Tình hình dịch bệnh COVID-19 tại Italy từ góc nhìn tâm lý xã hội


Kể từ cuối tháng 2 đến nay, dịch COVID-19 đã lây lan rất nhanh ở Italy, khiến nước này trở thành một trong những nước có tình hình dịch bệnh nghiêm trọng nhất thế giới. Trong thời gian này, Chính phủ Italy tiếp tục gia tăng các biện pháp phòng chống dịch, và đã tuyên bố thực thi lệnh phong tỏa toàn quốc vào ngày 10/3. Thủ tướng Italy Giuseppe Conte trên trang cá nhân đã dẫn lời cố Thủ tướng Anh Churchill nói trong Chiến tranh thế giới thứ hai rằng “đây là thời điểm đen tối nhất của chúng tôi” để mô tả hoàn cảnh hiện tại của Italy. Vậy tại sao tình hình dịch bệnh ở Italy diễn biến nghiêm trọng như vậy? Ấn chứa đằng sau nó là những yếu tố tâm lý xã hội gì? Tại sao người Italy với bản tính tự do có thể dễ dàng chấp nhận các biện pháp kiểm soát chặt chẽ như vậy?

Dịch bệnh đang lây lan nhanh, ba lý do đáng chú ý

Ngày 31/1, Italy đã khởi  động tình trạng y tế khẩn cấp kéo dài tới 6 tháng và cũng là nước đầu tiên ở châu Âu tạm dừng các chuyến bay trực tiếp giữa nước này với Trung Quốc. Tuy nhiên, từ ngày 22/2, số ca nhiễm đã được chẩn đoán tại nước này tăng mạnh, tỷ lệ tử vong ở mức cao kỷ lục. Về sự lây lan nhanh chóng của virus SARS-CoV-2, không thể xem nhẹ những yếu tố như văn hóa xã hội, thói quen sinh hoạt của người dân và đặc điểm của các hoạt động kinh tế: Người Italy thích tiệc tùng và trò chuyện, có truyền thống, “văn hóa đám đông”; mọi người có thói quen ôm hôn khi xã giao; các hoạt động văn hóa cộng đồng rất phong phú; ngành du lịch phát triển. Ngoài ra, vẫn còn 3 lý do cụ thể:

Thứ nhất, thiếu mục tiêu rõ ràng trong các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát ở giai đoạn đầu. Trong giai đoạn đầu phòng chống dịch bệnh, Italy đã quá chú trọng việc dừng các chuyến bay trực tiếp qua lại với Trung Quốc mà không sàng lọc và cách ly những người nhập cảnh có lịch sử tiếp xúc với khu vực nhiễm dịch. “Bệnh nhân số 1” được xác nhận là bị nhiễm bệnh ở Đức. Kể từ đó, Italy bắt đầu kiểm tra theo kiểu dàn trải đối với các nhóm người có nguy cơ nhiễm bệnh, nhưng cũng không có biện pháp cách ly kịp thời và hiệu quả nào đối với các bệnh nhân có triệu chứng nhẹ đã được chẩn đoán.

Thứ hai, hệ thống y tế không đủ để đối phó với sự bùng phát dữ dội của dịch bệnh. Chất lượng dịch vụ của hệ thống y tế Italy tương đối cao, nhưng thiếu vật tư y tế. Trong 10 năm qua, để giảm nợ công, Chính phủ Italy duy trì cắt giảm chi tiêu công, giảm đáng kể ngân sách cho ngành y tế công cộng, đóng cửa nhiều bệnh viện ở tuyến cơ sở, dẫn đến việc thiếu thiết bị và nhân viên y tế. Khi dịch COVID-19 bùng phát ở miền Bắc, một số lượng lớn người nhiễm bệnh không được điều trị kịp thời, điều này không chỉ làm trầm trọng thêm tình trạng lây lan mà còn làm tăng tỷ lệ tử vong.

Thứ ba, thiếu quyết đoán trong việc ra quyết sách phòng dịch giai đoạn đầu, chính quyền các cấp đều tìm kiếm sự cân bằng giữa phòng chống dịch và duy trì các hoạt động kinh tế. Vùng Bologna và Veneto phía Bắc – khu vực đầu tiên bùng phát dịch COVID-19 là khu công nghiệp then chốt của Italy, các ngành du lịch, nhà hàng và khách sạn trên khắp đất nước cũng sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi các biện pháp phòng chống dịch bệnh. Cân nhắc về việc giảm tổn thất kinh tế, chính quyền các cấp ở Italy đã do dự trong việc ngăn chặn dịch bệnh, điều này về khách quan cũng làm giảm đáng kể hiệu quả phòng dịch. Ví dụ, trong buổi họp báo ngày 25/2, Thủ tướng Conte vẫn khuyến khích người dân đi du lịch đến các thành phố ngoài vùng dịch, còn dỡ bỏ lệnh giới nghiêm đã áp đặt trước đó đối với các quán bar ở Lombardy.

Không được xem nhẹ các yếu tố tâm lý xã hội

Nhìn vào quá trình phòng dịch giai đoạn đầu của Italy, các yếu tố tâm lý xã hội hoặc quan niệm về con người được thể hiện trong đó đều đáng quan tâm và suy ngẫm. Nói một cách đơn giản, trong giai đoạn đầu, các giới và các cấp chính quyền của Italy đã nhận thức sai về mức độ nguy hiểm của COVID-19, và điều này làm nổi bật một số đặc điểm tâm lý xã hội điển hình ở Italy.

Trước tiên, những định kiến trên một số phương diện đã khiến các giới trong xã hội Italy coi nhẹ tác hại của virus SARS-CoV-2, dẫn đến việc bỏ lỡ cơ hội vàng để phòng ngừa và kiểm soát. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Italy nhanh chóng gia nhập hàng ngũ các nước phát triển trước khi dịch COVID-19 bùng phát, nước này chưa từng xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm quy mô lớn, hầu hết người dân không có khái niệm về tác hại của dịch bệnh và các biện pháp ứng phó. Lỗ hổng trong nhận thức chung này đã dần trở thành một dạng ấn tượng hay thậm chí là suy nghĩ chủ quan, dân chúng ngày càng có xu hướng cho rằng dịch bệnh sẽ chỉ bùng phát ở các nước lạc hậu, các nước phát triển với hệ thống y tế tiên tiến và thói quen tốt cho sức khỏe sẽ miễn nhiễm với nó. Suy nghĩ chủ quan này đã khiến người dân Italy không quan tâm đầy đủ đến quá trình chống lại dịch bệnh ở Trung Quốc và đặc tính của virus SARS-CoV-2. Thậm chí có chính trị gia tuyên bố trên các chương trình truyền hình rằng sự bùng phát dịch bệnh ở Trung Quốc là do điều kiện y tế và thói quen chăm sóc sức khỏe của người Trung Quốc kém, cũng có nhiều người Italy cho rằng tỷ lệ tử vong cao ở Hồ Bắc là do trình độ khám chữa bệnh ở Trung Quốc lạc hậu. Có thể nói rằng những ấn tượng như vậy tồn tại ở các nước phát triển phương Tây với các mức độ khác nhau, và đó cũng là một trong những lý do quan trọng khiến các nước này không sớm thực hiện các biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt.

Thứ hai, di sản về lịch sử và văn hóa khiến người Italy rất khó trong một thời gian ngắn đạt được sự đồng thuận trong các vấn đề lớn, và lần này đã thể hiện ở sự hỗn loạn thậm chí là chia rẽ về nhận thức của toàn xã hội trong giai đoạn đầu của dịch bệnh. Italy trong lịch sử đã có thời gian dài bị “chia 5 xẻ 7”, sau khi đất nước thống nhất vào năm 1861, kinh tế và xã hội vẫn còn bị chia cắt, thêm vào đó là tư tưởng chủ nghĩa phát xít còn lại từ Chiến tranh thế giới thứ hai khiến mọi người đặc biệt coi trọng tự do cá nhân, không muốn bị kiểm soát, thiếu lòng tin đối với chính quyền đặc biệt là chính quyền trung ương, rất khó đạt được sự nhất trí cao trong các vấn đề lớn. Đặc điểm tâm lý xã hội này được phản ánh trong việc sắp xếp các cơ chế như chế độ nghị viện, hệ thống bầu cử cũng như quan hệ  giữa địa phương và trung ương của Italy sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nó cũng gây ra nhiều sự hỗn loạn trong công tác phòng chống dịch bệnh giai đoạn đầu: các chuyên gia của hệ thống Italy vẫn đang tranh luận rằng COVID-19 rốt cuộc là dịch cúm mùa hay là một dịch bệnh nghiêm trọng; các biện pháp của chính quyền trung ương thiếu quyết đoán, chính quyền địa phương, thành phố không thực hiện thậm chí phản đối các biện pháp của trung ương; lãnh đạo đảng Dân chủ thuộc liên minh cầm quyền của Italy còn công khai tham gia hoạt động  “Milan không ngừng nghỉ” trên đường phố; dân chúng coi thường các lệnh cấm của chính phủ thậm chí còn phản đối việc bị tước quyền tự do. Việc thiếu các ý kiến thống nhất từ chính quyền cuối cùng đã dẫn đến sự bùng phát dịch bệnh. Không thể phủ nhận rằng phong cách tự do của người Italy là một nguồn năng lượng quan trọng cho sự đổi mới ở quốc gia này, nhưng đối phó với một dịch bệnh có quy mô lớn như vậy trong tình trạng thiếu đoàn kết thì khó tránh việc phải trả giá đắt.

Dịch COVID-19 làm thay đổi tâm lý người dân

Kể từ ngày 10/3, Italy chính thức thực hiện sắc lệnh mới về phòng chống dịch trên toàn lãnh thổ, nghiêm cấm mọi hình thức tụ tập tại nơi công cộng, sắp xếp cụ thể các công việc như đến nơi làm việc, mua nhu yếu phẩm, đến bệnh viện khám bệnh…, đặt ra biện pháp trừng phạt các hành i vi phạm sắc lệnh, bao gồm phạt tiền, tạm giam và thậm chí là xét xử cả tội danh gây tổn hại đến y tế cộng đồng. Ngày 11/3, chính phủ tuyên bố tất cả các cửa hàng trừ cửa hàng nhu yếu phẩm và nhà thuốc sẽ phải đóng cửa cho đến ngày 25/3. Chính phủ tuyên bố sắc lệnh mới về phòng chống dịch được thực hiện đến ngày 3/4, và không loại trừ khả năng sẽ thực hiện các biện pháp bổ sung tùy theo diễn biến của tình hình dịch bệnh.

Sắc lệnh này là giới hạn nghiêm ngặt nhất đối với cuộc sống tự do của người dân Italy kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng lần này người dân Italy đã lựa chọn tôn trọng các quyết định của chính phủ. Khẩu hiệu “iorestoacasa” (tôi ở nhà) mà Chính phủ Italy kêu gọi đã nhận được phản hồi tích cực từ người dân. Kết quả thăm dò được hãng Ipsos công bố vào ngày 12/3 cho thấy có tới 62% dân chúng khẳng định chấp thuận các biện pháp phòng chống dịch bệnh của chính phủ. Điều này cho thấy tác hại của dịch bệnh đã làm thay đổi tâm lý của người dân. Trước hết, cùng với việc số lượng ca nhiễm và tử vong tăng mạnh cũng như hệ thống y tế trong tình trạng báo động, người Italy thực sự cảm thấy mối đe dọa tính mạng từ virus SARS-CoV-2, họ cũng nhận ra rằng tôn trọng kiến thức khoa học, ngăn chặn các con đường lây nhiễm virus càng sớm càng tốt là cách duy nhất để giảm sức ép lên hệ thống y tế. Thứ hai, khi dịch bệnh lan rộng khắp thế giới, người Italy bắt đầu nhận thức được rằng đại dịch không phân biệt quốc gia hay chủng tộc, trong khi hệ thống y tế của họ chưa chuẩn bị tốt cho việc đối phó với nó, và họ bắt đầu khiến người Italy nhận thức được tầm quan trọng của sự đoàn kết và hợp tác khi đối mặt với các cuộc khủng hoảng lớn, từ chính quyền địa phương cho đến dân chúng đều thể hiện sự tôn trọng đối với các sắc lệnh của chính quyền trung ương, lòng yêu nước cùng nhau vượt qua thời kỳ khó khăn lại một lần nữa trỗi dậy.

Đến ngày 19/2, Italy vẫn đang ở đỉnh điểm của dịch, vẫn chưa biết khi nào dịch bệnh có thể được kiểm soát trong phạm vi mà hệ thống y tế có thể chịu được. Đối với Italy, ngoài sức khỏe và tính mạng của người dân, dịch bệnh cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều lĩnh vực. Về kinh tế, vốn bị ảnh hưởng bởi sự suy thoái của môi trường thương mại quốc tế từ trước đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Italy năm 2019 chỉ là 0,3%, và nước này có thể sẽ rơi vào suy thoái trong năm nước này sẽ phải nỗ lực nâng cao nguồn lực y tế. Cuối cùng, cuộc khủng hoảng nợ châu Âu và cuộc khủng hoảng người tị nạn trước đó đã khiến mức độ đồng thuận với EU của người dân Italy giảm đi đáng kể, và vai trò yếu ớt của EU trong dịch bệnh lần này rất có thể khiến mối quan hệ giữa Italy và EU đối mặt với thách thức mới.

Nguồn: Tạp chí Tri thức thế giới (TQ) – số 7/2020

TLTKĐB – 27/03/2020

Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng – Phần cuối


4/ Quá trình tâm lý của hành động tập thể mạng

Dựa vào mô hình xúc cảm đồng nhất của hành động tập thể mạng, có thể phân quá trình tâm lý của dân mạng tham gia hành động thành các giai đoạn sau: Trước hết, các chủ đề, tin tức, lời đồn, tin nhắn… trên mạng dễ khiến dân mạng toàn quốc quan tâm đều có thể trở thành sự kích thích tính tình huống xúc tiến tính đồng nhất xã hội yếu thế tình huống chủ thể dân mạng hoặc khởi động tính đồng nhất xã hội thông thường. Chỉ có sau khi tính đồng nhất xã hội được khởi động người ta mới xuất phát từ giác độ quần thể mà tự thân đồng nhất để đưa ra cách lý giải và giải thích về tình huống, nảy sinh cảm xúc, rồi hình thành khuynh hướng hành vi, kết hợp với cách đánh giá tính khả thi của khuynh hướng hành động, cuối cùng khởi động và tham gia hành động tập thể mạng, còn kết quả của hành động tập thể sẽ làm thay đổi sự tiến triển của tình huống hoặc sự kiện, rồi ảnh hưởng đến các khâu trong mô hình. Dựa vào các loại hình đồng nhất khác nhau, sự nhận thức đánh giá, phản ứng xúc cảm và loại hình hành vi của dân mạng nhằm vào một sự kiện hoặc tình huống nào đó cũng có khác nhau, biểu 1 và biểu 2 đã phân tích mô hình nhận thức – xúc cảm – hành vi của các quần thể đồng nhất khác nhau xoay quanh sự hình thành mấy loại phản ứng xúc cảm.

Bảng 1: Mô hình nhận thức – xúc cảm – hành vi tham gia hành động tập thể của dân mạng đồng nhất yếu thế tình huống

  Phẫn nộ Lo lắng Bi thương Bất mãn Tự hào
Tính nhất trí Thấp Thấp Thấp Thấp Thấp
Tính hợp lý Thấp Cao     Cao
Người chịu trách nhiệm Quần thể mạnh thế tình huống Quần thể yếu thế tình huống Nhân tố môi trường bên ngoài Nhân tố môi trường bên ngoài Quần thể yếu thế tình huống
Tính có thể khống chế Cao Cao Thấp Cao/Vừa Cao
Khác biệt với mong đợi tâm lý Cao Cao (lúc thấp là tuyệt vọng) Cao Cao Cao
Loại hình hành động tập thể mạng Lên án, xung đột có tính đối kháng Suy xét lại, than vãn, kêu gọi thay đổi Động viên từ thiện Truy vấn trách nhiệm Tuyên truyền, xây dựng mẫu mực

Chú thích: Chỗ trống biểu thị đánh giá ở chiều cạnh này không tác động hoặc tác động không rõ rệt tới sự sản sinh xúc cảm tương ứng.

Bảng 2: Mô hình nhận thức – xúc cảm – hành vi tham gia hành động tập thể của dân mạng đồng nhất thông thường

  Phẫn nộ Miễn cưỡng Đồng tình, thương tâm Bất mãn Oán hận
Tính nhất trí   Không liên quan trực tiếp Không liên quan trực tiếp   Thấp
Tính hợp lý Thấp Cao     Thấp (Phá vỡ ngưỡng dưới đạo đức)
Người chịu trách nhiệm Quần thể mạnh thế tình huống Quần thể yếu thế tình huống Nhân tố môi trường bên ngoài Nhân tố môi trường bên ngoài  
Tính có thể khống chế Cao Cao Thấp Cao/Vừa Cao
Khác biệt với mong đợi tâm lý Cao Cao Cao Cao Cao
Loại hình hành động tập thể mạng Tố cáo, truy cứu trách nhiệm, kêu gọi cải cách Than vãn, yêu cầu thay đổi Động viên từ thiện Truy vấn trách nhiệm Lên án, kêu gọi thay đổi

Chú thích: Chỗ trống biểu thị đánh giá ở chiều cạnh này không tác động hoặc tác động không rõ rệt tới sự sản sinh xúc cảm tương ứng.

V/ Ý nghĩa của mô hình xúc cảm đồng nhất hành động tập thể mạng và kiến nghị chính sách

1/ Phương hướng nghiên cứu tương lai dựa trên mô hình xúc cảm đồng nhất

Việc phân tích cơ sở xúc cảm đồng nhất của cơ chế phát sinh hành động tập thể mạng đã đặt cơ sở lý luận cho nghiên cứu thực chứng trong tương lai, làm rõ phương hướng nghiên cứu khả thi về hành động tập thể mạng. Thứ nhất, nghiên cứu trong tương lai một mặt có thể tiến hành trong phòng thí nghiệm, thông qua việc sắp đặt tình huống, khởi động tính đồng nhất tình huống và tính đồng nhất thông thường của đối tượng thí nghiệm, phân tích cách đánh giá, xúc cảm của họ đối với sự kiện được thí nghiệm và ý nguyện tham gia hành động tập thể mạng của họ cùng ảnh hưởng của hành vi của họ; mặt khác, trong tình huống hiện thực, khi hành động tập thể mạng phát sinh, có thể điều tra cảm giác đồng nhất của người tham gia. Dựa vào giả thiết của mô hình xúc cảm đồng nhất, cảm giác đồng nhất của những người tham gia này về cơ bản phải gộp được vào trong sự đồng nhất tình huống và đồng nhất thông thường. Thứ hai, nghiên cứu trong tương lai có thể, trên cơ sở của mô hình gốc, kiến tạo mô hình hàm số giữa chiều cạnh đánh giá và thành phần xúc cảm; còn có thể lợi dụng kỹ thuật khai thác dữ liệu, phân tích sự kiện gây ra hành động tập thể mạng, dựa vào kết quả đánh giá nhận thức để tiến hành phân loại sự kiện mạng, vẽ ra đồ thị xúc cảm (emotionscale) mạng của các loại hình sự kiện khác nhau, tức là kết cấu xúc cảm-nhận thức phức hợp hình thành từ việc gắn thể nghiệm xúc cảm và khái niệm lại với nhau. Thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu đồ thị xúc cảm, cung có thể dự đoán phản ứng xúc cảm và hành vi sau khi những sự kiện tương tự phát sinh. Thứ ba, mô hình lý luận này còn có thể làm cơ sở kiến tạo mô hình ứng dụng máy tính để mô phỏng quá trình phát sinh hành động tập thể mạng. Như sử dụng loại mô hình tính toán là mô hình dựa trên người hành động (agent-based model) để mô phỏng quá trình dân mạng thông qua tương tác dẫn đến hành động tập thể là sẽ có thể dựa vào mô hình xúc cảm đồng nhất mà bài viết này đề xuất để kiến tạo mô hình quyết định cá nhân, gắn nó vào trong mô hình dựa trên người hành động, rồi thông qua máy tính để mô phỏng kết quả dự đoán.

2/ Kiến nghị chính sách dựa trên mô hình xúc cảm đồng nhất

Mô hình xúc cảm đồng nhất đã chỉ ra, động cơ trực tiếp khiến dân mạng khởi xướng và tham gia hành động tập thể mạng là sự thúc đẩy của xúc cảm nhận thức, còn sự sản sinh thứ xúc cảm nhận thức này lại lấy đồng nhất xã hội làm cơ sở. Đồng nhất xã hội trong hành động tập thể mạng vừa bao gồm đồng nhất quần thể yếu thế có tính tình huống, vừa bao gồm đồng nhất thông thường đối với quần thể vệ sĩ đạo đức, lãnh tụ ý kiến và tiên phong cách mạng, cơ sở sản sinh, tính bền vững, giác độ đánh giá nhận thức đối với sự kiện và cách đánh giá lợi ích thu được từ việc tham gia hành động tập thể mạng của hai loại đồng nhất đều có phần khác nhau. Hiểu biết về mô hình này giúp cho các cơ quan hữu quan đưa ra cảnh báo về hành động tập thể mạng và tiến hành ứng phó và hướng dẫn hữu hiệu. Nói về mặt cảnh báo, sau khi mỗi sự kiện phát sinh, trước hết ngành quản lý có thể phán đoán khả năng của sự kiện trong việc kích hoạt tính đồng nhất tình huống và tính đồng nhất thông thường, rồi lần lượg xuất phát từ góc nhìn của hai loại quần thể đồng nhất, căn cứ vào 5 phương diện là tính nhất trí giữa sự kiện và nhu cầu cùng quan niệm giá trị của quần thể, tính hợp lý và công bằng của sự kiện, người chịu trách nhiệm sự kiện, mức độ phát sinh và phát triển của sự kiện mà con người có thể khống chế, mức độ phát sinh của sự kiện vượt ra ngoài dự tính tâm lý của người ta để đưa ra đánh giá về sự kiện, dự tính phản ứng xúc cảm và hành vi của người ta, kết hợp với phân tích về lợi ích mà người ta thu được từ việc tham gia hành động tập thể mạng, rồi đưa ra cảnh báo dư luận. Nói về mặt ứng phó và quản lý, hiểu được cơ sở đánh giá tính đồng nhất và xúc cảm khiến dân mạng phát động và tham gia hành động tập thể mạng sẽ có thể áp dụng một cách có chủ đích các biện pháp khác nhau nhằm ứng phó và hướng dẫn hành động tập thể mạng. Thí dụ, khi phản ứng, giải thích và xử lý một sự kiện nào đó, phía quan phương xem xét toàn diện sự tồn tại của dân mạng với các loại hình tính đồng nhất xã hội khác nhau, tránh kích thích và làm gay gắt thêm cảm thụ của người ta đối với nhận thức không nhất trí, không hợp lý và vượt ra ngoài dự tính tâm lý, hoặc đưa ra sự hướng dẫn hợp lý nhằm vào sự đánh giá nhận thức nào đấy, giảm thiểu khả năng hình thành những xúc cảm tiêu cực…

Đúng như Yu Guoming (Dụ Quốc Minh) đã nói, “Trên thực tế, blog đã gắn microphone cho “lời gọi” xã hội của mỗi người, hơn nữa thứ “lời gọi” này được thực hiện bằng phương thức truyền bá trực tiếp. Mỗi người đều là phương tiện, mỗi người đều là người truyền bá, thông qua “lời gọi” blog, phương thức thông tin nhanh nhạy này tạo ra sức ảnh hưởng xã hội to lớn, kết quả dẫn đến là, sự quan sát của toàn xã hội, sự can thiệp của cấp trên, phương hướng phát triển, kết cục của sự kiện đều sẽ khác xa”. Hành động tập thể mạng không ngừng xuất hiện trong xã hội Trung Quốc và sản sinh những ảnh hưởng nhất định, việc tiến hành phân tích và xây dựng mô hình về cơ sở xúc cảm đồng nhất làm nảy sinh hành động tập thể mạng có giá trị quan trọng đối với cách ứng phó của chính phủ hay các ngành hữu quan với hành động tập thể mạng.

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2015 – 38, 39 & 40

Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng – Phần V


Việc đề xuất hai loại đồng nhất xã hội có thể giải thích tại sao có một số sự kiện mạng gây ra hành động tập thể có quy mô lớn còn một số sự kiện nào đó thì không, cũng có thể trả lời ở một mức độ nhất định vấn đề thứ hai nói trên: trong hành động tập thể mạng có tồn tại cơ chế “động viên” đặc biệt không. Đáp án cho vấn đề này tức là một số sự kiện nào đó có yếu tố xúc tiến hình thành quá trình loại hóa, khiến dân mạng càng dễ dàng hình thành đồng nhất với quần thể yếu thế trong sự kiện hoặc kích hoạt tính đồng nhất thông thường ở họ. Trong 3 yếu tố ảnh hưởng đến loại hóa nói trên, chúng tôi cho rằng, yếu tố dễ khơi dậy đồng nhất tình huống là tính dễ lấy và độ thích hợp so sánh. Tính dễ lấy cao là chỉ, những sự kiện hoặc tình huống tương quan mật thiết với lợi ích hoặc kinh nghiệm sống tự thân thì tư cách xã hội tương ứng sẽ dễ được người ta lấy ra từ ký ức; độ thích hợp so sánh cao là chỉ, sự phân biệt giữa thế yếu tình huống và thế mạnh tình huống mà nổi rõ thì tính đồng nhất tình huống sẽ dễ hình thành. Còn yếu tố dễ kích hoạt tính đồng nhất xã hội thông thường là tính dễ lấy và độ thích hợp quy phạm. Tính dễ lấy cao, tức là những sự kiện ảnh hưởng rộng, được phương tiện truyền thông quan tâm hoặc đi ngược lại nghiêm trọng quan niệm giá trị đạo đức cơ bản, dễ nhắc nhở người ta nghĩ đến mình là một phân tử của lực lượng giám sát và cải cách xã hội; độ thích hợp quy phạm rành mạch tức là lãnh tụ ý kiến và tiên phong cải cách mạng trong tình hình này phải đánh vào bất công xã hội, bảo vệ quan niệm giá trị đạo đức, tích cực công bố ngôn luận, cũng dễ gọi dậy tính đồng nhất xã hội thông thường của người ta.

2/ Đánh giá tình huống liên quần thể dựa trên tính đồng nhất

Nhận thức và đánh giá của người ta về các sự kiện sẽ gây ra những phản ứng xúc cảm và hành vi tương ứng, nhưng sự đánh giá cá thể hóa và xúc cảm tương ứng tuyệt nhiên chưa đủ để gây ra hành động có tính quần thể, mà còn phải dựa vào xúc cảm liên quần thể được hình thành dựa trên cơ sở đồng nhất xã hội. Dựa vào lý luận xúc cảm liên quần thể, sau khi nảy sinh tính đồng nhất xã hội, người ta sẽ dựa vào nhu cầu của quần thể đồng nhất để tiến hành đánh giá tình huống. Chúng tôi cho rằng, việc phân tích hành động tập thể mạng có 5 chiều cạnh đánh giá chủ yếu có ảnh hưởng quan trọng tới sự hình thành xúc cảm, lần lượt là: 1) Tính nhất chí: chỉ mức độ nhất trí giữa sự kiện và nhu cầu của quần thể, như vụ xe lửa sau đâm vào đuôi xe lửa trước là trái ngược với nhu cầu lợi ích an toàn đạt tới điểm đến của quần thể hành khách. Đối với dân mạng đồng nhất thông thường thì tính nhất trí có lúc thể hiện ở mức độ nhất trí của sự kiện với quan niệm giá trị và chuẩn tắc đạo đức của quần thể, như vấn đề lạm dụng tiền quyên góp có thể xảy ra ở hội chữ thập đỏ là đi ngược lại quan niệm đạo đức cơ bản của vệ sĩ đạo đức. 2) Tính hợp lý: chỉ mức độ công bằng trong phán đoán chủ quan hay trong cảm nhận của người ta về mức độ hợp lý của sự kiện, chủ yếu là tiến hành phán đoán thông qua so sánh xã hội. So sánh xã hội vừa bao gồm so sánh giữa quần thể yếu thế tình huống và quần thể mạnh thế tình huống (các tầng lớp quyền lực và cơ quan chính phủ, như quan chức bộ đường sắt, hội chữ thập đỏ), cũng bao gồm so sánh giữa quần thể yếu thế tình huống trong sự kiện trong nước và quần thể nước ngoài ở vào tình huống hoặc địa vị tương tự. Về điểm này, tiêu chuẩn phán đoán của dân mạng đồng nhất với quần thể yếu thế tình huống và của dân mạng đồng nhất với lực lượng cải cách có thể có phần khác nhau, loại sau có thể khách quan hơn. 3) Người chịu trách nhiệm, là chỉ phán đoán ai phải chịu trách nhiệm về sự kiện hoặc tình huống hiện tại. Về phán đoán về sự kiện hoặc tình huống đang được bàn nóng trên mạng có thể sản sinh 3 loại kết quả, bao gồm bản thân quần thể yếu thế tình huống, quần thể mạnh thế tình huống (phần nhiều là các tầng lớp quyền lực) và nhân tố môi trường bên ngoài (nhân tố tự nhiên). 4) Tính có thể khống chế, là chỉ mức độ mà sự kiện có thể do con người khống chế. Như hỏa hoạn lớn hoặc động đất ở Thượng Hải, được coi là thiên tai, nhưng con người vẫn có năng lực đối phó và dự phòng, giảm thiểu tổn thất; còn xe lửa đâm vào đuôi xe lửa trước thì được coi là sự cố nhân tạo, có thể tránh và có thể khống chế. 5) Khác biệt dự đoán tâm lý, chỉ là khác biệt giữa sự kiện thực tế phát sinh và dự báo trước đó của mình dựa trên kinh nghiệm về sự kiện tương tự sẽ phát sinh. Như xác suất dự báo của người ta về tham nhũng phát sinh có thể tương đối cao, nhưng xác suất dự báo về phát sinh các sự kiện như xe lửa đâm đuôi, xảy ra hỏa hoạn lớn không khả năng cứu viện, tiền quyên góp chữ thập đỏ bị dùng vào việc riêng là cực thấp, cho nên khi sự kiện thực sự phát sinh, mức độ kinh ngạc của người ta sẽ càng cao. Chúng tôi cho rằng, khác biệt về dự báo tâm lý là đặc biệt quan trọng đối với sự hình thành cảm xúc trong hành động tập thể mạng, bởi cái nó phản ứng là thách thức của sự kiện hoặc tình huống đối với chuẩn tâm lý của người ta. Kết quả đánh giá sự kiện hoặc tình huống khơi ra các loại thể nghiệm cảm xúc của người ta, rồi ảnh hưởng đến khuynh hướng hành vi của người ta trong việc tham gia hoặc khởi xướng hành động tập thể mạng.

3/ Đánh giá hiệu năng của hành động tập thể mạng

Trên cơ sở lý luận động viên nguồn lực, chúng tôi nêu một nhân tố quan trọng khác hiến hành động tập thể mạng bùng nổ, đó là phán đoán của người ta về tính khả thi của hành động tập thể, bao gồm hiệu năng quần thể, tính xác định của kết quả hành vi và lợi ích và chi phí của hành vi.

Hiệu năng quần thể trong mô hình xúc cảm đồng nhất là chỉ phán đoán về lực lượng và nguồn lực của quần thể trong việc phát động hành động tập thể. Tính xác định của kết quả hành vi là chỉ phán đoán về tính có thể dự kiến của kết quả hành động tập thể. Lợi ích thu được và chi phí là chỉ so sánh giữa chi phí người ta có thể bỏ ra cho việc tham gia hành động tập thể và lợi ích thu được. Trong môi trường mạng, do tính nặc danh và tính dễ dàng của việc tham gia, nên chi phí thời gian, sức lực, kinh tế, chính trị có thể bỏ ra đều tương đối nhỏ, tuy có thể bị giám sát hoặc điều tra, nhưng xác suất phát sinh vẫn thấp hơn hành động tập thể ngoài mạng. Về mặt lợi ích, tuy không có lợi ích cá nhân hay quần thể thu được rõ ràng như hành động tập thể ngoài mạng, như đạt được bồi thường kinh tế hay đình chỉ công trình nào đó phương hại đến quần thể mình, nhưng lại có thể đạt được sự thỏa mãn tâm lý cá nhân, như đạt được sự ủng hộ của những người cùng chí hướng và sự quan tâm của xã hội, duy trì được tính hợp lý của quan niệm giá trị của mình, thải loại những cảm xúc tiêu cực, theo một ý nghĩa rộng hơn còn có thể khiến toàn xã hội đều được lợi, như thay đổi chế độ chính sách, khiến toàn xã hội suy nghĩ lại quan niệm đạo đức và giá trị… Điều này tương ứng với vấn đề thứ ba trong phần trên đây của bài viết. Nói chung, trong tình huống mạng, đánh giá của dân mạng về cảm giác hiệu năng, tính xác định của hành vi và lợi ích thu được của quần thể đều tích cực hơn và cũng tương đối giống so với đánh giá trong tình huống hiện thực. Vì vậy, nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến ý nguyện tham gia hành động tập thể mạng của người ta vẫn là cảm xúc liên quần thể sản sinh trên cơ sở tính đồng nhất.

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2015 – 38, 39 & 40

Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng – Phần IV


Lý luận cảm xúc liên quần thể vận dụng quan điểm lý luận đánh giá xúc cảm, cũng cho rằng tổ hợp đánh giá nhận thức cụ thể sẽ khơi dậy phản ứng xúc cảm cụ thể, trong đó chiều cạnh đánh giá nhận thức quan trọng bao gồm mấy mặt dưới đây: 1) Đánh giá tính nhất trí: Mức độ nhất trí cần thiết giữa sự kiện hoặc tình huống và quần thể đồng nhất, nếu nhất trí thì sẽ khơi dậy cảm xúc tích cực, còn không nhất trí thì sẽ khơi dậy cảm xúc tiêu cực; 2) Đánh giá tính hợp lý: Tính hợp lý là chỉ phán đoán chủ quan của những người đồng nhất với quần thể nào đó về mức độ hợp lý của sự kiện, cũng tức là mức độ công bằng mà người ta nhận thức được; 3) Người chịu trách nhiệm: Người chịu trách nhiệm là chỉ phán đoán về người nào phải chịu trách nhiệm về sự kiện tại hại. Người chịu trách nhiệm có thể bao gồm 3 mặt, đó là các nhân tố nội quần thể, ngoại quần thể và môi trường bên ngoài; 4) Lực lượng: Quần thể có các nguồn lực mà tình huống cần đến không; 5) Tính xác định: Mức độ xác định của kết quả sẽ phát sinh đối với sự kiện, có xác định hay không có thể gây ra những xúc cảm như hy vọng và sợ hãi.

Tóm lại, lý luận đồng nhất xã hội phân tích xem những nhân tố nào sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành tính đồng nhất xã hội của quần thể; lý luận xúc cảm liên quần thể thì trên cơ sở phân tích đánh giá xúc cảm cá thể, chỉ ra, khi đồng nhất xã hội nổi rõ, người ta sẽ hình thành sự đánh giá ở cấp độ quần thể, sau đó sẽ nẩy sinh phản ứng xúc cảm nhằm vào quần thể, rồi tiến thêm một bước sẽ gây ra hành vi liên quần thể tương ứng với xúc cảm. Hai góc nhìn lý luận quan trọng nghiên cứu hành vi giữa các quần thể có giá trị tham khảo quan trọng đối với việc phân tích hành động tập thể mạng phát sinh ở cấp độ quần thể, thành phần người tham gia phức tạp. Bài viết này sẽ lấy đây làm cơ sở để tạo dựng nên mô hình xúc cảm đồng nhất của hành động tập thể mạng.

IV/ Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng

Ý tưởng lý luận của bài viết này về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng (dưới đây gọi tắt là mô hình xúc cảm đồng nhất, cụ thể xem Hình 1) chủ yếu là thông qua lộ trình “đồng nhất  xã hội – đánh giá – xúc cảm liên quần thể – hành động” để lý giải cơ chế tâm lý của sự phát sinh hành động tập thể mạng.1/ Đồng nhất xã hội tình huống và đồng nhất xã hội thông thường

Trước hết, nhất trí với lý luận đồng nhất xã hội trong lý luận hành động tập thể trước đây, mô hình xúc cảm đồng nhất cũng cho rằng, đồng nhất xã hội là nhân tố quan trọng kích thích hành động tập thể mạng phát sinh, nhưng chỗ khác với phân tích lý luận trước đây là, đồng nhất xã hội trong mô hình tuyệt nhiên không phải là đồng nhất quần thể yếu thế đơn nhất, mà là hai loại hình đồng nhất khác nhau, lần lượt là đồng nhất xã hội tình huống và đồng nhất xã hội thông thường. Qua sự trình bày của lý luận đồng nhất xã hội về loại hóa có thể nhận thấy, loại hóa là quá trình biến đổi theo tình  huống, vì vậy đồng nhất xã hội cũng không phải là cố định bất biến. Xuất phát từ điểm này, có thể phân chia đồng nhất xã hội thành đồng nhất xã hội tạm thời hay tình huống và đồng nhất xã hội ổn định hoặc thông thường, loại đầu là đồng nhất xã hội do tình huống hoặc các sự kiện có tính kích thích gây ra (khởi động), ngắn hạn, không ổn định, không cân bằng, dễ kiến tạo, còn loại sau là đồng nhất xã hội thường xuyên nổi bật hoặc do xã hội thiết định trước, lâu dài, tương đối ổn định và cân bằng, tương đối khó thay đổi.          Sự phân chia của Van Zomeren và một số người về thế yếu tình huống và thế yếu kết cấu ở mức độ nhất định đã làm nổi bật cách phân chia hai loại đồng nhất xã hội này. Thế yếu tình huống (incidental disadvantage) là thế yếu phát sinh tình cờ, sản sinh xoay quanh sự kiện hoặc tình huống nào đó (như trưng thu đất cưỡng chế, phí bất hợp lý mới tăng, sự cố thiết bị công cộng khiến nhân viên thương vong…), đứng trước thế yếu tình huống, người ta sẽ xoay quanh số phận chung hoặc lợi ích chung để phát triển thành một thứ đồng nhất xã hội chia sẻ; thế yếu kết cấu (structural disadvantage) là thế yếu gắn vào trong kết cấu xã hội, chỉ địa vị của quần thể mà mình thuộc về trong kết cấu xã hội thấp kém hoặc do tư cách thành viên quần thể (như phụ nữ, luyến ái cùng giới, người tàn tật) mà phải chịu kỳ thị, sự đồng nhất với quần thể yếu thế kết cấu là đồng nhất mà lịch sử hoặc kết cấu xã hội đã định trước. Các nhà nghiên cứu còn cho rằng, sự không công bằng liên quan đến thế yếu tình huống dễ dẫn đến hành động tập thể hơn so với không công bằng liên quan đến thế yếu kết cấu. Người tham gia hành động tập thể mạng là dân mạng thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau, hoàn toàn không có quan hệ lợi ích trực tiếp với quần thể tương đối yếu thế trong một số sự kiện mạng. Chúng tôi cho rằng, trong số những dân mạng này, có một số người có đặc điểm tâm lý là hình thành tính đồng nhất xã hội tình huống tạm thời với quần thể yếu thế tình huống, những người này có thể là đương sự trực tiếp trong sự kiện, có thể là có kinh nghiệm sống tương tự, hay có thể là cho rằng sự kiện tương tự rất có thể sẽ phát sinh ở chính mình, nẩy sinh cảm giác tương quan cùng số phận, do vậy hình thành nên tính đồng nhất tình huống. Động cơ đằng sau tính đồng nhất này rất có thể là để thỏa mãn cảm giác quy thuộc, nhằm đạt được sự ủng hộ bảo vệ các quyền và thay đổi hiện trạng. Nghiên cứu cũng phát hiện, khi cho rằng minh không thể thay đổi chế độ xã hội thì cá nhân cần cảm giác quy thuộc tương đối mạnh. Điều đó có thể giải thích tại sao khi không tồn tại quần thể yếu thế rõ rệt về kết cấu mà hành động tập thể mạng vẫn phát sinh, nó đã trỏa lời vấn đề thứ nhất trong đoạn trên đây.

Ngoài ra, trong đời sống hiện thực, còn có một bộ phận dân mạng, họ tích cực tham gia hành động tập thể mạng, phát ngôn hoặc ý kiến của họ có thể là phân tích sâu vào vấn đề, có thể trực tiếp đánh vào người chịu trách nhiệm về sự kiện, hay có thể là từ giác độ quan niệm giá trị đánh giá cao sự kiện, bộ phận người này có thể được hiểu là bộ phận hình thành nên tính đồng nhất xã hội thông thường, còn đối tượng đồng nhất của họ thì là những nhân vật đại loại như vệ sỹ đạo đức, lãnh tụ ý kiến, tiên phong cải cách, cho rằng mình thuộc về một quần thể bảo vệ quan niệm giá trị đạo đức, duy trì công bằng xã hội, chống lại các thế lực mạnh, một quần thể có lực lượng xã hội. Có lực lượng xã hội ở đây tức là có tiếng nói lay động trong công luận xã hội, mà muốn có tiếng nói lay động thì phải nắm được các môi giới truyền bá liên kết, phương tiện truyền thông mới qua mạng chính có thể làm một thứ môi giới biểu đạt chủ trương chính trị của dân chúng bình thường, bảo vệ các quan niệm đạo đức và các giá trị bị đe dọa như vậy. Tuy khái niệm đồng nhất xã hội thông thường mà bài này đề xuất còn chưa được thảo luận một cách minh xác trong các nghiên cứu hiện có về hành động tập thể mạng nhưng đã có một số nghiên cứu và quan điểm lý luận có thể gián tiếp ủng hộ cho quan điểm này. Thí dụ, điều tra phát hiện, những dân mạng mà cảm giác hiệu năng chính trị yếu thì càng có thể tham gia hành động tập thể trên mạng, vì vậy các nhà nghiên cứu cho rằng, dân mạng Trung Quốc coi hành động tập thể trên mạng là một thứ công cụ mạnh mẽ để biểu đạt quan điểm chính trị của mình. Ngoài ra, mô hình bảo vệ quan niệm giá trị thần thánh (scared value protection model) đề xuất, khi những hành vi nào đó đi ngược lại quan niệm giá trị quan trọng của người ta thì sẽ khơi dậy phản ứng phẫn nộ đạo đức hoặc làm trong sạch đạo đức, như lăng mạ những người đi ngược lại quan niệm đạo đức hoặc thông qua các hành động khác để tái xác nhận giá trị của quan niệm giá trị bị đe dọa. Nghiên cứu phát hiện, sau sự kiện “11/9”, sự phẫn nộ đạo đức đã làm giảm mức độ khoan dung chính trị của người ta. Những nghiên cứu này đã chỉ ra, kiên trì niềm tin đạo đức và quan niệm giá trị có thể là một động cơ quần thể quan trọng thúc đẩy người ta tham gia hành động tập thể. Nhưng đối với đại đa số người, rất khó dựa vào lực lượng cá nhân để thực hiện lý tưởng chính trị hay lý tưởng xã hội của mình hay là duy trì đạo đức xã hội, do vậy, dựa vào lực lượng mạng để biểu hiện lực lượng xã hội của bản thân trở thành một thứ lựa chọn. Dựa trên phân tích trên đây, bài viết này cho rằng động cơ đằng sau đồng nhất xã hội thông thường có thể là để nâng cao tự tôn: lãnh tụ ý kiến đồng nhất, quần thể tiên phong thời đại thông qua mạng để thực hiện lý tưởng mà trong hiện thực mình khó thực hiện, đạt được cảm giác thỏa mãn và thành công. Điều cần chỉ ra là, đồng nhất xã hội tình huống và đồng nhất xã hội thông thường nói trên tuyệt nhiên không mâu thuẫn nhau, người ta có thể đồng thời có hai loại đồng nhất xã hội.

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2015 – 38, 39 & 40

Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng – Phần III


III/ Cơ sở lý luận của việc phân tích xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể qua mạng

Để giải quyết sự hạn chế của lý luận hành động tập thể kinh điển trong việc giải thích hành động tập thể mạng, bài viết này đề ra ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất để phân tích cơ chế tâm lý làm phát sinh hành động tập thể mạng.

1/ Những mệnh đề cơ bản của lý luận đồng nhất xã hội

a/ Khái niệm và cơ chế tâm lý của đồng nhất xã hội

Đồng nhất xã hội là chỉ việc cá nhân mượn tư cách thành viên của mình (hoặc người khác) trong cộng đồng nào đó để phân biệt mình (hoặc người khác) với những người khác, và khoác đặc trưng của thành viên điển hình trong cộng đồng này lên cho mình (hoặc người khác), làm cho đặc tính của mình (hoặc người khác) tương đồng với đặc tính của thành viên điển hình trong cộng đồng. Trong đời sống hiện thực, người ta đều có tư cách thành viên của nhiều quần thể nhưng thường chỉ dùng một trong số đó để tạo thành sự đồng nhất tư cách xã hội của mình, sự lựa chọn của cá thể về tư cách xã hội có thể bắt nguồn từ 4 động cơ tâm lý sau: Trước hết, thông qua quần thể xã hội mà mình đồng nhất để nâng cao tự tôn, cố gắng quy trình về quần thể ưu thế, mượn đó để đề cao tư cách của mình. Thứ hai, thông qua đồng nhất xã hội để hạ thấp cảm giác vô thường và tính không xác định trong đời sống, thỏa mãn nhu cầu khép kín nhận thức (epistemic closure). Thứ ba, thông qua việc lựa chọn đồng nhất với quần thể nhỏ bài ngoại hoặc quần thể lớn có tính bao dung để cân bằng mâu thuẫn giữa nhu cầu cá tính và cảm giác quy thuộc quần thể. Cuối cùng, đồng nhất xã hội còn có thể giảm hoãn về sự lo âu tồn tại hoặc sự sợ hãi tử vong của người ta, trong thực nghiệm, đối tượng thực nghiệm được khơi dậy nỗi sợ hãi về tử vong thì cảm giác đồng nhất với quần thể mà mình thuộc về cũng càng mạnh.

b/ Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình cơ bản của đồng nhất xã hội

Sự hình thành đồng nhất xã hội bao gồm 3 quá trình: loại hóa, đồng nhất và so sánh. Trước hết, người ta thông qua loại hóa để xếp mình vào một quần thể xã hội nào đó, rồi hình thành đồng nhất, sau đó thông qua so sánh để đánh giá sự tốt xấu, địa vị và danh dự của quần thể mà mình đồng nhất so với quần thể khác. Trong đó, đồng nhất và so sánh chủ yếu ảnh hưởng đến hành vi xã hội của người ta và quan hệ giữa các quần thể, còn loại hóa là tiền đề của sự hình thành đồng nhất xã hội, đồng thời, loại hóa lại là một quá trình biến đổi theo sự biến đổi của môi trường. Đồng nhất xã hội của cá thể tuyệt nhiên không phải là một đặc chất cá nhân cố định, nó chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố dưới đây: 1) Tính dễ lấy/tính có thể tiếp cận (accessibility), chỉ một loại hình xã hội nào đó trong một tình huống nào đó có dễ được lấy từ trong ký ức ra để sử dụng hay không. Loại hình xã hội có tính dễ lấy tương đối cao thường là loại hình người ta quen dùng, cũng là loại hình có quan hệ với mục tiêu, lợi ích, sơ đồ tư duy và kinh nghiệm sống của người ta. 2) Độ thích hợp tương đối (comparative fit), chỉ một loại hình xã hội nào đó để miêu tả thích đáng sự so sánh liên quần thể khách quan của nhân vật xuất hiện vào lúc đó, tại nơi đó hay không. 3) Độ thích hợp quy phạm (normative fit), chỉ một loại hình xã hội nào đó có thể miêu tả thích đáng sự khác nhau về hành vi mong đợi của người tham gia tương tác hay không. Độ thích hợp quy phạm cao có nghĩa là loại hình xã hội được dùng có thể miêu tả tương đối rõ nét các hành vi khác nhau khi tương tác giữa hai loại người trong tình huống phù hợp với mong đợi chung của xã hội.

2/ Lý luận xúc cảm liên quần thể

Một cơ sở lý luận quan trọng khác của mô hình cảm xúc đồng nhất mà nghiên cứu này nêu ra là lý luận cảm xúc liên quần thể (Intergroup emotion). Lý luận này phân tích từ giác độ cảm xúc mối quan hệ giữa các quần thể, mở rộng lý luận đánh giá cảm xúc ở cấp độ cá thể sang lĩnh vực quan hệ quần thể, nêu ra rằng sự khác nhau trong phản ứng của một quần thể nào đó đối với hành vi của các quần thể khác là dựa trên phản ứng xúc cảm khác nhau của nó đối với các quần thể ấy, còn những xúc cảm này thì được quyết định bởi chỗ nó đánh giá thế nào ý nghĩa của sự kiện hoặc tình huống đối với quần thể mình.

a/ Khái niệm cơ bản trong đánh giá xúc cảm

Theo lý luận đánh giá cảm xúc (appraisal theory), xúc cảm bắt nguồn từ đánh giá của chúng ta đối với các sự kiện hoặc tình huống, nội dung đánh giá chủ yếu là quan hệ giữa tình huống và mục tiêu tự thân. Hiện nay, nhận thức chung mà các nhà nghiên cứu đạt được là, đánh giá của người ta về tình huống là được tiến hành ở các cấp độ khác nhau, một trong những khu biệt chủ yếu giữa các lý luận đánh giá xúc cảm là sự khác nhau giữa các chiều cạnh đánh giá. Trong đó, Scherer trong lý luận đánh giá của mình đã nêu ra các chiều cạnh đánh giá tương đối toàn diện, có ảnh hưởng tương đối lớn với các nghiên cứu về sau. Các chiều cạnh đánh giá này chủ yếu bao gồm 4 mặt: 1) Tính tương quan: mức độ tương quan giữa sự kiện và tôi, tức là sự kiện có ảnh hưởng đến tôi hoặc quần thể tham chiếu xã hội của tôi hay không, đánh giá tính tương quan được tiến hành từ mấy chiều cạnh là tính tân kỳ, tính vui mừng cố hữu và tính tương quan mục tiêu. 2) Ý nghĩa: ý nghĩa và hậu quả của sự kiện là gì, những thứ này sẽ ảnh hưởng như thế nào tới hạnh phúc và mục tiêu tức thời và lâu dài của tôi. Việc đánh giá ý nghĩa có thể triển khai theo mấy chiều cạnh là quy kết trách nhiệm, xác suất kết quả, sai khác với mong đợi, có ích cho mục tiêu cá nhân và tính bức thiết. 3) Năng lực ứng phó: tôi có thể ứng phó hoặc thích ứng ở mức độ nào với những kết quả này, đánh giá này chủ yếu tiến hành dựa trên mấy chiều cạnh là khống chế, lực lượng và thích ứng. 4) Tầm quan trọng quy phạm: sự kiện này có ý nghĩa như thế nào đối với tự khái niệm của tôi, đối với quy phạm xã hội và quan niệm giá trị, bao gồm hai tiêu chuẩn bên trong và bên ngoài. Đồng thời lý luận đánh giá xúc cảm còn nêu ra rằng xúc cảm khác nhau được sản sinh thông qua tổ hợp đánh giá nhận thức khác nhau. Thí dụ, khi người ta đánh giá sự kiện nào đó là khiến người ta vui mừng, xác suất sản sinh kết quả tốt đẹp tương đối cao, có ích cho mình thực hiện mục tiêu, mình có thể thích ứng đầy đủ thì có thể tạo ra xúc cảm vui vẻ và phấn khởi; còn khi sự kiện được cho là xẩy ra đột ngột, xác suất nảy sinh hậu quả không tốt rất lớn, bất lợi cho mục tiêu tự thân, không thể kiểm soát mà bản thân lại không có khả năng ứng phó và thích ứng, thì người ta thường nẩy sinh xúc cảm tuyệt vọng; khi người ta cho rằng sự phát sinh của sự kiện không hề bất ngờ, có khả năng sản sinh hậu quả xấu, có một số trở ngại cho mình thực hiện mục tiêu, bản thân không có khả năng ứng phó nhưng có thể thích ứng ở mức độ nhất định, thì có thể nẩy sinh cảm xúc lo lắng bồn chồn.

b/ Từ xúc cảm cá thể đến xúc cảm liên quần thể

Lý luận đánh giá xúc cảm chú trọng phân tích quá trình đánh giá xúc cảm cá thể, quan tâm đến ảnh hưởng của sự kiện hoặc tình huống đối với mục tiêu cá nhân. Để lý giải xúc cảm nảy sinh trong quá trình tương tác quần thể, lý luận xúc cảm liên quần thể lấy tính đồng nhất xã hội làm nhịp cầu, tiến hành mở rộng lý luận đánh giá xúc cảm. Tuy nguyên lý mà lý luận đánh giá xúc cảm trình bày là phân tích quan hệ giữa cái tôi và xúc cảm cá thê, nhưng ý nghĩa đối với cái tôi được đề cập trong đánh giá liên quan đến xúc cảm tuyệt nhiên không giới hạn ở cái tôi cá nhân. Theo lý luận đồng nhất xã hội, sau khi hình thành tính đồng nhất với quần thể nào đó, cá thể sẽ phú đặc trưng điển hình của thành viên quần thể này cho mình, tư cách thành viên quần thể do vậy trở thành một bộ phận của cái tôi của nó, sự tồn tại của cái tôi xã hội này khiến người ta sẽ tiến hành đánh giá từ ý nghĩa của sự kiện hoặc tình huống đối với quần thể chứ không phải là đối với cá nhân của người đó, từ đó hình thành xúc cảm đối với các quần thể khác trong sự kiện hoặc tình huống, và thứ xúc cảm liên quần thể này sẽ tiến thêm một bước hướng dẫn hành vi liên quần thể của người ta, nhưng công kích, né tránh…

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2015 – 38, 39 & 40

Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng – Phần II


2/ Lý luận đồng nhất xã hội

Lý luận đồng nhất xã hội (Social Identity Theory) thoạt tiên do Tajfel đưa ra. Trong lĩnh vực nghiên cứu hành động tập thể, nhà nghiên cứu nêu ra rằng đồng nhất xã hội là một nguyên nhân trực tiếp của hành động tập thể, tri giác của người ta về đặc trưng kết cấu xã hội đã quyết định tính đồng nhất của họ với quần thể, thứ đồng nhất này lại có thể dự báo khuynh hướng của người ta khi tham gia hành động tập thể. Theo lý luận đồng nhất xã hội, người ta thường nỗ lực xây dựng sự đồng nhất xã hội tích cực, nói chung không hình thành sự đồng nhất với quần thể kém thế, yếu thế. Nhưng khi 3 loại kết cấu xã hội dưới đây thỏa mãn những điều kiện nhất định thì cá thể sẽ hình thành sự đồng nhất với quần thể yếu thế mà mình thuộc về và tham gia vào hành động tập thể nhằm giành lợi ích cho quần thể: 1) tính bất khả xâm thấu của biên giới quần thể, 2) tính hợp lý của khác biệt giữa các quần thể và 3) tính ổn định của khác biệt giữa các quần thể. Trước hết, biên giới quần thể không thể xâm thấu có nghĩa là cá thể không có “lối ra” để thoát ly quần thể yếu thế, đi vào quần thể ưu thế, lúc này người ta cần lợi dụng ở mức độ lớn nhất môi trường xã hội, mà một phương pháp trong đó là thông qua hành động tập thể để tham gia vào cạnh tranh xã hội. Thứ hai, khi thành viên của quần thể ở vào địa vị yếu thế nhận thức được địa vị xã hội giữa các quần thể không có tính hợp lý hoặc không công bằng, họ càng có thể đồng nhất với quần thể của mình, ý nguyện tham gia hành động tập thể để làm thay đổi sự khác biệt về địa vị càng mạnh. Cuối cùng, nếu khi địa vị bất bình đẳng giữa các quần thể được cho là không ổn định, người ta sẽ có được cảm giác về sức mạnh thay đổi kết cấu xã hội, thúc đẩy họ tham gia hành động tập thể. Về tổng thể, khi cá thể đồng nhất tương đối cao với quần thể yếu thế cho rằng sự khác biệt về địa vị giữa các quần thể là không hợp lý và có thể thay đổi thì khả năng tham gia hành động tập thể càng cao. Trên cơ sở lý luận đồng nhất xã hội, có nhà nghiên cứu nêu ra thêm khái niệm đồng nhất tập thể chính trị hóa (politicized collective identity) và chỉ ra đây là biến số đẹp nhất để dự báo hành động tập thể. Thứ đồng nhất này chuyển đổi sự đồng nhất của cá thể với môi trường xã hội hoặc quần thể yếu thế thành đồng nhất với hành động hoặc người hành động cụ thể hơn, như đồng nhất với phong trào tổ chức xã hội nào đó, từ đó hình thành một thứ trách nhiệm và nghĩa vụ nội tại để tham gia phong trào xã hội. Các nhà nghiên cứu cho rằng việc chính trị hóa thứ đồng nhất này khiến cho những người tương đối không có quyền lực hình thành một thứ sức ảnh hưởng tập thể.

3/ Lý luận động viên nguồn lực

Lý luận động viên nguồn lực (Resource Mobilization Theory) đã từ giác độ lý tính công cụ tiến hành bổ sung vào ảnh hưởng của các nhân tố như cảm nhận về bất công, xúc cảm và đồng nhất… đối với hành động tập thể, cho rằng hành động tập thể là kế hoạch có tính sách lược chứ không phải là phản ứng có tính xúc cảm đối với cảm nhận về bất công. Nói cụ thể, lý luận này chủ trương, có tham gia hành động tập thể hay không là lựa chọn có tính công cụ nhằm tối thiểu hóa tổn thất và tối đa hóa lợi ích cá nhân mà người ta đưa ra sau khi tiến hành đánh giá duy lý về chi phí và lợi ích thu được khi tham gia hành động. Thông thường, nguyên nhân khiến người ta lựa chọn cách không tham gia hành động tập thể có thể là vì họ dự đoán rằng cố gắng của mình sẽ không đạt được sự đền bù vật chất hay xã hội; hoặc xét từ giác độ hiệu năng quần thể, cảm thấy quần thể của mình quá nhỏ yếu, không thể thực hiện cải biến xã hội; còn có thể vì không có cơ hội hoặc mạng quan hệ đầy đủ để tham gia hành động tập thể, hoặc do chướng ngại hiện thực nên không thể tham gia. Vì vậy, chỉ khi nào người ta tin mình có nguồn lực để đưa ra thách thức với bất công hoặc bất bình đẳng thì cảm giác về tước đoạt tương đối mới có thể gây ra hành động tập thể. Klandermans nêu ra 3 loại động cơ khiến người ta tham gia hành động tập thể: 1) động cơ tập thể (collective motive), nhằm thực hiện các mục tiêu tập thể có giá trị; 2) động cơ quy phạm (normative motive), để phù hợp với kỳ vong của người quan trọng khác; 3) động cơ khen thưởng (reward motive), lợi ích mà cá nhân thu được lớn hơn chi phí, thí dụ tham gia hành động tập thể cần tiêu phí thời gian, sức lực, tiền bạc…, nhưng có thể đạt được sự ủng hộ của những người cùng chí hướng. Có thể coi nhận thức của lý luận động viên nguồn lực về lý tính công cụ là sự bổ sung cho lý luận đồng nhất xã hội. Theo lý luận đồng nhất xã hội, khi sự khác biệt về địa vị giữa các quần thể không hợp lý, không ổn định, hơn nữa biên giới giữa các quần thể là không thể xâm thấu, thì sự đồng nhất về tâm lý của người ta đối với quần thể yếu sẽ càng mạnh, từ đó động cơ tham gia hành động tập thể nhằm cải biến địa vị của quần thể sẽ càng mạnh. Còn đối với người mà tính đồng nhất với quần thể yếu thế tương đối thấp thì có tham gia hành động tâp thể hay không, điều đó có thể sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào tính toán của người đó đối với lợi ích của hành động và cái giá phải trả cho hành động đó.

4/ Hạn chế của lý luận kinh điển trong việc giải thích hành động tập thể mạng

Lý luận tâm lý học xã hội hiện có về hành động tập thể đã từ các chiều cạnh khác nhau tiến hành giải thích động cơ tâm lý của hành động tập thể, nhưng phần nhiều tập trung vào phân tích đơn nhất một mặt nào đó, mô hình liên kết tương đối mỏng; hơn nữa, lý luận hiện có phần nhiều phân tích hành động tập thể ngoại tuyến của quần thể yếu thế, như kháng nghị, diễu hành thị uy… ít có mô hình lý luận tiến hành phân tích thẳng vào đặc điểm hành động tập thể mạng. Các nghiên cứu đã có xác nhận, khi giải thích hành động tập thể mạng, lý luận hiện có tồn tại những bất cập nhất định. Thí dụ, một nghiên cứu nhằm vào hành động tập thể trên mạng ở Trung Quốc phát hiện, biến số kinh điển về hành động tập thể được dự báo trong lý luận truyền thống và nghiên cứu thực chứng, như quy phạm chủ quan (tức quan điểm của người quan trọng khác), cảm nhận về tước đoạt tương đối… đều không có ảnh hưởng rõ rệt tới hành động tập thể mạng. Bài viết này cho rằng, kết hợp với các nghiên cứu hiện có về hành động tập thể, khi kiến tạo mô hình lý luận để giải thích hành động tập thể mạng, ít nhất vẫn còn 3 vấn đề cần làm rõ và giải quyết: Thứ nhất, thành phần người tham gia hành động tập thể mạng phức tạp, rất khó xác định thành một quần thể đơn nhất, dân mạng tham gia trong đó đến từ các tầng lớp xã hội khác nhau, có bối cảnh thân phận và địa vị xã hội khác nhau, thường không có liên quan rõ rệt với quần thể người bị hại trong sự kiện tương quan. Còn lý luận trước đây chủ yếu quan tâm đến hành động tập thể của quần thể có địa vị xã hội tương đối thấp, có thích hợp với quần thể dân mạng vốn không thể xác định bằng địa vị xã hội hay không thì còn cần phải bàn. Thí dụ, sao phỏng giản đơn khái niệm đồng nhất quần thể yếu thế thì rõ ràng không thể giải thích thật tốt hành vi của dân mạng đến từ các tầng lớp khác nhau. Vậy có thể dùng đồng nhất xã hội kinh điển hay phân tích xúc cảm, hiệu năng để giải thích hành động tập thể mạng hay không, và giải thích như thế nào trở thành một vấn đề cần giải quyết.

Thứ hai, một trong những đặc điểm của hành động tập thể mạng là phát sinh nhanh chóng, không thể dự đoán, tương đối vô tổ chức, thường là “một hòn đá gây nên muôn trùng sóng”, một sự cố, một tai nạn, một bài blog đều có thể nhanh chóng trở thành những sự kiện nóng trên mạng, khiến mấy triệu thậm chí mấy chục triệu dân mạng cùng thảo luận, thường không cần một tổ chức nào đó đứng ra động viên hoặc tổ chức trước, đây là một trong những khác biệt quan trọng giữa hành động tập thể mạng và rất nhiều hành động tập thể ngoài mạng. Vì vậy loại cơ chế động viên kiểu như sự đồng nhất của phát triển đối với việc tổ chức phong trào xã hội mà sự đồng nhất chính trị hóa nói trên đưa ra hoàn toàn không thích hợp với việc giải thích hành động tập thể mạng. Vậy hành động tập thể mạng có tồn tại thứ cơ chế “động viên” đặc biệt khác không, và quá trình bên trong của nó thế nào? Đây là một vấn đề cần giải quyết khác.

Thứ ba, do tính ảo, tính nặc danh của vùng mà hành động tập thể phát sinh, tính tiện lợi của hình thức tham gia, nên đối với hành động tập thể mạng, đòi hỏi về năng lực của người tham gia tương đối thấp, chướng ngại tham gia hành động cũng ít hơn nhiều so với hành động tập thể ngoại tuyến. Nói cụ thể, chỉ cần có thể lên mạng, có điện thoại di động hay máy tính là có thể phát blog thể hiện quan điểm và sự phẫn nộ của mình, phần lớn dân mạng đều có năng lực và nguồn lực để tham gia vào trong đó, cảm giác về hiệu năng tương đối cao. Đối với số đông dân mạng, các thao tác như gửi, trả lời, chuyển phát thông điệp… hoàn toàn không cần tốn nhiều thời gian và tinh lực, chi phí mà hành động tham gia phải bỏ ra tương đối thấp, khả năng phát sinh tổn thất cũng rất nhỏ. Nói tóm lại, nỗ lực cần thiết để tham gia hành độngg tập thể mạng rất ít, giá phải bỏ ra cũng rất nhỏ. Nhưng, có năng lực tham gia và giá phải trả nhỏ không có nghĩa là người ta nhất định sẽ quyết định tham gia. Theo lý luận động viên nguồn lực, hành động tập thể là kết quả của sự lựa chọn lý tính công cụ, đồng thời với việc cân nhắc giá phải trả, người ta còn tính toán lợi ích thu được, chỉ khi lợi ích thu được lớn hơn cái giá phải trả người ta mới càng có khả năng tham gia hành động. Nhưng thành phần người tham gia hành động tập thể mạng phức tạp, rất khó xác định rành rẽ quần thể lợi ích, hơn nữa nhìn bề ngoài, yêu cầu lợi ích của hành động thường không cụ thể, rõ ràng. Vậy người ta chịu sự thúc đẩy của lợi ích nào mà tham gia vào trong đó? Nếu áp dụng lý tính công cụ trong lý luận động viên nguồn lực để phân tích hành động tập thể mạng thì cần giải thích lại vấn đề lợi ích mà người tham gia thu được.

(còn tiếp)

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2015 – 38, 39 & 40

Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng – Phần I


Gao Wenjun, Chen Hao

Tóm tắt

Cùng với sự lưu hành các phương tiện truyền thông mạng mới như blog, hành động tập thể mạng khiến giới học thuật quan tâm. Lý luận về tước đoạt tương đối, đồng nhất xã hội và động viên nguồn lực trong nghiên cứu hành động tập thể truyền thống khó nắm bắt các đặc trưng như tính liên quan phi lợi ích, xúc cảm hóa cách biểu đạt… trong hành động tập thể mạng. Nghiên cứu này tham khảo những nguyên lý cơ bản của lý luận đồng nhất xã hội và xúc cảm liên quần thể, kết hợp với sự phân tích hành động tập thể mạng và các nghiên cứu thực chứng liên quan, đề ra ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng, phân biệt giữa đồng nhất tình huống và đồng nhất thông thường, phân tích tổ hợp đánh giá xúc cảm và chỉ tiêu đánh giá hiệu năng, chỉ rõ, con đường đồng nhất – đánh giá – xúc cảm – hành động là quá trình tâm lý cơ bản của sự phát sinh hành động tập thể mạng. Mô hình này có ý nghĩa quan trọng đối với nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực chứng về hành động tập thể cũng như đối với việc ứng phó và quản lý hành động tập thể mạng.

I/ Hành động tập thể mạng

Lâu nay hành động tập thể vẫn là vấn đề nóng trong nghiên cứu các lĩnh vực xã hội học, tâm lý học, chính trị học, sử học và kinh tế học, cùng với sự xuất hiện của thứ phương tiện truyền thông mới là Internet, lĩnh vực mà hành động tập thể phát sinh đã dần mở rộng từ ngoại tuyến (offline) tới trực tuyến (online), đặc biệt là cùng với sự phát triển nhanh chóng của blog, số lượng và quy mô hành động tập thể trong tuyến bắt đầu không ngừng mở rộng. Năm 2010 khi đường Giao Châu – Thượng Hải xảy ra hỏa hoạn đặc biệt lớn, mấy vạn người dùng mạng đã tham gia thảo luận blog, cầu phúc ai điếu, đánh giá phản ứng của chính quyền và truy vấn trách nhiệm, còn đến năm 2011 khi xảy ra sự cố giao thông đường sắt đặc biệt nghiêm trọng trên tuyến Dũng Đài Ôn thì đã có hơn 29 triệu blog tương quan quan tâm đến sự phát sinh và phát triển của sự kiện. Đồng thời những sự kiện gây bàn luận blog trên quy mô lớn cũng không chỉ bó hẹp ở các sự cố tai nạn, mà các sự kiện đời sống xã hội cũng gây ra nhiều trận bão mạng. Những sự truyền bá thông tin và thảo luận mạng quy mô lớn phát sinh trong một thời gian nhất định này có thể được hiểu là một thứ hành động tập thể mạng (online collective action). Hành động tập thể mạng là “nỗ lực có tính quần thể của dân mạng trong môi trường mạng hoặc chịu ảnh hưởng của truyền bá mạng, với số lượng nhất định và tương đối vô tổ chức, trước những ảnh hưởng hoặc kích thích chung nào đó”. Hành động tập thể theo ý nghĩa truyền thống được định nghĩa là bất kỳ hành động nào lấy việc cải thiện địa vị, quyền lực hoặc ảnh hưởng của cả quần thể (chứ không phải là cá nhân hay một số ít người) làm mục tiêu. Rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều đã từng từ giác độ của nhiều bộ môn như xã hội học, tâm lý học, chính trị học và sử học tiến hành giải thích về mặt lý luận cơ chế phát sinh hành động tập thể. Những giải thích lý luận này về đại thể bao gồm 3 cấp độ phân tích: 1) Cấp độ vĩ mô, quan tâm đến sách lược và lực lượng chính trị xúc tiến hoặc kiềm chế hành động tập thể; 2) Cấp độ trung mô, quan tâm đến các nhân tố tình huống phổ biến ảnh hưởng đến quần thể hoặc thành viên của quần thể; 3) Cấp độ vi mô, quan tâm đến phản ứng tâm lý cá thể trong quá trình hành động tập thể. Đặc biệt là ở cấp độ vi mô, một số lý luận kinh điển từng đi sâu tìm hiểu cơ chế tâm lý làm phát sinh hành động tập thể, nhưng khi giải thích hành động tập thể mạng, những lý luận này lại bộc lộ tính hạn chế. So với hành động tập thể ngoại tuyến truyền thống thì hành động tập thể mạng phát sinh trong không gian xã hội độc đáo là Internet này có sự khác biệt rất lớn. Thứ nhất, mức độ khó dễ của việc tổ chức và tham gia hai loại hành động tập thể không giống nhau. Sự phát sinh hành động tập thể truyền thống thường phải trải qua các khâu động viên, chiêu mộ, kích thích động cơ tham gia và loại trừ chướng ngại tham gia. Về phương thức động viên và chiêu mộ, sự phổ cập cao độ và lực lượng truyền bá đại chúng lớn mạnh của Internet khiến việc chiêu mộ người tham gia tương đối dễ, thông báo lên các website nổi tiếng là trong nháy mắt có hàng nghìn người đọc được và có thể rất nhanh thông qua mạng xã giao trực tuyến truyền bá tới hàng vạn, hàng triệu người. Về mặt chướng ngại tham gia, việc sử dụng blog, diễn đàn… giảm thiểu tối đa sự cản trở hành động tham gia, dân mạng có thể tham gia hành động tập thể bất cứ đâu, lúc nào, giá phải trả chỉ là mấy lần nhấn chuột, mấy lần gõ bàn phím. Vì vậy, so với hành động tập thể truyền thống, tổ chức và tham gia hành động tập thể mạng dễ hơn nhiều. Thứ hai, thành phần người tham gia hai loại hành động khác nhau. Sự dễ dàng trong việc tham gia hành động tập thể mạng khiến số người tham gia đông, thành phần phức tạp, không giới hạn ở một quần thể cụ thể nào đó giống như người tham gia hành động tập thể ngoại tuyến truyền thống. Cuối cùng, mục đích tham gia hành động tập thể không giống nhau. Mục đích của hành động tập thể ngoại tuyến phần lớn là để cải thiện tình trạng của quần thể yếu thế nào đó hoặc đề xướng tư tưởng nào đó, còn mục đích của hành động tập thể mạng thì nhiều hình nhiều vẻ, từ giúp đỡ quần thể yếu thế, quyên góp những người hảo tâm, đến truy cứu trách nhiệm, tìm sơ hở trong các chế độ để suy xét vấn đề đạo đức xã hội, đả kích tệ nạn xã hội. Sự tồn tại của những khác biệt này khiến cho việc đơn thuần ứng dụng một số lý luận kinh điển rất khó giải thích xác đáng cơ chế tâm lý của hành động tập thể mạng. Vì vậy bài viết này muốn phá vỡ sự hạn chế của mô hình lý luận trước kia, kết hợp với phân tích các sự kiện hiện thực và các nghiên cứu thực chứng đã có, điều chỉnh, mở rộng những nguyên lý cơ bản của lý luận về đồng nhất xã hội và xúc cảm liên quần thể, tiến hành tìm hiểu sâu cơ sở xúc cảm đồng nhất mà hành động tập thể mạng làm nảy sinh, mong cung cấp cho nghiên cứu thực chứng trong tương lai ý tưởng nghiên cứu và bộ khung lý luận mới.

II/ Hạn chế của lý luận hành động tập thể kinh điển trong việc giải thích hành động tập thể mạng

1/ Lý luận tước đoạt  tương đối

Lý luận tước đoạt tương đối (Relative Deprivation) cho rằng, chỉ có sau khi nảy sinh tri giác về tước đoạt tương đối, tức là sau khi tiến hành so sánh xã hội với những người cụ thể khác, cảm thấy những quyền lợi chính trị xã hội hoặc những lợi ích kinh tế nào đó mà mình đáng có bị tước đoạt, về chủ quan hình thành sự cảm nhận về bất công thì người ta mới có thể phát sinh hành động tập thể. Trên cơ sở lý luận này, nhà nghiên cứu tiến hành mở rộng và chi tiết hóa, một mặt làm rõ loại hình so sánh xã hội dễ xúc tiến hành động tập thể phát sinh, như kết quả một phân tích ban đầu cho thấy, chỉ khi thế yếu được nhận thức ở cấp độ quần thể chứ không phải ở cấp độ cá thể là bất công thì cảm giác bị tước đoạt nảy sinh mới có thể dự báo hành động tập thể. Mặt khác, làm tăng biến số xúc cảm liên quần thể để phân tích nguyên nhân và quá trình cảm giác bị tước đoạt gây ra hành động tập thể. Người ta thường không đơn thuần cảm nhận thấy sự bất công xã hội ở cấp độ nhận thức, mà thường đi kèm với sự gọi dậy tình cảm ở mức độ nhất định, còn thứ khiến người ta tham gia hành động tập thể thì chính là tình cảm nảy sinh do tự thân quần thể bị đối xử bất công. Thí dụ, có nghiên cứu phát hiện, sự hổ thẹn và phẫn nộ nảy sinh ở công dân Mỹ và Anh do nước mình chiếm đóng Iraq gây ra ở họ ý nguyện kháng nghị. Tương tự, còn có nghiên cứu xác nhận, tình cảm phẫn nộ và oán hận hình thành trên cơ sở thân phận quần thể sẽ thôi thúc họ tham gia hành động tập thể.

Nói chung, lý luận tước đoạt tương đối chủ yếu quan tâm đến vai trò quan trọng của biến số bất công trong hành động tập thể. Nhưng một vấn đề trong đó là, việc giải thích sự cảm nhận về tước đoạt tương đối có phần quá rộng, bất kỳ xã hội nào dường như đều tồn tại hiện tượng bất bình đẳng và kỳ thị xã hội, nhưng tuyệt nhiên không vì vậy mà đều bùng phát hành động tập thể, chỉ dựa vào cảm nhận về bất công rõ ràng không thể nào dự báo chuẩn xác về hành động tập thể. Lý luận đồng nhất xã hội ở mức độ nhất định đã giải quyết được vấn đề này.

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2015 – 38, 39 & 40

Giá trị bản thân – Phần cuối


Tuy đến nay chưa có quan niệm thật tường minh về lương tâm cũng như trong thực tiễn chưa có sự hoàn thiện, hoàn mỹ, nhưng mọi người có thể sống có lương tâm bằng “giá trị bản thân”” theo các mức độ khác nhau. Hành xử theo lương tâm sẽ có một xã hội lành mạnh, an sinh xã hội được bảo đảm, con người mới thực hiện được quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Trong cuộc sống, quan niệm về sống, về tự do, về hành phúc ở mỗi người, mỗi thời, mỗi chính thể một khác với nhiều cấp độ, nhiều dạng thức, nhưng có thể khẳng định, sống tự do, hạnh phúc của từng cá nhân không bao giờ tách khỏi cộng đồng, xã hội. Dưới góc độ của triết lý “giá trị bản thân”, cuốn sách khẳng định: bằng giá trị bản thân, từng người tự làm cho mình hạnh phúc, và làm cho người khác và cộng đồng hạnh phúc dù hạnh phúc đó là nhỏ bé hay lớn lao.

Như vậy, giá trị bản thân tích cực là các giá trị do tự mình tạo ra để tự bảo đảm cho cuộc sống tốt đẹp của bản thân và gia đình, cộng đồng, để có thể làm những việc có ý nghĩa cho mình và cho xã hội, khi đó mới có hạnh phúc thật. Từ đó có thể kết luận: giá trị bản thân chính là bản chất (self-nature) của con người. Cũng có thể nói, giá trị bản thân là bản sắc của từng người (self-identity). Có giá trị bản thân mới có thể thực sự “tự thể hiện mình” (self-identification), “tự khẳng định mình” (self-determination), là một giá trị tâm lý, tinh thần rất đặc trưng của con người. Con người luôn luôn có năng lực và nhu cầu thể hiện bản thân tùy theo những cách thức khác nhau, mức độ khác nhau, tùy lứa tuổi, giới tính, hoàn cảnh. Trong thời đại công nghệ thông tin có thể thể hiện mình bằng nhiều cách, như việc có cá nhân cho rằng cứ nói được trên mạng xã hội, như mạng Faceboo là bản thân đã được thể hiện. Quan điểm đó cũng có ý đúng nếu tiếng nói đó phát huy được giá trị bản thân, để thể hiện đời sống, cách sống của chính mình, và đóng góp, cống hiến cho gia đình, cộng đồng, xã hội. Thang giá trị bản thân cống hiến gọi là giá trị đóng góp đó là các giá trị ở bậc cao. Hai bậc giá trị “sống còn” và giá trị “thể hiện mình” đều có ý nghĩa đáng kể với cuộc sống, cùng với các giá trị ở bậc cao hơn, đó là giá trị “đóng góp”, “cống hiến”… cho gia đình, cộng đồng, dân tộc, nhân loại (xem hình 5). Mức độ cống hiến cccó thể khác nhau, hình thức đa dạng, kết quả, mức độ và thời gian được công nhận cũng không giống nhau, nhưng giá trị “cống hiến” đều đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu cao, sự dấn thân, đam mê, say sưa quên mình của con người. Nhìn nhận con người, đánh giá các thành viên trong tập thể hay cộng đồng thường theo giá trị “đóng góp” và “cống hiến” cho cộng đồng đó. Nhưng mặt khác, sự cống hiến hay đóng góp đó được hay không, nhiều hay ít,… là còn tùy thuộc rất nhiều vào cộng đồng xã hội, các chính sách của quốc gia đó.

Tháp giá trị bản thân được xây dựng từ những điều trình bày ở trên, nói vắn tắt, theo luận điểm hiện thực biện chứng: giá trị bản thân là giá trị sống của từng người, do người đó tự tạo dựng, tự phát huy trong những điều kiện thực tế, nói lên sự gắn quyện, gồm: (1) Giá trị sinh thể và giá trị tâm thể, (2) Giá trị vật chất và giá trị tinh thần, (3) Giá trị cá thể và giá trị cộng đồng, xã hội, (4) Giá trị nhận và giá trị cho, (5) Giá trị tồn tại và giá trị bản chất, (6) Giá trị loài cùng giá trị dân tộc, trong sự vận động giữa bản năng và ý thức, vô thức, tiềm thức và ý thức, tự ý thức, bằng cả con đường nhận thức lý trí và trực giác, qua trải nghiệm, vận động trong cuộc sống thực tiễn. Các bài trước đã đề cập đến các cặp giá trị. Nói chung lại, từ giá trị sinh thể đến các giá trị tâm thể gắn quyện vừa thống nhất nhưng cũng có lúc mâu thuẫn, tạo nên giá trị sống còn mà trong tâm lý học thường nói đây là mối quan hệ giữa cái sinh vật và cái xã hội trong hệ giá trị bản thân. Ở con người bình thường trong điều kiện bình thường, cái sinh vật và cái xã hội không tách biệt nhau, ví dụ, ăn bằng đũa gọi là “”văn hóa đũa”, bản năng dinh dưỡng, và bản năng bảo toàn nòi giống là hai bản năng khởi thủy đều mang tính xã hội, trong triết học gọi là bản năng ý thức hóa, khi vượt qua ngưỡng “xoắn thừng”. Cũng có thể thấy giá trị sinh thể là cơ sở vật chất của các giá trị hoạt động (vui chơi, nhận thức, lao động, nghỉ ngơi…), có hoạt động để bảo đảm giá trị sinh tồn, có hoạt động thể hiện bản thân và các giá trị ở tầm cao, có thể nói, các giá trị ở tầm cao đều có cơ sở là giá trị sống còn, giá trị sống còn vừa mang tính chất của giá trị sinh thể vừa mang tính chất của giá trị tâm thể. Hai sợi thừng xoắn cũng là ranh giới giữa bản năng và ý thức – ranh giới giữa tính tích cực và tính tiêu cực (giá trị và phản giá trị) của các giá trị bản thân với tính xã hội giữ vai trò chủ đạo.

Giá trị: trong tài liệu nước ngoài có hai tác giả người Mỹ trong mục “giá trị học ngày nay”, Clare Graves và Don Beck có một bảng xếp tám giá trị theo màu để dễ khảo sát – không gọi là “Giá trị bản thân” và chưa xếp thành thang giá trị bản thân, tuy các giá trị đều là “Tôi…”. Tám giá trị “Tôi” của hai tác giả như sau: (1) Tôi tồn tại (màu be): các động lực sinh vật và cảm nhận vật lý; (2) Tôi tin (màu tía): niềm tin của tôi; (3) Tôi kiểm soát (màu đỏ): có sức mạnh đủ kiểm soát và hơn người; (4) Tôi thích (màu xanh): phục tùng người trên, tuân theo luật lệ; (5) Tôi đạt thành tựu (màu da cam): dùng các nguồn lực đạt kết quả; (6) Tôi chia sẻ (mày xanh lá cây): quan tâm đến người khác, cuộc sống nhân văn; (7) Tôi học (màu vàng): tự lập, biết mình (self-knowledge), giá trị bản thân (self-worth), thích nghi với cuộc sống; (8) Tôi quan hệ (màu xanh lam): quan hệ nói chung, trong đó có quan hệ với môi trường. Bảng liệt kê này có thể vận dụng vào tìm hiểu hệ giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị và định hướng giá trị. Hai tác giả xếp tám giá trị “Tôi” theo nhứ tự:

8/ Tôi quan hệ,

7/ Tôi học,

6/ Tôi chia sẻ,

5/ Tôi đạt thành tựu,

4/ Tôi thích nghi,

3/ Tôi kiểm soát,

2/ Tôi tin,

1/ Tôi tồn tại.

4/ Tính xã hội trong giá trị bản thân

Nói về yếu tố xã hội trong mục “giá trị bản thân”, có hai phía: Thứ nhất, một phía thuộc về chủ thể, tính xã hội, trách nhiệm xã hội tác động như thế nào đối với hệ giá trị ở từng người…, trong các giá trị bản thân. Nền giáo dục của chúng ta có thể đóng góp vào việc này: nhà trường, gia đình, xã hội phải đoạn tuyệt triết lý giáo dục hư văn, khoa cử, ứng thí và quán triệt triết lý thực học, thực nghiệp, giúp mỗi người học mang lại cho mình các giá trị bản thân, hình thành và phát triển năng lực có ích cho mình và thực sự có tính xác hội thì mới hy vọng đổi mới toàn diện và căn bản nền giáo dục nước nhà, như Đại hội XI của Đảng (năm 2011) vừa quyết định. Hy vọng rằng, quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo chuyển mình theo tinh thần đó, và toàn xã hội, nhất là các vị phụ huynh học sinh, sinh viên, các thế hệ học sinh, sinh viên phấn đấu theo hướng đó, phải thật sự đoạn tuyệt tâm lý khoa cử. Bản thân người học phải phấn đấu theo hướng hình thành, phát huy giá trị bản thân. Đồng thời, xã hội, cộng đồng có tôn trọng giá trị của con người không, có tạo điều kiện giáo dục – đào tạo thuận lợi cho các thành viên theo hướng vừa nói không, có tạo điều kiện để con người phát triển bền vững không, có chế độ, chính sách phát triển tài năng không, có trọng dụng nhân tài không… là phụ thuộc vào chế độ, chính sách phù hợp để trọng dụng người tài, để sử dụng tốt được nguồn lực trí tuệ của dân tộc, nhất là thế hệ trẻ. Nếu không có câu trả lời thỏa đáng thì ngay việc hình thành giá trị bản thân vẫn còn rất nhiều khó khăn. Vận dụng những bài học quý báu từ xa xưa của cha ông ta về việc trọng dụng hiền tài vào công cuộc đổi mới, nguồn nhân lực nước ta sẽ được chú trọng hơn, đội ngũ trí thức được trọng dụng, giữ vai trò thiết yếu, góp phần cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nước nhà giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chúng ta có ý chí cách mạng, có quyết tâm chính trị, có giá trị truyền thống, nếu phát huy được trí tuệ của dân ta, tài năng của con người Việt Nam, cũng như “giá trị bản thân” của từng người Việt Nam, nhất định thực hiện được “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” – ba giá trị quốc gia, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra cùng với quốc hiệu nước nhà sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngày nay vẫn là những đòi hỏi bức xúc. Như vậy, các giá trị của từng người luôn gắn liền với xã hội, thành “vốn người”, “vốn xã hội”, trong hệ giá trị của cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Giá trị bản thân thông thường bao gồm một số giá trị, như đã trình bày, ta gọi là hệ giá trị của một con người bao gồm giá trị cá thể, giá trị cá nhân và giá trị nhân cách, đều phải mang tính xã hội, và muốn phát huy đạt hiệu quả, nhất thiết cần một môi trường giá trị xã hội thuận lợi. Tính xã hội càng cao, phục vụ xã hội càng nhiều, giá trị bản thân càng có trọng lượng, nhân cách càng cao.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị bản thân – Phần V


Tại Hội thảo do Trung ương Đoàn, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và báo Thanh niên tổ chức ngày 11/6/2013, đã có nhiều ý kiến phong phú, có ý kiến tập trung vào ba giá trị: hiểu biết, thái độ, kỹ năng. Có ý kiến nhấn mạnh giá trị “lý tưởng” hay giá trị “đạo đức” nói chung, hoặc khái quát hơn, nêu hai giá trị: vừa hồng vừa chuyên; hay năm giá trị là mẫu số chung: yêu nước, học tập, rèn luyện, xung kích, tình nguyện. Có ý kiến cho rằng, bất cứ hình mẫu như thế nào thì mỗi thanh niên đều phải tự mình tạo nên. Các cái “tự” đó là: tự giác, tự học, tự lập, tự thân vận động, tự khẳng định…, tức là mỗi người, nhất là ở tuổi thanh niên, phải tự mình tạo lập nên “giá trị bản thân”; nhà trường, gia đình, xã hội, đoàn thể… chỉ giúp hoàn thiện mình hơn mà thôi.

Loài người trong lịch sử tiến hóa đã tạo nên những giá trị đặc thù, thông qua thế hệ trước để lại cho mỗi cá thể người trong các trường hợp bình thường tiềm năng quý giá, mỗi một người trong chúng ta với sự giúp đỡ của thế hệ trước, qua giáo dục và tự giáo dục đã biến các năng lực tiềm ẩn (tiềm năng) trong sinh thể thành những năng lực sống ở mỗi người – nền tảng ban đầu của “giá trị bản thân”. Chẳng hạn như “tính người, tình người”, quan hệ người – người, trong hệ giá trị quốc gia, dân tộc đúc kết thành giá trị “nhân nghĩa”, giá trị tình nghĩa đồng bào, tình quê hương, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng. Như vậy, hệ giá trị bản thân có các giá trị của cá thể và các giá trị cá nhân, có sự tiếp thu “giá trị loài” và “giá trị dân tộc” hay “giá trị quốc gia, dân tộc” thành “tâm lực, trí lực, thế lực” của mỗi người, có tác dụng đích thực bảo đảm cuộc sống của mỗi người và đóng góp cho gia đình, xã hội, đất nước, tạo nên sức mạnh và vị thế nói chung, tạo nên “sức mạnh mềm” nói riêng của quốc gia, dân tộc.

Nói tóm lại, mỗi người phải hình thành cho được “giá trị bản thân”, bao gồm “tâm lực, trí lực, thế lực” – được gọi là “giá trị nhân cách”. Giá trị bản thân là hệ giá trị của mỗi người do chính người đó hình thành, với sự trợ giúp của giáo dục. Con người có “chí”, có “tri” và sức khỏe để hình thành “giá trị sống” – “giá trị cốt lõi” – “giá trị gốc”, gộp chung lại thành giá trị tổng lực, và phải đem các giá trị đó vào giải quyết các vấn đề của cuộc sống, đem lại lợi ích cho chính mình, gia đình và xã hội. Lý tưởng, mục đích là động lực chung của “giá trị bản thân” với các giá trị cơ bản cũng như các giá trị khác, tùy theo từng người, từng hoàn cảnh, từng lứa tuổi, nhắm tới các mục tiêu cụ thể hóa mục đích trong các hành động, hành vi, hoạt động. Dựa trên các điều tra giá trị đã tiến hành, có thể đưa ra các giá trị cơ bản sau đây để các bạn tham khảo khi hình thành giá trị bản thân, như là tham gia gốp vào định hướng giá trị:

Định hướng giá trị với thanh niên ngày nay

+ Kiên trì biến tiềm năng thành năng lực (kế thừa giá trị loài).

+ Nêu cao tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước: độc lập, chủ quyền và hội nhập.

+ Chăm học, chăm làm, nhẫn nại, vượt khó, vươn lên.

+ Tăng cường học vấn (trong đó có cả ngoại ngữ, tin học): tri thức, kỹ năng.

+ Nâng cao tay nghề va đạo đức nghề nghiệp.

+ Nâng cao tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, thích nghi và sáng tạo: hành nghề thành thạo, giỏi, hiệu quả cao.

+ Nâng cao văn hóa ứng xử, quan hệ với mọi người tốt đẹp: lương thiên, trung thực.

+ Có tinh thần trách nhiệm với gia đình, cộng đồng, xã hội.

Theo định hướng giá trị như vậy, tùy lứa tuổi, tùy khả năng điều kiện, và quan trọng hơn cả là tùy mục tiêu của từng thời điểm hay mục đích của từng thời kỳ đến lý tưởng của đời người… mà xác định hệ giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị của mình. Đó là đòi hỏi của xã hội với nền kinh tế thị trường, đáp ứng quy luật giá trị, quy luật lợi ích, quy luật cạnh tranh.

3/ Phát huy giá trị bản thân

Phát huy “giá trị bản thân” tức là đem những giá trị mình hình thành được vào cuộc sống, bằng các công việc cụ thể, lao động nghề nghiệp, vốn liếng kinh nghiệm – trải nghiệm của chính mình để trước hết là bảo đảm sự tồn tại của chính mình rồi tự rút kinh nghiệm và đi đến tự lập… Tùy thuộc vào từng lứa tuổi, khả năng thích nghi và sáng tạo, gái trị bản thân có thể thể hiện rất sớm. Đồng thời, tính tự lập của mỗi người luôn theo sát năng lực thích nghi và tiềm năng sáng tạo. Theo tâm lý học trước thế kỷ XX, các phẩm chất “tự” hay thuộc phạm vi “tự ý thức” nằm trong phạm trù ý thức. Từ năm 1900, tâm lý học mới phát hiện ra vô thức, cơ chế “tự lập” mới mở rộng, không phải chỉ trong vùng ý thức và tự ý thức, từ đó, mới hiểu quá trình “tự lập” – tự phát huy tác dụng “giá trị bản thân” diễn ra rất sớm. Từ đó quan niệm về giáo dục và tự giáo dục đã đặt dấu nhấn cho sự phát triển tự nhiên của con người, bắt đầu từ triết lý giáo dục nhân văn. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi các em học sinh” (tháng 9/1945) cũng chỉ ra: nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập phải làm sao phát triển được các năng lực sẵn có của các em. Trào lưu giáo dục nhân văn cùng với trào lưu giáo dục kỹ thuật tổng hợp (giáo dục công nghệ), giáo dục hành dụng đều nhằm mục tiêu thông qua các phương tiện giáo dục để đưa được các giá trị của loài người, của thế giới, của dân tộc đến với người học, để các em phát huy những giá trị ở chính các em. Đó chính là quá trình lảm người bằng cuộc sống thực của chính mình. Ở đây cần nói thêm một ý rất quan trọng rằng: cuộc sống của con người không thể bỏ qua các quan hệ xã hội – quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ luật pháp, quan hệ cộng đồng, quan hệ người – người… K. Marx trong Luận cương về Feuerbach đã đi đến kết luận: “Trong hoạt động thực tiễn, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”, thực chất nhấn mạnh tính xã hội ở con người. Vấn đề là trong quá trình giáo dục và tự giáo dục, qua quá trình sống, từng người tự làm cho các quan hệ xã hội thấm đượm vào các năng lực của mình, phần nào biểu hiện ở năng lực hoạt động nói chung, cụ thể là năng lực học hỏi, năng lực lao động, năng lực giao tiếp, năng lực làm việc nhóm, năng lực xã hội, năng lực quản lý (hay quản trị)…., vào chính cuộc sống của mình, thành giá trị bản thân theo chuẩn mực của cộng đồng, xã hội. Đó chính là hướng tích cực (giảm và triệt tiêu dần tiêu cực, tránh các “phản giá trị”), phát huy “giá trị bản thân” tiếp thu từ xã hội rồi đem lại cho xã hội. Nói cách khác, mỗi người sống bằng các giá trị do mình tạo lập nên, phát triển chúng và phát huy tác dụng của các giá trị ấy trong một môi trường xã hội nhất định từ giá trị sống còn, đến giá trị hoạt động, rồi giá trị chia sẻ, giá trị cống hiến. Nhưng dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì chỉ có sống bằng các giá trị bản thân thì con người mới sống thật, sống với chính mình được.

Sống bằng giá trị bản thân là sống thanh thản. Sống thật là cách thể hiện bản thân chính đáng, là tự mình quyết định sinh mệnh, “số phận” mình. Đó là hành trình vươn tới các giá trị phổ quát chân, thiện, mỹ, là hướng theo lẽ phải, hướng thiện, chăm chút vẻ đẹp cơ thể và tâm hồn, vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp xã hội…Khi sống thật với mình và với người khác, ta mới có thể tiệm cận với phạm trù lương tâm, một phạm trù rất phức tạp, có thể coi là đỉnh điểm đạo đức trong tâm thức, trong ý thức và tự ý thức, có khi cảm nhận đạt được một cách tự nhiên, có khi có sự soi rọi rất tập trung của ý thức và tự ý thức hướng thiện, từ giá trị bản thân, trong đó lấy tính người, tình người, các giá trị dân tộc, làm thước đó và định hướng suy nghĩ, tình cảm và hành động. Cuộc sống của cá thể người từ lúc mới sinh ra bắt đầu từ giá trị bản năng. Nếu đặt “lương tâm” và “bản năng” vào “quả cầu” – “giá trị bản thân”, thì phạm trù lương tâm đứng ở đỉnh cao và phạm trù bản năng ở dưới đáy (xem hình 6). Nếu sống trái với lương tâm thì tự mình sẽ thấy xấu hổ. Xấu hổ là một trạng thái tâm lý chỉ con người mới có và khá phức tạp, cơ chế nảy sinh và diễn biến rất rắc rối, có thể có nhiều cấp độ biểu hiện, vừa là biểu hiện đặc thù của tự ý thức soi rọi, vừa từ ngoại cảnh, vừa từ sâu thẳm của tâm hồn.(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị bản thân – Phần IV


Ngày nay, mạng xã hội ngày càng phát triển, nên “giá trị bản thân” là bộ lọc của chính mình, không a dua nhẹ dạ, thậm chí là mù quáng, dại dột. Trước đây, giáo dục học thường vận dụng phương pháp tiếp cận “nội dung”, tức là chỉ tập trung vào truyền tải tri thức sách vở một cách thuần túy hay quá thiên về lý thuyết. Điều này phải được thay đổi để tri thức hình thành được năng lực. Hai phương pháp tiếp  cận này không mâu thuẫn nhau, trong phương pháp sau có tiếp cận phương pháp trước, đem những điều học hỏi được thông qua luyện tập dưới nhiều hình thức khác nhau, trong các hoàn cảnh khác nhau, trải nghiệm khác nhau, thành kỹ năng, thái độ, giá trị, tức là thành các nhân cách khác nhau của con người. Khắc phục lối dạy và học lỗi thời, trong thời đại công nghiệp, nhất là từ khi đi vào thời kỳ thế giới mạng và kinh tế tri thức cần đặc biệt chú trọng giúp người học hiểu sức mạnh của nội lực ở con người nói chung, ở chính bản thân mình nói riêng, chú trọng khâu thực hành, vận dụng tri thức vào cuộc sống – đó chính là hình thành “giá trị bản thân”. Triết lý “giá trị bản thân” nảy sinh trong trào lưu tư tưởng đó. Vào thế kỷ XXI, nhiều nước chủ trương dạy các môn như kế hoạch tương lai, địa lý tương lai, xã hội tương lai, điều khiển học, phân tích giá trị, tâm lý học… nhằm giúp người học hiểu mình hơn và hình thành đạo đức và tay nghề là hai bộ phận lớn cực kỳ quan trọng trong “giá trị bản thân”, phát huy tiềm năng vô cùng phong phú của con người.

Hình thành, vận dụng và phát triển “giá trị bản thân” theo lứa tuổi là vấn đề phức tạp. Chẳng hạn, một số công trình tâm lý cho rằng trẻ từ ba đến năm tuổi có thể bắt đầu có khả năng hình thành và phần nào thể hiện giá trị bản thân. Phức tạp hơn, như Freud đã chứng minh: từ tiềm năng thành khả năng, năng lực phải qua cơ chế trải nghiệm từ trong vô thức, rồi sau vào ý thức, lại có lúc xuống “dưới ý thức” hay “vô thức” (ví dụ, lúc ngủ mê), rồi qua “tiềm thức” lại “trườn” lên “ý thức”,…, bắt đầu từ tuổi ấu thơ đến khi trưởng thành. Như vậy, thế giới nội tâm nói chung, quá trình hình thành, phát triển, phát huy “giá trị bản thân” nói riêng, trừ rất ít trường hợp không diễn ra theo đường thẳng, mà quanh co khúc khuỷu, Freud gọi đó là một “chiến trường” với rất nhiều mâu thuẫn đòi hỏi con người phải có nỗ lực, phấn đấu, hay nói dung dị hơn là sự chăm chỉ, chịu khó, nhẫn nại, hình thành cho được giá trị bản thân. Trong cuộc sống, mỗi người mang giá trị bản thân ra giải quyết vấn đề, các mâu thuẫn mình gặp phải, để vượt qua ngưỡng “bấp bênh”, đạt tới thang bậc “sống còn”, bậc “hoạt động” nói chung, và các thang bậc tiếp theo cao hơn trong tháp giá trị bản thân. Quá trình đó gọi là quá trình “vượt qua chính mình”, “vượt qua bản thân”, hay khắc phục “hoàn cảnh”, khắc phục khó khăn để sốg, chia sẻ, đóng góp và cống hiến.

Có khi tiềm năng phát triển thành năng lực rất sớm, có khi nằm mãi trong cơ thể, trong não bộ, đến tuổi trưởng thành hoặc chậm hơn mới được khai mở. Có trường hợp tiềm năng biến thành một khả năng đặc biệt mà ngày nay ta hay nói tới là năng lực ngoại cảm, thấu thị, dự báo… Nói chung, tiềm năng trong sinh thể, trong não bộ dần dần có thể chuyển thành năng lực, thành “giá trị bản thân” mà điều quan trọng để đáh thức tiềm năng đó vẫn là giáo dục và tự giáo dục, trong đó, cơ chế trải nghiệm bộc lộ rõ nhất là thực hành, là sống với chính mình: chỉ có thông qua thực tế mới luyện được “chí”; lý luận học được phải vận dụng vào thực hành, thực tập, giải quyết vấn đề, mới thành “trí”; với sức khỏe là sức bền, sức chịu đựng, tức là thành lực hỗ trợ cho cái “chí” và các hoạt động khác. Nói chung lại, việc cần thiết là phải rèn luyện ý chí, cải thiện sức khỏe, học tập nâng cao tri thức và tất cả phải chuyển thành kỹ năng, đồng thời vận dụng cả ba năng lực vào đời sống, tạo ra hệ giá trị cho bản thân.

Trong phạm vi cuốn sách này, vấn đề muốn nhấn mạnh ở đây là hình thành giá trị bản thân bằng giáo dục và tự giáo dục thông qua giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, kết hợp lý thuyết sách vở và bài học thực tiễn. Không đi sâu vào lứa tuổi, nhưng tính từ phổ thông cơ sở, các nhà trường phải hướng nghiệp, sau cấp học này là tuổi “phân hóa phát triển năng lực” khá rõ nên cần tổ chức “phân luồng” thực hiện hướng học và hướng nghiệp cho phù hợp với từng học sinh, với từng gia đình và theo yêu cầu của thị trường lao động ở địa phương, từng vùng trong nước và ngoài nước. Đến tuổi thành niên, con người đã hoàn thiện dần nhân cách, có tay nghề và lương tâm nghề, có thể tự tạo lập cuộc sống của mình và góp phần vào sự phát triển của đất nước. Quá trình chuyển hóa tiềm năng thành kỹ năng, hành vi, hành động, hoạt động, nhất là hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống xã hội chính là quá trình trải nghiệm, biến các thứ học được thành kinh nghiệm bao gồm kỹ năng, thái độ và giá trị. Mỗi người bằng những bài học kinh nghiệm rút ra trong đời sống hằng ngày, để trở thành con người từng trải, biết mình, biết người, có văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử, có trách nhiệm gia đình, trách nhiệm xã hội sẽ là những nhân tố tốt cho một xã hội phát triển trong tương lai.

Cần phải đặc biệt nhấn mạnh đức tính “cần” – chăm chỉ, nhẫn nại, tự thân vận động, bởi nó hết sức có ý nghĩa với cuộc đời mỗi người. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đặt đức tính “cần” ở vị trí đầu tiên trong tư cách con người. Chăm chỉ lao động là điều kiện quan trọng nhất để thành người chân chính. Tóm lại, mỗi con người phải làm sao hình thành cho mình có được hệ giá trị bản thân, rồi liên tục phát triển, thể hiện được bản lĩnh, tự tin, để tự vươn lên. Ở đây, giá trị “tự tin” có ý nghĩa đặc biệt. Có tự tin con người mới có tự trọng đúng đắn, không bao giờ tự ti. Tự ti khiến cho con người mất hết phấn khích, không vươn lên được. Tự tin và tự trọng gần như là nguồn động lực tinh thần quan trọng nhất, giúp mỗi người hình thành, phát triển, phát huy “giá trị bản thân”, khắc phục tâm trạng chán chường, đánh mất sự cố gắng vươn lên, sự hưng phấn như hiện nay một số nam nữ thanh niên, sinh viên đang mắc phải. Tự tin sẽ tạo cho con người khả năng sáng tạo rất đáng quý trong “giá trị bản thân”. Mặt khác, cần chú ý đến một xu hướng khác cũng rất nguy hiểm ngày nay là không ít bạn trẻ ảo tưởng, tự thổi phồng giá trị bản thân mà không biết điều này sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy. Trong công trình nghiên cứu kiểm tra chỉ số IQ của thanh niên tại Việt Nam, có 3,6% thanh niên đạt 110 điểm (100 điểm là thang bậc trung bình). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thang điểm IQ thấp, trong đó có nguyên nhân về chính sách, điều kiện làm việc, nhưng có nguyên nhân đáng kể là từ chính chúng ta,… Như vậy, vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng, trong nhiều trường hợp, quyết định đối với sự hình thành và phát triển giá trị bản thân là sử dụng, phát huy giá trị bản thân.

Hình thành giá trị bản thân chính là vấn đề hình thành năng lực và phẩm chất của người học. Hiện nay, Nhà nước ta đang tiến tới đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ cụ thể hóa những đổi mới đó tới từng cấp học, trước hết thể hiện ở chuẩn kiến thức, chương trình và sách giáo khoa ở phổ thông và các bậc học khác. Theo đó, nhà trường, gia đình, xã hội, các đoàn thể… phải ra sức chung tay giúp các em hình thành giá trị bản thân. Về phần gia đình, mỗi gia đình có hệ giá trị riêng, có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển giá trị bản thân của thành viên gia đình đó. Về phần nhà trường, nhiều trường có nội quy, có khẩu hiệu; các nội quy hay khẩu hiệu này thường nêu một số giá trị (phẩm chất) để học sinh, sinh viên hướng tới… Nói chung, ở Việt Nam chưa có thông lệ đặt ra hệ giá trị chung cho các thành viên một tổ chức, trừ một vài tổ chức, như thiếu nhi, ngành công an…, để các thành viên tham khảo, vận dụng vào “giá trị bản thân”. Năm 2013, Trung ương Đoàn và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam có đặt vấn đề “tìm mẫu hình thanh niên thời đại mới”; nhiều ý kiến ở Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng không nên đặt ra “mẫu hình thanh niên”, mà chỉ nên “xác lập các tiêu chí cần có của một thanh niên để tạo động lực phấn đấu”, tức là định hướng giá trị cho các thành viên hình thành, phát triển, phát huy “giá trị bản thân”. Chẳng hạn, thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận tạm đúc kết thành tám giá trị cơ bản, có ý kiến gọi là giá trị cốt lõi; yêu nước, khát vọng, đạo đức, trách nhiệm, tri thức, sáng tạo, năng động, văn minh. Đây là những giá trị hết sức cần thiết.

Thanh niên ngày nay nếu theo đuổi được các giá trị này, vận dụng vào cuộc sống, bản thân sẽ là tiền đề để có cuộc sống tốt cho bản thân và cho cộng đồng, đất nước. Thật vậy, thế hệ trẻ từ rất sớm phải nung nấu tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, tự hào dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Trong tình hình phức tạp hiện nay, thế hệ trẻ nước nhà đều một lòng để giá trị “yêu nước” lên trên các giá trị cốt lõi, có ý nghĩa trọng đại. Giá trị “yêu nước” là giá trị tổng hợp trong các giá trị bản thân. Bốn giá trị “khát vọng”, “đạo đức”, “trách nhiệm” và “năng động, có thể đưa vào phạm trù của giá trị chung gọi là “tâm lực”; hai giá trị “tri thức” và “sáng tạo” thuộc phạm trù các giá trị “trí”; còn giá trị “văn minh” cũng nên xếp vào phạm trù các giá trị tổng hợp, cần cụ thể hơn, như tác phong công nghiệp, văn hóa ứng xử… Như vậy, vấn đề chỉ còn là quyết định ở mỗi người chọn cho mình những giá trị nào để phát triển bản thân mà thôi!

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.