Xung đột kinh tế Mỹ – Trung: Tạm ngừng gây chiến, khởi động đàm phán – Phần cuối


Vậy một thỏa thuận sẽ ra sao?

Mặc dù các phương án của Chính quyền Trump đều mới lạ, nhưng tranh chấp kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc đã có một lịch sử lâu dài. Những phàn nàn của Mỹ về cách đối xử của Trung Quốc đối với tài sản trí tuệ đã có từ nhiều thập kỷ trước, cũng như những lời phàn về việc bán phá giá, các khoản trợ cấp làm méo mó thương mại, và thâm hụt thương mại song phương. Những lời phàn nàn của Mỹ về Trung Quốc cũng không phải duy nhất. Năm 1990, khi được hỏi ông cảm thấy ra sao về những gì người phỏng vấn gọi là “vị thế ưu việt về kinh tế của Nhật Bản”, nhà phát triển bất động sản Donald Trump đã nói: “Người Nhật Bản phỉnh phờ chúng ta, họ cúi chào chúng ta tuyệt vời đến thế nào và sau đó họ móc túi chúng ta. Chúng ta đã mất hàng trăm tỷ USD một năm trong khi họ cười vào sự ngu ngốc của chúng ta”. 8 năm trước, Robert Lighthizer, khi đó là một luật sư thương mại thuộc đảng Cộng hòa và cũng từng là cấp phó của Đại diện thương mại Mỹ Bill Brock trong Chính quyền Reagan, đã vạch ra một kế hoạch để Mỹ đối đầu với Trung Quốc về thương mại, đầu tư và những gì Lighthizer mô tả là các chính sách kinh tế “theo chủ nghĩa trọng thương” của Trung Quốc.

Ông lập luận rằng Mỹ cần đánh giá phí tổn đối với Mỹ từ những gì ông cho là hành vi xấu về kinh tế, và đáp trả Trung Quốc bằng những hình phạt thương mại có quy mô tương đương. Mỹ sau đó có thể đàm phán về các cải cách tại Trung Quốc, được hỗ trợ bởi những biện pháp trừng phạt thương mại lớn. Là Đại diện thương mại đặc biệt cho Tổng thống Trump, đây chính xác là những gì Lighthizer đã làm. Nhóm các khoản thuế quan lớn đầu tiên áp đặt lên Trung Quốc được cho là tương ứng với chi phí đền bù cho các tập đoàn Mỹ có tài sản trí tuệ được miễn cưỡng chuyển giao cho Trung Quốc.

Bất chấp giọng điệu này, thật khó có thể tin rằng các nhà hoạch định chính sách Mỹ thực sự sẵn sàng kéo dài một cuộc tranh chấp kinh tế quy mô lớn và gây nhiều thiệt hại như vậy chỉ để tỷ lệ tăng trưởng vốn đã nhanh trong xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc, hoặc để bảo vệ nền sản xuất cơ bản mà đã điều chỉnh theo nhập khẩu của Trung Quốc, hay định hình lại mô hình tài khoản vãng lai toàn cầu mà đã tự tái định hình. Như đã chỉ ra, đó là những vấn đề di sản – điều mà những nhà hoạch định chính sách Mỹ sâu sắc hơn đã nhận thấy. Cũng khó có thể hình dung rằng các nhà hoạch định chính sách Mỹ thực sự tin nền kinh tế Trung Quốc sẽ sớm trở nên lớn hơn rất nhiều so với Mỹ theo một thước đo nắm bắt được sức nặng về kinh tế. Ngoài một số nhân vật diều hâu trong bộ máy an ninh quốc gia, không thể có nhiều nhà hoạch định chính sách Mỹ nghiêm túc hay khéo léo cho rằng tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc có thể và phải bị ngăn chặn. Ngoại trừ những người bên lề, khó có thể tin các nhà hoạch định chính sách nghiêm túc cho rằng có thể hoặc cần phải nỗ lực phá hủy bộ máy chính sách kinh tế của ĐCSTQ tại Trung Quốc, hoặc đem lại một sự thay đổi chế độ. Chắc chắn Mỹ đang tìm kiếm những thay đổi lớn trong chính sách và thông lệ, nhưng việc đưa ra những yêu cầu bất lợi tới mức buộc Trung Quốc phải tìm kiếm đồng minh ở nơi khác sẽ không phục vụ cho lợi ích lâu dài của Mỹ.

Thay vào đó, những gì chúng ta đang chứng kiến là một tranh chấp thương mại về vai trò đi đầu trong lĩnh vực công nghệ trong những thập kỷ tới. Tranh chấp này không được giải quyết theo những thỏa thuận hay cam kết của WTO, “trật tự dựa trên quy tắc”, và hiện không thể hòa giải thông qua WTO. Chúng sẽ không được giải quyết theo các điều khoản của một “trật tự kinh tế tự do” tưởng tượng.

Một phần cộng đồng an ninh quốc gia Mỹ cho rằng sức mạnh đang gia tăng của Trung Quốc cần phải bị kìm hãm, rằng một phần lớn sức mạnh này xuất phát từ thành công kinh tế của Trung Quốc, và thành công kinh tế của Trung Quốc bắt nguồn từ việc nước này tham gia nền kinh tế toàn cầu – với sự hỗ trợ của Mỹ. Nhận thức được mối đe dọa đó, cộng đồng an ninh quốc gia cho rằng Mỹ và các đồng minh cần phải “cắt đứt” các chuỗi cung ứng trong nền kinh tế Trung Quốc. Đây là một phần trong một quan điểm lớn hơn về việc “đóng băng” Trung Quốc khỏi nền kinh tế toàn cầu. Chừng nào những quan điểm này trở nên phổ biến, các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Mỹ không thể thành công.

Có một số quan điểm mâu thuẫn nhau trong Chính quyền Trump và vẫn chưa rõ Mỹ hiện sẽ coi điều gì mới là phương án giải quyết hợp lý cho tranh chấp giữa họ và Trung Quốc. Có lẽ Mỹ muốn có những gì họ đã tìm kiếm trong các chính quyền trước – một thỏa thuận đầu tư cho phép các doanh nghiệp Mỹ ở Trung Quốc tiếp cận nhiều hơn tới thị trường Trung Quốc rộng lớn hơn và với ít điều kiện hơn, chấm dứt điều mà Mỹ mô tả là “chuyển giao tài sản trí tuệ ép buộc” như một phần của cái giá phải trả cho việc tham gia thị trường Trung Quốc, nhiều biện pháp xử phạt hơn đối với việc chiếm đoạt tài sản trí tuệ, giảm tình trạng sản xuất dư thừa trong ngành công nghiệp thép và nhôm của Trung Quốc, các cam kết mới về xâm nhập mạng và đánh cắp thông tin thương mại trên mạng, cam kết mua thêm hàng xuất khẩu của Mỹ, và tương tự như thế.

Tất cả những điều này là những vấn đề đã được đàm phán giữa Mỹ và Trung Quốc trong hai thập kỷ vừa qua, và không phải là không có thành công. Trung Quốc đã tôn trọng hơn đối với quyền sở hữu trí tuệ, họ đã mở cửa nhiều ngành công nghiệp hơn cho đầu tư nước ngoài, cắt giảm trợ cấp đối với các DNNN và hạ thấp hàng rào thuế quan theo các cam kết của WTO.

Cùng với việc cải cách WTO mà châu Âu và Nhật Bản theo đuổi, việc khởi động lại các cuộc đàm phán Mỹ – Trung theo những tuyến quen thuộc hiện mang lại cơ hội tiếp tục cải thiện dần những hiểu biết cho phép thương mại và đầu tư toàn cầu đơm hoa kết trái.

Sự pha trộn giữa các mục tiêu an ninh quốc gia và kinh tế, cũng như tính cách của Tổng thống Trump, khiến cho đây là một cuộc đàm phán vô cùng khó đoán. Giới an ninh quốc gia cho rằng thành công kinh tế của Trung Quốc là chìa khóa cho sức mạnh tổng thể của nước này, và đối với một số người, sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc cần phải bị cản trở và kìm hãm. Họ coi các quốc gia khác là đồng minh và kẻ thù, và nghĩ về kết quả thắng – thua. Ngược lại, các nhà kinh tế thường coi các nước khác vừa là đối thủ cạnh tranh vừa là thị trường, và có xu hướng tìm kiếm những kết quả đôi bên cùng có lợi. Mặc dù văn phòng USTR và Bộ Tài chính dường như đang kiểm soát phe Mỹ trong đàm phán, nhưng nhiều điều trong sự pha trộn các phong cách tư duy khác nhau này trong Chính quyền Trump có thể nên tồi tệ.

Theo cựu quan chức Nhà Trắng của Trump, Steve Bannon, “Australia luôn đi đầu trong cuộc cạnh tranh địa chính trị trong thời đại của chúng ta”. Nước này có một liên minh an ninh với Mỹ và quan hệ kinh tế sâu sắc với Trung Quốc.

Từ sự va chạm giữa Trung Quốc và Mỹ, Australia sẽ không giành được gì và mất đi nhiều thứ. Nếu sự va chạm đó cũng dẫn đến các quy tắc thương mại toàn cầu suy yếu đi trong sự sụp đổ của những gì còn lại của WTO, tổn thất của Australia sẽ còn lớn hơn nhiều.

Phát biểu với các phóng viên trong một hội nghị thượng đỉnh APEC vào ngày 15/11/2018, Thủ tướng Australia Scott Mirrison khẳng định: “Australia không cần phải lựa chọn và chúng tôi sẽ không lựa chọn. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc một cách xây dựng với cả hai đối tác, dựa trên cốt lõi của những mối quan hệ đó. Chúng tôi không lựa chọn giữa các vấn đề. Chúng tôi không lựa chọn giữa các đối tác. Chúng tôi thúc đẩy các mối quan hệ”.

Tuy nhiên, trong việc từ chối chọn phe trong tranh chấp thương mại, duy trì các hiệp định thương mại tự do với cả hai nước, theo đuổi quan hệ an ninh với một trong hai phe tranh chấp và quan hệ kinh tế với bên kia, Australia là một ví dụ rất nổi bật mà sẽ thu hút sự chú trọng của cả Trung Quốc và Mỹ nếu mối quan hệ kinh tế giữa hai nước này xấu đi.

Không giống như các cuộc xung đột trước đó, cuộc đấu tranh này không phải về lãnh thổ, an ninh, ưu thế về văn hóa, tôn giáo hay sắc tộc, hay thậm chí là thắng lợi của ý thức hệ cạnh tranh. Cả hai đối thủ lớn này đều không đe dọa đến sự sống còn của nước còn lại. Họ cũng không thể thực hiện quyền phủ quyết kinh tế đối với bên kia. Cuộc đấu tranh này về cơ bản liên quan đến cạnh tranh bán hàng hóa và dịch vụ cho các hộ gia đình, bao gồm cả ở Trung Quốc. Đây không phải là lần đầu tiên nhưng nó chắc chắn là cuộc đấu tranh gây nhiều hậu quả nhất đối với người tiêu dùng trên toàn thế giới. Nếu được giải quyết một cách khôn ngoan, nó sẽ dễ dàng được kiểm soát. Ngược lại, nó đe dọa sự thịnh vượng toàn cầu.

Nguồn: Viện Lowy (Australia)

CVĐQT số 3/2019

Advertisements

Cảnh giới tuyệt đối và hiện tượng giới – Phần I


I/ Cảnh giới tuyệt đối là không (Śūnya) – và siêu việt

Prajñāpāramitā, hay Trực giác bất nhị, là Cảnh Giới Tuyệt Đối. Điều này đã được trình bày trong bài trước. Mà nói ngược lại thì ý nghĩa vẫn không đổi. Chân như Thực tướng (tattva) là bất nhị, nó siêu quá tất cả mọi thuộc tính và các mối tương quan trong thế giới thường nghiệm. Nó là Không (Śūnya), hoàn toàn không có bất kỳ một định tính [determination] nào. Trong các luận điển Trung quán tông, Thực tướng luôn được định nghĩa là cái bất khả tư nghì, siêu quá cảnh giới tư duy, nó độc lập tự tại, vô quyết định tướng, tịch lặng, nhất quán, bất nhị. Mọi thể xách xác lập thuộc ítnh đều có thể phân thành bốn luận chấp:

1/ Khẳng định (Hữu – bhāva)

2/ Phủ định (phi Hữu – abhāva)

3/ Khẳng định cả hai (diệc Hữu diệc phi Hữu – ubhayam)

4/ Phủ định cả hai (phi Hữu diệc phi Hữu – na bhāvah, naivābhāva).

Hai luận chấp đầu là hai luận chấp căn bản, chúng phối hợp với nhau để tạo thành hai luận chấp tương ứng tiếp theo. Thực tướng không thể được xác định bằng bất kỳ luận chấp nào, dù xét riêng lẻ hay phối hợp với luận chấp khác. Quan điểm này đã được lặp lại khi bàn đến tất cả các phạm trù tư tưởng: nhân quả, chuyển động, bản thể, tương quan, tự ngã và dạng thức.

Các hệ thống triết học khác quan niệm Thực tướng theo bất kỳ những mô thức khái niệm nào cũng đều bị phê phán, và bị bóc trần tất cả những yếu tố bất toàn nội tại. Biện pháp đã dùng quy mậu chứng pháp (prasangāpādana) để chứng minh rằng thế giới hiện tượng và các phạm trù định nghĩa nó đều là tương đối, chỉ có giá trị trong một số trường hợp cụ thể. Một sự vật chỉ có ý nghĩa khi nó hỗ tương tồn tại với những sự vật khác. Nếu bị tách lìa khỏi khối không – thời miên tục [spatio-temporal continiuum] thì sự vật chẳng là gì cả. Cho rằng những thực thể đặc thù là những sự vật tồn tại độc lập tự nó, đó là cái nhìn thiển cận sai lầm. Nāgārjuna tuyên bố: “Không một pháp nào lại không do nhân duyên sinh. Một thực thể tồn tại độc lập tuyệt đối (aśūnyo dharmah) là điều không bao giờ có”. Tính tương đối hay hỗ tương tồn tại của vạn pháp là dấu hiệu không đổi của cái bất thực hữu. Thực tướng là Cảnh Giới Tuyệt Đối, tự chứng ngộ, tự tồn tại (apara-pratyayam). Trái lại, hỗ tương tồn tại chỉ là biểu tướng bên ngoài. Lý duyên khởi (Pratitya-Samutpāda), do đó, được đồng nhất với Tánh Không (Śūnyatā), với bất thực tại tính. Cái bất thực hữu thì vô tự tính (nihsvabhāvatā).

Hai đặc trưng nổi bật trong quan điểm Trung quán tông về Cảnh Giới Tuyệt Đối: đó là nó toàn nhiên vô quyết định tướng, và bất khả liễu giải đối với Lý tính. Một đặc trưng thì nhấn mạnh đến bản chất lý luận của Cảnh Giới Tuyệt Đối, còn đặc trưng kia thì nhấn mạnh đến thể cách liễu giải được nó. Cảnh Giới Tuyệt Đối được gọi là Không (Śūnya), điều đó vô cùng thích đáng vì nó hoàn toàn không có một thuộc tính nào. Thậm chí ta cũng không thể dùng các khái niệm tồn tại, hợp nhất, tự ngã, và sự thiện để khẳng định nó. Ta không được quyền khẳng quyết rằng nó “là” (sat), như một Hữu tích cực ([positive ens] – bhāva). Nếu Cảnh Giới Tuyệt Đối là một Hữu thì nó cũng phải chịu sự chi phối của sinh-trụ-diệt, vì không pháp nào tồn tại trong thế giới thường nghiệm lại có thể thoát được các đặc tính này. Một sự vật chỉ tồn tại được trong một môi trường; nó chỉ có ý nghĩa trong mối hỗ tương tồn tại với bao sự vật khác để cấu tạo nên toàn thể vũ trụ; nó tác động lên các sự vật khác đồng thời cũng bị các sự vật đó tác động lại; về mặt thuật ngữ, nó là pháp hữu vi (samskŗta); còn Cảnh Giới Tuyệt Đối thì không thể. Tuy nhiên, để hình dung Cảnh Giới Tuyệt Đối như là Hữu (abhāva) lại càng không thể áp dụng cho nó được. Phi Hữu – hiểu theo nghĩa chấm dứt, tịch diệt – sẽ hiển lộ khi trạng thái tồn tại của sự vật bị hủy diệt. Cảnh Giới Tuyệt Đối – hiểu theo nghĩa là Niết Bàn – được xem là sự chấm dứt của tham-sân-si. Điều đó hàm ý rằng Niết Bàn không hề tồn tại trước khi tham-sân-si bị hủy diệt. Do đó, Cảnh Giới Tuyệt Đối phải chịu những hạn chế nhất thời cũng như bị chi phối bởi tham-sân-si vì nó chấm dứt các trạng thái này. Hơn nữa, sự chấm dứt này phải được sinh ra, do chịu tác động của một số nỗ lực và điều kiện nào đó. Và nếu các thế lực và các điều kiện này còn chưa sẵn sàng đáp ứng thì Cảnh Giới Tuyệt Đối lại phải dựa vào khả năng xảy ra rất đỗi mong manh của chúng.

Một số người nghĩ rằng ta có thể tránh được những khó khăn này nếu quan niệm phi-Hữu là dạng thức khác của Hữu hoặc đối lập lại Hữu. Nếu quan niệm như thế thì phi-Hữu cũng là một dạng tồn tại, và lại phải chịu sự phản bác giống như khái niệm Hữu mà thôi. Hơn thế nữa, nếu phi Hữu là một phi-Thực thể theo kiểu lông rùa, sừng thỏ… thì nó cũng chỉ là một cái danh suông, không hơn không kém.

Nỗ lực kết hợp các khái niệm hữu và phi-hữu cũng chỉ là điều hoài công vô ích. Hegel đã từng đề xuất khái niệm quen thuộc về một hợp đề có khả năng tổng hợp, mà vẫn duy trì được sự khác biệt của chính đề và phản đề. Trong quan điểm của ông ta thì sai biệt mà không tổng hợp hay tổng hợp mà không sai biệt cũng chẳng có ý nghĩa gì. Thực tướng là một khối phổ quát toàn nhiên nhất thể, dung nạp được mọi cái sai biệt đặc thù chứ không loại bỏ chúng.

Không cần đi vào những khái niệm quá ư rối rắm về Cái Tuyệt Đối của Hegel, ta vẫn có thể chỉ ra được rằng hệ thống triết học Trung quán tông đã đi trước triết học Hegel rất xa trong quan điểm tổng hợp về Cảnh Giới Tuyệt Đối với luận chấp thứ ba diệc hữu diệc phi hữu (bhāva và abhāva, sat và asat). Luận chấp này cũng bị loại bỏ vì không áp dụng được cho Cảnh Giới Tuyệt Đối. Nếu hai thành phần đối lập hữu và phi-hữu hay đồng nhất và dị biệt vẫn duy trì được tự tính của nó trong hợp đề, thì sự kết hợp đó vẫn phải đối mặt với những vấn nạn của từng luận chấp. Chúng ta chỉ làm tăng thêm sự khó khăn khi tạo ra thêm một số vấn đề nữa: đó là tính bất tương thích hiển nhiên khi khẳng định đồng thời hai đặc tính đối lập nhau, và tính tất yếu của việc tạo ra một mối quan hệ mới, giữa hợp đề ở mặt này với những mệnh đề thành tố ở mặt khác.

Sự phê phán của Trung quán tông là như vầy: mối quan hệ tương thuộc giữa đồng nhất với dị biệt, và ngược lại, là tiêu ký của cái bất thực hữu. Điều này này làm giảm đi bản chất tuyệt đối của nó. Kết hợp với những điều đã trình bày ở trên là luận điểm cho rằng Cảnh Giới Tuyệt Đối nằm bên trong Lý tính (buddhi), và chính là Lý tính. Nhưng Lý tính lại che lấp mất thực tại tính cảu Cảnh Giới Tuyệt Đối. Cái Tuyệt Đối của Hegel chỉ là phần tục đế (samvŗti) của Trung quán tông.

Luận chấp thứ tư phi hữu phi phi hữu cũg chẳng tỏ ra có sức thuyết phục gì hơn. Nếu cho rằng luận chấp này đúng thì làm thế nào để ta biết được rằng Cảnh Giới Tuyệt Đối là như vậy? Không hề có tự ngã trogn Niết Bàn bởi vì tất cả các công năng tâm lý cùng các tâm sở đều vắng bóng.

Nếu các phạm trù hữu hoặc phi-hữu đều không thể áp dụng được cho Cảnh Giới Tuyệt Đối, thì ta lại càng khó mà biện chính khi áp dụng các phạm trù khác như: thường hằng, biến dịch, bản thể (tự ngã – ātman), dạng thức, đơn nhất, đa thù… Cho dù các phạm trù này có được xem là những công cụ có giá trị thường nghiệm như thế nào đi nữa trong việc giải thích hiện tượng giới, thì chúng cũng không phải là các định tính có thể gán cho Cảnh Giới Tuyệt Đối được. Biện chứng pháp Trung quán tông đã bóc trần không thương tiếc tính chất tương đối và thường nghiệm của chúng. Tất cả các phạm trù đó đều thuộc về chân lý thường nghiệm hay thế tục đế (samvŗti-satya).

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy của triết học Phật giáo – NXB HĐ 2013.

Quan điểm địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển của một số quốc gia và khu vực chủ chốt trên thế giới – Phần XII


Tất cả những điều nói trên có được là nhờ một lợi thế địa chính trị tồn tại từ mấy nghìn năm nay. Đồng bằng Yamato có một vị trí chiến lược rất thuận lợi cho phép dòng họ này cai trị hầu hết các khu vực của quần đảo: nó có dãy núi làm cơ sở để bảo vệ, có ruộng đất để gieo trồng và có vùng biển nội địa để đánh bắt cá và giao thương với bên ngoài.

Tuy nhiên, địa hình núi non luôn là một thách thức lớn cho chính quyền trung ương tập quyền. Nhiều vùng đất xa xôi đã củng cố được quyền lực địa phương và đã tạo lập được một địa vị độc lập đối với chính quyền trung ương. Theo tinh thần đó, đến giữa thế kỷ 9, tầng lớp quý tộc tỉnh lẻ đã ngăn cản được quyền kiểm soát của chính quyền trung ương đối với đất đai của họ, đồng thời họ liên kết lại thành các nhóm quân sự để tranh giành quyền thống trị ở địa phương và khu vực. Dần dần, các phe phái hùng mạnh đã biến triều đình thành đế vương thành một chính phủ bù nhìn, mở ra một truyền thống cai trị từ sau hậu trường kéo dài cho đến tận ngày nay trên đất nước Nhật Bản. Tuy nhiên, trong quá trình lịch sử đó, không phải lúc nào triều đình cũng là chính phủ bù nhìn. Ví dụ tiêu biểu là triều đình của Hoàng đế Minh Trị, người đã làm một cuộc cách mạng duy tân năm 1868 khi bắt đầu lên ngôi, đưa nước Nhật chuyển sang một bước ngoặt mới để hội nhập với thế giới và nhanh chóng trở thành một trong những nước phát triển hàng đầu thế giới. Thời đại Minh Trị cũng là thời đại chấm dứt chế độ tướng quân nhiếp chính kéo dài từ 1603, đồng thời cũng chấm dứt một giai đoạn chính quyền bù nhìn tồn tại qua hàng bao thế kỷ, giành lại thực quyền cho hoàng đế và vì thế, nó còn được gọi là thời đại Trung Hưng.

Nhật Bản có một lợi thế trời cho là nó có một vị trí thiên nhiên hiểm trở, cho nên trong lịch sử của mình, Nhật Bản hầu như không bị nước ngoài xâm lược và thực sự cho đến nay, chưa có một cuộc xâm chiếm nào của nước ngoài được thực hiện thành công đối với Nhật Bản. Vào những năm 1274 và 1281, Đế quốc Mông Cổ, sau khi xâm chiếm được Trung Quốc và Triều Tiên, đã thực hiện hai lần xâm lược Nhật Bản nhưng cả hai lần đều bị bão tố đánh bại. Nhật Bản gọi đó là những cơn “bão thần” đã cứu nguy cho đất nước. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ cũng chưa thực sự xâm chiếm được Nhật Bản bằng con đường đổ bộ, mà phải nhờ đến hai quả bom nguyên tử.

Có thể nói, trong những khoảng thời gian định kỳ, Nhật Bản lại chủ động đóng cửa, cách ly với thế giới bên ngoài để trở thành một quốc gia khép kín. Đôi khi, Nhật Bản cũng đã nhận thấy sự cần thiết phải giao lưu học hỏi với bên ngoài, đặc biệt là học hỏi văn hóa Hán của Trung Quốc. Nhưng Nhật Bản cũng rất cảnh giác trước Trung Quốc, và đặc biệt là với Đế quốc Mông Cổ. Vì thế, cộng với việc sẵn có điều kiện là một quốc đảo xa cách, Nhật Bản rất dễ quay trở về với riêng mình trong những thời kỳ nó cảm thấy việc mở cửa sẽ đem lại nhiều rủi ro hơn là may mắn. Trong những lần đóng cửa khép kín như vậy, thì lần dài nhất là từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ 13, tương ứng với triều đại cuối đời Đường và triều đại nhà Tống bên Trung Quốc. Đó là khi ở bên Trung Quốc, nhà Đường lâm vào cảnh suy vong và nhà Tống lên ngôi, tình hình Trung Quốc có nhiều rối ren và bất ổn, Nhật Bản không muốn tiếp tục giao du với đất nước liên tục thay đổi triều chính này và quay sang thực hiện chính sách tự lực tự cường.

Đặc biệ là vào thời kỳ Edo, bắt đầu từ năm 1603, khi tướng quân (shogun) Ieyasu thiết lập chế độ tướng quân nhiếp chính Tokugawa tại Edo (Tokyo ngày nay) kéo dài đến năm 1868, khi Nhật hoàng Minh Trị lên ngôi và tiến hành một cuộc cách mạng duy tân. Trong thời kỳ hơn hai thế kỷ rưỡi này, chế độ tướng quân nhiếp chính đã thực hiện chính sách sakoku biệt lập (đóng cửa đất nước), mục đích có lẽ là để cô lập Nhật Bản khỏi các luồng tư tưởng tự do và hiện đại, do người châu Âu đem đến lúc bấy giờ, để chế độ này dễ thực hiện sự thống nhất và kiểm soát đất nước. Chính sách biệt lập kéo dài đó đã làm cho nước Nhật tụt hậu so với các nước tiên tiến trên thế giới, khi mà phương Tây đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa với tốc độ phát triển vô cùng nhanh chóng. Trong thời kỳ này, Nhật Bản cũng đã phải chứng kiến 130 trận đói, trong đó có 21 trận đặc biệt nghiêm trọng. Tình trạng đó đã dẫn đến sự phản ứng của các tầng lớp tiến bộ và họ đã ủng hộ Nhật hoàng Minh Trị làm một cuộc cách mạng xóa bỏ chế độ tướng quân nhiếp chính, đưa nước Nhật mở cửa với bên ngoài, thực hiện công cuộc Tây phương hóa và hiện đại hóa.

Người ta cũng cho rằng, sự dao động giữa mở cửa và đóng cửa của Nhật Bản thể hiện sự tương phản trong thái độ ứng xử của người Nhật, thường là do tác động ngoài tầm kiểm soát của những lực lượng bên ngoài. Chẳng hạn như sự thâm nhập của Phật giáo đã dẫn đến một cuộc cách mạng đối với triều đình hoàng gia ở thế kỷ 6, dẫn đến mở cửa đất nước với Trung Quốc. Trong khi đó thì sự xuất hiện của người châu Âu ở thế kỷ 16 ở Đông Á lại gây ra một chính sách biệt lập mới cho Nhật Bản và rồi việc buộc phải mở cửa buôn bán với các cường quốc phương Tây vào thế kỷ 19 lại mở ra một thời kỳ hướng ngoại mới. Điều này làm người ta ví xã hội Nhật Bản như là một “xã hội động đất”, một xã hội cứ đến một giai đoạn nào đó lại phải trải qua những biến động bất thường và không thể cưỡng lại giống như những cơn chấn động của trái đất làm cho nó bị đảo lộn tận gốc rễ.

3/ Chủ nghĩa dân tộc với tư tưởng địa chính trị bành trướng của Nhật Bản

Mặc dù có những thời kỳ đóng cửa vì lý do chính trị, nhưng với nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế, Nhật Bản vẫn có nhu cầu giao thương với lục địa để bổ sung nguồn cung cấp. Theo tinh thần đó, Nhật Bản đã phát triển ngành vận tải biển và mở rộng giao thương với Triều Tiên, Trung Quốc. Thậm chí, ngay từ rất sớm, Nhật Bản đã có ý định biến Triều Tiên – một vùng lãnh thổ gần nhất và yếu nhất trong khu vực – thành một vùng đệm, vừa để ngăn ngừa sự ảnh hưởng và các nguy cơ xâm lược từ phía các đế quốc Trung Hoa, Mông Cổ, Nga, vừa để bảo vệ cho các con đường thương mại của mình trên khu vực lục địa châu Á. Thế là, Nhật Bản đã xâm chiếm Triều Tiên từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 7, sau đó lại nhiều lần xâm chiếm vào thế kỷ 16, 19 và đầu thế kỷ 20, thiết lập ở đây một sự áp chế quân sự và một mối quan hệ thương mại bán thuộc địa.

Bắt đầu từ thời đại Minh Trị (thời đại này được tính từ khi Nhật hoàng Minh Trị lên ngôi năm 1868 cho đến năm 1912 khi Minh Trị mất), người Nhật đã hiểu ra: đất nước sẽ không thể phát triển nếu không mở cửa với bên ngoài. Đây cũng là thời điểm giai cấp tư sản Nhật Bản đã lớn mạnh, chính tư tưởng của giai cấp này đã chiến thắng phe bảo thủ và làm thành hậu thuẫn cho chính sách mở cửa của Nhật hoàng Minh Trị. Đây cũng là thời điểm chấm dứt chủ nghĩa biệt lập của Nhật Bản.

Từ đây, tư tưởng địa chính trị của Nhật Bản bắt đầu bộc lộ rõ quan điểm dân tộc chủ nghĩa, để rồi đến thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, nó phát triển lên thành chủ nghĩa dân tộc cực đoan, khi mà quan điểm địa chính trị của Nhật Bản được hình thành theo mô hình địa chính trị của nước Đức.

Theo tác giả Akihiko Takagi (Đại học Ibaraki, Nhật Bản) thì đến thời đại Minh Trị, quan điểm của Nhật Bản về thế giới đã thay đổi căn bản. Trước đó, phần lớn người dân Nhật Bản không biết gì về địa lý thế giới và vị trí của Nhật Bản trên thế giới. Sau công cuộc Trung Hưng của Hoàng đế Minh Trị năm 1868, người ta bắt đầu xuất bản các cuốn sách giáo khoa giới thiệu về địa lý thế giới được biên soạn dựa trên các cuốn sách địa lý của phương Tây. Đến khi đó, phần lớn người dân Nhật, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, mới biết đến địa lý thế giới. Có lẽ, do nhận thức rõ về tầm quan trọng của địa lý và mối nguy hiểm của việc thiếu thông tin về địa lý trước đây, mà đến năm 1872, chính phủ mới của Hoàng đế Minh Trị đã ban hành một đạo luật giáo dục có tên gọi là “Gakusei”, quy định trẻ em phải được học tiểu học. Cấp tiểu học này có hai bậc: bậc thấp và bậc cao, mỗi bậc học bốn năm, dành cho trẻ em từ 6 đến 13 tuổi.

Mặc dù khi ấy (1872), theo Tagaki, hệ thống giáo dục tiểu học vẫn chưa phải là bắt buộc, nhưng trong các môn học của tiểu học bậc thấp, thì môn địa lý là môn học bắt buộc và được học từ năm thứ hai. Học sinh được học địa lý Nhật Bản trước rồi đến địa lý thế giới. Cách phân chia học phần như vậy vẫn được tiếp tục sau khi luật giáo dục được thay đổi nhiều lần.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Văn Dân – Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia – NXB KHXH 2011.

Cuộc chiến giữa các thế hệ – Phần IV


Đây là một trong những dịp mà chúng ta nên khéo léo suy ngược lại ngôn ngữ gen tương ứng, chỉ để đảm bảo rằng chúng ta không bị đưa đi quá xa bởi những phép ẩn dụ chủ quan. Việc dựng lên giả thuyết về việc con chim non “đe dọa” bố mẹ nuôi của nó bằng việc kêu lên “Thú dữ, thú dữ, hãy đến ăn thịt ta và những anh chị em bé bỏng của ta” thực sự có ý nghĩa gì? Theo các thuật ngữ gen, nó có nghĩa như sau.

Các gen của chim cu cu quy định việc kêu gào ầm ĩ đã trở nên phổ biến hơn trong vốn gen của chim cu cu bởi vì những tiếng kêu to đã tăng khả năng mà chim bố mẹ nuôi cho chúng ăn. Nguyên nhân mà chim bố mẹ nuôi đáp lại những tiếng kêu theo cách này là do các gen quy định việc đó đã phát tán trong toàn bô vốn gen của các loài này. Nguyên nhân mà những gen này được phát tán là do cá thể bố mẹ nuôi (những con không cho chim cu cu non ăn thêm) đã nuôi được ít con non của chúng hơn, ít hơn những cá thể bố mẹ khác (loại mà cho con chúng ăn nhiều hơn). Điều này xảy ra là do tiếng kêu khóc của chim cu cu non đã thu hút các động vật ăn thịt đến. Mặc dù những gen của chim cu cu quy định việc không kêu gào ít có khả năng có kết cục là nằm trong bụng của các loài ăn thịt như các gen quy định việc kêu gào, nhưng những gen này đã phải trả giá lớn hơn do không được cho ăn thêm. Vì vậy, các gen kêu gào sẽ phát tán trong toàn bộ vốn gen của chim cu cu.

Một chuỗi các lập luận tương tự về mặt di truyền nối tiếp những lập luận chủ quan đưa ra ở trên, sẽ cho chúng ta thấy cho dù gen đe dọa có thể phát tán rộng rãi trong vốn gen của một loài chim cu cu, nó vẫn dường như không thể phát tán rộng rãi trong vốn gen của một loài thông thường, ít nhất không bởi vì lý do đặc biệt là nó đã thu hút các loài ăn thịt. Tất nhiên trong một loài thông thường, có thể có những lý do khác để cho gen kêu gào phát tán rộng rãi như chúng ta đã thấy. Và đôi khi điều này cũng tình cờ có tác dụng là thu hút các động vật ăn thịt. Nhưng ở đây, những ảnh hưởng mang tính chọn lọc của sự ăn thịt, nếu có, có thể đã theo hướng làm cho những tiếng kêu nhỏ đi. Ngược lại, trong trường hợp mang tính giả thiết ở những con chim cu cu, những ảnh hưởng thực của các loài ăn thịt có thể làm cho những tiếng kêu to hơn.

Không có bằng chứng nào chứng tỏ việc liệu các con chim cu cu và các loài chim có “ký sinh giống” tương tự có thực sự áp dụng chiến thuật đe dọa hay không. Nhưng chắc chắn rằng chúng không thiếu sự tàn nhẫn. Ví dụ như một loài chim sẻ, giống như chim cu cu, chúng đẻ trứng vào tổ của các loài khác. Những con chim sẻ non này được trang bị một chiếc mỏ sắc hình móc câu. Ngay khi nở ra, chưa mở mắt, trần trụi và nói cách khác là vô dụng, nó đã cắt và rạch anh chị em nuôi của nó cho đến chết: những người anh em đã chết sẽ không tranh giành thức ăn! Một loại chìm cu cu tương tự ở Anh cũng gây ra những kết quả như vậy theo một cách hơi khác. Nó có thời gian ấp trứng ngắn, vì thế mà chim cu non cố gắng nở trước các anh chị em nuôi của nó. Ngay khi nở ra, mặc dù chưa nhìn thấy gì và rất máy móc, nhưng với sự phá phách hiệu quả, những con non này ném các quả trứng khác ra khỏi tổ. Nó cúi xuống dưới mỗi quả trứng, ghé vào chỗ hõm trên lưng. Sau đó nó từ từ lùi về phía thành tổ, giữ quả trứng cân bằng giữa đôi mỏm cánh và hất quả trứng xuống đất. Chim cu cu non lặp lại như vậy với tất cả các quả trứng khác cho đến khi nó chiếm được cái tổ, và vì vậy nó có thể thu hút toàn bộ sự chú ý của bố mẹ nuôi vào một mình nó. Một trong những công bố thực tế nổi bật nhất mà tôi đã từng đọc trong quá khứ là báo cáo của E. Alvarez, L, Arias de Reyna và H. Segura từ Tây Ban Nha. Họ nghiên cứu về khả năng các bố mẹ nuôi – những nạn nhân của chim cu cu – có thể phát hiện ra kẻ xâm lược, những quả trứng hoặc chim cu cu non. Trong các thí nghiệm của mình, họ đã có dịp đặt vào tổ của loài chim ác là nhiều trứng và chim cu cu non. Và để so sánh, họ cũng đặt nhiều trứng và chim non của các loài khác, chẳng hạn như chim nhạn vào tổ chim ác là. Trong một thí nghiệm, họ đặt một con chim nhạn non vào tổ chim ác là. Ngày hôm sau, họ thấy một trong những quả trứng chim ác là nằm dưới mặt đất bên dưới tồ. Nó không vỡ nên họ lại nhặt lên, đặt lại nó và quan sát. Những gì họ nhìn thấy thật vô cùng đặc biệt. Con chim nhạn non hành động hệt như thể nó là một con chim cu cu non, ném quả trứng ra ngoài. Họ lại đặt quá trứng, và điều tương tự lại xảy ra. Con chim nhạn non sử dụng phương pháp của chim cu cu để cân bằng quả trứng trên lưng nó giữa các mỏm cánh và bước lùi lại phía thành tổ cho đến khi quả trứng bị hắt ra ngoài.

Có lẽ Alvarez và đồng nghiệp của ông ta đã khôn khéo không cố gắng đưa ra một lời giải thích nào cho những quan sát đáng ngạc nhiên của họ. Bằng cách nào mà một tập tính như vậy lại có thể tiến hóa trong vốn gen của loài chim nhạn? Nó chắc hẳn phải liên quan đến một điều gì đó trong cuộc sống bình thường của một con chim nhạn. Những con chim nhạn non không quen với việc ở trong tổ của chim ác là. Chúng ta thường không bao giờ thấy chúng trong tổ của các loài chim khác, trừ tổ của chúng. Liệu tập tính này có thể đại diện cho việc tiến hóa thích nghi chống lại chim cu cu? Có phải chọn lọc tự nhiên đã ưu tiên chinh sách gậy ông đập ưng ông trong vốn gen của chim nhạn, các gen quy định việc lại chim cu cu với những vũ khí của chính nó? Có vẻ như trên thực tế, tổ chi nhạn thường không bị chim cu cu ký sinh. Có lẽ đây là lý do tại sao. Dựa vào lý thuyết này, những quả trứng chim ác là trong thí nghiệm trên tình cờ bị đối xử tương tự như trứng chim cu cu có lẽ vì chúng cũng lớn hơn trứng chim nhạn. Nhưng nếu các con chim nhạn non có thể phân biệt được sự khác nhau giữa một quả trứng to và một quả trứng chim nhạn bình thường thì chắc hẳn chim mẹ cũng có thể phân biệt được. Trong trường hợp này, tại sao không phải là chim mẹ loại bỏ trứng chim cu cu, vì nó có thể làm việc này dễ dàng hơn rất nhiều so với con chim non. Sự phản bác tương tự cũng được áp dụng cho lý thuyết về tập tính của con chim nhạn non trong việc loại bỏ những quả trứng hỏng và các rác rưởi khác trong tổ. Một lần nữa, nhiệm vụ này có thể được chim bố mẹ làm tốt hơn. Sự thực của việc loại bỏ trứng một cách thuần thục và khó khăn được thực hiện bởi một con chim nhạn trưởng thành rõ ràng có thể làm điều này dễ dàng hơn nhiều. Điều đó sẽ buộc tôi phải kết luận rằng, theo quan điểm của chim bố mẹ, chim non được toàn quyền quyết định những điều không tốt.

Dường như với tôi, có thể hiểu rằng nguyên nhân thực sự không liên quan gì đến chim cu cu cả. Một thoáng rùng mình, nhưng đây phải chăng là điều mà những con chim nhạn đối xử với nhau? Bởi vì con chim được sinh ra đầu tiên sẽ phải cạnh tranh sự đầu tư của cha mẹ với những đứa em chưa nở của nó, nên có thể nó sẽ có lợi khi khởi đầu cuộc sống bằng cách ném bớt một trong những quả trứng ra ngoài.

Lý thuyết của Lack về kích thước ổ đã tính đến mức độ tối ưu theo quan điểm của chim bố mẹ. Nếu tôi là một con chim nhạn mẹ, kích thước ổ tối ưu theo quan điểm của tôi là 5. Nhưng nếu tôi là một con chim nhạn non, kích thước ổ tối ưu mà tôi muốn có thể sẽ là một con số nhỏ hơn, miễn là có tôi ở trong đó! Chim bố mẹ chỉ có một lượng đầu tư nhất định, thứ mà chúng “mong muốn” chia đều cho 5 đứa con. Nhưng mỗi con non đều muốn nhiều hơn 1/5 của nó. Không giống như chim cu cu, chim nhạn không muốn tất cả, vì nó cũng có sự thân thuộc với những con non khác. Nhưng nó thực sự muốn nhiều hơn 1/5. Nó có thể nhận được 1/4 chỉ đơn giản bằng cách hất một quả trứng ra ngoài, nhận được 1/3 bằng cách hất thêm một quả nữa. Nói theo ngôn ngữ của gen, một gen quy định việc giết anh chị em có thể phát tán trong toàn bộ vốn gen, bởi vì nó có 100% cơ hội có mặt trong cơ thể của cá thể thực hiện hành vi giết anh/chị em, và chỉ có 50% cơ hội có mặt trong các cơ thể là nạn nhân của cá thể đó.

Sự phản bác chính đối với lý thuyết này là thật khó có thể tin được rằng không ai chứng kiến hành động độc ác này nếu nó thực sự đã xảy ra. Tôi không có lời giải thích thuyết phục nào cho vấn đề này. Có nhiều giống chim nhạn ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới. Người ta đã biết rằng giống ở Tây Ban Nha sẽ khác với các giống khác, ví dụ nhưu giống ở Anh ở một vài khía cạnh nào đó. Giống ở Tây Ban Nha chưa được đưa ra quan sát kỹ càng như giống ở Anh và tôi cho rằng việc giết anh chị em có khả năng xảy ra nhưng đã bị bỏ sót.

Lý do mà tôi đưa ra ý tưởng không chắc chắn như giả thuyết về việc giết anh chị em ở đây là vì tôi muốn đề xuất một quan điểm khái quát. Đó là hành động tàn nhẫn của con chim cu cu chỉ là một trường hợp cá biệt trong những điều phải xảy ra ở bất kỳ gia đình nào. Anh chị em ruột có mối quan hệ gần gũi với nhau hơn là giữa những con chim cu cu non và các anh chị em nuôi của nó, nhưng sự khác biệt chỉ là ở vấn đề mức độ. Cho dù nếu chúng ta không thể tin rằng hành vi giết toàn bộ anh chị em có thể tiến hóa, thì vẫn có rất nhiều những ví dụ ít tệ hại hơn của tính vị kỷ mà ở đó cái giá phải trả của một con no, dưới dạng sự mất mát của anh chị em nó, vượt qua (nhiều hơn tỉ lệ 2:1) lợi ích của bản thân nó. Trong những trường hợp này, như torng ví dụ về thời điểm cai sữa, sẽ có một sự xung đột thực sự về lợi ích giữa cha mẹ và con cái.

Ai là kẻ có khả năng thắng trong cuộc chiến của các thế hệ này? R.D. Alexander đã viết một bài báo rất thú vị mà trong đó ông ta cho rằng có hai câu trả lời chung cho câu hỏi này. Theo ông, cha mẹ sẽ luôn luôn thắng. Nếu trường hợp đó xảy ra, bạn đang phí thời gian để đọc bài này. Nếu Alexander đúng, có nhiều điều thú vị như sau. Ví dụ, tập tính hi sinh có thể tiến hóa không phải bởi những lợi ích cho các gen của bản thân một cá thể mà chỉ đơn giản bởi lợi ích của các gen của bố mẹ cá thể đó. Sự điều khiển của bố mẹ, theo ý Alexander, sẽ trở thành một giải pháp tiến hóa tạo ra tập tính hi sinh, độc lập hoàn toàn với sự lựa chọn theo họ hàng. Vì vậy, việc chúng ta kiểm tra lại các lập luận của Alexander và để thuyết phục bản thân mình rằng chúng ta hiểu vì sao ông ấy sai là rất quan trọng. Việc này thực sự nên giải quyết bằng toán học, nhưng chúng ta đang tránh sử dụng trực tiếp các phép toán trong quyển sách này, và chúng ta có thể đưa ra các ý kiến trực giác về những điều sai trong luận điểm của Alexander.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Lý do Chính quyền Trump áp đặt biện pháp trừng phạt mới đối với Cuba – Phần đầu


Gần đây, Mỹ Latinh dường như đã trở thành điểm nóng trên bàn cờ ngoại giao của Mỹ. Ngày 17/4/2019, Chính quyền Donald Trump công bố lệnh trừng phạt mới nhất đối với Cuba. Cùng ngày, Cố vấn an ninh quốc gia Nhà Trắng John Bolton có bài phát biểu tại Miami về chính sách đối với 3 nước Mỹ Latinh (Cuba, Venezuela và Nicaragua). Dư luận đang đặc biệt quan tâm tới chính sách hòa dịu đối với Cuba của Mỹ từ năm 2015 đến nay sẽ có sự đảo ngược ra sao? Chính quyền Donald Trump muốn thực hiện “cách mạng màu” ở những quốc gia Mỹ Latinh nào?

Cho phép kiện tụng

Ngày 17/4, Chính quyền Donald Trump tuyên bố cho phép công dân Mỹ khởi kiện doanh nghiệp nước ngoài lên tòa án Mỹ. Theo lý giải của giới truyền thông nước ngoài, căn cứ pháp lý của chính sách này là điều 3 của Đạo luật Helms-Burton được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1996. Phía Mỹ nhận định sau thắng lợi của cuộc cách mạng năm 1959, Cuba đã tịch thu một lượng lớn tài sản của người Mỹ, sau đó những tài sản này đã thay tên đổi chủ nhiều lần, amng lại lợi ích cho doanh nghiệp Cuba và doanh nghiệp nước ngoài. Do đó, người Mỹ nên yêu cầu những thực thể và cá nhân này bồi thường cho mình.

Năm 1996, sau khi được công bố, đạo luật này đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, châu Âu, Canada và Mexico đều ban hành điều khoản ngoài phạm vi để né tránh, Liên minh châu Âu (EU) còn đe dọa đệ trình đạo luật này lên các tổ chức quốc tế để điều tra. Chính quyền Clinton lúc đó bị ép phải đóng băng điều 3 của đạo luật, các nhiệm kỳ tổng thống sau đó (Bush con, Obama) đều học theo, cứ mỗi 6 tháng xem xét thay đổi miễn trừ một lần.

Ngày 4/3, Chính phủ Mỹ đã xóa bỏ một phần quyền miễn trừ này, Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố tăng cường trừng phạt Cuba: cho phép công dân Mỹ khởi kiện và đòi bồi thường đối với khoảng 200 thực thể Cuba nằm trong danh sách đen của Mỹ, đồng thời đe dọa từ nay về sau có thể trừng phạt các công ty nước ngoài có liên quan.

Quan chức Nhà Trắng cho biết Bộ Ngoại giao Mỹ đã tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn sự miễn trừ này và có hiệu lực từ ngày 17/4/2019. Theo Reuters, sau ngày 1/5, nhiều công ty và người nước ngoài không hiểu rõ vấn đề này sẽ rơi vào vòng xoáy kiện tụng đòi bồi thường của công dân Mỹ do có quan hệ trao đổi kinh tế và thương mại với Cuba. Một quan chức cấp cao khác của Mỹ tiết lộ rằng dưới thời Donald Trump, Chính phủ Mỹ cũng dự định thực thi điều 4 của Đạo luật Helms-Burton, nghĩa là không cho phép bất cứ công dân quốc gia nào vi phạm lệnh trừng phạt của Mỹ, sử dụng tài sản tịch thu cho mục đích thương mại để nhập cảnh Mỹ.

James Williams – Chủ tịch của Engage Cuba, nhóm vận động hành lang Washington cho rằng đây là một chính sách gạt ra bên lề không chịu sự kiểm nghiệm của luật pháp, đánh dấu một pha “đốt lưới nhà” khác của Chính quyền Donald Trump đối với Cuba.

Là biện pháp trừng phạt mới nhất đối với Cuba?

Từ năm 1996 đến nay, Washington đã phong tỏa tấm thẻ “miễn trừ đòi bồi thường” 23 năm, tại sao bây giờ lại đảo lộn?

Giới truyền thông nước ngoài cho rằng từ cách nói của Nhà Trắng – trừng phạt nhằm vào các hành động vi phạm nhân quyền của Cuba và sự ủng hộ của nước này đối với Chính quyền Maduro của Venezuela – có thể thấy đây là cách trừng phạt mới nhất của Washington trước việc La Habana ủng hộ Maduro. Mỹ nhận định Cuba là chủ đầu tư của dầu thô Venezuela, xuất khẩu dầu thô lại là huyết mạch sống của Chính quyền Maduro. Do đó, Mỹ phải gây sức ép đến cùng để Cuba rút khỏi Venezuela. Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cũng từng có phát ngôn tương tự.

Giang Thời Học – Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu Mỹ Latinh, Đại học Thượng Hải – cho rằng phải đánh giá động thái này từ hai góc độ. Thứ nhất, nó có liên quan đến chiến lược chính trị của Donald Trump: ông muốn tham gia cuộc tranh cử tổng thống vào năm 2020, bang Florida (đặc biệt là thành phố Miami) có một lượng lớn người Mỹ gốc Cuba chống Fidel Castro và Cuba, Donald Trump muốn được họ ủng hộ thì phải thể hiện thái độ cứng rắn với Cuba. Giáo sư Richard Feinberg, Đại học California, San Diegeo – cho rằng lần trừng phạt này là thắng lợi của các đảng viên đảng Cộng hòa ở bang Florida. Lập trường cứng rắn của Donald Trump đối với Cuba và Venezuela nhận được phản ứng tích cực trong cộng đồng người Mỹ gốc Cuba và Venezuela. Họ là lực lượng bỏ phiếu rất quan trọng trong bầu cử Mỹ, bang Florida nơi họ sinh sống thậm chí được gọi là bang dao động chính trị mà hai đảng phải cạnh tranh.

Thứ hai, Venezuela là một nhân tố quan trọng khác. Giang Thời Học nhấn mạnh: “Hiện nay nhìn lại, tình hình Venezuela không phát triển như kỳ vọng của Mỹ, Donald Trump cho rằng Cuba đã ra sức hỗ trợ Venezuela, do đó ông muốn mang đến cho Cuba một chút sắc màu”. James Williams bình luận: “Điều trớ trêu là sau những nỗ lực trong nhiều năm trở lại đây của Tập đoàn Trump trong việc xây dựng khách sạn và sân golf ở Cuba, Chính quyền Trump lại đưa ra một quyết định cực đoan như vậy”.

Quan hệ trở lại mức thấp nhất?

Bộ Ngoại giao Cuba chỉ trích Mỹ dừng quyết định miễn trừ là “vi phạm luật phá quốc tế”. Chủ tịch Cuba Miguel Diáz-Canel Bermúdez chỉ trích Mỹ làm cho mối quan hệ Mỹ – Cuba quay trở lại mức thấp nhất.

Có bình luận cho rằng biện pháp trừng phạt mới nhất đánh dấu chính sách của Mỹ đối với Cuba đã xuất hiện sự đảo ngược lớn kể từ khi khôi phục quan hệ ngoại giao năm 2015. Trước đây, Chính quyền Barack Obama cho rằng lệnh cấm vận và cô lập kéo dài 60 năm đã thất bại, đã đến lúc thử áp dụng biện pháp khác. Tuy nhiên, Donald Trump luôn chỉ trích sự quá ngây thơ của chính quyền tiền nhiệm đối với Cuba.

Giang Thời Học nhấn mạnh “trên thực tế, năm 2018 chính sách của Donald Trump đối với Cuba đã có sự thay đổi rõ ràng”, ông từng phát biểu công khai ở bang Florida rằng không tán thành chính sách hòa dịu của Obama đối với Cuba.

Từ Di Thông – nguyên đại sứ Trung Quốc ở Cuba cho rằng “do những vướng mắc trong lịch sử, quan hệ Mỹ – Cuba tương đối căng thẳng”. Năm 1961 hai nước cắt đứt quan hệ ngoại giao, năm 1962 Mỹ thực hiện phong tỏa kinh tế, tài chính và cấm vận thương mại đối với Cuba. Hơn nửa thế kỷ sau, cho đến dưới thời Obama, quan hệ hai nước mới đón nhận sự khởi sắc.

Mặc dù Mỹ và Cuba đã khôi phục quan hệ ngoại giao, nhưng chưa đề cập đến những vấn đề cơ bản. Quốc hội Mỹ chưa từng dỡ bỏ sự phong tỏa đối với Cuba. Kể từ năm 2017 tới nay, Chính quyền Donald Trump đã có thái độ phủ định hoàn toàn đối với chính quyền tiền nhiệm, từng bước thắt chặt chính sách đối với Cuba. Trong đó hai chính sách mấu chốt nhất chính là phong tỏa thương mại và hạn chế du lịch. Mặc dù Liên hợp quốc từng đưa ra nhiều nghị quyết kêu gọi Mỹ nới lỏng các biện pháp trừng phạt Cuba nhưng Mỹ luôn ngoan cố không thay đổi. Hiện nay Mỹ còn tăng cường trừng phạt Cuba, trong ngắn hạn quan hệ hai nước sẽ căng thẳng hơn. Tuy nhiên Chính phủ Cuba đã sớm “đi guốc trong buộc” đối với âm mưu lật đổ chính quyền của Mỹ và tiếp tục đi theo con đường của mình, sẽ không bị ảnh hưởng quá nhiều bởi sự gây rối từ các chính sách của Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.shobserver.com – 17/4/2019

TLTKĐB – 08/05/2019

Nước Mỹ là kẻ thù – Phần III


Vấn đề duy nhất đối với kiểu phân tích này là không biết đến cả những gì mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc nói và những gì mà họ đang làm để chuẩn bị cho một cuộc xung đột lâu dài đối với Hoa Kỳ. Chẳng hạn, người ta quá ư ít chú ý đến thái độ của Trung Quốc đã diễn biến như thế nào ngay cả khi các quan chức Mỹ mải loan báo những bước cải thiện lớn trong quan hệ của hai nước. Tháng Bảy 1996, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Clinton là Anthony Lake tới Bắc Kinh dự một cuộc đàm phán cấp cao với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, sau đó ông thông báo sự giảm bớt đáng kể những căng thẳng và một tương lai sáng sủa. Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân (ông cũng là Tổng bí thư Đảng Cộng sản và do vậy, ít nhất trên danh nghĩa đó là người có quyền lực nhất trong nước) sẽ thăm Washington; Bill Clinton, dự đoán là mình thắng trong cuộc bầu cử tổng thống 1996, cũng sẽ tới thăm Bắc Kinh. Không cần phải nói rằng, xét theo không khí đó, thì người Mỹ quả là rất phấn khởi về những bước phát triển này, coi đó một điểm ngoặt, một sự đột phá.

Trung Quốc đã đáp lại bằng những tuyên bố nhiệt tình về phía họ. Quả vậy, một vài năm qua, thông thường ở Trung Quốc đã có một vài động tác ngoại giao để tạo ra trên báo chí Mỹ lời đồn đại về việc cải thiện quan hệ, trong khi báo chí Trung Quốc vẫn đưa ra những bài xã luận mang tính chất thù hằn rõ rệt. Ngay cả khi người Mỹ đang trở nên lạc quan sau chuyến đi thăm của Lake, thì tờ Nhật báo Quân giải phóng của Trung Quốc lại gửi đến nhân dân Trung Quốc một thông điệp hoàn toàn khác. Bao giờ cũng vậy, trong các phương tiện thông tin bị kiểm soát của Trung Quốc, lời lẽ được lựa chọn cẩn thận:

“Thúc đẩy bởi tham vọng bá quyền, Hoa Kỳ ngày càng phô trương lực lượng. Thỉnh thoảng Hoa Kỳ lại gây ra những chuyện rắc rối và can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc, và đồng lõa với các lực lượng đòi Đài Loan độc lập”.

Đồng thời, lại có tuyên bố này trên Nhân dân Nhật báo, cơ quan chính thức của Đảng Cộng sản:

“Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc… mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ là thống trị thế giới. Hoa Kỳ sẽ không cho phép xuất hiện một nước lớn trên… lục địa châu Á đe dọa khả năng thống trị của họ. Vì vậy, một nước mà họ nghĩ là có thể đặt ra thách thức nghiêm trọng nhất đối với họ thì họ cho là kẻ đối địch chủ yếu”.

Theo cách nhìn nhận của giới chóp bu cầm quyền của Trung Quốc, thì những lời tố cáo như thế đã phản ánh sự thật. Trong 50 năm Hoa Kỳ được hưởng ưu thế của cường quốc quân sự ở châu Á, một địa vị trên thực tế là duy nhất trong lịch sử thế giới. Một khi nước Nhật, do quy định của hiến pháp, bị hạn chế ở một lực lượng phòng vệ, còn Trung Quốc thì yếu và nghèo, Hoa Kỳ không gặp đối thủ có khả năng thách thức ưu thế của mình. Vai trò siêu cường mà họ giữ để đảm bảo cán cân lực lượng ở châu Á thực sự là không ai tranh giành. Giờ đây một Trung Quốc hùng mạnh và kiên quyết hơn đang đe dọa trật tự cũ, một trật tự đã cho phép phần lớn các nước châu Á, kể cả Trung Quốc mới đây tập trung vào phát triển kinh tế, trong khi “người đóng thuế” là Mỹ phải chịu phần lớn gánh nặng chi phí quân sự.

Nhưng đó là chuyện từ lâu và Trung Quốc không hề phàn nàn. Năm 1993 hay ngay cả 1996 Hoa Kỳ không tỏ ra hùng hậu hơn hay hung hăng hơn về mặt quân sự. Họ không đặt ra một mối đe dọa mới nào với Trung Quốc. Như vậy, thay đổi trong cách phát ngôn của Trung Quốc ắt phải phản ánh một sự thay đổi, không phải trong hành động của Mỹ, mà trong cách nhìn nhận sự việc của Trung Quốc. Và tờ Nhân dân Nhật báo chỉ rõ thay đổi đó là gì: “sự xuất hiện của một nước lớn trên… lục địa châu Á đe dọa khả năng thống trị (của Mỹ)”. Trên báo chí chính thức do đảng kiểm soát ở Trung Quốc, không thể có một tuyên bố rõ ràng hơn về tính chất của cuộc xung đột siêu cường trong tương lai. Theo quan điểm của Trung Quốc, kỷ nguyên thống trị của Mỹ ở châu Á, vốn là một tai họa hàng đầu không ai mong muốn, rồi sẽ chất dứt. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang tự hỏi. Tại sao nước Mỹ xa xôi, xấu xa, ích kỷ lại có thể trở thành kẻ bá quyền ở một bộ phận của thế giới, nơi trong gần 2 thiên niên kỷ Trung Quốc đã ngự trị ở vị trí tối cao? Như chúng ta có thể nói, thì toàn thể ban lãnh đạo Bắc Kinh bây giờ đều rơi vào quan điểm thể hiện qua câu hỏi này. Sự bất đồng ý kiến ở Bắc Kinh chỉ có tính chất chiến thuật, với những người ôn hòa, bao gồm nhiều người ở các bộ liên quan đến kinh tế và các bộ phụ trách công tác đối ngoại, ủng hộ một chính sách không đối đầu cho thập kỷ sắp tới, như vậy là để tránh một cuộc đụng độ quân sự và bảo vệ quan hệ thương mại Trung – Mỹ. Những người chống Mỹ hiếu chiến nhất, đặc biệt trong bộ máy quân sự và an ninh, đấu tranh cho một đường lối chống Mỹ cứng rắn hơn nữa. Nhưng ngay cả phái “bồ câu” ở Bắc Kinh cũng thừa nhận rằng mục tiêu cảu Trung Quốc thay thế thế lực Mỹ tại châu Á chắc chắn sẽ đẩy hai nước vào một cuộc xung đột trong tương lai. Trung Quốc nhận ra điều đó rõ ràng hơn là Mỹ, vì những lý do mà chúng ta sẽ tìm hiểu, vẫn thiên về quan điểm hợp tác với Trung Quốc hơn là quan điểm đối kháng.

Qua những cuộc phỏng vấn mà chúng tôi tiến hành với các nhà tư tưởng chiến lược Trung Quốc năm 1996, người ta cũng chẳng mấy cố gắng để che giấu quan điểm nhất trí cho rằng Trung Quốc và Mỹ sẽ trở nên hai đối thủ, và sự đối địch này sẽ thêm căng thẳng vì Trung Quốc đã trở nên hùng mạnh hơn. Theo lời một nhà phân tích có uy tín của Hội Nghiên cứu Quản lý và Chiến lược của Trung Quốc ở Bắc Kinh, thì: “Trung Quốc đang ngày càng lớn mạnh trên thế giới, và điều đó đang ảnh hưởng tới vai trò thống trị của Hoa Kỳ… Trong 15 năm tới, sẽ không có những xung đột cơ bản giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, nhưng sau đó xung đột cơ bản là điều không tránh khỏi”. Một học giả khác, một thành viên của Viện Nghiên cứu Mỹ, một bộ phận của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Trung Quốc, lại phát biểu như thế này: “Những tình cảm dân tộc chủ nghĩa đang lên cao ở Trung Quốc. Ngày càng có nhiều người không có thiện cảm với người Mỹ”.

Ở Trung Quốc, ít nhất là có một trường phái tưt ưởng có ảnh hưởng, kiên trì chủ trương rằng Trung Quốc phải hành động nhanh chóng, vì họ lập luận rằng Trung Quốc chỉ còn có một thời gian ngắn để thiết lập sự thống trị của mình đối với châu Á – trước khi bị phong tỏa bởi Hoa Kỳ và bởi những liên minh khu vực sẽ hình thành để đáp lại sự thách thức của Trung Quốc. Đó là chủ đề của một cuốn sách tiết lộ rất nhiều điều, có tên là Quân đội Trung Quốc có thể thắng trong một cuộc chiến tranh sắp tới không?, được xuất bản năm 1993 như một tài liệu nội bộ, chỉ dành cho các quan chức cấp cao. Tình cờ cuốn sách lại được phân phối cho một cửa hàng sách Bắc Kinh và một người Mỹ đã mua được. Trong cuốn sách này, qua những trang viết coi như không dành cho công chúng rộng rãi, bộc lộ rõ ràng mục tiêu là buộc Hoa Kỳ phải chấp nhận sức mạnh thống trị của Trung Quốc – điều đã ít nhiều tiết lộ trong những tuyên bố chính thức.

“Sau năm 2000, khu vực châu Á – Thái Bình Dương ắt hẳn sẽ dần dần trở thành điểm ưu tiên chiến lược của Mỹ”, đó là lời cảnh báo trong cuốn sách, để bàn về phương hướng hành động hiện nay, một khi người Mỹ còn đang bận tâm đến nơi khác. Các tác giả cuốn sách tuyên bố rằng những năm hậu chiến tranh lạnh mở đầu một “thời kỳ chuyển tiếp”, và thời kỳ đó sẽ kéo dài một thập kỷ hay hơn thế một ít. Nói cách khác, từ cuối thế kỷ này sang đầu thế kỷ tới, chủ đề chính của đối đầu quân sự sẽ là những cuộc chiến tranh cục bộ và khu vực trên toàn cầu. “Như vậy kẻ nào đi đầu trong thời kỳ chuyển tiếp này sẽ giành được vị trí quyết định trong trật tự quân sự tương lai”. Giả thuyết này, nhất quán với những gì ta biết về tư duy chính trị thực dụng cảu Trung Quốc, cho rằng hệ thống quốc tế được đặc trưng bởi một cuộc đấu tranh liên tục để giành quyền thống trị, và Trung Quốc phải lao vào cuộc đấu tranh đó, mà thù địch chủ yếu của nó tất yếu phải là Hoa Kỳ.

Cuốn sách nhận định rằng “nếu cuộc xung đột về lợi ích chiến lược giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ tạm thời bị che lấp vì mối quan hệ “tam cường”, thì giờ đây lại nổi lên rõ rệt do sự sụp đổ của Liên Xô. Trung Quốc và Mỹ tập trung vào những lợi ích chính trị và kinh tế của riêng mình ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, sẽ còn ở trong tình trạng đối đầu lâu dài”.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: America is the Enemy – trong The coming conflict with China – Chương 1, 22-50pp

TĐB 97 – 22 & 23

Các nước có lợi ích liên quan đến Venezuela điều chỉnh chiến lược


Tóm tắt

+ Nghi ngờ các sĩ quan quân đội Venezuela ủng hộ cuộc nổi dậy do phe đối lập dẫn dắt, Mỹ sẽ theo đuổi các biện pháp trừng phạt kinh tế nghiêm ngặt hơn đối với Venezuela như là chiến lược chính của họ nhằm ép buộc Tổng thống Nicolas Maduro phải từ chức.

+ Washington cũng có thể tìm cách tranh thủ sự trợ giúp của Colombia và Brazil để can thiệp trực tiếp vào Venezuela; tuy nhiên, hai nước này sẽ không muốn làm vậy vì lo ngại phản ứng dữ dội của giới chính trị và sự trả đũa của những kẻ nổi dậy ủng hộ Maduro.

+ Để ngăn cản Cuba ủng hộ Chính quyền Maduro, Mỹ cũng sẽ tăng cường sức ép đối với La Habana thông qua các biện pháp trừng phạt, nhưng khả năng là Chính phủ Cuba sẽ không nhượng bộ vì nước này phụ thuộc vào nguồn dầu thô của Venezuela.

+ Nga sẽ tập trung tăng cường sự hiện diện quân sự của mình ở Venezuela – tạo ra chỗ đứng chiến lược tại sân sau của Washington trong khi cuộc cạnh tranh giữa hai cường quốc đang diễn ra.

Sau cuộc nổi dậy không thành công của phe đối lập hôm 30/4 vừa qua, các quốc gia bên ngoài có lợi ích đáng kể phụ thuộc vào tương lai nền chính trị ở Venezuela như Mỹ, Colombia, Brazil, Nga, Trung Quốc và Cuba gần như chắc chắn đã bắt đầu điều chỉnh chiến lược của mình. Ba nước đầu tiên (Mỹ, Colombia, Brazil) vẫn là nhóm cốt lõi hậu thuẫn nhà lãnh đạo phe đối lập Juan Guaido lật đổ Maduro; tuy nhiên, Mỹ đóng vai trò chủ động hơn rất nhiều so với hai nước kia. Nhóm ba nước còn lại gồm Nga, Trung Quốc và Cuba có lý do để duy trì quyền lực của Maduro, hay một nhà lãnh đạo dễ phục tùng nào khác. Đối với Nga, đó là giành được một vị trí quân sự sân sau của Mỹ giữa lúc cuộc canh tranh giữa 2 nước lớn đang tiếp diễn; đối với Cuba, đó là duy trì nguồn cung cấp dầu thô và khí đốt từ Venezuela; đối với Trung Quốc, đó là đảm bảo Caracas thanh toán đầy đủ các khoản nợ khổng lồ của họ.

Những nước có lợi ích ở Venezuela này sẽ thúc đẩy việc thực hiện tầm nhìn của riêng họ đối với Caracas trong thời gian tới. Tuy nhiên, nỗ lực nổi dậy không thành của phe đối lập đã khiến cho việc thay đổi chế độ một cách nhanh chóng trở nên khó khăn hơn. Chính vì vậy, những nước có lợi ích ở Venezuela, nhất là trong lĩnh vực năng lượng, nên chuẩn bị tinh thần đối phó với một loạt biện pháp trừng phạt mới của Mỹ vì Mỹ nóng lòng muốn thấy quân đội của Maduro phải quay lưng lại với ông. Tuy nhiên, nếu như những gì xảy ra trong thời gian vừa qua minh chứng cho một điều gì thì đó là các biện pháp trừng phạt của Mỹ chưa phát huy hiệu quả trong việc khiến các lực lượng vũ trang này đứng về phe đối lập và chính điều này đã làm tăng khả năng Maduro tiếp tục nắm quyền ở Venezuela.

Các đồng minh của Guaido: Mỹ, Colombia và Brazil

Nếu Guaido thất bại trong nỗ lực giành quyền kiểm soát thì Chính quyền Maduro sẽ bắt đầu thẳng tay đàn áp các đồng minh chính trị của ông trong giới quân sự. Những người bất đồng quan điểm sẽ bị hất ra khỏi vị trí quyền lực của họ và, trong một số trường hợp nhất định, sẽ bị bỏ tù hoặc giám sát chặt chẽ. Tới lúc đó, Mỹ hầu như không có khả năng tác động từ bên trong Venezuela để buộc Maduro phải nhanh chóng ra đi.

Để tăng khả năng các sĩ quan quân đội quay ra chống lại Maduro sau vụ nổi dậy không thành, Washington sẽ một nữa gia tăng sức ép kinh tế đối với Caracas, điều có thể được thực hiện một cách nhanh chóng và dễ dàng thông qua Bộ Tài chính Mỹ. Bằng việc làm như vậy, Mỹ hy vọng bóp nghẹt nguồn doanh thu đáng kể duy nhất từ xuất khẩu dầu mỏ của Venezuela. Đây gần như chắc chắn sẽ là biện pháp trừng phạt bổ sung nhằm vào các công ty quốc tế hiện đang có giao dịch tài chính với ngành năng lượng Venezuela.

Tuy nhiên, thiệt hại thực sự của ngành năng lượng Venezuela phụ thuộc chủ yếu vào việc Mỹ sử dụng các biện pháp trừng phạt kiểu gì và triển khai chúng với tốc độ ra sao. Ví dụ, Mỹ có thể hạn chế bán hóa chất dùng để pha loãng dầu mỏ cho Venezuela, góp phần làm giảm hơn nữa sản lượng dầu mỏ của Venezuela. Washington cũng có thể đe dọa trừng phạt các nhà máy nhận lọc dầu cho Venezuela, chẳng hạn như công ty Reliance của Ấn Độ, nếu họ không chịu giảm hoặc ngừng nhập dầu mỏ của Venezuela.

Những giải pháp trực tiếp nhằm làm suy yếu hoặc lật đổ Maduro giờ đây sẽ khó thực hiện hơn nhiều. Việc đàn áp các lực lượng an ninh và cả phe đối lập theo sự chỉ đạo của Maduro sẽ khiến Mỹ mất đi những lực lượng cần thiết để tạo ra sự thay đổi chính trị ở Venezuela. Giải pháp can thiệp quân sự nhằm trực tiếp lật đổ Maduro cũng không còn khả thi tại thời điểm này, vì nó sẽ phức tạp về mặt logistics, tốn kém và hầu như không mang lại lợi ích trực tiếp cho Mỹ. Tuy nhiên, Nhà Trắng nhìn chung vẫn chưa loại trừ khả năng này bởi giải pháp đó có tác dụng răn đe đối với Caracas.

Mỹ cũng có thể tìm cách can thiệp gián tiếp bằng việc tổ chức và tài trợ cho các lực lượng của Colombia và Brazil để tiến hành các cuộc tấn công chớp nhoáng vào nước láng giềng Venezuela. Tuy nhiên, hai nước này sẽ không sốt sắng làm vậy vì lo ngại phản ứng dữ dội của cử tri trong nước hoặc Chính phủ Venezuela. Colombia và Brazil là hai nước trong khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế ở Venezuela. Tuy nhiên, khả năng hai nước này trực tiếp thay đổi chế độ ở Venezuela là rất hạn chế. Mặc dù tổng thống của cả hai nước đều công khai lên tiếng ủng hộ sự thay đổi chính quyền ở Venezuela, nhưng mong muốn của họ về việc chuyển giao quyền lực không dễ gì biến thành hành động.

Với Colombia, việc tiến hành các động thái đe dọa trực tiếp hơn nữa Chính phủ Venezuela, chẳng hạn như chứa chấp các lực lượng du kích bất đồng chính kiến với chính phủ có thể vấp phải sự trả đũa của các đồng minh chính trị của Maduro trong lực lượng quân giải phóng quốc gia, dưới hình thức gia tăng các cuộc tấn công vào các cơ sở hạ tầng dầu mỏ ở chính nước này.

Trong khi đó, ở Brazil, sự bất đồng về chính sách đối ngoại giữa Tổng thống Bolsonaro và các quan chức có tư tưởng ôn hòa hơn như Phó Tổng thống Hamilton Maourao sẽ tiếp tục khiến Brazil  không thể đưa ra lập trường cứng rắn can thiệp nhiều hơn đối với Venezuela. Như vậy, với cả hai nước đồng minh này của Mỹ, cái giá phải trả nếu can thiệp sâu hơn vào tình hình Venezuela sẽ lớn hơn nhiều so với những lợi ích nhận được. Vì vậy, vai trò của họ trong cuộc khủng hoảng Venezuela sẽ tiếp tục mang tính bị động hơn là chủ động, nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi chứ không phải xúi bẩy Mỹ nỗ lực lật đổ Maduro.

Các đồng minh của Maduro: Nga và Cuba

Sau thất bại của cuộc nổi dậy, những hạn chế của Washington và hai đồng minh hàng đầu của họ rõ ràng sẽ mang lại lợi thế cho Nga và Cuba, hai nước bên ngoài dính líu nhiều nhất đến việc duy trì quyền lực của Maduro. Vì Cuba là đối tác an ninh chủ chốt của Venezuela, nên Chính quyền Trump sẽ tìm cách gây sức ép buộc La Habana phải ngừng hỗ trợ Chính quyền Maduro bằng việc đe dọa áp dụng các biện pháp trừng phạt nặng nề hơn. Chẳng hạn như Mỹ có thể thu hồi sắc lệnh hành pháp năm 2014 cho phép có thêm nhiều công dân Mỹ du lịch tới Cuba, nhờ đó thúc đẩy ngành du lịch của nước này. Tuy nhiên, một cách tiếp cận như vậy không thể mang lại kết quả nhanh chóng.

Sở dĩ Cuba quan tâm đến Venezuela chủ yếu là do đòi hỏi cấp thiết phải duy trì sự tồn tại của Chính quyền Maduro. Các nhà máy điện và các phương tiện đi lại ở La Habana chạy bằng dầu lửa và chất đốt do Caracas cung cấp. Cuba cũng nhập khẩu các sản phẩm tinh chế như xăng và dầu diesel từ quốc gia Nam Mỹ này. Nếu đồng ý với Mỹ cắt đứt nguồn cung cấp năng lượng thiết yếu này, rồi đàm phán để giảm bớt sự hậu thuẫn với Caracas, thì Cuba sẽ lại có thể phải nhượng bộ thêm những yêu cầu không mong muốn khác từ phía Washington, chẳng hạn như từng bước tiến hành các cuộc bầu cử tự do. Kết quả là Chính phủ Cuba hầu như sẽ không có động lực để thay đổi phương hướng hành động trước mắt của họ đối với Venezuela, cho dù điều đó có nghĩa là phải đối mặt với nhiều biện pháp trừng phạt mới của Mỹ.

Trong khi đó, Nga sẽ nắm lấy cơ hội mà cuộc nổi dậy bất thành của phe đối lập tạo ra để củng cố lại vị trí của mình ở Venezuela, có lẽ bằng việc nỗ lực tư vấn cho Chính phủ Venezuela và cải thiện khả năng của các lực lượng quân sự và an ninh ở đây bất cứ khi nào có thể. Ngoài sự hiện diện của mình trong ngành năng lượng của Venezuela, yếu tố then chốt khiến Nga nỗ lực duy trì sự tồn tại của Chính quyền Maduro vẫn là cuộc cạnh tranh đang tiếp diễn giữa Nga và Mỹ. Như đã từng làm ở Syria và Ukraine, Chính phủ Nga sẽ tìm cách đẩy lùi những nỗ lực mở rộng ảnh hưởng của Mỹ bằng cách gia tăng sự hiện diện quân sự của họ ở Venezuela. Moskva có rất nhiều lựa chọn để làm được như vậy, kể cả việc gia tăng sự hiện diện của các phái đoàn hợp tác quân sự và bố trì gần như thường trực các máy bay ném bom chiến lược ở Venezuela. Những động thái này sẽ giúp Moskva xác lập được vị trí quân sự, dù còn hạn chế, gần lục địa nước Mỹ. Điều này sẽ buộc Washington phải chuyển sự chú ý và các nguồn lực của mình từ Nga sang mối đe dọa mới đang xuất hiện ở sân sau của chính họ.

Trung gian: Trung Quốc

Trung Quốc cũng có lợi ích nhất định trong tương lai chính trị ở Venezuela. Tuy nhiên, không giống Cuba và Nga, lợi ích của Trung Quốc ở Venezuela không phụ thuộc vào sự tồn tại của chế độ hay cuộc cạnh tranh địa chính trị. Khi nhắc đến Venezuela, mối quan tâm chính của Bắc Kinh là tái cơ cấu nợ của nước này để đảm bảo rằng bất kỳ chính quyền tương lai nào, bất kể ai là lãnh đạo, cũng sẽ thanh toán khoản tiền 23 tỷ USD mà Caracas đang nợ Trung Quốc.

Chính quyền non trẻ của phe đối lập vì lo sợ bị Trung Quốc – vừa là khách hàng vừa là nhà tài trợ củ Venezuela, xa lánh mà chắc chắn cũng sẽ chiều theo yêu cầu của Trung Quốc về việc tái cơ cấu nợ. Trung Quốc gần đây đã cử đại diện tới gặp các quan chức của Guaido, có lẽ để thảo luận về việc tái cơ cấu nợ dưới quyền của chính phủ đối lập. Tuy nhiên, nếu phe đối lập ít có khả năng lên cầm quyền thì Trung Quốc sẽ nóng lòng muốn thảo luận vấn đề đó với Chính quyền Maduro để bảo vệ các lợi ích cốt lõi của mình.

Đương nhiên vẫn có khả năng các chỉ huy quân đội ủng hộ nỗ lực nổi dậy vừa qua của Guaido sẽ tham gia một cuộc lật đổ khác, nhưng khả năng đó là không chắc chắn. Và việc Guaido không có được sự ủng hộ cần thiết của giới quân sự cho kế hoạch nổi dậy của ông cho thấy các quan chức cấp cao của Venezuela vẫn chưa sẵn sàng ủng hộ các nỗ lực của phe đối lập, khiến Mỹ hầu như không có lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục dựa vào các biện pháp trừng phạt kinh tế để thúc đẩy sự thay đổi chế độ ở Venezuela.

Nguồn: Stratfor – 03/05/2019

TLTKĐB – 09/05/2019