Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng – Phần cuối


4/ Quá trình tâm lý của hành động tập thể mạng

Dựa vào mô hình xúc cảm đồng nhất của hành động tập thể mạng, có thể phân quá trình tâm lý của dân mạng tham gia hành động thành các giai đoạn sau: Trước hết, các chủ đề, tin tức, lời đồn, tin nhắn… trên mạng dễ khiến dân mạng toàn quốc quan tâm đều có thể trở thành sự kích thích tính tình huống xúc tiến tính đồng nhất xã hội yếu thế tình huống chủ thể dân mạng hoặc khởi động tính đồng nhất xã hội thông thường. Chỉ có sau khi tính đồng nhất xã hội được khởi động người ta mới xuất phát từ giác độ quần thể mà tự thân đồng nhất để đưa ra cách lý giải và giải thích về tình huống, nảy sinh cảm xúc, rồi hình thành khuynh hướng hành vi, kết hợp với cách đánh giá tính khả thi của khuynh hướng hành động, cuối cùng khởi động và tham gia hành động tập thể mạng, còn kết quả của hành động tập thể sẽ làm thay đổi sự tiến triển của tình huống hoặc sự kiện, rồi ảnh hưởng đến các khâu trong mô hình. Dựa vào các loại hình đồng nhất khác nhau, sự nhận thức đánh giá, phản ứng xúc cảm và loại hình hành vi của dân mạng nhằm vào một sự kiện hoặc tình huống nào đó cũng có khác nhau, biểu 1 và biểu 2 đã phân tích mô hình nhận thức – xúc cảm – hành vi của các quần thể đồng nhất khác nhau xoay quanh sự hình thành mấy loại phản ứng xúc cảm.

Bảng 1: Mô hình nhận thức – xúc cảm – hành vi tham gia hành động tập thể của dân mạng đồng nhất yếu thế tình huống

  Phẫn nộ Lo lắng Bi thương Bất mãn Tự hào
Tính nhất trí Thấp Thấp Thấp Thấp Thấp
Tính hợp lý Thấp Cao     Cao
Người chịu trách nhiệm Quần thể mạnh thế tình huống Quần thể yếu thế tình huống Nhân tố môi trường bên ngoài Nhân tố môi trường bên ngoài Quần thể yếu thế tình huống
Tính có thể khống chế Cao Cao Thấp Cao/Vừa Cao
Khác biệt với mong đợi tâm lý Cao Cao (lúc thấp là tuyệt vọng) Cao Cao Cao
Loại hình hành động tập thể mạng Lên án, xung đột có tính đối kháng Suy xét lại, than vãn, kêu gọi thay đổi Động viên từ thiện Truy vấn trách nhiệm Tuyên truyền, xây dựng mẫu mực

Chú thích: Chỗ trống biểu thị đánh giá ở chiều cạnh này không tác động hoặc tác động không rõ rệt tới sự sản sinh xúc cảm tương ứng.

Bảng 2: Mô hình nhận thức – xúc cảm – hành vi tham gia hành động tập thể của dân mạng đồng nhất thông thường

  Phẫn nộ Miễn cưỡng Đồng tình, thương tâm Bất mãn Oán hận
Tính nhất trí   Không liên quan trực tiếp Không liên quan trực tiếp   Thấp
Tính hợp lý Thấp Cao     Thấp (Phá vỡ ngưỡng dưới đạo đức)
Người chịu trách nhiệm Quần thể mạnh thế tình huống Quần thể yếu thế tình huống Nhân tố môi trường bên ngoài Nhân tố môi trường bên ngoài  
Tính có thể khống chế Cao Cao Thấp Cao/Vừa Cao
Khác biệt với mong đợi tâm lý Cao Cao Cao Cao Cao
Loại hình hành động tập thể mạng Tố cáo, truy cứu trách nhiệm, kêu gọi cải cách Than vãn, yêu cầu thay đổi Động viên từ thiện Truy vấn trách nhiệm Lên án, kêu gọi thay đổi

Chú thích: Chỗ trống biểu thị đánh giá ở chiều cạnh này không tác động hoặc tác động không rõ rệt tới sự sản sinh xúc cảm tương ứng.

V/ Ý nghĩa của mô hình xúc cảm đồng nhất hành động tập thể mạng và kiến nghị chính sách

1/ Phương hướng nghiên cứu tương lai dựa trên mô hình xúc cảm đồng nhất

Việc phân tích cơ sở xúc cảm đồng nhất của cơ chế phát sinh hành động tập thể mạng đã đặt cơ sở lý luận cho nghiên cứu thực chứng trong tương lai, làm rõ phương hướng nghiên cứu khả thi về hành động tập thể mạng. Thứ nhất, nghiên cứu trong tương lai một mặt có thể tiến hành trong phòng thí nghiệm, thông qua việc sắp đặt tình huống, khởi động tính đồng nhất tình huống và tính đồng nhất thông thường của đối tượng thí nghiệm, phân tích cách đánh giá, xúc cảm của họ đối với sự kiện được thí nghiệm và ý nguyện tham gia hành động tập thể mạng của họ cùng ảnh hưởng của hành vi của họ; mặt khác, trong tình huống hiện thực, khi hành động tập thể mạng phát sinh, có thể điều tra cảm giác đồng nhất của người tham gia. Dựa vào giả thiết của mô hình xúc cảm đồng nhất, cảm giác đồng nhất của những người tham gia này về cơ bản phải gộp được vào trong sự đồng nhất tình huống và đồng nhất thông thường. Thứ hai, nghiên cứu trong tương lai có thể, trên cơ sở của mô hình gốc, kiến tạo mô hình hàm số giữa chiều cạnh đánh giá và thành phần xúc cảm; còn có thể lợi dụng kỹ thuật khai thác dữ liệu, phân tích sự kiện gây ra hành động tập thể mạng, dựa vào kết quả đánh giá nhận thức để tiến hành phân loại sự kiện mạng, vẽ ra đồ thị xúc cảm (emotionscale) mạng của các loại hình sự kiện khác nhau, tức là kết cấu xúc cảm-nhận thức phức hợp hình thành từ việc gắn thể nghiệm xúc cảm và khái niệm lại với nhau. Thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu đồ thị xúc cảm, cung có thể dự đoán phản ứng xúc cảm và hành vi sau khi những sự kiện tương tự phát sinh. Thứ ba, mô hình lý luận này còn có thể làm cơ sở kiến tạo mô hình ứng dụng máy tính để mô phỏng quá trình phát sinh hành động tập thể mạng. Như sử dụng loại mô hình tính toán là mô hình dựa trên người hành động (agent-based model) để mô phỏng quá trình dân mạng thông qua tương tác dẫn đến hành động tập thể là sẽ có thể dựa vào mô hình xúc cảm đồng nhất mà bài viết này đề xuất để kiến tạo mô hình quyết định cá nhân, gắn nó vào trong mô hình dựa trên người hành động, rồi thông qua máy tính để mô phỏng kết quả dự đoán.

2/ Kiến nghị chính sách dựa trên mô hình xúc cảm đồng nhất

Mô hình xúc cảm đồng nhất đã chỉ ra, động cơ trực tiếp khiến dân mạng khởi xướng và tham gia hành động tập thể mạng là sự thúc đẩy của xúc cảm nhận thức, còn sự sản sinh thứ xúc cảm nhận thức này lại lấy đồng nhất xã hội làm cơ sở. Đồng nhất xã hội trong hành động tập thể mạng vừa bao gồm đồng nhất quần thể yếu thế có tính tình huống, vừa bao gồm đồng nhất thông thường đối với quần thể vệ sĩ đạo đức, lãnh tụ ý kiến và tiên phong cách mạng, cơ sở sản sinh, tính bền vững, giác độ đánh giá nhận thức đối với sự kiện và cách đánh giá lợi ích thu được từ việc tham gia hành động tập thể mạng của hai loại đồng nhất đều có phần khác nhau. Hiểu biết về mô hình này giúp cho các cơ quan hữu quan đưa ra cảnh báo về hành động tập thể mạng và tiến hành ứng phó và hướng dẫn hữu hiệu. Nói về mặt cảnh báo, sau khi mỗi sự kiện phát sinh, trước hết ngành quản lý có thể phán đoán khả năng của sự kiện trong việc kích hoạt tính đồng nhất tình huống và tính đồng nhất thông thường, rồi lần lượg xuất phát từ góc nhìn của hai loại quần thể đồng nhất, căn cứ vào 5 phương diện là tính nhất trí giữa sự kiện và nhu cầu cùng quan niệm giá trị của quần thể, tính hợp lý và công bằng của sự kiện, người chịu trách nhiệm sự kiện, mức độ phát sinh và phát triển của sự kiện mà con người có thể khống chế, mức độ phát sinh của sự kiện vượt ra ngoài dự tính tâm lý của người ta để đưa ra đánh giá về sự kiện, dự tính phản ứng xúc cảm và hành vi của người ta, kết hợp với phân tích về lợi ích mà người ta thu được từ việc tham gia hành động tập thể mạng, rồi đưa ra cảnh báo dư luận. Nói về mặt ứng phó và quản lý, hiểu được cơ sở đánh giá tính đồng nhất và xúc cảm khiến dân mạng phát động và tham gia hành động tập thể mạng sẽ có thể áp dụng một cách có chủ đích các biện pháp khác nhau nhằm ứng phó và hướng dẫn hành động tập thể mạng. Thí dụ, khi phản ứng, giải thích và xử lý một sự kiện nào đó, phía quan phương xem xét toàn diện sự tồn tại của dân mạng với các loại hình tính đồng nhất xã hội khác nhau, tránh kích thích và làm gay gắt thêm cảm thụ của người ta đối với nhận thức không nhất trí, không hợp lý và vượt ra ngoài dự tính tâm lý, hoặc đưa ra sự hướng dẫn hợp lý nhằm vào sự đánh giá nhận thức nào đấy, giảm thiểu khả năng hình thành những xúc cảm tiêu cực…

Đúng như Yu Guoming (Dụ Quốc Minh) đã nói, “Trên thực tế, blog đã gắn microphone cho “lời gọi” xã hội của mỗi người, hơn nữa thứ “lời gọi” này được thực hiện bằng phương thức truyền bá trực tiếp. Mỗi người đều là phương tiện, mỗi người đều là người truyền bá, thông qua “lời gọi” blog, phương thức thông tin nhanh nhạy này tạo ra sức ảnh hưởng xã hội to lớn, kết quả dẫn đến là, sự quan sát của toàn xã hội, sự can thiệp của cấp trên, phương hướng phát triển, kết cục của sự kiện đều sẽ khác xa”. Hành động tập thể mạng không ngừng xuất hiện trong xã hội Trung Quốc và sản sinh những ảnh hưởng nhất định, việc tiến hành phân tích và xây dựng mô hình về cơ sở xúc cảm đồng nhất làm nảy sinh hành động tập thể mạng có giá trị quan trọng đối với cách ứng phó của chính phủ hay các ngành hữu quan với hành động tập thể mạng.

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2015 – 38, 39 & 40

Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng – Phần V


Việc đề xuất hai loại đồng nhất xã hội có thể giải thích tại sao có một số sự kiện mạng gây ra hành động tập thể có quy mô lớn còn một số sự kiện nào đó thì không, cũng có thể trả lời ở một mức độ nhất định vấn đề thứ hai nói trên: trong hành động tập thể mạng có tồn tại cơ chế “động viên” đặc biệt không. Đáp án cho vấn đề này tức là một số sự kiện nào đó có yếu tố xúc tiến hình thành quá trình loại hóa, khiến dân mạng càng dễ dàng hình thành đồng nhất với quần thể yếu thế trong sự kiện hoặc kích hoạt tính đồng nhất thông thường ở họ. Trong 3 yếu tố ảnh hưởng đến loại hóa nói trên, chúng tôi cho rằng, yếu tố dễ khơi dậy đồng nhất tình huống là tính dễ lấy và độ thích hợp so sánh. Tính dễ lấy cao là chỉ, những sự kiện hoặc tình huống tương quan mật thiết với lợi ích hoặc kinh nghiệm sống tự thân thì tư cách xã hội tương ứng sẽ dễ được người ta lấy ra từ ký ức; độ thích hợp so sánh cao là chỉ, sự phân biệt giữa thế yếu tình huống và thế mạnh tình huống mà nổi rõ thì tính đồng nhất tình huống sẽ dễ hình thành. Còn yếu tố dễ kích hoạt tính đồng nhất xã hội thông thường là tính dễ lấy và độ thích hợp quy phạm. Tính dễ lấy cao, tức là những sự kiện ảnh hưởng rộng, được phương tiện truyền thông quan tâm hoặc đi ngược lại nghiêm trọng quan niệm giá trị đạo đức cơ bản, dễ nhắc nhở người ta nghĩ đến mình là một phân tử của lực lượng giám sát và cải cách xã hội; độ thích hợp quy phạm rành mạch tức là lãnh tụ ý kiến và tiên phong cải cách mạng trong tình hình này phải đánh vào bất công xã hội, bảo vệ quan niệm giá trị đạo đức, tích cực công bố ngôn luận, cũng dễ gọi dậy tính đồng nhất xã hội thông thường của người ta.

2/ Đánh giá tình huống liên quần thể dựa trên tính đồng nhất

Nhận thức và đánh giá của người ta về các sự kiện sẽ gây ra những phản ứng xúc cảm và hành vi tương ứng, nhưng sự đánh giá cá thể hóa và xúc cảm tương ứng tuyệt nhiên chưa đủ để gây ra hành động có tính quần thể, mà còn phải dựa vào xúc cảm liên quần thể được hình thành dựa trên cơ sở đồng nhất xã hội. Dựa vào lý luận xúc cảm liên quần thể, sau khi nảy sinh tính đồng nhất xã hội, người ta sẽ dựa vào nhu cầu của quần thể đồng nhất để tiến hành đánh giá tình huống. Chúng tôi cho rằng, việc phân tích hành động tập thể mạng có 5 chiều cạnh đánh giá chủ yếu có ảnh hưởng quan trọng tới sự hình thành xúc cảm, lần lượt là: 1) Tính nhất chí: chỉ mức độ nhất trí giữa sự kiện và nhu cầu của quần thể, như vụ xe lửa sau đâm vào đuôi xe lửa trước là trái ngược với nhu cầu lợi ích an toàn đạt tới điểm đến của quần thể hành khách. Đối với dân mạng đồng nhất thông thường thì tính nhất trí có lúc thể hiện ở mức độ nhất trí của sự kiện với quan niệm giá trị và chuẩn tắc đạo đức của quần thể, như vấn đề lạm dụng tiền quyên góp có thể xảy ra ở hội chữ thập đỏ là đi ngược lại quan niệm đạo đức cơ bản của vệ sĩ đạo đức. 2) Tính hợp lý: chỉ mức độ công bằng trong phán đoán chủ quan hay trong cảm nhận của người ta về mức độ hợp lý của sự kiện, chủ yếu là tiến hành phán đoán thông qua so sánh xã hội. So sánh xã hội vừa bao gồm so sánh giữa quần thể yếu thế tình huống và quần thể mạnh thế tình huống (các tầng lớp quyền lực và cơ quan chính phủ, như quan chức bộ đường sắt, hội chữ thập đỏ), cũng bao gồm so sánh giữa quần thể yếu thế tình huống trong sự kiện trong nước và quần thể nước ngoài ở vào tình huống hoặc địa vị tương tự. Về điểm này, tiêu chuẩn phán đoán của dân mạng đồng nhất với quần thể yếu thế tình huống và của dân mạng đồng nhất với lực lượng cải cách có thể có phần khác nhau, loại sau có thể khách quan hơn. 3) Người chịu trách nhiệm, là chỉ phán đoán ai phải chịu trách nhiệm về sự kiện hoặc tình huống hiện tại. Về phán đoán về sự kiện hoặc tình huống đang được bàn nóng trên mạng có thể sản sinh 3 loại kết quả, bao gồm bản thân quần thể yếu thế tình huống, quần thể mạnh thế tình huống (phần nhiều là các tầng lớp quyền lực) và nhân tố môi trường bên ngoài (nhân tố tự nhiên). 4) Tính có thể khống chế, là chỉ mức độ mà sự kiện có thể do con người khống chế. Như hỏa hoạn lớn hoặc động đất ở Thượng Hải, được coi là thiên tai, nhưng con người vẫn có năng lực đối phó và dự phòng, giảm thiểu tổn thất; còn xe lửa đâm vào đuôi xe lửa trước thì được coi là sự cố nhân tạo, có thể tránh và có thể khống chế. 5) Khác biệt dự đoán tâm lý, chỉ là khác biệt giữa sự kiện thực tế phát sinh và dự báo trước đó của mình dựa trên kinh nghiệm về sự kiện tương tự sẽ phát sinh. Như xác suất dự báo của người ta về tham nhũng phát sinh có thể tương đối cao, nhưng xác suất dự báo về phát sinh các sự kiện như xe lửa đâm đuôi, xảy ra hỏa hoạn lớn không khả năng cứu viện, tiền quyên góp chữ thập đỏ bị dùng vào việc riêng là cực thấp, cho nên khi sự kiện thực sự phát sinh, mức độ kinh ngạc của người ta sẽ càng cao. Chúng tôi cho rằng, khác biệt về dự báo tâm lý là đặc biệt quan trọng đối với sự hình thành cảm xúc trong hành động tập thể mạng, bởi cái nó phản ứng là thách thức của sự kiện hoặc tình huống đối với chuẩn tâm lý của người ta. Kết quả đánh giá sự kiện hoặc tình huống khơi ra các loại thể nghiệm cảm xúc của người ta, rồi ảnh hưởng đến khuynh hướng hành vi của người ta trong việc tham gia hoặc khởi xướng hành động tập thể mạng.

3/ Đánh giá hiệu năng của hành động tập thể mạng

Trên cơ sở lý luận động viên nguồn lực, chúng tôi nêu một nhân tố quan trọng khác hiến hành động tập thể mạng bùng nổ, đó là phán đoán của người ta về tính khả thi của hành động tập thể, bao gồm hiệu năng quần thể, tính xác định của kết quả hành vi và lợi ích và chi phí của hành vi.

Hiệu năng quần thể trong mô hình xúc cảm đồng nhất là chỉ phán đoán về lực lượng và nguồn lực của quần thể trong việc phát động hành động tập thể. Tính xác định của kết quả hành vi là chỉ phán đoán về tính có thể dự kiến của kết quả hành động tập thể. Lợi ích thu được và chi phí là chỉ so sánh giữa chi phí người ta có thể bỏ ra cho việc tham gia hành động tập thể và lợi ích thu được. Trong môi trường mạng, do tính nặc danh và tính dễ dàng của việc tham gia, nên chi phí thời gian, sức lực, kinh tế, chính trị có thể bỏ ra đều tương đối nhỏ, tuy có thể bị giám sát hoặc điều tra, nhưng xác suất phát sinh vẫn thấp hơn hành động tập thể ngoài mạng. Về mặt lợi ích, tuy không có lợi ích cá nhân hay quần thể thu được rõ ràng như hành động tập thể ngoài mạng, như đạt được bồi thường kinh tế hay đình chỉ công trình nào đó phương hại đến quần thể mình, nhưng lại có thể đạt được sự thỏa mãn tâm lý cá nhân, như đạt được sự ủng hộ của những người cùng chí hướng và sự quan tâm của xã hội, duy trì được tính hợp lý của quan niệm giá trị của mình, thải loại những cảm xúc tiêu cực, theo một ý nghĩa rộng hơn còn có thể khiến toàn xã hội đều được lợi, như thay đổi chế độ chính sách, khiến toàn xã hội suy nghĩ lại quan niệm đạo đức và giá trị… Điều này tương ứng với vấn đề thứ ba trong phần trên đây của bài viết. Nói chung, trong tình huống mạng, đánh giá của dân mạng về cảm giác hiệu năng, tính xác định của hành vi và lợi ích thu được của quần thể đều tích cực hơn và cũng tương đối giống so với đánh giá trong tình huống hiện thực. Vì vậy, nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến ý nguyện tham gia hành động tập thể mạng của người ta vẫn là cảm xúc liên quần thể sản sinh trên cơ sở tính đồng nhất.

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2015 – 38, 39 & 40

Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng – Phần IV


Lý luận cảm xúc liên quần thể vận dụng quan điểm lý luận đánh giá xúc cảm, cũng cho rằng tổ hợp đánh giá nhận thức cụ thể sẽ khơi dậy phản ứng xúc cảm cụ thể, trong đó chiều cạnh đánh giá nhận thức quan trọng bao gồm mấy mặt dưới đây: 1) Đánh giá tính nhất trí: Mức độ nhất trí cần thiết giữa sự kiện hoặc tình huống và quần thể đồng nhất, nếu nhất trí thì sẽ khơi dậy cảm xúc tích cực, còn không nhất trí thì sẽ khơi dậy cảm xúc tiêu cực; 2) Đánh giá tính hợp lý: Tính hợp lý là chỉ phán đoán chủ quan của những người đồng nhất với quần thể nào đó về mức độ hợp lý của sự kiện, cũng tức là mức độ công bằng mà người ta nhận thức được; 3) Người chịu trách nhiệm: Người chịu trách nhiệm là chỉ phán đoán về người nào phải chịu trách nhiệm về sự kiện tại hại. Người chịu trách nhiệm có thể bao gồm 3 mặt, đó là các nhân tố nội quần thể, ngoại quần thể và môi trường bên ngoài; 4) Lực lượng: Quần thể có các nguồn lực mà tình huống cần đến không; 5) Tính xác định: Mức độ xác định của kết quả sẽ phát sinh đối với sự kiện, có xác định hay không có thể gây ra những xúc cảm như hy vọng và sợ hãi.

Tóm lại, lý luận đồng nhất xã hội phân tích xem những nhân tố nào sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành tính đồng nhất xã hội của quần thể; lý luận xúc cảm liên quần thể thì trên cơ sở phân tích đánh giá xúc cảm cá thể, chỉ ra, khi đồng nhất xã hội nổi rõ, người ta sẽ hình thành sự đánh giá ở cấp độ quần thể, sau đó sẽ nẩy sinh phản ứng xúc cảm nhằm vào quần thể, rồi tiến thêm một bước sẽ gây ra hành vi liên quần thể tương ứng với xúc cảm. Hai góc nhìn lý luận quan trọng nghiên cứu hành vi giữa các quần thể có giá trị tham khảo quan trọng đối với việc phân tích hành động tập thể mạng phát sinh ở cấp độ quần thể, thành phần người tham gia phức tạp. Bài viết này sẽ lấy đây làm cơ sở để tạo dựng nên mô hình xúc cảm đồng nhất của hành động tập thể mạng.

IV/ Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng

Ý tưởng lý luận của bài viết này về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng (dưới đây gọi tắt là mô hình xúc cảm đồng nhất, cụ thể xem Hình 1) chủ yếu là thông qua lộ trình “đồng nhất  xã hội – đánh giá – xúc cảm liên quần thể – hành động” để lý giải cơ chế tâm lý của sự phát sinh hành động tập thể mạng.1/ Đồng nhất xã hội tình huống và đồng nhất xã hội thông thường

Trước hết, nhất trí với lý luận đồng nhất xã hội trong lý luận hành động tập thể trước đây, mô hình xúc cảm đồng nhất cũng cho rằng, đồng nhất xã hội là nhân tố quan trọng kích thích hành động tập thể mạng phát sinh, nhưng chỗ khác với phân tích lý luận trước đây là, đồng nhất xã hội trong mô hình tuyệt nhiên không phải là đồng nhất quần thể yếu thế đơn nhất, mà là hai loại hình đồng nhất khác nhau, lần lượt là đồng nhất xã hội tình huống và đồng nhất xã hội thông thường. Qua sự trình bày của lý luận đồng nhất xã hội về loại hóa có thể nhận thấy, loại hóa là quá trình biến đổi theo tình  huống, vì vậy đồng nhất xã hội cũng không phải là cố định bất biến. Xuất phát từ điểm này, có thể phân chia đồng nhất xã hội thành đồng nhất xã hội tạm thời hay tình huống và đồng nhất xã hội ổn định hoặc thông thường, loại đầu là đồng nhất xã hội do tình huống hoặc các sự kiện có tính kích thích gây ra (khởi động), ngắn hạn, không ổn định, không cân bằng, dễ kiến tạo, còn loại sau là đồng nhất xã hội thường xuyên nổi bật hoặc do xã hội thiết định trước, lâu dài, tương đối ổn định và cân bằng, tương đối khó thay đổi.          Sự phân chia của Van Zomeren và một số người về thế yếu tình huống và thế yếu kết cấu ở mức độ nhất định đã làm nổi bật cách phân chia hai loại đồng nhất xã hội này. Thế yếu tình huống (incidental disadvantage) là thế yếu phát sinh tình cờ, sản sinh xoay quanh sự kiện hoặc tình huống nào đó (như trưng thu đất cưỡng chế, phí bất hợp lý mới tăng, sự cố thiết bị công cộng khiến nhân viên thương vong…), đứng trước thế yếu tình huống, người ta sẽ xoay quanh số phận chung hoặc lợi ích chung để phát triển thành một thứ đồng nhất xã hội chia sẻ; thế yếu kết cấu (structural disadvantage) là thế yếu gắn vào trong kết cấu xã hội, chỉ địa vị của quần thể mà mình thuộc về trong kết cấu xã hội thấp kém hoặc do tư cách thành viên quần thể (như phụ nữ, luyến ái cùng giới, người tàn tật) mà phải chịu kỳ thị, sự đồng nhất với quần thể yếu thế kết cấu là đồng nhất mà lịch sử hoặc kết cấu xã hội đã định trước. Các nhà nghiên cứu còn cho rằng, sự không công bằng liên quan đến thế yếu tình huống dễ dẫn đến hành động tập thể hơn so với không công bằng liên quan đến thế yếu kết cấu. Người tham gia hành động tập thể mạng là dân mạng thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau, hoàn toàn không có quan hệ lợi ích trực tiếp với quần thể tương đối yếu thế trong một số sự kiện mạng. Chúng tôi cho rằng, trong số những dân mạng này, có một số người có đặc điểm tâm lý là hình thành tính đồng nhất xã hội tình huống tạm thời với quần thể yếu thế tình huống, những người này có thể là đương sự trực tiếp trong sự kiện, có thể là có kinh nghiệm sống tương tự, hay có thể là cho rằng sự kiện tương tự rất có thể sẽ phát sinh ở chính mình, nẩy sinh cảm giác tương quan cùng số phận, do vậy hình thành nên tính đồng nhất tình huống. Động cơ đằng sau tính đồng nhất này rất có thể là để thỏa mãn cảm giác quy thuộc, nhằm đạt được sự ủng hộ bảo vệ các quyền và thay đổi hiện trạng. Nghiên cứu cũng phát hiện, khi cho rằng minh không thể thay đổi chế độ xã hội thì cá nhân cần cảm giác quy thuộc tương đối mạnh. Điều đó có thể giải thích tại sao khi không tồn tại quần thể yếu thế rõ rệt về kết cấu mà hành động tập thể mạng vẫn phát sinh, nó đã trỏa lời vấn đề thứ nhất trong đoạn trên đây.

Ngoài ra, trong đời sống hiện thực, còn có một bộ phận dân mạng, họ tích cực tham gia hành động tập thể mạng, phát ngôn hoặc ý kiến của họ có thể là phân tích sâu vào vấn đề, có thể trực tiếp đánh vào người chịu trách nhiệm về sự kiện, hay có thể là từ giác độ quan niệm giá trị đánh giá cao sự kiện, bộ phận người này có thể được hiểu là bộ phận hình thành nên tính đồng nhất xã hội thông thường, còn đối tượng đồng nhất của họ thì là những nhân vật đại loại như vệ sỹ đạo đức, lãnh tụ ý kiến, tiên phong cải cách, cho rằng mình thuộc về một quần thể bảo vệ quan niệm giá trị đạo đức, duy trì công bằng xã hội, chống lại các thế lực mạnh, một quần thể có lực lượng xã hội. Có lực lượng xã hội ở đây tức là có tiếng nói lay động trong công luận xã hội, mà muốn có tiếng nói lay động thì phải nắm được các môi giới truyền bá liên kết, phương tiện truyền thông mới qua mạng chính có thể làm một thứ môi giới biểu đạt chủ trương chính trị của dân chúng bình thường, bảo vệ các quan niệm đạo đức và các giá trị bị đe dọa như vậy. Tuy khái niệm đồng nhất xã hội thông thường mà bài này đề xuất còn chưa được thảo luận một cách minh xác trong các nghiên cứu hiện có về hành động tập thể mạng nhưng đã có một số nghiên cứu và quan điểm lý luận có thể gián tiếp ủng hộ cho quan điểm này. Thí dụ, điều tra phát hiện, những dân mạng mà cảm giác hiệu năng chính trị yếu thì càng có thể tham gia hành động tập thể trên mạng, vì vậy các nhà nghiên cứu cho rằng, dân mạng Trung Quốc coi hành động tập thể trên mạng là một thứ công cụ mạnh mẽ để biểu đạt quan điểm chính trị của mình. Ngoài ra, mô hình bảo vệ quan niệm giá trị thần thánh (scared value protection model) đề xuất, khi những hành vi nào đó đi ngược lại quan niệm giá trị quan trọng của người ta thì sẽ khơi dậy phản ứng phẫn nộ đạo đức hoặc làm trong sạch đạo đức, như lăng mạ những người đi ngược lại quan niệm đạo đức hoặc thông qua các hành động khác để tái xác nhận giá trị của quan niệm giá trị bị đe dọa. Nghiên cứu phát hiện, sau sự kiện “11/9”, sự phẫn nộ đạo đức đã làm giảm mức độ khoan dung chính trị của người ta. Những nghiên cứu này đã chỉ ra, kiên trì niềm tin đạo đức và quan niệm giá trị có thể là một động cơ quần thể quan trọng thúc đẩy người ta tham gia hành động tập thể. Nhưng đối với đại đa số người, rất khó dựa vào lực lượng cá nhân để thực hiện lý tưởng chính trị hay lý tưởng xã hội của mình hay là duy trì đạo đức xã hội, do vậy, dựa vào lực lượng mạng để biểu hiện lực lượng xã hội của bản thân trở thành một thứ lựa chọn. Dựa trên phân tích trên đây, bài viết này cho rằng động cơ đằng sau đồng nhất xã hội thông thường có thể là để nâng cao tự tôn: lãnh tụ ý kiến đồng nhất, quần thể tiên phong thời đại thông qua mạng để thực hiện lý tưởng mà trong hiện thực mình khó thực hiện, đạt được cảm giác thỏa mãn và thành công. Điều cần chỉ ra là, đồng nhất xã hội tình huống và đồng nhất xã hội thông thường nói trên tuyệt nhiên không mâu thuẫn nhau, người ta có thể đồng thời có hai loại đồng nhất xã hội.

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2015 – 38, 39 & 40

Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng – Phần III


III/ Cơ sở lý luận của việc phân tích xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể qua mạng

Để giải quyết sự hạn chế của lý luận hành động tập thể kinh điển trong việc giải thích hành động tập thể mạng, bài viết này đề ra ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất để phân tích cơ chế tâm lý làm phát sinh hành động tập thể mạng.

1/ Những mệnh đề cơ bản của lý luận đồng nhất xã hội

a/ Khái niệm và cơ chế tâm lý của đồng nhất xã hội

Đồng nhất xã hội là chỉ việc cá nhân mượn tư cách thành viên của mình (hoặc người khác) trong cộng đồng nào đó để phân biệt mình (hoặc người khác) với những người khác, và khoác đặc trưng của thành viên điển hình trong cộng đồng này lên cho mình (hoặc người khác), làm cho đặc tính của mình (hoặc người khác) tương đồng với đặc tính của thành viên điển hình trong cộng đồng. Trong đời sống hiện thực, người ta đều có tư cách thành viên của nhiều quần thể nhưng thường chỉ dùng một trong số đó để tạo thành sự đồng nhất tư cách xã hội của mình, sự lựa chọn của cá thể về tư cách xã hội có thể bắt nguồn từ 4 động cơ tâm lý sau: Trước hết, thông qua quần thể xã hội mà mình đồng nhất để nâng cao tự tôn, cố gắng quy trình về quần thể ưu thế, mượn đó để đề cao tư cách của mình. Thứ hai, thông qua đồng nhất xã hội để hạ thấp cảm giác vô thường và tính không xác định trong đời sống, thỏa mãn nhu cầu khép kín nhận thức (epistemic closure). Thứ ba, thông qua việc lựa chọn đồng nhất với quần thể nhỏ bài ngoại hoặc quần thể lớn có tính bao dung để cân bằng mâu thuẫn giữa nhu cầu cá tính và cảm giác quy thuộc quần thể. Cuối cùng, đồng nhất xã hội còn có thể giảm hoãn về sự lo âu tồn tại hoặc sự sợ hãi tử vong của người ta, trong thực nghiệm, đối tượng thực nghiệm được khơi dậy nỗi sợ hãi về tử vong thì cảm giác đồng nhất với quần thể mà mình thuộc về cũng càng mạnh.

b/ Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình cơ bản của đồng nhất xã hội

Sự hình thành đồng nhất xã hội bao gồm 3 quá trình: loại hóa, đồng nhất và so sánh. Trước hết, người ta thông qua loại hóa để xếp mình vào một quần thể xã hội nào đó, rồi hình thành đồng nhất, sau đó thông qua so sánh để đánh giá sự tốt xấu, địa vị và danh dự của quần thể mà mình đồng nhất so với quần thể khác. Trong đó, đồng nhất và so sánh chủ yếu ảnh hưởng đến hành vi xã hội của người ta và quan hệ giữa các quần thể, còn loại hóa là tiền đề của sự hình thành đồng nhất xã hội, đồng thời, loại hóa lại là một quá trình biến đổi theo sự biến đổi của môi trường. Đồng nhất xã hội của cá thể tuyệt nhiên không phải là một đặc chất cá nhân cố định, nó chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố dưới đây: 1) Tính dễ lấy/tính có thể tiếp cận (accessibility), chỉ một loại hình xã hội nào đó trong một tình huống nào đó có dễ được lấy từ trong ký ức ra để sử dụng hay không. Loại hình xã hội có tính dễ lấy tương đối cao thường là loại hình người ta quen dùng, cũng là loại hình có quan hệ với mục tiêu, lợi ích, sơ đồ tư duy và kinh nghiệm sống của người ta. 2) Độ thích hợp tương đối (comparative fit), chỉ một loại hình xã hội nào đó để miêu tả thích đáng sự so sánh liên quần thể khách quan của nhân vật xuất hiện vào lúc đó, tại nơi đó hay không. 3) Độ thích hợp quy phạm (normative fit), chỉ một loại hình xã hội nào đó có thể miêu tả thích đáng sự khác nhau về hành vi mong đợi của người tham gia tương tác hay không. Độ thích hợp quy phạm cao có nghĩa là loại hình xã hội được dùng có thể miêu tả tương đối rõ nét các hành vi khác nhau khi tương tác giữa hai loại người trong tình huống phù hợp với mong đợi chung của xã hội.

2/ Lý luận xúc cảm liên quần thể

Một cơ sở lý luận quan trọng khác của mô hình cảm xúc đồng nhất mà nghiên cứu này nêu ra là lý luận cảm xúc liên quần thể (Intergroup emotion). Lý luận này phân tích từ giác độ cảm xúc mối quan hệ giữa các quần thể, mở rộng lý luận đánh giá cảm xúc ở cấp độ cá thể sang lĩnh vực quan hệ quần thể, nêu ra rằng sự khác nhau trong phản ứng của một quần thể nào đó đối với hành vi của các quần thể khác là dựa trên phản ứng xúc cảm khác nhau của nó đối với các quần thể ấy, còn những xúc cảm này thì được quyết định bởi chỗ nó đánh giá thế nào ý nghĩa của sự kiện hoặc tình huống đối với quần thể mình.

a/ Khái niệm cơ bản trong đánh giá xúc cảm

Theo lý luận đánh giá cảm xúc (appraisal theory), xúc cảm bắt nguồn từ đánh giá của chúng ta đối với các sự kiện hoặc tình huống, nội dung đánh giá chủ yếu là quan hệ giữa tình huống và mục tiêu tự thân. Hiện nay, nhận thức chung mà các nhà nghiên cứu đạt được là, đánh giá của người ta về tình huống là được tiến hành ở các cấp độ khác nhau, một trong những khu biệt chủ yếu giữa các lý luận đánh giá xúc cảm là sự khác nhau giữa các chiều cạnh đánh giá. Trong đó, Scherer trong lý luận đánh giá của mình đã nêu ra các chiều cạnh đánh giá tương đối toàn diện, có ảnh hưởng tương đối lớn với các nghiên cứu về sau. Các chiều cạnh đánh giá này chủ yếu bao gồm 4 mặt: 1) Tính tương quan: mức độ tương quan giữa sự kiện và tôi, tức là sự kiện có ảnh hưởng đến tôi hoặc quần thể tham chiếu xã hội của tôi hay không, đánh giá tính tương quan được tiến hành từ mấy chiều cạnh là tính tân kỳ, tính vui mừng cố hữu và tính tương quan mục tiêu. 2) Ý nghĩa: ý nghĩa và hậu quả của sự kiện là gì, những thứ này sẽ ảnh hưởng như thế nào tới hạnh phúc và mục tiêu tức thời và lâu dài của tôi. Việc đánh giá ý nghĩa có thể triển khai theo mấy chiều cạnh là quy kết trách nhiệm, xác suất kết quả, sai khác với mong đợi, có ích cho mục tiêu cá nhân và tính bức thiết. 3) Năng lực ứng phó: tôi có thể ứng phó hoặc thích ứng ở mức độ nào với những kết quả này, đánh giá này chủ yếu tiến hành dựa trên mấy chiều cạnh là khống chế, lực lượng và thích ứng. 4) Tầm quan trọng quy phạm: sự kiện này có ý nghĩa như thế nào đối với tự khái niệm của tôi, đối với quy phạm xã hội và quan niệm giá trị, bao gồm hai tiêu chuẩn bên trong và bên ngoài. Đồng thời lý luận đánh giá xúc cảm còn nêu ra rằng xúc cảm khác nhau được sản sinh thông qua tổ hợp đánh giá nhận thức khác nhau. Thí dụ, khi người ta đánh giá sự kiện nào đó là khiến người ta vui mừng, xác suất sản sinh kết quả tốt đẹp tương đối cao, có ích cho mình thực hiện mục tiêu, mình có thể thích ứng đầy đủ thì có thể tạo ra xúc cảm vui vẻ và phấn khởi; còn khi sự kiện được cho là xẩy ra đột ngột, xác suất nảy sinh hậu quả không tốt rất lớn, bất lợi cho mục tiêu tự thân, không thể kiểm soát mà bản thân lại không có khả năng ứng phó và thích ứng, thì người ta thường nẩy sinh xúc cảm tuyệt vọng; khi người ta cho rằng sự phát sinh của sự kiện không hề bất ngờ, có khả năng sản sinh hậu quả xấu, có một số trở ngại cho mình thực hiện mục tiêu, bản thân không có khả năng ứng phó nhưng có thể thích ứng ở mức độ nhất định, thì có thể nẩy sinh cảm xúc lo lắng bồn chồn.

b/ Từ xúc cảm cá thể đến xúc cảm liên quần thể

Lý luận đánh giá xúc cảm chú trọng phân tích quá trình đánh giá xúc cảm cá thể, quan tâm đến ảnh hưởng của sự kiện hoặc tình huống đối với mục tiêu cá nhân. Để lý giải xúc cảm nảy sinh trong quá trình tương tác quần thể, lý luận xúc cảm liên quần thể lấy tính đồng nhất xã hội làm nhịp cầu, tiến hành mở rộng lý luận đánh giá xúc cảm. Tuy nguyên lý mà lý luận đánh giá xúc cảm trình bày là phân tích quan hệ giữa cái tôi và xúc cảm cá thê, nhưng ý nghĩa đối với cái tôi được đề cập trong đánh giá liên quan đến xúc cảm tuyệt nhiên không giới hạn ở cái tôi cá nhân. Theo lý luận đồng nhất xã hội, sau khi hình thành tính đồng nhất với quần thể nào đó, cá thể sẽ phú đặc trưng điển hình của thành viên quần thể này cho mình, tư cách thành viên quần thể do vậy trở thành một bộ phận của cái tôi của nó, sự tồn tại của cái tôi xã hội này khiến người ta sẽ tiến hành đánh giá từ ý nghĩa của sự kiện hoặc tình huống đối với quần thể chứ không phải là đối với cá nhân của người đó, từ đó hình thành xúc cảm đối với các quần thể khác trong sự kiện hoặc tình huống, và thứ xúc cảm liên quần thể này sẽ tiến thêm một bước hướng dẫn hành vi liên quần thể của người ta, nhưng công kích, né tránh…

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2015 – 38, 39 & 40

Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng – Phần II


2/ Lý luận đồng nhất xã hội

Lý luận đồng nhất xã hội (Social Identity Theory) thoạt tiên do Tajfel đưa ra. Trong lĩnh vực nghiên cứu hành động tập thể, nhà nghiên cứu nêu ra rằng đồng nhất xã hội là một nguyên nhân trực tiếp của hành động tập thể, tri giác của người ta về đặc trưng kết cấu xã hội đã quyết định tính đồng nhất của họ với quần thể, thứ đồng nhất này lại có thể dự báo khuynh hướng của người ta khi tham gia hành động tập thể. Theo lý luận đồng nhất xã hội, người ta thường nỗ lực xây dựng sự đồng nhất xã hội tích cực, nói chung không hình thành sự đồng nhất với quần thể kém thế, yếu thế. Nhưng khi 3 loại kết cấu xã hội dưới đây thỏa mãn những điều kiện nhất định thì cá thể sẽ hình thành sự đồng nhất với quần thể yếu thế mà mình thuộc về và tham gia vào hành động tập thể nhằm giành lợi ích cho quần thể: 1) tính bất khả xâm thấu của biên giới quần thể, 2) tính hợp lý của khác biệt giữa các quần thể và 3) tính ổn định của khác biệt giữa các quần thể. Trước hết, biên giới quần thể không thể xâm thấu có nghĩa là cá thể không có “lối ra” để thoát ly quần thể yếu thế, đi vào quần thể ưu thế, lúc này người ta cần lợi dụng ở mức độ lớn nhất môi trường xã hội, mà một phương pháp trong đó là thông qua hành động tập thể để tham gia vào cạnh tranh xã hội. Thứ hai, khi thành viên của quần thể ở vào địa vị yếu thế nhận thức được địa vị xã hội giữa các quần thể không có tính hợp lý hoặc không công bằng, họ càng có thể đồng nhất với quần thể của mình, ý nguyện tham gia hành động tập thể để làm thay đổi sự khác biệt về địa vị càng mạnh. Cuối cùng, nếu khi địa vị bất bình đẳng giữa các quần thể được cho là không ổn định, người ta sẽ có được cảm giác về sức mạnh thay đổi kết cấu xã hội, thúc đẩy họ tham gia hành động tập thể. Về tổng thể, khi cá thể đồng nhất tương đối cao với quần thể yếu thế cho rằng sự khác biệt về địa vị giữa các quần thể là không hợp lý và có thể thay đổi thì khả năng tham gia hành động tập thể càng cao. Trên cơ sở lý luận đồng nhất xã hội, có nhà nghiên cứu nêu ra thêm khái niệm đồng nhất tập thể chính trị hóa (politicized collective identity) và chỉ ra đây là biến số đẹp nhất để dự báo hành động tập thể. Thứ đồng nhất này chuyển đổi sự đồng nhất của cá thể với môi trường xã hội hoặc quần thể yếu thế thành đồng nhất với hành động hoặc người hành động cụ thể hơn, như đồng nhất với phong trào tổ chức xã hội nào đó, từ đó hình thành một thứ trách nhiệm và nghĩa vụ nội tại để tham gia phong trào xã hội. Các nhà nghiên cứu cho rằng việc chính trị hóa thứ đồng nhất này khiến cho những người tương đối không có quyền lực hình thành một thứ sức ảnh hưởng tập thể.

3/ Lý luận động viên nguồn lực

Lý luận động viên nguồn lực (Resource Mobilization Theory) đã từ giác độ lý tính công cụ tiến hành bổ sung vào ảnh hưởng của các nhân tố như cảm nhận về bất công, xúc cảm và đồng nhất… đối với hành động tập thể, cho rằng hành động tập thể là kế hoạch có tính sách lược chứ không phải là phản ứng có tính xúc cảm đối với cảm nhận về bất công. Nói cụ thể, lý luận này chủ trương, có tham gia hành động tập thể hay không là lựa chọn có tính công cụ nhằm tối thiểu hóa tổn thất và tối đa hóa lợi ích cá nhân mà người ta đưa ra sau khi tiến hành đánh giá duy lý về chi phí và lợi ích thu được khi tham gia hành động. Thông thường, nguyên nhân khiến người ta lựa chọn cách không tham gia hành động tập thể có thể là vì họ dự đoán rằng cố gắng của mình sẽ không đạt được sự đền bù vật chất hay xã hội; hoặc xét từ giác độ hiệu năng quần thể, cảm thấy quần thể của mình quá nhỏ yếu, không thể thực hiện cải biến xã hội; còn có thể vì không có cơ hội hoặc mạng quan hệ đầy đủ để tham gia hành động tập thể, hoặc do chướng ngại hiện thực nên không thể tham gia. Vì vậy, chỉ khi nào người ta tin mình có nguồn lực để đưa ra thách thức với bất công hoặc bất bình đẳng thì cảm giác về tước đoạt tương đối mới có thể gây ra hành động tập thể. Klandermans nêu ra 3 loại động cơ khiến người ta tham gia hành động tập thể: 1) động cơ tập thể (collective motive), nhằm thực hiện các mục tiêu tập thể có giá trị; 2) động cơ quy phạm (normative motive), để phù hợp với kỳ vong của người quan trọng khác; 3) động cơ khen thưởng (reward motive), lợi ích mà cá nhân thu được lớn hơn chi phí, thí dụ tham gia hành động tập thể cần tiêu phí thời gian, sức lực, tiền bạc…, nhưng có thể đạt được sự ủng hộ của những người cùng chí hướng. Có thể coi nhận thức của lý luận động viên nguồn lực về lý tính công cụ là sự bổ sung cho lý luận đồng nhất xã hội. Theo lý luận đồng nhất xã hội, khi sự khác biệt về địa vị giữa các quần thể không hợp lý, không ổn định, hơn nữa biên giới giữa các quần thể là không thể xâm thấu, thì sự đồng nhất về tâm lý của người ta đối với quần thể yếu sẽ càng mạnh, từ đó động cơ tham gia hành động tập thể nhằm cải biến địa vị của quần thể sẽ càng mạnh. Còn đối với người mà tính đồng nhất với quần thể yếu thế tương đối thấp thì có tham gia hành động tâp thể hay không, điều đó có thể sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào tính toán của người đó đối với lợi ích của hành động và cái giá phải trả cho hành động đó.

4/ Hạn chế của lý luận kinh điển trong việc giải thích hành động tập thể mạng

Lý luận tâm lý học xã hội hiện có về hành động tập thể đã từ các chiều cạnh khác nhau tiến hành giải thích động cơ tâm lý của hành động tập thể, nhưng phần nhiều tập trung vào phân tích đơn nhất một mặt nào đó, mô hình liên kết tương đối mỏng; hơn nữa, lý luận hiện có phần nhiều phân tích hành động tập thể ngoại tuyến của quần thể yếu thế, như kháng nghị, diễu hành thị uy… ít có mô hình lý luận tiến hành phân tích thẳng vào đặc điểm hành động tập thể mạng. Các nghiên cứu đã có xác nhận, khi giải thích hành động tập thể mạng, lý luận hiện có tồn tại những bất cập nhất định. Thí dụ, một nghiên cứu nhằm vào hành động tập thể trên mạng ở Trung Quốc phát hiện, biến số kinh điển về hành động tập thể được dự báo trong lý luận truyền thống và nghiên cứu thực chứng, như quy phạm chủ quan (tức quan điểm của người quan trọng khác), cảm nhận về tước đoạt tương đối… đều không có ảnh hưởng rõ rệt tới hành động tập thể mạng. Bài viết này cho rằng, kết hợp với các nghiên cứu hiện có về hành động tập thể, khi kiến tạo mô hình lý luận để giải thích hành động tập thể mạng, ít nhất vẫn còn 3 vấn đề cần làm rõ và giải quyết: Thứ nhất, thành phần người tham gia hành động tập thể mạng phức tạp, rất khó xác định thành một quần thể đơn nhất, dân mạng tham gia trong đó đến từ các tầng lớp xã hội khác nhau, có bối cảnh thân phận và địa vị xã hội khác nhau, thường không có liên quan rõ rệt với quần thể người bị hại trong sự kiện tương quan. Còn lý luận trước đây chủ yếu quan tâm đến hành động tập thể của quần thể có địa vị xã hội tương đối thấp, có thích hợp với quần thể dân mạng vốn không thể xác định bằng địa vị xã hội hay không thì còn cần phải bàn. Thí dụ, sao phỏng giản đơn khái niệm đồng nhất quần thể yếu thế thì rõ ràng không thể giải thích thật tốt hành vi của dân mạng đến từ các tầng lớp khác nhau. Vậy có thể dùng đồng nhất xã hội kinh điển hay phân tích xúc cảm, hiệu năng để giải thích hành động tập thể mạng hay không, và giải thích như thế nào trở thành một vấn đề cần giải quyết.

Thứ hai, một trong những đặc điểm của hành động tập thể mạng là phát sinh nhanh chóng, không thể dự đoán, tương đối vô tổ chức, thường là “một hòn đá gây nên muôn trùng sóng”, một sự cố, một tai nạn, một bài blog đều có thể nhanh chóng trở thành những sự kiện nóng trên mạng, khiến mấy triệu thậm chí mấy chục triệu dân mạng cùng thảo luận, thường không cần một tổ chức nào đó đứng ra động viên hoặc tổ chức trước, đây là một trong những khác biệt quan trọng giữa hành động tập thể mạng và rất nhiều hành động tập thể ngoài mạng. Vì vậy loại cơ chế động viên kiểu như sự đồng nhất của phát triển đối với việc tổ chức phong trào xã hội mà sự đồng nhất chính trị hóa nói trên đưa ra hoàn toàn không thích hợp với việc giải thích hành động tập thể mạng. Vậy hành động tập thể mạng có tồn tại thứ cơ chế “động viên” đặc biệt khác không, và quá trình bên trong của nó thế nào? Đây là một vấn đề cần giải quyết khác.

Thứ ba, do tính ảo, tính nặc danh của vùng mà hành động tập thể phát sinh, tính tiện lợi của hình thức tham gia, nên đối với hành động tập thể mạng, đòi hỏi về năng lực của người tham gia tương đối thấp, chướng ngại tham gia hành động cũng ít hơn nhiều so với hành động tập thể ngoại tuyến. Nói cụ thể, chỉ cần có thể lên mạng, có điện thoại di động hay máy tính là có thể phát blog thể hiện quan điểm và sự phẫn nộ của mình, phần lớn dân mạng đều có năng lực và nguồn lực để tham gia vào trong đó, cảm giác về hiệu năng tương đối cao. Đối với số đông dân mạng, các thao tác như gửi, trả lời, chuyển phát thông điệp… hoàn toàn không cần tốn nhiều thời gian và tinh lực, chi phí mà hành động tham gia phải bỏ ra tương đối thấp, khả năng phát sinh tổn thất cũng rất nhỏ. Nói tóm lại, nỗ lực cần thiết để tham gia hành độngg tập thể mạng rất ít, giá phải bỏ ra cũng rất nhỏ. Nhưng, có năng lực tham gia và giá phải trả nhỏ không có nghĩa là người ta nhất định sẽ quyết định tham gia. Theo lý luận động viên nguồn lực, hành động tập thể là kết quả của sự lựa chọn lý tính công cụ, đồng thời với việc cân nhắc giá phải trả, người ta còn tính toán lợi ích thu được, chỉ khi lợi ích thu được lớn hơn cái giá phải trả người ta mới càng có khả năng tham gia hành động. Nhưng thành phần người tham gia hành động tập thể mạng phức tạp, rất khó xác định rành rẽ quần thể lợi ích, hơn nữa nhìn bề ngoài, yêu cầu lợi ích của hành động thường không cụ thể, rõ ràng. Vậy người ta chịu sự thúc đẩy của lợi ích nào mà tham gia vào trong đó? Nếu áp dụng lý tính công cụ trong lý luận động viên nguồn lực để phân tích hành động tập thể mạng thì cần giải thích lại vấn đề lợi ích mà người tham gia thu được.

(còn tiếp)

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2015 – 38, 39 & 40

Ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng – Phần I


Gao Wenjun, Chen Hao

Tóm tắt

Cùng với sự lưu hành các phương tiện truyền thông mạng mới như blog, hành động tập thể mạng khiến giới học thuật quan tâm. Lý luận về tước đoạt tương đối, đồng nhất xã hội và động viên nguồn lực trong nghiên cứu hành động tập thể truyền thống khó nắm bắt các đặc trưng như tính liên quan phi lợi ích, xúc cảm hóa cách biểu đạt… trong hành động tập thể mạng. Nghiên cứu này tham khảo những nguyên lý cơ bản của lý luận đồng nhất xã hội và xúc cảm liên quần thể, kết hợp với sự phân tích hành động tập thể mạng và các nghiên cứu thực chứng liên quan, đề ra ý tưởng lý luận về mô hình xúc cảm đồng nhất trong hành động tập thể mạng, phân biệt giữa đồng nhất tình huống và đồng nhất thông thường, phân tích tổ hợp đánh giá xúc cảm và chỉ tiêu đánh giá hiệu năng, chỉ rõ, con đường đồng nhất – đánh giá – xúc cảm – hành động là quá trình tâm lý cơ bản của sự phát sinh hành động tập thể mạng. Mô hình này có ý nghĩa quan trọng đối với nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực chứng về hành động tập thể cũng như đối với việc ứng phó và quản lý hành động tập thể mạng.

I/ Hành động tập thể mạng

Lâu nay hành động tập thể vẫn là vấn đề nóng trong nghiên cứu các lĩnh vực xã hội học, tâm lý học, chính trị học, sử học và kinh tế học, cùng với sự xuất hiện của thứ phương tiện truyền thông mới là Internet, lĩnh vực mà hành động tập thể phát sinh đã dần mở rộng từ ngoại tuyến (offline) tới trực tuyến (online), đặc biệt là cùng với sự phát triển nhanh chóng của blog, số lượng và quy mô hành động tập thể trong tuyến bắt đầu không ngừng mở rộng. Năm 2010 khi đường Giao Châu – Thượng Hải xảy ra hỏa hoạn đặc biệt lớn, mấy vạn người dùng mạng đã tham gia thảo luận blog, cầu phúc ai điếu, đánh giá phản ứng của chính quyền và truy vấn trách nhiệm, còn đến năm 2011 khi xảy ra sự cố giao thông đường sắt đặc biệt nghiêm trọng trên tuyến Dũng Đài Ôn thì đã có hơn 29 triệu blog tương quan quan tâm đến sự phát sinh và phát triển của sự kiện. Đồng thời những sự kiện gây bàn luận blog trên quy mô lớn cũng không chỉ bó hẹp ở các sự cố tai nạn, mà các sự kiện đời sống xã hội cũng gây ra nhiều trận bão mạng. Những sự truyền bá thông tin và thảo luận mạng quy mô lớn phát sinh trong một thời gian nhất định này có thể được hiểu là một thứ hành động tập thể mạng (online collective action). Hành động tập thể mạng là “nỗ lực có tính quần thể của dân mạng trong môi trường mạng hoặc chịu ảnh hưởng của truyền bá mạng, với số lượng nhất định và tương đối vô tổ chức, trước những ảnh hưởng hoặc kích thích chung nào đó”. Hành động tập thể theo ý nghĩa truyền thống được định nghĩa là bất kỳ hành động nào lấy việc cải thiện địa vị, quyền lực hoặc ảnh hưởng của cả quần thể (chứ không phải là cá nhân hay một số ít người) làm mục tiêu. Rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều đã từng từ giác độ của nhiều bộ môn như xã hội học, tâm lý học, chính trị học và sử học tiến hành giải thích về mặt lý luận cơ chế phát sinh hành động tập thể. Những giải thích lý luận này về đại thể bao gồm 3 cấp độ phân tích: 1) Cấp độ vĩ mô, quan tâm đến sách lược và lực lượng chính trị xúc tiến hoặc kiềm chế hành động tập thể; 2) Cấp độ trung mô, quan tâm đến các nhân tố tình huống phổ biến ảnh hưởng đến quần thể hoặc thành viên của quần thể; 3) Cấp độ vi mô, quan tâm đến phản ứng tâm lý cá thể trong quá trình hành động tập thể. Đặc biệt là ở cấp độ vi mô, một số lý luận kinh điển từng đi sâu tìm hiểu cơ chế tâm lý làm phát sinh hành động tập thể, nhưng khi giải thích hành động tập thể mạng, những lý luận này lại bộc lộ tính hạn chế. So với hành động tập thể ngoại tuyến truyền thống thì hành động tập thể mạng phát sinh trong không gian xã hội độc đáo là Internet này có sự khác biệt rất lớn. Thứ nhất, mức độ khó dễ của việc tổ chức và tham gia hai loại hành động tập thể không giống nhau. Sự phát sinh hành động tập thể truyền thống thường phải trải qua các khâu động viên, chiêu mộ, kích thích động cơ tham gia và loại trừ chướng ngại tham gia. Về phương thức động viên và chiêu mộ, sự phổ cập cao độ và lực lượng truyền bá đại chúng lớn mạnh của Internet khiến việc chiêu mộ người tham gia tương đối dễ, thông báo lên các website nổi tiếng là trong nháy mắt có hàng nghìn người đọc được và có thể rất nhanh thông qua mạng xã giao trực tuyến truyền bá tới hàng vạn, hàng triệu người. Về mặt chướng ngại tham gia, việc sử dụng blog, diễn đàn… giảm thiểu tối đa sự cản trở hành động tham gia, dân mạng có thể tham gia hành động tập thể bất cứ đâu, lúc nào, giá phải trả chỉ là mấy lần nhấn chuột, mấy lần gõ bàn phím. Vì vậy, so với hành động tập thể truyền thống, tổ chức và tham gia hành động tập thể mạng dễ hơn nhiều. Thứ hai, thành phần người tham gia hai loại hành động khác nhau. Sự dễ dàng trong việc tham gia hành động tập thể mạng khiến số người tham gia đông, thành phần phức tạp, không giới hạn ở một quần thể cụ thể nào đó giống như người tham gia hành động tập thể ngoại tuyến truyền thống. Cuối cùng, mục đích tham gia hành động tập thể không giống nhau. Mục đích của hành động tập thể ngoại tuyến phần lớn là để cải thiện tình trạng của quần thể yếu thế nào đó hoặc đề xướng tư tưởng nào đó, còn mục đích của hành động tập thể mạng thì nhiều hình nhiều vẻ, từ giúp đỡ quần thể yếu thế, quyên góp những người hảo tâm, đến truy cứu trách nhiệm, tìm sơ hở trong các chế độ để suy xét vấn đề đạo đức xã hội, đả kích tệ nạn xã hội. Sự tồn tại của những khác biệt này khiến cho việc đơn thuần ứng dụng một số lý luận kinh điển rất khó giải thích xác đáng cơ chế tâm lý của hành động tập thể mạng. Vì vậy bài viết này muốn phá vỡ sự hạn chế của mô hình lý luận trước kia, kết hợp với phân tích các sự kiện hiện thực và các nghiên cứu thực chứng đã có, điều chỉnh, mở rộng những nguyên lý cơ bản của lý luận về đồng nhất xã hội và xúc cảm liên quần thể, tiến hành tìm hiểu sâu cơ sở xúc cảm đồng nhất mà hành động tập thể mạng làm nảy sinh, mong cung cấp cho nghiên cứu thực chứng trong tương lai ý tưởng nghiên cứu và bộ khung lý luận mới.

II/ Hạn chế của lý luận hành động tập thể kinh điển trong việc giải thích hành động tập thể mạng

1/ Lý luận tước đoạt  tương đối

Lý luận tước đoạt tương đối (Relative Deprivation) cho rằng, chỉ có sau khi nảy sinh tri giác về tước đoạt tương đối, tức là sau khi tiến hành so sánh xã hội với những người cụ thể khác, cảm thấy những quyền lợi chính trị xã hội hoặc những lợi ích kinh tế nào đó mà mình đáng có bị tước đoạt, về chủ quan hình thành sự cảm nhận về bất công thì người ta mới có thể phát sinh hành động tập thể. Trên cơ sở lý luận này, nhà nghiên cứu tiến hành mở rộng và chi tiết hóa, một mặt làm rõ loại hình so sánh xã hội dễ xúc tiến hành động tập thể phát sinh, như kết quả một phân tích ban đầu cho thấy, chỉ khi thế yếu được nhận thức ở cấp độ quần thể chứ không phải ở cấp độ cá thể là bất công thì cảm giác bị tước đoạt nảy sinh mới có thể dự báo hành động tập thể. Mặt khác, làm tăng biến số xúc cảm liên quần thể để phân tích nguyên nhân và quá trình cảm giác bị tước đoạt gây ra hành động tập thể. Người ta thường không đơn thuần cảm nhận thấy sự bất công xã hội ở cấp độ nhận thức, mà thường đi kèm với sự gọi dậy tình cảm ở mức độ nhất định, còn thứ khiến người ta tham gia hành động tập thể thì chính là tình cảm nảy sinh do tự thân quần thể bị đối xử bất công. Thí dụ, có nghiên cứu phát hiện, sự hổ thẹn và phẫn nộ nảy sinh ở công dân Mỹ và Anh do nước mình chiếm đóng Iraq gây ra ở họ ý nguyện kháng nghị. Tương tự, còn có nghiên cứu xác nhận, tình cảm phẫn nộ và oán hận hình thành trên cơ sở thân phận quần thể sẽ thôi thúc họ tham gia hành động tập thể.

Nói chung, lý luận tước đoạt tương đối chủ yếu quan tâm đến vai trò quan trọng của biến số bất công trong hành động tập thể. Nhưng một vấn đề trong đó là, việc giải thích sự cảm nhận về tước đoạt tương đối có phần quá rộng, bất kỳ xã hội nào dường như đều tồn tại hiện tượng bất bình đẳng và kỳ thị xã hội, nhưng tuyệt nhiên không vì vậy mà đều bùng phát hành động tập thể, chỉ dựa vào cảm nhận về bất công rõ ràng không thể nào dự báo chuẩn xác về hành động tập thể. Lý luận đồng nhất xã hội ở mức độ nhất định đã giải quyết được vấn đề này.

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2015 – 38, 39 & 40

Giá trị bản thân – Phần cuối


Tuy đến nay chưa có quan niệm thật tường minh về lương tâm cũng như trong thực tiễn chưa có sự hoàn thiện, hoàn mỹ, nhưng mọi người có thể sống có lương tâm bằng “giá trị bản thân”” theo các mức độ khác nhau. Hành xử theo lương tâm sẽ có một xã hội lành mạnh, an sinh xã hội được bảo đảm, con người mới thực hiện được quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Trong cuộc sống, quan niệm về sống, về tự do, về hành phúc ở mỗi người, mỗi thời, mỗi chính thể một khác với nhiều cấp độ, nhiều dạng thức, nhưng có thể khẳng định, sống tự do, hạnh phúc của từng cá nhân không bao giờ tách khỏi cộng đồng, xã hội. Dưới góc độ của triết lý “giá trị bản thân”, cuốn sách khẳng định: bằng giá trị bản thân, từng người tự làm cho mình hạnh phúc, và làm cho người khác và cộng đồng hạnh phúc dù hạnh phúc đó là nhỏ bé hay lớn lao.

Như vậy, giá trị bản thân tích cực là các giá trị do tự mình tạo ra để tự bảo đảm cho cuộc sống tốt đẹp của bản thân và gia đình, cộng đồng, để có thể làm những việc có ý nghĩa cho mình và cho xã hội, khi đó mới có hạnh phúc thật. Từ đó có thể kết luận: giá trị bản thân chính là bản chất (self-nature) của con người. Cũng có thể nói, giá trị bản thân là bản sắc của từng người (self-identity). Có giá trị bản thân mới có thể thực sự “tự thể hiện mình” (self-identification), “tự khẳng định mình” (self-determination), là một giá trị tâm lý, tinh thần rất đặc trưng của con người. Con người luôn luôn có năng lực và nhu cầu thể hiện bản thân tùy theo những cách thức khác nhau, mức độ khác nhau, tùy lứa tuổi, giới tính, hoàn cảnh. Trong thời đại công nghệ thông tin có thể thể hiện mình bằng nhiều cách, như việc có cá nhân cho rằng cứ nói được trên mạng xã hội, như mạng Faceboo là bản thân đã được thể hiện. Quan điểm đó cũng có ý đúng nếu tiếng nói đó phát huy được giá trị bản thân, để thể hiện đời sống, cách sống của chính mình, và đóng góp, cống hiến cho gia đình, cộng đồng, xã hội. Thang giá trị bản thân cống hiến gọi là giá trị đóng góp đó là các giá trị ở bậc cao. Hai bậc giá trị “sống còn” và giá trị “thể hiện mình” đều có ý nghĩa đáng kể với cuộc sống, cùng với các giá trị ở bậc cao hơn, đó là giá trị “đóng góp”, “cống hiến”… cho gia đình, cộng đồng, dân tộc, nhân loại (xem hình 5). Mức độ cống hiến cccó thể khác nhau, hình thức đa dạng, kết quả, mức độ và thời gian được công nhận cũng không giống nhau, nhưng giá trị “cống hiến” đều đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu cao, sự dấn thân, đam mê, say sưa quên mình của con người. Nhìn nhận con người, đánh giá các thành viên trong tập thể hay cộng đồng thường theo giá trị “đóng góp” và “cống hiến” cho cộng đồng đó. Nhưng mặt khác, sự cống hiến hay đóng góp đó được hay không, nhiều hay ít,… là còn tùy thuộc rất nhiều vào cộng đồng xã hội, các chính sách của quốc gia đó.

Tháp giá trị bản thân được xây dựng từ những điều trình bày ở trên, nói vắn tắt, theo luận điểm hiện thực biện chứng: giá trị bản thân là giá trị sống của từng người, do người đó tự tạo dựng, tự phát huy trong những điều kiện thực tế, nói lên sự gắn quyện, gồm: (1) Giá trị sinh thể và giá trị tâm thể, (2) Giá trị vật chất và giá trị tinh thần, (3) Giá trị cá thể và giá trị cộng đồng, xã hội, (4) Giá trị nhận và giá trị cho, (5) Giá trị tồn tại và giá trị bản chất, (6) Giá trị loài cùng giá trị dân tộc, trong sự vận động giữa bản năng và ý thức, vô thức, tiềm thức và ý thức, tự ý thức, bằng cả con đường nhận thức lý trí và trực giác, qua trải nghiệm, vận động trong cuộc sống thực tiễn. Các bài trước đã đề cập đến các cặp giá trị. Nói chung lại, từ giá trị sinh thể đến các giá trị tâm thể gắn quyện vừa thống nhất nhưng cũng có lúc mâu thuẫn, tạo nên giá trị sống còn mà trong tâm lý học thường nói đây là mối quan hệ giữa cái sinh vật và cái xã hội trong hệ giá trị bản thân. Ở con người bình thường trong điều kiện bình thường, cái sinh vật và cái xã hội không tách biệt nhau, ví dụ, ăn bằng đũa gọi là “”văn hóa đũa”, bản năng dinh dưỡng, và bản năng bảo toàn nòi giống là hai bản năng khởi thủy đều mang tính xã hội, trong triết học gọi là bản năng ý thức hóa, khi vượt qua ngưỡng “xoắn thừng”. Cũng có thể thấy giá trị sinh thể là cơ sở vật chất của các giá trị hoạt động (vui chơi, nhận thức, lao động, nghỉ ngơi…), có hoạt động để bảo đảm giá trị sinh tồn, có hoạt động thể hiện bản thân và các giá trị ở tầm cao, có thể nói, các giá trị ở tầm cao đều có cơ sở là giá trị sống còn, giá trị sống còn vừa mang tính chất của giá trị sinh thể vừa mang tính chất của giá trị tâm thể. Hai sợi thừng xoắn cũng là ranh giới giữa bản năng và ý thức – ranh giới giữa tính tích cực và tính tiêu cực (giá trị và phản giá trị) của các giá trị bản thân với tính xã hội giữ vai trò chủ đạo.

Giá trị: trong tài liệu nước ngoài có hai tác giả người Mỹ trong mục “giá trị học ngày nay”, Clare Graves và Don Beck có một bảng xếp tám giá trị theo màu để dễ khảo sát – không gọi là “Giá trị bản thân” và chưa xếp thành thang giá trị bản thân, tuy các giá trị đều là “Tôi…”. Tám giá trị “Tôi” của hai tác giả như sau: (1) Tôi tồn tại (màu be): các động lực sinh vật và cảm nhận vật lý; (2) Tôi tin (màu tía): niềm tin của tôi; (3) Tôi kiểm soát (màu đỏ): có sức mạnh đủ kiểm soát và hơn người; (4) Tôi thích (màu xanh): phục tùng người trên, tuân theo luật lệ; (5) Tôi đạt thành tựu (màu da cam): dùng các nguồn lực đạt kết quả; (6) Tôi chia sẻ (mày xanh lá cây): quan tâm đến người khác, cuộc sống nhân văn; (7) Tôi học (màu vàng): tự lập, biết mình (self-knowledge), giá trị bản thân (self-worth), thích nghi với cuộc sống; (8) Tôi quan hệ (màu xanh lam): quan hệ nói chung, trong đó có quan hệ với môi trường. Bảng liệt kê này có thể vận dụng vào tìm hiểu hệ giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị và định hướng giá trị. Hai tác giả xếp tám giá trị “Tôi” theo nhứ tự:

8/ Tôi quan hệ,

7/ Tôi học,

6/ Tôi chia sẻ,

5/ Tôi đạt thành tựu,

4/ Tôi thích nghi,

3/ Tôi kiểm soát,

2/ Tôi tin,

1/ Tôi tồn tại.

4/ Tính xã hội trong giá trị bản thân

Nói về yếu tố xã hội trong mục “giá trị bản thân”, có hai phía: Thứ nhất, một phía thuộc về chủ thể, tính xã hội, trách nhiệm xã hội tác động như thế nào đối với hệ giá trị ở từng người…, trong các giá trị bản thân. Nền giáo dục của chúng ta có thể đóng góp vào việc này: nhà trường, gia đình, xã hội phải đoạn tuyệt triết lý giáo dục hư văn, khoa cử, ứng thí và quán triệt triết lý thực học, thực nghiệp, giúp mỗi người học mang lại cho mình các giá trị bản thân, hình thành và phát triển năng lực có ích cho mình và thực sự có tính xác hội thì mới hy vọng đổi mới toàn diện và căn bản nền giáo dục nước nhà, như Đại hội XI của Đảng (năm 2011) vừa quyết định. Hy vọng rằng, quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo chuyển mình theo tinh thần đó, và toàn xã hội, nhất là các vị phụ huynh học sinh, sinh viên, các thế hệ học sinh, sinh viên phấn đấu theo hướng đó, phải thật sự đoạn tuyệt tâm lý khoa cử. Bản thân người học phải phấn đấu theo hướng hình thành, phát huy giá trị bản thân. Đồng thời, xã hội, cộng đồng có tôn trọng giá trị của con người không, có tạo điều kiện giáo dục – đào tạo thuận lợi cho các thành viên theo hướng vừa nói không, có tạo điều kiện để con người phát triển bền vững không, có chế độ, chính sách phát triển tài năng không, có trọng dụng nhân tài không… là phụ thuộc vào chế độ, chính sách phù hợp để trọng dụng người tài, để sử dụng tốt được nguồn lực trí tuệ của dân tộc, nhất là thế hệ trẻ. Nếu không có câu trả lời thỏa đáng thì ngay việc hình thành giá trị bản thân vẫn còn rất nhiều khó khăn. Vận dụng những bài học quý báu từ xa xưa của cha ông ta về việc trọng dụng hiền tài vào công cuộc đổi mới, nguồn nhân lực nước ta sẽ được chú trọng hơn, đội ngũ trí thức được trọng dụng, giữ vai trò thiết yếu, góp phần cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nước nhà giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chúng ta có ý chí cách mạng, có quyết tâm chính trị, có giá trị truyền thống, nếu phát huy được trí tuệ của dân ta, tài năng của con người Việt Nam, cũng như “giá trị bản thân” của từng người Việt Nam, nhất định thực hiện được “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” – ba giá trị quốc gia, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra cùng với quốc hiệu nước nhà sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngày nay vẫn là những đòi hỏi bức xúc. Như vậy, các giá trị của từng người luôn gắn liền với xã hội, thành “vốn người”, “vốn xã hội”, trong hệ giá trị của cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Giá trị bản thân thông thường bao gồm một số giá trị, như đã trình bày, ta gọi là hệ giá trị của một con người bao gồm giá trị cá thể, giá trị cá nhân và giá trị nhân cách, đều phải mang tính xã hội, và muốn phát huy đạt hiệu quả, nhất thiết cần một môi trường giá trị xã hội thuận lợi. Tính xã hội càng cao, phục vụ xã hội càng nhiều, giá trị bản thân càng có trọng lượng, nhân cách càng cao.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.