Tôn giáo là gì? – Phần I


Trong truyền thống triết học Tây Phương, suy tư về những vấn đề tôn giáo gần như chiếm vai trò trung điểm. Triết học tôn giáo, với tư cách là một chuyên ngành được giảng dạy trong khoa Triết, là việc phân tích và đánh giá, từ viễn cảnh triết học, ý nghĩa nhận thức (cognitive meaning) trong các truyền thống tôn giáo khác nhau, nhưng trong thực tế, hầu như tất cả các triết gia tôn giáo tại phương Tây chỉ tập trung vào Thiên Chúa giáo (Christianity). Những chủ đề mà họ thảo luận xoay quanh sự tồn tại của Thiên Chúa (the existence of God), những phẩm chất của Ngài, nguồn gốc của sự dữ (the problem of evil), sự bất tử của linh hồn (immortality of the soul), giá trị của diễn ngôn tôn giáo (validity of religious knowledge claims), quan hệ giữa đức tin và lý tính, khoa học và tôn giáo, đánh giá bản chất của kinh nghiệm tôn giáo, hàm nghĩa của đa nguyên tôn giáo (implications of religious pluralism). Những tác phẩm kinh điển trong truyền thống triết học tôn giáo Tây phương bao gồm Luận văn về chính trị và thần học  (Theologico-Political Treatise, 1670) của Spinoza, Tính hợp lý của Thiên Chúa giáo (The Reasonableness of Christianity, 1695) của John Locke, Thần luận (Theodicy, 1710) của Leibniz, nhưng theo quan điểm của nhiều học giả, triết học tôn giáo hiện đại thực sự bắt đầu với David Hume, Kant, và Hegel đặc biệt là Hume, người đã đẩy dòng tư duy cắm rễ sâu trong đức tin Kito giáo sang thời kỳ phân tích triết học thực sự. Tác phẩm nổi tiếng của Hume, Lịch sử đích thật của tôn giáo (The Natural History of Religion), phê phán quyết liệt tất cả mọi tôn giáo dựa trên mặc khải còn hơn cả Marx. Hai tác phẩm khác, Khảo sát sự hiểu biết của con người (An Enquiry Concerning Human Understanding) và Những đối thoại về tôn giáo tự nhiên (Dialogues Concerning Natural Religion), cũng là hai tác phẩm kinh điển trong dòng phát triển của triết học tôn giáo mà bất kỳ sinh viên khoa triết nào cũng không thể bỏ qua. Tính chất duy nghiệm kiểu Scotland (mà chúng ta chứng kiến rõ nhất trong triết học kinh tế của Adam Smith) của Hume đã thức tỉnh Kant, triết gia Khai sáng lỗi lạc nhất của Đức, khỏi cơn mê ngủ giáo điều thời Trung cổ.

Có rất nhiều định nghĩa về tôn giáo. Tạm thời chúng ta khoan bàn đến định nghĩa nổi tiếng của Marx: “Tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng” (Die Religion ist das Opium des Volkes) mà rất nhiều người hiểu sai ý nghĩa. Trước khi đưa ra một định nghĩa về tôn giáo được đại đa số mọi người đồng ý, chúng ta hãy nêu ra những khó khăn trong việc đi tìm một định nghĩa như thế.

Khó khăn thứ nhất liên quan đến vấn đề ngôn ngữ. Ai cũng biết rằng “tôn giáo” là một thuật ngữ dịch từ tiếng Anh là “religion”. Nhưng “religion” là cái gì thì ngay cả các triết gia tôn giáo hàng đầu chưa chắc đã hiểu chính xác. “Tôn giáo” là một từ Hán Việt, nghĩa là gốc của nó là tiếng Hán, nhưng bản thân tiếng Hán trước khi du nhập từ này từ tiếng Nhật (shukyo), thì không hề có từ “tôn giáo”. Chỉ có “tôn” theo nghĩa là “miếu thờ tổ tiên” (Thuyết văn: tôn, tổ miếu dã) và “giáo” theo nghĩa là “dùng đạo thờ thần để giáo hóa, dạy dỗ” như trong câu “thánh nhân dĩ thần đạo thiết giáo” (thánh nhân dùng đạo thờ thần để giáo hóa dân chúng). Nhưng không học giả nào dám phủ nhận rằng Trung Quốc từ xưa không có truyền thống tôn giáo đặc thù của họ. Chỉ cần nghiên cứu bộ Kinh Dịch thì chúng ta có thể thấy ngay Trung Quốc cổ đại là một khu vự hoàn toàn do các yếu tố tôn giáo chi phối. Còn đó có phải là “tôn giáo chính thống” theo mẫu thức tư duy hiện đại hay không thì chúng ta sẽ bàn sau.

Vậy thì “religion” là cái gì?

Không hiểu căn cứ vào đâu, TS. Nguyễn Thị HIền, giải thích thuật ngữ này như sau: “Từ religio [sic] có nguồn gốc từ tiếng Latinh, nghĩa là quyền năng mà con người có niềm tin và lòng mộ đạo hướng tới. Vào thời kỳ đầu (trước thế kỷ thứ V) thuật ngữ religio mang nghĩa là “nhà thờ”, bao gồm một cộng đồng với các con chiên theo Đức Chúa, trong đó quan hệ thành viên của cộng đồng xác định tất cả các khía cạnh đời sống của họ”.

Trước hết, hãy bàn về nguồn gốc của chữ religio mà TS. Nguyễn Thị Hiền vừa dẫn ra trong định nghĩa của mình.

Trước khi đời sống tôn giáo của người La Mã chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Hy Lạp thì danh từ tiếng Latinh religio có một ý nghĩa rất cụ thể. Theo một số học giả, religio chỉ một loại sức mạnh nằm bên ngoài con người và buộc họ phải thực hiện một số hành vi nào đó nếu không muốn bị báo oán. Nghĩa thứ hai: religio cũng dùng để chỉ một vật kiêng kị. Nghĩa thứ ba: religio cũng dùng để chỉ cảm xúc của một người khi gặp phải một sức mạnh như vậy.

Bản thân ý nghĩa từ nguyên học của thuật ngữ religio cũng đã gây tranh luận vào thời của Cicero khi triết gia này dẫn lời Balbus, một triết gia theo phái Khắc Kỷ, có đưa ra một hình dung từ bắt nguồn từ động từ relegere (cẩn thận gom lại) với ý nói rằng một người “tôn giáo” phải cẩn thận chăm lo cúng tế thần linh. Một tác giả theo Kito giáo là Lactantius phản đối quan điểm của Cicero và lập luận rằng sự mộ đạo không phải tùy thuộc vào việc con người cúng tế như thế nào, mà là cúng tế cho ai, nghĩa vụ nào cần phải được thực hiện. Do đó Lactantius đưa ra động từ religare (buộc lại) và cho đây mới là nghĩa gốc của từ religio. Lactantius viết: “Chúng ta được trói buộc vào Thiên Chúa nhờ xiềng xích của đức tin, đó chính là điểm xuất phát của từ tôn giáo, chứ không phải như Cicero viết, là bắt nguồn từ động từ “cẩn thận gom nhặt lại”…” [Hoc uinculo pietatis obstricti deo et religati sumus; unde ipsa religio nomen accepit, non ut Cicero interpretatus est a relegendo]. Bản thân Lactantius, vốn là một Kito hữu, phân biệt rõ sự thờ phượng Thiên Chúa mà ông gọi là vera religio (chính đạo) với sự thờ phượng các thần linh khác là falsa religio (tà đạo).

Thánh Jerome, người dịch Kinh Thánh sang tiếng Latinhh (bản Vulgata), dùng chữ religio để dịch chữ Hy Lạp thrèskeia (nghi thức phụng vụ).

Thánh Augustine đã viết hẳn một chuyên luận để giải thích ý nghĩa của thuật ngữ religio, De Vera Religione. Theo quan điểm của thánh Augustine, religio là sự kết nối vào tình yêu và sự vinh quang của Thiên Chúa. Hội Thánh tồn tại với chức năng duy nhất là tạo điều kiện cho sự kết nối này xảy ra. Thánh Augustine viết: “Tôi viết một cuốn sách về Tôn giáo chân chính trong đó tôi lý giải rất dài và bằng nhiều cách khác nhau rằng tôn giáo chân chính có nghĩa là sự thờ phụng Thiên Chúa chân chính, đó là Chúa Ba Ngôi, tức là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Thánh Augustine dùng hai từ religiocultus (thờ phượng)ần như hai từ đồng nghĩa. Động từ colere cũng dùng giống như religare. Có thể nói từ đây trong cấu hình tư duy Thiên Chúa giáo ý nghĩa của thuật ngữ “tôn giáo (religion) đã được xác định: đó là quan hệ kết nối giữa tín đồ và Đấng Toàn Năng thông qua việc phụng vụ Thiên Chúa.

Tuy vậy, sau thánh Augustine trong các cộng đoàn Kito giáo thuật ngữ religio vẫn chưa thực sự phổ biến. Thời Trung cổ thuật ngữ các Kito hữu ưa chuộng nhất vẫn là “đức tin” (fides). Trong thời kỳ này thuật ngữ religio dần dần khoác thêm ý nghĩa “đời sống tu hành trong tu viện” (vita monastica), một ý nghĩa đã tồn tại trong các văn bản thuộc thế kỷ thứ 5. Hình dung từ của religio dùng để chỉ các tu sĩ thuộc các dòng tu khác nhau (religiosus ordo, monasterium). Ngày nay tiếng Anh, “religious priest” cũng dùng để chỉ “linh mục dòng” để phân biệt với “secular priest” (linh mục triều). Các nói “to enter religion” có nghĩa là “vào dòng tu”, “religious vows” là “khấn dòng”, “religious habit” là “áo dòng”…

Bản thân thánh Thomas Aquinas trong bộ Tổng luận thần học (Summa Theologica) cũng dùng thuật ngữ religio với ba nghĩa khác nhau: sự thể hiện ra ngoài của đức tin, động cơ nội tại bên trong tín đồ khi phụng vụ lời Chúa, và chính việc phụng vụ. Thánh Thomas Aquinas viết: “Religio không phải là đức tin nhưng là chứng tá cho đức tin bằng các dấu chỉ bên ngoài” (Religio non est fides, sed fides, protestaio per aliqua exterira signa). Thánh nhân còn dẫn ra thuật ngữ Hy Lạp eusebia và cho rằng nó đồng nghĩa với religio (eusebia… ist idem quod religio). Eusebia chỉ ra một thái độ sùng kính đối với những thực thể linh thánh. Thánh Thomas Aquinas cũng dùng từ Hi Lạp latria để chỉ religio. Latria là việc phụng tự Thiên Chúa bằng cách thể hiện đức tin. Như vậy cuối cùng thì thánh Thomas Aquinas cũng quay lại với giải thích của thánh Augustine. Religio là một bổn phận ràng buộc tín đồ phải phụng vụ Thiên Chúa theo một cách riêng, như làm việc thiện và từ bỏ các lợi lạc của thế gian.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Dương Ngọc Dũng – Tôn giáo nhìn từ viễn cảnh xã hội học – NXB HĐ 2016.

Advertisements

Giao quyền trong quản lý kiểu Trung Quốc – Phần I


Độc chiếm quyền lớn, trên ra lệnh dưới phải tuân theo

Trước đây, kẻ thống trị ở Trung Quốc đều tự xưng mình là thiên tử, “khắp nơi trong thiên hạ, không đất nào không phải là đất của vua. Tất cả người trong thiên hạ, không có ai không là thần dân của vua”. Toàn bộ mệnh lệnh chính sự của cả một quốc gia đều nằm trong tay một người, hoàng đế nắm trong tay toàn bộ quyền sinh quyền sát. Thâu tóm quyền lực thống trị, thậm chí có thể nói độc quyền thống trị được coi là biểu hiện khá đặc sắc, rõ nét của những người lãnh đạo Trung Quốc. Đương nhiên, một người lãnh đạo không thể nào nhúng tay vào làm mọi việc, họ phải tiến hành phân phối quyền lực. Nhưng vấn đề đặt ra trước khi phân chia quyền lực là bạn phải nắm được quyền lực cao nhất, còn những quyền lợi mà bạn đã phân chia ra phải làm sao để cuối cùng chúng cũng phải quay lại tập trung trong tay của bạn. Về phương diện này, Hàn Phi Tử đã làm được một cách rất sâu sắc.

Hàn Phi Tử cho rằng: một người lãnh đạo thông minh nên “bối pháp”, “xử thế”, “chấp thuật. “Pháp” ở đây là chế độ pháp quy, “thế” ở đây là quyền lực, còn “thuật” ở đây là quyền thuật. “Pháp”, “thuật”, “thế”, phối hợp với nhau sẽ giúp bạn đứng trên cả vạn người, duy trì trật tự thống trị.

Nếu so sánh “phát, thuật, thế” thì Hàn Phi nhấn mạnh nhiều hơn đến “thế”. Trong tất cả các công việc điều hành cảu một người lãnh đạo, tác dụng của quyền lực có ý nghĩa quan trọng. Chúng ta đã nhận ra rằng rồng bay và rắn lượn có thể cưỡi mây đạp gió trên không trung cao cả vạn dặm, bay đi bay lại, biến hóa vô cùng là do chúng ta biết dựa vào mây và gió. Một khi mây đã tan, mất đi điều kiện dựa vào để sinh tồn thì chúng sẽ không còn vẽ hào quang thần kỳ được nữa, mà chẳng khác gì con giun, con kiến. Đối với người lãnh đạo, thứ ông ta cần dựa vào chính quyền lực. Có quyền lực là có thể đứng trên vạn kẻ khác, điều khiến cấp dưới; khi mất quyền lực thì chỉ còn cách chịu sự thống trị của kẻ khác mà thôi. Chính vì vậy, Hàn Phi đã rút ra kết luận sau: sự thành công hay thất bại trong công việc lãnh đạo với người quản lý phải chăng có mối quan hệ mật thiết với quyền lực thực chất mà họ vốn có. Do vậy, một người lãnh đạo thông minh nên tuân thủ nguyên tắc sau: “Không nên nuôi dưỡng lòng nhân ái, nhưng nên tăng thế uy nghiêm của mình”. Không cần coi trọng nhân ái, đạo đức mà nên đặt trọng tâm của công việc điều hành vào việc tăng cường và bảo vệ quyền lực của bản thân. Để làm được điều đó, phải tập trung toàn bộ bình quyền về tay mình quyền sở hữu tài sản, quyền thưởng phạt, bổ nhiệm và miễn nhiệm, cẩn thận đề phòng hiện tượng “chức thì to mà quyền thì nhỏ”.

Hàn Phi đã xuất phát từ góc độ của thuật điều hành để quan sát một cách khá toàn diện, trong tư tưởng của ông có rất nhiều điểm hợp lý. Từ cổ chí kim, cả trong và ngòa nước đã có vô số ví dụ chứng minh một chân lý rằng: “Không có quyền lực thì không thể điều hành, điều hành và quyền lực là hai cái không thể tách rời. Không có quyền lực thì sẽ như con rồng bị tách ra khỏi đại dương, dù cho có bản lĩnh thì cũng không thể thi thố, nói gì đến chuyện điều hành?” Tào Tháo là một cao thủ hiểu biết rất rõ đạo lý này.

Thời kỳ Tam Quốc, trước khi dời đô Hiến Đế đã có quyền lực trong tay, nhưng chẳng qua chỉ là một ông vua bù nhìn mà thôi. Trên thực tế, Tào Tháo đã sớm thâu tóm binh quyền, điều khiển và khống chế toàn bộ hoạt động của triều đình. Nhưng Tào Tháo thấy thế vẫn chưa đủ, luôn cảm thấy Hiến Đế là kẻ ngáng chân ngáng tay mình. Bởi lẽ, ngoài binh quần ra, Tào Tháo còn muốn thâu tóm toàn bộ quyền bính về tay mình, bao gồm bổ nhiệm, bãi miễn, thưởng, phạt, thực hiện việc nắm trong tay toàn bộ quyền lực thực sự, chỉ khi đó mới có thể từng bước thực hiện hoài bão của mình. Lúc đó, có một người mách nước cho Tào Tháo rằng vận số của nhà Hán đã kiệt, kẻ thay thế nhà Hán không ai khác chính là nhà Ngụy, mặt khác Tào Tháo là người mệnh Thổ, Hứa Đô cũng thuộc mệnh Thổ, nên nếu Tào Tháo chuyển đến đó lập nghiệp chắc chắn sẽ thịnh vượng. Thế là Tào Tháo liền quyết định buộc Hiến Đế dời đô. Hiến Đế không dám không nghe, quần thần cũng sợ thế lực của Tào Tháo nên cũng không dám có ý kiến nào khác.

Tào Tháo nghênh đón xa giá đến Hứa Đô, cho xây dựng cung điện, trùng tu lại tông miếu xã tắc, nha môn tại địa phương, sửa sang lại kho phủ và thành quách, lại phong hầu cho 13 người. Việc thưởng công phạt tội, đều nghe theo sự sắp xếp của Tào Tháo. Tào Tháo tự phong là Vũ Bình Hầu Đại Tướng Quân, sau đó bổ nhiệm chức vụ cho một loạt văn quan võ tướng thân tín. Nhờ đó, Tào Tháo đã thâu tóm toàn bộ quyền lực vào trong tay, các việc đại sự của triều đình, đều phải dâng sớ lên cho Tào Tháo xem trước, sau đó mới được dâng lên cho Thiên Tử. Qua việc dời đô, Tào Tháo đã ép Thiên Tử ra lệnh cho chư hầu, đạt được múc đích thâu tóm toàn bộ quyền lực.

Rất nhiều nhà lãnh đạo từ cổ chí kim, trong và ngoài Trung QUốc đều có chung một nhận thức tương đối thống nhất về việc tập trung quyền lực.

Trong thời kỳ cầm quyền của Nixon, một cách khéo léo, ông đã thâu tóm quyền lực tập trung hết về tay mình. Nixon đã dựa trên nền tảng êkip được tuyển chọn ban đầu để thiết lập nên một êkip mới trong Nhà Trắng. Trong số bốn chức vụ cao cấp do ông bổ nhiệm có hai người là thân tín của ông, một là Bob Haldeman đảm nhiệm chức Chánh văn phòng Nhà Trắng, người thứ hai là John Daniel Ehrlichman đảm nhiệm chức Phụ tá chuyên giải quyết các sự vụ trong nước cho Tổng thống. Về sau chính Bob Haldeman đã công nhận rằng: “Cho đến tận năm 1971, Tổng thống Nixon luôn sử dụng ba người dưới quyền của ông, đó chính là tôi, Ehrlichman và Cholson.

Thoạt trông thì nghĩ rằng êkip gồm bốn nhân vật là: Henry Kissinger, George Schultz, Bob Haldeman, John Daniel Ehrlichman mỗi người đảm nhiệm một vai trò và làm việc riêng với Tổng thống, ảnh huởng của họ trong việc vạch ra và thực hiện các chính sách quốc gia của nước Mỹ lúc đó vô cùng lớn, nhưng trên thực tế toàn bộ quyền lực đều nằm trong tay của Nixon. Ông phân chia quyền lực cho bốn phụ tá, có hai mục đích: một là, thông qua họ để nắm toàn bộ quyền lực vốn thuộc về các bộ trong nội các; hai là, mượn điều đó để kích thích tính tích cực của mỗi người, từ đó phát huy năng lực từng bộ phận, đảm bảo cho Nhà Trắng hoạt động hiệu quả.

“Vua Nghiêu vì thất học nên không thể trị nổi ba người; còn vua Kiệt lên ngôi thiên tử đủ khiến thiên hạ đại loạn”. Vua Nghiêu, vị vua anh minh của thời cổ đại, nhưng khi ông chưa giành được ngôi vu, thì dù có ba người cũng không thể trị nổi; còn vua Kiệt dù cả cuộc đời vốn là kẻ tàn bạo, bất tài vô dụng lại không có đức, nhưng khi ngồi lên ngôi vị thiên tử lại có thể điều khiển thủ hạ. Quan trọng ở đây chính là phải có quyền thế. Có quyền lực thì có thể sai hiến được người, không có quyền lực thì không thể sai khiến kẻ khác được. Những người thống trị tại Trung Quốc muốn đạt được mục đích “trên bảo dưới nghe thì bản thân phải thâu tóm quyền lực, như vậy mới có thể sai khiến được nhân viên dưới quyền, mới có thể sai khiến được cấp dưới, nhờ vậy các mệnh lệnh và biện pháp do bạn đưa ra sẽ được cấp dưới thực hiện nhanh chóng và triệt để”.

Quyền lực dễ phân tán, tập hợp quyền lực của mọi người

Thâu tóm quyền lực và phân chia quyền lực xem ra có vẻ mâu thuẫn nhưng kỳ thực không phải như vậy. Dám thâu tóm quyền lực thì cũng dám phân chia quyền lực. Có rất nhiều người Trung Quốc mong được làm quan, mong có chút quyền lực, chính vì vậy những người lãnh đạo đã lợi dụng tâm lý này của họ để phân chia quyền lực ở mức độ thích hợp, nhằm giải phóng mình ra khỏi hàng loạt các công việc không tên nảy sinh ra hàng ngày. “Thâu tóm quyền lực lớn, phân tán bớt quyền lực nhỏ, dựa vào quyền lực để trị người, điều động cấp dưới” là một thủ đoạn lãnh đạo mà các nhà quản lý Trung Quốc thường hay áp dụng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.

Những nước cờ của Nga trong bối cảnh Mỹ có tân Tổng thống


Cách đây 10 năm khi Vladimir Putin tức giận tuyên bố rằng trật tự thế giới sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh là điều không có thật. Đứng trước các nhà ngoại giao và quân sự phương Tây tại hội nghị an ninh Munich, Tổng thống Nga cáo buộc Mỹ đã đẩy thế giới vào vòng xoáy hỗn loạn bằng cách gây ra các cuộc chiến, can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác và bất chấp luật pháp quốc tế. Đối với nhiều người, điều này đánh dấu khoảnh khắc ông Putin trở thành kẻ thù của phương Tây.

Giờ đây khi các quan chức an ninh và ngoại giao tụ họp tại thành phố Bavarian, cái trật tự thế giới mà ông Putin từng chỉ trích bất thình lình trở nên mong manh. Chủ đề an ninh tại hội nghị Munich năm nay đặt ra là liệu có đúng là phương Tây đang sụp đổ sau khi dư luận công chúng bất mãn trước việc nước Anh rút khỏi Liên minh châu Âu (EU) và việc ông Donald Trump lên nắm quyền tại Mỹ.

Và việc một nước Nga bị ngó lơ và là nạn nhân mà ông Putin từng mô tả về nước Nga năm 2007 đã không còn nữa, nước Nga đã quay trở lại sân khấu chính trường thế giới bởi hàng loạt các hành động như xâm chiếm Crimea, đóng vai trò can dự quan trọng tại Syria, và những cáo buộc của một số nước phương Tây là gây ảnh hưởng, tác động đến kết quả bầu cử của họ. Tân Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson, cựu Tổng giám đốc điều hành ExxonMobil, tại buổi nhậm chức hồi tháng trước thừa nhận các nước đồng minh NATO đã đúng khi gióng lên tiếng chuông cảnh báo về “một nước Nga trỗi dậy” – một cụm từ thường được nghe thấy tại các nước phương Tây.

Giám đốc chương trình Nga và các nước Á – Âu thuộc Carnegie Endowment, Washington, Eugene Rumer cho rằng ông Putin đã “xí” phần cho nước Nga, khẳng định được những lợi ích của nước Nga đó là giá mà nước Mỹ phải trả. Nước Nga đã khẳng định vị trí của mình, thách đố được trật tự thế giới tự do mà nước Mỹ khởi xướng và dẫn dắt thế giới kể từ khi kết thúc thế chiến thứ hai.

Kremlin thận trọng

Mặc dù trong bối cảnh “trỗi dậy” của mình, nước Nga vẫn thể hiện sự thận trọng – đặc biệt trong bối cảnh lộn xộn hiện nay tại Washington. Tại Mỹ, có thể có một số người cho rằng nước Nga đang hân hoan về kết quả thắng cử của ông Trump, nhưng những tuyên bố chính sách mâu thuẫn và việc thất bại trong việc thiết lập kênh đối thoại cấp cao với Tổng thống Mỹ đang làm những kỳ vọng của nước Nga đối với tân Tổng thống Mỹ trở nên bấp bênh. Giới chức Nga đã tỏ ra thận trọng khi nói đến việc ông Trump có thể xây dựng lại mối quan hệ với Moskva, từ lạc quan một cách thận trọng nay chuyển sang thái độ phòng thủ, trong một số trường hợp tỏ ra ngờ vực và bực tức, điều này có thể được thấy giống như thái độ của các nước châu Âu đối với Mỹ trong những ngày vừa qua.

Theo lời một quan chức cấp cao Nga, Nga không nôn nóng để tiếp cận với tổng thống Trump mặc dù họ có thể thiết lập sắp xếp để hai tổng thống sớm gặp nhau. Tuy nhiên truyền thông phương Tây đã chống lại Nga, chống lại nỗ lực thu xếp cuộc gặp này. Thậm chí việc bố trí để thu xếp cho cuộc gặp gỡ giữa ngoại trưởng Mỹ Tillerson với người đồng cấp Nga Sergei Lavrov tại bên lề cuộc họp thượng đỉnh G20 đã rất khó khăn. Theo vị quan chức này, việc truyền thông phương Tây ráo riết tuyên truyền chống Nga kịch liệt đã khiến ông Trump, người lúc đầu tỏ ra quyết tâm bắt đầu một khởi đầu mới với Nga, bây giờ đang phải rút lại, giữ khoảng cách với Nga.

Đằng sau những khó khăn này, những nhà quan sát Nga cho rằng phương Tây đã đánh giá sức mạnh của Nga quá cao và đã hiểu sai các động cơ của Nga. Andrei Kortunov, Tổn giám đốc Hội đồng Các vấn đề Quốc tế Nga cho biết các hành động của Kremlin là thiên về tự vệ và để đáp trả lại những động thái lấn lướt tước đoạt lợi ích của nước Nga. Tuy nhiên, một số nhà tư tưởng Nga thì coi đó là chiến thắng của Nga và tin rằng sự suy yếu không gì đảo ngược được của phương Tây sẽ nâng vị thế của nước Nga trên toàn cầu. Theo lời Natalia Narochnitskaya, một nhà ngoại giao, một cựu đại biểu quốc hội thuộc lực lượng dân tộc bảo thủ Nga thì “thời hoàng kim của trật tự thế giới tự do đã kết thúc”. Bà Narochnitskaya cho rằng nhiều công dân châu Âu đã vỡ mộng về khả năng của liên minh châu Âu đối với châu lục này. Putin, đối với những người này, là lãnh đạo duy nhất dám công khai, giương cao biểu ngữ cho rằng ông bảo vệ những giá trị truyền thống. Châu Âu hậu thời kỳ hiện đại có thể sẽ không thể chống chọi được với thách thức do các nền văn minh khác đem lại, bà Narochnitskaya nhận xét, và “chỉ khi cùng với nhau, Nga và châu Âu sẽ trở thành một bên trong tam giác quyền lực trên thế giới đó là liên minh Á – Âu, nước Mỹ và Trung Quốc”.

Đối phó với NATO

Kể từ năm 2007, khi ông Putin đưa ra những lời chỉ trích Mỹ, Moskva bắt đầu khẳng định sự ảnh hưởng của mình. Tám tháng sau kể từ bài phát biểu của Putin tại Munich, Nga tiến hành cuộc chiến kéo dài 1 tuần lễ với Georgia nhằm bảo vệ những người thiểu số theo Nga để lập tách khu tự trị riêng cho họ, chỉ vài tháng sau khi tại cuộc họp thượng đỉnh tại Bucharest của NATO đưa ra tuyên bố Georgia và Ukraine sẽ trở thành thành viên của NATO. Mặc dù choáng váng trước cuộc xung đột, phương Tây đã cố gắng tìm kiếm một sự khởi đầu mới trong mối quan hệ với Nga. Cuộc chiến tại Georgia không chỉ là phát súng đầu tiên, năm 2014 Nga đã sáp nhập Crimea trong khi đó kích động những người li khai tạo ra xung đột ở phía đông Ukraine sau khi Nga nhận thấy Mỹ đứng đằng sau ủng hộ cuộc biểu tình lật đổ Viktor Yanukovich, vị tổng thống thân Nga.

Cuộc xung đột tại Ukraine đã dẫn đến sụp đổ hoàn toàn mối quan hệ của Nga với phương Tây. Nhưng ông Putin đã không dừng lại ở đó. Khi mà Mỹ và EU đang cố gắng trừng phạt Putin bằng các lệnh trừng phạt và cô lập nước Nga, thì Putin tiếp tục can thiệp vào Syria, giúp đỡ tổng thống Bashar al-Assad giành lại phần lãnh thổ trong cuộc nội chiến nước này và làm trệch đi nỗ lực của Mỹ nắm vai trò trung gian trong quá trình chuyển đổi chính trị tại nước này.

Cộng đồng tình báo Mỹ được cho là tin rằng Moskva đang chuẩn bị để thu gặt được giải thưởng cao nhất. Theo đánh giá của cơ quan tình báo quốc gia, Nga đã can thiệp vào bầu cử Mỹ bằng một “chiến dịch gây ảnh hưởng thông qua các hành động tấn công mạng và tuyên truyền”. Chưa đầy một tháng sau khi nhậm chức, việc từ chức của cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Michael Flynn do nói dối về việc từng thảo luận vấn đề trừng phạt với Đại sứ Nga trước khi nhậm chức đã làm dấy lên những lo ngại tại Washington cho rằng Nga chính là người giật dây đằng sau Chính phủ Mỹ.

Lo ngại về “một cuộc mặc cả lớn” mà ông Putin có thể sẽ tiến hành với ông Trump ngày một tăng lên. Tại cuộc họp bàn tròn do hãng thông tấn nhà nước Nga Rossiya Segodnya tổ chức hồi cuối tháng trước, các nhà phân tích chính trị cho biết họ tin rằng Moskva và Washington có thể thỏa thuận với nhau về những khu vực nằm dưới ảnh hưởng của mình. Một số chiến lược gia của Nga cho rằng giải pháp cho cuộc khủng hoảng tại Ukraine và hợp tác chống lại khủng bố toàn cầu có thể trở thành con bài mặc cả trong các cuộc thương thuyết đôi bên.

Alexei Chesnakov, một cựu quan chức của Kremlin, hiện đứng đầu Trung tâm Nghiên cứu Các vấn đề Chính trị, một cơ quan nghiên cứu độc lập của Nga, cho biết ông hy vọng bầu cử mùa Xuân này tại Pháp sẽ góp phần làm thay đổi ít nhiều thái độ đối với Nga vì các ứng cử viên thuộc cánh hữu có vẻ là thông cảm với Nga hơn.

Ông cho rằng Ukraine đang bắt đầu giống như một nước “thất bại” và bởi vậy có thể sẽ được xem như là một nơi tạo ra khủng bố – một đặc điểm mà các nước phương Tây không nhìn nhận như vậy. Ông cho rằng, trong bối cảnh đó thì chủ đề để cùng nhau phối hợp chống lại chủ nghĩa khủng bố quốc tế sẽ dành cho cả Nga và Mỹ.

Ông Kortunov tin rằng Moskva sẽ vẫn bất đồng với việc mở rộng EU và NATO của phương Tây. Ông Putin cũng đã so sánh chính sách đối ngoại và các động thái an ninh của Nga như chú gấy vùng Siberia đó là không muốn từ bỏ nơi đây.

Khi quyết định can thiệp vào Syria, Moskva đã làm sống lại mối quan hệ với tất cả các nước trong khu vực. Khai thác việc không có sự hiện diện của Mỹ tại đây, các nhà ngoại giao Nga đã thể hiện họ như là đối tác đối thoại cho các nước có lợi ích xung đột nhau, do vậy đã xây dựng một hệ thống bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, nước thành viên của NATO, Ai Cập, Iraq, Iran, Jordan, Saudi Arabia và UAE. Kết quả là, không nước nào có thể phớt lờ được Moskva khi giải quyết các xung đột trong khu vực.

“Xoay trục” sang châu Á

Nga cho rằng phương Tây đã giật dây, làm thay đổi chế độ tại một số nước như Libya và Iraq. Một nhà ngoại giao phương Tây tại Moskva cho rằng Nga đang dấn sâu vào các nước này để các nước phương Tây tiếp tục mắc phải các sai lầm tuy nhiên nhà ngoại giao này nửa đùa nửa thật khi nói “chúng tôi thích điều này bởi vì chúng tôi cần họ (Nga)”. Đồng thời, Moskva đã nhảy vào xây dựng các mối quan hệ với các nước đứng đầu tại châu Á, những nước có tốc độ phát triển nhanh nhất trong khu vực, ngoài việc xây dựng các mối uqan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc, Nga đang xây dựng mối quan hệ thân thiện đối với Việt Nam và Ấn Độ, để cạnh tranh với Mỹ và đang lôi kéo tổng thống Philippines hiện nay Rodrigo Duterte. Và ông Putin đang sử dụng mong muốn của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước để lôi kéo đồng minh quan trọng nhất của Mỹ tại châu Á rơi vào quỹ đạo của mình. Những động thái này có thể đặt Nga vào vị trí chủ chốt trong việc đứng ra làm trung gian thương thuyết xung đột tại các vùng như tại Biển Đông hoặc những căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Ông Kortunov cho rằng “Nga bị trấn thương tâm lý thời hậu đế quốc như nhiều nước khác tại châu Âu. Ưu tiên hàng đầu của Kremlin do vậy là đưa nước Nga trở lại vị trí trung tâm trên chính trường thế giới”. Điều này đã đem lại điểm cộng cho ông Putin trong nước Nga. Mặc dù các cuộc bỏ phiếu cho thấy nhiều người Nga cho rằng ông Putin đang dẫn dắt nước Nga kém đứng về góc độ kinh tế nhưng lại quan tâm ủng hộ ông Putin dẫn dắt nước Nga do nhiều người ủng hộ mạnh mẽ chính sách đối ngoại khẳng định mình của ông Putin. Trong các câu chuyện về nước Nga trỗi dậy, các chuyên gia Nga đã thận trọng lưu tâm rằng nếu không đẩy mạnh nền kinh tế đang chậm chạp của mình, thì khả năng tiến xa của Nga trong tương lai sẽ bị hạn chế. Có nhiều ví dụ trong lịch sử cho thấy các quốc gia gặp khó khăn về kinh tế thì luôn cố gắng thúc đẩy mạnh mở rộng ảnh hưởng của mình ra bên ngoài, và điều này cũng giống như nước Nga hiện nay, ông Timofeev nhìn nhận. Nhưng nền tảng kinh tế và xã hội nhìn về dài hạn, cũng như việc gia tăng ảnh hưởng một cách bền vững đối với một quốc gia, sẽ là điều không thể. Nước Nga không giống như Trung Quốc và Ấn Độ, những nước gây ảnh hưởng lớn trên thế giới đến một cách tự nhiên cùng với việc phát triển kinh tế của họ. Putin đã chứng minh được chiến thuật khôn ngoan là khai thác các cơ hội trên thế giới với giá mà Moskva phải trả ở mức thấp nhất. Tuy nhiên, cả các quan chức ngoại giao phương Tây và Nga đều nói Nga không thể làm được gì một mình nếu như không có Mỹ hoặc các nước phương Tây khác cùng can dự đối với các vấn đề trên thế giới. Với cách nhìn nhận này, thậm chí các chiến lược gia Nga cũng thấy nghi ngờ về việc liệu Nga tham gia vai trò kiểu nước lớn ở nhiều nơi trên thế giới sẽ đem lại lợi ích về lâu dài cho nước Nga. Theo ông Timofeev, nếu như giả định cho rằng trật tự thế giới tự do sẽ bị sụp đổ là đúng, thì có thể nước Nga sẽ có nhiều cơ hội hơn. Nhưng ông cũng lập luận rằng đây không phải là viễn cảnh có nhiều khả năng xảy ra nhất.

Nguồn: Financial Times – 16/02/2017

TKNB – 23/02/2017

Những giải pháp toàn diện về cuộc tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa: Một số lựa chọn – Phần VI


Cơ cấu tổ chức

Khu vực được lựa chọn có thể được đặt dưới sự cai quản của một Cơ quan quản lý quần đảo Trường Sa với nhiều quyền lực (Spratly Management Authority – SMA) mà mô hình đầy đủ của nó là một Hội đồng, một Tổng thư ký, một Ban thư ký và các Ủy ban tài chính và kỹ thuật. Hội đồng sẽ là một cơ quan soạn thảo quyết định. Tổng thư ký sẽ được Hội đồng bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Hội đồng thi hành những quyết định và điều hành công việc hàng ngày của SMA. Ban thư ký bao gồm một nhóm các chuyên gia về tài chính và kỹ thuật giúp việc cho Tổng thư ký và qua Tổng thư ký giúp cho các Ủy ban tài chính và kỹ thuật. Các Ủy ban tài chính và kỹ thuật sẽ được Hội đồng bổ nhiệm trên cơ sở công bằng, và chúng sẽ gợi ý phương hướng hành động cho Hội đồng. Ở một góc độ khác, một cơ quan điều phối Trường Sa (Spratly Coordinating Agency – SCA) có tổ chức không chặt chẽ cũng có thể hoạt động điều phối và hoạt động như một văn phòng trao đổi phục vụ cho những dự án khai thác chung riêng lẻ của những bên tranchấp cụ thể nào đó tại một khu vực cụ thể nhất định. Phương án này chỉ cần đòi hỏi có một giám đốc và có thể một Ban thư ký gọn nhẹ. Chúng ta tin rằng trách nhiệm của Ủy ban liên chính phủ nhằm phối hợp những dự kiến chung để khai thác tài nguyên khoáng sản (the Integovernmantal Comettee for Coordination of Joint Prospecting for Mineral Resources – CCOP) có thể được mở rộng để bao gồm các chứng năng điều phối hoặc của trạm điều động một khi tất cả các bên tranh chấp (trừ Trung Quốc và Brunei) là thành viên.

Ưu điểm của SCA là nó cho phép khả năng co dãn một cách tối đa và khả năng điều hành riêng biệt đối với nhiều vùng khác nhau có liên quan tới các bên tranh chấp đối với mỗi một khu vực cụ thể nào đó. Song SCA không đề cập tới những vấn đề đánh cá chồng lấn lẫn nhau và quản lý môi trường. Tính ưu việt của một cơ quan điều hành nhiều quyền lực là ở chỗ tất cả các bên hữu quan đều có tiếng nói trong công tác điều hành của họ và như vậy là đã xây dựng được lòng tin thông qua hợp tác. Nó cũng đưa ra phương án phân chia những vị trí có ý nghĩa trong SMA, kể cả vị trí của Tổng thư ký, cho các quốc gia cụ thể. Đồng thời nó cũng cho phép việc quản lý nguồn sinh vật chồng chéo giữa các vùng và mở rộng khả năng nhân nhượng, thỏa hiệp.

Các chế độ điều hành mẫu và việc phân chia chi phí và lợi nhuận

Sau khi đã vạch ra những nguyên tắc, mục tiêu, yếu tố và thành phần quan trọng của chế độ điều hành vùng biển Nam Trung Hoa, giờ đây chúng ta hãy phác thảo ra một số phương án lựa chọn mẫu:

i/ Một cơ quan quản lý Trường Sa (SMA) có đủ quyền lực điều hành khu vực nằm ở những vị trí có độ xa như nhau

Phương án này có thể tập trung vào khai thác nguồn tài nguyên, trước hết là hydrocarbon và nguồn sinh vật trong khu vực nằm trong đường phân giải cách đều bờ biển của những quốc gia tranh chấp và những hòn đảo nhỏ tại Trường Sa (đây là khu vực “hạt nhân”). Tất cả các bên tranh chấp sẽ gạt ra một bên (không phải là từ bỏ) những tranh chấp cảu họ đối với vùng biển và nguồn tài nguyên ở đây. Tỷ số phần trăm trong việc chia sẻ lợi nhuận và những chi phí cho việc điều hành SMA có thể được phân chia tùy theo phạm vi tranh chấp ban đầu nằm trong hu vực chính hoặc cũng có thể là dọc theo chiều dài miền duyên hải bao quanh khu biển Nam Trung Hoa. Dựa trên phạm vi tuyên bố chủ quyền ban đầu thì phần lớn nhất thuộc về Trung Quốc và Đài Loan, hai đối tượng tranh chấp này tuyên bố chủ quyền phần lớn khu vực này, và, với tỷ lệ phần trăm giảm dần, phần ít hơn sẽ dành cho Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei. Tỷ lệ phần trăm dành cho Trung Quốc/Đài Loan là 52%, Việt Nam 28%, Philippines 11%, Malaysia 8% và Brunei 1%. Trung Quốc và Đài Loan sẽ phải làm việc với nhau để bàn cách ăn chia và vai trò từng bên trong chức năng của SMA. SMA sẽ điều hành vùng này nằm trong đường phân giải cách đều và điều hành việc khai thác, thăm dò nguồn tài nguyên tại đây. Giành cho Trung Quốc một phần lớn khu vực này sẽ thuyết phục Trung Quốc tham gia, song làm như vậy là điều không thể chấp nhận được đối với các bên tranh chấp khác.

Việc tìm ra một giải pháp nào đó giải quyết sự tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc là chìa khóa cho một giải pháp đối với vấn đề rộng lớn hơn tại Trường Sa. Bên cạnh khu vực chính tại Trường Sa, Việt Nam và Trung Quốc đang có những mâu thuẫn chưa được giải quyết trên bộ, ngoài biển Vịnh Bắc Bộ, trên quần đảo Hoàng Sa và tại Vùng Vanguard Ban/Wanan Bei. Nếu Việt Nam có được sự giải quyết suôn sẻ với Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ và khu vực Vanguard Bankk thì Việt Nam có thể xem xét giải quyết 28% hoặc dưới 28% trong phần của mình tại SMA, là nơi có tiềm năng hydrocarbon thấp hơn. Có một khả năng là bất cứ lượng khí đốt nào được tìm thấy ở vùng Vanguard Bank có thể được chuyển thành khí hóa lỏng tại một nhà máy ở Việt Nam hoặc có thể được Việt Nam sử dụng trực tiếp bằng cách chuyển về mỏ Đại Hùng bằng đường ống dẫn, có thể là chia một phần lượng gas hoặc tiền lãi cho Trung Quốc.

Tuy nhiên, việc dựa vào phạm vi tranh chấp ban đầu làm cơ sở cho việc định ra cách ăn chia sẽ đẻ ra một số phức tạp lớn. Thứ nhất là phạm vi vùng tranh chấp ban đầu của Trung Quốc/Đài Loan và Việt Nam không rõ ràng và thứ hai là các nước bao giờ cũng có khuynh hướng lập luận rằng vùng tuyên bố chủ quyền của họ rộng hơn rất nhiều so với thực tế. Vì những khó khăn trên nên phần phân chia sẽ dựa vào chiều dài bờ biển được định hướng chung của các quốc gia tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa. Theo cách thức này thì Trung Quốc và Đài Loan cả hai sẽ nhận được khoảng 31%, Việt Nam 26%, Philippines 21%, Malaysia 20% và Brunei 2%. Điểm khác biệt chính giữa việc định theo kiểu này và việc định ra dựa trên phạm vi tranh chấp ban đầu là ở chỗ phần giành cho Trung Quốc giảm từ 52% xuống còn 31% trong khi đó phần giành cho Philippines và Malaysia tăng đáng kể. Vì thế cho nên việc khuyến khích Trung Quốc tham gia hoặc có sự nhượng bộ đối với Việt Nam ở những nơi khác sẽ bị suy giảm đáng kể.

Vị trí thành viên có quyền bỏ phiếu trong Hội đồng chỉ được giành cho các bên tranh chấp, mặc dầu các quốc gia khác nằm trong vùng biển Nam Trung Hoa và các cường quốc biển nằm ngoài khu vực sẽ có ghế và tiếng nói trong Hội đồng song không có quyền bỏ phiếu. Theo cách thức này thì khó khăn là ở chỗ nó không dung hòa được những quyền lợi được tiếp cận với nguồn tài nguyên của các quốc gia khác nằm trong vùng biển Nam Trung Hoa như: Indonesia, Singapore, Thái Lan, Campuchia và nước Lào không có biển. Song, nếu các quốc gia này mỗi nước sẽ nhận được một phần bằng phần nhỏ nhất của các nước tranh chấp, như Brunei 1%, thì tỷ lệ phần trăm giành cho Trung Quốc/Đài Loan theo phương thức ăn chia dựa trên phạm vi tranh chấp ban đầu, sẽ giảm xuống còn dưới 50%. Trung Quốc/Đài Loan vì thế sẽ không có phần lớn nhất trong cách tổ chức đó và vì thế sẽ không chấp nhận cách dàn xếp này. Do đó các quốc gia không có tranh chấp chỉ nên nhận vài phầm trăm lợi nhuận để thừa nhận là họ cũng có quyền lợi như các quốc gia trong vùng biển Nam Trung Hoa, song họ không có quyền bỏ phiếu trong các quyết định của tổ chức này. Các phần còn lại sẽ được tính toán lại thành 100% để phục vụ cho việc phân chia và bỏ phiếu. Trong bất kỳ cách thức ăn chia đa phương nào cũng cần phải có một điều khoản đặc biệt dành cho việc ăn chia quyền được hưởng những nguồn tài nguyên sinh vật dôi dư của khu vực dành cho các quốc gia không có biển hoặc nằm ở vị trí địa lý bất lợi như Lào và Singapore.

Sự nhất trí – hoặc không có sự phản đối chính thức – và sự thỏa hiệp phải là những tiêu chuẩn trong việc đưa ra các quyết định của Hội đồng quản lý Trường Sa. Nhưng những quyết định thông qua bỏ phiếu có thể là cần thiết trong hệ thống phân chia sản phẩm của cơ quan điều hành và cần thiết đối với những quyết định trong việc quản lý đánh bắt cá và quản lý môi trường. Sau đây là gợi ý về một số phương án lựa chọn. Tất cả những phương án này đều rất phức tạp trong việc bảo đảm tính công bằng cũng như khuyến khích sử thỏa hiệp và nhất trí giữa các bên tranh chấp.

(còn tiếp) 

Người dịch: Khánh Toàn

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Mark J. Valencia & Jon M. Van Dyke – Comprehensive solutions to the South China Sea disputes: some Options – Trong cuốn The Sea unite: Maritime Cooperation in the Asia Pacific Region. Strategic Study Center, Australian National University 12/96, Pp 224 – 260.

TĐB 97 – 10 & 11, 12

Phong trào áo vàng tàn sát nước Pháp


Nước Pháp vừa trải qua một chuỗi ngày thứ Bảy “đen tối” của tháng 11 khi phong trào “áo vàng” tập trung về các thành phố trên khắp đất nước để biểu tình phản đối quyết định tăng thuế nhiên liệu của chính phủ cũng như tình trạng giá cả đang ngày càng đắt đỏ. Theo phóng viên TTXVN tại Pháp, nhiều người biểu tình quá khích đã đốt ô tô, đập phá các cửa hàng, công trình công cộng và cả trụ sở chính quyền địa phương… Cho đến thời điểm hiện tại, vẫn còn quá sớm để đánh giá những thiệt hại mà phong trào này đã gây ra nhưng có thể khẳng định đây là một đòn mạnh giáng vào các hoạt động thương mại và du lịch của Pháp.

Kể từ khi lên nắm quyền cách đây hơn 1 năm, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm định hình lại nền kinh tế và cải cách các cơ quan công quyền. Những biện pháp cải cách gây tranh cãi, đặc biệt là quyết định cho phép nới lỏng các luật về thuế sa thải người lao động, đã khiến chỉ số tín nhiệm dành cho Ông chủ Điện Elysé giảm xuống mức thấp. Quyết định tăng thuế nhiên liệu của chính phủ Pháp có hiệu lực từ tháng 10 vừa qua đúng vào lúc giá dầu thế giới tăng đã gây ra làn sóng phản đối mạnh mẽ trong người dân, đặc biệt là nông dân. Dự kiến vào tháng 1/2019 sẽ có thê một đợt tăng giá dầu diesel, nhiên liệu vốn được sử dụng rất phổ biến tại Pháp. Dù chính phủ cho rằng tăng thuế nhiên liệu nhằm khuyến khích các lái xe sử dụng phương tiện ít tiêu thụ nhiên liệu hơn, từ đó giảm khí thải gây ô nhiễm môi trường, nhưng hàng nghìn người vẫn đổ xuống các đường phố chính ở các thành phố để phản đối. Trong khi đó, Thủ tướng Pháp Edouard Philippe khẳng định sẽ không rút lại quyết định tăng thuế nhiên liệu bất chấp các cuộc biểu tình.

Ngày 3/12 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Kinh tế Bruno Le Maire đã có cuộc họp khẩn với các chuyên gia thương mại Pháp để thảo luận về hậu quả của các cuộc biểu tình vừa qua. Những đánh giá ban đầu chủ yếu tập trung vào những thiệt hại trong lĩnh vực thương mại, ngân hàng, giao thông, du lịch, dịch vụ và khách sạn để từ đó kêu gọi chính phủ của Tổng thống Macron có biện pháp ổn định tình hình, tránh tiếp tục để xảy ra một ngày thứ Bảy mới tương tự. Trong lĩnh vực thương mại, giới doanh nhân đã bày tỏ hết sức hoang mang, lo lắng về những hậu quả nghiêm trọng đối với hoạt động kinh tế của họ nhất là vào thời điểm “mùa vụ tốt nhất”, đặc biệt là những ngày lễ dịp cuối năm đã cận kề như Noel và Năm mới. Các cuộc biểu tình của phong trào “áo vàng” đã khiến nhiều cửa hàng kinh doanh trên các tuyến phố trọng yếu phải đóng cửa vào ngày thứ Bảy. Đó là chưa kể đến các vụ đập phá, cướp tài sản mà một số phần tử biểu tình lợi dụng thực hiện.

Theo nhận định của ông Yohann Petiot – Tổng giám đốc Liên minh thương mại Pháp, các cuộc biểu tình đã khiến nước Pháp chịu tổn thất hàng triệu euro và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh quốc gia. Trong kỳ giảm giá “Black Friday” vừa qua, các trung tâm thương mại lớn ở Pháp cũng đã ghi nhận sự sụt giảm 9% lượng khách hàng mua sắm. Riêng ngày thứ Bảy vừa qua, con số này được ghi nhận là 15%. Còn theo đánh giá của Liên đoàn thương mại và phân phối Pháp (FCD), tình trạng phong tỏa trong thời gian qua liên quan đến phong trào biểu tình “áo vàng” đã gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho hoạt động kinh doanh. Nhiều cửa hàng kinh doanh bị phong tỏa hoặc bị đóng cửa, lượng khách mua hàng cũng giảm và việc thông quan và giao hàng cũng bị đình trệ… Thiệt hại doanh số bán hàng ước tính từ 20 – 30%.

Trong lĩnh vực du lịch, các cuộc biểu tình đã khiến hàng nghìn lượt du khách quốc tế đến Paris phải hủy bỏ lịch trình. Tình trạng này kéo theo thiệt hại nặng nề của các hoạt động dịch vụ nhà hàng và khách sạn. Theo ông Roland Heguy – Chủ tịch Liên đoàn dịch vụ du lịch, Liên minh nghề nghiệp và công nghiệp khách sạn Pháp (UMIH), các cuộc biểu tình ngày 1/12 vừa qua đã “tàn sát” hình ảnh thân thiện của Paris cũng như của nước Pháp. Các cuộc biểu tình này không chỉ đe dọa đến du khách nước ngoài mà còn đe dọa cả những người dân Pháp. Trong lĩnh vực tài chính, hàng loạt các ngân hàng đã trở thành mục tiêu tấn công trong các cuộc biểu tình. Một chi nhánh ngân hàng LCL của Pháp ở quận 16 Paris đã bị những phần tử biểu tình quá khích phá hủy hoàn toàn. Theo báo cáo sơ bộ của Liên đoàn ngân hàng Pháp (FBF), nhiều ngân hàng ở thủ đô Paris ít nhiều đều bị thiệt hại. Ngoài ra, nhiều ngân hàng ở ngoại ô Paris và các nơi khác cũng bị những người biểu tình tấn công.

Trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh ô tô, mặc dù các nhà máy sản xuất ít hoặc thậm chí không bị tác động, nhưng các đại lý ủy quyền của các hãng ô tô lại bị thiệt hại đáng kể. Nhiều nhân viên kinh doanh và khách hàng đã gặp khó khăn trong việc giao và nhận xe, nhiều hợp đồng mua bán cũng bị đình trệ hoặc bị hủy. Rõ ràng những thiệt hại này hoàn toàn nằm ngoài phí bảo hiểm của nhà nước. Theo đánh giá của Hội đồng quốc gia nhà nghề ô tô của Pháp (CNPA), các hợp đồng mua bán xe hơi đã giảm mạnh trong những tuần xảy ra biểu tình. Ví dụ như các đại lý xe hơi ở các vùng miền Tây nước Pháp như Lorient, Angers và Vannes đã buộc phải đóng cửa torng ngày thứ Bảy vừa qua. Tại một sự iện thương mại ở vùng Fréjus diễn ra cuối tháng 11/2018, chỉ có 5 đơn hàng được giao dịch thành công trong khi ở một sự kiện tương tự diễn ra cùng kỳ năm 2017, con số này là từ 30 – 40 đơn hàng. Cuối cùng là trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý các công trình giao thông, các công ty quản lý xa lộ ngoài việc bị “mất mát” do thất thu phí đường bộ còn phải chịu nhiều thiệt hại do người biểu tình gây ra. Nhiều nơi ở của nhân viên quản lý đường bộ cũng như các trạm kiểm soát của lực lượng hiến binh Pháp thuộc khu vực trạm thu phí vùng Nam Narbonne đã bị người biểu tình đốt phá.

Những thống kê trên chỉ là những thiệt hại trước mắt có thể dễ dàng nhận thấy ngay sau các cuộc biểu tình của phong trào “áo vàng ở Pháp thời gian gần đây. Chắc chắn còn nhiều thiệt hại lớn hơn, sâu sắc không chỉ về vật chất mà còn cả về tinh thần, về những giá trị của một nước Pháp văn minh, biểu tượng của tự do và hòa bình mà thế giới từng ngưỡng mộ. Một khi chính phủ của Tổng thống Macron không có biện pháp hữu hiệu để “thỏa mãn” người biểu tình thì tình trạng này sẽ còn lặp lại.

Nguồn: TKNB – 05/12/2018

Sự phát triển của văn hóa – Phần XIII


Dưới đây chỉ là một vài ví dụ. Với vai trò là các nhà khoa học xã hội, tác giả cũng muốn ghi vài điểm mấu chốt về tính chuyên nghiệp của chúng ta dưới ánh sáng tư duy tiến hóa. Mặc dù nó không phải lúc nào cũng được nhìn nhận như vậy, nhưng bất kỳ nghiên cứu nào về hành vi con người, bất kỳ lĩnh vực nào của khoa học xã hội và nhân văn đều nhìn vào những khía cạnh của tiến hóa biểu tượng và hành vi. Phạm vi của những lĩnh vực này trải rộng từ cá thể đến nhóm nhỏ, rồi đến xã hội và quốc tế. Với những vấn đề phức tạp hơn, trình tự thời gian của hầu hết những lĩnh vực này nhiều nhất là hàng năm, thậm chí còn không liên quan đến lịch sử. Hệ quả là chúng thường không liên quan với lịch sử tiến hóa của loài người. Sự riêng biệt này đã tạo ra một bức tranh rộng khắp về những kỷ luật gây hiểu nhầm hoặc thờ ơ và có giá trị dự đoán hạn chế trong đời sống xã hội. Tình cảnh này có thể hiểu được trong bối cảnh đối tượng nghiên cứu rất phức tạp và hoàn toàn là mục tiêu tiến bộ. Kết quả, nó đã tạo ra một “quần đảo ngà voi” biệt lập với xã hội, để lại một khoảng trống được lấp đầy bằng những những ý thức hệ kém hiểu biết có xu hướng phục vụ lợi ích của một nhóm đơn lẻ. Những hệ thống tư duy như vậy đã trở nên phổ biến bởi vì chúng phù hợp với liệu pháp tổng thể mà khoa học chưa khám phá hết được. Một lối tiếp cận đa chiều và theo lịch sử, nhận thức bản chất con người ở mức đầy đủ nhất sẽ có ích cho khoa học xã hội và nhân văn rất nhiều.

Đây là hướng đi trong đó những đổi mới có ý nghĩa có thể dự đoán được trong những thập kỷ tới. Khoa học xã hội tự bản thân nó cũng cần phát triển. Những động lực được áp dụng hoặc bị lụi tàn đều không giúp gì được, bởi vì chúng thúc đẩy sự cá biệt hóa và ít có sự tương tác đa chiều. Cần có những động lực mới cho các công việc tương tác đặt khoa học xã hội trong phạm vi tiến hóa rộng hơn.

Quan điểm về tiến hóa có xu hướng sẽ khá thẳng thắn, chẳng hạn như ví dụ dưới đây. Bạn đọc nên cố gắng hình dung ra bản thân các sức ép tiến hóa và các xu thế tiến hóa. Các phần trước đã phác họa những tri thức tóm lược về kinh doanh, quản trị, công nghệ và ngôn ngữ dưới góc độ tiến hóa. Vậy còn âm nhạc, bóng đá, chương trình học đường, phim ảnh thì sao? Còn công nghệ di động và trang web nữa chứ? Đây là một sự phát triển đương đại gây nhiều tranh cãi, cần phải nhìn nhận thấu đáo hơn.

Mạng và đại lý nhóm

Các mạng truyền thông di động và các trang web có trở thành nét văn hóa toàn cầu hay không? Liệu loài người có sử dụng cái gọi là “trí tuệ tổ ong” như dự đoán của Kevin Kelly năm 1994 hay không? Cũng vào năm 2009, “Hives” là một phần mềm mạng xã hội phổ biến trong giới trẻ. “Tôi đoàn kết tức là tôi tồn tại” là một khẩu hiệu của Descartes mà trường đại học của Gert Jan sử dụng để thu hút sinh viên ngành truyền thông xã hội. Phải chăng nó ám chỉ là “Nếu bạn không đoàn kết thì bạn không tồn tại”?

Mạng truyền thông di động nhất định đã xuất hiện như một ngôi sao chổi, tạo ra một sự thay đổi thật sự. Vào ngày 23/3/1997, Carlo Picornie – một cổ động viên Hà Lan ở thành phố Ajax – trở thành kẻ tử vì đạo của môn túc cầu. Các nhóm cổ động viên hooligan của các câu lạc bộ Ajax và Feynoord đã sử dụng điện thoại di động để tìm kiếm nhau mà không có sự can thiệp của cảnh sát, và sau đó nổ ra một cuộc chiến ở bãi cỏ gần thành phố Beverwijk. Carlo vô tình bị đánh chết bằng gậy gộc, dao và búa Đánh nhau và phá hoại cho vui xung quanh các trận đấu bóng đá giữa các nhóm thanh niên thù địch không chỉ là hiện tượng ở Hà Lan, và việc liên lạc bằng điện thoại di động để phối hợp hành động bây giờ là chuyện thường tình với những người kinh doanh, trẻ em, tội phạm và cảnh sát nữa.

Kể từ năm 1997, hệ thống máy tính dùng cho xã hội hóa tạo ra một đấu trường mới hấp dẫn của tiến hóa biểu tượng. Trẻ em ở nhiều nước hằng ngày truy cập vào phần mềm mạng xã hội bất kỳ khi nào có thể. Việc này cho phép chúng giữ liên lạc với bạn bè hầu như lúc nào chúng không ở trường, tham gia vào hoạt động thể chất, hay trên giường. Đứng từ quan điểm tiến hóa, tốc độ ứng dụng mạng xã hội di động thật chóng mặt. Phần mềm mạng xã hội như Facebook, Hives, LinkedIn, Plaxo, Twitter, Xing… đã mở rộng với tốc độ vượt xa khả năng lan truyền của dịch cúm, và chúng ta mới chỉ bắt đầu thôi.

Vào năm 2009, một chương trình vacxin ở Hà Lan chống lại một virus gây ung thư tử cung hướng tới các thiếu nữ đã phải làm lại vì có những lời đồn đại lan rộng trên mạng xã hội cho rằng loại vacxin này rất nguy hiểm. Bất chấp những thông tin có căn cứ, những lời đồn đại đã khiến 15% nhóm đối tượng mục tiêu phải ở nhà. Việc từ chối tiêm vacxin là một câu chuyện dài ở Hà Lan, nhưng nó đã từng bị hạn chế ở những cộng đồng tôn giáo bảo thủ và không phải là sản phẩm của mạng Internet sớm nở sớm tàn.

Tính chất mới mẻ của những bài tường thuật đã mô tả chỉ là bề nổi. Chúng liên quan đến những động cơ của con người cổ xưa: các nhóm đàn ông gây chiến, phụ nữ buôn chuyện – nhưng việc sử dụng các công nghệ truyền thông mới là một sự thay đổi tạo nên phát triển. Ở những ví dụ này cũng như hàng triệu ví dụ khác về sự úng dụng nhanh chóng phần mềm xã hội thì bản mô phỏng là gì? Đó là đại diện nhóm. Sự cạnh tranh giữa các nhóm thể hiện ở trường hợp hooligan và liên kết nhóm được thúc đẩy ở trường hợp từ chối tiêm vacxin. Bất kỳ công cụ mới nào cho phép thúc đẩy hai lực lượng này đều nhanh chóng được sử dụng bởi vì nó đem lại lợi thế chọn lọc cho nhóm sử dụng nó. Chưa nói đến những tai họa lớn có thể xảy ra, sẽ không có cách nào quay trở lại từ những bước tiến hóa này.

Cấp độ chọn lọc nào (di truyền, biểu sinh, giới tính, hành vi, biểu tượng) bị ảnh hưởng bởi những ví dụ này? Có thể nói rằng tất cả các cấp độ. Những người nào về mặt di truyền hay biểu sinh chưa phù hợp với việc sử dụng những công cụ truyền thông này sẽ phải chịu một chi phí xã hội và khó có khả năng tìm được đối tác. Người nào không học được cách điều khiển chúng hoặc năng lực ngôn ngữ yếu kém sẽ bị bất lợi. Tuy nhiên, tác động chọn lọc lớn hơn sẽ ở cấp độ nhóm: các nhóm sử dụng công nghệ mới với mục đích tốt sẽ thực hiện tốt hơn. Đó là bởi vì họ sẽ làm tốt hơn về mặt liên kết. Còn thực chất họ có thực hiện tốt hơn không còn phụ thuộc vào những yếu tố khác. Vì vậy phần mềm xã hội còn là một công cụ khác để thực hiện chọn lọc cấp độ nhóm. Ta có thể dự đoán những tiến bộ nhanh chóng về phần mềm xã hội, phần mềm hỗ trợ xây dựng quan hệ và duy trì danh tiếng, và về những ứng dụng khác giúp duy trì phạm vi đạo đức. Ở các nền văn hóa trong đó giáo dục đóng vai trò quan trọng, công nghệ mới được sử dụng trong giáo dục, trong các nhóm coi trọng xã hội hóa, và nó sẽ được sử dụng vì mục đích đó. Tóm lại, những tiến bộ này trong công nghệ truyền thông sẽ không xóa được ranh giới giữa các nhóm, nhưng chúng sẽ thúc đẩy những nhóm hiện thời tổ chức hiệu quả hơn, xây dựng trên nền văn hóa vốn có.

Sự hội tụ văn hóa và sự phân chia văn hóa

Nghiên cứu về phát triển các giá trị văn hóa một lần nữa lại cho thấy có rất ít bằng chứng về sự hội tụ quốc tế qua thời gian, trừ sự gia tăng chủ nghĩa cá nhân đối với các nước đang giàu lên. Những khác biệt về giá trị giữa các nước được các tác giả miêu tả từ hàng thế kỷ trước nay vẫn còn nguyên giá trị, mặc dù các nước vẫn tiếp tục tiếp xúc gần gũi với nhau. Ít nhất trong vài trăm năm tới, và có lẽ hàng thiên niên kỷ sau, các nước vẫn còn khác biệt nhau về văn hóa.

Không chỉ sự đa dạng văn hóa sẽ vẫn còn tồn tại, mà dường như những khác biệt giữa các nước còn gia tăng. Các nhóm thiểu số đạt tới một tầm nhận thức mới về đặc trưng của nhóm mình và đòi hỏi được công nhận về mặt chính trị cho đặc trưng đó. Dĩ nhiên, những khác biệt giữa các nhóm thiểu số này vẫn diễn ra. Cái thay đổi là mật độ tiếp xúc giữa các nhóm – thứ đã xác nhận với các thành viên trong nhóm về đặc tính của nhóm. Sự lan truyền thông tin (bằng truyền thông quốc tế) cũng cho thấy con người sống ở khắp nơi trên thế giới có ảnh hưởng đến các nhóm thiểu số như thế nào, ai so sánh họ với phần còn lại của thế giới mà họ cho rằng khấm khá hơn. Truyền thông tin tức thế giới cũng lan truyền thông tin về tổn thất và xung đột rộng khắp chưa từng có. “Tẩy chay thiểu số”, nổi dậy, và trấn áp bạo lực không còn mới mẻ, nhưng trước kia có khá ít người ngoài cuộc biết về chúng. Ngày nay, chúng hiển hiện qua màn hình tivi khắp nơi trên thế giới. Sự lan truyền rộng rãi này có tác dụng làm tăng nỗi lo, đặc biệt ở những nơi văn hóa né tránh xung đột. Ý thức đạo đức thức dậy đối với sự lụi tàn của các nhóm người khác chứ không phải nhóm mình. Đó không phải là tiếng gọi đồng nhất văn hóa, mà là tiếng gọi hợp tác lẫn nhau. Con người khẩn thiết phải có khả năng hợp tác tốt hơn vượt qua những khác biệt về giá trị đạo đức trong khi dung hòa những khác biệt về biểu tượng giữa họ. Về lâu dài, tư duy tiến hóa mang lại niềm hy vọng ở khía cạnh này. Bởi vì công nghệ liên tục làm giảm chi phí hợp tác và gia tăng chi phí mâu thuẫn, cho nên có áp lực chọn lọc hướng tới mục tiêu các phạm vi đạo đức cùng tồn tại trong hòa bình với nhau. Tuy nhiên, con đường phía trước thật chông gai và chi phí mâu thuẫn tiềm tang đòi hỏi tất cả chúng ta phải có lối cư xử trách nhiệm hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Mối liên hệ lạ thường giữa trí não và vật lý lượng tử – Phần II


Ngày nay, các nhà vật lý vẫn chưa đồng thuận xem đâu là cách tốt nhất để giải thích các thí nghiệm lượng tử này, và ở một mức độ nào đó tự bản thân bạn (ở thời điểm hiện tại) có thể tùy chọn cho mình ý nghĩa của chúng. Nhưng dù là cách này hay cách khác, thật khó để lờ đi ngụ ý rằng ý thức và cơ học lượng tử có liên quan với nhau theo một cách nào đó.

Đến đầu những năm 1980, nhà vật lý người Anh Roger Penrose đã đề xuất rằng mối liên quan này có thể theo một hướng khác. Dù nhận thức có ảnh hưởng lên cơ học lượng tử hay không, ông nói, có lẽ cơ học lượng tử vẫn luôn có vai trò trong ý thức.

Nếu, Penrose hỏi, có những cấu trúc kiểu phân tử trong trí não của chúng ta, có khả năng thay đổi trạng thái của chúng để đáp lại một sự kiện lượng tử đơn lẻ thì sao? Liệu những cấu trúc này có thể gắn với một trạng thái chồng chập, cũng như các hạt trong thí nghiệm hai khe hẹp không? Và liệu có thể rằng các trạng thái chồng chập lượng tử ấy cũng xuất hiện trong những phương thức kích hoạt các nơron thông tin cho nhau qua các tín hiệu điện hay không?

Có lẽ, Penrose nói, khả năng duy trì những trạng thái tinh thần có vẻ như không tương thích của chúng ta, không phải là điều dị thường của ý thức, mà là một hiệu ứng lượng tử thực sự.

Sau cùng, trí não con người có vẻ như có khả năng xử lý các quá trình ý thức vượt xa khả năng của các máy tính kỹ thuật số. Có lẽ thậm chí chúng ta có thể thực hiện những nhiệm vụ tính toán bất khả với các máy tính thông thường, vốn sử dụng lôgic kỹ thuật số cổ điển.

Sau cùng, trí não con người có vẻ như có khả năng xử lý các quá trình ý thức vượt xa khả năng của các máy tính kỹ thuật số. Có lẽ thậm chí chúng ta có thể thực hiện những nhiệm vụ tính toán bất khả với các máy tính thông thường, vốn sử dụng lôgic kỹ thuật số cổ điển.

Penrose đề xuất quan điểm về hiệu ứng lượng tử trong ý thức của con người trong cuốn sách in năm 1989 của ông, The Emperor’s New Mind (Trí não mới của Hoàng đế). Ý tưởng này được gọi là Orch-OR, viết tắt của “orchestrated objective reduction” (sự giản lược khách quan hài hòa).

Orch-OR đã gợi đến đề xuất của Penrose rằng lực hấp dẫn là nguyên nhân dẫn tới thực tế rằng các vật thể đời thường, như những chiếc ghế hay các hành tinh, không thể hiện hiệu ứng lượng tử. Penrose tin rằng sự chồng chập lượng tử trở nên bất khả với các đối tượng vô cùng lớn so với nguyên tử, bởi hiệu ứng hấp dẫn của chúng sẽ ép buộc hai phiên bản không tương thích của không-thời gian đồng thời tồn tại.

Penrose đã phát triển ý tưởng này xa hơn cùng với bác sĩ người Mỹ Stuart Hameroff. Trong cuốn sách in năm 1994 Shadows of the Mind (Những cái bóng của trí não), ông đề xuất rằng những cấu trúc tham gia vào nhận thức lượng tử này có thể là các dải protein gọi là microtubule. Chúng xuất hiện ở hầu khắp các tế bào của chúng ta, bao gồm cả các nơron trong não bộ. Penrose và Hameroff lập luận rằng những rung động của microtubule có thể gắn với một trạng thái chồng chập lượng tử.

Nhưng không có bằng chứng nào cho một niềm tin mơ hồ như vậy.

Người ta từng nghĩ rằng ý tưởng chồng chập lượng tử trong các microtubule được ủng hộ bởi một số thí nghiệm thực hiện năm 2013, nhưng thực tế những nghiên cứu này không hề đề cập đến các hiệu ứng lượng tử.

Bên cạnh đó, đa số các nhà nghiên cứu nghĩ rằng ý tưởng Orch-OR đã bị một nghiên cứu công bố năm 2000 loại bỏ. Nhà vật lý Max Tegmark đã tính toán rằng các trạng thái chồng chập lượng tử của những phân tử xuất hiện trong tín hiệu nơron không thể tồn tại trong thậm chí một phần nhỏ của thời gian cần thiết để tín hiệu ấy có thể được truyền đi.

Các hiệu ứng lượng tử như sự chồng chập rất dễ bị phá hủy bởi một quá trình gọi là sự phân rã, có nguồn gốc từ những tương tác của một đối tượng lượng tử với môi trường xung quanh nó, qua đó “tính lượng tử” mất đi.

Sự phân rã được coi là vô cùng nhanh trong môi trường nóng ẩm như các tế bào sống.

Tín hiệu thần kinh là những xung điện, do các nguyên tử mang điện đi qua vách tế bào thần kinh tạo ra. Nếu một trong những nguyên tử này đang ở trong một trạng thái chồng chập và sau đó va chạm với một nơron, Tegmark đã chỉ ra rằng sự chồng chập này có thể phân rã trong không tới một phần tỉ tỉ của một giây. Cần có ít nhất mười nghìn tỉ lần thời gian như vậy để một nơron phóng ra một tín hiệu.

Do đó, người ta hết sức hoài nghi các ý tưởng về những hiệu ứng lượng tử trong não.

Tuy nhiên, Penrose không bị những lập luận này lay chuyển và không thay đổi giả thuyết Orch-OR. Và mặc cho dự đoán của Tegmark về sự phân rã vô cùng nhanh trong các tế bào, các nhà nghiên cứu khác đã tìm thấy bằng chứng cho những hiệu ứng lượng tử trong sinh vật. Một số người chỉ ra rằng cơ học lượng tử chính là cơ chế giúp những con chim di cư sử dụng hệ thống dẫn đường bằng từ, và giúp những cây xanh sử dụng ánh sáng để tạo ra đường từ sự quang hợp.

Bên cạnh đó, một nghiên cứu công bố năm 2015, nhà vật lý Matthew Fisher của Đại học California ở Santa Barbara lập luận rằng não bộ có thể chứa những phân tử có khả năng duy trì những trạng thái chồng chập lượng tử mạnh hơn. Ông tin rằng những hạt nhân nguyên tử phốt pho có thể có khả năng này.

Các nguyên tử phốt pho tồn tại ở khắp mọi nơi trong tế bào sống. Chúng thường ở dạng các ion phốt pho, trong đó một nguyên tử phốt pho kết hợp với bốn nguyên tử ôxy.

Những ion như vậy, là đơn vị cơ bản của năng lượng trong tế bào. Hầu hết năng lượng của tế bào đặt trong các phân tử gọi là ATP, vốn chứa một dây ba nhóm phốt phát kết hợp thành một phân tử hữu cơ. Khi một trong ba gốc phốt phát tách ra tự do, năng lượng được giải phóng để tế bào sử dụng.

Các tế bào có cơ cấu phân tử để tập hợp các ion phốt phát thành nhóm và tách chúng trở lại. Fisher đề xuất một lược đồ trong đó hai ion phốt phát có thể được đặt trong một trạng thái chồng chập đặc biệt gọi là một “trạng thái rối”.

Các hạt nhân phốt phát có một tính chất lượng tử gọi là spin, khiến chúng giống như những nam châm với các cực chỉ theo những hướng cụ thể. Trong một trạng thái rối, spin của một hạt nhân phốt pho phụ thuộc vào spin của hạt nhân còn lại.

Nói cách khác, các trạng thái rối thực ra chính là những trạng thái chồng chập với nhiều hơn một hạt lượng tử.

(còn tiếp) 

Nguyễn Duy Khánh dịch
Nguồn: http://www.bbc.com/earth/story/20170215-the-strange-link-between-the-human-mind-and-quantum-physics