Ưu thế đang lên của thông tin – Phần cuối


Kết luận

Ứng dụng thông tin vào bạo lực quân sự có ba yếu tố cơ bản: nhận thức hiện thực và tái hiện trong bits (tình báo), xử lý và phân phối bits, và sử dụng bits tác động vào hiện thực (tác chiến). Nếu sử dụng từ ngữ tác chiến trên không, cú pháp sẽ được phân tích là quan sát, định hướng, quyết định và hành động. Khi một điều khiển học không gian (trên định nghĩa rộng) phát triển thì ảnh hưởng của địa lý đối với từng bộ phận giảm đi nhanh chóng. Xử lý và phân phối thông tin hầu như đã được giải phóng hoàn toàn khỏi mối quan tâm về không gian. Sự phân biệt về tính địa lý còn lại trong giám sát, đó là giữa thông tin thu được từ phía bên kia biên giới (thí dụ từ không gian vũ trụ hoặc từ biển xanh) với những thông tin không thể thu được và với thông tin thu được từ các bộ cảm ứng rẻ tiền không bị theo dõi, như từ các khí cụ bay không người điều khiển được sử dụng trong việc tăng thích đáng việc thu thập dữ liệu. Sau hết, mặc dù ứng dụng thông tin vào lực lượng vũ trang vẫn còn bị ràng buộc bởi địa lý, những người sản sinh và truyền phát thông tin (thí dụ Hoa Kỳ) không nhất thiết giống như những người đưa vào thông tin để hành động (thí dụ các quốc gia đang bị uy hiếp). Bất kỳ một suy đoán gì về điều khiển học không gian cũng đều phải thận trọng, bởi vì những gì tất yếu sẽ đến thường cần có thời gian dài hơn so với điều người ta nghĩ ban đầu và những ý kiến đánh giá của các tổ chức, các viện nghiên cứu khi nhìn lại sự việc hiển nhiên là sẽ khác nhau. Vì vậy hậu cần (hoặc ít ra là trọng tải) vẫn còn quan trọng nên nó vẫn còn đó. Colin Gray lập luận cho rằng môi trường cũng quan trọng và do đó địa lý cũng như vậy. Song tầm quan trọng của cả hai đang nhanh chóng giảm đi. Cuộc chạy đua có thể không nhất thiết là phần thắng sẽ thuộc về bên nào nắm được tinh hoa mới – không còn tồn tại nơi chốn – địa lý. Nhưng cái để đặt cược vẫn cứ là điều khiển học không gian.

Lời đáp của Colin S. Gray

Martin Libicki bao giờ cũng nói lên được điều hấp dẫn và ông thường nói đúng, chỉ mỗi điều rút cuộc vẫn không thuyết phục được mọi người. Đánh giá bài viết của Robert Jervi ta cũng gặp khó khăn ấy. Ông đặt đúng vấn đề, thường đưa ra những phân tích sáng sủa, song lại đi đến những lời giải đáp sai lớn hơn. Với một loạt lập luận nghe ra có lý dựa trên những chi tiết có tính thuyết phục, hết đoạn nọ đến đoạn kia, người ta có thể bị dẫn đi lạc đến ủng hộ những kết luận phô trương quá mức của ông. Trong cốt lõi những kết luận của ông có lời khẳng định liên quan đến sự xuất hiện điều khiển học không gian là “vũ đài an ninh quốc tế”. Vấn đề của luận điểm của Libicki không ở chỗ nó sai – ngược lại hầu hết luận điểm của ông đúng – song vấn đề lại ở chỗ nó không rút ra được kết luận về an ninh quốc gia do ông đưa ra. Trừ phi tôi hoàn toàn hiểu sai ông – điều ấy cũng có thể, nhưng tôi đã không hiểu sai – tôi có thể chấp nhận hầu hết các điểm phân tích của ông là phù hợp với các luận điểm của tôi như đã trình bày trong bài viết. Nhưng mặc dù vậy, tôi vẫn phủ nhận các kết luận của ông.

Phản bác của tôi đối với Martin Libicki được trình bày trên 6 điểm lớn và tôi nghĩ ông sẽ đồng ý phần lớn. Tôi cũng xin được nhắc lại, khác biệt của tôi với Libicki phần nhiều thuộc về những xét đoán chiến lược chứ không phải về những phân tích chiến thuật và chiến dịch.

1/ Cuộc cách mạng trong quân sự như Libicki đề cập, thế mạnh của nó là ở “quyền kiểm soát thông tin” dù cho có thể là thực và quan trọng đấy, song tính chất và mục đích cơ bản của nó vẫn chưa phải là cách mạng. Theo đuổi và thậm chí đạt tới “kiểm soát thông tin” không phải là điều độc đáo của kỷ nguyên điều khiển học không gian. “Hệ thống của các hệ thống” có ích thật đấy, nhưng mặt khác cũng phải thấy rằng gián điệp, chim bồ câu đưa tin, sĩ quan tham mưu đi ngựa, cáp điện tín đáy đại dương và vô tuyến điện cũng đã từng là quan trọng. Mọi cuộc chiến tranh – và tội ác – của mọi thời đại đều lấy cuộc đấu tranh giành ưu thế thông tin bao trùm lên hết thảy.

2/ Người ta không cần phải nhận thức đi sâu mới thấy được phân tích của Libicki hiển nhiên không bao gồm tí chút gì về nội dung con người. Ông tô vẽ tính lãng mạn về cảm ứng, phát xạ, truyền thông, điều chỉnh hướng, tín hiệu, lọc sóng, xác định, phân loại và quyết định mục tiêu. Nhưng trên thực tế ai là người thực hiện sự uy hiếp, bẻ gãy và tiêu diệt mà chiến tranh đòi hỏi? Tướng Archibald Wavell từng ghi nhận rằng: “Lịch sử chiến tranh là công việc thuộc về xương máu chứ không phải là công việc về thông số, công thức hay quy tắc; không phải là cuộc xung đột của máy móc mà là của con người”. Libicki biết rõ điều này, song ông không thể hiện trong luận điểm của mình. Trong vũ trụ an ninh của Libicki, ở đó điều khiển học không gian là vua, chiến tranh đã được đ6è cao là một hoạt động thuận lợi không đổ máu. Có lẽ chỗ yếu nhất trong luận điểm của ông là: ông đã làm ngơ, không nhấn mạnh và thậm chí không đề cập rằng máy tính không hơn không kém, chỉ là công cụ. Và chắc chắn rằng công cụ làm thay đổi điều kiện của tác chiến chiến thuật, cũng có thể tác động ảnh hưởng đối với những lựa chọn chiến dịch, nhưng cũng không kém phần chắc chắn là nó không phá bỏ về cơ bản mối quan hệ phiền toái, bất tiện giữa con người với địa lý tự nhiên.

3/ “Điều khiển học không gian – cái có thể hiểu là một tổng số những khâu truyền thông và nút điện toán toàn cầu” hoặc là “cái không tồn tại nơi chốn” ngày càng được chứng tỏ rằng nó sẽ là người thắng cuộc trong cuộc chay đua về an ninh, nhưng hãy thử hỏi xem nó ở đâu? Do kỹ thuật phát triển, ý nghĩa của địa lý về mặt chiến dịch và chiến thuật đang thay đổi – từ trước đến nay, tình hình vẫn cứ là như thế nhưng đó không phải là nằm trong quá trình cuộc cách mạng quân sự hủy bỏ ý nghĩa của địa lý, đi đôi với khai thác điều khiển học không gian. Libicki biện luận rằng: “Do điều khiển học không gian (theo nghĩa rộng) được phát triển, ý nghĩa địa lý ở từng phần một nhận thức hiện thực rồi tái hiện trong bits (tình báo); xử lý và phân phối bits tác động vào thực hiện (tác chiến) đã suy giảm nhanh chóng. Chẳng phải đã là sự thật hay sao: việc xử lý và phân phối thông tin hầu như đã được giải phóng hoàn toàn khỏi mối quan tâm về không gian. Điều nói ra dưới đây nghe có vẻ như thô thiển, con người và các công cụ giết người hoạt động trên đất liền, trên biển, trên không và trong không gian. Điều khiển học không gian là một cái gì có giá trị, thậm chí là vô giá bao trùm bên trên từng môi trường của bốn môi trường địa lý ấy. Nhưng điều khiển học không gain không vượt lên, chuyển hóa hoặc làm vô hiệu hóa tầm quan trọng của các môi trường đó. Chim câu đưa tin, sĩ quan tham mưu đi ngựa hoặc đầu ra của điều khiển học không gian, phương tiện nào cũng vậy ở vào điểm quyết định, đều có thể tác động vào lực lượng vũ trang để đạt hiệu quả tối đa. Còn con người khác với điều khiển học không gian, không phải là không ở vào một vị trí nào. Con người hành động trong phạm vi địa lý.

4/ Tuy Libicki trong bài viết, dành nhiều chỗ hơn so với thường lệ, nói về chiến sĩ điều khiển học không gian, xem xét cân nhắc để thiết lập một “đội quân đỏ” nhưng qua bối cảnh chiến lược được ông đề cập và đưa ra bàn cãi, người ta vẫn nhận thấy dường như ông chấp thuận uy lực của Hoa Kỳ chi phối điều khiển học không gian. Và bất kỳ ai nếu tôn trọng kinh nghiệm của cuộc cách mạng quân sự trước kia, cũng đều cần phải có thái độ thận trọng đúng đắn khi đứng trước những luận cứ mang tính lãnh đạo quốc gia lâu dài. Nói chung Libicki còn ngây thơ trên mặt trận này nhưng người ta vẫn không khỏi nghi ngại: do quá nhiệt thành ủng hộ điều khiển học không gain, Libicki đã không có sự tưởng tượng cần thiết về những chiến thuật, chiến dịch và chiến lược phản chiến tranh điều khiển từ xa.

5/ Libicki cùng với đô đốc Williams Owens xếp tác chiến trong vũ trụ vào lớp trên cùng trong “hệ thống các hệ thống”. Họ có thể đúng nhưng tôi cho rằng, dường như do thừa nhận, hoặc thừa nhận quá mức ý nghĩa của điều khiển học không gian, khiến các nhà bình luận không còn trông thấy đặc tính riêng biệt của khai thác không gian. Để khẳng định điều khiển học không gian trên một số mặt đòi hỏi người ta phải phát huy hết năng lực trí tuệ, tuy cá nhân con người có thể đạt tới được, nhưng nó có thể che khuất tầm quan trọng cốt tử của kiểm soát chiều địa lý thứ 4 của chiến tranh – ngoại tầng không gian.

Sau hết cũng bởi lập luận của Libicki bị tước bỏ đi nội dung về con người, nên trong trình bày cũng thiếu phần kinh nghiệm lịch sử. Phải chăng chủ đề của Libicki thật sự là về cuộc cách mạng quân sự hoặc đó chỉ là sự biểu thị trong hiện tại những đòi hỏi lâu nay vẫn được người ta đặt ra đối với quyền kiểm soát thông tin? Đọc Libicki trên ý nghĩa nào đó khác nào đọc toàn văn những tiên đoán của ngày hôm qua về không lực và lực lượng mặt đất được thiết giáp hóa và cơ giới hóa. Vấn đề không phải là điều khiển học không gian (hoặc máy bay, xe tank) có thể làm được gì, mà đúng hơn người ta cần phải đề cập tất cả những điều đó có ý nghĩa gì. Đương nhiên mỗi học thuyết gia đều có thể tìm thấy trong quá khứ những gì hợp với mình, song ít nhiều chúng ta sẽ thấy yên tâm nếu có thể tìm thấy ở Libicki những điều ông tôn trọng một cách có hệ thống đối với bài học có thể rút ra từ kinh nghiệm lịch sử.

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Advertisements

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần VI


Vậy nếu điều khiển học không gian xuất hiện với tư cách một phương tiện an ninh là điều không thể tránh khỏi, thì phải chăng Hoa Kỳ, hoặc nói chung phương Tây, bằng lòng dung nạp và hình thành một hiện tượng như thế sẽ là một việc làm có lợi cho họ? Câu trả lời là họ có lợi nhưng với chiến lược dưới đây:

+ Hoa Kỳ sử dụng một số “dòng bits” sẵn có – phần nhiều thu nhận từ vệ tinh – đem ra phục vụ các khách đặt hàng (thí dụ các nước khác) hoặc phục vụ tất cả mọi người (như đã là tiền lệ, những tấm ảnh sau khi giải mật vốn thuộc Chương trình Corona tuyệt mật nay được phát hành trực tuyến). Và rồi sẽ đến lúc có thể bổ sung các hồ sơ dữ liệu chung và các “dòng bits” của các hệ thống theo dõi hiện đang hoạt động, như kiểm soát giao thông và điều chỉnh liên mạng. (Cũng không cần thiết phải nói thêm rằng có một số sẽ không được đưa lên trực tuyến: Các hệ thống mật, các hệ thống cho biết những mục tiêu nhạy cảm nào đang bị quan sát; những hệ thống được xây dựng nhằm theo dõi những tài sản mà đối với chúng Hoa Kỳ sẵn có ưu thế lâu dài…).

+ Công cụ phần mềm có thể được đưa vào hoạt động để thu thêm nhiều thông tin, liên kết chúng với các thông tin khác rồi xác định dạng, đưa ra kết luận lấy đó làm chứng cứ để đổi mới hệ thống logic và chuẩn bị chứng cứ để biểu thị trong dạng mẫu thay thế. Kèm theo sẽ có những tiêu chuẩn, biên bản và kiến trúc bao gồm trong các công cụ đó.

+ Thỏa thuận ngầm hoặc công khai với một số người khác, khích lệ họ đóng góp công cụ và “dòng bits” (từ các phương tiện giám sát bên ngoài cũng như các phương tiện theo dõi bên trong – thí dụ đối với vận tải và môi trường), hoặc ít ra họ sẽ cởi mở, không che đậy đối với quan sát của bên ngoài cũng như quan sát của bên trong.

Hoa Kỳ thông qua việc tăng cường sử dụng điều khiển học không gian nhằm mục đích an ninh chung sẽ có cái lợi tự phục vụ mình trên các mặt chiến dịch và chiến lược.

Hầu hết những lợi ích của vận hành khai thác trên cơ sở phát huy những ưu thế tinh tế và toàn diện là thuộc về những ai định được tiêu chuẩn, kiến trúc và các điều kiện của thương mại trên lĩnh vực thông tin (được bao gồm trong phần mềm của máy). Thí dụ ai thông thạo về cách thức làm việc của các hệ thống người đó sẽ có thể giúp các nước khác. Đặc biệt nước nào yêu cầu viện trợ của Hoa Kỳ theo đơn đặt hàng, thì sẽ có thể lợi dụng tốt hơn và nhanh chóng hơn bất kỳ một ưu thế thông tin nào (thí dụ các bộ cảm ứng triển khai cụ thể) mà Hoa Kỳ cung cấp cho đồng minh. Và khi nào cần hình thành liên minh, thì đương nhiên các nước đó sẽ thấy rằng liên kết với Hoa ỳ có thể được thực hiện dễ dàng.

Có một điều quan trọng hơn nữa, đó là các tiêu chuẩn của một điều khiển học không gian bất kỳ phản ánh như thế nào kiến trúc của nó (tức là ai có thể nói điều quan trọng gì với ai) rồi chuyển thành phản ánh mối quan tâm (tức là hệ thống phải làm tốt những gì và những gì hệ thống chưa làm tốt) của nhà thiết kế. Như vậy, hệ thống sẽ phải tập trung vào những gì Hoa Kỳ lo ngại nhất (thí dụ trang bị vũ khí cho một cuộc chiến tranh khu vực lớn) mà không tập trung vào những gì Hoa Kỳ ít quan tâm (ví dụ đối với vấn đề bất đồng chính kiến) hoặc đối với những gì Hoa Kỳ đã có nhiều về số lượng (thí dụ vệ tinh, các khí cụ cơ động tầm xa, hoặc tàu ngầm đại dương). Còn những ai bỏ tiền ra mua cổ phần của hệ thống thì có nghĩa là họ bỏ tiền ra mua những lựa chọn đó. Và như vậy, người ta đi tìm kiếm những gì chúng ta cũng tìm kiếm thì dễ, nhưng sẽ khó khăn cho họ trong trường hợp họ tìm kiếm những gì chúng ta không đi tìm.

Nói về lợi ích chiến lược, người ta sẽ gặp trường hợp là một quốc gia ở vào thời điểm một cực của nó mà tỏ ra rộng lượng như vậy sẽ chẳng khác gì tự giải giáp (đúng với cả hai nghĩa của từ này) còn nếu thuộc vào trường hợp thúc bách hơn, đó là vì người ta muốn khích lệ các nước bạn (hoặc ít nhất là các nước không đối địch ra mặt) bỏ tiền ra chung phần vào một hệ thống toàn cầu và do đó, phụ thuộc vào hệ thống đó. Cùng với thời gian, nếu sự tiếp cận hệ thống “dòng bits” kiên trì vượt qua những khác biệt quốc tế nhỏ bé, thì hệ thống đó sẽ đạt được độ tin cậy lớn hơn (một tiến trình diễn ra từ từ đi đôi với công việc truyền phát thông tin từ các vệ tinh thuộc hệ thống định vị toàn cầu). Riêng việc tiếp cận thông tin không khuyến khích các quốc gia vứt bỏ các hệ thống cũ kỹ của họ, nhưng có thể ngăn giữ họ không phát triển thêm (rút cuộc là nâng cấp, duy trì) những năng lực mới phức tạp và chi phí tốn kém. Các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ vốn rành về buôn bán sòng phẳng giữa việc cung cấp tình báo cho đồng minh của mình với việc quan sát họ phát triển các năng lực riêng độc lập. Điều khiển học không gian về an ninh mở rộng logic này trong quan hệ với các nước có khả năng sẽ trở thành cường quốc lớn, và tạm thời giữa Hoa Kỳ với họ chỉ có những thỏa thuận miệng với nhau. Thời gian qua đi, nếu chiến lược này đem lại hiệu quả (nghãi là nếu các quốc gia ấy từ bỏ năng lực độc lập) thì tấm rào cản đường một kẻ cạnh tranh tương xứng đối địch sẽ được nâng lên ngày càng thêm cao. Nhưng nếu là một quốc gia kiên quyết, thì họ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn bao giờ hết và dễ bị phát hiện. (Ước tính cần phải có ít nhất 10 năm đầu tư mới và học lại việc tích hợp hệ thống). Và trong lúc quá độ, quốc gia đó sẽ phải công khai bất hòa với Hoa Kỳ và với các đồng minh của Hoa Kỳ. Trong giai đoạn bất trắc kéo dài ấy, quốc gia đó phải tranh thủ thời gian tiến hành các công việc đối phó, chờ đợi thời cơ với sự kiện bất kỳ nào khiến kẻ cạnh tranh có thể điều chỉnh thay đổi hướng đi.

Một điều khiển học không gian về an ninh được phát triển đầy đủ tự thân nó và về phần nó sẽ không thực hiện bảo vệ các quốc gia; phạm vi yểm trợ của nó vẫn nhằm các điểm cụ thể, vì vậy các đồng minh vẫn là quan trọng và còn nữa mối đe dọa về mặt địa lý vẫn không phải là không còn gì đáng kể. Tuy nhiên nếu lợi dụng được tối đa thành phần của an ninh quân sự đang được phát triển nhanh chóng – thông tin – khiến toàn cầu tiếp cận được với nó, thì một điều khiển học không gian có thể làm thay đổi ảnh hưởng đang suy thoái của các phương tiện chiến tranh khác. Đó mới thật là chiến tích không nhỏ.

Một vài giả thiết

Khái niệm điều khiển học không gian là vũ đài an ninh quốc tế dựa trên hai giả thiết. Một là thế giới tương đối hòa bình hôm nay sẽ còn tiếp tục trải qua một thời gian nữa. Rồi sự tái hiện một cách bất ngờ đối địch gay gắt giữa các cường quốc lớn sẽ chia cắt nhỏ “sảnh đường” lớn của điều khiển học không gian thành các phòng nhỏ đố kị, ghen ghét lẫn nhau. Và tương tự như thế, thế giới cũng sa vào tội lỗi, rối loạn, tha hóa và điên dại khiến người ta phải dành quá nhiều nghị lực vào việc bảo vệ nền văn minh và chỉ còn chút ít nghị lực dành cho việc mở rộng điều khiển học không gian.

Giả thiết thứ hai là điều khiển học không gian không tự thân nó phân biệt trở thành môi trường, ở đó quốc gia này tiến công quốc gia khác (thí dụ bằng cách thả côn trùng, virus, ngựa Trojan, bom logic vào cơ sở hạ tầng của thông tin). Hiển nhiên mối đe dọa đó ngày càng tỏ rõ tính chất quan trọng của nó vào lúc các hệ thống thông tin mở đường len lỏi thâm nhập vào các khu vực kinh tế kỹ thuật cao của tất cả mọi người. Và trong bối cảnh một nền văn hóa phát triển phụ thuộc vào máy móc thì mối đe dọa đó cũng sẽ dễ dàng được người ta khuếch đại lên mà chỉ một số ít người hiểu được mà thôi. Đối với điều khiển học không gian, chỉ trừ những ngoại lệ vốn rất ít có và cũng chẳng mấy ai để ý, nói chung không có chuyện nhập do bị ép buộc. Chính các chuyên gia biên soạn mới gây hư hại cho hệ thống. Bởi vì những hệ thống mà họ tiến công đã dựa vào khả năng của kỹ thuật vượt lên trên các biện pháp bảo vệ an toàn (cái giá của an toàn đáng đến đâu là tùy thuộc ở mối đe dọa đối với nó và giá trị của cái đáng được bảo vệ). Nếu mối đe dọa là nghiêm trọng thì hệ thống có thể thích ứng bằng cách gây khó khăn, hoặc trong một số trường hợp, có thể khiến việc nhập không thể nào thực hiện được. Tuy nhiên sự thích ứng như thế không phải là không tốn kém, song dù sao vẫn là nhỏ so với việc bảo vệ các quốc gia chống lại cuộc xâm lăng thường quy, hoặc bằng vũ khí hạt nhân.

Cũng bởi xuất phát từ kiến trúc bảo đảm an ninh, điều khiển học không gian không thể không ủng hộ một số lợi ích này nhiều hơn so với một số lợi ích khác, những ai bị chừa ra ngoài vì thế sẽ tìm cách gây hư hại hoặc làm xuống cấp những phương tiện mà nhờ chúng người ta mới tạo nên được điều khiển học không gian. Nếu tiến công vào mặt bằng dữ liệu không đem lại hiệu quả (thí dụ virus bị đánh bại vì máy tính có bảo đảm an toàn) thì cuộc tiến công vào mặt bằng thông tin (thí dụ gài những “dòng bits” mập mờ, đánh lạc hướng người đọc) có thể sẽ đạt hiệu quả hơn.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần V


c/ Cuộc tiến công Croatia vào Krajina được thực hiện bởi một quân đội đã mất 1/3 đất đai cho quân phiến loạn Serbia vào năm 1992 là bằng chứng của giá trị hợp đồng tư nhân trong việc hình thành một quân đội (Người ta cho rằng hiệu lực của quân đội Croatia được tăng cường bởi sự giúp đỡ của Hãng tư vấn Hoa Kỳ có trụ sở tại Washington D.C). Nhà thầu (ký hợp đồng) có tác dụng rất ít trong cuộc chiến tại Triều Tiên. Họ có vai trò tuy nhỏ nhưng rất quan trọng trong cuộc xung đột ở Việt Nam. Và họ có vai trò to lớn trong chiến tranh vùng Vịnh (chẳng thế mà khi tiến hành công việc, JSTARTS yêu cầu nhân viên của Hãng Grumann phải có mặt ở trên tàu). Họ còn được chứng tỏ là rất cần thiết cho tác chiến tại Haiti. Thông tin – một phương tiện đang phát triển của chiến tranh so với lực lượng vũ trang, nếu tư nhân hóa sẽ ít bị hạn chế hơn rất nhiều về mặt pháp lý. Cho đến nay các Hãng tư nhân Hoa Kỳ đã kiên trì làm việc phù hợp với lợi ích của Hoa Kỳ (hầu hết khách hàng theo cách này hoặc cách khác, đều liên minh với Hoa Kỳ). Các công ty hàng không, hàng không vũ trụ của Mỹ đang cung cấp dịch vụ chụp ảnh cho nhiều nước. Hãng Raytheon bắt đầu xây dựng cho Brazil mạng giám sát môi trường có tính năng lưỡng dụng (thực vậy Raytheon hi vọng với thế mạnh kinh nghiệm của mình, sẽ có thể giành được những công việc giám sát trên khu vực rộng lớn tương tự tại các nơi như Bosnia và Golan). Sau hết sẽ không có gì ngăn cản được các hãng đa quốc gia vốn không cắm rễ ở một chỗ nào nhưng có thể tự do sử dụng tài năng của họ trên toàn cầu. Họ cũng sẽ rút khỏi mạng Web và khi có nhu cầu sẽ lại được chỉ định trở lại vị trí đó.

d/ Khí cụ bay vũ trụ Clementine I là thử nghiệm về sử dụng khí cụ bay nhỏ, tương đối rẻ tiền vào việc thu lượm hình ảnh chi tiết. Người ta bỏ ra 80 triệu USD để mua nửa tá khí cụ cảm ứng cộng với một hành trình bay lên mặt trăng, chụp ảnh bề mặt mặt trăng với giá rẻ không đầy 1/10 so với dự tính của NASA. Trong khi toàn bộ khí cụ cảm ứng chỉ có mỗi một bộ cảm ứng có độ phân biệt ảnh tới vài mét ở độ cao chung cho các vệ tinh giám sát. Clementine chỉ mới là một thử nghiệm (và không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có thể có được kỹ năng nén rất nhiều năng lực, gói gọn trong một kiện nhỏ tương tự như thế), nhưng nhiều hãng hàng không vũ trụ Hoa Kỳ hiện đang sắp hàng để tài trợ các dự án cung cấp cho hầu hết mọi khách hàng, những hình ảnh được chụp từ khoảng không vũ trụ sát gần thời gian thực, với độ phân biệt ảnh một mét rất có ích về mặt quân sự. Thậm chí Ấn Độ cũng đang chuẩn bị không bao lâu nữa sẽ phóng vệ tinh môi trường chụp ảnh có độ phân biệt 10 mét. Những “dòng bits” do nhà nước thu thập được từ khí cụ bay không người lái (UAV), từ không gian thương mại và từ các bộ cảm ứng cấp công nghiệp đem lại kết quả khả quan và số lượng sự kiện được ghi lại là nhiều hơn nếu so với hiệu quả ngẫu nhiên do các phương tiện tiêu dùng thuộc sở hữu đại chúng thu thập được.

Một tương lai như vậy tiên đoán gì về an ninh? Bây giờ ta hãy thử xem xét trong quốc phòng người tả sử dụng thông tin như thế nào trên các mặt thu thập, phân bổ, xử lý và đưa vào hoạt động. Công việc thu thập có thể thuộc lĩnh vực giám sát tư nhân và của phương tiện đại chúng, đi đôi với thông tin trực tuyến của các nguồn toàn cầu. Phân phối toàn cầu vốn là một đặc điểm của điều khiển học không gian. Xử lý có thể do các nhà thầu (ký hợp đồng) điều hành. Chỉ còn lại việc triển khai đưa vào hoạt động – chuyển hóa thông tin thành bạo lực vật chất. Năm tháng qua đi, tỉ lệ thông tin chuyển thành vũ lực cứ giảm dần. Cố nhiên vũ lực vẫn còn là điều kiện không thể thiếu của an ninh. Nhưng phần lớn những gánh nặng của an ninh có thể sẽ được toàn cầu hóa có hiệu quả – đặc biệt bởi những những con nhện an ninh bám kiên nhẫn trên mạng Web để săn ruồi. Một hãng như thế – bao quanh sự tồn tại của nó, các chiến lược an ninh quốc gia sẽ được thảo ra – cùng một lúc có thể có mặt tại bất kỳ nơi đâu và đồng thời không ở đâu cả.

Dường như lợi ích an ninh của Hoa Kỳ có thể bị đảo lộn bởi một thế giới ngày càng thêm bị khống chế bởi mạng thông tin thế giới. Sau hết, nếu Mỹ xuất hiện là người có thẩm quyền chính trên chiến trường bởi lẽ Mỹ có kiến thức chi phối không gian chiến đấu (và năng lực chuyển giao có chọn lọc cho các đồng minh của mình), vậy phải chăng một khi một lượng lớn thông tin được dành cho tất cả mọi người thì thế mạnh ấy của Mỹ có bị giảm nhiều hay không? Hiện thời trong giới quân sự Mỹ có ý kiến cho rằng do kỹ thuật thông tin được phổ cập, nên tác chiến của Hoa Kỳ ngày càng bị lộ rõ ràng (không kể tang hình). Và cũng có nhiều ý kiến tranh luận làm thế nào để chống lại tình hình bị phát hiện ấy. Dĩ nhiên một khi những tài sản của bên thứ ba phát sinh những hình ảnh có ý nghĩa về mặt quân sự, rồi những “bits” mã hóa được truyền đi dồn dập, từ vệ tinh này đến vệ tinh khác, thì việc quyết định những mục tiêu cụ thể để phá hủy hoặc làm vô hiệu hóa số mục tiêu ấy mà không gây hại không thể chấp nhận được về mặt chính trị cho bên thứ ba sẽ là một công việc không dễ dàng gì.

Tuy nhiên, nếu nhìn rộng ra, một cái làng toàn cầu đặt dưới sự quan sát của toàn cầu có thể sẽ là một loại hình thế giới mà Hoa Kỳ đang tìm kiếm. Muốn biết nguyên nhân vì sao điều đó là thật, chúng ta hãy xem xét sự việc dưới hai tình huống: thứ nhất, nếu hệ thống ấy ra đời không phụ thuộc vào ý muốn của mọi người; thứ hai, nếu kiến trúc của hệ thống mới ra đời này phản ánh chính sách đã được Hoa Kỳ cân nhắc một cách thận trọng.

Trong bối cảnh chiến tranh lạnh kết thúc, những cuộc tranh luận thông thường chung quanh vấn đề “tính minh bạch, sáng tỏ” đã mang một ý nghĩa mới. Không kể một số chuyện phức tạp, khoảng thời gian một cực nói chung là tốt cho an ninh của Mỹ (và nếu rộng ra nữa là tốt cho cả an ninh của các nước bạn bè của Mỹ). Làm thế nào để có thể trì hoãn và ngăn cản, lâu chừng nào tốt chừng nấy, không dễ xuất hiện một kẻ cạnh tranh tương xứng, đối địch. Do Hoa Kỳ chi phối về cơ bản ưu thế quân sự toàn cầu, nên tất cả các cường quốc khác triển khai công việc lâm vào thế bất lợi – họ thách thức hiện trạng mong làm sao thực hiện sự bình đẳng. Đời sống các xã hội càng “minh bạch” thì đó cũng là thời điểm khó khăn mà họ triển khai công việc xây dựng, động viên hoặc bố trí lực lượng, hoặc nhìn chung là sinh chuyện rắc rối. Chống lại một sự giám sát bất quy tắc (một hệ thống trên đây có thể cố gắng làm được việc ấy) cho dù đối thủ thông minh có thể lấy đem đi một số thứ mà không bị phát hiện song bản thân việc giám sát bất quy tắc vẫn khiến người ta khó có thể biết được những con mắt ấy muốn quan sát cái gì. Hơn nữa, ít nhất mọi người vẫn cứ trông chờ nước phát triển lực lượng quân sự kia phải đưa ra được lời giải thích có lý, nói rõ vì sao họ làm việc đó (đại thể việc làm ấy không phải là sự thách thức công khai đối với Hoa Kỳ) nhưng chỉ nhằm hạn chế những yếu tố bất ngờ gây bất ổn định.

Trên lý thuyết, một quốc gia có thể sớm chọn hệ thống, điều pha với những “dòng bits” nhằm quan sát người khác nhưng bảo vệ không gian của mình, không để cho con mắt bên ngoài cũng như những ống kính video của phóng viên bên trong dòm ngó. Hiển nhiên là Trung Quốc và Singapore đang cố tìm cách khôn khéo tham gia điều khiển học không gian theo cách thức này, cốt sao doanh nghiệp của họ có thể dựa vào thông tin toàn cầu mà trở nên thịnh vượng, còn người dân thường của họ thì không được phép làm thế. Mặc dù vậy, người ta vẫn tin rằng rút cuộc thì các quốc gia ấy cũng sẽ thất bại trong những mưu toan theo cách như vậy, vì điều khiển học không gian không cho phép một sự méo mó như thế. Tuy nhiên người ta cũng đành từ chối không choc ác quốc gia ấy tham gia sự kết nối, chỉ vì họ muốn có các bộ biến diệu (modems) nhưng lại không muốn tuân theo luật lệ. Như vậy hãy còn quá sớm để biết được trong trường hợp điều khiển học không gian nắm giữ vai trò an ninh cũng như công việc kinh doanh, thì liệu thái độ vô trách nhiệm ấy có còn có cơ phát triển không.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần IV


Hoa Kỳ cũng có thể hoàn tất những cam kết liên minh của mình bằng cách chuyển giao ưu thế thông tin chứ không cần thiết phải triển khai quân đội. Đặc biệt là cách viện trợ này có thể nới lỏng việc hợp nhất các quốc gia mới gia nhập các liên minh của Hoa Kỳ. Thật vậy, Hoa Kỳ đã nhấn mạnh sẽ cung cấp cho các quốc gia là “đối tác vì Hòa Bình” các hệ thống dựa trên cơ sở tình báo, coi đó là một bước nhằm tiến tới nhất thể hóa hàon toàn. Khác với việc quan hệ với các thành viên của liên minh, viện trợ thông tin có thể được cung cấp theo mức độ khác nhau cho từng nước cụ thể, tùy theo sự sẵn sàng của nước đó tiến tới thiết lập các mối quan hệ chặt chẽ hơn (thí dụ Cộng hòa Czech so với Tajikistan có thể được giúp đỡ tốt hơn). Những dữ liệu thu lượm từ xa (mỗi năm một thêm đáng giá) có thể thay thế công việc tuần tiễu biên giới vốn tốn kém và mạo hiểm. Được trang bị như vậy, các đồng minh có thể không cần phải xâm phạm qua bên kia biên giới mà vẫn có thể bảo vệ biên giới của mình chống lại mọi sự xâm nhập (chẳng hạn như cuộc truy quét năm 1995 của Thổ Nhĩ Kỳ đối với phiến loạn PKK người Kurd và Iraq).

Tương tự như trên, chuyển giao ưu thế thông tin có thể giúp phát triển an ninh khu vực. Các quốc gia cũng chỉ vì nghi kị các nước láng giềng, nên thường chuyển sang tích trữ quân bị, rồi chuyển thành xúc tiến chạy đua vũ trang. Nay nếu mọi nước đều có thể thấy rõ ý đồ của nước láng giềng muốn làm gì (nhờ có “dòng bits” do Hoa Kỳ cung cấp) và nếu mỗi nước cũng hiểu rằng việc tiếp cận với thông tin của Hoa Kỳ sẽ tùy thuộc vào việc quốc gia đó từ bỏ vũ khí tiến công và giữ vững một tư thế tốt, thì mọi việc khích lệ tìm kiếm vũ khí cũng sẽ được giảm đi. Thí dụ tại châu Á, nơi có các nước tuy về mặt chính thức thì liên kết với Hoa Kỳ (Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia) nhưng lại vẫn nhìn nhau với con mắt nghi kị, thì việc viện trợ được tiến hành như trên có thể làm dịu đi các mối lo sợ cũ, đồng thời không gây thêm những mối lo âu mới.

Gìn giữ Hòa Bình có thể là một ứng dụng khác nữa. Hiệp nghị Sinai giữa Israel và Ai Cập được tăng cường bởi các hệ thống cảm ứng của Hoa Kỳ, cho phép mỗi bên theo dõi những cuộc chuyển quân có thể là dấu hiệu về một cuộc tiến công của phía bên kia. Các hệ thống thông tin đến một lúc nào đó trong tương lai sẽ được người ta triển khai trên khu vực cao nguyên Golan, có thể cung cấp các thông tin không những chỉ rõ các cuộc tấn công sắp xảy ra, mà còn cả thông tin phát hiện mục tiên – khiến bất kỳ người xâm phạm khu phi quân sự đều là nguy hiểm. Hai thí dụ về an ninh khu vực và gìn giữ hòa bình trên đây đủ minh họa việc Hoa Kỳ không cần phải cung cấp một “con người cầm một khẩu súng đứng trên mặt đất” mà vẫn có thể có tác động ảnh hưởng đến các vùng xa xôi, vì lợi ích ổn định và hòa bình.

Để phát triển và duy trì một năng lực như thế cần có một số đổi mới về trang bị lực lượng. Trong danh mục khí tài của Hoa Kỳ vốn sẵn có các hệ thống cảm ứng có năng lực nhất (như tuần dương hạm Aegis và máy bay AWACS và JSTARS) như mọi người đều thấy rõ. Năng lực đó cần được phân bổ cho các mục tiêu, làm sao có thêm nhiều đối tượng được cung cấp, bao gồm những đối tượng ít có giá trị. Cần thiết nữa là những kỹ thuật tích hợp “dòng bits” với các hệ thống tác chiến đạn dược và chỉ huy xạ kích của các nước khác và với hệ thống cảm ứng của bản thân các nước đó. Bởi lẽ các đồn gminh ngày mai có thể bao gồm cả những nước thoạt đầu còn có ý nghi ngại (như Kuwait năm 1990) hoặc những nước vốn ở bên ngoài trách nhiệm phòng vệ của Hoa Kỳ (như Hàn Quốc năm 1950), việc tích hợp cần thực hiện sao cho đạt thời gian gần thực.

Nếu chuyển giao ưu thế thông tin trở thành phương thức có ích giúp đỡ được các nước khác, thì nó có thể tác động tương đối trực tiếp đến địa chiến lược. Thí dụ, cho một “dòng bits” phải đi qua không gian, nên việc nhận “dòng bits” ở bất kỳ nơi nào trên thế giới cũng phải chi phí tốn kém như nhau. Vì vậy trên thực tế, người ta không cần thiết phải đến tận nước Mỹ mới nhận được viện trợ.

Tuy nói như thế nhưng nhân tố địa lý vẫn là quan trọng đối với việc thu thập thông tin. Không gian tác chiến càng gần đất bạn, hoặc ít ra gần lãnh hải quốc tế, sẽ càng thuận tiện cho việc sử dụng khí cụ cảm ứng không vận hoặc đặt ở biển xanh. Xây dựng và thử nghiệm các phần mềm mô phỏng nếu không có kiến thức dựa trên quan sát trực tiếp chiến trường, sẽ trở thành một công việc khó khăn. Cũng như người ta từng ghi nhận rằng một biện pháp thuần túy chỉ dựa vào “dòng bits” thường là không thực tế. Công việc chuyển giao khoản mục cùng với việc cử nhân viên liên lạc – đó đúng là những việc có tính liên kết cụ thể. Do vậy khái niệm cho rằng viện trợ có thể được thực hiện, bất chấp địa lý, là lời nói thái quá và mỗi năm qua đi người ta càng ít nói những lời lẽ như thế.

Điều khiển học không gian xúc tiến ổn định như thế nào

Trao ưu thế thông tin cho đồng minh khiến các cường quốc lớn có thể tác động ảnh hưởng đến các sự kiện mà không mấy quan tâm đến địa lý. Và trên thực tế, kể từ năm 1945, Hoa Kỳ đã tỏ rõ năng lực sử dụng lực lượng vũ trang tại những nơi xa xôi nhất và thực hiện việc chỉ huy lực lượng với thời gian thực. Nhưng đạt tới việc chỉ đạo lực lượng của các quốc gia khác với thời gian thực – đó mới thật sự là một chiến tích. Nhưng bản thân việc đó vẫn không làm thay đổi tính toán cơ bản của một quốc gia dân tộc về an ninh quân sự.

Cái có khả năng làm thay đổi những tính toán này – đó chính là năng lực điều khiển học không gian tạo điều kiện để có thêm nhiều vai mới tham dự trò chơi an ninh, bao gồm cả những quốc gia dân tộc kém sung túc cũng như các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xuyên quốc gia, thậm chí cả các cá nhân hữu quan.

Cơ chế cơ bản của nó rất đơn giản: chỉ riêng các quốc gia dân tộc mới có quyền hợp pháp về sử dụng lực lượng vũ trang và chỉ những quốc gia giàu có mới đủ khả năng chi phí cho các hệ thống phức tạp phục vụ việc sử dụng lực lượng. Những thông tin quan trọng nhất – cơ sở của mọi tác chiến quân sự tương lai được toàn cầu hóa một cách nhanh chóng. Mọi việc trở nên minh bạch rõ ràng khiến tiến công là công việc khó khăn hơn so với việc phòng ngự và cũng khiến thách thức đối với hiện trạng là khó khăn hơn so với duy trì nó. Như vậy cũng có nghĩa là thông tin toàn cầu hóa đã bắt đầu chi phối việc sử dụng thuần túy lực lượng quân sự.

Dễ hiểu nguyên nhân vì sao lại như thế, chúng ta hãy xem xét “Mạng thế giới” (World Wide Web), sự vụ Rodney King, cuộc tiến công của Croatia vào Krajina và tàu vũ trụ Clementine là những báo hiệu về các nhân tố tác động ảnh hưởng đến an ninh toàn cầu trong thế kỷ XXI.

a/ Mạng Web giờ đây đã là yếu tố quen thuộc trong đời sống văn hóa đại chúng Mỹ, nó trở thành một khí cụ để bất kỳ ai cũng có thể dùng nó nhắn tin vào vũ trụ. Người ta không cần biết phải chăng nó có thể trở thành thư viện lớn nhất, hoặc là tấm biển quảng cáo lớn nhất của thế giới về lĩnh vực thông tin, nhưng rõ ràng ngày càng có thêm nhiều người nhận thức rằng người ta có thể dễ dàng có được điện tín toàn cầu, đi đôi với sự xuất hiện phần mềm có khả năng dạo quanh khắp nơi để thu lượm những “sợi nhung – điện toán” đủ để may nên một bộ đồ thời trang. Trường hợp một sự thật bất kỳ, nếu có thể trình bày được, thì sẽ có thể đưa được vào mạng. Và một khi sự thật đã có mặt mà bất kỳ ai thấy hứng thú và chăm chú theo dõi thì rốt cuộc cũng đều có thể tìm thấy được.

b/ Sự vụ Rodney King chứng tỏ rõ là người ta có thể dễ dàng biến đổi đời sống đường phố trở thành một khu hành chính, ở đó khắp mọi nơi đều có mặt sự giám sát tư nhân. Trong một thành phố lớn với số dân hàng triệu của châu Á ngày mai phải chăng rồi cũng có cơ may có một sự giám sát tương tự như thế? Sự kết hợp giữa giao thông trên đường phố tấp nập với chi phí gia tăng của mọi người mua các mặt hàng tiêu phí như máy quay camera video và các hệ thống điện thoại số, chứng tỏ người ta chỉ còn trải qua một vài bước nhảy cóc nữa thôi là có thể tiến tới bước tiến vọt từ sự kiện đến hình ảnh, “dòng bits” và điện tín toàn cầu. Đương nhiên hầu hết những gì người ta thu lượn được có thể còn vụt vặt. Nhưng sau khi có đủ số lượng, chọn mẫu một cách rộng rãi, sàng lọc kỹ lưỡng, tổng hợp một cách thông minh, sẽ đủ bảo đảm rằng không một điều có ý nghĩa nào lại không được đưa vào quan sát.

Những gì con người “tài tử” bỏ qua, thì các nhà báo chuyên nghiệp sẽ nắm bắt được. Những ỹ thuật như vệ tinh truyền phát trực tiếp (đi đôi với nén ép mã số để nén tín hiệu nhiều gấp bốn đến mười lần trên mỗi kênh), cộng với cạnh tranh toàn cầu làm sao tranh thủ được nhiều hơn nữa các nhà báo đi tới nhiều vũ đài khác nhau, đều nhằm bảo đảm phổ cập thông tin rộng khắp hơn nữa. Tại một hội nghị mùa hè năm 1995 do Hội đồng chiến lược quốc gia tài trợ nhóm họp ở ngoại ô Chicago, người ta đã rõ được rằng các nhà quân sự Hoa Kỳ thừa nhận sự có mặt phổ biến của báo chí trong các cuộc xung đột ngày mai. Và người ta cũng kết luận không thể có cách gì che mắt báo chí, không cho họ biết các công việc được tiến hành.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần III


Một đối thủ tiềm tàng làm thế nào có thể chống lại một hệ thống các hệ thống như thế? Hiển nhiên nó cần phải kiềm chân các lực lượng can thiệp ở cách xa chiến trường, xa chừng nào tốt chừng nấy. Sử dụng vũ khí giết người hàng loạt cũng có thể là một biện pháp, và cách sử dụng tốt nhất là không nhằm đe dọa quân can thiệp mà nhằm vào các quốc gia chủ nhà có thể sẽ chứa chấp quân can thiệp. Nhưng dù sao đi nữa, ở vào kỷ nguyên phổ cập kỹ thuật thông tin và phát triển mạnh mẽ các thị trường vũ khí, thì một đối tượng cạnh tranh tuy không có những vũ khí như thế (cũng như mối nguy hiểm do các loại vũ khí đó gây nên) vẫn có khả năng kiềm chế không cho Hòa Kỳ tiếp cận. Bởi vì người ta có thể tổ hợp một hệ thống các hệ thống với giá thành tương đối thấp và không tốn mấy công sức bằng cách sử dụng kỹ thuật của nước (hoặc các bên) thứ ba về ảnh vệ tinh, khí cụ hàng không không người lái, máy ảnh số, hệ thống liên lạc tế bào và kỹ thuật ảnh địa   hình chi tiết trên CD-ROM. Dựa vào những phương tiện đó, các nước chưa phải là giàu có vẫn có thể phát hiện, trông thấy được tài sản của Mỹ và do đó uy hiếp số tài sản đó ở ngay bên trong hoặc ở gần các chiến trường xung đột.

Buộc Hoa Kỳ phải hoạt động ở ngoài xa không đến nỗi làm cho tài sản của đối phương khó bị phát hiện, song nó tăng thêm tầm xa cần thiết và do vậy tăng giá chi phí đánh phá những tài sản đó – vấn đề chính là ở đó. Chống lại một kẻ địch đã phân bố thành công lực lượng quân sự của nó trong nhiều đơn vị, thì một đòn đánh từ cự ly xa là tốn kém, buộc phải tốn phí những tên lửa hành trình trị giá hàng triệu USD để tiến công một quân đội bao gồm những “kỹ thuật” quân sự (những xe tải nhẹ với vũ khí tự động). Có như thế mới đủ làm kiệt quệ một cuộc can thiệp.

Như vậy Colin đúng hay sai khi ông nói: yếu tố quyết định cuối cùng trong chiến tranh là “con người cầm súng” trên chiến trường? Câu trả lời là đúng và cũng không đúng. Đối với Hoa Kỳ, người ta có thể nói rằng trong bối cảnh thường quy của tương lai, Hoa Kỳ có thể giải giáp vũ khí hạng nặng của đối phương. Nhờ vậy, các đồng minh sở tại của Hoa Kỳ lúc ấy vẫn tiếp tục duy trì được lực lượng hạng nặng của mình, dựa vào đó sẽ có thể chi phối chiến trường, mặc dù lúc đầu họ ở vào thế yếu. Còn trong trường hợp thay vào một sự lựa chọn khác, cả hai đều không có lực lượng hạng nặng, thì vẫn cái kiến trúc đã tạo nên “dòng bits” thắp sáng chiến trường, lại được sử dụng để giúp các đồng minh. Thực hiện được như vậy, đối với Hoa Kỳ, có nghĩa là vai trò của vũ lực và địa lý càng thêm được biến đổi.

Trang bị thông tin cho đồng minh

Trong thế kỷ này Hoa Kỳ đã năm lần tiến hành các cuộc chiến tranh lớn ở ngoài nước, nhằm bảo vệ một hoặc nhiều nước đồng minh: Pháp và Anh trong chiến tranh thế giới I, Anh trong chiến tranh thế giới II và sau đó là Triều Tiên, Nam Việt Nam và Saudi Arabia. Một cách dàn xếp như thế trong điều kiện vắng mặt một đối thủ cạnh tranh tương xứng, thậm chí vẫn là một đặc điểm trong 20 năm sắp đến. Và mục đích chính hàng đầu của cuộc chiến tranh can thiệp bằng quân sự của Hoa Kỳ, sẽ nhằm che chở, bảo vệ các quốc gia khác. Khi cuộc chiến đấu kết thúc thì an ninh tương đối của các đồng minh của Hoa Kỳ sẽ là điều kiện quyết định các mục tiêu trước mắt của cuộc can thiệp.

Thông tin có thể giúp cho một cuộc can thiệp như thế được thực hiện một cách dễ dàng hơn và làm giảm đi các trở ngại về mặt địa lý vốn tồn tại rất lớn đối với những hoạt động viện trợ thông thường. Nếu cuộc chiến đấu diễn biến trở thành cuộc “trốn-và-tìm” và cùng lúc các hệ thống săn tìm có thể tách rời các lực lượng mà chúng phục vụ, thì Hoa Kỳ có thể thực hiện công việc viện trợ không những đầy đủ như bây giờ họ vẫn đang làm về trợ giúp vũ khí và nhân viên thường quy, mà sự giúp đỡ sẽ được thực hiện thường xuyên hơn, thời gian kéo dài hơn và bằng viện trợ gián tiếp chứ không phải là trực tiếp. Bằng cách cung cấp ưu thế thông tin cho đồng minh, Hoa Kỳ có thể không bộc lộ mình mà vẫn nhân gấp bội sức mạnh của đồng minh trên một số mặt tăng gấp 10, hoặc gấp 100 lần. Hoa Kỳ sẽ thực hiện như vậy bằng cách gửi cho đồng minh của mình những “dòng bits”: chủ yếu là thông tin thời gian thực về không gian tác chiến, gồm cả hồ sơ bối cảnh (thí dụ như tư liệu bản đồ) và phần mềm tích hợp, mô phỏng và bảo trì các hệ thống. Người ta cho rằng để sử dụng được những viện trợ đó, trường hợp tốt nhất đó sẽ là một đồng minh có vũ khí chính xác, yêu cầu định vị mục tiêu được đưa vào chương trình vi tính. Tuy nhiên, nếu là trường hợp đồng minh có trang bị kém hơn, thì họ vẫn có được cái lợi lớn là nắm bắt được xác thực tài sản của đối phương trong thời gian thực.

Xét trên một số mặt thì việc chuyển giao ưu thế thông tin là một biến thể của việc cung cấp vũ khí truyền thống. Nhưng so với tiếp tế vũ hí thì cung cấp “dòng bits” không để lại dấu tay như vũ khí. Hai là “dòng bits” nhân lực lượng lên gấp bội, còn vũ khí chỉ cộng thêm vào. Ba là “dòng bits” dễ dàng được chuyển giao và cũng dễ dàng được cắt bỏ (nào có ai dám chắc rằng tên lửa Stinger tiếp tế cho quân phiến loạn Afghanistan cuối cùng không rơi vào tay bọn khủng bố). Bốn là một khi “dòng bits” được sinh ra, thì một bản sao thứ hai sẽ rẻ tiền hơn, còn chiếc xe tank gửi ra nước ngoài cũng là chiếc xe tank mà không bao giờ người ta còn có nữa. Và sau hết, cung cấp cho đồng minh một hình ảnh được rọi sáng về không gian tác chiến so với sự tiếp tế về vật chất, thì chúng ta đạt được hiệu quả lớn hơn trong việc làm cho họ hiểu cách nhìn nhận của chúng ta đối với cuộc xung đột. Vả chăng trong thực tế không phải Hoa Kỳ chỉ giúp đồng minh có được các “dòng bits” chứ không giúp sức người và vật chất. Bởi vì ngay cả các đồng minh có vũ khí tinh vi, họ vẫn cần đến những đầu đạn PGM (khí tài điều khiển chính xác) thông minh và các bộ cảm ứng mặt đất. Sĩ quan liên lạc và tác chiến đặc biệt sẽ phải giúp các đồng minh về phần tích hợp ấy.

Cũng nên ghi nhận thêm một kiểu thị trường nữa tương tự thị trường vũ khí: tuy Hoa Kỳ có thể sẽ là nước đầu tiên có khả năng cung cấp viện trợ thật sự mà không bộc lộ mình trên thực tế, song phần lớn những thứ có thể tạo nên ưu thế về thông tin đều xuất xứ từ thị trường thương mại, rất ít thứ chịu sự kiểm soát chặt chẽ về công nghệ. Những năng lực này vì vậy cũng nằm trong tầm tay của nhiều cường quốc lớn tiềm tàng khác.

Để minh họa thêm về khả năng ứng dụng ưu thế thông tin được chuyển giao, ta hãy nhìn qua “Chiến dịch chiến sĩ cảnh giác”. Tháng 10/1994, Hoa Kỳ đã tiến hành cuộc tập trận công khai cùng với Kuwait, nhằm phản ứng đối với Iraq dường như chuyển quân về phía Nam. Cuộc tập trận này biểu thị khả năng của Hoa Kỳ sẵn sàn ngăn chặn một cuộc xâm lược có thể có. Cuộc tập trận tốn phí tới 1 tỷ USD (chống lại một việc mới chỉ là giả thiết của phía Iraq với chi phí ít tốn kém hơn nhiều). Và bây giờ ta lại xem thử cũng với 1 tỷ USD được dùng theo cách khác. Kuwait sẽ mua vài nghìn tên lửa chống thiết giáp và đem chôn rải rác trong hầm với số lượng nhiều hơn gấp 10 lần số tên lửa. Nếu thiết giáp vượt qua biên giới, các ký hiệu mục tiêu bổ sung ứng với thời gian thực do một hệ thống các hệ thống của Hoa Kỳ thực hiện, sẽ thay thế các ký hiệu mục tiêu giả trong những tên lửa đó, nhờ vậy một phần lớn lực lượng tiến công có thể bị phá hủy và bị loại bỏ khỏi vòng chiến. Việc chống thiết giáp trên đây có lẽ là thí dụ thích hợp nhất biểu hiện năng lực này, nhưng tư tưởng cơ bản của nó còn có thể được ứng dụng bằng cách sử dụng kỹ thuật để chống lại một cuộc uy hiếp đến từ trên không, hoặc chống lại các hoạt động lật đổ có thể được tiến hành một cách bí mật hơn tại các khu vực đồi núi. Với cách làm gửi “dòng bits” cho các lực lượng phòng ngự được chuẩn bị chu đáo, Hoa Kỳ sẽ không phải mạo hiểm đưa lực lượng vào mà vẫn đạt được mục đích đề ra và còn có thể hành động tự do hơn nhiều. Chưa kể như vậy Hoa Kỳ còn mở rộng hơn không gian hữu ích giữa tiếp xúc với quan sát thụ động.

Vũ trang thông tin cho đồng minh còn có những ứng dụng khác nữa. Chẳng hạn Hoa Kỳ muốn ủng hộ một phía trong cuộc xung đột không rõ rệt – như những người Hồi giáo Bosnia – mà không cần mạo hiểm đưa quân vào, hoặc không khiến các cường quốc khác phải can thiệp. Trong trường hợp này cung cấp “dòng bits” một cách bí mật có thể nhân hiệu quả tác chiến và vũ khí của phía được Hoa Kỳ giúp đỡ. Dù cho các cường quốc lớn thân hữu với phía bên kia trong cuộc xung đột có thể nghi Hoa Kỳ đang thực hiện sự viện trợ đó, song do tính chất của viện trợ là bí mật nên nó cũng ít gây phản ứng so với phản ứng do một sự viện trợ công khai gây ra.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần II


Khi thông tin thay thế vũ lực

Sự biến đổi của địa lý về mặt quân sự có căn nguyên của nó, đó là sự phát triển của khí tài điều khiển chính xác có tính năng được xác định là phối chuẩn tọa độ của vũ khí với mục tiêu. Ngày nay các kho vũ khí hiện đại nói chung bao gồm ba loại vũ khí điều khiển chính xác (PGMs): vũ khí có người chủ động điều khiển (thí dụ, vũ khí chống tank điều khiển hữu tuyến và bằng tín hiệu laser phản hồi); vũ khí săn đuổi mục tiêu theo ký hiệu đã cho (thí dụ, tên lửa hồng ngoại và ngư lôi âm thanh) và lớp vũ khí mới có gần đây nhất phóng tới các tọa độ cụ thể (thí dụ, tên lửa hành trình theo bản đồ, tên lửa đạn đạo hoa tiêu theo quán tính và các loại vũ khí tương lai điều khiển theo tọa độ). Vũ khí điều khiển chính xác (PGMs) được phát triển để có thể phá hủy các mục tiêu di động bằng cách tự điều khiển đường bay của chúng hợp theo các tọa độ không ngừng được điều chỉnh bổ sung. Cũng bởi việc chuyển đổi từ vũ khí do con người điều khiển sang vũ khí điều khiển bằng tín hiệu khiến người ta không còn cần đến sự điều khiển tại chỗ nữa, cho nên bước chuyển đổi tiếp thêm nữa từ vũ khí điều khiển bằng tín hiệu sang vũ khí điều khiển bằng tọa độ, khiến người ta có thể chuyển “mạng thông minh” của bản thân vũ khí điều khiển chính xác sang hệ thống xây dựng đường bay của nó.

Và ở những nơi nào có đầy đủ đến mức dồi dào vũ khí điều khiển chính xác, thì những gì bị phát hiện và bị nhận dạng trên chiến trường có nghĩa là chúng sẽ bị phá hủy hoặc bị sát thương. Tuy nói thế nhưng đương nhiều người ta vẫn có thể bảo vệ các mục tiêu tránh khỏi bị phá hủy, bằng cách nghi trang (như tạo ra các dấu hiệu giả, những dấu hiệu gây nhiễu), tạo vỏ bọc thép, thực hiện lẩn tránh và bắn lại. Như thế cuộc giao tranh giữa người lùng sục và những kẻ bị săn đuổi còn xa mới đi đến kết thúc, nhưng hiển nhiên thời gian mỗi năm qua đi, phía những người lùng sục ngày càng giành thêm nhiều lợi thế.

Loại công nghệ trên đây về phần nó, đã làm thay đổi toàn bộ những tính toán trong các cuộc xung đột thông thường. Tức là trước kia thắng lợi phần lớn được quyết định bởi ai sẽ là người tung ra trước số lượng lớn lực lượng được đưa vào sử dụng. Còn ngày nay xung đột thông thường có nghĩa gần như là một cuộc đi trốn và đi tìm.

Kỹ thuật tìm kiếm đang tiến bước nhanh chóng, bởi vì nó sử dụng điện tử và các vi khí cụ khác, tương tự như các thứ ra đời trong cuộc cách mạng điện tử thương mại toàn cầu. Thế mạnh tương đối của Hoa Kỳ cho đến nay vẫn là ở năng lực của nó: một là Hoa Kỳ đã quân sự hóa việc ứng dụng các phương tiện đó, hai là đã hợp nhất chúng vào một hệ thống mà toàn bộ thì hoàn hảo hơn từng bộ phận một. Và sau hết, đã kết hợp chúng với các hệ thống tiến công tầm rất xa (thí dụ, tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo, máy bay oanh kích có thể tiếp dầu và các tàu chiến đại dương với những đợt hoạt động dài ngày tại các vị trí trực chiến.

Mai đây việc tìm kiếm sẽ được thực hiện bằng phương tiện mà phó tham mưu trưởng liên quân – đô đốc Williams Owen gọi là một “hệ thống các hệ thống” phức tạp và gồm nhiều lớp. Lớp trên cùng của hệ thống này bay trên quỹ đạo không gian. Những vệ tinh của ngày hôm nay là những vệ tinh vài ngày một lần thu lượm hình ảnh, sẽ được thay thế dần bằng một hệ thống được trang bị tốt hơn nhằm thực hiện các công việc đúng thời gian thực. Lớp nữa là hệ thống không vận với một hệ thống tốn kém có người điều khiển của ngày hôm nay sẽ phải nhường chỗ cho những đám mây dày đặc hơn rất nhiều hợp thành bởi những khí cụ bay không người lài (UAVs – hầu hết sẽ bay và có thể gồm một số trôi). Lớp đáy sẽ bao gồm các thiết bị thám trắc ngoài biển (sử dụng cho săn – chống ngầm kiểu truyền thống và săn mìn, thám trắc không gian ven biển) và thám trắc bên trên mặt đất. Bộ phận thứ hai nói trên đây bao gồm các thiết bị quang học, các thiết bị đọc radar phản hồi, các thiết bị thám trắc cải tiến về nhiệt, áp suất, từ tính, sinh hóa và có lẽ bao gồm cả thám trắc hiện tượng trọng lực; thiết bị thám trắc địa chấn và âm thanh tầm gần và ngoài khơi xa bờ biển. Thêm vào đó là những thiết bị bức xạ, tạo hồi âm, thiết bị xử lý các dữ kiện tổng hợp và thiết bị truyền thông có thể đưa thông tin đến bất kỳ nơi nào cần thiết. Rồi trải qua một thời gian nữa, một số lượng lớn các thiết bị thám trắc, bức xạ và xử lý sẽ được cấu thành để làm việc trực tiếp với nhau: một khí cụ thám trắc không gian khi phát hiện một hiện tượng nghi vấn, có thể yêu cầu một khí cụ thám trắc không gian không người lái thu thập thêm tư liệu; và những tư liệu ấy có thể gợi ý cho nhiều khí cụ thám trắc trên mặt đất kéo dài thêm thời gian hoạt động, để tiếp sau đó thể tạo ra cho chúng có được một “khoảng không điện từ” quý báu, báo cáo thêm nhiều các phát hiện chi tiết, mà nếu chỉ sử dụng các khí cụ thông thường sẽ không thể nào tìm kiếm được.

Người ta có thể đặt câu hỏi vì sao phải nêu lên tường tận các chi tiết trên đây? Chỉ với một lý do, đó là nhằm khắc họa những thông số mới của sự liên kết, nhất thể hóa. Colin Gray lập luận rằng mặc dù “các phương tiện tiến hành chiến tranh trên đất liền, trên biển, trên không và trong không gian đang được cải tiến mạnh mẽ, nhưng điều đáng ghi nhận là chiến tranh vẫn được tiến hành trong môi trường”. Tuy vậy chúng ta cứ thử xem xét hàng loạt thiết bị sau đây gồm các bộ cảm ứng, bức xạ, liên lạc, điều chỉnh hướng, phát ký hiệu, sàng lọc, xác định, phân loại và tạo ra những quyết định về mục tiêu. Rồi chúng ta định ra những đường nhân tạo phân ranh giới giữa chúng với nhau, tách bạch chúng ra đưa vào làm tài sản riêng của không lực, hải quân, hải quân lục chiến và của lục quân; sau đó từng bộ phận một sẽ báo cáo lên những mắt xích chỉ huy riêng rẽ. Như thế rõ ràng là phức tạp, nhưng dù sao đi nữa, trải qua bao nhiêu năm tranh cãi, những sự liên kết mà người ta mong muốn đạt tới được như ngày hôm nay, chung quy vẫn là làm sao xác định cho được một phương thức, khiến các thiết bị đó một khi có lệnh là có thể nói chuyện trực tiếp với nhau được. Colin đưa ra một giả thiết: vấn đề không phải ở chỗ bất kỳ phần công việc nào muốn được hoàn thành tốt trong tác nghiệp liên hợp thì trước hết nó phải được hoàn thành tốt trong môi trường riêng của nó; vấn đề lại là khi đứng trước các loại vũ khí với đủ loại tầm xa gần và các mối quan hệ giữa các loại vũ khí và các khí cụ cảm ứng ngày nay, người ta không còn có thể xác định được một môi trường nào là độc đáo, riêng biệt.

Chi tiết được nêu ra trên đây cũng có tác dụng giúp vào việc minh họa một số khác biệt giữa từng khí cụ cảm ứng khi được đưa vào không gian tác chiến. Những khí cụ cảm ứng được đặt tại không gian vũ trụ, trên biển xanh hoặc ngang qua biên giới (thí dụ, radar vượt quá đường chân trời) có thể được sử dụng cả trong hòa bình cũng như trong chiến tranh. Những khí cụ cảm ứng đặt ngang qua đất liền, không phận, hoặc vùng ven biển của một quốc gia khác có lẽ cần phải được quốc gia bị quan sát cho phép. (Hậu quả về việc bắt giữ một khí cụ cảm ứng không người lái đặt tại không gian của một quốc gia, mãi cho đến nay vẫn còn là vấn đề chưa được phân xử). Tuy Hiệp nghị về khoảng không mở có thừa nhận lợi ích quốc tế trong việc quan sát không vực, song các hiệp nghị đó mới chỉ là sự bày tỏ chưa chín muồi về các điều khoản mới của “buôn bán thông tin” tại một quốc gia khác.

Nếu “hệ thống các hệ thống” hoạt động, thì một cuộc xâm lược cổ điển vượt qua biên giới được công nhận sẽ là một việc làm tự sát trước Hoa Kỳ, hoặc trước bất kỳ một lực lượng nào khác được trang bị tương tự. Các mục tiêu di động tự chúng tạo ra nhiều tín hiệu phong phú mà một lực lượng được trang bị tốt đứng ngoài (hoặc một lực lượng khó bị phát hiện như máy bay tàng hình) có thể tóm bắt được chúng một cách khá dễ dàng. Tiếp tế hậu cần trong nhiều trường hợp khẩn cấp có thể được giảm đi ghê gớm. Khoảng 93% tiếp tế của Hoa Kỳ cho Vùng Vịnh được chuyển bằng đường biển – Colin Gray suy ngẫm lại nhận thấy nếu đem so sánh thì sức chuyên chở của một chiếc máy bay sẽ là nhỏ nhoi biết nhường nào. Song vấn đề là ở chỗ rút cuộc thì hầu hết những hàng tiếp tế đi lại được chuyển ngược trở về trước. Nghĩa là nếu thực hiện được sự tiếp tế đi trước một cách chính xác, người ta sẽ có thể giảm nhu cầu về quân khí. Trong trường hợp năng lực vận tải đường không không bị cắt giảm nhiều, cộng với việc nắm bắt mục tiêu chính xác, đi đôi với việc sử dụng điều khiển học không gian nhằm mục đích kiểm soát từ xa và sử dụng khí cụ cảm ứng mà không sử dụng người thám trắc tại chỗ, thì đối với việc tiếp tế cho một cuộc chiến tranh tương đương, người ta có thể thực hiện hầu hết bằng vận tải đường không.

Mặc dù giờ đây việc tiến công qua biên giới chỉ tạo nên những uy hiếp nhỏ đối với an ninh, nhưng người ta vẫn cứ nên ghi lại khả năng nó sẽ mất đi không còn là công cụ của chính trị dựa trên sức mạnh nữa, ít nhất là trên một số phương diện. Bởi vì nó chính là bối cảnh mà hầu hết các nước đã căn cứ vào đó để tổ chức lực lượng của mình. Một hệ thống các hệ thống nếu ở vào tình huống chưa rõ ràng hoặc trong tình hình khó khăn, (thí dụ như đối với Bosnia trước khi có thỏa thuận Dayton) thì sẽ phải đảm nhận thêm nhiều công việc nữa. Các đối tượng đến rồi lại đi và ít bị nhận dạng. Do vậy quan sát cần đi đôi với tiếp xúc, song mức độ tiếp xúc trên thực tế không cần phải nhiều. Thí dụ, vị trí và đặc điểm của các thiết bị đối địch mộit khi bị phát hiện tức sẽ được truyền đi – và chỉ sau đó chúng mới bị tiến công. Trong tương lai, khi người ta có thể biểu thị đầy đủ mối tương quan đối chiếu giữa hình ảnh được trông thấy và hình ảnh bị phá hủy, thì việc truyền lệnh trong tương lai người ta sẽ đòi được trông thấy tận mắt mục tiêu đối kháng bị loại khỏi vòng chiến. Như vậy sự tiết kiệm trong hậu cần (chưa kể trận chiến đấu còn được truyền hình tại chỗ) sẽ loại bỏ thêm nữa một hàng rào về địa lý đối với sự can thiệp của Hoa Kỳ.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần I


Martin Libicki

Nhờ có điều khiển học không gian – có thể được hiểu như là tổng số những khâu nối và nút điện toán toàn cầu – mà bất kỳ một dữ liệu nào cũng có thể có mặt gần như tức thời ở bất cứ nơi đâu.

Phải chăng như vậy điều khiển học không gian sẽ xóa bỏ địa lý? Ông Colin Gray, trong bài viết rất hay, đã nêu lên lập luận đúng đắn, trả lời rằng không phải như vậy. Ông cho rằng người ta không thể tùy tiện bất chấp ý nghĩa của bối cảnh địa lý đối với chính trị quốc tế dựa trên sức mạnh. Nếu vậy người ta nêu lên câu hỏi sau đây có đích đáng không? Phải chăng người ta có thể làm cho địa lý của an ninh quốc gia biến đổi đến mức không còn nhận ra được nữa? Và nếu đúng như thế, nó sẽ biến đổi như thế nào?

Phần lớn những kiến thức về địa lý và địa chính trị của chúng ta sẽ còn có thể được áp dụng, chừng nào nhân loại vẫn còn sử dụng những công cụ được giới hạn trong những môi trường chậm chạp của nó – chẳng hạn như vận tải trên bộ hoặc trên biển. Nhưng rồi với sự ra đời của một phương tiện mới, sẽ xuất hiện một logic địa lý mới; và khi tầm quan trọng của phương tiện mới gia tăng, thì logic của nó sẽ không chi phối những phương tiện cũ mà còn làm biến đổi cả những phương tiện cũ nữa. Thí dụ, với sự phát minh ra máy bay, nước Anh mặc dù vẫn có hạm đội đó, nhưng có thể bị tiến công trực tiếp từ châu Âu. Còn chiến dịch của Hoa Kỳ tiến đánh Nhật  đã phải chịu sự chi phối chung của cùng một phương thức: tìm kiếm từng hỏn đảo nhằm tiếp cận mỗi lúc một gần hơn bằng đường không đối với Nhật Bản. Khi tên lửa đạn đạo sử dụng không gian làm môi trường xung đột, thì Hoa Kỳ và Liên Xô đều có thể gây nguy hiểm trực tiếp cho nhau. Và yếu tố đó rồi cũng chi phối luôn cuộc đối đầu giữa các siêu cường xuyên qua Trung Âu.

Bài viết này đề cập hai trong số bốn chủ đề của Colin Gray. Đó là ý nghĩa của địa lý khi đứng trước công nghệ biến đổi và khi đối mặt với những mối quan hệ của sự liên kết. Những người bênh vực cho địa lý viện vào căn cứ chủ yếu: hậu cần vẫn tồn tại (từ đó người ta bênh vực cho cả lực lượng hải quân) cùng với những nhu cầu của kiểm soát mặt đất (tức là lực lượng trên bộ). Những người thuộc phía phản biện thì đưa ra lập luận nhận định rằng: do người ta đã có đầy đủ thông tin, nên chiến tranh có thể trở nên chuẩn xác đến mức không cần đến phần lớn hậu cần nữa và việc kiểm soát cũng không nhất thiết phải được thực hiện như là một hiện tượng xảy ra cục bộ tại chỗ (ít ra là đối với Hoa Kỳ).

Điều khiển học không gian được người ta khẳng định phần lớn vẫn là những gì thuộc về tương lai. Nhưng nếu nhìn nhận theo một định nghĩa rộng, thì giờ đây nó đã có thể khiến các công ty đa quốc gia điều hành công việc gần thời gian thực; khiến việc chỉ huy và kiểm soát được mở rộng vượt qua các đại dương; khiến các thị trường quốc tế được hình thành; khiến phương tiện xuyên quốc gia (như CNN) được ra đời, đi đôi với việc trao đổi thông tin khoa học và công nghệ được tiến hành trên toàn cầu, thông qua Internet. Mặc dù vậy, những công dụng ấy nếu đem so với ngày mai, thì sẽ chẳng thấm gì. 20 năm sắp tới, phương tiện điện thoại của thế giới thứ 3 theo quy hoạch, sẽ tăng với số lượng khổng lồ. Cáp quang đang được đặt với nhịp độ nhanh qua đất liền và dưới đại dương. Những ứng dụng vi tính có thể được sử dụng liên mạng hiện thời thì vẫn đang còn ở thời kỳ non trẻ. Trên thực tế qua 5 năm nữa, hiệu lực của kỹ thuật điện tử sẽ được phát huy gấp thêm 10 lần nữa và qua 10 năm tiếp theo sau nữa sẽ được phát huy gấp thêm 100 lần. Điều khiển học không gian của ngày mai với sự phổ cập rộng lớn như thế đương nhiên sẽ trở thành một lĩnh vực được người ta quan tâm thích đáng.

Những người giữ ý kiến cho rằng điều khiển học không gian sẽ xóa bỏ địa chính trị thường quả quyết là điều khiển học không gian (cũng như hàng không vũ trụ) tạo ra những lợi ích và thể chế vượt ra khỏi ranh giới quốc gia. Các thể chế cũng như lợi ích đó đều làm suy yếu năng lực của một quốc gia trong việc huy động tài nguyên vì những lý do dân tộc chủ nghĩa, song đồng thời nó cũng tạo ra những mối quan hệ quý giá mà một khi chiến tranh xảy ra thì những quan hệ đó bị phá hủy. Cái giá của chiến tranh như vậy đã tăng và nguy cơ chiến tranh có thể xảy ra cũng sẽ giảm.

Lập luận ấy tuy cũng có giá trị trong một chừng mực nào đó, nhưng lại thường gây nên những tranh cãi không đi đến đâu cả. Chẳng hạn người ta nêu lên rằng 50 năm qua các nước giàu có trên thế giới không đe dọa lẫn nhau. Phải chăng đó là vì họ đã vượt lên trên vũ lực, hoặc họ đã liên kết lại vì phải đối mặt với một kẻ thù lớn hơn (cũng với cách giải thích theo đường mòn ấy họ cho rằng kể từ khi bức tường Berlin sụp đổ người ta đã không thấy xảy ra chuyện các nước cắt quan hệ bang giao). Về điểm này người ta còn đưa ra một lập luận khác: điều khiển học không gian có xu hướng xóa bỏ địa chính trị bằng cách tác động ảnh hưởng đối với an ninh quân sự, chứ không phải với cách tác động (hoặc tối thiểu là cộng thêm vào) đối với chính trị quốc tế.

Một lập luận như vậy có thể tỏ ra là nghịch lý, vì đó là lý lẽ sáo mòn cơ bản của học thuyết quốc gia – dân tộc cho rằng thương mại thúc đẩy hợp tác quốc tế. Do đó, người ta đưa ra giả thiết: giới đại diện thương mại có xu hướng toàn cầu, còn giới quân sự có xu hướng địa phương – và bất kỳ những gì khiến chủ nghĩa toàn cầu giảm được phí tổn cũng là tạo thuận lợi cho thương mại. Như vậy nếu điều khiển học không gian không thông qua thương mại để xóa bỏ địa chính trị, thì vì sao nó lại thông qua an ninh để làm việc đó?

Lập luận trên xuất phát từ cái được gọi là cuộc cách mạng quân sự, khai thác ở đó những phương tiện mới của quyền lực quốc gia có khả năng xóa bỏ địa lý và đạt tới đỉnh cao là những phương tiện thực hiện việc dàn xếp an ninh quốc tế có xu hướng xóa đi những hoạch định địa lý cổ điển. Nó dựa trên ba điều quan sát cơ bản dưới đây:

Khí tài hiện đại, nhất là khí tài điều khiển chính xác (PGMs) đã gia tăng tầm quan trọng tương đối của thông tin chiến thuật trong xung đột. Trong chiến tranh thế giới II người ta cần tới 2500 quả bom để phá hủy một mục tiêu. Phá hủy một mục tiêu ở Viêt Nam nhờ có hệ thống ngắm chính xác hơn nên người ta cần khoảng 50 quả bom. Trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh, để làm việc này chỉ cần tới một quả bom điều khiển bằng laser. Những “tín đồ” của chiến tranh thông tin loan báo rằng 20 năm nữa, kể từ bây giờ, muốn đạt kết quả mong muốn, người ta có thể biết một cách chính xác chỉ cần phá hủy một mục tiêu nào trong số 50 mục tiêu được đặt ra.

Bằng cách tách thông tin ra khỏi vũ lực, người ta có thể không cần đến những trang bị hậu cần thông thường mà vẫn có thể tác động ảnh hưởng tới các cuộc xung đột ở xa và do đó cũng không còn bị hạn chế bởi địa lý trong chiến tranh.

Bằng việc tổ hợp các “dòng bits” từ các nguồn toàn cầu – của cả chính phủ và tư nhân – các liên mạng thông dụng có thể giúp các quốc gia thực hiện được việc đề phòng đối với các ý đồ của các nước láng giềng.

Và khi thời gian chín muồi, điều khiển học không gian có thể trở thành môi trường, tại đây thông tin về an ninh được làm ra và đem bán; trở thành nơi hội tụ các “dòng bits” và tiến hành việc điều tiết sản xuất và tiêu thụ các thông tin, chẳng khác gì các thị trường kinh tế điện tử vẫn điều tiết sản xuất và tiêu dùng các mặt hàng và dịch vụ vậy.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14