Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương và tác động đối với AEC – Phần cuối


Tác động tích cực

Việc liên kết kinh tế của ASEAN với các đối tác bên ngoài thông qua các thỏa thuận thương mại tự do đa phương (RCEP, TPP), nếu thành công sẽ tạo nền tảng và động lực quan trọng hướng đến AEC. Các cam kết về RCEP và TPP sẽ hỗ trợ mạnh mẽ lộ trình giảm thuế các hàng hóa, dịch vụ xuống 0% – 5% của AEC bởi một số dòng thuế hàng hóa, dịch vụ theo quy định của RCEP và TPP sẽ giảm xuống mức 0% ngay khi có hiệu lực. RCEP và TPP cũng sẽ thúc đẩy các biện pháp hỗ trợ thương mại (như: quy định hải quan, thủ tục thương mại, tiêu chuẩn sản phẩm và đánh giá tuân thủ, dịch vụ và cơ sở hạ tầng liên quan đến thương mại), một trong những mục tiêu của AEC huớgn đến nhằm thực thi “cơ chế một cửa” cho các doanh nghiệp. Hơn nữa, RCEP và TPP sẽ có biện pháp hỗ trợ cụ thể hơn đối với các SMEs để các doanh nghiệp này có thể hưởng lợi từ cơ chế một cửa.

– Tính minh bạch và tự do hoàn toàn của các thỏa thuận hợp tác kinh tế ở châu Á – Thái Bình Dương (RCEP, TPP) sẽ thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế ở các nước ASEAN. Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới 2008 – 2009, nhiều nước ASEAN đã gặp những thách thức rất lớn trong việc giải quyết bài toán mô hình tăng trưởng để thúc đẩy phát triển đất nước. Đối với một số quốc gia (như Malaysia, Việt Nam, Thái Lan và Philippines), TPP và RCEP được xem là công cụ cải cách nền kinh tế đang gặp khó khăn ở trong nước bởi tính minh bạch và tự do của các hiệp định này có thể tạo ra cơ chế thương mại, đầu tư thông thoáng hơn, đáp ứng xu thế hội nhập quốc tế. Đây cũng là mục tiêu mà AEC hướng đến nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của từng nền kinh tế nói riêng và AEC nói chung.

Ngoài ra, RCEP và TPP có khả năng giải quyết những lo ngại liên quan đến các tác động tiêu cực từ FTA và đạt được các nguyên tắc thương mại tự do ở khu vực. Đây là trường hợp đặc biệt đối với ASEAN bởi bên cạnh các hiệp định thương mại tự do đa phương (như RCEP và TPP), các quốc gia thành viên ASEAN cũng đang theo đuổi đàm phán FTA song phương với các đối tác. Điều này có khả năng làm giảm các lợi ích kinh tế mà khu vực tư nhân phải chịu sự điều chỉnh của nhiều nguyên tắc và quy định khác biệt, dẫn đến làm gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp. Do đó, RCEP và TPP cần phải có những cam kết hướng đến việc thúc đẩy sự hợp lý và linh hoạt trong việc áp dụng các nguyên tắc thương mại tự do, chẳng hạn như quy tắc xuất xứ hàng hóa.

RCEP và TPP được kỳ vọng sẽ hỗ trợ, giúp ASEAN gia nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng hàng hóa và dịch vụ của thế giới, nói cách khác, tham gia vào “công xưởng thế giới” nói chung và “công xưởng châu Á” nói riêng do Mỹ, Trung Quốc, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc dẫn dắt. Trong đó, các nền kinh tế chất lượng cao như Mỹ, Canada, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore sẽ đảm nhận công nghệ nguồn, các nền kinh tế công xưởng như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, và Việt Nam đảm nhận vai trò cụ thể hóa công nghệ nguồn trên sản phẩm. Hiện tại châu Á – Thái Bình Dương nổi lên như một công xưởng sản xấut của thế giới về ngành công nghiệp điện tử, đặc biệt là sản xuất các linh kiện điện tử và lắp ráp sản phẩm. Đối với ngành công nghiệp ôtô, các nhà sản xuất của Nhật Bản cũng đang khai thác các chương trình tự do thương mại khu vực để hợp lý hóa các cơ sở sản xuất và tạo điều kiện để phân công lao động ở các nước ASEAN. Mục tiêu của AEC là xây dựng mạng lưới sản xuất khu vực, trong đó rất nhiều doanh nghiệp cần được thiết lập trong chuỗi cung ứng khu vực và có tính kết nối với phần còn lại của nền kinh tế thế giới. Do vậy, các sáng kiến hợp tác kinh tế đa phương sẽ tác động tích cực đến mục tiêu này bởi RCEP và TPP có thể đưa ra nhiều ưu tiên hơn đối với lĩnh vực dịch vụ (vận chuyển, hậu cần kho vận, viễn thông, công nghệ thông tin, dịch vụ tài chính), điều này có thể giúp các nước ASEAN tham gia hoặc tận dụng được mạng lưới sản xuất và phân phối toàn cầu.

Tác động tiêu cực

Mặc dù hướng đến mục tiêu chung là tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế khu vực, nhưng với sự chi phối của các cường quốc, RCEP (đứng đầu là Trung Quốc) và TPP (đứng đầu là Mỹ) có thể tạo ra những mâu thuẫn lợi ích trực tiếp, một khi các cường quốc này tranh giành sự ảnh hưởng ở châu Á – Thái Bình Dương thông qua tìm kiếm thiết lập sự hợp tác kinh tế và củng cố các lợi ích kinh tế của họ ở khu vực. Hơn nữa, bất kỳ sự cạnh trnah nào giữa hai khối thương mại trên cũng có thể dẫn đến sự chia rẽ trong ASEAN và hủy hoại sự thống nhất của tổ chức này bởi hiện chỉ có 04 quốc gia: Malaysia, Singapore, Việt Nam và Brunei đang là thành viên của cả RCEP và TPP, trong khi các quốc gia còn lại của ASEAN là thành viên của RCEP. Nếu ASEAN không có chiến lược hợp tác đủ mạnh, không tích cực đẩy nhanh tiến trình hội nhập, điều này không chỉ tạo ra “lực cản” cho tham vọng hình thành AEC và AC độc lập, thống nhất, có sức mạnh trên bản đồ địa – kinh tế chính trị khu vực, mà còn khiến cho AEC và cả AC gặp khó khăn trong vai trò làm trục phát triển khu vực Đông Á và Đông Nam Á.

Kinh nghiệm của các quốc gia châu Âu trong quá trình hình thành EC cho thấy khu vực này phải mất hàng chục năm để thảo luận, đàm phán các thỏa thuận thương mại tự do với các đối tác. Vì vậy, việc chi trong một thời gian ngắn mà các nước ASEAN phải tiến hành đàm phán song song hai hiệp định thương mại tự do đa phương là RCEP và TPP (dù các hiệp định này có cách tiếp cận khác nhau) và hàng chục FTA với các đối tác, trong khi nhiều quốc gia ở châu Á – Thái Bình Dương cũng đồng thời là thành viên của cả RCEP và TPP (như Australia, Nhật Bản, New Zealand, Việt Nam, Singapore, Malaysia, Brunei) có thể gây ra những lo ngại về nguy cơ chồng chéo, “triệt tiêu” lẫn nhau giữa các cam kết của các nước. Đây là điều mà các nhà hoạch định chính sách của các nước ASEAN không thể không quan tâm trong bối cảnh ASEAN đang hướng đến một AEC thống nhất cả về hệ thống quy định pháp luật, thị trường và nguồn lực phát triển.

Việc đàm phán thỏa thuận RCEP phụ thuộc rất nhiều vào lộ trình hình thành AEC vào năm 2015, trong đó, đòi hỏi các quốc gia ASEAN phải tiến hành điều chỉnh nền kinh tế theo hướng minh bạch các thủ tục thương mại, đầu tư. Do vậy, sự hỗ trợ chính sách trong nước ở các quốc gia ASEAN là bước đi quan trọng để kết thúc đàm phán về RCEP. Trong khi đó, TPP đang có xu hướng trì hoãn, kéo dài do các quốc gia tham gia đàm phán có trình độ phát triển không giống nhau, trong khi việc đàm phán các quy tắc thương mại chưa có tiền lệ trong WTO đòi hỏi các quốc gia thành viên phải tiến hành cải cách mạnh mẽ các chính sách kinh tế và công nghiệp trong nước. Điều này có thể làm gia tăng các chi phí kinh tế cho các quốc gia ASEAN, thay vì tập trung nguồn lực này cho việc điều chỉnh nền kinh tế theo Sáng kiến thành lập AEC và AC.

3/ Một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

Việt Nam là một trong số ít quốc gia tham gia đồng thời cả RCEP và TPP (đây là những hiệp định thương mại tự do đa phương ở cấp độ cao nhất) cùng với Australia, Nhật Bản, New Zealand, Singapore, Malaysia, Brunei. Trong bối cảnh các cường quốc (như Mỹ, Trung Quốc) sử dụng các hiệp định thương mại tự do như một công cụ tăng cường ảnh hưởng về kinh tế và chính trị tại khu vực, điều này đang đặt ra cho Việt Nam nhiều vấn đề:

+ Thứ nhất, việc cân đối lợi ích khi tham gia RCEP và TPP là vấn đề cần lưu ý đối với Việt Nam bởi sự cạnh tranh lợi ích giữa Mỹ và Trung Quốc tại khu vực trong vai trò đứng đầu hai khối thương mại này là điều không thể tránh khỏi. Với tư cách là thành viên ASEAN, điều này cũng giúp cho Việt Nam đóng góp tích cực hơn vào việc xây dựng một AEC độc lập, thống nhất và ngày càng vững mạnh. Hơn nữa, hài hòa hóa lợi ích của các giai tầng trong xã hội với hiệu quả cải cách là vấn đề nan giải, đòi hỏi Việt Nam phải giải quyết triệt để. Việc tham gia RCEP và TPP tất yếu sẽ dẫn đến những cải cách kinh tế trong nước, trong khi các tác động xã hội của việc thay đổi chính sách là rất to lớn. Do đó, bên cạnh việc tận dụng những nguồn lợi cho RCEP và TPP đem lại, Việt Nam cần đặt ra những ưu tiên không thể nhân nhượng nhằm đảm bảo cân đối về mặt kinh tế, chính trị, xã hội khi tham gia đàm phán các hiệp định này.

+ Thứ hai, việc đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTAs) song phương hoặc đa phương đang là xu thế của các nước trên thế giới hiện nay. Việt Nam cũng không thể nằm ngoài trào lưu này. Ngoài RCEP và TPP, Việt Nam đã ký FTA với 8 đối tác, gồm: ASEAN, ASEAN + (Ấn Độ, Australia, New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc), Việt Nam – Chile, và Việt Nam – Nhật Bản; đang tích cực triển khai đàm phán các FTA  khác với EU, Hàn Quốc và Liên minh Hải quan Nga – Belarus, Kazakhstan. Trước tình hình này, Việt Nam cần phải lựa chọn, xây dựng cơ chế kiểm soát hữu hiệu hệ thống các quy định nhằm tránh sự chồng chéo giữa các cam kết với các nước, đồng thời có những biện pháp linh hoạt để thích ứng tốt nhất với mỗi hiệp định nhằm tranh thủ lợi ích tối đa cho mục tiêu phát triển đất nước.

+ Thứ ba, việc ASEAN giao cho Việt Nam điều hành lĩnh vực hậu cần trong số 12 lĩnh vực cần ưu tiên khi xây dựng AEC (vì nhờ vị trí địa chính trị kinh tế của Việt Nam) là cơ hội để chúng ta tranh thủ đóng góp vai trò tích cực vào sự hội nhập khối. Vì vậy, khi tham gia RCEP và TPP, Việt Nam cần tranh thủ tận dụng những ưu tiên trong lĩnh vực dịch vụ vận tải, hậu cần kho vận của các hiệp định này mang lại (đặc biệt là TPP) để cải thiện năng lực, cơ sở hạ tầng của lĩnh vực này. Điều này cũng là tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam để đảm nhận tốt hơn vai trò của mình trong AEC.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Anh Thu (đcb) – Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế – NXB ĐHQG HN 2015.

Advertisements

Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương và tác động đối với AEC – Phần đầu


1/ Bối cảnh hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương

Từ sau cuộc khủng hoàng tài chính toàn cầu năm 2008 – 2009, bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị và an ninh quốc tế đã có nhiều thay đổi to lớn. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc đã buộc Mỹ phải thực hiện “chiến lược xoay trục” (hay còn gọi là chiến lược tái cân bằng), chuyển hướng trọng tâm sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhằm kiềm chế sự ảnh hưởng của Trung Quốc đối với khu vực này. Tuy nhiên, bối cảnh khu vực châu Á – Thái Bình Dương vẫn cho thấy sự đan xen lợi ích giữa cạnh tranh ảnh hưởng và hợp tác kinh tế, trong đó, hợp tác kinh tế được xem là xu hướng chủ đạo tại khu vực. Theo báo cáo của ADB, kinh tế châu Á ngày càng đóng vai trò quant rọng hơn đối với thế giới, với GDP gần bằng với châu Âu hoặc châu Mỹ (ước tính đến năm 2020 GDP của châu Á sẽ tăng 50%). Hơn nữa, trong bối cảnh kinh tế EU và Mỹ tiếp tục tăng trưởng yếu ớt ở mức 1 – 2,5%/năm, châu Á được kỳ vọng trở thành “đầu tàu” để vực dậy nền kinh tế thế giới. Vì vậy, khu vực này đang chứng kiến cơ chế hợp tác kinh tế cao độ trong khuôn khổ các hiệp định tự do thương mại đa phương, mà nổi bật là RCEP và TPP.

Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)

RCEP là hiệp định thương mại do các quốc gia ASEAN khởi xướng, liên kết các nền kinh tế của 16 quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương, bao gồm 10 quốc gia ASEAN và 06 quốc gia mà ASEAN đã ký kết FTA gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand. Ý tưởng về RCEP lần đầu tiên giới thiệu vào tháng 11/2011 tại Hội nghị thượng đỉnh lãnh đạo ASEAN ở Bali, được các nước ASEAN nhất trí khởi động đàm phán tại Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) vào tháng 11/2012 và dự kiến sẽ kết thúc vào cuối năm 2015. RCEP hướng tới mục tiêu thiết lập khối thương mại tự do lớn nhất thế giới với dân số hơn 3 tỷ người, GDP khoảng 17000 tỷ USD và chiếm khoảng 40% tổng thương mại thế giới. Trong đó, nội dung của RCEP sẽ bao gồm các điều khoản về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, hợp tác kinh tế và kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh và giải quyết tranh chấp. Với mục tiêu củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc kinh tế khu vực đang nổi lên và tìm cách hài hòa những khác biệt giữa các FTA của ASEAN, RCEP không chỉ thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực mạnh mẽ hơn, dần dần loại bỏ thuế quan và các rào cản phi thuế quan, đảm bảo tính nhất quán với các quy tắc của WTO, mà còn đem lại lợi ích kinh tế to lớn cho các quốc gia thành viên. Đặc biệt, các nền kinh tế phụ thuộc xuất khẩu ở khu vực Đông Nam Á sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận các thị trường lớn trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ. Ngược lại, điều này cũng sẽ thúc đẩy đầu tư từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia kém phát triển và cùng hội nhập toàn diện vào các hoạt động kinh tế khu vực.

Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP)

TPP được biết đến như một hiệp định thương mại tự do nhiều bên với mục tiêu thiết lập một khối thương mại cho các nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhằm thúc đẩy thương mại, đầu tư và cải cách thể chế. TPP được ký kết lần đầu tiên vào ngày 3/6/2005 (có hiệu lực từ ngày 28/5/2006) gồm 4 nước: Singapore, Chile, New Zealand, Brunei. Sau đó, lần lượt Mỹ (tháng 8/2006); Australia, Peru và Việt Nam (tháng 11/2008); Malaysia (tháng 11/2010); Canada và Mexico (tháng 10/2012); Nhật Bản (tháng 3/2013) tuyên bố tham gia đàm phán TPP. Với sự tham gia của các nền kinh tế lớn trên thế giới, TPP được kỳ vọng sẽ trở thành khu vực kinh tế rộng lớn với hơn 790 triệu dân, đóng góp 40% GDP và chiếm 1/3 thương mại toàn cầu. Tính đến nay, các quốc gia vẫn đang tiếp tục đàm phán một loạt các điều khoản của TPP như: quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn lao động, chính sách cạnh tranh, nguyên tắc đầu tư, quy tắc xuất xứ, môi trường và vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, Mỹ đang giữ vai trò cực kỳ quan trọng, là “nam châm” thu hút các nước châu Á – Thái Bình Dương khác tham gia TPP. Chính vì vậy, TPP được xem như nền tảng để xây dựng một khu vực mậu dịch tự do Châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP) rộng lớn hơn. Theo đó, TPP sẽ thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Mỹ với các nước châu Á – Thái Bình Dương, củng cố và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực trong bối cảnh vai trò của Mỹ tư cách là đối tác thương mại của nhiều nước châu Á đang giảm sút nghiêm trọng. Ngược lại, các nước châu Á – Thái Bình Dương sẽ được hưởng lợi rất nhiều từ TPP, nhất là thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, tăng cường hội nhập khu vực thông qua cải cách thể chế, gia tăng thương mại hàng hóa, dịch vụ khi thuế suất giảm xuống 0%.

Như vậy, RCEP và TPP được kỳ vọng sẽ hình thành các khối thương mại hướng đến hội nhập kinh tế khu vực rộng lớn hơn, mà mục tiêu cuối cùng là thiết lập khu vực mậu dịch tự do châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, cả RCEP và TPP đều đang đối mặt với những thách thức rất lớn (chẳng hạn như những bất đồng quan điểm về quy tắc xuất xứ hàng hóa) trong việc tìm kiếm một hiệp định khu vực hài hòa lợi ích giữa các quốc gia đã ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương. Đàm phám những vấn đề mới, chưa được quy định trong các hiệp định thương mại tự do song phương, hoặc chấp nhận các thể thức mới đối với một số vấn đề được quy định trong các hiệp định đó cũng đang tạo ra một số thách thức nhất định. Điều này sẽ tác động đến các tiến trình hội nhập kinh tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là Sáng kiến thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ được thực thi vào cuối năm 2015.

2/ Tác động của hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương đối với AEC

Cùng với Cộng đồng An ninh ASEAN và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN, AEC được xem là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN (AC) nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020, dự kiến sẽ thành lập vào cuối năm 2015. Năm 2008, việc HIến chương ASEAN có hiệu lực, khẳng định lại mục tiêu thiết lập Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột trên đã xác định cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành AEC. Sự ra đời của AEC là sự tiếp nối các chương trình hợp tác kinh tế nội khối ASEAN như: Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) và Hiệp định khung về thương mại dịch vụ ASEAN (AFAS), nhưng việc lãnh đạo các quốc gia ASEAN thống nhất thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) mới chính là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng AEC mà ASEAN đang hướng tới.

Trọng tâm của AEC là phát triển kinh tế khu vực dựa trên sự kết nối sức mạnh thị trường của mười quốc gia ASEAN với khoảng 600 triệu dân và tổng GDP hơn 1850 tỷ USD. Thông qua AEC, ASEAN muốn xây dựng một cấu trúc liên kết kinh tế ở mức cao, dựa trên sự hội tụ mạnh mẽ các chính sách, luật lệ và quy định liên quan đến thương mại và đầu tư. Cụ thể, AEC sẽ hướng đến việc đưa ASEAN trở thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất; một khu vực kinh tế có sức cạnh tranh cao; phát triển kinh tế cân bằng; hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu. Cho tới nay, mục tiêu đưa ASEAN trở thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất đang được ASEAN thúc đẩy mạnh, bao gồm năm yếu tố cơ bản: tự do lưu chuyển hàng hóa; tự do lưu chuyển dịch vụ; tự do lưu chuyển đầu tư; tự do lưu chuyển vốn; và tự do lưu chuyển lao động có kỹ năng.

Với những mục tiêu đã đề ra ở trên, AEC sẽ đem lại những lợi ích kinh tế tiềm năng cho các nước thành viên ASEAN như tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, tạo ra nhiều việc làm hơn, thu hút FDI mạnh mẽ hơn, phân bố nguồn lực tốt hơn, tăng cường năng lực sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Các nước ASEAN sẽ được tham gia sâu rộng vào chuỗi sản xuất và giá trị toàn cầu, cũng như hưởng lợi nhiều hơn từ thương mại và đầu tư nội khối. AEC cũng đặc biệt chú trọng thúc đẩy mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia nội khối. Tính đến nay, ASEAN đã thực hiện được gần 70% số biện pháp đề ra trong lộ trình tổng thể thành lập AEC. Cả 12 lĩnh vực thuộc AEC do các cơ quan chuyên ngành như tài chính (kể cả hải quan), giao thông – vận tải, nông nghiệp, viễn thông, du lịch, khoa học – công nghệ, năng lượng – khoáng sản, hợp tác tiểu vùng… triển khai đều đã đạt được các kết quả quan trọng. Vì vậy, AEC đã và đang trở thành mục tiêu hợp tác kinh tế cốt lõi của ASEAN, đóng vai trò xương sống trong nỗ lực liên kết ASEAN. Nếu thành công, ASEAN sẽ trở thành một thị trường chung, một không gian sản xuất thống nhất, nhằm phát huy lợi thế của khu vực ASEAN, từng bước xây dựng một khối kinh tế năng động, mang tầm khu vực, có tính cạnh tranh cao trên thế giới.

Đối với ASEAN, ngay từ khi mới ra đời, việc giữ vai trò trung gian và cân bằng lợi ích giữa các nước lớn trong và ngoài khu vực luôn là vấn đề thường trực. Do đó, thỏa thuận và ký kết hàng loạt các hiệp định thương mại tự do đa tầng và đan chéo nhau hầu như không thể tránh khỏi, khiến cho AEC trở thành tâm điểm giao thoa của hàng loạt các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương, đặc biệt là RCEP, TPP và FTAs. Tuy nhiên, mọi hiệp định thương mại tự do song phương hoặc đa phương đều phải hướng đến mục tiêu thành công của AEC dù có những tác động nhất định.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Anh Thu (đcb) – Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế – NXB ĐHQG HN 2015.

Xu hướng nở rộ các hiệp định thương mại tự do trong khu vực châu Á và một số thách thức đối với AEC – Phần cuối


Đe dọa vai trò trung tâm của AEC

Các FTA song phương giữa thành viên ASEAN với các quốc gia bên ngoài khối đang thể hiện chính sách của các nước lớn trong khu vực: “nước nhỏ chủ đạo, nước lớn tham gia” và “chia bó đũa để bẻ”. Vì vậy, nếu ASEAN không có chiến lược hợp tác đủ mạnh, không tích cực đẩy nhanh tiến trình hội nhập, AEC và AC sẽ gặp khó khăn trong vai trò làm trục phát triển trong khu vực Đông và Đông Nam Á, từ đó ảnh hưởng đến kế hoạch “ASEAN Centrality” của ASEAN.

Giải quyết vấn đề gia tăng chi phí không chỉ về kinh tế mà còn các chi phí chính trị

Chi phí hành chính, chi phí thời gian gia tăng mỗi khi các quốc gia tiến hành các cuộc đàm phán riêng lẻ. Thái Lan đang phải đương đầu với sự khan hiếm nguồn nhân lực đàm phán khi nước này bắt đầu cuộc chạy đua với những ưu tiên cho FTA song phương. Những chi phí chính trị không phải là nhỏ khi vì muốn bảo hộ nhiều ngành công nghiệp nội địa của mình, Malaysia hạn chế mở cửa thị trường mua sắm chính phủ cho các công ty Mỹ được quyền đấu thầu. Vì lẽ đó, FTA Malaysia – Mỹ vẫn chưa tìm được hướng đi. Thái Lan cũng khó nối lại đàm phán thương mại về một FTA với Mỹ nếu không tham gia tích cực vào công cuộc chống khủng bố ở Afghanistan, Những trao đổi mang tính chịnh trị như thế đòi hỏi mỗi thành viên ASEAN phải cân nhắc rất nhiều về chi phí chính trị mà họ phải trả cho các FTA với các đối tác chiến lược.

Giải quyết các vấn đề liên quan đến di chuyển lao động

Một trong những mục tiêu của AEC là di chuyển tự do dòng lao động có tay nghề trong nội khối. Tuy nhiên, khi các FTA hoạt động, các cơ hội khác nhau cho người lao động lựa chọn nhiều hơn, tiềm ẩn bên cạnh đó là nguy cơ lao động có tay nghề không chỉ di chuyển trong nội khối mà có thể tràn san các quốc gia phát triển đã ký kết FTA song phương với một hoặc nhiều thành viên ASEAN. FTA ASEAN – Trung Quốc, FTA ASEAN – Hàn Quốc đã được khẳng định, FTA ASEAN – Nhật Bản đang tiến triển thuận lợi đến hồi kết, như vậy, không gian kinh tế của ASEAN không chỉ bó tròn trong 10 thành viên và mở rộng sang 13 quốc gia. Bên cạnh đó, 3 đối tác quan trọng khác là Ấn Độ, Australia và New Zealand cũng là những địa chỉ tin cậy để mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Một mặt, nguồn nhân lực không đi đến đúng địa chỉ, mặt khác, xuất hiện lao động thất nghiệp từ các doanh nghiệp phải đóng cửa vì không thích ứng với những thay đổi chính sách do FTA mang lại. Những thay đổi đó tác động rất mạnh vào nguồn nhân lực có tay nghề cao của ASEAN, gây nguy cơ phân tán nguồn lực mà quá trình xây dựng AEC đang rất cần, đồng thời đặt ra những thách thức không nhỏ đối với vấn đề an sinh xã hội ở từng thành viên.

Điều chỉnh thể chế trong quá trình hội nhập

Trong bối cảnh sự nở rộ của các FTA châu Á cũng như sự hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế toàn cầu của ASEAN, một thể chế hoạt động và hợp tác hiệu quả sẽ quyết định sự hội nhập thành công của ASEAN/AEC vào nền kinh tế toàn cầu. Có một số vấn đề liên quan đến thể chế cần được xem xét để điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn như nguyên tắc đồng thuận và cơ chế giải quyết tranh chấp.

Phải thừa nhận rằng đến thời điểm hiện nay, cả nguyên tắc đồng thuận và nguyên tắc đa số đều có những ưu và nhược điểm của nó. Nhược điểm của phương thức đồng thuận là các quốc gia sẽ mất nhiều thời gian và công sức để tìm ra một tiếng nói chung; đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, nhiều vấn đề kinh tế, chính trị mới phát sinh dẫn đến có những vấn đề khó hoặc gần như không thể tìm được tiếng nói chung (Biển Đông chỉ là một vấn đề điển hình). ASEAN cũng đã có những linh hoạt nhất động đối với cơ chế đồng thuận. Trong Hiến chương ASEAN quy định nguyên tắc chủ đạo là đồng thuận; khi không đạt được đồng thuận, Hội nghị cấp cao ASEAN sẽ quyết định về cách thức ra quyết định phù hợp. Ngoài ra, riêng đối với thực thi các quyết định trong lĩnh vực kinh tế, có thể áp dụng công thức linh hoạt ASEAN-X, theo đó sẽ cho phép các nước có điều kiện, thực hiện việc mở cửa kinh tế, thị trường trước (trên cơ sở có đồng thuận về việc áp dụng phương thức đó). Các quy định này đã giúp AEC có thể có những linh hoạt trong cơ chế ra quyết định trên con đường hiện thực hóa vào năm 2015 của mình. Tuy nhiên, cơ chế đồng thuận vẫn là vấn đề cần có sự xem xét kỹ lưỡng của ASEAN trong tương lai để đảm bảo sự thành công của AEC/ASEAN, đặc biệt trong bối cảnh ASENA nói chung và các nước ASEAN riêng lẻ đang tích cực tham gia và các FTA song phương và đa phương để tranh thủ tối đa những cơ hội từ việc hội nhập.

Đối với cơ chế giải quyết tranh chấp, với sự gia tăng hội nhập ngày càng nhanh và mạnh của các nước ASEAN vào các FTA, những tranh chấp về kinh tế có khả năng sẽ tăng lên trong tương lai. Vì vậy, cần phải có một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả để giúp không chỉ việc thực hiện các cam kết của AEC nhịp nhàng và hiệu quả, mà còn giúp đảm bảo sự thực thi các quy định pháp lý của AEC/ASEAN – một yếu tố đảm bảo sự vững mạnh của một liên kết. Trong các Hiệp định ATIGA, AFAS và ACIA đều quy định việc giải quyết các tranh chấp hoặc bất đồng nảy sinh giữa các quốc gia thành viên sẽ được thực hiện dựa trên cơ sở Nghị định thư về Cơ chế giải quyết tranh chấp trong ASEAN và các văn bản sửa đổi của Nghị định thư này. Tuy nhiên, còn có nhiều vấn đề trong cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN liên quan đến các vấn đề kinh tế như: (i) Cơ quan phúc thẩm chưa có một Bộ quy trình làm việc hoặc một quy tắc ứng xử trong khi đây là những yêu cầu quan trọng cho việc thúc đẩy sự hiểu biết và ứng xử thích hợp của bên kháng cáo; (ii) Thông tin về cơ chế giải quyết tranh chấp (các giai đoạn, quá trình giải quyết tranh chấp…) của ASEAN không đầy đủ, việc phổ biến các thông tin cũng hạn chế dẫn đến những khó khăn trong việc tìm hiểu và sử dụng cơ chế giải quyết của các nước; (iii) Thông tin về thành phần của Ban phúc thẩm và Cơ quan phúc thẩm của ASEAN còn rất thiếu; (iv) Thiếu rõ ràng về nhiệm vụ pháp lý của Ban thư ký ASEAN và (v) Nguồn tài chính, nhân lực để vận hành cơ chế giải quyết tranh chấp còn yếu kém… Vì vậy, ASEAN cần có những điều chỉnh để tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp trong khu vực, đảm bảo những yếu kém trong cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN không phải là nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu của ASEAN trong tương lai.

Ngoài ra còn một số vấn đề thể chế khác cũng có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển của AEC trong tương lai, đó là vai trò của Ban thư ký ASEAN, sự phối hợp của các cơ quan điều phồi thực hiện AEC của từng nước và của toàn bộ ASEAN, sự cần thiết phải thiết lập được một hệ thống giám sát hiệu quả từ cấp độ các cơ quan quốc gia và liên kết với Văn phòng giám sát Hội nhập ASEAN của Ban Thư ký ASEAN… (Nesadurai, 2013, p109).

Cần những đánh giá toàn diện về các tác động của các FTA ASEAN đang tham gia

Một phân tích toàn diện các tác động chính trị, xã hội, kinh tế, hành chính và đối ngoại của một loạt các FTA song phương và đa phương đối với các nước thành viên và toàn bộ AEC là vô cùng cần thiết. Nghiên cứu hiện tại về chủ đề này tập trung vào vấn đề tác động kinh tế của FTA đối với các nước có liên quan và các doanh nghiệp. Do các chính phủ thường hợp lý hóa việc theo đuổi các chiến lược FTA một phần vì lý do chính trị, thường là để đạt được lợi ích đối ngoại, những lợi ích đối ngoại này cần phải được đánh giá một cách chặt chẽ hơn, bao gồm cả câu hỏi liệu chiến lược tham gia vào các FTA có làm sao lãng sự chú ý của các chính phủ với việc thực hiện AEC. Các FTA có thể sẽ hỗ trợ AEC hoặc họ có thể là yếu tố cản trở sự tiến bộ của AEC. Một đánh giá toàn diện đầy đủ các chi phí và lợi ích của chiến lược FTA của các nước thành viên sẽ giúp đưa ra các cơ sở để đề xuất liệu các nước thành viên có nên tiếp tục hoặc cắt giảm bớt các FTA.

Kết luận

Với tư cách là một phần của tiến trình toàn cầu hóa, FTA đã trở thành xu hướng khó kìm hãm. Trong những năm qua, FTA ở khu vực châu Á đã gia tăng nhanh chóng cả về số lượng, cường độ, phạm vi điều chỉnh và hướng hợp tác. Thông qua trụ cột 4 của AEC, ASEAN cũng đã được coi là tổ chức khá thành công về hội nhập kinh tế với việc gia tăng đàm phán và ký kết các FTA. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội của quá trình hội nhập FTA, AEC/ASEAN đã và đang đối đầu với những thách thức liên quan đến việc tăng chi phí kinh tế và chính trị của việc hội nhập, sự đe dọa vai trò trung tâm của ASEAN và những vấn đề di chuyển lao động.

Để có thể vượt qua các thách thức trên, ASEAN cần tiếp tục khẳng định ý chí chính trị của mình trong việc hình thành AEC trước trào lưu FTA. ASEAN nói chung cũng như các nước thành viên nói riêng cần có chính sách hỗ trợ SMEs trong quá trình hội nhập, tăng cường cung cấp thông tin và tuyên truyền về AEC để các doanh nghiệp có thể tận dụng được tốt nhất các ưu đãi của AEC. Ngoài ra, ASEAN cần nhanh chóng có những thay đổi trong thể chế, từ cơ chế giải quyết tranh chấp, nguyên tắc đồng thuận đến vai trò của Ban Thư ký ASEAN trong quá trình hộip nhập và nhanh chóng có những nghiên cứu đánh giá toàn diện, tổng thể các chi phí và lợi ích của tất cả các FTA mà các nước thành viên đang tham gia hoặc sẽ tham gia để giúp đưa ra các khuyến nghị liệu các nước thành viên có nên tiếp tục hoặc cắt giảm bớt các FTA trong quá trình hội nhập.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Anh Thu (đcb) – Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế – NXB ĐHQG HN 2015.

Xu hướng nở rộ các hiệp định thương mại tự do trong khu vực châu Á và một số thách thức đối với AEC – Phần II


Mặc dù là quốc gia ủng hộ chủ nghĩa đa phương do WTO khởi xướng, Nhật Bản là quốc gia thực hiện FTA sau. Nhật Bản đã thực hiện đàm phán và nhanh chóng ký kết các thỏa thuận đối tác kinh tế song phương (EPA) với 11 quốc gia, một thỏa thuận khu vực với ASEAN và trong năm 2011 đã ký kết EPA với Peru. Nhật Bản đang đàm phán TPP, dự kiến đàm phán trong tương lai với Australia và các nền kinh tế Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh. Tháng 5/2012, Nhật Bản đã đồng ý đàm phán về một thỏa thuận ba bên với Trung Quốc và Hàn Quốc.

Hai nền kinh tế đang phát triển khổng lồ của châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ đang tham gia vào đàm phán các FTA để đảm bảo tiếp cận thị trường cho hàng hóa của mình và mở rộng phạm vi khu vực đầu tư ra nước ngoài. Trung Quốc đã thực hiện các FTA riêng biệt đối với hàng hóa và dịch vụ với các nước ASEAN. Trung Quốc cũng đang tiến hành các thỏa thuận đối tác kinh tế toàn diện song phương với Hong Kong và Ma Cao; FTA với Chile, Costa Rica, Pakistan và Peru. Ngoài ra, Trung Quốc đã ký kết FTA với New Zealand và Singapore vào năm 2008 và Hiệp định khung về hợp tác kinh tế với Đài Loan trong năm 2010.

Ấn Độ cũng đã thực hiện một số thỏa thuận toàn diện với các nền kinh tế Đông Á (bao gồm ASEAN, Nhật Bản, Malaysia, Singapore và Hàn Quốc) từ năm 2005 và cũng có các thỏa thuận với các nước láng giềng Nam Á.

Các nền kinh tế thu nhập trung bình như Malaysia và Thái Lan đã nổi lên như trung tâm sản xuất khu vực cho các ngành công nghiệp điện tử. Malaysia là một thành viên trong các FTA của ASEAN và có thảo thuận riêng biệt với Chile, Nhật Bản, New Zealand và Pakistan. Thái Lan cũng đã ký hiệp địh song phương với Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand và FTA với Peru vào năm 2011.

Mặc dù Hàn Quốc không có nhiều FTA như các nền kinh tế lớn khác trong khu vực nhưng cũng đã có các FTA chiến lược với các đối tác thương mại lớn trên thế giới như châu Âu và Hoa Kỳ cũng như ASEAN. Cụ thể, tại châu Á, Hàn Quốc đã có thỏa thuận với các thành viên của APTA, ASEAN và Singapore. Bên ngoài châu Á, Hàn Quốc đã có thỏa thuận với Chile, Peru, EU và khu vực thương mại tự do châu Âu (EFTA). FTA Hàn – Mỹ đã được ký kết vào tháng 6/2007 và có hiệu lực vào ngày 15/3/2012. FTA Hàn Quốc – EU được ký kết vào tháng 10/2010 và đã có hiệu lực kể từ tháng 7/2011.

Các nền kinh tế kém phát triển hơn của châu Á như Campuchia, Indonesia, Lào, Philippines và Việt Nam – có xu hướng dựa vào ASEAN để đàm phán ký kết FTA với các nền kinh tế lớn của khu vực. Điều này là do các quốc gia này còn thiếu nguồn nhân lực, kỹ thuật và năng lực thể chế để đàm phán FTA.

Khu vực địa lý của các FTA trong châu Á

Các nền kinh tế lớn của châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore và Hàn Quốc, Nhật Bản có xu hướng mạnh trong việc ký kết các FTA liên khu vực. Xu hướng này càng thể hiện rõ nét hơn trong các đề xuất FTA mới đây và đang trong quá trình đàm phán.

Một khu vực mà gần đây châu Á có mở rộng quan hệ kinh tế là Mỹ Latinh. Do sự khác biệt về nhu cầu, nguồn lực, chính sách thương mại và sự xuất hiện của các nền kinh tế mới nổi, quan hệ kinh tế giữa châu Á – châu Mỹ Latinh đã phát triển mạnh mẽ từ năm 2000. Sự tăng trưởng trong các FTA liên khu vực này được dẫn dắt bởi các nền kinh tế lớn của hai khu vực. Các thỏa thuận quan trọng bao gồm FTA Ấn Độ – Chile, FTA Nhật Bản – Mexico, FTA Hàn Quốc – Chile và FTA Trung Quốc – Costa Rica. Tuy nhiên, ASEAN và các nền kinh tế Nam Á khác không thương mại nhiều với nền kinh tế Mỹ Latinh và không tham gia nhiều vào các FTA liên khu vực.

2/ Thách thức của các FTA của châu Á đến AEC

Khi FTA ở các nước châu Á ngày càng mở rộng, những quan tâm cũng như lo lắng về các FTA này cũng có xu hướng tăng lên và đồng thời đặt AEC trước những thách thức và khó khăn mới bên cạnh những cơ hội thường thấy của FTA như mở rộng thị trường, tăng năng lực cạnh tranh, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu… Bài viết này sẽ chỉ ra các thách thức cơ bản của việc phát triển của các FTA ở châu Á đến AEC.

Tăng tỷ lệ sử dụng các ưu đãi trong FTA

Với trụ cột thứ tư của AEC là thúc đẩy ASEAN hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu, các nước ASEAN đã hòa vào xu hướng chung của khu vực và tham gia ngày càng tích cực vào việc đàm phán và ký kết các FTA. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ thực tế sử dụng các ưu đãi trong FTA (được tính bằng tỷ lệ của kim ngạch xuất khẩu được hưởng thuế quan ưu đãi) của các nước châu Á nói chung và ASEAN còn chưa cao, nghĩa là các mức thuế ưu đãi trong các FTA ít được sử dụng. Bên cạnh đó, trong đàm phán FTA, các nước đang phát triển nói chung thường bị phân biệt đối xử và có thể có những kết quả không mong muốn từ đàm phán do năng lực đàm phán còn thấp kém. Những vấn đề trên đã đặt ra thách thức lớn cho các nước ASEAN khi thực hiện AEC, bởi nếu tăng số lượng FTA được đàm phán và ký kết nhưng mức độ sử dụng các FTA này thấp sẽ dẫn đến không hiệu quả. Chi phí của việc đàm phán và thực hiện FTA như vậy có thể sẽ vượt quá lợi ích do FTA mang lại. Bên cạnh đó, trong hầu hết các FTA, để được hưởng ưu đãi thuế, các doanh nghiệp phải đáp ứng được các yêu cầu về Giấy chứng nhận nguồn gốc xuất xứ. Các thông tin về Giấy chưng nhận xuất xứ thường được lấy từ các cơ quan hải quan hoặc các hiệp hội doanh nghiệp. Tuy nhiên, một trong những khó khăn đối với doanh nghiệp của các nước ASEAN là thông tin liên quan đến C/O cũng như tiêu chuẩn xuất xứ chưa được phổ biến rõ ràng và cụ thể cho doanh nghiệp, làm cản trở việc sử dụng các ưu đãi trong FTA của doanh nghiệp.

Giải quyết vấn đề “noodle bowl”

Khi ASEAN đang tham gia và ký kết ngày càng mạnh mẽ vào các FTA, bên cạnh những lợi ích thu được, ASEAN/AEC sẽ gặp phải một thách thức lớn: đó là sự chồng chéo của các FTAs (hay còn gọi là vấn đề noodle bowls) và do đó khó khăn trong việc xác định nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm để áp dụng các ưu đãi. Quy tắc xuất xứ được sử dụng để xác định hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan nhằm ngăn chặn lệch thương mại giữa các thành viên FTA. Nhiều quy tắc xuất xứ trong các FTA chồng chéo gây khó khăn và chi phí lớn cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ có ít khả năng để đáp ứng các chi phí đó.

ADB đã tiến hành các cuộc điều tra doanh nghiệp để tìm hiểu về quan điểm, nhận thức của các doanh nghiệp về việc “thực hiện nhiều quy tắc xuất xứ trong các FTA khác nhau của ASEAN có làm tăng đáng kể thêm vào chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp”. Các cuộc điều tra đã rút ra các kết quả đáng chú ý. Thứ nhất, với mức độ hiện tại của các FTA được ký kết trong khu vực, việc áp dụng nhiều quy tắc xuất xứ chỉ là gánh nặng nhỏ đối với các doanh nghiệp. Khoảng 21,4% doanh nghiệp trả lời rằng FTA đã làm tăng đáng kể chi phí và phần lớn doanh nghiệp cho rằng quy tắc xuất xứ không phải là vấn đề. Tuy nhiên, có sự khác nhau đáng kể ở cấp độ quốc gia. Singapore có tỷ lệ các doanh nghiệp cho rằng nhiều quy tắc xuất xứ gây ra các ảnh hưởng tiêu cực cao nhất (38%) trong khi Trung Quốc có tỷ lệ này thấp nhất (6%). Tỷ lệ này của Philippines là 28%, Thái Lan 26%, Malaysia 25%. Thứ hai, tỷ lệ các doanh nghiệp lớn cho rằng “nhiều quy tắc xuất xứ sẽ ảnh hưởng tiêu cực” cao hơn so với tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ do doanh nghiệp lớn có xu hướng xuất khẩu sang nhiều thị trường và điều chỉnh kế hoạch kinh doanh của mình nhiều hơn để đáp ứng với các FTA. Các doanh nghiệp nhỏ hơn, ngược lại, có xu hướng xuất khẩu sang một thị trường và do đó không quá lo lắng nhiều về quy tắc xuất xứ. Thứ ba, phần lớn các doanh nghiệp muốn có thể lựa chọn quy tắc xuất xứ cụ thể trong các FTA. Các doanh nghiệp ủng hộ việc có một số các quy tắc xuất xứ có thể thay thế cho nhau cho cùng một loại sản phẩm để trong trường hợp nếu các doanh nghiệp không thể đạt được yêu cầu về nội địa hóa thì vẫn có thể sử dụng các yêu cầu khác trong quy tắc xuất xứ để tạo điều kiện cho họ vẫn có thể được áp dụng các ưu đãi FTA.

Không chỉ các quy tắc xuất xứ, các quy định ưu đãi trong mỗi FTA đang chồng chéo lên nhau, thậm chí chồng chéo lên cả những quy định trong nội bộ ASEAN. Điều này không chỉ gây tình trạng khó kiểm soát hệ thống quy định mà còn làm nảy sinh những khó khăn về mặt kỹ thuật (ví dụ như phân đoạn cắt giảm thuế không tương thích, hay việc thực hiện các quy định khác nhau về nguồn gốc xuất xứ trong các FTA riêng rẽ). Trong điều kiện hiện nay, chưa nền kinh tế thành viên nào đủ sức mạnh làm đầu tàu cho thương mại nội khối, động cơ thương mại của mỗi nước tham gia FTA khác nhau sẽ làm chệch hướng hội nhập kinh tế ASEAN, xé nhỏ thị phần ASEAN trong mỗi bạn hàng, phân tán nguồn lực đáng lẽ nên dành ưu tiên cho xây dựng AEC và AC, biến các FTA thành món “mỳ hổ lốn” và “hỗn loạn”.

Như vậy, số lượng các FTA ký kết ngày càng tăng, một phần do trụ cột thứ tư của AEC, đã và sẽ gây ra một số các vấn đề và chi phí cho doanh nghiệp. Do đó, AEC cần xem xét đến các biện pháp hỗ trợ, ví dụ khuyến khích hợp lý hóa các quy tắc xuất xứ và cải thiện quy trình áp dụng, quản lý quy tắc xuất xứ để từ đó giảm thiểu những tác động tiêu cực trong tương lai của “bát mì châu Á” đến các nước thành viên. Việc hỗ trợ các SMEs, đặc biệt là SMEs của nhóm CLMV nâng cao năng lực cạnh tranh cũng là một yếu tố quan trọng giúp ASEAN thực hiện thành công trụ cột thứ tư của AEC.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Anh Thu (đcb) – Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế – NXB ĐHQG HN 2015.

Xu hướng nở rộ các hiệp định thương mại tự do trong khu vực châu Á và một số thách thức đối với AEC – Phần I


Lời mở đầu

Các quốc gia ASEAN đang nỗ lực thực hiện các hành động tiến tới hiện thực hóa AEC vào năm 2015 với các lịch trình và giải pháp thực hiện cụ thể của mình. Tuy nhiên, sự thành công của AEC không chỉ phụ thuộc vào chính nỗ lực của các nước ASEAN trong việc thực hiện các kế hoạch đã được đặt ra trong AEC Blueprint, mà còn phụ thuộc vào bối cảnh quốc tế với những thay đổi và vận động mới của nền kinh tế thế giới, trong đó có sự phát triển mạnh mẽ của các hiệp định thương mại tự do (FTAs) ở khu vực châu Á trong thời gian gần đây. Bài viết này sẽ xem xét thực trạng phát triển của các FTA ở khu vực châu Á hiện nay, phân tích những thách thức của các FTAs châu Á đến AEC để từ đó rút ra một số gợi ý góp phần hiện thực hóa AEC đến năm 2015.

1/ Thực trạng phát triển FTA của khu vực châu Á

Sự gia tăng về số lượng các FTA ở châu Á

Trước những năm 1990, FTA hầu như không xuất hiện và phát triển ở châu Á. Khi chủ nghĩa đa phương bắt đầu nổi lên, châu Á đã bắt đầu nhấn mạnh tầm quan trọng của FTA và coi FTA như một công cụ chính sách thương mại trong những năm 1990. Hiệp định Thương mại châu Á – Thái Bình Dương (APTA: Asia-Pacific Trade Agreement) có hiệu lực vào năm 1976 có thể coi là FTA đầu tiên của châu Á. Tiếp theo APTA là Hiệp định Thương mại Ưu đãi (PTA) Thái Lan – Lào vào năm 1991 và Hiệp định Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) vào năm 1992. Hiện nay, châu Á đang là khu vực đi đầu trong các hoạt động FTA trên thế giới. Từ sau năm 2000, các FTA ở châu Á đã được mở rộng đáng kể. Số lượng các FTA được ký kết tại toàn khu vực châu Á tăng từ 3 đến 22 trong giai đoạn 2002 – 2005 và tiếp tục tăng lên 71 vào năm 2012. Hiện tại có khoảng 64 FTA ở châu Á đang có hiệu lực trên tổng số khoảng 300 FTAs trên toàn thế giới. Xu hướng nở rộ FTAs ở châu Á sẽ còn tiếp tục trong tương lai với khoảng 84 FTAs khác đang được đề xuất hoặc trong quá trình đàm phán (Kawai, 2013). Các nước châu Á thường lựa chọn các thỏa thuận song phương chứ không phải là các hiệp định đa phương phức tạp. Điều đó có thể là do hiệp định song phương thường dễ dàng hơn trong việc thương lượng. FTA song phương chiếm đến 76% trong tổng các FTA đã được ký kết của châu Á trong khi FTA đa phương chỉ chiếm 24%.

Có bốn yếu tố chính dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ gần đây của các đề xuất FTA ở châu Á: (1) các nước châu Á mong muốn đẩy mạnh hơn và làm sâu sắc hơn hội nhập kinh tế theo định hướng thị trường trong khu vực, (2) do sự phát triển mạnh mẽ của hội nhập kinh tế ở châu Âu và Bắc Mỹ, (3) do khủng hoảng tài chính 1997 – 1998 ở châu Á và (4) do các đàm phán thương mại trong vòng Doha không tiến triển thuận lợi (Kawai, 2013).

Yếu tố đầu tiên là mong muốn đẩy mạnh hội nhập kinh tế theo định hướng thị trường thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thương mại và sự hình thành của mạng lưới sản xuất, chuỗi cung ứng giữa các nước châu Á. Để hội nhập kinh tế theo định hướng thị trường, các quốc gia châu Á bắt buộc phải đẩy mạnh tự do hóa thương mại và FDI, hài hòa hóa các chính sách, quy tắc và tiêu chuẩn liên quan đến FDI và thương mại, bao gồm cả việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư. Các nhà hoạch định chính sách của châu Á đang ngày càng nhận thức rõ ràng rằng các FTA nếu có phạm vi điều chỉnh rộng sẽ hỗ trợ mở rộng FDI và các hoạt động thương mại thông qua loại bỏ các trở ngại xuyên biên giới và những nỗ lực hài hòa hóa khác. Do đó các FTA được coi là yếu tố quan trọng giúp hình thành nên một khung chính sách hỗ trợ cho sự phát triển của mạng sản xuất và chuỗi cung ứng ở châu Á.

Thứ hai, sự hội nhập mạnh mẽ của châu Âu và Bắc Mỹ, bao gồm việc Liên minh châu Âu (EU) mở rộng sang khu vực Trung và Đông Âu, sự hình thành và phát triển của một liên minh tiền tệ trong khu vực châu Âu, sự thành công của Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và sự manh nha hình thành một Khu vực thương mại của các nước châu Mỹ (FTAA: Free Trade Area of the Americas) – là những động lực quan trọng thúc đẩy các nền kinh tế châu Á đàm phán và ký kết các FTA. Các nước châu Á lo sợ rằng hai khối thương mại khổng lồ của châu Âu và Bắc Mỹ có thể chi phối và thống trị việc thiết lập các quy tắc trong hệ thống thương mại toàn cầu và do đó chi phối cả khu vực châu Á nhỏ bé. Trong bối cảnh đó, các nhà hoạch định chính sách ngày càng nhận ra sự cần thiết phải đẩy mạnh tốc độ hội nhập kinh tế trong châu Á để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, khai thác tính kinh tế của quy mô và tăng cường năng lực thương lượng, đàm phán thông qua tiếng nói tập thể của khu vực về các vấn đề thương mại toàn cầu. FTA là một chính sách tốt nhất thứ hai (second best) cho những khó khăn hiện tại, đặc biệt là trong bối cảnh các cuộc đàm phán thương mại đa phương của WTO không có tiến triển.

Thứ ba, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 – 1998 đã cho thấy rõ ràng rằng các nền kinh tế châu Á cần phải hợp tác để giải quyết các khó khăn chung trong lĩnh vực đầu tư, thương mại để duy trì tăng trưởng và ổn định của khu vực. Các sáng kiến khu vực để tăng cường hợp tác kinh tế và những nỗ lực để phát triển kinh tế của từng nước trong khu vực chưa đủ để giúp các nước châu Á hợp tác và hội nhập hiệu quả. Sự gia tăng của các sáng kiến FTA trong khu vực châu Á đã giúp một số các quốc gia hội nhập vào nền kinh tế khu vực, tránh bị loại khỏi quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang ngày càng gia tăng.

Thứ tư, vòng đàm phán Doha không có tiến triển đã khuyến khích các quốc gia xem xét các FTA như một lựa chọn thay thế hấp dẫn và dễ tiếp cận. Khi mới được khởi động vào tháng 11/2001, vòng đàm phán Doha được ca ngợi là một vòng phát triển để thúc đẩy tăng trưởng thương mại trong các quốc gia nghèo. Các cuộc đàm phán đã chủ yếu tập trung vào tự do hóa trong hai lĩnh vực chính: tiếp cận thị trường cho các sản phẩm phi nông nghiệp và các sản phẩm nông nghiệp. Về cơ bản, các nước phát triển được yêu cầu đẩy mạnh tốc độ và phạm vi cắt giảm thuế và trợ cấp nông nghiệp, trong khi các nước đang phát triển được yêu cầu cắt giảm thuế quan, trợ cấp công nghiệp và tự do hóa thương mại dịch vụ. Đến thời điểm hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng ngay cả khi các cuộc đàm phán thương mại Doha kết thúc, sẽ không có những cam kết và thỏa thuận toàn diện và có nhiều giá trị. Trong bối cảnh đó, các quốc gia châu Á đã ủng hộ và nhấn mạnh các FTA song phương và khu vực để tiếp tục thực hiện tự do hóa thương mại cũng như các vấn đề Singapore (hiện nay nằm ngoài phạm vi của các cuộc thảo luận WTO).

Cường độ các FTA của các nước châu Á

Mặc dù các FTA ở châu Á đã gia tăng đáng kể từ năm 2000, số lượng FTA của một quốc gia châu Á vẫn còn thấp so với mức độ quốc tế. Mỗi một quốc gia châu Á có trung bình 9 FTA so với mức trung bình toàn cầu là 13 FTA/mỗi thành viên WTO. Đáng chú ý là ASEAN hiện nay đang nổi lên như là trung tâm chính liên kết các nước thành viên với các nền kinh tế lớn của khu vực. ASEAN đã ký kết FTA với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc; FTA với Ấn Độ; FTA với Australia và New Zealand. ASEAN cũng đã thảo luận về một FTA trong tương lai với EU. Hiện nay, ASEAN đang tham gia đàm phán RCEP (hiệp định thương mại toàn diện khu vực) và một số nước ASEAN đang tham gia đàm phán TPP (Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương).

Trong khu vực châu Á, số lượng FTA của các quốc gia cũng có sự chênh lệch đáng kể. Ba nền kinh tế lớn nhất châu Á và các nước ASEAN trong nhóm phát triển rất năng động và tích cực tham gia vào các FTA. Các quốc gia nhỏ ít tham gia vào các FTA hơn. Các quốc gia châu Á ký kết nhiều FTA bao gồm Singapore (20), Ấn Độ (13), Nhật Bản (13), Trung Quốc (12), Malaysia (12) và Thái Lan (12). Cường độ tham gia FTA của các nước châu Á có thể liên quan đến các yếu tố như địa kinh tế, quy mô của kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, mức độ bảo hộ và các chiến lược liên quan đến mạng lưới sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia.

Đến nay, Singapore là nền kinh tế năng động nhất châu Á về số lượng và phạm vi địa lý của các FTA. Với vị trí chiến lược, cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần đẳng cấp thế giới và là một trong những nền kinh tế mở nhất trong khu vực, Singapore là trụ sở khu vực cho nhiều công ty đa quốc gia hàng đầu và tổ chức khu vực (ví dụ: Văn phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN + 3 [AMRO], Ban Thư ký APEC, Ban Thư ký Quốc tế của Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương [PECC]). Singapore đã tích cực tìm kiếm và tiếp cận các thị trường mới ở nước ngoài, là thành viên sáng lập của AFTA và đã thực hiện các thảo thuận song phương với các quốc gia lớn nhất châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc cũng như với các nền kinh tế bên ngoài khu vực bao gồm Australia và Mỹ. FTA Mỹ – Singapore đã có hiệu lực từ năm 2004, là hiệp định đầu tiên được thực hiện ở châu Á của Hoa Kỳ và được coi là một hình mẫu về phạm vi điều chỉnh cho các FTA khác.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Anh Thu (đcb) – Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế – NXB ĐHQG HN 2015.

Chủ nghĩa đa phương, song phương và ảnh hưởng của nó tới AEC – Phần I


Trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết nền kinh tế và thị trường của mỗi nước với thị trường khu vực và thị trường thế giới ở các cấp độ khác nhau như song phương và đa phương. Thực chất chủ nghĩa đa phương, song phương không mâu thuẫn nhau vậy nên tùy thuộc bối cảnh quốc tế, khu vực, thực tế mỗi nước mà điều chỉnh chính sách, tiến trình hội nhập cho phù hợp. Bài này sẽ phân tích mối quan hệ giữa các hình thức hợp tác đó, ảnh hưởng của nó tới AEC.

1/ Đặc trưng và xu hướng mới của hội nhập kinh tế quốc tế

Xét từ góc độ đơn phương, các quốc gia đã đẩy mạnh nỗ lực cải cách và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường tự do, chủ động cải cách thể chế, cơ cấu kinh tế để nâng cao năng lực cạnh tranh. Những cải cách này là tự thân, lấy tiêu chuẩn chung là các tiêu chí phát triển quốc tế để hướng tới chứ chưa hoàn toàn phải tuân theo các cam kết, định chế cụ thể. Thực tế cho thấy những cải cách bên trong của Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, gần đây là Myanmar đã giúp cho nền kinh tế phát triển năng động hơn. Môi trường đầu tư được cải thiện, hấp dẫn nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Trung Quốc năm 2001, VIệt Nam, cuối năm 2006 mới là thành viên của WTO, nhưng các nỗ lực mở cửa thị trường đã diễn ra từ thập niên 1980. Có thể khẳng định, hội nhập đơn phương là quá trình cải cách liên tục, đáp ứng những thay đổi của chuẩn mực quốc tế. Đây là hững tiền đề quan trọng để cho một quốc gia hội nhập sâu hơn ở các cấp độ khá nhau với yêu cầu cao hơn.

Ở cấp độ song phương, hầu hết các nước đang đàm phán và ký kết với nhau các hiệp định song phương, đặc biệt là các hiệp định tự do thương mại song phương, kể từ khi vòng đàm phán Doha gặp một số trở ngại. Từ năm 1948 đến 1994 chỉ có 124 hiệp địh thương mại song phương (FTA) được ký kết, nhưng từ năm 1995 trở đi, khi GATT chuyển thành WTO đến nay đã có hơn 300 FTA được ký kết dưới nhiều hình thức khác nhau. Đến đầu năm 2006, giá trị thương mại từ các FTA song phương và khu vực đã chiếm tỷ trọng 50% trao đổi thương mại quốc tế đến năm 2010 tỷ lệ đó là khoảng 65%. Hiện nay các FTA song phương và khu vực đã diễn ra rộng khắp ở hầu hết các khu vực trên thế giới, nổi bật là khu vực Đông Á. Hầu hết các nước lớn đều đàm phán và ký kết FTA với khu vực này. Mỹ đang xúc tiến ký kết FTA với một số nước ASEAN để hình thành mạng lưới FTA song phương với từng nước, còn Nhật Bản đang xúc tiến ký kết FTA với cả ASEAN, Trung Quốc lại tiến hành ký kết hiệp định khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN, sau đó mới ký kết FTA song phương với từng nước. Điều quan trọng là các FTA song phương không có gì mâu thuẫn với các nguyên tắc của hiệp định thương mại tự do đa phương. Cam kết song phương thường dễ dàng thông qua, nhưng các yêu cầu đặt ra lại cao, thúc đẩy mở cửa thị trường sớm và cam kết tự do toàn diện hơn. Tất nhiên, mọi cuộc đàm phán phải đạt được lợi ích hài hòa của cả hai bên, tuy nhiên các nước phát triển hơn, độ mở cửa thị trường lớn hơn thì được hưởng nhiều hơn. Đó là chưa kể một số trường hợp các nước phát triển tận dụng lợi thế để áp đặt một số điều kiện bất lợi cho các nước kém phát triển. Mặc dù có một số trở ngại, FTA song phương đang được nhiều nước, kể cả các nước đang phát triển ưa chuộng. Các tiến trình hội nhập song phương, khu vực đều cùng một hướng, cùng một mục tiêu với tự do hóa thương mại đa phương. Đây là sự kết hợp giữa các lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa lợi ích cục bộ và lợi ích toàn cục, để cuối cùng các nước đều là thành viên trong hệ thống thương mại toàn cầu công bằng hơn. Trên thực tế, thì FTA có lợi hơn cho những nước có độ mở cửa ở mức cao, Singapore, Mexico là những quốc gia thu được lợi ích từ hoạt động thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. FTA song phương có thể làm giảm nỗ lực của các thỏa thuận đa phương, nhưng không loại trừ tiến trình đa phương, trái lại nó thúc đẩy việc nối lại các vòng đàm phán đa phương đã bị thất bại trước đây, thí dụ vòng đàm phán Doha. Muốn tránh sức ép và áp đặt phi lý từ các nước phát triển, các nước đang phát triển cần phải tranh thủ các quy định trong hợp tác đa phương khu vực và trên quy mô toàn cầu (Seddon & Wacziarg 2001).

Ở cấp độ đa phương, hiện đã có nhiều nước cùng nhau đẩy mạnh hoặc tham gia vào những định chế, tổ chức toàn cầu. Các định chế này có thể hình thành từ các quốc gia, trong cùng một khu vực địa lý, thí dụ EU, NAFTA, AFTA, ASEAN… hoặc đó là các định chế toàn cầu mà hầu hết các nước trên thế giới cùng tham gia. Sự phong phú về các hình thức của mức độ hội nhập có thể rất chặt như EU, nhưng có khi cũng chỉ là những thỏa thuận thương mại ưu đãi giữa một số nước với nhau theo nguyên tắc đồng thuận như ASEAN hoặc có tính ràng buộc lỏng lẻo như các thỏa thuận của các nước trong APEC. Dưới sự tác động của toàn cầu hóa kinh tế, xu hướng hội nhập sâu hơn vào các khối kinh tế hoặc các định chế khu vực để tạo điều kiện di chuyển tự do về hàng hóa, dịch vụ, vốn, lao động có kỹ năng đang diễn ra mạnh mẽ (WB 2004). Nhiều dự báo cho rằng sự ra đời của khu vực mậu dịch tự do toàn châu Mỹ hoặc cộng đồng Đông Á có thể trở thành hiện thực trong tương lai. Ở châu Mỹ, ngoài NAFTA khối hợp tác thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) đã ra đời với các thành viên chủ chốt của nó là Venezuela, Argentina, Colombia mong muốn thoát khỏi sự phụ thuộc vào Mỹ. Cộng đồng Đông Á với hạt nhân là ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Riêng với ASEAN, ý tưởng thành lập cộng đồng kinh tế ASEAN đang được thực hiện từng bước dựa trên 12 lĩnh vực ưu tiên, để đến năm 2010, thuế quan của hầu hết các danh mục hàng hóa thuộc AFTA cũng như các cam kết về dịch vụ sẽ có mức thuế bằng không, đặc biệt tiến tới AEC vào năm 2015. Đây chính là mục tiêu của các nước trong khối thúc đẩy mạnh cải cách điều chỉnh chính sáh của mình để nâng cao hiệu quả trong tiến trình hội nhập.

2/ Chủ nghĩa đa phương

Mậu dịch thế giới đang hình thành các hình thức chủ nghĩa đa phương, khu vực và song phương. Cùng với quá trình hội nhập mỗi hình thái chủ nghĩa có vai trò riêng, luôn được hoàn thiện để phát huy vai trò của nó. Một câu hỏi được đặt ra là liệu rằng sự gia tăng mạnh mẽ các hiệp định thương mại song phương có gây tổn hại đến thương mại tự do toàn cầu không? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta đi sâu tìm hiểu các đặc điểm của những hình thái chủ nghĩa nêu trên và tác động của nó đối với quá trình hội nhập.

Chủ nghĩa đa phương là khái niệm được sử dụng nhiều nhưng không phải bất cứ nơi đâu cũng hiểu đầy đủ khái niệm này. Đi đến một định nghãi chính xác, Ruggie (1992) đã nêu ra ba đặc điểm nổi bật, như tính không thể chia cắt, tính khái quát hóa các nguyên tắc ứng xử và mở rộng nguyên tắc tương tác có đi có lại. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa đa phương trong thương mại quốc tế đã phát triển dựa trên bốn nền tảng cơ bản. Thứ nhất, thương mại đa phương được coi như là một công cụ hàng đầu để thực hiện những lợi ích toàn cầu hóa. Trong hoàn cảnh đó các nước đang phát triển tiếp thu công nghệ và tri thức mới, mở rộng thị trường xuất khẩu đạt được nhiều thành quả trong phát triển. Thứ hai, việc tái phân bổ các hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp chế tạo và dịch vụ sẽ mang lại nhiều cơ hội thương mại cho nhiều nước trên thế giới. Thứ ba, cùng với việc chiếm lĩnh thị trường, sự mở rộng mạng lưới sản xuất của các MNC, của các quốc gia thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng thương mại giữa các nước, khu vực và quy mô toàn cầu. Thứ tư, hình thành một thể chế quốc tế để hỗ trợ cho tăng trưởng thương mại công bằng.

Nếu như GATT chỉ là một diễn đàn chủ yếu tranh luận nhiều về các quy chế thuế quan và mậu dịch quốc tế nhằm mở đường cho tập quán buôn bán theo hướng công bằng hơn thì WTO lại là tổ chức có bước tiến hơn ở chỗ, tự do hóa thương mại không phân biệt đối xử được đề cao hơn. Nhiệm vụ của WTO không khác nhiều so với GATT, nhưng WTO là tổ chức khởi xướng ra các hiệp định tự do hóa thương mại và giải quyết các tranh chấp thương mại. Những việc làm quan trọng đó sẽ giúp bảo đảm tính công bằng tự do thương mại, ngăn chặn sự tùy tiện của chính sách thương mại, bảo đảm cho hệ thống thương mại toàn cầu không bị chia cắt. Những vai trò và nhiệm vụ này của WTO đã được xác lập từ vòng đàm phán Urugoay.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyền Hồng Sơn & Nguyễn Anh Thu (đcb) – Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế – NXB ĐHQG HN 2015.

Mỹ rút khỏi TPP, các nước thành viên khác sẽ phải làm gì? – Phần cuối


Căn cứ vào quan điểm của Trump, ông có thể tìm kiếm “FTA song phương công bằng hơn”, như vậy có thể đem lại nhiều cơ hội việc làm hơn cho người lao động Mỹ. Ngoài những FTA mà ông mong muốn đàm phán lại, vẫn không rõ ông có thể thử khởi xướng FTA song phương mới nào. Nhưng điều không thể phủ nhận là trong con mắt của một số nhà phân tích của Mỹ, nếu dàn xếp được FTA song phương đầy đủ, Mỹ chưa chắc muốn đặt cược ở hệ thống đa phương.

Thực ra, là một doanh nhân, Trump nhất định có thể ý thức được TPP mang ý nghĩa chĩa mũi nhọn vào Trung Quốc, cuối cùng mong muốn có quy tắc thương mại do Mỹ và Nhật Bản thiết lập. Ông ta cũng có ý muốn tiến hành cuộc chiến thương mại với Trung Quốc như chuyện thuế quan, nhưng ông ta cũng biết một thị trường đang lớn mạnh như Trung Quốc là không thể coi thường, trong khi  TPP lại đẩy Trung Quốc ra ngoài. Từ góc độ này, có thể nói Trump khẳng định phải tính toán tổng hợp. Nhưng cuối cùng ông ta muốn vứt bỏ TPP bởi vì TPP đã làm thiệt hại lợi ích của Mỹ, nhất là trong quá trình đàm phán, có rất nhiều nhân tố không rõ ràng.

Đằng sau TPP có rất nhiều cuộc đổi chác, Mỹ biết điều này. Do đó, khi tranh cử tổng thống, trong đó có tranh cử với Hillary Clinton, ông ta đều tuyên bố bác bỏ TPP.

Còn có học giả cho rằng bản thân TPP coi trọng nhân tố chính trị hơn, đã xa rời phương hướng kinh tế: Xem xét từ tính chất của bản thân TPP, có thể thấy hiệp định này bị cản trở trong nội bộ nước Mỹ, đồng thời cũng không nhận được đồng thuận quốc tế. TPP không phải là một hiệp định thương mại tự do thông thường, mục đích chính trị đằng sau rõ ràng phải lớn hơn nhu cầu kinh tế. TPP là một tổ chức vô cùng lớn mạnh, 12 nước thành viên chiếm tới 40% GDP của cả thế giới, chiếm 1/3 kim ngạch thương mại toàn cầu. Chính trên cơ sở năng lực đó, Mỹ có ý đồ lợi dụng TPP để tác động đến việc thiết lập quy tắc. Mục tiêu của Mỹ chính là tạo ra một tiêu chuẩn cao do họ nắm vai trò chủ đạo, cho nên TPP thực tế là một công cụ. Ngoài ra, TPP là giải pháp quan trọng trong chiến lược châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ, lợi dụng TPP để tác động đến xu hướng phát triển kinh tế ở châu Á – Thái Bình Dương, trong đó rõ ràng mang ý đồ gây ảnh hưởng và kiềm chế Trung Quốc. Chính do mục đích chính trị nhiều như vậy, nên những năm gần đây, sự phát triển của TPP không mấy thuận lợi, động lực kinh tế đằng sau hiệp định này không đủ để thúc đẩy hiệp định phát triển theo hướng mà TPP yêu cầu.

Có lẽ vì lý do đó, là doanh nhân, Trump đã có sự xem xét tổng hợp không thể nhiệt tình với một hiệp định thương mại chứa đầy toan tính chính trị mà đầu tư mất công sức lại không đem lại hiệu quả, nên đã quyết tâm gạt bỏ.

Trung Quốc vẫn kiên trì hợp tác mở cửa, bình tĩnh ứng phó

TPP coi như không thể thực hiện được nữa, và dù là các nước thành viên trong TPP hay là đông đảo các nước phát triển và đang phát triển nằm ngoài TPP đương nhiên cũng đều không thể coi nhẹ đối tác hợp tác cực kỳ quan trọng là Trung Quốc, trong 12 nước thành viên của TPP, có 5 nước đã đạt được FTA với Trung Quốc, có 7 nước đã tham gia đàm phán Hiệp định quan hệ đối tác toàn diện khu vự (RCEP).

RCEP là gì?

Đó là một vòng cung bè bạn khác, do 10 nước ASEAN khởi xướng, mời Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Ấn Độ cùng tham gia (10 + 6), thông qua giảm thuế và bỏ hàng rào thuế quan, thiết lập hiệp định thương mại tự do với một thị trường thống nhất của 16 nước. Nếu RCEP đàm phán thành công, ảnh hưởng thậm chí sẽ vượt qua TPP. RCEP sẽ bao gồm khoảng 3,5 tỷ dân, tổng GDP sẽ lên tới 23.000 tỷ USD, chiếm 1/3 tổng GDP toàn cầu, khu vực nằm trong hiệp định này cũng sẽ trở thành khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới. Ngoài Australia và New Zealand, Peru cũng đưa ra đề nghị tham gia RCEP, mong muốn trở thành thành viên đầu tiên của khu vực Mỹ Latinh tham gia hiệp định này.

Tại Hội nghị thượng đỉnh APEC ở Lima lần này, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã phát biểu, xây dựng khu vực thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương là lựa chọn chiến lược liên quan đến sự phồn vinh lâu dài ở châu Á – Thái Bình Dương, bạn bè thuộc giới công thương gọi đó là “giấc mơ của APEC”. Chúng ta phải kiên định thúc đẩy xây dựng khu vực thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương để bảo đảm cơ chế cho nền kinh tế theo mô hình mở cửa ở khu vực này. Ý tưởng đó cũng đã nhanh chóng trở thành tiêu đề của các phương tiện truyền thông trên toàn thế giới.

Sở dĩ RCEP có sức hút như vậy, hoàn toàn không phải vì TPP không thực hiện được, mà do những nỗ lực không biết mệt mỏi và thành tựu trước đó của Trung Quốc đã thể hiện: Tích cực thúc đẩy xây dựng khu vực thương mại tự do, hàng loạt dự án quan trọng trong chiến lược “Một vành đai, một con đường” do Trung Quốc khởi xướng đã được thực hiện trong thực tế, việc xây dựng Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) đầy sức sống…

Các nước Nam Mỹ có quan hệ hữu nghị truyền thống với Trung Quốc càng vui mừng hơn. Cuối cùng hiệp định thương mại tự do mà Trung Quốc thực hiện không kèm theo bất kỳ điều kiện chính trị nào, thậm chí có thể đem đến nhiều lợi ích hơn cho những người anh em Nam Mỹ, làm sao người ta lại không thể ủng hộ?

Phó Chủ tịch Ủy ban châu Mỹ và Hiệp hội châu Mỹ Eric Farnsworth đã nói trực tiếp với The Wall Street Journal của Mỹ: “Đây là thời khắc trọng đại nhất của Trung Quốc”.

TPP đã sụp đổ, RCEP còn đầy sức sống, phát triển mạnh mẽ, đã khiến người Mỹ phải quan tâm và lo ngại.

Cơ quan tư vấn trực thuộc Quốc hội Mỹ là Ủy ban thẩm tra kinh tế và an ninh Mỹ – Trung (USCC) đã dẫn ra số liệu từ trong báo cáo mới nhất của họ, nêu rõ nếu TPP thất bại mà RCEP có hiệu lực, Trung Quốc sẽ được lợi 88 tỷ USD.

Cụ thể, báo cáo trên dẫn số liệu cho thấy nếu TPP có hiệu lực mà RCEP cũng đồng thời có hiệu lực, thì Trung Quốc có thể được lợi 72 tỷ USD; trong tình hình TPP có hiệu lực mà RCEP chưa thể có hiệu lực, Trung Quốc sẽ bị thiệt hại 22 tỷ USD; còn nếu TPP thất bại nhưng RCEP có hiệu lực, Trung Quốc sẽ được lợi 88 tỷ USD.

Tuy nhiên, cho dù toan tính điều gì, cho dù những nước không đi cùng đường với Trung Quốc có ý đồ xấu xa như thế nào để bao vây ngăn chặn Trung Quốc, Trung Quốc vẫn phải thực sự hành động, bình tĩnh ứng phó, trước sau vẫn luôn luôn hữu nghị, cởi mở, khinh thường những kẻ chuyên “lợi mình hại người”, kiên trì cùng có lợi và cùng thắng lợi.

Đương nhiên, tuy xu thế lớn hiện nay có lợi cho Trung Quốc, nhưng vẫn nên duy trì sự bình tĩnh, tuyệt đối không được vì lý do đó mà xa rời hiện trạng và thực tế phát triển của nước mình. Trên thực tế, TPP do giới tinh hoa của Mỹ vất vả hoạch định nay sắp sụp đổ chính là vì quyết sách của họ đã xa rời ở mức độ nhất định thực tế xã hội Mỹ. Đối với Trung Quốc, đây cũng là điều đáng được suy ngẫm và rút ra bài học.

Nguồn: globalview.cn – 24/11/2016

TLTKĐB – 01/12/2016