Tổ chức khu vực ASEAN: Phát triển và thách đố – Phần cuối


Tăng cường chức năng Ban Thư ký ASEAN chính là một đặc điểm lớn trong quá trình phát triển của tổ chức này. Sau Hội nghị Thượng đỉnh Bali thứ nhất, ASEAN thành lập Ban Thư ký Trung ương, nhưng các nước dựa trên sự cân nhắc rằng đối với các vấn đề quan trọng, cần thông qua sự tư vấn và thương lượng chặt chẽ rồi cấp cao của các nước mới quyết định, do vậy tổ chức Ban Thư ký bộc lộ đặc trưng kết cấu phân quyền địa phương, đối với việc phát triển và chấp hành chính sách, nó không hề đóng vai trò quan trọng. Ban Thư ký Trung ương thực ra chỉ đóng vai trò “Hộp thư”, chịu trách nhiệm truyền đạt các hoạt động hữu quan của ASEAN cho chính phủ các nước. Từ sau khi thành lập, tổ chức Ban Thư ký tuy đã được các nước thảo luận và tiến hành tăng cường hai lần, nhưng nó vẫn không thể thực sự phát huy chức năng hoạch định chính sách, hiệu quả hợp tác kinh tế của ASEAN không nổi bật, chức năng của Ban Thư ký chưa thể phát huy, đó phải là một trong những nhân tố quan trọng. Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN năm 1992 quyết định căn cứ theo cân nhắc về năng lực và biểu hiện, công khai tuyển chọn nhân viên Ban Thư ký để tăng cường năng lực hoạch định chính sách. Điều đó cho thấy các nước thành viên đã chú ý tới tầm quan trọng của mặt này. Có thể nói đó là bước phát triển tích cực. Nhưng cùng với sự mở rộng của tổ chức, liệu khuynh hướng quan liêu hóa có sẽ ngày càng nghiêm trọng, làm cho hiệu quả chức năng mà nó xuất ra không thể nào phù hợp với chi phí mà tổ chức chỉ ra, khiến ASEAN lâm vào thời kỳ chết cứng và ngưng đọng hay không – đó phải là một vấn đề khác đáng cảnh giác.

Sự phát triển và trưởng thành của ASEAN có quan hệ với sự tồn tại của mối đe dọa từ bên ngoài tới trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nhưng cùng với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, sự tan rã của Liên Xô, ý hướng hòa bình xuất hiện ở Trung Cộng và sự hóa giải cuộc khủng hoảng Campuchia, sự đe dọa từ bên ngoài không còn là “dung môi” để hội tụ các nước thành viên nữa, các nước có thể mang tấm lòng kiên nhẫn và thỏa hiệp để hóa giải những bất đồng và duy trì đoàn kết hài hòa như trước đây được hay không – tự nhiên đó là thử thách mới của thời đại mới. Đặc biệt đáng chú ý là, cần mở rộng số nước thành viên của ASEAN mới có thể tiếp tục duy trì sức sống về mặt tổ chức của nó. Bởi vậy ngay từ khi vừa mới thành lập, trong tuyên ngôn Bangkok đã bày tỏ lập trường hoan nghênh các nước khác trong khu vực gia nhập. Sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết, Việt Nam và Campuchia lần lượt biểu thị ý nguyện gia nhập ASEAN, và tại Hội nghị Ngoại trưởng hàng năm của ASEAN năm 1992, các nước này đã tham dự Hội nghị với tư cách quan sát viên, hai nước lần lượt tỏ ý tiếp nhận tinh thần giải quyết tranh chấp bằng hòa bình của ASEAN. Trong tương lai, ngoài Papua New Guinea ngay từ đầu đã trở thành quan sát viên, 3 nước ở bán đảo Đông Dương và Myanmar đều có khả năng trở thành nước hội viên mới của ASEAN. Các nước này một khi được gia nhập, sự thử thách về hiệu quả do sự phình ra của tỏ chức đưa lại cố nhiên được mọi người quan tâm. Việt Nam là một nước XHCN, về mặt chế độ kinh tế có bất đồng lớn các nước ASEAN vốn lấy kinh tế thị trường làm lực lượng chủ yếu. Hai chế độ kinh tế khác nhau làm thế nào có thể cộng sinh trong cùng một tổ chức – đó là một hiện tượng giàu giá trị quan sát. Nhìn từ giác độ an ninh, để cho Việt Nam gia nhập, đối với ASEAN, có được sự rèn luyện về xã hội hóa. Nhưng sự đối lập giữa Việt Nam và Trung Cộng chưa được tiêu trừ, sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN, có gây ra sự nghi kỵ của Trung Cộng rằng ASEAN là một tập đoàn khu vực lấy Trung Cộng làm mục tiêu hay không – đó cũng là điều khiến người ta chú ý. Một khi thành viên thực sự mở rộng, thì sự thách đố ghê gớm nhất đối với ASEAN có thể đến từ vấn đề đoàn kết bên trong nó.

3/ Khuynh hướng của Indonesia và tiền đồ của ASEAN

Trước Hội nghị Thượng đỉnh năm 1992, khi quyết nghị ASEAN luôn áp dụng nguyên tắc nhất trí, Hội nghị Thượng đỉnh lần này quyết nghị sửa đổi lại nguyên tắc nhất trí. Nội dung sửa đổi như thế nào, tuy chưa biết được toàn bộ, nhưng đối với Indonesia, là nước từ khi ASEAN thành lập đến nay luôn ở thế thiểu số, sự sửa đổi này sẽ có tác động như thế nào? Indonesia đến lúc đó sẽ phản ứng như thế nào? Tất sẽ đều ảnh hưởng tới chỉnh thể của ASEAN. Tới đây khi số thành viên được mở rộng, khoảng cách giàu nghèo sẽ lại càng tăng thêm giữa các nước thành viên bên trong ASEAN, mô hình quyết sách biểu quyết theo đa số sớm muộn sẽ áp dụng, có làm xuất hiện hiện tượng đối lập hai cực trong ASEAN khi có những quyết sách quan trọng không? Đó phải là một mối đe dọa tiềm tàng khác trong tương lai của ASEAN. Từ những năm 1980, Thái Lan và Malaysia tăng trưởng rất nhanh về kinh tế, lại cộng thêm Singapore vốn ở vị trí dẫn đầu, nghiêm nhiên trở thành “quý tộc” bên trong ASEAN. Quy hoạch khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN có xuất hiện hiện tượng “hiệu ứng phân cực” thường thấy trong nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức quốc tế, tức là sự tồn tại của tổ chức ngày càng có lợi cho các nước vừa và nhỏ, còn đối với các nước lớn thì hiệu quả ngày càng giảm đi, hay không – cũng là một then chốt khác ảnh hưởng tới sự phát triển trong tương lai của ASEAN.

Khuynh hướng của Indonesia chính là biến số quan trọng chi phối tương lai của ASEAN. Dân số của nó đông nhất, lãnh thổ cũng rộng nhất; từ ngày ASEAN thành lập đến nay nó mặc nhiên được coi là người lãnh đạo, tính cách thực tế và thái độ duy lý của tổng thống Souharto càng là nhân tố quan trọng để tổ chức này được thành lập và phát triển. Nhưng trước khi thế kỷ 21 tới nơi, tầng lớp lãnh đạo Indonesia rất có khả năng có biến đổi, phong cách chính trị của lãnh đạo mới kế nhiệm Souharto rất có thể ảnh hưởng tới lập trường của Indonesia đối với tổ chức ASEAN. Thứ ba, từ những năm 80 trở lại, các tổ chức kinh tế khu vực đua nhau xuất hiện tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương; Nhưng thành viên của các tổ chức này phần lớn đều trùng với thành viên của ASEAN, chẳng hạn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (Asia – Pacific Economic Cooperation, APEC), Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (Pacific Economic Cooperation Council, PECC) và tổ chức kinh tế Đông Á (East Asian Economi Caucus, EAEC)… Hiện tượng trùg lặp này, ngoài việc có thể tạo ra sự bất đồng của các nước hội viên ASEAN về lập trường thừa nhận các tổ chức này, Indonesia cố nhiên giành địa vị lãnh đạo trong các nước thế giới thứ ba không liên kết, cũng tỏ thái độ tích cực tham dự và tăng cường sức ảnh hưởng của nó trong các tổ chức kinh tế trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương này. Xu thế này tiếp tục phát triển, có làm cho Indonesia đặt ASEAN vào địa vị thứ yếu hay không? Nếu quả thật như vậy thì tất yếu tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đối với địa vị khu vực và quốc tế ngày càng quan trọng hiện nay của ASEAN.

V/ Kết luận

Tổ chức ASEAN thành lập đã gần 28 năm. Nhìn vào lịch sử phát triển của nó, có thể nói đó là điển hình của sự trưởng thành dần của một tổ chức khu vực. Chính phủ 5 nước sáng lập tổ chức này thuở ban đầu, mục đích chính của họ là thúc đẩy kinh tế, xã hội va văn hóa của khu vực này phát triển, nhằm thành lập một trật tự khu vực ổn định và hòa bình. Tới nay, khi nó sắp bước vào ngưỡng của thập niên thứ ba, chúng ta có thể nhận thấy mục đích này đại thể đã đạt được. ASEAN đã tạo dựng nên giữa các nước thành viên của nó một quan hệ quốc tế ổn định và một môi trường khu vực hòa bình, các nước đều có thể giải quyết tranh chấp lẫn nhau bằng phương thức phi vũ lực. ASEAN cũng đã xác lập nên phương thức chính trị rõ ràng để thúc đẩy hợp tác kinh tế, xã hội và văn hóa rộng rãi; đã bồi dưỡng nên ý thức cộng đồng khu vực, các nước thành viên chấp nhận các lý tưởng về giá trị chung và sẵn sàng phản ứng tích cực trước nhu cầu và lợi ích của nhau. Thứ ý thức cộng đồng này phản ánh qua một thực tế, là bắt đầu từ những năm 1980, ASEAN đã phát triển một sự nhất trí: đối với mỗi một vấn đề được thảo luận, đều cùng nhau ủng hộ lập trường của nước hội viên có ảnh hưởng nhất. Phương thức ngoại giao tập thể này là nguyên nhân chủ yếu để ASEAN được coi trọng trong cộng đồng quốc tế.

Sở dĩ ASEAN có thể trưởng thành chủ yếu là nhờ mục tiêu hòa bình trong thực tế, phương thức quyết sách có tính nhất trí và sự kích thích của mối đe dọa từ môi trường trong và ngoài trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Chính là sự tác động lẫn nhau giữa ba nhân tố này đã làm cho các nước thành viên không phải trả bất cứ giá nào (cost-free) cho tổ chức, trái lại thu được lợi ích do tổ chức tạo ra, do vậy đã tạo điều kiện để tổ chức trưởng thành. Nhưng khi cùng với sự biến đổi của môi trường thời gian và không gian, ba nhân tố trước sau lần lượt biến đổi hay có dấu hiệu biến đổi thì tiền đồ tiếp tục trưởng thành của tổ chức ASEAN gặp phải sự thách đố. Thử xem xét những điều chỉnh và biến đổi mà ASEAN thực hiện từ năm 1992 lại đây, thì dường như bên ngoài lợi ích tích cực đều ản tàng những biến số bất lợi. Thí dụ sửa đổi mô hình quyết sách theo kiểu nhất trí có thể đẩy nhanh nhịp độ quyết sách của ASEAN, nhưng cũng để mở rộng xung đột nội bộ; số nước thành viên có thể gia tăng cố nhiên có thể làm cho ASEAN thực sự trở thành một tổ chức khu vực của toàn bộ Đông Nam Á nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ số thành viên được mở rộng, chi phí tổ chức tăng lên nhưng hiệu quả giảm xuống; việc nâng cấp địa vị của Ban Thư ký và việc đề bạt các quan chức có lợi cho việc tăng cường chức năng quyết sách của ASEAN nhưng cũng là nguyên nhân của nạn quan liêu hóa.

Sự biến đổi của môi trường trong và ngoài đương nhiên làm cho người ta quan tâm tới việc liệu ASEAN có thể vượt qua cái hố sâu của sự trưởng thành hay không, nhưng nhìn vào lịch trình phát triển đã qua của ASEAN, nó đã trở thành một tổ chức khu vực thiết chế hóa, các nước hội viên vừa có thể hưởng thụ lợi ích của sự tồn tại của tổ chức, cùng hiểu và tôn trọng giá trị sự tồn tại của tổ chức, do vậy xem ra bất tất phải quá bi quan cho tiền đồ của ASEAN trong tương lai. Nói cách khác, chúng ta có thể dự đoán trong tương lai ASEAN có thể sẽ xuất hiện tranh chấp và đụng độ công khai, nhưng bất kỳ sự tranh chấp và đụng độ nào cũng sẽ diễn ra trong phạm vi chế độ, không đến mức ảnh hưởng tới sự sinh tồn của ASEAN. Một khi ASEAN vượt qua một cách thành công những khó khăn mà trong thời kỳ thách đố có thể sẽ gặp phải, một tổ chức khu vực sau khi số thành viên được mở rộng sẽ càng có thể giúp đỡ lẫn nhau, phát triển sự hợp tác kinh tế, xã hội và văn hóa khu vực, trở thành một ASEAN mới càng khả quan hơn.

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 24 & 25

Advertisements

Tổ chức khu vực ASEAN: Phát triển và thách đố – Phần V


Sau khi Nam Việt Nam thất thủ, các nước ASEAN đã cảm nhận được tầm quan trọng của việc các nước hội viên tăng cường lực lượng hợp tác hội tụ, nhưng mãi tới tháng 6 tháng 7 năm 1978, khi hàng loạt dân tị nạn Việt Nam chạy sang các nước ASEAN – đặc biệt là Malaysia và Indonesia – và hàng năm đầu có các vụ Việt Nam xâm nhập Campuchia, mới thực sự kích thích các nước thành viên ASEAN, làm cho ngoài tính cách là tổ chức thuần túy kinh tế vốn có, ASEAN lại mang thêm chức năng chính trị, từ đó chứng minh ASEAN tuy là một tổ chức kinh tế, nhưng nó không tách rời nhân tố an ninh chính trị, đây chính là một tác nhân quan trọng thúc đẩy ASEAN đi tới đoàn kết. Trước hết hãy bàn về vấn đề dân tị nạn Việt Nam. Hàng loạt dân tị nạn tràn vào, không những thử thách năng lực ứng biến của các nước, hơn nữa cũng tạo ra gánh nặng nghiêm trọng cho xã hội và kinh tế của các nước; vấn đề nạn dân đồng thời cũng thách đố các nước ASEAN: liệu có năng lực làm dịu được làn sóng lưu vong ngày càng nhiều lên, hóa giải kiến giải của các nước đối với vấn đề này, và lợi dụng sức ảnh hưởng có tính khu vực và quốc tế để giải quyết tình trạng nạn dân tràn vào, hay không.

Ngoài việc liên hợp thành lập Trung tâm Giải quyết Nạn dân (Refugee Processing Centers) để làm dịu gánh nặng đã tạo ra cho các nước ASEAN, tại hội nghị hàng năm vào tháng 6 năm 1979, ngoại trưởng các nước ASEAN đã chỉ trích quyết liệt làn sóng nạn dân, và lợi dụng dịp hội đàm sau hội nghị ngoại trưởng các nước Mỹ, Nhật Bản, Australia và New Zealand, yêu cầu các nước đó hợp tác về mặt quốc tế, phải coi trọng vấn đề này. Tiếp đó, tại Hội nghị nạn dân bán đảo Đông Dương tại Geneva họp vào tháng 7, phần lớn các yêu cầu do ASEAN nêu ra đã được đáp lại một cách thỏa mãn. Việt Nam tuyên bố sẽ áp dụng các biện pháp khống chế tạm thời đối với làn sóng nạn dân; các nước phương Tây cũng tích cực cung cấp viện trợ tài chính và tăng số lượng thu xếp nạn dân. Với sự vận động ngoại giao tập thể có hiệu quả, ASEAN đã thu được thành tựu quan trọng trong vấn đề nạn dân.

Gần như trùng hợp với thời gian phát sinh vấn đề nạn dân, nhưng tác động tới ASEAN trực tiếp hơn và cũng lớn hơn là sự kiện Việt Nam xâm nhập Campuchia. Sở dĩ sự kiện này làm cho các nước ASEAN quan tâm nghiêm trọng không chỉ vì hành động xâm lược của Việt Nam trực tiếp đi ngược lại nguyên tắc giải quyết tranh chấp “bằng hòa bình và thiện chí” mà ASEAN tuyên bố, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước khác, mà còn do Campuchia bị xâm chiếm, Thái Lan mất đi một nước chắn đỡ, trực tiếp phơi lưng ra trước sự đe dọa quân sự của Việt Nam, làm cho các nước ASEAN khác sợ “hiệu ứng domino”. Bởi vậy sau khi sự kiện Việt Nam xâm nhập Campuchia phát sinh, phản ứng của các nước ASEAN là lập tức và quyết liệt. Tại Hội nghị đặc biệt ngoại trưởng các nước ASEAN mở tại Bangkok công khai lấy làm tiếc trước hành động của Việt Nam và yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc lập tức áp dụng hành động. Tiếp đó, ASEAN đã thành công trong việc đưa sự kiện xâm nhập Campuchia vào chương trình nghị sự của Đại hội đồng Liên hợp quốc, và với chênh lệch tương đố lớn đã gạt ý đồ đưa chính quyền Heng Xomrin do Việt Nam ủng hộ thay vào chiếc ghế của chính quyền Khmer Đỏ lưu vong. Thái độ của ASEAN đối với vấn đề này luôn được ủng hộ tương đối đa số tại các khóa Đại hội đồng Liên hợp quốc những năm 1980. Ngoài ra căn cứ vào dự thảo nghị quyết của Liên hợp quốc về sự kiện Việt Nam xâm nhập Campuchia, ASEAN đã mở thành công Hội nghị Quốc tế về Campuchia (The International Conference on Kampuchea, ICK) vào tháng 7 năm 1981. Hội nghị này tuy không giải quyết vấn đề Campuchia, nhưng nó đã trở thành một diễn đàn quốc tế, không chỉ một lần nữa làm nổi rõ lập trường nhất trí của các nước ASEAN về tình hình Campuchia mà còn tăng cường địa vị của tổ chức này trong khu vực và trên trường quốc tế. Việc ASEAN trở thành một công cụ ngoại giao khả quan của các nước thành viên của nó lại một lần nữa được chứng minh, và sức hội tụ và động viên tập thể của nó cũng càng khả quan hơn.

Sự giao thiệp của ASEAN với tư cách tập thể với các nước tương quan khác bắt đầu từ việc đàm phán với Nhật Bản về cao su tổng hợp vào đầu những năm 1970, tiếp đó vào cuối những năm 1970, do chính sách hàng hải dân sự quốc tế, lại xảy ra tranh chấp với Australia. Trong hai cuộc tranh nghị này ASEAN đều được các nước đối thủ tôn trọng và nhượng bộ. Có những kinh nghiệm và thành tựu trên đây, vào năm 1981 ASEAN đã chính thức bắt đầu chế đọi bạn đối thoại (ASEAN Dialogue Partner System, ADPS). Chế độ này chủ yếu tạo ra cho các nước hội viên ASEAN và các bạn hàng mậu dịch chủ yếu của nó một diễn đàn thảo luận. Những bạn hàng mậu dịch này lúc đầu gồm Mỹ, Nhật Bản, Canada, Australia, New Zealand và thị trường chung châu Âu; sau đó lại thêm Hàn Quốc. Từ giữa những năm 1980 về sau, chế độ đối thoại phần lớn tiến hành sau khi kết thúc Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN mỗi năm một lần, gọi là Hội nghị sau Bộ trưởng (Post-Ministerial Conferences, PMC), có ngoại trưởng 6 nước ASEAN, ngoại trưởng các nước bạn hàng đối thoại tham gia, tiến hành giao thiệp về các vấn đề liên quan tới chính trị và an ninh. Mỗi năm cứ đến hội nghị ngoại trưởng ASEAN, các cơ quan truyền thông thế giới lại chuyển tiêu điểm vào Đông Nam Á, khi đối thoại giữa ASEAN và các nước bắt đầu, nó càng tập trung sự chú ý của các phương tiện nghe nhìn toàn cầu. Việc ASEAN chuyển thành công chế độ bạn đối thoại thành hoạt động có tính quốc tế cỡ lớn hàng năm, một là góp phần tạo nên hình tượng toàn cầu của nó, hai là tăng cường vai trò có tính khu vực quan trọng và vai trò là diễn biến quốc tế của nó, làm cho ASEAN trở thành một lực lượng tập thể ngày càng được coi trọng.

Tổng kết lại, trong thời kỳ phát triển ở giai đoạn thứ hai của ASEAN, những thành tựu về các mặt chính trị và ngoại giao của nó làm cho cái tổ chức có tính khu vực này nhanh chóng được các nước hội viên thừa nhận, càng được cộng đồng quốc tế ủng hộ và tôn trọng. Cựu Phó Thủ tướng Malaysia Musa, khi bàn đến ảnh hưởng của những bước phát triển này đối với ASEAN, đã chỉ ra rằng: Do sự tôn trọng mà ASEAN giành được, do lòng tin mà nó xây dựng được và năng lực mà nó giúp sức tạo thành, khu vực mà ASEAN bao trùm đã trở thành một thanh nam châm thu hút đầu tư của nước ngoài; thiếu nhân tố này, sức sống của mỗi quốc gia thành viên ASEAN tất yếu sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực”.

Rõ ràng thành tựu tăng trưởng kinh tế cao của các nước ASEAN, việc tập trung kinh phí vào xây dựng các ngành dân sự chứ không phải vào chi phí quân sự và việc thu hút đầu tư và mậu dịch của nước ngàoi… có quan hệ rất mật thiết với các nhân tố mà Musa nhắc đến.

IV/ Thời kỳ thách đối đối với ASEAN

1/ Sự biến đổi của môi trường khu vực

Bắt đầu từ cuối những năm 1980, môi trường trong và ngoài ASEAN có biến đổi rất lớn, tạo thành nhiều thách đố nghiêm ngặt đố với nó, buộc tổ chức này phải có sự điều chỉnh thích hợp. Những thách đố này trước hết đến từ mặt kinh tế, làn sóng chủ nghĩa bảo hộ trên thế giới lại dâng lên, thị trường mậu dịch đối ngoại của các nước ASEAN trực tiếp cảm nhận thấy mối đe dọa gay gắt, đặc biệt là sự xuất hiện các tập đoàn kinh tế khu vực, nhu cầu thị trường chung châu Âu từ năm 1992 sẽ trở thành một thị trường đơn nhất, và sự ủ mầm, hình thành của khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ, rồi sự tiến triển chậm chạp của việc đàm phán tự do mậu dịch vòng Uruguay, việc tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của các nước công nghiệp phương Tây dẫu không thể nào đáp ứng được nhu cầu về thị trường xuất khẩu của các nước ASEAN… Những nhân tố này nổi lên lần lượt làm cho các nước ASEAN đã thực hiện những quyết định có tính đột phá quan trọng về mặt hợp tác kinh tế trong khu vực. Lãnh đạo 6 nước ASEAN, tại Hội nghị thượng đỉnh Singapore tháng 1 năm 1992 đã quyết định thành lập khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (The ASEAN Free Trade Area, AFTA), dự tính trong thời hạn 15 năm sẽ quán triệt hiệp định mậu dịch tự do; Hội nghị Thượng đỉnh đồng thời cũng quyết định tăng cường chức năng của Ban thư ký, nâng địa vị của Tổng Thư ký lên cấp bộ trưởng để ông ta có thể tham gia vào các hoạt động về mặt hợp tác kinh tế; ngoài ra, cũng với thái độ cởi mở hơn, để cho lãnh đạo chính phủ các nước thảo luận các vấn đề an ninh trong khu vực mà trước đây được coi là cấm kỵ và quyết định đổi Hội nghị Thượng dỉnh thành cơ chế thiết chế hóa 3 năm 1 lần. Những quyết nghị quan trọng này có thể nói lên rằng ASEAN lại bước vào một thời kỳ mới trong quá trình phát triển của nó.

2/ Thách đố liên tục, nhiều chiều

Nhưng không thể phủ nhận là những quyết nghị quan trọng này cũng đem lại cho ASEAN những thách đố mới, thử thách cái tổ chức mà vào những năm 80 rất được coi trọng do sức sống tập thể mà nó thể hiện ra, xem liệu trong môi trường sinh thái mới nó có thể tiếp tục thoát xác để sống còn hay không. Thí dụ, cùng với việc ký kết khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN, tuy vào tháng 1 năm 2003 bắt đầu thực hiện Kế hoạch Thuế quan Ưu đãi Hiệu lực chung (The Common Effective Preferential Tariff Scheme, CEPT), nhưng đối với mục tiêu của khu vực Mậu dịch Tự do, mức độ các nước thành viên thực sự chấp nhận là như thế nào? Và hàng rào thuế quan mà các nước dựng lên đối với các nước thứ ba có vì chênh lệch nhau quá lớn mà ảnh hưởng tới sự gia tăng mức mậu dịch trong khu vực hay không? Đó đều là những điểm then chốt ảnh hưởng tới sự thành bại của kế hoạch khu vực Mậu dịch Tự do. Ngoài ra quy hoạch khu vực Mậu dịch tự do dài tới 15 năm, không những điều đó hàm ý bản thân nó có thành phần do dự, mà trong thời gian dài như vậy, các thế lực doanh nghiệp bảo thủ bên trong các nước cũng có thể ảnh hưởng tới quyết tâm thực thi của chính phủ; ngoài ra, tính đa biến của cục diện thế giới cũng có thể làm cho kế hoạch này biến thành vô nghĩa.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 24 & 25

Tổ chức khu vực ASEAN: Phát triển và thách đố – Phần IV


III/ Thời kỳ phát triển của ASEAN (1976 – 1991)

1/ Sự biến đổi nhanh chóng của môi trường khu vực

Những điều phân tích trên đây nói lên một thực tế vô cùng quan trọng, là trong giai đoạn thứ nhất, sau khi tổ chức ASEAN thành lập, thành tựu cụ thể có thể trình làng của nó rất hữu hạn, nhưng tuyệt nhiên không phải là hoàn toàn không có những giá trị thể hiện sự tồn tại của nó. Trong thực tế, đúng như Bilson Kurus từng nói, trong mấy năm đầu khi tổ chức vừa thành lập, lãnh tụ chính trị của các nước ASEAN, với kinh nghiệm có được nhờ tác động qua lại lẫn nhau, chính là nhân tố quan trọng làm cho ASEAN, trên cơ sở không có thành tựu, đi tới ổn định chín muồi. Nói cách khác, có được đặc trưng ở giai đoạn một tức là tiến lên từ từ và trong ngôn từ để tránh những vấn đề thực chất dễ gây ra xung đột, thì mới làm cho ASEAN có thể có cơ hội bước vào thời kỳ phát triển ở giai đoạn thứ hai. Nhưng then chốt thực sự thúc đẩy ASEAN bước vào thời kỳ phát triển lại là do sự chấn động và biến đổi của môi trường trong và ngoài khu vực làm cho lãnh đạo các nước ASEAN nhạy bén nhận thấy ASEAN cần nhanh nhất thoát khỏi những lời lẽ trống rộng trừu tượng để triển khai sự hợp tác bằng hành động thực chất. Sự chấn động xuất hiện trong môi trường bên trong Đông Nam Á bắt nguồn từ sự thất thủ ở Việt Nam tháng 4/1975, đưa lại cho các nước ASEAN cảm giác khủng hoảng. Sự biến đổi của môi trường bên ngoài khu vực là chính sách bảo hộ kinh tế ngày càng gia tăng của các nước công nghiệp phương Tây trong năm 1974 làm cho các nước ASEAN bắt đầu cảm thấy thị trường Tây Âu, Mỹ và Nhật Bản không phải đáng tin cậy tuyệt đối, cần nâng cao sự hợp tác kinh tế giữa các nước trong khu vực và đó mới là con đường thúc đẩy kinh tế các nước phát triển, cải thiện tình hình an ninh chính trị. Qua hơn một năm đàm phán và thỏa hiệp trước hội nghị, tháng 2/1976 lãnh đạo 5 nước ASEAN chính thức tiến hành Hội nghị Thượng đỉnh thứ nhất tại Bali (Indonesia). Thành tựu cụ thể nhất về mặt hình thức của hội nghị này là đề ra một phương hướng rõ ràng có thể đi theo cho hợp tác khu vực của các nước hội viên trong tương lai. Trong Hội nghị này, tuyên ngôn hài hòa ASEAN (The Declaration of ASEAN concord) mà lãnh đạo 5 nước ASEN ký đã chỉ ra những công việc hợp tác trong tương lai của các nước trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội và kinh tế, Hiệp ước thiện chí và hợp tác Đông Nam Á (Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia) đã chính thức tuyên bố dưới hình thức hiệp ước, thiện chí và quyết tâm của các nước trong việc xúc tiến hợp tác kinh tế và hòa bình, ổn định. Nhưng quan trọng hơn là Hội nghị Thượng đỉnh Bali là cột mốc mà ở đó ASEAN bước vào thời kỳ phát triển ở giai đoạn 2. Thứ nhất, việc mở hội nghị này làm cho ASEAN không còn bị chế giễu là “câu lạc bộ ngoại trưởng” nữa; qua hội nghị này, nguyên thủ 4 nước tham dự có sự thừa nhận chưa từng có đối với ASEAN, và nung nấu ý chí chính trị, làm cho nó trở thành lực lượng quan trọng thúc đẩy ASEAN trưởng thành, càng tăng cường ý nguyện hợp tác. Thứ hai, tầm quan trọng của hợp tác kinh tế một khi đã được thể hiện cụ thể thành văn kiện mà các nước cùng ký sẽ trở thành mục tiêu lâu dài mà các nước ASEAN cùng cố gắng theo đuổi, thúc đẩy quan chức kinh tế các nước quán triệt theo mục tiêu này, và sau hội nghị sẽ hợp tác để thảo luận các vấn đề chi tiết.

2/ Những chướng ngại đối với hợp tác kinh tế của ASEAN

Một khi các quan chức kinh tế của các nước họp lại một nơi thảo luận chính thức phương án thực thi việc hợp tác kinh tế thì các nhân tố của tính giai đoạn khác nhau trong sự phát triển kinh tế của các nước ASEAN, tính trở ngại đối với sự hợp tác kinh tế trong khu vực sẽ lập tức thể hiện ra, làm cho phương án hợp tác kinh tế ở giai đoạn 2 vẫn thiếu những thành tựu thực chất quan trọng. gần như ngay từ lúc đầu, Singapore, một đảo quốc ít dân số nhất trong 4 nước ASEAN, luôn ở địa vị đi đầu về phát triển kinh tế, và nhanh chóng phát triển thành một trung tâm của ngành chế tạo và tiền tệ. Các nước ASEAN khác tuy cũng có sự phát triển thực chất về ngành chế tạo, nhưng về mặt xuất khẩu thì vẫn lấy nguyên liệu như cao su, thiếc, gỗ, thực phẩm và dầu thực vật… làm sản phẩm chủ yếu. Trong thực tế, trong quá trình phát triển kinh tế của các nước ASEAN, ngoại thương chiếm vị trí tương đối quan trọng. Bất kể trong mậu dịch xuất khẩu hay nhập khẩu hai nước Mỹ, Nhật đều là khách hàng lớn. Thí dụ năm 1985 hai nước này chiếm 45% tổng mức xuất khẩu và 35% tổng mức nhập khẩu của 5 nước ASEAN (kể cả Brunei). Thị trường chung châu Âu chiếm lần lượt 11% và 14% tổng mức xuất khẩu và nhập khẩu của ASEAN. Do giai đoạn phát triển kinh tế gần như giống nhau, nên tính đồng nhất về mặt xuất khẩu làm cho tính cạnh tranh lẫn nhau trong ngoại thương của các nước lớn hơn nhiều so với tính bổ sung lẫn cho nhau. Trái lại, mức mậu dịch trong khu vực của ASEAN lại vô cùng hạn chế (trừ Singapore, vì nước này có số lượng tái xuất lớn), chỉ chiếm khoảng 5%. Lại xét từ gáic độ dân số và thu nhập, ASEAN do các nước ở 3 cấp độ khác nhau hợp thành, mức độ phụ thuộc về thuế quan và bảo hộ thuế quan của các nước là khác nhau, ý nguyện đối với hợp tác kinh tế trong khu vực đương nhiên không giống nhau. Singapore và nước ASEAN gia nhập năm 1984 là Brunei có dân số ít nhất, thu nhập quốc dân cao nhất, mức độ phụ thuộc vào thuế quan thấp nhất, cũng không có khuynh hướng bảo hộ thuế quan nhất, ý nguyện tiêu giảm thuế quan và xúc tiến mậu dịch tự do trong khu vực cũng mạnh nhất. Ba nước cỡ vừa là Thái Lan, Malaysia và Philippines, vì từ năm 1970 kinh tế dần dần cất cánh, nên so với Indonesia là nước dân số đông nhất mà thu thập lại thấp nhất thì tương đối ít có chính sách bảo hộ thuế quan, nhưng đối với mậu dịch tự do trong khu vực lại giữ thái độ tương đối thận trọng.

Trên đây là các nhân tố quan trọng làm cho trong thời kỳ ASEAN mới thành lập, kế hoạch hợp tác kinh tế trước sau khó tiến triển, nhưng sau Hội nghị Thượng đỉnh Bali, việc hợp tác kinh tế mà ASEAN cần đẩy tới vẫn vì các nhân tố này mà bị trì hoãn hay là ít có thành tựu cụ thể có thể nhìn thấy rõ. Thí dụ năm 1977 các nước ASEAN đã đạt được Hiệp định Bố trí Mậu dịch Ưu đãi (The Preferential Trading Arrangements, PTA). Với hiệp định này, các nước sẽ trên cơ sở lựa chọn mà trao cho các nước thành viên khác sự ưu đãi về mậu dịch. Sự ưu đãi này sẽ áp dụng cho “các hàng hóa cơ bản, đặc biệt là gạo và dầu thô, các sản phẩm sản xuất theo kế hoạch công nghiệp của ASEAN; các sản phẩm có ích cho việc mở rộng mậu dịch trong khu vực của ASEAN và các sản phẩm có ích cho các nước ký hợp đồng”. Tuy hiệp định này đã 2 lần sửa lại vào năm 1980 và 1982, l2m cho hạng mục sản phẩm ưu đãi về thuế quan được các nước hội viên chấp nhận năm 1986 tăng tới 20.000 loại, nhưng ảnh hưởng đối với mức mậu dịch trong khu vực ASEAN lại cực kỳ hạn chế. Ngoài mức độ ưu đãi thuế quan hữu hạn và về mặt sản xuất thì bị hạn chế, khó tạo ra “ưu thế cạnh tranh đầy đủ”, những chướng ngại phi thuế quan càng quan trọng hơn. Ví như các nước vẫn tìm mọi cách định ra một số biện pháp bảo hộ, làm cho sản phẩm nước ngoài mất động cơ tìm kiếm thị trường nhập khẩu; hoặc ngay cả khi các doanh nhân quyết tâm và tìm ra được con đường nhập khẩu, các nhà sản xuất trong nước vẫn có thể tìm kiếm con đường khẩn cấp, lấy cớ là tạo ra thiệt hại nghiêm trọng cho công nghiệp bản địa để ngăn chặn nhập khẩu sản phẩm. Ngoài ra Dự án Công nghiệp ASEAN (ASEAN Industrial Project, AIP) do các nước thương lượng tiến hành sau Hội nghị Thượng đỉnh Bali, hiệu quả của nó cũng rất hạn chế. Dự án này phân phối một kế hoạch công nghiệp cỡ lớn cụ thể cho một nước thành viên, nước chủ đất này có mức vốn là 60%, 40% còn lại do 4 nước khác cùng đảm đương. Sản phẩm sản xuất theo dự án này được ưu đãi đi vào các nước ASEAN khác theo PTA.

Từ những khó khăn nói trên trong hợp tác kinh tế chúng ta phát hiện thấy, khi ASEAN bước vào giữa những năm 1980, dựa theo những cân nhắc lợi ích quốc gia, các nước chỉ có ý nguyện đầy đủ trong việc chia hưởng nguồn lực nhưng lại thiếu ý chí chính trị để tiến hành chia hưởng thị trường. Thành tựu tương đối cụ thể rõ rệt biểu hiện ở sự giao lưu và hợp tác có tính chức năng, bao gồm du lịch, thực phẩm, kỹ thuật nông nghiệp và lâm nghiệp, tài chính tiền tệ… Ngoài ra, sự hợp tác qua lại giữa các nước ASEAN nhằm bảo vệ lợi nhuận xuất khẩu hàng hóa của các nước hội viên và giá cả nguyên liệu ổn định cũng tương đối hiệu quả. Chẳng hạn trong Hiệp hội các nước sản xuất cao su tự nhiên (The Association of Natural Rubber Producing Countries) và Hiệp nghị Quặng Thiếc Quốc tế, ASEAN đều đóng vai trò quan trọng.

3/ Thành tựu về ngoại giao và chính trị

Tuy về mặt hợp tác kinh tế ít có gì hay ho để trình làng, nhưng về ngoại giao và chính trị, ASEAN lại có những biểu hiện tương đối nổi bật, bất luận đối với sự hình thành chủ nghĩa khu vực hay là sự phát huy lực lượng tập thể, nó đều có những thành tựu đáng kể. Thành tựu về mặt ngoại giao chủ yếu phản ánh ở việc ASEAN, với tư cách tập thể, đã xử lý thành công mối quan hệ của nó với các nước ngoài khu vực, làm cho ASEAN trở thành công cụ ngoại giao chung của các nước hội viên. Sự triển khai thứ giá trị có tính công cụ này của ASEAN không những làm cho cái tổ chức có tính khu vực này hội tụ được các thành viên của nó, mà như cựu Phó Thủ tướng Malaysia Dato Musa Hitam từng nói, nó trở thành một cơ thể có ý nghĩa đa tầng diện: “Là cộng đồng, là sự hài hòa các dân tộc (concert of nations), là tổ chức, là quá trình, cũng là tinh thần”. Nói cách khác, thành công của ASEAN về mặt ngoại giao đã làm cho ảnh hưởng tích cực của nó mở rộng tới các tầng diện chính trị, xã hội, kinh tế và tâm lý.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 24 & 25

Tổ chức khu vực ASEAN: Phát triển và thách đố – Phần III


2/ Mục tiêu và tính chất của ASEAN

Tranh chấp lãnh thổ giữa các nước trong khu vực tuy phá hoại cơ hội tồn tại của các tổ chức khu vực thuần Đông Nam Á nhưng cũng khiến lãnh tụ các nước thể hiện được sự cần thiết phải lập tổ chức khu vực mới; mặt khác, sự biến đổi của tình hình trong và ngoài khu vực cũng tạo những điều kiện thuận lợi cho việc thành lập tổ chức mới. Trước hết là vào ngày 30 tháng 9 năm 1965 ở Indonesia đã xảy ra chính biến quân sự. Souharto lên nắm quyền, chấm dứt chính quyền phong trào của Soukarno, về chính sách đối ngoại cũng thiên về thực tế và duy lý; chính thức kết thúc hành động “đối kháng” với Malaysia, làm cho tình hình căng thẳng bên trong Đông Nam Á được hòa dịu rất nhiều. Tiếp đó, cuộc chiến tranh ở Việt Nam gấp gáp leo thang, các nước Đông Nam Á bắt đầu tỏ ra hoài nghi giá trị của các cường quốc trong việc bảo đảm an ninh, hy vọng dùng phương thức tin cậy tâp thể để giải quyết các vấn đề trong khu vực, bởi vậy “cần có một bình phong vững mạnh để chống lại sự thao túng của chủ nghĩa đế quốc và một nhân tố ổn định có tính quyết định”. Môi trường trong và ngoài đang biến đổi gấp gáp này mà các nước cảm nhận được tính tất yếu bức thiết của một tổ chức khu vực mới.

Trải qua hội đàm ban đầu giữa Malaysia và Indonesia vào năm 1966, tháng 8 năm 1967, 5 nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan đã nhóm họp tại Bangkok và ngày 7 tháng 8 đã ký Tuyên ngôn Bangkok (The Bangkok Declaration) chính thức thành lập Hiệp hội các nước Đông Nam Á. Lời nói đầu của tuyên ngôn chỉ rõ:

Các nước Đông Nam Á đảm đương nhiệm vụ chủ yếu là tăng cường ổn định kinh tế và xã hội trong khu vực và ổn định hòa bình và phát triển tiến bộ của các nước, đồng thời cũng quyết bảo đảm ổn định và an ninh của các nước, tránh sự can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào của nước ngoài, nhằm duy trì tính đồng nhất quốc gia phù hợp với lỷ tưởng và kỳ vọng của dân tộc mình.

Khi trình bày mục tiêu và mục đích của ASEAN, Tuyên ngôn chỉ rõ những phương hướng nỗ lực như: “Thông qua nỗ lực tập thể, đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa”, “Dựa theo tinh thần tôn trọng chính nghĩa và pháp trị để xúc tiến hòa bình và ổn định trong khu vực”, và “trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, kỹ thuật, khoa học và hành chính, cùng có chung lợi ích, xúc tiến sự hợp tác tích cực và sự giúp đỡ lẫn nhau”. Qua những tuyên bố về mục tiêu này có thể phát hiện ra rằng ngay từ khi mới hình thành, ASEAN đã được định vị là một tổ chức khu vực về hợp tác kinh tế, xã hội và văn hóa; cùng có nghĩa là tuy định hướng chống cộng về cơ bản của tổ chức ASEAN là hoàn toàn rõ, và 4 trong số 5 nước thành viên sáng lập (trừ Indonesia) đều cho phép các cường quốc giữ lại các căn cứ quân sự, nhưng tổ chức này ngay từ khi bắt đầu hình thành đã cố gắng làm nổi bật tính chất “phi quân sự” của nó và làm mờ nhạt mối quan hệ giữa nó với Mỹ, làm cho nó trở thành một tổ chức thuần khu vực có tính tự chủ đầy đủ. Sự định vị tính chất tổ chức này chủ yếu có quan hệ mật thiết với hai nhận thức dưới đây: Thứ nhất, các nước lĩnh hội được rằng then chốt để đạt tới mục tiêu chính trị và an ninh là ở sự theo đuổi phát triển kinh tế; thứ hai, các nước Đông Nam Á phần lớn là các nước vừa và nhỏ, về mặt lực lượng quân sự đều không đủ lớn mạnh, nếu hình thành một liên minh quân sự, không những khó đạt tới nhu cầu về an ninh, trái lại dễ gây ra sự thù địch của các cường quốc bên ngoài.

Tuy trong Tuyên ngôn Bangkok, ASEAN đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tiến bộ kinh tế và phát triển văn hóa, xã hội chứ không phải là hợp tác chính trị, nhưng ngay từ khi vừa hình thành nó đã xuất hiện với diện mạo “tuyên ngôn” chứ không phải là “hiệp ước”, điều đó đã chỉ ra tính tạm thời của ASEAN và tính chất hẹp của cơ sở của nó. Thứ hai, về mặt kết cấu của tổ chức, nó thiếu một ban thư ký có quyền quyết sách và tổng hợp tin tức, mà lấy Hội nghị Ngoại trưởng mỗi năm một lần và Ủy ban thường vụ trực thuộc làm cơ quan tối cao, và đặt tại các nước các ban thư ký toàn quốc. Điều đó phản ánh đặc trưng phân tán quyền lực về mặt kết cấu của ASEAN. Cuối cùng, sự mẫn cảm của các nước về mặt ý thức chủ quyền cũng làm cho ASEAN khó triển khai lực lượng tổ chức (Organizational capability) của nó. Những nhân tố này làm cho Hội nghị Ngoại trưởng của ASEAN, ngoài việc trở thành cái gọi là “Câu lạc bộ ngoại trưởng” (a Club for foreign ministers), trước sau chỉ một mực nhấn mạnh sự cần thiết của việc thiết lập trật tự ưu tiên và tăng cường quyết tâm nghiên cứu, mà thiếu hành động hợp tác cụ thể. Do đó trong thời gian từ năm 1967 đến năm 1975, thành tựu cụ thể của ASEAN thực sự vô cùng hạn chế, thậm chí có học giả cho rằng thành tựu khiến người ta chú ý nhất là nó nghiễm nhiên “tồn tại lâu tới 9 năm”. Đánh giá theo quan điểm thực chất, trong giai đoạn này ASEAN quả cũng ít có gì hay họ để phô trương, chỉ có thể gọi là thời kỳ định kế hoạch và chuẩn bị.

3/ Giá trị nhiều mặt của ASEAN

Nhưng nhìn từ giác độ phát triển, thì thời gian 9 năm này là thời kỳ gây men quan trọng cho sự phát triển về sau của ASEAN, bởi vậy thời kỳ hình thành này có giá trị đa tầng diện của nó, đòi hỏi chúng ta khám phá. Nói về riêng từng nước, ý thức dân tộc trước kia của Indonesia là mạnh nhất, hành vi đối ngoại mà nó thể hiện cũng có tính bùng nổ nhất, ảnh hưởng đối với trật tự và hòa bình khu vực cũng lớn nhất. Một tổ chức ASEAN có tính thuần khu vực lại không đề cao tính chất chính trị của mình đã làm cho Indonesia  lần đầu tiên được gia nhập một diễn đàn có tính khu vực, tác động qua lại với các nước láng giềng khác trong khu vực, học tập quy phạm hành vi quốc tế, xác lập các giá trị các bên có thể cùng tiếp thu, và có lợi cho việc xác lập các quan hệ hòa bình và hợp tác trong khu vực; đồng thời trong thời kỳ đầu thành lập ASEAN, trên cơ sở các nước mặc nhiên thừa nhận Indonesia ở địa vị hàng đầu trong số các nước ngang nhau (first among equals), thừa nhận nó đóng vai trò người lãnh đạo, càng làm cho Indonesia biểu hiện ý nguyện tiết chế và điều hòa liên thông, điều đó không có gì khác là xác lập cho các nước một hình mẫu của việc dùng thái độ dung nhận và thương lượng để hòa giải va chạm và căng thẳng trong quan hệ qua lại với nhau. Bởi vậy, nếu nói ASEAN là một cơ chế xã hội hóa thì có thể nói chức năng xã hội hóa của nó biểu hiện vô cùng nổi bật ở hành vi chín muồi và thực tế của Indonesia. C. Kegley và L. Howell chỉ ra rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt xã hội, sự liên kết về thái độ và sự hợp tác giữa các chính phủ là hình thức liên kết chủ yếu của tổ chức ku vực. Chức năng liên kết của ASEAN ở giai đoạn thứ nhất chủ yếu là hai khoản đầu, và qua việc đạt được hai chức năng này mà đặt cơ sở cho sự hợp tác giữa các chính phủ ở giai đoạn hai.

ASEAN đặc biệt tiêu biểu cho một quá trình chính trị cùng tiếp nhận và trân trọng. Do tính bất đồng cao độ tồn tại trong khu vực và trình độ phát triển kinh tế khác nhau của các nước, việc thực hiện các kế hoạch không thể diễn ra theo cùng nhịp độ. Để tránh tình trạng vì đa số biểu quyết mà hy sinh lợi ích của một nước thành viên nào đó hay thậm chí tạo ra một sự va chạm trong nội bộ ASEAN nên ngay từ khi bắt đầu, ASEAN đã lấy hai đặc trưng thương lượng và nhất trí, vốn là hai đặc trưng chính trị truyền thống của Indonesia, làm cơ sở vận hành bên trong để có thể quan tâm tới bình đẳng và lợi ích của tất cả các nước. Đúng như (cựu) Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đã nói, “hai khái niệm quyết sách minh trí đó đã bồi đắp cho những con đường hợp tác khu vực (vốn) khác nhau bằng tính chất hiểu biết và điều hòa lẫn nhau. (Hai khái niệm này) góp ích rất lớn cho sự kết hợp chặt chẽ của ASEAN. (Cựu) Thủ tướng Malaysia Datuk Hussein Onn cũng chỉ ra rằng “thành công của ASEAN là nhờ vào con đường mà chúng tôi đã áp dụng khi suy xét và thực hiện các đề án kế hoạch hữu quan. Con đường này không chỉ lấy tính có thể mong muốn của kế hoạch làm cơ sở mà còn suy xét tới tính khả thi lẫn nhau về mặt mục đích của kế hoạch này. Trước nay luôn là nguyên tắc chỉ đạo của ASEAN. Theo tôi, nó vẫn có thể và phải tiếp tục là kim chỉ nam hành động của chúng ta trong tương lai”.

Dưới sự chỉ đạo của nguyên tắc thương lượng và nhất trí, bất cứ quyết sách nào trong nội bộ ASEAN cũng đều phải tuân thủ tiền đề nhất trí quyết định, do đó không có lập trường hoặc lợi ích của nước nào bị hy sinh, nội bộ quan tâm đến quá trình và sự hài hòa, như vậy thì đương nhiên không sợ vì một vấn đề nào đó mà làm cho ASEAN tan rã. Với quá trình chính trị như vậy, ít nhất xuất hiện hai điểm ảnh hưởng: thứ nhất, các nước thường hay tôn trọng sự đoàn kết về lời lẽ hay từ ngữ chứ không phải là về hành động thực chất, bởi vậy mỗi khi đụng chạm đến những vấn đề kinh tế cơ bản liên quan tới hợp tác khu vực thì vào những thời điểm then chốt các nước thường né tránh những vấn đề nhạy cảm này. Thứ “thủ thuật né tránh chính trị” (politics of avoidance) này tuy ảnh hưởng tới sự tiến triển thực chất của ASEAN nhưng lại là nguyên nhân chủ yếu làm cho ASEAN có thể tồn tại trong thời kỳ hình thành. Thứ hai, các nước thành viên dần áp dụng được tinh thần thực tế trong hợp tác kinh tế, dùng tinh thần thận trọng và tiệm tiến để chờ đợi thời kỳ chín muồi xuất hiện. Như Lý Quang Diệu đã nói năm 1972, các nước hiểu rằng mục tiêu của ASEAN lúc bấy giờ là tăng cường và củng cố kinh tế trong nước chứ không phải là liên kết kinh tế khu vực, “do vậy bất cứ kế hoạch nào của ASEAN, nếu không thích hợp hoặc không góp phần củng cố sự phát triển kinh tế của 5 nước (ASEAN), cũng đều là không thực tế. Đương nhiên, tuy hiệu quả hợp tác kinh tế còn cực kỳ hạn chế, nhưng do về mặt chính trị các nước thường xuyên tiếp xúc với nhau, tự nhiên cũng tiếp xúc giao lưu giữa các nước ASEAN về khoa học, kỹ thuật, văn hóa, đào tạo và các mặt khác, dần hình thành một mạng lưới hoạt động hợp tác, làm nổi lên những giá trị hợp tác ngày càng gia tăng, có ích rất nhiều cho sự hình thành chủ nghĩa khu vực ở Đông Nam Á.

Một trong những động cơ thành lập ASEAN là tăng cường tính tự chủ khu vực và hy vọng dùng lực lượng tập thể tạo ra cảm giác thỏa mãn và an ninh về tâm lý cho các nước. Do vậy dù trong thời kỳ hình thành nó thiếu những thành tựu thực chất cụ thể, chúng ta vẫn có thể nhận thấy dấu vết của việc các nước tích cực lợi dụng ASEAN trong thời kỳ này làm công cụ kinh tế, ngoại giao quốc tế. Trước hết là tháng 6 năm 1972, ASEAN và thị trường Chung châu Âu đã trở thành bạn đối thoại, nó bắt đầu dùng lực lượng tập thể đòi đối phương đồng ý mở ngỏ thị trường. Tiếp đó tháng 4 năm 1973 tại Hội nghị Bộ trưởng thứ sáu, đã quyết định tăng cường giá trị và địa vị có tính công cụ của ASEAN trong các cuộc đàm phán tập thể về kinh tế quốc tế, và lấy đó làm cơ sở, tiến hành đàm phán thành công với Nhật Bản về sản xuất cao su tổng hợp, đã đạt được sự chấp nhận của Nhật Bản là trong quá trình sản xuất cao su tổng hợp, sẽ cân nhắc tới lợi ích kinh tế của các nước ASEAN. Việc thực hiện mối quan hệ bè bạn đối thạoi đó đến những năm 1980 về sau đã mở rộng thành hiện tượng được thiết chế hóa của ASEAN, được quốc tế rộng rãi coi trọng, có tác dụng thúc đẩy khá lớn đối với việc tăng cường chủ nghĩa khu vực Đông Nam Á và cảm giác về sự đồng nhất của các nước thành viên đối với ASEAN.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 24 & 25

Tổ chức khu vực ASEAN: Phát triển và thách đố – Phần II


2/ Những vấn đề nan giải của các tổ chức khu vực của thế giới thứ ba

Về vai trò của tổ chức quốc tế quan trọng như vậy, lại có thể tạo ra nhiều nguồn công cộng, do đó các học giả chú ý đến tình hình là các nước thế giới thứ ba thiếu tổ chức thích đáng làm cơ sở để động viên các nguồn lực của mình. Marshall Singer chỉ ra rằng, sự khác biệt to lớn về lực lượng giữa các nước công nghiệp và các nước đang phát triển chủ yếu là do các nước đang phát triển bất lực vì thiếu của cải, tổ chức và địa vị. Sự khác biệt này làm cho kẻ mạnh càng mạnh thêm, kẻ yếu càng thêm yếu. Singer cho rằng chỉ có biến đổi bất kỳ một biến số nào trong số các biến số nêu trên mới có thể tạo ra được cơ hội để thay đổi sự chênh lệch này. Nguyên nhân làm cho các nước thế giới thứ ba tương đối ít tham gia vào các tổ chức quốc tế, ngoài việc chúng mới giành được độc lập, thiếu kinh nghiệm hoạt động quốc tế, chưa thể lĩnh hội đầy đủ lợi ích của việc gia nhập tổ chức quốc tế, thì tính phân rẽ cực cao về mặt lịch sử, văn hóa và địa lý giữa chúng cũng ảnh hưởng tới ý nguyện tham gia tổ chức khu vực và tiến hành hợp tác. Nhân tố quan trọng nhất cản trở ý nguyện của cac nước thế giới thứ ba tham gia các tổ chức quốc tế bắt nguồn từ sự cân nhắc các nhân tố chính trị và kinh tế. Nhiều nước đang phát triển vẫn ở trong giai đoạn tìm kiếm tính đồng nhất quốc gia, bởi vậy bất kỳ hành động nào có thể ảnh hưởng tới chủ quyền mà họ mới giành được gần như đều tất yếu gây ra phản ứng quyết liệt, hơn nữa vấn đề cương giới cũng thường gây ra tranh chấp. Về mặt kinh tế, nhiều nước đang phát triển vẫn ở trong giai đoạn bảo hộ, giữa giới doanh nghiệp và chính khách có mối quan hệ liên minh vững mạnh, làm cho những lợi ích kinh tế đặc thù thường được bảo đảm dưới cái ô bảo hộ “lợi ích quốc gia” Các nhân tố chính trị kinh tế này đều tất nhiên ảnh hưởng đến sự hợp tác giữa các nước, đến sự hợp thành và phát triển của các tổ chức quốc tế. Bruce Russett, khi đánh giá sức hội tụ của các tổ chức khu vực, đã nêu ra 5 nhân tố có tính tương quan: tính đồng nhất về xã hội và văn hóa trong khu vực; trong khu vực có mức độ thái độ hay hành vi đối ngoại tương đồng; mức độ phụ thuộc lẫn nhau về chính trị trong khu vực; mức độ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế; tình hình tiếp giáp nhau về địa lý trong khu vực. Mức độ bất đồng giữa các nước thế giới thứ ba về 5 nhân tố này tương đối rõ rệt. Đây là lý do quan trọng làm cho tổ chức khu vực của các nước thế giới thứ ba tương đối ít thành công

Những năm gần đây các hoạt động tổ chức khu vực của các nước thế giới thứ ba, như thử nghiệm liên kết kinh tế… ngày càng diễn ra nhiều. Về nguyên nhân, ngoài việc các nước công nghiệp phương Tây hạn chế nhập khẩu làm cho viễn cảnh xuất khẩu sản phẩm ngành chế tạo của các nước thế giới thứ ba bị ảnh hưởng, buộc các nước đang phát triển phải chuyển sang khuyến khích dùng thay thế nhập khẩu và hợp tác khu vực chặt chẽ hơn để thúc đẩy phát triển kinh tế và dựa vào đó để khống chế việc phụ thuộc vào các nước công nghiệp, thì xu thế của Tây Âu và Bắc Mỹ những năm gần đây ngày càng tiến nhanh tới liên kết kinh tế cũng đưa lại những kích thích mới cho hoạt động tổ chức khu vực của các nước thế giới thứ ba, từ đó làm cho tổ chức khu vực cũng phải nỗ lực theo phương hướng mậu dịch tự do trong khu vực. Nhưng những vấn đề nan giải về mặt chính trị và kinh tế tồn tại giữa các nước thế giới thứ ba và tính bất đồng cao độ thể hiện qua 5 nhân tố đề cập ở trên và làm cho khi quyết định các vấn đề quan trọng trong nội bộ, các tổ chức khu vực cần từ bỏ phương thức quyết định theo đa số vẫn được áp dụng phổ biến trong nguyên tắc dân chủ, mà lấy việc đạt tới nhất trí bằng phương thức liên hợp và hiệp thương làm cơ sở cho quyết định. Mô hình quyết sách này của tổ chức khu vực nhằm mục đích bảo đảm cho quyền và lợi ích của thiểu số, tránh những nguyên cớ dẫn đến phá hoại sự phát triển thậm chí sự sống còn của tổ chức trong tình hình có đối lập nhau một cách công khai hoặc ngấm ngầm. Mô hình quyết sách này quả đã làm cho một số lợi ích bất đồng nào đó bên trong các tổ chức khu vực được điều hòa, cũng có lợi cho sự sống còn của tổ chức, nhưng cái giá phải trả là: tổ chức gần như khó đạt tới được nghị quyết trong những vấn đề thực chất quan trọng, ảnh hưởng tới sự phát triển của tổ chức.

Ngoài thách đố đối với sự phát triển của tổ chức, hiệu suất bên trong tổ chức cũng là tiêu điểm được chú ý. Thành viên của Ban Thư ký không ngừng được mở rộng, làm cho hệ thống quan liêu phình ra, sự quan tâm tới vấn đề hiệu suất cũng theo đó mà tăng lên. Sự thử thách về mặt hiệu suất này, sau khi các nươc thành viên của tổ chức tăng lên, càng thể hiện rõ hơn. Cùng với sự gia tăng số nước thành viên, chi phí cần thiết cho sự vận hành của tổ chức khu vực cũng theo đó mà tăng lên, nhưng lợi ích xuất ra lại có chiều hướng giảm đi. Bởi vì sau khi số nước thành viên tăng lên, các nước sẽ ngày càng khó đạt tới quyết nghị, cũng sẽ càng khó đưa vào cân nhắc lợi ích của tất cả các nước thành viên. Lúc này liệu địa vị chi phối của các nước lớn trước đây có bị một nhóm nước vừa và nhỏ thay thế, dẫn đến cục diện không ai muốn cung cấp các nguồn công cộng hay không – đó là một sự thách đố tiềm tàng khác. Tình hình này, đặc biệt là trong quá trình liên kết kinh tế, thường không tránh khỏi làm nẩy sinh vấn đề hiệu ứng phân phối giữa các nước, tức là cái gọi là “hiệu ứng phân cực hóa” (polarization effect). Sự khác biệt giữa các nước thành viên về mức thu nhập và trình độ công nghiệp hóa sẽ làm xuất hiện hiện tượng lưỡng cực hóa, có lợi cho các nước vừa và nhỏ, tương đối tiến triển; trái lại, xét về lợi ích so sánh thì bất lợi cho các nước lớn, tương đối lạc hậu. Lúc này việc hóa giải xung đột nội bộ sẽ khó khăn hơn so với trước đó.

II/ Thời kỳ hình thành của ASEAN (1966 – 1975)

1/ Nhân tố chính trị và kinh tế của tổ chức khu vực Đông Nam Á

Xét điều kiện hình thành và phát triển của các tổ chức khu vực, thì khu vực Đông Nam Á phải đối mặt với một môi trường chính trị và nhân văn bất đồng đa nguyên, làm cho các nước trong khu vực ít có quan niệm chủ nghĩa khu vực, càng ít kinh nghiệm cùng tụ tập tồn tại hòa bình trong một nhà. Về mặt chính trị, trừ Thái Lan luôn giữ được địa vị nhà nước chủ quyền của mình, các nước Đông Nam Á đều từng nếm đủ kinh nghiệm đau khổ thê thảm của ách thống trị thực dân của các nước Âu – Mỹ. Ách thống trị thực dân của các cường quốc, ngoài việc tạo ra trở ngại cho sự hình thành ý thức khu vực và sự phát triển của tổ chức, cũng làm cho sau khi độc lập các nước Đông Nam Á nghi kỵ lẫn nhau, khó bồi đắp nên một thứ văn hóa khu vực có thể tin cậy. Các cuộc tranh chấp ngoại giao và cương giới giữa các nước càng làm cho thứ nghi kỵ không tin cậy này mang thêm thành phần lo sợ và thù địch, tranh chấp giữa Malaysia và Philippines về chủ quyền Sabah và phong trào đối kháng do Indonesia tiến hành sau khi Liên bang Malaysia thành lập… đều là những thí dụ rõ rệt. Bối cảnh chủ nghĩa thực dân làm cho sau khi các nước trong khu vực độc lập thì tình cảm chủ nghĩa dân tộc dâng cao, đặc biệt tích cực cuồng nhiệt và mẫn cảm đối với việc duy trì chủ quyền chính trị. Tất cả những điều đó đều bất lợi cho việc thành lập tổ chức khu vực. Về mặt nhân văn thì giai đoạn phát triển kinh tế của các nước, trừ Singapore, phần lớn vẫn ở trong thời kỳ phát triển ban đầu, lấy ngành chế tạo làm công cụ sản xuất chủ yếu, tính cạnh tranh lẫn nhau cao hơn nhiều so với tính bổ sung cho nhau; mức độ phân biệt về chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo giữa các nước trong khu vực đương nhiên cũng làm tăng những tính bất đồng nói trên.

Đặc trưng tính bất đồng của khu vực Đông Nam Á làm cho sự phát triển của tổ chức khu vực không chỉ chậm chạp, lớp lớp khó khăn, mà vào thời kỳ đầu sau khi thế chiến II kết thúc, vẫn không thể thoát khỏi ảnh hưởng của các cường quốc phương Tây, và vì lấy việc phối hợp môi trường thời kỳ chiến tranh lạnh làm mục đích, do đó mang màu sắc chống cộng đậm nét. Tổ chức Công ước Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization) do Mỹ chủ đạo, trừ Thái Lan và Philippines là nước thành viên trong khu vực, còn lại đều là nước đồng minh của Mỹ, cũng ít có ích cho việc thúc đẩy hợp tác khu vực. Hội đồng châu Á – Thái Bình Dương (Asia Pacific Council, ASPAC) thành lập năm 1966 cũng là một tổ chức chống cộng trong khu vực, nhưng cũng chưa thể giành được sự ủng hộ rộng rãi, và năm 1972 chính thức giải thể. Đầu năm 1960 có hai tổ chức khu vực được thành lập:

Một là, Hiệp hội Đông Nam Á (the Association for Southeast Asia), do 3 nước Malaya, Philippines và Thái Lan thành lập năm 1961; hai là Liên hợp Ma – Phi – In (MAPHILINDO) do 3 nước thuộc dân tộc Mã Lai là Malaya, Philippines và Indonesia hợp thành vào năm 1963. Sở dĩ hai tổ chức khu vực này là quan trọng do thành viên của chúng đều là các nước trong khu vực, và tuy cả hai đều không tiếp tục tồn tại về sau, nhưng ít nhất chúng là tiên phong của tổ chức khu vực thuần Đông Nam Á, đặc biệt là Liên hợp Ma-Phi-In đã lần đầu tiên thu hút một nước lớn như Indonesia vào một tổ chức khu vực. Đáng chú ý là hai tổ chức trong khu vực này đều do tranh chấp lãnh thổ giữa các nước cùng hội viên mà cuối cùng giải thể. Nhưng cũng do kinh nghiệm thất bại của hai tổ chức này mà Hiệp hội các nước Đông Nam Á sau này có thể ghi nhớ bài học để khỏi đi trở lại vào vết xe thất bại cũ.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 24 & 25

Tổ chức khu vực ASEAN: Phát triển và thách đố – Phần I


Li GuoQing

Vào đầu

Hiệp hội các nước Đông Nam Á (Association of Southeast Asia Nations, gọi tắt là ASEAN) là một thành viên tương đối mới trong môi trường chính trị quốc tế ở châu Á. Gần 30 năm trước, khi mới thành lập, nó không hề được nghĩ là sẽ trở thành một tổ chức khu vực có sức sống có thể thể hiện chức năng của mình. Nhưng trải qua những biến thiên của môi trường quốc tế và khu vực, từ một sự kết hợp thuần kinh tế, văn hóa và xã hội, đến nay ASEAN đã phát triển thành một cơ thể đa diện, có thêm cả những cân nhắc về chính trị và an ninh là một lực lượng tập thể khá được coi trọng trong cộng đồng quốc tế. Mục đích của bài này là truy ngược lên bối cảnh thành lập tổ chức ASEAN, phân tích các nhân tố phát triển của nó, và tìm xem sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, trước sự biến đổi của các nhân tố môi trường trong và ngoài khu vực, ASEAN sẽ phải đương đầu với những thách đố nào.

Toàn bài chia thành 5 phần. Phần một từ cấp độ lý luận tìm hiểu chức năng và sự phát triển của các tổ chức quốc tế và khu vực, tiếp đó truy tìm những khó khăn mà trong thời kỳ mới thành lập ASEAN phải đương đầu và các chức năng mà nó thể hiện; phần ba tìm hiểu hợp tác kinh tế trong thời kỳ phát triển của ASEAN và những thành tựu về chính trị và ngoại giao của nó; ASEAN sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc đã bước vào thời kỳ thách đố, ở phần này phân tích những thách đố mà ASEAN phải đối mặt. Cuối cùng là những đánh giá có tính kết luận.

I/ Chức năng, sự phát triển và những thách đố đối với các tổ chức quốc tế và khu vực

1/ Những nhân tố cuốn hút có tính chức năng của tổ chức quốc tế

Từ sau khi Thế chiến II kết thúc, sự hình thành và phát triển của các tổ chức quốc tế dần dần trở thành phong khí, thành một á hệ thống được coi trọng trong thị trường chính trị quốc tế. Qua nhiều bằng chứng có tính kinh nghiệm, chúng ta có thể thấy các tổ chức quốc tế thành công phần lớn đều biết thực hiện các chức năng quan trọng, do đó thể hiện càng nổi bật giá trị sự tồn tại của các tổ chức siêu quốc gia và nhân tố thu hút các nước gia nhập. Các tổ chức quốc tế có thể cung cấp nguồn tài chính công cộng và dịch vụ, phối hợp hoạt động của các diễn viên trong hệ thống quốc tế và tạo ra một môi trường có tính chế độ cho việc thành lập liên minh. Nói cách khác, lý do chủ yếu thúc đẩy các nước gia nhập các tổ chức quốc tế là dựa trên sự cân nhắc chính trị và kinh tế quốc tế, bởi vì những thứ “xuất khẩu” mà các tổ chức siêu quốc gia này sản xuất ra là những thứ mà các nước thành viên không thể hoặc không biết cách sản xuất, hoặc chỉ có thể sản xuất trong tình hình không thật hiệu quả. Thí dụ pháp luật và trật tự có thể được coi là nguồn công cộng đóng vai trò bổ sung cực kỳ quan trọng cho ngoại thương. Không có nguồn công cộng này ngoại thương sẽ gặp tổn thất nghiêm trọng. Điều đó cũng có nghĩa là tuy bất cứ tổ chức quốc tế nào cũng đều vận hành dựa trên những “lợi ích chung” chỉnh thể, nhưng bất luận lợi ích chỉnh thể là bao nhiêu, các nước có gia nhập một tổ chức nào đó hay không, chủ yếu vẫn căn cứ vào kết quả cân nhắc cái mà người ta gọi là “lợi ích quốc gia” chứ không đánh giá bằng lợi ích của cả tổ chức. Bởi vậy nếu những nước thành viên nào đó cân nhắc thấy rằng gia nhập tổ chức đó không phù hợp với lợi ích của họ thì dù sự tồn tại của tổ chức này có lợi đối với chỉnh thể, những nước này sẽ vẫn không gia nhập. Khó khăn và thách đố đối với sự trưởng thành của các tổ chức quốc tế là ở đây, bởi vì nó phải đồng thời lo toan cho lợi ích của cả chỉnh thể lẫn các nước thành viên cá biệt. Đáng chú ý hơn là theo quan điểm của trường phái sự lựa chọn chung (public choice), trong thực tế không có cái gọi là “lợi ích quốc gia”, nhưng nó được các chính khách và các quan chức dùng để biện hộ cho lợi ích cá nhân của họ; mà một phần của thứ lợi ích cá nhân này cũng có thể được coi là lợi ích quốc gia. Chúng ta có thể nói nếu người quyết sách quan trọng của một nước phát hiện thấy mình không được lợi từ một tổ chức quốc tế nào đấy, thì nước đó sẽ không gia nhập tổ chức ấy. Bởi vậy việc các tổ chức quốc tế tạo ra kích thích tố có tính lựa chọn cho các nước thành viên của chúng đã trở thành một hiện tượng khá phổ biến.

Lợi ích mà một tổ chức quốc tế có thể tạo ra cho các nước thành viên của mình có thể xem xét từ vai trò của nó trong hệ thống quốc tế. Thường được chú ý nhất là tổ chức quốc tế bị các nước thành viên của nó coi là công cụ theo đuổi một mục tiêu chính sách ngoại giao nào đó. Khi một tổ chức giữa chính phủ và chính phủ được thành lập điều đó chẳng qua chỉ có nghĩa là giữa các nước thành viên đã đạt được một hiệp định hạn chế, tức là phải lợi dụng một hình thức chế độ làm cho hoạt động của quốc gia ở một mặt nào đó được tiến hành với tính cách của nhiều bên. Liên hợp quốc khi mới thành lập thường được coi là một công cụ ngoại giao của Mỹ; trong cuộc khủng hoảng Vùng Vịnh 1991, hành động của Mỹ cùng dùng nghị quyết của Liên hợp quốc để có được tính chính đáng của nó. Rồi các tổ chức có tính khu vực mỗi ngày một nhiều, giá trị chủ yếu của chúng cũng là chú trọng tăng cường kinh tế đối ngoại và ngoại giao của các nước hội viên. Thứ hai, tổ chức quốc tế có thể được coi là trường đua hay diễn đàn đẻ ra hành động. Nói cách khác, “tổ chức quốc tế cung cấp nơi gặp gỡ cho các hội viên, để cho các nước tụ tập một chỗ cùng nhau thảo luận, tranh biện, hợp tác hoặc không nhất trí”. Như Stanley Hoffmann đã chỉ ra khi xem xét các vai trò của Liên hợp quốc.

Là một trường đua và một khoản đặt cọc bất luận trong chiến tranh lạnh hay trong chiến tranh chống thực dân, tổ chức Liên hợp quốc là tương đối hữu dung đối với mỗi đoàn thể có tính cạnh tranh đang nôn nóng cần một diễn đàn cho quan điểm của mình và tăng cường chính sách của mình về mặt ngoại giao.

Trong những năm 1970 Liên hợp quốc và các cơ cấu tương quan của nó thường được các nước thế giới thứ ba coi là trường hợp biểu đạt quan điểm của họ đối với trật tự kinh tế quốc tế mới: sau chiến tranh Trung Đông tháng 10/1973, các nước sản xuất dầu mỏ Trung Đông thuyết phục các nước thành viên Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) nâng ồ ạt giá dầu. Điều đó đủ nói lên rằng các tổ chức quốc tế có thể thông qua sức ngưng tụ bên trong để triển khai thành công lực lượng tập thể của nó.

Qua vai trò công cụ và diễn đàn của các tổ chức quốc tế, có thể thấy chúng có đóng góp tương đối cho hoạt động có tính quy phạm của hệ thống chính trị quốc tế. Thí dụ trong lĩnh vực các công việc kinh tế, các tổ chức quốc tế đã giúp đỡ thiết lập quy phạm hành vi của các nước. Trong quá trình vận hành của kinh tế thế giới, Liên hợp quốc và các cơ cấu trực thuộc nó trước sau vẫn đóng vai trò càng then chốt. Khi các nước thành viên tình nguyện tiếp nhận hoặc tôn trọng quy phạm do một tổ chức quốc tế nào đó xác lập và chịu ràng buộc về hành vi, điều đó có nghĩa là tổ chức đó đã đạt tới trạng thái thiết chế hóa, sự sống còn và phát triển của nó đã được bảo đảm bởi một quy phạm có tính tập thể đã nổi rõ. Một tổ chức quốc tế có chiều hướng thiết chế hóa, kinh qua sự tác động, giao lưu và tranh biện lẫn nhau giữa các nước thành viên bên trong nó không chỉ là điều kiện cần thiết để tổ chức đó phát triển hơn nữa, đồng thời có thể còn góp phần tăng cường cảm giác đồng nhất quốc gia, đặc biệt đối với việc hoàn thành sự nghiệp lớn xây dựng đất nước (state-building) của các nước thế giới thứ ba thì nó càng có tác dụng tích cực. Ở các tổ chức có tính khu vực, hiện tượng tăng cường lẫn nhau giữa sự phát triển tổ chức và sự củng cố tính đồng nhất quốc gia này biểu hiện càng rõ rệt. Do đó giữa sự hình thành tổ chức khu vực và địa vị của quốc gia thường là một thứ quan hệ cộng sinh ủng hộ lẫn nhau, vận hành liên tục tổ chức khu vực có nghĩa là tiến hành quá trình khu vực hóa. Nó không những sẽ hình thành tính quy phạm tập thể, thúc đẩy sự cam kết mặc nhiên giữa các nước thành viên, củng cố sự đoàn kết lẫn nhau giữa chúng, mà còn ảnh hưởng tới hành vi của các nước thành viên, góp phần vào việc xác lập trật tự khu vực. Đặc biệt đáng chú ý là, bất luận tổ chức quốc tế hay tổ chức khu vực đều cần tự duy trì (self-maintainence) và tiến hành điểu chỉnh để ứng phó với sự biến đổi của môi trường. Bởi vậy, ngoài việc cần chuyển đổi yêu cầu của bộ phận nhập vào thành nguồn chung của mặt xuất ra, các tổ chức đồng thời còn cần thu hút các thành viên mới để duy trì sức sống của tổ chức và điều kiện phát triển. Trước sự biến đổi của môi trường, nó cũng cần tạo cơ hội cho các nước thành viên kiến tập, làm cho các nước có thể thông qua quá trình xã hội hóa, có biểu hiện hành vi phù hợp với quy phạm của cộng đồng quốc tế hay là tiếp nhận những hệ thống giá trị chung nào đó.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 24 & 25

Catalunya tuyên bố độc lập: Khúc dạo đầu cho sự chia rẽ lớn của châu Âu


Ngày 27/10, trong tình hình không có bất cứ dấu hiệu nào báo trước, các nghị sĩ vùng Catalunya đã nhanh chóng tuyên bố độc lập sau một cuộc bỏ phiếu kín. Trong vòng chưa đầy nửa tiếng, Thượng viện Tây Ban Nha đã phê chuẩn khởi động điều 155 “nằm ngủ yên” trong Hiến pháp Tây Ban Nha gần 40 năm qua, điều khoản này ủng hộ chính quyền trung ương nhanh chóng bãi miễn thủ hiến và chính quyền tự trị trong tình hình hiện nay, đồng thời thực thi tiếp quản trực tiếp đối với Catalunya.

Ngày 30/10, Chính phủ Tây Ban Nha đã tiếp quản quyền tự trị của Catalunya, đồng thời cho biết thủ hiến Puigdemont đã chạy trốn tới Bỉ. Tòa án Tây Ban Nha cũng cho biết sẽ khởi tố các tội danh nổi loạn, kích động và lạm dụng công quỹ đối với Puigdemont.

Xung quanh tình hình châu Âu, Tây Ban Nha cũng như Catalunya gần đây, phóng viên trang mạng ippreview.com (-) đã có cuộc trao đổi với giáo sư Trịnh Vĩnh Niên (+), Viện trưởng Viện nghiên cứu Đông Á, Đại học quốc gia Singapore về vấn đề này.

Sự phát triển kinh tế của các khu vực khác nhau trong cùng một nước không đồng đều là việc rất bình thường, nhưng vì sao việc vùng Catalunya có khuynh hướng độc lập do không muốn hỗ trợ cho các khu vực lạc hậu hơn lại là một việc đặc biệt nghiêm trọng ở châu Âu?

– Catalunya là khu vực từ lâu đã có khuynh hướng đi theo chế độ độc lập tự trị ở châu Âu. Trong cuộc trưng cầu dân ý độc lập của vùng Catalunya, khẩu hiệu động viên quan trọng nhất của các chính gia địa phương là họ đã đóng góp hơn 20% GDP cho Tây Ban Nha chỉ với 16% dân số của cả nước, nhưng lại nhận được chưa tới 14% sự hỗ trợ tài chính từ chính quyền trung ương, họ không muốn tiếp tục bị chính quyền trung ương “bóc lột”. Lý do này khiến nhiều người có thể hiểu và cũng thấy khó hiểu. Điều có thể hiểu là nếu người dân vùng Catalunya thực sự phải hỗ trợ trong thời gian dài cho các khu vực nghèo khó, xét về mặt tài chính đơn thuần quả thực hoàn toàn là bất công, thì họ tìm kiếm độc lập là có thể hiểu; điều khó hiểu là, ngoài một số ít quốc gia dân tộc, sự phát triển kinh tế của các dân tộc và các khu vực tương ứng ở phần lớn các nước là không đồng đều, người dân ở các khu vực giàu có nộp thuế cao hơn người dân các khu vực tương đối lạc hậu là bình thường, tại sao mâu thuẫn giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương ở các khu vực giàu có thuộc châu Âu lại gay gắt đến như vậy? Ở châu Âu, không riêng Catalunya, các khu vực giàu có ở Pháp, Bỉ, Italy những năm gần đây cũng đang bắt đầu tìm kiếm quyền tự trị thậm chí độc lập. Ngày 22/10, người dân của hai khu vực Lombardy à Veneto thuộc miền Bắc Italy đã đi bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu ý dân về việc đòi quyền tự trị. Ông có thể phân tích các lý do xảy ra hiện tượng này ở châu Âu?

+ Lý do ở đây cũng rất phức tạp. Theo tôi có ba lý do rất quan trọng.

Thứ nhất là nguyên nhân mang tính kết cấu, tức là mâu thuẫn giữa các quốc gia có chủ quyền ở châu Âu và giữa các nước liên minh châu Âu (EU). Sở dĩ trong những năm gần đây châu Âu xuất hiện xu thế các khu vực kinh tế phát triển dồn dập tìm kiếm quyền tự trị nhiều hơn, thậm chí xu hướng độc lập là có liên quan tới việc nhiều chức năng chính của chính phủ trung ương đã được nhượng cho các tổ chức siêu quốc gia của châu Âu sau khi thực hiện quá trình hội nhập. Cái gọi là tiến trình hội nhập châu Âu có 3 nội dung quan trọng: EU, đồng euro và Schengen.

Hội nhập châu Âu có nghĩa là các nước thành viên sẽ thống nhất chính sách và vận hành phối hợp trong các lĩnh vực kinh tế – thương mại, công nghệ tiên tiến (năng lượng nguyên tử), giáo dục và khoa học công nghệ; Khu vực đồng euro (Eurozone) có nghĩa là các thành viên trong khu vực thống nhất chuyển quyền phát hành tiền cho Ngân hàng trung ương châu Âu để phát hành đồng tiền chung euro; các nước Schengen là chỉ biên giới thống nhất với bên ngoài, song vẫn có một số trường hợp đặc biệt. Một quốc gia quan trọng của châu Âu là Anh gia nhập EU, nhưng không tham gia khu vực Schengen và Eurozone, vì vậy cuộc đàm phán ra khỏi EU của người Anh chỉ cần đàm phán về việc ra khỏi EU. Một nước lớn tài chính khác của châu Âu là Thụy Sĩ chỉ tham gia khu vực Schengen, không gia nhập EU và Eurozone. Những năm gần đây, một số vùng ở các nước châu Âu mà chủ yếu là ở Italy, Pháp, Tây Ban Nha và Bỉ đã tìm kiếm quyền tự trị thậm chí là độc lập do sự phát triển kinh tế không đồng đều (cuộc trưng cầu dân ý ở Scotland thuộc Anh không phải là do nền kinh tế của vùng Scotland ưu việt hơn phần còn lại của Anh). Điểm chung của các quốc gia này là họ đều là những nước hội nhập châu Âu triệt để nhất như gia nhập EU, Eurozone và hiệp ước Schengen. Chính phủ trung ương của các nước này sẽ không còn các chức năng quan trọng của quốc gia chủ quyền như điều tiết và khống chế tiền tệ, quản lý biên giới và điều tiết thương mại. Ví dụ như Catalunya có 3 ngành trụ cột là bất động sản, thương mại xuất khẩu và ngành du lịch. Trước khi Tây Ban Nha hội nhập châu Âu, chính sách tiền tệ của chính quyền trung ương sẽ có ảnh hưởng lớn đến giá bất động sản, chính sách thuế quan sẽ có tác động đến thương mại xuất nhập khẩu, việc quản lý biên giới có liên quan chặt chẽ với ngành du lịch địa phương. Vì vậy, trước khi hội nhập châu Âu, Chính phủ trung ương Tây Ban Nha và chính quyền địa phương Catalunya có mối quan hệ chặt chẽ, mặc dù chính quyền địa phương phải nộp thuế ở mức tương đối cao hơn so với các khu vực khác, nhưng đồng thời chính quyền trung ương phải có nghĩa vụ điều tiết kinh tế vĩ mô và quản lý biên giới để đảm bảo sự phát triển cho vùng Catalunya; quá trình chính quyền trung ương ban hành và thực hiện những sự điều tiết vĩ mô này cũng là quá trình họ kiểm soát và đọ sức với chính quyền địa phương. Sau khi Tây Ban Nha hội nhập châu Âu, không có sự thay đổi đáng kể về thuế của vùng Catalunya, nhưng chính quyền trung ương lại không còn nhiều chức năng như kiểm soát tiền tệ, chính sách thuế và quản lý biên giới với tư cách quốc gia có chủ quyền. Khi đó, chính quyền trung ương không chỉ bị suy yếu về mặt năng lực trong cuộc đọ sức với địa phương, mà còn trở nên “rất đáng ghét” bởi vì dường như vẫn tiếp tục lấy tiền nhưng không còn thực hiện nhiều nghĩa vụ tương ứng nữa. Đấy là những lý do quan trọng khiến các khu vực kinh tế phát triển ở các quốc gia cốt lõi tham gia triệt để tiến trình hội nhập châu Âu như Italy, Pháp, Tây Ban Nha, Bỉ bắt đầu tìm kiếm quyền tự trị hơn nữa thậm chí là độc lập.

Yếu tố thứ hai là kinh tế. Trên thực tế, kết quả tiêu cực trước hết sẽ thể hiện ở khía cạnh kinh tế. EU đã từ hội nhập kinh tế dần dần quá độ sang hội nhập chính trị. Điều thú vị là trong giai đoạn hội nhập kinh tế, các nước EU đã thu được rất nhiều lợi ích từ quá trình hội nhập. Chính vì điều đó, người dân có những kỳ vọng lớn đối với EU; đồng thời cũng hối thúc EU chuyển sang hội nhập về chính trị. Tuy nhiên, việc hội nhập chính trị đã có những tác động rất tiêu cực đến nền kinh tế. Khi nền kinh tế tốt có nghĩa à các quốc gia có thể được lợi từ EU, nhiều vấn đề được che đậy. Nhưng bây giờ nền kinh tế không tốt, nhiều vấn đề sẽ lập tức xuất hiện.

Yếu tố thứ ba là sự đồng thuận chính trị. Điều này cũng liên quan đến nền kinh tế. Khi nền kinh tế tốt, sự đồng thuận chính trị không có chỗ đứng. Nhưng khi nền kinh tế không tốt, người ta phải tìm kiếm sự đồng thuận chính trị. Hiện tượng rất không bình thường của việc Anh ra khỏi châu Âu và cuộc bầu cử ở Mỹ có mối liên quan với sự đồng thuận chính trị. Điều tương tự này cũng đúng với cuộc trưng cầu dân ý ở Catalunya. Vào lúc này, các chính khách ủng hộ độc lập cho Catalunya mà đứng đầu là vị thủ hiến đã chạy trốn tập thể sang Bỉ và xin tị nạn chính trị vì họ đã bị Chính phủ Tây Ban Nha khởi kiện vì nổi dậy và rất có thể bị kết án 30 năm tù giam. Nếu các chính trị gia này thực sự muốn tìm kiếm sự độc lập cho vùng Catalunya, tại sao họ lại đơn phương tuyên bố độc lập trong tình hình mọi việc chưa chín muồi và sau đó cùng chạy trốn? Hành vi giống như trò hề của các chính trị gia này cũng cho mọi người thấy sự biến chất đến mức độ nào của các chính trị gia phương Tây.

Lý do cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh của Tây Ban Nha trong 2 năm gần đây là gì, là kết quả của sự can thiệp trong trạng thái vô chính phủ? Nếu nền kinh tế có thể tiếp tục phát triển thì có thể tháo gỡ được mâu thuẫn của sự chia rẽ?

– Nếu ngòi nổ chính của cuộc trưng cầu dân ý đòi độc lập này là kinh tế, liệu Chính phủ trung ương Tây Ban Nha có thể thông qua việc không nhượng chức năng cho tổ chức siêu chủ quyền của châu Âu, thông qua biện pháp phát triển kinh tế để hàn gắn những rạn nứt hiện nay? Trong 2 năm qua, Tây Ban Nha từng được biết đến như là điểm sáng của nền kinh tế châu Âu. Năm 2016, Tây Ban Nha cũng là quốc gia có mức tăng trưởng GDP ở mức 3% trong số ít nước châu Âu. Đáng chú ý là sự tăng trưởng kinh tế này đạt được trong tình hình sau cuộc bầu cử thứ hai, Chính quyền trung ương Tây Ban Nha vẫn gặp khó khăn trong việc thành lập nội các, được thực hiện trong “trạng thái vô chính phủ” như người dân thường nói. Ông đánh giá như thế nào về nền kinh tế của Tây Ban Nha? Nếu nền kinh tế Tây Ban Nha tiếp tục được cải thiện thì có thể làm giảm xu hướng chia rẽ như hiện nay không?

+ Đã có rất nhiều học giả quan tâm thảo luận về việc liệu chính phủ có nên can thiệp vào nền kinh tế. Trên thực tế, đây là một mệnh đề giả bởi vì trong cuộc sống thực tế không có nền kinh tế thực nào vận hành mà không có sự can thiệp của chính phủ. Những gì chúng ta nên thảo luận là chính phủ nên xây dựng chính sách kinh tế và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của xã hội như thế nào. Sự tăng trưởng kinh tế của Tây Ban Nha trong 2 năm qua không phải là kết quả của “tình trạng vô chính phủ”. Cái gọi là “vô chính phủ” ở đây nhằm ý nói trong 2 cuộc bầu cử vào tháng 12/2015 và tháng 6/2016, không một chính đảng nào ở Tây Ban Nha đạt được số ghế quá bán để một mình thành lập nội các, cũng không đạt được thỏa thuận về việc thành lập chính phủ liên minh, nên vẫn chưa có nội các hoàn chỉnh để có thể cầm quyền ổn định hợp pháp. Trong sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục của Tây Ban Nha 2 năm qua, chính sách kinh tế quan trọng nhất là sự điều chỉnh lớn về người nhập cư của chính phủ khóa trước vào trước năm 2015. Chính sách nhập cư mới đã nới lỏng các yêu cầu đối với tuổi của con cái, trẻ quá độ tuổi chỉ cần cung cấp giấy tờ chứng minh chưa kết hôn, không có khả năng kinh tế thì có thể cùng với người nộp đơn di cư sang Tây Ban Nha. Ngoài ra dự luật mới cũng thê vào điều khoản cha mẹ có thể đi kèm, chỉ cần mua một bất động sản 500.000 euro ở Tây Ban Nha là có thể đưa cả gia đình 3 thế hệ di dân đến nước này. Chính sách nhập cư kiểu này, trong tình hình Mỹ và Đông Nam Á thắt chặt số lượng người nhập cư, rõ ràng đã tạo cho Tây Ban Nha số lượng lớn người nhập cư nhờ đầu tư bất động sản, đồng thời nâng giá bất động sản ở địa phương. Do sự thúc đẩy của chính sách nhập cư do đầu tư bất động sản, Tây Ban Nha một mặt nâng cao GDP, mặt khác cũng làm dịu đi cuộc khủng hoảng nợ do bong bóng nhà đất bùng nổ trong năm 2007.

Tuy nhiên, trên thế giới không một cường quốc kinh tế nào dựa vào bất động sản để giàu có, trái lại, sự thịnh vượng bất thường dựa vào bất động sản có thể phá hủy một cường quốc kinh tế. Việc Tây Ban Nha dựa vào sự đầu tư của một số lượng lớn người nhập cư để “tiêu hóa” bong bóng bất động sản trong ngắn hạn vẫn được xem là một sách lược kinh tế hiệu quả, nhưng sách lược này không bền vững và cũng không thể giảm bớt những khó khăn về kinh tế của người dân, đó là lý do giải thích tại sao sự tăng trưởng kinh tế đến 3% không thể khiến đảng cầm quyền được người dân công nhận. Trong 2 năm qua, chỉ có khủng hoảng nợ phần nào dịu bớt, còn tỷ lệ thất nghiệp giảm không đáng kể, vẫn tới 25%, cao hơn hiều so với mức trung bình của EU. Nghiêm trọng hơn là tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên nước này là 50%, một nửa ố người trẻ tuổi không thể tìm được việc làm. “Trạng thái vô chính phủ” không phải là một nhân tố cho tăng trưởng GDP trong 2 năm qua cũng như không mang lại bất kỳ sự trợ giúp nào cho sự phục hồi kinh tế của Tây Ban Nha.

Nền kinh tế mới ốm yếu

– Vậy liệu Chính phủ Tây Ban Nha có chính sách thúc đẩy sự phát triển lành mạnh trong dài hạn cho nền kinh tế?

+ Có lẽ là có. Chính phủ Tây Ban Nha luôn thảo luận về vấn đề này. Chính phủ cũng đã thành lập một số nhóm tư vấn để giúp những người trẻ tuổi tìm kiếm và phát triển kinh tế trên Internet. Song có rất ít kênh tài chính giúp những người trẻ tuổi lập nghiệp, số tiền tài trợ cũng rất ít. Số dự án lập nghiệp của toàn bộ Tây Ban Nha vào năm 2016 chỉ có 2663, trong đó chỉ có 100 công ty lớn. Điều này có nghĩa là chỉ có dưới 10 triệu doanh nghiệp mới nổi có quy mô tương đối. Trong một quốc gia với 46 triệu dân thì nó chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Xét từ góc độ này, không khó để hiểu tại sao tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên Tây Ban Nha lên đến 50%. Tất cả những điều này cho thấy những nỗ lực của Chính phủ Tây Ban Nha đối với nền kinh tế mới vẫn còn rất hạn chế.

Dưới chế độ dân chủ đại chúng, cuộc bầu cử của chính phủ rất dễ trở thành một cuộc đấu giá phúc lợi. Tây Ban Nha cũng như vậy. Trong tình hình khủng hoảng kinh tế, sự nổi lên của các chính đảng không dẫn đến việc nâng cấp ngành nghề, thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Vì vậy, người dân thực sự không thể mong đợi Chính phủ Tây Ban Nha trong tương lai thúc đẩy sự phát triển kinh tế mới tốt hơn, đồng thời cũng khó tin rằng nền kinh tế Tây Ban Nha trong tương lai sẽ cải thiện về cơ bản.

Nguồn: cn.ippreview.com – 01/11/2017

TLTKĐB – 07/11/2017