Một thời kỳ mới nguy hiểm ở Trung Đông – Phần IV


Thời điểm trả thù

Khi Donald Trump xuất hiện trước báo chí ở Washington vào ngày 8/1, mong muốn của ông thể hiện trạng thái bình thường là rõ ràng. Ông đã đăng tải dòng tweet “mọi chuyện tốt đẹp” chỉ ngay sau đó. Ông nói rằng Iran muốn hướng đến giảm leo thang, nói như thế không có gì quan trọng đã xảy ra, như thể quân đội của ông đã không giết một trong những đại diện quan trọng nhất và được yêu mến nhất của một quốc gia nước ngoài theo mệnh lệnh của ông, đẩy Trung Đông đến  bờ vực của một cuộc chiến tranh khác.

Trump vẫn tin rằng ông có thể thực hiện một “thỏa thuận” với Tehran, mặc dù trong lập trường này ông phần lớn là đơn dộc. Có nhiều khả năng hơn là cuộc đối đầu sẽ tiếp tục, ngay cả khi các cuộc tấn công tên lửa vào 2 cơ sở mà Mỹ sử dụng đánh dấu chấm dứt chính thức chiến dịch trả đũa, ít nhất là theo lãnh đạo Iran.

Nhà ngoại giao Mỹ Brett McGurk, người mà cho đến năm 2018 trên danh nghĩa vẫn là đặc phái viên của Tổng thống trong liên minh toàn cầu chống lại IS, nói: “Mọi việc chưa kết thúc”. Ông lập luận rằng Iran bây giờ sẽ khôi phục lại chiến lược chiến tranh bất đối xứng, trong đó Tehran sử dụng các lực lượng ủy nhiệm người Shiite để thực hiện các công việc bẩn thỉu của mình.

Hassan Nasrallah – người đứng đầu lực lượng dân quân Hezbollah của Liban, có quan hệ mật thiết với Iran – đã tuyên bố rằng ông sẽ đảm bảo tất cả quân đội Mỹ rút khỏi khu vực. Ông nói rằng các cuộc tấn công vào các căn cứ, tàu chiến và binh lính, bao gồm cả sử dụng những kẻ tấn công tự sát được ưu tiên, gián tiếp tiến một bước gần hơn đến mục tiêu cuối cùng là tiêu diệt Israel.

Các chiến binh bóng tối của Iran được Qassim Soleimani hết sức hỗ trợ, là rất mạnh mẽ: Họ có khả năng tấn công binh lính Mỹ ở Afghanistan và Syria, trong khi phiến quân Houthi của Yemen cũng là đồng minh với Tehran có thể tăng cường các cuộc tấn công vào Saudi Arabia.

Những gì diễn ra trong tháng 9/2019 gợi ý về những việc chế độ Iran có khả năng thực hiện, khi dường như nước này đã thực hiện một cuộc tấn công tinh vi về mặt công nghệ sử dụng tên lửa hành trình và máy bay không người lái được trang bị vũ khí vào các cơ sở dầu của Saudi Arabia, tạm thời khiến sản lượng dầu nước này giảm một nửa. Iran chối bỏ trách nhiệm đối với vụ tấn công, nhưng Mỹ, Anh, Pháp và Đức đều kết luận rằng Tehran đã đứng sau vụ tấn công.

Giới cầm quyền Đức tin rằng mức độ đe dọa tăng lên. Theo dự đoán ban đầu của Cảnh sát hình sự Liên bang Đức: “Có lý do để lo sợ rằng kỷ nguyên của hoạt động đe dọa chính trị trong khu vực sẽ theo sau các cuộc tấn công trả đũa (bằng quân sự) của Iran cũng như các cuộc tấn công của 2 đồng minh quan trọng nhất của nước này (Hezbollah và Syria)”. Các mục tiêu rõ ràng nhất, theo lập luận, là các cơ sở ngoại giao và quân sự của Mỹ và Israel.

Iran cũng có nhiều binh sĩ trong lực lượng không gian mạng và một kho vũ khí mà sẽ có lợi trong một cuộc chiến tranh mạng. Quyết định của mỗi nước mở rộng nhanh chóng các khả năng này có thể được thúc đẩy bởi một cuộc tấn công duy nhất của phương Tây. Khoảng 10 năm trước, người Iran đã phát hiện ra nguyên nhân tại sao nhiều bộ phận của cơ sở làm giàu urani của họ ở Natanz gặp trục trặc: Một phần mềm độc hại có tên Stuxnet, được cho là do các cơ quan tình báo của Mỹ và Israel phát triển, đã phá hủy máy ly tâm của cơ sở và phá hoại chương trình hạt nhân.

Iran đã phản ứng bằng cách xây dựng quân đội mạng của riêng mình. Các tin tặc của Iran đã tấn công hệ thống kiểm soát của một con đập gần thành phố New York và cố gắng đánh sập các máy chủ của các ngân hàng lớn Mỹ và Sàn giao dịch chứng khoán New York bằng các cuộc tấn công từ chối dịch vụ phân tán (DDoS). Khi ông trùm sòng bạc người Mỹ Sharon Adelson đề nghị tấn công Iran bằng vũ khí hạt nhân, công ty tỷ đô của ông cũng đã nằm trong tầm ngắm của Iran. Cựu Giám đốc tình báo quốc gia James Clapper chỉ trích Iran và nói rằng điều đó có nghĩa là Mỹ “lần đầu tiên nhìn thấy các cuộc tấn công phá hoại trên mạng được thực hiện trên đất Mỹ bởi các thực thể quốc gia”.

Theo phân tích của trung tâm Nghiên cứu an ninh của ETH Zurich, Iran đã tiếp tục phát triển năng lực của mình kể từ đó và tích cực trên nhiều mảng của chiến tranh mạng, từ gián điệp mạng đến các chiến dịch đưa tin giả có chủ đích, đến các nỗ lực phá hoại các quy trình công nghiệp. Lữ đoàn Quds cũng có vũ khí mạng của riêng mình.

Các nhà phân tích ETH đã liệt kê một loạt các nhóm đang làm công việc liên lạc được trả tiền cho chế độ. Họ cho biết có hơn 50 nhóm chiến tranh mạng có tổ chức thuộc loại này hiện đã được xác định.

Gần đây, các tin tặc Iran đã đưa ra một dự báo trước về các hành vi trả thù trên mạng có thể xảy ra khi nước này chiếm quyền điều khiển trang mạng của Chương trình thư viện lưu giữ liên bang của Chính phủ Mỹ. Trang mạng này hiển thị một hình ảnh động trong đó một người đàn ông mặc quân phục Iran đã đấm vào mặt Trump, ở trên có lời cảnh báo rằng đây “chỉ là một phần nhỏ trong khả năng mạng của Iran”.

Quà tặng của Trump

Cậu bé khoảng 5 – 6 tuổi, đứng trong một nhóm người, cậu bé hét lên: “Tôi là Qassem!” Những người lớn xung quanh nó cổ vũ. Sau đó, cậu ta giơ nắm đấm nhỏ của mình lên không trung, khuôn mặt méo mó vì gắng sức và hét lên một, hai, ba lần nữa: “Tôi là Qassem!” Tôi là “Qassem Soleimani!”.

Một người phụ nữ, khuôn mặt ẩn sau chiếc áo trùm đen than khóc, nước mắt rưng rưng: “Người Mỹ sẽ phải trả giá!” Tôi có 2 đứa con trai. Tôi sẵn sàng hy sinh chúng để trả thù. Những người đàn ông hét lên: “Chúng tôi là Qassem Soleimani. Chúng ta đều là những người lính của ông ấy!” Và ông liên tục hét: “Chết đi nước Mỹ!”.

Những hình ảnh này đã xuất hiện trên truyền hình nhà nước Iran trong tuần này, trên tất cả các kênh cùng với một biểu ngữ màu đen chồng lên nhau. Hình ảnh những đám tang dài vô tận, những giọt nước mắt, những cơn giận dữ xuất hiện.

Những hình ảnh về cuộc đời Qassem Soleimani được xen kẽ trong tin tức: Soleimani đến thăm quân đội, bắt tay, vỗ lưng, cầu nguyên. Soleimani cúi đầu trước Lãnh tụ tối cao Iran Ali Khamenei. Và tất cả những điều này đã được nhấn mạnh bằng bài ca tụng hoa mỹ, những bài thơ tôn vinh người chết và bài hát của Trung Đông: “Ôi Qassem, Qassem của chúng tôi, chiến binh tử vì đạo yêu mến, ông sống và ông sẽ mãi sống”.

Việc giết chết chỉ huy của Lực lượng Quds đã trở thành một sự kiện quốc gia quan trọng đối với người Iran. Nhiều người lớn tuổi hơn thấy nó gợi nhớ đến lễ tang Ayatollah Ruhollah Khomeini vào năm 1989. Một người quan sát cho biết: “Nhưng cái này lớn hơn nhiều. Điều này chưa bao giờ diễn ra trong lịch sử nước Cộng hòa Hồi giáo”.

Bộ máy nhà nước Iran rất thành thạo khi tuyên truyền, và tổ chức các lễ kỷ niệm của cuộc cách mạng là những sự kiện lớn, được dàn dựng công phu. Và cỗ máy tuyên truyền đó bắt đầu hoạt động ngay sau cái chết của Soleimani. Các thành phố của Iran đã nhanh chóng được dán các tờ áp phích và biểu ngữ: Soleimani với Khameini, Soleimani trên bầu trời. Chỉ riêng trong chương trình truyền hình vào Chủ nhật, ngày đầu tiên của buổi tang lễ kéo dài ba ngày, một người quan sát ở Tehran đã đếm được 32 bài hát khác nhau mà được sáng tác và biểu diễn để tôn vinh vị tướng đã chết.

Nhưng sự thương tiếc và giận dữ của hàng trăm ngàn người ở các thành phố trên khắp đất nước còn hơn cả một sự kiện được chế độ tổ chức. Arash Mussavi, một doanh nhân ở Tehran, người từ chối cung cấp tên thật của mình, cho biết: “Có tuyên truyền, nhưng mọi người không đến vì điều đó”. Ông nói rằng Soleimani cực kỳ nổi tiếng, trong số những người bạn của ông có cả những người chỉ trích chế độ.

Cái chết của Qassem Soleimani, ít nhất trong một khoảnh khắc, đã thống nhất một đất nước bị chia rẽ và dễ bị kích động. Trump đã làm được điều mà giới lãnh đạo Iran không bao giờ làm được. Phe đối lập đã tham gia lễ tang và nhiều người Iran cảm thấy tức giận về tình hình kinh tế nghiệt ngã – sự tức giận mà chỉ vài tuần trước đã nhằm vào chế độ của chính họ hiện đã chuyển sang Mỹ.

Nhiều người Iran coi cái chết của tướng quân là một cuộc tấn công vào họ và đất nước của họ. Đám tang bao gồm không chỉ phụ nữ mặc áo chùm đen, mà cả phụ nũ đeo khăn che tóc và trang điểm nhiều. Tác giả Mahmoud Dowlatabadi, nguòi mặt khác không đặc biệt ủng hộ lãnh đạo Iran, đã gủi lời chia buồn công khai, tương tự như chính gia đối lập Mehdi Karroubi, người đã bị quản thúc tại gia trong gần 10 năm, kể từ các cuộc biểu tình của Phong trào Xanh.

(còn tiếp) 

Nguồn: Spiegel

CVĐQT – số 02/2020

Khúc tam tấu triết học, chính trị và văn hóa – Phần cuối


Tiếp nhận sự nghiệp mà cái gọi là “chế độ nô lệ phổ biến” trong Triết học lịch sử của Hegel để lại, hình thành sự đối chiếu với cái cổ đại cổ điển của Hy Lạp, La Mã, cái cổ đại châu Á từng đóng một thứ vai trò mơ hồ nào đó trong lý luận hình thái xã hội của Marx, nhưng nội hàm chủ nghĩa đặc thù của phương thức sản xuất châu Á tuyệt nhiên không phải chỉ có tác dụng khiến lịch sử hóa thạch. Thí dụ nhà sử học marxist Hầu Ngoại Lư (Hou Wailu) từng tự khoe việc làm của mình là sự “kéo dài” lý luận phương thức sản xuất châu Á của Marx, và lần lượt dùng “khí duy cầu tân, nhân duy cầu tân” (đồ vật cần đổi mới, con người cần đổi mới) và “khí duy cầu tân, nhân duy cầu cựu” (đồ vật cần đổi mới, con người cần giữ nguyên như cũ) trong sách Thượng thư để khắc họa cái cổ điển và cái cổ đại châu Á thành hai con đường tiến hóa song hành của xã hội cổ đại – “loại đầu là thay cũ đổi mới, cái mới xung phá cái cũ, là con đường cách mạng; còn loại sau lại là ràng buộc mới cũ, cái cũ níu kéo cái mới, là con đường duy tân”. Đích xác, ba hình thái phát triển xã hội được trình bày tập trung trong bản thảo Tư bản đã cung cấp không gian khái niệm giàu sức co giãn cho việc dung nạp, điều hòa tính đặc thù và tính đa dạng của các giai đoạn và các hình thái phát triển của xã hội.

Thật là trùng hợp, chúng ta lại có thể từ trong lý luận hiện đại hóa với tính cách một kỳ quan giữa thế kỷ XX và lý luận về tính hiện đại đa nguyên, sản phẩm của sự tự xem xét lại để nhận ra tiếng vọng từ chỗ khác của sự “kéo dài” nói trên, chỉ có điều thời gian và không gian đều đã có sự chuyển đổi, còn nội hàm khái niệm của nó thì cũng sớm đã khác xa xưa rồi. Qua tầm nhìn tính hiện đại văn hóa và tính hiện đại quy phạm nổi lên trong việc xem xét lại này để nhìn xuyên suốt từ cuộc tranh luận Trung – Tây thể – dụng thời kỳ cận đại Trung Quốc tới vòng tranh luận mới cuối thời cận đại về cổ – kim Trung – Tây, địa vị và vai trò của triết học trong cục diện nhị nguyên văn hóa và ch1inh trị đã có sự biến đổi tinh tế. Không giống với cái cổ đại cổ điển, trong đó triết học ở trong mối quan hệ đối lập trực tiếp nào đó với chính trị, giống như sự đối lập trừu tượng của chân lý và ý kiến trong cái bóng lùi xa của “cuộc chiến của người khổng lồ”; cũng khác với tình hình phương Tây cận đại, trong đó triết học và khoa học với tính cách là lực lượng mạnh nhất trong văn hóa cạnh tranh nhau, tranh đoạt không gian, từ trong đó nẩy sinh ra các loại thuyết chân lý kép điều hòa triết học và thần học, khoa học tự nhiên và khoa học tinh thần. Khác với cái cổ đại châu Á, khi mà “triết học” có địa vị “tác chi quân, tác chi sư” (làm vua, làm thầy) khống chế vạn vật; cũng khác với cách dẫn giải chủ đạo của Trung Quốc cận đại, vẫn cứ định dựa vào mô hình thể dụng tinh túy nhất trong triết học Trung Quốc để giải quyết cuộc tranh luận cổ – kim Trung – Tây. Thứ mà triết học hiện nay cần “tranh đoạt” không còn là một không gian “lập luận” nữa, tựa hồ nó đã có một “vùng lập luận” riêng mà các bộ môn khác không thể nhúng tay vào, mà là một “không gian khái niệm”, “không gian” này đặc biệt xuất hiện tại nơi mà các “vùng lập luận” đan xen chồng lấn nhau, vai trò của nó dù không phải là “rút giây động rừng” thì cũng vẫn có công hiệu lan tràn thẩm thấu và xuyên suốt; triết học giờ đây không còn là một “trọng tài” từ trên xuống, mà là một “người giàn xếp” trung gian, không còn là người quan sát bên ngoài sắp đưa ra sự “phán xử” một lần cho mãi mãi, mà giống như một người tham dự bên trong sẵn sàng sửa chữa bộ khung khái niệm của mình; điều then chốt hơn là, đồng thời với việc truy vấn tiêu chuẩn về tính chính đáng của các lĩnh vực khác, nó cần đưa ra sự biện hộ cho tính chính đáng của bản thân mình; chỉ có điều trong ngữ cảnh liên văn hóa, điều này dường như rất rõ ràng thậm chí “tự sáng tỏ”, nhưng cũng chỉ vì trong ngữ cảnh này, điều quan trọng nhất sẽ không phải là một thứ giải thích “thấy cây không thấy rừng”, cũng không phải là sự phán xét “Hội đương lăng tuyệt đỉnh” (Sẽ leo lên đỉnh tột cùng), càng không phải là dùng sự “phân biệt địch bạn” để “bắt cóc” nội hàm chính trị, mà vẫn là sự “siêu việt bên trong” mà sau hơn 2 nghìn năm “đột phá triết học” các triết nhân vẫn miệt mài tìm kiếm, cũng có nghĩa là, trong tầm nhìn “hậu siêu hình học”, sẽ phải đem các quan hệ giữa vô hạn và hữu hạn, cái vô điều kiện và cái có điều kiện, tính thống nhất và tính đa dạng, tự do và tất yếu mà thời đại trục lần đầu tiên tách ra tái thống nhất lại trên cơ sở thừa nhận tầm quan trọng của sự khu biệt khái niệm giữa chúng.

Khi từ góc nhìn “siêu việt bên trong” để bàn về vấn đề “quyền uy lý tưởng có tính hợp lý bao nhiêu?”, Habermas nói: ““Góc nhìn đạo đức” cần xây dựng lại góc nhìn này từ bên trong thế giới, đưa nó vào bên trong phạm vi thế giới mà các chủ thể chúng ta cùng có, nhưng lại không đánh mất đi khả năng giữ khoảng cách với toàn bộ thế giới và tính phổ biến của việc quan sát toàn diện thế giới”. Còn gần 200 năm trước, khi bàn về sự “phê phán bên trong” theo phép biện chứng, Hegel từng nói: “Sự cự tuyệt đích thực phải xuyên thấu lực lượng đối phương và gặp gỡ nó trên cơ sở nó có thực lực; con đường giành thắng lợi tuyệt nhiên không phải là tiến công nó ở một nơi nào khác, đánh bại nó ở chỗ nó không tồn tại”. Đến nay nhìn lại, câu nói này giống như là sự miêu tả chân xác về cảnh ngộ chân thực mà hiện nay chúng ta vẫn đang đối mặt, càng giống như sự cảnh báo trí tuệ đối với cách thức chúng ta sắp đặt cảnh ngộ này.

Người dịch: Viễn Phố

Nguồn: TN 2014 – 54

Suy thoái kinh tế do ảnh hưởng của COVID-19 sẽ theo mô hình nào?


Với tựa đề trên, Peter Hoskins, phóng viên phụ trách lĩnh vực kinh tế của BBC nhận định, mặc dù các nước hiện đang tiến tới nới lỏng các hạn chế phong tỏa, đại dịch COVID-19 đã tấn công mạnh vào nền kinh tế toàn cầu. Hàng triệu người không có việc làm, thị trường tài chính đã bị rúng động và chuỗi cung ứng đã phải đối mặt với thực trạng gián đoạn lớn khi các nhà máy trên khắp thế giới phải đóng cửa.

Thế giới đang đối diện với suy thoái ngay cả sau khi chính phủ và các ngân hàng trung ương đã bơm hàng nghìn tỷ USD vào nền kinh tế của họ và cắt giảm lãi suất.

“Tình hình sẽ tệ đến mức nào?” và “Bao lâu chúng ta sẽ phục hồi?” là 2 câu hỏi mà người ta sẽ được nghe rất nhiều trong những tuần và tháng tới. Câu trả lời cho cả 2 câu hỏi này thường sẽ liên quan đến việc sử dụng một trong 4 chữ cái: V, U, W và L. Đó là vì đây là cách các nhà kinh tế thường dùng để mô phỏng cho suy thoái.

Các mô hình này đến từ hình dạng của các biểu đồ thường thấy trong các giai đoạn này, theo đó rà soát các hoạt động kinh tế như việc làm, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) – hoặc tăng trưởng kinh tế và sản lượng công nghiệp.

Ở đây, chúng ta xem xét 4 chữ cái đó và ý nghĩa của chúng đối với hy vọng phục hồi kinh tế.

Hình chữ V

Đây được coi là kịch bản tốt nhất vì kiểu suy thoái này bắt đầu bằng sự sụt giảm mạnh, nhưng  sau đó chạm đáy và rồi nhanh chóng có sự phục hồi kinh tế.

Điều đó có nghĩa là cuộc suy thoái sẽ chỉ kéo dài một vài quý trước khi tăng trưởng nhanh chóng trở lại, đưa nền kinh tế trở lại mốc trước khi xảy ra đại dịch COVID-19.

Một ví dụ kinh điển về suy thoái hình chữ V đã xảy ra ở Mỹ vào năm 1953, khi nền kinh tế bùng nổ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai được vực dậy nhờ lãi suất cao. Sau sự suy giảm, tăng trưởng mạnh mẽ đã trở lại chỉ hơn một năm trước đó.

Hình chữ U

Trường hợp này tương tự như suy thoái hình chữ V nhưng kéo dài lâu hơn. Trong kịch bản này, GDP thường thu hẹp trong vài quý liên tiếp và chỉ từ từ khôi phục trở lại mức tăng trưởng có được trước suy thoái.

Hình chữ W

Đây là khi cuộc suy thoái bắt đầu bằng cách trông giống như nó sẽ là một suy thoái hình chữ V, nhưng sau đó lại rớt xuống sau khi những gì hóa ra là một dấu hiệu sai về phục hồi. Nó còn được gọi là suy thoái kép, vì nền kinh tế suy giảm hai lần trước khi phục hồi trở lại tốc độ tăng trưởng trước đó.

Suy thoái của Mỹ đầu những năm 1980 trên thực tế là hai cuộc suy thoái với nền kinh tế bị tăng trưởng âm từ tháng 1/1980 đến tháng 7/1980. Tiếp theo đó là thời kỳ tăng trưởng dương mạnh mẽ trước khi nền kinh tế rơi vào suy thoái một năm sau, và chỉ hồi phục vào cuối năm 1982.

Hình chữ L

Đây là kịch bản xấu nhất. Nó cũng có một tên khác: “Suy thoái lớn”. Đó là khi một nền kinh tế trải qua một cuộc suy thoái nghiêm trọng và trong vài năm không phục hồi được tốc độ tăng trưởng trước đó.

Cái gọi là “thập niên mất mát” của Nhật Bản những năm 1990 là một ví dụ kinh điển về suy thoái hình chữ L.

Đất nước này đã chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế vững chắc từ những năm ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai cho đến cuối những năm 1980. Điều đó dẫn đến những gì mà sau này bị coi là sự định giá quá lớn của tài  sản hoặc “bong bóng”.

Kể từ khi “bong bóng” đó bị nổ vào đầu những năm 1990, Nhật Bản đã tiếp tục có sự tăng trưởng yếu và vẫn chưa trở lại với tốc độ tăng trưởng dương được thấy từ năm 1950 – 1990.

Nguồn: TKNB – 12/05/2020.

Chiến lược và những thứ khó hiểu khác – Phần III


Sáng hôm sau, buổi làm việc bắt đầu lúc khoảng 8h, hơi trễ so với dự định vì sau bữa tối là màn nhâm nhi rượu và xì gà kéo dài đến tận nửa đêm. Ngay sau khi mọi người đã nạp đủ caffeine, Tom và Mitch bắt đầu trình bày kế hoạch C. Các thành viên của ban điều hành bắt đầu gật gù theo từng chi tiết được diễn giải. Đầu tiên họ có một vài tranh luận chung nho nhỏ về tinh thần kế hoạch, sau đó chuyển sang  những câu hỏi về các chi tiết, ví dụ như câu hỏi của Rich, “Các anh có nghĩa việc chuyển ngân sách marketing sang quý II và quý II phản ánh đúng nhất ý định tăng tốc quảng cáo không?” Steve ngồi dựa lưng vào ghế, mỉm cười. Đến 11h, mọi người đã đạt được sự nhất trí với kế hoạch C. Henry Pritchett phát biểu trên cương vị CFO, “Kế hoạch này tạo nền tảng vững chắc cho việc phát triển ngân sách, đồng thời cung cấp một số lượng rất nhiều chi tiết cho việc lập kế hoạch chiến lược”.

Steve trình bày xong sơ lược các bước cần làm tiếp theo thì cũng đến giờ bắt đầu ván golf đầu tiên, và theo kế hoạch thì sau khi chơi golf mọi người sẽ ra thẳng sân bay và bay về tổng hành dinh trên máy bay riêng của công ty. Tất cả đều đồng ý rằng công việc vài ngày qua diễn ra rất hiệu quả và thời gian còn lại rất có lợi cho việc thắt chặt tình đồng nghiệp và tinh thần đồng đội. Trên đường rời khỏi phòng họp, Mitch, chuyên gia của White Hot, đưa cho Henry một phong bì; bên trong là hóa đơn mới nhất từ White Hot cho dịch vụ tư vấn định kỳ hằng tháng, trị giá 275.000 USD và các chi phí công tác kèm theo.

Thực tế: Đúng, chúng ta cực kỳ chiến lược

Toàn bộ chủ đề chiến lược đã trở nên quá rối rắm. Có vẻ như cái gì cũng phải chiến lược; nếu không thì chẳng còn quan trọng nữa. Ngay cả một bậc thầy về chiến lược, Michael Porter của trường Kinh doanh Harvard; cũng phải thú nhận, “Chiến lược là một từ bị lạm dụng theo quá nhiều cách khác nhau với quá nhiều ý nghĩa đến nỗi nó có thể trở nên vô nghĩa”. Ông hoàn toàn đúng.

Mythbuster Wisdom

Có một bài luận văn học thuật được bắt đầu như thế này, “Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu liệu chiến lược dựa trên sự ghi nhớ sự kiện, tức là một quy trình phủ nhận sự xảy ra của các sự kiện mới mẻ, có thể đạt được thông qua huấn luyện hay không”. Các bạn có hiểu câu nói này không?

Chúng ta bị  bủa vây bởi tỉ tỉ các kiểu chiến lược: kế hoạch chiến lược, suy nghĩ chiến lược, suy luận chiến lược, điều hành chiến lược, thông tin chiến lược, marketing chiến lược, xây dựng thương hiệu chiến lược, định vị chiến lược và cả oanh tạc chiến lược. Hễ cứ có chữ chiến lược đi kèm thì mọi thứ đều được nâng tầm và nâng tầm cả những người có liên quan. Chỉ cần nói, “Ồ tôi đang thực hiện một dự án chiến lược”, bạn sẽ trở thành một người cực kỳ quan trọng có khả năng thực hiện những việc lớn lao. Nhưng chính xác chiến lược là gì? Thật tiếc, hình như không ai biết cả Có vẻ như ai cũng có thể định nghĩa chiến lược theo ý họ, và đó chính là nguồn cơn của tất cả những rối rắm này. Dưới đây là một vài định nghĩa về chiến lược, một số khá mơ hồ, còn lại thì nghe rất ngu ngốc.

+ Chiến lược là cầu nối giữa chính sách và chiến thuật.

+ Chiến lược là phương thức áp dụng chính sách.

+ Chiến lược là nghệ thuật ứng dụng và phân phối nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu chính sách.

+ Chiến lược trả lời câu hỏi: Công ty chúng ta nên làm gì?

+ Chiến lược là một kế hoạch, một “phương pháp”, một phương tiện để đi từ một điểm này đến một điểm kia.

+ Chiến lược là mô hình hành động theo thời gian.

+ Chiến lược là định vị; chiến lược là triển vọng.

+ Chiến lược xuất hiện khi các dự định bị va chạm với thực tế đang thay đổi.

Tuy nhiên, không có câu nào trên này lọt vào top 3 các câu định nghĩa chiến lược kỳ quặc nhất của tôi. Giống như người ta xướng kết quả trong một cuộc thi sắc đẹp, tôi xin phép được trình bày chúng theo thứ tự từ dưới lên trên, cùng với các bình luận của tôi được in nghiêng.

3/ “Chiến lược không tồn tại nếu không đưa đến kết quả mong muốn cuối cùng”. Tôi rất thích câu này vì nó nhắc tôi nhớ về những cuộc tranh luận thâu đêm thời sinh viên bên chén rượu, về ý nghĩa cuộc đời hoặc thông điệp thực sự của bài hát “Stairway to heaven” của Led Zeppelin.

2/ “Chiến lược là một chủ đề rộng lớn và mơ hồ. Chúng ta phải tự tìm hiểu ý nghĩa cũng như định nghĩa của chúng”. A hèm, đúng là rất mơ hồ!

1/ “Chiến lược là những điều vô cùng quan trọng mà ban lãnh đạo thực hiện cho công ty của mình”. À hóa ra công việc của họ là thế!

Nói chung, cuối cùng chả có gì rõ ràng về trò chơi chiến lược này. Thế nhưng việc soạn thảo chiến lược sẽ là một việc quan trọng và có giá trị nếu nó tuân theo các nguyên tắc như – chiến lược không phải là kế hoạch 5 năm hay các câu phát biểu mập mờ mang tính cảm hứng cao nhưng tính thực tế thấp, hoặc là một cái cớ cho các vị thành viên lãnh đạo đóng dấu ấn cá nhân lên công ty. Chiến lược đưa ra định hướng và các điểm cần tập trung hành động cho công ty và tạo nền tảng cho việc lên kế hoạch tài chính và chiến thuật. Cá nhân tôi rất thích các mô tả chiến lược của Michael Porter theo dạng trả lời được hai câu hỏi: Chúng ta đang chuẩn bị tham gia vào thị trường nào? Làm thế nào để cạnh tranh được trong những thị trường như thế?

Ví dụ, cả McDonald’s và Morton’s đều tham gia vào thị trường dịch vụ thức ăn – một dạng thị trường khá rộng mở – nhưng mỗi công ty nói trên đều có những chiến lược dự tranh rất khác nhau – và là nền tảng cho việc xây dựng các mô hình kinh doanh của họ.

Việc đơn giản hóa chiến lược giúp cho những câu hỏi căn bản liên quan đến ý  tưởng, cơ hội hoặc các sự kiện có thể tác động đến công ty trở nên đơn giản hơn rất nhiều – ví dụ như: Liệu nó có giúp chúng ta đạt được mục tiêu đề ra, và liệu nó có tương thích định vị công ty hay không? Ở công ty bán lẻ Target, câu hỏi thường trực là “Quyết định này sẽ giúp củng cố thương hiệu theo cách nào?”

Cho dù truyền thông có tâng bốc chiến lược đến đâu thì thực sự có rất ít các công ty hoặc các cấp điều hành thực sự mang tính chiến lược. Vào những lúc cấp bách, khi áp lực đạt doanh số hoặc đạt chỉ tiêu quý dâng cao, các đề xuất chiến lược thi nhau văng ra ngoài và bất kỳ điều gì không trực tiếp giúp đạt được những mục tiêu tầm ngắm này đều bị gạt sang một bên. Trong năm 2008, hàng tỷ USD chi cho việc lên kế hoạch chiến lược bị ném qua cửa sổ.

Công ty nào cũng bị mắc chứng “mèo khen mèo dài đuôi” khi nói đến chiến lược của mình. Trong báo cáo thường niên năm 2006, GM đã rất mạnh miệng, “Tại GM, chúng tôi đã đạt được những tiến triển vượt bậc trong năm qua. Điều này minh chứng cho việc chúng tôi đang có được những chiến lược đúng, và chúng đang phát huy tác dụng”. Vào thời điểm đó, chiến lược phát triển lợi nhuận của GM dựa trên việc bán được càng nhiều xe SUV và xe tải càng tốt. Khi giá dầu tăng vọt lên mức 4 USD/gallon vào giữa năm 2008 và doanh số năm giảm từ 16 tỷ USD xuống dưới 9 tỷ USD, người ta trở nên nghi ngờ việc chú trọng doanh số ở các loại xe ngốn xăng. Đến tháng 12 năm 2008 khi doanh số tụt hơn 20% trorng vòng 12 tháng, CEO Richard Wagoner đã không còn lòng dạ nào để đi phi cơ riêng mà một mình một Chevy Malibu lái đến Washington DC để van nài một khoản cứu trợ từ chính phủ. Đến tháng 3 năm 2009, ông bị sa thải và GM đứng trên bờ vực phá sản; minh chứng cho việc có được chiến lược “đúng đắn”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: David A.J. Axson – Giải độc những ngộ nhận trong quản trị – NXB TT 2011.

Tính chính trị của hình thức tường thuật – Phần II


Một công trình nghiên cứu về những phóng sự có đề cập Thông điệp về tình hình liên bang cho thấy những quy ước này, cũng như các quy ước khác, được gắn vào cấu trúc các giả định sống còn của câu chuyện báo chí, tức là các giả định về bản chất của chính trị và vai trò báo chí. Rõ ràng, các nhà báo Mỹ không coi mình là những đảng viên theo các lý tưởng chính trị, mà là các chuyên gia phân tích chính trị. Tuy các nhà báo vẫn giữ lại nguyên tắc phản ánh khách quan, nhưng các quy ước đó cho thấy rõ ràng các nhà báo tự coi vai trò của mình là phải biên dịch hoặc diễn giải một cách cơ bản các hành vi chính trị để công chúng kém hiểu biết có thể nắm bắt được ý nghĩa của nó. Hơn nữa, những quy ước đã thể chế hóa quan điểm của nhà báo cho rằng ý nghĩa không nằm trong đặc điểm của các tổ chức chính trị bền vững, mà nằm trong mục đích chính trị của các nhân vật bên trong các tổ chức đó. Nhà báo tự cho rằng trách nhiệm của mình là khám phá những ý định chứa đựng trong các kế hoạch có ý thức của nhân vật chính trị để tìm ra ý nghĩa chính trị.

Hiến pháp Hoa Kỳ quy định tổng thống “thỉnh thoảng” phải báo cáo Quốc hội về “tình hình liên bang”. Và tất cả các tổng thống Mỹ đều đã chuyển các thông điệp về vấn đề này cho Quốc hội trước mỗi kỳ họp mùa đông, theo truyền thống do Washington khởi lập. Mặc dù bản thân sự kiện này – tức là cách giới thiệu thông điệp hàng năm đó – đã vài lần thay đổi trong hai thế kỷ qua, nhưng những thay đổi này không liên quan gì đến sự biến đổi cách tường thuật những thông điệp đó. Phương cách tường thuật thay đổi theo các quy tắc báo chí về bản chất của chính trị và phụ thuộc vào câu hỏi một câu chuyện báo chí nên là cái gì.

Tường thuật về Thông điệp về tình hình liên bang đã từng được thực hiện dưới ba hình thức: bản ghi chép tốc ký các công việc của Quốc hội từ năm 1790 đến khoảng năm 1850; một bản ghi chép theo thời gian kèm bình luận về các thông lệ của Quốc hội từ năm 1850 đến năm 1900; và tường thuật về thông điệp từ năm 1900 đến nay, đồng thời ngày càng nhấn mạnh đến nội dung và ý nghĩa chính trị dài hạn của nó. Cho dù báo chí thường được ca tụng nhờ tính khách quan, nhưng tường thuật về thông điệp của tổng thống trong mỗi giai đoạn kế tiếp lại có nhiều giải thích hơn, ngày càng xa rời những gì mà nhà quan sát bình thường có thể khẳng định chắc chắn và xa rời những gì bản thân Quốc hội đã nghe thấy. Điều đó không có nghĩa làm cho tường thuật kém trung thực, mà là mở rộng phạm vi các hướng đi của báo chí – chứng tỏ rằng, qua thời gian, chức năng báo chí đã phục vụ nhiều mục đích khác nhau.

Trong giai đoạn đầu, các báo thường tường thuật thông điệp bằng cách in trọn vẹn nó như là một phần trong khuôn khổ các diễn biến của Quốc hội. Ví dụ, bài tường thuật thông điệp của Tổng thống Washington năm 1791 trên tờ tuần báo Boston Gazette xuất hiện trên trang 2 với nhan đề “Quận Columbia, Quốc hội Hoa Kỳ (Kỳ họp thứ I, Khóa II). Hạ viện. Thứ Hai, ngày 24 tháng Mười”. Bài báo ghi chú rằng một ủy ban liên hiệp đã phải hạ mình đợi tổng thống, vì tổng thống đồng ý hẹn gặp Quốc hội vào ngày hôm sau tại Thượng viện. Tiếp đó, trong cùng cột báo, dưới tiêu đề “Thứ Ba, ngày 25 tháng Mười”, có một câu ghi là tổng thống đã đến Hội trường Thượng viện, tiếp câu đó là các diễn biến của Quốc hội trong ngày thứ Tư, 26 tháng Mười. Người đọc phải xem tiếp trang cuối của tờ báo mới thấy nội dung đầy đủ của thông điệp. Mô típ này được tờ Gazette áp dụng cho tất cả các thông điệp của Washington. Tuy nhiều lần nội dung thông điệp cũng được đưa ngay dưới đầu đề, nhưng không bao giờ có một lời bình luận.

Thay đổi đáng kể nhất đối với thông điệp là một sự kiện thực tế do Thomas Jefferson khởi xướng. Ông cảm thấy tổng thống đọc trực tiếp trước Quốc hội là một điệu bộ quá uy nghi, nên đã gửi Thông điệp về tình hình liên bang bằng văn bản. Mô hình này được áp dụng cho đến khi Woodrow Winson quay trở lại tiền lệ của những người theo Chủ nghĩa liên bang (Washington) và xuất hiện trực tiếp trước Quốc hội. Dù có sự thay đổi của Jefferson, song từ trước đến nay thông điệp vẫn luôn được in ấn đầy đủ, dù có lời bình hoặc ghi chép diễn biến hằng ngày của Quốc hội hay không. Tất cả các lời bình về thông điệp đều được đưa hết vào cột xã luận. Từ những năm đầu thập kỷ 1800, cột báo này đã thảo luận nhiều về bản thông điệp, và tuyên bố của tổng thống được ca tụng hoặc phê phán từ những góc nhìn đảng phái mở rộng.

Đến giữa thế kỷ đó, đặc biệt sau Nội chiến, tường thuật báo chí về thông điệp của tổng thống được đặt trong tổng thể tương đối đầy đủ các thảo luận của Quốc hội. Khuôn khổ cho thông điệp vẫn tiếp tục được quy định trong nghi thức của Quốc hội vê việc cử ra một ủy ban để chờ đợi tổng thống, tuyên bố họ sẵn sàng nghe một thư ký đọc văn bản thông điệp của tổng thống. Nhưng có thêm hai yếu tố đã trở thành chuẩn mực. Thứ nhất, phần nội dung chính dành tâm huyết vào việc giới thiệu “hình ảnh” mở màn Quốc hội, thường được đặt làm mở đầu cho câu chuyện báo chí. Ngay từ năm 1852, chúng ta đã đọc thấy trên tờ New York Times: “Đó là một ngày đẹp đẽ tươi sáng, hành lang Hạ viện chật đầy các quý ông, quý bà; tất cả như một hý trường”. Năm 1870, tờ báo này bắt đầu đổi mốt: “Trong nắng đẹp một ngày thu muộn, không gian thơm ngát, hành lang đầy người, ánh cầu vồng sáng sáng tươi của những kiểu trang điểm mỹ miều hớn hở, chào đón Quốc hội trở lại nghị trường”. Báo chí còn ghi chú thêm, đôi lúc rất chi tiết, sự chào mừng nồng nhiệt tới lần lượt các đảng phái khi đại biểu nhóm họp. Tường thuật còn mô tả chi tiết các bó hoa vun đầy trên bàn các thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ, quà mừng từ những người ủng hộ trung thành.

Thay đổi thứ hai bắt đầu trở thành chuẩn mực từ năm 1870, vài thập kỷ trước khi nhà báo lãnh trách nhiệm thực sự tường thuật những gì thông điệp đã nêu, và thay đổi này đáng lưu ý hơn so với thay đổi thứ nhất về mặt dài hạn. Đó chính là việc chuyển sự chú ý sang các phản ứng của Quốc hội đối với thông điệp của tổng thống. Đầu tiên, đó chỉ là những phản ứng chung chung ghi chép được trên nghị trường Thượng viện và Hạ viện. Song vào năm 1870, tờ Time cho hay rằng hai hoặc ba thượng nghị sĩ Dân chủ “dường như sắp ngủ gật” khi phần quan hệ đối ngoại trong thông điệp được đọc. Trong thập kỷ 1870, nhà báo thường tự giam mình trong việc quan sát các hành vi của nghị sĩ trên nghị trường, tuy đôi lúc cũng cố gắng đặc trưng hóa phản ứng của nghị sĩ. Ví như năm 1874, tờ Time có viết: “Có thể nói là, về mặt tổng thể, có ít lỗi trong thông điệp của tổng thống, tuy nhiên cũng có một vài quan điểm bị phản đối đặc biệt mạnh mẽ”. Đôi lúc, một số nghị sĩ nổi trội cũng được chỉ tên điểm mặt. Một phóng viên tờ Time năm 1870 đã quan sát thấy rằng, khi thông điệp đề cập cải cách thuế, nhiều người nhìn về phía Carl Schurz “và do am hiểu nhiều về thực trạng này, nên một nụ cười nhạt đã thoáng qua khuôn mặt ông”.. Vào năm 1878, thông điệp có đề cập việc điều tra những người tước quyền bầu cử của cử tri miền Nam “đã khuyến khích những người Cộng hòa, trong khi những người Dân chủ thể hiện những dấu hiệu phản đối không thể chối cãi”; tờ Time tường thuật rằng khi đọc đến đoạn này thì “sự cáu kỉnh… lan rộng trên những khuôn mặt phía Dân chủ”.

Cuối thập niên 1870 và trong thập niên 1880, các nhà báo phỏng vấn từng nghị sĩ một. Ví dụ, năm 1878, các nhà báo của tờ Chicago Tribune và tờ Washington Post đã phỏng vấn ngay lúc đọc thông điệp; đồng thời các tờ báo này cùng những tờ báo khác đã đăng những bài khác nhau về các phản ứng khác nhau của nghị sĩ đối với thông điệp. Câu chuyện của tờ Washington Post năm 1886 bắt đầu bằng: “Không nghe một lời. Phải đợi đến khi tôi thấy bản in”. Đó là câu trả lời thường thấy của các nghị sĩ khi được hỏi về thông điệp của tổng thống, dù nó đã được đọc ở cả hai viện”. Đó là đặc trưng thông thường. Ít có nghị sĩ nào trong các bản ghi chép đó coi phỏng vấn như một cơ hội xuất hiện trước công chúng; dường như họ còn nổi quạu vì bị hỏi.

Các câu chuyện về phản ứng của nghị sĩ đối với thông điệp ngày càng trở nên chi tiết trong thập kỷ 1880 và 1890. Đôi lúc có cả các câu chuyện về phản ứng của những người khác, đặc biệt là mục xã luận trên báo chí nước ngoài. Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, những chú ý tập trung vào sự tráng lệ của ngày khai phiên Quốc hội, vốn thống trị trong các thập kỷ 1860 và 1870 vẫn khoác lên mình báo chí. Tờ Washington Post quan sát một cách khô khan trên số báo ngày 3 tháng Mười hai 1878, ghi rằng công chúng tò mò về buổi khai phiên Quốc hội, “như thể đó là một cái mới”. Tờ Chicago Tribune trêu đùa trên tít lớn ngày 4 tháng mười hai 1894: “Các nhà thông thái chăm chỉ/ Các nhà làm luật lại bắt đầu làm việc ở Washington”. Rõ ràng là chán nản, và tờ Evening Star của Washington đã loan báo trên câu chuyện của nó vào năm 1890: “Lại bắt đầu rồi đấy!”

Như vậy, cùng với việc bám sát nhịp đập của Quốc hội, và coi ý kiến riêng của các nghị sĩ ngày càng nghiêm túc, mối bận tâm của báo chí về các thông lệ và diễn cảnh giảm xuống, bắt đầu chuyển sang tập trung đả kích các công việc Quốc hội. Thay đổi xuất hiện trong mối quan hệ giữa nhà báo với quan chức đã trở thành một phần quan điểm báo chí mà các nhà báo hướng đến. Họ bắt đầu thiên về truyền thống đưa tin những sự kiện thông thường và diễn biến hàng ngày. Không còn các nhà báo nhẹ nhàng chú tâm đến thủ tục Quốc hội xung quanh việc đọc Thông điệp về tình hình liên bang; họ ngày càng trở nên bứt rứt vì viết đi viết lại một cái gì diễn ra hết năm này qua năm khác. Sự bứt rứt thể hiện bằng những lời lẽ hài hước hoặc những lời tự bình luận về việc tại sao mọi thứ vẫn không thay đổi mà mọi người vẫn nhất mực quan tâm. Quan điểm cho rằng nhà báo nên tường thuật những sự kiện gốc chứ không tường thuật những thể chế, đang trở nên ngày càng mạnh mẽ. Các nhà báo trong những thập niên 1880 và 1890 thấy mình bị giằng xé giữa hai mô hình hoạt động, hay có thể nói là hai kiểu nhận thức.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Shudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Tác động của COVID-19 đối với các nền kinh tế ASEAN+3 – Phần I


Giới thiệu

Gần đây, dịch viêm đường hô hấp do chủng mới của virus corona (COVID-19) bùng phát ở Vũ Hán, Trung Quốc và sau đó lây lan ra bên ngoài nước này đã làm gia tăng rủi ro đối với tăng trưởng của Trung Quốc và khu vực. Ngày 31/12/2019, các nhà chức trách Trung Quốc thông báo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về một vài trường hợp mắc bệnh viêm phổi ở Vũ Hán, và đã thực hiện những hành động chính sách chưa từng có để khống chế virus này, nhưng dịch bệnh bắt đầu lây lan sang các nền kinh tế khác trong khu vực. Ngày 30/01/2020, WHO tuyên bố dịch COVID-19 là tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu. Giờ đây, cuộc tranh luận xoay quanh mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh này và tác động có khả năng của nó đối với nền kinh tế trong nước và các nước khác.

Dịch bệnh tác động đến hoạt động kinh tế trên nhiều mặt trận khác nhau:

+ Ở Trung Quốc, dịch bệnh này tạo ra sức ép lớn đối với hệ thống y tế, khiến tiền lương sụt giảm và năng suất thấp hơn do người lao động nghỉ ốm và nghỉ làm. Nỗi lo sợ bị lây bệnh và nỗ lực hạn chế tình trạng lây lan có thể dẫn đến những gián đoạn về giao thông vận tải, chuỗi cung ứng trong ngành chế tạo, việc cung cấp hầu hết các dịch vụ, đóng cửa các trường học và doanh nghiệp. Do đó, việc chống lại dịch bệnh có thể có tác động đáng kể đến kinh tế.

+ Bên ngoài Trung Quốc, khả năng lây lan đã gia tăng đáng kể do sự hội nhập và kết nối trong khu vực tăng cao. Ngoài việc lây lan bệnh do lưu lượng di chuyển quốc tế khổng lồ, ngành công nghiệp hàng không, lĩnh vực du lịch và dịch vụ khách hàng, cũng như thương mại, trong đó có các chuỗi cung ứng toàn cầu là những ngành tiêu biểu cảm nhận được tác động của nó.

+ Hành vi tránh lây nhiễm của người dân và các biện pháp nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan có thể gây ra thêm sức ép lớn đối với các nền kinh tế khu vực. Ngoài ra, cảm giác bất trắc và nỗi sợ hãi tràn ngập khắp nơi sẽ làm giảm niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng, và gia tăng tâm lý sợ rủi ro trong các thị trường tài chính và hàng hóa tiêu dùng.

Dịch bệnh bùng phát ở Trung Quốc – nền kinh tế lớn nhất khu vực ASEAN+3 (gồm các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và 3 nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới – khiến tăng trưởng giảm tốc rõ rệt, có khả năng sẽ ảnh hưởng lan rộng khắp khu vực và toàn thế giới. Những ước tính về tác động của dịch bệnh này sẽ phụ thuộc vào thời gian kéo dài, tính độc hại và khả năng lây nhiễm. Các dịch bệnh do virus trước đây, đáng chú ý là Hội chứng suy hô hấp cấp tính (SARS) vào năm 2003, có thể đưa ra gợi ý về những thiệt hại kinh tế tiềm tàng đối với Trung Quốc, mà sau đó có thể được sử dụng để ước tính tác động đối với các nền kinh tế khác trong khu vực:

+ Tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong năm 2020 sẽ giảm nhiều nhất là 0,5%, xét tới các biện pháp hỗ trợ của chính phủ.

+ Sự giảm tốc của Trung Quốc sẽ khiến tăng trưởng của các nước ASEAN+3 giảm 0,2%. Các kênh tác động chính đối với khu vực này sẽ là thông qua (1) lưu lượng đi lại và du lịch ra nước ngoài của Trung Quốc giảm mạnh; (2) sự sụt giảm trong hoạt động đi lại và du lịch của khu vực phản ánh nỗi lo sợ lây lan dịch bệnh; (3) sụt giảm hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc qua chuỗi cung ứng khi hoạt động chế tạo bị gián đoạn và nhu cầu trong nước bị ảnh hưởng: và (4) tình trạng lây lan dịch bệnh sang các nền kinh tế khu vực.

Tác động đối với nền kinh tế Trung Quốc

Trong số các dịch bệnh lớn trong 2 thập kỷ qua, dịch SARS có thể đưa ra chỉ dẫn nào đó về tác động tiềm tàng của COVID-19. Dịch SARS bùng phát vào quý IV/2002, nhưng hầu hết các ca nhiễm bệnh được ghi nhận vào quý I và quý II/2003. Hơn 8000 người nhiễm SARS, chủ yếu ở Trung Quốc, ngoài ra còn ở các nơi khác trong khu vực – tương tự như COVID-19 tính đến nay. Tại thời điểm này, số lượng người nhiễm COVID-19 đã vượt xa tổng số người nhiễm SARS, và con số này dự kiến còn tăng cao hơn nữa. Tỷ lệ tử vong trung bình do SARS là gần 10% so với mức chỉ 2% của COVID-19 cho đến nay. Tuy nhiên, những ước tính ban đầu cho thấy SARS có tỷ lệ lây nhiễm thấp hơn nhiều, có khả năng là vì virus này không lây trong thời gian ủ bệnh. Một kịch bản có khả năng xảy ra là COVID-19 sẽ lây lan trong khoảng 4 tháng, tương tự như SARS; có tỷ lệ tử vong thấp hơn SARS; lây lan rộng hơn SARS, các vùng lây nhiễm chính là những trung tâm kinh tế chính của Trung Quốc.

Tác động của dịch bệnh này đối với Trung Quốc dự kiến sẽ lớn nhưng không kéo dài. Tăng trưởng trong quý I/2020 dự kiến sẽ giảm mạnh, ở cả lĩnh vực chế tạo lẫn dịch vụ. Trong ngắn hạn, những hạn chế đối với hoạt động đi lại của người dân gây tổn hại đến hoạt động sản xuất và nhu cầu tiêu dùng. Hầu hết các địa phương tuyên bố kéo dài kỳ nghỉ Tết Âm lịch thêm khoảng 7 ngày, điều này đồng nghĩa rằng các nhà máy và doanh nghiệp sẽ phải trì hoãn hoạt động sản xuất.

AMRO dự báo COVID-19  sẽ khiến GDP trong năm 2020 của Trung Quốc giảm 0,5%. Các kịch bản sau đây giả định rằng:

+ Trong lĩnh vực chế tạo, chuỗi cung ứng toàn cầu tập trung ở các khu vực chịu ảnh hưởng sẽ bị gián đoạn đáng kể. Tuy nhiên, sau đó, các công ty có khả năng sẽ tìm ra cách để bù đắp hầu hết (dù không phải toàn bộ) hoạt động sản xuất mất đi để đáp ứng nhu cầu, do lĩnh vực chế tạo tương đối ít bị hạn chế bởi năng lực sản xuất hơn. Do đó, lĩnh vực chế tạo có khả năng sẽ phục hồi mạnh mẽ.

+ Trong lĩnh vực dịch vụ, các công ty có khả năng hạn chế trong việc bù đắp lại những ngày nghỉ. Nhu cầu đối với một vài loại hình dịch vụ như du lịch sẽ không phục hồi đáng kể, và việc cung cấp dịch vụ không thể tăng mạnh trong giai đoạn ngắn. Do đó, quá trình phục hồi về mức trước khi xảy ra dịch bệnh sẽ chậm hơn.

Tác động ước tính bao gồm: (1) lĩnh vực chế tạo khiến tăng trưởng giảm 0,15%; và (2) lĩnh vực dịch vụ khiến tăng trưởng giảm 0,35%, cao hơn một chút so với dịch SARS. Những ước tính này đã tính đến giả định của AMRO về sự hỗ trợ của chính quyền đối với nền kinh tế.

Tác động đối với Trung Quốc sẽ diễn ra trên nhiều lĩnh vực, đến việc làm và có khả năng cả sự ổn định tài chính. Với hơn 200 triệu người lao động di cư trên toàn quốc trở về quê nhà nghỉ ết Âm lịch, và nhiều thành phố (gồm khoảng 50 triệu dân) bị cách ly, hầu hết các lao động này không thể quay trở về thành phố nơi họ làm việc như họ thường làm sau khi nghỉ Tết – đặc biệt là những người ở khu vực miền Trung, khu vực chịu nhiều tác động nhất. Khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sẽ chịu tác động nhiều nhất, điều có thể khiến nợ xấu của ngân hàng gia tăng. Ngoài ra, vụ bùng phát dịch bệnh này có thể khiến giá cả hàng hóa ở địa phương gia tăng trong tương lai gần.

Tác động đối với khu vực ASEAN+3

Hầu hết các nước trong khu vực ASEAN đã bị lây nhiễm do dịch bệnh lây lan, và tăng trưởng của họ cũng có thể bị ảnh hưởng như đang diễn ra ở Trung Quốc. Kênh tác động chính là thông qua vận chuyển hành khách, du lịch và các ngành công nghiệp phụ trợ, cũng như hoạt động sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm trung gian có liên quan đến sản xuất thành phẩm tiêu dùng trong các khu vực chịu nhiều ảnh hưởng ở Trung Quốc. Ngoài ra, các biện pháp trong nước nhằm khống chế dịch bệnh có thể làm gián đoạn sản xuất cũng như đầu tư và tác động đến tiêu dùng. Tác động này có quy mô và cường độ lớn đến mức nào có khả năng sẽ phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm của dịch này. Tuy nhiên, nếu trong năm 2020 nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc hơn so với dự kiến, thì những tác động đối với các nền kinh tế khu vực có thể là khốc liệt.

(còn tiếp) 

Nguồn: Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) – 12/02/2020

TLTKĐB – 18/02/2020

COVID-19 sẽ làm thay đổi Việt Nam như thế nào?


Trong bài viết trên trang Asia Times ngày 8/5, chuyên gia nghiên cứu về chính trị Đông Nam Á David Hutt cho rằng, Việt Nam đã viết nên một câu chuyện thành công trong việc đối phó với đại dịch COVID-19 nhờ vào các biện pháp phòng chống dịch hiệu quả và minh bạch một cách bất ngờ. Giới phân tích chính trị giờ đây đang tự hỏi liệu xu hướng này sẽ được tiếp tục hay không sau khi Việt Nam dỡ bỏ tình trạng phong tỏa và hướng tới một sự chuyển đổi lãnh đạo.

Cách thức ứng phó với đại dịch COVID-19 lần này trái ngược hoàn toàn với những gì mà Việt Nam đã thực hiện trong thời gian gần đây, nhất là sau vụ việc Formosa năm 2016.

Theo giáo sư Vuving, các biện pháp cách ly xã hội đã mang lại hiệu quả nhờ khả năng Đảng Cộng sản Việt Nam vận động người dân, trong khi đàn áp tự do ngôn luận thông thường với lý do kiểm duyệt “tin giả” có thể ảnh hưởng xấu tới việc xử lý khủng hoảng của chính quyền. COVID-19 có khả năng đã tăng sức mạnh cho ĐCSVN trước khi diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII vào đầu năm 2021, khi các vị trí lãnh đạo và quyết sách lớn cảu quốc gia sẽ được quyết định.

Giáo sư Carl Thayer tại Đại học New South Wales (Australia) cho rằng những gì diễn ra tại Đại hội Đảng toàn quốc thường được quyết định từ trước và phải phù hợp với truyền thống. Điều đáng chú ý là ĐCSVN vẫn nhạy cảm với thái độ của công chúng: “97% dân số Việt Nam không có tiếng nói trực tiếp về việc ai sẽ là người lãnh đạo tiếp theo của họ, nhưng ở một mức độ nào đó, ý kiến công chúng vẫn ảnh hưởng đến 3% dân số là đảng viên”.

Kể từ Đại hội toàn quốc lần thứ XII vào năm 2016, ĐCSVN đã tiến hành các chiến dịch chống tham nhũng và nâng cao phẩm chất đạo đức với mục đích loại bỏ các quan chức ích kỷ, không giữ cam kết và không có lập trường tư tưởng.

Mặt khác, người đứng đầu nhà nước đã tiếp tục chính sách cải cách nền kinh tế của người tiền nhiệm, hạn chế quyền lực của các ngành công nghiệp thuộc sở hữu nhà nước và thắt chặt hơn quan hệ với Hoa Kỳ.

Câu hỏi quan trọng là liệu Đảng có trở lại cơ cấu truyền thống “tứ trụ” vào năm tới hay không. Phần lớn những lời đồn đoán về những gì có thể xảy ra vào tháng 1/2021 tới phụ thuộc vào việc mọi thứ có quay trở lại hệ thống “tứ trụ” hay không.

Theo các nhà phân tích, bất kỳ sự thay đổi nào theo hướng cải cách kỹ trị sẽ không diễn ra trong một sớm một chiều. Ngoài 4 vị trí lãnh đạo hàng đầu, vấn đề quan trọng nhất quyết định sự thay đổi trong dài hạn sẽ là liệu nhân sự mới của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị có phản ánh bất kỳ khuynh hướng cải cách nào hay không.

Theo giáo sư Thayer, hy vọng tốt nhất để đưa các nhà kỹ trị có tinh thần cải cách vào các vị trí quyền lực của đất nước sẽ thuộc về thủ tướng tiếp theo, người có thể thành lập một chính phủ có tư tưởng cải cách.

Giáo sư Vuving cho rằng, bản thân cuộc khủng hoảng COVID-19 chỉ có thể làm gia tăng chút ít động lực để ĐCSVN thực hiện cải cách theo hướng quản trị minh bạch hơn, nhưng phản ứng dây chuyền mà dịch bệnh gây ra mới gây thêm nhiều áp lực cải cách quản trị ở Việt Nam.

Điều mà Giáo sư Vuving muốn nói tới chính là tác động của đại dịch đối với nền kinh tế Việt Nam, dự kiến sẽ chỉ đạt mức tăng trưởng thấp nhất trong vài thập kỷ qua, cũng như đối với vị trí chiến lược của Việt Nam trong bối cảnh gia tăng căng thẳng đại chính trị giữa Mỹ và Trung Quốc trong cuộc khủng hoảng COVID-19.

Tính hợp pháp của ĐCSVN phụ thuộc vào việc duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh, đã đạt khoảng 7% trong thập kỷ qua, nhưng Ngân hàng Thế giới (WB) dự đoán tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ giảm ít nhất xuống dưới 3% trong năm 2020, mặc dù sẽ có khả năng phục hồi nhanh hơn hầu hết các nền kinh tế Đông Nam Á khác.

Hiện Mỹ và Nhật Bản và một số quốc gia châu Âu đã lên tiếng mạnh mẽ hơn về việc “chia tách” các chuỗi cung ứng của họ khỏi Trung Quốc. Các nhà phân tích tin rằng Việt Nam có thể được hưởng lợi chính, khi những nước này chuyển các hoạt động sản xuất ra khỏi Trung Quốc, một điều đã diễn ra trong giai đoạn đầu của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

Việt Nam đã tiến hành tự do hóa nền kinh tế từ năm 1986 với chính sách “Đổi mới” đánh dấu bước chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường tự do. Tuy nhiên, chắc chắn rằng, tự do hóa kinh tế lớn hơn sẽ đòi hỏi tự do hóa chính trị nhiều hơn. Ví dụ như một hiệp định thương mại tự do vừa ký với Liên minh châu Âu (EU) năm 2019, yêu cầu Hà Nội lần đầu tiên cho phép các công đoàn độc lập hoạt động. Giáo sư Vuving nói: “Tất cả điều này sẽ đòi hỏi một phong cách quản trị mới ở Việt Nam. Phong cách mới này sẽ không xuất hiện ngay sau một đêm, nhưng xu hướng dài hạn là chính phủ Việt Nam sẽ phải năng động hơn và minh bạch hơn”.

Nguồn: TKNB – 12/05/2020.