Tại sao lại là con người ? – Phần cuối


Những người theo thuyết chọn lọc cá thể thừa nhận rằng các nhóm thực tế sẽ biến mất dần và rằng cho dù nhóm có tuyệt chủng hay không đều chịu sự tác động bởi tập tính của các cá thể trong nhóm đó. Thậm chí, ông ta cũng sẽ thừa nhận rằng, chỉ khi các cá thể trong nhóm có khả năng tiên đoán, thì chúng mới nhận thức được về lâu dài, lợi ích tốt nhất của chúng sẽ phụ thuộc vào việc kiềm chế lòng tham vị kỷ để ngăn chặn sự diệt vong của cả nhóm. Đã bao nhiêu lần điều này được cảnh báo cho những người lao động ở Anh trong những năm gần đây? Nhưng sự tuyệt chủng của nhóm diễn ra chậm hơn so với trận chiến giáp lá cà trong sự cạnh trnah giữa các cá thể. Thậm chí trong khi nhóm cá thể vị kỷ đó đang suy thoái một cách chậm chạp và không thể thay đổi được thì các cá thể vị kỷ vẫn phát triển thịnh vượng trong một khoảng thời gian ngắn nhờ hưởng lợi ích từ các cá thể vị tha. Công dân Anh có thể được hoặc không được ban cho khả năng tiên đoán, nhưng quá trình tiến hóa không nhìn thấy trước tương lai.

Mặc dù hiện nay lý thuyết chọn lọc nhóm đã phần nào có được sự ủng hộ của các chuyên gia sinh học – những người hiểu rõ quá trình tiến hóa, nhưng lý thuyết này vẫn gặp nhiều phản đối. Khi bước chân vào trường đại học, nhiều thế hệ sinh viên kế tiếp nhau của khoa động vật học đã rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng lý thuyết chọn lọc nhóm không phải là quan điểm chính thống. Điều này khó có thể trách cứ các sinh viên bởi vì trong quyển Hướng dẫn giảng dạy sinh học của trường Nuffield viết cho các giáo viên trung học giảng dạy môn sinh học nâng cao ở Anh, chúng ta sẽ thấy những dòng sau: “Ở động vật bậc cao, tập tính có thể biểu hiện dưới dạng tự hi sinh cá thể để đảm bảo sự sống sót của loài”. Tác giả khuyết danh của quyển hướng dẫn này đã vô tư khẳng định về một điều vẫn còn đang tranh cãi. Theo quan điểm đó, anh ta đang ở phía những người đạt giải Nobel. Konrad Lorenz trong tác phẩm Về tính hiếu chiến đã bàn về các chức năng “bảo tồn loài” của tập tính hiếu chiến, một trong các chức năng của tập tính hiếu chiến là để đảm bảo chỉ có cá thể phù hợp nhất được phép phối giống. Đó cũng là điểm có giá trị nhất trong một lập luận biện chứng, nhưng quan điểm mà tôi muốn đề cập đến ở đây là ý tưởng chọn lọc nhóm đã in sâu đến nỗi Lorenz cũng như tác giả của quyển Hướng dẫn Nuffield đã không thể nhận ra lập luận của họ hoàn toàn trái ngược với học thuyết Darwin chính thống.

Gần đây, tôi nghe được một ví dụ đầy thú vị tương tự torng một chương trình của kênh BBC về loài nhện châu Úc. “Chuyên gia” trong chương trình này đã quan sát thấy rằng phần lớn nhện non trở thành mồi cho những loài khác, và sau đó cô ấy kết luận: “Có lẽ đó chính là mục đích tồn tại thực sự của những chú nhện, bởi vì chỉ cần một vài con sống sót là có thể đảm bảo cho sự tồn tại của loài”!

Robert Ardrey trong tác phẩm Khế ước xã hội của mình đã sử dụng lý thuyết chọn lọc nhóm để giải thích tính tổng thể của trật tự xã hội nói chung. Ông ta xem con người là một loài tách khỏi con đường đúng đắn ở động vật. Chí ít thì Andrey cũng đã làm bài tập của mình. Quyết định đi ngược với lý thuyết chính thống là một quyết định có ý thức và như vậy ông ta đáng được tôn trọng.

Có lẽ một lý do cho sự phản đối mạnh mẽ lý thuyết chọn lọc nhóm là lý thuyết này phù hợp hoàn toàn với các tư tưởng chính trị và đạo đức mà phần lớn chung ta vẫn hiểu. Chúng ta thường cư xử vị kỷ nhưng trong những khoảnh khắc lý tưởng hóa, chúng ta lại trân trọng và ngưỡng một những người đặt lợi ích của người khác lên trước. Tuy nhiên, chúng ta còn hơi băn khoăn trong việc xác định phạm vi của từ “người khác”. Thông thường, chủ nghĩa vị tha trong một nhóm thường đi kèm với tính vị kỷ giữa các nhóm. Đây là nền tảng của chủ nghĩa công đoàn. Ở mức độ khác, quốc gia được lợi nhất từ sự hi sinh bản thân của chúng ta, và những người trẻ tuổi sẽ hi sinh tính mạng mình cho sự chiến thắng vĩ đại của toàn thể dân tộc. Hơn thế, họ được khuyến khích tiêu diệt những cá thể khác, những người mà họ không hề biết đến ngoài việc những người đó là công dân của một quốc gia khác. (Kỳ lạ thay, lời kêu gọi các cá nhân cống hiến ở mức để nâng cao chất lượng sống trong thời bình dường như kém hiệu quả hơn lời động viên các cá nhân hi sinh cuộc sống của họ trong thời chiến).

Gần đây, đã có một sự phản ứng chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa dân tộc. Thay vào đó là xu hướng cho rằng loài người trên khắp thế giới là anh em. Sự mở rộng đối tượng của lòng vị tha trong chúng ta ở những người theo chủ nghĩa nhân văn đã tạo ra một hệ quả thú vị, hệ quả này dường như một lần nữa củng cố cho quan điểm “cái tốt của loài” trong quá trình tiến hóa. Những người theo trường phái tự do chính trị, những người thường là phát ngôn viên thuyết phục nhất của “đạo đức loài”, giờ đây lại rất coi thường những người mở rộng lòng vị tha của họ, để từ đó nó bao gồm cả việc quan tâm đến các loài khác. Nếu tôi nói rằng tôi quan tâm nhiều đến việc ngăn chặn sự săn bắn các loài cá voi lớn hơn là quan tâm đến việc cải thiện điều kiện chỗ ở cho mọi người, có lẽ tôi sẽ khiến một số bạn bè của tôi bị sốc.

Thành viên trong cùng một loài dành tình cảm cho nhau đặc biệt hơn là cho các thành viên của loài khác, tình cảm đó là sâu sắc và lâu dài. Ngoại trừ trong các cuộc chiến, giết người thường bị xem là hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất. Điều duy nhất bị nghiêm cấm trong văn hóa loài người là ăn thịt đồng loại (kể cả khi họ đã chết). Tuy nhiên, chúng ta có thể thưởng thức thịt của các loài khác. Nhiều người trong số chúng ta co rúm trước buổi hành hình theo pháp luật, thậm chí cả đối với những kẻ tội phạm ghê tởm nhất, trong khi chúng ta lại ủng hộ nhiệt tình việc bắn giết mà không cần phán xử đối với vật nuôi yếu đuối. Thật ra, chúng ta giết chết thành viên của các loài vô hại khác vì mục đích giải trí và vui chơi. Phôi thai người, không nhiều nhân tính hơn một con amíp, lại nhận được sự tôn trọng và bảo vệ hợp pháp của pháp luật hơn rất nhiều so với những điều luật dành cho một con tinh tinh trưởng thành. Vậy mà những con tinh tinh trưởng thành lại có thể cảm nhận, suy nghĩ và, theo bằng chứng thực nghiệm gần đây thậm chí, có khả năng học một dạng ngôn ngữ của con người. Cái phôi người là đồng loại của chúng ta và điều này ngay lập tức đem lại cho nó những đặc quyền, đặc lợi. Tôi cũng không rõ liệu nguyên lý đạo đức trong “chủ nghĩa phân biệt loài”, thuật ngữ mà Richard Ryder sử dụng, có thể được đặt trên một cơ sở lý luận chính xác hơn nguyên lý đạo đức trong “chủ nghĩa phân biệt chủng tộc” hay không. Điều mà tôi hiểu là nguyên lý đạo đức đó không có một cơ sở thích đáng trong tiến hóa sinh học.

Tình trạng hỗn loạn trong đạo đức con người thể hiện ở trong gia đình, quốc gia, chủng tộc, giống loài hoặc tất cả các mảng đời sống khác đã vượt qua ngưỡng mà tính vị tha mong muốn. Nó được phản ánh bởi sự vượt ngưỡng của sự hỗn loạn tương ứng trong sinh học, cái ngưỡng mà tính vị tha cần có theo lý thuyết tiến hóa. Thậm chí các nhà theo chủ nghĩa chọn lọc nhóm sẽ không cảm thấy ngạc nhiên khi nhận ra các thành viên trong các nhóm cạnh tranh đối xử với nhau một cách xấu xa: theo cách thức này, giống như các công đoàn viên hoặc những người lính, các thành viên sẽ hỗ trợ cho nhóm của mình trong cuộc đấu tranh giành nguồn tài nguyên hữu hạn. Như vậy chúng ta cũng cần phải hiểu làm thế nào mà những người theo chủ nghĩa chọn lọc nhóm xác định được đâu là cấp độ quan trọng. Nếu chọn lọc diễn ra giữa các nhóm trong một loài và giữa các loài thì sao nó lại không diễn ra giữa các cấp độ cao hơn? Các loài tập hợp lại thành chi, chi thành bộ và các bộ thành lớp. Sư tử và linh dương đều thuộc lớp động vật có vú, cũng giống như chúng ta. Vậy thì liệu chúng ta có nên trông đợi sư tử kiềm chế ăn thịt linh dương, “vì cái tốt của lớp động vật có vú”? Chắc chắn, sư tử sẽ săn chim hoặc bò sát thay vì thú để ngăn chặn sự tuyệt chủng của lớp thú. Nếu vậy thì điều gì là cần thiết để bảo tồn toàn bộ ngành động vật có xương sống?

Có vẻ như rất dễ dàng cho tôi trong việc tranh luận bằng phương pháp chứng minh phản chứng và chỉ ra những vướng mắc trong thuyết chọn lọc nhóm, nhưng sự tồn tại của tính vị tha biểu kiến ở cá thể vẫn cần phải được giải thích. Ardrey đi quá xa khi cho rằng chọn lọc nhóm là cách giải thích hợp lý duy nhất về tập tính “nhảy tưng tưng” ở bầy linh dương nhảy Thomson. Bước nhảy mạnh mẽ và dễ phát hiện trước mặt kẻ săn mồi là tập tính tương tự như tiếng kêu báo động của những chú chim, điểm giống nhau là ở chỗ nó dường như để cảnh báo đồng loại về mối nguy hiểm trong khi rõ ràng lại thu hút sự chú ý đối với kẻ săn mồi về phía kẻ đang nhảy nhót. Chúng ta có trách nhiệm giải thích tập tính nhảy tưng tưng của linh dương Thomson và các hiện tượng tương tự và đó cũng chính là điều mà tôi sẽ bàn đến sau.

Trước khi làm điều đó, tôi phải tranh luận để bảo vệ niềm tin của mình. Theo đó, cách tốt nhất để nghiên cứu quá trình tiến hóa là nghiên cứu về sự chọn lọc xuất hiện ở cấp độ thấp nhất trong tất cả các cấp độ. Trong lý thuyết của mình, tôi chịu ảnh hưởng rất lớn từ cuốn sách của G.C. Williams, Sự thích nghi và chọn lọc tự nhiên. Ý trọng tâm mà tôi sử dụng đã được A. Weismann đề cập trước đó trong học thuyết “tính liên tục của thể mầm” vào giai đoạn chuyển giao của thế kỷ 20. Tôi sẽ chứng minh đơn vị cơ bản của chọn lọc không phải là “loài”, không phải là “nhóm”, thậm chí không phải là “cá thể” nếu xét một cách chi tiết, và như vậy đây là sản phẩm của cá nhân tôi. Tôi cho rằng đơn vị gen di truyền là đơn vị chọn lọc cơ bản. Đối với một số nhà sinh học, điều này mới đầu nghe có vẻ như là một quan điểm cực đoan. Tôi hi vọng khi họ xem xét các ý nghĩa mà tôi trình bày về gen, họ sẽ đồng ý rằng về cơ bản đó là quan điểm chính thống ngay cả khi nó được trình bày theo một cách khác thường. Để phát triển lập luận thì cần phải có thời gian, và do đ1o chúng ta phải bắt đầu từ đầu, từ lúc sơ khai của sự sống.

TH : T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo : Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Advertisements

Tại sao lại là con người ? – Phần II


Trước khi tiến xa hơn, chúng ta cần phải có định nghĩa rõ ràng. Một thực thể ví dụ như một con khỉ đầu chó được cho là có tính vị tha nếu nó hành động để gia tăng ích lợi của một thực thể khác trong khi lại gây tổn hại đến chính bản thân nó. Tập tính vị kỷ có tác động hoàn toàn ngược lại. “Ích lợi” ở đây được hiểu là “khả năng sống sót”, cho dù sự ảnh hưởng của nó lên sự sống và cái chế trên thực tế dường như nhỏ đến mức có thể bỏ qua. Tuy nhiên, nhìn bề ngoài sự tác động vô cùng nhỏ và có vẻ bình thường lên khả năng sống sót lại có thể tạo ra một tác động mạnh lên quá trình tiến hóa, đấy chính là một trong những hệ quả đáng kinh ngạc của học thuyết Darwin hiện đại. Bởi vì có quá nhiều thời gian để cho những ảnh hưởng đó tập hợp lại.

Cũng cần phải nhận ra rằng các định nghĩa trên về tính vị tha và vị kỷ chỉ đề cập đến khía cạnh tập tính, không phải cảm tính. Tôi không quan tâm đến động cơ tâm lý ở đây. Tôi sẽ không bàn luận liệu con người cư xử mang tính vị tha có phải thực sự hành động vì động cơ vị kỷ vô thức hay động cơ bí ẩn khác. Có lẽ là do các động cơ vị kỷ, cũng có lẽ không phải và có thể chúng ta sẽ chăng bao giờ biết, nhưng cho dù trong bất cứ trường hợp nào, vấn đề đó không phải là điều đề cập tới ở đây. Định nghĩa tôi đưa ra chỉ liên quan đến vấn đề: liệu ảnh hưởng của một hành động có làm giảm hoặc tăng khả năng sống sót của cá thể được xem là có tính vị tha và cá thể được xem là hưởng lợi từ lòng vị tha của cá thể kia.

Mô tả các tác động của hành vi lên khía cạnh sống sót lâu dài là công việc rất khó. Trên thực tế, khi chúng ta áp dụng các định nghĩa vào các hành vi cụ thể, chúng ta phải lãm rõ hơn bằng từ “biểu kiến”. Một hành động vị tha biểu kiến là hành động có vẻ bề ngoài như thể nó phải làm cho “cá thể vị tha” gần như chết (tuy chỉ ở mức độ nhẹ), và cá thể tiếp nhận có khuynh hướng sống sót. Nếu nghiên cứu sâu, nhiều hành động vị tha biểu kiến hóa ra lại là hành động vị kỷ đã được ngụy trang. Một lần nữa, tôi không có ý nói rằng động cơ thúc đẩy chính là tính vị kỷ đã được che đậy, nhưng tác động thực sự của hành động đó lên khả năng sống sót sẽ trái ngược với điều mà chúng ta nghĩ đến lúc ban đầu.

Tôi sẽ đưa ra một vài ví dụ về các tập tính vị kỷ và vị tha biểu kiến. Chúng ta khó có thể kiềm chế được thói quen suy nghĩ cảm tính khi đối mặt với chính bản thân mình, vì vậy, thay vào đó, tôi sẽ chọn ví dụ từ những động vật khác. Đầu tiên sẽ là một vài ví dụ hỗn hợp về tập tính vị kỷ ở mỗi cá thể động vật.

Những con mòng biển trứng cá (Larus ridibundus) làm tổ thành các quần thể lớn, các tổ chỉ cách nhau vài chục centimet. Khi con non đầu tiên mới nở, chúng nhỏ bé, không thể tự vệ và rất dễ bị nuốt chửng. Thông thường, một con mòng biển sẽ đợi khi con mòng biển láng giềng quay đi, có thể là đi bắt cá, nó sẽ chộp ngay lấy và nuốt chửng một trong số các con mòng biển non. Nhờ vậy, nó có được bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng, không phải mất công đi xa bắt cá, và không phải rời tổ của nó mà không được bảo vệ.

Một ví dụ khác được biết đến nhiều hơn là tập tính ăn thịt đồng lại rùng rợn của bọ ngựa cái (Mantis religiosa). Bọ ngựa thuộc nhóm côn trùng lớn, ăn thịt. Chúng thường ăn những côn trùng nhỏ hơn như ruồi, nhưng chúng cũng sẽ tấn công bất cứ cái gì di chuyển. Khi chúng giao phối, con đực cẩn thận tiếp cận con cái, leo lên lưng con cái và phóng tinh. Nếu con cái có cơ hội, nó sẽ ăn thịt con đực, bắt đầu bằng cách ăn đầu con đực hoặc vào lúc con đực tiếp cận hoặc ngay sau khi con đực leo lên lưng nó hay cũng có thể là lúc chúng tách nhau ra sau giao phối. Nhưng việc con đực mất đầu dường như không ảnh hưởng đến quá trình giao phối. Trên thực tế, phần đầu của côn trùng chứa một số trung tâm thần kinh ức chế, vì thế có thể con cí đã giúp con đực thực hiện giao phối tốt hơn bằng cách phá hủy các trung tâm đó. Nếu điều đó đúng, thì đấy chính là một lợi ích phụ. Lợi ích ban đầu của hành động này chính là nó có được một bữa ăn ngon.

Từ “vị kỷ” có vẻ như không phản ánh đúng những trường hợp đặc biệt như tập tính ăn thịt đồng loại, mặc dù các trường hợp này phù hợp nhất với định nghĩa của chúng ta. Có lẽ chúng ta có thể đồng tình hơn đối với tập tính hèn nhát được ghi nhận từ loài chim cánh cụt hoàng đế ở Nam Cực. Chúng luôn đứng bên bờ bước, ngập ngừng trước khi nhào xuống vì chúng sợ trở thành mồi ngon cho những con hải cẩu. Nhưng nếu một con trong số chúng nhào xuống, những con còn lại sẽ biết ngay liệu dưới nước có hải câu hay không. Dĩ nhiên không một con nào muốn trở thành chuột thí nghiệm, vì vậy chúng đợi, và thậm chí đôi khi còn đẩy nhau xuống nước.

Thông thường, tập tính vị kỷ chỉ đơn giản là từ chối chia sẻ một số nguồn tài nguyên có giá trị như thức ăn, lãnh thổ, và bạn tình. Bây giờ tôi sẽ cung cấp một số ví dụ về tập tính vị tha biểu kiến.

Tập tính “đốt” những kẻ cướp mật của ong thợ là công cụ bảo vệ rất hiệu quả. Nhưng những con ong thực hiện nhiệm vụ đó lại là phi đội cảm tử. Khi đốt kẻ khác, các nội quan quan trọng của chúng thường bị xé nát và những con ong sẽ chết ngay sau đó. Sứ mệnh cảm tử của chúng sẽ bảo đảm cho kho thức ăn dự trữ quan trọng của cả tổ, nhưng chính bản thân chúng không thể được hưởng những lợi ích đó. Theo định nghĩa mà chúng ta đưa ra, đấy chính là hành động mang tính vị tha. Chú ý! Chúng ta không bàn về động cơ có ý thức. Các động cơ này có thể có hoặc không hiện hữu cả ở trong ví dụ này và các ví dụ về tính vị kỷ, nhưng các động cơ đó không liên quan với các định nghĩa đã nêu.

Hi sinh tính mạng của mình vì bạn rõ ràng là hành động vị tha, nhưng hành động đó cũng chỉ mang lại một chút nguy hiểm cho kẻ thực hiện mà thôi. Nhiều loài chim nhỏ sẽ kêu báo động khi chúng nhìn thấy chim săn mồi như diều hâu, nhờ đó cả đàn chim có thể lẩn trốn kịp thời. Có bằng chứng gián tiếp cho thấy rằng tiếng kêu báo động của chú chim đã đẩy nó vào tình huống nguy hiểm bởi vì tiếng kêu sẽ gây sự chú ý của chim săn mồi đối với riêng nó. Sự nguy hiểm mà chú chim gặp phải rất nhỏ, nhưng dù sao đi nữa, thoạt nhìn thì hành động của nó dường như phù hợp với định nghĩa về hành động vị tha của chúng.

Những hành động vị tha phổ biến nhất và dễ thấy nhất ở động vật thường do những con bố mẹ, đặc biệt là con mẹ, thể hiện đối với con của chúng. Chúng có thể ủ ấm cho con non ở trong tổ hoặc bằng chính cơ thể của chúng, cho con non ăn bằng mọi giá dù có tổn hại đến chính bản thân nó, sẵn sàng mạo hiểm bảo vệ cho con non khỏi những kẻ săn mồi. Lấy một ví dụ cụ thể, nhiều loài chim làm tổ dưới đất thường thực hiện cái gọi là “màn trình diễn đánh lạc hướng” khi một loài săn mồi, chẳng hạn như cáo, tiến tới. Chim giữ tổ bố/mẹ đi khập khiễng tránh xa khỏi tổ của nó, một bên cánh xòe ra như thể bị gãy. Kẻ săn mồi phát hiện con mồi bị thương và dễ dàng bị lừa ra xa khỏi tổ có chim non. Cuối cùng khi kẻ săn mồi đã được dụ đi xa khỏi tổ, chim bố/mẹ không cần giả vờ để đánh lạc hướng nữa, tung cánh bay đi ngay trước mũi con cáo. Nó đã có thể bảo vệ con non trong tổ một cách an toàn nhưng cũng chỉ hơi mạo hiểm tính mạng mình.

Tôi sẽ không cố gắng đưa ra quan điểm bằng cách kể những câu chuyện. Những ví dụ đưa ra không bao giờ là những bằng chứng chính xác cho bất cứ sự khái quát nào. Câu chuyện trên đơn giản chỉ là một ví dụ minh họa cho tập tính vị tha và vị kỷ ở mức độ cá thể. Tôi sẽ trình bày cách vận dụng định luật cơ bản mà tôi gọi là “tính vị kỷ của gen” để giải thích tập tính vị kỷ và vị tha thể hiện ở các cá thể. Nhưng trước tiên, tôi phải làm sáng tỏ sự giải nghĩa nhầm lẫn đặc biệt trong cách hiểu từ vị tha, bởi vì nó được nhiều người biết đến, và thậm chí nó còn được giảng dạy rộng rãi trong trường học.

Sự giải nghĩa đó dựa trên sự hiểu nhầm mà tôi đã từng đề cập đến. Người ta thường hiểu nhầm sinh vật tiến hóa để làm những việc “vì cái tôi của loài” hoặc “vì điều tốt cho nhóm cá thể”. Thực ra thì cũng dễ hiểu vì sao ý kiến đó xuất hiện trong sinh học. Phần lớn thời gian của động vật là dành cho sinh sản, nhiều hành động hi sinh bản thân thường xuất hiện trong tự nhiên là do cá thể bố mẹ thực hiện cho con non của chúng. “Duy trì nòi giống” là một uyển ngữ thông dụng cho sự sinh sản, và rõ ràng đấy là hệ quả của sinh sản. Như vậy chỉ nới rộng logic một chút chúng ta có thể suy diễn ra “chức năng” sinh sản là “để” bảo tồn loài. Từ quan điểm này chúng ta kết luận rằng: nói chung động vật sẽ hành động theo khuynh hướng duy trì nòi giống, cũng như, tính vị tha dường như dành cho các thành viên trong loài, nhưng đấy chính là bước tư duy sai lầm tiếp theo.

Dòng suy nghĩ này có thể được xuất hiện một cách mơ hồ trong các thuật ngữ của chủ nghĩa Darwin. Tiến hóa được thúc đẩy nhờ chọn lọc tự nhiên, và chọn lọc tự nhiên có nghĩa là sự sóng sót chuyên biệt của “sự thích nghi nhất”. Nhưng chúng ta đang bàn về các cá thể, các chủng, các loài thích nghi nhất hay ở cấp độ nào? Điều đó không phải là vấn đề lớn nếu xét trên một vài mục đích khác, nhưng khi chúng ta nói về tính vị tha nó lại là vấn đề quan trọng. Nếu đó là loài cạnh tranh trong cái mà Darwin gọi là đấu tranh sinh tồn, thì cá thể dường như chỉ là con tốt trong cuộc cờ, sẽ bị thí khi lợi ích chung của loài cần đến nó. Hay nói một cách tôn trọng vai trò của nó hơn, một nhóm, ví dụ như một loài hoặc một quần thể trong một loài, mà cá thể trong đó sẵn sàng hi sinh bản thân chúng cho lợi ích của nhóm, có thể sẽ ít có cơ hội bị tuyệt chủng hơn so với nhóm cạnh tranh mà các cá thể trong nhóm đặt lợi ích cá nhân của chúng lên trước. Do đó thế giới sẽ bao gồm chủ yếu các nhóm của các cá thể vì lợi ích chung. Đó chính là lý thuyết “chọc lọc nhóm” được coi là đúng từ lâu nay do các nhà sinh học không quen với những nội dung chi tiết của tiến hóa đưa ra. Bạn có thể thấy những lý thuyết đó trong cuốn sách nổi tiếng do V.C. Wynne-Edwards hoặc cuốn Khế ước xã hội của Robert Ardrey. Nhưng sự chọn lọc chính thức thường được gọi là “chọn lọc cá thể”, mặc dù cá nhân tôi thích thuật ngữ “chọn lọc gen” hơn.

Câu trả lời ngắn gọn của những người theo thuyết chọn lọc cá thể cho lập luận vừa mới đưa ra có lẽ như sau. Thậm chí trong nhóm các cá thể có tính vị tha, chắc chắn rằng vẫn có một nhóm nhỏ các cá thể từ chối việc hi sinh. Nếu chỉ cần có một kẻ nổi loạn vị kỷ, sẵn sàng lợi dụng tính vị tha của các cá thể còn lại, thì kẻ nổi loạn đó, theo định nghĩa, có nhiều khả năng sống sót và sinh sản hơn những kẻ khác. Những đứa con của nó có khuynh hướng được thừa hưởng những đặc điểm vị kỷ này. Sau một vài thế hệ qua chọn lọc tự nhiên, nhóm vị kỷ ban đầu sẽ bị thống trị bởi các cá thể mang tính vị kỷ và sẽ không khác gì so với nhóm vị kỷ. Mặc dù chúng ta công nhận rằng có thể tồn tại các nhóm vị tha thuần khiết ban đầu không có một cá thể vị kỷ nào, chúng ta cũng khó có thể thấy điều gì ngăn được các cá thể vị kỷ nhập cư vào quần thể từ các nhóm vị kỷ láng giềng, và, thông qua hôn nhân, tính thuần khiết của quần thể vị tha sẽ bị lai tạp.

 

TH : T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo : Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Tại sao lại là con người ? – Phần I


Sự sống thông minh ở một hành tinh sẽ được coi là trưởng thành khi nó lần đầu tiên tìm ra nguyên do cho sự tồn tại của mình. Nếu một sinh vật thượng đẳng từ vũ trụ ghé thăm Trái đất, để đánh giá trình độ nền văn minh của chúng ta, câu hỏi đầu tiên họ sẽ hỏi là : « Họ đã khám phá ra quá trình tiến hóa chưa ? ». Sự sống đã tồn tại trên Trái đất hơn 3000 triệu năm mà không hiểu vì sao chúng tồn tại, trước khi một trong số chúng ta tìm ra lời giải đáp. Người đó chính là Darwin. Công bằng mà nói, trước Darwin đã có những hiểu biết qua loa về sự thật này, nhưng chính Darwin mới là người đầu tiên tập hợp thành một bản tổng kết logic và chặt chẽ lý do tồn tại của chúng ta. Darwin giúp chúng ta có thể đưa ra câu trả lời hợp lý cho câu hỏi của những đứa trẻ tò mò đặt ra ở đầu bài. Chúng ta cũng không còn phải viện dẫn đến những điều mê tín dị đoan khi đối mặt với các vấn đề khó giải thích như : « Cuộc sống có ý nghĩa gì không ? » ; « Chúng ta tồn tại vì cái gì ? » ; « Con người là gì ? ». Sau khi đặt ra câu hỏi cuối cùng trong số các câu hỏi vừa rồi, nhà động vật học nổi tiếng, G.G. Simpson, đã viết : « Tôi muốn chỉ ra rằng tất cả những cố gắng để giải đáp cho câu hỏi đó trước năm 1859 đều không có giá trị và nếu chúng ta lờ hẳn những quan điểm đó đi, chúng ta sẽ thấy thoải mái hơn ».

Ngày nay, thuyết tiến hóa đang xuất hiện nhiều nghi ngờ giống như thuyết Trái đất quay quanh Mặt trời. Nhưng, nếu như giả thuyết Trái đất quay quanh Mặt trời được thấu hiểu hoàn toàn thì nhiều ẩn ý trong cuộc cách mạng của Darwin vẫn chưa được nhận thức rõ ràng, rộng rãi. Động vật học vẫn là một môn học nhỏ trong các trường đại học và thậm chí cả những sinh viên theo học môn này cũng thường đăng ký học mà không nhận thức được ý nghĩa triết học sâu sắc của nó. Triết học và các môn học thuộc khối nhân văn hầu hết vẫn được giảng dạy như thể Darwin chưa bao giờ tồn tại. Chắc chắn rằng, điều này sẽ thay đổi theo thời gian. Tu nhiên, trong bất cứ hoàn cảnh nào, nội dung này được viết không phải để ủng hộ tích cực cho chủ nghĩa Darwin, thay vào đó, nó sẽ ứng dụng các hệ quả của thuyết tiến hóa vào một vấn đề cụ thể, đó là xem xét bản chất sinh học của tính vị kỷ và tính vị tha.

Ngoài khía cạnh học thuật, vai trò của điều này đối với con người cũng rất rõ ràng. Nó chạm đến mọi khía cạnh trong đời sống xã hội của chúng ta : tình yêu và thù hận, đấu tranh và hợp tác, cho đi và trộm cắp, lòng tham vào sự hào phóng. Những khẳng định này đáng nhẽ phải được dùng làm cơ sở cho các cuốn sách Về tính hiếu chiến của Lorenzt, Khế ước xã hội của Ardrey và Tình yêu và thù hận của Eilb-Eihesfeldt. Trong tất cả các cuốn sách này, các tác giả đã hoàn toàn sai lầm khi bàn đến các khía cạnh xã hội. Họ sai bởi vì họ đã không hình dung đúng quá trình tiến hó. Họ đã đưa ra một giả định hoàn toàn nhầm lẫn khi cho rằng điều quan trọng trong quá trình tiến hóa đó là đặc tính tốt của loài (hay một nhóm cá thể) chứ không phải là đặc tính tốt của một cá thể (hay gen của cá thể). Điều buồn cười là Ashely Montagu đã phê phán Lorenz – hậu duệ của các nhà tư tưởng theo trường phái « tự nhiên, máu đỏ, nanh và vuốt » thế kỷ 19. Theo tôi, quan điểm của Lorenz về tiến hóa cũng giống như quan điểm của Ashley, cả hai đều gạt bỏ những hàm ý trong cụm từ nổi tiếng của Tennyson. Khác với họ, tôi cho rằng cụm từ « Tự nhiên, máu đỏ, nanh và vuốt » đã tổng kết súc tích những hiểu biết hiện nay của chúng ta về chọn lọc tự nhiên.

Trước khi bắt đầu đưa ra lập luận của mình, tôi muốn giải thích ngắn gọn kiểu lập luận mà tôi sẽ đưa ra và những kiểu lập luận mà tôi không đề cập tới. Giả sử rằng, khi nhắc đến một người đàn ông đã từng sống lâu và giàu có trong xã hội gangster ở Chicago, chúng ta có thể dự đoán phần nào kiểu tính cách của người đàn ông ấy. Chúng ta có thể nghĩ người đàn ông đó có những phẩm chất như mạnh mẽ, bắn súng nhanh, và có khả năng thu hút những người bạn trung thành. Đấy có thể không phải là suy luận luôn đúng, nhưng bạn có thể đưa ra những kết luận về tính cách của người đàn ông đó nếu như bạn biết một vài điều về nơi anh ta đã tồn tại và phát triển. Tranh luận của tôi về việc con người cũng như tất cả các động vật khác, đều là những cỗ máy được hình thành nên từ bộ gen. Giống như những gã gangster thành đạt ở Chicago, bộ gen của chúng ta đã sống sót, nhiều trường hợp là hàng triệu năm, trong một thế giới đầy cạnh tranh. Và như vậy, chắc chắn gen của chúng ta có những đặc tính tốt nhất định. Tôi cũng sẽ thuyết phục các bạn rằng đặc tính nổi trội để một gen có thể tồn tại trong tự nhiên đó là tính vị kỷ, vị kỷ đến mức tàn nhẫn. Tính vị kỷ của gen sẽ luôn làm tăng tính vị kỷ trong tập tính của cá thể. Tuy nhiên, chúng ta cũng sẽ thấy có những trường hợp đặc biệt trong đó một gen chỉ có thể biểu hiện tính vị kỷ của nó tốt nhất bằng việc tăng cường một giới hạn của tính vị tha ở mức độ cá thể. Hai từ « đặc biệt » và « hữu hạn » chính là hai từ rất quan trọng trong câu trên. Mặc dù chúng ta có lẽ sẽ muốn tin vào điều ngược lại, nhưng tình yêu bao la và sự bảo vệ các loài nói chung chỉ là những khái niệm chẳng có ý nghĩa gì trong quá trình tiến hóa.

Điều này đưa tôi quay trở lại điểm xuất phát, tôi muốn làm rõ những điều mà cuốn sách này không đề cập đến. Tôi không có ý định rao giảng đạo đức dựa trên quá trình tiến hóa. Tôi chỉ nói về cách mà sự vật tiến hóa. Tôi cũng không đề cập đến việc con người phải cư xử thế nào cho có đạo đức. Tôi nhấn mạnh điều này, bởi vì tôi biết tôi đang ở trong tình trạng dễ bị hiểu lầm bởi những người, mà thực ra là quá nhiều, không thể phân biệt được câu nói tin rằng trường hợp đó sẽ xảy ra với một lời bao biện trường hợp đó phải là như thế này. Tôi cảm thấy rằng xã hội loài người nếu đơn thuần chỉ dựa trên quy luật vị kỷ đến tàn nhẫn của gen có thể là một xã hội đầy ô trọc mà chúng ta đang sống. Tiếc rằng, cho dù chúng ta có phàn nàn điều gì, thì sự phàn nàn đó cũng không thể làm xã hội đó biến mất. Tôi viết nghiên cứu này để tạo sự hứng thú cho bạn đọc, nhưng nếu bạn có thể rút ra được bài học đạo đức nào từ đây, hãy xem nó như một lời cảnh báo. Nên nhớ rằng nếu bạn, cũng như tôi, mong muốn xây dựng một xã hội mà ở đó các cá thể hợp tác với nhau một cách rộng lượng và vô tư để hướng tới những điều tốt đẹp chung, thì bạn có thể học tập được từ sinh vật trong tự nhiên. Hãy cùng giảng dạy tính rộng lượng và lòng vị tha bởi vì chúng ta là những kẻ vị kỷ bẩm sinh. Hãy để chúng ta hiểu gen vị kỷ phụ thuộc vào điều gì, sau đó chúng ta có thể có cơ hội cải tạo nó, một điều mà chưa một loài động vật nào từng khao khát thực hiện.

Như là một hệ quả của những điểm trên, chúng ta cũng nhận thấy sẽ là sai lầm khi cho rằng các tính trạng di truyền là cố định và không thể thay đổi theo định nghĩa, không may đây lại là sai lầm thường gặp. Gen của chúng ta có thể quy định tính vị kỷ, nhưng chúng ta không nhất thiết phải tuân theo quy định đó suốt đời. Thực ra việc tiếp thu lòng vị tha sẽ khó hơn một chút so với việc chúng khi chúng ta đã có sẵn những gen quy định lòng vị tha. Khác với động vật, con người được đặc trưng bởi văn hóa và bởi những ảnh hưởng được học và được truyền đạt. Có người nói rằng văn hóa rất quan trọng và gen dù là vị kỷ hay không thì cũng không liên quan đến sự am hiểu về bản chất con người. Cũng có người sẽ không đồng ý với điều đó. Việc đồng ý hay không đồng ý đều phụ thuộc vào việc bạn đứng trên lập trường nào trong cuộc thảo luận về vấn đề « tự nhiên hay giáo dục » là nhân tố quyết định các thuộc tính của con người. Điều này cũng dẫn tôi đến điều thứ hai mà cuốn sách này không đề cập đến : cuốn sách không phải là một lời biện hộ cho lập trường này hay lập trường khác trong cuộc tranh luận vai trò của tự nhiên với giáo dục. Tất nhiên, tôi có chính kiến của riêng mình, nhưng tôi sẽ không trình bày ở đây trừ một vài ngụ ý trong thảo luận về vai trò của văn hóa mà tôi sẽ trình bày. Nếu gen hoàn toàn không liên quan đến sự hình thành hành vi của con người hiện đại, nếu chúng ta thực sự đặc biệt trong giới động vật trên khía cạnh này, thì ít nhất việc nghiên cứu tỉ lệ khác biệt cũng rất thú vị. Trong trường hợp loài người không phải là ngoại lệ như chúng ta thường nghĩ, chúng ta càng cần phải tìm ra quy luật tiềm ẩn trong đó.

Điều thứ ba mà cuốn sách này sẽ không đề cập đến : cuốn sách sẽ không miêu tả cụ thể hành vi ứng xử của con người hoặc tập tính bất kỳ của một loài động vật cụ thể nào. Tôi sẽ chỉ sử dụng các dẫn chứng thực tế trong các ví dụ minh họa. Và tôi cũng không nói « Nếu bạn để ý đến tập tính của khỉ đầu chó » bạn sẽ thấy vị kỷ ; do đó, sự thay đổi trong hành vi của con người cũng có thể là vị kỷ ». Logic trong lập luận của tôi về « gã xã hội đen Chicago » thực ra không phải như vậy, mà là con người và khỉ đầu chó đã tiến hóa nhờ chọn lọc tự nhiên. Khi bạn xem xét cách thức tác động của chọn lọc tự nhiên, bạn sẽ tìm ra mọi thứ tiến hóa do chọn lọc tự nhiên tạo nên đều vị kỳ. Do đó, chúng ta phải lường trước được rằng khi xem xét tập tính của khỉ đầu chó, hành vi của con người hay tập tính của các loài sinh vật khác, chúng ta sẽ thấy tất cả những hành vi đó là vị kỷ. Và nếu chúng ta nhận thấy sự kỳ vọng đó không đúng, nếu chúng ta phát hiện ra hành vi ứng xử của con người thực sự đầy tính vị tha, và như vậy chúng ta sẽ đối mặt với một vài điều khó hiểu và cần được giải thích.

(còn tiếp)

TH : T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo : Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Giá trị dân tộc Việt Nam – Phần cuối


Ở một vị trí địa chính trị khá đặc biệt, lại tiếp giáp với một nước lớn, đất nước ta đã phải sống trong cảnh đô hộ, nước ta nhiều lần bị đe dọa diệt vong và chiến tranh liên miên. Về địa lý tự nhiên thì rừng núi hiểm trở, bão tố, sông nước…, cho nên dần dà tạo nên giá trị thích nghi để bảo tồn sống còn (nay là giá trị độc lập tự chủ, bảo toàn lãnh thổ, lãnh hải, không phận), đồng thời phải cải thiện đời sống, cải tiến cách trồng trọt,… cứ thế tạo nên giá trị sáng tạo. Giá trị thích nghi và sáng tạo cũng như giá trị bảo tồn sống còn vẫn luôn là giá trị quan trọng trong tinh thần người Việt và dân tộc Việt Nam, thể hiện cả trong cuộc sống thường ngày lẫn khi có sự kiện trọng đại. Vì vậy cần biết quản trị, lãnh đạo, vận dụng theo chiều hướng tích cực để tạo nên sức mạnh lớn lao, giữ gìn được non sông, phát triển được đất nước, bắt đầu từ từng con người, từng cộng đồng, và cả xã hội.

Gắn liền với giá trị bảo tồn sống còn là giá trị chăm chỉ làm ăn, hay như dân ta thường nói “chịu thương chịu khó”, “cần cù”. “Chăm chỉ làm ăn” là giá trị phổ biến ở đại đa số người Việt, nhưng chưa thật thường xuyên, đều đặn ở mọi nơi, mọi lúc, mọi giai tầng.

Giá trị hiếu học gắn liền với sự hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc ta từ rất xa xưa cho đến ngày nay. Theo nghiên cứu kết quả học tập của học sinh lớp 9 theo chương trình PISA của Cộng đồng châu Âu (EU) năm 2012 – 2013, sự quan tâm của phụ huynh đối với việc họ của con em ở Việt Nam được đánh giá vào loại cao nhất.

Với các đặc điểm về cư dân, địa lý, thiên nhiên, xã hội của nước ta đã hình thành và phát triển giá trị tình nghĩa là cốt lõi của triết lý nhân văn của người Việt Nam, thấm vào mọi mối quan hệ xã hội trong đời sống ngày nay.

Gắn kết với gia đình, cộng đồng và đất nước là giá trị bảo đảm sự tồn tại của tộc người, cũng như từng cá thể, cá nhân người, phát triển nhân cách con người và thực hiện vai trò của cá thể người với cộng đồng người và trách nhiệm với chính bản thân. Vấn đề trung tâm của tâm lý học giá trị và giáo dục học giá trị là góp phần chuyển các giá trị dân tộc thành “vốn liếng”, thành “giá trị cá nhân” của từng người, để mỗi người Việt Nam khi mang trong tâm hồn bảy giá trị dưới các hình thức biểu hiện khác nhau, dù ở đâu, địa phương nào, trong nước hay nước ngoài, đều có thể tự hào và được tôn trọng bởi những giá trị cao đẹp của cả cộng đồng người Việt và dân tộc Việt Nam.

4/ Giá trị cá nhân

Con người ở cấp độ thành viên xã hội gọi là “cá nhân” (person). Giá trị học nghiên cứu các giá trị xã hội nhằm đi đến phát triển các “giá trị cá nhân”. Con người sống trong xã hội, là thành viên của một dân tộc, với những đặc điểm về kinh tế – xã hội, chính trị, pháp luật, tâm lý xã hội (phong tục, tập quán…), chính sách của nhà nước hay cộng đồng,… cùng với đặc điểm thiên nhiên nhất định có ảnh hưởng tới tâm lý cá nhân với mức độ khác nhau. Nhưng tựu trung lại, trong mỗi con người luôn có tâm lý dân tộc, với cốt lõi là hệ giá trị dân tộc. Một bên là là xã hội và thiên nhiên xung quanh, một bên là cá nhân con người có mối quan hệ qua lại, nhất là từ phía xã hội. Ý thức con người, trong đó có giá trị cá nhân, nảy sinh trong các mối quan hệ này. Con người lớn lên trong một quá trình mà tâm lý học gọi là quá trình “xã hội hóa” (hình 3)

Hệ giá trị dân tộc là bộ phận trọng yếu trong “sức mạnh mềm” của từng quốc gia, dân tộc ở sức lan tỏa tới các thành viên: các giá trị dân tộc chuyển thành các giá trị cá nhân. GS Nguyễn Văn Huyên là người đầu tiên nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ dân tộc học, góp công đầu vào việc xây dựng tâm lý học dân tộc, đồng thời gợi ý về các giá trị của cá nhân con người Việt Nam thời kỳ đó. Trong tác phẩm Văn minh Việt Nam, chương “Chủng tộc Việt”, mục “Loại hình tinh thần”, sau khi nêu lên các mặt yếu kém do nền sản xuất nông nghiệp và tâm lý làng xã mang lại, tác giả nêu những ưu điểm của người Việt. Ông nêu đức tính cần cù; kiên nhẫn; đức hy sinh vì sự nghiệp lớn; và cuối cùng là tinh thần dũng cảm. Ông giải thích: “có khả năng kháng cự lâu dài, trong những điều kiện thiếu thốn tệ hại nhất, chống lại các lực lượng mạnh hơn về số lượng và chất lượng”. Nhận xét này rút ra từ lịch sử đấu tranh của nhân dân ta trong lịch sử, và vận dụng cả vào lịch sử đương đại Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến trường kỳ.

Các giá trị cá nhân của người Việt Nam theo Nguyễn Văn Huyên

Cần cù,

Kiên nhẫn: chịu khó, chịu đựng,

Hy sinh vì sự nghiệp lớn,

Dũng cảm.

GS Nguyễn Văn Huyên đặt dấu nhấn vào giá trị là “chịu khó, chịu đựng” thành đức tính dũng cảm của những con người nô lệ, lầm than. GS Trần Văn Giàu điểm tới giá trị “thương người” là một giá trị nhân văn ở nước ta là một giá trị tinh thần truyền thống, nhưng cho đến thời đại Hồ Chí Minh, các giá trị mới phát huy tác dụng rộng rãi đối với người nghèo, người nô lệ, sống trong cảnh đất nước bị chia cắt… chiếm đại đa số trong nhân dân. Tư tưởng của hai giáo sư đóng góp lớn vào di sản giá trị học Việt Nam, nhiều nhà khoa học thế hệ chúng tôi đã và đang lĩnh hội, tiếp nối phát triển.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị dân tộc Việt Nam – Phần XVI


3/ Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam

Giáo sư Trần Văn Giàu (1911 – 2010) là người đặt nền móng đầu tiên cho giá trị học Việt Nam, và cũng là cho tâm lý học dân tộc Việt Nam. Từ nửa sau những năm 1970, ông bắt đầu viết Giá trị tinh thần truyền thống dân tộc Việt Nam, xuất bản năm 1980, tái bản lần thứ nhất năm 1993. Trong “Lời nói đầu”, GS Trần Văn Giàu đã chỉ ra, người cách mạng chân chính là người hết sức coi trọng và gắn bó với lịch sử dân tộc; nghiên cứu các giá trị tinh thần truyền thống để góp phần xây dựng con người “sâu gốc bền rễ trong lịch sử dân tộc”, bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là sứ mệnh của tâm lý học dân tộc Việt Nam. Nói “giá trị truyền thống” là các giá trị được gây dựng từ thời Văn Lang, qua nhiều thế hệ, qua các thời kỳ lịch sử đấu tranh chống đồng hóa, giành độc lập chủ quyền, dựng xây đất nước và truyền lại tới nay thành “giá trị hiện đại”, làm nên “hồn thiêng dân tộc” của lịch sử nước nhà.

Các nhà nghiên cứu nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 chung quy lại đều là nghiên cứu về “giá trị”, “giá trị tinh thần”, tức là chủ yếu dưới góc độ giá trị học. Cuốn sách này tiếp nối GS Trần Văn Giàu đi vào giá trị học, và qua đó đi đến hiểu con người Việt Nam, chẳng những góp phần xây dựng tâm lý học dân tộc, nhân học văn hóa Việt Nam. GS Trần Văn Giàu xác định, giá trị là “cái tốt phổ biến, cơ bản, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức luân lý, có cả tác dụng hướng dẫn nhận định và hướng dẫn sự hành động, thì mới mang danh là giá trị truyền thống…, là những nguyên lý đạo đức lớn của một dân tộc”.

GS Trần Văn Giàu nói đến thang giá trị, là “sắp xếp một cách cứng nhắc những cái tự nó không có thứ bậc”, đồng thời phải công nhận rằng cuộc sống lịch sử của dân tộc đã sắp xếp, có “giá trị của giá trị” – giá trị căn bản, phổ biến, giá trị đỉnh cao của các đỉnh cao, giá trị nền tảng của sinh hoạt tinh thần của nhân dân qua tất cả các thời kỳ – đó là giá trị “yêu nước”, “chủ nghĩa yêu nước”. Như vậy, thang giá trị mang tính khách quan. Thang giá trị gồm tất cả 7 giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, trong đó giá trị yêu nước là giá trị đứng đầu.

Hệ giá trị dân tộc Việt Nam,

Yêu nước,

Cần cù,

Anh hùng (gắn liền với yêu nước),

Sáng tạo,

Lạc quan,

Thương người,

Vì nghĩa – theo lẽ phải.

Các giá trị này, đủ để cho dân tộc ta “sinh tồn tự do và vinh dự”, cũng phù hợp với giá trị chung của nhân loại, được cả loài người đều quý trọng. Đó là những giá trị bền vững mà nhà trường cùng gia đình và xã hội có nhiệm vụ lưu truyền cho thế hệ trẻ tiếp thu, phát triển và phát huy. Trong bảy giá trị đó, “tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam; “cần cù” là giá trị lao động quý báu, là một đặc điểm nổi bật nhất trong “tình người”, tạo nên mọi nền văn minh – văn hóa trên đời này, là động cơ và nguyên nhân đầu tiên và hàng đầu làm nên thành công của con người và của dân tộc; “anh hùng” là “dũng cảm xuất sắc, chính nghĩa và có lý tưởng”. Với dân tộc ta, giá trị “anh hùng” bao gồm cả tính kiên trì, tinh thần bất khuất, chịu đựng gian khổ, đã chiến thắng bao kẻ thù hung hãn, lực mạnh hơn ta nhiều lần và xây dựng đất nước. Về giá trị “sáng tạo”, Giáo sư đã công nhận, tuy nhiều thế kỷ, sự sáng tạo của người Việt Nam bị cản trở, nhưng lịch sử Việt Nam là lịch sử sáng tạo, vẫn có tinh thần phê phán các “Đạo”, “Giáo”, các ý đồ của bọn xâm lược bằng hành động đấu tranh gìn giữ các giá trị dân tộc, và từ đó, không thể phủ nhận kết luận: “dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc lạc quan”, như GS Trần Văn Giàu tổng kết. Giá trị “thương người” là kết tinh đời sống tinh thần ngàn đời, về sau hòa nhập với chữ “nhân” của Nho giáo và “từ bi” của Phật giáo, gần đây được cách mạng nâng lên thành giá trị truyền thống mới: thương người, thương dân. Giá trị “nghĩa” là tinh thần trach nhiệm với quốc gia, tổ tiên, người đời và với chính mình. GS Trần Văn Giàu kết luận, đó là giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc ta, đã góp phần tạo lập nên quốc gia, dân tộc từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên cho đến lịch sử đương đại chúng ta đang sống ngày nay.

Tác phẩm của GS Trần Văn Giàu là một công trình khoa học lớn đầu tiên về giá trị học Việt Nam, nói lên ngọn nguồn sức mạnh phi thường của nhân dân ta trong công cuộc dựng nước và giữ nước, nhất là nửa sau thế kỷ XX, đưa Việ Nam lên đài vinh quang, ngày càng có uy tín, có vị thế trên trường quốc tế, khu vực và thế giới. Để góp phần nghiên cứu vấn đề này, trên đây chúng tôi đã minh họa cụ thể lịch sử hình thành, phát triển, phát huy các giá trị dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở đó, chúng tôi bước đầu thử đề xuất một đúc kết bảy hệ giá trị dân tộc mới sau đây:

+ Tính cách dân tộc, tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc, lòng yêu nước,

+ Thích nghi và sáng tạo,

+ Bảo tồn sống còn,

+ Chăm chỉ làm ăn,

+ Hiếu học,

+ Tình nghĩa,

+ Gắn kết gia đình với cộng đồng, đất nước.

Bảy giá trị này là cốt lõi của bản sắc văn hóa Việt Nam, nền tảng tinh thần của lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc ta, cũng là nền tảng tinh thần của xã hội Việt Nam đương thời.

Tính cách dân tộc, tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc, lòng yêu nước có thể gộp lại thành một giá trị nguồn cội làm nên giá trị dân tộc, cũng có thể phân biệt bốn giá trị này một cách rạch ròi, tuy rằng không đơn giản. Dưới góc độ tâm lý học dân tộc, thường có chủ điểm “tính cách dân tộc” là nét tâm lý đặc trưng của các cá nhân thuộc dân tộc, chẳng hạn, theo nhiều người, cả trong nước và ngoài nước nhận xét mặt tích cực của người Việt Nam nói chung là có tính cởi mở, tươi cười, dễ gần, dễ tiếp xúc, tiếp thu nhanh… Qua lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển dân tộc, chúng tôi nói lên vai trò của giá trị tinh thần dân tộc và ý thức dân tộc. Nói đơn giản rằng, tính cách dân tộc là tính chất, đặc điểm tinh thần, như chí khí quật cường, bất khuất, tinh thần chịu thương chịu khó… Tính cách của mỗi người Việt có thể mang dấu ấn của tính cách dân tộc. Tinh thần dân tộc là một sự gắn bó ở một mức độ nào đó với cội nguồn dân tộc như yêu thích một câu ca dao, một truyện cổ tích, một sự tích oai hùng, tôn thờ một thần tượng dân tộc. Tâm lý đó có thể từ cộng đồng đến với cá nhân, và từ từng cá nhân, cộng đồng thành giá trị tinh thần của cả dân tộc, tạo nên sức mạnh dân tộc không bị đồng hóa dưới mọi ách đô hộ. Tinh thần dân tộc phát triển lên một tầng bậc cao hơn là ý thức dân tộc trong đó có thái độ đó với sự tồn vong, hưng thịnh của dân tộc, lòng tự hào dân tộc, nâng thành sức mạnh dân tộc và đấu tranh giành độc lập dân tộc. Như vậy, đỉnh cao của ý thức dân tộc là lòng yêu nước, là đóng góp, cống hiến cho sự phát triển của đất nước, và khi cần, có thể xả thân giữ nước. Trong thời đại ngày nay, chính chúng ta và thế hệ trẻ mai sau vẫn cần phải suy tôn và phát huy giá trị này để góp phần, bảo vệ và xây dựng đất nước. Đó là bài học lịch sử vô cùng quý giá trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị dân tộc Việt Nam – Phần XV


+ Thuyết duyên khởi, còn gọi là thuyết nhân duyên nói lên các mối quan hệ và điều kiện tác động qua lại trên đời này. Từ đây sinh ra thuyết nhân quả, luân hồi, tạo nên “tinh thần” (danh) và thể xác (sắc) tiếp xúc với ngoại giới, tạo nên tình cảm tâm lý (ý). Đây là một thuyết triết học phức tạp bởi chúng ta vẫn quan niệm luật nhân quả vận dụng vào đạo đức: làm điều phúc sẽ được phúc, làm điều xấu sẽ gặp họa, nhưng vận vào triết lý nhân sinh theo một khía cạnh luân hồi nghiệp báo là một vấn đề còn cần phải nghiên cứu kỹ.

+ Thuyết ngũ uẩn về vũ trụ, xuất phát từ 4 nguyên tố lớn – đất, nước, gió, lửa, có 5 uẩn: sắc uẩn (thế giới vật chất), thụ uẩn (cảm giác), tưởng uẩn (tưởng tượng), hành uẩn (hành động), thức uẩn (nhận thức, ý thức, tâm thức – tâm lý). Đạo Phật cũng như các tôn giáo khác, rất coi trọng các giá trị tinh thần, tâm lý, nhưng lại phủ nhận linh hồn.

Đi đến các giá trị ấy qua phương pháp “thiền” tĩnh tâm, hướng thiện là một phương pháp phổ biến. Tĩnh tâm, hướng thiện, truyền bá các giá trị từ bi, hỉ xả, bác ái – đây là giá trị đặc trưng của Phật giáo mang lại cho tâm lý dân ộc các giá trị đạo đức: lương thiện, hiền hậu, chia sẻ với mọi người, tôn trọng, yêu thương con người, nhiều người trong các thời đại khác nhau đã tiếp thu và phát huy giá trị “từ bi” đức độ, ưa trọng cuộc sống an bình để đi đến giác ngộ, tỉnh táo, sáng suốt. Các trạng thái tâm lý này luôn trong sự vận động theo phép biện chứng “sắc – không” (tồn tại và không tồn tại), chuyển hóa cho nhau; “tâm và pháp” là quan hệ giữa tâm thức và khách quan; giữa Phật và chúng sinh: Phật và đời. Xưa kia, đặc biệt là từ thời Lý, Phật giáo ảnh hưởng lớn từ triều đình, dần dần đi sâu vào quần chúng nhân dân lao động. Trong thế kỷ XX, nhiều ngôi chùa đã là địa điểm, căn cứ của cách mạng và kháng chiến, nhiều nhà sư đã trở thành nhà hoạt động cách mạng. Triết lý nhân văn của đạo Phật đã thấm sâu vào các giá trị dân tộc, thành một thành phần trong bản sắc Việt Nam. Ngoài ra, Phật giáo đặt ra nhiều vấn đề đặc trưng cho khoa học tâm lý – giáo dục. Vì vậy, tâm lý học dân tộc cần nghiên cứu kỹ và hiểu thấu đáo để vận dụng vào giảng dạy và nghiên cứu các khoa học nhân văn nước ta, cũng như vào việc giáo dục thế hệ trẻ.

Tam giáo là các triết thuyết, giáo lý đến với dân ta theo con đường chính thống – qua sách vở, nhà trường, nhà chùa, thầy và các nhà sư, theo thời gian đến cả nghìn năm, để lại dấu ấn rõ nét trong tâm thức nhiều người, thành nếp sống, nếp nghĩ, khái quát lên thành giá trị dân tộc.

Ngoài ra, còn một kênh khác được gọi là văn học dân gian – ca dao, tục ngữ… – khởi phát bằng phương cách truyền miệng, đúc kết kinh nghiệm, trải nghiệm, phong tục đời sống của chính người dân, của cộng đồng (địa phương, vùng miền) sau mới được ghi lại thành văn, phản ánh khá trung thực ước mong, tâm trạng, các bài học về triết lý nhân sinh, truyền cho người đương thời và cả các thế hệ tiếp nối. Tâm lý học dân tộc nói chung, tìm hiểu các giá trị dân tộc nói riêng, không thể nào bỏ qua văn học dân gian, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan: suy tư, cách sống và lối sống, tính cách dân tộc, tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc và cốt lõi là các giá trị dân tộc.

2/ Di sản văn hóa Việt Nam được UNESCO công nhận

Các nước trên thế giới từ xưa đến nay đã công nhận dân tộc Việt Nam có một nền văn hóa – văn minh riêng. Các nhà nghiên cứu văn học dân gian phần nào làm rõ được sự phong phú của văn hóa dân tộc Việt Nam qua các công trình của Đào Duy Anh với tác phẩm Việt Nam văn hóa sử cương (năm 1938), Nguyễn Văn Huyên với tác phẩm Văn minh Việt Nam (viết năm 1938, xuất bản năm 1944)… đã góp phần giới thiệu trong tinh thần khiêm tốn nhưng đầy tự hào dân tộc. Cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI, Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) chính thức công nhận Việt Nam có 15 di sản văn hóa thế giới, ghi nhận sự đóng góp của dân tộc, đất nước Việt Nam vào văn minh nhân loại. Các di sản đã được công nhận là:

2 di sản thiên nhiên thế giới:

+ Vịnh Hạ Long được công nhận năm 1994 và năm 2000.

+ Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận năm 2003.

5 di sản văn hóa thế giới:

+ Quần thể di tích Cố đô Huế được công nhận năm 1993.

+ Phố cổ Hội An năm 1999.

+ Thánh địa Mỹ Sơn năm 1999.

+ Di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long năm 2010.

+ Thành nhà Hồ năm 2011.

8 kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại:

+ Nhã nhạc cung đình Huế năm 2003.

+ Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên năm 2005.

+ Dân ca quan họ Bắc Ninh và Bắc Giang năm 2009.

+ Ca trù năm 2009.

+ Hội Gióng đền Phù Đổng năm 2010.

+ Hát Xoan năm 2011.

+ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương năm 2012.

+ Đờn ca tài tử Nam Bộ năm 2013.

4 di sản tư liệu thế giới:

+ Mộc bản triều Nguyễn năm 2007.

+ Bia đá Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám năm 2010.

+ Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm năm 2012.

+ Châu bản triều Nguyễn năm 2014.

1 di sản thế giới hỗn hợp:

+ Quần thể danh thắng Tràng An.

Sự kiện UNESCO công nhận một số kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể đã là tiếng nói chính thức của thế giới công nhận các giá trị Việt Nam. Trong đó, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” là kiệt tác phi vật thể, từ lâu đã thành giá trị sống của người Việt. Như vậy, nền văn hóa – văn minh Việt Nam có lịch sử lâu đời, rất phong phú, đa dạng, trong đó có một số công trình văn hóa vật thể và phi vật thể bước đầu đã được một tổ chức văn hóa thế giới ghi nhận chính thức. Văn hóa Việt Nam ngày càng hội nhập với văn hóa nhân loại, vùng Đông Nam Á và các nước trên thế giới.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị dân tộc Việt Nam – Phần XIV


+ Văn hóa Bắc Sơn (Lạng Sơn là nơi phát hiện các di chỉ), tồn tại cùng thời và gần gũi với văn hóa Hòa Bình, cũng lấy đá cuội về chế tác công cụ đá. Khác với cách chế tác công cụ đá của văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn dùng đá ghè hai mặt, có rìu to hơn, có rìu nhỏ hơn, có bàn mài Bắc Sơn chứng tỏ có kỹ thuật mài; sản xuất nông nghiệp, săn bắt và hái lượm…

Trải qua hơn nghìn năm Bắc thuộc, đất nước ta đã chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Trung Quốc, như chữ viết, văn hóa, giáo dục, quan hệ xã hội – chính trị… Nhưng một dòng chủ lưu của văn hóa Việt là chống chính sách đồng hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc, chiến đấu giành và gìn giữ nền độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước, khẳng định sự tồn tại và phát triển rực rỡ của các giá trị dân tộc.

Thời kỳ Trung đại, văn hóa ở các thời Lý, Trần, Nguyễn là những nền văn hóa nổi bật và phát triển, thể hiện sâu sắc bản sắc dân tộc và các giá trị dân tộc tiêu biểu.

+ Nhà Lý (thế kỷ XI) mở đầu thời phục hưng các giá trị tinh thần dân tộc, trước hết thể hiện ở vai trò của các nhà sư đối với triều đình, tiêu biểu là thiền sư Vạn Hạnh, là người tôn sùng đạo Phật, chăm lo xây chùa, dựng tháp (đến nay còn 19 di tích: chùa Một Cột ở Hà Nội, chùa Phật tích ở Bắc Ninh, chùa Long Đọi ở Hà Nam…); đồng thời dung hòa với Nho giáo và Đạo giáo (xây dựng Văn miếu ở Thăng Long, năm 1195 mở khoa thi “Tam giáo”). Văn học Việt Nam đã ghi nhận vai trò của dòng văn học chữ Hán chủ yếu do các nhà sư sáng tác, nói lên triết lý nhân sinh, thấm đượm tính nhân văn và lòng yêu nước. Nhà Lý hết sức coi trọng các giá trị dân tộc: đưa thần Trống Đồng – biểu tượng của văn hóa Đông Sơn về thành Thăng Long, dựng đền thờ Hai Bà Trưng ở Thăng Long,… kế thừa và nuôi dưỡng, phát huy, phát triển tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia, dân tộc trong đời sống xã hội.

+ Nhà Trần tiếp tục theo đường lối “Tam giáo đồng nguyên”. Đặc biệt, vua Trần Nhân Tông lên ngôi vua năm 1278 nhưng sớm nhường ngôi cho con và làm Thái thượng hoàng năm 1293, đồng thời sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm: “tu tại tâm” – “Tâm tức Phật, Phật tức Tâm”. Đây là Phật giáo Đại Việt, mang bản sắc riêng của dân tộc Việt, thể hiện tính nhân bản cao. Đồng thời, nền giáo dục thời Trần vẫn tiếp tục dạy và mở khoa thi “Tam giáo”.

Cho đến ngày nay, tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” (Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo cùng tồn tại) vẫn còn ảnh hưởng với các mức độ khá nhau trong tâm thức nhiều người dân nước ta. Trong các giá trị dân tộc Việt Nam có giá trị bắt nguồn sâu xa từ “Tam giáo”, có thể coi các giá trị này trong khuôn khổ của giá trị truyền thống hay giá trị truyền thống được hiện đại hóa. “Giáo” thường được hiểu là “tôn giáo”, cũng còn nghĩa nữa là “triết học” – triết lý nhân sinh. Nho giáo và Đạo giáo từ Trung Quốc truyền vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc, Phật giáo một phần từ Ấn Độ, một phần từ Trung Quốc vào Việt Nam. Ở đây trình bày ngắn gọn “Tam giáo” vận dụng vào giá trị học là đã mang tính đúc kết, phần nào góp phần xây dựng, phát huy hệ giá trị Việt Nam – thành phần cốt lõi của bản sắc Việt Nam.

Trước hết, nói về Nho giáo (chữ “Nho” trong tiếng Trung Quốc gồm chữ “Nhân” và chữ “Nhu”, ý nói “đạo đức”, “nhân từ”, “nhân nghĩa”). Cuốn sách không đi vào lịch sử hình thành và phát triển Nho giáo của Khổng Tử (551 – 479 TrCN) xây dựng nên mà tập trung vào bốn tác phẩm là Tứ thư và ảnh hưởng của Khổng giáo đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam. Nhiều công trình nửa sau thế kỷ XX nói lên ảnh hưởng của Khổng giáo đối với sự hưng thịnh xã hội Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á. Tóm tắt bốn tác phẩm cho thấy triết lý giáo dục Khổng Tử là triết lý giáo dục nhân văn, nhất là coi trọng giá trị đạo đức và giá trị giáo dục, những giá trị không thể thiếu đối với sự phát triển con người và xã hội (“cái gì ta không thích thì đừng bắt người khác theo”, “dạy không biết chán, học không biết mỏi” – học suốt đời, ở ta vun đắp thành giá trị truyền thống hiếu học: rất quan tâm, đầu tư vào học tập – học hành), để lại quan điểm giáo dục là làm sao giáo dục được con người hình thành lên năm giá trị: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nói khái quát hơn, học vấn và đạo đức là hai giá trị giáo dục phải đạt tới; đặc biệt, hết sức coi trọng giá trị quan hệ người – người, dần được nâng lên giá trị cộng đồng (giá trị nhân nghĩa, tình nghĩa), gần đây trở thành giá trị tôn ti trật tự, là một giá trị có tác dụng tích cực đối với công cuộc chấn hưng xã hội Đông Á và một số nước Đông Nam Á (vận dụng nhiều vào chính trị, xã hội). Nho giáo đi vào dân chúng, nhất là giai cấp phong kiến cầm quyền và giới trí thức và trở thành một tôn giáo. Theo tư tưởng Hồ chí Minh, chủ nghĩa Marx không bác bỏ những tư tưởng của Khổng giáo, như “trung, hiếu”, nhưng đã áp dụng những tư tưởng đó theo nội dung mới: “trung với nước, hiếu với dân”, là giá trị lý tưởng cao đẹp nhất của con người, suốt đời theo đuổi các giá trị căn bản: cần, kiệm, liêm, chính, tình nghĩa. Bắt đầu từ “hiếu với cha mẹ” là giá trị quý báu ai cũng phải giữ gìn dù theo chủ nghĩa nào; phải khiêm tốn học hỏi, quý con người, trọng nhân tài… Như vậy, từ Khổng giáo, chúng ta tiếp thu được giá trị giáo dục (giá trị học vấn, giá trị hiếu học), giá trị đạo đức (mỗi thời một nội dung), giá trị quan hệ người – người, là nền tảng của các giá trị nhân văn theo tinh thần của thời nay.

Đạo giáo (“đạo” theo nghĩa đen là “con đường”, “phương tiện”, “nguyên lý”, khởi đầu “đạo” được hiểu là cái “tự nhiên” vốn có trong trời đất hay con người) với người sáng lập là Lão Tử (604 – 531 TrCN), nên còn gọi là Lão giáo, và người có công đầu truyền bá là Trang Tử (khoảng năm 369 – 286 TrCN). Đạo giáo chủ trương sống hòa mình với thiên nhiên (tức là thuyết vô vi: không làm gì can thiệp vào tự nhiên), trường sinh theo thuyết âm dương – ngũ hành, luyện thân – tâm (khí công, thái cực quyền, huyền thuật), làm cho con người trở về với thiên nhiên (vũ trụ), vạn vật. Đạo là khởi thủy của vũ trụ và vạn vật và chứa đựng chính trong vũ trụ, vạn vật, từ đó sinh ra Âm – Dương, con người cũng được sinh ra từ đó, cho nên phải cốt giữ được đạođức. Đạo giáo cũng hết sức coi trọng giá trị tinh thần – đối tượng của giá trị học, ngoài ra, rất phù hợp với yêu cầu đề cao giá trị bảo vệ môi trường trong thời đại ngày nay. Triết học này được phổ biến vào dân chúng, được nhiều người tin theo và trở thành một tôn giáo. Ngày nay ít người coi Đạo giáo là một tôn giáo, nhưng một số đặc trưng của Đạo giáo vẫn được vận dụng vào cuộc sống như xem xét theo thuật tướng số con người, có khi cả vận mệnh quốc gia (như theo Kinh dịch trong ngũ kinh của Khổng giáo), nhất là luyện tập thân thế bằgn khí công, thái cực quyền. Như vậy, một giá trị có ý nghĩa thời đại mà Đạo giáo để lại là giá trị môi trường (quan hệ giữa con người với tự nhiên), rèn luyện thân thể và tâm trí (vấn đề tâm – thế).

Phật giáo là một tôn giáo có lịch sử lâu đời và rất phổ biến ở nước ta: “Chỉ rất ít người Việt Nam không tự cho mình là Phật tử”. Thời Lý – Trần, Phật giáo được coi là quốc giáo. Phật giáo cùng với Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Do Thái giáo, Cơ đốc giáo (Thiên chúa giáo)… là các tôn giáo lớn trên thế giới. Phật giáo hình thành từ khoảng thế kỷ thứ VI – thế kỷ thứ V TrCN (có các cách tính khác nhau ngày sinh của Phật năm 565 TrCN, 624 TrCN,…), tại Ấn Độ cổ, nay thuộc Rupandehi, gần biên giới phía nam Nepal. Người sáng lập tên đạo Phật là Siddhartha (có nghĩa là Người thành tựu) Guatama (họ mẹ), gọi là Thích ca Mâu ni hay Phật đà, Bụt đà, sau gọi tắt là Phật (có nghĩa là người giác ngộ chân lý) hay Bụt. Phật xuất gia tu hành từ năm 29 tuổi vì cảm thấy nỗi thống khổ của chúng sinh, lão, bệnh, tử, đi tìm giải thoát về tinh thần, tu tập thiền định, cuối cùng ngồi xếp bằng suy nghĩ “châm đế của nhân sinh”, đến năm 35 tuổi thì đắc đặc, bắt đầu thuyết giáo suốt 45 năm, hưởng thọ 80 tuổi.

Phật đạo từ bi và trí tuệ. Giáo lý cơ bản của Phật giáo gồm một số thuyết, như thuyết nỗi khổ, thuyết duyên khởi, thuyết ngũ uẩn. Các thuyết này đem đến các giá trị Đạo Phật và có ảnh hưởng sâu đậm trong dân ta nhiều thế kỷ nay.

+ Thuyết Nỗi khổ (Tứ đế) nói lên nỗi thống khổ trên cuộc đời (khổ); nguyên nhân của các nỗi khổ (Tập); cảnh giới để thoát khổ – hướng về Niết bàn (Diệt); con đường (Đạo) thực hiện lý tưởng của Đạo Phật bằng 8 loại “chính”: chính kiến (quan niệm đúng), chính nghĩ (tư duy đúng), chính ngữ (không nói dối), chính nghiệp, chính mệnh (đời sống chuẩn mực), chính tinh tấn (làm điều tốt, trừ điều xấu), chính niệm, chính định (tập trung tinh thần đúng đắn). Ngày nay, tâm lý học và giáo dục học có thể khai thác 8 con đường tu luyện bản thân có được các điều “chính” này, tức là tạo ra giá trị bản thân, từ suy nghĩ, đến hành vi (hành động), lời nói… phải được xác định rõ ràng và chính đáng, đúng đắn. Không nói về mặt tự nhiên – lịch sử – xã hội là các căn nguyên quan trọng bậc nhất về mặt tâm lý, đúng là chỉ có “chính mình” mới tạo ra được thanh thản, an bình trong tâm hồn theo một tâm thế, xu hướng nhất định, làm cơ sở cho hành động có kết quả. Nói vậy không có nghĩa đơn thuần thế giới nội tâm tự tại, mà người ta có được sự thanh thản trong tâm hồn bằng sự chăm chú, đam mê làm việc, như lao động chân tay hay lao động văn nghệ, khoa học…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.