Ưu đãi đơn phương và ưu đãi nhiều hơn đối với các nước đang phát triển – Phần cuối


d/ Về biện pháp bảo vệ

Nếu sản phẩm nhập khẩu từ một nước đang phát triển chiếm chưa tới 3% thị trường sản phẩm ấy tại nước nhập khẩu, và sản phẩm ấy của tất cả các nước đang phát triển chiếm chưa tới 9% thị trường sản phẩm ấy tại nước nhập khẩu thì không được áp dụng biện pháp bảo vệ đối với sản phẩm ấy. Thời hạn các nước đang phát triển áp dụng biện pháp bảo vệ có thể hơn 2 năm.

e/ Về biện pháp đầu tư

Các nước đang phát triển có thể căn cứ vào quy định tại điều 18 trong Hiệp định chung mà yêu cầu chưa thực hiện quy định này trong một thời gian nhất định. Trong vòng 5 năm, các nước đang phát triển phải hủy bỏ các biện pháp đầu tư không phù hợp với quyết định này, thời hạn này đối với những nước chậm phát triển nhất là 7 năm.

Ngoài ra còn có những ưu đãi cụ thể đối với các nước đang phát triển về nông sản, hàng dệt và may mặc, cũng có những quy định linh hoạt về buôn bán dịch vụ và sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại.

Tóm lại, vòng đàm phán Urugoay chỉ xác nhận thêm những ưu đãi đối với các nước đang phát triển trên cơ sở những thỏa thuận tại vòng đám phán Tokyo. Còn ở những đề mục mới thì lại phải gánh vác những nghĩa vụ mới, tăng thêm những điều kiện ràng buộc mới. Song các nghị án này còn đang ở trong giai đoạn thảo luận, phải chờ kết quả cuối cùng mới rõ.

IV/ Những công việc hiệp định chung đã làm được cho các nước đang phát triển

Với việc số lượng các nước đang phát triển tham gia Hiệp định chung tăng lên, Hiệp định chung ngày càng quan tâm tới vấn đề gia nhập hiệp định của những nước này và những vấn đề về nhu cầu đặc thù và vấn đề gia nhập hiệp định rồi thì sử dụng vị trí thành viên như thế nào để thu được lợi ích lớn nhất. Hiệp định chung đã làm được nhiều việc về mặt này.

1/ Ủy ban thương mại và phát triển

Thực hiện quy định tại phần thứ tư của Hiệp định chung, năm 1965 “Ủy ban thương mại và phát triển” thuộc Hiệp định chung được thành lập. Đây là cơ quan thường trực chuyên xử lý các vấn đề thương mại và phát triển của các nước đang phát triển. Nhiệm vụ chủ yếu của nó là: thẩm nghị tình hình các nước ký Hiệp định chung chấp hành các điều khoản tại phần thứ tư; thẩm nghị các vấn đề khác liên quan tới lợi ích của các nước đang phát triển, cung cấp viện trợ cho các nước đang phát triển thông qua Ban thư ký Hiệp định chung.

Tháng 3/1965, Ủy ban này thành lập một tổ phụ trách vấn đề mở rộng thương mại giữa các nước đang phát triển, nghiên cứu tác dụng của chế độ ưu đãi giữa các nước đang phát triển. Năm 1980, ủy ban này lại thành lập tiểu ban về các biện pháp bảo hộ mậu dịch và tiểu ban về thương mại của những nước chậm phát triển nhất, phụ trách thẩm tra các biện pháp bảo hộ mậu dịch áp dụng đối với các nước đang phát triển và vấn đề thương mại của các nước chậm phát triển nhất.

Hiện nay nhiệm vụ cụ thể của Ủy ban thương mại và phát triển là: 1) Định kỳ thương lượng riêng với từng nước hoặc chung với các nước để thẩm tra phản ứng của các nước đối với phần thứ tư; 2) Nghiên cứu triển vọng thương mại giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển và nghiên cứu thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu ấy; 3) Thẩm tra tình hình chấp hành phần thứ tư của hiệp định và trình tự xử lý việc thực thi các vấn đề tại các điều khoản trong phần thứ tư và định ra phương châm cải tiến; 4) Thẩm tra tác dụng của điều khoản về quyền hợp pháp của các nước đang phát triển để tu chỉnh kế hoạch về chế độ ưu đãi phổ biến và tác dụng của điều khoản thương lượng về việc dành ưu đãi đơn phương và nhiều hơn cho các nước đang phát triển, nhằm thực hiện tốt hơn điều khoản về quyền hợp pháp của các nước đang phát triển.

2/ Hợp tác kỹ thuật

Trong Ban thư ký Hiệp định chung có Phòng hợp tác kỹ thuật và đào tạo. Phòng này cung cấp cho các nước đang phát triển các viện trợ trong phạm vi công việc thuộc khuôn khổ Hiệp định chung, cung cấp cho các nước đang phát triển các số liệu, thông tin và văn kiện về bối cảnh có liên quan đến chương trình hội nghị đàm phán và các vấn đề tồn tại mà họ quan tâm. Họ còn tổ chức các lớp giảng bài và hội thảo tại các nước đang phát triển. Ngoài ra, Ban thư ký còn viện trợ thiết bị kỹ thuật cho nhu cầu đặc biệt của những nước chậm phát triển nhất.

3/ Mở lớp huấn luyện về chính sách thương mại

Do Hiệp định chung và các hiệp định bổ sung vô cùng phức tạp, các quan chức phụ trách chính sách mậu dịch của các nước đang phát triển rất khó lý giải và nắm bắt chính xác nội dung hiệp định, cho nên hàng năm Hiệp định chung mở hai lớp huấn luyện về chính sách thương mại cho các quan chức của các nước đang phát triển, mỗi lớp 4 tháng, dạy bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha. Từ năm 1955 tới nay đã có hàng ngàn quan chức của 144 nước và 10 tổ chức khu vực được huấn luyện qua các lớp này.

Lớp huấn luyện mở cửa đối với cả các quan chức của các nước đã ký và chưa ký Hiệp định chung. Người dự huấn luyện phải là hoặc sẽ là các quan chức hoạch định hoặc thi hành chính sách mậu dịch đối ngoại của các nước đang phát triển.

4/ Trung tâm thương mại quốc tế

Trung tâm thương mại quốc tế được thành lập tháng 5/1964 tại Geneva. Sau tháng 11/1968, theo quyết định của Đại hội đồng Liên hợp quốc và của Toàn thể các nước ký Hiệp định chung, để thống nhất nguồn vốn và các hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của hai tổ chức là Hội nghị của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển và Hiệp định chung, Trung tâm thương mại quốc tế do hai tổ chức trên cùng lập ra. Từ tháng 1/1975, trung tâm này lại trở thành tổ chức dưới quyền của Hiệp định chung và Liên hợp quốc.

Hoạt động của Trung tâm thương mại quốc tế chủ yếu nhằm cung cấp cho các nước đang phát triển những viện trợ kỹ thuật sau: 1) Hoạch định và thực hiện kế hoạch thúc đẩy thương mại; 2) Cải tiến kết cấu hạ tầng xã hội và dịch vụ chuyên môn cho nhu cầu xuất khẩu; 3) Cung cấp thông tin và dịch vụ tư vấn về thị trường xuất khẩu và kỹ thuật kinh doanh tiêu thụ; 4) Huấn luyện người làm những dịch vụ này.

Trung tâm thương mại quốc tế cung cấp viện trợ không hoàn lại cho tất cả các nước đang phát triển. Ngoài ra, trung tâm này còn cùng phối hợp hoạt động với các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc. Hoạt động của Trung tâm thương mại quốc tế rất có hiệu quả, các nước đang phát triển đều biết rõ điều đó.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Ưu đãi đơn phương và ưu đãi nhiều hơn đối với các nước đang phát triển – Phần IV


6/ Thỏa thuận về tính giá hải quan

Tính tới tình hình thực tế của các nước đang phát triển, thỏa thuận này đồng ý dành cho họ sự ưu đãi đơn phương và đặc biệt như sau:

a/ Các nước đang phát triển được hoãn áp dụng các quy định này trong thời gian không quá 5 năm kể từ ngày thỏa thuận này có hiệu lực.

b/ Sau khi các điều khoản khác trong thỏa thuận này được áp dụng, các nước đang phát triển được hoãn trong thời hạn không quá 3 năm đối với việc tính giá hải quan tại khoản 2 điều 1 và giá thay thế tại khoản 3, tính giá trị tại điều 6.

c/ Các nước phát triển phải căn cứ vào các điều kiện hai bên đã đồng ý để lập ra kế hoạch viện trợ kỹ thuật theo yêu cầu của các nước đang phát triển. Ngoài các biện pháp khác ra, kế hoạch này gồm có đào tạo cán bộ, giúp đỡ chuẩn bị các biện pháp thực thi, các tài liệu về phương pháp tính giá hải quan, và những ý kiến về thực hiện thỏa thuận này.

Ngoài ra, người ta còn đồng ý để các nước đang phát triển trước mắt vẫn áp dụng trong một thời gian nhất định và có tính chất tạm thời cách tính giá theo giá thấp nhất do nhà nước xác định.

III/ Các nước đang phát triển torng vòng đàm phán Urugoay

Sau vòng đàm phán Tokyo (9/1973 – 11/1979), trong quá trình thực hiện Hiệp định chung và các thỏa thuận khác, sự ưu đãi đơn phương và ưu đãi nhiều hơn dành cho các nước đang phát triển được thực hiện ở mức độ nhất định. Song, đứng trước làn sóng chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch mới, những ưu đãi này đối với các nước đang phát triển trở nên vô cùng ít ỏi, hơn nữa, nó thường bị triệt tiêu bởi các “biện pháp vùng xám” vốn được che dấu và mạnh mẽ hơn.

1/ Các nước đang phát triển trước vòng đàm phán Urugoay

Đại hội lần thứ 38 các nước ký Hiệp định chung được tổ chức vào tháng 11/1982 ra “Tuyên bố cấp bộ trưởng” nêu rõ, do thiếu sự phối hợp chính sách kinh tế giữa các nước, khủng hoảng kinh tế thế giới trầm trọng thêm, khiến thể chế thương mại nhiều bên lấy Hiệp định chung làm cơ sở pháp lý rơi vào tình trạng lâm nguy. Những phản ứng của chính phủ các nước đối với khủng hoảng chỉ chí trọng bảo vệ sản xuất và thị trường trong nước. Tình trạng hạn chế nhập khẩu tăng lên, trong đó, những hạn chế ngày càng tăng được đem ra áp dụng với nhiều lý do ngoài khuôn khổ Hiệp định chung, làm lung lay nền tảng của thế chế thương mại nhiều bên. Do áp dụng các phương thức trợ cấp kinh tế cho sản xuất và xuất khẩu, các biện pháp hạn chế thương mại nhằm mục đích phi kinh tế, gây ảnh hưởng bất lợi cho thương mại. Ảnh hưởng này đối với các nước đang phát triển là đặc biệt nghiêm trọng.

Do vậy, về kế hoạch và trọng điểm công việc trong những năm 80 có liên quan đến các nước đang phát triển, Toàn thể các nước ký Hiệp định chung nhất trí quyết định: 1) Cải thiện hơn nữa chế độ ưu đãi phổ biến hoặc quy chế tối huệ quốc đối với những sản phẩm có lợi ích xuất khẩu đặc biệt đối với các nước chậm phát triển nhất, đồng thời hủy bỏ hoặc giảm các biện pháp phi thuế quan có ảnh hưởng tới những sản phẩm này; 2) Ủy ban thương mại và phát triển cần nghiên cứu viễn cảnh tăng thương mại giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển và khả năng thúc đẩy thực hiện mục tiêu ấy trong khuôn khổ Hiệp định chung; 4) Ủy ban thương mại và phát triển phải thẩm tra tình hình thực hiện phần thứ tư của Hiệp định chung và các mặt khác về trình tự hiện hành trong việc xử lý các vấn đề tại phần đó, đồng thời đề ra phương châm cải tiến; 5) Ủy ban thương mại và phát triển phải thẩm tra tác dụng của các “điều khoản về quyền hợp pháp” của các nước đang phát triển để giúp vào việc tu chỉnh chế độ ưu đãi phổ biến, thực hiện tốt hơn nữa điều khoản này thông qua tác dụng của điều khoản thương lượng dành ưu đãi đơn phương và ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển; 6) Phải chú ý tới vấn đề tăng thuế đối với những sản phẩm đã nâng cao trình độ gia công, có biện pháp có hiệu quả hơn trong việc hủy bỏ và giảm nhẹ tăng thuế, gây cản trở thương mại quốc tế.

2/ Các nước đang phát triển trong vòng đàm phán Urugoay

Ngày 20/9/1986, hội nghị cấp bộ trưởng các nước ký Hiệp định chung ra “Tuyên bố cấp bộ trưởng về vòng đàm phán Urugoay”. Mục tiêu của vòng đàm phán này được đề cập trong tuyên bố có liên quan tới các nước phát triển là: Nới lỏng và mở rộng thương mại thế giới, cải thiện điều kiện gia nhập thị trường vì lợi ích của các nước chậm phát triển; Chú ý tới tình hình thay đổi thương mại hiện tại và tương lai khó khăn của thị trường sản phẩm cấp thấp và tầm quan trọng của việc cải thiện môi trường thương mại, đặc biệt tạo khả năng cho các nước mắc nợ thực hiện nghĩa vụ tài chính của họ. Về nguyên tắc đàm phán thương mại, tuyên bố trên nhấn mạnh áp dụng nguyên tắc ưu đãi đơn phương và nhiều hơn đối với các nước đang phát triển; nghĩa vụ đơn phương, không có ưu đãi lại đối với các nước phát triển; nguyên tắc cùng ưu đãi và tham gia sâu rộng hơn nữa của các nước đang phát triển.

Trong 15 đề mục đàm phán tại vòng đàm phán Urugoay không có đề mục riêng dành cho vấn đề ưu đãi đơn phương và nhiều hơn đối với các nước đang phát triển, mà rải ra ở các thỏa hiệp trong “Dự thảo cuối cùng về kết quả đàm phán thương mại nhiều bên tại vòng đàm phán Urugoay”, do Tổng giám đốc Hiệp định chung đưa ra trong tháng 12/1991 với tư cách Chủ tịch Ủy ban đàm phán thương mại. Chủ yếu gồm có các vấn đề sau:

a/ Về tính giá hải quan.

Các nước đang phát triển căn cứ vào nhu cầu phát triển, tài chính và thương mại của mình để chính thức yêu cầu giữ cách tính theo giá thấp nhất. Có một số nước đang phát triển chấp nhận thỏa hiệp về tính giá hải quan và có thời gian 5 năm để nghiên cứu và chuẩn bị thực hiện thỏa thuận này.

b/ Về chống bán phá giá.

Có chiếu cố đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Khi biện pháp chống bán phá giá có ảnh hưởng tới lợi ích căn bản của các nước đang phát triển thì có thể tính tới các biện pháp bổ cứu có tính chất xây dựng. Nếu phá giá ở mức dưới 2% và số lượng sản phẩm bán phá giá chưa đạt tới 1% sản phẩm cùng loại của nước nhập khẩu thì cần ngừng điều tra bán phá giá, không đánh thuế chống bán phá giá đối với những sản phẩm này. Nhưng nếu nhiều loại sản phẩm của cùng một nước bán phá giá dưới 1% này cộng lại bằng 2,5% sản phẩm cùng loại của nước nhập khẩu thì phải tiếp tục điều tra.

c/ Về tiêu chuẩn kỹ thuật.

+ Không áp dụng quy định cấm trợ cấp xuất khẩu đối với những nước chậm phát triển nhất và đối với những nước đang phát triển có tổng giá trị sản xuất quốc dân bình quân đầu người dưới 1000 USD/năm. Còn các nước đang phát triển khác thì trong thời hạn 8 năm phải dần dần xóa bỏ hết trợ cấp xuất khẩu.

+ Trong vòng 2 năm, các nước đang phát triển phải xóa bỏ hết trợ cấp xuất khẩu cho những sản phẩm đã đạt tiêu chuẩn cạnh tranh; thời hạn này đối với các nước chậm phát triển nhất và những nước đang phát triển có tổng giá trị sản xuất quốc dân bình quân đầu người dưới 1000 USD/năm là 8 năm. Những sản phẩm đã đạt tiêu chuẩn cạnh tranh xuất khẩu là những sản phẩm trong hai năm liền đạt mức xuất khẩu bằng 3,25% trong thương mại thế giới.

+ Nếu nước nhập khẩu phát hiện tổng mức trợ cấp cho sản phẩm nhập từ nước đang phát triển không vượt quá 2% kim ngạch của mỗi đơn vị sản phẩm, hoặc sản phẩm ấy chiếm không tới 4% tổng kim ngạch sản phẩm nhập khẩu cùng loại, hoặc tất cả những sản phẩm được trợ cấp ấy của tất cả các nước đang phát triển cộng lại chưa tới 9% tổng kim ngạch sản phẩm cùng loại, thì phải lập tức ngừng điều tra trợ cấp đối với sản phẩm ấy.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Ưu đãi đơn phương và ưu đãi nhiều hơn đối với các nước đang phát triển – Phần III


c/ Nếu việc trợ cấp của các nước đang phát triển trái với cạnh tranh và nhu cầu phát triển thì phải đưa ra bảo đảm giảm hoặc hủy bỏ trợ cấp.

d/ Với điều kiện trên, các nước khác không được áp dụng biện pháp chống trợ cấp xuất khẩu đối với các nước phát triển.

e/ Nhà nước của các nước đang phát triển phát huy vai trò quan trọng của họ trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Sự can thiệp của chính phủ các nước này vào nền kinh tế của họ, về thực chất, không nên coi là trợ cấp.

g/ Ủy ban về các biện pháp trợ cấp và chống trợ cấp phải thẩm tra biện pháp trợ cấp xuất khẩu cụ thể nào đó của nước đang phát triển nào đó mà nước thành viên liên quan đề nghị xem xét mức độ phù hợp với những biện pháp ấy với mục tiêu của thỏa thuận ấy.

h/ Ủy ban về các biện pháp trợ cấp và chống trợ cấp cũng phải căn cứ vào đề nghị của các nước thành viên có liên quan để tiến hành những cuộc điều tra tương tự đối với các biện pháp của các nước phát triển có ảnh hưởng tới lợi ích của các nước ký hiệp định là nước đang phát triển.

3/ Thỏa thuận chống bán phá giá

Thỏa thuận này cho rằng, khi thẩm nghị yêu cầu về biện pháp chống bán phá giá, các nước phát triển cần quan tâm đặc biệt tới tình hình đặc thù của các nước đang phát triển. Nếu thuế chống bán phá giá ảnh hưởng tới lợi ích cơ bản của nước đang phát triển thì trước khi thực hiện thuế chống bán phá giá cần nghiên cứu kỹ tới khả năng tìm ra biện pháp bổ cứu có tính chất xây dựng.

Phụ lục của thỏa thuận này vạch ra rằng, khi áp dụng biện pháp chống bán phá giá, các nước phát triển cần quan tâm đặc biệt tình hình sau:

a/ Tại các nước đang phát triển, phương thức quản lý kinh tế trong ngành xuất khẩu khác với phương thức quản lý kinh tế khác trong nước, cho nên kết cấu giá thành cũng khác. Thỏa thuận về chống bán phá giá không có ý định cản trở các nước đang phát triển áp dụng những biện pháp nào đó trong điều kiện ấy, trong đó kể cả các biện pháp được áp dụng trong ngành xuất khẩu.

b/ Nếu là hàng hóa do một nước phát triển nào đó xuất khẩu, thì không thể chỉ căn cứ vào bản thân việc giá xuất khẩu của hàng hóa ấy thấp hơn giá tiêu dùng trong nước của sản phẩm cùng loại để tiến hành điều tra hoặc xác định là bán phá giá. Giá cả thị trường trong nước chịu ảnh hưởng của tình hình kinh tế đặc thù, không thể là căn cứ thiết thực để tính toán lượng bán phá giá. Trong trường hợp này, trị số mà người ta thường dùng để xem xét có phải là bán phá giá hay không được xác định bằng cách so sánh giá xuất khẩu với giá thành sản xuất trong nước  của sản phẩm xuất khẩu cộng với chi phí quản lý, chi phí tiêu thụ, các chi phí khác và lợi nhuận.

c/ Ở giai đoạn đầu khi điều chỉnh pháp luật cho phù hợp với thỏa thuận về chống bán phá giá, các nước đang phát triển sẽ đứng trước một khó khăn, trong đó có những khó khăn về quản lý và kết cấu hạ tầng trong quá trình điều tra. Vì vậy, kkhi nhận được yêu cầu, Ủy ban về các biện pháp chống bán phá giá cần căn cứ vào các điều kiện đã đạt được trong đàm phán để miễn trừ toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ trong thời gian điều tra cho nước đang phát triển.

d/ Khi nhận được yêu cầu, các nước phát triển phải tích cực viện trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển là nước ký Hiệp định chung, trong đó gồm có đào tạo cán bộ, cung cấp tài liệu về phương pháp kỹ thuật điều tra chống bán phá giá và các mặt khác.

4/ Thỏa thuận về chính phủ thu mua

Thỏa thuận này quy định phải dành cho các nước đang phát triển sự ưu đãi đơn phương đặc biệt nhằm mục đích khi thực hiện hiệp định này phải tính tới nhu cầu của các nước đang phát triển, đặc biệt là của các nước chậm phát triển nhất, về phát triển, vốn và thương mại.

Khi áp dụng thỏa thuận này, trong danh sách các thực thể của các nước phát triển cần liệt kê mua những sản phẩm có tầm quan trọng tới lợi ích xuất khẩu của các nước đang phát triển. Các nước đang phát triển có thể bàn bạc với các nước hữu quan cùng xác định những thực thể hoặc sản phẩm nào trong danh sách thực thể không được áp dụng quy tắc ưu đãi chung. Các nước đang phát triển tham gia các hiệp định thương mại khu vực hoặc toàn cầu giữa các nước đang phát triển cũng có thể làm như vậy, nhưng cần tính tới các quy định về chính phủ thu mua trong các hiệp định ấy.

Khi nhận được yêu cầu viện trợ kỹ thuật của các nước đang phát triển, các nước phát triển cần dành cho họ mọi sự viện trợ kỹ thuật mà họ cho là thích hợp để giải quyết các vấn đề về mặt chính phủ thu mua.

Các nước phát triển cần một mình hoặc phối hợp lập ra các trung tâm tư liệu để đáp ứng các yêu cầu hợp lý của các nước đang phát triển về những tư liệu có liên quan, nhất là các tư liệu về luật, quy tắc, trình tự và các biện pháp về việc chính phủ thu mua, các thông báo đã công bố về thu mua, về địa chỉ của sản phẩm, tính chất và số lượng các sản phẩm đã hoặc sẽ mua, kể cả các tư liệu về đấu thầu các hàng hóa mua có kỳ hạn.

Thỏa thuận này còn quy định, cần phải tìm các biện pháp chung hoặc đặc biệt nhằm dành những đãi ngộ đặc biệt có lợi cho những người cung ứng hàng của các nước chậm phát triển nhất và tại nơi sản xuất, cũng cần dành ưu đãi cho những người cung ứng hàng của các nước chậm phát triển nhất không phải là nước ký Hiệp định chung và cho các sản phẩm được sản xuất tại các nước này.

Khi gọi thầu và lựa chọn sản phẩm của các nước phát triển và của những người cung cấp hàng của các nước chậm phát triển nhất, các nước phát triển cần giúp đỡ thích đáng đối với những người có khả năng tham gia đấu thầu của nước chậm phát triển nhất, đồng thời giúp họ tuân thủ các quy tắc về tiêu chuẩn kỹ thuật của những sản phẩm cần mua.

5/ Thỏa thuận về hàng rào thương mại có tính chất kỹ thuật

Thỏa thuận này quy định sự ưu đãi đơn phương và ưu đãi nhiều hơn đối với các nước đang phát triển.

a/ Khi thực thi các quy định có liên quan tới quyền lợi và nghĩa vụ của các nước đang phát triển, cần phải quan tâm tới các nhu cầu phát triển, tài chính và thương mại của các nước đang phát triển thể hiện qua thể chế trong nước của họ.

b/ Các nước ký Hiệp định chung phải bảo đảm chắc chắn rằng, khi định ra và thi hành điều lệ kỹ thuật, tiêu chuẩn hóa, phương pháp kiểm nghiệm, chế độ chứng thư, không được gây cản trở xuất khẩu của các nước đang phát triển.

c/ Mặc dầu đã có tiêu chuẩn quốc tế, các nước đang phát triển vẫn có thể căn cứ vào tình hình kỹ thuật và kinht ế xã hội đặc thù của họ, áp dụng cả những điều lệ và tiêu chuẩn (kể cả phương pháp kiểm nghiệm) về kỹ thuật, phương pháp sản xuất và phương pháp gia công thích hợp với nhu cầu phát triển của họ. Do vậy, họ không cần lấy các tiêu chuẩn quốc tế không thích hợp với họ để làm cơ sở của điều lệ và tiêu chuẩn kỹ thuật của mình.

d/ Các nước ký kết Hiệp định chung phải áp dụng các biện pháp hợp lý để bảo đảm chắc  chắn rằng khi có yêu cầu của các nước đang phát triển thì tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế kiểm tra mức độ đạt tiêu chuẩn quốc tế của những sản phẩm có lợi ích đặc biệt đối với họ, và nếu có khả năng thì lập ra những tiêu chuẩn đó.

e/ Phải giúp đỡ kỹ thuật đối với các nước đang phát triển để bảo đảm chắc chắn rằng việc lập ra và thực hiện điều lệ kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật, phương pháp kiểm nghiệm và chế độ chứng thư không thể cản trở việc mở rộng và đa dạng hóa xuất khẩu của các nước đang phát triển.

g/ Khi nhận được yêu cầu của các nước đang phát triển, Ủy ban về các hàng rào mậu dịch có tính chất kỹ thuật được phép miễn trừ toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ thực hiện hiệp định này của họ trong một thời hạn nhất định.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Ưu đãi đơn phương và ưu đãi nhiều hơn đối với các nước đang phát triển – Phần II


II/ Dàn xếp sự ưu đãi giữa các nước đang phát triển

Sự ưu đãi giữa các nước đang phát triển được dàn xếp thông qua các hiệp định Liên minh thuế quan, hiệp định Khu vực mậu dịch tự do và các nghị định thư đàm phán thương mại giữa các nước đang phát triển.

1/ Liên minh thuế quan và Khu vực mậu dịch tự do

Liên minh thuế quan và Khu vực mậu dịch tự do giữa các nước đang phát triển là hình thức dàn xếp chủ yếu sự ưu đãi giữa họ với nhau.

Nói chung, đa số các hiệp định này không có điều quy định như tại khoản 5 điều 24 trong Hiệp định chung là phải “lập ra kế hoạch và biểu tiến trình của Liên minh thuế quan và của Khu vực mậu dịch tự do trong một thời hạn hợp lý”, cũng không có kiến nghị yêu cầu Toàn thể các nước ký Hiệp định chung cho phép định ra các quy tắc không hoàn toàn phù hợp với Hiệp định chung.

Về tính chất thì dù hình thức hay nội dung, Liên minh thuế quan và Khu vực mậu dịch tự do đều có chỗ không phù hợp với các quy định tại điều 24 trong Hiệp định chung. Trong thực tế thì chúng đều là những dàn xếp có tính chất quá độ giữa các hiệp định ưu đãi với Khu mậu dịch tự do hoặc Liên minh thuế quan được thực thi một cách linh hoạt.

Tuy nhiên, để giúp cho sự phát triển tự do hóa khu vực giữa các nước đang phát triển, trong trường hợp không đụng chạm tới lợi ích thiết thân của các nước ký Hiệp định chung thì họ làm ngơ. Điều đó có nghĩa là họ bật đèn xanh cho các nước trong Liên minh thuế quan hoặc trong Khu vực mậu dịch tự do. Tất nhiên, về nguyên tắc, cứ hai năm họ phải báo cáo lên Hội đồng đại biểu Hiệp định chung.

2/ Nghị định thư đàm phán mậu dịch giữa các nước đang phát triển

Thái độ linh hoạt của Toàn thể các nước ký Hiệp định chung đối với sự dàn xếp ưu đãi giữa các nước đang phát triển còn biểu hiện ở thái độ đối xử với các nghị định thư đàm phán thương mại giữa các nước đang phát triển.

Năm 1968, ba nước Ấn Độ, Ai Cập và Nam Tư (cũ) ký hiệp định giảm thuế ba bên. Sau khi hiệp định này được chuyển tới Toàn thể các nước ký Hiệp định chung, thì tháng 11 cùng năm, Toàn thể các nước ký Hiệp định chung căn cứ vào khoản 5 điều 20 trong Hiệp định chung ra quyết định phê chuẩn sự giảm thuế ưu đãi giữa ba bên này. Thực tế đây là một tuyên bố về miễn trừ nghĩa vụ. Quyết định này đặt cơ sở cho các nghị định thư đàm phán mậu dịch sau này giữa các nước đang phát triển.

Năm 1967, tại vòng đàm phán Kennedy, Ủy ban đàm phán thuơg mại giữa các nước đang phát triển được thành lập, có 36 nước tham gia ủy ban này. Trên cơ sở chế độ thuế quan và phi thuế quan do Ban thư ký Hiệp định chung soạn thảo, năm 1971 có 16 nước ký nghị định thư về biểu thuế ưu đãi. Hiện nay có 18 nước tham gia nghị định thư về chế độ tối huệ quốc đặc thù giữa các nước đang phát triển. Chế độ tối huệ quốc này không phù hợp với quy chế chung về tối huệ quốc trong Hiệp định chung, ngày 26/11/1971, Toàn thể các nước ký Hiệp định chung đã thông qua quyết định cụ thể về miễn trừ nghĩa vụ, đồng ý không áp dụng điều 1 trong Hiệp định chung đối với các nước ký nghị định thư này.

Nghĩa vụ chủ yếu của các nước ký nghị định thư thương mại giữa các nước đang phát triển là: 1) Dành cho sản phẩm của các nước ký nghị định thư này là những ưu đãi hơn về thuế theo biểu thuế kèm theo nghị định thư; 2) Không được đánh những khoản thuế trước đó không có đối với những sản phẩm được giảm thuế để bảo đảm giá trị giảm thuế; 3) Không được áp dụng các biện pháp hạn chế trước đó không có để giảm giá trị giảm thuế; 4) Cung cấp theo quy định tư liệu về tình hình thực thi các quy tắc về nơi sản xuất sản phẩm.

Tại biểu thuế kèm theo nghị định thư này, 3 phần 4 sản phẩ được giảm thuế là sản phẩm gia công và chế thành phẩm, còn 1 phần 4 là hàng nông sản. Theo tính toán, mức giảm thuế chung đại thể là giảm thêm 20% – 50% so với thuế suất tối huệ quốc.

Quy tắc đàm phán nghị định thư là: 1) Bất kỳ nước phát triển nào, dù không phải là nước ký Hiệp định chung, cũng có thể xin tham gia nghị định thư; 2) Phạm vi giảm thuế và các hàng rào thương mại khác do hai bên xác định; 3) Đàm phán từng mục một theo kiến nghị giảm thuế do nước xin tham gia đưa ra đối với hàng nhập khẩu cụ thể; 4) Đàm phán giảm thuế giữa các nước được tiến hành trên cơ sở các văn kiện yêu cầu hoặc trả lời cụ thể; 5) Kết quả đàm phán, được áp dụng cho tất cả các nước tham gia đàm phán trên cơ sở ưu đãi nhiều bên.

Đặc điểm của nghị định thư là: 1) Có sức ràng buộc về pháp và có vị trí hợp pháp trong khuôn khổ Hiệp định chung; 2) Cụ thể hóa các ưu đãi đối với nhau giữa các nước đang phát triển; 3) Các nước không tham gia nghị định thư không được hưởng ưu đãi.

Hiện nay, số thành phẩm xuất khẩu của 18 nước ký nghị định thư chiếm 1 phần 2 chế thành phẩm xuất khẩu của tất cả các nước đang phát triển cộng lại, do vậy không thể xem thường.

III/ Các nước đang phát triển trong vòng đàm phán Tokyo

Với việc thông qua “Điều khoản về quyền hợp pháp” của các nước đang phát triển khi kết thúc vòng đàm phán Tokyo, sự dàn xếp ưu đãi khu vực và ưu đãi toàn cầu giữa các nước đang phát triển cũng như các ưu đãi theo chế độ ưu đãi phổ biến có được vị trí pháp lý vững chắc. Những hình thức của quan hệ thương mại này hoàn toàn mới, đã vượt quá phạm vi khung pháp lý hiện hành, hơn nữa còn được thể hiện rõ hơn trong vòng đàm phán Urugoay.

Các quyết nghị tại vòng đàm phán Tokyo về ưu đãi đối với các nước đang phát triển như sau:

1/ Thỏa thuận về giấy phép xuất khẩu

Theo thỏa thuận này, đồng thời với việc chú ý tới mục tiêu và nhu cầu về tài chính, thương mại của các nước đang phát triển, các nước ký Hiệp định chung phải căn cứ vào giải thích trong thỏa thuận này để bảo đảm chắc chắn rằng các thủ tục quản lý hành chính về chế độ cấp giấy  phép nhập khẩu phải phù hợp với các quy định trong Hiệp định chung, kể cả phù hợp với các phụ lục và nghị định thư.

Về mặt cấp giấy phép nhập khẩu không tự nguyện, khi tính toán nhu cầu khách quan trong việc cấp số lượng giấy phép phù hợp với tình hình kinh tế, phải chú ý đặc biệt tới việc phân phối hợp lý giấy phép nhập khẩu mới tới các sản phẩm sản xuất tại các nước đang phát triển, nhất là các sản phẩm xuất khẩu của các nước chậm phát triển nhất.

2/ Thỏa thuận về trợ cấp và chống trợ cấp

Các nước ký Hiệp định chung nhận thức được rằng, trợ cấp là một bộ phận trong quy hoạch phát triển kinh tế của các nước đang phát triển. Do vậy, thỏa thuận này không ngăn cản các nước đang phát triển áp dụng các biện pháp, chính sách nâng đỡ nền công nghiệp của nước mình (kể cả ngành xuất khẩu).

a/ Các nước đang phát triển đồng ý trợ cấp đối với việc xuất khẩu hàng công nghiệp mà không phương hại nghiêm trọng đến thương mại hoặc sản xuất của nước khác.

b/ Không nên suy luận rằng, các nước đang phát triển trợ cấp cho hàng xuất khẩu sẽ gây ảnh hưởng bất lợi cho thương mại và sản xuất của các nước khác. Sự ảnh hưởng bất lợi phải được kiểm tra để có chứng cớ rõ ràng, xác thực.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Ưu đãi đơn phương và ưu đãi nhiều hơn đối với các nước đang phát triển – Phần I


I/ Ưu đãi đơn phương và ưu đãi nhiều hơn đối với các nước đang phát triển

Những năm 70, với những thay đổi về tình hình kinh tế thương mại thế giới, các nước đang phát triển ngày càng đòi hỏi gắt gao được ưu đãi xuất khẩu để mở rộng nền thương mại của họ. Điều đó yêu cầu các nước vừa phải thực hiện ưu đãi, vừa phải tuân theo nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ mậu dịch đối ngoại. Do vậy, một vấn đề mới được đặt ra là, thực hiện ưu đãi đơn phương và ưu đãi nhiều hơn đối với các nước đang phát triển như thế nào. Cuối cùng, vấn đề này được giải quyết bằng cách dành cho các nước đang phát triển một phương thức “kênh miễn kiểm”, đặc thù trong thương mại quốc tế nhiều bên.

1/ Chế độ ưu đãi phổ biến với Hiệp định chung

Năm 1964, tại khóa họp thứ nhất của Hội nghị thương mại và phát triển thuộc Liên hợp quốc, lần đầu tiên người ta nêu ra chế độ ưu đãi phổ biến, nhưng do bất đồng ý kiến cho nên chưa đi tới thỏa thuận với nhau được về chế độ ưu đãi này. Năm 1968, khóa họp thứ hai của Hội nghị thương mại và phát triển thuộc Liên hợp quốc đã chính thức thảo luận và thông qua quyết nghị số 21 (II) về việc lập ra chế độ ưu đãi thuế quan phổ biến, quyết định các nước phát triển thực hiện ưu đãi giảm miễn thuế đơn phương, phổ biến, không phân biệt đối xử với chế thành phẩm và bán thành phẩm xuất khẩu của các nước đang phát triển. Từng bước phát triển lập ra phương án thực hiện chế độ ưu đãi phổ biến của mình.

Ngày 2/10/1970, Ủy ban đặc biệt về ưu đãi của Hội nghị thương mại và phát triển quyết định chính thức thực hiện chế độ ưu đãi phổ biến. Phương án thực hiện của các nước ưu đãi có hiệu lực 10 năm, từ ngày 1/1/1971 đến ngày 31/12/1980. Khi kết thúc thời kỳ có hiệu lực trên, sau khi thẩm nghị toàn diện, thời gian có hiệu lực được kéo dài thêm 10 năm nữa, từ ngày 1/1/1981 đến ngày 31/12/1990. Hiện nay đang thực hiện phương án mới của 10 năm thứ ba, có hiệu lực từ ngày 1/1/1991 đến ngày 31/12/2000.

Mục tiêu của chế độ ưu đãi phổ biết là: 1) Tăng thu nhập của các nước đang phát triển; 2) Thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa của các nước đang phát triển; 3) Nâng cao mức tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển.

Việc thực thi chế độ ưu đãi phổ biến đặt ra một vấn đề là: chế độ ưu đãi phổ biến này trái với quy chế chung về tối huệ quốc. Do vậy, ngày 25/5/1971, Toàn thể các nước ký Hiệp định chung đã bổ sung ở sau khoản 5 điều 25 một tuyên bố về miễn trừ nghĩa vụ. Với tuyên bố “Trong trường hợp đặc biệt, mà tại các phần khác của Hiệp định chung không quy định, Toàn thể các nước ký hiệp định này có thể miễn trừ nghĩa vụ nào đó của nước thành viên nào đó được quy định trong Hiệp định chung”, người ta đã giải thích và vận dụng một cách rộng rãi khoản 5 điều 25. Sự thật thì tuyên bố về miễn trừ nghĩa vụ này đã phê chuẩn một biện pháp không phù hợp với nghĩa vụ mà các nước ký hiệp định phải gánh vác theo quy tắc thực thể trong Hiệp định chung. Song, điều đó đã tạo cơ sở pháp lý thích đáng cho việc thực thi chế độ ưu đãi trong khuôn khổ Hiệp định chung.

2/ “Điều khoản về quyền hợp pháp” của các nước đang phát triển

Trong thời gian diễn ra vòng đàm phán Tokyo, quan hệ kinh tế giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển có những thay đổi to lớn, cuộc khủng hoảng dầu mỏ và suy thoái kinh tế khiến cho các nước có nhận thức mới về quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, việc đẩy mạnh phát triển kinh tế và mở rộng xuất khẩu của các nước đang phát triển là nhiệm vụ quan trọng được đưa vào chương trình nghị sự của Hiệp định chung.

Tháng 11/1979, tại khóa họp đại hội lần thứ 35, Toàn thể các nước ký Hiệp định chung đã nhất trí thông qua 4 khung hành vi thương mại quốc tế, tức là hiệp định thực thể về hệ thống thương mại trong Hiệp định chung. Lần đầu tiên, tại một trong những hiệp định khung hành vi thương mại quốc tế, tức hiệp định “Về ưu đãi đơn phương, ưu đãi nhiều hơn, cùng ưu đãi và sự tham dự nhiều hơn nữa của các nước đang phát triển”, sự đãi ngộ có lợi cho các nước đang phát triển và sự ưu đãi giữa các nước đang phát triển đã có được cơ sở pháp lý vững chắc và điều kiện chính trị để được hưởng ưu đãi hợp pháp trong quan hệ thương mại và kinh tế quốc tế. Cái đó gọi là “điều khoản về quyền hợp pháp” của các nước đang phát triển.

Hiệp định trên quy định rằng: “Các nước ký hiệp định có thể dành cho các nước đang phát triển sự ưu đãi đơn phương và ưu đãi nhiều hơn ngoài những quy định tại điều 1 của Hiệp định chung, mà các nước khác không được hưởng”.

Sự ưu đãi này được áp dụng theo các dạng sau: 1) Thuế ưu đãi các nước đang phát triển dành cho các sản phẩm nhập khẩu từ các nước đang phát triển theo chế độ ưu đãi phổ biến; 2) Ưu đãi đơn phương và ưu đãi nhiều hơn về các biện pháp phi thuế quan được quy định trong Hiệp định chung. Các biện pháp phi thuế quan này phải chịu sự ràng buộc bởi các quy định tại hiệp định nhiều bên khi đàm phán trong khuôn khổ Hiệp định chung; 3) Giảm hoặc hủy bỏ thuế đánh vào các sản phẩm nhập khẩu của nhau và giảm hoặc hủy bỏ các hàng rào phi thuế quan nhằm vào sản phẩm nhập khẩu của nhau theo các nguyên tắc và điều kiện do Toàn thể các nước ký hiệp định quy định, bằng các hiệp định khu vực hoặc hiệp định toàn cầu được ký kết giữa các nước chậm phát triển; 4) Đãi ngộ đặc biệt đối với các nước chậm phát triển nhất bằng các biện pháp chung hoặc cụ thể có lợi cho họ.

Điều kiện tiền để để thực hiện ưu đãi này là: 1) Phải xuất phát từ mục đích tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy thương mại của các nước đang phát triển, đồng thời không đưa tới chỗ tăng hàng rào thương mại hoặc gây ra khó khăn không đáng có đối với bất kỳ nước thành viên nào khác; 2) Không cản trở việc giảm hoặc hủy bỏ thuế quan và các hạn chế thương mại khác trên cơ sở quy chế tối huệ quốc; 3) Việc định ra và sửa đổi những đãi ngộ ấy đều phải phản ánh tích cực nhu cầu phát triển, tài chính và thương mại của các nước đang phát triển.

Bất kỳ nước nào sửa đổi hoặc hủy bỏ sự ưu đãi này đều phải thông báo cho Toàn thể các nước ký Hiệp định chung và cung cấp cho họ toàn bộ tư liệu mà họ cho rằng có liên quan tới việc sửa đổi hoặc hủy bỏ đó. Khi có bất kỳ nước nào yêu cầu thì thuơng lượng kịp thời những vấn đề hoặc vụ việc nảy sinh từ sự sửa đổi hoặc hủy bỏ đó nhằm tìm ra biện pháp giải quyết mà các nước này hài lòng.

3/ Sự tham dự nhiều hơn nữa của các nước đang phát triển

Hiệp định “Về ưu đãi đơn phương, ưu đãi nhiều hơn, cùng ưu đãi và sự tham dự nhiều hơn nữa của các nước đang phát triển” nói rằng: “Các nước ký  hiệp định là các nước chậm phát triển mong rằng, với bước phát triển không ngừng về kinh tế và những bước cải thiện không ngừng về tình hình thương mại, họ sẽ tăng phần đóng góp, hoặc đàm phán giảm thuế hoặc áp dụng các biện pháp hai bên cùng có lợi theo các điều khoản và trình tự quy định trong Hiệp định chung, và do đó họ mong được tham gia nhiều hơn nữa vào quy phạm quyền lợi và nghĩa vụ trong khuôn khổ Hiệp định chung”. Sự tham dự nhiều hơn nữa của các nước đang phát triển có nghĩa là ít nhất cũng phải hủy bỏ từng phần những ưu đãi đơn phương và nhiều hơn, phải có đóng góp hoặc giảm thuế trong quá trình đàm phán thương mại trong khuôn khổ Hiệp định chung. Trong thực tế, tại vòng đàm phán Tokyo, đã có khoảng 20 nước đang phát triển đóng góp bằng phương thức giảm hoặc ổn định thuế. Đồng thời, điều đó còn có nghĩa là, các nước đang phát triển phải dần dần rút khỏi “đường một chiều” về ưu đãi, phải thực hiện một cách nghiêm túc hơn các quy tắc cơ bản mà trước đây họ đã đi chệch. Đương nhiên, bản thân sự tham dự nhiều hơn nữa của các nước đang phát triển không hàm chứa một nghĩa vụ nào, nó chỉ nói lên lòng mong ước, thông qua vị trí thương mại và kinh tế của họ được cải thiện, các nước đang phát triển sẽ dần dần tiếp nhận các quy phạm của Hiệp định chung. Nói cách khác, từng bước khôi phục nguyên tắc bình đẳng, ít nhất là phải thực hiện nguyên tắc này đối với những ngành của các nước đang phát triển đã có năng lực cạnh tranh.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Ưu đãi chung đối với các nước đang phát triển – Phần cuối


Nếu Toàn thể các nước ký Hiệp định chung yêu cầu thì nước áp dụng biện pháp này phải thương lượng với Toàn thể các nước ký hiệp định về: 1) Mục đích áp dụng biện pháp ấy; 2) Các biện pháp bổ cứu khác mà Hiệp định chung cho phép áp dụng; 3) Ảnh hưởng có thể có đối với lợi ích thương mại hoặc kinh tế của các nước khác. Được Toàn thể các nước ký hiệp định đồng ý thì nước này được miễn trừ các nghĩa vụ được quy định tại các điều khoản khác của Hiệp định chung, trong hạn độ cần thiết, để thực thi những biện pháp ấy.

Đồng thời, những nước bị ảnh hưởng có thể tạm ngừng giảm thuế hoặc các nghĩa vụ khác với mức độ tương ứng nếu Toàn thể các nước ký hiệp định không có ý kiến khác. Song phải thông báo cho Toàn thể các nước ký hiệp định để họ tạo ra cơ hội thương lượng.

5/ Trình tự miễn trừ nghĩa vụ

Tiết 4 điều 18 quy định rằng, khi nước đang phát triển ở vào giai đoạn phát triển sơ khởi đặt ra biện pháp hạn chế để xây dựng một ngành công nghiệp cụ thể nào đó nhằm phát triển kinh tế thì họ có thể làm đơn đề nghị Toàn thể các nước ký Hiệp định chung cho được thực thi những biện pháp đó. Toàn thể các nước ký Hiệp định chung lập tức hiệp thương với nước này. Nếu được Toàn thể các nước ký hiệp định đồng ý thì họ có thể thực hiện những biện pháp đó và họ được miễn trừ nghĩa vụ được quy định tại các điều khác trong hiệp định, trong hạn độ cần thiết để thực hiện các biện pháp ấy. Nếu sản phẩm bị ảnh hưởng do biện pháp này là đối tượng được giảm thuế liệt kê trong biểu thuế thì áp dụng quy định tại khoản 18 điều 18.

II/ Sự ưu đãi một chiều đối với các nước đang phát triển

1/ Quy chế mới về ưu đãi một chiều, đơn phương

Năm 1961, Toàn thể các nước ký Hiệp định chung ra “Tuyên bố thúc đẩy thương mại của các nước đang phát triển”. Năm 1963, họ lại đưa ra “Phương án hành động” 7 điểm, cùng năm đó, Hiệp định chung thành lập tổ công tác về ưu đãi, nghiên cứu vấn đề thực hiện ưu đãi thương mại đối với các nước đang phát triển. Năm 1964, Hiệp định chung thành lập Trung tâm thương mại quốc tế. Mục đích thành lập trung tâm này là nhằm viện trợ kỹ thuật thúc đẩy tiêu thụ hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển.

Ngày 26/11/1964, Toàn thể các nước ký Hiệp định chung thông qua phần thứ tư của Hiệp định chung với tiêu đề là “Thương mại và phát triển”, phần này chính thức có hiệu lực từ ngày 27/6/1966.

Việc bổ sung phần thứ tư có tác động quan trọng đối với hệ thống pháp lý trong Hiệp định chung. Việc bổ sung phần thứ tư đã dẫn đến việc sửa đổi quan trọng nguyên tắc cơ bản trong hiệp định – nguyên tắc cùng nhân nhượng giảm thuế, do đó có lợi cho các nước đang phát triển. Theo khoản 8 điều 36 trong phần thứ tư mới được bổ sung này thì, trong đàm phán thương mại, khi cam kết giảm hoặc hủy bỏ các hàng rào thương mại khác đối với các nước đang phát triển, các nước phát triển không được yêu sách đòi được ưu đãi trả lại. Việc sửa đổi này khiến cho lý luận về thúc đẩy tự do hóa thương mại quốc tế thông qua việc cùng nhân nhượng giảm thuế giữa các nước ký hiệp định phù hợp với lợi ích của các nước đang phát triển. Hàm ý của quy định các nước đang phát triển không được yêu sách đòi ưu đãi trả lại có nghĩa là trong đàm phán các nước phát triển không được yêu sách các nước đang phát triển cam kết ưu đãi trái với nhu cầu phát triển, tài chính và thương mại của họ.

Việc xác lập quy tắc mới về ưu đãi một chiều, đơn phương khiến cho thương mại và phát triển kết hợp với nhau, biến thương mại trở thành phương tiện thúc đẩy nền kinh tế của các nước đang phát triển phát triển nhanh hơn, quyền phát triển được bảo đảm với mức độ nào đó. Điều này được ông Oliver Long gọi một cách hình tượng là “Luật phát triển”.

2/ Sự đãi ngộ đối với các nước đang phát triển quy định tại phần thứ tư của Hiệp định chung

Điều 17 chỉ dành cho các nước đang phát triển những thuận lợi ngoại lệ có hạn. Còn phần thứ tư mới bổ sung thì xác định dưới góc độ pháp lý nguyên tắc ưu đãi một chiều đơn phương đối với các nước đang phát triển.

a/ Mục tiêu và nguyên tắc (điều 37).

Mục tiêu chủ yếu của các điều khoản trong phần thứ tư là: 1) Bảo đảm chắc chắn sự tăng trưởng nhanh chóng và liên tục thu nhập xuất khẩu các nước chậm phát triển; 2) Tạo điều kiện có lợi hơn và cho sản phẩm sơ chế gia nhập thị trường thế giới; 3) Tạo cơ hội tốt hơn, ưu đãi cho sản phẩm gia công hoặc chế thành phẩm xuất khẩu có lãi của các nước chậm phát triển gia nhập thị trường.

Mặc dầu trong thực tế khi đàm phán với các nước phát triển, các nước đang phát triển không phải nhân nhượng giảm thuế, song điều đó không loại trừ các nước đang phát triển có những đóng góp mà họ cho là cần thiết tương xứng với bước phát triển, tài chính và thương mại của họ.

b/ Nghĩa vụ của các nước phát triển và của các nước đang phát triển (điều 37).

1/ Nghĩa vụ cam kết của các nước đang phát triển. Các nước này đồng ý: a) Tránh áp dụng thuế mới hoặc các biện pháp phi thuế quan đối với những sản phẩm có lợi ích xuất khẩu của các nước chậm phát triển; không áp dụng biện pháp tài chính mới đối với sản phẩm cấp thấp chưa gia công hoặc đã gia công được sản xuất tại các nước chậm phát triển (giữ nguyên điều khoản hiện có); b) Đồng thời, ưu tiên giảm hoặc hủy bỏ các hàng rào (thuế quan và phi thuế quan) đối với những sản phẩm có lợi ích xuất khẩu hiện thực hoặc tiềm tàng của các nước chậm phát triển. Nhưng, những cam kết này có một điều kiện quan trọng là họ đồng ý thực hiện điều khoản này “trong phạm vi có thể”.

2/ Nghĩa vụ thương lượng. Nếu nước nào cho rằng chưa thể thực hiện điều 37 thì họ có thể: a) Yêu cầu thương lượng song phương; b) Hoặc chuyển việc này cho Toàn thể các nước ký hiệp định thẩm nghị.

3/ Các nghĩa vụ khác của các nước phát triển. Các nước phát triển còn đồng ý: a) Khi các tổ chức thương mại nhà nước tiêu thụ toàn bộ sản phẩm sản xuất tại hoặc chủ yếu sản xuất tại các nước chậm phát triển thì họ sẽ cố gắng giữ cho lợi nhuận thương mại ở mức công bằng; b) Tích cực suy tính để áp dụng các biện pháp khác (như thúc đẩy cải thiện kết cấu trong nước), mở rộng phạm vi nhập khẩu từ các nước chậm phát triển, và sẽ hợp tác trong hoạt động quốc tế nhằm mục đích đó; c) Khi tính toán để áp dụng biện pháp khác mà Hiệp định chung cho phép nhằm giải quyết các vấn đề đặc thù nào đó, sẽ đặc biệt chú ý lợi ích thương mại của các nước đang phát triển (như thu thế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp).

4/ Nghĩa vụ cam kết của các nước đang phát triển. Các nước chậm phát triển đồng ý thực hiện phần thứ tư của Hiệp định chung sẽ áp dụng các biện pháp thích đáng, triệt để để thực hiện các quy định trong phần thứ tư của Hiệp định chung có lợi cho lợi ích thương mại của các nước chậm phát triển khác là nước ký hiệp định. Song, các biện pháp được áp dụng phải phù hợp nhu cầu phát triển, tài chính và thương mại trước mắt và mai sau của từng nước.

c/ Phối hợp hành động (điều 38).

Những hành động phối hợp mà các nước ký hiệp định phải thự chiện theo quy định gồm có: 1) Tạo điều kiện ngày càng được cải tiến và hoàn thiện để sản phẩm cấp thấp có lợi ích đặc biệt của các nước chậm phát triển gia nhập thị trường thế giới và ổn định giá cả của những sản phẩm này ở mức công bằng và có lợi; 2) Thẩm định định kỳ sự phát triển của thương mại thế giới, đặc biệt phải chú ý tới mức tăng trưởng thương mại của các nước chậm phát triển; 3) Phân tích và nghiên cứu kế hoạch và chính sách phát triển của các nước chậm phát triển để định ra biện pháp cụ thể tạo ra những cơ hội phát huy tiềm lực xuất khẩu của họ và những thuận lợi cho hàng công nghiệp phát triển lên, từ những điều kiện đó gia nhập thị trường xuất khẩu; 4) Yêu cầu Toàn thể các nước ký hiệp định thành lập các tổ chức cần thiết để thúc đẩy thực hiện mục tiêu của phần thứ tư. Năm 1965 Toàn thể các nước ký Hiệp định chung lập ra Ủy ban thương mại và phát triển là nhằm mục đích đó.

Cũng cần vạch ra rằng, mục tiêu và cam kết trong phần thứ tư của Hiệp định chung không phải là những nghĩa vụ có sức ràng buộc về pháp lý. Đặc trưng của nó là: 1) Không có sức ràng buộc pháp lý; 2) Nội dung ưu đãi không cụ thể và rõ ràng; 3) Quy định những điều kiện hai mặt, có mà như không. Song, dù sao chăng nữa, phần thứ tư đã đưa ra những chỗ dựa pháp lý và cái khung bước đầu để khảo sát và nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề thương mại của các nước đang phát triển và giải quyết những vấn đề ấy như thế nào.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Ưu đãi chung đối với các nước đang phát triển – Phần đầu


Khi mới thành lập tổ chức Hiệp định chung, chỉ có 11 nước ký hiệp định là nước đang phát triển, họ chỉ được đóng vai phụ, lợi ích kinh tế của họ bị xem nhẹ, ở vào vị trí bình đẳng về pháp luật nhưng bất bình đẳng trong thực tế. Từ đó tới nay, tình hình chính trị, kinh tế và thương mại thế giới đã có thay đổi lớn. Ngày nay 2 phần 3 số nước ký hiệp định là nước đang phát triển. Họ tập hợp lực lượng, có tiêng nói chung, khiến địa vị của họ trong đàm phán thương mại được cải thiện không ngừng, các quy tắc thương mại quốc tế thay đổi theo hướng phù hợp với lợi ích của các nước đang phát triển, từ đó hình thành “đường một chiều” trong thương mịa quốc tế nhiều bên.

I/ Sự đối xử bình thường đối với các nước đang phát triển

Trong “Hiến chương Havanna” có mấy điều khoản nói tới những vấn đề có liên quan tới các nước đang phát triển. Nhưng chỉ có một điều khoản được đưa vào văn bản ban đầu của Hiệp định chung, tức là điều 18 nói về “sự viện trợ phát triển kinh tế của các chính phủ”. Dù sao, điều đó cũng cho thấy ngay từ đầu Hiệp định chung đã đứng trước vấn đề của các nước đang phát triển. Tuy nhiên, điều khoản đó chỉ xác nhận sự đối xử bình thường đối với các nước đang phát triển và được thực thi trong phạm vi quy tắc cơ bản của Hiệp định chung.

1/ Địa vị của các nước đang phát triển

Khi Hiệp định chung tạm thời có hiệu lực thì chưa có khái niệm nước đang phát triển. Vì vậy, việc xác định vị trí của loại nước này là vấn đề cần được giải quyết trước tiên. Sự thật thì khái niệm nước đang phát triển được diễn đạt là nước “có mức sống thấp”, “ở vào giai đoạn phát triển sơ khởi”. Nói cách khác, nước đang phát triển là nước rơi vào một trong hai trường hợp sau: 1) Nước có mức sống thấp; 2) Nước đang ở vào giai đoạn phát triển sơ khởi. Loại nước thứ hai này không chỉ bao gồm những nước vừa mới bắt đầu phát triển mà còn gồm cả những nước đang ở trong quá trình công nghiệp hóa để thay đổi tình trạng quá phụ thuộc vào sản phẩm sơ chế.

Những nước này có quyền:

a/ Duy trì đầy đủ tính co dãn về kết cấu để bảo hộ bằng thuế quan cho việc xây dựng ngành công nghiệp cụ thể nào đó.

b/ Với điều kiện đã tính toán một cách đầy đủ kế hoạch phát triển kinh tế của họ để tạo ra nhu cầu nhập khẩu cao, liên tục, họ có thể hạn chế số lượng nhập khẩu để cân đối thu chi quốc tế.

c/ Những nước vừa có mức sống thấp, vừa đang ở vào giai đoạn phát triển sơ khởi có thể tạm thời đi chệch những điều khoản khác của Hiệp định chung theo quy định tại tiết 1, 2 và 3 điều 18.

Khi việc xuất khẩu sản phẩm sơ chế của những nước này bị nước thành viên khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng thì họ có thể vận dụng trình tự thương lượng quy định tại điều 22 trong Hiệp định chung.

Đó là những thuận lợi ngoại tệ ban đầu mà các nước đang phát triển được hưởng theo Hiệp định chung. Những quyền lợi này còn có quy định cụ thể tại bốn tiết trong điều 18.

2/ Sự vận dụng linh hoạt việc sửa đổi hoặc hủy bỏ biểu thuế

Tiết 1 điều 18 Hiệp định chung có quy định cụ thể việc các nước phát triển vận dụng linh hoạt việc sửa đổi hoặc hủy bỏ biểu thuế. Theo quy định này, những nước vừa có mức sống thấp, vừa đang ở vào giai đoạn phát triển sơ khởi cho rằng cần phải sửa đổi hoặc hủy bỏ mức thuế nào đó trong biểu thuế để đẩy mạnh xây dựng một ngành công nghiệp cụ thể nào đó và nâng cao mức sống chung của nhân dân, thì phải thông báo cho Toàn thể các nước ký hiệp định, và phải đàm phán với các nước hữu quan. Nếu thỏa thuận được với nhau thì, để thực thi thỏa thuận ấy, những nước này có quyền sửa đổi mức giảm thuế trong biểu thuế, gồm cả việc điều chỉnh mang tính chất đền bù. Thực tế đó là điều chỉnh biểu thuế trên nguyên tắc cùng ưu đãi.

Nếu không thỏa thuận với nhau được thì trình bày lên Toàn thể các nước ký hiệp định nghiên cứu:

a/ Nếu Toàn thể các nước ký hiệp định cho rằng nước đề nghị sửa đổi hoặc hủy bỏ sự giảm thuế đã dốc hết mọi cố gắng để đạt được thỏa thuận, hơn nữa, mức điều chỉnh đền bù mà họ đưa ra là thỏa đáng, thì họ có thể vừa chuẩn bị thực hiện việc điều chỉnh để bù đắp đồng thời vừa tiến hành sửa đổi hoặc hủy bỏ việc giảm thuế.

b/ Nếu Toàn thể các nước ký hiệp định cho rằng mức điều chỉnh để bù đắp mà nước đề nghị sửa đổi hoặc hủy bỏ việc giảm thuế đưa ra là chưa thỏa đáng, nhưng mức bù đắp ấy đã là mức tận cùng trong khả năng của họ, thì họ có thể tiếp tục việc sửa đổi hoặc hủy bỏ giảm thuế. Song các nước hữu quan có thể sửa đổi hoặc hủy bỏ mức giảm thuế đã thỏa thuận với nước này trước đó với mức tương đương.

3/ Về sự hạn chế do khó khăn về thu chi quốc tế

Tiết 2 điều 18 quy định rằng, để bảo vệ giá trí đồng tiền và để có dự trữ thỏa mãn nhu cầu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, các nước có thu nhập thấp đang ở vào giai đoạn phát triển sơ khởi có thể hạn chế số lượng hoặc giá trị nhập khẩu đế khống chế mức nhập khẩu bình thường của họ. Nhưng sự hạn chế nhập khẩu không được vượt quá: 1) Mức cần thiết để phòng ngừa nguy cơ dự trữ tiền tệ giảm mạnh để khống chế mức giảm dự trữ tiền tệ; 2) Hoặc mức cần thiết để nước thiếu dự trữ tiền tệ tăng dự trữ tiền tệ một cách hợp lý.

Rõ ràng là, điều quy định này khác với tiêu chuẩn và điều kiện tiên quyết được quy định đối với các nước phát triển tại điều 12.

Khi thực hiện việc hạn chế nhập khẩu nói trên, các nước đang phát triển có thể xác định phương thức hạn chế khác nhau đối với sản phẩm khác nhau hoặc các loại sản phẩm khác nhau để ưu tiên nhập khẩu những sản phẩm cần thiết hơn đối với nhu cầu phát triển kinh tế của họ. Song, khi thực hiện hạn chế thì phải: 1) Tránh gây thiệt hại đối với lợi ích thương mại hoặc kinh tế của bất kỳ nước thành viên nào; 2) Không được cản trở một cách vô lý việc nhập khẩu hàng hóa với lượng thương mại tối thiểu; 3) Không được cản trở nhập mẫu hàng và phải tôn trọng bản quyền, nhãn hàng, bản quyền phát minh hoặc các trình tự tương tự.

Khi hạn chế nhập khẩu vì nguyên nhân thu chi quốc tế, các nước đang phát triển phải thương lượng với các nước thành viên khác trên những vấn đề sau đây: 1) Tính chất khó khăn về thu chi quốc tế của mình; 2) Biện pháp bổ cứu thay thế có thể áp dụng được; 3) Những ảnh hưởng mà những hạn chế đó có thể gây ra đối với nền kinh tế của các nước khác. Những cuộc thương lượng này cứ hai năm tổ chức một lần và tiến hành trong khuôn khổ Ủy ban thu chi quốc tế. Quỹ tiền tệ quốc tế tham dự tất cả các cuộc thương lượng này.

4/ Các biện pháp và trình tự hạn chế số lượng hoặc các biện pháp phi thuế quan thích đáng

Các nước đang phát triển có đủ hai điều kiện là thu nhập thấp và đang ở vào giai đoạn phát triển sơ khởi cần được chính phủ cung cấp viện trợ để đẩy mạnh xây dựng một ngành công nghiệp cụ thể nào đó nhằm nâng cao mức sống chung của nhân dân. Nhưng nếu áp dụng các biện pháp phù hợp với quy định khác của Hiệp định chung mà không đạt được mục đích đó thì phải thông báo những khó khăn đặc thù cho Toàn thể các nước ký HIệp định chung, nói rõ những biện pháp nào sẽ được áp dụng để tác động vào nhập khẩu nhằm khắc phục những khó khăn đó. Sau khi hết hạn thương lượng, hoặc được Toàn thể các nước ký hiệp định đồng ý, thì họ mới được áp dụng các biện pháp có ảnh hưởng tới việc nhập khẩu những sản phẩm là đối tượng giảm thuế được liệt kê trong biểu thuế. Nhưng nếu ngành công nghiệp được viện trợ đã đi vào sản xuất thì sau khi thông báo cho Toàn thể các nước ký hiệp định, các nước ấy có thể áp dụng biện pháp cần thiết để phòng ngừa việc nhập khẩu những sản phẩm hữu quan trong thời gian này vượt quá mức bình thường.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.