Việt Nam với CPTPP: Thành tựu và thách thức – Phần cuối


Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức đáng kể khi ký kết CPTPP. Cơ cấu sản xuất công nghiệp của Việt Nam không phù hợp với các điều khoản của CPTPP, nhất là các quy định về nguồn gốc. Do các ngành công nghiệp trong nước có quy mô nhỏ và chưa có các ngành công nghiệp hỗ trợ vững mạnh, nên Việt Nam phải nhập khẩu phần lớn hàng hóa trung gian. Điều này khiến Việt Nam khó đáp ứng các yêu cầu về nội dung nội địa theo CPTPP.

Việt Nam cũng phải sửa đổi nhiều quy định hiện hành về thương mại, hải quan, quyền sở hữu trí tuệ và lao động cho phù hợp với CPTPP cũng như giảm khoảng cách giữa CPTPP và các thỏa thuận song phương và đa phương khác mà Việt Nam đang tham gia như Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP). Đồng thời, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với một thách thức về ngân sách quốc gia vì việc cắt giảm và xóa bỏ thuế nhập khẩu theo các thỏa thuận sẽ làm giảm nguồn thu của nhà nước.

Những thách thức khác bao gồm việc phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng tăng trong xuất khẩu và đầu tư từ các thành viên CPTPP khác, thúc đẩy sự tham gia của các khu vực tư nhân và các SME vào các hoạt động kinh tế của đất nước, và tiến hành các cuộc cải cách toàn diện đối với các SME. Tại Việt Nam, các SOE đảm nhiệm nhiều vai trò kinh tế và xã hội quan trọng như tạo công ăn việc làm và thúc đẩy sự ổn định xã hội. Tuy nhiên, trong khuôn khổ CPTPP, những vai trò này sẽ bị hạn chế đáng kể bởi các quy định mới cản trở các SOE trong việc tiếp nhận vốn tài trợ hay sự ưu đãi từ phía Chính phủ Việt Nam. Hơn nữa, tất cả các SOE tại các nước thành viên CPTPP phải đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động và cung cấp thông tin. Do nhu cầu thúc đẩy cạnh tranh công bằng giữa các công ty nước ngoài và các SEO trong khuôn khổ CPTPP gia tăng, nên các SOE bị kiềm chế hơn nữa trong việc ưu đãi các công ty địa phương. Những điều kiện này gây áp lực lớn buộc các SOE phải tiến hành các cải cách then chốt, nhất là về cách thức vận hành, quản lý và đánh giá những doanh nghiệp này.

Đóng góp của Việt Nam

Xét tới những điều kiện và vị thế độc nhất vô nhị của mình, Việt Nam có khả năng làm gia tăng giá trị của CPTPP theo nhiều cách khác nhau. Một là, Việt Nam là minh chứng cho việc các nước châu Á đang phát triển hoặc các nước có khu vực thuộc sở hữu nhà nước giữ vai trò chủ đạo có thể tham gia một thỏa thuận thương mại tiêu chuẩn cao như CPTPP. Mặc dù nhiều người coi thỏa thuận này về cơ bản là một thỏa thuận giữa Mỹ và Nhật Bản, nhưng sự tham gia của Việt Nam truyền đi một thông điệp then chốt nhưng khác biệt rằng CPTPP có khả năng hợp nhất các thành viên có hệ thống chính trị khác nhau và ở những trình độ phát triển khác nhau.

Việt Nam là nền kinh tế kém phát triển nhất trong CPTPp với thu nhập bình quân đầu người là khoảng 2500 USD, trong khi thu nhập bình quân đầu người ở các nước thành viên khác là khoảng 30.000 USD. Ngoài ra, là nền kinh tế phi thị trường duy nhất tham gia CPTPP, sự góp mặt của Việt Nam giúp thúc đẩy mục tiêu trung tâm là thiết lập quy tắc nhằm hệ thống hóa các quy định hạn chế các thông lệ của chủ nghĩa tư bản nhà nước mà các thể chế thương mại địa phương hiện hành như Tổ chức thương mại thế giới (WTO) không kiểm soát hết được. Do đó, Việt Nam là một ví dụ điển hình cho thấy làm thế nào mà ngay cả một nước nhỏ, có thu nhập thấp và theo chế độ chủ nghĩa tư bản nhà nước có thể hưởng lợi từ việc tham gia một thỏa thuận tiêu chuẩn cao.

Hai là, với một thị trường mới nổi và vị trí địa lý chiến lược, Việt Nam mang lại cho các nước CPTPP khác những cơ hội hấp dẫn để kinh doanh và mở rộng sự hiện diện của họ trong khu vực. Việt Nam được dự đoán nằm trong số các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới trong những thập niên tới. Điều này, cùng với dân số gần 100 triệu người, chắc chắn sẽ đẩy mạnh nhu cầu nhập khẩu và đầu tư từ các nước bên ngoài. Ngoài ra, là nước nằm ở trung tâm khu vực Đông Á và gần với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, Việt Nam cung cấp một nền tảng tốt để các nước không chỉ mở rộng các hoạt động kinh tế của mình mà còn lôi kéo các nước lớn khác vào lĩnh vực chính trị và an ninh.

Ba là, là một nước chủ động, Việt Nam đã có những đóng góp then chốt như đăng cai tổ chức các hội nghị và kết thúc các cuộc đàm phán nhằm hoàn tất việc ký kết CPTPP. Điều này được thể hiện đặc biệt rõ nét tại hội nghị cấp cao APEC 2017 diễn ra ở thành phố Đà Nẵng. Là nước chủ nhà, Việt Nam đã làm việc với các nước tham dự khác, nhất là Nhật Bản, để tìm ra các cách thức nhằm đáp ứng những lợi ích khác nhau của các nước tham gia CPTPP. Trong bối cảnh Mỹ rút khỏi hiệp ước cũng như những căng thẳng thương mại đang diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc, việc kết thúc thành công các cuộc đàm phán, dẫn tới ký kết CPTPP, được xem là một thành tựu đột phá của APEC 2017.

Những nỗ lực của Việt Nam về CPTPP tại APEC 2017 đã được Nhật Bản, Australia, New Zealand và Canada ghi nhận rộng rãi. Bộ trưởng Kinh tế Nhật Bản Toshimitsu Motegi phát biểu rằng “Nhật Bản rất biết ơn Việt Nam vì sự hợp tác hiệu quả của Việt Nam trong thời gian qua”, và tái khẳng định Nhật Bản sẽ tiếp tục đảm nhiệm vai trò là bên điều phối, dẫn dắt và tạo ra những liên kết giúp CPTPP sớm có hiệu lực. Đại sứ Australia tại Việt Nam Craig Chittick nói rằng Việt Nam đã hoàn thành một nhiệm vụ lớn với tư cách là chủ nhà APEC 2017 và đóng một vai trò quan trọng trong việc hoàn tất các cuộc đàm phán cũng như thúc đẩy thương mại tự do và hội nhập kinh tế trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Bốn là, sự tham gia của các nước RCEP như Việt Nam, Singapore và Malaysia, cũng là thành viên của CPTPP, giúp đẩy nhanh tiến độ các cuộc đàm phán về chính RCEP. Với những kinh nghiệm thu được từ các cuộc đàm phán CPTPP, những nước này hiện có vị thế tốt hơn để thúc đẩy và kết thúc các cuộc đàm phán về RCEP trong tương lai gần.

Năm là, sự có mặt của Việt Nam trong CPTPP sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nước khác tham gia thỏa thuận này trong tương lai. Nhiều nền kinh tế như Philippines, Thái Lan, Đài Loan và Hàn Quốc đã bày tỏ sự quan tâm đến việc tham gia CPTPP, không chỉ vì đây là một thỏa thuận tiêu chuẩn cao mà còn vì họ không muốn để mất quyền tiếp cận thị trường vào tay các thành viên CPTPP như Việt Nam, Singapore và Malaysia. Về mặt này, sự tham gia CPTPP của các nước Đông Nam Á sẽ giúp giảm nhẹ những thiệt hại mà việc Mỹ rút khỏi hiệp định này có thể gây ra, đồng thời mang lại một sự lựa chọn thay thế cho những sáng kiến kinh tế do Trung Quốc dẫn đầu (như Sáng kiến “Vành đai và Con đường”). Mặt khác, việc Việt Nam trở thành thành viên của CPTPP có thể khiến Trung Quốc dễ dàng chấp nhận cân nhắc đề xuất gia nhập CPTPP hơn tại một thời điểm nào đó trong tương lai là điều hoàn toàn không thể xảy ra, vì cả hai đều được coi là các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và vì Mỹ đã rút khỏi hiệp định này.

Cuối cùng, là thành viên CPTPP, Việt Nam có thể tận dụng vị trí độc nhất vô nhị của mình để giữ vai trò là một trung tâm cung cấp các dịch vụ và một nền tảng sản xuất để các nhà đầu tư bước vào thị trường CPTPP màu mỡ. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã trở thành điểm đến đầu tư ngày càng hấp dẫn, mang lại quyền ưu tiên tiếp cận thị trường CPTPP rộng lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài, kể cả các nước không tham gia CPTPP như Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan.

Tóm lại, Việt Nam đã chứng tỏ sự tham gia và đóng góp tích cực và chủ động vào tiến trình hội nhập thương mại tự do trong khu vực thông qua CPTPP. Việt Nam cũng đã tái khẳng định cam kết về thương mại tự do cũng như cơ sở hợp lý cho chiến lược hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của mình.

Kết luận

Tóm lại, Việt Nam đã và đang đóng vai trò chủ động và quan trọng trong việc thúc đẩy các siêu thỏa thuận thương mại khu vực như CPTPP. Việc Việt Nam trở thành thành viên CPTPP tạo động lực để các nước thu nhập thấp hoặc các nước có khu vực thuộc sở hữu nhà nước giữ vai trò chủ đạo tham gia một thỏa thuận thương mại tiêu chuẩn cao cũng như đóng một vai trò nhất định trong việc thiết lập quy tắc. Việt Nam đã có những đóng góp tích cực vào việc đàm phán và ký kết CPTPP, đặc biệt là tại hội nghị cấp cao APEC 2017 được tổ chức ở Đà Nẵng. Với một thị trường mới nổi và vị trí địa lý chiến lược, Việt Nam mang lại cho các thành viên CPTPP khác cơ hội thúc đẩy xuất khẩu và kinh doanh, đồng thời qua đó mở rộng sự hiện diện của họ trong khu vực. Sự tham gia của Việt Nam vào CPTPP cũng góp phần đẩy nhanh tốc độ đàm phán RCEP và khuyến khích các thành viên RCEP hác tham gia CPTPP.

Tuy nhiên, để thực hiện các cam kết của mình theo CPTPP, Việt Nam cần thúc đẩy những cải cách kinh tế cần thiết nói chung và nâng cấp cơ cấu sản xuất công nghiệp của mình nói riêng. Ngoài ra, Việt Nam cần nỗ lực phối hợp hơn trong việc cải thiện các quy định và thể chế trong nước cũng như nâng cao tính cạnh tranh cảu các SOE.

Nguồn: Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Singapore) – 24/05/2019

TLTKĐB – 04/06/2019

Advertisements

Việt Nam với CPTPP: Thành tựu và thách thức – Phần đầu


Tóm tắt

+ Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), một hiệp định kinh tế khu vực tiêu chuẩn cao mà Việt Nam đã phê chuẩn, được kỳ vọng sẽ mang lại cho Việt Nam nhiều lợi ích, nhưng những thách thức mà Việt Nam phải chật vật đối phó cũng lớn.

+ Xét tới những điều kiện có một không hai của Việt Nam, đất nước hình chữ S này có thể là một ví dụ điển hình cho thấy làm thế nào mà một nước châu Á đang phát triển với khu vực thuộc sở hữu nhà nước giữ vai trò chủ đạo lại có thể theo đuổi thành công tiến trình hội nhập kinh tế thông qua CPTPP.

+ Đóng góp của Việt Nam vào việc ký kết thành công CPTPP được thể hiện rõ nét tại Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 2017 được tổ chức tại thành phố Đà Nẵng.

+ Để đáp ứng các yêu cầu của CPTPP, Việt Nam sẽ cần phải nâng cấp đáng kể cơ cấu sản xuất công nghiệp cũng như cải cách các thể chế kinh tế, các quy định trong nước và khu vực doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước (SOE) của mình.

Mở đầu

CPTPP nằm trong số các siêu thỏa thuận thương mại tự do đáng chú ý nhất thế giới hiện nay. Mặc dù các nghiên cứu lớn hiện có đã phân tích những lợi ích và thách thức đối với các nước tham gia cũng như vai trò của các nước tham gia chủ chốt như Nhật Bản và Australia trong CPTPP, nhưng hầu như không ai chú ý đến sự tham gia và đóng góp của các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam, một trường hợp nghiên cứu thú vị vì Việt Nam nằm trong số vài nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa duy nhất tham gia CPTPP.

Mục tiêu của bài này là làm rõ hơn quan điểm của Việt Nam về CPTPP, bắt đầu bằng miêu tả khái quát hiệp định này, sau đó là thảo luận về lợi ích và thách thức từ CPTPP đối với Việt Nam. Phần cuối là xem xét những đóng góp của Việt Nam cho CPTPP.

Tổng quan về CPTPP

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), ban đầu gọi là “thỏa thuận 4 bên” (Brunei, Chile, New Zealand và Singapore) được mở rộng thành thỏa thuận 12 thành viên, sau khi có sự tham gia của Australia, Peru, Việt Nam, Mỹ, Canada, Malaysia, Mexico và Nhật Bản. Sự phô trương ầm ĩ xung quanh TPP giảm đi đáng kể sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rút Mỹ khỏi thỏa thuận này. Sau khi vượt qua được trở ngại này, tại hội nghị thượng đỉnh TPP diễn ra ở Chile ngày 14/3/2017, tất cả 11 nước thành viên còn lại của TPP khẳng định TPP sẽ duy trì các tiêu chuẩn cao của mình và có tính toàn diện ở mọi lĩnh vực. Cam kết này được các nước tham gia tái khẳng định bên lề APEC lần thứ 25 diễn ra tại Việt Nam ngày 11/11/2017. Tại hội nghị thượng đỉnh này, TPP được đổi tên thành CPTPP để phản ánh cấu trúc mới sau khi Mỹ rút lui. CPTPP chính thức có hiệu lực từ ngày 30/12/2018, sau khi được 6 nước Mexico, Nhật Bản, Singapore, New Zealand, Canada và Australia thông qua. Bất chấp việc Mỹ rút lui, CPTPP vẫn là một trong những thỏa thuận thương mại tự do lớn nhất thế giới, chiếm 13,3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu.

CPTPP nhằm mục đích thiết lập một chuẩn mực mới cho thương mại toàn cầu, và hợp nhất các vấn đề mới xuất hiện bằng cách đưa ra 5 đặc tính then chốt. Một là, CPTPP nhằm tạo ra khả năng tiếp cận thị trường toàn diện để xóa bỏ thuế quan và các rào cản khác đối với thương mại hàng hóa và dịch vụ và đầu tư. Hai là, CPTPP nhằm tạo ra một thỏa thuận khu vực bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các chuỗi sản xuất và cung ứng giữa các thành viên TPP. Ba là, CPTPP sử dụng một cách tiếp cận đối với các vấn đề thương mại xuyên suốt dựa trên những kết quả đạt được tại APEC và các diễn đàn khác bằng cách hợp nhất 4 vấn đề xuyên suốt mới:: sự cố kết về quy định, tính cạnh tranh và việc tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), và sự phát triển. Bốn là, CPTPP tập trung vào các thách thức thương mại mới bằng cách giải quyết các vấn đề thương mại mới xuất hiện như những vấn đề do công nghệ số gây ra. Năm là, đó là một thỏa thuận hiện hành có thể được cập nhật để đối phó với những vấn đề thương mại tiềm tàng trong tương lai cũng như các vấn đề mới phát sinh từ sự mở rộng thỏa thuận để bao gồm trong đó các thành viên mới.

So với TPP, CPTPP khác biệt ở một vài khía cạnh. Một là, CPTPP trì hoãn việc áp dụng 22 điều khoản từ các chương nói về việc tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, đầu tư, dịch vụ, mua sắm công, quyền sở hữu trí tuệ, môi trường và tính minh bạch, vốn được đưa vào TPP theo yêu cầu của Wasington. Đáng chú ý, chương nói về quyền sở hữu trí tuệ được thay đổi nhiều nhất, giảm thời gian bảo hộ quyền tác giả từ 70 năm xuống 50 năm sau khi tác giả qua đời. Tương tự, trong chương nói về đầu tư trong khuôn khổ CPTPP, “khả năng các nhà đầu tư khởi tố tranh chấp theo thỏa thuận đầu tư và giấy phép đầu tư sẽ bị hạn chế hơn so với TPP”. Hai là, CPTPP nhấn mạnh rằng khi hoạch định chính sách, các nước thành viên trước tiên cần xem xét tình hình và những ưu tiên của chính mình, vốn hay thay đổi và mang tính quốc gia. Những điều chỉnh và quy định mới về tính linh hoạt đã được tích hợp trong các điều khoản bổ sung về hiệu lực, cũng như việc rút khỏi, gia nhập và tiếp tục đánh giá CPTPP. Ba là, CPTPP là một thỏa thuận tiến bộ vì nó vượt ra ngoài khuôn khổ của việc cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp. Chẳng hạn, CPTPP bao gồm cả những cam kết bảo vệ các tiêu chuẩn cao về lao động và môi trường trên toàn khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Là một thỏa thuận mở, CPTPP sẽ chấp nhận sự tham gia của các nước khác nếu họ quan tâm và sẵn sàng tuân thủ và thực thi các nguyên tắc và điều khoản được quy định trong thỏa thuận này. Trên thực tế, CPTPP đang thu hút sự chú ý của một vài quốc gia, như Anh, Hàn Quốc và Thái Lan. CPTPP cũng sẽ chào đón sự trở lại của Mỹ nếu nền kinh tế lớn nhất thế giới này chấp nhận các nguyên tắc của thỏa thuận.

Những lợi ích và thách thức đối với Việt Nam

Việt Nam đã tham dự các cuộc đàm phán về CPTPP vào năm 2008. Có nhiều động lực thúc đẩy Việt Nam tham gia thỏa thuận này. Nhờ sự cắt giảm thuế quan mà Việt Nam có thể hưởng lợi từ việc gia tăng xuất khẩu sang các thị trường trong khuôn khổ CPTPP, nhất là những nước hiện không có thỏa thuận thương mại tự do với Việt Nam như Canada, Mexico và Peru, và đặc biệt là với những hàng hóa mà Việt Nam có lợi thế so sánh như hàng dệt may, giày dép, điện tử và nông sản. Cụ thể, Việt Nam được dự đoán là nước hưởng lợi nhiều nhất, với tăng trưởng ngoại thương và đầu tư được kỳ vọng sẽ đạt mức tương ứng là 30,1% và 14,4% vào năm 2030. Bằng việc gia nhập các mạng lưới sản xuất giữa các thành viên CPTPP, Việt Nam có thể hội nhập hơn nữa vào các chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo. Cụ thể, theo Ousmane Dione, Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, ngay cả với những giả định mang tính bảo thủ, báo cáo năm 2018 của Ngân hàng Thế giới “ước tính CPTPP sẽ giúp GDP của Việt Nam năm 2030 tăng 1,1%. Giả sử năng suất có sự gia tăng vừa phải, thì GDP ước tính sẽ tăng tới 3,5% nhờ CPTPP”. Đồng thời, việc gia tăng xuất khẩu sang các thị trường CPTPP có thể tạo ra trung bình khoảng 20.000 – 26.000 việc làm mỗi năm cho Việt Nam đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất như ngành dệt may, qua đó giúp giảm bớt gần 1 triệu người sống dưới mức nghèo đói vào năm 2030.

Thêm vào đó, những cam kết về dịch vụ và đầu tư trong thỏa thuận này có thể giúp Việt Nam cải thiện môi trường và thu hút thêm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ những nước trong và ngoài khuôn khổ CPTPP, qua đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. Hơn nữa, việc Việt Nam tham gia CPTPP có thể khuyến khích tiến trình tái cơ cấu kinh tế trong nước, nhất là việc cải cách các thể chế kinh tế và các SOE, đồng thời tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn cho khu vực tư nhân và các SME.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Singapore) – 24/05/2019

TLTKĐB – 04/06/2019

Sự kết thúc của TPP: một “phi sự kiện” với hậu quả lớn


Barthélémy Courmont

Trong chiến dịch tranh cử Tổng thống Mỹ, Donald Trump đã hứa sẽ chấm dứt Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), ngay khi bước vào Nhà Trắng ngày 23/1, ông đã giữ lời hứa này bằng cách ký văn bản chấm dứt việc Mỹ tham gia TPP.

Trên thực tế, quyết định này kết thúc Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, vốn từng được sắp đặt theo sáng kiến của Chính quyền Obama và tập hợp 12 quốc gia gồm Mỹ, Canada, Mexico, Peru, Chile, Australia, New Zealand, Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Việt Nam và Brunei. Chấm dứt một thỏa thuận mà Trump từng phản đối nội dung của nó, nếu bản thân sự lựa chọn này của Donald Trump không phải là một sự kiện trọng đại, điều này mang lại tấn tượng đầu tiên về chính sách của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương, và mở ra một kỷ nguyên mới trong cân bằng quyền lực với Trung Quốc, quốc gia mà TPP từng được thai nghén để chống lại. Theo quan điểm này, những hậu quả của việc chấm dứt TPP sẽ là nghiêm trọng và nó cũng không chỉ giới hạn trong giao lưu kinh tế và thương mại.

TPP, một hiệp định hạn chế

Trong quá trình ký kết hiệp định, sau một thời kỳ đàm phán lâu dài, TPP đã đạt được miêu tả như một thỏa thuận thương mại tự do quy tụ 12 quốc gia với dân số hơn 800 triệu người, và chiếm tới 40% GDP toàn cầu. Tuy nhiên, đằng sau những con số thoạt nhìn đầy ấn tượng này ẩn giấu thực tế của một hiệp định với phạm vi ảnh hưởng hạn chế, đặc biệt đối với khu vực châu Á. Chỉ có 5 quốc gia châu Á ký hiệp định này, trong số đó chỉ duy nhất Nhật Bản là thành viên của G-20. Hàn Quốc, quốc gia đã có một số thỏa thuận thương mại tự do với Hoa Kỳ, không tham gia TPP, Indonesia cũng không tham gia, còn Trung Quốc bị loại trừ một cách có chủ ý, mục tiêu cụ thể của TPP là lập một “mặt trận đối lập” với sự trỗi dậy của Trung Quốc torng các lĩnh vực kinh tế và thương mại trên quy mô châu lục (và nói chung là trên toàn thế giới). Rõ ràng, những đòn bẩy, công cụ của TPP khiêm tốn hơn nhiều so với tham vọng của hiệp định và thậm chí, TPP dường như chẳng là gì so với gia tăng trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và các nước láng giềng của Bắc Kinh, vốn là những quốc gia mà TPP từng hướng đến, nhưng nó lại không có phương tiện để chống lại sự mở rộng trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng này.

Phía Mỹ, hiệp định từng được miêu tả như một phương tiện phục hồi kinh tế. Theo Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC), TPP sẽ cho phép Hoa Kỳ tăng GPD lên 0,15% từ nay tới năm 2032, và gia tăng xuất khẩu của nước này lên 1%. Ngoài thực tế là điều này vẫn khá khiêm tốn (nếu ở đây, chúng ta đang nói về 40% GDP toàn cầu), các ước tính vẫn đang gây tranh cãi, và không nhất thiết mang lại nhiều giá trị hơn so với việc gia tăng các hiệp định song phương, chẳng hạn như hiệp định đang có với Hàn Quốc.

Nói về phần nội dung, Hiệp định bao gồm 30 chương về việc giảm thuế hải quan, các vấn đề sở hữu trí tuệ, môi trường, quyền lao động, tiếp cận thị trường mua sắm chính phủ, hoặc một thỏa thuận bảo vệ đầu tư. Về những điểm khác nhau này, có thể nêu lên nhiều vùng tối với các hiệu ứng không chắc chắn đối với nền kinh tế và việc làm tại Hoa Kỳ để biện minh cho quan điểm của Donald Trump, và còn cả sự không rõ ràng đáng kể liên quan đến khả năng “nâng cấp” của một số quốc gia ký kết, tính cả đến sự mất cân bằng kinh tế và xã hội rất lớn giữa 12 thành viên thêm vào đó là những khác biệt cơ bản về chính trị. Tóm lại, từ trước thời điểm ký kết Hiệp định, TPP đã bị gièm pha rằng đây là một thỏa thuận không hoàn thiện, không thực tế và khó áp dụng.

Cuối cùng, hãy nhớ rằng hiệp ước này, từng được ký tại Auckland vào cuối tháng 2/2016, vẫn chưa có hiệu lực, và việc Mỹ hủy bỏ không tham gia hiệp định này xác nhận rằng TPP là trường hợp “chết lưu” hơn là một bước lùi của Hiệp định. Với những lý do khác nhau, quyết định của Tổng thống Donald Trump chẳng gây ấn tượng mạnh mẽ gì, bởi một khi được công bố, quyết định cũng chẳng liên quan đến một hiệp ước mà ta có thể đo lường tầm ảnh hưởng của nó.

Trung Quốc trong tư thế phục kích

Trung Quốc đã không hề chậm trễ trong hành động vào giai đoạn tiếp theo của TPP vốn đang dần hình thành, thậm chí còn dự đoán sự rút lui mà Mỹ sẽ công bố. Nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh APEC từ ngày 17 đến 20/11/2016 tại Peru, và một vài ngày sau bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos (Thụy Sĩ), ngày 17/1/2017, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi Trung Quốc và các nước láng giềng thiết lập một quan hệ đối tác kinh tế toàn diện. Dự án này đầy tham vọng vì nó bao gồm ngoài Trung Quốc, là các nước ASEAN, Ấn Độ và Australia. Đồng thời từ chối bất kỳ sự tham gia nào của Mỹ (giới quan sát cũng khó tưởng tượng rằng Donald Trump ủng hộ dự án này). Quan điểm này của Bắc Kinh không gây ngạc nhiên, bởi trước tiên, Bắc Kinh luôn nhận thức với tất cả lý lẽ rằng TPP là trực tiếp chống lại Trung Quốc và cũng bởi về phía các nhà lãnh đạo, họ đã đưa ra nhiều sáng kiến để chống lại Hiệp định.

Như vậy, thông báo của Chính quyền Donald Trump là một thắng lợi đối với Bắc Kinh, khi con đường phía trước đã được khai thông, và chúng ta có thể dễ dàng hình dung rằng nhiều thành viên của TPP sẽ tiến gần lại với Trung Quốc, quốc gia mà họ vốn đang duy trì các quan hệ kinh tế và thương mại rất quan trọng. Các quốc gia Singapore, Malaysia, Australia và ngay cả Việt Nam đã bày tỏ sự quan tâm đối với sáng kiến của Bắc Kinh và nahnh chóng quay lưng lại với TPP. Các thành viên ASEAN khác rồi cũng sẽ tiếp bước. Cuối cùng, ngoại trừ Nhật Bản, các quốc gia mang cảm giác mồ côi đối với TPP, bất chấp những nỗ lực của Shinzo Abe, nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên tới chúc mừng Donald Trump ở New York sau khi doanh nhân tỷ phú này đắc cử tổng thống, các nước châu Á đã thay thế Mỹ bởi Trung Quốc như đối tác kinh tế và kinh doanh mà họ đang hướng tới.

Cũng nên nhắc lại rằng, ngoài những mục tiêu này của Trung Quốc, còn nhiều sáng kiến được nêu lên trong những năm gần đây, trong đó, việc thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) là đáng kể hơn cả. Với sáng kiến này, một lần nữa, gần như tất cả các quốc gia châu Á (trừ Nhật Bản) đều tham gia và Mỹ không tham gia (trái ngược với các nền kinh tế quan trọng của châu Âu). Nếu TPP không còn nữa, AIIB sẽ tiếp tục các hoạt động của mình và thậm chí còn được tăng cường hơn, điều này lại cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực.  Hiệp định do bộ đôi Obama-Clinton thiết lập, được hiểu là tìm cách để chống lại sự bành trướng của Trung Quốc, sự bãi bỏ hiệp định mở ra cánh cửa rộng cho Bắc Kinh.

Sự kết thúc của chính sách “xoay trục” sang châu Á

Còn lại tầm quan trọng chính trị trong quyết định của Donald Trump, người tuyên bố án tử của chiến lược “xoay trục”, được khởi xướng ngay từ lúc Barack Obama lên nắm quyền năm 2009 và trong chuyến công du của Hillary Clinton (chuyến công du đầu tiên với tư cách Ngoại trưởng Mỹ) tại châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Indonesia), và được chính thức hóa năm 2011. TPP được mong đợi như một trong những yếu tố chính cụ thể hóa chiến lược tái định vị này ở châu Á, bên cạnh các thỏa thuận chiến lược với các quốc gia khác trong khu vực. Trong chiến dịch tranh cử của mình, Donald Trump đã quyết liệt lên án sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Nhật Bản và Hàn Quốc, trong khuôn khổ các quan hệ đối tác chiến lược đang có hiệu lực với 2 quốc gia này, cũng như chiếc ô hạt nhân của Mỹ mà Tokyo và Seoul đang thụ hưởng (trong trường hợp Triều Tiên có hành động xâm lược). Thậm chí, Donald Trump còn gợi ý rằng hai nước này phải chịu trách nhiệm về số phận an ninh của mình, dù phải sở hữu cả vũ khí hạt nhân để đối mặt với những hành động của Bình Nhưỡng.

Tại Đông Nam Á, chiến lược “xoay trục” đã thể hiện những giới hạn cảu nó vào cuối năm 2016, với sự đảo chiều của Philippines, khi Rodrigo Duterte tuyên bố trong chuyến thăm chính thức của nhà lãnh đạo Philippines tới Bắc Kinh (20/10/2016), rằng Duterte sẽ quay lưng lại với Mỹ, đồng minh truyền thống, và rằng ông sẽ xích lại gần Trung Quốc. Một điều chắc chắn, dù Trung Quốc là “người hàng xóm” hay gây ra những tình huống khó xử, nhưng Manila không thể bỏ qua, đặc biệt là năng lực đầu tư của Trung Quốc (cũng như viện trợ phát triển của đất nước đông dân nhất hành tinh này), những khoản đầu tư không cạn kiệt, khó có thể từ chối. Tiếp sau Rodrigo Duterte, Thủ tướng Malaysia Najib Razak, đã tuyên bố ngay tại Bắc Kinh, trong chuyến thăm chính thức của ông tới Trung Quốc, việc thiết lập quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Trung Quốc. Những thay đổi này phản ánh sự tin tưởng ít ỏi mà các đồng minh của Washington đặt vào chính quyền mới của Tổng thống Donald Trump cũng như chính sách châu Á của ông này. Và Trung Quốc là quốc gia được lợi chính trong bối cảnh đó.

Vấn đề còn lại là tìm hiểu xem quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ thế nào, vì rằng “chính sách châu Á” của Washington trước hết là một chính sách đối với Trung Quốc.

Hiện Trung Quốc đang tìm kiếm một sự thỏa hiệp hơn là một cuộc đối đầu, nhưng một thỏa hiệp rõ ràng có lợi cho Bắc Kinh, sẽ phản ánh quan điểm sức mạnh mà Trung Quốc hiện diện tại châu Á – Thái Bình Dương. Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) thậm chí sẽ chào đón một hình thức kiểu “Yalta Thái Bình Dương”, trong đó Đông Thái Bình Dương sẽ được đặt dưới sự giám hộ của Mỹ, và Tây Thái Bình Dương dưới sự cai trị của Trung Quốc, điều này sẽ đánh dấu sự lãnh đạo của Trung Quốc bên bờ châu Á, nhưng đồng thời liên quan đến những cạnh tranh lớn hơn giữa hai quốc gia ở Thái Bình Dương. Chiến lược “xoay trục” dường như là một câu trả lời phủ định đối với sự chia sẻ này tại Thái Bình Dương, và do đó, nó được Bắc Kinh nhìn nhận như một mong muốn rõ rệt về tăng cường đua tranh. Mặc dù vậy, câu hỏi về một món hời lớn thường được đề cập trong giới chiến lược gia và giới học thuật Mỹ vốn ủng hộ quan điểm thực tế. Với việc kết thúc TPP, Donald Trump chỉ đơn thuần làm sống lại ý tưởng rằng món hời lớn này có thể nhanh chóng trở thành nền tảng của chính sách đối ngoại của Mỹ ở châu Á.

Nguồn: Asialyst – 25/01/2017

TKNB – 27/02/2017

Liệu nguyên tắc không can thiệp có còn là rào cản đối với ASEAN?


Chang Jun Yan

Nhìn vào 3 vấn đề an ninh quan trọng nhất của khu vực châu Á – Thái Bình Dương mà ASEAN phải đối mặt năm vừa rồi: cuộc khủng hoảng người tị nạn Rohingya, vấn đề Biển Đông và cuộc khủng hoảng hạt nhân tại Triều Tiên – chỉ có thể nói cái cách ASEAN phản ứng đối mặt với vấn đề Triều Tiên là còn cho thấy sự thống nhất của khối này.

Đảm nhận vai trò chủ tịch ASEAN năm tới, Singapore sẽ phải nỗ lực rất nhiều trong việc giúp ASEAN đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan giữa việc đạt được những mục tiêu và mong muốn trở thành một thể chế khu vực lớn mạnh mà vẫn phải giữ các nguyên tắc cơ bản như không can thiệp vào vấn đề nội bộ của các nước thành viên.

Điểm lại một số thành tựu được cho là nổi bật nhất của ASEAN cho đến nay. Thứ nhất, mặc dù không có một cuộc xung đột vũ trang nào giữa các quốc gia thành viên kể từ khi thành lập, ASEAN thực ra vẫn chưa phải là một Cộng đồng ổn định thật sự nơi mà xung đột vũ trang là điều không thể nghĩ tới. Thứ hai, cái cách mà ASEAN đã giúp Trung Quốc hòa nhập hơn với các chủ thể khu vực thực ra vẫn còn chưa hiệu quả khi mà Trung Quốc ngày càng có các hành động hiếu chiến hơn ở Biển Đông.

Ngay cả khi ASEAN đã dần trở thành một phần quan trọng của chủ nghĩa khu vực, đặc biệt khi đã thành công trong việc thiết lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) vào năm 1994 thì những thành tựu này vẫn chưa xứng so với chiều dài lịch sử của ASEAN, chưa nói đến việc ASEAN đã không đủ khả năng giải quyết một cách dứt khoát bất ổn trong khu vực phát sinh từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 và sự gia tăng chia rẽ trong ARF.

Kỳ vọng về một Cộng đồng

Đã có nhiều kỳ vọng về một Cộng đồng ASEAN, một Cộng đồng có thể trở nên thịnh vượng cùng nhau; về việc ASEAN đóng vai trò chủ đạo, là một trục liên kết trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Đây cũng là những vấn đề mà Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã nêu bật trong bài phát biểu của ông tại lễ bế mạc Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 31 vừa kết thúc. ASEAN Singapore 2018 cũng đã chính thức ra mắt logo với dòng chữ “Bền vững và Sáng tạo”.

Tuy nhiên, ngày càng có thể thấy rõ sự mâu thuẫn giữa nguyên tắc không can thiệp của ASEAN và kỳ vòng về một Cộng đồng ASEAN với việc ASEAN đóng vai trò chủ đạo. Như Bộ trưởng Ngoại giao Singapore Vivian Balakrishnan đã phát biểu gần đây, ASEAN hiện nay đang ở bước ngoặt khi việc phải đối mặt với những thách thức rất đa dạng của 10 quốc gia thành viên ngày càng đòi hỏi ASEAN phải ở một vị trí trung tâm.

Do có sự mâu thuẫn giữa việc lấy đồng thuận giữa các thành viên làm chính hay lấy ASEAN làm trung tâm, ASEAN có thể đứng trước nguy cơ tầm ảnh hưởng đang bị giảm sút. Nguyên tắc không can thiệp đã trói tay các thành viên của ASEAN. Ngay cả khi những vấn đề nhưc uộc khủng hoảng Rohingya làm ảnh hưởng tới quá trình dân chủ hóa tại Myanmar, các nước thành viên cũng chỉ lên tiếng chỉ trích mà thôi để tránh làm ảnh hưởng tới hình ảnh của một ASEAN ủng hộ Myanmar.

Thực tế thì không có một cơ chế chính thức nào để ASEAN có thể “can thiệp”, đó là chưa nói đến việc giám sát liệu các mục tiêu chung mà một cộng đồng thường đề ra có được thực thi hay không. Nếu vẫn giữ vững nguyên tắc không can thiệp, thật khó có thể hình dung ra một ASEAN đóng vai trò như một mạng lưới hỗ trợ hiệu quả, một cộng đồng thực sự cho người dân.

Khi Trung Quốc đang tiếp tục củng cố năng lực quân sự và quyền lực, việc ASEAN không thể thiết lập một quy tắc ràng buộc pháp lý cho Biển Đông thực sự là điều đáng để chỉ trích. Đây cũng là hệ quả của việc thiếu đồng thuận giữa các quốc gia thành viên. Mỗi quốc gia thành viên ASEAN đều phải đặt lợi ích riêng lên trên, đặc biệt là các nước tranh chấp. Kể cả khi có sự đồng thuận giữa các nước tranh chấp thì cũng không thể có một ràng buộc pháp lý vì quyết định đó không đại diện cho toàn bộ các nước ASEAN.

Chúng ta vẫn còn phải nói đến sự kiện năm 2012 tại Phnom Penh (Campuchia) khi các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN không thể đưa ra một thông cáo chung về vấn đề Biển Đông. Đây là lần đầu tiên các Bộ trưởng ASEAN đã thất bại trong việc đưa ra tuyên bố chung, một thất bại đáng kể cho một tổ chức luôn tự hào trong việc đưa ra các tuyên bố chính trị chung.

Nguyên tắc không can thiệp đã định hình ASEAN trong 50 năm qua. Tuy nhiên, những kỳ vọng về vị trí trung tâm của ASEAN và một Cộng đồng ASEAN là rất quan trọng. Không thể kỳ vọng về một ASEAN hoàn hảo, nhưng ASEAN sẽ phải lựa chọn giữa việc không can thiệp và tầm ảnh hưởng giảm sút hoặc tăng cường vai trò trung tâm để giải quyết các vấn đề của khu vực. Nói ngắn gọn, ASEAN cần phải không để các định kiến trước đây định hình tương lai của khu vực mà phải tìm ra cách thức mới để có thể giải quyết các vấn đề khu vực mà các nước thành viên vẫn còn có sự khác biệt.

Nhiều nhà phân tích đã đưa ra các ưu tiên khác nhau mà ASEAN cần phải giải quyết dưới sự lãnh đạo của Singapore với vai trò Chủ tịch trong năm 2018, trong đó bao gồm vấn đề Biển Đông, đẩy mạnh hội nhập kinh tế, tập trung hơn vào các cuộc khủng hoảng tại Triều Tiên hoặc tập trung vào hợp tác khu vực để chống lại các thách thức phi truyền thống như khủng bố.

ASEAN tuổi 50 phải hướng tới sự bền vững và sáng tạo để chứng minh tầm quan trọng của tổ chức này là không hề giảm sút.

Nguồn: channelnewasia

TKNB: 20/12/2017

Điều gì khiến Tổng thống Trump cân nhắc quay trở lại TPP?


Mới đây, khi tham gia Diễn đàn Kinh tế thế giới ở Davos (Thụy Sĩ), Tổng thống Mỹ Donald Trump một lần nữa tuyên truyền chủ trương chính sách thương mại “Nước Mỹ trước tiên”, cho biết Mỹ mong muốn thông qua đàm phán hiệp định thương mại song phương cùng có lợi để thúc đẩy chính sách thương mại của mình, đối tác đàm phán có thể là bất kỳ nước nào, kể cả các nước vốn là thành viên HIệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đồng thời đề xuất Mỹ có thể cân nhắc trở lại TPP dưới tiền đề được đáp ứng điều kiện nhất định. Ông cho rằng TPP vốn có không phải là một hiệp định đúng đắn, chỉ sau khi nó có những “cải thiện mang tính thực chất” có lợi cho Mỹ thì nước này mới có thể cân nhắc tiến hành đàm phán TPP. Mặc dù hiện nay Donald Trump vẫn giữ thái độ thận trọng đối với việc đàm phán lại TPP, nhưng đây là lần đầu tiên ông để ngỏ khả năng Mỹ có thể đàm phán lại TPP sau khi tuyên bố rút khỏi TPP ngay khi mới lên nắm quyền.

Chủ trương chính sách thương mại của Trump là “Nước Mỹ trước tiên”, mục tiêu chủ yếu là thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của Mỹ, chấn hưng ngành sản xuất, củng cố thành quả việc làm. Donald Trump áp dụng phương thức kết hợp giữa phá bỏ cái cũ và lập nên cái mới để thúc đẩy mục tiêu chính sách thương mại của mình; ở trong nước thì thông qua cải cách, tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng để giải phóng sức sống của doanh nghiệp, thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào Mỹ, đối với bên ngoài thì nỗ lực xây dựng lại hệ thống thương mại, thực hiện thương mại bình đẳng. Chính sách thương mại trong năm cầm quyền đầu tiên của Donald Trump phần nhiều được thể hiện qua việc phá vỡ cơ chế thương mại hiện đang “gây bất lợi cho Mỹ”, cho thấy rõ xu thế bảo thủ, trong đó có việc rút khỏi TPP, đàm phán lại các hiệp định thương mại như Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), thực thi Luật thương mại để tăng cường thẩm tra vốn nước ngoài đổ vào Mỹ, khởi động điều tra theo “điều khoản 301” đối với Trung Quốc về tình hình thực thi quyền sở hữu trí tuệ, phát động điều tra 79 vụ việc mới về chống bán phá giá và chống trợ cấp… Một loạt biện pháp về chính sách thương mại của Trump đã từng bước củng cố nét đặc sắc chống toàn cầu hóa của Mỹ, hành động cứng rắn này tuy đã giành được lợi ích nhất định cho Mỹ, nhưng trước sự phản ứng không tích cực của cộng đồng quốc tế, Mỹ phải đối mặt với sức ép dư luận gia tăng, không gian quốc tế có thể thương lượng bị thu hẹp, xu thế Mỹ bị cô lập tăng lên.

Donald Trump đề xuất cân nhắc trở lại TPP kèm theo điều kiện là dựa trên những toan tính sau:

1/ Thay đổi hình ảnh quốc gia

Bên cạnh việc công kích cơ chế thương mại hiện nay, Mỹ từng bước thúc đẩy hệ thống thương mại mới dựa trên lợi ích của mình, thay đổi khuynh hướng chủ nghĩa bảo thủ thời kỳ đầu. Trong bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Davos, Donald Trump đã đưa ra một số quan điểm mới của Mỹ đối với toàn cầu hóa, ông chỉ ra rằng “Nước Mỹ trước tiên” không phải là một nước Mỹ cô lập, có thể quay trở lại TPP kèm theo điều kiện. Donald Trump nhận thức đầy đủ ý nghĩa quan trọng của một thế giới mở đối với việc củng cố thành quả tăng trưởng kinh tế và nâng cao việc làm mà ông giành được trong năm đầu cầm quyền, thúc đẩy nước Mỹ phồn vinh và phát triển lâu dài. Hiện nay, các nền kinh tế khác trên thế giới, đặc biệt là kinh tế Trung Quốc phát triển vững chắc, tốc độ theo kịp Mỹ khiến nhiều người hết sức ngạc nhiên. Sự so sánh lực lượng giữa Trung Quốc và Mỹ tiếp tục thay đổi, thực lực tổng hợp của Mỹ bước vào giai đoạn ổn định đỉnh cao. Việc lôi kéo đầu tư nước ngoài và khai thác thị trường quốc tế có vai trò không thể thiếu đối với việc thúc đẩy nước Mỹ phát triển. Bài phát biểu của Donald Trump tại Davos đã nhấn mạnh một cách trọng điểm chính sách thuế thông thoáng mà Mỹ đang xây dựng, xóa bỏ cơ chế quản lý giám sát không cần thiết… để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mỹ cần một thế giới mở, không phải là “khép kín” để thực hiện sự phồn vinh và phát triển của chính mình.

2/ Xoa dịu quan hệ với các nước thành viên khác của TPP trước đây

Việc bày tỏ thái độ muốn quay trở lại TPP kèm theo điều kiện của Trump có thể giúp xoa dịu quan hệ giữa Mỹ với các nước thành viên TPP trước đây. Trước khi diễn ra Diễn đàn Kinh tế thế giới ở Davos, 11 nước thành viên TPP trước đây, ngoại trừ Mỹ đã hoàn thành công tác đàm phán về Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), lên kế hoạch ký kết thỏa thuận thương mại này vào ngày 8/3/2018 ở Chile. Nhật Bản đã phát huy vai trò chủ đạo quan trọng trong việc thúc đẩy CPTPP, dựa vào CPTPP, Chính quyền Shinzo Abe tiếp tục duy trì được vị thế của Nhật Bản trong địa chính trị châu Á – Thái Bình Dương, thúc đẩy cải cách và mở cửa trong nước. Canada từ do dự lúc ban đầu chuyển sang ủng hộ tiếp tục đàm phán TPP. Ngày 23/1/2018, trong bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế thế giới tại Davos, Thủ tướng Canada Justin Trudeau đánh giá cao ý nghĩa quan trọng của CPTPP đối với Canada, cho biết ngày đạt được hiệp định là “một ngày vĩ đại của nền thương mại tiến bộ trên thế giới”. CPTPP đã áp dụng các biện pháp linh hoạt hơn, xóa bỏ các yêu cầu khá mạnh mẽ của Mỹ trong TPP trước đây, như bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở trình độ cao hơn… đã cân nhắc đến mối quan tâm lợi ích của một số nước khác, như quyền ngoại lệ chung về văn hóa do Canada đề xuất…  CPTPP sẽ mang lợi ích rõ rệt hơn, tổng dân số của 11 nước khoảng 500 triệu người, tổng sản lượng kinh tế vượt trên 10.000 tỷ USD, chiếm khoảng 15% GDP toàn cầu, thông qua chính sách mở cửa với trình độ cao giúp thúc đẩy tăng trưởng phồn vinh của các nước thành viên, gia tăng mức thu nhập của tầng lớp trung lưu. CPTPP đã áp dụng chính sách cởi mở hơn, có thể tiếp tục nhận các thành viên mới, ngoài Mỹ có thể trở lại kèm theo điều kiện, nước Anh đã bày tỏ mong muốn gia nhập CPTPP. Tuy Donald Trump vẫn nhấn mạnh ý nghĩa của các hiệp định thương mại song phương, nhưng với một thị trường châu Á – Thái Bình Dương rộng lớn như vậy, lợi ích kinh tế và ý nghĩa chiến lược của nó vẫn rất có sức hút đối với Mỹ.

3/ Tìm kiếm môi trường bên ngoài có lợi cho Mỹ

Trong bài phát biểu tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) vào tháng 11/2017, Donald Trump nhiều lần nhắc đến khái niệm “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” là khái niệm không gian địa lý ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” là đưa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương vào một địa chiến lược trong vòng cung chiến lược, “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” của Donald Trump vẫn đang trong quá trình hình thành, hiện nay lực lượng chủ chốt thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong nước Mỹ là phe ủng hộ đường lối chính sách trước đây của Đảng Cộng hòa và quân đội của Mỹ. Trong giai đoạn cầm quyền, tuy Donald Trump nhấn mạnh nhiều hơn đến lợi ích thương mại, chính sách “Nước Mỹ trước tiên”, nhưng cùng với việc triển khai từng bước chính sách của Donald Trump, Mỹ có khả năng từng bước tăng cường phương thức kết hợp mục tiêu địa chính trị và kinh tế để mở rộng tầm ảnh hưởng trên toàn cầu. Việc hình thành và thúc đẩy từng bước “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” của Chính quyền Trump sẽ làm gia tăng tầm ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, khởi động lại TPP sẽ là diễn đàn chiến lược quan trọng để Mỹ thực thi “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Những cân nhắc về kinh tế chính trị cũng là một đặc điểm trong chính sách cầm quyền của Donald Trump, có thể thấy rõ đặc điểm này từ trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên và cách xử lý tranh chấp thương mại Trung – Mỹ, trong thời gian tới, để thúc đẩy chiến lược châu Á – Thái Bình Dương, Trump có thể cân nhắc đến việc dựa vào diễn đàn TPP.

4/ Đặt nền tảng cho việc cải tạo hệ thống thương mại đa phương và khu vực

Dưới thời Trump, quan niệm cơ bản – TPP là sân chơi để phát triển hệ thống thương mại quốc tế của Mỹ sẽ được tiếp tục. Donald Trump coi trọng việc dựa vào các hiệp định thương mại song phương hoặc khu vực nhằm thúc đẩy quan niệm “thương mại tự do” và “thương mại công bằng” dựa trên lợi ích của Mỹ, từ đó xây dựng lại hệ thống thương mại quốc tế mới lấy “thương mại bình đẳng” làm trung tâm. Mỹ nhấn mạnh nhiều đến sự bình đẳng hoàn toàn, thương mại cùng có lợi và nhượng bộ vốn tồn tại dựa trên sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế đã giảm đi rõ rệt, đã áp dụng chính sách nghiêm ngặt hơn đối với hành vi thị trường chưa hoàn thiện ở các nước đang trong thời kỳ chuyển đổi mô hình kinh tế thị trường, tiếp tục duy trì quy tắc tiêu chuẩn cao đối với quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhà nước. TPP cũng sẽ trở thành diễn đàn để thúc đẩy quan niệm giá trị và chính sách “Nước Mỹ trước tiên”. Quay trở lại TPP giúp đặt nền tảng cho việc cải tạo hệ thống thương mại khu vực và đa phương, thúc đẩy hệ thống thương mại quốc tế được thúc đẩy mạnh mẽ hơn theo phương thức đổi mới do Mỹ chủ đạo.

5/ Tranh thủ sự ủng hộ lớn hơn cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ

2018 là năm diễn ra bầu cử giữa nhiệm kỳ Quốc hội Mỹ, Trump muốn củng cố thành quả đạt được trong năm đầu tiên, giành được sự ủng hộ lớn hơn. TPP về bản chất không đi ngược lại lợi ích của đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ, việc quay trở lại một TPP đã được “cải thiện mang tính thực chất” theo yêu cầu của Mỹ sẽ mang lại lợi ích thương mại lớn hơn cho nước Mỹ, có lợi hơn cho việc mở mang thị trường quốc tế, thu lợi trong chuỗi giá trị và phát triển ngành nghề của châu Á – Thái Bình Dương, củng cố mối liên hệ kinh tế với các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, xây dựng môi trường bên ngoài có lợi cho sự phát triển của nước Mỹ, thúc đẩy quan niệm chính sách thương mại của Mỹ.

6/ Tăng cường sự phòng ngừa đối với Trung Quốc và các nước

Đầu năm 2018, va chạm thương mại Trung – Mỹ tiếp tục gia tăng. Mặc dù Trung Quốc và Mỹ đã có nhiều cuộc bàn bạc trong năm, Trung Quốc cũng đã có những nỗ lực thực sự để xua tan đám mây đen giữa hai nước, song những động thái này không làm thay đổi nhận thức của Chính phủ Mỹ đối với quan hệ thương mại Trung – Mỹ, cho đến hôm nay, tín hiệu của việc Mỹ muốn phát động cuộc chiến thương mại đã trở nên rõ ràng hơn, thương mại giữa hai nước đang bước vào giai đoạn quan trọng từ va chạm thương mại sang xung đột thương mại. Quay trở lại TPP sẽ giúp Mỹ kiềm chế Trung Quốc, bảo vệ địa vị lãnh đạo của Mỹ trong hệ thống kinh tế thế giới, va chạm thương mại giữa Trung Quốc sẽ dần chuyển sang va chạm mang tính tổng hợp, phạm vi sẽ mở rộng từ song phương sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương và các lĩnh vực đa phương.

Những phân tích trên cho thấy việc Trump quay trở lại đàm phán TPP kèm theo điều kiện cho thấy xu hướng Mỹ đang tìm cách thay đổi hình ảnh quốc gia, xoa dịu mối quan hệ với các đồng minh, tìm kiếm môi trường thương mại có lợi cho Mỹ, dọn đường cho việc cải tạo hệ thống thương mại khu vực và đa phương, tranh thủ sự ủng hộ nhiều hơn cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ cũng như tăng cường sự phòng ngừa đối với các quốc gia như Trung Quốc.

Nói tóm lại, Mỹ không phản đối toàn cầu hóa, mà lùi một bước để tiến ba bước, tìm kiếm môi trường kinh tế bên ngoài có lợi cho nước mình, chèn ép Nga, Trung Quốc và một số nước, tín hiệu quay trở lại TPP kèm theo điều kiện của Mỹ sẽ thúc đẩy các nước như Nhật Bản đẩy mạnh việc thực thi CPTPP, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Mỹ quay trở lại TPP, các cơ chế hợp tác khác nhau ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ xuất hiện xu thế mới. Việc Mỹ quay trở lại TPP sẽ không thuận buồm xuôi gió, có thể sẽ mất khoảng 2 – 3 năm, mặc dù Chính quyền Trump nhiều lần nhấn mạnh muốn áp dụng phương thức đàm phán các hiệp định thương mại tự do song phương để thúc đẩy quan niệm thương mại mới, cho rằng việc đàm phán tập thể các hiệp định có quy mô tương đối lớn đã trói buộc chân tay của Mỹ, nhưng xem xét các nguyên nhân ở các phương diện nêu trên, không loại trừ khả năng Mỹ quay trở lại TPP trong 1 – 2 năm tới.

Nguồn: hexun.com – 14/02/2018

TLTKĐB – 25/02/2018

Tổ chức khu vực ASEAN: Phát triển và thách đố – Phần cuối


Tăng cường chức năng Ban Thư ký ASEAN chính là một đặc điểm lớn trong quá trình phát triển của tổ chức này. Sau Hội nghị Thượng đỉnh Bali thứ nhất, ASEAN thành lập Ban Thư ký Trung ương, nhưng các nước dựa trên sự cân nhắc rằng đối với các vấn đề quan trọng, cần thông qua sự tư vấn và thương lượng chặt chẽ rồi cấp cao của các nước mới quyết định, do vậy tổ chức Ban Thư ký bộc lộ đặc trưng kết cấu phân quyền địa phương, đối với việc phát triển và chấp hành chính sách, nó không hề đóng vai trò quan trọng. Ban Thư ký Trung ương thực ra chỉ đóng vai trò “Hộp thư”, chịu trách nhiệm truyền đạt các hoạt động hữu quan của ASEAN cho chính phủ các nước. Từ sau khi thành lập, tổ chức Ban Thư ký tuy đã được các nước thảo luận và tiến hành tăng cường hai lần, nhưng nó vẫn không thể thực sự phát huy chức năng hoạch định chính sách, hiệu quả hợp tác kinh tế của ASEAN không nổi bật, chức năng của Ban Thư ký chưa thể phát huy, đó phải là một trong những nhân tố quan trọng. Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN năm 1992 quyết định căn cứ theo cân nhắc về năng lực và biểu hiện, công khai tuyển chọn nhân viên Ban Thư ký để tăng cường năng lực hoạch định chính sách. Điều đó cho thấy các nước thành viên đã chú ý tới tầm quan trọng của mặt này. Có thể nói đó là bước phát triển tích cực. Nhưng cùng với sự mở rộng của tổ chức, liệu khuynh hướng quan liêu hóa có sẽ ngày càng nghiêm trọng, làm cho hiệu quả chức năng mà nó xuất ra không thể nào phù hợp với chi phí mà tổ chức chỉ ra, khiến ASEAN lâm vào thời kỳ chết cứng và ngưng đọng hay không – đó phải là một vấn đề khác đáng cảnh giác.

Sự phát triển và trưởng thành của ASEAN có quan hệ với sự tồn tại của mối đe dọa từ bên ngoài tới trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nhưng cùng với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, sự tan rã của Liên Xô, ý hướng hòa bình xuất hiện ở Trung Cộng và sự hóa giải cuộc khủng hoảng Campuchia, sự đe dọa từ bên ngoài không còn là “dung môi” để hội tụ các nước thành viên nữa, các nước có thể mang tấm lòng kiên nhẫn và thỏa hiệp để hóa giải những bất đồng và duy trì đoàn kết hài hòa như trước đây được hay không – tự nhiên đó là thử thách mới của thời đại mới. Đặc biệt đáng chú ý là, cần mở rộng số nước thành viên của ASEAN mới có thể tiếp tục duy trì sức sống về mặt tổ chức của nó. Bởi vậy ngay từ khi vừa mới thành lập, trong tuyên ngôn Bangkok đã bày tỏ lập trường hoan nghênh các nước khác trong khu vực gia nhập. Sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết, Việt Nam và Campuchia lần lượt biểu thị ý nguyện gia nhập ASEAN, và tại Hội nghị Ngoại trưởng hàng năm của ASEAN năm 1992, các nước này đã tham dự Hội nghị với tư cách quan sát viên, hai nước lần lượt tỏ ý tiếp nhận tinh thần giải quyết tranh chấp bằng hòa bình của ASEAN. Trong tương lai, ngoài Papua New Guinea ngay từ đầu đã trở thành quan sát viên, 3 nước ở bán đảo Đông Dương và Myanmar đều có khả năng trở thành nước hội viên mới của ASEAN. Các nước này một khi được gia nhập, sự thử thách về hiệu quả do sự phình ra của tỏ chức đưa lại cố nhiên được mọi người quan tâm. Việt Nam là một nước XHCN, về mặt chế độ kinh tế có bất đồng lớn các nước ASEAN vốn lấy kinh tế thị trường làm lực lượng chủ yếu. Hai chế độ kinh tế khác nhau làm thế nào có thể cộng sinh trong cùng một tổ chức – đó là một hiện tượng giàu giá trị quan sát. Nhìn từ giác độ an ninh, để cho Việt Nam gia nhập, đối với ASEAN, có được sự rèn luyện về xã hội hóa. Nhưng sự đối lập giữa Việt Nam và Trung Cộng chưa được tiêu trừ, sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN, có gây ra sự nghi kỵ của Trung Cộng rằng ASEAN là một tập đoàn khu vực lấy Trung Cộng làm mục tiêu hay không – đó cũng là điều khiến người ta chú ý. Một khi thành viên thực sự mở rộng, thì sự thách đố ghê gớm nhất đối với ASEAN có thể đến từ vấn đề đoàn kết bên trong nó.

3/ Khuynh hướng của Indonesia và tiền đồ của ASEAN

Trước Hội nghị Thượng đỉnh năm 1992, khi quyết nghị ASEAN luôn áp dụng nguyên tắc nhất trí, Hội nghị Thượng đỉnh lần này quyết nghị sửa đổi lại nguyên tắc nhất trí. Nội dung sửa đổi như thế nào, tuy chưa biết được toàn bộ, nhưng đối với Indonesia, là nước từ khi ASEAN thành lập đến nay luôn ở thế thiểu số, sự sửa đổi này sẽ có tác động như thế nào? Indonesia đến lúc đó sẽ phản ứng như thế nào? Tất sẽ đều ảnh hưởng tới chỉnh thể của ASEAN. Tới đây khi số thành viên được mở rộng, khoảng cách giàu nghèo sẽ lại càng tăng thêm giữa các nước thành viên bên trong ASEAN, mô hình quyết sách biểu quyết theo đa số sớm muộn sẽ áp dụng, có làm xuất hiện hiện tượng đối lập hai cực trong ASEAN khi có những quyết sách quan trọng không? Đó phải là một mối đe dọa tiềm tàng khác trong tương lai của ASEAN. Từ những năm 1980, Thái Lan và Malaysia tăng trưởng rất nhanh về kinh tế, lại cộng thêm Singapore vốn ở vị trí dẫn đầu, nghiêm nhiên trở thành “quý tộc” bên trong ASEAN. Quy hoạch khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN có xuất hiện hiện tượng “hiệu ứng phân cực” thường thấy trong nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức quốc tế, tức là sự tồn tại của tổ chức ngày càng có lợi cho các nước vừa và nhỏ, còn đối với các nước lớn thì hiệu quả ngày càng giảm đi, hay không – cũng là một then chốt khác ảnh hưởng tới sự phát triển trong tương lai của ASEAN.

Khuynh hướng của Indonesia chính là biến số quan trọng chi phối tương lai của ASEAN. Dân số của nó đông nhất, lãnh thổ cũng rộng nhất; từ ngày ASEAN thành lập đến nay nó mặc nhiên được coi là người lãnh đạo, tính cách thực tế và thái độ duy lý của tổng thống Souharto càng là nhân tố quan trọng để tổ chức này được thành lập và phát triển. Nhưng trước khi thế kỷ 21 tới nơi, tầng lớp lãnh đạo Indonesia rất có khả năng có biến đổi, phong cách chính trị của lãnh đạo mới kế nhiệm Souharto rất có thể ảnh hưởng tới lập trường của Indonesia đối với tổ chức ASEAN. Thứ ba, từ những năm 80 trở lại, các tổ chức kinh tế khu vực đua nhau xuất hiện tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương; Nhưng thành viên của các tổ chức này phần lớn đều trùng với thành viên của ASEAN, chẳng hạn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (Asia – Pacific Economic Cooperation, APEC), Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (Pacific Economic Cooperation Council, PECC) và tổ chức kinh tế Đông Á (East Asian Economi Caucus, EAEC)… Hiện tượng trùg lặp này, ngoài việc có thể tạo ra sự bất đồng của các nước hội viên ASEAN về lập trường thừa nhận các tổ chức này, Indonesia cố nhiên giành địa vị lãnh đạo trong các nước thế giới thứ ba không liên kết, cũng tỏ thái độ tích cực tham dự và tăng cường sức ảnh hưởng của nó trong các tổ chức kinh tế trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương này. Xu thế này tiếp tục phát triển, có làm cho Indonesia đặt ASEAN vào địa vị thứ yếu hay không? Nếu quả thật như vậy thì tất yếu tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đối với địa vị khu vực và quốc tế ngày càng quan trọng hiện nay của ASEAN.

V/ Kết luận

Tổ chức ASEAN thành lập đã gần 28 năm. Nhìn vào lịch sử phát triển của nó, có thể nói đó là điển hình của sự trưởng thành dần của một tổ chức khu vực. Chính phủ 5 nước sáng lập tổ chức này thuở ban đầu, mục đích chính của họ là thúc đẩy kinh tế, xã hội va văn hóa của khu vực này phát triển, nhằm thành lập một trật tự khu vực ổn định và hòa bình. Tới nay, khi nó sắp bước vào ngưỡng của thập niên thứ ba, chúng ta có thể nhận thấy mục đích này đại thể đã đạt được. ASEAN đã tạo dựng nên giữa các nước thành viên của nó một quan hệ quốc tế ổn định và một môi trường khu vực hòa bình, các nước đều có thể giải quyết tranh chấp lẫn nhau bằng phương thức phi vũ lực. ASEAN cũng đã xác lập nên phương thức chính trị rõ ràng để thúc đẩy hợp tác kinh tế, xã hội và văn hóa rộng rãi; đã bồi dưỡng nên ý thức cộng đồng khu vực, các nước thành viên chấp nhận các lý tưởng về giá trị chung và sẵn sàng phản ứng tích cực trước nhu cầu và lợi ích của nhau. Thứ ý thức cộng đồng này phản ánh qua một thực tế, là bắt đầu từ những năm 1980, ASEAN đã phát triển một sự nhất trí: đối với mỗi một vấn đề được thảo luận, đều cùng nhau ủng hộ lập trường của nước hội viên có ảnh hưởng nhất. Phương thức ngoại giao tập thể này là nguyên nhân chủ yếu để ASEAN được coi trọng trong cộng đồng quốc tế.

Sở dĩ ASEAN có thể trưởng thành chủ yếu là nhờ mục tiêu hòa bình trong thực tế, phương thức quyết sách có tính nhất trí và sự kích thích của mối đe dọa từ môi trường trong và ngoài trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Chính là sự tác động lẫn nhau giữa ba nhân tố này đã làm cho các nước thành viên không phải trả bất cứ giá nào (cost-free) cho tổ chức, trái lại thu được lợi ích do tổ chức tạo ra, do vậy đã tạo điều kiện để tổ chức trưởng thành. Nhưng khi cùng với sự biến đổi của môi trường thời gian và không gian, ba nhân tố trước sau lần lượt biến đổi hay có dấu hiệu biến đổi thì tiền đồ tiếp tục trưởng thành của tổ chức ASEAN gặp phải sự thách đố. Thử xem xét những điều chỉnh và biến đổi mà ASEAN thực hiện từ năm 1992 lại đây, thì dường như bên ngoài lợi ích tích cực đều ản tàng những biến số bất lợi. Thí dụ sửa đổi mô hình quyết sách theo kiểu nhất trí có thể đẩy nhanh nhịp độ quyết sách của ASEAN, nhưng cũng để mở rộng xung đột nội bộ; số nước thành viên có thể gia tăng cố nhiên có thể làm cho ASEAN thực sự trở thành một tổ chức khu vực của toàn bộ Đông Nam Á nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ số thành viên được mở rộng, chi phí tổ chức tăng lên nhưng hiệu quả giảm xuống; việc nâng cấp địa vị của Ban Thư ký và việc đề bạt các quan chức có lợi cho việc tăng cường chức năng quyết sách của ASEAN nhưng cũng là nguyên nhân của nạn quan liêu hóa.

Sự biến đổi của môi trường trong và ngoài đương nhiên làm cho người ta quan tâm tới việc liệu ASEAN có thể vượt qua cái hố sâu của sự trưởng thành hay không, nhưng nhìn vào lịch trình phát triển đã qua của ASEAN, nó đã trở thành một tổ chức khu vực thiết chế hóa, các nước hội viên vừa có thể hưởng thụ lợi ích của sự tồn tại của tổ chức, cùng hiểu và tôn trọng giá trị sự tồn tại của tổ chức, do vậy xem ra bất tất phải quá bi quan cho tiền đồ của ASEAN trong tương lai. Nói cách khác, chúng ta có thể dự đoán trong tương lai ASEAN có thể sẽ xuất hiện tranh chấp và đụng độ công khai, nhưng bất kỳ sự tranh chấp và đụng độ nào cũng sẽ diễn ra trong phạm vi chế độ, không đến mức ảnh hưởng tới sự sinh tồn của ASEAN. Một khi ASEAN vượt qua một cách thành công những khó khăn mà trong thời kỳ thách đố có thể sẽ gặp phải, một tổ chức khu vực sau khi số thành viên được mở rộng sẽ càng có thể giúp đỡ lẫn nhau, phát triển sự hợp tác kinh tế, xã hội và văn hóa khu vực, trở thành một ASEAN mới càng khả quan hơn.

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 24 & 25

Tổ chức khu vực ASEAN: Phát triển và thách đố – Phần V


Sau khi Nam Việt Nam thất thủ, các nước ASEAN đã cảm nhận được tầm quan trọng của việc các nước hội viên tăng cường lực lượng hợp tác hội tụ, nhưng mãi tới tháng 6 tháng 7 năm 1978, khi hàng loạt dân tị nạn Việt Nam chạy sang các nước ASEAN – đặc biệt là Malaysia và Indonesia – và hàng năm đầu có các vụ Việt Nam xâm nhập Campuchia, mới thực sự kích thích các nước thành viên ASEAN, làm cho ngoài tính cách là tổ chức thuần túy kinh tế vốn có, ASEAN lại mang thêm chức năng chính trị, từ đó chứng minh ASEAN tuy là một tổ chức kinh tế, nhưng nó không tách rời nhân tố an ninh chính trị, đây chính là một tác nhân quan trọng thúc đẩy ASEAN đi tới đoàn kết. Trước hết hãy bàn về vấn đề dân tị nạn Việt Nam. Hàng loạt dân tị nạn tràn vào, không những thử thách năng lực ứng biến của các nước, hơn nữa cũng tạo ra gánh nặng nghiêm trọng cho xã hội và kinh tế của các nước; vấn đề nạn dân đồng thời cũng thách đố các nước ASEAN: liệu có năng lực làm dịu được làn sóng lưu vong ngày càng nhiều lên, hóa giải kiến giải của các nước đối với vấn đề này, và lợi dụng sức ảnh hưởng có tính khu vực và quốc tế để giải quyết tình trạng nạn dân tràn vào, hay không.

Ngoài việc liên hợp thành lập Trung tâm Giải quyết Nạn dân (Refugee Processing Centers) để làm dịu gánh nặng đã tạo ra cho các nước ASEAN, tại hội nghị hàng năm vào tháng 6 năm 1979, ngoại trưởng các nước ASEAN đã chỉ trích quyết liệt làn sóng nạn dân, và lợi dụng dịp hội đàm sau hội nghị ngoại trưởng các nước Mỹ, Nhật Bản, Australia và New Zealand, yêu cầu các nước đó hợp tác về mặt quốc tế, phải coi trọng vấn đề này. Tiếp đó, tại Hội nghị nạn dân bán đảo Đông Dương tại Geneva họp vào tháng 7, phần lớn các yêu cầu do ASEAN nêu ra đã được đáp lại một cách thỏa mãn. Việt Nam tuyên bố sẽ áp dụng các biện pháp khống chế tạm thời đối với làn sóng nạn dân; các nước phương Tây cũng tích cực cung cấp viện trợ tài chính và tăng số lượng thu xếp nạn dân. Với sự vận động ngoại giao tập thể có hiệu quả, ASEAN đã thu được thành tựu quan trọng trong vấn đề nạn dân.

Gần như trùng hợp với thời gian phát sinh vấn đề nạn dân, nhưng tác động tới ASEAN trực tiếp hơn và cũng lớn hơn là sự kiện Việt Nam xâm nhập Campuchia. Sở dĩ sự kiện này làm cho các nước ASEAN quan tâm nghiêm trọng không chỉ vì hành động xâm lược của Việt Nam trực tiếp đi ngược lại nguyên tắc giải quyết tranh chấp “bằng hòa bình và thiện chí” mà ASEAN tuyên bố, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước khác, mà còn do Campuchia bị xâm chiếm, Thái Lan mất đi một nước chắn đỡ, trực tiếp phơi lưng ra trước sự đe dọa quân sự của Việt Nam, làm cho các nước ASEAN khác sợ “hiệu ứng domino”. Bởi vậy sau khi sự kiện Việt Nam xâm nhập Campuchia phát sinh, phản ứng của các nước ASEAN là lập tức và quyết liệt. Tại Hội nghị đặc biệt ngoại trưởng các nước ASEAN mở tại Bangkok công khai lấy làm tiếc trước hành động của Việt Nam và yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc lập tức áp dụng hành động. Tiếp đó, ASEAN đã thành công trong việc đưa sự kiện xâm nhập Campuchia vào chương trình nghị sự của Đại hội đồng Liên hợp quốc, và với chênh lệch tương đố lớn đã gạt ý đồ đưa chính quyền Heng Xomrin do Việt Nam ủng hộ thay vào chiếc ghế của chính quyền Khmer Đỏ lưu vong. Thái độ của ASEAN đối với vấn đề này luôn được ủng hộ tương đối đa số tại các khóa Đại hội đồng Liên hợp quốc những năm 1980. Ngoài ra căn cứ vào dự thảo nghị quyết của Liên hợp quốc về sự kiện Việt Nam xâm nhập Campuchia, ASEAN đã mở thành công Hội nghị Quốc tế về Campuchia (The International Conference on Kampuchea, ICK) vào tháng 7 năm 1981. Hội nghị này tuy không giải quyết vấn đề Campuchia, nhưng nó đã trở thành một diễn đàn quốc tế, không chỉ một lần nữa làm nổi rõ lập trường nhất trí của các nước ASEAN về tình hình Campuchia mà còn tăng cường địa vị của tổ chức này trong khu vực và trên trường quốc tế. Việc ASEAN trở thành một công cụ ngoại giao khả quan của các nước thành viên của nó lại một lần nữa được chứng minh, và sức hội tụ và động viên tập thể của nó cũng càng khả quan hơn.

Sự giao thiệp của ASEAN với tư cách tập thể với các nước tương quan khác bắt đầu từ việc đàm phán với Nhật Bản về cao su tổng hợp vào đầu những năm 1970, tiếp đó vào cuối những năm 1970, do chính sách hàng hải dân sự quốc tế, lại xảy ra tranh chấp với Australia. Trong hai cuộc tranh nghị này ASEAN đều được các nước đối thủ tôn trọng và nhượng bộ. Có những kinh nghiệm và thành tựu trên đây, vào năm 1981 ASEAN đã chính thức bắt đầu chế đọi bạn đối thoại (ASEAN Dialogue Partner System, ADPS). Chế độ này chủ yếu tạo ra cho các nước hội viên ASEAN và các bạn hàng mậu dịch chủ yếu của nó một diễn đàn thảo luận. Những bạn hàng mậu dịch này lúc đầu gồm Mỹ, Nhật Bản, Canada, Australia, New Zealand và thị trường chung châu Âu; sau đó lại thêm Hàn Quốc. Từ giữa những năm 1980 về sau, chế độ đối thoại phần lớn tiến hành sau khi kết thúc Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN mỗi năm một lần, gọi là Hội nghị sau Bộ trưởng (Post-Ministerial Conferences, PMC), có ngoại trưởng 6 nước ASEAN, ngoại trưởng các nước bạn hàng đối thoại tham gia, tiến hành giao thiệp về các vấn đề liên quan tới chính trị và an ninh. Mỗi năm cứ đến hội nghị ngoại trưởng ASEAN, các cơ quan truyền thông thế giới lại chuyển tiêu điểm vào Đông Nam Á, khi đối thoại giữa ASEAN và các nước bắt đầu, nó càng tập trung sự chú ý của các phương tiện nghe nhìn toàn cầu. Việc ASEAN chuyển thành công chế độ bạn đối thoại thành hoạt động có tính quốc tế cỡ lớn hàng năm, một là góp phần tạo nên hình tượng toàn cầu của nó, hai là tăng cường vai trò có tính khu vực quan trọng và vai trò là diễn biến quốc tế của nó, làm cho ASEAN trở thành một lực lượng tập thể ngày càng được coi trọng.

Tổng kết lại, trong thời kỳ phát triển ở giai đoạn thứ hai của ASEAN, những thành tựu về các mặt chính trị và ngoại giao của nó làm cho cái tổ chức có tính khu vực này nhanh chóng được các nước hội viên thừa nhận, càng được cộng đồng quốc tế ủng hộ và tôn trọng. Cựu Phó Thủ tướng Malaysia Musa, khi bàn đến ảnh hưởng của những bước phát triển này đối với ASEAN, đã chỉ ra rằng: Do sự tôn trọng mà ASEAN giành được, do lòng tin mà nó xây dựng được và năng lực mà nó giúp sức tạo thành, khu vực mà ASEAN bao trùm đã trở thành một thanh nam châm thu hút đầu tư của nước ngoài; thiếu nhân tố này, sức sống của mỗi quốc gia thành viên ASEAN tất yếu sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực”.

Rõ ràng thành tựu tăng trưởng kinh tế cao của các nước ASEAN, việc tập trung kinh phí vào xây dựng các ngành dân sự chứ không phải vào chi phí quân sự và việc thu hút đầu tư và mậu dịch của nước ngàoi… có quan hệ rất mật thiết với các nhân tố mà Musa nhắc đến.

IV/ Thời kỳ thách đối đối với ASEAN

1/ Sự biến đổi của môi trường khu vực

Bắt đầu từ cuối những năm 1980, môi trường trong và ngoài ASEAN có biến đổi rất lớn, tạo thành nhiều thách đố nghiêm ngặt đố với nó, buộc tổ chức này phải có sự điều chỉnh thích hợp. Những thách đố này trước hết đến từ mặt kinh tế, làn sóng chủ nghĩa bảo hộ trên thế giới lại dâng lên, thị trường mậu dịch đối ngoại của các nước ASEAN trực tiếp cảm nhận thấy mối đe dọa gay gắt, đặc biệt là sự xuất hiện các tập đoàn kinh tế khu vực, nhu cầu thị trường chung châu Âu từ năm 1992 sẽ trở thành một thị trường đơn nhất, và sự ủ mầm, hình thành của khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ, rồi sự tiến triển chậm chạp của việc đàm phán tự do mậu dịch vòng Uruguay, việc tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của các nước công nghiệp phương Tây dẫu không thể nào đáp ứng được nhu cầu về thị trường xuất khẩu của các nước ASEAN… Những nhân tố này nổi lên lần lượt làm cho các nước ASEAN đã thực hiện những quyết định có tính đột phá quan trọng về mặt hợp tác kinh tế trong khu vực. Lãnh đạo 6 nước ASEAN, tại Hội nghị thượng đỉnh Singapore tháng 1 năm 1992 đã quyết định thành lập khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (The ASEAN Free Trade Area, AFTA), dự tính trong thời hạn 15 năm sẽ quán triệt hiệp định mậu dịch tự do; Hội nghị Thượng đỉnh đồng thời cũng quyết định tăng cường chức năng của Ban thư ký, nâng địa vị của Tổng Thư ký lên cấp bộ trưởng để ông ta có thể tham gia vào các hoạt động về mặt hợp tác kinh tế; ngoài ra, cũng với thái độ cởi mở hơn, để cho lãnh đạo chính phủ các nước thảo luận các vấn đề an ninh trong khu vực mà trước đây được coi là cấm kỵ và quyết định đổi Hội nghị Thượng dỉnh thành cơ chế thiết chế hóa 3 năm 1 lần. Những quyết nghị quan trọng này có thể nói lên rằng ASEAN lại bước vào một thời kỳ mới trong quá trình phát triển của nó.

2/ Thách đố liên tục, nhiều chiều

Nhưng không thể phủ nhận là những quyết nghị quan trọng này cũng đem lại cho ASEAN những thách đố mới, thử thách cái tổ chức mà vào những năm 80 rất được coi trọng do sức sống tập thể mà nó thể hiện ra, xem liệu trong môi trường sinh thái mới nó có thể tiếp tục thoát xác để sống còn hay không. Thí dụ, cùng với việc ký kết khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN, tuy vào tháng 1 năm 2003 bắt đầu thực hiện Kế hoạch Thuế quan Ưu đãi Hiệu lực chung (The Common Effective Preferential Tariff Scheme, CEPT), nhưng đối với mục tiêu của khu vực Mậu dịch Tự do, mức độ các nước thành viên thực sự chấp nhận là như thế nào? Và hàng rào thuế quan mà các nước dựng lên đối với các nước thứ ba có vì chênh lệch nhau quá lớn mà ảnh hưởng tới sự gia tăng mức mậu dịch trong khu vực hay không? Đó đều là những điểm then chốt ảnh hưởng tới sự thành bại của kế hoạch khu vực Mậu dịch Tự do. Ngoài ra quy hoạch khu vực Mậu dịch tự do dài tới 15 năm, không những điều đó hàm ý bản thân nó có thành phần do dự, mà trong thời gian dài như vậy, các thế lực doanh nghiệp bảo thủ bên trong các nước cũng có thể ảnh hưởng tới quyết tâm thực thi của chính phủ; ngoài ra, tính đa biến của cục diện thế giới cũng có thể làm cho kế hoạch này biến thành vô nghĩa.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 24 & 25