Tại sao lại là con người ? – Phần I


Sự sống thông minh ở một hành tinh sẽ được coi là trưởng thành khi nó lần đầu tiên tìm ra nguyên do cho sự tồn tại của mình. Nếu một sinh vật thượng đẳng từ vũ trụ ghé thăm Trái đất, để đánh giá trình độ nền văn minh của chúng ta, câu hỏi đầu tiên họ sẽ hỏi là : « Họ đã khám phá ra quá trình tiến hóa chưa ? ». Sự sống đã tồn tại trên Trái đất hơn 3000 triệu năm mà không hiểu vì sao chúng tồn tại, trước khi một trong số chúng ta tìm ra lời giải đáp. Người đó chính là Darwin. Công bằng mà nói, trước Darwin đã có những hiểu biết qua loa về sự thật này, nhưng chính Darwin mới là người đầu tiên tập hợp thành một bản tổng kết logic và chặt chẽ lý do tồn tại của chúng ta. Darwin giúp chúng ta có thể đưa ra câu trả lời hợp lý cho câu hỏi của những đứa trẻ tò mò đặt ra ở đầu bài. Chúng ta cũng không còn phải viện dẫn đến những điều mê tín dị đoan khi đối mặt với các vấn đề khó giải thích như : « Cuộc sống có ý nghĩa gì không ? » ; « Chúng ta tồn tại vì cái gì ? » ; « Con người là gì ? ». Sau khi đặt ra câu hỏi cuối cùng trong số các câu hỏi vừa rồi, nhà động vật học nổi tiếng, G.G. Simpson, đã viết : « Tôi muốn chỉ ra rằng tất cả những cố gắng để giải đáp cho câu hỏi đó trước năm 1859 đều không có giá trị và nếu chúng ta lờ hẳn những quan điểm đó đi, chúng ta sẽ thấy thoải mái hơn ».

Ngày nay, thuyết tiến hóa đang xuất hiện nhiều nghi ngờ giống như thuyết Trái đất quay quanh Mặt trời. Nhưng, nếu như giả thuyết Trái đất quay quanh Mặt trời được thấu hiểu hoàn toàn thì nhiều ẩn ý trong cuộc cách mạng của Darwin vẫn chưa được nhận thức rõ ràng, rộng rãi. Động vật học vẫn là một môn học nhỏ trong các trường đại học và thậm chí cả những sinh viên theo học môn này cũng thường đăng ký học mà không nhận thức được ý nghĩa triết học sâu sắc của nó. Triết học và các môn học thuộc khối nhân văn hầu hết vẫn được giảng dạy như thể Darwin chưa bao giờ tồn tại. Chắc chắn rằng, điều này sẽ thay đổi theo thời gian. Tu nhiên, trong bất cứ hoàn cảnh nào, nội dung này được viết không phải để ủng hộ tích cực cho chủ nghĩa Darwin, thay vào đó, nó sẽ ứng dụng các hệ quả của thuyết tiến hóa vào một vấn đề cụ thể, đó là xem xét bản chất sinh học của tính vị kỷ và tính vị tha.

Ngoài khía cạnh học thuật, vai trò của điều này đối với con người cũng rất rõ ràng. Nó chạm đến mọi khía cạnh trong đời sống xã hội của chúng ta : tình yêu và thù hận, đấu tranh và hợp tác, cho đi và trộm cắp, lòng tham vào sự hào phóng. Những khẳng định này đáng nhẽ phải được dùng làm cơ sở cho các cuốn sách Về tính hiếu chiến của Lorenzt, Khế ước xã hội của Ardrey và Tình yêu và thù hận của Eilb-Eihesfeldt. Trong tất cả các cuốn sách này, các tác giả đã hoàn toàn sai lầm khi bàn đến các khía cạnh xã hội. Họ sai bởi vì họ đã không hình dung đúng quá trình tiến hó. Họ đã đưa ra một giả định hoàn toàn nhầm lẫn khi cho rằng điều quan trọng trong quá trình tiến hóa đó là đặc tính tốt của loài (hay một nhóm cá thể) chứ không phải là đặc tính tốt của một cá thể (hay gen của cá thể). Điều buồn cười là Ashely Montagu đã phê phán Lorenz – hậu duệ của các nhà tư tưởng theo trường phái « tự nhiên, máu đỏ, nanh và vuốt » thế kỷ 19. Theo tôi, quan điểm của Lorenz về tiến hóa cũng giống như quan điểm của Ashley, cả hai đều gạt bỏ những hàm ý trong cụm từ nổi tiếng của Tennyson. Khác với họ, tôi cho rằng cụm từ « Tự nhiên, máu đỏ, nanh và vuốt » đã tổng kết súc tích những hiểu biết hiện nay của chúng ta về chọn lọc tự nhiên.

Trước khi bắt đầu đưa ra lập luận của mình, tôi muốn giải thích ngắn gọn kiểu lập luận mà tôi sẽ đưa ra và những kiểu lập luận mà tôi không đề cập tới. Giả sử rằng, khi nhắc đến một người đàn ông đã từng sống lâu và giàu có trong xã hội gangster ở Chicago, chúng ta có thể dự đoán phần nào kiểu tính cách của người đàn ông ấy. Chúng ta có thể nghĩ người đàn ông đó có những phẩm chất như mạnh mẽ, bắn súng nhanh, và có khả năng thu hút những người bạn trung thành. Đấy có thể không phải là suy luận luôn đúng, nhưng bạn có thể đưa ra những kết luận về tính cách của người đàn ông đó nếu như bạn biết một vài điều về nơi anh ta đã tồn tại và phát triển. Tranh luận của tôi về việc con người cũng như tất cả các động vật khác, đều là những cỗ máy được hình thành nên từ bộ gen. Giống như những gã gangster thành đạt ở Chicago, bộ gen của chúng ta đã sống sót, nhiều trường hợp là hàng triệu năm, trong một thế giới đầy cạnh tranh. Và như vậy, chắc chắn gen của chúng ta có những đặc tính tốt nhất định. Tôi cũng sẽ thuyết phục các bạn rằng đặc tính nổi trội để một gen có thể tồn tại trong tự nhiên đó là tính vị kỷ, vị kỷ đến mức tàn nhẫn. Tính vị kỷ của gen sẽ luôn làm tăng tính vị kỷ trong tập tính của cá thể. Tuy nhiên, chúng ta cũng sẽ thấy có những trường hợp đặc biệt trong đó một gen chỉ có thể biểu hiện tính vị kỷ của nó tốt nhất bằng việc tăng cường một giới hạn của tính vị tha ở mức độ cá thể. Hai từ « đặc biệt » và « hữu hạn » chính là hai từ rất quan trọng trong câu trên. Mặc dù chúng ta có lẽ sẽ muốn tin vào điều ngược lại, nhưng tình yêu bao la và sự bảo vệ các loài nói chung chỉ là những khái niệm chẳng có ý nghĩa gì trong quá trình tiến hóa.

Điều này đưa tôi quay trở lại điểm xuất phát, tôi muốn làm rõ những điều mà cuốn sách này không đề cập đến. Tôi không có ý định rao giảng đạo đức dựa trên quá trình tiến hóa. Tôi chỉ nói về cách mà sự vật tiến hóa. Tôi cũng không đề cập đến việc con người phải cư xử thế nào cho có đạo đức. Tôi nhấn mạnh điều này, bởi vì tôi biết tôi đang ở trong tình trạng dễ bị hiểu lầm bởi những người, mà thực ra là quá nhiều, không thể phân biệt được câu nói tin rằng trường hợp đó sẽ xảy ra với một lời bao biện trường hợp đó phải là như thế này. Tôi cảm thấy rằng xã hội loài người nếu đơn thuần chỉ dựa trên quy luật vị kỷ đến tàn nhẫn của gen có thể là một xã hội đầy ô trọc mà chúng ta đang sống. Tiếc rằng, cho dù chúng ta có phàn nàn điều gì, thì sự phàn nàn đó cũng không thể làm xã hội đó biến mất. Tôi viết nghiên cứu này để tạo sự hứng thú cho bạn đọc, nhưng nếu bạn có thể rút ra được bài học đạo đức nào từ đây, hãy xem nó như một lời cảnh báo. Nên nhớ rằng nếu bạn, cũng như tôi, mong muốn xây dựng một xã hội mà ở đó các cá thể hợp tác với nhau một cách rộng lượng và vô tư để hướng tới những điều tốt đẹp chung, thì bạn có thể học tập được từ sinh vật trong tự nhiên. Hãy cùng giảng dạy tính rộng lượng và lòng vị tha bởi vì chúng ta là những kẻ vị kỷ bẩm sinh. Hãy để chúng ta hiểu gen vị kỷ phụ thuộc vào điều gì, sau đó chúng ta có thể có cơ hội cải tạo nó, một điều mà chưa một loài động vật nào từng khao khát thực hiện.

Như là một hệ quả của những điểm trên, chúng ta cũng nhận thấy sẽ là sai lầm khi cho rằng các tính trạng di truyền là cố định và không thể thay đổi theo định nghĩa, không may đây lại là sai lầm thường gặp. Gen của chúng ta có thể quy định tính vị kỷ, nhưng chúng ta không nhất thiết phải tuân theo quy định đó suốt đời. Thực ra việc tiếp thu lòng vị tha sẽ khó hơn một chút so với việc chúng khi chúng ta đã có sẵn những gen quy định lòng vị tha. Khác với động vật, con người được đặc trưng bởi văn hóa và bởi những ảnh hưởng được học và được truyền đạt. Có người nói rằng văn hóa rất quan trọng và gen dù là vị kỷ hay không thì cũng không liên quan đến sự am hiểu về bản chất con người. Cũng có người sẽ không đồng ý với điều đó. Việc đồng ý hay không đồng ý đều phụ thuộc vào việc bạn đứng trên lập trường nào trong cuộc thảo luận về vấn đề « tự nhiên hay giáo dục » là nhân tố quyết định các thuộc tính của con người. Điều này cũng dẫn tôi đến điều thứ hai mà cuốn sách này không đề cập đến : cuốn sách không phải là một lời biện hộ cho lập trường này hay lập trường khác trong cuộc tranh luận vai trò của tự nhiên với giáo dục. Tất nhiên, tôi có chính kiến của riêng mình, nhưng tôi sẽ không trình bày ở đây trừ một vài ngụ ý trong thảo luận về vai trò của văn hóa mà tôi sẽ trình bày. Nếu gen hoàn toàn không liên quan đến sự hình thành hành vi của con người hiện đại, nếu chúng ta thực sự đặc biệt trong giới động vật trên khía cạnh này, thì ít nhất việc nghiên cứu tỉ lệ khác biệt cũng rất thú vị. Trong trường hợp loài người không phải là ngoại lệ như chúng ta thường nghĩ, chúng ta càng cần phải tìm ra quy luật tiềm ẩn trong đó.

Điều thứ ba mà cuốn sách này sẽ không đề cập đến : cuốn sách sẽ không miêu tả cụ thể hành vi ứng xử của con người hoặc tập tính bất kỳ của một loài động vật cụ thể nào. Tôi sẽ chỉ sử dụng các dẫn chứng thực tế trong các ví dụ minh họa. Và tôi cũng không nói « Nếu bạn để ý đến tập tính của khỉ đầu chó » bạn sẽ thấy vị kỷ ; do đó, sự thay đổi trong hành vi của con người cũng có thể là vị kỷ ». Logic trong lập luận của tôi về « gã xã hội đen Chicago » thực ra không phải như vậy, mà là con người và khỉ đầu chó đã tiến hóa nhờ chọn lọc tự nhiên. Khi bạn xem xét cách thức tác động của chọn lọc tự nhiên, bạn sẽ tìm ra mọi thứ tiến hóa do chọn lọc tự nhiên tạo nên đều vị kỳ. Do đó, chúng ta phải lường trước được rằng khi xem xét tập tính của khỉ đầu chó, hành vi của con người hay tập tính của các loài sinh vật khác, chúng ta sẽ thấy tất cả những hành vi đó là vị kỷ. Và nếu chúng ta nhận thấy sự kỳ vọng đó không đúng, nếu chúng ta phát hiện ra hành vi ứng xử của con người thực sự đầy tính vị tha, và như vậy chúng ta sẽ đối mặt với một vài điều khó hiểu và cần được giải thích.

(còn tiếp)

TH : T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo : Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Advertisements

Giá trị dân tộc Việt Nam – Phần cuối


Ở một vị trí địa chính trị khá đặc biệt, lại tiếp giáp với một nước lớn, đất nước ta đã phải sống trong cảnh đô hộ, nước ta nhiều lần bị đe dọa diệt vong và chiến tranh liên miên. Về địa lý tự nhiên thì rừng núi hiểm trở, bão tố, sông nước…, cho nên dần dà tạo nên giá trị thích nghi để bảo tồn sống còn (nay là giá trị độc lập tự chủ, bảo toàn lãnh thổ, lãnh hải, không phận), đồng thời phải cải thiện đời sống, cải tiến cách trồng trọt,… cứ thế tạo nên giá trị sáng tạo. Giá trị thích nghi và sáng tạo cũng như giá trị bảo tồn sống còn vẫn luôn là giá trị quan trọng trong tinh thần người Việt và dân tộc Việt Nam, thể hiện cả trong cuộc sống thường ngày lẫn khi có sự kiện trọng đại. Vì vậy cần biết quản trị, lãnh đạo, vận dụng theo chiều hướng tích cực để tạo nên sức mạnh lớn lao, giữ gìn được non sông, phát triển được đất nước, bắt đầu từ từng con người, từng cộng đồng, và cả xã hội.

Gắn liền với giá trị bảo tồn sống còn là giá trị chăm chỉ làm ăn, hay như dân ta thường nói “chịu thương chịu khó”, “cần cù”. “Chăm chỉ làm ăn” là giá trị phổ biến ở đại đa số người Việt, nhưng chưa thật thường xuyên, đều đặn ở mọi nơi, mọi lúc, mọi giai tầng.

Giá trị hiếu học gắn liền với sự hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc ta từ rất xa xưa cho đến ngày nay. Theo nghiên cứu kết quả học tập của học sinh lớp 9 theo chương trình PISA của Cộng đồng châu Âu (EU) năm 2012 – 2013, sự quan tâm của phụ huynh đối với việc họ của con em ở Việt Nam được đánh giá vào loại cao nhất.

Với các đặc điểm về cư dân, địa lý, thiên nhiên, xã hội của nước ta đã hình thành và phát triển giá trị tình nghĩa là cốt lõi của triết lý nhân văn của người Việt Nam, thấm vào mọi mối quan hệ xã hội trong đời sống ngày nay.

Gắn kết với gia đình, cộng đồng và đất nước là giá trị bảo đảm sự tồn tại của tộc người, cũng như từng cá thể, cá nhân người, phát triển nhân cách con người và thực hiện vai trò của cá thể người với cộng đồng người và trách nhiệm với chính bản thân. Vấn đề trung tâm của tâm lý học giá trị và giáo dục học giá trị là góp phần chuyển các giá trị dân tộc thành “vốn liếng”, thành “giá trị cá nhân” của từng người, để mỗi người Việt Nam khi mang trong tâm hồn bảy giá trị dưới các hình thức biểu hiện khác nhau, dù ở đâu, địa phương nào, trong nước hay nước ngoài, đều có thể tự hào và được tôn trọng bởi những giá trị cao đẹp của cả cộng đồng người Việt và dân tộc Việt Nam.

4/ Giá trị cá nhân

Con người ở cấp độ thành viên xã hội gọi là “cá nhân” (person). Giá trị học nghiên cứu các giá trị xã hội nhằm đi đến phát triển các “giá trị cá nhân”. Con người sống trong xã hội, là thành viên của một dân tộc, với những đặc điểm về kinh tế – xã hội, chính trị, pháp luật, tâm lý xã hội (phong tục, tập quán…), chính sách của nhà nước hay cộng đồng,… cùng với đặc điểm thiên nhiên nhất định có ảnh hưởng tới tâm lý cá nhân với mức độ khác nhau. Nhưng tựu trung lại, trong mỗi con người luôn có tâm lý dân tộc, với cốt lõi là hệ giá trị dân tộc. Một bên là là xã hội và thiên nhiên xung quanh, một bên là cá nhân con người có mối quan hệ qua lại, nhất là từ phía xã hội. Ý thức con người, trong đó có giá trị cá nhân, nảy sinh trong các mối quan hệ này. Con người lớn lên trong một quá trình mà tâm lý học gọi là quá trình “xã hội hóa” (hình 3)

Hệ giá trị dân tộc là bộ phận trọng yếu trong “sức mạnh mềm” của từng quốc gia, dân tộc ở sức lan tỏa tới các thành viên: các giá trị dân tộc chuyển thành các giá trị cá nhân. GS Nguyễn Văn Huyên là người đầu tiên nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ dân tộc học, góp công đầu vào việc xây dựng tâm lý học dân tộc, đồng thời gợi ý về các giá trị của cá nhân con người Việt Nam thời kỳ đó. Trong tác phẩm Văn minh Việt Nam, chương “Chủng tộc Việt”, mục “Loại hình tinh thần”, sau khi nêu lên các mặt yếu kém do nền sản xuất nông nghiệp và tâm lý làng xã mang lại, tác giả nêu những ưu điểm của người Việt. Ông nêu đức tính cần cù; kiên nhẫn; đức hy sinh vì sự nghiệp lớn; và cuối cùng là tinh thần dũng cảm. Ông giải thích: “có khả năng kháng cự lâu dài, trong những điều kiện thiếu thốn tệ hại nhất, chống lại các lực lượng mạnh hơn về số lượng và chất lượng”. Nhận xét này rút ra từ lịch sử đấu tranh của nhân dân ta trong lịch sử, và vận dụng cả vào lịch sử đương đại Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến trường kỳ.

Các giá trị cá nhân của người Việt Nam theo Nguyễn Văn Huyên

Cần cù,

Kiên nhẫn: chịu khó, chịu đựng,

Hy sinh vì sự nghiệp lớn,

Dũng cảm.

GS Nguyễn Văn Huyên đặt dấu nhấn vào giá trị là “chịu khó, chịu đựng” thành đức tính dũng cảm của những con người nô lệ, lầm than. GS Trần Văn Giàu điểm tới giá trị “thương người” là một giá trị nhân văn ở nước ta là một giá trị tinh thần truyền thống, nhưng cho đến thời đại Hồ Chí Minh, các giá trị mới phát huy tác dụng rộng rãi đối với người nghèo, người nô lệ, sống trong cảnh đất nước bị chia cắt… chiếm đại đa số trong nhân dân. Tư tưởng của hai giáo sư đóng góp lớn vào di sản giá trị học Việt Nam, nhiều nhà khoa học thế hệ chúng tôi đã và đang lĩnh hội, tiếp nối phát triển.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị dân tộc Việt Nam – Phần XVI


3/ Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam

Giáo sư Trần Văn Giàu (1911 – 2010) là người đặt nền móng đầu tiên cho giá trị học Việt Nam, và cũng là cho tâm lý học dân tộc Việt Nam. Từ nửa sau những năm 1970, ông bắt đầu viết Giá trị tinh thần truyền thống dân tộc Việt Nam, xuất bản năm 1980, tái bản lần thứ nhất năm 1993. Trong “Lời nói đầu”, GS Trần Văn Giàu đã chỉ ra, người cách mạng chân chính là người hết sức coi trọng và gắn bó với lịch sử dân tộc; nghiên cứu các giá trị tinh thần truyền thống để góp phần xây dựng con người “sâu gốc bền rễ trong lịch sử dân tộc”, bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là sứ mệnh của tâm lý học dân tộc Việt Nam. Nói “giá trị truyền thống” là các giá trị được gây dựng từ thời Văn Lang, qua nhiều thế hệ, qua các thời kỳ lịch sử đấu tranh chống đồng hóa, giành độc lập chủ quyền, dựng xây đất nước và truyền lại tới nay thành “giá trị hiện đại”, làm nên “hồn thiêng dân tộc” của lịch sử nước nhà.

Các nhà nghiên cứu nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 chung quy lại đều là nghiên cứu về “giá trị”, “giá trị tinh thần”, tức là chủ yếu dưới góc độ giá trị học. Cuốn sách này tiếp nối GS Trần Văn Giàu đi vào giá trị học, và qua đó đi đến hiểu con người Việt Nam, chẳng những góp phần xây dựng tâm lý học dân tộc, nhân học văn hóa Việt Nam. GS Trần Văn Giàu xác định, giá trị là “cái tốt phổ biến, cơ bản, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức luân lý, có cả tác dụng hướng dẫn nhận định và hướng dẫn sự hành động, thì mới mang danh là giá trị truyền thống…, là những nguyên lý đạo đức lớn của một dân tộc”.

GS Trần Văn Giàu nói đến thang giá trị, là “sắp xếp một cách cứng nhắc những cái tự nó không có thứ bậc”, đồng thời phải công nhận rằng cuộc sống lịch sử của dân tộc đã sắp xếp, có “giá trị của giá trị” – giá trị căn bản, phổ biến, giá trị đỉnh cao của các đỉnh cao, giá trị nền tảng của sinh hoạt tinh thần của nhân dân qua tất cả các thời kỳ – đó là giá trị “yêu nước”, “chủ nghĩa yêu nước”. Như vậy, thang giá trị mang tính khách quan. Thang giá trị gồm tất cả 7 giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, trong đó giá trị yêu nước là giá trị đứng đầu.

Hệ giá trị dân tộc Việt Nam,

Yêu nước,

Cần cù,

Anh hùng (gắn liền với yêu nước),

Sáng tạo,

Lạc quan,

Thương người,

Vì nghĩa – theo lẽ phải.

Các giá trị này, đủ để cho dân tộc ta “sinh tồn tự do và vinh dự”, cũng phù hợp với giá trị chung của nhân loại, được cả loài người đều quý trọng. Đó là những giá trị bền vững mà nhà trường cùng gia đình và xã hội có nhiệm vụ lưu truyền cho thế hệ trẻ tiếp thu, phát triển và phát huy. Trong bảy giá trị đó, “tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam; “cần cù” là giá trị lao động quý báu, là một đặc điểm nổi bật nhất trong “tình người”, tạo nên mọi nền văn minh – văn hóa trên đời này, là động cơ và nguyên nhân đầu tiên và hàng đầu làm nên thành công của con người và của dân tộc; “anh hùng” là “dũng cảm xuất sắc, chính nghĩa và có lý tưởng”. Với dân tộc ta, giá trị “anh hùng” bao gồm cả tính kiên trì, tinh thần bất khuất, chịu đựng gian khổ, đã chiến thắng bao kẻ thù hung hãn, lực mạnh hơn ta nhiều lần và xây dựng đất nước. Về giá trị “sáng tạo”, Giáo sư đã công nhận, tuy nhiều thế kỷ, sự sáng tạo của người Việt Nam bị cản trở, nhưng lịch sử Việt Nam là lịch sử sáng tạo, vẫn có tinh thần phê phán các “Đạo”, “Giáo”, các ý đồ của bọn xâm lược bằng hành động đấu tranh gìn giữ các giá trị dân tộc, và từ đó, không thể phủ nhận kết luận: “dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc lạc quan”, như GS Trần Văn Giàu tổng kết. Giá trị “thương người” là kết tinh đời sống tinh thần ngàn đời, về sau hòa nhập với chữ “nhân” của Nho giáo và “từ bi” của Phật giáo, gần đây được cách mạng nâng lên thành giá trị truyền thống mới: thương người, thương dân. Giá trị “nghĩa” là tinh thần trach nhiệm với quốc gia, tổ tiên, người đời và với chính mình. GS Trần Văn Giàu kết luận, đó là giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc ta, đã góp phần tạo lập nên quốc gia, dân tộc từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên cho đến lịch sử đương đại chúng ta đang sống ngày nay.

Tác phẩm của GS Trần Văn Giàu là một công trình khoa học lớn đầu tiên về giá trị học Việt Nam, nói lên ngọn nguồn sức mạnh phi thường của nhân dân ta trong công cuộc dựng nước và giữ nước, nhất là nửa sau thế kỷ XX, đưa Việ Nam lên đài vinh quang, ngày càng có uy tín, có vị thế trên trường quốc tế, khu vực và thế giới. Để góp phần nghiên cứu vấn đề này, trên đây chúng tôi đã minh họa cụ thể lịch sử hình thành, phát triển, phát huy các giá trị dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở đó, chúng tôi bước đầu thử đề xuất một đúc kết bảy hệ giá trị dân tộc mới sau đây:

+ Tính cách dân tộc, tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc, lòng yêu nước,

+ Thích nghi và sáng tạo,

+ Bảo tồn sống còn,

+ Chăm chỉ làm ăn,

+ Hiếu học,

+ Tình nghĩa,

+ Gắn kết gia đình với cộng đồng, đất nước.

Bảy giá trị này là cốt lõi của bản sắc văn hóa Việt Nam, nền tảng tinh thần của lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc ta, cũng là nền tảng tinh thần của xã hội Việt Nam đương thời.

Tính cách dân tộc, tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc, lòng yêu nước có thể gộp lại thành một giá trị nguồn cội làm nên giá trị dân tộc, cũng có thể phân biệt bốn giá trị này một cách rạch ròi, tuy rằng không đơn giản. Dưới góc độ tâm lý học dân tộc, thường có chủ điểm “tính cách dân tộc” là nét tâm lý đặc trưng của các cá nhân thuộc dân tộc, chẳng hạn, theo nhiều người, cả trong nước và ngoài nước nhận xét mặt tích cực của người Việt Nam nói chung là có tính cởi mở, tươi cười, dễ gần, dễ tiếp xúc, tiếp thu nhanh… Qua lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển dân tộc, chúng tôi nói lên vai trò của giá trị tinh thần dân tộc và ý thức dân tộc. Nói đơn giản rằng, tính cách dân tộc là tính chất, đặc điểm tinh thần, như chí khí quật cường, bất khuất, tinh thần chịu thương chịu khó… Tính cách của mỗi người Việt có thể mang dấu ấn của tính cách dân tộc. Tinh thần dân tộc là một sự gắn bó ở một mức độ nào đó với cội nguồn dân tộc như yêu thích một câu ca dao, một truyện cổ tích, một sự tích oai hùng, tôn thờ một thần tượng dân tộc. Tâm lý đó có thể từ cộng đồng đến với cá nhân, và từ từng cá nhân, cộng đồng thành giá trị tinh thần của cả dân tộc, tạo nên sức mạnh dân tộc không bị đồng hóa dưới mọi ách đô hộ. Tinh thần dân tộc phát triển lên một tầng bậc cao hơn là ý thức dân tộc trong đó có thái độ đó với sự tồn vong, hưng thịnh của dân tộc, lòng tự hào dân tộc, nâng thành sức mạnh dân tộc và đấu tranh giành độc lập dân tộc. Như vậy, đỉnh cao của ý thức dân tộc là lòng yêu nước, là đóng góp, cống hiến cho sự phát triển của đất nước, và khi cần, có thể xả thân giữ nước. Trong thời đại ngày nay, chính chúng ta và thế hệ trẻ mai sau vẫn cần phải suy tôn và phát huy giá trị này để góp phần, bảo vệ và xây dựng đất nước. Đó là bài học lịch sử vô cùng quý giá trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị dân tộc Việt Nam – Phần XV


+ Thuyết duyên khởi, còn gọi là thuyết nhân duyên nói lên các mối quan hệ và điều kiện tác động qua lại trên đời này. Từ đây sinh ra thuyết nhân quả, luân hồi, tạo nên “tinh thần” (danh) và thể xác (sắc) tiếp xúc với ngoại giới, tạo nên tình cảm tâm lý (ý). Đây là một thuyết triết học phức tạp bởi chúng ta vẫn quan niệm luật nhân quả vận dụng vào đạo đức: làm điều phúc sẽ được phúc, làm điều xấu sẽ gặp họa, nhưng vận vào triết lý nhân sinh theo một khía cạnh luân hồi nghiệp báo là một vấn đề còn cần phải nghiên cứu kỹ.

+ Thuyết ngũ uẩn về vũ trụ, xuất phát từ 4 nguyên tố lớn – đất, nước, gió, lửa, có 5 uẩn: sắc uẩn (thế giới vật chất), thụ uẩn (cảm giác), tưởng uẩn (tưởng tượng), hành uẩn (hành động), thức uẩn (nhận thức, ý thức, tâm thức – tâm lý). Đạo Phật cũng như các tôn giáo khác, rất coi trọng các giá trị tinh thần, tâm lý, nhưng lại phủ nhận linh hồn.

Đi đến các giá trị ấy qua phương pháp “thiền” tĩnh tâm, hướng thiện là một phương pháp phổ biến. Tĩnh tâm, hướng thiện, truyền bá các giá trị từ bi, hỉ xả, bác ái – đây là giá trị đặc trưng của Phật giáo mang lại cho tâm lý dân ộc các giá trị đạo đức: lương thiện, hiền hậu, chia sẻ với mọi người, tôn trọng, yêu thương con người, nhiều người trong các thời đại khác nhau đã tiếp thu và phát huy giá trị “từ bi” đức độ, ưa trọng cuộc sống an bình để đi đến giác ngộ, tỉnh táo, sáng suốt. Các trạng thái tâm lý này luôn trong sự vận động theo phép biện chứng “sắc – không” (tồn tại và không tồn tại), chuyển hóa cho nhau; “tâm và pháp” là quan hệ giữa tâm thức và khách quan; giữa Phật và chúng sinh: Phật và đời. Xưa kia, đặc biệt là từ thời Lý, Phật giáo ảnh hưởng lớn từ triều đình, dần dần đi sâu vào quần chúng nhân dân lao động. Trong thế kỷ XX, nhiều ngôi chùa đã là địa điểm, căn cứ của cách mạng và kháng chiến, nhiều nhà sư đã trở thành nhà hoạt động cách mạng. Triết lý nhân văn của đạo Phật đã thấm sâu vào các giá trị dân tộc, thành một thành phần trong bản sắc Việt Nam. Ngoài ra, Phật giáo đặt ra nhiều vấn đề đặc trưng cho khoa học tâm lý – giáo dục. Vì vậy, tâm lý học dân tộc cần nghiên cứu kỹ và hiểu thấu đáo để vận dụng vào giảng dạy và nghiên cứu các khoa học nhân văn nước ta, cũng như vào việc giáo dục thế hệ trẻ.

Tam giáo là các triết thuyết, giáo lý đến với dân ta theo con đường chính thống – qua sách vở, nhà trường, nhà chùa, thầy và các nhà sư, theo thời gian đến cả nghìn năm, để lại dấu ấn rõ nét trong tâm thức nhiều người, thành nếp sống, nếp nghĩ, khái quát lên thành giá trị dân tộc.

Ngoài ra, còn một kênh khác được gọi là văn học dân gian – ca dao, tục ngữ… – khởi phát bằng phương cách truyền miệng, đúc kết kinh nghiệm, trải nghiệm, phong tục đời sống của chính người dân, của cộng đồng (địa phương, vùng miền) sau mới được ghi lại thành văn, phản ánh khá trung thực ước mong, tâm trạng, các bài học về triết lý nhân sinh, truyền cho người đương thời và cả các thế hệ tiếp nối. Tâm lý học dân tộc nói chung, tìm hiểu các giá trị dân tộc nói riêng, không thể nào bỏ qua văn học dân gian, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan: suy tư, cách sống và lối sống, tính cách dân tộc, tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc và cốt lõi là các giá trị dân tộc.

2/ Di sản văn hóa Việt Nam được UNESCO công nhận

Các nước trên thế giới từ xưa đến nay đã công nhận dân tộc Việt Nam có một nền văn hóa – văn minh riêng. Các nhà nghiên cứu văn học dân gian phần nào làm rõ được sự phong phú của văn hóa dân tộc Việt Nam qua các công trình của Đào Duy Anh với tác phẩm Việt Nam văn hóa sử cương (năm 1938), Nguyễn Văn Huyên với tác phẩm Văn minh Việt Nam (viết năm 1938, xuất bản năm 1944)… đã góp phần giới thiệu trong tinh thần khiêm tốn nhưng đầy tự hào dân tộc. Cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI, Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) chính thức công nhận Việt Nam có 15 di sản văn hóa thế giới, ghi nhận sự đóng góp của dân tộc, đất nước Việt Nam vào văn minh nhân loại. Các di sản đã được công nhận là:

2 di sản thiên nhiên thế giới:

+ Vịnh Hạ Long được công nhận năm 1994 và năm 2000.

+ Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận năm 2003.

5 di sản văn hóa thế giới:

+ Quần thể di tích Cố đô Huế được công nhận năm 1993.

+ Phố cổ Hội An năm 1999.

+ Thánh địa Mỹ Sơn năm 1999.

+ Di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long năm 2010.

+ Thành nhà Hồ năm 2011.

8 kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại:

+ Nhã nhạc cung đình Huế năm 2003.

+ Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên năm 2005.

+ Dân ca quan họ Bắc Ninh và Bắc Giang năm 2009.

+ Ca trù năm 2009.

+ Hội Gióng đền Phù Đổng năm 2010.

+ Hát Xoan năm 2011.

+ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương năm 2012.

+ Đờn ca tài tử Nam Bộ năm 2013.

4 di sản tư liệu thế giới:

+ Mộc bản triều Nguyễn năm 2007.

+ Bia đá Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám năm 2010.

+ Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm năm 2012.

+ Châu bản triều Nguyễn năm 2014.

1 di sản thế giới hỗn hợp:

+ Quần thể danh thắng Tràng An.

Sự kiện UNESCO công nhận một số kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể đã là tiếng nói chính thức của thế giới công nhận các giá trị Việt Nam. Trong đó, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” là kiệt tác phi vật thể, từ lâu đã thành giá trị sống của người Việt. Như vậy, nền văn hóa – văn minh Việt Nam có lịch sử lâu đời, rất phong phú, đa dạng, trong đó có một số công trình văn hóa vật thể và phi vật thể bước đầu đã được một tổ chức văn hóa thế giới ghi nhận chính thức. Văn hóa Việt Nam ngày càng hội nhập với văn hóa nhân loại, vùng Đông Nam Á và các nước trên thế giới.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị dân tộc Việt Nam – Phần XIV


+ Văn hóa Bắc Sơn (Lạng Sơn là nơi phát hiện các di chỉ), tồn tại cùng thời và gần gũi với văn hóa Hòa Bình, cũng lấy đá cuội về chế tác công cụ đá. Khác với cách chế tác công cụ đá của văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn dùng đá ghè hai mặt, có rìu to hơn, có rìu nhỏ hơn, có bàn mài Bắc Sơn chứng tỏ có kỹ thuật mài; sản xuất nông nghiệp, săn bắt và hái lượm…

Trải qua hơn nghìn năm Bắc thuộc, đất nước ta đã chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Trung Quốc, như chữ viết, văn hóa, giáo dục, quan hệ xã hội – chính trị… Nhưng một dòng chủ lưu của văn hóa Việt là chống chính sách đồng hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc, chiến đấu giành và gìn giữ nền độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước, khẳng định sự tồn tại và phát triển rực rỡ của các giá trị dân tộc.

Thời kỳ Trung đại, văn hóa ở các thời Lý, Trần, Nguyễn là những nền văn hóa nổi bật và phát triển, thể hiện sâu sắc bản sắc dân tộc và các giá trị dân tộc tiêu biểu.

+ Nhà Lý (thế kỷ XI) mở đầu thời phục hưng các giá trị tinh thần dân tộc, trước hết thể hiện ở vai trò của các nhà sư đối với triều đình, tiêu biểu là thiền sư Vạn Hạnh, là người tôn sùng đạo Phật, chăm lo xây chùa, dựng tháp (đến nay còn 19 di tích: chùa Một Cột ở Hà Nội, chùa Phật tích ở Bắc Ninh, chùa Long Đọi ở Hà Nam…); đồng thời dung hòa với Nho giáo và Đạo giáo (xây dựng Văn miếu ở Thăng Long, năm 1195 mở khoa thi “Tam giáo”). Văn học Việt Nam đã ghi nhận vai trò của dòng văn học chữ Hán chủ yếu do các nhà sư sáng tác, nói lên triết lý nhân sinh, thấm đượm tính nhân văn và lòng yêu nước. Nhà Lý hết sức coi trọng các giá trị dân tộc: đưa thần Trống Đồng – biểu tượng của văn hóa Đông Sơn về thành Thăng Long, dựng đền thờ Hai Bà Trưng ở Thăng Long,… kế thừa và nuôi dưỡng, phát huy, phát triển tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia, dân tộc trong đời sống xã hội.

+ Nhà Trần tiếp tục theo đường lối “Tam giáo đồng nguyên”. Đặc biệt, vua Trần Nhân Tông lên ngôi vua năm 1278 nhưng sớm nhường ngôi cho con và làm Thái thượng hoàng năm 1293, đồng thời sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm: “tu tại tâm” – “Tâm tức Phật, Phật tức Tâm”. Đây là Phật giáo Đại Việt, mang bản sắc riêng của dân tộc Việt, thể hiện tính nhân bản cao. Đồng thời, nền giáo dục thời Trần vẫn tiếp tục dạy và mở khoa thi “Tam giáo”.

Cho đến ngày nay, tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” (Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo cùng tồn tại) vẫn còn ảnh hưởng với các mức độ khá nhau trong tâm thức nhiều người dân nước ta. Trong các giá trị dân tộc Việt Nam có giá trị bắt nguồn sâu xa từ “Tam giáo”, có thể coi các giá trị này trong khuôn khổ của giá trị truyền thống hay giá trị truyền thống được hiện đại hóa. “Giáo” thường được hiểu là “tôn giáo”, cũng còn nghĩa nữa là “triết học” – triết lý nhân sinh. Nho giáo và Đạo giáo từ Trung Quốc truyền vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc, Phật giáo một phần từ Ấn Độ, một phần từ Trung Quốc vào Việt Nam. Ở đây trình bày ngắn gọn “Tam giáo” vận dụng vào giá trị học là đã mang tính đúc kết, phần nào góp phần xây dựng, phát huy hệ giá trị Việt Nam – thành phần cốt lõi của bản sắc Việt Nam.

Trước hết, nói về Nho giáo (chữ “Nho” trong tiếng Trung Quốc gồm chữ “Nhân” và chữ “Nhu”, ý nói “đạo đức”, “nhân từ”, “nhân nghĩa”). Cuốn sách không đi vào lịch sử hình thành và phát triển Nho giáo của Khổng Tử (551 – 479 TrCN) xây dựng nên mà tập trung vào bốn tác phẩm là Tứ thư và ảnh hưởng của Khổng giáo đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam. Nhiều công trình nửa sau thế kỷ XX nói lên ảnh hưởng của Khổng giáo đối với sự hưng thịnh xã hội Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á. Tóm tắt bốn tác phẩm cho thấy triết lý giáo dục Khổng Tử là triết lý giáo dục nhân văn, nhất là coi trọng giá trị đạo đức và giá trị giáo dục, những giá trị không thể thiếu đối với sự phát triển con người và xã hội (“cái gì ta không thích thì đừng bắt người khác theo”, “dạy không biết chán, học không biết mỏi” – học suốt đời, ở ta vun đắp thành giá trị truyền thống hiếu học: rất quan tâm, đầu tư vào học tập – học hành), để lại quan điểm giáo dục là làm sao giáo dục được con người hình thành lên năm giá trị: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nói khái quát hơn, học vấn và đạo đức là hai giá trị giáo dục phải đạt tới; đặc biệt, hết sức coi trọng giá trị quan hệ người – người, dần được nâng lên giá trị cộng đồng (giá trị nhân nghĩa, tình nghĩa), gần đây trở thành giá trị tôn ti trật tự, là một giá trị có tác dụng tích cực đối với công cuộc chấn hưng xã hội Đông Á và một số nước Đông Nam Á (vận dụng nhiều vào chính trị, xã hội). Nho giáo đi vào dân chúng, nhất là giai cấp phong kiến cầm quyền và giới trí thức và trở thành một tôn giáo. Theo tư tưởng Hồ chí Minh, chủ nghĩa Marx không bác bỏ những tư tưởng của Khổng giáo, như “trung, hiếu”, nhưng đã áp dụng những tư tưởng đó theo nội dung mới: “trung với nước, hiếu với dân”, là giá trị lý tưởng cao đẹp nhất của con người, suốt đời theo đuổi các giá trị căn bản: cần, kiệm, liêm, chính, tình nghĩa. Bắt đầu từ “hiếu với cha mẹ” là giá trị quý báu ai cũng phải giữ gìn dù theo chủ nghĩa nào; phải khiêm tốn học hỏi, quý con người, trọng nhân tài… Như vậy, từ Khổng giáo, chúng ta tiếp thu được giá trị giáo dục (giá trị học vấn, giá trị hiếu học), giá trị đạo đức (mỗi thời một nội dung), giá trị quan hệ người – người, là nền tảng của các giá trị nhân văn theo tinh thần của thời nay.

Đạo giáo (“đạo” theo nghĩa đen là “con đường”, “phương tiện”, “nguyên lý”, khởi đầu “đạo” được hiểu là cái “tự nhiên” vốn có trong trời đất hay con người) với người sáng lập là Lão Tử (604 – 531 TrCN), nên còn gọi là Lão giáo, và người có công đầu truyền bá là Trang Tử (khoảng năm 369 – 286 TrCN). Đạo giáo chủ trương sống hòa mình với thiên nhiên (tức là thuyết vô vi: không làm gì can thiệp vào tự nhiên), trường sinh theo thuyết âm dương – ngũ hành, luyện thân – tâm (khí công, thái cực quyền, huyền thuật), làm cho con người trở về với thiên nhiên (vũ trụ), vạn vật. Đạo là khởi thủy của vũ trụ và vạn vật và chứa đựng chính trong vũ trụ, vạn vật, từ đó sinh ra Âm – Dương, con người cũng được sinh ra từ đó, cho nên phải cốt giữ được đạođức. Đạo giáo cũng hết sức coi trọng giá trị tinh thần – đối tượng của giá trị học, ngoài ra, rất phù hợp với yêu cầu đề cao giá trị bảo vệ môi trường trong thời đại ngày nay. Triết học này được phổ biến vào dân chúng, được nhiều người tin theo và trở thành một tôn giáo. Ngày nay ít người coi Đạo giáo là một tôn giáo, nhưng một số đặc trưng của Đạo giáo vẫn được vận dụng vào cuộc sống như xem xét theo thuật tướng số con người, có khi cả vận mệnh quốc gia (như theo Kinh dịch trong ngũ kinh của Khổng giáo), nhất là luyện tập thân thế bằgn khí công, thái cực quyền. Như vậy, một giá trị có ý nghĩa thời đại mà Đạo giáo để lại là giá trị môi trường (quan hệ giữa con người với tự nhiên), rèn luyện thân thể và tâm trí (vấn đề tâm – thế).

Phật giáo là một tôn giáo có lịch sử lâu đời và rất phổ biến ở nước ta: “Chỉ rất ít người Việt Nam không tự cho mình là Phật tử”. Thời Lý – Trần, Phật giáo được coi là quốc giáo. Phật giáo cùng với Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Do Thái giáo, Cơ đốc giáo (Thiên chúa giáo)… là các tôn giáo lớn trên thế giới. Phật giáo hình thành từ khoảng thế kỷ thứ VI – thế kỷ thứ V TrCN (có các cách tính khác nhau ngày sinh của Phật năm 565 TrCN, 624 TrCN,…), tại Ấn Độ cổ, nay thuộc Rupandehi, gần biên giới phía nam Nepal. Người sáng lập tên đạo Phật là Siddhartha (có nghĩa là Người thành tựu) Guatama (họ mẹ), gọi là Thích ca Mâu ni hay Phật đà, Bụt đà, sau gọi tắt là Phật (có nghĩa là người giác ngộ chân lý) hay Bụt. Phật xuất gia tu hành từ năm 29 tuổi vì cảm thấy nỗi thống khổ của chúng sinh, lão, bệnh, tử, đi tìm giải thoát về tinh thần, tu tập thiền định, cuối cùng ngồi xếp bằng suy nghĩ “châm đế của nhân sinh”, đến năm 35 tuổi thì đắc đặc, bắt đầu thuyết giáo suốt 45 năm, hưởng thọ 80 tuổi.

Phật đạo từ bi và trí tuệ. Giáo lý cơ bản của Phật giáo gồm một số thuyết, như thuyết nỗi khổ, thuyết duyên khởi, thuyết ngũ uẩn. Các thuyết này đem đến các giá trị Đạo Phật và có ảnh hưởng sâu đậm trong dân ta nhiều thế kỷ nay.

+ Thuyết Nỗi khổ (Tứ đế) nói lên nỗi thống khổ trên cuộc đời (khổ); nguyên nhân của các nỗi khổ (Tập); cảnh giới để thoát khổ – hướng về Niết bàn (Diệt); con đường (Đạo) thực hiện lý tưởng của Đạo Phật bằng 8 loại “chính”: chính kiến (quan niệm đúng), chính nghĩ (tư duy đúng), chính ngữ (không nói dối), chính nghiệp, chính mệnh (đời sống chuẩn mực), chính tinh tấn (làm điều tốt, trừ điều xấu), chính niệm, chính định (tập trung tinh thần đúng đắn). Ngày nay, tâm lý học và giáo dục học có thể khai thác 8 con đường tu luyện bản thân có được các điều “chính” này, tức là tạo ra giá trị bản thân, từ suy nghĩ, đến hành vi (hành động), lời nói… phải được xác định rõ ràng và chính đáng, đúng đắn. Không nói về mặt tự nhiên – lịch sử – xã hội là các căn nguyên quan trọng bậc nhất về mặt tâm lý, đúng là chỉ có “chính mình” mới tạo ra được thanh thản, an bình trong tâm hồn theo một tâm thế, xu hướng nhất định, làm cơ sở cho hành động có kết quả. Nói vậy không có nghĩa đơn thuần thế giới nội tâm tự tại, mà người ta có được sự thanh thản trong tâm hồn bằng sự chăm chú, đam mê làm việc, như lao động chân tay hay lao động văn nghệ, khoa học…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị dân tộc Việt Nam – Phần XIII


+ Quang Trung – Vương triều Tây Sơn

Nguyễn Huệ (1753 – 1792) cùng anh trai là Nguyễn Nhạc ( ? – 1793) và em trai là Nguyễn Lữ (1754 – 1787) lãnh đạo khởi nghĩa Tây Sơn. Tổ thiên Nguyễn Huệ ở Nghệ An. Nguyễn Huệ xuất thân từ một gia đình làm nông nghiệp, nên được gọi là « anh hùng áo vải ». Chế độ chúa Nguyễn ở Đàng Trong (từ Quảng Ngãi đến Bình Định) vào nửa sau thế kỷ XVIII rất hà khắc, thuế khóa nặng nề, ba anh em Nguyễn Nhạc được nhân dân trong vùng hết lòng ủng hộ, dựng cờ khởi nghĩa vào năm 1771, lấy Tây Sơn làm căn cứ đầu tiên, giải phóng Tây Sơn, rồi phủ Quy Nhơn, chiếm thành Quy Nhơn (năm 1773) với khẩu hiệu « lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo ». Sau đó, một mặt, tiến quân vào chiếm đến Bình Thuận (sau bị quân nhà Nguyễn đánh chiếm lại), mặt khác, tiến ra đánh chiếm Quảng Ngãi, Quảng Nam. Quân Tây Sơn phải giao tranh với cả quân Trịnh (từ bắc vào) cả quân Nguyễn ở vùng từ Quảng Nam tới Phú Yên, có khi đánh vào tận Sài Gòn, Gia Định và vùng lân cận, khi được khi thua. Năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng vương. Nhà Nguyễn ở Đàng trong dưới sự chỉ huy của Nguyễn Ánh bị thất thế, phải cầu viện quân Xiêm (Thái Lan). Từ năm 1782 – 1784, quân Xiêm đem 5 vạn quân tiến công sang xâm chiếm 6 tỉnh miền tây Gia Định. Quân Tây Sơn vẫn giữ vùng đất phía đông Gia Định. Đầu năm 1785, Nguyễn Huệ đem 2 vạn thủy quân vượt biển vào, lấy Mỹ Tho làm sở chỉ huy, với sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, mở trận quyết chiến ở Rạch Gầm, Xoài Mút (hai nhánh sông Mỹ Tho) đánh bại quân Xiêm và quân Nguyễn Ánh vào tháng Giêng năm 1785. Giữa năm 1786, quân Tây Sơn chiếm thành Phú Xuân (Huế), sau đó tiến ra Bắc với khẩu hiệu « phù Lê diệt Trịnh », tiến thẳng về Thăng Long. Ngày 21/7/1786, Nguyễn Huệ chiếm được phủ chúa Trịnh, được vua Lê phong làm Nguyên soái và gả công chúa Ngọc Hân (con gái vua Lê Hiền Tông). Ba anh em phân chia lãnh địa (Nguyễn Huệ được giao từ đèo Hải Vân ra Bắc), bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nặng nề.

Ở Thăng Long, vua Lê tỏ ra bất lực, bất tài, lập lại tình trạng vua Lê chúa Trịnh. Nguyễn Huệ khi rút quân về Phú Xuân, tình hình phức tạp, Nguyễn Huệ đích thân cầm quân ra Thăng Long. Tại đây ông đã tranh thủ nhiều sĩ phu nổi tiếng, trong đó có Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803), cử giữ các chức quan trong triều, củng cố quyền lực. 20 ngày sau ông lại về Phú Xuân. Thăng Long hỗn loạn, Lê Chiêu Thống (1765 – 1793, trị vì 1786 – 1789) chạy lên Kinh Bắc (Bắc Ninh) rồi trốn vào Thanh Hóa…, đưa mẹ và con chạy sang Trung Quốc, cầu cứu nhà Thanh. Càn Long, vua nhà Thanh lợi dụng cơ hội, lấy danh nghĩa giúp nhà Lê, cử Tôn Sĩ Nghị, tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Tây và Quảng Đông) mang gần 49 vạn quân sang đánh nước ta.

Được Ngô Văn Sở cấp báo tình hình, ngày 22/12/1788 tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ làm lễ xuất quân (trước khi xuất quân, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế), 4 ngày sau ra đến Nghệ An, chiêu mộ thêm được 10 vạn quân, qua Thanh Hóa, hợp binh với quân Ngô Văn Sở tại Tam Điệp (Ninh Bình). Giương cao ngọn cờ yêu nước, được nhân dân khắp nơi ủng hộ, tại Tam Điệp, Quang Trung tuyên bố : «…Chỉ nội mưới ngày nữa ta cũng quét sạch giặc Thanh » và chỉ đạo hoãn ăn Tết Nguyên đán, tấn công theo 5 mũi vào Thăng Long. Mồng 3 Tết (ngày 28/1/1789), quân Nguyễn Huệ chiến thắng ở Ngọc Hồi (Thanh Trì, Hà Nội), đêm mồng 4, rạng sáng ngày mồng 5 Tết, diệt đồn Khương Thượng (Đống Đa), nhiều tướng lĩnh nhà Thanh tự tử. Quân Tây Sơn thừa thắng tiến vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị cùng tàn quân sống sót chạy về nước. Vậy là chỉ trong 5 ngày, nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy vô cùng tài tình với ý quyết chiến, quyết thắng đã đại thắng quân Thanh, giải phóng Thăng Long, giành lại độc lập cho Tổ quốc.

Vương triều Tây Sơn

Vương triều Tây Sơn là kết quả của phong trào Tây Sơn khởi đầu từ năm 1771, vẫn là một triều đại hong kiến. Đến năm 1786, ba anh em chia nhau mỗi người cát cứ một vùng : Nguyễn Nhạc đóng đô ở Quy Nhơn, xưng Trung ương Hoàng đế, ở ngôi vị 7 năm (1786 – 1793) ; Nguyễn Lữ đóng đô ở Gia Định, giữ được 1 năm (1786 – 1787) ; Nguyễn Huệ đóng đô ở Huế, năm 1788 lên ngôi Hoàng đế, tại vị 6 năm (1786 – 1792).

Quảng Toản nối ngôi, nhưng không tiếp nối được sự nghiệp của vua cha, không chống nổi quân Nguyễn Ánh. Với sự giúp đỡ của Pháp, Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định (1789), Bình Thuận (1790). Từ năm 1794 – 1798, quân Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn giao tranh nhiều lần ở các tỉnh Nam Trung Bộ, cuối cùng đánh chiếm Phú Xuân năm 1801 ; tháng 5/1802 chiếm được Thăng Long, Quang Toản cùng một số tướng lĩnh khác của quân Tây Sơn bị bắt. Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn rất tàn nhẫn. Vương triều Tây Sơn kết thúc. Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lập ra nhà Nguyễn.

Nhà Nguyễn – Thời kỳ độc lập thống nhất đất nước

Nhà Nguyễn vừa là thành quả của chiến thắng quân Tây Sơn, vừa là hệ quả của cuộc giao tranh Trịnh – Nguyễn kéo dài suốt hơn 2 thế kỷ. Các chúa Nguyễn trị vì ở Đàng Trong, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng (1525 – 1613), người có công lao mở mang bờ cõi, đóng góp vào xây dựng và phát triển xã hội trong vùng và cả nước. Đến năm 1802, khi Nguyễn Ánh lên ngôi, lập ra nhà Nguyễn đã chính thức mở ra một thời kỳ phát triển xã hội phong kiến trong phạm vi quốc gia độc lập, thống nhất trong 82 năm (1802 – 1884). Giai đoạn 1884 – 1945 triều đình nhà Nguyễn tồn tại như một chính quyền bù nhìn, nước ta lại lâm vào cảnh nô lệ lầm than.

Thời kỳ quốc gia độc lập thống nhất lần thứ hai về lãnh thổ, lãnh hải vẫn giữ như trước, nhưng là thuộc địa của Pháp trong 61 năm (1884 – 1945), nước ta bị chia ra ba kỳ theo ba chế độ nô lệ khác nhau, bị nhấn chìm trong tình trạng nghèo đói, ngu dốt, lạc hậu.

Tuy vậy, các giá trị tốt đẹp của dân tộc Việt Nam vẫn ẩn sâu trong tâm hồn nhân dân các tộc người sống trên đất Việt, tiêu biểu là các phong trào đấu tranh giành độc lập như phong trào Cần Vương, phong trào nông dân Yên Thế, phong trào trí thức cùng các tầng lớp nhân dân và các nhà cách mạng đầu thế kỷ XX. Đặc biệt từ năm 1930, Đảng Cộng sản Viẹt Nam ra đời đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh, thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc, cùng nhau đấu tranh giải phóng dân tộc, mở ra một thời đại hoàn toàn mới – thời đại Hồ Chí Minh.

IX/ Văn hóa, văn minh Việt Nam

1/ Văn hóa tiêu biểu thời kỳ cổ đại và trung đại Việt Nam

Các giá trị dân tộc được thể hiện phần nhiều qua nền văn hóa – văn minh bản địa của dân tộc đó. Nền văn hóa – văn minh bản địa do chính các tộc người sinh sống ở địa bàn đó tạo dựng nên. Các giá trị dân tộc Việt Nam do vậy cũng được các tộc người trên đất nước Việt Nam tạo dựng và phát triển. Nhắc đến văn minh, văn hóa Việt, ta thường nói tới các văn hóa – văn minh Đông Sơn, Hòa Bình, Bắc Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo, văn hóa thời Lý, thời Trần…

+ Văn minh Đông Sơn (Thanh Hóa) còn gọi là văn minh sông Hồng và sông Lam với đỉnh là vùng Phong Châu (Phú Thọ), là vùng “Đất Tổ” Hùng Vương của Nhà nước Văn Lang (Việt cổ) từ sơ kỳ đồng thau đến sơ kỳ đồ sắt. Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, ngành khảo cổ học đã phát hiện di cốt người cổ với trồng đồng, rìu lưỡi xéo, mũi giáo, lưỡi cầy, dao găm… Các trang trí trên trống: tượng người, cách mặc, nhà ở, đồ dùng gia đình, thuyền, giàn trống đồng – bộ gõ trong âm nhạc, múa… phản ánh một trình độ kinh tế – xã hội đã rất phát triển của một cộng đồng người với các mối quan hệ liên kết nhất định. Các tài liệu lịch sử ghi chép rằng, cư dân Văn Lang sống bằng nghề trồng lúa (văn hóa lúa nước), kết cấu xóm làng kiểu công xã nông thôn phương Đông. Có những nét văn hóa Đông Nam Á và nam Trung Quốc (trước Hán hóa).

+ Văn hóa Hòa Bình với niên đại cách đây khoảng 12000 – 4000 năm (cùng tuổi với văn minh nông nghiệp của nhân loại) ở thời đồ đá mới gọi là thời tiền sử, đại diện cho cả vùng bao gồm Sơn La, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình. Các di chỉ tìm thấy gồm công cụ ghè đẽo hai mặt, tinh xảo, công cụ cuội mài; di tích thực vật (di tích phấn hoa đã được thuần hóa)… phản ánh một trình độ nhất định của kinh tế nông nghiệp: biết lao động, săn bắt thú giữ làm thức ăn, biết đối tượng săn bắt và phân công lao động cũng như sử dụng kết quả lao động; đã có đời sống tinh thần phong phú, có quan niệm về người sống và thế giới người chết…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị dân tộc Việt Nam – Phần XII


+ Nhà Trần

Nhà Trần giữ quốc hiệu Đại Việt, lấy Thăng Long là kinh đô, trị vì được khoảng một thế kỷ rưỡi. Trần Cảnh (Trần Thái Tông), vua đầu tiên của nhà Trần, trị vì ít năm, rồi làm Thái thượng hoàng 19 năm. Trần Thủ Độ được phong giữ chức Thống quốc Thái sư năm 1226, sau giữ chức : Tể tướng, Tướng quốc Thái úy, tài lược hơn người, được mọi người suy tôn, nắm tất cả các quyền chính trị, quân sự. Khi nhà Lý suy tàn, Trần Thủ Độ gây dựng nhà Trần, tạo sự ổn định và phát triển đất nước.

Nhà Trần có nhiều tư tưởng tiến bộ : « quốc gia » chứ không phải « vua » là cao nhất, cùng lo cùng vui với đồng bào, áp dụng chế độ « Thái thượng hoàng » (chỉ làm vua một số năm rồi về làm cố vấn), giữ cho trong ngoài êm ấm. Nhà Trần đã củng cố hệ thống hành chính phong kiến tập quyền, coi trọng binh pháp và kỹ thuật quân sự, lập Giảng võ đường đào tạo sĩ quan cao cấp. Năm 1284, Trần Hưng Đạo viết Binh thư yếu lược làm tài liệu giảng dạy, phát triển kinh tế, văn hóa. Năm 1236, triều đình mở Quốc tử viện, năm 1281 lập Nhà học ở phủ Thiên Trường, đặt ra Tam khôi, lập Hàn lâm viện, Quốc sử viện do Bảng nhãn Lê Văn Hưu, sinh 1230 – mất 1322 đứng đầu, các nho sĩ bắt đầu được tham chính… Thời nhà Trần quân dân một lòng, lại đào tạo được nhiều tướng giỏi (Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư…), cả khí tài cũng nhiều tiến bộ, làm nên công lao vĩ đại với nước với dân, tiêu biểu là ba lần đại thắng quân Mông – Nguyên. Dân ta muôn đời nhớ ơn các vua nhà Trần và các vị tướng anh tài, dũng cảm, hết lòng bảo vệ giang sơn, đất nước, trong đó tiêu biểu là Trần Hưng Đạo (1228 – 1300), tên thật là Trần Quốc Tuấn, còn gọi là Hưng Đạo Vương, được dân ta phong là Đức Thánh Trần.

Sau đại thắng quân Mông – Nguyên (1288), qua bốn đời vua, đến năm 1329, 41 năm nhà Trần giữ được vương triều tiến bộ, đất nước độc lập, quốc thái dân an. Sau đó, vua quan, quý tộc ăn chơi phóng đãng, ngày càng suy đồi. Cuối thế kỷ XIV, nhà Trần suy yếu, quân Chămpa đánh tới tận Thăng Long. Năm 1382, nhà vua cử Hồ Quý Ly đem quân vào Thanh Hóa chống cự. Năm 1389, chúng đánh chiếm Thăng Long, chỉ cướp bóc rồi rút lui. Dân tính chán ngán, đói kém, oán giận triều đình, nhiều địa phương nổi lên khởi nghĩa, quyền thống trị của nhà Trần chuyển sang nhà Hồ.

+ Nhà Hồ

Trong tình hình cấp bách bị quân Chămpa đánh chiếm, năm 1394, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông (1321 – 1394) trước khi mất đã giao quyền cho Hồ Quý Ly (1336 – không rõ năm mất) – người giữ nhiều chức trong triều đình. Hồ Quý Ly lấy công chúa – con gái vua Trần Nghệ Tông, và gả con gái cho vua Trần Thuận Tông (trị vì 1389 – 1398), trở thành người có thế lực nhất trong triều đình. Năm 1400, Hồ Quý Ly bắt vua nhường ngôi, thiết lập vương triều Hồ, lấy quốc hiệu là Đại Ngu, ở ngôi vua một năm, rồi làm Thái thượng hoàng, nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương. Hán Thương ở ngôi 7 năm. Hồ Quý Ly là nhà cải cách lớn, có nhiều chính sách mới. Về đối ngoại, tình hình rất phức tạp : xung đột với Chămpa từ phía nam, từ phương Bắc, nhà Minh lăm le xâm lược. Nhà Hồ kiên quyết giữ vững chủ quyền quốc gia, cử Nguyễn Cảnh Chân sang sứ nhà Minh. Nhà Minh đã công nhận nhà Hồ và phong Hồ Hán Thương là « An Nam quốc vương », nhưng lại nêu chiêu bài « phù Trần diệt Hồ ». Năm 1406, quân Minh đem 10 vạn quân xâm lược nước ta, bị quân ta chặn đánh từ địa đầu biên giới đến Bắc Ninh và phải tháo chạy về nước. Sau đó nhà Minh quyết định chiến tranh xâm lược nước ta lần nữa. Nhà Hồ tích cực chuẩn bị kháng chiến. Cuối năm 1406, quân Minh với 80 vạn quân tiến sang. Nhiều trận đánh diễn ra ở nhiều địa phương nhưng vì lực lượng không cân xứng, lại không được nhân dân ủng hộ : « Quân của họ Hồ trăm vạn người trăm vạn lòng » (Nguyễn Trãi), tháng giêng năm 1407, quân Minh chiếm được Đông Đô, đến tháng 6 năm đó tiến vào Tây Đô. Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương rút vào Nghệ Tĩnh, lần lượt sa vào tay giặc. Cuộc kháng chiến chống Minh hoàn toàn thất bại. Đến năm 1413, quân Minh mới hoàn tất cuộc xâm chiếm nước ta và thực thi các chính sách đô hộ nước ta, tiếp tục âm mưu đồng hóa dân ta, hủy diệt văn hóa dân tộc ta (đốt hết sách), đổi tên Thăng Long thành Đông Quan, đổi tên nước ta thành Giao Chỉ, trà đạp thậm tệ danh dự cả một dân tộc và phẩm giá con người Việt Nam.

+ Khởi nghĩa Lam Sơn

Từ năm 1414, nhà Minh đô hộ nước ta. Suốt đến năm 1420, phong trào đấu tranh của nhân dân ta vẫn tiếp diễn ở nhiều nơi, cả các huyện phía Bắc, nhất là từ Thuận Hóa đến Thanh Hóa, nổi bật là ở Lam Sơn. Nghĩa quân Lam Sơn đứng đầu là Lê Lợi (1385 – 1433), mưu sĩ của Nguyễn Trãi (1380 – 1442), bắt đầu hoạt động từ năm 1418. Cuối năm 1424 bắt đầu một giai đoạn phát triển mới : tiến vào Nghệ An. Sau ba tháng giao tranh với quân Minh, nghĩa quân Lam Sơn phối hợp với hoạt động vũ trang của nhân dân địa phương giải phóng hoàn toàn Nghệ An, trừ thành Nghệ An vẫn do quân Minh chiếm giữ. Nghĩa quân Lam Sơn tăng từ 1000 lên 10.000 quân và lớn mạnh về chất lượng. Năm 1424 – 1425, nghĩa quân tiến vào phía nam, giải phóng đến Hải Vân, ra phía bắc giải phóng Thanh Hóa. Tháng 9/1426, nghĩa quân Lam Sơn với 10.000 quân tiến ra Bắc. Nghĩa quân đi đến đâu cũng được nhân dân hưởng ứng, ủng hộ lương thực, thực phẩm, cùng đánh giặc. Quân địch từ Nghệ An ra, từ Trung Quốc sang, tất cả đến 10 vạn, để bảo vệ Đông Quan. Chỉ trong vài ngày nghĩa quân phối hợp với lực lượng địa phương đã đánh bại hoàn toàn cuộc phản công với gần 10 vạn quân của Vương Thông. Đầu năm 1427, nhà Minh lại tiếp tục phái 15 vạn quân tiếp viện. Lê Lợi dùng chiến thuật « vây thành diệt viện », chỉ trong 27 ngày đánh bại hoàn toàn cánh quân 10 vạn viện trợ ở Chi Lăng, Liễu Thăng bị giết, ở Đồi Mả Ngô, Lương Minh bị chết tại trận ; tiếp đó đánh tan cánh quân 5 vạn tiếp viện thứ hai do Mộc Thạnh chỉ huy. Nhưng quân địch vẫn giữ được ba thành : Đông Quan, Tây Đô và Cổ Lộng. Vương Thông phản công định tháo lui về nước, nhưng không thành. Ngày 10/12/1427, hai bên thỏa thuận mở Hội thề Đông Quan, chấm dứt chiến tranh. Năm 1428, Vương Thông đem 10 vạn quân về nước. Sau 10 năm chiến đấu ngoan cường, khởi nghĩa Lam Sơn đã hoàn thành vẻ vang sứ mệnh giải phóng dân tộc.

Năm 1428, tại đình Bồ Đề, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo – bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc ta, áng thiên cổ hùng văn đã đi vào lịch sử và văn hóa dân tộc.

Việt Nam là nước văn hiến, có phong tục riêng là cơ sở tư tưởng chỉ đạo xây dựng tâm lý học dân tộc và giá trị học của chúng ta.

+ Nhà hậu Lê

Sau 10 năm kháng chiến, chấm dứt ách thống trị của phong kiến triều Minh, mở ra giai đoạn nước nhà độc lập dưới triều đại phong kiến tập quyền hậu Lê qua 99 năm (từ năm 1428 – 1527), dưới 12 đời vua. Từ Lê Lợi (Lê Thái Tổ), nhà hậu Lê từng bước xây dựng cung đình, đến đời vua thứ năm là vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497), Đại Việt được phục hưng rực rỡ về mọi mặt, là thời cực thịnh của vương triều hậu Lê. Tới đời vua cuối cùng thì suy yếu và cuối cùng bị triều Mạc thay thế năm 1527. Nội chiến Lê – Mạc, nội chiến Trịnh – Nguyễn xảy ra liên miên tạo nên hình thế vua Lê – chúa Nguyễn và vua Lê – chúa Trịnh, nhà hậu Lê tồn tại đến thời Quang Trung trị vì, tức là đến năm 1788.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.