Sự kết thúc của TPP: một “phi sự kiện” với hậu quả lớn


Barthélémy Courmont

Trong chiến dịch tranh cử Tổng thống Mỹ, Donald Trump đã hứa sẽ chấm dứt Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), ngay khi bước vào Nhà Trắng ngày 23/1, ông đã giữ lời hứa này bằng cách ký văn bản chấm dứt việc Mỹ tham gia TPP.

Trên thực tế, quyết định này kết thúc Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, vốn từng được sắp đặt theo sáng kiến của Chính quyền Obama và tập hợp 12 quốc gia gồm Mỹ, Canada, Mexico, Peru, Chile, Australia, New Zealand, Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Việt Nam và Brunei. Chấm dứt một thỏa thuận mà Trump từng phản đối nội dung của nó, nếu bản thân sự lựa chọn này của Donald Trump không phải là một sự kiện trọng đại, điều này mang lại tấn tượng đầu tiên về chính sách của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương, và mở ra một kỷ nguyên mới trong cân bằng quyền lực với Trung Quốc, quốc gia mà TPP từng được thai nghén để chống lại. Theo quan điểm này, những hậu quả của việc chấm dứt TPP sẽ là nghiêm trọng và nó cũng không chỉ giới hạn trong giao lưu kinh tế và thương mại.

TPP, một hiệp định hạn chế

Trong quá trình ký kết hiệp định, sau một thời kỳ đàm phán lâu dài, TPP đã đạt được miêu tả như một thỏa thuận thương mại tự do quy tụ 12 quốc gia với dân số hơn 800 triệu người, và chiếm tới 40% GDP toàn cầu. Tuy nhiên, đằng sau những con số thoạt nhìn đầy ấn tượng này ẩn giấu thực tế của một hiệp định với phạm vi ảnh hưởng hạn chế, đặc biệt đối với khu vực châu Á. Chỉ có 5 quốc gia châu Á ký hiệp định này, trong số đó chỉ duy nhất Nhật Bản là thành viên của G-20. Hàn Quốc, quốc gia đã có một số thỏa thuận thương mại tự do với Hoa Kỳ, không tham gia TPP, Indonesia cũng không tham gia, còn Trung Quốc bị loại trừ một cách có chủ ý, mục tiêu cụ thể của TPP là lập một “mặt trận đối lập” với sự trỗi dậy của Trung Quốc torng các lĩnh vực kinh tế và thương mại trên quy mô châu lục (và nói chung là trên toàn thế giới). Rõ ràng, những đòn bẩy, công cụ của TPP khiêm tốn hơn nhiều so với tham vọng của hiệp định và thậm chí, TPP dường như chẳng là gì so với gia tăng trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và các nước láng giềng của Bắc Kinh, vốn là những quốc gia mà TPP từng hướng đến, nhưng nó lại không có phương tiện để chống lại sự mở rộng trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng này.

Phía Mỹ, hiệp định từng được miêu tả như một phương tiện phục hồi kinh tế. Theo Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC), TPP sẽ cho phép Hoa Kỳ tăng GPD lên 0,15% từ nay tới năm 2032, và gia tăng xuất khẩu của nước này lên 1%. Ngoài thực tế là điều này vẫn khá khiêm tốn (nếu ở đây, chúng ta đang nói về 40% GDP toàn cầu), các ước tính vẫn đang gây tranh cãi, và không nhất thiết mang lại nhiều giá trị hơn so với việc gia tăng các hiệp định song phương, chẳng hạn như hiệp định đang có với Hàn Quốc.

Nói về phần nội dung, Hiệp định bao gồm 30 chương về việc giảm thuế hải quan, các vấn đề sở hữu trí tuệ, môi trường, quyền lao động, tiếp cận thị trường mua sắm chính phủ, hoặc một thỏa thuận bảo vệ đầu tư. Về những điểm khác nhau này, có thể nêu lên nhiều vùng tối với các hiệu ứng không chắc chắn đối với nền kinh tế và việc làm tại Hoa Kỳ để biện minh cho quan điểm của Donald Trump, và còn cả sự không rõ ràng đáng kể liên quan đến khả năng “nâng cấp” của một số quốc gia ký kết, tính cả đến sự mất cân bằng kinh tế và xã hội rất lớn giữa 12 thành viên thêm vào đó là những khác biệt cơ bản về chính trị. Tóm lại, từ trước thời điểm ký kết Hiệp định, TPP đã bị gièm pha rằng đây là một thỏa thuận không hoàn thiện, không thực tế và khó áp dụng.

Cuối cùng, hãy nhớ rằng hiệp ước này, từng được ký tại Auckland vào cuối tháng 2/2016, vẫn chưa có hiệu lực, và việc Mỹ hủy bỏ không tham gia hiệp định này xác nhận rằng TPP là trường hợp “chết lưu” hơn là một bước lùi của Hiệp định. Với những lý do khác nhau, quyết định của Tổng thống Donald Trump chẳng gây ấn tượng mạnh mẽ gì, bởi một khi được công bố, quyết định cũng chẳng liên quan đến một hiệp ước mà ta có thể đo lường tầm ảnh hưởng của nó.

Trung Quốc trong tư thế phục kích

Trung Quốc đã không hề chậm trễ trong hành động vào giai đoạn tiếp theo của TPP vốn đang dần hình thành, thậm chí còn dự đoán sự rút lui mà Mỹ sẽ công bố. Nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh APEC từ ngày 17 đến 20/11/2016 tại Peru, và một vài ngày sau bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos (Thụy Sĩ), ngày 17/1/2017, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi Trung Quốc và các nước láng giềng thiết lập một quan hệ đối tác kinh tế toàn diện. Dự án này đầy tham vọng vì nó bao gồm ngoài Trung Quốc, là các nước ASEAN, Ấn Độ và Australia. Đồng thời từ chối bất kỳ sự tham gia nào của Mỹ (giới quan sát cũng khó tưởng tượng rằng Donald Trump ủng hộ dự án này). Quan điểm này của Bắc Kinh không gây ngạc nhiên, bởi trước tiên, Bắc Kinh luôn nhận thức với tất cả lý lẽ rằng TPP là trực tiếp chống lại Trung Quốc và cũng bởi về phía các nhà lãnh đạo, họ đã đưa ra nhiều sáng kiến để chống lại Hiệp định.

Như vậy, thông báo của Chính quyền Donald Trump là một thắng lợi đối với Bắc Kinh, khi con đường phía trước đã được khai thông, và chúng ta có thể dễ dàng hình dung rằng nhiều thành viên của TPP sẽ tiến gần lại với Trung Quốc, quốc gia mà họ vốn đang duy trì các quan hệ kinh tế và thương mại rất quan trọng. Các quốc gia Singapore, Malaysia, Australia và ngay cả Việt Nam đã bày tỏ sự quan tâm đối với sáng kiến của Bắc Kinh và nahnh chóng quay lưng lại với TPP. Các thành viên ASEAN khác rồi cũng sẽ tiếp bước. Cuối cùng, ngoại trừ Nhật Bản, các quốc gia mang cảm giác mồ côi đối với TPP, bất chấp những nỗ lực của Shinzo Abe, nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên tới chúc mừng Donald Trump ở New York sau khi doanh nhân tỷ phú này đắc cử tổng thống, các nước châu Á đã thay thế Mỹ bởi Trung Quốc như đối tác kinh tế và kinh doanh mà họ đang hướng tới.

Cũng nên nhắc lại rằng, ngoài những mục tiêu này của Trung Quốc, còn nhiều sáng kiến được nêu lên trong những năm gần đây, trong đó, việc thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) là đáng kể hơn cả. Với sáng kiến này, một lần nữa, gần như tất cả các quốc gia châu Á (trừ Nhật Bản) đều tham gia và Mỹ không tham gia (trái ngược với các nền kinh tế quan trọng của châu Âu). Nếu TPP không còn nữa, AIIB sẽ tiếp tục các hoạt động của mình và thậm chí còn được tăng cường hơn, điều này lại cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực.  Hiệp định do bộ đôi Obama-Clinton thiết lập, được hiểu là tìm cách để chống lại sự bành trướng của Trung Quốc, sự bãi bỏ hiệp định mở ra cánh cửa rộng cho Bắc Kinh.

Sự kết thúc của chính sách “xoay trục” sang châu Á

Còn lại tầm quan trọng chính trị trong quyết định của Donald Trump, người tuyên bố án tử của chiến lược “xoay trục”, được khởi xướng ngay từ lúc Barack Obama lên nắm quyền năm 2009 và trong chuyến công du của Hillary Clinton (chuyến công du đầu tiên với tư cách Ngoại trưởng Mỹ) tại châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Indonesia), và được chính thức hóa năm 2011. TPP được mong đợi như một trong những yếu tố chính cụ thể hóa chiến lược tái định vị này ở châu Á, bên cạnh các thỏa thuận chiến lược với các quốc gia khác trong khu vực. Trong chiến dịch tranh cử của mình, Donald Trump đã quyết liệt lên án sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Nhật Bản và Hàn Quốc, trong khuôn khổ các quan hệ đối tác chiến lược đang có hiệu lực với 2 quốc gia này, cũng như chiếc ô hạt nhân của Mỹ mà Tokyo và Seoul đang thụ hưởng (trong trường hợp Triều Tiên có hành động xâm lược). Thậm chí, Donald Trump còn gợi ý rằng hai nước này phải chịu trách nhiệm về số phận an ninh của mình, dù phải sở hữu cả vũ khí hạt nhân để đối mặt với những hành động của Bình Nhưỡng.

Tại Đông Nam Á, chiến lược “xoay trục” đã thể hiện những giới hạn cảu nó vào cuối năm 2016, với sự đảo chiều của Philippines, khi Rodrigo Duterte tuyên bố trong chuyến thăm chính thức của nhà lãnh đạo Philippines tới Bắc Kinh (20/10/2016), rằng Duterte sẽ quay lưng lại với Mỹ, đồng minh truyền thống, và rằng ông sẽ xích lại gần Trung Quốc. Một điều chắc chắn, dù Trung Quốc là “người hàng xóm” hay gây ra những tình huống khó xử, nhưng Manila không thể bỏ qua, đặc biệt là năng lực đầu tư của Trung Quốc (cũng như viện trợ phát triển của đất nước đông dân nhất hành tinh này), những khoản đầu tư không cạn kiệt, khó có thể từ chối. Tiếp sau Rodrigo Duterte, Thủ tướng Malaysia Najib Razak, đã tuyên bố ngay tại Bắc Kinh, trong chuyến thăm chính thức của ông tới Trung Quốc, việc thiết lập quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Trung Quốc. Những thay đổi này phản ánh sự tin tưởng ít ỏi mà các đồng minh của Washington đặt vào chính quyền mới của Tổng thống Donald Trump cũng như chính sách châu Á của ông này. Và Trung Quốc là quốc gia được lợi chính trong bối cảnh đó.

Vấn đề còn lại là tìm hiểu xem quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ thế nào, vì rằng “chính sách châu Á” của Washington trước hết là một chính sách đối với Trung Quốc.

Hiện Trung Quốc đang tìm kiếm một sự thỏa hiệp hơn là một cuộc đối đầu, nhưng một thỏa hiệp rõ ràng có lợi cho Bắc Kinh, sẽ phản ánh quan điểm sức mạnh mà Trung Quốc hiện diện tại châu Á – Thái Bình Dương. Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) thậm chí sẽ chào đón một hình thức kiểu “Yalta Thái Bình Dương”, trong đó Đông Thái Bình Dương sẽ được đặt dưới sự giám hộ của Mỹ, và Tây Thái Bình Dương dưới sự cai trị của Trung Quốc, điều này sẽ đánh dấu sự lãnh đạo của Trung Quốc bên bờ châu Á, nhưng đồng thời liên quan đến những cạnh tranh lớn hơn giữa hai quốc gia ở Thái Bình Dương. Chiến lược “xoay trục” dường như là một câu trả lời phủ định đối với sự chia sẻ này tại Thái Bình Dương, và do đó, nó được Bắc Kinh nhìn nhận như một mong muốn rõ rệt về tăng cường đua tranh. Mặc dù vậy, câu hỏi về một món hời lớn thường được đề cập trong giới chiến lược gia và giới học thuật Mỹ vốn ủng hộ quan điểm thực tế. Với việc kết thúc TPP, Donald Trump chỉ đơn thuần làm sống lại ý tưởng rằng món hời lớn này có thể nhanh chóng trở thành nền tảng của chính sách đối ngoại của Mỹ ở châu Á.

Nguồn: Asialyst – 25/01/2017

TKNB – 27/02/2017

Advertisements

Liệu nguyên tắc không can thiệp có còn là rào cản đối với ASEAN?


Chang Jun Yan

Nhìn vào 3 vấn đề an ninh quan trọng nhất của khu vực châu Á – Thái Bình Dương mà ASEAN phải đối mặt năm vừa rồi: cuộc khủng hoảng người tị nạn Rohingya, vấn đề Biển Đông và cuộc khủng hoảng hạt nhân tại Triều Tiên – chỉ có thể nói cái cách ASEAN phản ứng đối mặt với vấn đề Triều Tiên là còn cho thấy sự thống nhất của khối này.

Đảm nhận vai trò chủ tịch ASEAN năm tới, Singapore sẽ phải nỗ lực rất nhiều trong việc giúp ASEAN đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan giữa việc đạt được những mục tiêu và mong muốn trở thành một thể chế khu vực lớn mạnh mà vẫn phải giữ các nguyên tắc cơ bản như không can thiệp vào vấn đề nội bộ của các nước thành viên.

Điểm lại một số thành tựu được cho là nổi bật nhất của ASEAN cho đến nay. Thứ nhất, mặc dù không có một cuộc xung đột vũ trang nào giữa các quốc gia thành viên kể từ khi thành lập, ASEAN thực ra vẫn chưa phải là một Cộng đồng ổn định thật sự nơi mà xung đột vũ trang là điều không thể nghĩ tới. Thứ hai, cái cách mà ASEAN đã giúp Trung Quốc hòa nhập hơn với các chủ thể khu vực thực ra vẫn còn chưa hiệu quả khi mà Trung Quốc ngày càng có các hành động hiếu chiến hơn ở Biển Đông.

Ngay cả khi ASEAN đã dần trở thành một phần quan trọng của chủ nghĩa khu vực, đặc biệt khi đã thành công trong việc thiết lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) vào năm 1994 thì những thành tựu này vẫn chưa xứng so với chiều dài lịch sử của ASEAN, chưa nói đến việc ASEAN đã không đủ khả năng giải quyết một cách dứt khoát bất ổn trong khu vực phát sinh từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 và sự gia tăng chia rẽ trong ARF.

Kỳ vọng về một Cộng đồng

Đã có nhiều kỳ vọng về một Cộng đồng ASEAN, một Cộng đồng có thể trở nên thịnh vượng cùng nhau; về việc ASEAN đóng vai trò chủ đạo, là một trục liên kết trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Đây cũng là những vấn đề mà Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã nêu bật trong bài phát biểu của ông tại lễ bế mạc Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 31 vừa kết thúc. ASEAN Singapore 2018 cũng đã chính thức ra mắt logo với dòng chữ “Bền vững và Sáng tạo”.

Tuy nhiên, ngày càng có thể thấy rõ sự mâu thuẫn giữa nguyên tắc không can thiệp của ASEAN và kỳ vòng về một Cộng đồng ASEAN với việc ASEAN đóng vai trò chủ đạo. Như Bộ trưởng Ngoại giao Singapore Vivian Balakrishnan đã phát biểu gần đây, ASEAN hiện nay đang ở bước ngoặt khi việc phải đối mặt với những thách thức rất đa dạng của 10 quốc gia thành viên ngày càng đòi hỏi ASEAN phải ở một vị trí trung tâm.

Do có sự mâu thuẫn giữa việc lấy đồng thuận giữa các thành viên làm chính hay lấy ASEAN làm trung tâm, ASEAN có thể đứng trước nguy cơ tầm ảnh hưởng đang bị giảm sút. Nguyên tắc không can thiệp đã trói tay các thành viên của ASEAN. Ngay cả khi những vấn đề nhưc uộc khủng hoảng Rohingya làm ảnh hưởng tới quá trình dân chủ hóa tại Myanmar, các nước thành viên cũng chỉ lên tiếng chỉ trích mà thôi để tránh làm ảnh hưởng tới hình ảnh của một ASEAN ủng hộ Myanmar.

Thực tế thì không có một cơ chế chính thức nào để ASEAN có thể “can thiệp”, đó là chưa nói đến việc giám sát liệu các mục tiêu chung mà một cộng đồng thường đề ra có được thực thi hay không. Nếu vẫn giữ vững nguyên tắc không can thiệp, thật khó có thể hình dung ra một ASEAN đóng vai trò như một mạng lưới hỗ trợ hiệu quả, một cộng đồng thực sự cho người dân.

Khi Trung Quốc đang tiếp tục củng cố năng lực quân sự và quyền lực, việc ASEAN không thể thiết lập một quy tắc ràng buộc pháp lý cho Biển Đông thực sự là điều đáng để chỉ trích. Đây cũng là hệ quả của việc thiếu đồng thuận giữa các quốc gia thành viên. Mỗi quốc gia thành viên ASEAN đều phải đặt lợi ích riêng lên trên, đặc biệt là các nước tranh chấp. Kể cả khi có sự đồng thuận giữa các nước tranh chấp thì cũng không thể có một ràng buộc pháp lý vì quyết định đó không đại diện cho toàn bộ các nước ASEAN.

Chúng ta vẫn còn phải nói đến sự kiện năm 2012 tại Phnom Penh (Campuchia) khi các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN không thể đưa ra một thông cáo chung về vấn đề Biển Đông. Đây là lần đầu tiên các Bộ trưởng ASEAN đã thất bại trong việc đưa ra tuyên bố chung, một thất bại đáng kể cho một tổ chức luôn tự hào trong việc đưa ra các tuyên bố chính trị chung.

Nguyên tắc không can thiệp đã định hình ASEAN trong 50 năm qua. Tuy nhiên, những kỳ vọng về vị trí trung tâm của ASEAN và một Cộng đồng ASEAN là rất quan trọng. Không thể kỳ vọng về một ASEAN hoàn hảo, nhưng ASEAN sẽ phải lựa chọn giữa việc không can thiệp và tầm ảnh hưởng giảm sút hoặc tăng cường vai trò trung tâm để giải quyết các vấn đề của khu vực. Nói ngắn gọn, ASEAN cần phải không để các định kiến trước đây định hình tương lai của khu vực mà phải tìm ra cách thức mới để có thể giải quyết các vấn đề khu vực mà các nước thành viên vẫn còn có sự khác biệt.

Nhiều nhà phân tích đã đưa ra các ưu tiên khác nhau mà ASEAN cần phải giải quyết dưới sự lãnh đạo của Singapore với vai trò Chủ tịch trong năm 2018, trong đó bao gồm vấn đề Biển Đông, đẩy mạnh hội nhập kinh tế, tập trung hơn vào các cuộc khủng hoảng tại Triều Tiên hoặc tập trung vào hợp tác khu vực để chống lại các thách thức phi truyền thống như khủng bố.

ASEAN tuổi 50 phải hướng tới sự bền vững và sáng tạo để chứng minh tầm quan trọng của tổ chức này là không hề giảm sút.

Nguồn: channelnewasia

TKNB: 20/12/2017

Điều gì khiến Tổng thống Trump cân nhắc quay trở lại TPP?


Mới đây, khi tham gia Diễn đàn Kinh tế thế giới ở Davos (Thụy Sĩ), Tổng thống Mỹ Donald Trump một lần nữa tuyên truyền chủ trương chính sách thương mại “Nước Mỹ trước tiên”, cho biết Mỹ mong muốn thông qua đàm phán hiệp định thương mại song phương cùng có lợi để thúc đẩy chính sách thương mại của mình, đối tác đàm phán có thể là bất kỳ nước nào, kể cả các nước vốn là thành viên HIệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đồng thời đề xuất Mỹ có thể cân nhắc trở lại TPP dưới tiền đề được đáp ứng điều kiện nhất định. Ông cho rằng TPP vốn có không phải là một hiệp định đúng đắn, chỉ sau khi nó có những “cải thiện mang tính thực chất” có lợi cho Mỹ thì nước này mới có thể cân nhắc tiến hành đàm phán TPP. Mặc dù hiện nay Donald Trump vẫn giữ thái độ thận trọng đối với việc đàm phán lại TPP, nhưng đây là lần đầu tiên ông để ngỏ khả năng Mỹ có thể đàm phán lại TPP sau khi tuyên bố rút khỏi TPP ngay khi mới lên nắm quyền.

Chủ trương chính sách thương mại của Trump là “Nước Mỹ trước tiên”, mục tiêu chủ yếu là thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của Mỹ, chấn hưng ngành sản xuất, củng cố thành quả việc làm. Donald Trump áp dụng phương thức kết hợp giữa phá bỏ cái cũ và lập nên cái mới để thúc đẩy mục tiêu chính sách thương mại của mình; ở trong nước thì thông qua cải cách, tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng để giải phóng sức sống của doanh nghiệp, thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào Mỹ, đối với bên ngoài thì nỗ lực xây dựng lại hệ thống thương mại, thực hiện thương mại bình đẳng. Chính sách thương mại trong năm cầm quyền đầu tiên của Donald Trump phần nhiều được thể hiện qua việc phá vỡ cơ chế thương mại hiện đang “gây bất lợi cho Mỹ”, cho thấy rõ xu thế bảo thủ, trong đó có việc rút khỏi TPP, đàm phán lại các hiệp định thương mại như Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), thực thi Luật thương mại để tăng cường thẩm tra vốn nước ngoài đổ vào Mỹ, khởi động điều tra theo “điều khoản 301” đối với Trung Quốc về tình hình thực thi quyền sở hữu trí tuệ, phát động điều tra 79 vụ việc mới về chống bán phá giá và chống trợ cấp… Một loạt biện pháp về chính sách thương mại của Trump đã từng bước củng cố nét đặc sắc chống toàn cầu hóa của Mỹ, hành động cứng rắn này tuy đã giành được lợi ích nhất định cho Mỹ, nhưng trước sự phản ứng không tích cực của cộng đồng quốc tế, Mỹ phải đối mặt với sức ép dư luận gia tăng, không gian quốc tế có thể thương lượng bị thu hẹp, xu thế Mỹ bị cô lập tăng lên.

Donald Trump đề xuất cân nhắc trở lại TPP kèm theo điều kiện là dựa trên những toan tính sau:

1/ Thay đổi hình ảnh quốc gia

Bên cạnh việc công kích cơ chế thương mại hiện nay, Mỹ từng bước thúc đẩy hệ thống thương mại mới dựa trên lợi ích của mình, thay đổi khuynh hướng chủ nghĩa bảo thủ thời kỳ đầu. Trong bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Davos, Donald Trump đã đưa ra một số quan điểm mới của Mỹ đối với toàn cầu hóa, ông chỉ ra rằng “Nước Mỹ trước tiên” không phải là một nước Mỹ cô lập, có thể quay trở lại TPP kèm theo điều kiện. Donald Trump nhận thức đầy đủ ý nghĩa quan trọng của một thế giới mở đối với việc củng cố thành quả tăng trưởng kinh tế và nâng cao việc làm mà ông giành được trong năm đầu cầm quyền, thúc đẩy nước Mỹ phồn vinh và phát triển lâu dài. Hiện nay, các nền kinh tế khác trên thế giới, đặc biệt là kinh tế Trung Quốc phát triển vững chắc, tốc độ theo kịp Mỹ khiến nhiều người hết sức ngạc nhiên. Sự so sánh lực lượng giữa Trung Quốc và Mỹ tiếp tục thay đổi, thực lực tổng hợp của Mỹ bước vào giai đoạn ổn định đỉnh cao. Việc lôi kéo đầu tư nước ngoài và khai thác thị trường quốc tế có vai trò không thể thiếu đối với việc thúc đẩy nước Mỹ phát triển. Bài phát biểu của Donald Trump tại Davos đã nhấn mạnh một cách trọng điểm chính sách thuế thông thoáng mà Mỹ đang xây dựng, xóa bỏ cơ chế quản lý giám sát không cần thiết… để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mỹ cần một thế giới mở, không phải là “khép kín” để thực hiện sự phồn vinh và phát triển của chính mình.

2/ Xoa dịu quan hệ với các nước thành viên khác của TPP trước đây

Việc bày tỏ thái độ muốn quay trở lại TPP kèm theo điều kiện của Trump có thể giúp xoa dịu quan hệ giữa Mỹ với các nước thành viên TPP trước đây. Trước khi diễn ra Diễn đàn Kinh tế thế giới ở Davos, 11 nước thành viên TPP trước đây, ngoại trừ Mỹ đã hoàn thành công tác đàm phán về Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), lên kế hoạch ký kết thỏa thuận thương mại này vào ngày 8/3/2018 ở Chile. Nhật Bản đã phát huy vai trò chủ đạo quan trọng trong việc thúc đẩy CPTPP, dựa vào CPTPP, Chính quyền Shinzo Abe tiếp tục duy trì được vị thế của Nhật Bản trong địa chính trị châu Á – Thái Bình Dương, thúc đẩy cải cách và mở cửa trong nước. Canada từ do dự lúc ban đầu chuyển sang ủng hộ tiếp tục đàm phán TPP. Ngày 23/1/2018, trong bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế thế giới tại Davos, Thủ tướng Canada Justin Trudeau đánh giá cao ý nghĩa quan trọng của CPTPP đối với Canada, cho biết ngày đạt được hiệp định là “một ngày vĩ đại của nền thương mại tiến bộ trên thế giới”. CPTPP đã áp dụng các biện pháp linh hoạt hơn, xóa bỏ các yêu cầu khá mạnh mẽ của Mỹ trong TPP trước đây, như bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở trình độ cao hơn… đã cân nhắc đến mối quan tâm lợi ích của một số nước khác, như quyền ngoại lệ chung về văn hóa do Canada đề xuất…  CPTPP sẽ mang lợi ích rõ rệt hơn, tổng dân số của 11 nước khoảng 500 triệu người, tổng sản lượng kinh tế vượt trên 10.000 tỷ USD, chiếm khoảng 15% GDP toàn cầu, thông qua chính sách mở cửa với trình độ cao giúp thúc đẩy tăng trưởng phồn vinh của các nước thành viên, gia tăng mức thu nhập của tầng lớp trung lưu. CPTPP đã áp dụng chính sách cởi mở hơn, có thể tiếp tục nhận các thành viên mới, ngoài Mỹ có thể trở lại kèm theo điều kiện, nước Anh đã bày tỏ mong muốn gia nhập CPTPP. Tuy Donald Trump vẫn nhấn mạnh ý nghĩa của các hiệp định thương mại song phương, nhưng với một thị trường châu Á – Thái Bình Dương rộng lớn như vậy, lợi ích kinh tế và ý nghĩa chiến lược của nó vẫn rất có sức hút đối với Mỹ.

3/ Tìm kiếm môi trường bên ngoài có lợi cho Mỹ

Trong bài phát biểu tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) vào tháng 11/2017, Donald Trump nhiều lần nhắc đến khái niệm “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” là khái niệm không gian địa lý ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” là đưa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương vào một địa chiến lược trong vòng cung chiến lược, “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” của Donald Trump vẫn đang trong quá trình hình thành, hiện nay lực lượng chủ chốt thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong nước Mỹ là phe ủng hộ đường lối chính sách trước đây của Đảng Cộng hòa và quân đội của Mỹ. Trong giai đoạn cầm quyền, tuy Donald Trump nhấn mạnh nhiều hơn đến lợi ích thương mại, chính sách “Nước Mỹ trước tiên”, nhưng cùng với việc triển khai từng bước chính sách của Donald Trump, Mỹ có khả năng từng bước tăng cường phương thức kết hợp mục tiêu địa chính trị và kinh tế để mở rộng tầm ảnh hưởng trên toàn cầu. Việc hình thành và thúc đẩy từng bước “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” của Chính quyền Trump sẽ làm gia tăng tầm ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, khởi động lại TPP sẽ là diễn đàn chiến lược quan trọng để Mỹ thực thi “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Những cân nhắc về kinh tế chính trị cũng là một đặc điểm trong chính sách cầm quyền của Donald Trump, có thể thấy rõ đặc điểm này từ trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên và cách xử lý tranh chấp thương mại Trung – Mỹ, trong thời gian tới, để thúc đẩy chiến lược châu Á – Thái Bình Dương, Trump có thể cân nhắc đến việc dựa vào diễn đàn TPP.

4/ Đặt nền tảng cho việc cải tạo hệ thống thương mại đa phương và khu vực

Dưới thời Trump, quan niệm cơ bản – TPP là sân chơi để phát triển hệ thống thương mại quốc tế của Mỹ sẽ được tiếp tục. Donald Trump coi trọng việc dựa vào các hiệp định thương mại song phương hoặc khu vực nhằm thúc đẩy quan niệm “thương mại tự do” và “thương mại công bằng” dựa trên lợi ích của Mỹ, từ đó xây dựng lại hệ thống thương mại quốc tế mới lấy “thương mại bình đẳng” làm trung tâm. Mỹ nhấn mạnh nhiều đến sự bình đẳng hoàn toàn, thương mại cùng có lợi và nhượng bộ vốn tồn tại dựa trên sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế đã giảm đi rõ rệt, đã áp dụng chính sách nghiêm ngặt hơn đối với hành vi thị trường chưa hoàn thiện ở các nước đang trong thời kỳ chuyển đổi mô hình kinh tế thị trường, tiếp tục duy trì quy tắc tiêu chuẩn cao đối với quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhà nước. TPP cũng sẽ trở thành diễn đàn để thúc đẩy quan niệm giá trị và chính sách “Nước Mỹ trước tiên”. Quay trở lại TPP giúp đặt nền tảng cho việc cải tạo hệ thống thương mại khu vực và đa phương, thúc đẩy hệ thống thương mại quốc tế được thúc đẩy mạnh mẽ hơn theo phương thức đổi mới do Mỹ chủ đạo.

5/ Tranh thủ sự ủng hộ lớn hơn cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ

2018 là năm diễn ra bầu cử giữa nhiệm kỳ Quốc hội Mỹ, Trump muốn củng cố thành quả đạt được trong năm đầu tiên, giành được sự ủng hộ lớn hơn. TPP về bản chất không đi ngược lại lợi ích của đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ, việc quay trở lại một TPP đã được “cải thiện mang tính thực chất” theo yêu cầu của Mỹ sẽ mang lại lợi ích thương mại lớn hơn cho nước Mỹ, có lợi hơn cho việc mở mang thị trường quốc tế, thu lợi trong chuỗi giá trị và phát triển ngành nghề của châu Á – Thái Bình Dương, củng cố mối liên hệ kinh tế với các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, xây dựng môi trường bên ngoài có lợi cho sự phát triển của nước Mỹ, thúc đẩy quan niệm chính sách thương mại của Mỹ.

6/ Tăng cường sự phòng ngừa đối với Trung Quốc và các nước

Đầu năm 2018, va chạm thương mại Trung – Mỹ tiếp tục gia tăng. Mặc dù Trung Quốc và Mỹ đã có nhiều cuộc bàn bạc trong năm, Trung Quốc cũng đã có những nỗ lực thực sự để xua tan đám mây đen giữa hai nước, song những động thái này không làm thay đổi nhận thức của Chính phủ Mỹ đối với quan hệ thương mại Trung – Mỹ, cho đến hôm nay, tín hiệu của việc Mỹ muốn phát động cuộc chiến thương mại đã trở nên rõ ràng hơn, thương mại giữa hai nước đang bước vào giai đoạn quan trọng từ va chạm thương mại sang xung đột thương mại. Quay trở lại TPP sẽ giúp Mỹ kiềm chế Trung Quốc, bảo vệ địa vị lãnh đạo của Mỹ trong hệ thống kinh tế thế giới, va chạm thương mại giữa Trung Quốc sẽ dần chuyển sang va chạm mang tính tổng hợp, phạm vi sẽ mở rộng từ song phương sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương và các lĩnh vực đa phương.

Những phân tích trên cho thấy việc Trump quay trở lại đàm phán TPP kèm theo điều kiện cho thấy xu hướng Mỹ đang tìm cách thay đổi hình ảnh quốc gia, xoa dịu mối quan hệ với các đồng minh, tìm kiếm môi trường thương mại có lợi cho Mỹ, dọn đường cho việc cải tạo hệ thống thương mại khu vực và đa phương, tranh thủ sự ủng hộ nhiều hơn cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ cũng như tăng cường sự phòng ngừa đối với các quốc gia như Trung Quốc.

Nói tóm lại, Mỹ không phản đối toàn cầu hóa, mà lùi một bước để tiến ba bước, tìm kiếm môi trường kinh tế bên ngoài có lợi cho nước mình, chèn ép Nga, Trung Quốc và một số nước, tín hiệu quay trở lại TPP kèm theo điều kiện của Mỹ sẽ thúc đẩy các nước như Nhật Bản đẩy mạnh việc thực thi CPTPP, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Mỹ quay trở lại TPP, các cơ chế hợp tác khác nhau ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ xuất hiện xu thế mới. Việc Mỹ quay trở lại TPP sẽ không thuận buồm xuôi gió, có thể sẽ mất khoảng 2 – 3 năm, mặc dù Chính quyền Trump nhiều lần nhấn mạnh muốn áp dụng phương thức đàm phán các hiệp định thương mại tự do song phương để thúc đẩy quan niệm thương mại mới, cho rằng việc đàm phán tập thể các hiệp định có quy mô tương đối lớn đã trói buộc chân tay của Mỹ, nhưng xem xét các nguyên nhân ở các phương diện nêu trên, không loại trừ khả năng Mỹ quay trở lại TPP trong 1 – 2 năm tới.

Nguồn: hexun.com – 14/02/2018

TLTKĐB – 25/02/2018

Tổ chức khu vực ASEAN: Phát triển và thách đố – Phần cuối


Tăng cường chức năng Ban Thư ký ASEAN chính là một đặc điểm lớn trong quá trình phát triển của tổ chức này. Sau Hội nghị Thượng đỉnh Bali thứ nhất, ASEAN thành lập Ban Thư ký Trung ương, nhưng các nước dựa trên sự cân nhắc rằng đối với các vấn đề quan trọng, cần thông qua sự tư vấn và thương lượng chặt chẽ rồi cấp cao của các nước mới quyết định, do vậy tổ chức Ban Thư ký bộc lộ đặc trưng kết cấu phân quyền địa phương, đối với việc phát triển và chấp hành chính sách, nó không hề đóng vai trò quan trọng. Ban Thư ký Trung ương thực ra chỉ đóng vai trò “Hộp thư”, chịu trách nhiệm truyền đạt các hoạt động hữu quan của ASEAN cho chính phủ các nước. Từ sau khi thành lập, tổ chức Ban Thư ký tuy đã được các nước thảo luận và tiến hành tăng cường hai lần, nhưng nó vẫn không thể thực sự phát huy chức năng hoạch định chính sách, hiệu quả hợp tác kinh tế của ASEAN không nổi bật, chức năng của Ban Thư ký chưa thể phát huy, đó phải là một trong những nhân tố quan trọng. Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN năm 1992 quyết định căn cứ theo cân nhắc về năng lực và biểu hiện, công khai tuyển chọn nhân viên Ban Thư ký để tăng cường năng lực hoạch định chính sách. Điều đó cho thấy các nước thành viên đã chú ý tới tầm quan trọng của mặt này. Có thể nói đó là bước phát triển tích cực. Nhưng cùng với sự mở rộng của tổ chức, liệu khuynh hướng quan liêu hóa có sẽ ngày càng nghiêm trọng, làm cho hiệu quả chức năng mà nó xuất ra không thể nào phù hợp với chi phí mà tổ chức chỉ ra, khiến ASEAN lâm vào thời kỳ chết cứng và ngưng đọng hay không – đó phải là một vấn đề khác đáng cảnh giác.

Sự phát triển và trưởng thành của ASEAN có quan hệ với sự tồn tại của mối đe dọa từ bên ngoài tới trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nhưng cùng với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, sự tan rã của Liên Xô, ý hướng hòa bình xuất hiện ở Trung Cộng và sự hóa giải cuộc khủng hoảng Campuchia, sự đe dọa từ bên ngoài không còn là “dung môi” để hội tụ các nước thành viên nữa, các nước có thể mang tấm lòng kiên nhẫn và thỏa hiệp để hóa giải những bất đồng và duy trì đoàn kết hài hòa như trước đây được hay không – tự nhiên đó là thử thách mới của thời đại mới. Đặc biệt đáng chú ý là, cần mở rộng số nước thành viên của ASEAN mới có thể tiếp tục duy trì sức sống về mặt tổ chức của nó. Bởi vậy ngay từ khi vừa mới thành lập, trong tuyên ngôn Bangkok đã bày tỏ lập trường hoan nghênh các nước khác trong khu vực gia nhập. Sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết, Việt Nam và Campuchia lần lượt biểu thị ý nguyện gia nhập ASEAN, và tại Hội nghị Ngoại trưởng hàng năm của ASEAN năm 1992, các nước này đã tham dự Hội nghị với tư cách quan sát viên, hai nước lần lượt tỏ ý tiếp nhận tinh thần giải quyết tranh chấp bằng hòa bình của ASEAN. Trong tương lai, ngoài Papua New Guinea ngay từ đầu đã trở thành quan sát viên, 3 nước ở bán đảo Đông Dương và Myanmar đều có khả năng trở thành nước hội viên mới của ASEAN. Các nước này một khi được gia nhập, sự thử thách về hiệu quả do sự phình ra của tỏ chức đưa lại cố nhiên được mọi người quan tâm. Việt Nam là một nước XHCN, về mặt chế độ kinh tế có bất đồng lớn các nước ASEAN vốn lấy kinh tế thị trường làm lực lượng chủ yếu. Hai chế độ kinh tế khác nhau làm thế nào có thể cộng sinh trong cùng một tổ chức – đó là một hiện tượng giàu giá trị quan sát. Nhìn từ giác độ an ninh, để cho Việt Nam gia nhập, đối với ASEAN, có được sự rèn luyện về xã hội hóa. Nhưng sự đối lập giữa Việt Nam và Trung Cộng chưa được tiêu trừ, sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN, có gây ra sự nghi kỵ của Trung Cộng rằng ASEAN là một tập đoàn khu vực lấy Trung Cộng làm mục tiêu hay không – đó cũng là điều khiến người ta chú ý. Một khi thành viên thực sự mở rộng, thì sự thách đố ghê gớm nhất đối với ASEAN có thể đến từ vấn đề đoàn kết bên trong nó.

3/ Khuynh hướng của Indonesia và tiền đồ của ASEAN

Trước Hội nghị Thượng đỉnh năm 1992, khi quyết nghị ASEAN luôn áp dụng nguyên tắc nhất trí, Hội nghị Thượng đỉnh lần này quyết nghị sửa đổi lại nguyên tắc nhất trí. Nội dung sửa đổi như thế nào, tuy chưa biết được toàn bộ, nhưng đối với Indonesia, là nước từ khi ASEAN thành lập đến nay luôn ở thế thiểu số, sự sửa đổi này sẽ có tác động như thế nào? Indonesia đến lúc đó sẽ phản ứng như thế nào? Tất sẽ đều ảnh hưởng tới chỉnh thể của ASEAN. Tới đây khi số thành viên được mở rộng, khoảng cách giàu nghèo sẽ lại càng tăng thêm giữa các nước thành viên bên trong ASEAN, mô hình quyết sách biểu quyết theo đa số sớm muộn sẽ áp dụng, có làm xuất hiện hiện tượng đối lập hai cực trong ASEAN khi có những quyết sách quan trọng không? Đó phải là một mối đe dọa tiềm tàng khác trong tương lai của ASEAN. Từ những năm 1980, Thái Lan và Malaysia tăng trưởng rất nhanh về kinh tế, lại cộng thêm Singapore vốn ở vị trí dẫn đầu, nghiêm nhiên trở thành “quý tộc” bên trong ASEAN. Quy hoạch khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN có xuất hiện hiện tượng “hiệu ứng phân cực” thường thấy trong nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức quốc tế, tức là sự tồn tại của tổ chức ngày càng có lợi cho các nước vừa và nhỏ, còn đối với các nước lớn thì hiệu quả ngày càng giảm đi, hay không – cũng là một then chốt khác ảnh hưởng tới sự phát triển trong tương lai của ASEAN.

Khuynh hướng của Indonesia chính là biến số quan trọng chi phối tương lai của ASEAN. Dân số của nó đông nhất, lãnh thổ cũng rộng nhất; từ ngày ASEAN thành lập đến nay nó mặc nhiên được coi là người lãnh đạo, tính cách thực tế và thái độ duy lý của tổng thống Souharto càng là nhân tố quan trọng để tổ chức này được thành lập và phát triển. Nhưng trước khi thế kỷ 21 tới nơi, tầng lớp lãnh đạo Indonesia rất có khả năng có biến đổi, phong cách chính trị của lãnh đạo mới kế nhiệm Souharto rất có thể ảnh hưởng tới lập trường của Indonesia đối với tổ chức ASEAN. Thứ ba, từ những năm 80 trở lại, các tổ chức kinh tế khu vực đua nhau xuất hiện tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương; Nhưng thành viên của các tổ chức này phần lớn đều trùng với thành viên của ASEAN, chẳng hạn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (Asia – Pacific Economic Cooperation, APEC), Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (Pacific Economic Cooperation Council, PECC) và tổ chức kinh tế Đông Á (East Asian Economi Caucus, EAEC)… Hiện tượng trùg lặp này, ngoài việc có thể tạo ra sự bất đồng của các nước hội viên ASEAN về lập trường thừa nhận các tổ chức này, Indonesia cố nhiên giành địa vị lãnh đạo trong các nước thế giới thứ ba không liên kết, cũng tỏ thái độ tích cực tham dự và tăng cường sức ảnh hưởng của nó trong các tổ chức kinh tế trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương này. Xu thế này tiếp tục phát triển, có làm cho Indonesia đặt ASEAN vào địa vị thứ yếu hay không? Nếu quả thật như vậy thì tất yếu tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đối với địa vị khu vực và quốc tế ngày càng quan trọng hiện nay của ASEAN.

V/ Kết luận

Tổ chức ASEAN thành lập đã gần 28 năm. Nhìn vào lịch sử phát triển của nó, có thể nói đó là điển hình của sự trưởng thành dần của một tổ chức khu vực. Chính phủ 5 nước sáng lập tổ chức này thuở ban đầu, mục đích chính của họ là thúc đẩy kinh tế, xã hội va văn hóa của khu vực này phát triển, nhằm thành lập một trật tự khu vực ổn định và hòa bình. Tới nay, khi nó sắp bước vào ngưỡng của thập niên thứ ba, chúng ta có thể nhận thấy mục đích này đại thể đã đạt được. ASEAN đã tạo dựng nên giữa các nước thành viên của nó một quan hệ quốc tế ổn định và một môi trường khu vực hòa bình, các nước đều có thể giải quyết tranh chấp lẫn nhau bằng phương thức phi vũ lực. ASEAN cũng đã xác lập nên phương thức chính trị rõ ràng để thúc đẩy hợp tác kinh tế, xã hội và văn hóa rộng rãi; đã bồi dưỡng nên ý thức cộng đồng khu vực, các nước thành viên chấp nhận các lý tưởng về giá trị chung và sẵn sàng phản ứng tích cực trước nhu cầu và lợi ích của nhau. Thứ ý thức cộng đồng này phản ánh qua một thực tế, là bắt đầu từ những năm 1980, ASEAN đã phát triển một sự nhất trí: đối với mỗi một vấn đề được thảo luận, đều cùng nhau ủng hộ lập trường của nước hội viên có ảnh hưởng nhất. Phương thức ngoại giao tập thể này là nguyên nhân chủ yếu để ASEAN được coi trọng trong cộng đồng quốc tế.

Sở dĩ ASEAN có thể trưởng thành chủ yếu là nhờ mục tiêu hòa bình trong thực tế, phương thức quyết sách có tính nhất trí và sự kích thích của mối đe dọa từ môi trường trong và ngoài trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Chính là sự tác động lẫn nhau giữa ba nhân tố này đã làm cho các nước thành viên không phải trả bất cứ giá nào (cost-free) cho tổ chức, trái lại thu được lợi ích do tổ chức tạo ra, do vậy đã tạo điều kiện để tổ chức trưởng thành. Nhưng khi cùng với sự biến đổi của môi trường thời gian và không gian, ba nhân tố trước sau lần lượt biến đổi hay có dấu hiệu biến đổi thì tiền đồ tiếp tục trưởng thành của tổ chức ASEAN gặp phải sự thách đố. Thử xem xét những điều chỉnh và biến đổi mà ASEAN thực hiện từ năm 1992 lại đây, thì dường như bên ngoài lợi ích tích cực đều ản tàng những biến số bất lợi. Thí dụ sửa đổi mô hình quyết sách theo kiểu nhất trí có thể đẩy nhanh nhịp độ quyết sách của ASEAN, nhưng cũng để mở rộng xung đột nội bộ; số nước thành viên có thể gia tăng cố nhiên có thể làm cho ASEAN thực sự trở thành một tổ chức khu vực của toàn bộ Đông Nam Á nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ số thành viên được mở rộng, chi phí tổ chức tăng lên nhưng hiệu quả giảm xuống; việc nâng cấp địa vị của Ban Thư ký và việc đề bạt các quan chức có lợi cho việc tăng cường chức năng quyết sách của ASEAN nhưng cũng là nguyên nhân của nạn quan liêu hóa.

Sự biến đổi của môi trường trong và ngoài đương nhiên làm cho người ta quan tâm tới việc liệu ASEAN có thể vượt qua cái hố sâu của sự trưởng thành hay không, nhưng nhìn vào lịch trình phát triển đã qua của ASEAN, nó đã trở thành một tổ chức khu vực thiết chế hóa, các nước hội viên vừa có thể hưởng thụ lợi ích của sự tồn tại của tổ chức, cùng hiểu và tôn trọng giá trị sự tồn tại của tổ chức, do vậy xem ra bất tất phải quá bi quan cho tiền đồ của ASEAN trong tương lai. Nói cách khác, chúng ta có thể dự đoán trong tương lai ASEAN có thể sẽ xuất hiện tranh chấp và đụng độ công khai, nhưng bất kỳ sự tranh chấp và đụng độ nào cũng sẽ diễn ra trong phạm vi chế độ, không đến mức ảnh hưởng tới sự sinh tồn của ASEAN. Một khi ASEAN vượt qua một cách thành công những khó khăn mà trong thời kỳ thách đố có thể sẽ gặp phải, một tổ chức khu vực sau khi số thành viên được mở rộng sẽ càng có thể giúp đỡ lẫn nhau, phát triển sự hợp tác kinh tế, xã hội và văn hóa khu vực, trở thành một ASEAN mới càng khả quan hơn.

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 24 & 25

Tổ chức khu vực ASEAN: Phát triển và thách đố – Phần V


Sau khi Nam Việt Nam thất thủ, các nước ASEAN đã cảm nhận được tầm quan trọng của việc các nước hội viên tăng cường lực lượng hợp tác hội tụ, nhưng mãi tới tháng 6 tháng 7 năm 1978, khi hàng loạt dân tị nạn Việt Nam chạy sang các nước ASEAN – đặc biệt là Malaysia và Indonesia – và hàng năm đầu có các vụ Việt Nam xâm nhập Campuchia, mới thực sự kích thích các nước thành viên ASEAN, làm cho ngoài tính cách là tổ chức thuần túy kinh tế vốn có, ASEAN lại mang thêm chức năng chính trị, từ đó chứng minh ASEAN tuy là một tổ chức kinh tế, nhưng nó không tách rời nhân tố an ninh chính trị, đây chính là một tác nhân quan trọng thúc đẩy ASEAN đi tới đoàn kết. Trước hết hãy bàn về vấn đề dân tị nạn Việt Nam. Hàng loạt dân tị nạn tràn vào, không những thử thách năng lực ứng biến của các nước, hơn nữa cũng tạo ra gánh nặng nghiêm trọng cho xã hội và kinh tế của các nước; vấn đề nạn dân đồng thời cũng thách đố các nước ASEAN: liệu có năng lực làm dịu được làn sóng lưu vong ngày càng nhiều lên, hóa giải kiến giải của các nước đối với vấn đề này, và lợi dụng sức ảnh hưởng có tính khu vực và quốc tế để giải quyết tình trạng nạn dân tràn vào, hay không.

Ngoài việc liên hợp thành lập Trung tâm Giải quyết Nạn dân (Refugee Processing Centers) để làm dịu gánh nặng đã tạo ra cho các nước ASEAN, tại hội nghị hàng năm vào tháng 6 năm 1979, ngoại trưởng các nước ASEAN đã chỉ trích quyết liệt làn sóng nạn dân, và lợi dụng dịp hội đàm sau hội nghị ngoại trưởng các nước Mỹ, Nhật Bản, Australia và New Zealand, yêu cầu các nước đó hợp tác về mặt quốc tế, phải coi trọng vấn đề này. Tiếp đó, tại Hội nghị nạn dân bán đảo Đông Dương tại Geneva họp vào tháng 7, phần lớn các yêu cầu do ASEAN nêu ra đã được đáp lại một cách thỏa mãn. Việt Nam tuyên bố sẽ áp dụng các biện pháp khống chế tạm thời đối với làn sóng nạn dân; các nước phương Tây cũng tích cực cung cấp viện trợ tài chính và tăng số lượng thu xếp nạn dân. Với sự vận động ngoại giao tập thể có hiệu quả, ASEAN đã thu được thành tựu quan trọng trong vấn đề nạn dân.

Gần như trùng hợp với thời gian phát sinh vấn đề nạn dân, nhưng tác động tới ASEAN trực tiếp hơn và cũng lớn hơn là sự kiện Việt Nam xâm nhập Campuchia. Sở dĩ sự kiện này làm cho các nước ASEAN quan tâm nghiêm trọng không chỉ vì hành động xâm lược của Việt Nam trực tiếp đi ngược lại nguyên tắc giải quyết tranh chấp “bằng hòa bình và thiện chí” mà ASEAN tuyên bố, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước khác, mà còn do Campuchia bị xâm chiếm, Thái Lan mất đi một nước chắn đỡ, trực tiếp phơi lưng ra trước sự đe dọa quân sự của Việt Nam, làm cho các nước ASEAN khác sợ “hiệu ứng domino”. Bởi vậy sau khi sự kiện Việt Nam xâm nhập Campuchia phát sinh, phản ứng của các nước ASEAN là lập tức và quyết liệt. Tại Hội nghị đặc biệt ngoại trưởng các nước ASEAN mở tại Bangkok công khai lấy làm tiếc trước hành động của Việt Nam và yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc lập tức áp dụng hành động. Tiếp đó, ASEAN đã thành công trong việc đưa sự kiện xâm nhập Campuchia vào chương trình nghị sự của Đại hội đồng Liên hợp quốc, và với chênh lệch tương đố lớn đã gạt ý đồ đưa chính quyền Heng Xomrin do Việt Nam ủng hộ thay vào chiếc ghế của chính quyền Khmer Đỏ lưu vong. Thái độ của ASEAN đối với vấn đề này luôn được ủng hộ tương đối đa số tại các khóa Đại hội đồng Liên hợp quốc những năm 1980. Ngoài ra căn cứ vào dự thảo nghị quyết của Liên hợp quốc về sự kiện Việt Nam xâm nhập Campuchia, ASEAN đã mở thành công Hội nghị Quốc tế về Campuchia (The International Conference on Kampuchea, ICK) vào tháng 7 năm 1981. Hội nghị này tuy không giải quyết vấn đề Campuchia, nhưng nó đã trở thành một diễn đàn quốc tế, không chỉ một lần nữa làm nổi rõ lập trường nhất trí của các nước ASEAN về tình hình Campuchia mà còn tăng cường địa vị của tổ chức này trong khu vực và trên trường quốc tế. Việc ASEAN trở thành một công cụ ngoại giao khả quan của các nước thành viên của nó lại một lần nữa được chứng minh, và sức hội tụ và động viên tập thể của nó cũng càng khả quan hơn.

Sự giao thiệp của ASEAN với tư cách tập thể với các nước tương quan khác bắt đầu từ việc đàm phán với Nhật Bản về cao su tổng hợp vào đầu những năm 1970, tiếp đó vào cuối những năm 1970, do chính sách hàng hải dân sự quốc tế, lại xảy ra tranh chấp với Australia. Trong hai cuộc tranh nghị này ASEAN đều được các nước đối thủ tôn trọng và nhượng bộ. Có những kinh nghiệm và thành tựu trên đây, vào năm 1981 ASEAN đã chính thức bắt đầu chế đọi bạn đối thoại (ASEAN Dialogue Partner System, ADPS). Chế độ này chủ yếu tạo ra cho các nước hội viên ASEAN và các bạn hàng mậu dịch chủ yếu của nó một diễn đàn thảo luận. Những bạn hàng mậu dịch này lúc đầu gồm Mỹ, Nhật Bản, Canada, Australia, New Zealand và thị trường chung châu Âu; sau đó lại thêm Hàn Quốc. Từ giữa những năm 1980 về sau, chế độ đối thoại phần lớn tiến hành sau khi kết thúc Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN mỗi năm một lần, gọi là Hội nghị sau Bộ trưởng (Post-Ministerial Conferences, PMC), có ngoại trưởng 6 nước ASEAN, ngoại trưởng các nước bạn hàng đối thoại tham gia, tiến hành giao thiệp về các vấn đề liên quan tới chính trị và an ninh. Mỗi năm cứ đến hội nghị ngoại trưởng ASEAN, các cơ quan truyền thông thế giới lại chuyển tiêu điểm vào Đông Nam Á, khi đối thoại giữa ASEAN và các nước bắt đầu, nó càng tập trung sự chú ý của các phương tiện nghe nhìn toàn cầu. Việc ASEAN chuyển thành công chế độ bạn đối thoại thành hoạt động có tính quốc tế cỡ lớn hàng năm, một là góp phần tạo nên hình tượng toàn cầu của nó, hai là tăng cường vai trò có tính khu vực quan trọng và vai trò là diễn biến quốc tế của nó, làm cho ASEAN trở thành một lực lượng tập thể ngày càng được coi trọng.

Tổng kết lại, trong thời kỳ phát triển ở giai đoạn thứ hai của ASEAN, những thành tựu về các mặt chính trị và ngoại giao của nó làm cho cái tổ chức có tính khu vực này nhanh chóng được các nước hội viên thừa nhận, càng được cộng đồng quốc tế ủng hộ và tôn trọng. Cựu Phó Thủ tướng Malaysia Musa, khi bàn đến ảnh hưởng của những bước phát triển này đối với ASEAN, đã chỉ ra rằng: Do sự tôn trọng mà ASEAN giành được, do lòng tin mà nó xây dựng được và năng lực mà nó giúp sức tạo thành, khu vực mà ASEAN bao trùm đã trở thành một thanh nam châm thu hút đầu tư của nước ngoài; thiếu nhân tố này, sức sống của mỗi quốc gia thành viên ASEAN tất yếu sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực”.

Rõ ràng thành tựu tăng trưởng kinh tế cao của các nước ASEAN, việc tập trung kinh phí vào xây dựng các ngành dân sự chứ không phải vào chi phí quân sự và việc thu hút đầu tư và mậu dịch của nước ngàoi… có quan hệ rất mật thiết với các nhân tố mà Musa nhắc đến.

IV/ Thời kỳ thách đối đối với ASEAN

1/ Sự biến đổi của môi trường khu vực

Bắt đầu từ cuối những năm 1980, môi trường trong và ngoài ASEAN có biến đổi rất lớn, tạo thành nhiều thách đố nghiêm ngặt đố với nó, buộc tổ chức này phải có sự điều chỉnh thích hợp. Những thách đố này trước hết đến từ mặt kinh tế, làn sóng chủ nghĩa bảo hộ trên thế giới lại dâng lên, thị trường mậu dịch đối ngoại của các nước ASEAN trực tiếp cảm nhận thấy mối đe dọa gay gắt, đặc biệt là sự xuất hiện các tập đoàn kinh tế khu vực, nhu cầu thị trường chung châu Âu từ năm 1992 sẽ trở thành một thị trường đơn nhất, và sự ủ mầm, hình thành của khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ, rồi sự tiến triển chậm chạp của việc đàm phán tự do mậu dịch vòng Uruguay, việc tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của các nước công nghiệp phương Tây dẫu không thể nào đáp ứng được nhu cầu về thị trường xuất khẩu của các nước ASEAN… Những nhân tố này nổi lên lần lượt làm cho các nước ASEAN đã thực hiện những quyết định có tính đột phá quan trọng về mặt hợp tác kinh tế trong khu vực. Lãnh đạo 6 nước ASEAN, tại Hội nghị thượng đỉnh Singapore tháng 1 năm 1992 đã quyết định thành lập khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (The ASEAN Free Trade Area, AFTA), dự tính trong thời hạn 15 năm sẽ quán triệt hiệp định mậu dịch tự do; Hội nghị Thượng đỉnh đồng thời cũng quyết định tăng cường chức năng của Ban thư ký, nâng địa vị của Tổng Thư ký lên cấp bộ trưởng để ông ta có thể tham gia vào các hoạt động về mặt hợp tác kinh tế; ngoài ra, cũng với thái độ cởi mở hơn, để cho lãnh đạo chính phủ các nước thảo luận các vấn đề an ninh trong khu vực mà trước đây được coi là cấm kỵ và quyết định đổi Hội nghị Thượng dỉnh thành cơ chế thiết chế hóa 3 năm 1 lần. Những quyết nghị quan trọng này có thể nói lên rằng ASEAN lại bước vào một thời kỳ mới trong quá trình phát triển của nó.

2/ Thách đố liên tục, nhiều chiều

Nhưng không thể phủ nhận là những quyết nghị quan trọng này cũng đem lại cho ASEAN những thách đố mới, thử thách cái tổ chức mà vào những năm 80 rất được coi trọng do sức sống tập thể mà nó thể hiện ra, xem liệu trong môi trường sinh thái mới nó có thể tiếp tục thoát xác để sống còn hay không. Thí dụ, cùng với việc ký kết khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN, tuy vào tháng 1 năm 2003 bắt đầu thực hiện Kế hoạch Thuế quan Ưu đãi Hiệu lực chung (The Common Effective Preferential Tariff Scheme, CEPT), nhưng đối với mục tiêu của khu vực Mậu dịch Tự do, mức độ các nước thành viên thực sự chấp nhận là như thế nào? Và hàng rào thuế quan mà các nước dựng lên đối với các nước thứ ba có vì chênh lệch nhau quá lớn mà ảnh hưởng tới sự gia tăng mức mậu dịch trong khu vực hay không? Đó đều là những điểm then chốt ảnh hưởng tới sự thành bại của kế hoạch khu vực Mậu dịch Tự do. Ngoài ra quy hoạch khu vực Mậu dịch tự do dài tới 15 năm, không những điều đó hàm ý bản thân nó có thành phần do dự, mà trong thời gian dài như vậy, các thế lực doanh nghiệp bảo thủ bên trong các nước cũng có thể ảnh hưởng tới quyết tâm thực thi của chính phủ; ngoài ra, tính đa biến của cục diện thế giới cũng có thể làm cho kế hoạch này biến thành vô nghĩa.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 24 & 25

Tổ chức khu vực ASEAN: Phát triển và thách đố – Phần IV


III/ Thời kỳ phát triển của ASEAN (1976 – 1991)

1/ Sự biến đổi nhanh chóng của môi trường khu vực

Những điều phân tích trên đây nói lên một thực tế vô cùng quan trọng, là trong giai đoạn thứ nhất, sau khi tổ chức ASEAN thành lập, thành tựu cụ thể có thể trình làng của nó rất hữu hạn, nhưng tuyệt nhiên không phải là hoàn toàn không có những giá trị thể hiện sự tồn tại của nó. Trong thực tế, đúng như Bilson Kurus từng nói, trong mấy năm đầu khi tổ chức vừa thành lập, lãnh tụ chính trị của các nước ASEAN, với kinh nghiệm có được nhờ tác động qua lại lẫn nhau, chính là nhân tố quan trọng làm cho ASEAN, trên cơ sở không có thành tựu, đi tới ổn định chín muồi. Nói cách khác, có được đặc trưng ở giai đoạn một tức là tiến lên từ từ và trong ngôn từ để tránh những vấn đề thực chất dễ gây ra xung đột, thì mới làm cho ASEAN có thể có cơ hội bước vào thời kỳ phát triển ở giai đoạn thứ hai. Nhưng then chốt thực sự thúc đẩy ASEAN bước vào thời kỳ phát triển lại là do sự chấn động và biến đổi của môi trường trong và ngoài khu vực làm cho lãnh đạo các nước ASEAN nhạy bén nhận thấy ASEAN cần nhanh nhất thoát khỏi những lời lẽ trống rộng trừu tượng để triển khai sự hợp tác bằng hành động thực chất. Sự chấn động xuất hiện trong môi trường bên trong Đông Nam Á bắt nguồn từ sự thất thủ ở Việt Nam tháng 4/1975, đưa lại cho các nước ASEAN cảm giác khủng hoảng. Sự biến đổi của môi trường bên ngoài khu vực là chính sách bảo hộ kinh tế ngày càng gia tăng của các nước công nghiệp phương Tây trong năm 1974 làm cho các nước ASEAN bắt đầu cảm thấy thị trường Tây Âu, Mỹ và Nhật Bản không phải đáng tin cậy tuyệt đối, cần nâng cao sự hợp tác kinh tế giữa các nước trong khu vực và đó mới là con đường thúc đẩy kinh tế các nước phát triển, cải thiện tình hình an ninh chính trị. Qua hơn một năm đàm phán và thỏa hiệp trước hội nghị, tháng 2/1976 lãnh đạo 5 nước ASEAN chính thức tiến hành Hội nghị Thượng đỉnh thứ nhất tại Bali (Indonesia). Thành tựu cụ thể nhất về mặt hình thức của hội nghị này là đề ra một phương hướng rõ ràng có thể đi theo cho hợp tác khu vực của các nước hội viên trong tương lai. Trong Hội nghị này, tuyên ngôn hài hòa ASEAN (The Declaration of ASEAN concord) mà lãnh đạo 5 nước ASEN ký đã chỉ ra những công việc hợp tác trong tương lai của các nước trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội và kinh tế, Hiệp ước thiện chí và hợp tác Đông Nam Á (Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia) đã chính thức tuyên bố dưới hình thức hiệp ước, thiện chí và quyết tâm của các nước trong việc xúc tiến hợp tác kinh tế và hòa bình, ổn định. Nhưng quan trọng hơn là Hội nghị Thượng đỉnh Bali là cột mốc mà ở đó ASEAN bước vào thời kỳ phát triển ở giai đoạn 2. Thứ nhất, việc mở hội nghị này làm cho ASEAN không còn bị chế giễu là “câu lạc bộ ngoại trưởng” nữa; qua hội nghị này, nguyên thủ 4 nước tham dự có sự thừa nhận chưa từng có đối với ASEAN, và nung nấu ý chí chính trị, làm cho nó trở thành lực lượng quan trọng thúc đẩy ASEAN trưởng thành, càng tăng cường ý nguyện hợp tác. Thứ hai, tầm quan trọng của hợp tác kinh tế một khi đã được thể hiện cụ thể thành văn kiện mà các nước cùng ký sẽ trở thành mục tiêu lâu dài mà các nước ASEAN cùng cố gắng theo đuổi, thúc đẩy quan chức kinh tế các nước quán triệt theo mục tiêu này, và sau hội nghị sẽ hợp tác để thảo luận các vấn đề chi tiết.

2/ Những chướng ngại đối với hợp tác kinh tế của ASEAN

Một khi các quan chức kinh tế của các nước họp lại một nơi thảo luận chính thức phương án thực thi việc hợp tác kinh tế thì các nhân tố của tính giai đoạn khác nhau trong sự phát triển kinh tế của các nước ASEAN, tính trở ngại đối với sự hợp tác kinh tế trong khu vực sẽ lập tức thể hiện ra, làm cho phương án hợp tác kinh tế ở giai đoạn 2 vẫn thiếu những thành tựu thực chất quan trọng. gần như ngay từ lúc đầu, Singapore, một đảo quốc ít dân số nhất trong 4 nước ASEAN, luôn ở địa vị đi đầu về phát triển kinh tế, và nhanh chóng phát triển thành một trung tâm của ngành chế tạo và tiền tệ. Các nước ASEAN khác tuy cũng có sự phát triển thực chất về ngành chế tạo, nhưng về mặt xuất khẩu thì vẫn lấy nguyên liệu như cao su, thiếc, gỗ, thực phẩm và dầu thực vật… làm sản phẩm chủ yếu. Trong thực tế, trong quá trình phát triển kinh tế của các nước ASEAN, ngoại thương chiếm vị trí tương đối quan trọng. Bất kể trong mậu dịch xuất khẩu hay nhập khẩu hai nước Mỹ, Nhật đều là khách hàng lớn. Thí dụ năm 1985 hai nước này chiếm 45% tổng mức xuất khẩu và 35% tổng mức nhập khẩu của 5 nước ASEAN (kể cả Brunei). Thị trường chung châu Âu chiếm lần lượt 11% và 14% tổng mức xuất khẩu và nhập khẩu của ASEAN. Do giai đoạn phát triển kinh tế gần như giống nhau, nên tính đồng nhất về mặt xuất khẩu làm cho tính cạnh tranh lẫn nhau trong ngoại thương của các nước lớn hơn nhiều so với tính bổ sung lẫn cho nhau. Trái lại, mức mậu dịch trong khu vực của ASEAN lại vô cùng hạn chế (trừ Singapore, vì nước này có số lượng tái xuất lớn), chỉ chiếm khoảng 5%. Lại xét từ gáic độ dân số và thu nhập, ASEAN do các nước ở 3 cấp độ khác nhau hợp thành, mức độ phụ thuộc về thuế quan và bảo hộ thuế quan của các nước là khác nhau, ý nguyện đối với hợp tác kinh tế trong khu vực đương nhiên không giống nhau. Singapore và nước ASEAN gia nhập năm 1984 là Brunei có dân số ít nhất, thu nhập quốc dân cao nhất, mức độ phụ thuộc vào thuế quan thấp nhất, cũng không có khuynh hướng bảo hộ thuế quan nhất, ý nguyện tiêu giảm thuế quan và xúc tiến mậu dịch tự do trong khu vực cũng mạnh nhất. Ba nước cỡ vừa là Thái Lan, Malaysia và Philippines, vì từ năm 1970 kinh tế dần dần cất cánh, nên so với Indonesia là nước dân số đông nhất mà thu thập lại thấp nhất thì tương đối ít có chính sách bảo hộ thuế quan, nhưng đối với mậu dịch tự do trong khu vực lại giữ thái độ tương đối thận trọng.

Trên đây là các nhân tố quan trọng làm cho trong thời kỳ ASEAN mới thành lập, kế hoạch hợp tác kinh tế trước sau khó tiến triển, nhưng sau Hội nghị Thượng đỉnh Bali, việc hợp tác kinh tế mà ASEAN cần đẩy tới vẫn vì các nhân tố này mà bị trì hoãn hay là ít có thành tựu cụ thể có thể nhìn thấy rõ. Thí dụ năm 1977 các nước ASEAN đã đạt được Hiệp định Bố trí Mậu dịch Ưu đãi (The Preferential Trading Arrangements, PTA). Với hiệp định này, các nước sẽ trên cơ sở lựa chọn mà trao cho các nước thành viên khác sự ưu đãi về mậu dịch. Sự ưu đãi này sẽ áp dụng cho “các hàng hóa cơ bản, đặc biệt là gạo và dầu thô, các sản phẩm sản xuất theo kế hoạch công nghiệp của ASEAN; các sản phẩm có ích cho việc mở rộng mậu dịch trong khu vực của ASEAN và các sản phẩm có ích cho các nước ký hợp đồng”. Tuy hiệp định này đã 2 lần sửa lại vào năm 1980 và 1982, l2m cho hạng mục sản phẩm ưu đãi về thuế quan được các nước hội viên chấp nhận năm 1986 tăng tới 20.000 loại, nhưng ảnh hưởng đối với mức mậu dịch trong khu vực ASEAN lại cực kỳ hạn chế. Ngoài mức độ ưu đãi thuế quan hữu hạn và về mặt sản xuất thì bị hạn chế, khó tạo ra “ưu thế cạnh tranh đầy đủ”, những chướng ngại phi thuế quan càng quan trọng hơn. Ví như các nước vẫn tìm mọi cách định ra một số biện pháp bảo hộ, làm cho sản phẩm nước ngoài mất động cơ tìm kiếm thị trường nhập khẩu; hoặc ngay cả khi các doanh nhân quyết tâm và tìm ra được con đường nhập khẩu, các nhà sản xuất trong nước vẫn có thể tìm kiếm con đường khẩn cấp, lấy cớ là tạo ra thiệt hại nghiêm trọng cho công nghiệp bản địa để ngăn chặn nhập khẩu sản phẩm. Ngoài ra Dự án Công nghiệp ASEAN (ASEAN Industrial Project, AIP) do các nước thương lượng tiến hành sau Hội nghị Thượng đỉnh Bali, hiệu quả của nó cũng rất hạn chế. Dự án này phân phối một kế hoạch công nghiệp cỡ lớn cụ thể cho một nước thành viên, nước chủ đất này có mức vốn là 60%, 40% còn lại do 4 nước khác cùng đảm đương. Sản phẩm sản xuất theo dự án này được ưu đãi đi vào các nước ASEAN khác theo PTA.

Từ những khó khăn nói trên trong hợp tác kinh tế chúng ta phát hiện thấy, khi ASEAN bước vào giữa những năm 1980, dựa theo những cân nhắc lợi ích quốc gia, các nước chỉ có ý nguyện đầy đủ trong việc chia hưởng nguồn lực nhưng lại thiếu ý chí chính trị để tiến hành chia hưởng thị trường. Thành tựu tương đối cụ thể rõ rệt biểu hiện ở sự giao lưu và hợp tác có tính chức năng, bao gồm du lịch, thực phẩm, kỹ thuật nông nghiệp và lâm nghiệp, tài chính tiền tệ… Ngoài ra, sự hợp tác qua lại giữa các nước ASEAN nhằm bảo vệ lợi nhuận xuất khẩu hàng hóa của các nước hội viên và giá cả nguyên liệu ổn định cũng tương đối hiệu quả. Chẳng hạn trong Hiệp hội các nước sản xuất cao su tự nhiên (The Association of Natural Rubber Producing Countries) và Hiệp nghị Quặng Thiếc Quốc tế, ASEAN đều đóng vai trò quan trọng.

3/ Thành tựu về ngoại giao và chính trị

Tuy về mặt hợp tác kinh tế ít có gì hay ho để trình làng, nhưng về ngoại giao và chính trị, ASEAN lại có những biểu hiện tương đối nổi bật, bất luận đối với sự hình thành chủ nghĩa khu vực hay là sự phát huy lực lượng tập thể, nó đều có những thành tựu đáng kể. Thành tựu về mặt ngoại giao chủ yếu phản ánh ở việc ASEAN, với tư cách tập thể, đã xử lý thành công mối quan hệ của nó với các nước ngoài khu vực, làm cho ASEAN trở thành công cụ ngoại giao chung của các nước hội viên. Sự triển khai thứ giá trị có tính công cụ này của ASEAN không những làm cho cái tổ chức có tính khu vực này hội tụ được các thành viên của nó, mà như cựu Phó Thủ tướng Malaysia Dato Musa Hitam từng nói, nó trở thành một cơ thể có ý nghĩa đa tầng diện: “Là cộng đồng, là sự hài hòa các dân tộc (concert of nations), là tổ chức, là quá trình, cũng là tinh thần”. Nói cách khác, thành công của ASEAN về mặt ngoại giao đã làm cho ảnh hưởng tích cực của nó mở rộng tới các tầng diện chính trị, xã hội, kinh tế và tâm lý.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 24 & 25

Tổ chức khu vực ASEAN: Phát triển và thách đố – Phần III


2/ Mục tiêu và tính chất của ASEAN

Tranh chấp lãnh thổ giữa các nước trong khu vực tuy phá hoại cơ hội tồn tại của các tổ chức khu vực thuần Đông Nam Á nhưng cũng khiến lãnh tụ các nước thể hiện được sự cần thiết phải lập tổ chức khu vực mới; mặt khác, sự biến đổi của tình hình trong và ngoài khu vực cũng tạo những điều kiện thuận lợi cho việc thành lập tổ chức mới. Trước hết là vào ngày 30 tháng 9 năm 1965 ở Indonesia đã xảy ra chính biến quân sự. Souharto lên nắm quyền, chấm dứt chính quyền phong trào của Soukarno, về chính sách đối ngoại cũng thiên về thực tế và duy lý; chính thức kết thúc hành động “đối kháng” với Malaysia, làm cho tình hình căng thẳng bên trong Đông Nam Á được hòa dịu rất nhiều. Tiếp đó, cuộc chiến tranh ở Việt Nam gấp gáp leo thang, các nước Đông Nam Á bắt đầu tỏ ra hoài nghi giá trị của các cường quốc trong việc bảo đảm an ninh, hy vọng dùng phương thức tin cậy tâp thể để giải quyết các vấn đề trong khu vực, bởi vậy “cần có một bình phong vững mạnh để chống lại sự thao túng của chủ nghĩa đế quốc và một nhân tố ổn định có tính quyết định”. Môi trường trong và ngoài đang biến đổi gấp gáp này mà các nước cảm nhận được tính tất yếu bức thiết của một tổ chức khu vực mới.

Trải qua hội đàm ban đầu giữa Malaysia và Indonesia vào năm 1966, tháng 8 năm 1967, 5 nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan đã nhóm họp tại Bangkok và ngày 7 tháng 8 đã ký Tuyên ngôn Bangkok (The Bangkok Declaration) chính thức thành lập Hiệp hội các nước Đông Nam Á. Lời nói đầu của tuyên ngôn chỉ rõ:

Các nước Đông Nam Á đảm đương nhiệm vụ chủ yếu là tăng cường ổn định kinh tế và xã hội trong khu vực và ổn định hòa bình và phát triển tiến bộ của các nước, đồng thời cũng quyết bảo đảm ổn định và an ninh của các nước, tránh sự can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào của nước ngoài, nhằm duy trì tính đồng nhất quốc gia phù hợp với lỷ tưởng và kỳ vọng của dân tộc mình.

Khi trình bày mục tiêu và mục đích của ASEAN, Tuyên ngôn chỉ rõ những phương hướng nỗ lực như: “Thông qua nỗ lực tập thể, đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa”, “Dựa theo tinh thần tôn trọng chính nghĩa và pháp trị để xúc tiến hòa bình và ổn định trong khu vực”, và “trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, kỹ thuật, khoa học và hành chính, cùng có chung lợi ích, xúc tiến sự hợp tác tích cực và sự giúp đỡ lẫn nhau”. Qua những tuyên bố về mục tiêu này có thể phát hiện ra rằng ngay từ khi mới hình thành, ASEAN đã được định vị là một tổ chức khu vực về hợp tác kinh tế, xã hội và văn hóa; cùng có nghĩa là tuy định hướng chống cộng về cơ bản của tổ chức ASEAN là hoàn toàn rõ, và 4 trong số 5 nước thành viên sáng lập (trừ Indonesia) đều cho phép các cường quốc giữ lại các căn cứ quân sự, nhưng tổ chức này ngay từ khi bắt đầu hình thành đã cố gắng làm nổi bật tính chất “phi quân sự” của nó và làm mờ nhạt mối quan hệ giữa nó với Mỹ, làm cho nó trở thành một tổ chức thuần khu vực có tính tự chủ đầy đủ. Sự định vị tính chất tổ chức này chủ yếu có quan hệ mật thiết với hai nhận thức dưới đây: Thứ nhất, các nước lĩnh hội được rằng then chốt để đạt tới mục tiêu chính trị và an ninh là ở sự theo đuổi phát triển kinh tế; thứ hai, các nước Đông Nam Á phần lớn là các nước vừa và nhỏ, về mặt lực lượng quân sự đều không đủ lớn mạnh, nếu hình thành một liên minh quân sự, không những khó đạt tới nhu cầu về an ninh, trái lại dễ gây ra sự thù địch của các cường quốc bên ngoài.

Tuy trong Tuyên ngôn Bangkok, ASEAN đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tiến bộ kinh tế và phát triển văn hóa, xã hội chứ không phải là hợp tác chính trị, nhưng ngay từ khi vừa hình thành nó đã xuất hiện với diện mạo “tuyên ngôn” chứ không phải là “hiệp ước”, điều đó đã chỉ ra tính tạm thời của ASEAN và tính chất hẹp của cơ sở của nó. Thứ hai, về mặt kết cấu của tổ chức, nó thiếu một ban thư ký có quyền quyết sách và tổng hợp tin tức, mà lấy Hội nghị Ngoại trưởng mỗi năm một lần và Ủy ban thường vụ trực thuộc làm cơ quan tối cao, và đặt tại các nước các ban thư ký toàn quốc. Điều đó phản ánh đặc trưng phân tán quyền lực về mặt kết cấu của ASEAN. Cuối cùng, sự mẫn cảm của các nước về mặt ý thức chủ quyền cũng làm cho ASEAN khó triển khai lực lượng tổ chức (Organizational capability) của nó. Những nhân tố này làm cho Hội nghị Ngoại trưởng của ASEAN, ngoài việc trở thành cái gọi là “Câu lạc bộ ngoại trưởng” (a Club for foreign ministers), trước sau chỉ một mực nhấn mạnh sự cần thiết của việc thiết lập trật tự ưu tiên và tăng cường quyết tâm nghiên cứu, mà thiếu hành động hợp tác cụ thể. Do đó trong thời gian từ năm 1967 đến năm 1975, thành tựu cụ thể của ASEAN thực sự vô cùng hạn chế, thậm chí có học giả cho rằng thành tựu khiến người ta chú ý nhất là nó nghiễm nhiên “tồn tại lâu tới 9 năm”. Đánh giá theo quan điểm thực chất, trong giai đoạn này ASEAN quả cũng ít có gì hay họ để phô trương, chỉ có thể gọi là thời kỳ định kế hoạch và chuẩn bị.

3/ Giá trị nhiều mặt của ASEAN

Nhưng nhìn từ giác độ phát triển, thì thời gian 9 năm này là thời kỳ gây men quan trọng cho sự phát triển về sau của ASEAN, bởi vậy thời kỳ hình thành này có giá trị đa tầng diện của nó, đòi hỏi chúng ta khám phá. Nói về riêng từng nước, ý thức dân tộc trước kia của Indonesia là mạnh nhất, hành vi đối ngoại mà nó thể hiện cũng có tính bùng nổ nhất, ảnh hưởng đối với trật tự và hòa bình khu vực cũng lớn nhất. Một tổ chức ASEAN có tính thuần khu vực lại không đề cao tính chất chính trị của mình đã làm cho Indonesia  lần đầu tiên được gia nhập một diễn đàn có tính khu vực, tác động qua lại với các nước láng giềng khác trong khu vực, học tập quy phạm hành vi quốc tế, xác lập các giá trị các bên có thể cùng tiếp thu, và có lợi cho việc xác lập các quan hệ hòa bình và hợp tác trong khu vực; đồng thời trong thời kỳ đầu thành lập ASEAN, trên cơ sở các nước mặc nhiên thừa nhận Indonesia ở địa vị hàng đầu trong số các nước ngang nhau (first among equals), thừa nhận nó đóng vai trò người lãnh đạo, càng làm cho Indonesia biểu hiện ý nguyện tiết chế và điều hòa liên thông, điều đó không có gì khác là xác lập cho các nước một hình mẫu của việc dùng thái độ dung nhận và thương lượng để hòa giải va chạm và căng thẳng trong quan hệ qua lại với nhau. Bởi vậy, nếu nói ASEAN là một cơ chế xã hội hóa thì có thể nói chức năng xã hội hóa của nó biểu hiện vô cùng nổi bật ở hành vi chín muồi và thực tế của Indonesia. C. Kegley và L. Howell chỉ ra rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt xã hội, sự liên kết về thái độ và sự hợp tác giữa các chính phủ là hình thức liên kết chủ yếu của tổ chức ku vực. Chức năng liên kết của ASEAN ở giai đoạn thứ nhất chủ yếu là hai khoản đầu, và qua việc đạt được hai chức năng này mà đặt cơ sở cho sự hợp tác giữa các chính phủ ở giai đoạn hai.

ASEAN đặc biệt tiêu biểu cho một quá trình chính trị cùng tiếp nhận và trân trọng. Do tính bất đồng cao độ tồn tại trong khu vực và trình độ phát triển kinh tế khác nhau của các nước, việc thực hiện các kế hoạch không thể diễn ra theo cùng nhịp độ. Để tránh tình trạng vì đa số biểu quyết mà hy sinh lợi ích của một nước thành viên nào đó hay thậm chí tạo ra một sự va chạm trong nội bộ ASEAN nên ngay từ khi bắt đầu, ASEAN đã lấy hai đặc trưng thương lượng và nhất trí, vốn là hai đặc trưng chính trị truyền thống của Indonesia, làm cơ sở vận hành bên trong để có thể quan tâm tới bình đẳng và lợi ích của tất cả các nước. Đúng như (cựu) Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đã nói, “hai khái niệm quyết sách minh trí đó đã bồi đắp cho những con đường hợp tác khu vực (vốn) khác nhau bằng tính chất hiểu biết và điều hòa lẫn nhau. (Hai khái niệm này) góp ích rất lớn cho sự kết hợp chặt chẽ của ASEAN. (Cựu) Thủ tướng Malaysia Datuk Hussein Onn cũng chỉ ra rằng “thành công của ASEAN là nhờ vào con đường mà chúng tôi đã áp dụng khi suy xét và thực hiện các đề án kế hoạch hữu quan. Con đường này không chỉ lấy tính có thể mong muốn của kế hoạch làm cơ sở mà còn suy xét tới tính khả thi lẫn nhau về mặt mục đích của kế hoạch này. Trước nay luôn là nguyên tắc chỉ đạo của ASEAN. Theo tôi, nó vẫn có thể và phải tiếp tục là kim chỉ nam hành động của chúng ta trong tương lai”.

Dưới sự chỉ đạo của nguyên tắc thương lượng và nhất trí, bất cứ quyết sách nào trong nội bộ ASEAN cũng đều phải tuân thủ tiền đề nhất trí quyết định, do đó không có lập trường hoặc lợi ích của nước nào bị hy sinh, nội bộ quan tâm đến quá trình và sự hài hòa, như vậy thì đương nhiên không sợ vì một vấn đề nào đó mà làm cho ASEAN tan rã. Với quá trình chính trị như vậy, ít nhất xuất hiện hai điểm ảnh hưởng: thứ nhất, các nước thường hay tôn trọng sự đoàn kết về lời lẽ hay từ ngữ chứ không phải là về hành động thực chất, bởi vậy mỗi khi đụng chạm đến những vấn đề kinh tế cơ bản liên quan tới hợp tác khu vực thì vào những thời điểm then chốt các nước thường né tránh những vấn đề nhạy cảm này. Thứ “thủ thuật né tránh chính trị” (politics of avoidance) này tuy ảnh hưởng tới sự tiến triển thực chất của ASEAN nhưng lại là nguyên nhân chủ yếu làm cho ASEAN có thể tồn tại trong thời kỳ hình thành. Thứ hai, các nước thành viên dần áp dụng được tinh thần thực tế trong hợp tác kinh tế, dùng tinh thần thận trọng và tiệm tiến để chờ đợi thời kỳ chín muồi xuất hiện. Như Lý Quang Diệu đã nói năm 1972, các nước hiểu rằng mục tiêu của ASEAN lúc bấy giờ là tăng cường và củng cố kinh tế trong nước chứ không phải là liên kết kinh tế khu vực, “do vậy bất cứ kế hoạch nào của ASEAN, nếu không thích hợp hoặc không góp phần củng cố sự phát triển kinh tế của 5 nước (ASEAN), cũng đều là không thực tế. Đương nhiên, tuy hiệu quả hợp tác kinh tế còn cực kỳ hạn chế, nhưng do về mặt chính trị các nước thường xuyên tiếp xúc với nhau, tự nhiên cũng tiếp xúc giao lưu giữa các nước ASEAN về khoa học, kỹ thuật, văn hóa, đào tạo và các mặt khác, dần hình thành một mạng lưới hoạt động hợp tác, làm nổi lên những giá trị hợp tác ngày càng gia tăng, có ích rất nhiều cho sự hình thành chủ nghĩa khu vực ở Đông Nam Á.

Một trong những động cơ thành lập ASEAN là tăng cường tính tự chủ khu vực và hy vọng dùng lực lượng tập thể tạo ra cảm giác thỏa mãn và an ninh về tâm lý cho các nước. Do vậy dù trong thời kỳ hình thành nó thiếu những thành tựu thực chất cụ thể, chúng ta vẫn có thể nhận thấy dấu vết của việc các nước tích cực lợi dụng ASEAN trong thời kỳ này làm công cụ kinh tế, ngoại giao quốc tế. Trước hết là tháng 6 năm 1972, ASEAN và thị trường Chung châu Âu đã trở thành bạn đối thoại, nó bắt đầu dùng lực lượng tập thể đòi đối phương đồng ý mở ngỏ thị trường. Tiếp đó tháng 4 năm 1973 tại Hội nghị Bộ trưởng thứ sáu, đã quyết định tăng cường giá trị và địa vị có tính công cụ của ASEAN trong các cuộc đàm phán tập thể về kinh tế quốc tế, và lấy đó làm cơ sở, tiến hành đàm phán thành công với Nhật Bản về sản xuất cao su tổng hợp, đã đạt được sự chấp nhận của Nhật Bản là trong quá trình sản xuất cao su tổng hợp, sẽ cân nhắc tới lợi ích kinh tế của các nước ASEAN. Việc thực hiện mối quan hệ bè bạn đối thạoi đó đến những năm 1980 về sau đã mở rộng thành hiện tượng được thiết chế hóa của ASEAN, được quốc tế rộng rãi coi trọng, có tác dụng thúc đẩy khá lớn đối với việc tăng cường chủ nghĩa khu vực Đông Nam Á và cảm giác về sự đồng nhất của các nước thành viên đối với ASEAN.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 24 & 25