Gia nhập thể chế thương mại quốc tế nhiều bên – Phần đầu


I/ Gia nhập Hiệp định chung

1/ Trình tự đàm phán gia nhập Hiệp định chung

Bất kỳ nước nào cũng có thể gia nhập Hiệp định chung theo điều 33 của hiệp định. Thông thường, việc gia nhập Hiệp định chung phải trải qua một quá trình thẩm nghị và đàm phán lâu dài.

a/ Giai đoạn một: thẩm nghị “vào cửa”.

Khi nhận được đơn chính thức xin gia nhập Hiệp định chung, Hội đồng đại biểu lập ra tổ công tác tiến hành việc thẩm nghị. Tổ công tác căn cứ vào bị vong lục về chế độ thương mại do nước xin gia nhập gửi tới để tiến hành thẩm nghị chính sách thương mại hiện hành và các quy chế có liên quan của họ. Sau khi công tác thẩm nghị cho rằng mọi vấn đề cơ bản về thương mại đã rõ thì bước vào giai đoạn hai là giai đoạn đàm phán.

b/ Giai đoạn hai: đàm phán.

Trong giai đoạn này, tổ công tác khởi thảo các điều kiện cơ bản về gia nhập hiệp định, còn nước xin gia nhập hiệp định thì tiến hành đàm phán tay đôi với các nước thành viên khác, lập ra biểu thuế và quy định về các điều khoản giảm thuế khác, biểu thuế này được đưa vào phụ lục Hiệp định chung.

Nội dung đàm phán sẽ do tổ công tác tập hợp lại và báo cáo lên Hội đồng đại biểu.

c/ Giai đoạn ba: ký và phê chuẩn nghị định thư gia nhập hiệp định.

Sau khi hoàn thành các giai đoạn trên, Toàn thể các nước ký hiệp định căn cứ vào điều hơn lẽ thiệt về thương mại và chính trị sau khi nước này gia nhập Hiệp định chung và cân nhắc cái giá phải trả về các ngoại lệ khi chấp nhận sự gia nhập Hiệp định chung của nước này để đưa ra quyết định có tiếp nhận là nước thành viên hay không.

Việc tiếp nhận một nước là nước thành viên phải được 2 phần 3 số nước ký hiệp định nhất trí.

Cuối cùng là ký nghị định thư (gồm cả biểu thuế) về kết quả đàm phán. Nếu không phải trình cơ quan lập pháp nước ấy thông qua thì trong vòng 30 ngày việc quyết định gia nhập hiệp định này sẽ có hiệu lực.

2/ Phương thức “vào cửa” gia nhập Hiệp định chung

Phương thức “vào cửa” khác nhau trong việc gia nhập Hiệp định chung phản ánh đặc điểm kinh tế và thương mại của các loại hình quốc gia khác nhau.

a/ Các nước phát triển có nền kinh tế thị trường.

Tiền đề áp dụng Hiệp định chung là nền kinh tế thị trường. Điều đó không gây ra bất kỳ khó khăn nào đối với các nước công nghiệp phát triển có nền kinh tế thị trường. Song, đối với một nước cụ thể nào đó thì những điều kiện cụ thể khi gia nhập Hiệp định chung phải quy định rõ ràng trong nghị định thư gia nhập hiệp định để bảo đảm cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ. Như khi gia nhập Hiệp định chung, Thụy Sĩ được phép hạn chế nhập khẩu để bảo hộ nền công nghiệp của họ, nhưng phải cố gắng giảm thiệt hại lợi ích của các nước thành viên khác, hằng năm phải báo cáo các biện pháp hạn chế được áp dụng và cứ ba năm Toàn thể các nước ký hiệp định lại kiểm tra một lần. Hay như Thụy Sĩ không phải là thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, cho nên phải cam kết tuân thủ nguyên tắc quy định trong hiệp định đặc biệt về ngoại hối.

b/ Các nước đang phát triển có nền kinh tế thị trường, gia nhập Hiệp định chung với đặc điểm khác với các nước phát triển. Chẳng hạn, khi gia nhập Hiệp định chung, Thái Lan, được hưởng ưu đãi đặc biệt áp dụng cho các nước đang phát triển, nhưng phải cam kết trong thời hạn sau 5 năm phải hạ mức thuế đánh thuế hàng nhập khẩu ngang với thuế doanh nghiệp và thuế tiêu thụ đánh vào sản phẩm sản xuất trong nước.

c/ Các nước có nền kinh tế kế hoạch từ trung ương.

Loại hình quốc gia này gia nhập Hiệp định chung với phương thức rất đặc biệt. Như năm 1967, khi ký nghị thư gia nhập Hiệp định chung, Ba Lan phải cam kết mỗi năm tăng nhập khẩu 7% để được ưu đãi và chấp nhận điều khoản bảo đảm đặc biệt, trong đó cho phép các nước thành viên khác hạn chế nhập khẩu từ Ba Lan khi hàng nhập khẩu từ Ba Lan gây ra hoặc có thể sẽ gây ra tổn thất nặng nề cho các nhà sản xuất và hãng buôn trong nước của họ. Năm 1973, khi Hungary gia nhập Hiệp định chung cũng phải chấp nhận điều khoản bảo đảm đặc biệt này; vì tại các nước thuộc loại hình này, giá cả không do cơ chế thị trường hình thành mà do nhà nước quy định.

3/ Gia nhập theo “quan hệ ủy trị”

Điều 26 hiệp định còn quy định một phương thức gia nhập hiệp định đơn giản hơn. Theo truyền thống thì phương thức này áp dụng đối với những nước đã giành được độc lập, đã thoát khỏi quan hệ thuộc địa trước kia và có quyền tự chủ trong quan hệ ngoại thương. Trong những trường hợp này, theo điều 26, dù chưa giành được độc lập về chính trị, một khu vực thuế quan tự trị cũng có thể trở thành một bên ký kết hiệp định, chỉ cần một thư giới thiệu là có tư cách là thành viên, không cần đàm phán.

4/ Việc sử dụng điều khoản về không áp dụng Hiệp định chúng đối với nhau

Tính tới lợi ích của những nước có ý kiến phản đối một nước nào đó gia nhập hiệp định, hoặc tính tới lợi ích của bản thân nước mới gia nhập hiệp định, Hiệp định chugn đặt ra điều 35, gọi là điều khoản không áp dụng Hiệp định chung với nhau. Điều này chấp nhận việc một nước nào đó do nguyên nhân chính trị hoặc thương mại mà không đồng ý có quan hệ pháp lý hoặc thương mại trong khuôn khổ Hiệp định chung với một nước mới gia nhập Hiệp định chung, đồng thời cũng chấp nhận việc nước mới gia nhập hiệp định không đồng ý có quan hệ pháp lý hoặc thương mại trong khuôn khổ Hiệp định chung với nước nào đó đã ký hiệp định.

Nhưng điều này không ngăn cản họ cùng tham gia những tổ chức nào đó của Hiệp định chung, không ngăn cản họ cùng bỏ phiếu biểu quyết, không ngăn cản họ đóng góp có tính chất xây dựng đối với Hiệp định chung.

5/ Các thành viên của Hiệp định chung

Tới tháng 10/1991, có tất cả 103 nước (bên) ký Hiệp định chung. Tất cả các nước thành viên (24 nước) của tổ chức hợp tác phát triển đều ký Hiệp định chung. Các nước đang phát triển luôn luôn có vai trò quan trọng, trong số 23 nước sáng lập ban đầu có 11 nước đang phát triển, hiện nay đã chiếm trên 2 phần 3 ghế. Các nước Đông Âu: Tiệp Khắc, Ba Lan, Rumani và Hungary cũng là các nước ký Hiệp định chung.

Ngoài ra, còn có 29 nước tuy không phải là các nước ký Hiệp định chung, nhưng trong thực tế chính sách thương mại của họ lại áp dụng nguyên tắc của Hiệp định chung. Những nước này và một số nước khác là quan sát viên trong một số tổ chức của Hiệp định chung. Còn có 7 nước đang ở trong quá trình đàm phán.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Advertisements

Sự vận hành của thể chế thương mại quốc tế nhiều bên – Phần cuối


II/ Phương thức quyết sách và phương thức sửa đổi hiệp định chung

1/ Phương thức quyết sách có quy định:

a/ Phương thức quyết sách thông thường.

Ngoại trừ trường hợp có quy định riêng ra, còn mọi quan hệ của Toàn thể các nước ký hiệp định phải được thông qua với đa số phiếu biểu quyết. Theo quy định của “Quy tắc trình tự đại hội Toàn thể các nước ký kết hiệp định” đa số giản đơn của Toàn bộ các nước ký hiệp định là đa số pháp định.

b/ Phương thức quyết sách đặc thù. Đó là phương thức quyết sách ngoại lệ quy định tại khoản 5 điều 25. Theo đó, Toàn thể các nước ký hiệp định miễn trừ nghãi vụ cho một nước nào đó phải được 2 phần 3 số phiếu biểu quyết tán thành, hơn nữa, đa số này phải chiếm quá bán toàn bộ các nước ký hiệp định. Điều 33 quy định, việc gia nhập hiệp định của mỗi thành viên mới phải được 2 phần 3 Toàn bộ các nước ký hiệp định tán thành.

c/ Toàn thể nhất trí tán thành. Hiệp định chung còn quy định những quyết định phải được Toàn bộ các nước ký hiệp định nhất trí tán thành. Việc sửa đổi quy chế tối huệ quốc tại điều 1 và quy tắc biểu thuế ở điều 2 phần thứ nhất Hiệp định chung, việc sửa đổi quy tắc sửa đổi điều 30 tại phần thứ ba, đều phải được Toàn thể nhất trí thông qua.

2/ Phương thức quyết sách theo thông lệ. Ngoại trừ các trường hợp có quy định rõ ràng, còn Toàn thể các nước ký hiệp định rất ít khi tiến hành bỏ phiếu biểu quyết. Các quyết định của Toàn thể các nước ký hiệp định và của Hội đồng đại biểu đều do các ủy ban và tổ công tác chuẩn bị từ trước, chúng được đưa ra khi thời cơ đã chín muồn, có thể được nhất trí đồng ý thông qua. Các quyết định của Hội đồng đại biểu đều được đưa vào báo cáo công việc hàng năm, trình đại hội Toàn thể các nước ký hiệp định phê chuẩn. Thực tế đó là thủ tục pháp lý được Toàn thể các nước ký Hiệp định chung thừa nhận để hợp pháp hóa những việc đã rồi.

III/ Sự vận hành thực tế của Hiệp định chung

Quá trình vận hành và thao tác thực tế của Hiệp định chung bao giờ cũng theo con đường thống nhất giữa pháp lý và hiện thực, do vậy, có sự ăn khớp tuyệt diệu giữa các quy định pháp lý với lợi ích thương mại của các nước. Xét theo khung pháp lý của hệ thống thương mại quốc tế nhiều bên. Hiệp định chung có các đặc trưng như: 1) Chủ nghĩa đơn phương. Sự cam kết nghĩa vụ đơn phương của các nước phát triển đối với các nước đang phát triển là dẫn chứng điển hình của đặc trưng này; 2) Chủ nghĩa song phương. Điều khoản về việc không áp dụng Hiệp định chung với nhau quy định tại điều 35 là đầu bên này của đặc trưng ấy; sự ưu đãi nhiều hơn giữa hai nước như sự ưu đãi trong thương mại biên giới là đầu kia của đặc trưng ấy; 3) Chủ nghĩa khu vực. Liên minh thuế quan và Khu mậu dịch tự do trong khuôn khổ Hiệp định chung là dẫn chứng điển hình của cái chủ nghĩa này; 4) Chủ nghĩa đa phương. Đây là tinh thần chủ đạo được Hiệp định chung đề xướng và thực hiện.

Do những đặc điểm trên mà hệ thống pháp lý trong Hiệp định chung mang đặc trưng thực dụng chủ nghĩa.

1/ Chủ nghĩa thực dụng

Chủ nghĩa thực dụng trong Hiệp định chung biểu hiện dưới các hình thức khác nhau. Cụ thể là:

a/ Hiệp định chung đã quy định các quy tắc giảm thuế cụ thể (tại điều 2), nhưng đồng thời lại quy định trình tự linh hoạt (điều 28) cho phép đàm phán lại khi cần thiết.

b/ Hiệp định chung đã quy định chung về việc bãi bỏ các hạn chế số lượng (điều 11), nhưng đồng thời lại có quy định ngoại lệ rộng rãi cho phép áp dụng biện pháp này (điều 12 và điều 18).

c/ Theo quy định về các biện pháp khẩn cấp đối với việc nhập khẩu loại sản phẩm nào đó (tại điều 19), thì nếu là do phải thực hiện nghĩa vụ ghi trong hiệp định mà lượng nhập khẩu của loại sản phẩm nào đó tăng mạnh, khiến người sản xuất trong nước bị thiệt hại, nước thành viên ấy có thể tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ này.

d/ Toàn thể các nước ký hiệp định có thể căn cứ vào nhu cầu thực tế để ra quyết định áp dụng các trình tự khác.

e/ Sự khoan dung của Toàn thể các nước ký hiệp định đối với những trường hợp đi chệch khỏi quy định trong Hiệp định chung.

2/ Sự ràng buộc về pháp lý của Hiệp định chung.

Chủ nghĩa thực dụng mở đường giải quyết vấn đề, còn pháp luật thì quy định nghĩa vụ pháp lý có tính chất ràng buộc. Đó là đặc điểm quan trọng trong phương thức xử lý vấn đề của Hiệp định chung. Sự ràng buộc pháp lý của Hiệp định chung biểu hiện ở chỗ:

a/ Kết quả của các vòng đàm phán nhiều bên trong khuôn khổ Hiệp định chung đều được đưa vào hệ thống luật của Hiệp định chung.

b/ Các quyết định chính thức của Toàn thể các nước ký hiệp định, việc kết nạp nước thành viên mới theo phương thức ký nghị định thư, trình tự giải quyết tranh chấp, công tác thẩm tra các vụ việc được thụ lý do tổ chuyên gia thực hiện, đều chịu sự ràng buộc pháp lý của hiệp định.

c/ Hiệp định chung ràng buộc các nước không được tùy tiện sử dụng các biện pháp thương mại bất hợp pháp. Vì những biện pháp này chẳng những bị lên án nghiêm khắc trên diễn đàn quốc tế, mà còn bị chính phủ các nước khác trả đũa.

Đặc điểm chủ yếu phân biệt Hiệp định chung với các tổ chức quốc tế khác là Hiệp định chung quy định rõ ràng quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các nước ký kết hiệp định này. Nếu nước nào vi phạm thì ắt sẽ bị tổn thất về lợi ích kinh tế và thương mại.

3/ Sự cân bằng giữa chủ nghĩa thực dụng và sự ràng buộc pháp lý

Nhiệm vụ của người lập ra và quản lý Hiệp định chung là bắc chiếc cầu nối giữa việc đi theo con đường tư pháp để thực hiện nguyên tắc cơ bản của Hiệp định chung và việc dùng quan điểm thực dụng để xử lý các vấn đề chính trị hiện thực. Thực tế cho thấy, trong quá trình vận hành và thao tác, Hiệp định chung cũng đã làm như thế để xử lý các vấn đề mới trong quan hệ thương mại. Trong thực tế, việc thực thi Hiệp định chung là một quá trình không ngừng tìm tòi để đạt tới sự cân bằng động. Một mặt, có linh hoạt với mức độ nhất định để thực hiện mục tiêu với thái độ hiện thực, khiến những vấn đề mấu chốt, phức tạp được giải quyết tốt, phù hợp với thực tế. Mặt khác, ghi lại phải khống chế những việc đi chệch các quy định pháp lý của Hiệp định chung và việc áp dụng linh hoạt các quy tắc trong Hiệp định chung, không để cho những việc đi chệch Hiệp định chung làm suy yếu quy phạm pháp lý của Hiệp định chung.

Trong sự cân bằng động giữa chủ nghĩa thực dụng và sự ràng buộc pháp lý, hai cái bổ sung cho nhau, không cái nào thay thế cái nào. Đàm phán và đưa kết quả đàm phán vào hệ thống Hiệp định chung là chiếc cầu nối giữa chúng với nhau.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Sự vận hành của thể chế thương mại quốc tế nhiều bên – Phần đầu


Lúc đầu, các nước sáng lập Hiệp định chung không muốn hiệp định này trở thành tổ chức thương mại quốc tế tổng hợp như được nói trong “Hiến chương Havanna”, nó chỉ là một định thương mại quốc tế nhiều bên có tính chất tạm thời. Nhưng hiện nay nó đã có tất cả các đặc trưng của một tổ chức quốc tế, và trên thực tế, trong quan hệ với Liên hợp quốc, nó được coi là một tổ chức chuyên môn.

I/ Cơ cấu và chức năng

Công tác nghiệp vụ của Hiệp định chung do các đại diện của chính phủ các nước ký kết hiệp định đảm nhận. Công việc hằng ngày của Hiệp định chung do các tổ chức sau đây thực hiện:

1/ Đại hội Toàn thể các nước ký kết hiệp định

Khi Hiệp định chung có hiệu lực, cơ cấu tổ chức duy nhất được thấy trên văn bản là Toàn thể  các nước ký kết hiệp định được viết bằng chữ in hoa, chứng tỏ rằng đây là một tổ chức chính thức phối hợp hành động theo phương thức được quy định tại Hiệp định chủng (khoản 1 điều 25).

Đại hội Toàn thể các nước ký kết hiệp định là cơ quan quyền lực cao nhất của Hiệp định chung, thường mỗi năm họp một lần. Đại hội có quyền lập pháp.

Toàn thể các nước ký kết hiệp định có quyền giải thích hiệp định, quyền ủy thác nhiệm vụ cho các tổ công tác, các ủy ban và các tổ chức chuyên gia, quyền trừ nghĩa vụ của nước thành viên nào đó, quyền tư pháp, quyền tiếp nhận nước quan sát viên.

Đại hội Toàn thể các nước ký kết được tổ chức công khai, là hội nghị chuyên môn, trong thời gian đại hội không được bàn luận về chính trị.

2/ Hội đồng đại biểu

Hội đồng đại biểu gồm đại biểu của tất cả các nước ký hiệp định yêu cầu có đại biểu trong hội đồng, là cơ quan thường trực giải quyết các công việc thường ngày và đột xuất trong thời gian từ sau đại hội Toàn thệ các nước ký kết hiệp định này đến trước đại hội Toàn thể các nước ký kết hiệp định kỳ sau.

Hội đồng đại biểu có quyền tiếp tục thảo luận mọi vấn đề được đặt ra trong thời gian đại hội, thẩm nghị mọi tình hình đột xuất nảy sinh sau đại hội; làm công tác trù bị đại hội, lập ra các tổ chức cấp dưới; kiểm tra giám sát công việc của các ủy ban, các tổ công tác và các tổ chức cấp dưới; thẩm tra các báo cáo công việc của các tổ chức trên; giám sát công việc của các ủy ban, các tổ công tác và các tổ chức cấp dưới; thẩm tra các báo cáo công việc của các tổ chức trên; lựa chọn nước ký kết hiệp định có sự quan tâm về việc nào đó làm thành viên chính thức; cân nhắc để đề đạt ý kiến về xử lý công việc lên Toàn thể các nước ký kết hiệp định. Hằng năm Hội đồng đại biểu họp khoảng 9 lần. Chủ tịch Hội đồng đại biểu được Toàn thể các nước ký hiệp định bầu ra cùng với chủ tịch, phó chủ tịch Toàn thể các nước ký hiệp định và chủ tịch các ủy ban phát triển, nhiệm kỳ một năm. Hiện nay Hội đồng đại biểu đã dần dần trở thành tổ chức nòng cốt chỉ đạo hoạt động của Hiệp định chung.

3/ Các ủy ban

Các ủy ban được thành lập nhằm mục đích khảo sát lâu dài có hệ thống những vấn đề trọng đại, trong đó có các ủy ban thường trực sau: Ủy ban hạn chế thu chi quốc tế; Ủy ban thương mại và phát triển; Ủy ban giảm thuế và Ủy ban ngân sách. Các ủy ban đàm phán thương mại đều không phải là tổ chức thường trực. Trong hệ thống Hiệp định chung còn có những ủy ban thường trực không phải do Toàn thể các nước ký hiệp định hoặc Hội đồng đại biểu lập ra.

4/ Tổ công tác

Tổ công tác là tổ chức tạm thời do Hội đồng đại biểu lập ra nhằm xử lý các vấn đề nảy sinh hằng ngày.

5/ Tổ chuyên gia

Tổ chuyên gia do Hội đồng đại biểu và các tổ chức khác lập ra, là tổ chức tạm thời có nhiệm vụ đưa ra các kiến nghị giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên.

6/ Tập đoàn 18 nước

Từ năm 1979, tập đoàn 18 nước trở thành tổ chức thường trực, trong đó gồm những nước có tính chất đại biểu cho các nước phát triển, các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung, do Tổng giám đốc Hiệp định Chung làm Chủ tịch.

Chức năng của tập đoàn này là giúp Toàn thể các nước ký hiệp định làm tốt các công việc sau: 1) Nghiên cứu sự phát triển thương mại quốc tế nhằm làm cho chính sách thương mại của các nước ký Hiệp định chung ăn khớp với mục đích và nguyên tắc của hiệp định này; 2) Tích cực áp dụng các đối sách phòng ngừa các khả năng làm rối hệ thống thương mại nhiều bên và quan hệ tổng thểủa nền thương mại quốc tế; 3) Hiệp tác với các tổ chức quốc tế khác nhau, nhất là với Quỹ tiền tệ quốc tế.

Tập đoàn này không có quyền quyết sách và quyền điều hành.

7/ Tổng giám đốc

Hiệp định chung không hề có quy định nào về quyền hạn và trách nhiệm của Tổng giám đốc, điều này được hình thành trong thực tiễn. Thực tiễn cho thấy, Tổng giám đốc Hiệp định chung là: 1) Người giám sát của Hiệp định chung chỉ có quyền khuyên giải, không có quyền ra lệnh; 2) Người dẫn đường, chỉ ra con đường tốt nhất để thực hiện mục tiêu của tổ chức hiệp định và của các nước thành viên; 3) Người điều đình, giúp các nước giải quyết tranh chấp; 4) Người quản lý, phụ trách công việc của Ban thư ký, quản lý ngân sách và công việc hành chính liên quan tới các nước ký Hiệp định chung. 5) Người phán xét, Chủ tịch Ủy ban đàm phán thương mại bao giờ cũng là Tổng giám đốc, phán xét những xung đột lợi ích giữa các nước ký hiệp định; 6) Người triệu tập đàm phán và là nhà đàm phán.

8/ Ban thư ký

Hiệp định chung không nói tới Ban thư ký, nó được lập ra và hoàn thiện qua thực tiễn. Hiện nó đã có mọi đặc điểm của Ban thư ký của mọi tổ chức thuộc Liên hợp quốc, có trụ sở tại Geneva, gồm khoảng 400 người, Tổng giám đốc là ông Arthur Dunkel, người Thụy Sĩ, là cơ quan thường trực của Hiệp định chung.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Các nước BRIC – Phần I


Thế giới lại bắt đầu quay về tiêu chuẩn cũ. Lần đầu tiên trong thời hiện địa, sản lượng của các nước mới nổi và các nước đang phát triển chiếm một nửa tổng sản lượng toàn thế giới.

Samuel Brittan

…tăng trưởng nhanh hay chậm không thể giải thích chỉ bằng lý do kinh tế. Cách thức lãnh đạo, mô hình chính trị, cơ chế quản lý và tính hiệu quả của chính phủ cũng là những yếu tố đóng vai trò quan trọng.

Micheal Spence

Năng lực tìm ra con đường tăng trưởng kinh tế của hệ thống chính trị là yếu tố chiếm vị thế quan trọng nhất trong lịch sử kinh tế của cả thế giới.

John Kay

Những viên gạch cho tương lai

Ngày 16/6/2009, ở Yekaterinburg, Nga, một tổ chức quốc tế mới đã họp mặt lần đầu tiên. Hội nghị thượng đỉnh BRIC lần thứ nhất có sự góp mặt của nguyên thủ các nước có chữ cái đầu trong tên tiếng Anh mỗi nước tạo thành tên của tổ chức: Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc. BRIC ra đời theo cách khác thường. Hầu hết các tổ chức quốc tế đều hình thành từ sáng kiến của các chính phủ nhằm phục vụ một hoặc nhiều mục tiêu cụ thể, ví dụ như Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) ra đời năm 1949 hay Liên minh châu Âu (EU) có nguồn gốc từ Cộng đồng châu Âu năm 1993.

Ngược lại, ý tưởng thành lập BRIC với tư cách là một nhóm riêng lại đến từ một bài viết xuất bản năm 2001 của Jim O’Neill thuộc Phòng Kinh tế của Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs với nhan đề: “Xây dựng BRIC kinh tế toàn cầu tốt đẹp hơn” Bài viết cho rằng số mệnh của 4 nước BRIC là phải đi đầu trong tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Cái tên BRIC từ đó bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận về kinh tế và chính trị quốc tế. Nó cũng trở nên phổ biến, quen thuộc đến mức chính phủ các nước mà O’Neill nhắc đến quyết định biến nó thành một tổ chức thật và nhất trí gặp gỡ hàng năm. Đây là một ví dụ hiếm có về thực tế đi sau nghiên cứu.

Cụm từ viết tắt “BRIC” được ưa chuộng vì nó chỉ một hiện tượng rất mới và quan trọng: lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu phong trào hội nhập kinh tế quốc tế vào giữa thế kỷ 19, có những nước không thuộc bộ ba phương Tây nổi lên, chiếm lĩnh nền kinh tế toàn cầu. Trong hai thập niên đầu sau năm 1990, cả 4 nước BRIC đều đạt được mức tăng trưởng ấn tượng đối với chính họ và cao hơn các nước thuộc bộ ba phương Tây. Họ có tiềm lực tiếp tục tăng trưởng tốt trong những năm tới, và nếu làm được thì họ và những quốc gia tương tự – những nước nghèo hơn phương Tây, đã tham gia hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu, thường được gọi là “các nước đang phát triển” hoặc “các thị trường đang lên” – sẽ trở thành động lực tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Cụm từ viết tắt càng ấn tượng vì BRIC đồng âm với “brick” nghĩa là viên gạch. Nếu tận dụng được hết tiềm năng thì các nước BRIC sẽ đóng vai trò nền móng, những viên gạch quan trọng tạo nên nền kinh tế toàn cầu ở thế kỷ 21.

Một lý do giải thích hiện tượng trên là các nước bộ ba phương Tây tăng trưởng chậm lại. Nhưng quan trọng hơn là vấn đề năng lực, vì đội ngũ các nước đang phát triển có động lực để hội tụ – tức là “bắt kịp” – tốc độ tăng trưởng cao của nhau. Chính họ sẽ cung cấp phần lớn lực lượng lao động và tiêu dùng trong những năm tới, đem lại cho thế giới nhiều hàng hóa, dịch vụ với chất lượng tốt hơn và giá rẻ hơn. Đặc biệt khi trình độ học vấn tăng, họ cũng sẽ có nhiều phát minh, cải tiến hơn giúp tăng năng suất và do đó đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế ở tất cả mọi nơi.

Vào thế kỷ 19, việc Mỹ, Đức và Nhật tham gia nền kinh tế thế giới đã làm gia tăng sản lượng trên toàn cầu. Sau năm 1945 có thêm Nam Âu, các nước Đông Á và Đông Nam Á. Vào thế kỷ 21, sự có mặt của các nước đang phát triển đã, đang và sẽ tiếp tục duy trì xu hướng này. Nhưng trong quá nhiều nước, tại sao chúng ta lại chọn ra nhóm BRIC?

Trong tất cả các nước đang phát triển, BRIC là nước quan trọng nhất. Họ là những quốc gia lớn nhất, hùng mạnh nhất thuộc bốn khu vực quan trọng trên thế giới: Brazil ở châu Mỹ Latin, Nga ở Đông Âu, Ấn Độ ở Nam Á và Trung Quốc ở Đông Á. Tổng cộng dân số của 4 nước lên tới 3 tỷ người.

Họ có lịch sử phát triển kinh tế gần đây tương tự như nhau. Nước nào cũng đều một phần hoặc hoàn toàn đứng ngoài trật tự kinh tế thế giới sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nước nào cũng có một khoảnh khắc “giác ngộ” khi thấy con đường kinh tế mình đang đi là sai và chuyển sang nền kinh tế thị trường tự do và toàn cầu hóa. Như khi một người khỏe mạnh hẳn lên vì ăn uống tốt hơn và tập thể dục đều đặn hơn, mỗi nước đều thu được thành tựu tăng trưởng kinh tế vượt bậc nhờ biết thay đổi. Từ năm 2001 đến 2011, tổng GDP của 4 nước đã tăng lên gấp 4 lần và đạt 13 nghìn tỷ USD vào năm 2012. Jim O’Neill dự đoán con số này sẽ còn gấp đôi trong thập niên tới. Tất cả họ, trừ Nga, đều không bị ảnh hưởng nhiều như các nước thuộc bộ ba phương Tây từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thập niên đầu của thế kỷ 21 cho dù tăng trưởng sau đó cũng chậm lại. Năm 2013, tăng trưởng của 4 nước đã tụt xuống thấp hơn so với trước năm 2008; nhưng vẫn còn cao hơn bộ ba phương Tây. Với quá trình hội tụ thì tiềm năng tăng trưởng trong tương lai của nhóm BRIC cũng sẽ tiếp tục cao hơn bộ ba phương Tây.

Chắc chắn các nước BRIC có những điểm khác nhau quan trọng. Ví dụ, về quy mô dân số thì Trung Quốc và Ấn Độ vượt xa Brazil và Nga (và tất cả các nước còn lại trên hành tinh). Mặc dù 4 nước có lịch sử kinh tế khá tương đồng, nhưng không hề giống hệt nhau. Trong phần lớn nửa sau thế kỷ 20, Nga và Trung Quốc đi theo mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa với chính phủ sở hữu toàn bộ tài sản lớn và chi phối mọi quyết định kinh tế lớn. Hai nước đã phải bắt đầu từ vạch xuất phát, xây dựng thể chế mới và gieo những thói quen, kỹ năng, thực tiễn mà nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi. Ngược lại, Brazil và Ấn Độ lại theo đuổi chính sách kinh tế chủ nghĩa xã hội hướng vào thay thế nhập khẩu với chính phủ đóng vai trò tuy nhỏ hơn nhưng cũng hết sức quan trọng. Họ phải điều chỉnh ít hơn Nga và Trung Quốc. Và cuối cùng, Brazil và Nga có thừa nguyên liệu thô để xuất khẩu. Thực tế là tài nguyên thiên nhiên của Nga có ảnh hưởng quyết định lên hoạt động chính trị và kinh tế. Còn Trung Quốc và Ấn Độ thì phải nhập những thứ mà hai nước còn lại xuất khẩu, đặc biệt là dầu mỏ.

Mặc dù hàng năm đều có hội nghị thượng đỉnh, nhưng các nước BRIC cũng không tìm ra lợi ích chung để cùng theo đuổi. Họ đã từng thảo luận về việc thiết lập một ngân hàng chung phục vụ phát triển kinh tế, nhưng chưa tiến một bước nào để thực hiện. Cuộc gặp hàng năm của các nguyên thủ quốc gia chỉ đem lại các tuyên bố chung, hết. BRIC hẳn sẽ còn tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn bộ ba phương Tây, nhưng nhanh hơn đến mức nào thì còn phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm chính trị mỗi nước – và đây cũng là điểm quan trọng hơn cả. Trong tương lai, chính trị sẽ xác lập kinh tế thông qua các chính sách can thiệp. Trong loạt tiểu thuyết về thám tử Philip Marlowe của tác giả Raymond Chandler hồi thế kỷ 20, luôn có một nhân vật nữ bị quá khứ săn đuổi, đe dọa cuộc sống mới mà cô ta đang nỗ lực gây dựng. Tương tự, với cả 4 nước BRIC, via trò quan trọng của chính trị từng là tài sản giúp tăng trưởng kinh tế trong quá khứ, nhưng nó cũng như món nợ đe dọa tương lai.

Thứ tài-sản-hóa-ra-món-nợ này của các nước không giống nhau. Ở Brazil là truyền thống chính trị có tên chủ nghĩa dân túy. Ở Nga, nó là nguồn năng lượng dư thừa làm méo mó chính sách công. Ở Ấn Độ và Trung Quốc thì lần lượt là nền dân chủ và chế độ độc tài. Tương lai kinh tế của cả 4 nước BRIC và tương lai nền kinh tế của cả thế giới mà trong đó 4 nước đóng vai trò quan trọng đều rất phụ thuộc vào việc mỗi nước có khả năng xóa bỏ, vượt qua hoặc thay đổi di sản chính trị từng rất hữu ích nhưng giờ không còn hoạt động tốt nữa hay không.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Việt Nam với CPTPP: Thành tựu và thách thức – Phần cuối


Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức đáng kể khi ký kết CPTPP. Cơ cấu sản xuất công nghiệp của Việt Nam không phù hợp với các điều khoản của CPTPP, nhất là các quy định về nguồn gốc. Do các ngành công nghiệp trong nước có quy mô nhỏ và chưa có các ngành công nghiệp hỗ trợ vững mạnh, nên Việt Nam phải nhập khẩu phần lớn hàng hóa trung gian. Điều này khiến Việt Nam khó đáp ứng các yêu cầu về nội dung nội địa theo CPTPP.

Việt Nam cũng phải sửa đổi nhiều quy định hiện hành về thương mại, hải quan, quyền sở hữu trí tuệ và lao động cho phù hợp với CPTPP cũng như giảm khoảng cách giữa CPTPP và các thỏa thuận song phương và đa phương khác mà Việt Nam đang tham gia như Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP). Đồng thời, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với một thách thức về ngân sách quốc gia vì việc cắt giảm và xóa bỏ thuế nhập khẩu theo các thỏa thuận sẽ làm giảm nguồn thu của nhà nước.

Những thách thức khác bao gồm việc phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng tăng trong xuất khẩu và đầu tư từ các thành viên CPTPP khác, thúc đẩy sự tham gia của các khu vực tư nhân và các SME vào các hoạt động kinh tế của đất nước, và tiến hành các cuộc cải cách toàn diện đối với các SME. Tại Việt Nam, các SOE đảm nhiệm nhiều vai trò kinh tế và xã hội quan trọng như tạo công ăn việc làm và thúc đẩy sự ổn định xã hội. Tuy nhiên, trong khuôn khổ CPTPP, những vai trò này sẽ bị hạn chế đáng kể bởi các quy định mới cản trở các SOE trong việc tiếp nhận vốn tài trợ hay sự ưu đãi từ phía Chính phủ Việt Nam. Hơn nữa, tất cả các SOE tại các nước thành viên CPTPP phải đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động và cung cấp thông tin. Do nhu cầu thúc đẩy cạnh tranh công bằng giữa các công ty nước ngoài và các SEO trong khuôn khổ CPTPP gia tăng, nên các SOE bị kiềm chế hơn nữa trong việc ưu đãi các công ty địa phương. Những điều kiện này gây áp lực lớn buộc các SOE phải tiến hành các cải cách then chốt, nhất là về cách thức vận hành, quản lý và đánh giá những doanh nghiệp này.

Đóng góp của Việt Nam

Xét tới những điều kiện và vị thế độc nhất vô nhị của mình, Việt Nam có khả năng làm gia tăng giá trị của CPTPP theo nhiều cách khác nhau. Một là, Việt Nam là minh chứng cho việc các nước châu Á đang phát triển hoặc các nước có khu vực thuộc sở hữu nhà nước giữ vai trò chủ đạo có thể tham gia một thỏa thuận thương mại tiêu chuẩn cao như CPTPP. Mặc dù nhiều người coi thỏa thuận này về cơ bản là một thỏa thuận giữa Mỹ và Nhật Bản, nhưng sự tham gia của Việt Nam truyền đi một thông điệp then chốt nhưng khác biệt rằng CPTPP có khả năng hợp nhất các thành viên có hệ thống chính trị khác nhau và ở những trình độ phát triển khác nhau.

Việt Nam là nền kinh tế kém phát triển nhất trong CPTPp với thu nhập bình quân đầu người là khoảng 2500 USD, trong khi thu nhập bình quân đầu người ở các nước thành viên khác là khoảng 30.000 USD. Ngoài ra, là nền kinh tế phi thị trường duy nhất tham gia CPTPP, sự góp mặt của Việt Nam giúp thúc đẩy mục tiêu trung tâm là thiết lập quy tắc nhằm hệ thống hóa các quy định hạn chế các thông lệ của chủ nghĩa tư bản nhà nước mà các thể chế thương mại địa phương hiện hành như Tổ chức thương mại thế giới (WTO) không kiểm soát hết được. Do đó, Việt Nam là một ví dụ điển hình cho thấy làm thế nào mà ngay cả một nước nhỏ, có thu nhập thấp và theo chế độ chủ nghĩa tư bản nhà nước có thể hưởng lợi từ việc tham gia một thỏa thuận tiêu chuẩn cao.

Hai là, với một thị trường mới nổi và vị trí địa lý chiến lược, Việt Nam mang lại cho các nước CPTPP khác những cơ hội hấp dẫn để kinh doanh và mở rộng sự hiện diện của họ trong khu vực. Việt Nam được dự đoán nằm trong số các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới trong những thập niên tới. Điều này, cùng với dân số gần 100 triệu người, chắc chắn sẽ đẩy mạnh nhu cầu nhập khẩu và đầu tư từ các nước bên ngoài. Ngoài ra, là nước nằm ở trung tâm khu vực Đông Á và gần với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, Việt Nam cung cấp một nền tảng tốt để các nước không chỉ mở rộng các hoạt động kinh tế của mình mà còn lôi kéo các nước lớn khác vào lĩnh vực chính trị và an ninh.

Ba là, là một nước chủ động, Việt Nam đã có những đóng góp then chốt như đăng cai tổ chức các hội nghị và kết thúc các cuộc đàm phán nhằm hoàn tất việc ký kết CPTPP. Điều này được thể hiện đặc biệt rõ nét tại hội nghị cấp cao APEC 2017 diễn ra ở thành phố Đà Nẵng. Là nước chủ nhà, Việt Nam đã làm việc với các nước tham dự khác, nhất là Nhật Bản, để tìm ra các cách thức nhằm đáp ứng những lợi ích khác nhau của các nước tham gia CPTPP. Trong bối cảnh Mỹ rút khỏi hiệp ước cũng như những căng thẳng thương mại đang diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc, việc kết thúc thành công các cuộc đàm phán, dẫn tới ký kết CPTPP, được xem là một thành tựu đột phá của APEC 2017.

Những nỗ lực của Việt Nam về CPTPP tại APEC 2017 đã được Nhật Bản, Australia, New Zealand và Canada ghi nhận rộng rãi. Bộ trưởng Kinh tế Nhật Bản Toshimitsu Motegi phát biểu rằng “Nhật Bản rất biết ơn Việt Nam vì sự hợp tác hiệu quả của Việt Nam trong thời gian qua”, và tái khẳng định Nhật Bản sẽ tiếp tục đảm nhiệm vai trò là bên điều phối, dẫn dắt và tạo ra những liên kết giúp CPTPP sớm có hiệu lực. Đại sứ Australia tại Việt Nam Craig Chittick nói rằng Việt Nam đã hoàn thành một nhiệm vụ lớn với tư cách là chủ nhà APEC 2017 và đóng một vai trò quan trọng trong việc hoàn tất các cuộc đàm phán cũng như thúc đẩy thương mại tự do và hội nhập kinh tế trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Bốn là, sự tham gia của các nước RCEP như Việt Nam, Singapore và Malaysia, cũng là thành viên của CPTPP, giúp đẩy nhanh tiến độ các cuộc đàm phán về chính RCEP. Với những kinh nghiệm thu được từ các cuộc đàm phán CPTPP, những nước này hiện có vị thế tốt hơn để thúc đẩy và kết thúc các cuộc đàm phán về RCEP trong tương lai gần.

Năm là, sự có mặt của Việt Nam trong CPTPP sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nước khác tham gia thỏa thuận này trong tương lai. Nhiều nền kinh tế như Philippines, Thái Lan, Đài Loan và Hàn Quốc đã bày tỏ sự quan tâm đến việc tham gia CPTPP, không chỉ vì đây là một thỏa thuận tiêu chuẩn cao mà còn vì họ không muốn để mất quyền tiếp cận thị trường vào tay các thành viên CPTPP như Việt Nam, Singapore và Malaysia. Về mặt này, sự tham gia CPTPP của các nước Đông Nam Á sẽ giúp giảm nhẹ những thiệt hại mà việc Mỹ rút khỏi hiệp định này có thể gây ra, đồng thời mang lại một sự lựa chọn thay thế cho những sáng kiến kinh tế do Trung Quốc dẫn đầu (như Sáng kiến “Vành đai và Con đường”). Mặt khác, việc Việt Nam trở thành thành viên của CPTPP có thể khiến Trung Quốc dễ dàng chấp nhận cân nhắc đề xuất gia nhập CPTPP hơn tại một thời điểm nào đó trong tương lai là điều hoàn toàn không thể xảy ra, vì cả hai đều được coi là các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và vì Mỹ đã rút khỏi hiệp định này.

Cuối cùng, là thành viên CPTPP, Việt Nam có thể tận dụng vị trí độc nhất vô nhị của mình để giữ vai trò là một trung tâm cung cấp các dịch vụ và một nền tảng sản xuất để các nhà đầu tư bước vào thị trường CPTPP màu mỡ. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã trở thành điểm đến đầu tư ngày càng hấp dẫn, mang lại quyền ưu tiên tiếp cận thị trường CPTPP rộng lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài, kể cả các nước không tham gia CPTPP như Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan.

Tóm lại, Việt Nam đã chứng tỏ sự tham gia và đóng góp tích cực và chủ động vào tiến trình hội nhập thương mại tự do trong khu vực thông qua CPTPP. Việt Nam cũng đã tái khẳng định cam kết về thương mại tự do cũng như cơ sở hợp lý cho chiến lược hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của mình.

Kết luận

Tóm lại, Việt Nam đã và đang đóng vai trò chủ động và quan trọng trong việc thúc đẩy các siêu thỏa thuận thương mại khu vực như CPTPP. Việc Việt Nam trở thành thành viên CPTPP tạo động lực để các nước thu nhập thấp hoặc các nước có khu vực thuộc sở hữu nhà nước giữ vai trò chủ đạo tham gia một thỏa thuận thương mại tiêu chuẩn cao cũng như đóng một vai trò nhất định trong việc thiết lập quy tắc. Việt Nam đã có những đóng góp tích cực vào việc đàm phán và ký kết CPTPP, đặc biệt là tại hội nghị cấp cao APEC 2017 được tổ chức ở Đà Nẵng. Với một thị trường mới nổi và vị trí địa lý chiến lược, Việt Nam mang lại cho các thành viên CPTPP khác cơ hội thúc đẩy xuất khẩu và kinh doanh, đồng thời qua đó mở rộng sự hiện diện của họ trong khu vực. Sự tham gia của Việt Nam vào CPTPP cũng góp phần đẩy nhanh tốc độ đàm phán RCEP và khuyến khích các thành viên RCEP hác tham gia CPTPP.

Tuy nhiên, để thực hiện các cam kết của mình theo CPTPP, Việt Nam cần thúc đẩy những cải cách kinh tế cần thiết nói chung và nâng cấp cơ cấu sản xuất công nghiệp của mình nói riêng. Ngoài ra, Việt Nam cần nỗ lực phối hợp hơn trong việc cải thiện các quy định và thể chế trong nước cũng như nâng cao tính cạnh tranh cảu các SOE.

Nguồn: Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Singapore) – 24/05/2019

TLTKĐB – 04/06/2019

Việt Nam với CPTPP: Thành tựu và thách thức – Phần đầu


Tóm tắt

+ Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), một hiệp định kinh tế khu vực tiêu chuẩn cao mà Việt Nam đã phê chuẩn, được kỳ vọng sẽ mang lại cho Việt Nam nhiều lợi ích, nhưng những thách thức mà Việt Nam phải chật vật đối phó cũng lớn.

+ Xét tới những điều kiện có một không hai của Việt Nam, đất nước hình chữ S này có thể là một ví dụ điển hình cho thấy làm thế nào mà một nước châu Á đang phát triển với khu vực thuộc sở hữu nhà nước giữ vai trò chủ đạo lại có thể theo đuổi thành công tiến trình hội nhập kinh tế thông qua CPTPP.

+ Đóng góp của Việt Nam vào việc ký kết thành công CPTPP được thể hiện rõ nét tại Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 2017 được tổ chức tại thành phố Đà Nẵng.

+ Để đáp ứng các yêu cầu của CPTPP, Việt Nam sẽ cần phải nâng cấp đáng kể cơ cấu sản xuất công nghiệp cũng như cải cách các thể chế kinh tế, các quy định trong nước và khu vực doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước (SOE) của mình.

Mở đầu

CPTPP nằm trong số các siêu thỏa thuận thương mại tự do đáng chú ý nhất thế giới hiện nay. Mặc dù các nghiên cứu lớn hiện có đã phân tích những lợi ích và thách thức đối với các nước tham gia cũng như vai trò của các nước tham gia chủ chốt như Nhật Bản và Australia trong CPTPP, nhưng hầu như không ai chú ý đến sự tham gia và đóng góp của các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam, một trường hợp nghiên cứu thú vị vì Việt Nam nằm trong số vài nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa duy nhất tham gia CPTPP.

Mục tiêu của bài này là làm rõ hơn quan điểm của Việt Nam về CPTPP, bắt đầu bằng miêu tả khái quát hiệp định này, sau đó là thảo luận về lợi ích và thách thức từ CPTPP đối với Việt Nam. Phần cuối là xem xét những đóng góp của Việt Nam cho CPTPP.

Tổng quan về CPTPP

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), ban đầu gọi là “thỏa thuận 4 bên” (Brunei, Chile, New Zealand và Singapore) được mở rộng thành thỏa thuận 12 thành viên, sau khi có sự tham gia của Australia, Peru, Việt Nam, Mỹ, Canada, Malaysia, Mexico và Nhật Bản. Sự phô trương ầm ĩ xung quanh TPP giảm đi đáng kể sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rút Mỹ khỏi thỏa thuận này. Sau khi vượt qua được trở ngại này, tại hội nghị thượng đỉnh TPP diễn ra ở Chile ngày 14/3/2017, tất cả 11 nước thành viên còn lại của TPP khẳng định TPP sẽ duy trì các tiêu chuẩn cao của mình và có tính toàn diện ở mọi lĩnh vực. Cam kết này được các nước tham gia tái khẳng định bên lề APEC lần thứ 25 diễn ra tại Việt Nam ngày 11/11/2017. Tại hội nghị thượng đỉnh này, TPP được đổi tên thành CPTPP để phản ánh cấu trúc mới sau khi Mỹ rút lui. CPTPP chính thức có hiệu lực từ ngày 30/12/2018, sau khi được 6 nước Mexico, Nhật Bản, Singapore, New Zealand, Canada và Australia thông qua. Bất chấp việc Mỹ rút lui, CPTPP vẫn là một trong những thỏa thuận thương mại tự do lớn nhất thế giới, chiếm 13,3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu.

CPTPP nhằm mục đích thiết lập một chuẩn mực mới cho thương mại toàn cầu, và hợp nhất các vấn đề mới xuất hiện bằng cách đưa ra 5 đặc tính then chốt. Một là, CPTPP nhằm tạo ra khả năng tiếp cận thị trường toàn diện để xóa bỏ thuế quan và các rào cản khác đối với thương mại hàng hóa và dịch vụ và đầu tư. Hai là, CPTPP nhằm tạo ra một thỏa thuận khu vực bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các chuỗi sản xuất và cung ứng giữa các thành viên TPP. Ba là, CPTPP sử dụng một cách tiếp cận đối với các vấn đề thương mại xuyên suốt dựa trên những kết quả đạt được tại APEC và các diễn đàn khác bằng cách hợp nhất 4 vấn đề xuyên suốt mới:: sự cố kết về quy định, tính cạnh tranh và việc tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), và sự phát triển. Bốn là, CPTPP tập trung vào các thách thức thương mại mới bằng cách giải quyết các vấn đề thương mại mới xuất hiện như những vấn đề do công nghệ số gây ra. Năm là, đó là một thỏa thuận hiện hành có thể được cập nhật để đối phó với những vấn đề thương mại tiềm tàng trong tương lai cũng như các vấn đề mới phát sinh từ sự mở rộng thỏa thuận để bao gồm trong đó các thành viên mới.

So với TPP, CPTPP khác biệt ở một vài khía cạnh. Một là, CPTPP trì hoãn việc áp dụng 22 điều khoản từ các chương nói về việc tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, đầu tư, dịch vụ, mua sắm công, quyền sở hữu trí tuệ, môi trường và tính minh bạch, vốn được đưa vào TPP theo yêu cầu của Wasington. Đáng chú ý, chương nói về quyền sở hữu trí tuệ được thay đổi nhiều nhất, giảm thời gian bảo hộ quyền tác giả từ 70 năm xuống 50 năm sau khi tác giả qua đời. Tương tự, trong chương nói về đầu tư trong khuôn khổ CPTPP, “khả năng các nhà đầu tư khởi tố tranh chấp theo thỏa thuận đầu tư và giấy phép đầu tư sẽ bị hạn chế hơn so với TPP”. Hai là, CPTPP nhấn mạnh rằng khi hoạch định chính sách, các nước thành viên trước tiên cần xem xét tình hình và những ưu tiên của chính mình, vốn hay thay đổi và mang tính quốc gia. Những điều chỉnh và quy định mới về tính linh hoạt đã được tích hợp trong các điều khoản bổ sung về hiệu lực, cũng như việc rút khỏi, gia nhập và tiếp tục đánh giá CPTPP. Ba là, CPTPP là một thỏa thuận tiến bộ vì nó vượt ra ngoài khuôn khổ của việc cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp. Chẳng hạn, CPTPP bao gồm cả những cam kết bảo vệ các tiêu chuẩn cao về lao động và môi trường trên toàn khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Là một thỏa thuận mở, CPTPP sẽ chấp nhận sự tham gia của các nước khác nếu họ quan tâm và sẵn sàng tuân thủ và thực thi các nguyên tắc và điều khoản được quy định trong thỏa thuận này. Trên thực tế, CPTPP đang thu hút sự chú ý của một vài quốc gia, như Anh, Hàn Quốc và Thái Lan. CPTPP cũng sẽ chào đón sự trở lại của Mỹ nếu nền kinh tế lớn nhất thế giới này chấp nhận các nguyên tắc của thỏa thuận.

Những lợi ích và thách thức đối với Việt Nam

Việt Nam đã tham dự các cuộc đàm phán về CPTPP vào năm 2008. Có nhiều động lực thúc đẩy Việt Nam tham gia thỏa thuận này. Nhờ sự cắt giảm thuế quan mà Việt Nam có thể hưởng lợi từ việc gia tăng xuất khẩu sang các thị trường trong khuôn khổ CPTPP, nhất là những nước hiện không có thỏa thuận thương mại tự do với Việt Nam như Canada, Mexico và Peru, và đặc biệt là với những hàng hóa mà Việt Nam có lợi thế so sánh như hàng dệt may, giày dép, điện tử và nông sản. Cụ thể, Việt Nam được dự đoán là nước hưởng lợi nhiều nhất, với tăng trưởng ngoại thương và đầu tư được kỳ vọng sẽ đạt mức tương ứng là 30,1% và 14,4% vào năm 2030. Bằng việc gia nhập các mạng lưới sản xuất giữa các thành viên CPTPP, Việt Nam có thể hội nhập hơn nữa vào các chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo. Cụ thể, theo Ousmane Dione, Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, ngay cả với những giả định mang tính bảo thủ, báo cáo năm 2018 của Ngân hàng Thế giới “ước tính CPTPP sẽ giúp GDP của Việt Nam năm 2030 tăng 1,1%. Giả sử năng suất có sự gia tăng vừa phải, thì GDP ước tính sẽ tăng tới 3,5% nhờ CPTPP”. Đồng thời, việc gia tăng xuất khẩu sang các thị trường CPTPP có thể tạo ra trung bình khoảng 20.000 – 26.000 việc làm mỗi năm cho Việt Nam đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất như ngành dệt may, qua đó giúp giảm bớt gần 1 triệu người sống dưới mức nghèo đói vào năm 2030.

Thêm vào đó, những cam kết về dịch vụ và đầu tư trong thỏa thuận này có thể giúp Việt Nam cải thiện môi trường và thu hút thêm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ những nước trong và ngoài khuôn khổ CPTPP, qua đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. Hơn nữa, việc Việt Nam tham gia CPTPP có thể khuyến khích tiến trình tái cơ cấu kinh tế trong nước, nhất là việc cải cách các thể chế kinh tế và các SOE, đồng thời tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn cho khu vực tư nhân và các SME.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Singapore) – 24/05/2019

TLTKĐB – 04/06/2019

Sự kết thúc của TPP: một “phi sự kiện” với hậu quả lớn


Barthélémy Courmont

Trong chiến dịch tranh cử Tổng thống Mỹ, Donald Trump đã hứa sẽ chấm dứt Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), ngay khi bước vào Nhà Trắng ngày 23/1, ông đã giữ lời hứa này bằng cách ký văn bản chấm dứt việc Mỹ tham gia TPP.

Trên thực tế, quyết định này kết thúc Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, vốn từng được sắp đặt theo sáng kiến của Chính quyền Obama và tập hợp 12 quốc gia gồm Mỹ, Canada, Mexico, Peru, Chile, Australia, New Zealand, Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Việt Nam và Brunei. Chấm dứt một thỏa thuận mà Trump từng phản đối nội dung của nó, nếu bản thân sự lựa chọn này của Donald Trump không phải là một sự kiện trọng đại, điều này mang lại tấn tượng đầu tiên về chính sách của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương, và mở ra một kỷ nguyên mới trong cân bằng quyền lực với Trung Quốc, quốc gia mà TPP từng được thai nghén để chống lại. Theo quan điểm này, những hậu quả của việc chấm dứt TPP sẽ là nghiêm trọng và nó cũng không chỉ giới hạn trong giao lưu kinh tế và thương mại.

TPP, một hiệp định hạn chế

Trong quá trình ký kết hiệp định, sau một thời kỳ đàm phán lâu dài, TPP đã đạt được miêu tả như một thỏa thuận thương mại tự do quy tụ 12 quốc gia với dân số hơn 800 triệu người, và chiếm tới 40% GDP toàn cầu. Tuy nhiên, đằng sau những con số thoạt nhìn đầy ấn tượng này ẩn giấu thực tế của một hiệp định với phạm vi ảnh hưởng hạn chế, đặc biệt đối với khu vực châu Á. Chỉ có 5 quốc gia châu Á ký hiệp định này, trong số đó chỉ duy nhất Nhật Bản là thành viên của G-20. Hàn Quốc, quốc gia đã có một số thỏa thuận thương mại tự do với Hoa Kỳ, không tham gia TPP, Indonesia cũng không tham gia, còn Trung Quốc bị loại trừ một cách có chủ ý, mục tiêu cụ thể của TPP là lập một “mặt trận đối lập” với sự trỗi dậy của Trung Quốc torng các lĩnh vực kinh tế và thương mại trên quy mô châu lục (và nói chung là trên toàn thế giới). Rõ ràng, những đòn bẩy, công cụ của TPP khiêm tốn hơn nhiều so với tham vọng của hiệp định và thậm chí, TPP dường như chẳng là gì so với gia tăng trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và các nước láng giềng của Bắc Kinh, vốn là những quốc gia mà TPP từng hướng đến, nhưng nó lại không có phương tiện để chống lại sự mở rộng trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng này.

Phía Mỹ, hiệp định từng được miêu tả như một phương tiện phục hồi kinh tế. Theo Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC), TPP sẽ cho phép Hoa Kỳ tăng GPD lên 0,15% từ nay tới năm 2032, và gia tăng xuất khẩu của nước này lên 1%. Ngoài thực tế là điều này vẫn khá khiêm tốn (nếu ở đây, chúng ta đang nói về 40% GDP toàn cầu), các ước tính vẫn đang gây tranh cãi, và không nhất thiết mang lại nhiều giá trị hơn so với việc gia tăng các hiệp định song phương, chẳng hạn như hiệp định đang có với Hàn Quốc.

Nói về phần nội dung, Hiệp định bao gồm 30 chương về việc giảm thuế hải quan, các vấn đề sở hữu trí tuệ, môi trường, quyền lao động, tiếp cận thị trường mua sắm chính phủ, hoặc một thỏa thuận bảo vệ đầu tư. Về những điểm khác nhau này, có thể nêu lên nhiều vùng tối với các hiệu ứng không chắc chắn đối với nền kinh tế và việc làm tại Hoa Kỳ để biện minh cho quan điểm của Donald Trump, và còn cả sự không rõ ràng đáng kể liên quan đến khả năng “nâng cấp” của một số quốc gia ký kết, tính cả đến sự mất cân bằng kinh tế và xã hội rất lớn giữa 12 thành viên thêm vào đó là những khác biệt cơ bản về chính trị. Tóm lại, từ trước thời điểm ký kết Hiệp định, TPP đã bị gièm pha rằng đây là một thỏa thuận không hoàn thiện, không thực tế và khó áp dụng.

Cuối cùng, hãy nhớ rằng hiệp ước này, từng được ký tại Auckland vào cuối tháng 2/2016, vẫn chưa có hiệu lực, và việc Mỹ hủy bỏ không tham gia hiệp định này xác nhận rằng TPP là trường hợp “chết lưu” hơn là một bước lùi của Hiệp định. Với những lý do khác nhau, quyết định của Tổng thống Donald Trump chẳng gây ấn tượng mạnh mẽ gì, bởi một khi được công bố, quyết định cũng chẳng liên quan đến một hiệp ước mà ta có thể đo lường tầm ảnh hưởng của nó.

Trung Quốc trong tư thế phục kích

Trung Quốc đã không hề chậm trễ trong hành động vào giai đoạn tiếp theo của TPP vốn đang dần hình thành, thậm chí còn dự đoán sự rút lui mà Mỹ sẽ công bố. Nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh APEC từ ngày 17 đến 20/11/2016 tại Peru, và một vài ngày sau bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos (Thụy Sĩ), ngày 17/1/2017, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi Trung Quốc và các nước láng giềng thiết lập một quan hệ đối tác kinh tế toàn diện. Dự án này đầy tham vọng vì nó bao gồm ngoài Trung Quốc, là các nước ASEAN, Ấn Độ và Australia. Đồng thời từ chối bất kỳ sự tham gia nào của Mỹ (giới quan sát cũng khó tưởng tượng rằng Donald Trump ủng hộ dự án này). Quan điểm này của Bắc Kinh không gây ngạc nhiên, bởi trước tiên, Bắc Kinh luôn nhận thức với tất cả lý lẽ rằng TPP là trực tiếp chống lại Trung Quốc và cũng bởi về phía các nhà lãnh đạo, họ đã đưa ra nhiều sáng kiến để chống lại Hiệp định.

Như vậy, thông báo của Chính quyền Donald Trump là một thắng lợi đối với Bắc Kinh, khi con đường phía trước đã được khai thông, và chúng ta có thể dễ dàng hình dung rằng nhiều thành viên của TPP sẽ tiến gần lại với Trung Quốc, quốc gia mà họ vốn đang duy trì các quan hệ kinh tế và thương mại rất quan trọng. Các quốc gia Singapore, Malaysia, Australia và ngay cả Việt Nam đã bày tỏ sự quan tâm đối với sáng kiến của Bắc Kinh và nahnh chóng quay lưng lại với TPP. Các thành viên ASEAN khác rồi cũng sẽ tiếp bước. Cuối cùng, ngoại trừ Nhật Bản, các quốc gia mang cảm giác mồ côi đối với TPP, bất chấp những nỗ lực của Shinzo Abe, nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên tới chúc mừng Donald Trump ở New York sau khi doanh nhân tỷ phú này đắc cử tổng thống, các nước châu Á đã thay thế Mỹ bởi Trung Quốc như đối tác kinh tế và kinh doanh mà họ đang hướng tới.

Cũng nên nhắc lại rằng, ngoài những mục tiêu này của Trung Quốc, còn nhiều sáng kiến được nêu lên trong những năm gần đây, trong đó, việc thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) là đáng kể hơn cả. Với sáng kiến này, một lần nữa, gần như tất cả các quốc gia châu Á (trừ Nhật Bản) đều tham gia và Mỹ không tham gia (trái ngược với các nền kinh tế quan trọng của châu Âu). Nếu TPP không còn nữa, AIIB sẽ tiếp tục các hoạt động của mình và thậm chí còn được tăng cường hơn, điều này lại cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực.  Hiệp định do bộ đôi Obama-Clinton thiết lập, được hiểu là tìm cách để chống lại sự bành trướng của Trung Quốc, sự bãi bỏ hiệp định mở ra cánh cửa rộng cho Bắc Kinh.

Sự kết thúc của chính sách “xoay trục” sang châu Á

Còn lại tầm quan trọng chính trị trong quyết định của Donald Trump, người tuyên bố án tử của chiến lược “xoay trục”, được khởi xướng ngay từ lúc Barack Obama lên nắm quyền năm 2009 và trong chuyến công du của Hillary Clinton (chuyến công du đầu tiên với tư cách Ngoại trưởng Mỹ) tại châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Indonesia), và được chính thức hóa năm 2011. TPP được mong đợi như một trong những yếu tố chính cụ thể hóa chiến lược tái định vị này ở châu Á, bên cạnh các thỏa thuận chiến lược với các quốc gia khác trong khu vực. Trong chiến dịch tranh cử của mình, Donald Trump đã quyết liệt lên án sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Nhật Bản và Hàn Quốc, trong khuôn khổ các quan hệ đối tác chiến lược đang có hiệu lực với 2 quốc gia này, cũng như chiếc ô hạt nhân của Mỹ mà Tokyo và Seoul đang thụ hưởng (trong trường hợp Triều Tiên có hành động xâm lược). Thậm chí, Donald Trump còn gợi ý rằng hai nước này phải chịu trách nhiệm về số phận an ninh của mình, dù phải sở hữu cả vũ khí hạt nhân để đối mặt với những hành động của Bình Nhưỡng.

Tại Đông Nam Á, chiến lược “xoay trục” đã thể hiện những giới hạn cảu nó vào cuối năm 2016, với sự đảo chiều của Philippines, khi Rodrigo Duterte tuyên bố trong chuyến thăm chính thức của nhà lãnh đạo Philippines tới Bắc Kinh (20/10/2016), rằng Duterte sẽ quay lưng lại với Mỹ, đồng minh truyền thống, và rằng ông sẽ xích lại gần Trung Quốc. Một điều chắc chắn, dù Trung Quốc là “người hàng xóm” hay gây ra những tình huống khó xử, nhưng Manila không thể bỏ qua, đặc biệt là năng lực đầu tư của Trung Quốc (cũng như viện trợ phát triển của đất nước đông dân nhất hành tinh này), những khoản đầu tư không cạn kiệt, khó có thể từ chối. Tiếp sau Rodrigo Duterte, Thủ tướng Malaysia Najib Razak, đã tuyên bố ngay tại Bắc Kinh, trong chuyến thăm chính thức của ông tới Trung Quốc, việc thiết lập quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Trung Quốc. Những thay đổi này phản ánh sự tin tưởng ít ỏi mà các đồng minh của Washington đặt vào chính quyền mới của Tổng thống Donald Trump cũng như chính sách châu Á của ông này. Và Trung Quốc là quốc gia được lợi chính trong bối cảnh đó.

Vấn đề còn lại là tìm hiểu xem quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ thế nào, vì rằng “chính sách châu Á” của Washington trước hết là một chính sách đối với Trung Quốc.

Hiện Trung Quốc đang tìm kiếm một sự thỏa hiệp hơn là một cuộc đối đầu, nhưng một thỏa hiệp rõ ràng có lợi cho Bắc Kinh, sẽ phản ánh quan điểm sức mạnh mà Trung Quốc hiện diện tại châu Á – Thái Bình Dương. Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) thậm chí sẽ chào đón một hình thức kiểu “Yalta Thái Bình Dương”, trong đó Đông Thái Bình Dương sẽ được đặt dưới sự giám hộ của Mỹ, và Tây Thái Bình Dương dưới sự cai trị của Trung Quốc, điều này sẽ đánh dấu sự lãnh đạo của Trung Quốc bên bờ châu Á, nhưng đồng thời liên quan đến những cạnh tranh lớn hơn giữa hai quốc gia ở Thái Bình Dương. Chiến lược “xoay trục” dường như là một câu trả lời phủ định đối với sự chia sẻ này tại Thái Bình Dương, và do đó, nó được Bắc Kinh nhìn nhận như một mong muốn rõ rệt về tăng cường đua tranh. Mặc dù vậy, câu hỏi về một món hời lớn thường được đề cập trong giới chiến lược gia và giới học thuật Mỹ vốn ủng hộ quan điểm thực tế. Với việc kết thúc TPP, Donald Trump chỉ đơn thuần làm sống lại ý tưởng rằng món hời lớn này có thể nhanh chóng trở thành nền tảng của chính sách đối ngoại của Mỹ ở châu Á.

Nguồn: Asialyst – 25/01/2017

TKNB – 27/02/2017