Loài khỉ siêu quần thể – Phần cuối


Học hỏi lẫn nhau?

Dĩ nhiên, hầu hết các thí nghiệm và trò chơi được mô tả đều cho thấy rằng việc dành thời gian cùng nhau cho phép chúng ta học cách xây dựng niềm tin và khuyến khích hợp tác. Nhưng chúng ta cũng đã biết rằng quá trình cộng tác không cần sự tiếp xúc lặp đi lặp lại với cùng một cá nhân thì mới có thể hình thành được. Ernst Fehr và Simon Gaechter, hai nhà kinh tế học người Thụy Sĩ, đã chứng minh rằng sự cộng tác có thể tự sinh ra cho dù những người chơi không tương tác thường xuyên với nhau. Họ chia những người tình nguyện thành từng nhóm bốn người, trao cho những người này một số tiền mặt đầu tư và bắt đầu chơi xoay vòng. Mỗi thành viên trong nhóm được yêu cầu đặt hết ngân quỹ của mình vào một khoản đầu tư và lợi nhuận của nó sẽ tỷ lệ thuận với tổng lượng đầu tư của mỗi nhóm (chứ không phải mỗi thành viên). Nói cách khác, nhóm sẽ có lợi nếu như tất cả các thành viên cùng tham gia và sẽ bất lợi nếu có một thành viên lùi bước – chiến lược phẩm sẽ được chia theo khoản đầu tư thực hiện. Điểm khác biệt ở trò chơi này chính là các nhóm sẽ được thay đổi sau mỗi lượt chơi – do đó, loại bỏ khả năng các cá nhân học hỏi lẫn nhau một cách trực tiếp. Sự hợp tác quả thật có xuất hiện ở một mức độ thấp, nhưng sẽ cao hơn nhiều khi khái niệm về hình phạt cho những người không hợp tác được áp dụng, cho dù người trừng phạt không được lợi gì khi phạt người khác (anh ta hoặc cô ta sẽ không chơi với người đào thoát nữa).

Cách hợp tác xây dựng thế giới

Vậy tất cả những điều nói về lý thuyết trò chơi này cho ta hiểu được gì?

Thứ nhất, bất kỳ hình thức cộng tác nào cũng dường như là một chiến lược hay đối với các loài động vật có tính bầy đàn trong ngắn, trung và dài hạn. Thứ hai, nó có vẻ như mang đến một lợi thế tiến hóa nào đó (những người cộng tác trong giới hạn có xu hướng ứng phó với hầu hết những người chơi khác tốt hơn trong dài hạn). Và do đó, thứ ba là chiến lược không hợp tác (hành động hoàn toàn vì lợi ích cá nhân) có thể có giá trị trong ngắn hạn ở nhiều tình huống (như nó có thể dễ dàng chiếm lĩnh toàn bộ người hợp tác) nhưng rõ ràng đây không phải là giải pháp lý tưởng cho mọi tình huống.

Như Adam Smith đã trình bày:

Dù con người có ích kỷ thế nào đi chăng nữa, rõ ràng là vẫn có một số nguyên tắc trong bản chất của anh ta khiến anh ta quan tâm đến số phận của người khác, và xem hạnh phúc của họ cũng là điều thiết yếu đối với mình, dù anh ta không nhận được gì từ điều này ngoài cảm giác hài lòng.

Và có thể điều này chỉ là một mảnh ghép cuối cùng của loài khỉ siêu quần thể của chúng ta: không chỉ sinh ra đã là một sinh vật siêu-quần thể, không chỉ tạo ra nhau qua quá trình tương tác từ những khoảnh khắc đầu tiên sau khi ra đời, mà chúng ta còn sử dụng những kỹ năng và xu hướng bầy đàn này để trải qua nhiều thế hệ phát triển thành một sinh vật có tính cộng tác vượt trội biết sử dụng những năng khiếu bầy đàn kỳ diệu của mình. Xu hướng cộng tác này (dù theo hướng giải thích về di truyền hay chuyển giao văn hóa) cho phép chúng ta làm chủ và thay đổi thế giới nơi ta đang sống; đồng thời trao cho chúng ta chìa khóa dẫn đến sự hủy diệt của chính mình.

Những chiếc áo sơ mi – tác phẩm của nhiều bàn tay

Trong cuốn sách đặc biệt của mình, Paul Seabright mô tả sự nhiệm màu của hoạt động kinh tế mà giống loài mang tính cộng tác của chúng ta đã sản sinh ra. Ông chứng minh làm thế nào một hành vi tiêu dùng đơn giản (như mua một chiếc áo sơ mi) lại bao gồm sự cộng tác của hàng ngàn người trên khắp thế giới, mà hiếm có ai trong số họ từng hoặc sẽ gặp nhau hay biết nhiều về nhau. Nhưng họ đã thực sự cộng tác với nhau.

Sáng nay, tôi ra ngoài và mua một chiếc áo sơ mi. Không có gì bất thường ở nó; trên khắp thế giới, có lẽ 20 triệu người đang làm điều tương tự. Điều đáng chú ý là, giống như 20 triệu người này, tôi không báo trước cho bất kỳ ai việc mình sắp làm. Bông vải lấy từ Ấn Độ, từ những hạt giống phát triển ở Mỹ; sợi chỉ nhân tạo từ Bồ Đào Nha, vải lót cổ áo từ Brazil, máy móc nhập khẩu từ Đức; chiếc áo được ráp tại Malaysia (và dĩ nhiên) các kỹ sư ở Cologne và các hóa học ở Birmingham cũng tham gia vào quá trình sản xuất này từ rất lâu.

Dĩ nhiên, không một cá nhân nào có được kế hoạch tổng thể (không một “ông trùm” áo sơ mi toàn cầu nào có thể đảm bảo rằng Paul và những người khác trên khắp thế giới sẽ có cái họ muốn). Cũng như Paul không bao giờ là một phần của quy trình tính toán sản xuất. Nhưng nhờ sự cộng tác, hay “thương mại” theo cách gọi của chúng ta, phép màu ấy trở thành hiện thực. Paul có được chiếc áo sơ mi của mình, đúng kích thước, kiểu dáng, màu sắc như mong muốn, trong cửa hàng anh ghé qua và vào đúng ngày, anh đến đó.

Về bản chất, chúng ta đều có tính cộng tác để hoạt động thương mại có thể diễn ra một cách hiệu quả. Nhờ các phương tiện truyền thông và dịch vụ hậu cần hiện đại mà thương mại quốc tế có thể phát triển mạnh mẽ với tốc độ chóng mặt. Và điều nàytạo ra cho chúng ta phương tiện để thay đổi thế giới nơi ta đang sống. Ngày nay, các kỹ thuật và công nghệ mới có thể được chia sẻ và truyền tải đi khắp thế giới gần như tức thì. Con người sớm có khả năng học hỏi từ những gì họ thấy xung quanh mình, ở những người đồng trang lứa cũng như kẻ thù và chia sẻ điều này ngược trở lại – yếu tố cốt lõi dẫn đến thành công của giống loài chúng ta.

Nếu không có nó – chúng ta chỉ là một loài khỉ có tính quần thể, khôn ngoan và lặng lẽ. Nhưng nhờ có nó, chúng ta có thể xây dựng thế giới đến mức nắm giữ cả số phận của nó trong hai bàn tay nhỏ bé đến kỳ lạ của mình.

Tổng kết

Chúng ta đã truy tìm một số sự thật giản đơn về giống loài chúng ta, Loài người thông thái (homo sapiens). Chúng ta không phải là một nhánh tách biệt của tạo hóa mà vô cùng gần gũi với toàn tinh tinh, và do đó có nhiều điểm tương đồng hơn so với chúng ta vẫn tưởng.

+ Giống như tinh tinh (và loài tinh tinh lùn yêu chuộng hòa bình) chiến lược tiến hóa cốt yếu của chúng ta là trở thành một loài có tính quần thể. Điều này hình thành nên bộ não và cơ thể của chúng ta.

+ Giống như tinh tinh, điều này có nghĩa là cảm thông và tìm kiếm sự bầu bạn, hỗ trợ và tình cảm của người khác.

+ Giống như tinh tinh, bộ não của chúng ta phát triển được là nhờ vào quá trình tương tác với người khác. Cuộc sống của chúng ta phụ thuộc vào nó nên chúng ta cảm thấy tốt hơn khi ở cùng người khác và ngược lại.

Khác biệt giữa chúng ta không phải ở chỗ chúng ta là một giống loài cá nhân chủ nghĩa mà ngược lại. Quá trình tiến hóa đã chọn cơ thể này, bộ não này để biến chúng ta trở thành một giống loài mang tính quần thể thành công hơn so với những người họ hàng của mình. Một loài khỉ có tính quần thể tột bậc nếu bạn thích gọi như thế.

Một loài khi được sinh ra để thực sự cộng tác cùng nhau, với cả người thân, bạn bè lẫn người lạ. Nơi đây ẩn chứa sức mạnh và phương tiện để chúng ta làm chủ môi trường của mình đến mức chúng ta là loài linh trưởng đầu tiên có khả năng tự hủy diệt chính mình bằng cách hủy diệt thế giới nơi ta đang sống.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Mark Earls – Tâm lý bầy đàn – NXB THTPHCM – 2012

Loài khỉ siêu quần thể – Phần IX


Trò chơi bắt đầu

Để giải quyết những câu hỏi nêu trên, chúng ta cần hiểu được “lý thuyết trò chơi” là gì. Đây có thể coi là phát minh của Johan von Neumann, một nhà toán học vĩ đại, một tay cờ bạc bịp, và mới đây là một thành viên trong nhóm Dự án Mahattan. Sự yêu thích của ông đối với bài xì phé và các trò chơi khác không chỉ đơn thuần là để vui chơi giải trí; đầu tiên và trước hết, điều khiến ông quan tâm là cách mọi người ứng xử trong giới hạn của các trò chơi và các dạng hành vi khác mà ta có thể nhận biết từ cách ứng xử đó. Nếu Von Neumann là người đặt nền móng cho lý thuyết trò chơi thì Merrill Flood của Tập đoàn West Coast RAND chính là người phát triển ra trò chơi nổi tiếng nhất: thế tiến thoái lưỡng nan của người tù nhân. Mô hình toán học đơn giản này đã được các nhà triết học và tâm lý học đạo đức, các nhà toán học và các nhà lý luận chính trị sử dụng làm phương tiện để hiểu rõ những chiến lược về hành vi giữa hai hay nhiều người chơi.

Ở phiên bản đầu tiên và đơn giản nhất của trò chơi, chỉ có hai tù nhân. Cả hai bị bắt giam với cùng tội danh, và cả hai đều được nhà tù đề nghị giúp đỡ. Nếu đồng ý làm chứng chống lại người kia để xóa án cho mình thì người làm chứng này sẽ được tha bổng trong khi người bị buộc tội sẽ chịu một hạn tù dài hơn. Nếu không ai đồng ý đứng ra làm chứng, cả hai đều bị kết án nhưng với thời hạn ngắn hơn so với trường hợp đầu tiên. Nếu cả hai đều đứng ra tố giác người còn lại thì án phạt dành cho cả hai có thời hạn trung bình, không dài hơn trường hợp đầu và không ngắn hơn trường hợp thứ hai.

Hãy tưởng tượng rằng bạn là một trong hai tù nhân trên: bạn sẽ làm gì? Liệu bạn có chịu đứng ra làm chứng hay không? Nếu tính toán theo các tỷ lệ phần trăm, điều hợp lý mà bạn phải làm luôn là tố giác. Khả năng này mang lại kết quả tốt nhất trong hầu hết các tình huống – nếu tố giác người kia (còn người kia thì không), bạn sẽ được tha bổng; nếu cùng tố giác lẫn nhau, cả hai sẽ chỉ chịu một mức án trug bình. Chính vì thế, theo quan điểm hợp lý, đây thật sự không phải là một tình huống tiến thoái lưỡng nan (cho dù tôi đã dành nhiều buổi chiều mưa trong vai  một sinh viên triết học liên tục tranh luận rằng có nhiều yếu tố tiến thoái lưỡng nan trong đó).

Vấn đề đối với một loài động vật có tính quần thể – và đây là nơi vấn đề đó thực sự bắt đầu tác động đến hành vi con người – là tình thế lưỡng nan trên đúng cho cả hai tù nhân, chính vì thế mà cả hai buộc phải tố giác nếu họ hành động một cách có lý trí. Mà kết cục có thể là cả hai đều bị tống giam và đều bất lợi.

Trò chơi vẫn cứ tiếp diễn

Điều này trở nên thật sự thú vị khi bạn lặp lại trò chơi này nhiều lần trong một khoảng thời gian. Ở đây, nếu hai tù nhân có thể giao tiếp với nhau – chúng ta học hỏi từ cách hành xử của người khác. Chúng ta học cách hiểu được những động thái của họ, xác suất họ có từ bỏ hay không; và điều này cho phép chúng ta đưa ra quyết định hợp lý hơn về hành động của mình thay vì chỉ dựa vào tính hợp lý giản đơn và biệt lập. Chúng ta có thể hành động theo quan điểm trọn vẹn hơn của một cá nhân – người có số phận gắn bó với chúng ta. Điều này rất giống với đời sống xã hội của chúng ta. Nếu biết được cách hành xử khả dĩ của những người ảnh hưởng đến môi trường hàng ngày của mình, chúng ta có thể đưa ra nhiều quyết định hữu ích hơn cho bản thân.

Thực hiện theo một cách khác: việc lặp đi lặp lại trò chơi cho phép chúng ta hợp tác với tù nhân kia – hành động theo cách có thể tối đa hóa lợi ích cá nhân của cả hai bởi vốn dĩ chúng luôn gắn bó mật thiết với nhau trong tình huống này. Nếu tôi chơi xấu hàng xóm của mình bằng việc đổ rác trước sân nhà họ thì họ luôn có nhiều cơ hội để trả đũa tôi. Hầu như những người hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh đều hiểu rằng nếu chúng ta gian lận với nhà cung cấp hay khách hàng của mình, không sớm thì muộn họ cũng sẽ rời bỏ chúng ta. Nói một cách nhẹ nhàng hơn, nếu chúng ta không thể thực hiện những gì đã hứa, khách hàng (hay cử tri) sẽ bỏ đi; nếu chúng ta không thanh toán các hóa đơn của nhà cung cấp, họ sẽ, nếu có thể, lôi chúng ta ra tòa.

Hợp tác xuyên quốc gia?

Nhưng đây thật sự có phải là cách mà sự hợp tác xuất hiện trong loài người không? Các nhà tâm lý học khám phá ra điều này trong vô số các hình thái – những thay đổi về quy tắc, án phạt, phần thưởng và các kiểu tính cách giả định khác nhau ở người chơi. Lúc nào cũng vậy, đúng là sự từ bỏ chỉ xảy ra một lần có thể đáng giá – sự cám dỗ để từ bỏ luôn tồn tại cùng chúng ta. Như vậy, chiến lược tốt nhất là gì? Đâu là cách chơi tốt nhất trong cuộc sống thực?

Nhà kinh tế học kiệt xuất Robert Axelrod đã phát minh ra một thí nghiệm để tìm ra câu trả lời cho vấn đề này. Ông yêu cầu các chuyên gia lý thuyết trò chơi đề xuất đâu là chiến lược tốt nhất cho tình huống lưỡng nan của người tù được thực hiện lại theo cách luân chuyển. Mỗi người phải chơi với tất cả những người còn lại và tổng số điểm của tất cả các vòng chơi sẽ xác định ai là người chiến thắng. Về cơ bản, chiến lược này chính là một hệ thống các quy tắc tương tác: như luôn hợp tác dù người chơi khác hành động như thế nào (đây xem ra là một chiến lược khá tồi). Trong số mười bốn người chơi gồm các nhà tâm lý học, kinh tế học và toán học, người chiến thắng có lẽ là người đơn giản nhất. Anatol Rappaport đề xuất chiến lược “ăn miếng trả miếng” (TFT). Chiến lược này khởi đầu là sự hợp tác nhưng sau đó sẽ kết thúc bằng sự đào thoát nếu đối phương cũng chọn cách đà thoát ngay từ vòng đầu. Tuy nhiên, nếu đối phương hợp tác thì chiến lược TFT này cũng phản hồi tương tự. Vì vậy, như một chiến lược cho trò chơi, TFT tận dụng các cơ hội hợp tác và trừng phạt những kẻ đào thoát. TFT hiếm khi được khai thác cho nhiều hơn một vòng đấu.

Nhưng điều đó không có nghĩa rằng TFT là chiến lược tốt nhất cho mọi tình huống – nếu bạn đối mặt với một người cộng tác vô điều kiện, rõ ràng sự đào thoát vô điều kiện là một chiến lược hiệu quả hơn (gã khờ đó sẽ không trừng phạt bạn và bạn có thể tiếp tục chiến thắng). Lý do vì sao TFT chiến thắng trò chơi của Axelrod là bởi nó được lợi trong hầu hết các tình huống chứ không phải vì nó vượt trội hơn hẳn.

Quan trọng là về bản chất, TFT là một chiến lược “tốt” – tức là nó không đào thoát trước, với giả định rằng nếu bạn thích chiến lược tốt nhất của đối phương. Tám trong số mười bốn chiến lược hàng đầu trong trò chơi ban đầu của Axelrod đều “tốt”. Nhưng nó cũng không để những kẻ đào thoát hưởng lợi quá lâu. Dĩ nhiên, những phiên bản về sau của trò chơi của Axelrod cho thấy nhiều biến thể được cải tiến của chiến lược này: chẳng hạn như GTFT (ăn miếng trả miếng một cách hào phóng) cho phép những kẻ đào thoát thực hiện vài lượt đi trước khi bị trừng phạt.

Và dĩ nhiên, TFT có thể là một chiến lược thảm họa, khóa chặt đối thủ vào một chu kỳ vô tận của sự trả đũa (hãy nghĩ về mối hận truyền kiếp Sicilian kéo dài nhiều thế hệ sau mâu thuẫn đầu tiên). Tương tự, TFT có một sai lầm to lớn khi nó giả định rằng dữ liệu chúng ta thu thập được về người chơi khác là đúng, tức sự đào thoát luôn được tính toán cẩn trọng và có chủ đích, thay vì chỉ xem nó là một sai sót (thử nghĩ về những vấn đề của nước Mỹ trong việc thấu hiểu các đạo luật về chính sách ngoại giao của nước Nga Xô viết và điều này đã khiến hai bên tàn phá lẫn nhau như thế nào). Các biện pháp cộng tác và hợp tác luôn có xu hướng kết thúc đầu bảng nếu bạn chơi trò chơi đủ lâu. Một số thậm chí còn sản sinh ra những mô phỏng tiến hóa cho rằng, sau nhiều thế hệ, nhóm dân cư có xu hướng cộng tác sẽ kết thúc ở vị trí đầu bảng.

Nhưng hãy cẩn trọng: chúng ta không cần phải biến điều này thành một nguyên tắc đạo đức nào đó trong tự nhiên (dù rất dễ xem phẩm chất này là một chiến lược đơn giản). Thực tế là có nhiều sinh vật không tư duy (và do đó không có đạo đức) vẫn tuân theo các loại nguyên tắc tương tác này (như loài khỉ, dơi hay thậm chí là cá), điều này cho thấy rằng dù hành vi đạo đức của chúng ta hào nhoáng đến mức nào thì sự cộng tác cũng có một nguồn gốc chức năng trong các loài động vật có tính quần thể. Quan trọng hơn, nó còn cho thấy rằng chiến lược về tính tư lợi hợp lý không phải là điều được quan tâm nhất đối với loài khỉ bầy đàn.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Mark Earls – Tâm lý bầy đàn – NXB THTPHCM – 2012

Loài khỉ siêu quần thể – Phần VIII


Thông thường, những triệu chứng này hình thành tại thời điểm nào đó sau khi sinh – cha mẹ và các nhân viên y tế thường nhận ra một số khó khăn về hành vi khi trẻ được hai tuổi trở lên. Không phải lúc nào cũng bất thường khi một đứa trẻ bình thường đi ngược lại quá trình phát triển, và đièu này khiến một số người xem các mũi tiêm phòng cho trẻ là một yếu tố mang tính nhân quả cốt lõi (ngày nay, quan điểm này đã bị bác bỏ sau những nghiên cứu trên diện rộng, đồ án nghiên cứu của chính những người khởi xướng quan điểm này và quá trình phân tích các tài liệu về sau).  Các chuyên gia thừa nhận rằng nhiều yếu tố (liên quan đến môi trường lẫn di truyền) có thể tham gia vào quá trình sinh ra điều kiện này nhưng điều đó không giúp giảm đau khổ cho phụ huynh hay đứa trẻ.

Một đứa trẻ hay người trưởng thành bị tự kỷ sẽ khóa mình trong một thế giới riêng tư kỳ lạ, nơi người khác không thể hiểu nổi cũng như cảm thấy bối rối cả về mục đích lẫn hành vi. (Lưu ý rằng không phải trong trường hợp nào kỹ năng ngôn ngữ cũng vắng mặt). Một người tự kỷ cảm thấy khó tham gia trọn vẹn vào thế giới như cách chúng ta biết bởi họ không thể tương tác thành công với người khác, không thể có được lợi ích trọn vẹn từ lợi thế tiến hóa cốt lõi của giống loài chúng ta. Họ có thể trở nên bị ám ảnh bởi hành vi của mình (như: người anh hùng trong cuốn tiểu thuyết đoạt giải, Bí ẩn con chó lúc nửa đêm, không thể ăn thức ăn có màu khác nhau; đứa con trai của một người bạn cố gắng ghi nhớ và đọc vanh vách tất cả các biển số ô tô mà nó nhìn thấy trên đường tới trường) nhưng nhiều chuyên gia cho rằng đây là một cơ chế phòng thủ tâm lý. Đó là nỗ lực của cá nhân trong việc mang lại trật tự cho thế giới vốn rối rắm và đáng sợ bằng cách mô tả lại chúng hoặc hành xử theo cách có thể hiểu được. Khi những cơ chế phòng thủ này bị đem ra thử thách (chẳng hạn như khi hành vi ám ảnh ấy bị từ chối hay bị gián đoạn), kết quả là mức độ căng thẳng tăng cao, giống như một chú tinh tinh bị đuổi khỏi bầy.

Dựa trên quan điểm cho rằng đặc điểm chính của căn bệnh là việc không có khả năng và/hoặc không sẵn sàng tương tác hiệu quả với người khác và không có khả năng “đọc được suy nghĩ” của người khác, không có gì bất ngờ khi trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học thần kinh cho rằng nó là kết quả từ sự rối loạn chức năng của các tế bào thần kinh phản chiếu – thứ vốn giúp chúng ta tương tác hiệu quả với người khác và hiểu được ý định của họ. Vilayanur Ramachandran, nhà khoa học thần kinh gốc Ấn, là một trong những người đầu tiên khởi xướng quan điểm này. Nghiên cứu ban đầu của ông đã vận dụng một cách tài tình thực tế rằng một thành phần của hình chụp cắt lớp não, điện đồ não (EEG), sóng mu (mu wave), sẽ bị chặn lại khi một người thực hiện một chuyển động cố ý như di chuyển bàn tay, sóng mu cũng bị chặn khi người đó xem người khác thực hiện hành động tương tự.

Bằng cách so sánh sóng mu trong các điện não đồ của những người tự kỷ và những người không bị tự kỷ cùng tham gia thí nghiệm. Ram (tên thường gọi của ông) và cộng sự của mình có thể chứng minh rằng hiện tượng chắn sóng mu xuất hiện ở những người không bị tử kỷ khi họ quan sát chuyển động tay và cả khi thực hiện cử động tay ấy. Ngược lại, các điện não đồ của người bị tự kỷ cũng cho thấy hiện tượng chắn sóng mu khi họ cử động tay nhưng khi họ quan sát người khác chuyển động tay thì hiện tượng này không xuất hiện. Các nhà nghiên cứu khác như Mirella Dapretto của Đại học California, Los Angeles và Andrew Whiten cũng ủng hộ quan điểm này bằng những nghiên cứu riêng của mình.

Hãy so sánh thế giới cô độc và không đồng cảm của người tự kỷ với nhóm người Join-me hay đám đông cuồng nhiệt bóng đá của Christine: mọi người cũng như bạn và tôi. Những người thuộc hai nhóm sau là những động vật có kỹ năng bầy đàn cao, những người lựa chọn để được ở cùng nhau và cảm thấy tốt hơn khi có nhau. Sự vắng mặt của một chức năng quan trọng trong bộ não ở nhóm đầu tiên càng nhấn mạnh tầm quan trọng mạnh mẽ của bản chất bầy đàn của chúng ta. Điều quan trọng là, bệnh tự kỷ tiết lộ sự thật về việc chúng ta thực sự là ai. Nếu chúng ta không phải là một động vật mang tính bầy đàn phát triển và được lập trình để ở cùng nhau, cuộc sống của chúng ta sẽ rất khác.

Hợp tác: Chìa khóa thành công

Khả năng hợp tác là món quà kỳ diệu mà tổ tiên chúng ta ban tặng. Loài tinh tinh chứng tỏ khả năng hợp tác vượt trội của mình trong cuộc sống hàng ngày – mối liên kết lâu dài giữa những cá nhân được hình thành từ hành động chải lông cho nhau mang đến sự đảm bảo và an toàn trong một môi trường quần thể, nơi có thể nên bạo lực và thường xuyên thay đổi nếu không có sự hợp tác. Loài tinh tinh thông thường và loài tinh tinh lùn có được nhiều lợi ích thực tế to lớn từ sự cộng tác – chia sẻ nguồn thức ăn, chăm sóc con cái, giáo dục và huấn luyện…

Chúng ta có xu hướng nghĩ về loài người theo cách khác. Ít nhất là ở phương Tây, chúng ta xem con người là những sinh vật được dẫn dắt bởi nhu cầu và khao khát của bản thân. Theo các nhà nhân chủng học và xã hội học, đây chính là lý do vì sao tôn giáo và các bài học về đạo đức lại quan trọng trong xã hội của chúng ta đến thế. “Đối xử với người khác…” chỉ là một dạng hô hào cổ vũ. Nhưng đằng sau đó, loài người là loài ích kỷ và tự tư tự lợi, có phải vậy không? Trái lại, vì sao chúng ta lại cần đến những tiêu chuẩn đạo đức này? Thật ra, các nhà kinh tế học cổ điển có xu hướng giả định rằng tính ích kỷ cá nhân này chính là chìa khóa dẫn đến bản chất của chúng ta. Về cơ bản, bàn tay vô hình của Adam Smith là một cách để thể hiện điều này – khi theo đuổi lợi ích cá nhân của mình, mỗi chúng ta đều tương tác với người khác.

Nhưng điều này có đúng là sự thật không? Tất nhiên, những con số vĩ đại về cuộc cách mạng công nghệ Anh mà Smith rất ngưỡng mộ là mối liên hệ chặt chẽ với nhóm thành viên hiệp hội giáo hữu tương thuộc (Quaker), những người đã xây dựng nền móng cho kinh doanh và thay đổi cách thức bán hàng của chúng ta; họ đúng là một tập thể. Và quá trình trao đổi hàng hóa mà tất cả những người kinh doanh đều theo đuổi từ thế hệ này sang thế hệ khác luôn giả định rằng một gã nào đó đang sắp lừa gạt bạn. Hãy dạo quanh bất kỳ khu chợ nào trên thế giới – từ Calcutta đến Camden – và bạn sẽ thấy được hành động này. Và bạn thấy nó trong các nhóm gia đình, trong kinh doanh và trong các môn thể thao tập thể. Có phải xu hướng hợp tác này chỉ là một phản ứng mang tính văn hóa trước hành động theo đuổi mang tính di truyền của chúng ta về tính tự tư tự lợi hay là thứ chúng ta được lập trình để thực hiện? Hay một thứ gì mà chúng ta đã nâng lên tầm cao mới?

Sự tư lợi và hợp tác

Không thể phủ nhận rằng đôi khi tội phạm cũng đáng giá. Thỉnh thoảng bạn làm điều gì đó sai trái, thoát tội và có kết cục êm đềm. Nói một cách nhẹ nhàng hơn, đôi khi, việc tỏ ra ích kỷ trong ngắn hạn sẽ tốt hơn, cho dù là không phạm tội. Một số người ở phương Tây (và nhiều người thuộc phe cánh hữu) lập luận rằng đây là một sự thật to lớn hơn nhiều. Những cá nhân có lý trí hành động theo tính logic luôn tìm kiếm lợi ích bản thân trước (theo Hobbes, nếu không có sự bảo vệ của hợp đồng và luật thực thi, mỗi chúng ta có thể trở thành một “con mồi”). Điều này hoàn toàn đúng trong thế giới thực nơi người ta gian lận, dối trá và lừa gạt lẫn nhau mỗi ngày. Nhưng liệu đây có phải là một quy phạm? Thậm chí nó có tồn tại trong bản chất của chúngta như một số người biện giải cho Adam Smith muốn chúng ta tin?

Điều này từ lâu đã là một câu hỏi lớn về bản chất con người, thứ định hình nên cuộc tranh cãi chính trị và quá trình tư duy về cách chúng ta tổ chức bản thân mình. Những câu hỏi lớn là: Liệu có tốt hơn cho một loài động vật có tính quần thể như chúng ta theo đuổi sự tư lợi của Hobbes hay liệu một dạng hợp tác nào đó sẽ có lợi hơn? LIệu nó có nằm trong bản chất của chúng ta? Liệu nó có lợi cho chúng ta nếu chúng ta được lập trình để phổ biến các gen di truyền của mình?

Trò chơi bắt đầu

Để giải quyết những câu hỏi nêu trên, chúng ta cần hiểu được “lý thuyết trò chơi” là gì. Đây có thể coi là phát minh của Johan von Neumann, một nhà toán học vĩ đại, một tay cờ bạc bịp, và mới đây là một thành viên trong nhóm Dự án Manhattan. Sự yêu thích của ông đối với bài xì phé và các trò chơi khác không chỉ đơn thuần là để vui chơi giải trí; đầu tiên và trước hết, điều khiến ông quan tâm là cách mọi người ứng xử trong giới hạn của các trò chơi và các hành vi khác mà ta có thể nhận biết từ cách ứng xử đó. Nếu Von Neumann là người đặt nền móng cho lý thuyết trò chơi thì Merrill Flood của Tập đoàn West Coast RAND chính là người phát triển ra trò chơi nổi tiếng nhất: thế tiến thoái lưỡng nan của người tù. Mô hình toán học đơn giản này đã được các nhà triết học và tâm lý học đạo đức, các nhà toán học và các nhà lý luận chính trị sử dụng làm phương tiện để hiểu rõ những chiến lược về hành vi giữa hai hay nhiều người chơi.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Mark Earls – Tâm lý bầy đàn – NXB THTPHCM – 2012

Loài khỉ siêu quần thể – Phần VII


Âm thanh của đám đông

Trước khi quen biết người chồng lịch lãm của mình, cô bạn Christine của tôi thường háo hức có được một buổi hẹn hồ trong đêm Lễ Tình Nhân. Nhưng theo nhiều cách, đó lại là điều tốt đẹp bởi nó cho phép co dành thời gian cho tình yêu đầu đời của mình là Câu lạc bộ bóng đá Asernal.

Vào một tối tháng Hai ẩm ướt năm 1988, cô thấy mình đứng ở khu vực Clock End trong Sân vận động Highbury để theo dõi trận bóng giao hữu giữa những chàng trai của cô và đội tuyển trẻ của Pháp do Michel Platini huấn luyện. Vào thời đó, Highbury không phải là một thành phố quốc tế như ngày nay (có vẻ như một nửa đội tuyển Pháp đang chơi cho các “Gooners”). Đúng vậy, vì đám đông người dân “ngoại quốc” Bắc London là những kẻ thô lỗ, và tất cả những người nước ngoài khác cũng thế.

Chính vì thế, thú vị là trong 30 phút đầu của trận đấu, toàn bộ sân vận động cùng hát vang một bài hát bằng tiếng Pháp. Giống như nhiều bài hát cổ động bóng đá khác, nó hoài nghi về tư cách “cầm cân nảy mực” của trọng tài nhưng theo cách khá hóm hỉnh: “Thằng kh… trong bộ đồ đen kia là ai?” Phải thừa nhận rằng câu hát đó có vấn đề về mặt ngữ pháp. Cũng như nó không sâu sắc hay không du dương, vậy mà cứ được lặp đi lặp lại. Tuy nhiên, điều khiến tôi ngạc nhiên về hiện tượng này chính là tốc độ mà bài hát được người hâm mộ bắt nhịp và hát cùng nhau. Và cả cái cảm giác sảng khoái mà Christine và những người hâm mộ khác kể lại.

Không tập dượt, không có nhạc trưởng, không có dàn hợp xướng để dẫn dắt đám đông. Không thứ gì “buộc” họ phải làm thế. Họ học lẫn nhau, họ bắt chước và cùng tham gia một cách vô thức.

Loài khỉ biết cảm thông

Sự sao chép và cảm thông không chỉ là những hiện tượng của con người. Chúng còn được phát hiện ở những người họ hàng không phải người của chúng ta. De Waal đã kể câu chuyện về một con tinh tinh, khi nghe tiếng kêu ai oán từ một con chim sẻ bị thương, nó đã mạo hiểm sinh mạng, leo xuống cái hào bao quanh khu vực của mình để bế chú chim lên và bình tĩnh thả nó bay đi. Câu chuyện của các nhà linh trưởng học luôn chứa đầy sự cảm thông mà đối tượng nghiên cứu của họ đã thể hiện trong các mối quan hệ lâu dài.

Tôi đặc biệt cảm động trước câu chuyện mà Dunbar sử dụng để mở đầu cuốn sách có sức ảnh hưởng lớn nhất của ông: Dunbar kể lại việc ông được một con tinh tinh chải lông cho mình, cảm giác ban đầu căng thẳng khi những ngón tay thoăn thoắt của chú tinh tinh di chuyển tán loạn trên da ông, đến khi có một chút sơ suất và da ông bị trầy xước, cảm giác thoải mái tràn ngập khắp người ông.

Tất cả chúng ta đều hưởng lợi từ cử chỉ tiếp xúc thân thiện với người khác; những cảm giác tương tự mà Dunbar mô tả sẽ xuất hiện khi chúng ta được ôm hay ghì chặt. Và một lần nữa, đặc tính hóa học của bộ não sẽ thay đổi khi điều này xảy ra; chúng ta cảm thấy thoải mái bởi vì bộ não của chúng ta tràn ngập các chất gây nghiện tự nhiên hay endorphin. Còn điều gì ẩn khuất sau giá trị to lớn của hành động ôm ấp hay vuốt ve thường thấy trong các mối quan hệ thân thiết của con người? Một số người cho rằng điều này ít nhất cũng là lời giải cho công hiệu của nhiều loại dược phẩm thay thế. Chẳng hạn như chuỗi chương trình truyền hình do đài BBC thực hiện gần đây đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng tác dụng của châm cứu trong việc khống chế chứng viêm khớp mãn tính hay gặp ở đầu gối. Họ lập ra ba nhóm “mù kép” (double-bin cells) (đó là một bệnh nhân được lựa chọn và phân bố ngẫu nhiên vào ba nhóm): (1) chỉ sử dụng thuốc, (2) sử dụng thuốc và châm cứu, (3) sử dụng thuốc và hình thức châm cứu chỉ có tác dụng “trấn an” (tức là sử dụng kim châm mà không đâm xuyên qua da bởi loại kim này đặc biệt giống như thanh gươm đạo cụ trên sân khấu). Trong khi bệnh nhân ở nhóm thứ hai có nhiều cải thiện nhất thì nhóm thứ ba (nhóm được châm cứu trấn an) cũng cảm thấy khỏe hơn hẳn. Người ta cho rằng phần lớn là do mối tương tác xúc giác của con người.

Một người bạn của tôi bị nghiện loại hình massage trong các spa chăm sóc sức khỏe; và theo kinh nghiệm của mình, tôi cam đoan rằng cơ chế hoạt động trong trường hợp này cũng tương tự. Chúng ta cần sự tiếp xúc từ người khác để cảm thấy ổn hơn. Không có gì ngạc nhiên khi đời sống tình dục của những cá thể biến dị giai đoạn sơ sinh – chúng ta – lại tràn ngập đủ mọi cảm giác xúc giác. Cơ thể của chúng ta khoan khoái hơn rất nhiều nhờ tiếp xúc với người khác.

Ngôn ngữ và vuốt ve

Có thể bạn cho rằng điều này rất tốt nhưng điều khiến chúng ta khác biệt với các loài khỉ khác chính là khả năng ngôn ngữ. Chúng không thể nói chuyện hay giao tiếp theo cách của chúng ta, hay bắt bẻ lập luận, viện dẫn bằng chứng như cách Mark đang làm.

Đúng vậy. Nhưng hãy phân tích nguồn gốc của ngôn ngữ. Có phải hiện nay mọi người nhất trí rằng những năng lực ngôn ngữ của con người đã phát triển cao hơn hành vi vuốt ve và chải lông ở các loài khỉ khác. Thảo nào mà hầu như toàn bộ nội dung giao tiếp khi tôi và bạn gặp mặt nhau đều thông qua ngôn ngữ cơ thể, giọng nói và ngữ điệu. Rất ít nội dung giao tiếp được thực hiện qua ngôn từ. Cũng không có gì bất ngờ khi phần lớn những gì chúng ta nói với nhau đều xoay quanh các mối quan hệ – Dunbar và những nhà nghiên cứu trong nhóm đã chứng minh được rằng những gì được ghi nhớ từ các câu chuyện tán gẫu (theo hình thức truyền miệng) chính là những thứ có giá trị xã hội. Tức là ai làm điều gì cho ai, và hàm ý xã hội của việc làm đó là gì. Vì vậy, ngay cả thứ bạn muốn bám lấy và xem như khả năng hay kỹ năng vượt trội để phân biệt chúng ta với các loài khỉ khác đều bắt nguồn từ hành vi mang tính bầy đàn của loài khỉ, và quả thật, nó chỉ là phiên bản tốt nhất của hành vi bắt chấy rận cho nhau mà thôi.

Sự cô độc của bệnh tự kỷ

Tất cả chúng ta đều là một dạng đột biến nào đó; mỗi chúng ta là một biến thể độc nhất từ mã gien của cha mẹ và ông bà. Mỗi chúng ta đều khác biệt đôi chút so với tiêu chuẩn bởi khi mã gien được sao chép từ cha mẹ cho con cái, có một chút gì đó bị mất đi trong quá trình chuyển hóa. Nhưng hiếm có trường hợp gây ra cho chúng ta những khó khăn thật sự trong cuộc sống bởi vì hầu như không có biến thể nào để lại ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc có hại cho hình dạng và chức năng tự nhiên, bình thường của các giống loài.

Tuy nhiên, có nhiều tình huống bộ não chúng ta không thể phát triển như cách vốn có của nó. Một tình huống phổ biến nhất (ít ra là trong trí tưởng tượng của mọi người) và rõ ràng nhất là chứng tự kỷ – một loại bệnh vốn gây phiền não nhất cho các bậc phụ huynh. Leo Kanner ở Baltimore và Hans Asperger ở Áo đã mô tả chứng rối loạn phát triển có hại này, và đặt tên nó theo một từ Hy Lạp là “autos”, tức “self” (“tự”). Bệh tự kỷ có thể cùng tồn tại với các trường hợp rối loạn chức năng khác (như hội chứng Down), nhưng nhìn chung người ta hiểu chứng bệnh này là hiện tượng mất khả năng tương tác và cảm thông với người khác.

Quá trình chẩn đoán này nay có hệ thống hơn, như hệ thống 10 điểm ở Mỹ chẳng hạn (xem Bảng 1), còn ở Anh là 7 điểm. Tuy nhiên, yếu tố cốt lõi của quá trình chẩn đoán nằm ở sự tương tác xã hội.

Bảng 1: Tóm tắt các tiêu chuẩn DSM-III-R về bệnh tự kỷ (Mỹ)

+ Khiếm khuyết định tính trong tương tác xã hội tương hỗ (như là thiếu nhận thức hay cảm giác về người khác, không có khả năng bắt chước hay bắt chước kém, không có hành vi nô đùa với mọi người hay hành vi nô đùa không bình thường,…).
+ Khiếm khuyết định tính trong giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ và trong hoạt động đòi hỏi trí tưởng tượng (như không có cách giao tiếp – nói lảm nhảm, cử chỉ, điệu bộ hay ngôn ngữ nói; đáng chú ý là ngôn ngữ cơ thể bất thường – nét mặt, dáng điệu cơ thể; không có hoạt động giàu tính tưởng tượng – như không tham gia trò chơi đóng vai, không thích thú với các câu chuyện về những điều tưởng tượng, nổi bật là khiếm khuyết về khả năng khởi xướng hay duy trì cuộc đàm thoại với người khác, có xu hướng độc thoại).
+ Danh mục các hoạt động và sở thích rất hạn chế (chẳng hạn như những cử động cơ thể rập khuôn giống như búng tay, giật giật đầu; khăng khăng giữ lấy các bộ phận của một vật thể hay đặc điểm của chúng ta hay những vật thể khác thường; dễ đau buồn trước những thay đổi không đáng kể trong môi trường; khăng khăng bám theo lề thói thông thường và giữ lấy những sở thích hạn chế)

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Mark Earls – Tâm lý bầy đàn – NXB THTPHCM – 2012

Loài khỉ siêu quần thể – Phần VI


Người khác ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào

Các nhà tâm lý phát triển (sau Piaget) từng nghĩ rằng tất cả chúng ta phát triển một cách tự nhiên qua một số giai đoạn định trước, tuy nhiên, nhận xét này ngày càng khó thuyết phục khi chúng ta ngày càng hiểu biết nhiều hơn về những năm tháng đầu đời của mình và những gì xảy ra. Trên thực tế, các nhà linh trưởng học đang đóng một vai trò quan trọng trong việc mô tả những gì còn thiếu trong nhận xét trên về vai trò thật sự quan trọng của người khác đối với cuộc sống của chúng ta.

Ngày nay, có vẻ như người khác đang có một vai trò quan trọng trong việc hình thành nên mỗi chúng ta. Từ những phút giây đầu tiên sau khi chúng ta được sinh ra, người khác đã hình thành nên bộ não của chúng ta – cả về mặt thể chất lẫn cảm xúc. Khi mới được sinh ra, con người hay tinh tinh đều bắt chước theo những gương mặt và âm thanh xung quanh và cả hai đều phản ứng trước tiếng khóc của những đứa trẻ/tinh tinh khác bằng hành vi bồn chồn.

Hầu như ai trong chúng ta cũng thực hiện điều này trong suốt cuộc đời mình. Chúng ta phản chiếu lại ngôn ngữ cơ thể, giọng điệu của người khác để giao tiếp hiệu quả hơn. Khi bạn bước vào một quán rượu, hãy quan sát xem người ta bắt chước (hay cố không bắt chước) lẫn nhau như thế nào. Ở mỗi khía cạnh của cuộc sống, chúng ta đều bắt chước nhau bay tự tạo cho mình sự khác biệt so với người khác thông qua hành vi, quần áo, chất giọng và ý kiến. Tôi sẽ thảo luận thêm về điều này ở phần sau, nhưng sự thật là chúng ta bắt đầu trở thành con người thật của mình thông qua việc bắt chước người khác – mỗi chúng ta là một sinh vật duy nhất trên hành tinh này với nhận thức duy nhất về việc chúng ta là ai – với, nhờ và thông qua người khác. Những ai không được khích lệ đúng mức vào giai đoạn thơ ấu khi bộ não bắt đầu phát triển sẽ khó uốn nắn hơn (tức không linh hoạt và không có khả năng tiếp nhận thêm thông tin mới) so với những người nhận được sự khích lệ đúng mức vào đúng giai đoạn. Về cơ bản, họ sẽ kém thông minh hơn, khả năng học hỏi và thích nghi kém hơn. Họ cũng dễ sợ hãi. Họ là những con người ít thành công hơn.

Mặt khác của vấn đề này chính là hành vi bắt bước hành vi của người khác sẽ dẫn đến mô hình hành vi “bầy đàn” trong các nhóm người. Tức là, thông qua sự tương tác của các cá nhân bắt chước một cách mù quáng, một đám đông (hay thị trường) có thể hình thành một hành vi nhất quán đến kinh ngạc mà không cần bất kỳ kế hoạch hay sự thống nhất trước nào.

Một lý thuyết có thể lý giải vì sao phản ứng theo kiểu mô phỏng là khá mạnh mẽ ở con người chính là việc chúng ta sinh ra sớm hơn các loài linh trưởng khác nhưng có rất nhiều điều để học, phát triển và tồn tại trong môi trường quần thể phức hợp quanh mình, vì vậy, mô phỏng – chiến lược bắt chước – là phương pháp cực kỳ hữu dụng để học cách tồn tại trong thế giới của chúng ta. Andrew Whiten của Đại học St. Andrews tranh luận về quan điểm này như sau: “Vì con người có tính phức hợp to lớn về văn hóa, nên trẻ con cần nhanh chóng học được cách làm nhiều, nhiều thứ và chúng có thể thay đổi cách thức về sau nếu cần thiết”, ông nói. “Bắt chước là cách nhanh hơn bởi nó tạo ra một giải pháp có sẵn cho vấn đề”.

Một nhánh tư duy khác chính là khi xuất hiện càng nhiều sự tương tác xã hội thì chúng ta càng học hỏi được nhiều. Carel van Schaik đã nghiên cứu về những người anh em có bộ lông hung đỏ của chúng ta, loài đười ươi Orangs ở vùng đầm lầy Kluet, Bắc Sumatra, trong suốt nhiều năm liền. Ông đã xác định được vai trò quan trọng của tương tác bầy đàn trong việc phát triển trí khôn: loài đười ươi Orangs mà ông quan sát ở vùng đầm lầy Kluet màu mỡ này có nhiều tương tác bầy đàn hơn hẳn những loài đười ươi ở các khu vực lân cận; đồng thời, khả năng giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo và sử dụng công cụ của chúng cũng kỳ diệu hơn (lý do vì sao đầm lầy thường là nơi có mật độ đười ươi Orangs cao vì nơi đây chính là một thiên đường thực phẩm). Ông viết như sau:

Nếu không có những yếu tố đầu vào mang tính xã hội, ví dụ như văn hóa, thậm chí một thần đồng tiềm năng nhất cũng trở thành người vụng về hay hỏng việc khi trưởng thành… Những loài vật thông minh là những loài vật có tính văn hóa: chúng học hỏi những giải pháp sáng tạo của người khác cho các vấn đề về sinh thái hay bầy đàn. Nói tóm lại, văn hóa sẽ giúp phát triển trí khôn.

Chúng ta gây nên bất hạnh cho nhau như thế nào

Tương tác xã hội trong những năm tháng trưởng thành của chúng ta không chỉ đơn thuần là một nhân tố tích cực. Freud không sai khi cho rằng những gì người khác làm cho chúng ta trong những năm tháng thơ ấu và cách ta phản ứng lại với điều đó sẽ định hình cuộc sống sau này của chúng ta, và có thể theo hướng tồi tệ hơn.

Tuy nhiên, mới đây, Alice Miller và John Bowlby đã lần lượt đưa ra một quy trình đáng tin cậy, giải thích về cách thức hoạt động của quá trình này. Cả hai đều đặt tầm quan trọng vào các mối quan hệ chính yếu và “sự gắn bó”. Cụ thể, Bowlby cho rằng bản chất của những gắn bó mà chúng ta có và phát triển trong giai đoạn đầu đời sẽ quyết định sức khỏe tinh thần của chúng ta về sau. Thật vậy, những nghiên cứu dài hạn (theo thời gian) (kéo dài nhiều thập niên chứ không phải nhiều tháng) khẳng định rằng ông hoàn toàn chính xác: những người có những mối quan hệ thuận lợi trong giai đoạn đầu đời thường có nhiều cơ hội thiết lập được các mối quan hệ thành công trong cuộc sống của mình. Và ngược lại, những ai sớm có những “gắn bó” không thành công trong giai đoạn đầu đời sẽ có nhiều khả năng phải sống với những mối quan hệ không thành công suốt cuộc đời.

Nếu bạn nhìn lại cuộc sống của mình và của bạn bè, người thân, tôi chắc rằng bạn sẽ thấy cách giải thích trên áp dụng cho hầu hết các trường hợp. Dĩ nhiên, luôn có một số trường hợp ngoại lệ và các nguyên nhân khác cho những mô thức này, tuy nhiên, chúng sẽ không đáng lo ngại; điều quan trọng là chúng ta trở nên tốt hay xấu theo nhiều cách, mà phần lớn là thông qua hoặc với người khác. (Hãy ghi nhớ câu này: “Chúng ta trở thành con người thật của mình cùng với và thông qua người khác”).

Bộ não xã hội

Bộ não của chúng ta dường như phát triển để đem đến cho ta nhiều lợi thế to lớn với tư cách một loài động vật có tính xã hội – một số nhà tâm lý học đã nói rằng, về bản chất, nhận thức chính là một hành động mang tính xã hội. Chúng ta nhận biết thế giới của người khác và về những thứ khác và hành động qua lăng kính của các mối quan hệ giữa chúng ta và họ. Rõ ràng là có một số hiện tượng nào đó chỉ có thể được mô tả bằng tư duy xã hội mà giống loài chúng ta luôn sử dụng một cách thành thạo.

Một ví dụ về cái gọi là “bộ nhớ phân tán” – tức là một nhóm kết hợp cùng nhau sẽ có khả năng nhớ tốt hơn so với một cá nhân. Chúng ta thường thấy điều này trong những buổi họp mặt gia đình như trường hợp của Danny Wallace. Đó là khic ác bà dì của anh và những người họ hàng khác hồi tưởng về chiến công của Gallus, nhà lãnh đạo trào lưu “hụt”. Bất kỳ một nhóm nào đã gắn bó lâu dài với nhau, dù là do quan hệ gia đình, công việc hay bạn bè, đều có hiện tượng tương tự. Với các cặp đôi cũng thế.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý nhất là khả năng tương tác của chúng ta với người khác – mà phần lớn đều thành công – mà không thật sự ý thức về những gì đang diễn ra. Như đường Oxford ở London chẳng hạn. Mỗi ngày có khoảng 100.000 người dạo chơi ở đây nhưng hầu như không có tai nạn nào giữa người-với-người (trái lại, dù có lệnh cấm ô tô riêng nhưng vẫn xảy ra vài vụ tai nạn giữa người-với-máy móc mỗi ngày). Sở dĩ có trường hợp này là do một thứ gọi là tế bào thần kinh phản chiếu (mirror neuron) – những tế bào thần kinh chuyên biệt cho phép bỏ qua quá trình suy nghĩ có ý thức mà vẫn hiểu được ý định hay thậm chí hành vi của người khác. Chính Leonardo Fogassi ở Đại học Parma đã đặt tên cho loại tế bào này là “tế bào thần kinh phản chiếu”, bởi chúng được kích hoạt cả khi con linh trưởng thực hiện một chuyển động lẫn khi nó quan sát một động vật khác thực hiện hành vi tương tự – bộ não của chúng ta  dường như luôn bị kích hoạt dù cho bạn hay tôi thực hiện hành động đó. Có một số tranh luận trong lĩnh vực khoa học thần kinh về việc liệu những hiện tượng này thuộc hệ thần kinh vận động hay hệ thần kinh nhận thức (nhiều chuyên gia cho rằng câu trả lời sẽ là “cả hai”). Tuy nhiên, điều quan trọng cần biết chính là các tế bào thần kinh phản chiếu cho phép chúng ta đọc được ý định của người khác; chúng giúp ta hiểu – mà không cần một tính toán phức tạp nào – ý định của người khác và nhờ đó, tương tác với họ hiệu quả. Và các tế bào thần kinh phản chiếu cũng phục vụ cho nhiều mục đích khác; chính là những bộ phận này của não bộ cho phép chúng ta có cảm giác buồn khi xem phim buồn hay sợ khi xem phim kinh dị. Người ta cũng tin rằng, xét theo một khía cạnh nào đó, đây chính là nguyên nhân vì sao chúng ta di chuyển bước chân hay toàn thân theo điệu nhảy của các vũ công trong buổi diễn mà mình đang xem.

Một đặc tính thú vị khác về trí tuệ xã hội của con người đã được chứng minh bởi Leda Cosmides và John Tooby, hai nhà tâm lý học tiến hóa thực nghiệm. Họ đã thực hiện nghiên cứu này trong hơn 25 năm với tất cả các cộng đồng trên thế giới, từ những cộng đồng hái lượm-săn bắn đến những ông chủ nhà băng ở Mỹ. Về bản chất, nghiên cứu của họ chỉ ra rằng, ở mỗi xã hội loài người được nghiên cứu, dù trình độ lập luận logic của mỗi cá nhân đến đâu, khả năng nhận biết sự gian lận – tức khả năng phán đoán chính xác hành vi không trung thực của ai đó qua các mối tương tác xã hội với người khác – là không thay đổi/bất biến. Từ những người Kung San ở Kalahari đến những bộ tộc săn bắn-trồng trọt ở vùng Amazon cho đến những xã hội có học thức hay không có học thức ở những nền kinh tế phát triển, con số này vẫn tương tự nhau. Chúng ta rất giỏi tương tác và lưu giữ kết quả của những hoạt động tương tác với người khác.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Mark Earls – Tâm lý bầy đàn – NXB THTPHCM – 2012

Loài khỉ siêu quần thể – Phần V


Tại sao là loài khỉ nhẵn nhụi?

Như vậy, nếu gần gũi với nhau đến thế thì vì sao chúng ta lại hầu như không có lông (dĩ nhiên với một số tình huống như tôi chẳng hạn, đàn ông bị rụng lông/tóc ở những nơi họ muốn và có lông/tóc ở những nơi họ không muốn)? Vì sao chúng ta lại là loài khỉ nhẵn nhụi?

Nhiều năm qua, người ta đã đưa ra nhiều câu trả lời thú vị cho hỏi này nhưng rất ít câu có ý nghĩa khi được phơi bày trước ánh sáng. Lấy ví dụ, có người cho rằng chúng ta không cần có nhiều lông trên cơ thể nữa từ khi loài người chúng ta có thể đứng thẳng và bước đi trên thảo nguyên bằng hai chân. Hiện tại, Louise đáng yêu đang sở hữu một mái tóc tuyệt đẹp – dài, quăn và có màu hơi hung đỏ. Khi cô ấy dạo bước trên bãi biển, rõ ràng mái tóc cô ta bảo vệ da đầu hiệu quả hơn so với mái tóc của cô ấy vẫn bảo vệ hữu hiệu hơn so với mái tóc của tôi (thậm chí nếu tôi có cùng lượng tóc như Louise thì mái tóc của cô ấy vẫn bảo vệ hữu hiệu hơn bởi bộ tóc hung đỏ dày hơn bộ tóc màu đen, chân tóc cũng to hơn và nhiều hơn). Tuy nhiên, nếu không bôi kem chống nắng, rốt cuộc Louise cũng bị bắt nắng ở lưng, mặt, chân và bàn chân. Hơn nữa, bất lợi của việc đi bằng hai chân thì nhiều vô kể: đau lưng, khó khăn trong việc sinh nở,.. Chính vì vậy, việc “đi bằng hai chân” không thể xem là câu trả lời được.

Bản năng sinh dục

Desmond Morris, tác giả của cuốn sách kinh điển về chủ đề này cho rằng tất cả đều có liên quan đến quá trình sinh sản: chúng ta không có lông để phô bày cơ quan sinh dục nổi bật hay để đảm bảo rằng bạn tình của mình nhìn thấy chúng và những vùng sinh dục nổi bật khác trên cơ thể (như ngực và khuôn mặt).

Có nhiều điều thú vị về bản năng sinh dục của con người. Chẳng hạn, cảm giác khoái lạc chúng ta có được từ nó – dù trong số những người họ hàng gần gũi của mình, không phải chỉ có chúng ta mới tận hưởng được lợi ích của quá trình tiến hóa này bởi các loài tinh tinh lùn rất giỏi giao phối quần thể. Chúng làm chuyện này mọi lúc. Tương tự, sự ràng buộc cặp đôi mà con người trải qua nhờ sự kết hợp của oxytocin và vasopressin trong bộ não chính là kết quả của hoạt động tình dục trực giao. Những chất hóa học tương tự cũng xuất hiện trong mối quan hệ mẹ-con và hoạt động quần thể của các loài linh trưởng khác. Đáng để suy ngẫm về sự gần gũi giữa hoạt động tình dục ở người trưởng thành và mối tương tác mẹ-con; và điều này sẽ cho chúng ta biết được bản chất tiềm ẩn của mình là gì Và về sự nhẵn nhụi của chúng ta nữa.

Khỉ sơ sinh

Những lời giải thích hay nhất cho sự nhẵn nhụi của chúng ta mà tôi tìm thấy chính là: con người là loài đột biến mang những đặc điểm phôi thai tại thời điểm trưởng thành. Nó là một biến thể từ tổ tiên nhưng chỉ ở dạng phôi thai. Nó giống như một bước lùi nhưng mang lại cho sinh vật một lợi thế nào đó về mặt tiến hóa.

Ví dụ điển hình nhất trong thế giới động vật được tìm thấy ở khu vực sông hồ tại thành phố Mexico: loài cá cóc hay kỳ nhông nước (Ambystoma mexicanum). (Minh họa 1.1)

Minh họa 1.1

Trong khi vòng đời của một số loài lưỡng cư như ếch, cóc và sa giông trải qua ba giai đoạn: trứng, ấu trùng (như nòng nọc) và trưởng thành – số khác bị kẹt lại ở bước ấu trùng (như nòng nọc) trong một số điều kiện nhất định. Thiếu i-ốt (một thành tố thiết yếu cho động vật để tổng hợp ra hoocmon tyrocyn cần thiết cho quá trình tăng trưởng và phát triển), hay biến dị di truyền ngẫu nhiên đều có liên quan đến ấu trùng của các loài lưỡng cư trưởng thành. Kỳ nhông nước là một loài xấu xí, phần lớn thời gian sống dưới nước (giống như loài lưỡng cư). Dù có phổi ở dạng thô sơ nhưng hần như chúng hô hấp bằng mang mà chúng mang theo đến giai đoạn trưởng thành và có khả năng giao phối trong loài hoặc với loài khác có quan hệ gần gũi như kỳ nhông Tiger Salamander.

Những loài vật nuôi như chó là một ví dụ khác về tính phôi thai ở những cá thể trưởng thành. Ngày nay, người ta biết rõ là chó và sói rất gần gũi nhau về mặt di truyền – thực ra là cùng một loài (và chúng vẫn có thể giao phối với nhau). Sự khác biệt chủ yếu là chúng ta chủ động lai giống các loài vật nuôi nhằm chung sống hòa bình; khi thực hiện điều này, chúng ta đã chọn đặc điểm hành vi phôi thai của loài chó.

Để thấy được sự thật về hiểu biết này ở con người, xin vui lòng xem phần minh họa mang tính khoa học cao ở Minh họa 1.2. Bên trái là tôi còn bên phải là một con tinh tinh còn nhỏ. Cả hai đều hầu như không có lông, có tỷ lệ chân so với cơ thể khá cao, có gương mặt bẹt và mắt to. Thứ bạn không nhìn thấy chính là cả hai đều có cổ để nối phần đầu và phần thân.

Giờ thì bạn nhìn con vật ton hơn đang giữ chúng tôi trong tay – con tinh tinh trưởng thành. Rõ ràng, bạn sẽ thấy được sự khác biệt giữa chúng tôi và ông ta. Chúng tôi đang ở dạng phôi thai; còn ông ta ở dạng trưởng thành.

Minh họa 1.2

Nhưng vì sao lại nhẵn nhụi?

Để chấp nhận tính phôi thai ở cá thể trưởng thành là một giả thiết hợp lý, chúng ta cần hiểu rõ lợi thế tiến hóa của việc trải qua giai đoạn là một con khỉ sơ sinh. Một số người cho rằng đôi chân dài của chúng ta chính là cơ sở về lợi thế cốt yếu của cơ thể. Khi rừng rậm thưa dần và thảo nguyên mở ra, luận điểm là thế này, đôi chân dài chứng minh được lợi thế là giúp chúng ta chạy nhanh hơn để truy đuổi con mồi và trốn chạy loài thú ăn thịt. Dù luận điểm này nghe có thuyết phục thế nào đi nữa nhưng rõ ràng là những người đề xuất nguyên lý này chưa bao giờ phải đuổi theo một con gà. Cũng như họ chưa bao giờ thấy loài tinh tinh chạy bằng bốn chân nhanh như thế nào (trong cự ly trên 100 mét, không một vận động viên Olympic vĩ đạo nào có thể chạy nhanh hơn một con tinh tinh). Và loài ăn thịt thường bắt đầu tấn công ở khoảng cách xa hơn thế. Hơn nữa, loài tinh tinh lùn có khả năng đi bằng hai (cũng như bốn) chân rất tốt. Chính vì thế, luận điểm này nhanh chóng thất bại.

Clive Broomhall, kiến trúc sư cho phiên bản mới nhất của lý thuyết về sự đột biến giai đoạn sơ sinh, giới thiệu một luận điểm đơn giản nhưng thuyết phục hơn. Đột biến giai đoạn sơ sinh là một lợi thế nhờ những năng lực bầy đàn mà nó mang lại. Những con tinh tinh sơ sinh ít hung tợn hơn so với những con trưởng thành và sống rất hạnh phúc trong một bầy lớn. Nói cách khác, được coi là một phần của bầy khỉ có tính quần thể, đột biến giai đoạn sơ sinh là điều mà giống loài chúng ta đã chọn bởi khả năng trải nghiệm một cuộc sống rộng lớn và phức tạp hơn. Một đột biến giai đoạn sơ sinh cho phép chúng ta trở thành một quần thể khỉ ưu tú vượt trội.

Bộ não của một quần thể khỉ ưu tú vượt trội

Nhóm nghiên cứu của nhà nhân chủng học Robin Dunbar đã cung cấp thêm nhiều bằng chứng cho lý thuyết này. Khi đo lường kích thước bộ não của loài linh trưởng với các giống loài khác cùng sinh sống quanh đó, họ phát hiện thấy có mối tương quan rất cao (xem Minh họa 1.3), nhưng kích thước bộ não của con người lớn gấp chín lần so với kích thước mà bạn mong đợi để tương xứng với cơ thể của chúng ta.

Minh họa 1.3

Trong những năm đầu đời, bộ não tham lam của chúng tiêu thụ 60% năng lượng và tiếp tục sử dụng 25% năng lượng trong những năm sau đó dù chỉ chiếm 2% hay 3% trọng lượng cơ thể. Điều này một phần là do sau khi được sinh ra, bộ não của chúng ta phát triển rất nhiều so với các loài linh trưởng khác. Thật vậy, chu kỳ sinh sản của chúng ta sớm hơn các loài linh trưởng khác khoảng 12 tháng (các bạn đã hoặc sắp có con nên suy nghĩ kỹ về vấn đề này!). Và chỉ trong một vài năm đầu đời, bộ não của chúng ta đã phát triển đến trạng thái trưởng thành với hệ thần kinh phức hợp khổng lồ. Vấn đề này có thể giải thích cho phép mầu nhiệm từ hoạt động ghép đôi đã thảo luận ở trên. Giống loài chúng ta (đặc biệt là đàn ông) cần có một động lực khổng lồ để đảm bảo rằng trẻ con sẽ được chu cấp đầy đủ cho đến khi chúng dần phát triển thành những người trưởng thành độc lập.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Mark Earls – Tâm lý bầy đàn – NXB THTPHCM – 2012

Loài khỉ siêu quần thể – Phần IV


Loài người hay loài khỉ?

Đầu năm nay, một nhóm các nhà di truyền học ở Trường Đại học Kỹ thuật Georgia ở Atlanta do Soojin Yi quản lý đã khẳng định những gì mà nhiều người trong chúng ta từ lâu đã tin, rằng tinh tinh và con người là những họ hàng gần gũi hơn rất nhiều so với những gì chúng ta được biết. Họ so sánh 63 triệu cặp ba-zơ trong ADN của các giồng loài khác nhau – mỗi “ba-zơ” là một ký tự trong mã gen của các giống loài. Điều này cho phép họ quan sát cái gọi là “đồng hồ phần tử”: tức là, tốc độ sinh sôi của các mã gen. Các bài phân tích cho thấy mặc dù hai giống loài này đã tách ra từ một tổ tiên chung cách đây 5 đến 7 triệu năm, nhưng tốc độ tiến hóa giữa chúng chậm hơn so với các loài linh trưởng khác rất nhiều. Điều này có nghĩa là loài người và loài tinh tinh – cả loài tinh tinh phổ biến lẫn loài tinh tinh lùn – gần gũi nhau hơn so với bất kỳ suy nghĩ nào (dù chỉ trong phút chốc). Một nhóm nghiên cứu khác ở Đại học Wayne State ở Detroit, MA, cũng từng phát hiện ra mức độ gần gũi tương tự: 99,4% hay hầu hết các cặp ADN quan trọng giữa hai loài này là giống nhau. Tuy nhiên, một nhóm khác cho rằng dù tách khỏi nhau bẩy triệu năm về trước nhưng chúng ta đã tái hợp trong một khoảng thời gian ngắn vào hai thiên niên kỷ sau.

Những khám phá này làm dấy lên cuộc tranh luận kéo dài hàng thế kỷ về việc liệu hai giống loài đại diện cho hai chi khác nhau (Homo – Người và Pan – Khỉ) hoặc liệu cả hai có được xem là thành viên của cùng một gia đình không. Năm 1991, giáo sư Jared Diamond đã gọi con người là “loài tinh tinh thứ ba”, tuy nhiên, người ta tin rằng nỗ lực phân loại này đã xuất hiện từ trước đó rất lâu.

Năm 1775, khi con người lần đầu tiên đặt tên cho các loài tinh tinh, sự tương đồng về thể chất và hành vi của chúng so với con người khiến các nhà phân loại xếp chúng vào cùng họ di truyền với con người (Homo). Bốn mươi năm sau, theo tôi thì có lẽ vì muốn chiều theo sự tự đề cao của những con người thời Victoria, loài tinh tinh bị đẩy xuống họ di truyền dành chúng là Pan. Như một nhà sinh vật học tiến hóa lỗi lạc đã từng nhận xét, “Xét về sự sống trên Trái đất này, tinh tinh và loài người không thực sự khác nhau”.

Việc chúng ta đưa loài tinh tinh vào họ Homo hay loài người vào họ Pan dường như không mấy quan trọng. Dĩ nhiên là cách nào cũng khuyến khích chúng ta cần phải tôn trọng những người họ hàng gần gũi của mình hơn và nhờ đó, bảo vệ những giống loài đang trên bờ vực tuyệt chủng bằng mọi cách.

Điều quan trọng chúng ta cần suy nghĩ ở đây là: nếu chúng ta và tinh tinh có họ hàng thân thiết với nhau như thế, đặc điểm nào trong bản chất của loài tinh tinh mà chúng ta cần chú ý đến? Loài nào là tinh tinh thường, loài nào là tinh tinh lùn? Nếu chúng ta cũng giống như họ thì điều gì đó về bản chất quần thể của con người có thể sẽ là đặc trưng cá tính của chúng ta chứ không phải trí tuệ hay linh hồn bất tử.

Khi tôi trưởng thành

Hồi bé, tôi à em trai sợ mấy con tinh tinh đến chết khiếp, tất nhiên là do những chương trình truyền hình mà chúng tôi xem như Daktari (Bác sĩ) (với con tinh tinh Judy và sư tử mắt lé Clarence) và dĩ nhiên có cả những tập phim Tarzan phát đi phát lại trên truyền hình và tại các câu lạc bộ chiếu phim sang thứ Bảy ở khu Kingsbury, thị trấn Lancashire. Trong lúc tôi muốn trở thành một bác sĩ thú y, bảo vệ sở thú hay bất kỳ công việc gì giúp tôi tiếp xúc hàng ngày với loài vật thì em trai tôi còn tiến xa hơn, xa hơn nhiều. Trong suốt sáu tháng trời, nó cho rằng mình là tinh tinh (làm sao nó lại sáng suốt như thế ở cái tuổi lên bốn?). Sau nhiều giờ vỗ về và không ngừng thương lượng, mẹ tôi đã thuyết phục nó rằng ngoài chuối ra, tinh tinh vẫn còn phải ăn nhiều thứ khác. Nhưng không nhiều lắm.

Chính vì thế mà có một khoảng thời gian tôi rất quan tâm đến môn linh trưởng học. Tôi đọc ngấu nghiến những cuốn sách như Naked Ape của Daesmond Morris với nhiều chi tiết về hành vi, tâm lý và hành vi tình dục của tinh tinh. Jane Goodall cũng là tác giả yêu thích của tôi. Gần đây, với mong muốn tìm hiểu về hành vi con người nói chung, tôi đã sục sạo từng tác phẩm của các tác giả như Frans de Waal, Robin Dunbar và nhiều người khác nữa, đồng thời xây dựng một bức tranh rõ ràng hơn về những đặc điểm riêng biệt (giữa con người và tinh tinh).

Loài linh trưởng mang tính quần thể

Rõ ràng, theo tất cả những nguồn kiến thức thông thái này thì đầu tiên và trước nhất, loài linh trưởng chính là những sinh vật mang tính quần thể – một chiến lược tiến hóa cốt lõi của chúng ta, điều cho phép loại hình động vật của chúng ta tiếp tục sinh sôi phát triển.

Nhưng vì sao tính quần thể lại có ích với giống loài chúng ta? Vì sao nó cũng có ích với bất kỳ sinh vật nào? Có vẻ như có hai cách lý giải mà một trong số đó là giúp bảo vệ chúng ta khỏi những loài động vật ăn thịt: thứ nhất, có sự phân chia trách nhiệm ở loài động vật mang tính quần thể để quan sát cảnh báo kẻ thù. Việc có nhiều tai mắt hơn đồng nghĩa với một hệ thống cảnh báo hiệu quả hơn (thật ngẫu nhiên là sự cảnh giác trước các loài thú dữ này có vẻ như là lời giải cho xu hướng thường nhìn nhận mọi việc theo quan điểm tiêu cực và từ đó, kích hoạt hệ thống trốn chạy hay chiến đấu của chúng ta). Thứ hai, nó tạo ra cho mỗi cá nhân nhiều sự hỗ trợ tích cực – cả trong nội bộ loài lẫn khi tương tác với các loài khác. Loài tinh tinh có đặc điểm tụ tập thành nhóm săn đuổi sư tử và báo ở trên cây đồng thời bảo vệ lẫn nhau. Chính vì thế, việc trở thành một loài động vật có tính quần thể cao là điều cốt lõi đối với giống loài của chúng ta, và cả loài người lẫn loài tinh tinh đều làm việc này rất giỏi.

Thông qua điều này, tôi muốn nói đến nhiều mối liên kết ngắn hạn của các bầy linh cẩu và sư tử. Tinh tinh xây dựng mối quan hệ gần gũi, lâu dài với nhau (phần lớn thông qua hoạt động chải lông cho nhau) với mục đích là duy trì các mối ràng buộc quần thể đủ mạnh để chúng có thể bảo vệ nhau. Một con tinh tinh thành công phải có nhiều thông tin về những con tinh tinh khác, về mối quan hệ với những con khác và mối quan hệ giữa chúng với nhau. Và điều này được duy trì trong suốt một thời gian dài. De Waal mô tả chuyến trở lại Sở thú Arhnem nhiều năm sau thời gian làm việc với một con tin tinh, ông được nó chào đón nhiệt tình như những người đồng sự cũ lâu ngày gặp lại.

Đó là lý do vì sao những mô tả về cuộc sống của loài tinh tinh rất giống với cuộc sống của chúng ta. Khối liên kết được xây dựng và nuôi dưỡng và có lúc cũng bị ruồng bỏ. Tất cả các thành viên đều có trách nhiệm và nghĩa vụ, cũng như lợi ích. Đôi khi, chúng ta khó thực hiện được những điều mình kỳ vọng; hoặc có lúc vô tình chúng ta làm sai. Dĩ nhiên trong xã hội tinh tinh, mọi thứ có thể rất đáng sợ khi có sự chuyển tiếp quyền lực trong bầy (tinh tinh thật ra tất hung tợn khi cần thiết chứ không phải là những con vật uống trà dễ thương như trong các mẫu quảng cáo trên truyền hình mà tôi được xem khi còn bé) nhưng chúng ta không nên lẫn lộn giữa điều này với câu chuyện thật sự về chính mình. Ngược lại, loài tinh tinh lùn, người họ hàng gần gũi khác của chúng ta, hiếm khi tỏ ra hung tợn với nhau. Chúng giải tỏa những căng thẳng trong bầy bằng các phươgn tiện tính dục với các dạng kết hợp như: con đực-con đực, con cái-con đực và con cái-con cái.

Nếu không có một nhóm quần thể để bảo vệ và nuôi dưỡng điều này, từng cá thể trong cả ba loài trên sẽ cảm thấy đau khổ và thể hiện nó ra bên ngoài (sự hòa hợp cơ thể của chúng ta thường củng cố chiến lược tiến hóa của giống loài). Chúng thể hiện sự thay đổi giống nhau về hàm lượng chất cortisol (hoocmon gây căng thẳng) và ở trong trạng thái xúc động cao độ. CÒn hình phạt nào nặng hơn mà một con tinh tinh/con người áp lên cá thể khác trong bầy bằng việc cách ly nó (như trong nhà giam, hay hình thức giam cầm cô độc ở một nơi khắc nghiệt: giống như khi nhốt một đứa trẻ trong phòng, hay với người trưởng thành là cách ly và gửi đến nhà tù Coventry)? Phản ứng tự nhiên khi phải ở một mình cho thấy được bản chất quần thể có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với chúng ta, nhưng sự thật về chúng ta vẫn còn nhiều điều thú vị.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Mark Earls – Tâm lý bầy đàn – NXB THTPHCM – 2012

Loài khỉ siêu quần thể – Phần III


Một giống-loài-chúng-ta

Chúng ta được định sẵn là phải ở cùng nhau. Chúng ta sẵn sàng dời non lấp biển để ở cùng nhau; dù rằng không nhất thiết phải theo những lề thói và cấu trúc xưa cũ nhưng chúng ta vẫn cứ làm. Về bản chất, Join-me, Pledgebank, phong trào làm vườn du kích và toàn bộ Internet đều chứng tỏ rằng chúng ta là một “giống-loài-CHÚNG-TA” chứ không phải “giống-loài-TÔI”. Chúng ta luôn có ý thức về cộng đồng và không ích kỷ như một số chính trị gia nào đó; ý thức cộng đồng theo nghĩa quan trọng nhất của cụm từ này – chúng ta là một giống loài mang tính cộng đồng; chúng ta muốn ở cùng nhau; được sinh ra để ở cùng nhau và hạnh phúc hơn khi được ở cùng nhau. Hầu hết những thành tựu và công nghệ vĩ đại tiếp tục định hình thế giới của chúng ta đều là kết quả của khả năng hợp tác cùng nhau giữa mọi người. Thật vậy, không có điều này, chúng ta sẽ chỉ là một sinh vật tiến hóa trong vô vàn sinh vật tiến hóa khác mà thôi.

Thậm chí khi cho rằng mình là những sinh vật mang tính cá nhân nhất được thể hiện qua cách ăn mặc hay kiểu tóc, chúng ta cũng không tránh khỏi sự thật này. Minh chứng cho điều này là một dự án hình ảnh do hai người Hà Lan là nhiếp ảnh gia Arie Versluis và nhà tạo mẫu Elly Yttenbroek khởi xướng vào năm 1995. Cả hai đi vòng quanh thế giới và dừng lại bất kỳ nơi nào có thể để chụp ảnh từng cá nhân thuộc các nhóm xã hội khác nhau theo những kiểu tương tự nhau. Sau đó, họ trưng bày những bức ảnh khổ 4×3, và từ đó, những nét tương đồng xuất hiện một cách rõ ràng. Nhóm có hình xăm (được đăng ở trang http://www.needled.com) chứng tỏ rằng, ngay cả khi chúng ta nghĩ về hình thức thời trang mang đậm tính cá nhân này – cho phép người khác vẽ lên cơ thể bạn – thì rõ ràng những cá nhân này cũng đang thực hiện đúng những gì người khác đang làm và không hề trở nên “khác biệt” hay độc nhất. Suy cho cùng, mọi nỗ lực trở nên khác biệt của chúng ta cuối cùng cũng trở thành vô ích.

Ngoài ra, nếu ghé thăm trang chủ của họ www.exactitudes.com, bạn lập tức có ấn tượng rằng chúng ta thực sự là một giống loài mang tính bầy đàn. Hết trang này đến trang khác là những tư thế giống nhau đến từ khắp nơi trên thế giới. Dù thể hiện sự đa dạng như chúng vẫn ở một dạng hết sức hời hợt và sai lệch.

Bản chất quần thể cũng tác động đến chúng ta theo một cách khác: sự hiện diện mang tính biểu trưng của người khác sẽ điều chỉnh hành vi của chúng ta. Từ lâu, người ta đã nhận ra rằng đôi mắt có một ảnh hưởng mang tính biểu tượng mạnh mẽ đối với người khác, thường là ở cấp độ vô thức. Theo một loạt thí nghiệm gần đây, Melissa Bateman cùng nhóm nghiên cứu tại Đại học Newcastle nhận thấy rằng các khoản đóng góp cho thùng từ thiện được đặt trong phòng uống cà phê của khoa tâm lý tăng gần gấp ba khi người ta gắn hình ảnh đôi mắt bên cạnh hoặc ngay trên danh sách đồ uống. Trong một thử nghiệm khác về chủ nghĩa vị tha trong các trò chơi tập thể do Burnham và Hare – hai nhà nghiên cứu của Trường đại học Harvard – thực hiện, người ta cho một nửa đối tượng nghiên cứu xem hình ảnh một người máy xinh xắn, có đôi mắt to, kết quả là nhóm này quyên góp nhiều hơn 30% so với nhóm không được xem ảnh người máy.

Sự thật về Người thông thái (Homo sapiens) chính là thứ mà phương Tây đã chối bỏ từ lâu. Nó gây ra cảm giác khó chịu và sợ hãi. Trên thực tế, nó là thứ mà chúng ta xem như một điều cấm kỵ để cố tình lờ đi. Nhưng nó là sự thật về con người thực của chúng ta và ta không thể tiếp tục để nó chìm vào quên lãng.

Chúng ta có phải là bụi sao (stardust)?

Có nhiều cách để khiến bạn cảm thấy hài lòng hơn về chính bản thân mình. Việc bị ca sĩ Ian Brown (cựu thủ lĩnh ban nhạc Stone Roses và là một người khá kỳ quặc) gọi là “bụi sao” khiến tôi cảm thấy thoải mái hơn đôi chút. Một nhân vật huyền thoại ở khu vực bạn đang sinh sống cũng có thể có sức ảnh hưởng tương tự. Một cách khác là từ chối những thứ thuộc về mình mà bạn không thích hay không muốn nghĩ đến.

Tôi cho rằng, đầu tiên và trước hết, chúng ta không thích nghĩ mình là một loài vật mang tính quần thể kể từ Thời đại Khai sáng bởi nó mâu thuẫn với một số thứ khác mà chúng ta muốn nghĩ về mình hay cho phép bản thân mình. “Bụi sao” là một trong những lời bào chữa của chúng ta.

Trong cách nghĩ của mình, chúng ta tách bản thân ra khỏi phần còn lại của thế giới động vật và đặc biệt là những người “bà con” gần gũi nhất (loài khỉ hình người) để cảm thấy tốt hơn về chính mình. King Kong là loài dã thú còn chúng ta là con người văn minh; tinh tinh được cho là dễ thương khi chúng cư xử như con người nhưng sẽ bị xem là thú tính và hung tợn nếu chúng không làm được như thế. Như Katherine Hepburn đã nhận xét trong tác phẩm African Queen của John Huston, “Thưa Ngài Allnutt, bản chất con người là thứ mà chúng ta cần phải hoàn thiện một khi được sinh ra trên cõi đời này”. Kết quả là chúng ta mất đi khả năng hiểu được chính mình: chúng ta không nhận thấy được sự gần gũi của mình với loài khỉ đột, đặc biệt là mức độ giống nhau giữa chúng ta và loài tinh tinh. Thay vì chấp nhận – như tất cả các nhà nghiên cứu về động vật linh trưởng, chúng ta là loài vật có tính quần thể, chúng ta luôn tìm đủ mọi cách để tạo sự khác biệt giữa mình với những “người” bà con xa nhỏ hơn và kém tiến hóa hơn.

Một số người đã sử dụng ý tưởng về một linh hồn bất tử hay khả năng rèn luyện tự do ý chí để phân biệt bản thân với các loài thú; số khác thì tập trung vào khả năng tư duy của mình. Chỉ có con người mới thực sự thông minh, họ nói thế mà quên rằng những bài kiểm tra trí tuệ của con người không thể đo lường được trí thông minh của loài tinh tinh hay cá heo, nhất là những bài kiểm tra này rất buồn tẻ, còn loài tinh tinh thì khó mà giữ được bút chì để làm điều đó. Những người khác thì dựa theo từng từ trong cuốn Sáng thế kỷ để nhắc nhở chúng ta rằng chỉ có Adam mới được tạo ra bởi một sức mạnh thần thánh “từ đất sét”. Trong những câu chuyện về Narnia của C.S. Lewis, sự kiêu căng này được thay đổi và chuyển hóa thành một câu chuyện về bốn đứa trẻ bình thường, thuộc tầng lớp trung lưu và ra vẻ rất ta đây ở Finchley vào thời chiến, chúng là những thủ lĩnh tự nhiên của vùng đất gồm những sinh vật biết nói chuyện. Không có sự thách thức nào từ dân cư của vùng đất này. Tôi vừa đến Finchley để tìm kiếm những phiên bản thời nay của gia đình này và nhận ra rằng hầu như không có bằng chứng nào về tính ưu việt thật sự. Những gì tôi thấy là những chú khỉ hình người (dù vẫn khoác lên mình những bộ quần áo thể thao, áo khoác lông và quần kẻ nhung).

Loài khỉ thành công

Sự thật rằng một phần rất nhỏ trong chúng ta vốn xuất thân từ loài tinh tinh đã giúp chúng ta có được một lợi thế vô cùng to lớn so với các loài khác, kể cả những người anh em thuộc họ linh trưởng của mình. Với một vài cấu trúc di truyền khác lạ, chúng ta dường như có khả năng thích nghi tuyệt vời với môi trường xung quanh; quả thật, chúng ta đã thay đổi môi trường nhiều đến mức chưa một loài nào khác từng làm được.

Tốc độ tăng trưởng dân số của chúng ta cũng là một hiện tượng – từ khoảng 1 triệu người cách đây hơn 10.000 năm lên đến vài tỷ người hiện nay. Một số trong chúng ta (cuối cùng) đã nhận ra được thực tế rằng chúng ta nắm giữ số phận của hành tinh này và tất cả các dạng thức sống của nó trong bàn tay nhỏ bé đến kinh ngạc của mình. Nhưng liệu điều này có khiến chúng ta vượt trội hơn so với những người họ hàng của mình? Tôi không dám chắc.

Và quả thực rất khó nếu cứ khăng khăng tìm kiếm những điểm khác biệt. Chúng ta có thể tìm thấy những hành động hung bạo rừng rú tại bất kỳ thành phố nào ở châu Âu – hành động phá hoại, bạo lực, tàn ác vô nhân tính không thể kiểm soát. Trong thế kỷ 20, 160 triệu người thiệt mạng vì những hành động bạo lực do con người gây ra như chiến tranh, diệt chủng và đàn áp chính trị.

Vậy chúng ta đã có được bức tranh toàn cảnh chưa? Chúng ta có thật sự khác xa những “người” họ hàng gần nhất về mặt di truyền không? Có thật sự là chúng ta đã tách khỏi họ từ rất lâu rồi không? Nếu không, liệu điều này có triệt tiêu nỗ lực của chúng ta trong việc tránh xa hoặc nâng cao bản thân khỏi những loài linh trưởng khác? Có thể không có nhiều điểm chung giữa chúng ta với các loài linh trưởng như ta vẫn nghĩ? Liệu có phải chúng ta cũng là một loài khỉ có tính quần thể nhưng là loài đặc biệt và phi thường nhất? Và đây có phải là sự thật quan trọng nhất về một loài nhỏ bé nhưng đã thống trị thế giới?

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Mark Earls – Tâm lý bầy đàn – NXB THTPHCM – 2012

Loài khỉ siêu quần thể – Phần II


Chúng ta muốn ở cùng nhau

Điều thú vị về hiện tượng này không phải là câu chuyện về ông chú của Danny; cũng không phải vai trò lãnh tụ tình cờ có được mà chính bản thân anh cũng cảm thấy mình không phù hợp. Điểm kỳ lạ ở đây là tất cả những người này đều hạnh phúc khi được tham gia, và vẫn còn thích thú tham gia để trở thành thành viên của cộng đồng nhỏ bé này.

Một hiện tượng khác cũng kỳ lạ và ấm áp tình người là phong trào “đội làm vườn du kích” (guerilla gardening). Khởi đầu là một dạng chủ nghĩa tích cực chính trị dành cho những ai đấu tranh chống lại các doanh nghiệp lớn và sự thờ ơ của chính quyền đối với những khu vực nghèo khó nhất của thành phố New York (Công viên tưởng niệm Chico Mendes ở Little Puerto Rico, NY có lẽ là ví dụ điển hình nhất), hoạt động làm vườn du kích được thực hiện vừa cứng rắn (ngày 1 tháng 5 năm 2000, hàng người làm vườn du kích đã tập hợp ở Quảng trường Nghị viện Westminster để cùng phản đối chủ nghĩa tư bản toàn cầu vào năm đó – có thể bạn còn nhớ vụ mái tóc thổ dân Mohican trên tượng Churchill), vừa mềm mỏng và ít xung đột.

Một nhóm tương tự ở Anh là Guerillagardening.org, một cộng đồng cùng chia sẻ sự tử tế nhiệt tình như Join-me. Đội ngũ vui nhộn này – đủ mọi hình thức và tuổi tác – xác định những khu vực bị lãng quên ở khắp nước Anh, tập trung vào lúc nửa đêm để dọn dẹp, đào bới và trồng lại cây cối cho những khu vực “chết” ở các thành phố. Từ những khu cao ốc đến các dãy phân cách trung tâm, từ những khu vườn công cộng ở các điền trang hoang tàn đến những khu vực bị lãng quên trên những con đường vắng, đội ngũ hỗn tạp gồm những người làm vườn du kích Anh đã thay đổi thế giới thành thị xung quanh họ mà không hưởng bất cứ thù lao nào. Dĩ nhiên, một phần là do họ thích công việc làm vườn; và đương nhiên là do họ thích thử thách (mang lại cảm giác hào hiệp). Nhưng phần lớn là do người khác cũng thích làm như thế. Việc cùng nhau thực hiện hành động này là một điều tốt. Thật tuyệt khi được ở cùng nhau và làm việc gì đó cùng nhau. Cùng nhau.

Những kiểu cộng đồng này hoạt động hoàn toàn trái ngược với những gì chúng ta kể cho nhau nghe về thế giới hiện đại. Chúng ta hiện là những người tôn sùng chủ nghĩa cá nhân, vị khách hàng tên Pat đã nhắc nhở như thế khi tôi nói với anh ta về lý thuyết bầy đàn của mình. Tất cả chúng ta đều muốn được thừa nhận, chúng ta không muốn phụ thuộc, anh quả quyết. Thế giới hiện đại đã vỡ vụ – những sự ràng buộc và cấu trúc xưa cũ trói buộc cuộc sống của chúng ta – đã tan thành mây khói. Gia đình, nhà thờ, chính phủ – tất cả những điều này dường như không còn ảnh hưởng nhiều đến chúng ta như trước nữa. Và Henley Centre có vẻ như khẳng định rằng xu hướng này sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn nếu không có gì thay đổi. Nó đã đặt ra một câu hỏi đơn giản trong suốt hơn 20 năm qua:

Bạn nghĩ rằng chất lượng cuộc sống ở Anh sẽ được cải thiện hiệu quả nhất bằng cách:

a/ Chăm lo lợi ích cộng đồng thay vì lợi ích bản thân?

b/ Chăm lo bản thân rồi sau cùng hãy nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người?

Từ năm 1994 đến 2000, đa phần những người tham gia khảo sát ở Anh chọn câu trả lời a; nhưng kể từ đó, mọi thứ đã thay đổi. Năm nay, lần đầu tiên sau một thập niên, hầu hết mọi người đều chọn câu trả lời b.

Vài năm trước, một trong những chuyên gia hàng đầu người Mỹ trong việc nhận diện xu hướng đã viết một cuốn sách có tiêu đề Bowling Alone dựa trên chính luận điểm này. Trên các tờ tạp chí và truyền hình, chúng ta được khuyến khích tin rằng mỗi người đều đang tìm kiếm hạnh phúc của riêng mình, tìm kiếm cuộc sống theo cách mình muốn, và lối sống phù hợp nhất với bản thân. Trong cuộc sống riêng tư của chúng ta, liệu pháp tự lực/không chuyên thôi thúc chúng ta hành động theo hàng trăm cách lập dị khác nhau.

Và trong marketing, chúng ta mất cả chì lẫn chài. Như Roderick White đã viết trong Admap.

Suốt 20 năm qua, hầu như nhà bình luận nào về marketing, quảng cáo và tiêu dùng cũng đều nói bởi thế, cùng với những thói quen về truyền thông của bản thân, người tiêu dùng ngày nay mang tính cá nhân cao hơn, phân khúc hơn và cũng khó phân loại hơn.

Chúng ta đều biết rằng người tiêu dùng ngày càng kén chọn và khó tính hơn bao giờ hết – mỗi thứ đều phải được thiết kế riêng để phù hợp với từng cá nhân và kết quả là, khái niệm về “tùy biến theo yêu cầu của đám đông” (mass-customization) đối với quần jean, giày thể thao và sản phẩm chăm sóc da đã trở nên rất thịnh hành trong các cuộc họp ban quản trị và kế hoạch marketing. Trong những năm gần đây, lĩnh vực marketing rất thiết tha theo đuổi (với sự hỗ trợ của các công ty cung cấp phần mềm máy tính và chuyên gia tư vấn quản lý) một mục tiêu ảo tưởng về mối quan hệ một-đối-một với tất cả các khách hàng của mình hoặc những khách hàng mà họ muốn có. Bất kỳ nơi nào trong thế giới hiện đại này, dường như chúng ta đều nghe cùng một thông điệp: Tất cả chúng ta là những cá nhân đang theo đuổi lợi ích của riêng mình. Nhưng liệu điều này có đúng không?

Nói những gì bạn thấy

Khi nghĩ về Internet, ai đó trong lĩnh vực kinh doanh hay chính phủ có xu hướng xem nó là một tập hợp gồm các kênh truyền tải thông tin hay bán sản phẩm. Điều này không đúng, Internet được xây dựng trên nền tảng của sự chia sẻ và cộng đồng, đó là lý do vì sao mọi người lại thích sử dụng nó. Dù có thể thâm nhập vào thế giới trực tuyến và hoàn toàn có thể gửi đi thông điệp đến các cá nhân từ một nguồn trung tâm, nhưng xét về bản chất, nó không phải là một “kênh” theo đúng nghĩa như truyền hình hay báo chí – nó không phải là đường dẫn giữa chúng ta và mọi người. Trong sự hào hứng của mọi người đối với những gì gắn với cái đuôi “điện tử”, các nhà bình luận và bán hàng phịa ra với chúng ta rằng nó đích thực là một “kênh” hay nó sẽ thay thế các kênh khác. Điều này cũng không đúng. (SAI hoàn toàn).

Chính sự hào hứng đã khiến những người này phạm phải một sai lầm thậm chí là sơ đẳng khi nói về Internet (điều này cũng tương tự như với những người hâm mộ điện thoại di động và công nghệ đi kèm): họ nói như thể loại công nghệ này đã thay đổi chúng ta thành một dạng nửa người nửa chuột máy tính hay đại loại thế. “Công dân thời đại số”, “người tiêu dùng kỹ thuật số” hay “người thông thạo Internet”. Hay một khái niệm vô nghĩa khác.

Trong album đầu tiên của Goldie Lookin Chain, Cọng đồng Welsh Rap đã chế nhạo ý tưởng hão huyền này về bài hát “Nửa người, nửa máy” của họ – Eggsy tin rằng anh ta tự biến mình thành người máy. Tuy nhiên, chỉ có một người ở Anh đã biến mình thành một chút gì đó giống như máy móc. Giáo sư Kevin Warwick ở Đại học Reading đã cấy các vi mạch vào cơ thể để quản lý các chức năng sinh lý của mình và cho phép ông tương tác tự động với môi trường tại trường đại học. Đối với hầu hết chúng ta, sự thật rất khác biệt và sẽ tiếp tục như thế, thậm chí với Kevin. Bất kể chúng ta có phải là con nghiện Internet hay không, công nghệ này đang tiết lộ với ta về bản chất thật sự của mình: một giống loài có đặc điểm chính là bản chất quần thể.

Danny và tất cả những người tham gia cùng với anh ta chính là bằng chứng. Cũng tương tự như các cộng đồng vì-mục-đích-tốt-đẹp khác (chẳng hạn như www.pledgebank.com, nơi mỗi cá nhân cam kết sẽ làm một việc gì đó như viết thư cho các Nghị sĩ hay kiêng ăn chocolate khi có 10 người khác cùng làm với họ).

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Mark Earls – Tâm lý bầy đàn – NXB THTPHCM – 2012

Loài khỉ siêu quần thể – Phần I


Bản chất tự nhiên của loài người chính là bản chất của loài khỉ siêu-quần-thể. Chúng ta được lập trình để ở cạnh tranh; tính quần thể là chiến lược tiến hóa then chốt của giống loài chúng ta; chúng ta cảm thấy hạnh phúc hơn khi có người khác bên cạnh; bộ não của chúng ta phát triển thông qua quá trình tương tác với người khác và khi bộ não này không phát triển bình thường thì những kỹ năng con người quan trọng của chúng ta cũng sẽ mất đi. Khi những kỹ năng này phát triển đúng cách, chúng ta sẽ có được những năng lực tuyệt vời nhất để sống và tạo dựng mọi thứ cùng nhau.

Tương thuộc là, và phải là sự độc lập cũng như lý tưởng của con người. Loài người là loài có tính quần thể.

Mahatma Gandhi

Trà và lòng tốt

Danny Wallace không có vẻ giống như một nhà lãnh đạo phong trào. Anh là người có chiều cao trung bình, đeo kính, không hề tham vọng hay ảo tưởng rằng ngày nào đó mình sẽ thống trị thế giới – theo thông tin do chính anh cung cấp – hầu như không có khả năng thu hút người khác vì khả năng diễn thuyết của anh không lôi cuốn hay kích thích đám đông. Thế nhưng, anh đã sáng tạo ra một trào lưu (hay một “tập thể” theo cách gọi ưa thích của mình) gồm hàng ngàn người hay cười trên khắp thế giới – những người sẵn sàng theo đuổi một chương trình đi ngược lại những tập tục hiện thời. Ngoài ra, tất cả họ đều mang một vẻ tử tế đáng tởm – thứ gợi lên ký ức về những người bị tẩy não ở thành phố Waco, Texas.

Điều này bắt đầu như thế nào? Quay trở lại năm 2001, khi Danny đến dự đám tang của Gallus, một ông chú mà anh hầu như không hề quen biết. Khi bay đến Zurich để tham dự nghi lễ diễn ra bằng thứ ngôn ngữ mà anh gần như chẳng hiểu gì (dòng máu Đức lai Thụy Sĩ của anh không phát huy tác dụng bởi anh lớn lên ở London). Danny không mảy may nghi ngờ rằng cuộc đời mình (và cuộc đời của những người mà anh chưa từng gặp mặt) sẽ thay đổi. Trong suốt quá trình hồi tưởng không ngừng về cuộc đời của người quá cố, tất cả đều được tiến hành bằng ngôn ngữ địa phương, anh nghĩ rằng mình đã nghe một điều gì đó lạ lùng. Có ai đó đã đề cập đến Ông Gallus và một cộng đồng?

Có, bà nội anh khẳng định, một cộng đồng. Nhưng là một cộng đồng thất bại.

Hóa ra, ông Gallus, một công dân Thụy Sĩ tỉnh lẻ to khỏe, từng có lần vì quá thất vọng về nền chính trị của thị trấn nhỏ bé Monzwang (dân số 1000 người) nên đã quyết định xây dựng một thị trấn cho riêng mình trên một khoảng đất nhỏ mà ông sở hữu. Theo cách duy tâm, ông hy vọng có thể xây dựng một cộng đồng hoàn hảo từ con số không. Nhưng tiếc thay, chỉ có ba ông bạn của ông cảm thấy hứng thú với ý tưởng trên và Gallus chưa bao giờ thực sự theo đuổi nó ngoại trừ lời mời gọi ban đầu. Từ phản ứng của gia đình đang tập trung tại buổi lễ, dường như mọi người đều cho rằng ông bị điên và vẫn còn cảm thấy ngượng khi rời vào hoàn cảnh: “Lại một ý tưởng điên rồ khác của Gallus”.

Giờ đây, nó là một dạng giai thoại mà tất cả chúng ta đều muốn kể cho bạn bè của mình nghe tại vũ trường hay quán rượu – “Tôi có thể hoàn thành đoạn kết câu chuyện. Ông tôi (vâng, gã Thụy Sĩ điên khùng ấy…), đã cố khơi dậy một trào lưu… nhưng thất bại”. Nếu nhận ra giá trị xã hội của câu chuyện này, Danny đã cẩn trọng hơn để không quá sa đà vào nó. Thật vậy, Danny hoàn toàn không mổ xẻ ý tưởng này, ngoại trừ việc kể lại với người bạn gái nhẫn nhịn của mình khi trở về London. Sau đó, khi tha thẩn trong căn hộ của mình, anh trầm tư hơn một chút. Và rồi ý tưởng chợt nảy ra.

Mẫu quảng cáo

Anh đăng một đoạn quảng cáo đơn giản trên Loot, một tờ báo không chứa đựng thông tin gì khác ngoài nội dung quảng cáo cho các loại xe, ghế sofa cũ, dịch vụ dọn nhà và cho thuê chỗ ở. Mẫu quảng cáo của anh chỉ là: “Hãy tham gia cùng tôi. Hãy gửi một tấm ảnh hộ chiến đến…”.

Sau đó, anh ngồi chờ xem liệu mình có nhận được sự dửng dưng giống như ông chú Gallus không. Có thể lắm chứ, anh tự nhủ. Rốt cuộc thì anh đâu có nói cụ thể rằng mọi người sẽ tham gia vào việc gì hay sẽ được lợi gì từ sự tham gia đó.

Phản hồi đầu tiên rất đáng chú ý. Nó được gửi đến từ một cư dân sống ở khu Camdem, London. Đó là một người đàn ông có ngoại hình rất bình thường nếu nhìn từ bức ảnh mà anh ta gửi. Người này còn gửi cả thực đơn của một nhà hàng Ấn tại địa phương. Ổn thôi. Một ý tưởng hay. AI đó đã tỏ ra thân thiện và ít ra đã chia sẻ một trong những thứ mà mình yêu thích bất kể phong trào này sẽ đi đến đâu. Có thể ý tưởng xây dựng một cộng đồng hoàn toàn khác biệt không có gì là xấu cả. Sau đó, khi nghiên cứu kỹ tờ thực đơn kia, Danny nhận thấy một sự tử tế khác thường của nhà hàng này – điều khiến cho hành động ban đầu trở nên hơi kỳ lạ (nhưng vẫn tử tế).

Chúng tôi tự hào về bếp trưởng (!) và quản lý của mình (!!). Chúng tôi tự hào rằng quý khách đã chọn chúng tôi để thỏa mãn khẩu vị của mình.

Vậy thì những người làm việc ở nhà hàng này cũng phải tử tế. Không có nhiều công ty vừa thực sự tự hào về nhân viên của mình, vừa tri ân khách hàng như thế (ít nhất là chưa xảy ra cho đến khi bạn cho họ thật nhiều tiền, và thậm chí như thế thì điều đó cũng khó xảy ra, dĩ nhiên là nếu cuốn Kitchen Memoirs (Tự truyện nhà bếp) của Anthony Badouin có chút nào đó chính xác).

Thậm chí nhiều quảng cáo hơn

Và từ đây, mọi việc bắt đầu đi vào nề nếp. Từ một trang web nhỏ hời hợt với nhiều ý kiến mang tính cá nhân, bàn ăn của Danny giờ đã bày kín 4000 bức ảnh. Cũng giống như nhiều điều trong cuộc sống, thành công luôn mang đến áp lực và sự căng thẳng. Không lâu sau, Danny cảm thấy mình phải hình thành một mục đích, một ý nghĩa nào đó cho tổ chức này. Ngày càng nhiều người gia nhập (theo như cách anh gọi họ) cảm thấy hạnh phúc vì được tham gia, nhưng cũng ngày càng nhiều người trong số đó muốn biết Lãnh tụ Danny muốn họ làm gì.

Đây quả là vấn đề nan giải, bởi Danny chưa từng thật sự nghĩ về câu trả lời cho câu hỏi này. Tuy nhiên, Danny đã giải bài toán này khá nhanh chóng. Như anh nhận xét:

Hiện giờ, tôi không biết bạn đã từng khởi lập một trào lưu hay chưa, nhưng một trong những điều đầu tiên bạn phải làm là quyết định nên sử dụng sức mạnh của mình cho cái tốt hay cái xấu. Hẳn bạn sẽ nah65n ra rằng tôi đã quyết định làm việc vì cái tốt. Và nó đang phát huy tác dụng.

Hiệu ứng quyết định của Danny về việc hướng cộng đồng đến những điều tốt đẹp, các hoạt động như thiết đãi người lạ bia, trà, mời họ dùng bánh và sẵn sàng xách hộ những túi đồ mua sắm nặng trĩu bắt đầu diễn ra. Và phong trào này lan rộng ra khắp cả nước.

Phong trào “join-me” ra đời. Và cùng với nó là đội quân Karma, một đội quân chuyên phục vụ trà, bánh quy và RaoKs (“những hành động tử tế ngẫu nhiên”). Danny cảm thấy phấn khích hết lần này đến lượt khác trước sức mạnh của ý tưởng này – một email đơn giản đã khiến hàng trăm người xuất hiện tại đường Oxford, London để tham gia “Karmageddon” (một buổi họp mặt của cộng đồng gồm đủ mọi thành phần tham gia đế từ khắp mọi miền đất nước và, có lẽ là yêu cầu không thể thiếu đối với những sự kiện như thế, một người Hà Lan vui tính. Người Bỉ phát cuồng lên vì sự kiện này – vị Lãnh tụ được lên truyền hình vào giờ vàng – người Na Uy, người Australia và thậm chí người Mỹ cũng cảm thấy sức mạnh của trà và lòng tốt; và mỗi ngày ở trang www.join-me.co.uk, các thành viên mới gia nhập đều được các thành viên cũ chào đón bằng những vòng ôm điện tử. Hãy thử và cảm nhận sự tiếp đón dành cho bạn.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Mark Earls – Tâm lý bầy đàn – NXB THTPHCM – 2012