Cạm bẫy “Thấu cảm”


Peter Singer

PRINCETON – Ngay sau khi Barack Obama đắc cử Tổng thống Mỹ, ông đã nói với một cô gái trẻ: “Chúng ta không có đủ sự ‘thấu cảm’ trong thế giới ngày nay, và nó tùy thuộc vào thế hệ các bạn để thay đổi điều đó.” Obama đã thể hiện một cái nhìn trải rộng, vậy nên tiêu đề của một cuốn sách mới ra “Chống lại Thấu cảm” (Against Empathy), của nhà tâm lý học Paul Bloom đến từ trường ĐH Yale, đến như một cú sốc. Làm sao ai đó có thể chống lại một điều cho phép chính ta đặt mình vào thân phận người khác và cảm nhận những gì mà họ cảm nhận?

Để trả lời câu hỏi này, có lẽ ta cần đặt ra một câu hỏi khác: dzậy ta nên có sự ‘thấu cảm’ dzới ai? Khi Donald Trump chuẩn bị kế vị Obama, các nhà phân tích cho rằng Hillary Clinton bị thất bại trong cuộc bầu cử tháng trước vì thiếu sự ‘thấu cảm’ với người Mỹ da trắng, đặc biệt là cử tri các ‘bang Yết Hầu’ hoài mong về những ngày khi nước Mỹ còn là một công xưởng lực lưỡng. Vấn đề là ‘thấu cảm’ dành cho cần lao Mỹ sẽ ở trong thế giằng giật với ‘thấu cảm’ dành cho cần lao tại Mexico hay Trung Quốc, những người sẽ khốn đốn hơn nhiều nếu không có việc làm so với người đồng cảnh tại Mỹ.

Sự ‘thấu cảm’ khiến chúng ta nhân lành hơn với những người mà chúng ta ‘thấu cảm’. Điều đó là tốt, nhưng nó cũng có mặt tối. Trong các bài phát biểu tranh cử của mình, Trump đã sử dụng vụ thảm sát Kate Steinle bởi một người nhập cư không giấy tờ để tạo thêm sự ủng hộ cho các chính sách chống nhập cư của ông ta. Tất nhiên, ông đã không nêu ra hình ảnh sống động tương tự của những người nhập cư không giấy tờ đã xả thân cứu mạng người dưng, dù cho các trường hợp ntn cũng đã được đưa tin.

Các động vật với cặp mắt to tròn, kiểu như hải cẩu sơ sinh, gợi cho ta nhiều ‘thấu cảm’ hơn so với gà vịt, một loài vật mà ta vẫn trút vào chúng ngập nỗi đau. Con người có thể ngần ngại “gây hại” ngay cả với các rô-bốt vốn vô tri vô giác. Nhưng mặt khác, loài cá – vốn lạnh lùng, trơn nhẫy và không thể gào khóc – lại gợi lên cho con người ta rất ít cảm thông, dù cho, như Jonathan Balcombe đã chỉ ra trong cuốn What a Fish Knows (Nhận biết của một con cá), có rất nhiều bằng chứng cho thấy chúng cũng cảm thấy đau như loài chim và các loài động vật có vú.

Cũng thế, ‘thấu cảm’ với vài đứa trẻ, thực sự hay bị cho là, gặp tổn hại do chích ngừa vắcxin sẽ chủ yếu dẫn dắt dân túy chống lại việc chích vắcxin cho trẻ em để ngừa các bệnh hiểm nghèo. Kết quả là hàng triệu cha mẹ không cho con họ chích vắcxin, khiến hàng loạt trẻ em ốm yếu, số nhiều hơn bị nhiễm bệnh, một số tử vong, do dịch bệnh thay vì chịu chút dị ứng phản vệ từ việc chích vắcxin.

‘Thấu cảm’ có thể khiến chúng ta hành xử bất công. Các đối tượng trong một thí nghiệm lắng nghe một cuộc phỏng vấn với một đứa trẻ bị bệnh nan y. Một số được bảo là phải cố gắng hết sức khách quan, trong khi số khác được bảo hãy tưởng tượng đến cảm giác của đứa trẻ. Rồi tất cả được hỏi liệu họ có muốn đưa đứa trẻ này lên trước trong danh sách chờ đợi để được điều trị hay không, đặt trước những đứa trẻ khác vốn đã được đánh giá là cần được ưu tiên hơn. Ba phần tư số người được bảo là hãy tưởng tượng đến cảm giác của đứa trẻ đã thực hiện đề xuất này, so với chỉ một phần ba số người được bảo là phải cố gắng khách quan.

“Một cái chết thì đau đớn; triệu cái chết chỉ còn là một con số.” Nếu ‘thấu cảm’ khiến ta quá nghiêng về các cá nhân, thì các con số lớn sẽ làm tê liệt cảm giác mà lẽ ra ta phải có. Nhóm nghiên cứu phi lợi nhuận Decision Research (Nghiên cứu Tiến trình ra quyết định) có trụ sở tại Oregon mới đây đã lập một trang mạng, ArithmeticofCompassion.org, có mục tiêu tăng cường năng lực của mọi người trong việc truyền đạt thông tin về các vấn đề quy mô lớn với cảm giác không bị “tê liệt vì con số lớn.” Trong thời đại mà các câu chuyện cá nhân sống động lan truyền chóng mặt và gây ảnh hưởng tới chính sách công, khó mà nghĩ ra cái gì quan trọng hơn là hỗ trợ mọi người biết nhìn ra bức tranh bao quát hơn.

Chống lại ‘thấu cảm’ không phải là chống lại thương cảm (hay trắc ẩn). Ở một trong các phần thú vị nhất của cuốn Chống lại Thấu cảm, Bloom mô tả lại cách mà ông học biết được sự khác biệt giữa ‘thấu cảm’ và thương cảm từ Matthieu Ricard, một nhà sư nổi tiếng người Pháp tu trì tại Nepal mà đôi khi được mô tả là “con người hạnh phúc nhất trên trái đất.” Khi nhà thần kinh học Tania Singer (không anh em gì với tôi.. ^_^) đề nghị Ricard nhập định “quán thương cảm” (hay “quán từ bi”) ngay trong lúc não bộ của ông được máy quét, bà ngạc nhiên nhận thấy không có hoạt động nào ở vùng não vốn thường được kích hoạt khi người ta ‘thấu cảm’ cùng nỗi đau của người khác. Ricard, khi được đề nghị, có thể ‘thấu cảm’ cùng nỗi đau của người khác, nhưng ông thấy nó khó chịu khiến ông kiệt sức; ngược lại, ông mô tả quán từ bi như “một trạng thái ấm áp tích cực gắn liền với một động lực thúc đẩy [mối gắn kết] xã hội mạnh mẽ.”

Bà Singer cũng tập luyện cho những người-không-tu-thiền nhập định quán từ bi, bằng cách suy nghĩ nhân lành hướng tới một loạt người, bắt đầu từ người thân thuộc, đến bạn hành thiền và sau đó hướng ra ngoài tới cả những người dưng. Việc tập luyện ntn có thể dẫn tới cách cư xử nhân lành hơn.

Quán từ bi gần với phương pháp đôi khi được gọi “thấu cảm tri giác” (“cognitive empathy”), bởi vì nó bao hàm liên đới suy nghĩ và hiểu biết của ta về người khác, hơn là cảm giác của ta. Điều này đưa chúng ta đến với thông điệp quan trọng cuối cùng trong cuốn sách của Bloom: đó là cách thức mà khoa học tâm lý diễn tiến đã khiến nó coi nhẹ vai trò của lý trí trong cuộc sống.

Khi các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng một số lựa chọn và thái độ mà ta cho là đã được cân nhắc cẩn trọng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố không can hệ như màu tường, mùi phòng, hay như việc có một hộp đựng nước rửa tay sát trùng treo tường, thì các phát hiện này sẽ được công bố trên các tạp chí tâm lý học, thậm chí có thể trở thành tin tức hàng đầu trên các phương tiện thông tin đại chúng. Còn nghiên cứu mà cho thấy người ta ra quyết định dựa trên chứng cớ thích đáng sẽ khó được công bố hơn, do đó ít được công chúng biết điến đến hơn rất nhiều. Vậy nên tâm lý học có một thành kiến cố hữu chống lại quan điểm cho rằng chúng ta đưa ra các quyết định theo cách thức hợp lý.

Quan điểm tích cực hơn của Bloom về vai trò của lý trí phù hợp với những gì mà tôi lấy làm hiểu biết đúng đắn về đạo đức học. ‘Thấu cảm’ và các cảm xúc khác thường thúc đẩy ta làm những điều đúng đắn, nhưng hẳn là chúng cũng thường bình đẳng trong việc thúc đẩy ta làm những điều sai trái. Để đi đến các quyết định hợp đạo đức, khả năng suy lý của chúng ta giữ vai trò quyết yếu.

Leonvu Quant dịch từ nguồn:

https://www.project-syndicate.org/c…

Triết học ngôn ngữ và tâm lý học khách quan – Phần cuối


Bản chất tư tưởng – xã hội của tâm lý

Vấn đề ký hiệu bên trong là một trong những vấn đề quan trọng nhất của triết học ngôn ngữ. Bởi lẽ ký hiệu bên trong chủ yếu là ngôn từ, lời nói bên trong. Vấn đề lời nói bên trong, cũng như tất cả các vấn đề được xem xét trong bài này, là một vấn đề triết học. Nó nằm ở giao điểm của tâm lý học và các vấn đề của khoa học về tư tưởng. Một giải pháp phương pháp luận mang tính nguyên tắc cho nó chỉ có thể có được trên cơ sở triết học ngôn ngữ như là triết học về ký hiệu. Từ là gì trong vai trò một ký hiệu bên trong? Lời nói bên trong được thực hiện dưới hình thức nào? Hình thức ấy liên hệ với bối cảnh xã hội ra sao? Nó liên quan như thế nào đến phát ngôn bên ngoài? Đâu là phương pháp để phát hiện, nắm bắt, như ta vẫn thường nói, lời nói bên trong? – Chỉ có một triết học ngôn ngữ chín muồi mới có thể trả lời những câu hỏi này.

Hãy thử xét câu hỏi thứ hai. –  Lời nói bên trong được thực hiện dưới hình thức nào?

Ngay từ đầu đã rõ ràng, rằng tất cả, không có ngoại lệ, các phạm trù được ngôn ngữ học phát triển để phân tích các hình thức bên ngoài của ngôn ngữ – lời nói (như từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm) đều không áp dụng được cho việc phân tích hình thức lời nói bên trong, và nếu có, thì cũng cần phải có những cách xử lý quan trọng, bản chất.

Một phân tích kỹ lưỡng hơn sẽ cho thấy rằng đơn vị của lời nói bên trong là một thứ chỉnh thể, ít nhiều tương tự như một đoạn văn trong một lời độc thoại, hay một phát ngôn trọn vẹn. Nhưng hơn hết, nó giống như những lời đối đáp trong một cuộc đối thoại. Không phải vô cớ mà lời nói bên trong được các nhà tư tưởng cổ đại cảm nhận như là đối thoại nội tâm. Những chỉnh thể này không thể phân tách được thành các yếu tố ngữ pháp (hoặc chỉ được phân tách một cách đại khái với nhiều chú giải), và giữa chúng, giống như giữa những lời đối đáp trong đối thoại, không có quan hệ ngữ pháp, mà là sự thống trị của các loại quan hệ khác. Các đơn vị này của lời nói bên trong, những “ấn tượng tổng quátcủa phát ngôn, gắn bó chặt chẽ với nhau và thay thế lẫn nhau không phải theo quy luật ngữ pháp hoặc lôgích, mà theo quy luật tương ứng giá trị (cảm xúc), quy luật tiến triển đối thoại,… trong mối phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện lịch sử của tình hình xã hội và toàn bộ tiến trình thực tiễn cuộc sống.

Chỉ bằng cách làm sáng tỏ hình thức của các phát ngôn hoàn chỉnh, đặc biệt là hình thức của lời đối thoại, chúng ta mới có thể soi sáng hình thức lời nói nội tâm và lôgích đặc thù của việc khảo sát chúng trong dòng chảy của cuộc sống nội tâm.

Tất cả những vấn đề của lời nói nội tâm, mà chúng ta vừa điểm qua, tất nhiên, hoàn toàn vượt ra ngoài khuôn khổ công trình này. Việc khảo sát chúng một cách hiệu quả, hiện nay, nói chung là không thể. Bởi trước tiên cần phải có một khối lượng khổng lồ các dữ liệu thực tế và cần phải làm rõ nhiều vấn đề xuất phát và cơ bản hơn nữa của triết học ngôn ngữ, đặc biệt, chẳng hạn, vấn đề phát ngôn.

Tiểu kết

Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng vấn đề khu biệt tâm lý và tư tưởng có thể giải quyết trong lãnh thổ ký hiệu tư tưởng, là lãnh thổ chung và bao quát cả hai.

Một cách biện chứng, giải pháp này cũng xóa đi mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy tâm lý và chủ nghĩa phản tâm lý.

Chủ nghĩa phản tâm lý đúng khi nó từ chối việc chiết xuất tư tưởng tâm lý. Hơn thế nữa, khi nó cho rằng tâm lý phải được chiết xuất từ tư tưởng. Tâm lý học phải dựa vào khoa học về tư tưởng. Từ trước hết phải được sinh ra và trưởng thành trong quá trình giao tiếp xã hội của các cơ thể để rồi sau đó mới đi vào cơ thể và trở thành ngôn từ bên trong.

Tuy nhiên, chủ nghĩa duy tâm lý cũng đúng. Không có ký hiệu bên ngoài mà thiếu ký hiệu bên trong. Ký hiệu bên ngoài, nếu không có khả năng gia nhập vào bối cảnh của các ký hiệu bên trong, tức là, không có khả năng để hiểu và trải nghiệm, sẽ không còn là ký hiệu, mà hóa thành một vật thể vật lý.

Ký hiệu tư tưởng sống động nhờ sự thực hiện tâm lý của nó, cũng như sự thực hiện tâm lý sống động nhờ nội dung tư tưởng. Trải nghiệm tâm lý – đó là một thứ nội tâm trở thành ngoại tâm, còn ký hiệu tư tưởng – bên ngoài trở thành bên trong. Trong cơ thể – tâm lý là một thứ kiều dân. Đó là một thứ mang tính xã hội xâm nhập vào cơ thể của một cá nhân. Cũng vậy, mọi thứ mang tính tư tưởng đều là kiều dân trong lãnh thổ kinh tế – xã hội, bởi lẽ ký hiệu tư tưởng, nằm bên ngoài cơ thể, cần phải nhập vào thế giới nội tâm để thực hiện ý nghĩa của nó.

Như vậy, giữa tâm lý và tư tưởng tồn tại một mối quan hệ tương hỗ biện chứng không thể tách rời: tâm lý tự loại bỏ, tự phá hủy để trở thành tư tưởng và tư tưởng tự loại bỏ, tự phá hủy để trở thành tâm lý; ký hiệu nội tâm cần phải thoát khỏi tình trạng chìm ngập trong bối cảnh tâm lý (sinh học – tiểu sử), phải thôi là trải nghiệm chủ quan, để trở thành ký hiệu tư tưởng; còn ký hiệu tư tưởng thì phải đằm mình vào tập hợp các ký hiệu chủ quan nội tâm, phải vang lên bằng âm điệu chủ quan, để tiếp tục là ký hiệu sống động, mà không rơi vào địa vị danh dự của một hiện vật bảo tàng không ai hiểu.

Đây là sự tương tác biện chứng giữa ký hiệu bên trong và ký hiệu bên ngoài – giữa tâm lý và tư tưởng – sự tương tác đã nhiều lần thu hút sự chú ý của các nhà tư tưởng, tuy nhiên vẫn chưa được hiểu đúng và vẫn chưa được thể hiện đầy đủ.

Trong thời gian gần đây, nhà triết học và xã hội học quá cô Georg Simmel là người đưa ra những phân tích sâu sắc và thú vị nhất về mối tương tác này.

Simmel tiếp nhận mối tương tác này trong hình thức đặc trưng cho lối tư duy tư sản hiện đại – như là một “bi kịch văn hóa”, hay chính xác hơn, bi kịch của cá tính chủ quan sáng tạo văn hóa. Cá tính sáng tạo, theo Simmel, thủ tiêu chính mình, tính chủ quan của mình và cả “cá tính” trong sản phẩm khách quan mà chính nó tạo ra. Sự ra đời của các giá trị văn hóa khách quan có tiền đề là cái chết của tâm hồn chủ quan.

Chúng ta sẽ không đi vào chi tiết phân tích của Simmel về toàn bộ vấn đề này; trong đó có không ít quan sát tinh tế và thú vị. Chúng ta chỉ lưu ý những điểm bất cập chính trong quan niệm của Simmel.

Giữa tâm lý và tư tưởng, theo Simmel, có một khoảng cách không thể vượt qua: ông không biết đến thứ ký hiệu có hình thức thực tại chung cho tâm lý và tư tưởng. Ngoài ra, là một nhà xã hội học, nhưng ông vẫn không đánh giá đúng mức tính xã hội đậm đặc của cả thực tại tâm lý lẫn thực tại tư tưởng. Bởi lẽ, cả hai loại thực tại đó đều là sự khúc xạ của cùng một thực tại kinh tế – xã hội. Kết quả là, mâu thuẫn biện chứng sống động giữa tâm lý và thực tại, đối với Simmel, hóa thành một sự đối kháng trơ lì, bất động, thành một “bi kịch”. Ông đã cố gắng một cách vô vọng để khắc phục sự đối kháng tất yếu này bằng tính năng động mang màu sắc siêu hình của quá trình cuộc sống.

Chỉ trên cơ sở nhất nguyên luận duy vật mới có thể giải quyết một cách biện chứng tất cả những mâu thuẫn như vậy. Dựa trên các cơ sở khác, với những mâu thuẫn này, chúng ta hoặc phải bỏ qua, nhắm mắt làm ngơ, hoặc phải biến chúng thành những sự đối lập bế tắc, thành ngõ cụt của bi kịch.

Trong từ, trong mỗi phát ngôn, bất kể nó vớ vẩn đến mức nào, trong mọi trường hợp, bao giờ cũng diễn ra sự tổng hợp biện chứng sống động của tâm lý và tư tưởng, của cái bên trong và cái bên ngoài. Trong mỗi hành vi nói, trải nghiệm chủ quan bị phá hủy trong sự kiện khách quan của ngôn từ – tức phát ngôn – được nói, còn ngôn từ được nói thì lại được chủ quan hóa trong hành động hiểu đáp lại, để sớm hay muộn cũng sản sih ra một lời đáp. Mỗi từ, như chúng ta đều biết, là một đấu trường nhỏ của sự giao thoa và đấu tranh của các trọng âm xã hội theo các hướng khác nhau. Ngôn từ trên mỗi một cá nhân cụ thể đều là sản phẩm của sự tương tác sống động giữa các lực lượng xã hội.

Như thế, tâm lý và tư tưởng xâm nhập lẫn nhau một cách biện chứng trong quá trình giao tiếp xã hội khách quan và thống nhất.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQG HN 2015.

Triết học ngôn ngữ và tâm lý học khách quan – Phần IV


Như vậy, mọi ký hiệu, thậm chí cả ký hiệu cá nhân, đều mang tính xã hội. Vậy đâu là sự khác nhau giữa ký hiệu bên trong và ký hiệu bên ngoài, giữa ký hiệu tâm lý và ký hiệu tư tưởng?

– Ý nghĩa được thực hiện trên vật liệu của vận động bên trong là ý nghĩa hướng tới cơ thể, tới một cá thể nhất định; nó được xác định trước hết bởi bối cảnh cuộc sống riêng của cá nhân ấy. Về phương diện này, trong quan điểm của các đại diện của trường phái tâm lý học chức năng có một số điểm hợp lý nhất định. Bỏ qua sự thống nhất đặc thù của tâm lý – khác với sự thống nhất của hệ tư tưởng – là điều không thể chấp nhận. Tính đặc thù của sự thống nhất tâm lý hoàn toàn tương thích với cách hiểu mang tính tư tưởng và xã hội về tâm lý.

Trên thực tế, bất kỳ ý nghĩ mang tính nhận thức nào, dù ở trong ý thức hay trong tâm lý của tôi, khi nó được thực hiện, như chúng ta đã nói, đều được định hướng tới hệ thống tư tưởng của nhận thức, trong đó ý nghĩa ấy tìm thấy vị trí của nó. Ý nghĩ của tôi, theo nghĩa này, ngay từ đầu đã thuộc về một hệ tư tưởng và bị điều chỉnh bởi các quy luật của nó. Nhưng đồng thời nó cũng thuộc về một hệ thống khác, cũng duy nhất và cũng có những quy luật riêng của nó – đó là hệ thống tâm lý của tôi. Sự thống nhất của hệ thống này được xác định không chỉ bởi sự thống nhất của cơ thể sinh học của tôi, mà còn bởi tổng thể các điều kiện cuộc sống và xã hội, trong đó cơ thể ấy được đặt vào. Khi nghiên cứu suy nghĩ của tôi, nhà tâm lý học cần phải hướng tới sự thống nhất hữu cơ ấy của cá nhân tôi cũng như hướng tới các điều kiện tồn tại cụ thể của tôi. Còn nhà nghiên cứu tư tưởng thì chỉ quan tâm đến ý nghĩ này về mặt đóng góp của nó vào hệ thống nhận thức mà thôi.

Hệ thống tâm lý, được xác định bởi các yếu tố hữu cơ và tiểu sử (theo nghĩa rộng của từ này), tuyệt nhiên không đơn thuần là kết quả của “quan điểm” của nhà tâm lý học. Không, đây là một sự thống nhất có thực, cũng thực như cá thể sinh học, cơ sở của nó và cũng thực như tổng thể các điều kiện đời sống quyết định cuộc sống của cá thể này. Ký hiệu bên trong càng đan quyện chặt chẽ vào sự thống nhất của hệ thống tâm lý, càng bị quy định mạnh mẽ bởi các yếu tố sinh học và tiểu sử, thì nó càng cách xa sự biểu hiện tư tưởng đã hoàn tất. Ngược lại, trong quá trình hình thành và biểu hiện tư tưởng, ký hiệu bên trong dường như được giải thoát khỏi gông cùm của bối cảnh tâm lý giam giữ nó.

Điều này cũng quyết định sự khác biệt giữa quá trình hiểu ký hiệu bên trong, tức trải nghiệm, và quá trình hiểu ký hiệu thuần túy tư tưởng bên ngoài. Trong trường hợp đầu, hiểu có nghĩa là quy chiếu ký hiệu bên trong tới sự thống nhất của các ký hiệu bên trong khác, cảm nhận nó trong một bối cảnh tâm lý nhất định: trong trường hợp thứ hai – đó là cảm nhận ký hiệu đã cho trong hệ thống tư tưởng tương ứng. Quả thực, cả trong trường hợp đầu cũng cần phải xem xét ý nghĩa thuần túy tư tưởng của trải nghiệm: bởi nếu không hiểu ý nghĩa thuần túy nhận thức, có thể nói vậy, của một ý nghĩ, thì nhà tâm lý học cũng sẽ không thể hiểu được vị trí của nó trong bối cảnh tâm lý tương ứng. Nếu ông ta bỏ qua ý nghĩa nhận thức của ý nghĩ, thì trước mặt ông ta sẽ không còn suy nghĩ, không còn ký hiệu, mà chỉ còn lại một quá trình sinh lý học thuần túy trong cơ thể để thực hiện cái ý nghĩ, cái ký hiệu này. Chính vì vậy, tâm lý học nhận thức cần phải dựa trên ký thuyết về nhận thức và lôgích học, và nói chung tâm lý học phải dựa vào khoa học về tư tưởng chứ không phải là ngược lại.

Phải nói rằng mọi sự thể hiện ký hiệu bên ngoài, ví dụ, một phát ngôn, đều có thể được xây dựng theo hai hướng: tới chủ thể và từ chủ thể – tức là hướng tới hệ tư tưởng. Trong trường hợp đầu, mục đích của phát ngôn là thể hiện bằng ký hiệu bên ngoài các ký hiệu bên trong, có thể nói như vậy, và đòi hòi người nghe quy chiếu nó về bối cảnh bên trong, nghãi là hiểu một cách hoàn toàn tâm lý. Trường hợp thứ hai đòi hỏi một sự hiểu nội dung phát ngôn mang tính quy chiếu khách quan, thuần túy tư tưởng.

Sự khu biệt giữa tâm lý và tư tưởng diễn ra như thế.

Vấn đề tự nhìn nhận

Hình thức của tâm lý, của ký hiệu bên trong, mà chúng ta tiếp nhận được để quan sát và nghiên cứu, hình thức đó như thế nào? – Ở dạng thuần túy nhất của nó, ký hiệu bên trong, nghãi là trải nghiệm bên trong, chỉ có thể được tiếp nhận bởi sự nhìn nhận (nội quan).

Nội quan liệu có vi phạm sự thống nhất của trải nghiệm khách quan, bên ngoài hay không?

– Nếu hiểu đúng về tâm lý và nội quan thì không hề có vi phạm.

Trong thực tế, đối tượng của sự nội quan là ký hiệu bên trong, mà thật ra cũng có thể là ký hiệu bên ngoài. Lời nói bên trong cũng có thể vang lên. Kết quả của sự nội quan, trong quá trình tự tìm hiểu, nhất thiết phải được biểu hiện ra ngàoi hoặc, trong mọi trường hợp, ít nhất là tiếp cận đến trạng thái biểu hiện ra bên ngoài. Sự nội quan, về bản chất, chuyển động theo hướng từ ký hiệu bên trong đến ký hiệu bên ngoài. Như vậy, tính khả biểu thuộc về chính sự nội quan.

Nội quan là sự biểu hiện ký hiệu bên trong của chính mình. Chính vì vậy, nó khác với sự quan sát một sự vật vật lý hay một quá trình vật lý. Chúng ta không nhìn thấy và không chạm tới trải nghiệm: chúng ta hiểu nó. Điều này có nghĩa là trong quá trình nội quan, chúng ta đặt nó vào trong một bối cảnh nào đó của các ký hiệu được hiểu khác. Ký hiệu chỉ có thể được làm sáng tỏ nhờ sự trợ giúp của ký hiệu khác.

Nội quan là sự hiểu và do đó tất yếu phải diễn ra theo một xu hướng tư tưởng cụ thể nào đó. Quả thực, nó có thể được thự chiện vì những mục đích tâm lý, nhưng cả trong trường hợp đó nó cũng hiểu trải nghiệm trong một bối cảnh của các ký hiệu bên trong khác, hướng về sự thống nhất của cuộc sống tâm lý.

Trong trường hợp này, sự nội quan rọi sáng  các ký hiệu bên trong bảng hệ thống nhận thức của các ký hiệu tâm lý, làm rõ và phân biệt các trải nghiệm, hướng tới một mô tả chính xác về nó. Nhiệm vụ này được đặt ra, chẳng hạn, cho các đối tượng khảo sát trong một thí nghiệm tâm lý học. Phát ngôn của đối tượng được khảo sát là một báo cáo tâm lý hoặc một bán thành phẩm của một báo cáo như thế.

Nhưng nội quan cũng có thể đi theo hướng khác, về phía sự tự khách quan hóa luân lý và đạo đức. Ở đây, ký hiệu bên trong được đưa vào hệ thống các đánh giá và chuẩn mực đạo đức, được hiểu và trở nên rõ ràng từ quan điểm của chúng.

Nội quan, với tư cách là sự hiểu, cũng có thể có các định hướng khác. Nhưng ở mọi nơi mọi lúc, nội quan đều chủ động hướng tới việc làm sáng tỏ ký hiệu bên trong, tới việc tăng cường độ sáng tỏ ký hiệu của nó. Quá trình này đạt đến giới hạn của nó khi đối tượng nội quan được hiểu hết, tức là, có thể trở thành đối tượng của không chỉ sự nội quan, mà còn của cả sự quan sát tư tưởng (ký hiệu) thông thường.

Do đó, nội quan, như là một sự hiểu mang tính tư tưởng, thuộc về sự thống nhất của trải nghiệm khách quan. Thêm nữa, cần phải bổ sung điều sau đây: trong từng trường hợp cụ thể, không thể vẽ một đường ranh giới rạch ròi giữa các ký hiệu bên trong và ký hiệu bên ngoài, giữa nội quan và ngoại quan – quá trình đưa ra những chú giải liên tục, cả chú giải ký hiệu lẫn thực tiễn, đối với các ký hiệu bên trong được hiểu.

Các chú giải thực tiễn luôn luôn hiện hữu. Sự hiểu bất kỳ ký hiệu nào, cả bên ngoài và bên trong, đều diễn ra trong mối liên hệ chặt chẽ với toàn bộ tình huống thực hiện ký hiệu. Tình huống này ngay cả trong sự nội quan cũng được tiếp nhận như là một tập hợp các dữ kiện của trải nghiệm bên ngoài, chú giải, soi sáng cho ký hiệu bên trong. Tình trạng ấy bao giờ cũng là tình huống xã hội. Sự định hướng trong tâm hồn mình (nội quan), trên thực tế, không thể tách rời khỏi sự định hướng trong một tình huống xã hội nhất định của trải nghiệm. Vì vậy, tính sâu sắc của sự nội quan phụ thuộc chặt chẽ vào tính sâu sắc của sự hiểu biết về định hướng xã hội. Việc bỏ qua hoàn toàn định hướng xã hội dẫn đến việc triệt tiêu hoàn toàn trải nghiệm chẳng khác gì việc bỏ qua hoàn toàn bản chất ký hiệu của nó. Như chúng ta sẽ thấy kỹ hơn trong phần sau, ký hiệu và tình huống xã hội của nó gắn bó chặt chẽ với nhau. Ký hiệu không thể tách rời khỏi tình huống xã hội mà không mất đi bản chất ký hiệu của nó.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQG HN 2015.

Triết học ngôn ngữ và tâm lý học khách quan – Phần III


Lý luận tâm lý học và lý luận phản tâm lý học

Dường như có một kiểu thay đổi luân phiên giữa một xu hướng duy tâm lý tự nhiên, nhấn chìm mọi nghiên cứu tư tưởng và xu hướng quyết liệt phản tâm lý, gạt bỏ tất cả các nội dung khỏi tâm lý, quy nó về một vị trí hình thức chủ nghĩa, gần như trống rỗng (như trong tâm lý học chức năng) hoặc đến một quan điểm sinh lý học trần trụi. Còn tư tưởng, một khi bị quan điểm phản tâm lý liên tục tước mất vị trí tồn tại bình thường của nó (cụ thể là ở tâm lý), nói chung là không còn nơi tồn tại, buộc phải rút từ thực tại vào khoảng không siêu nghiệm, hoặc thậm chí trực tiếp hóa thành siêu nghiệm.

Vào đầu thế kỷ XX, chúng ta vừa được trải nghiệm một đợt sóng phản tâm lý mạnh mẽ (nhưng, tất nhiên, còn xa mới là đợt đầu tiên trong lịch sử). Các tác phẩm nền móng của Husserl, đại diện chính của chủ nghĩa phản tâm lý hiện đại; các công trình của những môn đệ của ông – những nhà dự định luận (“hiện tượng luận”); sự chuyển đột ngột theo hướng phản tâm lý của các đại diện Kant – mới đương đại thuộc trường phái Marburg và Freiburg; việc gạt bỏ quan điểm duy tâm lý ra khỏi tất cả các lĩnh vực của kiến thức, thậm chí cả tâm lý học (!) – tất cả những điều này là sự phát triển triết học và phương pháp luận quan trọng nhất của hai thập niên vừa qua của thế kỷ này.

Hiện nay, làn sóng phản tâm lý bắt đầu giảm bớt. Thay thế nó là một làn sóng mới, và có thể thấy rõ là rất mạnh mẽ, của chủ nghĩa tâm lý. Hình thức thời thượng của chủ nghĩa duy tâm lý là triết học cuộc sống. Dưới thương hiệu “triết học cuộc sống”, thứ chủ nghĩa duy tâm lý hung hãn nhất, với tốc độ nhanh bất thường, một lần nữa lại chiếm lĩnh tất cả những vị trí mà nó mới từ bỏ gần đây trong tất cả các lĩnh vực của triết học và khoa học về tư tưởng.

Làn sóng duy tâm lý đang đến gần không mang theo nó bất cứ nguyên lý mới nào về thực tại tâm lý. Trái ngược với xu hướng duy tâm lý thực chứng – kinh nghiệm chủ nghĩa (mà đại diện điển hình là Wundt) trước đó (nửa sau thế kỷ XIX), xu hướng duy tâm lý mới nhất này thiên về việc giải thích tồn tại bên trong, giải thích “bản chất của trải nghiệm” – theo cách nói của siêu hình học.

Như vậy, sự thay đổi biện chứng giữa chủ nghĩa duy tâm lý và chủ nghĩa phản tâm lý không dẫn đến sự xuất hiện của một hợp đề biện chứng. Cho đến nay, cả vấn đề tâm lý học lẫn vấn đề tư tưởng đều chưa được triết học tư sản giải quyết thỏa đáng.

Đặc điểm của ký hiện bên trong (ngôn ngữ bên trong)

Cơ sở để giải quyết cả hai vấn đề phải được xác định đồng thời và trong mối tương quan chặt chẽ. Chúng tôi tin rằng cả hai lĩnh vực sẽ được tiếp cận một cách khách quan bằng cùng một chìa khóa duy nhất. Chiếc chìa khóa đó chính là triết học về ký hiệu, cũng tức là triết học về ngôn từ, như là một ký hiệu tư tưởng par excellence. Ký hiệu tư tưởng – đó là lãnh thổ chung của tâm lý và tư tưởng, một lãnh thổ vật chất, xã hội và có ý nghĩa. Chính trong lãnh thổ này cũng xảy ra sự phân chia giữa tâm lý và tư tưởng. Tâm lý không phải là một bản sao của phần còn lại của thế giới (trước hết là tư tưởng) và phần còn lại của thế giới không nhất thiết phải là một chủ giải vật chất so sài cho một cuộc độc thoại tâm lý.

Nhưng nếu thực tại của tâm lý là một thực tại ký hiệu, thì làm sao vạch ra được ranh giới giữa tâm lý chủ quan cá nhân và hệ tư tưởng theo đúng nghãi của từ này, vì hệ tư tưởng cũng là một thực tại ký hiệu? Cho đến lúc này chúng ta mới chỉ ra lãnh thổ chung, bây giờ cần phải vạch ra biên giới tương ứng bên trong lãnh thổ ấy.

Bản chất của vấn đề này, tóm lại, là xác định cái ký hiệu bên trong (trong cơ thể), cho phép ta tự nhìn nhận trong thực tại trực tiếp của nó.

Nhìn từ quan điểm của bản thân nội dung tư tưởng, giữa tâm lý và tư tưởng không có và không thể có ranh giới. Mọi nội dung tư tưởng, không có ngoại lệ, bất kể nó được thể hiện bằng chất liệu ký hiệu gì, đều có thể hiểu được, do đó, đều có thể thể hiện trong tâm lý, nghĩa là, có thể được tái tạo bằng chất liệu ký hiệu bên trong. Mặt khác, mọi hiện tượng tư tưởng, trong quá trình hình thành nó, đều xuyên qua tâm lý như là một giai đoạn tất yếu. Xin nhắc lại, mọi ký hiệu tư tưởng bên ngoài, bất kể nó thuộc loại nào, đều được gột rửa từ mọi phía bởi ký hiệu bên trong – bởi ý thức. Nó sinh ra từ biển cả các ký hiệu bên trong ấy và trong biển ký hiệu ấy nó tiếp tục sống, bởi vì cuộc sống của ký hiệu bên ngoài là trong quá trình đổi mới không ngừng của sự hiểu, trải nghiệm và học hỏi, tức là, trong sự tham dự không ngừng vào bối cảnh nội tâm.

Vì vậy, từ quan điểm nội dung, giữa tâm lý và tư tưởng không có ranh giới nguyên tắc mà chỉ có một sự khác nhau về mức độ: ideologeme (yếu tố tư tưởng) ở giai đoạn phát triển bên trong chưa được thể hiện qua một chất liệu tư tưởng bên ngoài, là một ideologeme mơ hồ; nó chỉ được hiểu, được phân biệt, được cố định trong quá trình hóa thân thành tư tưởng. Ý định luôn luôn nhỏ hơn sáng tạo (ngay cả khi sáng tạo không thành công). Ý tưởng, khi mới chỉ tồn tại trong bối cảnh ý thức của tôi và chưa được củng cố trong bối cảnh của khoa học như là một hệ thống tư tưởng thống nhất, vẫn còn là một ý tưởng mơ hồ và chưa hoàn chỉnh. Nhưng ngay ở trong bối cảnh ý thức của tôi, ý tưởng này đã hướng về hệ thống tư tưởng và bản thân nó được sinh ra bởi các ký hiệu tư tưởng mà tôi đã thu nhận trước đó… Xin nhắc lại, các ký hiệu tư tưởng mà tôi đã thu nhận trước đó… Xin nhắc lại, ở đây không có sự khác biệt về chất. Nhận thức trong sách vở và lời nói của người khác và nhận thức trong đầu cùng thuộc về một vùng thực tại, và sự khác biệt, dù tồn tại trong đầu và sách vở, không liên quan đến nội dung của nhận thức.

Khó khăn lớn nhất đối với chúng ta trong việc phân định tâm lý và tư tưởng là khái niệm “cá nhân”. Cá nhân thường được quan niệm như là cái đối lập của “xã hội”. Từ đó, tâm lý thường được cho là có tính cá nhân, còn tư tưởng thì có tính xã hội.

Cách hiểu đó sai lầm từ cội rễ. Đối lập với “xã hội” là “tự nhiên”, do đó, không phải là cá nhân hiểu như là một cá tính, mà như là một cá thể sinh học tự nhiên. Cá nhân, với tư cách là chủ suy nghĩ của mình, tư cách là kẻ chịu trách nhiệm về suy nghĩ và mong muốn của mình, một cá nhân như vậy là một hiện tượng xã hội và tư tưởng trọn vẹn. Vì vậy, nội dung của tâm lý “cá nhân” về bản chất cũng mang tính xã hội chẳng khác gì tư tưởng, và mức độ ý thức về bản sắc cá nhân và các quyền năng nội tâm của mỗi người cũng mang tính tư tưởng và lịch sử, hoàn toàn bị quy định bởi các yếu tố xã hội. Mọi ký hiệu, về bản chất, đều mang tính xã hội, và ký hiệu bên trong cũng mang tính xã hội không ít hơn ký hiệu bên ngoài.

Để tránh nhầm lẫn, luôn luôn cần phải phân biệt rạch ròi giữa một bên là khái niệm cá thể mang tính đơn nhất, tự nhiên, không gắn gì với thế giới xã hội, như nó được biết và nghiên cứu bởi nhà sinh vật học, và bên kia là khái niệm cá nhân, đã là một kiến trúc thượng tầng mang tính tư tưởng và ký hiệu nằm bên trên cá thể tự nhiên và do đó mang tính xã hội. Hai nghĩa của từ “cá nhân” (cá thể tự nhiên và bản sắc cá nhân) thường bị lẫn với nhau, kết quả lý trong lý luận của đa số các nhà triết học và tâm lý học thường xuyên có terminorum quaternio: lúc được hiểu thế này, lúc được hiểu thế khác.

Nếu nội dung của tâm lý cá nhân cũng mang tính xã hội như tư tưởng, thì nhìn từ phương diện khác, các hiện tượng tư tưởng cũng mang tính cá nhân (theo nghĩa tư tưởng của từ này) chẳng khác gì các hiện tượng tâm lý. Mọi sản phẩm tư tưởng đều mang dấu ấn cá nhân của tác giả hoặc các tác giả tạo ra nó, nhưng dấu ấn này cũng mang tính xã hội như tất cả các đặc tính và dấu hiệu khác của các hiện tượng tư tưởng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQG HN 2015.

Tội phạm và những ngộ nhận – Phần cuối


Dù bóng ma sợ hãi đó là những kẻ nổ súng ở trường học hay những kẻ đang rình mò trong xó tối thì vẫn không thể phủ nhận được những tác hại của nó. Trong một cuộc khảo sát năm 1993, Kidscape, một tổ chức phi chính phủ hoạt động nhằm bảo vệ trẻ em đã cho biết nỗi sợ hãi lớn nhất của các bậc cha mẹ ở Anh là con cái họ bị người lạ bắt cóc đi. Một cuộc thăm dò dư luận do công ty nghiên cứu NOP tiến hành năm 1993 cũng cho thấy 3/4 số phụ huynh ở Anh tin rằng việc con cái họ ra ngoài chơi ngày càng nguy hiểm và 2/3 nói rằng họ rất lo lắng mỗi khi con cái rời khỏi nhà. 1/3 số trẻ chưa bao giờ đi đâu một mình. Chắc chắn là đang có nhiều trẻ em không biết làm gì cả – theo một cuộc khảo sát thì gần một nửa số trẻ em ở Anh dành ít nhất là 3 giờ đồng hồ chỉ để ngồi nhìn chăm chăm vào tivi hoặc máy vi tính. Theo lời vị giám đốc của một cơ quan bảo trợ trẻ em thì chúng đang được nuôi dạy như “những chú gà công nghiệp”.

Chúng ta chỉ có thể phỏng đoán về hậu quả của việc nuôi dạy con kiểu này như nhiều chuyên gia đã được cảnh báo. Năm 2007, một nhóm 270 nhà trị liệu và tâm lý học thiếu niên từ Anh, Mỹ, Canada và Australia đã nhấn mạnh về một bức thư ngỏ gửi cho tờ báo Daily Telegraph của Anh nói rằng “hoạt động vui chơi ngoài trời thoải mái không có sự giám sát” rất cần thiết đối với sự phát triển của trẻ và nếu không có nó – một phần là do “bố mẹ đã quá lo lắng về sự nguy hiểm từ người lạ” sẽ sinh ra “một loạt vấn đề về sức khỏe tinh thần cho những đứa trẻ”.

Phải thừa nhận là điều này nói chung vẫn chỉ là phỏng đoán, nhưng nó còn đáng quan tâm hơn việc bị người lạ bắt cóc và những nỗi lo sợ đang phổ biến khác. Và khi các cô bé cậu bé tiếp tục được dạy rằng người lạ nào cũng là một mối đe dọa, khi nhiều thế hệ được dạy bảo rằng nguy hiểm đang rình rập khắp các ngóc ngách thì đó chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi chúng ta có thêm bằng hcứng về tác động của điều này đối với những đứa trẻ khi lớn lên và đối với xã hội mà chúng tạo dựng lên.

Thật không may là nỗi sợ hãi đối với bạo lực đang gặm nhấm chúng ta và hiện vẫn đang lan rộng vì chúng che đậy một điều vô cùng quan trọng đó là các nước phát triển hiện đại đã trở thành một trong không nhiều xã hội yên bình nhất trong lịch sử loài người. Tất nhiên, đây là điều khác hẳn với những gì mà mọi người vẫn nghĩ mà chẳng hiểu tại sao. Hầu hết mọi người đều biết rằng tình hình tội phạm bắt đầu tăng nhanh trong những năm 1960, gia tăng trong những năm 1970 và lên đến đỉnh điểm trong những năm 1980. Đến nửa đầu những năm 1990, tình hình tội phạm ở hầu hết các nước hoặc là giữ nguyên hoặc là giảm đi đáng kể (thậm chí là giảm mạnh ở Canada và Mỹ) nhưng vẫn nhiều hơn trong những năm 1950. Ở Mỹ, tỷ lệ sát hại là 5,6 trên 100.000 dân cư so với năm 1955 chỉ là 4,1. Ở nước Anh và xứ Wales, tỉ lệ này năm 2005 là 1,4, gấp đôi tỷ lệ 0,63 của năm 1955.

Nhưng đây chỉ là những số liệu trong hơn 5 thập kỷ qua, chưa bằng một đời người. Sự lâu dài phải tính bằng thế kỷ chứ không phải thập kỷ và khi đó thì chúng ta mới biết là mình đang sống trong thời đại yên bình như thế nào.

Đây là một câu chuyện cũng có thể thành tin chính vào năm 1278 nếu lúc đó báo chí đã ra đời ở London: “Khi Symonet Spinelli, cô hầu Agnes và Geoffrey Bereman cùng ở trong nhà của Geoffrey thì một cuộc tranh cãi nổ ra giữa họ. Symonet rời khỏi căn nhà rồi đến cuối ngày khi trở lại nhà của Geoffrey le Gorger cùng với anh hầu Richard Russel thì lại gặp Geoffrey. Một cuộc cãi vã lại nổ ra thế rồi Richard và Symonet giết chết Geoffrey”. Nhà sử học James Buchanan Given phát hiện ra câu chuyện này khi đang tìm hiểu đống hồ sơ của các “tòa án lưu động” – các hồ sơ quá đầy đủ nên Given có thể tính toán tỉ lệ sát hại ở London năm 1278 là 15 người trên 100.000 cư dân, cao hơn gần 11 lần tỉ lệ hiện nay.

Kể từ khi Given kết thúc nghiên cứu của mình thì đã có nhiều nhà sử học khác cũng làm công việc tương tự ở Anh và các nước Tây Âu khác và kết quả luôn như nhau. Nhà tội phạm học Manuel Eisner ở trường Đại học Cambridge cho biết đến cuối thời Trung Cổ, “có khoảng 20 vụ giết người trên 100.000 dân”, tức là cao hơn tỷ lệ hiện nay ở Anh là 14 lần và cao hơn ở Mỹ gần 4 lần mặc dù giờ người Mỹ còn được hỗ trợ rất nhiều bởi rất rất nhiều loại súng đạn rẻ tiền mà thời Trung Cổ không có.

Nếu điều này chỉ đúng với Tây Âu cuối thời Trung cổ thì nó cũng không còn thật phù hợp với ngày nay. Nhưng các nhà sử học và các nhà tội phạm học đã đào xới hàng đống tư liệu ở Tây Âu và phát hiện ra một điểm chung bất ngờ: Tỷ lệ giết người dã man ở thời Trung cổ đã giảm dần từ từ sau nhiều thập kỷ và thế kỷ và dừng lại khi bước sang đầu thế kỷ 20. Chúng dao động lên xuống cho đến thập kỷ 1960, tăng lên một chút trong những năm 1980  hoặc 1990 rồi giảm trở lại. Và vì vậy, bất chấp sự gia tăng tội phạm trong những thập kỷ gần đây, tỉ lệ các vụ sát hại hiện nay đang ở mức thấp nhất trong suốt 8 thế kỷ qua.

Chúng cũng có thể là mức thấp nhất từ xưa đến nay. Như Lawrence Keeley đã nêu trong cuốn Cuộc chiến trnah trước nền văn minh: Huyền thoại về người man rợ hiền lành, các nhà khảo cổ và nhân loại học đang tích cực tập hợp các bằng chứng cho thấy các mức độ bạo lực trong các giống người cổ đại và các bộ lạc cô lập ở thời hiện đại đã và đang cao một cách đáng sợ. Trong nhiều thập kỷ, bộ lạc Kung San ở Sa mạc Kalahari vẫn được du khách coi là hiền lành. Một cuốn sách nói về họ còn lấy nhan đề Những người vô hại. Keely viết, nhưng khi tìm hiểu kỹ hơn, các nhà nghiên cứu nhận thấy tỉ lệ sát hại là “cao hơn ở các nước công nghiệp lớn trong những năm 1950, 1960 đến 20 đến 80 lần”. Khi một nhóm tách biệt 15 gia đình Eskimo Copper lần đầu được tiếp xúc vào đầu thế kỷ 20 “mọi đàn ông trưởng thành đều đã từng liên quan đến việc giết người”. Đến cuối thế kỷ 19, bộ lạc Yaghan gồm những người du mục sống cô lập ở mỏm cực nam của Nam Mỹ được cho là có tỷ lệ giết người cao hơn ở Mỹ đến 10 lần.

Một vài nhà nghiên cứu cho rằng coi những kiểu giết chóc này là “sát hại” là không đúng vì một số loại bạo lực còn giống với chiến tranh hơn là tội phạm trong nước. Dễ dàng tin vào điều đó, Keely lấy các vị dụ về Gebuyti, một bộ lạc ở New Guinea. “Theo tính toán thì quân đội Mỹ có lẽ đã giết hại gần một nửa số dân ở miền Nam Việt Nam trong suốt 9 năm can dự ở đây, cộng với tỉ lệ sát hại torng nước thì sẽ bằng với tỷ lệ sát hại của bộ lạc Gebuyti”.

Kết hợp ví dụ này với nhiều ví dụ tương tự khác cho thấy mức độ bạo lực ở các nước phát triển hiện nay còn thấp hơn nhiều so với mức bình thường của con người. Thực ra, có thể nó còn nằm trong số thấp nhất trong toàn bộ lịch sử loài người.

Và không chỉ là tình trạng bạo lực lộn xộn đã suy giảm mà trong mấy thập kỷ gần đây kể cả chiến tranh cũng đang giảm bớt. Năm 2005, Monty Marshall thuộc Đại học George nói với tờ New York Times rằng “Giờ còn rất ít chiến tranh xuyên thế kỷ so với trước đây và nội chiến cũng ít xảy ra hơn bất kỳ thời điểm này kể từ những năm 1960. Một nghiên cứu lớn của Trung tâm An ninh Con người Đại học Columbia thuộc Anh cũng đưa ra kết luận tương tự. Báo cáo này cho rằng “Trong hơn chục năm qua, môi trường an ninh toàn cầu đã thay đổi đáng kể, theo hướng tích cửc và khá bất ngờ”. “Nội chiến, sự giệt chủng và khủng hoảng quốc tế đã giảm mạnh. Không chỉ là nội chiến mà các cuộc chiến tranh quy mô quốc tế cũng như các cuộc đảo chính quân sự và số người chết trung bình trong mỗi cuộc xung đột đã giảm dần trong một thời gian dài”. Báo cáo cũng cho biết, chỉ nói riêng từ đầu những năm 1990, các cuộc xung đột vũ trang dưới nhiều hình thức khác nhau đã giảm đến 40%. Nhưng Andrew Mack, giám đốc trung tâm này lại nói với tôi rằng hầu hết mọi người đều nghĩ ngược lại. Đó là vì “bất cứ khi nào một cuộc chiến nổ ra hoặc có một nhân tố khủng bố chính trị rõ ràng hay bất cứ thứ gì khác xuất hiện thì càng đổ máu nhiều càng được đăng tải nhiều. Khi cuộc chiến lặng dẫn đến hồi kết thì việc đăng tải cũng sẽ mất dần. Nếu có được đăng tải lên thì sẽ chỉ xuất hiện trong một đoạn trên trang 16 của tờ New York Times. Và vì vậy ấn tượng song hành với con người là số lượng các cuộc chiến vẫn tăng đều đều và họ không hiểu là thực ra có nhiều cuộc chiến đang đi đến hồi kết hơn là những cuộc chiến mới nổ ra.

Tội phạm đang đi xuống. Chiến tranh cũng giảm bớt. Và đó chưa phải là phần kết của những tin tức tốt lành. Steven Pinker viết “Tiêu khiển bằng những trò dã man, thỏa mãn sự cuồng tín bằng sự hi sinh của con người, tiết kiệm sức người bằng cỗ máy nô lệ, lấy chinh phục làm tuyên ngôn về sứ mệnh của chính phủ, lấy diệt chủng để giành đất đai, lấy tra tấn và gây tổn thương làm hình phạt thường xuyên, lấy án tử hình để trừng phạ những vi phạm và bất đồng ý kiến, lấy ám sát làm công cụ thay thế chính trị, lấy cưỡng đoạt làm chiến lợi phẩm chiến tranh, lấy tàn sát thỏa cơn tức giận, lấy sát hại là cách giải quyết xung đột chính – tất cả đang là những đặc điểm không thể phủ nhận trong suốt chiều dài lịch sử loài người”. “Nhưng ngày nay chúng ít xảy ra đến mức không còn tồn tại ở phương Tây và giảm đi rất nhiều so với trước ở các nơi khác. Chúng chỉ có thể bị che đậy khi mới xảy ra những sẽ bị lên án rộng rãi khi được đưa ra ánh sáng”.

Nói ngắn gọn lại là chúng ta đang văn minh hơn. Đây đúng ra là một tin rất tốt lành. Nhưng bạn đừng mong là sẽ nghe được tin này trên CNN.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Dam Garder – Nguy cơ, khoa học & chính trị về nỗi sợ hãi – NXB LĐXH 2008.

Triết học ngôn ngữ và tâm lý học khách quan – Phần II


Chúng tôi nhấn mạnh trải nghiệm không chỉ có thể được thể hiện bằng ký hiệu (vì ta có thể bày tỏ trải nghiệm cho người khác bằng lời, nét mặt hoặc bất kỳ cách nào khác), mà đối với chính người trải nghiệm, trải nghiệm chỉ có thể tồn tại trong vật liệu của ký hiệu mà thôi. Bên ngoài vật liệu ký hiệu, trải nghiệm, như ta biết, nói chung không tồn tại. Theo nghĩa này, mọi trải nghiệm đều có thể biểu hiện, tức là đều có một sự biểu hiện tiềm năng. Mọi ý nghĩ, mọi cảm xúc, mọi động thái đều có thể được biểu hiện. Tính có thể biểu hiện là đặc điểm của trải nghiệm mà ta không thể loại bỏ nếu không muốn làm mất đi bản chất của nó.

Như vậy, giữa trải nghiệm bên trong và biểu hiện của nó không hề có sự đứt gãy, không có sự chuyển biến từ một phẩm chất của thực tại sang một phẩm chất khác. Sự chuyển biến từ trải nghiệm sang biểu hiện bên ngoài của nó diễn ra trong cùng một khuôn khổ về chất, đó là một quá trình chuyển đổi về lượng. Quả thực, trong quá trình biểu hiện bên ngoài thường diễn ra sự chuyển đổi từ một vật liệu ký hiệu sang một một vật liệu ký hiệu khác (ví dụ từ điệu bộ sang lời nói), nhưng toàn bộ quá trình không vượt ra ngoài ranh giới của vật liệu ký hiệu.

Vậy vật liệu ký hiệu của tâm lý là gì?

– Là mọi vận động hay quá trình: chẳng hạn, hô hấp, tuần hoàn máu, chuyển động cơ thể, phát âm, ngôn ngữ bên trong, cử chỉ, phản ứng với các yếu tố bên ngoài (ví dụ lóa mắt vì ánh sáng)… Nói tóm lại, mọi thứ diễn ra trong cơ thể đều có thể trở thành vật chất của trải nghiệm, bởi vì tất cả đều có thể có ý nghĩa, đều có thể được biểu hiện.

Dĩ nhiên, thứ vật liệu này không phải lúc nào cũng có tầm quan trọng như nhau. Một tâm lý phát triển, khác biệt cần phải có một vật liệu ký hiệu tinh tế và linh hoạt, hơn nữa, vật liệu đó phải có thể hình thành, chính xác hóa và khu biệt trong môi trường xã hội, bên ngoài cơ thể, trong quá trình biểu hiện bên ngoài. Do đó, vật liệu ký hiệu của tâm lý chủ yếu là ngôn từ – lời nói bên trong. Dĩ nhiên, lời nói bên trong đan quyện với vô số các phản ứng có động cơ khác cũng có ý nghĩa ký hiệu. Dù vậy, ngôn từ vẫn là cơ sở, là xương sống của đời sống nội tâm. Gạt bỏ ngôn từ sẽ đẩy tâm lý xuống mức cực đoan, gạt bỏ tất cả các động thái biểu hiện khác nói chung sẽ dập tắt nó.

Nếu chúng ta bỏ qua chức năng ký hiệu của lời nói bên trong và tất cả các động thái biểu hiện khác – những gì tạo nên tâm lý – chúng ta sẽ đối mặt với một quá trình sinh lý trần trụi diễn ra trong khuôn khổ cơ thể cá nhân. Đối với các nhà sinh lý học, sự trừu tượng hóa này hoàn toàn hợp lẽ và cần thiết: ông ta chỉ cần một quá trình sinh lý và cơ chế của nó mà thôi.

Thật ra, ngay cả đối với các nhà sinh lý học, với tư cách nhà sinh vật học, việc tính đến chức năng biểu đạt ký hiệu (ergo – đó là một chức năng xã hội) của các quá trình sinh lý tương ứng cũng rất quan trọng. Nếu không, ông ta không thể hiểu được vị trí sinh học của chúng trong cơ cấu tổ chức chung của cơ thể. Về vấn đề này, ngay cả nhà sinh vật học cũng không thể từ chối quan điểm xã hội học, cũng không thể bỏ qua thực tế là cơ thể con người không thuộc về một môi trường trừu tượng, mà ở trong một môi trường xã hội cụ thể. Nhưng khi tính đến chức năng ký hiệu của các quá trình sinh lý tương ứng, nhà sinh lý học sẽ phải lần theo cơ chế thuần túy sinh lý của chúng (ví dụ như cơ chế phản xạ có điều kiện) và bỏ qua hoàn toàn các ý nghĩa tư tưởng, những ý nghĩa luôn biến đổi và tuân theo những quy luật lịch sử – xã hội riêng, của các quá trình ấy. Nói tóm lại, ông ta không quan tâm đến nội dung của tâm lý.

Nhưng chính nội dung của tâm lý ấy, trong mối quan hệ với cơ thể cá nhân, là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học. Ngành khoa học này, nếu xứng đáng được gọi là khoa học, không có và không thể có một đối tượng nghiên cứu nào khác.

Quan điểm của tâm lý học chức năng

Có tuyên bố cho rằng nội dung của tâm lý không phải là đối tượng của tâm lý học, đối tượng của nó phải là chức năng của nội dung này trong tâm lý cá nhân. Đây là quan điểm của cái gọi là “tâm lý học chức năng”.

Theo học thuyết của trường phái này, “trải nghiệm” bao gồm hai yếu tố. Yếu tố thứ nhất – đó là nội dung của trải nghiệm. Đó không phải là yếu tố tâm lý. Đó hoặc là một hiện tượng vật lý mà trải nghiệm hướng tới (ví dụ, một đối tượng tiếp nhận), hoặc là một khái niệm nhận thức có quy luật lôgích và giá trị đạo đức… Khía cạnh nội dung, khách thể này của trải nghiệm thuộc về tự nhiên, văn hóa, lịch sử, và do đó thuộc thẩm quyền của các ngành khoa học tương ứng, chứ không phải là mối quan tâm của nhà tâm lý học.

Yếu tố thứ hai của trải nghiệm – đó là một chức năng của một nội dung khách thể cụ thể trong sự thống nhất đóng kín của đời sống tinh thần cá nhân. Tính – được – trải nghiệm hay được sống qua, nằm ngoài nội dung tâm lý – đó chính là đối tượng của tâm lý học. Hay, nói cách khác, đối tượng của tâm lý học chức năng không phải là trải nghiệm “cái gì”, mà là trải nghiệm “thế nào”. Ví dụ, nội dung của một số quá trình suy nghĩ, nội dung “cái gì” của nó, không thuộc về tâm lý, mà thuộc thẩm quyền của nhà lôgích học, nhận thức luận, hay toán học (nếu đó là một quá trình tư duy toán học). Một nhà tâm lý học, do đó, chỉ nghiên cứu xem quá trình tư duy về một nội dung cụ thể (lôgích, toán học và các nội dung khác) diễn ra như thế nào trong các điều kiện của một tâm trí chủ quan cá nhân cụ thể.

Chúng ta sẽ không đào sâu vào các chi tiết của khái niệm tâm lý học này, sẽ không đề cập đến những khác biệt, đôi khi rất đáng kể, trong cách hiểu về chức năng tâm lý của các đại diện của trường phái này và của các xu hướng tâm lý gần gũi với nó. Đối với nhiệm vụ của công trình này, chúng ta chỉ cần xác lập các nguyên lý cơ bản của tâm lý học chức năng. Nó cho phép chúng ta trình bày rõ ràng hơn cách hiểu của chúng ta về tâm lý và tầm quan trọng của triết học về ký hiệu (tức là triết học ngôn ngữ) trong việc giải quyết các vấn đề của tâm lý học.

Cả tâm lý học chức năng cũng phát triển và định hình trên nền đất của chủ nghĩa duy tâm. Nhưng về một số khía cạnh, xu hướng của nó là trái ngược hoàn toàn với tâm lý học diễn gảii kiểu Dilthey.

Thực vậy, nếu Dilthey cố gắng quy tâm lý và tư tưởng về cùng một mẫu số chung là ý nghĩa, thì tâm lý chức năng, trái lại, cố gắng vạch ra những ranh giới rạch ròi, mang tính nguyên tắc giữa tâm lý và tư tưởng, những ranh giới dường như chạy qua chính bên trong tâm lý. Kết quả là mọi thứ có ý nghĩa đều bị gạt hoàn toàn ra ngoài ranh giới của tâm lý, và mọi thức thuộc về tâm lý bị quy về sự thực hiện chức năng thuần túy của các nội dung khách thể đơn lẻ trong một thứ giống như một chòm sao cá nhân được gọi là “tâm hồn cá nhân”. Nếu ở đây phải nói về sự đề cao, thì trong tâm lý học chức năng, trái với trong tâm lý học thông diễn, cái được đề cao là tư tưởng so với tâm lý.

Bây giờ ta hãy đặt câu hỏi, chức năng tâm lý là gì, thực tại của nó như thế nào?

Với câu hỏi này, chúng ta không tìm thấy một câu trả lời rõ ràng và thỏa mãn ở các đại diện của tâm lý học chức năng. Trong vấn đề này họ không rõ ràng, không nhất trí và không nhất quán. Nhưng dù vậy, họ cũng đồng ý với nhau về một điểm: chức năng tâm lý hoàn toàn không phải là một quá trình sinh lý. Tâm lý, như vậy, khác biệt rõ ràng với sinh lý. Nhưng loại thực tại nào thuộc về phẩm chất mới này – phẩm chất tâm lý – thì vẫn chưa rõ ràng.

Cũng vẫn còn để ngỏ, trong tâm lý học chức năng, cả câu hỏi về thực tại của hiện tượng tư tưởng.

Các nhà tâm lý học chức năng chỉ cung cấp được câu trả lời rõ ràng khi nào trải nghiệm hướng vào các đối tượng tự nhiên. Trong trường hợp này, tâm lý học chức năng đối diện với thực tại tự nhiên, vật lý – như gỗ, đất, đá…

Nhưng thực tại tư tưởng – một khái niệm lôgích, một giá trị đạo đức, một hình ảnh nghệ thuật… – đối diện với chức năng tâm lý dưới hình thức nào?

Về vấn đề này, hầu hết các đại diện của tâm lý học chức năng giữ quan điểm duy tâm chung, về cơ bản là theo Kant. Bên cạnh tâm lý cá nhân và ý thức cá nhân chủ quan, họ chấp nhận những “ý thức siêu việt”, “ý thức per se”, “chủ thể nhận thức thuần túy”… Hiện tượng tư tưởng, đối diện với chức năng tâm lý cá nhân, được họ đặt vào thứ môi trường siêu việt như thế.

Như vậy, cả vấn đề thực tại tư tưởng cũng không thể giải quyết được trên cơ sở tâm lý học chức năng.

Ở đây, cũng như ở mọi nơi khác, việc không hiểu rõ về ký hiệu tư tưởng và phương thức tồn tại đặc thù của nó là lý do gây nên tình trạng nan giải của vấn đề tâm lý.

Vấn đề tâm lý không bao giờ có thể giải quyết được chừng nào vấn đề tư tưởng còn chưa được giải quyết. Hai vấn đề này đan quyện chặt chẽ với nhau. Toàn bộ lịch sử tâm lý học và toàn bộ lịch sử khoa học về tư tưởng (lôgích học, nhận thức luận, mỹ học, các khoa học nhân văn…) là lịch sử của một cuộc đấu tranh liên tục, của sự phân định ranh giới và đồng hóa lẫn nhau giữa hai ngành khoa học nhận thức.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQG HN 2015.

Tội phạm và những ngộ nhận – Phần IX


Những số liệu này lấy từ một báo cáo thường niên có tên Các chỉ số về Tội phạm và An ninh học đường được tiến hành theo yêu cầu của Quốc hội sau vụ “thảm sát Jonesboro” lần đầu tiên đưa ra vấn đề dùng súng trong trường học thành tâm điểm trên cả nước. Các chỉ số về Tội phạm và An ninh học đường cũng theo dõi cái được gọi là “tội phạm bạo lực nghiêm trọng” – tức là các tội cưỡng dâm, cướp giật và tấn công bằng vũ khí. Năm 1994, tỉ lệ tội phạm loại này ở trường học là 13 trên 1000 học sinh. Con số này tất nhiên là không chính xác vì đó là mức trung bình trên toàn nước Mỹ trong khi có sự khác biệt rất lớn giữa các trường nghèo nàn trong thành phố với các trường ở vùng nông thôn và ngoại ô thịnh vượng giàu có. Không quan trọng vì tỉ lệ này không tồn tại lâu. Nó đã giảm dần trong những năm 1990 và đến năm 2004 chỉ còn 4 trên 1000 học sinh, gần 1/3 mức một thập kỷ trước đó. Năm 1993, 12% số trẻ đã trả lời các nhà khảo sát rằng trong vòng 30 ngày gần đây, chúng đã mang một loại vũ khí đến trường, một thập kỷ sau tỉ lệ ngày đã giảm xuống còn 6%.

Như vậy là câu chuyện bên trong các trường học ở Mỹ đã được sáng tỏ khi bản báo cáo Các chỉ số về Tội phạm và An ninh học đường được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1998 và giờ vẫn rõ ràng: Các vụ sát hại trong trường học rất hiếm khi xảy ra nên nguy cơ xảy ra đến với bất kỳ học sinh nào trên thực tế là bằng 0, và tỉ lệ các vụ bạo lực nghiêm trọng đã giảm mạnh và liên tục.

Tất nhiên đây không phải là cảm nhận của mọi người về thực tế, chủ yếu là do sự việc vào ngày 20 tháng 04 năm 1999, hai thiếu niên trang bị vũ khí nguy hiểm bước vào trường trung học Columbine ở Littleton, Colorado. Chúng đã giết chết 1 giáo viên, 12 học sinh, làm bị thương 24 người và gây choáng váng cho hàng trăm triệu người trên toàn thế giới. Vụ thảm sát Columbine này được đăng tải tràn ngập khắp nơi. Trung tâm nghiên cứu Pew cho biết gần 7 trong 10 người Mỹ nói rằn ghọ đã theo dõi vụ việc này “rất sát sao” khiến nó đã trở thành câu chuyện nói đến nhiều nhất của năm 1999 và nhiều thứ ba trong cả thập kỷ. Câu chuyện nói đến nhiều nhất của năm trước đó là vụ thảm sát Jonesboro.

Các nỗi kinh hoàng liền kề nhau đã tạo ra một mối ràng buộc dư luận thái quá. Báo chí lấy những vụ việc nhỏ nhặt trong trường học để đưa thành tin tức trong nước và quốc tế và thường kèm theo những lời nhận xét của các “chuyên gia an ninh” với giọng điệu như thể một cuộc nội chiến đã nổ ra bên trong mỗi ngôi trường. Các chính sách “không khoan nhượng” – buộc các học sinh phải bị luu ban hoặc bị đuổi học nếu vi phạm những quy định chống bạo lực dù là nhỏ nhất – đã được phổ biến và thực thi nghiêm ngặt. Thuật ngữ “khóa trái cửa” lúc đầu là một từ lóng trong các nhà tù nay đã trở thành một từ chuẩn tiếng Anh khi các cuộc diễn tập trong đó các học sinh phải tưởng tượng rằng những kẻ cuồng sát đang xuất hiện trong giảng đường đã trở thành chuyện thường ngày. Tiền dành cho sách vở, bảo trì thiết bị máy móc đã phải nhường chỗ cho máy dò kim loại, camera quan sát và bảo vệ.

Đối với các vị phụ huynh thì đây đúng là một thời gian đáng sợ. Báo chí và mọi người xung quanh đều nhất loạt cho rằng tình hình rất nguy cấp và cùng với Quy luật Điển hình và Tốt – Xấu, Trực giác rõ ràng là cũng đồng ý như vậy. Lý trí sẽ phải đấu tranh để điều chỉnh lại cảm giác đó trước mọi hoàn cảnh nhưng khi báo chi không đưa ra những con số để nhìn nhận khách quan về các nguy cơ thì nó cũng chẳng có lý do gì để can thiệp vào được.

Kết quả của cuộc tranh luận một chiều trong đầu này đã thể hiện trong các cuộc thăm dò dư luận. Ngay sau vụ thảm sát Jonesboro, một cuộc thăm dò của ABC/Wall Street Journal cho thấy 71% người Mỹ cho rằng có khả năng hoặc đôi khi là rất có khả năng một vụ nổ súng trong trường học sẽ xảy ra trong địa bàn của họ. Một cuộc thăm dò của USA Today tiến hành sau vụ thảm sát Columbine, một cuộc thăm dò của Gallup cũng cho thấy 52% các bậc phụ huynh lo ngại về sự an nguy của con mình tại trường học; năm tháng sau, con số đó cũng gần như không thay đổi với 47%.

Dù vụ thảm sát Columbine có ghê gớm thế nào thì cũng không thay đổi thực tế là hầu hết các trường và các sinh viên ở đó đều khá an toàn – một điều mà chính các chính khách lẽ ra phải nói rõ nhưng họ đã không làm thế. Thay vào đó lại là vô số bài diễn thuyết lên án việc nuôi dạy con cái không tốt, các bộ phim bạo lực và loại âm nhạc phản cảm gây lệch lạc cho thanh niên. Một phần đó là do một sự tính toán mà bất cứ nhà cố vấn chính trị nào cũng sẽ tận dụng từ các vấn đề đó: Vị chính khách nào nói rằng sự việc này thật bi thảm nhưng không làm thay đổi thực tế là chúng ta vẫn khá an toàn thì sẽ bị đối thủ phản bác lại bằng cách quy cho là không hiểu mức độ nghiêm trọng của tình hình hoặc tệ hơn là không hề quan tâm đến tình hình. Đó là một rủi ro chính trị lớn mà người dám đánh liều sẽ chẳng được gì. Chỉ có rất ít người dám làm. Và vì vậy các chính khách sẽ không đấu tranh để chế ngự “nỗi sợ hãi vô lý” mà Roosevelt đã cảnh báo. Họ sẽ nắm lấy và thổi phồng nó lên.

Sự giận dữ sau vụ Columbine dần chìm xuống nhưng đến mùa thu năm 2006, toàn bộ kịch bản đáng sợ này – từ bi thảm thành hoảng loạn – đã được lặp lại. Vào ngày 13 tháng 09, một cựu học sinh đi vào trường Đại học Dawson ở Montreal với một khẩu súng trường. Một học sinh bị giết hại, 19 người bị thương. Ngày 27 tháng 09, một người đàn ông 53 tuổi đi vào một trường trung học ở Colorado bắt 06 cô bé làm con tin và giết chết một học sinh. Hai ngày sau, một học sinh lớp chín ở Wisconsin đã bắn chết vị hiệu trưởng của mình. Và vào ngày 02 tháng 10, một người đàn ông 32 tuổi vào một trường tiểu học ở Pennsylvania và bắn chết 5 em nữ sinh. Một phóng viên đã vội vã đưa tin trên tờ The Independent của Anh “Các vụ nổ súng trong trường học ở vùng Amish khiến 5 bị chết là vụ cuối cùng trong loạt vụ thảm sát liên tục gây choáng váng cho mọi người và được đưa lên các tít báo ở Mỹ”.

Mối ràng buộc dư luận đã được tạo ra và một lần nữa dường như các trường học ở Mỹ lại bị bao vây. Chính quyền Bush đã phản ứng bằng cách triệu tập một hội nghị gây nhiều chú ý vào ngày 10 tháng 10 để thảo luận vấn đề an ninh học đường, đây có thể là một động thái chính trị có hiệu quả nhưng chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề. Các trường học trên toàn nước Mỹ đã xem xét lại các kế hoạch ứng phó khẩn cấp và chặn mọi cánh cửa lại để tổ chức các buổi diễn tập.

Ngày 04 tháng 12, báo cáo mới nhất của chính quyền về tình hình tội phạm và an ninh học đường đã được đưa ra. Cũng không khác gì các báo cáo trước đó. Trẻ em khi đang ở trong trường còn an toàn hơn nhiều so với khi ở bên ngoài. Tình trạng bạo lực thấp hơn một nửa so với một thập kỷ trước đó và tỉ lệ các vụ bạo lực nghiêm trọng giảm hơn 2/3. Một lần nữa báo cáo lại chỉ ra rằng nguy cơ học sinh bị sát hại trong trường học là rất nhỏ – nhỏ đến mức thực tế là gần bằng 0. Và cũng như các báo cáo trước đó, báo cáo này thực ra không được đưa tin.

Theo một cuộc điều tra thường niên năm 2006 của Gallup về ý kiến của người Mỹ về tình trạng tội phạm, “nỗi lo sợ cho sự an toàn về thân thể của trẻ em đang độ tuổi đến trường được coi là  mối quan tâm chính liên quan đến tội phạm. Một trong năm người Mỹ được hỏi nói họ “thường xuyên” lo lắng rằng con cái của họ có thể bị xây xát khi ở trường. Một người khác torng năm người đó nói rằng “thỉnh thoảng” họ cũng lo lắng như vậy.

Khi chúng ta cứ luôn lo lắng một cách thái quá thì cũng sẽ có những hệ quả của nó. Khóa trái mọi cánh cửa và coi bất cứ ai đi qua là một tên cuồng sát tiềm ẩn và trường học và cộng đồng không còn sự gắn kết sẽ gây ra một sự mất mát không nhìn thấy được, vì như các cuộc nghiên cứu chỉ ra, trường học phát huy hiệu quả nhất khi gắn bó chặt chẽ với cộng đồng bên ngoài. Chi tiền vào các loại thiết bị dò kim loại, bảo vệ và các chuyên gia cố vấn dạy cho bọn trẻ biết cách tránh khỏi các tay súng mà không dành cho sách vở, giáo viên và những thứ khác mà bọn trẻ cần.

Cũng còn có những chi phí ít thấy hơn. Vào tháng 08 năm 2006, một tháng trước khi các vụ nổ súng trong trường học trở thành tin chính và một đợt hoảng hốt lại nổ ra. Hội tâm lý học Mỹ đã thông qua một kiến nghị kêu gọi các trường học hãy điều chỉnh chính sách “không khoan nhượng” của mình vì nghiên cứu chỉ ra rằng phương pháp này thực ra chỉ làm gia tăng những hành vi tiêu cực và còn dẫn đến tỉ lệ bỏ học cao hơn. Tháng 03 năm 2007, Hội các quyền tự do dân sự Mỹ đã đưa ra một báo cáo mô tả về sự hiện diện của cảnh sát ở các trường công ở thành phố New York City là “ồ ạt và hung hãn”. Theo báo cáo này thì cứ mỗi buổi sáng các học sinh đều phải xếp hàng để đợi được đi qua chiếc máy dò kim loại. Một học sinh 18 tuổi nói “Em phải mất hơn 1 tiếng rưỡi đồng hồ để xếp hàng đi qua chiếc máy, vì vậy mỗi sáng em sẽ phải dời nhà sớm hơn để rồi lại phải đợi rất lâu ở lối đi vào cổng trường”. Chiếc máy soi khiến bạn cảm thấy mình như là một con vật chứ không phải là người nữa. Thậm chí bạn còn bắt đầu nghi ngờ bản thân vì bị các nhân viên đó đối xử như với những con vật”.

Thái độ “giết nhầm con hơn bỏ sót” bởi sự lo sợ vô lý thậm chí còn có thể dẫn đến sự xem thường một điều cần được coi trọng hơn hết. Ngày 20 tháng 10 năm 2006, trong khi cả nước còn đang kinh hoàng vì các vụ nổ súng trong trường học, một em 18 tuổi bị bắn và bị thương rất nặng chỉ cách ngôi trường trung học một tòa nhà ở Asbury Park, New Jersey. Ngay từ đầu rõ ràng là vụ nổ súng này không liên quan đến ngôi trường thế nhưng các quan chức trong thành phố đã ra lệnh đóng cửa năm ngôi trường công ở đây. Một quan chức nói với tờ New York Times “Các ngôi trường ở đây không được trang bị máy dò kim loại”. “Nếu chúng ta cứ để các trường này mở cửa bình thường thì rất có nguy cơ có thêm một vụ Columbine nữa”. Một ủy viên hội đồng nhận ra sự thiếu sót trong kiểu tư duy này và nói “Tôi cho là bọn trẻ đến trường sẽ an toàn hơn”. Ông ta nói hoàn toàn đúng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Dam Garder – Nguy cơ, khoa học & chính trị về nỗi sợ hãi – NXB LĐXH 2008.