“Cái tôi” của người Việt Nam qua một giai đoạn phát triển


Những nghiên cứu về “cái tôi”, “tôi – không tôi”, “tôi – chúng ta”, “tôi – tôi”, cũng như tính cộng đồng và tính cá nhân đã được tiến hành trong lĩnh vực tâm lý học, nhưng đây mới chỉ là bước đi đầu tiên. Bằng phương pháp phân tích các cứ liệu ngôn ngữ(*), tác giả đã chỉ ra “cái tôi” – sự tự ý thức của mình trong quan hệ với người xung quanh. Qua đó, chúng ta cũng hiểu thêm về nhân cách người Việt.

“Cái tôi” của con người là một hiện tượng tâm lý, một hiện tượng xã hội. Về cơ bản, “cái tôi” có liên quan đến tự ý thức về những khác biệt giữa bản thân mình với những người xung quanh. “Cái tôi” nổi lên trước hết với tư cách là một chủ thể ý thức, chủ thể của các hiện tượng tâm lý trong một chỉnh thể thống nhất. Những đặc trưng nổi bật của “cái tôi” là chủ thể, tính ý thức, tính khẳng định. Đó là khởi nguyên, là sự bắt đầu của quá trình điều hoà hành vi bởi hệ giá trị, bởi các hiện tượng tâm lý và hoạt động tâm lý. Đó cũng là hạt nhân, là cái cốt lõi đầu tiên của con người, của động cơ người: Tại sao tôi hành động? Tôi hành động vì mục đích gì và tuân theo những giá trị gì?

Từ “cái tôi” bị che khuất…

Người Việt Nam từ khi biết nói đến khi trưởng thành ít xưng “tôi”. Phải chăng như thế là không có “cái tôi” và những người ở các nước khác do dùng đại từ nhân xưng “tôi” mà nghiễm nhiên đã có “cái tôi”. ở đây, chúng tôi muốn từ cách tiếp cận ngôn ngữ học để tìm hiểu những biểu hiện đặc thù của “cái tôi” ở người Việt Nam và sự phụ thuộc của nó bởi các quan hệ xã hội, các quan hệ người – người.

Từ lúc tập nói – theo truyền thống và giáo dục gia đình, đứa trẻ không tự xưng tôi, mà xưng và gọi người khác bằng vị trí và vai trò có trong quan hệ với nó. Đứa trẻ xưng là con, cháu, em… trong quan hệ với các thành viên trong gia đình. Với bạn bè cùng lứa tuổi, ở phạm vi gia đình, đứa trẻ mới xưng là “tao”, “tớ”, “choa” và gọi đối tượng giao tiếp là “bạn”, “cậu”, “mày”… Đằng sau vị trí và vai trò mà đứa trẻ tự nói ra là những quy tắc, quy phạm của hành vi ứng xử xã hội tương ứng. Đã là con, là em, là cháu thì phải ứng xử với vai trò, vị trí, vị thế đã được quy định trong quan hệ với mọi đối tượng. Giao tiếp với các thành viên trong gia đình, cũng như ngoài họ mạc, đứa trẻ được thừa hưởng những tình cảm yêu thương, đùm bọc, nâng niu dưới nhiều hình thức. Mặt khác, đứa trẻ cũng phải chấp nhận những thứ bậc được quy định theo huyết thống và bậc thang xã hội của nó, của bố – mẹ nó. Là con trưởng hay con thứ, là nam hay nữ, là cháu đích tôn hay không, là thành viên của chi trên hay chi dưới trong dòng họ…, tất cả đều gắn liền với quan hệ huyết thống và liên quan với nó là những quyền và lợi ích cụ thể. Thứ bậc huyết thống và xã hội đè nặng lên “cái tôi”. “Cái tôi” gửi gắm, phó thác và tan biến vào các quan hệ huyết thống, quan hệ xã hội, nên bị che khuất và lu mờ.

Những quan hệ giữa chủ thể và khách thể mang tính huyết thống không chỉ được mở rộng trong phạm vi một họ, một làng mà cả dân tộc. Trong giao tiếp với nhau, người Việt thường lấy danh từ chỉ họ hàng như bố, mẹ, chú, bác… để thay thế cho đại từ nhân xưng. Cách xưng hô bằng danh từ quen thuộc chứ không phải bằng đại từ được sử dụng rộng rãi trong phạm vi toàn xã hội. Điều này có tác dụng làm thân thiết hoá, gần gũi hoá các quan hệ người – người. Vậy là mô thức ứng xử trong ra đình được mở rộng và kéo dài đến phạm vi toàn xã hội. Người ta tự xưng hô và tự gọi nhau một cách tự nhiên bằng những từ bố, mẹ, chú, dì, anh, chị… Quan hệ giữa tướng và lính được ví như cha – con. Trong hai cuộc kháng chiến vừa qua, các chiến sỹ đi khắp mọi miền của Tổ quốc, đến đâu họ cũng có các bà mẹ, các ông bố, các chị, các anh… Tình hình đó cho thấy, “cái tôi” dường như đã lẫn vào các quan hệ “máu thịt” của cộng đồng, vào khối đoàn kết của dân tộc. “Cái tôi” thiên về tình cảm hơn là về lý trí, thiên về phong tục tập quán hơn là về pháp luật, thiên về tâm lý xã hội hơn là hệ tư tưởng. Với quan niệm “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, với nếp nghĩ “một người làm quan, cả họ được nhờ”, người ta ít ý thức về “cái tôi” của mình, do đó trở thành mờ nhạt, thấp thoáng trong quan hệ người – người trong xã hội.

Một xu hướng đã hình thành như là một nét truyền thống trong giao tiếp của người Việt từ xa xưa là các chủ thể thường tự gọi mình bằng các từ chỉ một vị thế thấp hơn với nghĩa khiêm nhường. Không kể quan hệ bất bình đẳng về vị thế, mà ngay trong giao tiếp rất thân mật, rất bình đẳng không quy định đẳng cấp xã hội và đẳng cấp huyết thống, người ta không muốn bộc lộ mình ở vị thế xã hội cao. Những người hát quan họ ở những làng kết chạ, kết nghĩa với nhau, khi tiếp xúc đều gọi nhau là “liền anh”, “liền chị” và ai cũng là “liền em” từ hai phía giao tiếp. Ngay cả những trí thức, những học giả ở những thập niên đầu của thế kỷ XX, trong ngôn ngữ giao tiếp, trong những bức thư gửi cho nhau, họ vẫn theo xu hướng khiêm nhường, thông qua cách gọi khách thể bằng “đại ca”, “đại huynh” và tự xưng mình là “tiểu đệ”, “kẻ mạo muội này”… Trong cách xưng hô ấy, người Việt muốn biểu thị sự tôn kính, sự lễ độ và lòng khiêm nhường, đôi khi là sự khúm núm, nhu nhược, sợ hãi. ở đây, “cái tôi” (đã hình thành trong chủ thể ở một mức độ nào đó) vẫn không dám tự khẳng định trong đại từ “tôi” mà vẫn muốn hoà tan vào cộng đồng những người ở cạnh, không dám tách bạch để phân biệt với “mọi người”, theo châm ngôn “xấu đều còn hơn tốt lỏi”.

Hiện tượng gọi nhau bằng một tên chung vẫn duy trì cho đến ngày nay và chắc chắn sẽ còn được bảo lưu trong một thời gian lâu dài. Người ta đã lấy con số để gọi tên cho mỗi người. Tất cả những người con thứ đều được gọi theo thứ tự, chẳng hạn bằng chú Ba, dì Ba, và cứ như thế cho đến bác Mười, thím Mười… bên cạnh tên thật vốn có. Với cách giao tiếp đó, quan hệ người – người đã được “huyết thống hoá” trên một phạm vi rộng lớn của xã hội, một mặt nó làm thân mật hoá quá trình tiếp xúc, xoá đi bức rào về đẳng cấp, thứ bậc, tâm lý; mặt khác, nó cũng dẫn đến tính chất gia đình chủ nghĩa, làm cho “cái tôi” trở nên không xác định, không tách bạch. Chúng ta hẳn chưa quên tục gọi đứa trẻ bằng một tên gọi chung. Tất cả những bé trai khi sinh ra đều có sẵn một cái tên giống nhau là thằng “Cu”, thằng “Cò”. Tất cả những bé gái cũng có một tên chung không phân biệt để gọi là con “Thẽm”, cái “Hĩm”. Cái tên chung đó không chỉ được sử dụng trong giao tiếp cho mọi đứa trẻ, mà còn được dùng để gọi cả bố – mẹ chúng (anh Cu, chị Thẽm). Mặc dù đã có tên riêng từ lúc khai sinh nhưng đến khi bắt đầu lớn, đứa trẻ mới được gọi là tên chính thức, tên thật của mình. Tuy nhiên, tên thật đó cũng không hẳn là tên riêng của nó, vì nó còn dùng để gọi cả cha – mẹ, ông – bà nó. Đứa trẻ tên là Thành thì bố – mẹ được gọi là ông Thành, bà Thành; ông – bà nội thì được gọi là cụ Thành. “Cái tôi” như thế còn mang nặng tính cộng đồng và trở thành “cái tôi – nhà”. Về mặt sinh học, đứa trẻ đã là một thực thể liên đới và phụ thuộc ở một mức độ rất lớn. Thế nhưng “cái tôi” của nó vẫn chưa thực sự là “tôi”.

Chính sự hoá thân vào cái “ta” nói trên đã tạo ra sự giáo hoán dễ dàng trong nhận thức của người Việt giữa “tôi” và “ta”, “mình” và “ta” và sự phân tích khúc triết đâu là chính mình với cái ta ngay ở trong một tiếng “mình”, xa hơn là tiếng “ai” đang đòi hỏi được giải đáp. Đó là trường hợp cả chủ thể và khách thể đều lấy từ “ai”, từ “mình” để tự biểu hiện. Chẳng hạn như: “Ai về Đồng tỉnh, Huê cầu/Để thương để nhớ để sầu cho ai” hoặc “Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ/Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai”. Người ngoài cuộc giao tiếp chỉ có thể căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể mà xét đoán ai là chủ thể, ai là khách thể. Còn người trong giao tiếp thì dựa vào chỗ ai là người nói, ai là người nghe mà tự hiểu lấy. Đây cũng là một biểu hiện không xác định của “cái tôi”.

“Cái tôi” của chủ thể còn được thể hiện bằng vật đối xứng này trong quan hệ với đối xứng kia. Đó là những trường hợp như “trúc – mai”, “thuyền – bến”, “rồng – mây”, “mận – đào”. Thậm chí cả những cặp trạng từ chỉ địa điểm như “đây – đấy”, “bên này – bên kia”, “đằng này – đằng ấy”, “tấn – tần”… cũng được sử dụng để biểu trưng cho quan hệ chủ thể – khách thể. “Cái tôi” ở đây được bộc lộ một cách thi vị, một cách tế nhị, nhưng vẫn ở một vị trí đằng sau, bị che khuất, không muốn đứng soi đôi, không muốn cùng đối diện. Ngay cả quan hệ đã được thừa nhận cả về mặt tình cảm đạo đức và pháp lý như quan hệ vợ chồng, mà người ta vẫn không dám đi cùng với nhau ở những chỗ đông người.

Tuy vậy, “cái tôi” với cá tính và nhân cách của mình cũng được người Việt khai thác trong những tình huống giao tiếp nhất định, phần lớn là giao tiếp không chính thức. Chẳng hạn, khi cãi lộn, đánh chửi nhau, một đứa trẻ chưa hề được ai gọi là “bố”, là “ông”, là “cụ” nhưng nó vẫn nói kiểu như: “Lại đây bố mày bảo!”, “Đến đây ông mày dạy!”, “Để cụ mày dạy cho mày một bài học!” – những vị trí mà trên thực tế trẻ không có, nhưng chúng vẫn sử dụng để đề cao vị trí của mình. Hồ Xuân Hương cũng từng viết: “Lại đây chị dạy làm thơ” hay như Nguyễn Trãi từng nói: “Cho biết rõ cái thằng tao”. Đó chính là tự sự khẳng định lâm thời, có điều kiện, thiên về tình huống chứ không mang tính xã hội của “cái tôi” ở vị thế cao hơn hoặc ngang bằng. “Cái tôi” của người Việt trong quá khứ vẫn chủ yếu được gửi gắm, phó thác vào “cái ta” và “cái mọi người”. Không bộc lộ cá nhân, người ta nói: “Xấu đều còn hơn tốt lỏi”; không muốn tách biệt khỏi cộng đồng, người ta cho rằng: “Chết một đống hơn sống một người”; thiếu trách nhiệm cá nhân, đổ lỗi cho tập thể, người ta biện bạch: “Toét mắt là tại hướng đình/Cả làng toét mắt chứ mình tôi đâu”… Còn biết bao nhiêu nếp nghĩ, nếp cảm nói lên sự hoà tan, cào bằng – nhân cách trong cộng đồng. “Cái tôi” chỉ biết phục tùng cái mà cộng đồng tuân thủ, chỉ biết bảo vệ cái mà mọi người giữ gìn, chỉ biết bắt chước cái mà các thành viên khác đang làm. Đó chính là dấu hiệu của cái tôi chưa phát triển.

Đến “cái tôi” tự khẳng định hơn

Với ảnh hưởng của các cuộc vận động xã hội của cách mạng, “cái tôi” ở người Việt Nam hiện nay đã có những biến đổi sâu sắc, được biểu hiện khá rõ rệt và rất đa dạng. Quá trình xã hội hoá cá nhân ngày càng nhanh, quá trình dân chủ hoá xã hội càng sâu sắc thì “cái tôi” ngày càng vững vàng và tự khẳng định mạnh mẽ.

Văn học Việt Nam từ thập kỷ đầu của thế kỷ XX đã bắt đầu đề cao cá nhân và đề cao sự giải phóng con người. Ngôn ngữ văn học, bên cạnh những đại từ nhân xưng vốn là những danh từ ngôi thứ ba như “chàng”, “nàng”, “anh”, “em”, “ta”, “mình”… đã bắt đầu xuất hiện bóng dáng của “cái tôi”. Qua câu thơ: “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn”, có thể thấy một sự quá độ từ cộng đồng sang cá nhân, từ chỗ chưa xác định đến chỗ xác định. Với nhiều tiểu thuyết và thi ca khác, “cái tôi” xuất hiện nhiều hơn và rõ hơn. Cho đến câu thơ của Chế Lan Viên: “Đường về thu trước xa xa lắm/Mà kẻ đi về chỉ một tôi” thì “cái tôi” ở đây mới được biểu hiện ra một bản chất đích thực của nó: tự ý thức, tự chủ, tự thân, tự khẳng định, độc lập, khác với người xung quanh, với đồng loại, đứng đối diện với mọi người, chứ không phải nép vào bên cạnh, đứng đằng sau người khác như trước đây. Từ chỗ chỉ dám dùng những từ “mình”, “ta”, “ai” không tách bạch, không xác định giữa chủ thể và khách thể đến chỗ “mà kẻ đi về chỉ một tôi” là một bước ngoặt lớn, một bước tiến trên con đường tự khẳng định, tự xác định, tự chủ của “cái tôi”. Như vậy, tự khẳng định, tự xác định, tự chủ, tự thân, tự ý thức về chính mình, về cá tính của mình đã có những biểu hiện rõ ràng hơn trong sự tiến hoá từ cá thể đến con người, đến cá nhân, đến cá tính và nhân cách. Đó cũng chính là nội hàm của khái niệm nhân cách.

Một số đặc điểm về “cái tôi” của người Việt

– “Cái tôi” hiện hữu không chỉ trong mỗi chủ thể cá thể, mà cả trong chủ thể tập thể. ở Việt Nam, có thể thấy các tầng bậc phát triển của “cái tôi – cá thể” và “”cái tôi – tập thể”. Nói cách khác, “cái tôi – cá thể” ở người Việt Nam không tách rời với “cái tôi – nhà”, “cái tôi – họ”, “cái tôi – làng”, “cái tôi – nước”. Đó là bốn chủ thể tập thể đại diện cho mỗi người cá thể. Chủ thể tập thể càng nhỏ thì tác động của nó lên mỗi thành viên càng lớn, càng trực tiếp và tính không chính thức càng nhiều. Sự thiếu hụt của “cái tôi – cá thể” được bù đắp bởi “cái tôi – tập thể”. Vị thế của “cái tôi – cá thể” lớn dần thì vị thế của “cái tôi – tập thể” nhỏ dần.

– “Cái tôi” ở người Việt Nam với tư cách là một chủ thể cá thể thường xuất hiện chậm. Nó chỉ là một cá thể mảnh mai, yếu ớt, bé nhỏ như cây sậy biết nói, như từng chiếc đũa trong một bó đũa. Nó bị che khuất, bị giấu kín, bị nhạt nhoà, ẩn nấp đằng sau những nhóm xã hội gần gũi nhất. Nó phải phụ thuộc, phải nương nhờ, phải trông cậy vào “cái tôi – nhà”, “cái tôi – họ”, “cái tôi – làng”. Các chủ thể tập thể này hình thành càng sớm, tồn tại càng lâu thì tính cách của nó càng ổn định, càng bền vững và sự chi phối, sự chế ước của nó đối với từng chủ thể cá thể càng mạnh, càng lớn, xét về mặt tích cực cũng như tiêu cực.

– Sự tồn tại lâu dài của “cái tôi – nhà”, “cái tôi – họ”, “cái tôi – làng”, “cái tôi – nước” là tất yếu và không thể tránh khỏi. Thiên tai và địch hoạ xảy ra liên tục từ ngàn xưa cho đến tận bây giờ là những lý do khách quan làm cho “cái tôi cộng đồng” ưu trội hơn “cái tôi cá nhân”. Dẫu rằng từ trong bản chất, mỗi cá nhân đã là một đơn vị cuối cùng, là một đơn vị không thể cắt chia, nhưng nó vẫn chỉ là một thành viên của cộng đồng. Nó luôn được chủ thể tập thể động viên, khích lệ, duy trì, củng cố một tình cảm, một ý chí, một năng lực, một tính cách cộng đồng, nhân sức mạnh của mỗi cá nhân lên gấp bội trong cuộc sống và trong hoạt động cộng đồng.

– Những tiêu cực của “cái tôi – nhà”, “cái tôi – họ”, “cái tôi – làng”, “cái tôi – nước” bộc lộ ở chỗ nó kìm hãm, làm chậm sự phát triển của cá nhân, của “cái tôi – cá thể”. Do vậy, dẫn đến thiếu tự chủ, tự lập, trách nhiệm, sáng kiến, dũng cảm, quyết đoán cá nhân, luôn ỷ vào sức mạnh của số đông… là những đặc trưng mang tính phổ biến trong xã hội nông nghiệp cổ truyền. “Cái tôi” đích thực của mỗi con người, do đó xuất hiện chậm chạp, muộn mằn. Chỉ những khi không còn lối thoát, những lúc cùng quẫn như “con giun xéo lắm cũng quằn”, “cái tôi” của những người bị áp bức, bị bóc lột đến cùng cực mới vùng dậy, “một sống, một chết” với kẻ thù.

Nguồn: Tạp chí Hoạt động khoa học (2011)

* V. Vundt, nhà tâm lý học người Đức giữa thế kỷ XIX đã nhận xét, biểu tượng chung của nhiều người, của một dân tộc người thể hiện trước hết trong ngôn ngữ, rằng ngôn ngữ hàm chứa những hình thức chung nhất, những biểu tượng từng tồn tại trong tâm hồn dân tộc. Từ những ý tưởng trên, tác giả đã sử dụng từ ngữ để phân tích “cái tôi” ở người Việt Nam

Advertisements

Bàn tay vô hình gặp con khỉ đột vô hình: Kinh tế học và tâm lý học của sức chú ý khan hiếm


Diane Coyle

Phải chăng các nhà kinh tế học đã thiếu chú ý? Bài báo này tường thuật lại một hội nghị về tâm lý học và kinh tế học của “sức chú ý khan hiếm”. Trung tâm của cuộc thảo luận là giả thiết phải chăng việc có quá nhiều thông tin khiến cho việc ra quyết định trở nên mù quáng và liệu điều này có thể giải thích tại sao rất nhiều nhà kinh tế học bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo về một cuộc khủng hoảng.

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính [2008 – ND], nhiều nhà bình luận đã đặt câu hỏi tại sao rất nhiều nhà kinh tế đã không dự đoán được nó – hoặc thậm chí liệu rằng kinh tế học có vai trò nào trong việc (góp phần) gây ra cuộc khủng hoảng. Một nhóm các chuyên gia Anh trong năm 2009 cho rằng việc không dự đoán được này là một dạng “tâm lý học của sự từ chối” đang đè nặng toàn bộ thế giới tài chính.[2]

Giới kinh tế từ đó tiếp tục đánh giá vai trò của mình trong thảm họa tài chính và khủng hoảng kinh tế sau này. Những giả thiết chuẩn của chủ đề này về cách mọi người đưa ra quyết định và lựa chọn hành xử là trọng tâm đặc biệt được nghiên cứu kỹ lưỡng. Phải chăng giả định rằng các sự lựa chọn đều dựa trên lý trí, vì mục đích có lợi cho bản thân, dựa trên các thông tin có sẵn, tự chính nó góp phần vào một hiểu lầm khủng khiếp của các cơ quan điều tiết và hoạch định chính sách về những gì có thể xảy ra trong các thị trường tài chính?

Kinh tế học hành vi đưa ra một số ví dụ về các quy tắc theo kinh nghiệm về hành vi khác nhau mô tả quyết định điển hình chính xác hơn so với các giả thiết chuẩn. Tuy nhiên, để giải quyết các câu hỏi một cách hệ thống, các nhà kinh tế sẽ cần phải học từ tâm lý học (cụ thể, tâm lý học về sự lựa chọn cá nhân trong tình huống mà con người phải đối mặt với một dòng thông tin liên tục, như họ thường phải đối mặt với nhiều quyết định kinh tế).

Những người tham gia một buổi hội thảo gần đây về Tâm lý học và Kinh tế học của sức chú ý khan hiếm tại trường Kinh tế Toulouse đã đề cập tới những vấn đề này (xem tóm tắt ở đây). Chủ đề chính là liệu sự hiểu biết ngày càng lớn của các nhà khoa học về tri nhận về cách “cảm nhận giác quan” chuyển thể thành hành động, với sức chú ý có hạn của con người, có đưa ra được bài học nào cho các nhà kinh tế hay không.

Một minh họa sống động về sự tương đồng tiềm năng được đưa ra trong một ví dụ do Giám đốc Nghiên cứu CNRS Kevin O’Regan của Học viện Descartes Paris về Thần kinh học và Nhận thức (Institut Paris Descartes de Neurosciences et Cognition) đưa ra, về một vụ tai nạn máy bay (trong mô phỏng) do phi công không nhìn thấy chiếc máy bay khác phía trước mình khi anh hạ cánh. Tại sao phi công giàu kinh nghiệm không nhìn thấy máy bay trên đường băng? Thật sự thì câu hỏi này cũng giống như hỏi tại sao hầu hết mọi người không nhìn thấy sự sụp đổ sắp xảy ra trong các thị trường tài chính, khi các thông tin đã có sẵn cho những người tìm kiếm cẩn thận?

“Sự mù lòa vô thức” là chuyện bình thường. Ví dụ nổi tiếng nhất liên quan đến những gì mọi người gần một nửa thời gian là không thấy khi đặt ra nhiệm vụ xem một đoạn video và đếm số lần chuyền bóng giữa hai đội bóng rổ – một con khỉ đột đi ngang trên màn hình (Chabris và Simons 2010). Các nhà thần kinh học tham gia hội thảo đã không cảm thấy thuyết phục rằng có sự giống nhau giữa sự mù lòa vô thức và việc không thể dự đoán, nhưng các nhà kinh tế cho rằng con khỉ đột vô hình có thể cung cấp cho họ một bộ giả thiết hiệu quả hơn các hơn so với bàn tay vô hình khi nói đến cách con người hình thành sở thích và đưa ra quyết định của mình.

Nếu cho rằng sự chú ý là có chọn lọc trong việc đối phó với số lượng lớn các thông tin mà các giác quan có thể thu được từ thế giới bên ngoài, thì cả hai yếu tố tự nguyện và không tự nguyện có thể đều tham gia vào việc lựa chọn đó. Kiến trúc của não nắm giữ chìa khóa để hiểu được cơ chế lựa chọn. Nhiều khu vực khác nhau của bộ não xử lý các nhận thức trực quan. Mỗi phần có chức năng chuyên biệt của mình, hoạt động đồng thời và tương tác với nhau. Hệ thống này phức tạp và ít nhiều có tính thứ bậc, và tất cả các giác quan thể hiện vai trò cùng một lúc. Có một sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các tế bào thần kinh trong quá trình chọn lọc.

Do đó, quan điểm hiện tại về sức chú ý khan hiếm là nó bắt nguồn từ kiến trúc của não. Ví dụ như trong xử lý hình ảnh, thông tin đi từ cấp thấp đến cấp cao hơn của não. Các tế bào thần kinh cấp thấp (trong vỏ não thị giác chính) rất nhạy cảm với các đặc điểm đơn giản như góc cạnh trong khi những tế bào cấp cao rất nhạy cảm với các đối tượng và phạm trù (như khuôn mặt). Ngoài ra, các tế bào thần kinh cấp thấp được kích hoạt bởi các đặc điểm trực quan tại các địa điểm cụ thể trong khi tế bào thần kinh cấp cao lại không cụ thể như vậy, và các vùng tiếp nhận tương ứng (các khu vực không gian, nơi mà sự hiện diện của một tác nhân kích thích sẽ làm thay đổi sự phản ứng của tế bào thần kinh đó) là lớn hơn. Cả hai điều này đều có nghĩa là mỗi tế bào thần kinh cấp cao có liên quan với một vài tế bào thần kinh cấp thấp – những tế bào cấp thấp này đang cạnh tranh với nhau trong một cuộc thi “được ăn cả, ngã về không”. Có một thất thoát thông tin [ở đây], và là cơ sở thần kinh của sự chú ý khan hiếm.

Có vẻ như mục tiêu rõ ràng cho việc áp dụng những bài học từ tâm lý học về cách hướng sự chú ý hiệu quả – ví dụ như, khi tìm kiếm cách trình bày thích hợp các dữ liệu về thị trường tài chính để giúp cảnh báo các cơ quan chức năng về những cuộc khủng hoảng trong tương lai. Các nhà kinh tế cũng quan tâm tới những bài học khái quát hơn cho các giả thiết về việc ra quyết định trong các mô hình kinh tế. Một lĩnh vực kinh tế mà sự chú ý là một yếu tố quan trọng là trong quảng cáo. Chúng ta có chú ý đủ đến quảng cáo để thay đổi lựa chọn mua sắm của mình không – quảng cáo có hiệu quả không?

Vấn đề về hiệu quả của quảng cáo đã trở nên cấp thiết hơn khi ngày càng nhiều phương tiện truyền thông và chi tiêu chuyển sang hoạt động trực tuyến. Các nhà quảng cáo đang xem xét nơi họ có thể truyền đạt tới người tiêu dùng hiệu quả nhất, trong khi người tiêu dùng đang phải đối mặt với các loại quảng cáo mới, và ngày càng bị “quá tải thông tin”. Quảng cáo trực tuyến tạo ra dữ liệu phong phú, và nghiên cứu kinh tế đang bắt đầu đề cập tới một số vấn đề này.

Số lần nhấp chuột vào các quảng cáo trực tuyến (clicks on ads online) chiếm 98% doanh thu của Google. Hal Varian, Nhà kinh tế trưởng (Chief economist) tại Google, cho rằng vị trí của quảng cáo trên màn hình quyết định tần suất mọi người nhấp vào nó. Sự lựa chọn vị trí một phần là do văn hóa – ví dụ, tùy thuộc vào việc người đó có đọc ngôn ngữ đó từ trái sang phải hay không – và một phần phát triển từ việc Google học hỏi dần dần từ người sử dụng và sự lựa chọn của nhà quảng cáo. Do đó, việc chọn vị trí của mỗi quảng cáo trên trang trực tuyến được quyết định bằng giá trị của vị trí mỗi nhà quảng cáo nhận được đối với họ; và sự khác biệt giữa các mức đấu giá là thước đo giá trị của sự chú ý. Nếu mọi người đều có khả năng nhấp vào bất kỳ quảng cáo trên trang web như nhau, các nhà quảng cáo sẽ không sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để được đặt ở phía trên cùng của trang.

Sự hiểu biết thông thường về áp lực thương mại ngày càng tăng trên cả hai ngành công nghiệp báo chí và phát thanh là doanh thu của họ đang bị phá hoại bởi cả việc người dùng không sẵn lòng trả tiền cho bất cứ điều gì trực tuyến lẫn việc doanh thu từ việc quảng cáo trực tuyến thấp hơn rất nhiều so với quảng cáo ngoại tuyến (quảng cáo thông thường). Tuy nhiên, Varian lập luận rằng việc cho rằng quảng cáo ngoại tuyến đắt hơn rất nhiều là sai, vì sự so sánh thích hợp là giá của sự chú ý, chứ không phải là giá của bản thân quảng cáo.

Độc giả ngoại tuyến tạo ra 88% doanh thu quảng cáo báo chí tại Mỹ, và họ dành ra trung bình 24 phút mỗi ngày để đọc báo. Độc giả trực tuyến tạo ra 12% doanh thu quảng cáo và dành ra chỉ 1,2 phút một ngày để đọc. Vì vậy, quảng cáo ngoại tuyến rẻ hơn cho mỗi phút đọc khi so sánh với đọc báo trực tuyến, nó (quảng cáo ngoại tuyến) chiếm được gấp 20 lần sự chú ý mà chỉ tốn chi phí gấp bảy lần. Lý do có vẻ là do người ta đọc báo trực tuyến tại nơi làm việc, còn đọc báo ngoại tuyến ở nhà. Điều đó tạo nên thách thức thực sự cho báo chí để làm cho người dân dành nhiều thời gian hơn để đọc báo trực tuyến, Varian kết luận.

David Reiley (2011), nhà khoa học nghiên cứu chính (Principal Research Scientist) tại Yahoo! Research, mô tả các kết quả của một thí nghiệm nghiên cứu hơn một triệu khách hàng đã mua từ một nhà bán lẻ lớn của Mỹ và cũng là người sử dụng Yahoo! Các khách hàng được phân ngẫu nhiên vào hai nhóm xử lí và nhóm đối chứng. Nhìn vào số liệu của mỗi khách hàng về mức độ tiếp xúc với quảng cáo và việc mua sắm hàng tuần tại cửa hàng bán lẻ này, cả trực tuyến và tại cửa hàng, cho thấy tác động đáng kể về mặt thống kê và kinh tế của quảng cáo trên doanh thu. Tác động này kéo dài trong vài tuần sau khi kết thúc một chiến dịch quảng cáo, và tổng tác động lên doanh thu vượt quá chi phí của nhà bán lẻ dành cho quảng cáo. Một chiến dịch quảng cáo tốn 25.000 USD đem lại thêm doanh thu trong hai tuần là 83.000 USD (+/-70.000 USD- khoảng tin cậy rộng do số liệu doanh số bán lẻ có dao động lớn). Sau năm tuần, một chiến dịch quảng cáo được ước tính trị giá 33.000 USD đã tăng doanh số bán hàng thêm 250.000 USD +/-190.000 USD. Tuy nhiên, hầu hết các tác động của quảng cáo trực tuyến trên doanh số bán hàng là thông qua bán hàng tại cửa hàng.

Những bằng chứng khác được trình bày tại hội thảo cho rằng cá nhân hoá quảng cáo trực tuyến thường ít hiệu quả hơn so với việc gửi thông báo chung. Việc tuỳ chỉnh quảng cáo cho mỗi cá nhân căn cứ theo hành vi duyệt web của họ – được biết đến trong ngành công nghiệp là “tái lập mục tiêu động” – là tâm điểm niềm hy vọng khổng lồ của các nhà quảng cáo để đạt được hiệu quả lớn hơn nhờ sự liên quan của quảng cáo hiển thị cho từng cá nhân. Nhưng bằng chứng từ một thí nghiệm trực tuyến được trình bày bởi Anja Lambrecht của Trường Thương mại London (London Business School), (thí nghiệm này) sử dụng tái lập mục tiêu động ngẫu nhiên cho một công ty du lịch, cho rằng quảng cáo chung có nhiều khả năng khiến cho một người tiêu dùng quyết định mua hơn là một quảng cáo cụ thể, tăng khả năng chuyển đổi thêm 60%. Những người duy nhất mà các quảng cáo cụ thể có hiệu quả hơn là những người đã đọc qua một trang web đánh giá để tìm kiếm một loại sản phẩm cụ thể. Lambrecht cho rằng sự khác biệt này có thể chỉ ra rằng nhiều người tiêu dùng ban đầu không có sở thích rõ ràng, và sử dụng các quá trình tìm kiếm để tinh chỉnh sở thích của họ. Nhưng nếu họ đã biết đủ về những gì họ muốn mua để truy cập vào một trang web đánh giá, có thể nói là họ đã có sở thích khá cụ thể. Bài học cho ngành công nghiệp quảng cáo là để có hiệu quả lớn hơn họ sẽ cần phải có cái nhìn sâu sắc hơn hiện tại về quá trình ra quyết định của khách hàng, cần phải biết sở thích của họ đã cố định đến mức nào, và theo mức độ chi tiết mà quảng cáo nhắm tới một đối tượng khách hàng cần phải có để đạt hiệu quả (Lambrecht và Tucker 2011).

Lưu Anh Trí, Nguyễn Thị Trà Giang dịch

Nguồn: The invisible hand meets the invisible gorilla: The economics and psychology of scarce attentionVoxeu.Org, 03 Dec. 2011.

Diane Coyle là Giáo sư Kinh tế, Đại học Manchester; nhà sáng lập Kinh tế học Khai minh và là đồng giám đốc của Policy@Manchester.

Chứng vĩ cuồng: Hiện tượng và căn nguyên


Cao Xuân Hạo

Có một người bạn làm trong một cơ quan lưu trữ cho tôi biết rằng mỗi năm cơ quan anh phải thanh lý mấy tấn hồ sơ mà nội dung là những sáng kiến phát minh vĩ đại từ khắp nơi trong nước gửi đến ùn ùn, trong đó các tác giả hiến cho nhà nước những biện pháp không tiền khoáng hậu để biến nước ta thành nước tiên tiến trong một thời hạn kỷ lục. Anh bạn nói rằng ông giám đốc rất tiếc các hồ sơ ấy, nhưng mấy tòa nhà của cơ quan không thể nào chứa nổi số phát minh tới tấp đổ xuống như mưa kia, cho nên đành phải thanh lý thật nhanh sau khi gửi đến nhờ các cơ quan có thẩm năng duyệt qua và nhận được từ các cơ quan đó một câu trả lời dứt khoát, thường là “Bất khả thi” hoặc “Tác giả không hiểu chút gì về lĩnh vực đang bàn”.

Ðể minh họa, tôi chỉ xin đơn cử trường hợp của nhà phát minh đề nghị mượn một tên lửa vượt đại châu của Liên Xô để bắn vào Bắc cực ở một góc độ nhất định, làm trục quay của trái đất lệch thêm mươi độ, sao cho Việt Nam thay vĩ độ và trở thành một nước ôn đới (vì tác giả tin rằng chỉ có khí hậu ôn đới mới thích hợp với một tốc độ phát triển vũ bão, cho phép ta đuổi kịp và vượt xa các nước tiên tiến).

Cái số mấy trăm nghìn hồ sơ phát minh ấy, trong khi cho thấy một tinh thần yêu nước chân thành và thiết tha của các nhà phát minh, đồng thời cũng cho thấy tình hình sức khỏe tâm thần không ổn của họ, và cho phép suy ra con số đáng ngại của những người đang cần đến sự săn sóc của các bệnh viện tâm thần.

Khi tôi nói chuyện này với một người bạn làm bác sĩ tâm thần, bạn ấy bảo tôi là ngay trong các sách vở được xuất bản, hẳn cũng có khối ý tưởng hoang đường không kém mà mọi người coi là bình thường. Bạn ấy lấy ngay một cuốn sách dạy ngoại ngữ và chỉ cho tôi dòng sau đây: “Trong hiệu sách có bán sách, báo, tạp chí và các tiểu thuyết khác” (câu này được viết bằng tiếng Nga). Anh bạn bác sĩ kết luận rằng người viết câu này lẽ ra phải đi bệnh viện từ lâu, nhưng những người như thế quá đông và có uy tín lớn, cho nên khó đưa họ vào bệnh viện lắm.

Tôi bất giác liên hệ tới một nhà ngữ học phân các động từ làm 5 loại: 1) Ðộng từ nội động; 2) Ðộng từ ngoại động; 3) Ðộng từ nửa ngoại động; 4) Ðộng từ trừu tượng; ) Ðộng từ nói năng. Không thể nào hiểu nổi làm sao lại có thể có hai loại sau và làm sao lại không thể xếp chúng vào một trong ba loại đầu. Cách phân loại này hoàn toàn giống cách chia sự vật thành mấy loại: 1) sinh vật; 2) vô sinh vật; 3) cá; 4) gió. Thế mà mãi hai mươi năm sau mới có một tác giả trẻ nêu ra tính phi lý (đúng hơn, phải nói: tính điên rồ của cách phân loại động từ nói trên) và bài của anh ta vừa mới in xong đã bị một bậc thầy phê là “đọc chưa hiểu mà đã dám phê phán một tác giả lớn” như thế. Của đáng tội, làm sao anh bạn trẻ kia hiểu được, khi anh ta tư duy theo cái cách tầm thường và hèn hạ của toàn nhân loại, trong khi tác giả lớn kia có cách tư duy riêng, không cần đến lô gích, của bậc vĩ nhân xuất chúng?

Cách đây không lâu có một cuốn sách giáo khoa mà chương nào, mục nào cũng mở đầu bằng câu: “Lâu nay người ta cứ tưởng rằng (…) nhưng thật ra thì (…)”. Cái mà “lâu nay người ta tưởng” là những sự thật đã được cả loài người công nhận như “hai với hai là bốn” chẳng hạn, còn mấy chữ “thật ra thì” là những phát minh kiểu “hai với hai là chín” mà chỉ có những thiên tài như tác giả mới hiểu được. Cuốn sách ấy dày hơn 300 trang, mỗi trang đều chứa đựng những phát minh như thế mà không có lấy một lời biện hộ hay chứng minh, vì tác giả tin chắc rằng tư tưởng của mình là chân lý tuyệt đối và hiển nhiên, chỉ có nhân loại tầm thường mới không biết, và các nhà khoa học đi trước ngu dốt đến nỗi một vĩ nhân như tác giả ấy không hơi đâu mà hạ mình xuống tranh luận với họ.

Trên đây là một vài biểu hiện của chứng vĩ cuồng, một chứng bệnh tâm thần có vẻ vô hại vì quá lắm cũng chỉ góp phần làm phong phú thêm vốn chuyện tiếu lâm, nhưng lại có thể trở thành rất nguy hiểm trong những điều kiện nhất định, khi nó nhiễm vào những người làm nghề viết lách hay giảng dạy, nhất là những người có tên tuổi hay có học hàm học vị. Vào tay những người này, nó có thể tăng rất nhanh theo cấp số nhân và biến thành một bệnh dịch quật ngã hàng triệu người.

Một tình hình báo hiệu điềm gở là khi nghe hay đọc những điều quái đản mà chúng tôi vừa dẫn trên đây, phần đông đều thấy là bình thường, hợp lý và lành mạnh, và khi có ai tỏ ý kinh hoàng, thì chính người ấy bị mọi người coi là bệnh hoạn, hay vô đạo đức, vì đã có những lời lẽ bất kính đối với người trên.

Cho nên thiết tưởng cũng không đến nỗi thừa nếu ta thử khảo sát thực trạng và đi tìm căn nguyên của chứng bệnh này.

Vĩ cuồng (mégalomanie) là một bệnh tâm thần mà người ta thường tưởng là chỉ có một số nhân vật lịch sử hãn hữu như Nero hay Hitler. Thật ra, ít nhất ở ta hiện nay, nó khá phổ biến. Vì sao? Căn nguyên là ở đâu?

Trong một cuốn phim của Xưởng phim truyền hình Việt Nam, hai anh bộ đội phục viên đang thất nghiệp, tâm sự với nhau về căn nguyên của cái nghèo. Một anh nói: “Chẳng qua cũng chỉ vì nghèo. Càng nghèo càng dốt, càng dốt lại càng nghèo”. Hình như đó cũng là một chân lý. Nhưng xem ra, có lẽ cái chuỗi “DỐT – NGHÈO – DỐT” này còn thiếu một khâu nữa mới thật trọn vẹn: đó là khâu “KIÊU”: Càng nghèo càng dốt, càng dốt càng kiêu, càng kiêu càng dốt, càng dốt càng nghèo.

Phàm sinh ra ở đời, ai cũng dốt. Ði học được mươi năm, ta bớt dốt đi chút ít, nhưng người học sinh thông minh và biết điều hiểu rõ rằng những gì mình biết được so với những gì mình chưa biết chỉ là hạt muối bỏ biển, cho nên càng học càng thấy mình dốt. Thành thử có thể định nghĩa người có học thức là người biết mình dốt, hay nói như Khổng tử, “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri gia”; “biết cái gì thì biết là mình biết cái ấy; không biết thì biết là mình không biết, ấy là biết vậy”.

Có lẽ đó chính là cái yêu cầu, cái lý tưởng khó thực hiện nhất đối với người “có học thức”. Nó đòi hỏi nhiều đức tính rất khó có ở con người. Là người, ai cũng bị rất nhiều thứ áp lực thúc bách, trong đó áp lực mạnh nhất là áp lực của nhu cầu tự khẳng định. Nhu cầu này là trở ngại lớn nhất cho ý thức “tri chi vi tri chi”. Trong những điều kiện khó khăn như ở nước ta (nhất là trong thời chiến), người ta cần có địa vị, cần có bằng cấp, và cho thật nhanh. Học thì lâu quá, và nhiều người trong thâm tâm cũng biết là mình không đủ sáng dạ để học cho thật nhanh. Phải đi bằng con đường khác. Có những con đường có sức cám dỗ rất lớn – những con đường tắt và những con đường vòng của sự gian trá. Nhưng sự gian trá không phải không nguy hiểm. Nó có thể bị bại lộ. Có những người có lương tâm quá lớn, không thể tự dung túng cho mình sự gian trá. Mặt khác, không thể chọn con đường lao động học tập. Bị khép chặt giữa hai sức mạnh quá lớn, cõi vô thức trong tâm lý của những người ấy chọn một con đường thứ ba: một buổi sáng đẹp trời nào đấy, có một cái gì lóe lên trong trí họ. Họ chợt giác ngộ ra rằng họ là một người không cần học gì hết, vì một lẽ đơn giản là họ đã biết hết rồi, họ là một vĩ nhân, cách xa nhân loại hàng chục năm ánh sáng. Họ chợt hiểu rõ như ánh ban mai rằng những sách vở “kinh điển” mà họ đọc mãi không hiểu và tưởng đâu quá khó đối với mình, chẳng qua là một mớ giấy lộn do những đầu óc ngu đần viết ra – sản phẩm của những con người không đáng là học trò của họ. Trang tử, Mặc tử, Platon, Aristote, Einstein, Marx – một lũ dốt nát mà không hiểu tại sao người ta sùng kính. Sở dĩ mình đọc mãi mà không hiểu là vì những con người đó quá thấp so với tầm cỡ mình. Họ lấy làm lạ là sao ba bốn chục năm trời mình mới phát hiện được một điều đơn giản như vậy.

Cái hạnh phúc ấy quá lớn để họ có thể khước từ. Nó đưa những người như thế từ địa ngục lên thiên đường. Nó biến họ từ con sâu thành thần thánh. Từ nay, họ bước đi trên đường đời, lòng tràn đầy hoan lạc, nhìn xuống đám nhân loại tội nghiệp kia đang chìm trong cõi u tối, giương mắt bé nhìn mình mà không biết là đang nhìn ÁNH SÁNG CỦA CHÂN LÝ TUYỆT ÐỐI.

Cần lưu ý rằng họ đi đến sự thể này không phải do họ muốn. Họ không thể làm khác đi được. Họ chỉ là những nạn nhân, hoàn toàn bị động và vô thức. Họ như những người bị choáng hay bị ngất. Cho nên ta không thể trách họ. Cái giây phút oan nghiệt mà họ đã trải qua khi đột ngột trở thành vĩ nhân trước mắt chính mình, chỉ là kết quả cuối cùng của một quá trình tác động của những nhân tố phức tạp, khách quan có, chủ quan có, có thể kéo dài mấy chục năm.

Chứng vĩ cuồng không có cách gì chữa được. Không có cách gì lôi một con người ra khỏi cõi cực lạc mà họ đã đắm mình vào một cách hoàn toàn vô thức. Chính vì sự giác ngộ về sự vĩ đại của bản thân là hoàn toàn vô thức, cho nên không có cách gì chứng minh cho đương sự thấy rằng đó là một ảo giác.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh, nhất là một bệnh nan y như thế. Cách đề phòng duy nhất là làm sao các thế hệ đang lên không mắc vào cái họa ấy. Và muốn thế, chỉ có một cách là gạt bỏ mọi trở ngại trên con đường học vấn của con em chúng ta, làm sao cho chúng tiến đủ nhanh trên con đường ấy để khỏi bị dồn vào cái thế bí, buộc chúng tự huyễn hoặc mình bằng những ảo ảnh sinh ra từ chứng vĩ cuồng, để chúng luôn luôn nhớ rằng mình còn dốt, rất dốt, nhưng không phải là dốt một cách vô vọng, chỉ cần kiên nhẫn ít lâu là có thể đuổi kịp các bạn cùng lứa trên thế giới, rồi từ đó rất có thể vươn tới những đỉnh cao chân chính của khoa học hay nghệ thuật, chứ không phải những đỉnh cao hư ảo của sự điên rồ.

http://vannghe.free.fr/caoxuanhao/chung-vi-cuong.html

Cạm bẫy “Thấu cảm”


Peter Singer

PRINCETON – Ngay sau khi Barack Obama đắc cử Tổng thống Mỹ, ông đã nói với một cô gái trẻ: “Chúng ta không có đủ sự ‘thấu cảm’ trong thế giới ngày nay, và nó tùy thuộc vào thế hệ các bạn để thay đổi điều đó.” Obama đã thể hiện một cái nhìn trải rộng, vậy nên tiêu đề của một cuốn sách mới ra “Chống lại Thấu cảm” (Against Empathy), của nhà tâm lý học Paul Bloom đến từ trường ĐH Yale, đến như một cú sốc. Làm sao ai đó có thể chống lại một điều cho phép chính ta đặt mình vào thân phận người khác và cảm nhận những gì mà họ cảm nhận?

Để trả lời câu hỏi này, có lẽ ta cần đặt ra một câu hỏi khác: dzậy ta nên có sự ‘thấu cảm’ dzới ai? Khi Donald Trump chuẩn bị kế vị Obama, các nhà phân tích cho rằng Hillary Clinton bị thất bại trong cuộc bầu cử tháng trước vì thiếu sự ‘thấu cảm’ với người Mỹ da trắng, đặc biệt là cử tri các ‘bang Yết Hầu’ hoài mong về những ngày khi nước Mỹ còn là một công xưởng lực lưỡng. Vấn đề là ‘thấu cảm’ dành cho cần lao Mỹ sẽ ở trong thế giằng giật với ‘thấu cảm’ dành cho cần lao tại Mexico hay Trung Quốc, những người sẽ khốn đốn hơn nhiều nếu không có việc làm so với người đồng cảnh tại Mỹ.

Sự ‘thấu cảm’ khiến chúng ta nhân lành hơn với những người mà chúng ta ‘thấu cảm’. Điều đó là tốt, nhưng nó cũng có mặt tối. Trong các bài phát biểu tranh cử của mình, Trump đã sử dụng vụ thảm sát Kate Steinle bởi một người nhập cư không giấy tờ để tạo thêm sự ủng hộ cho các chính sách chống nhập cư của ông ta. Tất nhiên, ông đã không nêu ra hình ảnh sống động tương tự của những người nhập cư không giấy tờ đã xả thân cứu mạng người dưng, dù cho các trường hợp ntn cũng đã được đưa tin.

Các động vật với cặp mắt to tròn, kiểu như hải cẩu sơ sinh, gợi cho ta nhiều ‘thấu cảm’ hơn so với gà vịt, một loài vật mà ta vẫn trút vào chúng ngập nỗi đau. Con người có thể ngần ngại “gây hại” ngay cả với các rô-bốt vốn vô tri vô giác. Nhưng mặt khác, loài cá – vốn lạnh lùng, trơn nhẫy và không thể gào khóc – lại gợi lên cho con người ta rất ít cảm thông, dù cho, như Jonathan Balcombe đã chỉ ra trong cuốn What a Fish Knows (Nhận biết của một con cá), có rất nhiều bằng chứng cho thấy chúng cũng cảm thấy đau như loài chim và các loài động vật có vú.

Cũng thế, ‘thấu cảm’ với vài đứa trẻ, thực sự hay bị cho là, gặp tổn hại do chích ngừa vắcxin sẽ chủ yếu dẫn dắt dân túy chống lại việc chích vắcxin cho trẻ em để ngừa các bệnh hiểm nghèo. Kết quả là hàng triệu cha mẹ không cho con họ chích vắcxin, khiến hàng loạt trẻ em ốm yếu, số nhiều hơn bị nhiễm bệnh, một số tử vong, do dịch bệnh thay vì chịu chút dị ứng phản vệ từ việc chích vắcxin.

‘Thấu cảm’ có thể khiến chúng ta hành xử bất công. Các đối tượng trong một thí nghiệm lắng nghe một cuộc phỏng vấn với một đứa trẻ bị bệnh nan y. Một số được bảo là phải cố gắng hết sức khách quan, trong khi số khác được bảo hãy tưởng tượng đến cảm giác của đứa trẻ. Rồi tất cả được hỏi liệu họ có muốn đưa đứa trẻ này lên trước trong danh sách chờ đợi để được điều trị hay không, đặt trước những đứa trẻ khác vốn đã được đánh giá là cần được ưu tiên hơn. Ba phần tư số người được bảo là hãy tưởng tượng đến cảm giác của đứa trẻ đã thực hiện đề xuất này, so với chỉ một phần ba số người được bảo là phải cố gắng khách quan.

“Một cái chết thì đau đớn; triệu cái chết chỉ còn là một con số.” Nếu ‘thấu cảm’ khiến ta quá nghiêng về các cá nhân, thì các con số lớn sẽ làm tê liệt cảm giác mà lẽ ra ta phải có. Nhóm nghiên cứu phi lợi nhuận Decision Research (Nghiên cứu Tiến trình ra quyết định) có trụ sở tại Oregon mới đây đã lập một trang mạng, ArithmeticofCompassion.org, có mục tiêu tăng cường năng lực của mọi người trong việc truyền đạt thông tin về các vấn đề quy mô lớn với cảm giác không bị “tê liệt vì con số lớn.” Trong thời đại mà các câu chuyện cá nhân sống động lan truyền chóng mặt và gây ảnh hưởng tới chính sách công, khó mà nghĩ ra cái gì quan trọng hơn là hỗ trợ mọi người biết nhìn ra bức tranh bao quát hơn.

Chống lại ‘thấu cảm’ không phải là chống lại thương cảm (hay trắc ẩn). Ở một trong các phần thú vị nhất của cuốn Chống lại Thấu cảm, Bloom mô tả lại cách mà ông học biết được sự khác biệt giữa ‘thấu cảm’ và thương cảm từ Matthieu Ricard, một nhà sư nổi tiếng người Pháp tu trì tại Nepal mà đôi khi được mô tả là “con người hạnh phúc nhất trên trái đất.” Khi nhà thần kinh học Tania Singer (không anh em gì với tôi.. ^_^) đề nghị Ricard nhập định “quán thương cảm” (hay “quán từ bi”) ngay trong lúc não bộ của ông được máy quét, bà ngạc nhiên nhận thấy không có hoạt động nào ở vùng não vốn thường được kích hoạt khi người ta ‘thấu cảm’ cùng nỗi đau của người khác. Ricard, khi được đề nghị, có thể ‘thấu cảm’ cùng nỗi đau của người khác, nhưng ông thấy nó khó chịu khiến ông kiệt sức; ngược lại, ông mô tả quán từ bi như “một trạng thái ấm áp tích cực gắn liền với một động lực thúc đẩy [mối gắn kết] xã hội mạnh mẽ.”

Bà Singer cũng tập luyện cho những người-không-tu-thiền nhập định quán từ bi, bằng cách suy nghĩ nhân lành hướng tới một loạt người, bắt đầu từ người thân thuộc, đến bạn hành thiền và sau đó hướng ra ngoài tới cả những người dưng. Việc tập luyện ntn có thể dẫn tới cách cư xử nhân lành hơn.

Quán từ bi gần với phương pháp đôi khi được gọi “thấu cảm tri giác” (“cognitive empathy”), bởi vì nó bao hàm liên đới suy nghĩ và hiểu biết của ta về người khác, hơn là cảm giác của ta. Điều này đưa chúng ta đến với thông điệp quan trọng cuối cùng trong cuốn sách của Bloom: đó là cách thức mà khoa học tâm lý diễn tiến đã khiến nó coi nhẹ vai trò của lý trí trong cuộc sống.

Khi các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng một số lựa chọn và thái độ mà ta cho là đã được cân nhắc cẩn trọng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố không can hệ như màu tường, mùi phòng, hay như việc có một hộp đựng nước rửa tay sát trùng treo tường, thì các phát hiện này sẽ được công bố trên các tạp chí tâm lý học, thậm chí có thể trở thành tin tức hàng đầu trên các phương tiện thông tin đại chúng. Còn nghiên cứu mà cho thấy người ta ra quyết định dựa trên chứng cớ thích đáng sẽ khó được công bố hơn, do đó ít được công chúng biết điến đến hơn rất nhiều. Vậy nên tâm lý học có một thành kiến cố hữu chống lại quan điểm cho rằng chúng ta đưa ra các quyết định theo cách thức hợp lý.

Quan điểm tích cực hơn của Bloom về vai trò của lý trí phù hợp với những gì mà tôi lấy làm hiểu biết đúng đắn về đạo đức học. ‘Thấu cảm’ và các cảm xúc khác thường thúc đẩy ta làm những điều đúng đắn, nhưng hẳn là chúng cũng thường bình đẳng trong việc thúc đẩy ta làm những điều sai trái. Để đi đến các quyết định hợp đạo đức, khả năng suy lý của chúng ta giữ vai trò quyết yếu.

Leonvu Quant dịch từ nguồn:

https://www.project-syndicate.org/c…

Triết học ngôn ngữ và tâm lý học khách quan – Phần cuối


Bản chất tư tưởng – xã hội của tâm lý

Vấn đề ký hiệu bên trong là một trong những vấn đề quan trọng nhất của triết học ngôn ngữ. Bởi lẽ ký hiệu bên trong chủ yếu là ngôn từ, lời nói bên trong. Vấn đề lời nói bên trong, cũng như tất cả các vấn đề được xem xét trong bài này, là một vấn đề triết học. Nó nằm ở giao điểm của tâm lý học và các vấn đề của khoa học về tư tưởng. Một giải pháp phương pháp luận mang tính nguyên tắc cho nó chỉ có thể có được trên cơ sở triết học ngôn ngữ như là triết học về ký hiệu. Từ là gì trong vai trò một ký hiệu bên trong? Lời nói bên trong được thực hiện dưới hình thức nào? Hình thức ấy liên hệ với bối cảnh xã hội ra sao? Nó liên quan như thế nào đến phát ngôn bên ngoài? Đâu là phương pháp để phát hiện, nắm bắt, như ta vẫn thường nói, lời nói bên trong? – Chỉ có một triết học ngôn ngữ chín muồi mới có thể trả lời những câu hỏi này.

Hãy thử xét câu hỏi thứ hai. –  Lời nói bên trong được thực hiện dưới hình thức nào?

Ngay từ đầu đã rõ ràng, rằng tất cả, không có ngoại lệ, các phạm trù được ngôn ngữ học phát triển để phân tích các hình thức bên ngoài của ngôn ngữ – lời nói (như từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm) đều không áp dụng được cho việc phân tích hình thức lời nói bên trong, và nếu có, thì cũng cần phải có những cách xử lý quan trọng, bản chất.

Một phân tích kỹ lưỡng hơn sẽ cho thấy rằng đơn vị của lời nói bên trong là một thứ chỉnh thể, ít nhiều tương tự như một đoạn văn trong một lời độc thoại, hay một phát ngôn trọn vẹn. Nhưng hơn hết, nó giống như những lời đối đáp trong một cuộc đối thoại. Không phải vô cớ mà lời nói bên trong được các nhà tư tưởng cổ đại cảm nhận như là đối thoại nội tâm. Những chỉnh thể này không thể phân tách được thành các yếu tố ngữ pháp (hoặc chỉ được phân tách một cách đại khái với nhiều chú giải), và giữa chúng, giống như giữa những lời đối đáp trong đối thoại, không có quan hệ ngữ pháp, mà là sự thống trị của các loại quan hệ khác. Các đơn vị này của lời nói bên trong, những “ấn tượng tổng quátcủa phát ngôn, gắn bó chặt chẽ với nhau và thay thế lẫn nhau không phải theo quy luật ngữ pháp hoặc lôgích, mà theo quy luật tương ứng giá trị (cảm xúc), quy luật tiến triển đối thoại,… trong mối phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện lịch sử của tình hình xã hội và toàn bộ tiến trình thực tiễn cuộc sống.

Chỉ bằng cách làm sáng tỏ hình thức của các phát ngôn hoàn chỉnh, đặc biệt là hình thức của lời đối thoại, chúng ta mới có thể soi sáng hình thức lời nói nội tâm và lôgích đặc thù của việc khảo sát chúng trong dòng chảy của cuộc sống nội tâm.

Tất cả những vấn đề của lời nói nội tâm, mà chúng ta vừa điểm qua, tất nhiên, hoàn toàn vượt ra ngoài khuôn khổ công trình này. Việc khảo sát chúng một cách hiệu quả, hiện nay, nói chung là không thể. Bởi trước tiên cần phải có một khối lượng khổng lồ các dữ liệu thực tế và cần phải làm rõ nhiều vấn đề xuất phát và cơ bản hơn nữa của triết học ngôn ngữ, đặc biệt, chẳng hạn, vấn đề phát ngôn.

Tiểu kết

Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng vấn đề khu biệt tâm lý và tư tưởng có thể giải quyết trong lãnh thổ ký hiệu tư tưởng, là lãnh thổ chung và bao quát cả hai.

Một cách biện chứng, giải pháp này cũng xóa đi mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy tâm lý và chủ nghĩa phản tâm lý.

Chủ nghĩa phản tâm lý đúng khi nó từ chối việc chiết xuất tư tưởng tâm lý. Hơn thế nữa, khi nó cho rằng tâm lý phải được chiết xuất từ tư tưởng. Tâm lý học phải dựa vào khoa học về tư tưởng. Từ trước hết phải được sinh ra và trưởng thành trong quá trình giao tiếp xã hội của các cơ thể để rồi sau đó mới đi vào cơ thể và trở thành ngôn từ bên trong.

Tuy nhiên, chủ nghĩa duy tâm lý cũng đúng. Không có ký hiệu bên ngoài mà thiếu ký hiệu bên trong. Ký hiệu bên ngoài, nếu không có khả năng gia nhập vào bối cảnh của các ký hiệu bên trong, tức là, không có khả năng để hiểu và trải nghiệm, sẽ không còn là ký hiệu, mà hóa thành một vật thể vật lý.

Ký hiệu tư tưởng sống động nhờ sự thực hiện tâm lý của nó, cũng như sự thực hiện tâm lý sống động nhờ nội dung tư tưởng. Trải nghiệm tâm lý – đó là một thứ nội tâm trở thành ngoại tâm, còn ký hiệu tư tưởng – bên ngoài trở thành bên trong. Trong cơ thể – tâm lý là một thứ kiều dân. Đó là một thứ mang tính xã hội xâm nhập vào cơ thể của một cá nhân. Cũng vậy, mọi thứ mang tính tư tưởng đều là kiều dân trong lãnh thổ kinh tế – xã hội, bởi lẽ ký hiệu tư tưởng, nằm bên ngoài cơ thể, cần phải nhập vào thế giới nội tâm để thực hiện ý nghĩa của nó.

Như vậy, giữa tâm lý và tư tưởng tồn tại một mối quan hệ tương hỗ biện chứng không thể tách rời: tâm lý tự loại bỏ, tự phá hủy để trở thành tư tưởng và tư tưởng tự loại bỏ, tự phá hủy để trở thành tâm lý; ký hiệu nội tâm cần phải thoát khỏi tình trạng chìm ngập trong bối cảnh tâm lý (sinh học – tiểu sử), phải thôi là trải nghiệm chủ quan, để trở thành ký hiệu tư tưởng; còn ký hiệu tư tưởng thì phải đằm mình vào tập hợp các ký hiệu chủ quan nội tâm, phải vang lên bằng âm điệu chủ quan, để tiếp tục là ký hiệu sống động, mà không rơi vào địa vị danh dự của một hiện vật bảo tàng không ai hiểu.

Đây là sự tương tác biện chứng giữa ký hiệu bên trong và ký hiệu bên ngoài – giữa tâm lý và tư tưởng – sự tương tác đã nhiều lần thu hút sự chú ý của các nhà tư tưởng, tuy nhiên vẫn chưa được hiểu đúng và vẫn chưa được thể hiện đầy đủ.

Trong thời gian gần đây, nhà triết học và xã hội học quá cô Georg Simmel là người đưa ra những phân tích sâu sắc và thú vị nhất về mối tương tác này.

Simmel tiếp nhận mối tương tác này trong hình thức đặc trưng cho lối tư duy tư sản hiện đại – như là một “bi kịch văn hóa”, hay chính xác hơn, bi kịch của cá tính chủ quan sáng tạo văn hóa. Cá tính sáng tạo, theo Simmel, thủ tiêu chính mình, tính chủ quan của mình và cả “cá tính” trong sản phẩm khách quan mà chính nó tạo ra. Sự ra đời của các giá trị văn hóa khách quan có tiền đề là cái chết của tâm hồn chủ quan.

Chúng ta sẽ không đi vào chi tiết phân tích của Simmel về toàn bộ vấn đề này; trong đó có không ít quan sát tinh tế và thú vị. Chúng ta chỉ lưu ý những điểm bất cập chính trong quan niệm của Simmel.

Giữa tâm lý và tư tưởng, theo Simmel, có một khoảng cách không thể vượt qua: ông không biết đến thứ ký hiệu có hình thức thực tại chung cho tâm lý và tư tưởng. Ngoài ra, là một nhà xã hội học, nhưng ông vẫn không đánh giá đúng mức tính xã hội đậm đặc của cả thực tại tâm lý lẫn thực tại tư tưởng. Bởi lẽ, cả hai loại thực tại đó đều là sự khúc xạ của cùng một thực tại kinh tế – xã hội. Kết quả là, mâu thuẫn biện chứng sống động giữa tâm lý và thực tại, đối với Simmel, hóa thành một sự đối kháng trơ lì, bất động, thành một “bi kịch”. Ông đã cố gắng một cách vô vọng để khắc phục sự đối kháng tất yếu này bằng tính năng động mang màu sắc siêu hình của quá trình cuộc sống.

Chỉ trên cơ sở nhất nguyên luận duy vật mới có thể giải quyết một cách biện chứng tất cả những mâu thuẫn như vậy. Dựa trên các cơ sở khác, với những mâu thuẫn này, chúng ta hoặc phải bỏ qua, nhắm mắt làm ngơ, hoặc phải biến chúng thành những sự đối lập bế tắc, thành ngõ cụt của bi kịch.

Trong từ, trong mỗi phát ngôn, bất kể nó vớ vẩn đến mức nào, trong mọi trường hợp, bao giờ cũng diễn ra sự tổng hợp biện chứng sống động của tâm lý và tư tưởng, của cái bên trong và cái bên ngoài. Trong mỗi hành vi nói, trải nghiệm chủ quan bị phá hủy trong sự kiện khách quan của ngôn từ – tức phát ngôn – được nói, còn ngôn từ được nói thì lại được chủ quan hóa trong hành động hiểu đáp lại, để sớm hay muộn cũng sản sih ra một lời đáp. Mỗi từ, như chúng ta đều biết, là một đấu trường nhỏ của sự giao thoa và đấu tranh của các trọng âm xã hội theo các hướng khác nhau. Ngôn từ trên mỗi một cá nhân cụ thể đều là sản phẩm của sự tương tác sống động giữa các lực lượng xã hội.

Như thế, tâm lý và tư tưởng xâm nhập lẫn nhau một cách biện chứng trong quá trình giao tiếp xã hội khách quan và thống nhất.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQG HN 2015.

Triết học ngôn ngữ và tâm lý học khách quan – Phần IV


Như vậy, mọi ký hiệu, thậm chí cả ký hiệu cá nhân, đều mang tính xã hội. Vậy đâu là sự khác nhau giữa ký hiệu bên trong và ký hiệu bên ngoài, giữa ký hiệu tâm lý và ký hiệu tư tưởng?

– Ý nghĩa được thực hiện trên vật liệu của vận động bên trong là ý nghĩa hướng tới cơ thể, tới một cá thể nhất định; nó được xác định trước hết bởi bối cảnh cuộc sống riêng của cá nhân ấy. Về phương diện này, trong quan điểm của các đại diện của trường phái tâm lý học chức năng có một số điểm hợp lý nhất định. Bỏ qua sự thống nhất đặc thù của tâm lý – khác với sự thống nhất của hệ tư tưởng – là điều không thể chấp nhận. Tính đặc thù của sự thống nhất tâm lý hoàn toàn tương thích với cách hiểu mang tính tư tưởng và xã hội về tâm lý.

Trên thực tế, bất kỳ ý nghĩ mang tính nhận thức nào, dù ở trong ý thức hay trong tâm lý của tôi, khi nó được thực hiện, như chúng ta đã nói, đều được định hướng tới hệ thống tư tưởng của nhận thức, trong đó ý nghĩa ấy tìm thấy vị trí của nó. Ý nghĩ của tôi, theo nghĩa này, ngay từ đầu đã thuộc về một hệ tư tưởng và bị điều chỉnh bởi các quy luật của nó. Nhưng đồng thời nó cũng thuộc về một hệ thống khác, cũng duy nhất và cũng có những quy luật riêng của nó – đó là hệ thống tâm lý của tôi. Sự thống nhất của hệ thống này được xác định không chỉ bởi sự thống nhất của cơ thể sinh học của tôi, mà còn bởi tổng thể các điều kiện cuộc sống và xã hội, trong đó cơ thể ấy được đặt vào. Khi nghiên cứu suy nghĩ của tôi, nhà tâm lý học cần phải hướng tới sự thống nhất hữu cơ ấy của cá nhân tôi cũng như hướng tới các điều kiện tồn tại cụ thể của tôi. Còn nhà nghiên cứu tư tưởng thì chỉ quan tâm đến ý nghĩ này về mặt đóng góp của nó vào hệ thống nhận thức mà thôi.

Hệ thống tâm lý, được xác định bởi các yếu tố hữu cơ và tiểu sử (theo nghĩa rộng của từ này), tuyệt nhiên không đơn thuần là kết quả của “quan điểm” của nhà tâm lý học. Không, đây là một sự thống nhất có thực, cũng thực như cá thể sinh học, cơ sở của nó và cũng thực như tổng thể các điều kiện đời sống quyết định cuộc sống của cá thể này. Ký hiệu bên trong càng đan quyện chặt chẽ vào sự thống nhất của hệ thống tâm lý, càng bị quy định mạnh mẽ bởi các yếu tố sinh học và tiểu sử, thì nó càng cách xa sự biểu hiện tư tưởng đã hoàn tất. Ngược lại, trong quá trình hình thành và biểu hiện tư tưởng, ký hiệu bên trong dường như được giải thoát khỏi gông cùm của bối cảnh tâm lý giam giữ nó.

Điều này cũng quyết định sự khác biệt giữa quá trình hiểu ký hiệu bên trong, tức trải nghiệm, và quá trình hiểu ký hiệu thuần túy tư tưởng bên ngoài. Trong trường hợp đầu, hiểu có nghĩa là quy chiếu ký hiệu bên trong tới sự thống nhất của các ký hiệu bên trong khác, cảm nhận nó trong một bối cảnh tâm lý nhất định: trong trường hợp thứ hai – đó là cảm nhận ký hiệu đã cho trong hệ thống tư tưởng tương ứng. Quả thực, cả trong trường hợp đầu cũng cần phải xem xét ý nghĩa thuần túy tư tưởng của trải nghiệm: bởi nếu không hiểu ý nghĩa thuần túy nhận thức, có thể nói vậy, của một ý nghĩ, thì nhà tâm lý học cũng sẽ không thể hiểu được vị trí của nó trong bối cảnh tâm lý tương ứng. Nếu ông ta bỏ qua ý nghĩa nhận thức của ý nghĩ, thì trước mặt ông ta sẽ không còn suy nghĩ, không còn ký hiệu, mà chỉ còn lại một quá trình sinh lý học thuần túy trong cơ thể để thực hiện cái ý nghĩ, cái ký hiệu này. Chính vì vậy, tâm lý học nhận thức cần phải dựa trên ký thuyết về nhận thức và lôgích học, và nói chung tâm lý học phải dựa vào khoa học về tư tưởng chứ không phải là ngược lại.

Phải nói rằng mọi sự thể hiện ký hiệu bên ngoài, ví dụ, một phát ngôn, đều có thể được xây dựng theo hai hướng: tới chủ thể và từ chủ thể – tức là hướng tới hệ tư tưởng. Trong trường hợp đầu, mục đích của phát ngôn là thể hiện bằng ký hiệu bên ngoài các ký hiệu bên trong, có thể nói như vậy, và đòi hòi người nghe quy chiếu nó về bối cảnh bên trong, nghãi là hiểu một cách hoàn toàn tâm lý. Trường hợp thứ hai đòi hỏi một sự hiểu nội dung phát ngôn mang tính quy chiếu khách quan, thuần túy tư tưởng.

Sự khu biệt giữa tâm lý và tư tưởng diễn ra như thế.

Vấn đề tự nhìn nhận

Hình thức của tâm lý, của ký hiệu bên trong, mà chúng ta tiếp nhận được để quan sát và nghiên cứu, hình thức đó như thế nào? – Ở dạng thuần túy nhất của nó, ký hiệu bên trong, nghãi là trải nghiệm bên trong, chỉ có thể được tiếp nhận bởi sự nhìn nhận (nội quan).

Nội quan liệu có vi phạm sự thống nhất của trải nghiệm khách quan, bên ngoài hay không?

– Nếu hiểu đúng về tâm lý và nội quan thì không hề có vi phạm.

Trong thực tế, đối tượng của sự nội quan là ký hiệu bên trong, mà thật ra cũng có thể là ký hiệu bên ngoài. Lời nói bên trong cũng có thể vang lên. Kết quả của sự nội quan, trong quá trình tự tìm hiểu, nhất thiết phải được biểu hiện ra ngàoi hoặc, trong mọi trường hợp, ít nhất là tiếp cận đến trạng thái biểu hiện ra bên ngoài. Sự nội quan, về bản chất, chuyển động theo hướng từ ký hiệu bên trong đến ký hiệu bên ngoài. Như vậy, tính khả biểu thuộc về chính sự nội quan.

Nội quan là sự biểu hiện ký hiệu bên trong của chính mình. Chính vì vậy, nó khác với sự quan sát một sự vật vật lý hay một quá trình vật lý. Chúng ta không nhìn thấy và không chạm tới trải nghiệm: chúng ta hiểu nó. Điều này có nghĩa là trong quá trình nội quan, chúng ta đặt nó vào trong một bối cảnh nào đó của các ký hiệu được hiểu khác. Ký hiệu chỉ có thể được làm sáng tỏ nhờ sự trợ giúp của ký hiệu khác.

Nội quan là sự hiểu và do đó tất yếu phải diễn ra theo một xu hướng tư tưởng cụ thể nào đó. Quả thực, nó có thể được thự chiện vì những mục đích tâm lý, nhưng cả trong trường hợp đó nó cũng hiểu trải nghiệm trong một bối cảnh của các ký hiệu bên trong khác, hướng về sự thống nhất của cuộc sống tâm lý.

Trong trường hợp này, sự nội quan rọi sáng  các ký hiệu bên trong bảng hệ thống nhận thức của các ký hiệu tâm lý, làm rõ và phân biệt các trải nghiệm, hướng tới một mô tả chính xác về nó. Nhiệm vụ này được đặt ra, chẳng hạn, cho các đối tượng khảo sát trong một thí nghiệm tâm lý học. Phát ngôn của đối tượng được khảo sát là một báo cáo tâm lý hoặc một bán thành phẩm của một báo cáo như thế.

Nhưng nội quan cũng có thể đi theo hướng khác, về phía sự tự khách quan hóa luân lý và đạo đức. Ở đây, ký hiệu bên trong được đưa vào hệ thống các đánh giá và chuẩn mực đạo đức, được hiểu và trở nên rõ ràng từ quan điểm của chúng.

Nội quan, với tư cách là sự hiểu, cũng có thể có các định hướng khác. Nhưng ở mọi nơi mọi lúc, nội quan đều chủ động hướng tới việc làm sáng tỏ ký hiệu bên trong, tới việc tăng cường độ sáng tỏ ký hiệu của nó. Quá trình này đạt đến giới hạn của nó khi đối tượng nội quan được hiểu hết, tức là, có thể trở thành đối tượng của không chỉ sự nội quan, mà còn của cả sự quan sát tư tưởng (ký hiệu) thông thường.

Do đó, nội quan, như là một sự hiểu mang tính tư tưởng, thuộc về sự thống nhất của trải nghiệm khách quan. Thêm nữa, cần phải bổ sung điều sau đây: trong từng trường hợp cụ thể, không thể vẽ một đường ranh giới rạch ròi giữa các ký hiệu bên trong và ký hiệu bên ngoài, giữa nội quan và ngoại quan – quá trình đưa ra những chú giải liên tục, cả chú giải ký hiệu lẫn thực tiễn, đối với các ký hiệu bên trong được hiểu.

Các chú giải thực tiễn luôn luôn hiện hữu. Sự hiểu bất kỳ ký hiệu nào, cả bên ngoài và bên trong, đều diễn ra trong mối liên hệ chặt chẽ với toàn bộ tình huống thực hiện ký hiệu. Tình huống này ngay cả trong sự nội quan cũng được tiếp nhận như là một tập hợp các dữ kiện của trải nghiệm bên ngoài, chú giải, soi sáng cho ký hiệu bên trong. Tình trạng ấy bao giờ cũng là tình huống xã hội. Sự định hướng trong tâm hồn mình (nội quan), trên thực tế, không thể tách rời khỏi sự định hướng trong một tình huống xã hội nhất định của trải nghiệm. Vì vậy, tính sâu sắc của sự nội quan phụ thuộc chặt chẽ vào tính sâu sắc của sự hiểu biết về định hướng xã hội. Việc bỏ qua hoàn toàn định hướng xã hội dẫn đến việc triệt tiêu hoàn toàn trải nghiệm chẳng khác gì việc bỏ qua hoàn toàn bản chất ký hiệu của nó. Như chúng ta sẽ thấy kỹ hơn trong phần sau, ký hiệu và tình huống xã hội của nó gắn bó chặt chẽ với nhau. Ký hiệu không thể tách rời khỏi tình huống xã hội mà không mất đi bản chất ký hiệu của nó.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQG HN 2015.

Triết học ngôn ngữ và tâm lý học khách quan – Phần III


Lý luận tâm lý học và lý luận phản tâm lý học

Dường như có một kiểu thay đổi luân phiên giữa một xu hướng duy tâm lý tự nhiên, nhấn chìm mọi nghiên cứu tư tưởng và xu hướng quyết liệt phản tâm lý, gạt bỏ tất cả các nội dung khỏi tâm lý, quy nó về một vị trí hình thức chủ nghĩa, gần như trống rỗng (như trong tâm lý học chức năng) hoặc đến một quan điểm sinh lý học trần trụi. Còn tư tưởng, một khi bị quan điểm phản tâm lý liên tục tước mất vị trí tồn tại bình thường của nó (cụ thể là ở tâm lý), nói chung là không còn nơi tồn tại, buộc phải rút từ thực tại vào khoảng không siêu nghiệm, hoặc thậm chí trực tiếp hóa thành siêu nghiệm.

Vào đầu thế kỷ XX, chúng ta vừa được trải nghiệm một đợt sóng phản tâm lý mạnh mẽ (nhưng, tất nhiên, còn xa mới là đợt đầu tiên trong lịch sử). Các tác phẩm nền móng của Husserl, đại diện chính của chủ nghĩa phản tâm lý hiện đại; các công trình của những môn đệ của ông – những nhà dự định luận (“hiện tượng luận”); sự chuyển đột ngột theo hướng phản tâm lý của các đại diện Kant – mới đương đại thuộc trường phái Marburg và Freiburg; việc gạt bỏ quan điểm duy tâm lý ra khỏi tất cả các lĩnh vực của kiến thức, thậm chí cả tâm lý học (!) – tất cả những điều này là sự phát triển triết học và phương pháp luận quan trọng nhất của hai thập niên vừa qua của thế kỷ này.

Hiện nay, làn sóng phản tâm lý bắt đầu giảm bớt. Thay thế nó là một làn sóng mới, và có thể thấy rõ là rất mạnh mẽ, của chủ nghĩa tâm lý. Hình thức thời thượng của chủ nghĩa duy tâm lý là triết học cuộc sống. Dưới thương hiệu “triết học cuộc sống”, thứ chủ nghĩa duy tâm lý hung hãn nhất, với tốc độ nhanh bất thường, một lần nữa lại chiếm lĩnh tất cả những vị trí mà nó mới từ bỏ gần đây trong tất cả các lĩnh vực của triết học và khoa học về tư tưởng.

Làn sóng duy tâm lý đang đến gần không mang theo nó bất cứ nguyên lý mới nào về thực tại tâm lý. Trái ngược với xu hướng duy tâm lý thực chứng – kinh nghiệm chủ nghĩa (mà đại diện điển hình là Wundt) trước đó (nửa sau thế kỷ XIX), xu hướng duy tâm lý mới nhất này thiên về việc giải thích tồn tại bên trong, giải thích “bản chất của trải nghiệm” – theo cách nói của siêu hình học.

Như vậy, sự thay đổi biện chứng giữa chủ nghĩa duy tâm lý và chủ nghĩa phản tâm lý không dẫn đến sự xuất hiện của một hợp đề biện chứng. Cho đến nay, cả vấn đề tâm lý học lẫn vấn đề tư tưởng đều chưa được triết học tư sản giải quyết thỏa đáng.

Đặc điểm của ký hiện bên trong (ngôn ngữ bên trong)

Cơ sở để giải quyết cả hai vấn đề phải được xác định đồng thời và trong mối tương quan chặt chẽ. Chúng tôi tin rằng cả hai lĩnh vực sẽ được tiếp cận một cách khách quan bằng cùng một chìa khóa duy nhất. Chiếc chìa khóa đó chính là triết học về ký hiệu, cũng tức là triết học về ngôn từ, như là một ký hiệu tư tưởng par excellence. Ký hiệu tư tưởng – đó là lãnh thổ chung của tâm lý và tư tưởng, một lãnh thổ vật chất, xã hội và có ý nghĩa. Chính trong lãnh thổ này cũng xảy ra sự phân chia giữa tâm lý và tư tưởng. Tâm lý không phải là một bản sao của phần còn lại của thế giới (trước hết là tư tưởng) và phần còn lại của thế giới không nhất thiết phải là một chủ giải vật chất so sài cho một cuộc độc thoại tâm lý.

Nhưng nếu thực tại của tâm lý là một thực tại ký hiệu, thì làm sao vạch ra được ranh giới giữa tâm lý chủ quan cá nhân và hệ tư tưởng theo đúng nghãi của từ này, vì hệ tư tưởng cũng là một thực tại ký hiệu? Cho đến lúc này chúng ta mới chỉ ra lãnh thổ chung, bây giờ cần phải vạch ra biên giới tương ứng bên trong lãnh thổ ấy.

Bản chất của vấn đề này, tóm lại, là xác định cái ký hiệu bên trong (trong cơ thể), cho phép ta tự nhìn nhận trong thực tại trực tiếp của nó.

Nhìn từ quan điểm của bản thân nội dung tư tưởng, giữa tâm lý và tư tưởng không có và không thể có ranh giới. Mọi nội dung tư tưởng, không có ngoại lệ, bất kể nó được thể hiện bằng chất liệu ký hiệu gì, đều có thể hiểu được, do đó, đều có thể thể hiện trong tâm lý, nghĩa là, có thể được tái tạo bằng chất liệu ký hiệu bên trong. Mặt khác, mọi hiện tượng tư tưởng, trong quá trình hình thành nó, đều xuyên qua tâm lý như là một giai đoạn tất yếu. Xin nhắc lại, mọi ký hiệu tư tưởng bên ngoài, bất kể nó thuộc loại nào, đều được gột rửa từ mọi phía bởi ký hiệu bên trong – bởi ý thức. Nó sinh ra từ biển cả các ký hiệu bên trong ấy và trong biển ký hiệu ấy nó tiếp tục sống, bởi vì cuộc sống của ký hiệu bên ngoài là trong quá trình đổi mới không ngừng của sự hiểu, trải nghiệm và học hỏi, tức là, trong sự tham dự không ngừng vào bối cảnh nội tâm.

Vì vậy, từ quan điểm nội dung, giữa tâm lý và tư tưởng không có ranh giới nguyên tắc mà chỉ có một sự khác nhau về mức độ: ideologeme (yếu tố tư tưởng) ở giai đoạn phát triển bên trong chưa được thể hiện qua một chất liệu tư tưởng bên ngoài, là một ideologeme mơ hồ; nó chỉ được hiểu, được phân biệt, được cố định trong quá trình hóa thân thành tư tưởng. Ý định luôn luôn nhỏ hơn sáng tạo (ngay cả khi sáng tạo không thành công). Ý tưởng, khi mới chỉ tồn tại trong bối cảnh ý thức của tôi và chưa được củng cố trong bối cảnh của khoa học như là một hệ thống tư tưởng thống nhất, vẫn còn là một ý tưởng mơ hồ và chưa hoàn chỉnh. Nhưng ngay ở trong bối cảnh ý thức của tôi, ý tưởng này đã hướng về hệ thống tư tưởng và bản thân nó được sinh ra bởi các ký hiệu tư tưởng mà tôi đã thu nhận trước đó… Xin nhắc lại, các ký hiệu tư tưởng mà tôi đã thu nhận trước đó… Xin nhắc lại, ở đây không có sự khác biệt về chất. Nhận thức trong sách vở và lời nói của người khác và nhận thức trong đầu cùng thuộc về một vùng thực tại, và sự khác biệt, dù tồn tại trong đầu và sách vở, không liên quan đến nội dung của nhận thức.

Khó khăn lớn nhất đối với chúng ta trong việc phân định tâm lý và tư tưởng là khái niệm “cá nhân”. Cá nhân thường được quan niệm như là cái đối lập của “xã hội”. Từ đó, tâm lý thường được cho là có tính cá nhân, còn tư tưởng thì có tính xã hội.

Cách hiểu đó sai lầm từ cội rễ. Đối lập với “xã hội” là “tự nhiên”, do đó, không phải là cá nhân hiểu như là một cá tính, mà như là một cá thể sinh học tự nhiên. Cá nhân, với tư cách là chủ suy nghĩ của mình, tư cách là kẻ chịu trách nhiệm về suy nghĩ và mong muốn của mình, một cá nhân như vậy là một hiện tượng xã hội và tư tưởng trọn vẹn. Vì vậy, nội dung của tâm lý “cá nhân” về bản chất cũng mang tính xã hội chẳng khác gì tư tưởng, và mức độ ý thức về bản sắc cá nhân và các quyền năng nội tâm của mỗi người cũng mang tính tư tưởng và lịch sử, hoàn toàn bị quy định bởi các yếu tố xã hội. Mọi ký hiệu, về bản chất, đều mang tính xã hội, và ký hiệu bên trong cũng mang tính xã hội không ít hơn ký hiệu bên ngoài.

Để tránh nhầm lẫn, luôn luôn cần phải phân biệt rạch ròi giữa một bên là khái niệm cá thể mang tính đơn nhất, tự nhiên, không gắn gì với thế giới xã hội, như nó được biết và nghiên cứu bởi nhà sinh vật học, và bên kia là khái niệm cá nhân, đã là một kiến trúc thượng tầng mang tính tư tưởng và ký hiệu nằm bên trên cá thể tự nhiên và do đó mang tính xã hội. Hai nghĩa của từ “cá nhân” (cá thể tự nhiên và bản sắc cá nhân) thường bị lẫn với nhau, kết quả lý trong lý luận của đa số các nhà triết học và tâm lý học thường xuyên có terminorum quaternio: lúc được hiểu thế này, lúc được hiểu thế khác.

Nếu nội dung của tâm lý cá nhân cũng mang tính xã hội như tư tưởng, thì nhìn từ phương diện khác, các hiện tượng tư tưởng cũng mang tính cá nhân (theo nghĩa tư tưởng của từ này) chẳng khác gì các hiện tượng tâm lý. Mọi sản phẩm tư tưởng đều mang dấu ấn cá nhân của tác giả hoặc các tác giả tạo ra nó, nhưng dấu ấn này cũng mang tính xã hội như tất cả các đặc tính và dấu hiệu khác của các hiện tượng tư tưởng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQG HN 2015.