Phân tích về chính sách hướng Đông của Nga – Phần VII


Hiện tại, quan hệ thương mại giữa Liên minh kinh tế Á – Âu và Trung Quốc cũng không đồng nhất. Một mặt, trong năm 2014 – 2015 thương mại giữa các quốc gia thành viên hội nhập Á – Âu và Trung Quốc sụt giảm mạnh về giá trị nhưng lại tăng về số lượng. Sự mất giá đồng nội tệ của những nước chủ chốt trong Liên minh kinh tế Á – Âu như Nga và Kazakhstan đóng vai trò tiêu cực. Mặt khác, cần phải tính đến những chỉ số liên quan hoàn toàn không phải sự sụt giảm khối lượng vật lý các mặt hàng xuất khẩu mà là sự sụt giảm giá trị hàng hóa và các sản phẩm sơ chế. Nếu lưu ý đến trọng tải ngoại thương, thì có thể nhận thấy những khuynh hướng tích cực: một số quốc gia thành viên Liên minh kinh tế Á – Âu (Armenia và Belarus) trong năm 2014 – 2015 đã rất thành công trong việc tăng kim ngạch thương mại với Trung Quốc lên nhiều lần. Nga tiếp tục dẫn đầu về khối lượng lưu thông hàng hóa trong số các quốc gia thành viên Liên minh kinh tế Á – Âu. Những nước như Armenia và Kygyzstan ít có quan hệ thương mại với Trung Quốc nhất.

Ngoài việc phát triển thương mại, các quốc gia Trung Á – Trung Âu cần phải xây dựng lại một cách hợp lý hệ thống hợp tác kinh tế xuyên biên giới. Đặc biệt có triển vọng là lĩnh vực năng lượng điện mà trong khuôn khổ thị trường chung năng lượng điện của Liên minh kinh tế Á – Âu sẽ được xây dựng vào năm 2019. Một khu vực bao phủ rộng lớn, số lượng lớn các cơ sở sản xuất điện và sự liên kết giữa ác quốc gia thành viên bảo đảm thị trường năng lượng điện hoạt động hiệu quả hơn. Thêm vào đó là giải quyết được các vấn đề cung cấp điện vào mùa Đông và mùa Hè tại Trung Á nhờ có sự hỗ trợ của thủy điện và năng lượng hạt nhân, thì triển vọng dường như rất lạc quan. Rất có thể ngay ở giai đoạn này cần phải nghiên cứu các khả năng kết nối thị trường chung phía Tây Trung Quốc có 22 triệu dân.

Điều quan trọng nhất là phải xác định được quy mô cùng phát triển trong khu vực, đó là mối tương quan giữa những con đường kinh tuyến Bắc – Nam có tuyến đường rộng lớn Đông – Tây. Hay nói cách khách, Con đường tơ lụa đã và sẽ đi theo hướng rộng lớn, đi vòng qua khu vực Siberi của Nga từ miền Nam và đến tuyến đường Orenburg hoặc ngoại ô Saratov. Vì vậy, phát triển giao thông liên lạc không chỉ cần đối với nước Nga (và có thể không chỉ chừng đó) để trung chuyển hàng hóa vào châu Âu, mà chủ yếu trước hết là nhằm củng cố mối quan hệ kinh tế – xã hội khu vực Siberi của Nga với các khu vực xuyên biên giới Trung Á – Trung Âu, đưa các cụm sản xuất nông nghiệp và công gnhệ cao gắn bó hữu cơ với nền kinh tế Á – Âu lớn. Trong bối cảnh đó, điều kiện then chốt là bổ sung cơ sở hạ tầng hiện nay, vốn có xu hướng mở rộng, bằng các nhánh kinh tuyến mà đến nay trên thực tế vẫn thiếu vắng.

Điều đặc biệt quan trọng không chỉ là phát triển giao thông liên lạc khu vực Siberi của Nga gắn với các khu vực Trung Á – Trung Âu mà còn nguồn cung của Nga các hàng hóa và dịch vụ công nghiệp, nông nghiệp và trí thức, bổ sung cho nhau cơ cấu thị trường và lưu thông hàng hóa trong khu vực. Về vấn đề này, Moskva có đóng góp to lớn vào dự án cùng phát triển Trung Á – Trung Âu khi đưa ra đề xuất sử dụng tiềm năng các cụm ở Siberi đã nói ở trên để phục vụ nhu cầu thiết yếu cho nền kinh tế khu vực xuyên biên giới. Ngoài ra, điều này còn cho phép đưa ngành xuất khẩu của Nga đến với các quốc gia trong khu vực ít định hướng về tài nguyên hơn và đưa ra khu vực không chỉ dầu mỏ, than đá, khí đốt, điện và gỗ mà còn danh sách sâu rộng các mặt hàng và dịch vụ nông nghiệp và công nghiệp.

Ngoài ra, những lợi thế tự nhiên cụ thể của các cụm Siberi (có số lượng điện khá lớn, các nguồn tài nguyên khoáng chất, nước và đất canh tác) đang trở thành những khoản đầu tư có lợi vào xây dựng các ngành sản xuất cần nhiều nước và thủy điện.

Trong khi đó cho phép xây dựng cấu trúc hài hòa và tối ưu hơn trong việc phân chia lao động trong khuôn khổ chung Trung Á – Trung Âu giữa khu vực Siberi của Nga với các khu vực của Trung Quốc, Kazakhstan, Iran và Ấn Độ. Cách tiếp cận này sẽ khiến cho các cụm của Siberi trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài từ khu vực châu Á – Thái Bình Dương như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore và từ châu Âu, cũng như đối với các nhà đầu tư trong nước.

Đặc biệt quan trọng là củng cố quan hệ hợp tác trong khuôn khổ chuỗi giá trị gia tăng giữa Nga và Kazakhstan. Ở đây, đóng vai trò quan trọng là tổ hợp luyện kim miền Nam Ural, từ lâu đã hợp tác chặt chẽ và hiệu quả với các nhà sản xuất nguyên liệu của Kazakhstan. Các sản phẩm luyện kim cũng có thể xuất khẩu sang các thị trường đang mở rộng của những quốc gia phía Nam khu vực.

Chương trình nghị sự

Tuy nhiên, một trong những vật cản hiện thực hóa sáng kiến kết nối có thể là sự khác nhau về thủ tục giấy tờ mang tính chất thể chế của Liên minh kinh tế Á – Âu và Vành đai Kinh tế Con đường tơ lụa, do đó cần xây dựng chương trình hành động chung để soạn thảo lập trường thống nhất. Do hạn chế về thẩm quyền, trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc, Ủy ban kinh tế Á – Âu giữ lập trường rất thụ động, bởi những đặc quyền của ủy ban này chỉ dẫn đến việc soạn thảo Hiệp định thương mại không ưu đãi với Trung Quốc. Có lý do cần phải suy nghĩ về việc mở rộng thẩm quyền cho Ủy ban kinh tế Á – Âu trong lĩnh vực đầu tư và vận tải để xây dựng những điều kiện soạn thảo cách tiếp cận thống nhất của các quốc gia thành viên đối với toàn bộ vấn đề kết nối và ngăn chặn những nguy cơ xuất hiện sự chệch hướng mang tính chất quốc phòng không phối hợp hợp tác với Trung Quốc. Việc tăng cường vai trò của Ủy ban kinh tế Á – Âu trong lĩnh vực vận tải cũng tuân theo sự cần thiết đặt nền móng để hợp tác vẫn tải – logistics  sâu rộng hơn nữa giữa các nước Liên minh kinh tế Á – Âu và các quốc gia khác, cũng như thúc đẩy tiến trình hội nhập Á – Âu trong lĩnh vực này. Trong khi đó, trong lĩnh vực phát triển hợp tác đầu tư, Ủy ban kinh tế Á – Âu đóng vai trò tích cực để giải quyết những vấn đề bảo vệ quyền nhà đầu tư và bảo đảm nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh việc ủy thác thẩm quyền, trong khuôn khổ Liên minh kinh tế Á – Âu, Ủy ban kinh tế Á – Âu cần thành lập Ủy ban Liên chính phủ hoạt động thường xuyên giống như một diễn đàn đối thoại và tổ chức giải quyết tất cả các vấn đề mang tính kỹ thuật trong lĩnh vực hợp tác với Trung Quốc. Một cấu trúc tương tự cũng có thể được coi như khuôn khổ hợp tác cấp phó Thủ tướng phụ trách hội nhập Á – Âu. Có thể suy nghĩ về việc thành lập thể chế phối hợp thường xuyên về những vấn đề hội nhập quan trọng ở cấp đại sứ.

Một thể chế chung rất quan trọng, bởi việc kết nối Liên minh kinh tế Á – Âu và Vành đai kinh tế con đường tơ lụa không chỉ liên quan tới lĩnh vực thương mại, hợp tác giữa các bên, mà còn hiện thực hóa những chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng khác nhau. Lý tưởng nhất là sáng kiến thực hiện hài hòa hóa luật pháp một phần các quy định kỹ thuật và thừa nhận lẫn nhau các chuẩn mực kỹ thuật. Điều này đòi hỏi phải giải quyết được vấn đề điều tiết và bảo vệ đầu tư trong lĩnh vực di cư lao động và bảo vệ xã hội để bảo đảm những điều kiện đi lại của công dân, và trong tương lai cần phải xây dựng Tòa trọng tài mới. Một chương trình nghị sự nhiều kế hoạch đến như vậy đòi hỏi phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và nền tảng kỹ thuật, phối hợp cẩn thận các khả năng của mỗi bên. Thủ tục giấy tờ thể chế kết nối Liên minh kinh tế Á – Âu và Vành đai kinh tế Con đường tơ lụa nhằm giải quyết tất cả các vấn đề này. Khuôn khổ hiệp ước lớn Liên minh kinh tế Á – Âu và Trung Quốc là quyết định pháp lý quốc tế thành công nhất, nó cho phép lưu ý tối đa đến những ưu tiên của từng quốc gia “bộ năm” và đồng thời mở rộng lĩnh vực hợp tác của Liên minh kinh tế Á – Âu và Trung Quốc theo những phương hướng mà đến nay vẫn chưa đưa vào lĩnh vực điều tiết của các cơ quan siêu quốc gia. Trên phương diện thể chế, cũng cần đặt ra vấn đề xây dựng cơ quan tham vấn chung giữa Liên minh kinh tế Á – Âu và Trung Quốc, mà có thể thảo luận những vấn đề kết nối quan trọng nhất hiện nay và đưa ra những khuyến cáo cho chính quyền các nước thành viên.

Hiện tại, cần phải có những hành động kiên quyết bởi mối quan tâm của Ấn Độ, Iran, Pakistan, và một số quốc gia trong khu vực đối với Liên minh kinh tế Á – Âu đã tăng lên. Vì vậy, sự phát triển thể chế hóa kết nối sẽ củng cố vị trí các nước thành viên Liên minh kinh tế Á – Âu, cho phép các nước thành viên chiếm được vị trí có lợi hơn trong việc hiện thực hóa các dự án của Trung Quốc, đồng thời thu hút đầu tư và hấp dẫn các nước trong khu vực. Với mục đích này, vào đầu tháng 2/2016, đã diễn ra phiên họp Nhóm làm việc về soạn thảo những đề xuất về các dự án chung trong lĩnh vực vận tải và cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ kết nối Liên minh kinh tế Á – Âu và Vành đai kinh tế Con đường tơ lụa. Kết quả chính của cuộc gặp này là quyết định đến đầu tháng 3/2016 lập danh sách những dự án cơ sở hạ tầng ưu tiến có tính đến mối quan tâm của các nước thành viên Liên minh kinh tế Á – Âu. Trên nền tảng văn kiện này, sẽ vạch ra “lộ trình” phối hợp hành động giữa Liên minh kinh tế Á – Âu và Trung Quốc. Một trong những phương hướng hợp tác quan trọng nhất phải là phối hợp hành động giữa các thể chế phát triển Liên minh kinh tế Á – Âu và Trung Quốc khi hiện thực hóa những dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn.

(còn tiếp) 

Nguồn: http://ru.valdaiclub.com

CĐQT – số 12/2016

Sự phát triển mới của quan hệ Việt – Nhật: Động lực và triển vọng – Phần cuối


3/ Triển vọng phát triển quan hệ Việt – Nhật

Trong vài năm tới, quan hệ Việt – Nhật có triển vọng tiếp tục phát triển hơn nữa. Thứ nhất, chiến lược trong và ngoài nước của hai nước Việt – Nhật có triển vọng tiếp tục duy trì, quan hệ nước duy trì ổn định. Về phía Nhật Bản, Chính quyền Abe có triển vọng tiếp tục cầm quyền vào tháng 9/2015 sau khi Abe một lần nữa trúng cử Chủ tịch đảng Dân chủ tự do, tháng 7/2016 liên minh cầm quyền đứng đầu là đảng Dân chủ tự do đã chiến thắng trong cuộc bầu cử Thượng viện Nhật Bản, địa vị cầm quyền của Abe vững chắc hơn. Bản thân Abe cũng phát đi tín hiệu hy vọng cầm quyền đến năm 2020. Trong bối cảnh này, chiến lược trong và ngoài nước của Nhật Bản chắc chắn tiếp tục xoay quanh việc làm cho Nhật Bản trở thành “nước lớn hàng đầu” được thúc đẩy hơn nữa, khiến cho Nhật Bản có động lực thúc đẩy quan hệ Việt – Nhật phát triển hơn. Về phía Việt Nam, chiến lược trong và ngoài nước của nước này có triển vọng duy trì tính liên tục, các nhà quyết sách quan trọng như Tổng Bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tiếp tục tái cử, Đại hội Đảng XII đã xác định phương châm đường lối chính sách trong 5 năm tới, chính sách tiếp tục dựa vào Nhật Bản của Việt Nam sẽ không thay đổi. Thứ hai, diễn biến tình hình khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ đẩy mạnh xu hướng chiến lược đã định giữa Nhật Bản và Việt Nam, giúp thúc đẩy quan hệ 2 nước phát triển. Trên phương diện an ninh chính trị, Trung Quốc mong muốn tiếp tục duy trì ổn định phát triển tương đối nhanh cục điện lực lượng trong khu vực tiếp tục diễn biến theo hướng có lợi cho Trung Quốc, những điều nói trên chắc chắn sẽ khiến cho Nhật Bản và Việt Nam đẩy mạnh sự cân bằng chiến lược với Trung Quốc, đặc biệt là trên biển. Trên phương diện kinh tế, sau khi thành lập Cộng đồng ASEAN, sự hội nhập kinh tế ASEAN sẽ phát triển nhanh chóng, trong đó có thuế quan nội khối ASEAN năm 2018 sẽ hủy bỏ hoàn toàn, nâng cao trình độ xây dựng kết nối lẫn nhau giữa các nước ASEAN…, có nghĩa là sự mở rộng hơn nữa thị trường ASEAN phía sau Việt Nam, yếu tố kinh tế trong khu vực có thể được tiến hành điều chỉnh cho phù hợp một cách có hiệu quả, chắc chắn sẽ tăng cường hơn nữa sức hút kinh tế của Việt Nam, thúc đẩy Nhật Bản tối ưu hóa bố cục kinh tế ở nước ngoài, chuyển dịch năng lực sản xuất sang các nước như Việt Nam…, và Việt Nam thông qua việc phát triển quan hệ kinh tế với Nhật Bản, thúc đẩy xu hướng chiến lược phát triển kinh tế trong nước… Xét một cách cụ thể, hai nước mong muốn tăng cường hợp tác trên các phương diện sau: Một là thúc đẩy sự kết nối sâu sắc về kinh tế giữa hai nước. Đúng như “Tuyên bố về tầm nhìn chung quan hệ Việt Nam – Nhật Bản: đã nêu rõ Nhật Bản – Việt Nam mong muốn kết nối chiến lược phát triển kinh tế, năng lực sản xuất và nguồn nhân lực trên nguyên tắc bổ sung, tương trợ lẫn nhau và cùng có lợi. Nhật Bản và Việt Nam sẽ nỗ lực thúc đẩy sự kết nối hơn nữa trong việc Nhật Bản viện trợ chiến ược và Việt Nam phát triển chiến lược, dựa vào các cơ chế như “Ủy ban hỗn hợp Việt Nam – Nhật Bản về hợp tác công nghiệp, thương mại và năng lượng” tăng cường hợp tác trên phương diện quy hoạch và thực thi chiến lược, xoay quanh việc thực thi chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam và việc thúc đẩy chính sách tối ưu hóa bố cục năng lực sản xuất ở nước ngoài của Nhật Bản từ chuyển nhượng kỹ thuật đến thu hút đầu tư tư nhân, xây dựng khu công nghiệp…, tăng cường hợp tác năng lực sản xuất giữa hai bên trong các lĩnh vực năng lượng, điện tử, thông itn và truyền thông, nông nghiệp hiện đại…, đồng thời tập trung nâng cao khả năng cạnh tranh kinh tế của Việt Nam, đi sâu hợp tác trên phương diện nguồn nhân lực lấy giáo dục cao đẳng và giáo dục dạy nghề làm lĩnh vực trọng điểm. Hai là thúc đẩy kết nối với tiểu vùng sông Mekong. Tháng 5/2016, Ngoại trưởng Nhật Bản Fumio Kishida đã có bài phát biết cho biết coi việc thúc đẩy sự kết nối giữa khu vực ASEAN, đặc biệt là tiểu vùng sông Mekong là một trong hai trọng điểm lớn trong chính sách ASEAN của Nhật Bản. Nhật Bản còn đưa ra sáng kiến “Đối tác cơ sở hạ tầng chất lượng cao” phiên bản mở rộng, sẽ mở rộng hạn ngạch lên đến 200 tỷ USD nhằm tập trung thúc đẩy sự kết nối ở khu vực châu Á với việc xuất khẩu các sản phẩm cơ sở hạ tầng của Nhật Bản, đồng thời coi các nước như Việt Nam là trọng điểm để tăng cường vận động hành lang. Việt Nam phản ứng tích cực đối với vấn đề này. Ba là tăng cường hợp tác an ninh trên biển. Sau “vụ kiện Trọng tài về Nam Hải”, Nhật Bản thể hiện rõ thái độ mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam, Abe nhấn mạnh “tăng cường năng lực thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam là việc làm cấp bách”, ông Fumio Kishida bày tỏ: “Bộ trưởng Ngoại giao hai nước Việt – Nhật đã nhận thức được tầm quan trọng của việc thúc đẩy các nước ASEAN có tiếng nói chung trong vấn đề Nam Hải”. Do Việt Nam cũng có nhu cầu hợp tác mạnh mẽ, có thể dự báo Nhật Bản và Việt Nam sẽ tăng cường hợp tác xung quanh việc xây dựng năng lực trên biển của Việt Nam và thúc đẩy ASEAN hình thành mặt trận thống nhất đối trọng với Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải. Nhưng mặt khác, sự phát triển quan hệ Việt – hật cũng tồn tại tính hạn chế, điều này chủ yếu xuất phát từ tính hai mặt của việc phát triển quan hệ với Nhật Bản trong chiến lược cân bằng nước lớn của Việt Nam. Kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc đến nay, Việt Nam coi trọng chiến lược cân bằng nước lớn, điều này vừa là sự lựa chọn tất yếu của nước nhỏ tìm cách sinh tồn, mưu cầu phát triển trong hoàn cảnh nước lớn “mọc lên như rừng”, cạnh tranh lẫn nhau, “cũng là một sự suy ngẫm của họ về việc kết đồng minh chiến lược trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh”. Trên thực tế, thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, Việt Nam hoàn toàn nghiêng về Liên Xô, quan hệ với Trung Quốc và Mỹ xấu đi, khiến cho Việt Nam bị cô lập chưa từng có về mặt quốc tế, đồng thời quá phụ thuộc vào Liên Xô, rập khuôn mô hình phát triển của nước này, cuối cùng dẫn đến nền kinh tế kế hoạch của Việt Nam rơi vào tình cảnh khó khăn. Do vậy, lôgích của chiến lược cân bằng nước lớn của Việt Nam là nỗ lực phát triển quan hệ với các nước lớn, duy trì cân bằng tình hình phát triển những mối quan hệ này, làm cho các nước lớn cân bằng lẫn nhau nhưng thực chất lại không nghiêng về bất kỳ nước nào, từ đó vừa thuận lợi mọi mặt, giành được nguồn lực phát triển từ nhiều phía, vừa khiến các nước lớn đọ sức lẫn nhau, đảm bảo lợi ích an ninh của Việt Nam trong khi cạnh tranh lẫn nhau. Việt Nam có thể giành được tính linh hoạt chiến lược tối đa, có nhiều không gian xoay chuyển hơn để ứng phó với sự biến đổi tình hình. Trước lôgích chiến lược này, Việt Nam phát triển quan hệ với Nhật Bản có tính hai mặt, một mặt, do thực lực của Trung Quốc tăng lên và tranh chấp Nam Hải giữa Trung Quốc và Việt Nam ngày càng trầm trọng hơn, Việt Nam mong muốn thông qua việc phát triển quan hệ với Nhật Bản để cân bằng Trung Quốc. Mặt khác, Việt Nam sẽ không để mặc quan hệ Việt – Nhật dẫn đầu quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn khác, đặc biệt là sự phát triển quan hệ Việt – Trung. Bởi cục diện này sẽ làm dao động rất lớn tổng thể kết cấu phát triển cân bằng toàn diện quan hệ với nước lớn của Việt Nam, giảm bớt tính linh hoạt về chiến lược của nước này, đồng thời có thể dẫn đến sự phản ứng chiến lược của các nước lớn như Trung Quốc, tác động đến sự phát triển quan hệ của Việt Nam với những nước này. Trên thực tế, những năm gần đây, xét đến tính nhạy cảm của quan hệ Trung – Nhật, tính cạnh tranh của quan hệ Trung – Mỹ, Việt Nam có ý thức phát triển một cách cân bằng quan hệ với 3 nước Trung – Nhật – Mỹ. Năm 2015, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã lần lượt sang thăm Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, thúc đẩy phát triển đồng thời quan hệ giữa Việt Nam với 3 nước. Có thể thấy trừ phi xảy ra sự kiển lớn đảo ngược tình hình chiến lược khu vực mang tính cơ bản, buộc Việt Nam phải đưa ra sự lựa chọn chiến lược lớn, sự phát triển quan hệ Việt – Nhật không thể tách rời kết cấu tổng thể phát triển cân bằng toàn diện quan hệ nước lớn của Việt Nam, tốc độ và chiều sâu phát triển quan hệ này sẽ bị ràng buộc bởi sự phát triển quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn khác như Trung Quốc… Nhật Bản cũng tồn tại sự hạn chế về năng lực trên phương diện thúc đẩy phát triển quan hệ Việt – Nhật, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh. Thứ nhất, khác với Mỹ, Nhật Bản thiếu khả năng thông qua việc cung cấp chiếc ô bảo vệ quân sự để thu hút Việt Nam theo đó nâng cao hợp tác quân sự lớn. Trong cuộc đọ sức chiến lược Trung – Việt, “Nhật Bản do không có vũ khí hạt nhân, về mặt kinh tế phụ thuộc cao độ vào Trung Quốc nên khó có thể đảm đương vai trò của người răn đe bên ngoài”. Thứ hai, về mặt xây dựng năng lực trên biển, nhiệm vụ quan trọng nhất của Nhật bản là phía đảo Điếu Ngư/Senkaku trên biển Hoa Đông, điều này sẽ hạn chế sự hỗ trợ của nước này về mặt đầu tư nguồn lực đối với các nước như Việt Nam. “Sự viện trợ của Nhật Bản đối với Việt Nam phải sau đó rất lâu mới có thể thúc đẩy toàn diện, nó phải đợi Tokyo trước tiên đáp ứng nhu cầu xây dựng năng lực của bản thân”. Trên thực tế, tháng 5/2014, Abel lấy lý do tăng cường nhiệm vụ cho lực lượng bờ biển Nhật Bản, bày tỏ muốn trì hoãn cung cấp tàu tuần tra trên biển cho Việt Nam, mãi đến tháng 8/2015, Nhật Bản mới giao chiếc tàu tuần tra đầu tiên cho Việt Nam.

4/ Kết luận

Những năm gần đây, đằng sau sự phát triển quan hệ Việt – Nhật không thiếu sự cân nhắc chiến lược của hai nước về việc ứng phó với Trung Quốc trong bối cảnh Trung Quốc tích cực thúc đẩy xây dựng “Một vành đai, một con đường”, kiên quyết bảo vệ quyền lợi biển, sự phát triển quan hệ Việt – Nhật sẽ khiến cho Trung Quốc phải đối mặt với cục diện phức tạp về mặt thúc đẩy chính sách, bảo vệ lợi ích. Đồng thời cũng cần phải nhận thấy rằng sự phát triển quan hệ Việt – Nhật có động lực nội tại của nó, ở chừng mực rất lớn không thể chuyển dịch bởi ý chí của Trung Quốc. Đối với vấn đề phát triển quan hệ Việt – Nhật, Trung Quốc không cần phải giữ tư duy mang tính cạnh tranh, không cần phải rơi vào sự cạnh tranh luẩn quẩn với Nhật Bản nhằm tranh giành tầm ảnh hưởng đối với Việt Nam, mà cần phải có lòng tự tin chiến lược đầy đủ, đồng thời với việc bình tĩnh quan sát, làm tốt công việc của mình. Về mặt kinh tế, nhanh chóng thực hiện sáng kiến “Một vành đai, một con đường” và kết nối có hiệu quả chiến lược “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” với Việt Nam, mở rộng hơn nữa tiềm năng lớn giữa Trung Quốc và Việt Nam về mặt hợp tác năng lực sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, đồng thời kết hợp giữa việc xây dựng xã hội theo mô hình tiêu dùng, chuyển đổi mô hình cơ cấu tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc với việc tiếp nhận nhiều hơn các hàng hóa đến từ Việt Nam, thay đổi cục diện mất cân bằng của Trung Quốc về đầu tư kém hơn thương mại, xuất khẩu lớn nhập khẩu trong quan hệ kinh tế đối với Việt Nam, làm cho sự phát triển quan hệ kinh tế Trung – Việt có tính bền vững hơn. Về mặt an ninh, cần phải trên cơ sở bảo vệ tốt chủ quyền và lợi ích an ninh bản thân, làm cho cơ chế giao lưu giữa hai đảng, hai quân đội Trung – Việt đi vào chiều sâu hơn nữa, nhờ đó tăng cường đối thoại Trung – Việt trong vấn đề Nam Hải kiểm soát tốt bất đồng, từng bước tích lũy lòng tin chiến lược. Đối với Nhật Bản, trọng điểm là phải cảnh giác nước này lợi dụng sự phát triển quan hệ Việt – Nhật, can dự hơn nữa vào vấn đề Nam Hải. Phải thống nhất hành động bảo vệ quyền lợi ở Nam Hải và đảo Điếu Ngư/Senkaku trên biển Hoa Đông, ngăn chặn Nhật Bản tạo ra “sự kết nối hai biển”.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu các vấn đề quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 01 & 02/03/2017

Châu Âu hậu Brexit: Một liên minh kém hoàn hảo hơn – Phần cuối


Chi tiết của vấn đề

Tuy nhiên, chính cuộc khủng hoảng về nhập cư đe dọa gây ra sự chấm dứt của liên minh. Việc đi lại tự do của người dân bên trong thị trường chung từng là một vấn đề chính trị nhỏ. Phần lớn mọi người coi đó như một cơ hội cho thanh niên học tập ở nước ngoài thông qua các chương trình Erasmus và Socrates của EU và cho triển vọng được giáo dục và tiến xa để có kinh nghiệm làm việc ở một quốc gia châu Âu khác. Cho đến những năm đầu của thế kỷ này, sự di trú toàn châu Âu vẫn rất thấp.

Nhưng khi EU mở rộng tư cách thành viên họ vào năm 2004 để bao gồm những nước cộng sản trước đây của Trung và Đông Âu, sự di trú bên trong EU bắt đầu tăng. Sự mở rộng EU sang phía Đông tạo ra “một châu Âu toàn vẹn và tự do”, như Tổng thống Mỹ George H.W. Bush phát biểu vào năm 1989, nhưng nó cũng khiến tư cách thành viên của liên minh bất bình đẳng hơn nhiều về mặt kinh tế. Vào năm 2004, khi Ba Lan gia nhập EU, GDP bình quân đầu người đứng ở khoảng 6600 USD; ở Vương quốc Anh, con số là 38.300 USD. Những khác biệt to lớn trong mức độ thu nhập này khuyến khích hàng triệu người châu Âu phía Đông tiến về hướng Tây. Chẳng hạn, từ năm 2004 đến 2014, trên 2 triệu người chuyển từ Ba Lan sang Đức và Vương quốc Anh, và gần 2 triệu người khác chuyển từ Romania sang Italy và Tây Ban Nha. Những sự di chuyển lớn này của người dân đặt áp lực lên các dịch vụ công và những mạng lưới an toàn của các quốc gia tiếp nhận họ.

Rồi, vào năm 2015, hơn 1 triệu người di cư và tị nạn từ Afghanistan, Iraq, Syria và châu Phi hạ Sahara đổ vào khắp các biên giới của châu Âu. Thị trường chung không có cơ chế nào để đối phó với sự di chuyển đột ngột của người dân bên trong nó, EU cũng không có bất kỳ chính sách di cư từ bên ngoài chung nào để giúp tiếp nhận dòng người tị nạn lớn. Các chính phủ quốc gia, bị kiềm chế bởi những quy định của EU đối với chi tiêu tài khóa và không thể nhất trí về cách thức chia sẻ gánh nặng, đã vật lộn để phản ứng lại. Đúng là, con số di cư toàn bộ vẫn tương đối thấp, và đóng góp thực của người di cư toàn bộ vẫn tương đối thấp, và đóng góp thực của người di cư vào nước chủ nhà chủ yếu là tích cực. Nhưng nhiều công dân cảm thấy rằng chính phủ của riêng họ bất lực và EU không thể đại diện cho những lợi ích của họ, và do đó các đảng chống nhập cư đã dâng lên khắp châu Âu. Lần đầu tiên, cam kết của EU với việc tự do đi lại của người dân bắt đầu lung lay. Các chính phủ châu Âu phía Đông, như của Victor Orban ở Hungary và Beata Szydlo ở Ba Lan, bảo vệ mạnh mẽ những quyền lợi được sống và làm việc trên khắp EU cho công dân của họ trong khi từ chối yêu cầu tiếp nhận hạn ngạch người tị nạn của EU. Nhiều chính phủ châu Âu phía Tây sẵn sàng chấp nhận một cách bực bội những hạn ngạch của EU về người tị nạn nhưng ngày càng nghi ngờ bản chất không giới hạn của di trú bên trong EU. Những nỗi sợ hãi của việc di cư không giới hạn từ các nước như Thổ Nhĩ Kỳ, một ứng cử viên cho tư cách thành viên của EU, đóng một vai trò chính trong quyết định rời EU của Vương quốc Anh, và khao khát giành lại sự kiểm soát đối với nhập cư vào Vương quốc Anh sẽ có khả năng gây ra việc hoàn toàn ra khỏi thị trường chung của quốc gia này.

Lấy lại sự kiểm soát

Vậy từ đây EU sẽ đi về đâu? Bởi vì Vương quốc Anh luôn luôn là một nước thành viên miễn cưỡng nhất của EU, nhiều người ủng hộ EU sẽ bị lôi kéo để lập luận rằng giờ đây Brussels cuối cùng có thể thúc đẩy sự hợp nhất hơn nữa. Nhưng đó sẽ là một sự hiểu sai về trạng thái hiện tại ở các thủ đô của châu Âu và một sự chẩn đoán sai về sự ốm đau của châu Âu. Châu Âu nhiều hơn không phải là câu trả lời cho những vấn đề của EU.

Thay vào đó, các nhà lãnh đạo châu Âu cần trở lại ý tưởng cơ bản của Milward rằng châu Âu không phải để giam giữ những nhà nước – dân tộc của nó mà để giải thoát họ. Tính hợp pháp dân chủ, dù tốt hơn hay xấu đi, vẫn ở lại với những chính phủ quốc gia của châu Âu. Không có giải pháp kỹ trị cho những vấn đề chính trị của châu Âu. Nhà sử học Tony Judt nhận xét vào năm 1996, “Tôi không mong muốn đề xuất rằng có điều gì vốn đã ưu thế hơn về những thể chế quốc gia so với những cái khác. Nhưng chúng ta nên thừa nhận hiện thực của các dân tộc và nhà nước, và lưu ý nguy cơ rằng, khi bị bỏ mặc, chúng trở thành một nguồn lực cử tri của những người theo chủ nghĩa dân tộc hiểm độc”. Sự hợp nhất châu Âu lấy đi quá nhiều đòn bẩy chính sách khỏi các chính phủ đến nỗi nhiều công dân bắt đầu tự hỏi chính phủ của họ vẫn ở đó để làm gì. Như nhà kinh tế học chính trị Mark Blyth và tôi lập luận trong Tương lai của đồng euro, “Nếu không phát triển một tiến trình chính trị để gắn vào một cách hợp pháp những thể chế kinh tế và tài chính [của Khu vực đồng euro], tương lai của đồng euro giỏi lắm cũng chỉ là mong manh”. Việc phục hồi tăng trưởng trong Khu vực đồng euro, chống lại nạn thất nghiệp của thanh niên, và bảo vệ những cải cách chính trị của EU mà trả lại một số quyền lực kinh tế cho các nước thành viên nên ưu tiên hơn so với chính sách thắt lưng buộc bụng và những cải cách cấu trúc một kích cỡ vừa cho tất cả.

Những chính sách phân phối mà tạo ra những người thắng và những kẻ thua cần được hợp pháp hóa một cách dân chủ thông qua những cuộc bầu cử đều đặn và do đó vẫn là lĩnh vực dành riêng duy nhất của các chính phủ quốc gia. Những chính sách như vậy bao gồm việc đặt ra những ưu tiên ngân sách, quyết định sự hào phóng của nhà nước phúc lợi, điều tiết các thị trường lao động, kiểm soát nhập cư, và chỉ đạo chính sách công nghiệp. Cho phép các quốc gia thỉnh thoảng phá bỏ những quy định của cả thị trường chung lẫn đồng tiền chung – chẳng hạn, bằng việc tạm thời cho phép họ bảo vệ và hỗ trợ về mặt tài chính những ngành công nghiệp chủ chốt, hoặc đưa ra một lệnh dừng khẩn cấp đối với nhập cư dưới những điều kiện nghiêm ngặt cụ thể – sẽ trao quyền cho những giới tinh hoa quốc gia đối phó với những vấn đề quốc gia cụ thể và đáp ứng những quan ngại hợp pháp của các cử tri bằng cách cho họ một sự lựa chọn dân chủ đối với chính sách.

Trong khi đó, EU nên tập trung vào những thứ mà các nước thành viên không thể thực hiện có hiệu quả một mình và những thứ tạo ra những thành quả chung: đàm phán những thỏa thuận thương mại quốc tế, giám sát một cách có hệ thống những ngân hàng quan trọng và các thể chế tài chính khác, đối phó với hiện tượng nóng lên toàn cầu và phối hợp chính sách đối ngoại và an ninh. Ở các cuộc thăm dò của Eurobarometer, khoảng 2/3 công dân châu Âu được khảo sát kiên định nói rằng họ ủng hộ một chính sách đối ngoại chung cho EU. Các chính phủ quốc gia có thể bắt đầu với việc góp chung có hiệu quả hơn nhiều những nguồn lực quân sự của họ để tiến hành những nhiệm vụ duy trì hòa bình và nhân đạo ở nước ngoài.

EU không cần thêm bất kỳ quy định nào; họ cần sự lãnh đạo chính trị. Đức phải từ bỏ sự phản đối của nước này với trái phiếu eurobond, hoặc cùng nhau bảo đảm những công cụ nợ Khu vực đồng euro, và bảo hiểm tiền gửi chung, mà sẽ tiến một bước dài đến việc đem lại sự ổn định tài chính dài hạn trong Khu vực đồng euro bằng việc ngăn cản ảnh hưởng xấu của thị trường trái phiếu chính phủ và đột biến rút tiền gửi trong tương lai. Họ phải nới lỏng sự khăng khăng của mình đối với những quy định tài khóa cứng rắn để cho phép những nước như Italy và Bồ Đào Nha tham gia tổng kích cầu. Và họ phải nắm quyền lãnh đạo trong việc thành lập những cơ chế mới để thúc đẩy sự đoàn kết bên trong EU, như là một quỹ người tị nạn và di trú chung, mà có thể bù đắp sự khác biệt trong những thâm hụt tạm thời ở quỹ địa phương và giúp các nước thành viên chai sẻ gánh nặng hòa nhập những người di trú mới trên khắp châu Âu có hiệu quả hơn.

Đức cần dứt khoát nắm lấy vai trò lãnh đạo của họ. Nếu Đức có thể vượt qua chủ nghĩa địa phương của họ và thừa nhận rằng họ có lợi ích dài hạn để hành động như một bá chủ ôn hòa cho châu Âu – không khác gì vai trò Mỹ nắm giữ trong thế giới phương Tây sau Chiến tranh thế giới thứ hai – không có lý do gì EU không thể nổi lên mạnh mẽ hơn từ tình trạng bất ổn hiện tại của nó. Các nhà lãnh đạo của những nước thành viên lớn còn lại khác, đặc biệt là Pháp, Italy, Ba Lan và Tây Ban Nha – phải làm Berlin yên lòng lần nữa rằng họ cam kết cải cách nền kinh tế của họ một khi tăng trưởng trở lại, cam kết đóng góp tích cực cho sự đoàn kết của toàn bộ EU, và tái khẳng định rằng dự án châu Âu nằm trong những lợi ích quốc gia của họ. Nói chung, các nhà lãnh đạo châu Âu cần hình dung lại châu Âu là để làm gì và lấy lại sự kiểm soát đối với tiến trình hợp nhất châu Âu. 60 năm trôi qua từ khi ký kết hiệp ước Rome thành lập cộng đồng châu Âu, hiện nay châu Âu cần một thỏa thuận quan trọng mới hơn bao giờ hết.

Nguồn: Foreign Affairs – số tháng 1 – 2/2017

TLTKĐB – 16/01/2017

Nỗi sợ hãi khủng bố – Phần IV


Các quan chức Nhật Bản lập tức truy tìm và bố ráp các cơ sở của Aum trên khắp cả nước và rất ngạc nhiên trước những gì họ phát hiện ra. Bên cạnh quy mô của những hoạt động chết người, những nỗ lực của nhóm này để sở hữu những phương tiện giết người, những vụ tấn công khủng bố, cảnh sát chẳng biết gì hơn. Thật khó hình dung một kịch bản tồi tệ hơn: một giáo phái cuồng tín với một tham vọng chất chứa khởi động sự giết chóc tốn kém, một mạng lưới quốc tế, các phòng thí nghiệm và các thiết bị hiện đại, những nhà khoa học được đào tạo tại những trường đại học hàng đầu, và hàng chục năm trời gần như tự do theo đuổi các hoạt động của nó. Nhưng tổng số người chết trong 17 cuộc tấn công của Aum với các loại vũ khí hóa học và sinh học ít hơn nhiều so với 168 người chết tại thành phố Oklahoma khi Timothy McVeigh phát nổ một quả bom được làm từ thuốc phân bón và dầu chạy xe máy.

Ủy ban Gilmore đưa ra kết luận: “Các kinh nghiệm của Aum cho thấy – khác với sự tin tưởng của đa số – những tổ chức khủng bố đơn lẻ không có một quốc gia hỗ trợ sẽ vấp phải những rào cản công nghệ rất lớn trong việc tiếp cận và reo rắc những vũ khí sinh học và hóa học hiệu quả”. Yếu tố cơ bản dẫn tới sự thất bại này, theo Ủy ban, là môi trường bên trong các tổ chức thường được thống trị bằng những niềm tin tôn giáo mù quáng. “Các nhà khoa học của Aum, bị cô lập về mặt xã hội và thể chất, bị một người lãnh đạo cuồng tín, xa lánh hiện thực và không thể đưa ra những phán xét chính xác”.

Đối với những kẻ khủng bố “ôm mộng” về một cuộc Thánh chiến, điều đó thật đáng thất vọng. Al-Qaeda và những kẻ khủng bố Hồi giáo khác còn không có nhiều lợi thế như Aum. Chúng không hề có tiền, cơ sở vật chất hay các thiết bị, khả năng di chuyển tự do. Quan trọng nhất là, chúng không có những nhà khoa học dù Al-Qaeda đã cố gắng tuyển dụng thêm những nhà khoa học được đào tạo nhưng thất bại, đó chính là lý do vì sao chúng không bao giờ có thể thể hiện dù chỉ là một phần khả năng công nghệ mà Aum đã từng có. Một yếu tố mà chúng chia sẻ với giáo phái Nhật Bản này là không khí căng thẳng trong giáo phái đã khiến những nỗ lực của Aum thất bại.

Kinh nghiệm của Aum cho thấy, những cuộc tấn công khủng bố hủy diệt sử dụng các vũ khí hóa học, sinh học là hoàn toàn có thể, nhưng chúng cũng nhận ra rằng, có rất nhiều khó khăn. Đó là nguyên nhân bọn khủng bố thường thích dùng bom và súng đạn – hay trong những vụ khủng bố tồi tệ nhất trong lịch sử, đó là những chiếc hộp đựng bom và những chiếc vé máy bay.

Tất nhiên, con số này sẽ thay đổi nếu các vũ khí đó là hạt nhân. Ủy ban Gilmore cho biết rằng: “Có lẽ,cách duy nhất để bọn chúng có thể gây ra một vụ khủng bố có tính chất hủy diệt thực sự chính là sử dụng vũ khí hạt nhân”. Một vụ tấn công bằng hạt nhân sẽ là một nỗi khủng khiếp không thể nào tưởng tượng được và hậu quả khủng khiếp của nó chắc hẳn sẽ khơi gợi những cảm xúc mạnh mẽ đủ để người ta suy nghĩ tới bất kỳ khả năng nào có thể xảy ra. Đó là một sai lầm. Xác suất chính là yếu tố quan trong được xem xét khi đối mặt với nguy cơ, những nguy cơ – đặc biệt là nguy cơ thảm khốc. Cuối cùng, đối với con người, nguy cơ khủng khiếp nhất không phải là khủng bố hạt nhân mà là sự va chạm với một thiên thạch hay một ngôi sao chổi với diện tích gần bằng trái đất. Nếu chúng ta xem xét khả năng gây hủy diệt của một sự kiện như vậy và bỏ qua việc tính toán xác suất xảy ra nó, thì có lẽ chúng ta sẽ bỏ ra hàng tỉ đôla đầu tư vào việc xây dựng hệ thống phòng thủ toàn cầu rộng lớn và không thể xâm nhập. Nhưng có rất nhiều người – bao gồm cả những nhà du hành vũ trụ, những người mong muốn chúng ta bỏ ra một chút ít tiền để khám phá ra các thiên thạch đó – sẽ nói rằng sự đầu tư đó là ngu ngốc, bởi vì khả năng xảy ra của một vụ va chạm như vậy là cực kỳ nhỏ và số tiền đó có thể làm được nhiều việc tốt cho trái đất. Chúng ta không nên lờ những nguy cơ đi – từ chối bỏ ra chút tiền để phát hiện, làm chệch hướng những thiên thạch và tính toán khả năng va chạm đó là không đúng đắn – nhưng chúng ta cũng không nên phát rồ lên vì điều đó. Hãy giữ thái độ bình tĩnh đó đối với khủng bố hạt nhân.

Tỉ lệ xác suất một thành phố Mỹ bị ném bom nguyên tử là bao nhiêu? Khi mà không có số liệu, tất cả những gì chúng ta có thể làm là quan sát sự phức tạp về xây dựng, sự khan hiếm vũ khí hạt nhân và đưa ra phán xét đúng đắn.

Ủy ban Gilmore đã làm thế. Ủy ban này bắt đầu nhận thấy rằng, sự sụp đổ của Liên bang Xôviết không phải là do vũ khí hạt nhân của Chính quyền Xôviết bất ngờ xuất hiện trên thị trường chợ đen, dù người ta luôn lo ngại điều này suốt những năm 1990. Đặc biệt báo cáo còn cho biết: “Những loại vũ khí hạt nhân có thể mang trong vali” của Nga đã tuồn ra ngoài mà không bị ngăn chặn, trong bất kỳ một sự vụ nào, các vũ khí này đều cần một chế độ bảo trì để có thể hoạt động tốt. Việc buôn lậu và sở hữu một trái bom không hề đơn giản vì các thiết bị bảo vệ cho một vũ khí hạt nhân thông thường cần có tem chống nước bảo vệ và những biện pháp an ninh khác được thiết kế nhằm ngăn chặn chính xác tình huống xấu có thể xảy ra.

Tuy bạn suy nghĩ, nhưng việc này không thể xảy ra trong một gara thông thường tại vùng ngoại ô nào đâu. Theo Ủy ban Gilmore: “Xây dựng cơ sở cất giữ và bảo quản một thiết bị vũ khí hạt nhân có khả năng hủy diệt hàng loạt cần rất nhiều công sức và phải vượt qua rất nhiều thử thách đối với bọn khủng bố, ngay cả với các quốc gia trên thế giới với một nguồn lực lớn cũng như các chương trình xây dựng rất lớn”. Vào những năm 1980 Saddam Hussein đổ biết bao nhiêu tiền kiếm từ dầu mỏ vào việc nghiên cứu vũ khí hạt nhân nhưng đã không thể nào chế tạo nổi, dù chỉ là một vũ khí trướckhi chiến tranh vùng vịnh xảy ra, và điều đó làm tiêu tan tham vọng của ông ta.

Điều đó có thể xảy ra hay không? George Tenet, cựu Giám đốc cơ quan tình báo Mỹ CIA đã viết trong Hồi ký của ông: “Chúng ta cần biết rằng, sở hữu vũ khí hạt nhân không nằm quá khả năng của một nhóm khủng bố. Việt đó sẽ làm cho Al-Qaeda trở nên hùng mạnh và là cơ hội tốt để mối đe dọa từ Bin Laden phá hủy nền kinh tế của chúng ta và mang chết chóc đến từng ngôi nhà trên đất nước Mỹ trở thành hiện thực”. Cựu Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Anna đã nói: “Nếu một cuộc tấn công hạt nhân của bọn khủng bố xảy ra, nó sẽ không chỉ gieo rắc cái chết ở mọi nơi mà còn kéo lùi nền kinh tế thế giới và đẩy hàng chục triệu người vào sự đói nghèo dai dẳng”.

Theo tính toán thì một cuộc khủng bố bằng hạt nhân thành công ở khu vực trung tâm thành phố có thể giết chết khoảng 100.000 người. Với tổng số người chết là 100.000 người thì xác suất đối với một người Mỹ bị chết trong một cuộc tấn công như vậy là 0,033% hay là 1/3000 (cứ 3000 người thì một người bị chết). Tổng số 100.000 người chết không nhiều hơn là mấy so với số người Mỹ chết vì tiểu đường mỗi năm – 75.000 người – và gần xấp xỉ con số người Mỹ bị chết vì tai nạn giao thông hàng năm. Vì thế, nếu xét về số thương vong thì một cuộc tấn công bằng vũ khí hạt nhân khó có thể trở thành một cuộc thánh chiến đẫm máu được.

Tuy nhiên, người ta thường hay suy luận rằng, một cuộc tấn công như thế còn có thể gây ra sự hoảng sợ cực độ và thậm chí là dẫn tới sự sụp đổ của một trật tự xã hội. Sự suy luận này dựa trên thói quen thiếu tin tưởng lâu dài. Hàng thập kỷ người ta nghiên cứu về cách con người xử sự trong những tình huống khẩn cấp cho thấy rằng, sự hoảng loạn là khá hiếm. “Ngay cả khi con người đối mặt với những gì được coi là tình huống xấu nhất, họ vẫn cố gắng tìm sự giúp đỡ và bảo vệ cho bản thân và cho bạn bè mình, thậm chí với cả những người hoàn toàn xa lạ”. Lee Clarke, một nhà xã hội học tại trường Đại học Rutger đã viết như vậy. Ngay cả khi con người bị kẹt trong đám đổ nát đang bốc cháy của một chiếc máy bay gặp nạn thì họ cũng luôn nhìn nhận nhu cầu của người khác hơn là gào thét và cố gắng tìm sự an toàn cho riêng bản thân. Chúng ta cần thiết phải học được điều này từ vụ 11 tháng 09 năm 2001, khi mà những người Mỹ đã phản ứng lại cuộc khủng bố bằng sự tự trọng, tình yêu thương, sự hợp tác và lòng khoan dung, hào hiệp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Dan Gardner – Nguy cơ, khoa học & chính trị về nỗi sợ hãi – NXB LĐ-XH 2008.

Các ví dụ về thành công và thất bại trong các tai nạn công nghiệp – Phần II


Hiểu về khoa học đằng sau vụ tràn dầu của tàu Valdez: Cuộc truy tìm 100 triệu USD

Trong vòng 15 năm tiếp theo, các nhà khoa học của Exxon và chính phủ tiếp tục tranh cãi về nhiều vấn đề liên quan đến việc dọn dẹp của Exxon và hiệu quả của nó. Vào năm 1991, Exxon “đồng ý trả 900 triệu USD tiền bồi thường và hứa sẽ trả thêm 100 triệu USD nữa nếu các thiệt hại không dự kiến trước được tìm ra trước năm 2006”. (Guterman, 2004, p A12). 100 triệu USD thêm đó trở thành một điểm đặc biệt trong khoa học được tiến hành từ năm 1999 đến năm 2005. Trong khoảng thời gian này, có nhiều kết luận trái ngược nhau về sức khỏe và phúc lợi của vùng eo biển. Mối quan hệ này tranh cãi giữa những người quan tâm đến môi trường và Exxon không được giảm nhẹ đi.

Không có gì là ngạc nhiên khi Exxon và các nhóm bảo vệ môi trường không thể tán thành quan điểm về các vấn đề cơ bản về rủi ro trước cuộc khủng hoảng, sự không chắc chắn về hậu quả của cuộc khủng hoảng vẫn kéo dài đến giờ. Một cuộc tranh luận diễn ra vào 15 năm sau về các sự đồng ý và không đồng ý của hai bên về hậu quả của cuộc khủng hoảng (Guterman, 2004).

Đồng ý

Cả hai bên đều đồng ý về các vấn đề sau:

+ Nhiều loài động vật, bao gồm đại bàng đầu trọc, rái cá sông, và loài chim biển common murre đã hồi phục sau vụ tràn dầu. Không có toàn bộ loài nào bị đe dọa bởi vụ tràn dầu.

+ Vào thời điểm hiện tại, gần như không còn chút dầu tàn dư nào tại eo biển này.

Không đồng ý

Cả hai bên đều không đồng ý về các vấn đề sau:

+ Lượng dầu làm ô nhiễm bờ biển: Chính phủ cho là 60.000 lít dầu đã làm ô nhiễm 11 ha bờ biển. Các nhà khoa học của Exxon nói rằng cuộc nghiên cứu này có tính thiên vị.

+ Liệu rái cá biển vẫn đang bị gây hại bởi vụ tràn dầu?

+ Liệu vết tích dầu trong các luồng nước có thể hại trứng cá?

+ Cả Exxon và chính phủ đang tiến hành nghiên cứ như thế nào (Guterman, 2004, p A14 – A15).

Rõ ràng là vẫn còn nhiều sự không chắc chắn về vụ tràn dầu ở Alaska của tàu Valdez hãng Exxon. Tiếp theo sau đó là cách mà Exxon kiểm soát sự không chắc chắn trong truyền đạt thông tin khủng hoảng của họ.

Bạn là người quyết định

Sau khi nghiên cứu trường hợp này, bây giờ là lúc xác định xem Exxon đã đối phó với sự không chắc chắn như thế nào. Đầu tiên, hãy dành một chút thời gian để khơi lại trong trí nhớ của bạn các bài học đã được thiết lập về việc kiểm soát sự không chắc chắn. Thứ hai, hãy nhớ rằng các bài học này đóng vai trò là các tiêu chuẩn và các điểm thảo luận cho những gì chúng tôi tin là các mặt cơ bản của mọi phản ứng trước khủng hoảng. Khi bạn trả lời các câu hỏi sau đây, hãy cân nhắc xem liệu Exxon đã có hiệu quả hay không có hiệu quả khi kiểm soát sự không chắc chắn của cuộc khủng hoảng. Chúng tôi đã viết lại các bài học dưới dạng các câu hỏi để bạn có thể dễ dàng tập trung vào các vấn đề chủ chốt trong trường hợp này.

Kiểm soát sự không chắc chắn trong các tai nạn công nghiệp: Các bài học về sự không chắc chắn và truyền đạt thông tin trong tình trạng khủng hoảng

Bài học 1: Những thành viên trong một công ty phải chấp nhận rằng một cuộc khủng hoảng có thể xảy đến nhanh và bất ngờ.

Vụ tràn dầu của tàu Valdez hãng Exxon có xảy ra nhanh không? Có bất ngờ không?

Bài học 2: Các công ty không nên phản ứng trước các cuộc khủng hoảng bằng những giải pháp theo thông lệ.

Exxon có phản ứng trước cuộc khủng hoảng một cách theo thông lệ không? Phản ứng của họ có hiệu quả không?

Bài học 3: Mối đe dọa là thuộc tri giác.

Mối đe dọa đi kèm với cuộc khủng hoảng này thuộc tri giác như thế nào? Cách hiểu cuộc khủng hoảng này khác nhau thế nào giữa những người có liên quan?

Bài học 4: Những nhà truyền đạt thông tin trong tình trạng khủng hoảng phải truyền đạt thông tin nhanh chóng và thường xuyên sau khi khủng hoảng xảy ra, ngay cả khi họ có thông tin thiết thực về cuộc khủng hoảng đó hay không.

Lawrence Rawl có truyền đạt thông tin nhanh chóng và thường xuyên về khủng hoảng hay không? Ông có hiệu quả hay không có hiệu quả?

Bài học 5: Các công ty không nên cố tình làm tăng sự không rõ ràng của một cuộc khủng hoảng để lừa dối hoặc làm rối trí quần chúng.

Có các vấn đề không chắc chắn hoặc không rõ ràng cho những người có liên quan sau khủng hoảng không?

Exxon có làm tăng thêm sự không rõ ràng về thảm họa hoặc lừa dối, hoặc làm rối trí quần chúng không?

Bài học 6: Hãy sẵn sàng bảo vệ cách hiểu của bạn về một bằng chứng xung quanh một cuộc khủng hoảng.

Exxon có bảo vệ cách hiểu của họ về các bằng chứng xung quanh cuộc khủng hoảng không? Exxon có hiệu quả hay không có hiệu quả?

Bài học 7: Nếu không có ý định tốt trước khi một cuộc khủng hoảng xảy ra, việc hồi phục là rất khó, thậm chí là không thực hiện được.

Exxon có hình thành thiện chí với những người có liên quan trước vụ tràn dầu hay không?

Bài học 8: Nếu bạn tin rằng mình không phải chịu trách nhiệm trong một cuộc khủng hoảng, bạn cần có lý lẽ rõ ràng về việc ai là người phải chịu trách nhiệm và vì sao.

Exxon có lý lẽ rõ ràng về việc tại sao công ty này lại không phải chịu trách nhiệm cho mức độ tàn hại gây ra bởi cuộc khủng hoảng không? Exxon có hiệu qua hay không có hiệu quả?

Bài học 9: Các công ty cần chuẩn bị cho sự không chắc chắn các tình huống mô phỏng và việc rèn luyện.

Exxon có chuẩn bị một cách đầy đủ cho một vụ tràn dầu ở Alaska không?

Bài học 10: Các cuộc khủng hoảng thách thức cách mà một công ty nghĩ về và tiến hành công việc của mình.

Cuộc khủng hoảng này có nên thay đổi việc Exxon kiểm soát các vụ tràn dầu trong tương lai hay không? Như thế nào?

Tóm tắt

Vụ tràn dầu của tàu Valdez hãng Exxon giờ đã trở thành một trường hợp điển hình về kiểm soát tồi trong tình trạng khủng hoảng. Rõ ràng là Exxon đã không sẵn sàng đối phó với sự không chắc chắn đi kèm với vụ tràn dầu ở Alaska. Họ không được chuẩn bị trước các luồng nước và cách mà chúng sẽ ảnh hưởng đến đâu khi chúng vào eo biển. Thêm vào đó, họ có những mối quan hệ hay tranh cãi với những người có liên quan và đã quá tự tin vào khả năng dọn dẹp vụ tràn dầu của họ. Cuối cùng, Exxon không hiểu được tầm quan trọng mang tính chiến lược của việc truyền đạt thông tin sau khủng hoảng . Họ phản ứng chậm trước cuộc khủng hoảng và họ không truyền đạt thông tin, họ tập trung vào việc làm giảm độ lớn và hậu quả của cuộc khủng hoảng. Vào năm 2006, người dân và các nhà môi trường học vẫn chưa quên về cuộc khủng hoảng này. Hầu hết mọi người đều nhất trí rằng họ tức giận không phải vì tàu Valdez mắc cạn mà vì cách Exxon chuẩn bị và phản ứng trước cuộc khủng hoảng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Robert R. Ulmer, Timothy L. Sellnow, Matthew W. Seeger – Truyền thông hiệu quả trong khủng hoảng – NXB Tri thức 2009.

Những bài học bị bỏ sót về lịch sử Hoa Kỳ – Phần V


Bắt đầu trong năm 1784, Quốc hội của các bang mới được liên hiệp (mặc dù chưa được thống nhất về mặt hiến pháp) đã bắt đầu lập các kế hoạch để hạn chế tiếp cận và các quyền đối với đất đai của quốc gia. Quyết định quan trọng nhất là các vùng định cư ở lãnh thổ Tây Bắc cuối cùng cũng trở thành các bang với những quyền hạn và đặc ân như của 13 bang ban đầu. Năm 1785, Quốc hội mở rộng sắc lệnh của năm trước bằng cách đưa ra hệ thống đo đạc và bán đất công. Theo mô hình được dùng ở các thuộc địa New England, hệ thống đo đạc chia đất thành các quận hay hạt hình vuông có cạnh 6 dặm trong đó các hạt lại được chia thành 36 khu có diện tích một dặm vuông hoặc 640 mẫu. một khi vùng đã được đo đạc, các khu 640 mẫu này được bán với giá 1 USD một mẫu.

Hai năm sau, năm 1787, Quốc hội hợp nhất các sắc lệnh trước đây thành Sắc lệnh Tây Bắc chia lãnh thổ Tây Bắc thành nhiều khu và đưa ra 3 giai đạon với sự đại diện tăng lên, cái đã dẫn đến cương vị bang. Đáng chú ý là, luật thiết lập khái niệm về “phí sở hữu đơn giản” (bất động sản được nắm giữ vĩnh viễn với quyền bán hoặc cho không hạn chế) và cung cấp những đảm bảo đầu tiên của tự do thỏa thuận ở Hoa Kỳ. Mặc dù các luật liên bang cung cấp một cấu trúc tao nhã của luật chính thức cho việc phân chia đất công – các nhà sử học coi Sắc lệnh Tây Bắc như một thành tựu chủ yếu của chính phủ Hoa Kỳ trước Hiến pháp – chúng ta đã chẳng thể kiểm soát hoặc kiềm chế nổi số người ngày càng đông di cư ra ngoại vi của quốc gia. Vấn đề lớn chính là giá đất liên bang quá cao không thể mua nổi. Đối mặt với cái giá 640 USD – một số tiền khổng lồ vào thời bấy giờ – hàng ngàn người Mỹ nhập cư ngay lập tức cho rằng giá đất liên bang là trời ơi đất hỡi. Những người dự thảo Sắc lệnh Tây Bắc, tuy nhiên, đã giả thiết rằng những nhà đầu tư giàu có sẽ bán đất đai với những miếng nhỏ hơn, cấp tín dụng hoặc cho thuê đất với điều kiện thuận lợi. Ngay cả những lựa chọn đầu cơ như vậy cũng vượt quá phương tiện của những người đi tiên phong. Thay vào đó, những người nhập cư “chọn sự bất trắc để định cư bất hợp pháp”. Và như vậy thêm hàng chục ngàn người Mỹ đã trở thành những người chiếm đất trên cơ sở của những dàn xếp ngoài pháp luật.

Hầu như ngay lập tức, chính phủ liên bang đã tiến hành đẩy ra bên lề và trừng phạt những người chiếm đất này. Họ bị tấn công mãnh liệt trong các cuộc tranh luận xung quanh việc chấp nhận Sắc lệnh Tây Bắc. William Butler ở New York đã viết: “Tôi cho rằng Hội đồng đã quen với hành vi côn đồ của Người dân của Đất nước này, những người lũ lượt kéo đến từ mọi Phía, chiếm và lấy không chỉ đất đai của Hoa Kỳ mà của cả Bang này nữa, hàng trăm người đã qua các Sông, và rất nhiều người ra đi hàng ngày cùng gia đình của họ. Thưa Hội đồng Sáng suốt, Tôi hy vọng Hội đồng sẽ chuẩn bị cống lại một con quỷ gớm ghiếc và ngày càng ghê sợ đến như vậy.

Bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những tình cảm như thế, các thành viên của Quốc hội đã tiến hành trục xuất những người chiếm đất, thường là bằng những phương tiện bạo lực. Năm 1785, Quốc hội đã thông qua một nghị quyết cấm dứt khoát việc chiếm đất công và trao quyền hạn cho Bộ trưởng Bộ chiến tranh đuổi những người định cư bất hợp pháp ra khỏi đất liên bang ở lãnh thổ Tây Bắc. Chính sách này đã có hiệu lực vào mùa xuân 1785 và ở chỗ giao nhau của các con sông Musking và Ohio, nơi Quân đội Hoa Kỳ đã trục xuất 10 gia đình bằng các phá hủy nhà cửa của họ và dựng lên một công sự để ngăn họ quay trở lại. Bốn năm sau, Tổng thống Washington đã ra lệnh phá các lán gỗ và di dời gia đình những người đã định cư ở đất biên giới Pennsylvania mà thổ dân Mỹ làm chủ.

Tuy vậy, mặc dù hầu hết các nhà chính trị đều muốn duy trì luật đã được thiết lập của quốc gia có chủ quyền mới này, nhưng một số người nghi ngờ rằng nó có thể được thực thi theo cách phù hợp với các lợi ích tốt nhất của đất nước. Đó là lý do vì sao vấn đề quyền ưu tiên mua trước lại nảy ra hầu như tức khắc. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội mới, vào năm 1789, một đại biểu đã phác họa một cách đau xót những lựa chọn mà những người chiếm đất phải đối mặt:

Có, tại thời điểm này, rất nhiều người trong dân chúng, những người muốn kiếm đất bằng cách mua một quyền đối với miếng đất mà họ ở trên đó. Những người này nghĩ gì, những người đã tự đưa mình vào nơi bỏ trống, và lo âu chờ đợi Chính phủ bán nó, để tìm quyền mua trước của họ bằng cách mua cả triệu mẫu đất? Liệu bản thân những người này mong chờ sẽ đi cầu khẩn?… Họ sẽ làm một trong hai việc: hoặc là di chuyển sang lãnh thổ thuộc Tây Ban Nha, ở nơi họ không phải là những khách không được mời, và đóng góp cho quyền lực của một quốc gia nước ngoài tạo thành một miền biên cương nguy hiểm đối với chúng ta; hoặc họ sẽ tiến hành việc này, đi tiếp vào lãnh thổ Hoa Kỳ, và chiếm hữu mà không có phép của các ngài. Thế thì sẽ là trường hợp nào? Họ sẽ không trả các ngài tiền. Các ngài sẽ huy động lực lượng đuổi họ đi ư? Điều đó đã được thử; các đội quân được chiêu mộ, và cử đi… để thực hiện mục đích ấy. Họ đã đốt các lều, phá dỡ hàng rào, nhổ các vườn khoai tây; nhưng ba giờ sau khi các đội quân rút đi, những người này lại quay trở lại, sửa chữa lại những thiệt hại, và bây giờ định cư trên đất, công khai thách thức Liên bang.

Điển hình của tính nước đôi ở Quốc hội thời bấy giờ là các quan điểm của Ủy ban Đất đai Công cộng của Hạ nghị viện. Kiến nghị của Ủy ban năm 1801 cho rằng Quốc hội hãy từ chối những đòi hỏi của những người chiếm đất đòi quyền ưu tiên mua trước, trong khi Ủy ban công nhận rằng những người chiếm đất đã “định cư, canh tác, và cải thiện đất với bao công sức và khó khăn… [và như thế] không chỉ làm tăng giá trị đất mà họ đã chiếm, mà cả giá trị đất ở lân cận, mang lợi lớn cho Hoa Kỳ. Bất chấp thế, Ủy ban vẫn lập luận rằng việc cấp “đặc ân theo yêu cầu sẽ hoạt động như một khuyến khích cho sự xâm phạm đất công, và sẽ là một sự hy sinh không thể lý giải về lợi ích công cộng”. Và quan điểm thịnh hành này giữa các đại biểu Quốc hội đã từ chối bất kể quyền nào đối với họ.

Trong hai thập kỷ tiếp sau sự thành lập, phù hợp với Điều Một của Hiến pháp Hoa Kỳ, Quốc hội đã kiên định giữ nguyên tắc phản đối những người định cư trên đất đai công cộng một cách bất hợp pháp. Năm 1796, nó tăng giá tối thiểu đối với đất công từ 1 USD một mẫu được quy định trong Sắc lệnh Đất đai năm 1785 lên 2 USD một mẫu. Năm 1807, Quốc hội đã thông qua một biện pháp đưa ra các khoản phạt và phạt tù đối với bất kể kẻ chiếm đất nào không tuân thủ luật mộ tkhi đã được thông báo và cho phép dùng vũ lực để trục xuất những người định cư nếu cần thiết. Một tài liệu năm 1812 của Ủy ban Đất đai Công cộng của Hạ viện đã lưu ý rằng, “định cư bừa bãi và không được chuẩn y trên đất công trong nhiều khía cạnh là có hại cho lợi ích công cộng”.

Tuy vậy, vấn đề là Quốc hội, như trường hợp của nhiều nước ngày nay, đã xa rời thực tế: nó đã chẳng hề có nhận thức gì về mức độ to lớn của áp lực từ những người chiếm đất, nó cũng đã chẳng có các phương tiện để áp đặt các lệnh của mình. Thậm chí Tổng cục Đất đai, được thiết lập năm 1812 để đo đạc, bán, và đăng ký đất công, cũng chẳng thể làm công việc của mình. Được giao trách nhiệm xác nhận các giấy đăng ký do các văn phòng hạt gửi lên, cơ quan liên bang mới cũng phải cai quản lưu trữ hồ sơ của các khoản mua chịu. Các nhà lập pháp hy vọng Tổng cục Đất đai sẽ hoạt động như một trung tâm thông tin phục vụ các công dân mong muốn có đất. Nhưng tất cả các nhiệm vụ này đã nhanh chóng tụt lại sau trong hầu hết nghĩa vụ của họ. Như Patricia Nelson Limerick chỉ ra, chính bản thân các đại biểu Quốc hội đã đóng góp vào các vấn đề của Tổng cục Đất đai: “Nhân danh các cử tri, các đại biểu Quốc hội đã phàn nàn về tác phong chậm trễ của Tổng cục; về phần mình, các đại biểu Quốc hội đã đưa ra rất nhiều đòi hỏi thông tin làm ngốn hết thời gian của các nhân viên; và do mục đích tiết kiệm và tiết giảm, các đại biểu Quốc hội đã từ chối tăng ngân sách cho Tổng cục.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016

Mùa Đông kinh tế 2017 của châu Âu sẽ đến?


Thành Thực

Năm 2017, châu Âu sẽ hướng đến một năm thụt lùi thật sự về liên kết, mùa Đông giá rét của kinh tế châu Âu sẽ đến.

Về mặt tăng trưởng, sự suy giảm liên kết sẽ làm chậm lại tốc độ sản xuất của toàn bộ các nhân tố quan trọng và động lực tăng trưởng nội tại, về mặt rủi ro, chủ nghĩa ly khai và chủ nghĩa dân túy sẽ gia tăng rủi ro chính trị, đồng thời gia tăng rủi ro mất tốc độ tăng trưởng kinh tế, rủi ro nợ nần, giảm phát và rủi ro của ngành ngân hàng, từ đó là xấu đi toàn bộ môi trường phục hồi kinh tế của châu Âu. Đối với nước Anh, việc rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) sẽ đem lại rất nhiều “cơn đau ngắn hạn”; về châu Âu, việc thụt lùi của tiến trình liên kết kinh tế sẽ gây ra tình trạng khó khăn trong thời gian dài. Năm 2017, kinh tế châu Âu sẽ đối mặt với thách thức nghiêm trọng. Do sự liên kết suy giảm, mặt cơ bản của kinh tế suy yếu trong khi địa chính trị biến động, sức hấp dẫn của thị trường châu Âu dần dần giảm xuống, việc đồng euro mất giá sẽ kéo dài.

Nỗi đau của nước Anh: Sự tác động trong thời gian ngắn gây rối loạn nền kinh tế của quốc gia này

Cơ chế tác động của việc Anh rời khỏi EU đối với châu Âu và nước này hoàn toàn khác nhau. Đối với Anh, trong thời gian ngắn, tiến trình rời khỏi EU được triển khai chắc chắn sẽ tạo ra sự điều chỉnh nền kinh tế và đánh giá lại thị trường. Tuy nhiên, về lâu dài, có thể thấy hiệu ứng domino của việc rời khỏi châu Âu đối với một quốc gia khá hạn chế. Một khi thủ tục rời khỏi EU được hoàn tất, Anh sẽ ổn định tình hình chính trị và cân bằng kinh tế mới nhanh hơn so với EU. Do đó, trong vài năm tới, Anh chủ yếu phải đối mặt với nỗi đau lớn nhưng mang tính tạm thời, sẽ phải trả giá nặng nề một lần khi rời khỏi EU về tăng trưởng kinh tế và rủi ro thị trường.

Về mặt tăng trưởng kinh tế, tác động tiêu cực lớn sẽ làm suy yếu động lực tăng trưởng của Anh trong tương lai gần. Vào tháng 10/2016, Thủ tướng Anh Theresa May tuyên bố Anh sẽ lựa chọn mô hình “Brexit cứng” mang tính cực đoan, đồng thời rút khỏi những điều khoản được hưởng ưu đãi đặc biệt từ EU và thị trường EU. So với “mô hình Na Uy” và “mô hình Thụy Sĩ”, mô hình “Brexit cứng” sẽ phải trả giá về kinh tế lớn hơn trong tương lai gần, làm lung lay lòng tin của thị trường, hạn chế đầu tư và tiêu dùng, làm cho tăng trưởng kinh tế chậm lại. Hiệu ứng tiêu cực này sẽ thể hiện đầy đủ vào năm 2017. Căn cứ vào dự báo của IMF vào tháng 10/2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Anh là 1,05% vào năm 2017, giảm 1,1% so với dự báo được đưa ra vào tháng 4/2016, giảm 0,79% so với tốc độ tăng trưởng kinh tế vào năm 2016, giảm mạnh so với mức bình quân 2,16% trong lịch sử. Xem xét từ số liệu thống kê liên tục và chi tiết hơn trong thời gian gần đây, có thể thấy rất nhiều chỉ số của kinh tế Anh cũng chạm đáy mang tính giai đoạn. Trong 9 tháng đầu năm 2016, chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) của ngành chế tạo và ngành dịch vụ của Anh lần lượt là 51,5 điểm và 52,6 điểm, giảm 1,1 điểm và 4,1 điểm so với cùng kỳ năm 2015. Trong 9 tháng đầu năm 2016, chỉ số lòng tin người tiêu dùng ở Anh là 2,33, thấp hơn nhiều so với mức 3,08 của năm 2015.

Về mặt rủi ro thị trường, việc liên tục đánh giá lại thị trường sẽ làm gia tăng rủi ro của thị trường tài chính Anh.

Thứ nhất là rủi ro đồng bảng Anh luôn ở mức cao. Từ khi trưng cầu dân ý về việc rời khỏi EU đến nay, giá trị của đồng bảng ANh giảm 17,9%, lập kỷ lục thấp mới kể từ năm 1996, giảm 3,92% so với đồng USD. Do Anh thúc đẩy “Brexit cứng”, tỷ giá đồng bảng Anh chịu áp lực kép là quán tính đi xuống và không hãm lại được, dễ dàng tiếp tục xuất hiện biến động lớn.

Thứ hai, rủi ro bong bóng thị trường tài chính Anh dần dần lộ rõ. Vào tháng 10/2016, hệ số giá trên thu nhập một cổ phiếu (P/E), thể hiện mức độ mạnh yếu tương đối của thị trường chứng khoán đối với tăng trưởng inh tế, là 0,8%, vượt xa mức 0,32 và 0,33% của Đức và Pháp. P/E của Anh tăng cao lên 0,49% so với cùng kỳ năm 2015. Cho dù là thị trường chứng khoán Mỹ luôn có hệ số P/E tăng liên tục kể từ đầu năm 2016 đến nay, nhưng P/E của họ cũng chỉ tăng 0,4%. Điều này chứng tỏ trái ngược với nền kinh tế thực mỏng yếu, thị trường tài chính Anh có xu hướng phát triển quá nóng. Nếu tiến trình rời khỏi EU có sự đột biến về tâm lý thị trường và dòng tiền chảy ra nước ngoài, thì hệ số P/E bị suy giảm sẽ làm xấu đi nền kinh tế thực của Anh, xác suất dẫn đến việc đột ngột thay đổi giá tài sản giảm xuống, tiếp đó sẽ gây ra rủi ro mang tính hệ thống.

Tình trạng khó khăn ở châu Âu: Khó khăn kéo dài sẽ sắp xếp cục diện châu Âu

Việc Anh rời khỏi EU là “cơn đau ngắn hạn” đối với quốc gia này, nhưng lại gây ra tình trạng khó khăn lâu dài và liên tục đối với châu Âu. Năm 2017, châu Âu sẽ khởi động thực sự tiến trình suy giảm liên kết. Do tác động của chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo thủ và chủ nghĩa biệt lập, xu hướng kép “chia rẽ vùng + chia rẽ xã hội” sẽ ngày càng gay gắt, đồng thời dần dần làm đảo lộn và thiết lập lại cục diện chính trị và kinh tế của châu Âu. Trong quá trình thiết lập lại lâu dài, châu Âu sẽ có xu thế thụt lùi về tổng thể, địa vị thị trường quốc tế của đồng euro cũng dần giảm đi.

Xem xét từ cấp độ khu vực, thế lực ly khai khu vực ở châu Âu sẽ nhanh chóng trỗi dậy, chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa biệt lập ngày càng làn rộng. Trái ngược với làn sóng rút khỏi EU trước kia, việc Anh rời EU lần này không những lần đầu tiên tạo ra sự thụt lùi thực sự của tiến trình liên kết châu Âu, mà còn thông qua hai con đường khác nhau để phá vỡ sự đoàn kết của châu Âu.

Thứ nhất, do hiệu ứng điển hình của việc Anh rời khỏi EU, tâm lý chống liên kết đã tích tụ từ lâu của các nước tập trung bùng nổ, lời kêu gọi thông qua phương thức trưng cầu dân ý để rút khỏi EU dâng cao và lan rộng. Kết quả trưng cầu dân ý Anh rời khỏi EU khi vừa mới được công bố đã được sự hưởng ứng sôi nổi của các chính đảng muốn rời khỏi EU ở nhiều nước như Đảng Mặt trận Quốc gia (Pháp), Đảng Nhân dân (Đan Mạch), Đảng sự lựa chọn cho nước Đức, Đảng Tự do Hà Lan, Đảng Bình minh Dân chủ Séc… Trước cuộc bầu cử sắp diễn ra, các chính đảng cực hữu ở các nước như Pháp, Đức… đều đã đưa ra cương lĩnh chống liên kết nhằm giành lấy sự ủng hộ của cử tri. Tháng 5/2016, Đảng Tự do Áo phản đối EU đã thất bại khi thua sát nút với số phiếu 49,7% so với 50,3%, đánh dấu rủi ro rời khỏi EU của các nước châu Âu đã cận kề.

Thứ hai, do chịu tác động của việc Anh rời EU, tốc độ tăng trưởng GDP của châu Âu suy giảm, việc điều chỉnh hàng tồn kho trong nội bộ EU sẽ rất khó khăn, đồng thời không ngừng tạo ra xung đột lợi ích mới. Cho dù các nước tạm thời không rời khỏi EU, nhưng hợp tác khu vực, hiệp đồng chính sách và phối hợp lợi ích của châu Âu cũng dần dần suy yếu. Chẳng hạn, trong 8 tháng đầu năm 2016, đối với Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) chủ yếu là thương mại trong nội bộ, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa giảm 1,71% so với cùng thời điểm năm 2015, là mức thấp thứ hai kể từ năm 2000. Hơn nữa, tranh luận giữa Italy và EU về việc chính phủ có cứu giúp hay không mãi vẫn chưa kết thúc, đã lộ rõ mâu thuẫn nội tại giữa giám sát tài chính khu vực và lợi ích của mỗi nước.

Xem xét từ cấp độ quốc gia, có thể thấy sự chia rẽ trong xã hội mỗi nước sẽ tiếp tục gia tăng, sức mạnh của chủ nghĩa dân túy dần dần chiếm địa vị chủ đạo. Năm 2016, cơ chế tuần hoàn suy yếu “tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm – chủ nghĩa dân túy trỗi dậy” đã hình thành trong Eurozone, đã liên tục chia rẽ hệ thống xã hội của các nước trong tương lai. Bước đầu tiên, từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ của châu Âu đến nay, tăng trưởng kinh tế ở các nước châu Âu quá thấp, khó duy trì hệ thống phúc lợi cao, tỷ lệ thất nghiệp cao, đặc biệt là những người lao động ở tuổi thanh niên. Vấn đề này đã làm gia tăng mâu thuẫn xã hội, tạo ra mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa dân túy. Bước thứ hai, các chính đảng theo chủ nghĩa dân túy trỗi dậy và thúc đẩy thực hiện các chính sách chống liên kết và chống dân nhập cư.

Điều này sẽ làm mất đi nhanh chóng sức sống của thị trường và lão hóa cơ cấu lao động, giảm bớt tỷ lệ sản xuất những mặt hàng chủ chốt, tiến tới sự gia tăng mỏng yếu của động lực tăng trưởng nội tại của châu Âu trong thời gian dài. Thứ ba, sự mỏng yếu của động lực tăng trưởng nội tại trong thời gian dài sẽ tiếp tục tạo ra vấn đề kinh tế và mâu thuẫn xã hội, tiếp đó khuyến khích phát triển lực lượng dân túy. Điều quan trọng hơn là Eurozone hiện nay thiếu biện pháp hiệu quả để ngăn chặn vòng tuần hoàn hoàn toàn suy yếu, khó thoát khỏi bãi lầy bởi chủ nghĩa dân túy. Chẳng hạn, tuy Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) có thể tăng cường thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ để kích thích tăng trưởng kinh tế trong thời gian ngắn, nhưng tính lưu động gia tăng sẽ thúc đẩy thặng dư vốn, làm cho lợi nhuận của họ cao hơn giá lao động, phân phối thu nhập trong xã hội mất cân bằng hơn, cuối cùng vẫn có thể gia tăng tâm lý theo chủ nghĩa dân túy.

2017: Mùa Đông lạnh lẽo về kinh tế sắp đến

Châu Âu sẽ khởi động thực sự tiến trình suy giảm liên kết vào năm 2017. Trên cơ sở nghiên cứu trong nhiều năm của tôi về mặt cơ bản kinh tế và địa chính trị, kết hợp với các dự báo của các tổ chức uy tín như số liệu thống kê liên tiếp được đưa ra của IMF, có thể thấy tăng trưởng kinh tế của châu Âu năm 2017 sẽ bước vào giai đoạn giảm tốc, xu hướng phục hồi tiếp tục chậm chạp, dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế là 1,4%, việc cải thiện nợ nần và giảm phát sẽ rất hạn chế, dự báo tỷ lệ lạm phát khoảng 0,9%.

Do ảnh hưởng của việc Anh rời khỏi EU, rủi ro địa chính trị ở châu Âu trong năm 2017 rất lớn và có thể gia tăng rất nhiều rủi ro lớn như rủi ro vì giảm tốc về inh tế, rủi ro do nợ nần giảm phát, rủi ro ngành ngân hàng… Do đó, chính sách nới lỏng tiền tệ của ECB sẽ được tăng cường hơn, lãu suất tiền gửi sẽ giảm đi nhiều hơn. Đối với Anh, tác động tiêu cực khi Anh rời khỏi EU sẽ lộ rõ nhiều hơn trong năm 2017, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Anh cũng sẽ có xu hướng nới lỏng hơn.

Năm 2017, cục diện chính trị và kinh tế châu Âu sẽ bắt đầu xây dựng lại lâu dài và giản khổ. Xu hướng phân hóa kép “chia rẽ khu vực + chia rẽ xã hội” sẽ ngày càng quyết liệt, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo thủ và chủ nghĩa biệt lập sẽ nhanh chóng trỗi dậy. Do đó, ưu thế và sức hấp dẫn tương đối của thị trường Eurozone sẽ dần dần giảm xuống, khả năng đồng euro bị mất giá sẽ từng bước gia tăng.

Nguồn: bwchinese.com – 28/11/2016

TLTKĐB – 17/01/2017

Thành Thực, Viện nghiên cứu Pangoal