ ra rằng phần lớn các phát kiến và công nghệ mới quyết định tiến bộ kỹ thuật, đều là nhờ kết quả của những nghiên cứu cơ bản. Vì lợi ích thương mại của chúng không dễ gì thấy ngay được và có thể hiện thực hóa sau một thời gian khá dài, nên chỉ có nhà nước (chứ không phải khu vực tư nhân) mới đủ sức cấp kinh phí cho những nghiên cứu như vậy. Điều này được giải thích, nói riêng, bằng một thực tế đã rõ là phần lớn các bằng sáng chế ở Hoa Kỳ đều bắt nguồn từ các công trình thực hiện tại các trường đại học lớn và tại các phòng thí nghiệm của Chính phủ. Như vậy, việc nhà nước cấp kinh phí cho những nghiên cứu khoa học hiện nay là cơ sở để tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển.

Chúng ta biết nhiều thí dụ về điều này. Ai cũng thừa nhận kết luận rằng việc trợ giúp mạnh mẽ của Liên bang cho các nghiên cứu khoa học và công nghệ mới bắt nguồn từ đó chính là nhân tố then chốt để tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ trong thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Sự phát triển kinh tế của các nước như Nhật Bản và Thụy Sĩ là những nước không có nguồn tài nguyên thiên nhiên gì đáng kể, nhưng có tiếng là Chính phủ hỗ trợ mạnh mẽ cho nghiên cứu khoa học, là bằng chứng xác nhận điều đó. Ngày này, ngay cả những quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên như các nước vùng Vịnh Persian, cũng đang cố gắng phát triển những công nghệ cao.

Cũng nên nhắc lại rằng trong những biện pháp ứng phó của Hoa Kỳ trước các hiểm họa và thách thức quốc tế bao giờ cũng phải kể đến việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong nước. Dưới đây xin dẫn ra một số sự kiện thế giới đáng kể nhất và những biện pháp tổ chức kéo theo trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học ở Hoa Kỳ:

Nội chiến ở Hoa Kỳ (1861 – 1865) – Viện Hàn lâm khoa học quốc gia (1863),

Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) – Hội đồng nghiên cứu quốc gia (1916),

Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) – Cục Nghiên cứu khoa học và triển khai (1941),

Phóng vệ tinh đầu tiên của Liên Xô (1957) – Cục Hàng không vũ trụ và nghiên cứu khoảng không vũ trụ (1958),

“Chiến tranh Lạnh” (1946 – 1991) – Cục Nghiên cứu biển (1946), Quỹ khoa học quốc gia (1950), Cục Nghiên cứu quân đội (1951), Cục Nghiên cứu khoa học không quân (1952), Cục Kế hoạch triển vọng các công trình nghiên cứu khoa học quốc phòng (1958), Sáng kiến phòng thủ chiến lược (1983).

Hiện nay không một ai nghi ngờ gì là trong thế kỷ mới, khoa học và kỹ thuật sẽ hợp thành cơ sở thành công, bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế bền vững và tiêu chuẩn đời sống cao của các nước phát triển. Bằng chứng xác nhận đầy thuyết phục về điều này là quyết định của Hạ nghị viện Quốc hội Hoa Kỳ về việc đổi mới văn kiện chủ yếu được soạn từ năm 1945, quyết định chính sách của Hoa Kỳ trong lĩnh vực khoa học. Văn kiện mới về chính sách khoa học của liên bang đã được chuẩn bị từ tháng 3/1997 và một bản báo cáo tương ứng đã được công bố hồi tháng 9/1998 dưới tiêu đề rất hàm súc “Mở ra tương lai của chúng ta” (Unlooking Our Future).

Bản báo cáo trình bày rõ những mục tiêu của chính sách khoa học liên bang: Hoa Kỳ cần duy trì và củng cố vị thế nổi bật của mình trong khoa học và công nghệ để có thể hiểu sâu hơn về Vũ trụ cùng những hợp phần của nó và cải thiện đời sống, sức khỏe và bảo đảm tự do cho mọi người. Đồng thời ở đây khẳng định một lần nữa tiền đề cơ bản của các chi phí Liên bang chi cho nghiên cứu cơ bản: những nghiên cứu này xét cho cùng sẽ dẫn tới những ngành sản xuất mới và cái lợi từ đó sẽ vượt gấp nhiều lần số chi phí cho nghiên cứu.

Kết luận cơ bản của báo cáo cũng được trình bày rõ: để duy trì sức mạnh của nền kinh tế quốc gia và khả năng cạnh tranh quốc tế, Quốc hội cần phải biến chế độ tài trợ cơ bản và ổn định cho các nghiên cứu cơ bản thành hướng ưu tiên tối cao. Hiện nay, đánh giá vai trò của khoa học cơ bản thể hiện trong báo cáo của Quốc hội Hoa Kỳ đã được dư luận thừa nhận. Đầu tư cho khoa học đang là một hướng ưu tiên quốc gia của nhiều nước.

Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cơ bản có thể sẽ không như ý, nếu không có một cơ chế có hiệu quả để chuyển giao chúng cho nền công nghiệp. Hà tất phải chứng minh rằng việc chuyển giao kết quả nghiên cứu từ các cơ quan khoa học sang cho công nghiệp đang là (hoặc phải là) mối quan tâm của tất cả các bên tham gia quá trình này: giới nghiên cứu, các cơ quan khoa học, nền công nghiệp (các công ty), nhà nước. Thế nhưng ở tất cả các nước (trong đó kể cả những nước có nền kinh tế thị trường phát triển) hiện vẫn tồn tại vấn đề chuyển giao kết quả khoa học sang cho nền công nghiệp, hay, như người ta thường nói, vấn đề thương mại hóa sở hữu trí tuệ. Vấn đề này phát sinh khi có sự tương tác giữa hia trong nhiều quan hệ giữa các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người: giữa khoa học và công nghiệp.

Khoa học vốn rất năng động, luôn sinh ra nhiều ý tưởng, song phần lớn các công trình triển khai những ý tưởng đó đều ở trạng thái thai nghén (thường là ở cấp độ trình bày hiệu quả) và đòi hỏi phải được đầu tư. Nền công nghiệp vốn bảo thủ, vì việc sản xuất ra một sản phẩm mới thường đòi hỏi những vốn đầu tư đáng kể nên phải chắc rằng sản phẩm mới sẽ tìm thấy được nhu cầu trên thị trường.

Tôi không có ý miêu tả thật kỹ vấn đề thương mại hóa sở hữu trí tuệ mà chỉ nêu lên những lập luận của mình dựa trên trên kinh nghiệm cá nhân và qua việc tìm hiểu các tổ chức nước ngoài nghiên cứu về vấn đề này. Song trước hết tôi xin làm rõ một số thuật ngữ cần thiết:

+ Công nghệ (hiểu theo nghĩa rộng) – là bất kỳ sự đổi mới kỹ thuật, sáng chế phát minh nào cũng như các sáng tạo thông tin khác dưới các hình thức khác nhau, kể cả các chương trình máy tính. Chính đó là những cái cấu thành sở hữu trí tuệ.

+ Quyền sở hữu trí tuệ – là khả năng quản lý sự sở hữu về công nghệ và sử dụng công nghệ. Các quyền này được thể hiện dưới dạng bằng (chứng nhận) sáng chế, phát minh, bản quyền (quyền tác giả) các nhãn mác thương mại…

+ Bằng sáng chế – là quyền của người sáng chế (người sở hữu bằng sáng chế) được nhà nước cấp bằng bảo đảm không cho tất cả những người khác sản xuất, sử dụng và bán sáng chế trong phạm vi nước đó. Ở đây cũng nên nhấn mạnh đến những mối quan hệ cùng có lợi rất đặc biệt giữa người sáng chế và xã hội. Một mặt, xã hội có điều kiện để tiếp xúc thông tin và các chi tiết công nghệ của sáng chế để có thể đẩy nhanh quá trình phát triển nó về mặt kỹ thuật.

+ Chuyển nhượng bản quyền sáng chế – là chuyển quyền sở hữu trí tuệ. Người ta phân biệt việc chuyển các quyền đặc chuẩn khi tất cả các quyền sở hữu trí tuệ được cho phép với việc chuyển các quyền phi đặc chuẩn, cho phép sử dụng sở hữu trí tuệ đó trong phạm vi nhất định.

+ Royalty – là khoản thu nhập từ việc bán giấy phép sản xuất hoặc một tỷ lệ phần trăm giá trị nhất định của sản phẩm bán ra.

Ở các nước phát triển, những hình thức tổ chức thương mại hóa có hiệu quả về sở hữu trí tuệ cũng mới chỉ được đề ra tương đối gần đây. Chẳng hạn, việc đăng ký sáng chế và cấp giấy phép sáng chế trên quy mô rộng khắp được bắt đầu tại các trường đại học của Hoa Kỳ, sau kkhi thực hiện luật liên bang Bayh-Dole 91 – 517 (Bayh-Dole Act of 1980). Theo luật này nhà nước giao cho các trường đại học quyền đối với những sáng chế được hình thành trong quá trình thực hiện nghiên cứu do Chính phủ liên bang cung cấp kinh phí. Đồng thời, Chính phủ được hưởng giấy phép bản quyền phi đặc chuẩn miễn phí đối với công nghệ mới đó. Chính phủ cũng nắm quyền được can thiệp, nếu trường đại học không làm tròn những nghĩa vụ mà luật Bayh-Dole đã quy định.

Theo luật này, các trường đại học có nghĩa vụ:

+ làm thủ tục đăng ký xin cấp bằng sáng chế;

+ khi chuyển giao bản quyền sáng chế phải ưu tiên cho giới doanh nghiệp nhỏ;

+ chia lợi nhuận với những người sáng chế;

+ trong trường hợp chuyển giao bản quyền sáng chế đặc chuẩn ở Hoa Kỳ, người sở hữu bản quyền phải đồng ý tổ chức sản xuất trong nước Mỹ;

+ sau khi đã bù đủ chi phí, phần lãi dư ra từ việc bán bản quyền sáng chế sẽ dùng vào việc hỗ trợ cho nghiên cứu khoa học và giáo dục.

Sau khi thông qua luật Bayh-Dole, tính tích cực của trường đại học Hoa Kỳ trong việc chuyển giao bàn quyền sáng chế đã tăng lên mạnh mẽ. Tại trường Đại học Stanford, số lượng dịch vụ bản quyền sáng chế đã tăng 6 người năm 1980 lên 25 người năm 1998. Thu nhập từ việc bán bản quyền sáng chế đã tăng từ không đầy 1 triệu lên tới 60 triệu USD. Mức công bố các bằng sáng chế trong tất cả các trường đại học Hoa Kỳ đã tăng từ 300 trong năm 1980 lên 2500 trong năm 1997. Năm 1996, tất cả các trường đại học của Hoa Kỳ đã ký được 12.950 hợp đồng bán bản quyền, thu nhập có được từ việc bán bản quyền sáng chế là 579 triệu USD, đã tạo ra được 212.500 chỗ làm việc.

(còn tiếp) 

Người dịch: Mai Diên

Nguồn: TN 99 – 118

Advertisements

Tác động của việc Mỹ rút khỏi INF tới khu vực Thái Bình Dương


Clive Williams

Khả năng sẽ có một cuộc chạy đua vũ trang mới ở khu vực Thái Bình Dương sau khi Mỹ tuyên bố chính thức bắt đầu rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) được ký kết giữa Mỹ và Liên Xô vào năm 1987.

Washington bắt đầu rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) năm 1987 vào đầu tháng 2/2019. Tổng thống Trump đã nói vào cuối năm 2018 rằng Mỹ sẽ rút khỏi Hiệp ước vì “họ (người Nga) đã vi phạm Hiệp ước trong nhiều năm”. Mối lo ngại đối với Australia là sự sụp đổ của hiệp ước có thể dẫn tới một cuộc chạy đua vũ trang mới ở Thái Bình Dương.

Hiệp ước cấm Mỹ và Nga có tên lửa trên đất liền với tầm bắn từ 500 km – 5000 km và các bệ phóng của chúng. Để tuân thủ hiệp ước, cả hai nước đã phá hủy khoảng 2600 tên lửa phóng từ mặt đất cùng các bệ phóng.

Do Trung Quốc không tham gia hiệp ước, nước này đã dần dần xây dựng một kkho vũ khí phóng từ mặt đất đáng gờm gồm 2000 tên lửa đạn đạo và hành trình tầm trung trong nỗ lực hiện đại hóa quân sự.

Ngày 4/1/2018, Washington đã cho Nga thời hạn 60 ngày – kết thúc vào ngày 2/2/2019 – để tháo dỡ các tên lửa mà họ tuyên bố vi phạm thỏa thuận hoặc Mỹ sẽ bắt đầu quá trình 6 tháng chính thức rút khỏi hiệp ước. Vào ngày 2/2, do không có sự phản hồi từ phía Nga, Mỹ đã ra thông báo chính thức về việc rút khỏi thỏa thuận.

Cả Mỹ và Nga đều cáo buộc bên kia vi phạm hiệp ước.

Năm 2008, Mỹ cáo buộc Nga vi phạm hiệp ước khi tiến hành thử tên lửa hành trình phóng từ mặt đất SSC-8 (9M729). Cáo buộc đã được đưa ra một lần nũa vào năm 2014 và 2017. Theo các quan chức Mỹ, việc triển khai hai tiểu đoàn tên lửa của Nga được trang bị SSC-8 là vi phạm hiệp ước. Mỗi tiểu đoàn gồm 4 bệ phóng, mỗi bệ phóng có 6 tên lửa hành trình với đầu đạn hạt nhân. Mỹ tuyên bố tầm bắn tối đa của SSC-8 là 2500 km. Ngày 23/1, chỉ huy pháo binh Nga Mikhail Matveevsky nói với một cuộc họp báo rằng tầm bắn tối đa của 9M729 chỉ là 480 km.

Về phần mình, Nga cáo buộc Mỹ vi phạm hiệp ước kể từ năm 2016 khi đặt các bệ phóng cho các hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis Ashore ở Rumani và ở Ba Lan từ năm 2020. Nga tuyên bố những bệ phóng này có thể được sử dụng cho tên lửa hành trình Tomahawk và coi đây là vi phạm Hiệp ước INF. Nga còn tuyên bố rằng Mỹ triển khai các máy bay không người lái có vũ trang tầm xa MQ-9 Reaper là vi phạm Hiệp ước INF.

Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố rằng nếu Washington có hành động đặt nhiều tên lửa ở châu Âu sau khi hủy bỏ thỏa thuận, Nga sẽ có biện pháp đáp trả tương ứng và cảnh báo rằng bất kỳ quốc gia châu Âu nào đồng ý cho đặt tên lửa của Mỹ đều có nguy cơ bị Nga tấn công.

NATO và EU rất lo lắng về việc chấm dứt hiệp ước nhưng Tổng thống Trump dường như bận tâm nhiều hơn với khả năng Trung Quốc đe dọa bá quyền của Mỹ ở Thái Bình Dương so với khả năng đe dọa tên lửa tầm trung vũ trang hạt nhân của Nga đối với châu Âu.

Nga ít lo ngại về khả năng quân sự ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc và không muốn là bên đầu tiên rút khỏi một thỏa thuận vũ khí nền tảng. Tuy nhiên, sẽ rẻ hơn nhiều cho Nga khi chế tạo tên lửa tầm trung mới để đối phó với Trung Quốc so với chế tạo máy bay ném bom tầm xa, điều mà hiện tại nước này sẽ phải thực hiện theo Hiệp ước INF.

Mặc dù có nhiều lo ngại ở phương Tây về sự trỗi dậy của Nga, nhưng nên nhớ rằng GDP của Nga không lớn hơn nhiều so với Australia và chỉ tương đương với bang Texas (Mỹ). Nga không có khả năng chạy đua vũ trang với Mỹ hoặc để chống lại khả năng quân sự đang gia tăng của Trung Quốc.

Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm ước tính Mỹ chi 3,1% GDP cho quốc phòng năm 2017, trong khi Trung Quốc là 1,9% và Nga là 4,3% GDP danh nghĩa hàng năm của Mỹ, Trung Quốc và Nga vào ănm 2018 lần lượt là 20.412, 14.092 và 1.720 tỷ USD. Từ những số liệu này, chúng ta có thể giả định rằng Hoa Kỳ đang chi khoảng 610 tỷ USD mỗi năm cho quốc phòng, Trung Quốc 228 tỷ USD và Nga 66 tỷ USD.

Do đó, việc rút khỏi Hiệp ước INF sẽ cho phép Mỹ thoải mái chi tiêu nhiều hơn Bắc Kinh và nhanh chóng xây dựng một kho vũ khí mới đáng gờm trong khu vực để thách thức Trung Quốc. Việc làm này của Mỹ chắc chắn sẽ có ý nghĩa đối với các đồng minh của Mỹ ở châu Á khi Wasington có thể sẽ yêu cầu sự hỗ trợ của các đồng minh để triển khai các loại vũ khí tầm trung trên đất liền và các vũ khí thông thường tiên tiến để kiềm chế Trung Quốc.

Trong khi đó, Trung Quốc sẽ tránh tham gia các hiệp ước giới hạn vũ khí và tiếp tục mở rộng kho dự trữ tên lửa đạn đạo tầm xa.

Vào tháng 2/2018, Mỹ và Nga đồng ý theo Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược mới (START mới) về giới hạn 1550 đầu đạn hạt nhân triển khai chiến lược. (Mỹ hiện có 6550 đầu đạn hạt nhân trong khi Nga có 6850; Trung Quốc chỉ có 280).

START mới đã có hiệu lực vào ngày 5/2/2011 và dự kiến sẽ được gia hạn vào tháng 2/2021, nhưng nếu Tổng thống Trump giành được một nhiệm kỳ mới và với cố vấn an ninh quốc gia có lập trường cứng rắn John Bolton, thì thỏa thuận này cũng có thể bị hủy bỏ để bắt đầu một cuộc đua vũ khí hạt nhân tầm xa mới.

Australia sẽ ngày càng khó khăn trong việc cân bằng mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc – và sẽ vẫn duy trì mối quan hệ tốt với cả hai bên trong 5 năm tới. Do đó, sẽ là vấn đề lớn nếu như Mỹ muốn yêu cầu Australia cho phép đặt một số tên lửa ở đây.

Nguồn: Viện Lowy (Australia)

TKNB – 12/02/2019

Kế hoạch hóa gia đình – Phần I


Chúng ta cũng dễ thấy tại sao một số người đã muốn tách sự chăm sóc của cha mẹ với các dạng tính vị tha theo họ hàng. Sự chăm sóc của cha mẹ trông có vẻ như là một bộ phận gắn liền với sự sinh sản, trong khi tính vị tha ví dụ như đối với một người cháu trai lại không liên quan đến sinh sản. Tôi nghĩ rằng chắc chắn sự khác biệt quan trọng đã được ẩn đi ở đây, nhưng tôi cho rằng người ta đã hiểu lầm về sự khác biệt đấy. Họ đã đặt sinh sản và sự chăm sóc của cha mẹ về cùng phía, và các kiểu tính vị tha khác về phía bên kia. Nhưng tôi lại muốn phân biệt giữa việc sinh ra các cá thể mới ở một phía và phía kia là sự chăm sóc các cá thể đang sống. Tôi sẽ gọi hai hành động này lần lượt là “sinh con” và “chăm sóc con”. Một cỗ máy sống riêng biệt phải thực hiện hai loại quyết định khác nhau, những quyết định chăm sóc con và quyết định sinh con. Tôi sử dụng từ quyết định với ý nghĩa một hành động chiến lược vô thức. Các quyết định chăm sóc có dạng như sau: “Có một đứa trẻ; mức độ quan hệ họ hàng của nó với tôi là bình thường; cơ hội sống của nó nếu tôi không cho nó ăn là như thế; vậy tôi có nên cho nó ăn?” Các quyết định sinh con mặt khác lại là như thế này: “Tôi có nên tiến hành theo các bước cần thiết để sinh ra một cá thể mới? Tôi có nên sinh đẻ?” Ở một mức độ nào đó, chăm sóc và sinh con chắc chắn sẽ xung đột lẫn nhau về thời gian và các nguồn tài nguyên khác của một cá thể: cá thể này có thể phải lựa chọn: “Tôi sẽ chăm sóc cho đứa trẻ này hoặc tôi sẽ sinh ra một đứa mới?”

Tùy thuộc vào đặc tính sinh thái của các loài, việc phối hợp chiến lược chăm sóc và sinh con có thể là chiến lược tiến hóa bền vững. Chiến lược chăm sóc thuần túy sẽ không thể trở thành chiến lược tiến hóa bền vữnng. Nếu tất cả các cá thể sử dụng thời gian của chúng cho việc chăm sóc những đứa trẻ đã sinh ra đến mức chúng chẳng bao giờ sinh thêm các cá thể mới, thì quần thể sẽ nhanh chóng bị thôn tính bởi các cá thể đột biến chuyên hóa trong việc sinh con. Chiến lược chăm sóc chỉ có thể là tiến hóa bền vững với vai trò như một phần của một chiến lược hỗn hợp – tức là sự “sinh con” nhất định phải được tiếp diễn.

Các loài quen thuộc với chúng ta nhất như động vật có vú và loài chim có khuynh hướng là những kẻ chăm sóc tốt. Quyết định sinh ra một cá thể mới luôn luôn kéo theo quyết định chăm sóc cá thể đấy. Bởi vì chăm sóc và sinh con thường đi cùng nhau trong thực tiễn đến nỗi người ta trộn cả hai thành một. Nhưng trên quan điểm của gen vị kỷ, như chúng ta đã thấy, về mặt nguyên tắc sẽ không có sự khác biệt nào giữa việc chăm sóc em trai ruột và chăm sóc cho con trai. Cả hai đứa trẻ đều có quan hệ gần gũi với bạn. Nếu bạn phải lựa chọn giữa việc chăm sóc một trong hai đứa, thì sẽ chẳng có cơ sở di truyền nào lý giải việc tại sao bạn nên chọn đứa con của chính mình. Nhưng mặt khác, theo định nghĩa, bạn cũng không thể sinh ra em trai mình. Bạn chỉ có thể chăm sóc cho em trai mình một khi một ai đó đã sinh ra anh ta. Chúng ta đã xem xét làm thế nào để các cỗ máy sống quyết định có nên cư xử vị tha đối với các cá thể đang sống khác hay không. Ở đây, chúng ta sẽ tìm hiểu làm thế nào để các cá thể quyết định có nên sinh ra các cá thể mới hay không.

Những tranh cãi gay gắt về “chọn lọc nhóm” mà tôi đã đề cập đã kết thúc. Đó là vì Wynne-Edwards, người chịu trách nhiệm phổ biến ý tưởng chọn lọc nhóm, đã làm như vậy trong nội dung của lý thuyết “Điều chỉnh quần thể”. Ông ta đã gợi ý rằng các động vật đơn lẻ sẽ giảm tỉ lệ sinh của chúng một cách có chủ tâm và vị tha vì lợi ích của cả nhóm.

Đấy là một giả thuyết rất hấp dẫn bởi vì nó rất phù hợp với những gì mà cá nhân con người phải làm. Nhân loại đang có quá nhiều trẻ con. Quy mô dân số phụ thuộc vào bốn điều: tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử, nhập cư và di cư. Hãy lấy dân số thế giới một cách tổng thể, nhập cư và di cư không xảy ra, và chúng ta chỉ còn tính đến tỉ lệ sinh và tỉ lệ tử. Chừng nào mà số con của một cặp vợ chồng có thể sống sót để sinh sản là con số lớn hơn hai, số lượng trẻ em được sinh ra sẽ  có xu hướng tăng lê hằng năm với tốc độ tăng trưởng chưa từng có. Dân số trong mỗi thế hệ, thay vì tăng lên theo một lượng cố định, sẽ tăng một khoảng giống như một phần cố định của quy mô dân số đã đạt đến. Bởi vì bản thân quy mô này sẽ lớn dần lên, cho nên quy mô gia tăng cũng lớn hơn. Nếu loại tăng trưởng này được tiếp diễn mà không bị kiểm soát, dân số sẽ đạt tỉ lệ vô cùng lớn một cách cực kỳ nhanh chóng.

Rất tình cờ, một điều mà ngay cả những người quan tâm đến các vấn đề dân số đôi khi cũng không nhận ra là sự tăng trưởng dân số phụ thuộc vào khi nào người ta có con cũng như phụ thuộc vào việc họ có bao nhiêu con. Vì dân số có khuynh hướng tăng với một tỉ lệ nhất định theo thế hệ, nên nó dẫn đến việc quần thể sẽ tăng trưởng với tốc độ tăng hằng năm chậm hơn nếu bạn tách dãn các thế hệ nhiều hơn. Khẩu hiệu ghi “dừng ở hai” có thể được thay đổi tương ứng với khẩu hiệu “bắt đầu ở 30”! Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, sự tăng trưởng dân số nhanh đều báo hiệu mối đe dọa nghiêm trọng.

Chúng ta có lẽ đều đã thấy các ví dụ về những tính toán gây sửng sốt có thể đem lại. Ví dụ, dân số hiện tại của châu Mỹ Latin là khoảng 300 triệu, và đã có nhiều người trong số họ thiếu ăn. Nhưng nếu dân số tiếp tục tăng lên theo tốc độ hiện tại, thì chưa đến 500 năm sau, dân số sẽ đạt tới điểm mà mọi người chỉ đứng một chỗ cũng đã hình thành một thảm người dày đặc trải khắp toàn bộ châu lục. Và cho dù chúng ta giả định rằng họ rất gầy, một giả định không phải là thực tế, thì điều đó vẫn xảy ra. Trong 1000 năm nữa kể  từ thời điểm này, họ sẽ phải đứng lên vai của nhau, tạo thành độ sâu 1.000.000 mét. Khoảng 2000 năm, “núi người” này, vươn ra ngoài theo tốc độ ánh sáng, sẽ chạm tới mép vũ trụ của chúng ta.

Bạn sẽ không quên rằng đấy là một tính toán lý thuyết! Điều đó sẽ không thực sự xảy ra vì một vài nguyên nhân thực tế. Những nguyên nhân đó là nạn đói, bệnh dịch và chiến tranh; hoặc nếu chúng ta may mắn, thì đó là do kiểm soát tỉ lệ sinh. Việc kêu gọi thúc đẩy phát triển nông nghiệp, “cách mạng xanh” và những điều tương tự là vô ích. Tăng sản lượng lương thực có thể tạm thời làm dịu bớt vấn đề, nhưng theo tính toán toán học thì chắc chắn rằng đấy không phải là những giải pháp về lâu dài. Thực tế thì, giống như các tiến bộ y học đã làm lắng dịu khủng hoảng, các giải pháp đó cũng có thể làm vấn đề trở nên tồi tệ hơn, bằng cách làm tăng tốc độ phát triển dân số. Một sự thật đơn giản và logic là nếu không có sự di tản với số lượng lớn vào vũ trụ, với các tên lửa được phóng lên với tỉ lệ vài triệu chiếc mỗi giây, tỉ lệ sinh không được kiểm sát sẽ dẫn đến tỉ lệ chết tăng một cách khủng khiếp. Bạn sẽ khó tin rằng những nhà lãnh đạo lại không thể hiểu được sự thật đơn giản này, những người đã cấm những người ủng hộ các biện pháp tránh thai hữu hiệu. Những nhà lãnh đạo này ưa thích sử dụng các biện pháp “tự nhiên” để giới hạn dân số, và cái mà họ sắp nhận được cũng chính xác là một phương thức tự nhiên. Đó là sự chết đói.

Nhưng dĩ nhiên, những lo lắng xuất phát từ sự tính toán về lâu dài như vậy cũng dựa trên sự quan ngại về lợi ích tương lai của toàn bộ các loài. Con người (một vài cá thể trong số chúng) đã tiên đoán trước về những hậu quả hủy diệt của sự bùng nổ dân số. Cũng cần nhắc lại rằng cuốn sách này giả định các cỗ máy sống nói chung được điều hành bởi các gen vị kỷ, và những gen này hầu như chắc chắn không thể dự báo về tương lai, cũng thực sự không có khái niệm vì lợi ích chung của tất cả các loài. Đây cũng là chỗ mà các phần học thuyết của Wynne-Edwards có chung quan điểm với các nhà học thuyết tiến hóa chính thống. Wynne-Edwards ch rằng có một phương thức mà nhờ nó việc kiểm soát tỉ lệ sinh mang tính vị tha thực sự có thể phát triển.

Một quan điểm không được nhấn mạnh trong các bài viết của Wynne-Edwards, hay trong các tác phẩm phổ biến quan điểm của Wynne-Edwards do Ardrey viết, là có một lượng lớn các số liệu đã được nhất trí mà không cần bàn cãi. Đó là, các quần thể động vật hoang dã không tăng trưởng với tốc độ lớn như lý thuyết tính toán. Đôi khi những quần thể này duy trì tương đối ổn định, với tỉ lệ sinh và tỉ lệ chết tương đương nhau. Trong nhiều trường hợp mà quần thể chuột đồng lemming là một ví dụ nổi tiếng, quần thể dao động trong một giới hạn rộng, có giai đoạn bùng nổ mãnh liệt xen kẽ với những giai đoạn sụp đổ và gần tuyệt chủng. Đôi khi nó dẫn đến sự tuyệt chủng ngay lập tức, chí ít là đối với các quần thể địa phương. Đôi khi, giống như trường hợp loài mèo rừng Canada, quần thể mèo dường như lên xuống theo nhịp, số liệu thu được nhờ tính tóa từ số lượng bộ lông mèo được công ty Vịnh Hudso bán ra hàng năm. Một điều mà các quần thể động vật không thể thực hiện được đó là tiếp tục tăng số lượng một cách vô hạn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011

Các giá trị trong văn minh công nghiệp – Phần cuối


Cùng với công nghiệp hóa, quá trình đô thị hóa cũng là một tiêu chí của hiện đại hóa. Trong thời đổi mới từ khoảng cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, việc đô thị hóa ở nước ta mới thực sự bắt đầu. Vấn đề chúng ta quan tâm là quá trình đô thị hóa ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm giá trị của con người: đô thị hóa phải đi liền với việc xây dựng văn hóa đô thị với cốt lõi là các giá trị công nghiệp. Theo kết quả điều tra trong những năm 2001 – 2005, trong các nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tiêu cực, nguyên nhân đầu tiên là do thay đổi hoàn cảnh sống, môi trường sống (chiếm 28,2%); một số nguyên nhân khác như: Do khoảng cách giàu nghèo tăng (chiếm 23,57%); do một số truyền thống dân tộc bị xói mòn (chiếm 23,08%); do ảnh hưởng lối sống đua đòi (chiếm 19,78%); các nguyên nhân khác (chiếm 4,75%).

Có thể thấy rõ, từ một xã hội nông nghiệp chuyển sang một xã hội công nghiệp, sẽ có rất nhiều khó khăn, phức tạp. Đó là quy luật phát triển nhưng là quy luật xã hội, cho nên người ta nói đến thể chế, chính sách, tổ chức xã hội, giáo dục theo nghĩa rộng của từ này (bao hàm cả giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội, giáo dục gia đình; giáo dục và tự giáo dục) tác động đến thế giới quan, nhân sinh quan và giá trị quan – thang giá trị đảo lộn, thước đo giá trị thay đổi… Xây dựng xã hội công nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế với bốn giá trị phổ quát: hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển là nhiệm vụ hết sức khó khăn, nhưng chúng ta đang vượt qua để tiến tới và đã đạt thành công nhất định. Nhiều thành tựu được bạn bè trong vùng và thế giới công nhận. Ví dụ, tám mục tiêu thiên niên kỷ:

1/ Loại trừ các loại bần cùng và thiếu ăn (xóa đói giảm nghèo bền vững);

2/ Phổ cập giáo dục bắt buộc (phổ thông cơ sở);

3/ Thực hiện bình đẳng giới, nâng cao vị thế của phụ nữ;

4/ Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em;

5/ Bảo đảm sức khỏe bà mẹ;

6/ Ngăn chặn HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác;

7/ Giữ gìn môi trường bền vững;

8/ Xây dựng đối tác toàn cầu (để phát triển kinh tế, bảo đảm việc làm, đừng để nợ nần, công nghệ thông tin…).

Các mục tiêu này triển khai từ đầu thế kỷ XXI và phải hoàn thành vào năm 2015. Theo đánh giá hàng năm của các cơ quan Liên hợp quốc, Việt Nam đang đứng vào loại khá, tuy còn phải tiếp tục phấn đấu nhiều, nhất là các chỉ tiêu số (1), (7), (8). Trong nước xuất hiện nhiều luồng ý kiến khác nhau, nhưng tựu trung lại, mối lo lớn nhất là rơi vào “bẫy trung bình”, không vươn lên giàu có, không thực sự thoát cảnh đói nghèo và bảo đảm an sinh xã hội, nhất là đạo đức xã hội. Theo điều tra giá trị học với 146 doanh nhân tiến hành năm 2011, trong tình hình hiện nay có bốn nỗi lo lớn: làm sao giữ được bản sắc dân tộc (chiếm 50%); lo lắng trước tình hình đảo lộn giá trị xã hội (chiếm 49,32%); sợ bị lệ thuộc về chính trị (chiếm 49,32%); phát triển kinh tế có tốt dần lên không (chiếm 14,38%).

Phải nói thêm rằng, chúng ta xây dựng một xã hội công nghiệp hiện đại, hội nhập quốc tế, nên việc nhiều người lo lắng đến vấn đề làm sao giữ được bản sắc dân tộc là một xu hướng tích cực. Hội nhập quốc tế là đường lối đúng đắn trong xu thế toàn cầu hóa, có thuận lợi, có khó khăn, riêng về mặt văn hóa – giáo dục lại càng rất phức tạp, trong đó có vấn đề về mối quan hệ giữa giá trị dân tộc ta và các hệ giá trị của thế giới hay hệ giá trị của nước này, nước khác, như Hội đồng Lý luận Trung ương đã nhận định: tận dụng tác động tích cực của hội nhập quốc tế, cần “…chung tay sáng tạo những giá trị chung của nhân loại,… tiến hành đối thoại giữa các nền văn hóa, tìm kiếm những giá trị chung, đồng thời tôn trọng, đề cao đa dạng văn hóa”. Cuốn sách này có thể phần nào có vai trò quan trọng đối với phát triển đất nước: muốn cùng tìm kiếm, sáng tạo những giá trị chung của thế giới ngày nay, phải nghiên cứu, tìm hiểu, khẳng định hệ giá trị quốc gia, dân tộc của chúng ta, và mục tiêu quan trọng là mỗi người phải hình thành, phát triển, phát huy “hệ giá trị bản thân”.

Hệ thống lại các giá trị tạo nên sức mạnh tinh thần của quốc gia, dân tộc đã ghi trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013, như bảo vệ chế độ “dân chủ cộng hòa”, bảo vệ và thực hiện tốt các giá trị “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”, tạo mọi điều kiện phát huy giá trị trí tuệ (tư duy), khoa học, giáo dục đắc lực phục vụ sự nghiệp “công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, kinh tế thị trường, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, tập trung vào giá trị nổi bật đã ghi trong “Lời nói đầu” của Hiến pháp sửa đổi năm 2013: yêu nước; đoàn kết; nhân nghĩa,\; kiên cường; bất khuất.

Năm giá trị dân tộc này được xây đắp từ cách đây hàng nghìn năm và được phát huy rõ nét qua quá trình lịch sử đấu tranh bảo vệ nền độc lập, thống nhất của dân tộc; đến ngày nay được Hiến pháp sửa đổi năm 2013 khẳng định lại, được kế thừa và là mạch chảy xuyên suốt trong dòng giá trị quốc gia. Tháng 5/2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) họp Nghị quyết về văn hóa và con người đã chỉ ra các giá trị bền vững tạo nên bản sắc dân tộc Việt Nam là:

+ Yêu nước nồng nàn;

+ Tự tôn, tự cường dân tộc;

+ Tinh thần cộng đồng gắn kết hài hòa giữa cá nhân – gia đình – cộng đồng – Tổ quốc;

+ Nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý;

+ Cần cù, sáng tạo trong lao động;

+ Hy sinh cao thượng tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân;

+ Ứng xử văn minh, lịch sự;

+ Giản dị và trong sạch trong lối sống.

Các giá trị quốc gia, dân tộc đó phải trở thành giá trị bản thân của từng người để mỗi người dựa trên cơ sở đó tự hoàn thiện nhân cách của mình.

Hệ giá trị quốc gia, dân tộc gắn bó với hệ giá trị của loài người, của cộng đồng khu vực và thế giới, của thời đại công nghiệp. Hệ giá trị quốc gia đó phải triển khai thành hệ giá trị các địa phương, các đơn vị, các cơ quan, doanh nghiệp, các trường học…, vận dụng xây dựng thành thước đo giá trị để tuyển và sử dụng nhân sự các cấp. Một việc rất quan trọng là mọi người, mọi cấp, các nhà trường phải tham gia định hướng giá trị từ trong gia đình, từ cộng đồng tới toàn xã hội với các lứa tuổi, đặc biệt với tuổi học sinh, sinh viên, thanh niên để thực hiện được nhiệm vụ cực kỳ quan trọng  của nhà trường, của nền giáo dục nước nhà theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI là phải hình thành được “giá trị bản thân” ở mỗi người.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Kinh nghiệm trong thời kỳ quá độ của Việt Nam có ích thế nào đối với Triều Tiên? – Phần I


Chuyến thăm gần đây tới Hà Nội của Bộ trưởng Ngoại giao Triều Tiên Ri Yong Ho và tuyên bố rằng Việt Nam sẽ là nơi tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh lần thứ hai giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un vào ngày 27 – 28/02 tới đã khơi gợi lại mối quan tâm tới việc câu chuyện thành công của Việt Nam có thể liên quan thế nào tới Triều Tiên hiện nay. Vào cuối những năm 1980, cả hai nước đều phải đối mặt với tình trạng nền kinh tế nhà nước hoạt động yếu kém, sự phụ thuộc quá mức vào Trung Quốc và cú sốc về kinh tế do sự cắt giảm mạnh viện trợ của Liên Xô và thương mại. Trong khi các cuộc khủng hoảng kinh tế kìm kẹp cả hai nước, thì những lựa chọn chiến lược của họ để ứng phó lại hoàn toàn khác biệt. Việt Nam chọn cách bắt tay vào cải cách kinh tế, rút quân khỏi Campuchia, giảm biên chế quân đội, cải thiện quan hệ với Mỹ và tự mở cửa ra cộng đồng quốc tế để tiếp nhận viện trợ, đầu tư và thương mại. Triều Tiên đã ứng phó bằng cách thực hiện các chính sách kinh tế tự lực theo chủ nghĩa biệt lập, tìm cách cải thiện quan hệ liên Triều, gia tăng căng thẳng quân sự bằng cách theo đuổi một chương trình vũ khí hạt nhân và một chính sách đối đầu với Mỹ, và kêu gọi viện trợ nhân đạo từ cộng đồng quốc tế khi phải đối mặt với sự suy sụp về kinh tế và nạn đói ngày càng tăng.

Quỹ đạo của hai nước kể từ đầu những năm 1990 minh chứng cho những kết quả đáng chú ý của các chiến lược này. Trong những thập kỷ qua, chế độ Triều Tiên đã phải vật lộn với những thách thức trong việc phát triển kinh tế, giảm đói nghèo, ổn định xã hội và duy trì một hệ thống chính trị cộng sản, điều hẳn khiến người ta đặc biệt quan tâm tới kinh nghiệm của Việt Nam khi Kim Jong-un bắt đầu tiến hành cái gọi là đường lối chiến lược mới, ưu tiên phát triển kinh tế.

Những điểm tương đồng giữa Việt Nam khi đó và Triều Tiên hiện nay

Mặc dù hai nước rất khác nhau về tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu kinh tế và nhân khẩu học, nhưng một số khía cạnh trong kinh nghiệm thời kỳ đầu quá độ của Việt Nam dường như có liên quan tới Triều Tiên hiện nay, bất chấp sự cách biệt về thời gian. Những khía cạnh này bao gồm:

+ Cam kết cao độ đối với việc cải thiện nền kinh tế;

+ Thử nghiệm cải cách;

+ Tìm hiểu quan điểm của người ngoài cuộc;

+ Thách thức của việc thay đổi chính sách an ninh quốc gia; và

+ Vai trò của những người ở miền Nam trong nền kinh tế.

Cam kết cao độ đối với việc cải thiện nền kinh tế

Năm 1986, sau một thập kỷ kinh tế đình trệ và lo sợ lạm phát cao, ban lãnh đạo Việt Nam tại Đại hội Đảng lần thứ 6 đã đạt được một sự đồng thuận về đường hướng mới cho chính sách cải cách kinh tế được gọi là Đổi Mới. Việc mất đi viện trợ của Liên Xô và thương mại cũng hư những lo sợ về sự phụ thuộc quá mức vào Trung Quốc đã góp phần tạo nên những mối quan ngại này ở trong nước và dẫn tới quyết định tìm kiếm một mối quan hệ với Mỹ và mở cửa nền kinh tế Việt Nam với cộng đồng quốc tế nhằm giành được quyền tiếp cận tới tư vấn, viện trợ, đầu tư và thương mại.

Trong bài phát biểu mừng năm mới của mình vào năm 2012, Kim Jong-un đã nhấn mạnh việc cải thiện sinh kế cho toàn bộ người dân Triều Tiên và sau đó đưa ra nhữung thay đổi trong cơ cấu ra quyết định của ban lãnh đạo nhằm thể hiện sự thay đổi này. Tại Đại hội Đảng lần thứ 7 vào năm 2016, Triều Tiên chính thức thực hiện ch1inh sách chú trọng không kém đến an ninh quốc gia, nhấn mạnh các khả năng hạt nhân và tên lửa, và phát triển kinh tế. Năm 2017, căng thẳng quân sự leo thang và các biện pháp trừng phạt ngày càng gay gắt đã làm dấy lên nỗi ám ảnh về tình trạng đối đầu và khủng hoảng kinh tế. Cuối năm đó – sau vụ thử vũ khí hạt nhân có đương lượng nổ cao và vụ phóng tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) lần thứ ba, nước này tuyên bố đã đạt được khả năng vũ khí hạt nhân đáng tin. Năm 2018, Kim Jong-un tuyên bố chuyển sang ưu tiên phát triển kinh tế trong nước, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động ngoại giao nhằm cải thiện quan hệ với cộng đồng quốc tế và mở rộng sự ủng hộ cho một ỷ nguyên mới về hòa bình và hợp tác kinh tế.

Thử nghiệm cải cách

Ngay cả trước Đại hội Đảng năm 1986, Việt Nam đã thử nghiệm các cải cách kinh tế ở quy mô nhỏ. Trong đó có nhữung cải cách cấp cơ sở trong ngành nông nghiệp theo mô hình tập thể hóa và phong trào “phá rào” ở các doanh nghiệp nhà nước vốn đã dẫn tới việc chấp nhận các nhân tố thị trường trong quy hoạch kinh tế. Việc phân quyền trong quy trình ra quyết định là một nhân tố chủ chốt trong những thử nghiệm này.

Triều Tiên cũng sẵn sàng thử nghiệm những cải cách dưới thời Kim Jong-un, đáng chú ý là ở Đặc khu kinh tế Rason tại khu vực biên giới với Trung Quốc và Nga. Tương tự, vào năm 2014, các cải cách thử nghiệm đã được đưa ra nhằm giảm bớt quy mô nông trại, cho phép một phần sản lượng được sử dụng trong các hộ gia đình và được bán trên các thị trường, và trao cho các nhà quản lý doanh nghiệp sở hữu nhà nước quyền tự quyết lớn hơn. Kể từ năm 2016, những cải cách này được mở rộng và việc phân quyền hơn trong quy trình ra quyết định được chú trọng nhiều hơn. Các thị trường được hợp pháp hóa vào năm 2003, nhưng sự kháng cự mang tính ý thức hệ đối với vai trò của thị trường trong nền kinh tế đã khiến sự phát triển kinh tế trở nên phức tạp. Tuy nhiên, việc chấp nhận mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động dựa trên thị trường đã cho phép tiến hành thử nghiệm kinh tế ở quy mô lớn hơn, làm gia tăng tiêu chuẩn sống của nhiều người Triều Tiên cũng như tầng lớp trung lưu mới nổi.

Tìm hiểu quan điểm của người ngoài cuộc

Việt Nam đã chủ động tìm hiểu quan điểm của người nước ngoài về các lựa chọn chính sách và chiến lược kinh tế, bắt đầu bằng những cuộc tham vấn âm thầm không chính thức vào những năm đầu Đổi Mới. Sau đó, vào những năm 1990 đã diễn ra các cuộc tham vấn cả song phương lẫn đa phương với các chính phủ tài trợ và các nhà đầu tư tư hân. Các cuộc tham vấn này đã cải thiện chất lượng của quy trình ra quyết định và lòng tin của nước ngoài vào quy trình này, và đã thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác với các đối tác kinh tế trong khi ban lãnh đạo Việt Nam vẫn duy trì quyền sở hữu và quyền kiểm soát đối với tiến trình này.

Triều Tiên đã do dự trong việc tham gia đối thoại chính sách kinh tế cấp cao với các bên tham gia nước ngoài và thay vào đó theo đuổi một chính sách “quản lý theo cách riêng của chúng ta”. Căng thẳng chính trị và các biện pháp trừng phạt cũng đã cản trở các cuộc thảo luận này. Mặc dù vậy, trong những năm qua, các quan chức cấp thấp hơn và các học giả đã chủ động học hỏi kiến thức liên quan đến lĩnh vực kinh tế, thông qua các hình thức như tham gia các khóa bồi dưỡng và các buổi hội thảo trong nước, các chuyến học tập ở nước ngoài, các chương trình đào tạo đại học ở một số nước, và tích cực sử dụng mạng Internet để học hỏi kinh nghiệm của quốc tế và đào sâu hiểu biết về nền kinh tế thị trường. Những kinh nghiệm của Hàn Quốc và Trung Quốc và các mối quan hệ xuyên biên giới đã là một nguồn đặc biệt quan trọng cho các quan chức Triều Tiên học hỏi. Điều đã và đang bị bỏ qua là vai trò trong các thể chế tài chính quốc tế, mặc dù vào tháng 7/2014, Triều Tiên đã được thừa nhận là quan sát viên của Nhóm châu Á – Thái Bình Dương về chống rửa tiền thuộc Lực lượng đặc nhiệm tài chính thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).

(còn tiếp) 

Nguồn: www.38north.org – 07/02/2019

TLTKĐB – 14/02/2019

Đông Nam Á năm 2019 – Phần II


Liên minh kinh tế Đông Á (EAEC) sẽ hồi sinh?

Các cuộc thảo luận về cấu trúc khu vực đã trở nên hấp dẫn hơn với việc Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad trở lại cầm quyền, người rất muốn phục hồi đề xuất của mình về một EAEC cho sự hội nhập chặt chẽ hơn giữa ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc). Gần 1/2 số người tham gia khảo sát (49,2%) cho rằng “đề xuất này không còn phù hợp vì EAEC đã được thay thể bởi Hội nghị thượng đỉnh Đông Á và RCEP trong tương lai”. Những nước có quan điểm dè dặt nhất đối với EAEC là Singapore (65,6%), Indonesia (56,7%), Philippines (55,1%), Thái Lan (57,2%) và Việt Nam (52,1%).

Đồng thời, đứa con tinh thần của Mahathir đã tìm thấy lực kéo ở 5 nước thành viên khác. Những người tham gia khảo sát từ Brunei (55,6%), Malaysia (50,7%), Campuchia (50%), Lào (50%) và Myanmar (47,2%) cho rằng EAEC sẽ “tăng cường hơn nữa mối quan hệ của ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc”. Toàn diện hơn những người tham gia khảo sát dường như không quan tâm đến tư cách thành viên hẹp của EAEC, mà loại trừ Australia, Ấn Độ và New Zealand. Chỉ 1/5 số người tham gia khảo sát (20,6%) quan tâm đến việc 3 nước này không gia nhập EAEC. Có thể thấy rõ mối quan tâm này ở Singapore (29,7%) và Việt Nam (27,7%).

Bất ổn chính trị trong nước, những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, và biến đổi khí hậu là những thách thức hàng đầu về an ninh của Đông Nam Á

Cuộc khảo sát này đưa ra 6 lựa chọn – suy thoái kinh tế, khủng bố, những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, những căng thẳng quân sự gia tăng từ những điểm bùng phát tiềm tàng trong khu vực, bất ổn chính trị trong nước và sự biến đổi khí hậu – để những người tham gia khảo sát xác định 3 mối quan ngại về an ninh hàng đầu của họ. Hơn 50% người được khảo sát đưa ra 4 lựa chọn là sự bất ổn chính trị trong nước (53,7%), những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo (52,9%), sự biến đổi khí hậu (51,6%) và suy thoái kinh tế (51,1%). Khủng bố xếp ở thứ tự thấp nhất với chỉ 37,2% số người tham gia khảo sát lựa chọn.

Điều thú vị là các mối đe dọa từ “các sự kiện thời tiết dữ dội và diễn ra thường xuyên hơn do biến đổi khí hậu” đứng thứ ba, xếp trên vấn đề suy thoái kinh tế, khủng bố và những căng thẳng quân sự khu vực. Biến đổi khí hậu là mối quan ngại an ninh hàng đầu ở Lào (62,1%, cùng với suy thoái kinh tế), Philippines (62,2%, cùng với những căng thẳng quân sự trong khu vực) và Singapore (61,2%).

Mối quan ngại an ninh hàng đầu đối với các nước thành viên ASEAN lần lượt là: Brunei (suy thoái kinh tế, 80%), Campuchia (bất ổn chính trị trong nước, 75%), Indonesia (nhữung căng thẳng dân tộc và tôn giáo, 67,8%), Lào (suy thoái kinh tế và biến đổi khí hậu, tương ứng 62,1%), Malaysia (suy thoái kinh tế, 63,7%), Myanmar (căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, 67,1%), Philippines (những căng thẳng quân sự trong khu vực và biến đổi khí hậu, tương ứng 62,2%), Singapore (biến đổi khí hậu, 61,2%), Thái Lan (bất ổn chính trị trong nước, 78,3%), Việt Nam (những căng thẳng quân sự khu vực, 78,2%).

Người Đông Nam Á lo ngại điều gì về ASEAN

Mối lo ngại chính về ASEAN là nhận thức rằng ASEAN đã không “thực hiện đúng lời hứa” với 650 triệu dân của nó. Gần 3/4 số người tham gia khảo sát (72,6%) bày tỏ họ thất vọng vì “không nhận thấy những lợi ích rõ ràng của ASEAN”. Những người tham gia khảo sát từ 7 nước thành viên ASEAN (ngoại trừ Campuchia, Lào và Việt Nam) lựa chọn đây là mối quan ngại hàng đầu của họ. Định hình 3 mối quan ngại hàng đầu là nỗi lo sợ rằng ASEAN đang trở thành đấu trường cạnh tranh nước lớn (62%) và ASEAN “không có khả năng đối phó với những diễn biến chính trị và kinh tế hay thay đổi” (61,9%). Cảm nhận của Đông Nam Á về “sự mất kết nối” không cao (35,3%). 44% số người tham gia khảo sát chia sẻ họ quan ngại về việc ASEAN ngày càng trở nên mất  đoàn kết. Đây là mối quan ngại hàng đầu của những người tham gia khảo sát ở Việt Nam (69,4%).

Về những diễn biến ở Bán đảo Triều Tiên và vấn đề Rohingya

Cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Kim ở Singapore vào ngày 12/6/2018 là một trọng tâm chính trị của năm 2018, một minh chứng cho vị thế ngoại giao của Singapore, cũng như cho thấy ASEAN là một môi trường thân thiện và không có kẻ thù. Thực tế là chỉ 26,8% số người tham gia khảo sát cho rằng “việc ASEAN làm gì không quan trọng vì có vai trò rất nhỏ” cho thấy đa số người tham gia khảo sát mong muốn tổ chức khu vực này tiếp tục can dự vào vấn đề này.

Rất ít người tham gia khảo sát trả lời câu hỏi nhiều lựa chọn này xem xét “cách tiếp cận củ cà rốt và cây gậy” của ASEAN với chỉ 28,5% đồng ý rằng ASEAN nên “đưa ra những sự khích lệ về kinh tế cho Triều Tiên để nước này duy trì cam kết phi hạt nhân hóa” và 24,9% ủng hộ “duy trì các biện pháp trừng phạt cho đến khi Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc dỡ bỏ chúng”. Phần lớn (60,8%) ủng hộ cách tiếp cận ngoại giao “tiếp tục can dự với Triều Tiên một cách song phương và thông qua Diễn đàn khu vực ASEAN”. Sự can dự ngoại giao là phản ứng hàng đầu ở tất cả các nước thành viên ASEAN ngoại trừ Campuchia, nơi 75% số người tham gia khảo sát muốn ASEAN “có vai trò tích cực với tư cách là một nhà trung gian hòa giải trung thực”.

Gần hơn, vấn đề Rohingya tiếp tục ảnh hưởng khắp khu vực và xa hơn nữa. ASEAN đã bị chỉ trích vì giấu mình đằng sau bức màn “không can thiệp” khi một cuộc khủng hoảng nhân đạo tiếp tục gây thiệt hại cho hơn 500.000 người Rohingya phải di cư. Kết quả khảo sát cho thấy ASEAN cần có cách tiếp cận chủ động hơn khi lựa chọn “không làm gì vì đây là vấn đề trong nước của Myanmar” có số lượng phản hồi thấp nhất (14,6%). Ngya cả trong số những người tham gia khảo sát ở Myanmar, thì “việc không làm gì” không phải là cách tiếp cận ưa thích.

Nhìn chung, 66,5% số người tham gia khảo sát lựa chọn “làm trung gian hòa giải giữa Chính phủ Myanmar, cộng đồng quốc tế và cộng đồng người Rakhine và Rohingya” là cách tốt nhất để đạt được tiến triển. Quan điểm này được chia sẻ bởi 59,2% số người tham gia khảo sát ở Myanmar và 79,1% 73 Indonesia. Câu trả lời ưa thích thứ hai (50,9%) là “tăng cường viện trợ nhân đạo cho người Rohingya ở các trại bên ngoài Myanmar”, sau đó là “gia tăng áp lực ngoại giao đối với Myanmar” (38%).

Phản ánh thực trạng trên thực địa, ASEAN bị chia rẽ giữa lựa chọn giúp đỡ nhân đạo “an toàn hơn” và một hành động hòa giải tương đối mang tính thâm nhập hơn. Hầu hết những người tham gia khảo sát từ Brunei (77,8%), Philippines (71,2%) và Singapore (66,1%) chọn hỗ trợ nhân đạo làm phản ứng chính của họ, trong khi hòa giải là lựa chọn hàng đầu cho người tham gia khảo sát từ Indonesia (79,1%), Lào (51,7%), Malaysia (72,4%), Thái Lan (66,1%), Việt Nam (67,2%) và Myanmar (59,2%). 62,5% số người tham gia khảo sát ở Campuchia lựa chọn cả viện trợ nhân đạo lẫn làm trung gian hòa giải là câu trả lời hàng đầu của họ.

II/ Các nước lớn và sự can dự của họ ở khu vực

Phân tích quan điểm về Mỹ của các nước Đông Nam Á

Cuộc khảo sát đã yêu cầu những người tham gia khảo sát chia sẻ nhận thức của họ về (a) Mỹ như một cường quốc và ảnh hưởng toàn cầu ngày  nay so với một năm trước; (b) sự can dự của Chính quyền Trump với khu vực; và (c) độ tin cậy của Mỹ với tư cách là một đối tác chiến lược và nhà cung cấp an ninh khu vực. Đối với cả ba câu hỏi này, quan điểm chung về Mỹ là cực kỳ tiêu cực.

Gần 6/10 người tham gia khảo sát (59,1%) cho rằng sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ trên vũ đài toàn cầu đã suy giảm (45,6%) hoặc suy giảm đáng kể (13,5%). Ngược lại, chỉ có 19,7% cho rằng sức mạnh và ảnh hưởng toàn cầu của Mỹ đã tăng lên (15,4%) hoặc tăng lên đáng kể (4,3%). 21,2%  rằng địa vị của Mỹ là không thay đổi. Để đưa ra cái nhìn về bức tranh lớn hơn này, số người tham gia khảo sát giữ quan điểm rằng Mỹ đang suy yếu nhiều gấp 3 lần số người nghĩ rằng sức mạnh của Mỹ tăng lên hoặc tăng lên đáng kể. Các nước có mức độ quan ngại cao nhất về sự suy giảm của Mỹ là Philippines (75,7%), Singapore (72,7%), Brunei (68,2%) và Malaysia (67,6%). Đi ngược lại xu hướng bi quan này là Việt Nam, nước duy nhất có quan điểm tích cực (47,1%) vượt xa quan điểm hoài nghi (31,7%).

(còn tiếp) 

Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS, số tháng 1/2019

TLTKĐB – 13 & 14/02/2019

Khâu thực thi trong quản lý kiểu Trung Quốc – Phần cuối


“Cương nhu kết hợp, đối xử chân thành”

Theo chủ trương quản lý kiểu Trung Quốc, một người lãnh đạo thực sự có uy tín phải biết giữ khoảng cách nhất định với cấp dưới, không nên quá xa cách, nhưng cũng không quá dễ dãi. Nếu bạn là một nhà lãnh đạo thì bạn phải vừa chú ý có được tình cảm của cấp dưới, đồng thời có lúc cần phải nghiêm khắc, cứng rắn, không được mềm lòng mà nương tay. Trong quá trình làm việc cần kết hợp ân và uy, cư xử bằng tình cảm chân thành, đó là bí quyết kỳ diệu của quản lý.

Niên hiệu Vĩnh Lạc (1403 – 1424) thời nhà Minh, bá quan văn võ đều rất cần mẫn làm việc, vì vậy trong thời đại vua Minh Thành Tổ biết cách dùng ngườiv à hiểu người này có rất nhiều các bề tôi nổi tiếng có tài. Minh Thành Tổ (Chu Đệ) thưởng phạt rất phân minh, đánh giá đúng tài năng, không câu nệ phẩm cấp, hơn thế ông rất chân thành đối đãi với người khác. Ông cổ vũ các bề tôi nói thẳng, nhưng những việc đại sự lại do chính bản thân mình quyết định. Đây chính là một trong những nhân tố cực kỳ quan trọng giúp ông giành được thành công trong sự nghiệp.

Minh Thành Tổ rất nghiêm túc khi hành pháp, đối với những người vì vô trách nhiệm mà gây hậu quả, nhẹ thì giáng cấp hoặc bãi chức, nặng thì giam vào ngục hoặc xử tội chết. Ví dụ quan ngự sử Ngọc Dữ và người của bộ Hình cùng cẩm y vệ đã quyết tội nhầm, dẫn đến giết chết bốn người vô tội. Sauk hi Minh Thành Tổ biết chuyện đó, ông lệnh lập tức bắt giữ bốn người trong đó có Ngọc Dữ, và ngay trong ngày hôm đó “bốn người lập tức ra khỏi thành”. Sở Tam Pháp là cơ quan hành pháp, Minh Thành Tổ căn dặn cơ quan này phải trong sạch và thương yêu bách tính, khi hành pháp phải công bằng, kh6ong được nhận hối lộ. Nếu không, “phạm tội là xử theo luật”.

Minh Thành Tổ một mình nắm quyền trị vì đất nước, các quan đại thần luôn luôn giữ lòng kính phục đối với ông, khi còn đương chức họ đều không dám lơi là công việc, thậm chí có người còn mang tâm lý nơm nớp lo sợ. Ví dụ, vào mùa đông năm Vĩnh Lạc 19 (1421), Minh Thành Tổ chuẩn bị thân chinh Ngoại Mông lần thứ ba, Thượng thư bộ Hộ Hạ Nguyên Cát và Thượng thư bộ Binh Phương Binh đều có ý phản đối, rốt cuộc Hạ Nguyên Cát bị tống giam, còn Phương Binh thì tự sát. Minh Thành Tổ lại lệnh cho Thượng thư bộ Lễ là Lữ Chấn kiêm luôn chức Thượng thư bộ Hộ và bộ Binh. Lữ Chấn vô cùng lo sợ. Minh Thành Tổ thấy thế liền lệnh cho 10 viên quan giám sát Lữ Chấn như hình với bóng, nói với họ rằng: “Nếu Lữ Chấn tự sát thì khép cả 10 người bọn ngươi vào tội chết”. Một viên quan Thượng thư bộ Lễ mà còn vậy thì khỏi cần nói đến các viên quan khác.

Minh Thành Tổ đối với bề tôi không chỉ úy quyền mà còn có tình cảm, đó chính là “uy và ân kết hợp”. Ví dụ, Giải Tự và Hồ Quảng là đồng hương, đồng môn, trong triều lại là Nội Các Học sĩ, đương nhiên Minh Thành Tổ làm mối cho con cái nhà họ thành duyên. Về sau, tuy Giải Tự bị bắt giam đến chết nhưng con trai của ông vẫn lấy được con gái của Hồ Quảng.

Tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ bảy (1409), Minh Thành Tổ hạ lệnh cho nghỉ mười ngày từ ngày 11 cho đến ngày 20, để thần dân đón tết Nguyên tiêu. Trong mười ngày ấy, “bách quan trong triều không phải tham gia việc tấu sự, lấy việc xem thần dân thắp đèn mở tiệc rượu làm niềm vui, bãi bỏ lệnh cấm đoán hoạt động về đêm”. Tục lệ nghỉ tết Nguyên tiêu vào thời Minh Thanh là bắt nguồn từ đấy, đó cũng là hành động thể hiện sự quan tâm của Minh Thành Tổ đến những việc nhỏ nhặt trong đời sống của thần dân.

Tháng Mười năm ấy, do Bắc Kinh rất lạnh nên Minh Thành Tổ sợ buổi sáng các quan vào thiết triều đứng lâu bên ngoài sẽ cảm lạnh, ông bèn cho thiết triều ngoài trời thành vào trong điện, quan lại có việc bẩm báo lần lượt vào tấu, không có việc gì thì có thể quay về làm việc.

Thời kỳ đầu khi Minh Thành Tổ mới lên ngôi, ông đã xử lý rất nghiêm những người được coi là có tư tưởng thay đổi chế độ cũ. Quan Thiếu khanh tự Ngự Khiêm tự thuật lại rằng, theo luật cũ, đối với tăng đạo trong thiên hạ, mỗi người chỉ được phép có năm mẫu ruộng, phần thừa ra nộp cho quan, còn nếu không đủ ruộng thì quan phủ sẽ bán lại. Ông tấu trình rằng: “Luật này nên thay đổi, còn tội của thần thì xin hãy trị theo luật”. Minh Thành Tổ cười nói: “Vị tú tài này từ bi như đức Phật” và không hề trị tội Ngự Khiêm. Từ đó có thể thấy, đối với những người muốn cải cách chế độ cũ, Minh Thành Tổ vẫn còn có những cách đối xử riêng biệt.

Thưởng phạt phân minh là sự đảm bảo quan trọng trong lịch sử thống trị của nhà Minh, chính vì vậy Minh Thành Tổ rất coi trọng vấn đề này. Minh Thành Tổ hành pháp vô cùng nghiêm khắc, đặc biệt là đối với những công thần đã cùng ông nằm gai nếm mật, cũng không vì họ có công mà cho qua, khi có tội vẫn xử theo luật hình. Trước đây, công thần của các triều đại trong lịch sử đều kiêu ngạo không tuân thủ pháp luật, trong những năm Vĩnh Lạc hầu như không thấy những việc như thế, điều này có liên quan đến nghệ thuật quản lý các quan lại của Minh Thành Tổ. Có một lần, khi bộ Hình đang định tội một số công thần đã cùng Minh Thành Tổ đồng cam cộng khổ, họ đã thỉnh cầu ông hãy nghĩ đến công lao trước đây của họ mà giảm nhẹ mức án, nhưng họ nhận lại được những lời răn dạy của Minh Thành Tổ và ông vẫn kiên quyết xử tội theo đúng luật. Minh Thành Tổ nói rằng: “Trong triều đình phải lấy việc công làm chính, có công ắt sẽ có thưởng, có tội ắt sẽ bị xử. Người thưởng phạt dựa theo pháp luật trị vì thiên hạ, không vì có công mà cho qua, không vì việc tư mà làm hỏng việc công. Công lao cả đời nhưng đã được ban thưởng không ít bổng lộc, nay có tội lại không trị tội, đấy là tiếp tay cho cái xấu. Nếu đã dung túng cho cái xấu thì sao có thể trị thiên hạ? Nên cứ theo luật mà làm”. Đoạn trích trên thể hiện rất rõ quan điểm của Minh Thành Tổ về việc thưởng phạt, đây cũng là một nguyên nhân quan trọng giúp cho sự nghiệp của ông giành được thành công lớn.

Đối với những người có công, Minh Thành Tổ không tiếc ban thưởng Ví dụ, ngay những người lập công khi còn nằm gai nếm mật, cho dù đã chết nhưng vẫn được truy phong theo công trạng. Trương Ngọc đã hy sinh trong trận chiến Đông Xương, Minh Thành Tổ vẫn truy phong cho ông làm công thần danh dự của đất nước. Ông còn lo lắng việc thưởng cho những công thần không được thỏa đáng nên lệnh cho các quan đưa đề nghị để phong thưởng cho những vị công thần còn bị sót lại.

Đối với các cựu thần thời Kiến Văn chỉ cần họ không giữ thái độ thù địch thì sau khi quy hàng đều được tín nhiệm, hơn thế còn tùy công mà luận thưởng. Vào thời Vĩnh Lạc nhiều vị trí quốc danh thần đều là cựu thần thời kỳ Kiến Văn quy hàng như Dương Sĩ Kỳ, Dương Vĩnh, Sài Nghị, Hạ Nguyên Cát… Các vị quan này đều để lại công trạng và nhiều lần được Minh Thành Tổ ban thưởng. Riêng Dương Vinh là người có nhiều thành tích về mặt quân sự, nên khi ông về quê, Minh Thành Tổ đã đặc cách ra lệnh cho một vị thái giám theo hầu, coi đó như một vinh hạnh và sủng ái cho Dương Vinh. “Nội thần theo hầu chỉ có duy nhất Dương Vinh thời Vĩnh Lạc”. Vì quan thái giám là người chỉ theo hầu Hoàng đế, nhưng Minh Thành Tổ lại cho họ theo hầu một vị cựu thần thời Kiến Văn, điều đó duy nhất chỉ xuất hiện ở thời Minh. Sự đãi ngộ đầy ân nghĩa này khiến cho toàn bộ quan lại trong triều không khỏi ngạc nhiên.

Tháng Hai năm Vĩnh Lạc thứ mười (1412), Minh Thành Tổ đã phong quan cho Dương Sĩ Kỳ, Dương Vinh, Sài Nghi, Hạ Nguyên Cát và còn thưởng hậu cho cụ cố, bố mẹ và vợ của bốn người kể trên. Đây là việc thưởng công báo đáp lại việc họ đã tận tụy với triều đại mới và khích lệ họ tiếp tục đóng góp công lao. Cũng chính vào tết Nguyên tiêu năm đó, Hạ Nguyên Cát dẫn mẹ của mình đi xem hoa đăng. Minh Thành Tổ sau khi biết được tin đó liền lập tức ra lệnh cho thái giám mang hai trăm ngân lượng biếu cho mẹ của Hạ Nguyên Cát. Đây chỉ là một việc nhỏ nhưng nó phản ánh mối quan hệ vô cùng mật thiết giữa Minh Thành Tổ với những quan lại có công lớn với đất nước.

Đối với việc thăng quan hay giáng chức của quan lại, Minh Thành Tổ rất cẩn thận. Ông từng nói với các đại thần bên cạnh mình rằng: “”Vua dùng một người hay bỏ một người kkho6ng được tùy tiện, nhất định phải khiến choo người khác tâm phục. Nếu như tiến cử một người mà cả thiên hạ đều biết đó là kẻ có tài thì ai mà chẳng muốn theo họ thành tài, nếu cách hức một người mà thiên hạ đều biết đó là kẻ ác thì ai còn dám theo hắn làm điều ác nữa đây? Không có tài mà vẫn được tiến cử thì đó là do ưu ái cá nhân, nếu không gây ra điều ác mà vẫn bị cách chức thì đó là do tư thù. Cứ theo tình riêng thì làm sao có thể khiến cho thiên hạ phục được đây?

Những lời nói trên của Minh Thành Tổ không phải là những câu nói mang hàm ý sâu sắc, nhưng những người có thể làm được điều này không nhiều. Cho dù chúng ta nhìn vào hiện tại, những câu nói đó của ông vẫn tỏa sáng một chân lý không bao giờ tắt, Minh Thành Tổ hiểu được điều này và làm đúng như thế, chính điều đó đã giúp ông trở thành một trong những vị vua thành công trong lịch sử Trung Quốc.

Minh Thành Tổ một tay điều hành đất nước, kết hợp được ân và uy đối với các đại thần, vì vậy cuối triều đại của ông, các đại thần đều người nào việc nấy, cân nhắc kỹ lưỡng khi làm việc, không ai dám vượt mặt. Đối với những nhà lãnh đạo hiện nay, đó là một tấm gương rất đáng để chúng ta học tập. Khi đối xử với cấp dưới phải biết kết hợp cả ân và uy, đối với những điểm không đúng của cấp dưới cố nhiên phải có thái độ trách cứ rõ rang; ngược lại, với những điểm thể hiện rõ tài năng nổi trội của họ càng không thể gạt đi mà phải có những khen thưởng thích hợp, như vậy mới khiến cho tâm lý của cấp dưới cân bằng.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.