Kê khai tài sản: Chống tham nhũng hay kiểm soát quyền lực?


Ngày 23/5, Bộ Chính trị đã ban hành quy định kiểm tra, giám sát kê khai tài sản của khoảng 1000 cán bộ và cơ quan giám sát chính là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Chuyện kê khai tài sản công chức đã được thực hiện nhiều năm nay những đa số ý kiến cho rằng chưa hiệu quả.

Không chỉ là chống tham nhũng

Ngay sau khi quy định kiểm tra, giám sát kê khai tài sản khoảng 1000 cán bộ được Bộ Chính trị đưa ra, một số nhà quan sát nhận thấy chiến dịch năm nay khác với các năm trước ở chỗ không chỉ chú trọng đến chống tham nhũng mà còn là kiểm soát quyền lực.

Nhà báo Phạm Chí dũng ở TPHCM cho rằng những chiến dịch kiểm tra tài sản trước đây được nói là nhằm chống tham nhũng, nhưng chỉ mang tính hình thức vì số vụ bị phanh phui thiếu trung thực rất nhỏ nhoi. Ông phân tích yếu tố kiểm soát quyền lực trong chiến dịch lần này: “Sau Đại hội XII, vấn đề kiểm soát quyền lực được đặt lên gần như hàng đầu và cực kỳ quan trọng. Việc đưa ông Đinh La Thăng khỏi Bộ Chính trị đã cho thấy một bước không nhỏ trong việc kiểm soát quyền lực…”.

Truyền thông trong nước ngày 29/5 trích dẫn lời bà Lê Thị Thủy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương nói rằng việc kê khai tài sản cán bộ từ trước đến nay chưa được làm đầy đủ, bài bản. Bà khẳng định quy định mới của Bộ Chính trị sẽ được làm một cách nghiêm túc, không ngoại lệ.

Quy định mới này đưa ra 3 căn cứ để kiểm tra, đó là khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, khi có phản ánh đơn thư tố cáo và khi có dấu hiệu vi phạm quy định về kê khai tài sản.

Ông Phạm Chí Dũng nhận định thêm một số điểm khác biệt trong chiến dịch kiểm tra kê khai tài sản lần này so với những lần trước: “Lần này, chiến dịch kê khai, kiểm tra tài sản cán bộ được tung ra ngay sau khi xử lý kỷ luật ông Đinh La Thăng. Thứ hai là có con số cụ thể. Theo bà Lê Thị Thủy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, con số đó lên tới khoảng 1000 quan chức. Tôi hiểu con số này bao gồm 200 Ủy viên Trung ương, gồm cả Bộ Chính trị và Ban Bí thư. 800 còn lại là ủy viên thường vụ các tỉnh ủy và thành ủy. Một điểm quan trọng nữa đó là sau khi kiểm tra xong phát hiện sai phạm thì sẽ công khai lên báo, đài. Chuyện này trước đây không có”.

Còn theo quan điểm của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quý Thọ, chuyên gia phân tích chính sách của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, những chiến dịch kê khai tài sản lần trước chưa thành công là do các vấn đề về khủng hoảng kinh tế: “Đặc biệt, nhiệm kỳ trước của Chính phủ phải đối phó với những khó khăn như lạm phát, nợ xấu, doanh nghiệp phá sản nên người ta phải tập trung vào làm chuyện đó nhiều hơn. Gần đây, người ta cho rằng kinh tế dần đi vào quỹ đạo. Tuy nhiên, những sai lầm về kinh tế giai đoạn trước để lại hậu quả nghiêm trọng, trong đó có sự suy thoái của nhiều cán bộ. Cho nên việc này là một giải pháp để kiểm tra sự minh bạch tài sản của cán bộ”.

Đồng tình với quan điểm của ông Phạm Chí Dũng, ông Phạm Quý Thọ cũng cho rằng đây là một giải pháp kiểm soát quyền lực đang được dư luận đề xuất là một trong những biện pháp chủ yếu để tiến tới cải cách thể chế thực chất hơn.

Từ nói đến làm…

Việc kê khai tài sản, thu nhập được chính thức thực hiện từ tháng 12/2013 theo Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ, nhưng nhiều ý kiến nói rằng việc thực hiện chưa hiệu quả, dẫn đến những lo ngại về chiến dịch lần này. Tiến sĩ Phạm Quý Thọ nhận định: “Tất nhiên, khi nhìn vào quá khứ, người ta vẫn nghi ngờ tính khả thi của giải pháp này. Tuy nhiên, công chúng vẫn hy vọng rằng nếu thực hiện tốt sẽ mang lại những chuyển biến về thể chế. Thậm chí, người ta cho rằng việc này phải làm và làm từ trên xuống dưới, phải làm từ cấp cao nhất xuống”.

Ông Phạm Chí Dũng nghĩ rằng không ai có thể nói trước là chiến dịch lần này có khả thi hay không. Theo ông, muốn làm được, trước hết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phải huy động được lực lượng lớn người làm công tác nghiệp vụ kiểm tra kê khai, đặc biệt những người trong hệ thống điều tra pháp luật… Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương của Trung Quốc muốn làm được thành công chiến dịch kiểm tra tài sản cán bộ thì ông Tập Cận Bình phải nắm được cả hai Bộ Quốc phòng và Bộ Công an…

Ông Phạm Chí Dũng nêu một thách thức nữa là việc các quan chức liên kết với nhau chống lại chiến dịch này để bảo vệ tài sản của họ. Ông cho rằng đây sẽ là một trở ngại lớn cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vì số cán bộ rất đông.

Ngày 16/3, ông Phạm Trọng Đạt, Cục trưởng Cục chống tham nhũng nói tại Hội nghị tổng kết dự án đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng rằng thời gian qua, nhiều địa phương không phát hiện ra trường hợp nào kê khai tài sản không trung thực và không xử lý trường hợp nào về tham nhũng.

Còn theo báo cáo Chính phủ, năm 2015, số người phải kê khai tài sản thu nhập là trên 1 triệu người, nhưng chỉ có 5 người bị kết luận là không trung thực.

Trong khi đó, báo cáo phòng chống tham nhũng năm 2016 của Chính phủ cho thấy trong số 1 triệu bản kê khai, các cơ quan chức năng xác minh 414 người, nhưng lại chưa phát hiện trường hợp nào vi phạm.

Việt Nam đã bắt đầu thực thi Luật phòng chống tham nhũg từ năm 2006 và Nghị định 78 của Chính phủ về minh bạch, tài sản thu nhập từ năm 2013. Tuy nhiên, Báo cáo của Tổ chức Minh bạch Quốc tế hồi đầu năm nay cho thấy Việt Nam hiện đứng thứ 2 ở châu Á về tỷ lệ tham nhũng, chỉ sau Ấn Độ và đứng thứ 113/176 trên bảng xếp hạng toàn cầu về tham nhũng.

Nguồn: RFA

TKNB – 02/06/2017

Tiền và tài sản – Phần VIII


Cho tới nay, tầm vóc của Keynes vẫn chưa được đánh giá hết.

Chúng ta hãy xem xét một số hành vi tài chính trong thế giới phức tạp hiện nay để thấy được người ta đã làm những gì với tài chính, tiền tệ, từ đó thấy được phần nào phần chìm của tảng băng sản xuất ra tiền ảo, sản xuất ra tư bản của các trùm tư bản.

Trong Ramses 2001 có những đoạn mà cần trích dẫn dài để thấy được một vài điều cần thiết.

“Ngân hàng hawala: được lập dựa trên sự phối hợp giữa một số nhóm dân tộc. Một người sử dụng một khoản tiền có nguồn gốc không rõ ràng do người khác trao cho để đầu tư. Người gửi tiền bảo đảm là có được một khoản tiền tương đương trong tài khoản một ngân hàng nước ngoài. Tiền thù lao sẽ trả dần thông qua các giao dịch thông thường”. (Thierry de Montbrial, Pierre Jacquet (chủ biên). Thế giới toàn cảnh Rames 2001. Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội 2001, trong 205).

Thế là đã rõ, nếu một cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức nào đó chịu sự chi phối của chủ thể điều hành nền kinh tế vĩ mô tuyên bố rằng mình có một khoản tiền nào đó gửi ở chi nhánh nước ngoài của một ngân hàng nào đó mà được những cá nhân, doanh nghiệp hay các tổ chức cịu sự chi phối của chủ thể đều chấp nhận, thì khoản tiền đó, dù là không có, là ảo, cũng trở thành tiền thật. Tiền thu về được hợp pháp hoàn toàn, có giá trị như các đồng tiền thật.

“Cho vay bảo đảm: là phương thức mà người ta đi vay một khoản tiền tại ngân hàng trong nước. Khoản vay này được bảo đảm bằng một khoản tiền tương ứng đặt trong tài khoản tại chi nhánh của ngân hàng đó ở nước ngoài. Nếu bị kiểm tra, có thể lập luận rằng khoản tiền đó có nguồn gốc rõ ràng vì là khoản ngân hàng cho vay. Còn khoản tiền bảo đảm, nếu không ai nói tới, thì khó có thể tìm thấy được”. (Thierry de Montbrial, Pierre Jacquet (chủ biên). Thế giới toàn cảnh Rames 2001. Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội 2001, trong 205).

Thật là rõ ràng, khoản tiền bảo đảm này hoàn toàn có thể là khoản tiền ảo. Và một khi tổ chức của các trùm tư bản đứng ra bảo đảm thì “không ai nói tới”, chẳng chính phủ nào nói tới các khoản đó nếu các khoản đó nằm ở những ngân hàng trong nước mà ở vị thế kín đáo hay tốt nhất là nằm ở các trung tâm tài chính hải ngoại.

Các tác giả cuốn sách đó nói khá nhiều về các hoạt động tội phạm, đặc biệt về rửa tiền.

“Rửa tiền đã trở thành một nghề thực thụ. Do tính chất đa dạng và phức tạp của các cơ chế rửa tiền, chúng ta chưa thể phân tích một cách toàn bộ, nhưng có thể thấy rằng việc rửa tiền luôn lợi dụng những lỗ hổng của luật pháp. Để tránh bị kiểm soát, chúng sử dụng những trung tâm tài chính hải ngoại, hoặc trong nước nhằm tìm ra một nơi kín đáo lý tưởng nhất.

Những trung tâm này có ba đặc trưng: bí mật ngân hàng, khi được bảo đảm, hoàn toàn không cho phép cơ quan luật pháp biết tên của chủ tài khoản; ưu đãi thuế, cho phép giảm thiểu các khoản chiết khấu trong vốn và lãi; và tư vấn pháp lý, đi kèm với một hệ thống luật thương mại và ngân hàng thuận lợi, giúp dựng lên hình thức ngụy trang không phép phát hiện ra người thụ hưởng lợi ích kinh tế thực thụ”. (Thierry de Montbrial, Pierre Jacquet (chủ biên). Thế giới toàn cảnh Rames 2001. Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội 2001, trong 206).

Như vậy là trong thế giới hiện nay, có những nơi mà việc sản xuất tiền ảo được pháp luật cho phép, và tiến trình biến tiền ảo thành tiền thật quả là phức tạp.

“Diễn đàn ổn định tài chính do các nước công nghiệp yêu cầu đã đưa ra một danh sách tổng cộng là 42 trung tâm tài chính, với tài sản lên tới 5000 tỷ USD, bằng 3% GDP thế giới.

Những trung tâm này che giấu con đường trung chuyển của những đồng tiền này, trong đó có nguồn gốc khoản tiền, một điều kiện mà luật pháp của tất cả các nước trên thế giới đều đòi hỏi khi kết tội rửa tiền. Một công tố viên có thể đặt dấu hỏi về một tài sản được gây dựng quá nhanh và nghi ngờ chủ nhân của nó. Nhưng muốn truy tố hay kết án đối tượng đó, cần phải chứng minh được đồng tiền đó có nguồn gốc phạm pháp. Nếu không làm được điều này, việc truy tố sẽ thất bại. Ngoài trở ngại là bí mật ngân hàng, phải nói tới các biện pháp ngụy trang pháp lý không kém phần hiệu quả. Có hàng loạt các “công ty bình phong”, công ty nọ lồng ghép vào công ty kia như những “con búp bê Matrioska”. Mỗi công ty hoạt động như một chiếc cầu chì, sẵn sàng cháy để bảo vệ công ty cao hơn, chính vì thế mức độ bảo vệ tốt không kém gì bí mật ngân hàng, khi hai phương thức này không thể kết hợp với nhau. Một bản nghiên cứu kỹ lưỡng các hành động tội phạm quốc tế chỉ rõ phương pháp này được áp dụng một cách có hệ thống. Chỉ có cách này mới lý giải được tại sao một quốc gia chỉ có 35000 dân như đảo Cayman lại có 30000 công ty đăng ký”. (Thierry de Montbrial, Pierre Jacquet (chủ biên). Thế giới toàn cảnh Rames 2001. Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội 2001, trong 207)

Không có chuyện truy tố những doanh nghiệp hay cá nhân nào chịu ảnh hưởng của tổ chức của các trùm tư bản hết, vì bộ máy nhà nước nằm trong tầm kiểm soát của họ, và nếu chính phủ nào “khó bảo”, gây khó dễ, thì một cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính sẽ nổ ra, chính phủ đó bị đổ ngay. Còn các trung tâm tài chính hải ngoại thì chính phủ ở đấy tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng các hoạt động tài chính tiền tệ. Trong vòng ba năm qua, tại đảo Mauritius trên Ấn Độ Dương, số ngân hàng đã tăng từ 10 lên 2500. Hiện nay ở đảo Cayman đã nói ở trên có số dân 35000 người nhưng đã có hơn 2200 quỹ đầu tư, 500 công ty bảo hiểm, 60000 doanh nghiệp và hơn 600 ngân hàng và công ty đầu tư. Số lượng các doanh nghiệp gần gấp đôi số dân. Số lượng các doanh nghiệp này còn tăng hơn nữa trong tương lai. Chỉ cần 1000 USD là một kẻ dốt nát mù chữ có thể mua lại được một công ty ở các trung tâm tài chính hải ngoại ở vùng biển Caribean, mà các công ty này có khi chỉ có vốn pháp định 200 USD, nhưng khi cần thiết chúng có thể chi trả những khoản tiền lên đến hàng chục triệu USD.

Việc sản xuất tiền ảo là điều siêu bí mật đối với mỗi quốc gia, mà trên các phương tiện thông tin đại chúng của thế giới tư bản, người ta lại cho rằng đó là những công việc của giới tội phạm và hành vi đó là rửa tiền. “Thật đáng tức cười nếu tin rằng chủ nghĩa tư bản mạnh hơn lại không đi cướp lại tất cả những gì mà chủ nghĩa tư bản yếu hơn đã chiếm đoạt được” (V.I. Lenin Toàn tập, Tập 42, NXB Tiến bộ, Moskva 1979, p73). Thật là tức cười nếu có cách làm ra tiền mới mà các trùm tư bản lại bỏ qua, không chiếm lấy làm của mình các thành quả đó. Tiền ảo là tiền không có thật mà lại biến được thành tư bản thì không có lý do gì mà các trùm tư bản lại không làm bằng được việc đó.

Ngân hàng thuộc sự chi phối của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của một nước ở các trung tâm tài chính hải ngoại xử lý các đồng nội tệ và ngoại tệ như thế nào? Một ngân hàng cấp cho một doanh nghiệp một lượng ngoại tệ ảo, chẳng hạn USD, để đầu tư vào một nước đang phát triển, lượng USD ảo này sẽ được cung cấp để mua bán các sản phẩm phục vụ cho đầu tư của các doanh nghiệp thuộc sự chi phối của chủ thể và chuyển sang dự án đầu tư đó, khi dự án hoạt động xuất hàng sang Mỹ, hay thị trường nào đó mà thu về USD thật, thì đồng USD thật đó được trả về cho ngân hàng cho vay, cả vốn lẫn lãi. Như vậy qua chu trình đầu tư, một lượng tiền ảo, thậm chí là tiền của nước ngoài, đã trở thành tiền thật.

Đặc điểm quan trọng nhất của kinh tế thị trường hiện đại là sản xuất các tạo phẩm phi vật thể và trao đổi được chúng. Các tạo phẩm phi vật thể kết hợp với các loại tạo phẩm vật thể đem lại các loại tạo phẩm ở các tầng mức khác nhau như các loại tạo phẩm vĩ mô có tầm tác động trong cả nước như các công trình hạ tầng cấp điện, hệ thống truyền tải điện, các đường sá giao thông, đường cao tốc, hệ thống cấp nước sạch, hệ thống thoát nước, đường trục viễn thông, các hệ thống chỉ huy và điều khiển trong xã hội như điều khiển giao thông, điều độ điện, các phương tiện phòng thủ quốc phòng an ninh, giáo dục phổ thông không mất tiền, chăm sóc sức khỏe nhân dân, các đạo luật trong nước, các loại thị trường trong nước và các thiết chế để các thị trường trong nước hoạt động thông suốt… và các loại tạo phẩm siêu vĩ mô là các loại tạo phẩm có tầm quốc tế như các hệ thống vận tải quốc tế, các công ước, các hiệp định, các hệ thống kiểm soát không lưu và các loại thị trường có tầm vóc quốc tế, các tập đoàn đa quốc gia… Do các tạo phẩm phi vật thể tham gia rộng rãi vào các quá trình trao đổi nên không tạo phẩm vật thể nào còn đủ tư cách đóng vai trò hàng hóa tiền nữa. Vàng rực rỡ và chói lọi đã mất vai trò là hàng hóa tiền và tiền hiện nguyên hình là một loại tạo phẩm phi vật thể xã hội đặc biệt mà người ta cần phải có nhận thức mới. Cùng với sự sụp đổ của hiệp ước Bretton Woods, vàng đã bị loại khỏi vai trò hàng hóa tiền, và cần phải có những nhận thức mới về bản chất của tiền tệ hiện đại.

(còn tiếp) 

TH : T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo : Nguyễn Bình Giang – Tiền và kiếm tiền thời hội nhập – NXB GTVT 2007.

Một tương lai không chắc chắn – Phần I


Cuộc di chuyển lớn nhất của các dân tộc vẫn còn ở phía trước chúng ta; cuộc di chuyển vào tương lai.

Thế giới – đây là của chúng ta, trong diện mạo không chỉ tự nhiên mà còn trong diện mạo văn hóa và kinh tế – do chính chúng ta tạo dựng. Chúng ta càng biết nhiều và hiểu nhiều thì chúng ta càng có khả năng tạo dựng được nhiều hơn. Hầu như ai cũng nghĩ đến tương lai, nhiều người nghĩ tới nó với tâm trạng bồn chồn và lo ngại. Mọi người đều lo sợ những điều mà họ không hiểu.

Chúng ta có hai cách lựa chọn: hoặc là một tương lai của sự đồng thuận, hoặc là một tương lai thiếu sự hiểu biết lẫn nhau. Chọn lựa thứ hai là cực kỳ tốn kém cho sự phát triển. Chỉ cần hiểu rằng, không phải có bao nhiêu sự không hiểu nhau nảy sinh từ “sự va chạm của những nền văn minh” thì cũng có bấy nhiêu sự va chạm của sự dốt nát. Còn thời gian vẫn trôi đi. Ngày mai sẽ là hôm nay, còn hôm nay sẽ là hôm qua.

Khi nghe một số người ở Iran nói về nước Mỹ, và ngược lại, những gì người Mỹ nghĩ về Iran, thì một mặt – khó có thể là người lạc quan, nhưng mặt khác – lại thấy rằng, có thể gặt hái được nhiều như thế nào khi có cuộc đối thoại có nội dung thiết thực một cách vô tư. Vấn đề khó khăn là ở chỗ đó, là để hai bên cùng có mong muốn. Khi bỏ qua những trường hợp hoàn toàn cực đoan, như Israel và Palestine, ở đó sẽ không có bất cứ giải pháp hữu hiệu nào giải quyết xung đột lại thiếu áp lực cứng rắn và tập trung từ bên ngoài, thì những cảnh báo lẫn nhau giữa Mỹ và Venezuela hoặc giữa Anh và Zimbabwe gây sửng sốt và lo ngại cho giới quan sát khách quan từ bên ngoài. Mức độ (không) hiểu biết lẫn nhau mang tính láng giềng giữa Ba Lan và Belarus hoặc giữa Nga và Gruzia là rất cao. Điều tốt đẹp không nhiều, khi nghe thấy những gì ở Washington và New York nói về nước Nga và ở Moskva hay Petersburg nói về nước Mỹ. Có phần nào giống như thực trạng của Nhật Bản và thế giới phương Tây trước những cải cách của Minh Trị. Chỉ có điều hiện nay trong mọi người – nếu muốn, đều có thể nghe thấy trong suốt 24 tiếng đồng hồ cả ngày và đêm với tốc độ ánh sáng.

Hiện nay, việc chữa trị những hội chứng như thế không thể dựa trên việc điều chuyển quân đội Anh hay các tàu chiến của Mỹ như trước đây đã làm để buộc Trung Quốc phải mua thuốc phiện hay Nhật Bản phải mở cửa thông thương với bên ngoài. Việc chữa trị những hội chứng đó đòi hỏi những nỗ lực trí tuệ và hoạt động chính trị của cả hai bên. Và giống như việc bùng nổ kinh tế đã giúp phá tan sự cô lập của Viễn Đông, giống như thế, giờ đây có thể làm được rất nhiều nhờ tương tác kinh tế. Không chỉ đề cập tới lĩnh vực đầu tư và thương mại, mà còn cả lĩnh vực nghiên cứu khoa học và giáo dục. Một ví dụ điển hình nhất của những năm gần đây là sự cải thiện đáng kể quan hệ tay đôi và nâng cao mức độ hiểu biết lẫn nhau giữa Trung Quốc và Mỹ, mà không cần thiết phải nhắc lại một ví dụ đầy tinh thần xây dựng về sự hòa nhập của các quốc gia đã chuyển đổi tại Đông Âu theo trào lưu chủ yếu của nền kinh tế toàn cầu và nền văn hóa thế giới. Ngoài ra, cần phải nhấn mạnh vai trò đang gia tăng trong việc tạo dựng bầu không khí hiểu biết lẫn nhau, khoan dung và tôn trọng giới trí thức – những người làm công tác khoa học và văn hóa – cùng với những doanh nhân thiết lập những quan hệ kinh tế trực tiếp không có sự can thiệp của chính phủ.

Tìm kiếm lời giải đáp cho câu hỏi về ngọn nguồn và cơ chế của phát triển kinh tế – xã hội, không phải một lần mà đã nhiều lần chúng ta lo lắng rằng, ngay trong những thời kỳ từng xuất hiện những cơ sở khoa học thích hợp cho cơ chế phát triển, tuy nhiên do bị tê liệt bởi sự dốt nát, tham lam và kích động nên thực tiễn đã không biết khai thác những cơ sở đó. Nói một cách chính xác từ góc độ những quyền lợi của số đông và tất cả, họ đã bỏ phí thời gian, bởi có một số người đã kiếm (và đang kiếm) được những khoản không tồi trong việc bỏ lỡ những cơ hội này.

Tuy nhiên, nếu trong thực tế không xảy ra điều được gọi là “điều có thể về mặt lý thuyết”, thì nó cũng chứng minh được tính ưu việt của thực tiễn trên lý thuyết. Ít ra cũng xảy ra trong vật lý. Nhờ đó, chúng ta phải chờ đợi sự cáo chung của thế giới, nhưng về mặt lý thuyết thì nó có thể xảy ra ngay trong năm 2008. Trong trường hợp này, không phải do hậu quả của sự dốt nát, mà là sự tích lũy của một khối lượng khổng lồ kiến thức và thực hiện một dự án vĩ đại của loài người. Đấy là việc đầu năm 2008 đã đưa vào vận hành một trong số những thiết bị cực kỳ phức tạp trong lịch sử (và nó tốn kém nhất, bởi tiêu tốn trên 8 tỷ USD). Đối với những người đương thời, đây là cỗ máy phức tạp hơn nhiều so với trên 2 nghìn năm trước đây đối với nhiều người cổ Hy Lạp khi tiếp cận với bộ cơ khí từ Antikythery. Và cả Large Hadron Collider được biết đến với cụm từ viết tắt LHC, thiết bị được lắp đặt trong hầm ngầm dài 28 km ở vùng ngoại vi Geneva, lò gia tốc hạt, có thể giúp chúng ta tìm được lời giải đáp liên quan đến sự ra đời của vũ trụ. Có thể là nhiều giải đáp hơn chứ không phải chỉ có một. Thực là hấp dẫn, bởi kết quả thực nghiệm và các nghiên cứu lý thuyết cho thấy rằng, có thể đã không xảy ra vụ nổ lớn và chúng ta sẽ phải đính chính trong một chương ngắn ngủi về lịch sử thế giới.

“Cỗ máy cơ khí tại Geneva” này, được xây dựng trong khuôn khổ tổ hợp CERN (tiếng Pháp là Conseil Europeen pour la Recherche Nucleaire, tức là Hội đồng Nghiên cứu Hạt nhân Châu Âu), có thể theo một số người sẽ tạo ra một “hố đen” nhỏ. Một mumbo-jumbo nữa, trường hợp này lại thuộc về thế giới vật lý? Có lẽ thế, vào năm 1999 trong nguyệt san có uy tín “Scientific American” đã cảnh báo về điều này. “Điều có thể về mặt lý thuyết”, nhưng với xác suất gần bằng không. Gần bằng, nhưng lớn hơn không. Chuyện xảy ra trong bối cảnh tiến hành thực nghiệm trong lò gia tốc loại nhỏ của Mỹ BRHIC (từ tiếng Anh – Brookshaven Relativistic Heavy Ion Collider). Lúc đó, nhà vật lý nổi tiếng thuộc MIT là Frank Wilczek (cháu của một phụ nữ Ba Lan di cư sang Mỹ) đã giải thích rằng, không phải là “hố đen” mà là loại hạt kỳ lạ (tiếng Anh – strangelets). Theo lời của một số nhà vật lý – các nhà vật lý cũng có nhiều quan điểm phong phú, nhưng với những lý lẽ khác với các nhà kinh tế học – đấy là vật chất tối tồn tại trong nhân của các vì sao neutron. Nếu tồn tại như thế – bởi lẽ điều đó vẫn chưa được chứng minh – thì chúng ta phải ý thức được rằng, có thể xảy ra sự biến đổi loại hạt được biết trong vật lý là ice-9-type transiton. Khi đó toàn bộ vật chất đang bao bọc chúng ta có thể sẽ bị hòa nhập với hạt kỳ lạ này. Lúc đó, thế giới mà chúng ta đang sống sẽ biến mất… Ban lãnh đạo BRHIC đã nhanh chóng thành lập ủy ban đặc biệt gồm các nhà khoa học, ủy ban này đã loại trừ tình huống như vậy để làm yên lòng công chúng đang bị kích động bởi những tin tức của giới truyền thông. Frank Wilczek vẫn nhận giải Nobel (trong năm 2004) nhưng không phải do công bố loại hạt đó. Lại một người đó nhận giải Nobel do công lao hiểu được điều mà không một ai (hầu như không một ai) hiểu được.

Vậy thì – mặc dù có “điều có thể về mặt lý thuyết” – ngày tận thế tạm thời vẫn chưa xảy ra. Ít ra cũng không phải trong năm nay. “Điều có thể về mặt lý thuyết” là nhiều sai lầm trong sự hiểu biết về kinh tế cùng trong các chiến lược kinh doanh và chính sách kinh tế. Điều tồi tệ, là không thể loại trừ được chúng vì những lý do mà chúng ta đều biết rõ. Cần phải tiếp tục quan tâm một cách đúng đắn và cảm thông hơn so với sự phức tạp của vật lý hạt nhân tới những lý thuyết kinh tế về sự phát triển và thực hiện trong thực tiễn những phần có thể tạo thuận lợi cho sự tiến bộ. Còn những vấn đề – mặc dù khối lượng khổng lồ kiến thức đã được tích lũy và những kinh nghiệm phong phú của lịch sử, cho dù không hề ít, sẽ ngày càng nhiều hơn. Đây lại là một nghịch lý của sự phát triển.

Một số người cho rằng, chẳng có gì để viết về tương lai, điều đó không hù dọa được ai. Không cần thiết phải hù dọa, mà cũng không nên lừa dối bằng sự bình yên. Trước hết cần phải nói rằng, tương lai là không chắc chắn. Và đó là điều chắc chắn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB Thế giới 2010.

Liệu nền dân chủ có sống sót qua Dữ liệu lớn và Trí tuệ nhân tạo không? – Phần I


Chúng ta đang ở giữa một cuộc biến động công nghệ sẽ làm thay đổi cách thức mà xã hội được tổ chức. Chúng ta phải có quyết định đúng đắn ngay bây giờ.

Dirk Helbing, Bruno S. Frey, Gerd Gigerenzer, Ernst Hafen, Michael Hagner, Yvonne Hofstetter, Jeroen van den Hoven, Roberto V. Zicari, Andrej Zwitter 

Khai sáng là sự thoát ly của con người ra khỏi tình trạng vị thành niên do chính con người gây ra. Vị thành niên là sự bất lực không thể vận dụng trí tuệ một cách độc lập mà không cần đến sự chỉ đạo của người khác. 

– Immanuel Kant, “What is Enlightenment? [Khai sáng là gì?]” (1784)

Cuộc cách mạng kỹ thuật số đang hồi sôi nổi. Nó sẽ thay đổi thế giới như thế nào? Khối lượng dữ liệu được tạo ra tăng gấp đôi mỗi năm. Nói cách khác: trong năm 2016, chúng ta đã tạo ra một khối lượng dữ liệu nhiều bằng toàn bộ dữ liệu được tạo ra trong lịch sử loài người cho đến năm 2015. Mỗi phút chúng ta tạo ra hàng trăm ngàn cuộc tìm kiếm thông tin trên Google và đưa tin lên Facebook. Những thông tin đó cho thấy cách thức chúng ta suy nghĩ và cảm nhận. Chẳng bao lâu nữa, mọi thứ xung quanh chúng ta, thậm chí quần áo của chúng ta, cũng sẽ được kết nối với Internet. Người ta ước tính rằng trong 10 năm nữa sẽ có 150 tỷ cảm biến đo lường được nối mạng, nhiều hơn gấp 20 lần con người trên trái đất. Và như thế, khối lượng dữ liệu sẽ tăng gấp đôi mỗi 12 giờ. Nhiều công ty đã cố gắng biến Dữ liệu lớn thành Giàu có lớn [Big Money].

Mọi thứ sẽ trở nên thông minh; chẳng bao lâu nữa, chúng ta không chỉ có điện thoại thông minh, mà còn có nhà thông minh, nhà máy thông minh và thành phố thông minh. Liệu chúng ta có nên kỳ vọng là kết quả của những phát triển này sẽ dẫn đến những quốc gia thông minh và một hành tinh thông minh hơn không?

Thực vậy, lĩnh vực trí tuệ nhân tạo đã tạo ra những tiến bộ ngoạn mục. Đặc biệt, nó đang góp phần vào sự tự động hóa việc phân tích dữ liệu. Trí tuệ nhân tạo không còn được lập trình theo từng dòng, ngày nay nó đã có khả năng học tập, từ đó liên tục tự phát triển. Gần đây, thuật toán DeepMind của Google tự dạy mình làm thế nào để thắng 49 trận game Atari. Các thuật toán bây giờ có thể nhận ra ngôn ngữ và các mô thức viết tay gần giống như con người và thậm chí hoàn thành một số nhiệm vụ còn tốt hơn con người nữa. Chúng có khả năng mô tả nội dung của hình ảnh và video. Ngày nay 70% tất cả các giao dịch tài chính đều được thực hiện bởi các thuật toán. Nội dung các bản tin được tự động tạo ra một phần. Tất cả điều này đều có những hệ quả kinh tế cơ bản: trong 10 đến 20 năm tới, khoảng một nửa các công việc của ngày hôm nay sẽ bị các thuật toán đe dọa. 40% của 500 công ty hàng đầu hiện nay sẽ biến mất trong một thập kỷ nữa.

Chúng ta có thể dự kiến rằng các siêu máy tính sẽ sớm vượt qua khả năng của con người trong gần như tất cả các lĩnh vực – khoảng từ năm 2020 đến năm 2060. Các chuyên gia đang bắt đầu rung hồi chuông cảnh báo. Những người có tầm nhìn xa trông rộng về công nghệ, chẳng hạn như Elon Musk từ Tesla Motors, Bill Gates từ Microsoft và nhà đồng sáng lập Apple Steve Wozniak, đều cảnh báo rằng siêu trí tuệ là một mối nguy nghiêm trọng cho nhân loại, thậm chí có thể nguy hiểm hơn so với các loại vũ khí hạt nhân. Liệu điều này có gieo sự hoang mang sợ hãi không?

Có một điều rõ là cách thức mà chúng ta tổ chức nền kinh tế và xã hội sẽ thay đổi về cơ bản. Chúng ta đang trải qua một sự biến đổi lớn nhất kể từ khi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc; sau quá trình tự động hóa nền sản xuất và tạo ra những chiếc xe tự hành, quá trình tự động hóa xã hội sẽ là bước tiếp theo. Với điều này, xã hội đang đứng ở ngã ba đường, đầy hứa hẹn với những cơ hội to lớn, nhưng cũng đứng trước những rủi ro đáng kể. Nếu chúng ta đưa ra những quyết định sai lầm, thì điều này có thể đe dọa những thành tựu lịch sử lớn nhất của chúng ta.

Trong những năm 1940, nhà toán học người Mỹ Norbert Wiener (1894-1964) đã phát minh ra điều khiển học. Theo ông, hành vi của các hệ thống có thể được kiểm soát bởi các phương tiện phản hồi thông tin thích hợp. Rất sớm, một số nhà nghiên cứu đã tưởng tượng ra việc kiểm soát nền kinh tế và xã hội theo nguyên lý cơ bản này, nhưng chúng ta không có sẵn công nghệ cần thiết vào thời điểm đó.

Ngày nay, Singapore được xem là một ví dụ hoàn hảo về một xã hội được kiểm soát bằng dữ liệu. Những gì bắt đầu như là một chương trình để bảo vệ người dân của họ khỏi chủ nghĩa khủng bố đã kết thúc bằng việc gây ảnh hưởng đến các chính sách kinh tế và xuất nhập cảnh, thị trường bất động sản và chương trình giảng dạy tại trường học. Trung Quốc đang thực hiện một lộ trình tương tự. Gần đây, Baidu, một công ty Trung Quốc tương đương với Google, đã mời quân đội tham gia vào dự án China Brain Project [Bộ não siêu việt Trung Quốc]. Nó bao gồm việc điều hành cái gọi là thuật toán học sâu về những dữ liệu mà công cụ tìm kiếm thu thập được về người dùng. Ngoài điều nói trên, nó còn lên kế hoạch về một kiểu kiểm soát về mặt xã hội. Theo những báo cáo gần đây, mỗi người dân Trung Quốc sẽ nhận được cái gọi là “Điểm công dân”, mà theo đó sẽ xác định những điều kiện cần thiết để có thể nhận được các khoản vay, việc làm, hoặc visa du lịch sang các nước khác. Kiểu giám sát cá thể này sẽ bao gồm việc giám sát lướt Internet và hành vi của các quan hệ xã hội của người dân (xem “Spotlight on China” [Tiêu điểm về Trung Quốc]).

Với người tiêu dùng ngày càng thường xuyên đối mặt với việc kiểm tra hạn mức tín dụng và với việc một số cửa hàng trực tuyến thử nghiệm bán hàng với giá cả được cá thể hóa, chúng ta đang đi trên một lộ trình tương tự ở phương Tây. Điều ngày càng rõ là tất cả chúng ta đều nằm trong tâm điểm giám sát của các định chế. Điều này đã được tiết lộ trong năm 2015 khi các nội dung chi tiết của chương trình “Karma Police [Cảnh sát Karma]” của cơ quan mật vụ Anh đã được công bố công khai, cho thấy quá trình kiểm tra toàn diện việc sử dụng Internet của mọi người. Liệu Big Brother [Đại Ca] có trở thành thực tế của ngày hôm nay?

Xã hội được lập trình, người dân được lập trình

Mọi thứ đều bắt đầu một cách khá vô hại. Các công cụ tìm kiếm và các nền tảng giới thiệu đã bắt đầu chào mời chúng ta những gợi ý cá thể hoá cho các sản phẩm và dịch vụ. Thông tin này được xây dựng dựa trên những dữ liệu cá nhân và siêu dữ liệu đã được thu thập từ các cuộc tìm kiếm trước đó, các hành vi mua hàng và dịch chuyển, cũng như các tương tác xã hội. Trong khi về mặt chính thức, danh tính của người dùng được bảo vệ, thì trong thực tế, nó có thể được truy ra một cách khá dễ dàng. Ngày nay, thuật toán biết một cách khá rõ những gì chúng ta làm, những gì chúng ta nghĩ và cảm giác của chúng ta như thế nào – thậm chí có thể tốt hơn cả bạn bè và gia đình của chúng ta hoặc thậm chí cả bản thân chúng ta. Thường các lời giới thiệu được chào mời phù hợp đến độ các quyết định cuối cùng được cảm nhận như thể đó là những quyết định của chính chúng ta, mặc dù trên thực tế đó không phải là những quyết định của chúng ta. Trong thực tế, chúng ta đang bị kiểm soát từ xa ngày càng thành công hơn theo cách này. Khi người ta càng biết nhiều thông tin về chúng ta, thì chúng ta càng có ít khả năng được tự do đưa ra những lựa chọn của mình mà không bị người khác xác định trước.

Nhưng điều nói trên sẽ không dừng lại ở đó. Một số nền tảng phần mềm đang chuyển động theo hướng “điện toán có sức thuyết phục.” Trong tương lai, khi sử dụng những công nghệ thao túng phức tạp, thì những nền tảng này sẽ có khả năng chỉ dẫn toàn bộ quá trình hành động của chúng ta, bất luận để thực hiện các quy trình công việc phức tạp hoặc để tạo ra những nội dung miễn phí cho các nền tảng Internet, từ đó mà các tập đoàn có thể kiếm được hàng tỷ đô-la. Xu hướng đi từ việc lập trình các máy tính đến việc lập trình con người.

Những công nghệ này cũng đang trở nên ngày càng phổ biến trong giới chính trị. Dưới chiêu bài “cú hích”, và trên quy mô rộng lớn, các chính phủ đang cố gắng hướng người dân theo một hành vi lành mạnh hơn hoặc thân thiện hơn với môi trường thông qua một “cú hích” – một hình thức gia trưởng hiện đại. Cái mới của các chính phủ muốn quan tâm chăm sóc người dân là không chỉ quan tâm đến những gì chúng ta làm, mà còn muốn đảm bảo rằng chúng ta làm những gì được họ cho là đúng. Cụm từ ma thuật “cú hích lớn” là sự kết hợp giữa dữ liệu lớn với cú hích. Đối với nhiều người, điều này giống như một loại vương trượng kỹ thuật số cho phép một chính phủ cai trị quần chúng một cách hiệu quả, mà không cần phải để cho người dân dấn thân vào các tiến trình dân chủ. Liệu điều này có thể khắc phục được các nhóm đặc quyền và tối ưu hóa quá trình của thế giới không? Nếu có, thì người dân có thể được cai trị bởi một “vị vua sáng suốt” được trang bị dữ liệu, người có khả năng tạo ra những thành quả kinh tế và xã hội mong muốn gần như thể bằng một chiếc đũa thần kì diệu kỹ thuật số.

(còn tiếp)

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: “Will Democracy Survive Big Data and Artificial Intelligence?”, Scientific American, February 25, 2017.

http://www.phantichkinhte123.com/2017/04/lieu-nen-dan-chu-co-song-sot-qua-du.html

Những ông chủ thực sự của thế giới – Phần đầu


Thế hệ tự phát, số phận”, “định mệnh”, “ý Trời” phải chăng là những nguyên nhân của các sự kiện thế giới? Một cuộc đảo chính nào đó, một nền chuyên chính đẫm máu nào đó, một nạn diệt chủng nào đó, một cuộc chiến tranh nào đó, một sự can thiệp hay không can thiệp nào đó, một sự can thiệp hay không can thiệp nào đó phải chăng là biểu hiện của nhữgn hiện tượng thuần túy địa phương, tách biệt, cắt đứt với những gì còn lại?

Trong nhiều thập kỷ, người ta đã cố làm cho chúng ta tin như thế. Nhiều thế hệ trọn vẹn đã sống trong ảo tưởng này, do nhận được một thông tin thiên vị và vụ lợi, hoặc do thiếu thông tin hoàn toàn. Điều đó nói thật dễ hiểu khi những sự giao tiếp còn khó khăn hoặc chưa có, khi khoảng cách còn là một chướng ngại tự nhiên đối với thông tin! Nhưng ngày nay, khi các khảong cách đã bị xóa, khi thông tin đơn điệu đã biến mất (than ôi, một cách tương đối thôi!), chúng ta vẫn cứ nằm mãi trong tình trạng không hiểu gì về mối liên quan giữa phần lớn các sự kiển đang xảy ra ư?

Câu trả lời là không, và ý định của tôi là thử minh họa cho cái hiện đã trở thành niềm tin chắc của mình.

Có lẽ còn những khía cạnh chưa giải thích được, luận điểm của chúng tôi còn thiếu những yếu tố quan trọng nhiều hay ít: điều đó chỉ là do chúng tôi từ chối dựa vào một thứ thông tin không được kiểm tra trực tiếp và hợp thức.

Tôi đã đi tới chỗ ghi nhận sự tồn tại của một kiểu “siêu chính phủ thế giới” (super-gouvernement mondial), nên phải chăng là có tham vọng đưa ra một giải pháp kỳ lạ, cho những vấn đề của loài người, hay ngược lại, phải chăng tôi chỉ là một kẻ theo thuyết định mệnh phác vẽ ra một bức tranh theo kiểu Dante về loài người đang gặp tai họa? Chẳng phải điều này cũng như điều kia. Nhưng tôi tin chắc rằng, dù các giải pháp là thế nào đi nữa, thì trước hết cũng phải hiểu đúng các sự kiện một cách đúng nhất.

Những năm 70 tỏ ra phong phú về những sự kiện có tầm quan trọng quốc tế mà ý nghĩa của chúng chưa phải đã rõ ràng đối với người bình thường. Khi chỉ nhận được một thông tin tản mạn và thiên vị trong phần lớn các trường hợp, làm sao người bình thường có thể hiểu ra được ý nghĩa thực sự của “vụ bê bố Lockheed” (mà nạn nhân cuối cùng của nó là tổng thống Cộng hòa Italy Giovanni Leone), của vụ Watergate, của những tội ác và những sự can thiệp mà CIA phạm phải, của việc loại trừ Carrero Blanco, người đứng đầu chính phủ Tây Ban Nha dưới thời Franco, và của những vụ tương tự? Làm sao anh ta có thể hiểu được những sự trở mặt (thường xuyên và không giải thích được) trong thái độ chính trị của những người cai trị và những đảng chính trị nào đó (đang cầm quyền hay ở vào thế đối lập) ở phương Tây? Làm sao anh ta có thể lý giải được hiện tượng khủng bố quốc tế, những cuộc đảo chính? Làm sao anh ta, một khách hàng bắt buộc của một thứ thông tin thường phục vụ cho những lợi ích của các bên có liên quan, có thể hiểu được những lý do và nguyên nhân thực sự của “cuộc chiến tranh Sahara”, của nạn lạm phát, của sự gia tăng nạn thất nghiệp? Làm sao anh ta có thể thấy ra những nguy cơ mới mà một số “con người mới” mang theo?

Trong những năm 70, người bình thường đã chứng kiến sự “ra đời” của nhiều con người mới ấy, những con người của ý trời, thuần khiết, những người dân chủ, không có một tội tổ tông nào: Mario Soares (Thủ tướng Bồ Đào Nha), Ecevit (Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ), Raymond Barre (Thủ tướng Pháp), Adolfo Suarez (Thủ tướng Tây Ban Nha), Jimmy Carter (Tổng thống Mỹ), tất cả đều có một đặc trưng là cho đến lúc đó chưa được biết tới mấy, hay ít ra, chưa có gì xuất sắc trong các hoạt động chính trị và cai trị của họ. Làm sao người bình thường có thể biết rằng phần lớn những con người mới ấy (những tín đồ Kito giáo phương Tây đến để cứu chúng ta khỏi tai họa cộng sản) đôi khi lại có điểm giống nhau về những khía cạnh khác không quan trọng mấy? Làm sao, ở giữa thế kỷ XX này, khi thông tin có vẻ dễ dàng, nhanh chóng và đa dạng như vậy, lại có thể tưởng tượng được những câu lạc bộ “tư nhân” có thể phát hiện ra các vị quốc trưởng và thủ tướng và đưa họ lên cầm quyền được?

Năm 1978 rất phong phú về các sự kiện có tầm quan trọng hàng đầu và được trình bày với người bình thường như là “giải pháp tốt nhất” (nếu không phải là duy nhất!) cho những vấn đề của phương Tây, khi mà thật ra đằng sau những giải pháp đó hiện lên những lợi ích khá cụ thể và người ta che đậy một cách có hệ thống những động cơ thực sự của những lựa chọn đã thực hiện.

Xin lấy một ví dụ cụ thể: “những kết quả đã vượt quá tất cả mọi hi vọng” (…). Chúng cho phép tin một cách có suy tính vào sự cải thiện hoàn cảnh kinh tế quốc tế… Mấy câu nói lạc quan và gây ấn tượng ấy vừa mới được tổng thống Mỹ Jimmy Carter và tổng thống Pháp Valery Giscard d’Estaing nói lên, như giọng điệu cuói cùng trong cuộc họp cấp cao của các quốc trưởng và các vị đứng đầu chính phủ của nhà nước “giàu nhất” phương Tây (Mỹ, Pháp, CHLB Đức, Nhật Bản, Anh, Italy và Canada), họp nhau ở thủ đô Cộng hòa liên bang Đức tháng Bảy 1978.

“Phương thuốc” do những nhà lãnh đạo phương Tây đưa ra cho những người bình thường có vẻ chính xác và có hiệu quả: “Một chương trình đã được đánh số theo một lịch trình cụ thể”, như báo chí, phát thanh và truyền hình chỉ rõ. Vẻ  bề ngoài, xin nói như thế vì mặc dầu có những lời lẽ hiền lành và thái độ vui vẻ của các “siêu nhân” thời hiện đại ấy, chẳng ai có thể đoán chắc rằng những công việc của họ lại được tóm tắt bằng một danh mục đơn giản của những ý đồ tốt, hay nói một cách nặng nề hơn, bằng một trò bịp trong đó tất cả các diễn viên (tuy với những động cơ khác nhau và, trong một số trường hợp, chỉ thể hiện một mối quan tâm thực sự tới lợi ích quốc gia) đã đồng ý với nhau để cho công luận nuốt trôi một viên thuốc an thần to lớn!

Để cho các chuyên gia phân tích các mặt kỹ thuật của phương thuốc nói trên, xin nhớ rằng lúc này chẳng có gì khiến cho người ta nghĩ rằng những “phương thuốc” ấy sẽ làm giảm bớt (nếu không phải là biến mất) những cơn ác mộng xã hội là lạm phát và thất nghiệp cả…

Một loạt những sự trùng hợp (rất lớn!), trái lại, đáng được chúng ta hết sức chú ý.

Hội nghị cấp cao Bonn đã thể hiện thành chương trình của chính phủ một trong những khuyến cáo được đưa ra một tháng trước đó ở Mỹ, bởi những “đại diện của giới chính trị, công nghiệp, tài chính và quân sự phương Tây”, họp nhau dưới tấm biển của một câu lạc bộ tự nhận (không) được biết tới với một tên gọi chẳng quan trọng gì mấy: Ủy ban Ba bên (Trilateral Commission). Trong số những người tham gia, chúng ta thấy có các ông Brezinski, Kissinger, Brown (Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ), Vance (Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ), Blumenthal (Bộ trưởng Ngân khố Mỹ), Debatisse (Liên đoàn nông gia Pháp), Berthoin (Giám đốc về châu Âu của Ủy ban Ba bên), Delouivrier (Chủ tịch, Tổng giám đốc  EDF), Foch (Đảng Cộng hòa), Montbrial (thuộc Bộ Ngoại giao Pháp)…

Cũng là một sự trùng hợp khi Ủy ban Ba bên loan báo khả năng hợp nhất với Câu lạc bộ Bilderberg và Viện Đại Tây Dương vào lúc bảy vị quốc trưởng hay đứng đầu chính phủ thể chế hóa chính sách Ba bên…

Lại cũng là một sự trùng hợp khi tất cả các đoàn đại biểu không trừ đoàn nào – của “bảy nước lớn” họp tại Bonn lại có trong đội ngũ của họ những thành viên có thế lực của Ủy ban Ba bên ấy…

Đây có phải là một trường hợp riêng biệt ngoại lệ không? Tuyệt đối không.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần VIII


Bất kể với các vũ khí động năng hay không động năng (tức là vũ khí mạng), ưu tiên nhằm mục tiêu cao nhất đối với Trung Quốc sẽ là các phương tiện tấn công, các căn cứ, và những sự tập trung lực lượng của Mỹ trong khu vực. Với Mỹ, sẽ là các khả năng A2/AD của Trung Quốc, chủ yếu được đặt ở Trung Quốc. Sự khác biệt quan trọng giữa xung đột cường độ nhẹ và mạnh là Mỹ sẽ tấn công các mục tiêu trên đất Trung Quốc trong xung đột cường độ mạnh chứ không phải xung đột cường độ nhẹ. Do không có khả năng Trung Quốc sẽ cầu hòa khi bị tấn công trên lãnh thổ của mình, các cuộc tấn công lên lục địa có thể kéo dài một cuộc chiến khốc liệt.

Vì các mục đích phân tích, khoảng thời gian có thể ngắn hoặc dài, ngắn nghĩa là vài ngày hay vài tuần và dài nghĩa là một năm hoặc hơn. Các cuộc chiến tranh dài hơn cũng là có thể nhưng không được xem xét ở đây. Một vài yếu tố có thể kéo dài một cuộc chiến tranh Trung – Mỹ: không có một người chiến thắng rõ ràng, sự quyết tâm của cả hai bên kiên trì vì các quyền lợi, các kết quả của cuộc chiến đấu cho đến thời điểm đó, các kết quả được trông đợi của cuộc chiến đấu tiếp tục, và việc không có khả năng quyết định các điều khoản của một thỏa thuận ngừng bắn. Những thiệt hại quân sự và phí tổn kinh tế lớn, như được trông đợi ở một cuộc xung đột khốc liệt, có thể hoặc củng cố hoặc làm suy yếu quyết tâm, phụ thuộc vào các yếu tố tâm lý và chính trị điều mà khó để dự đoán. Cả hai bên có thể lựa chọn đi từng bước và hạn chế các hoạt động như một cách bảo vệ khả năng chiến đấu của mình, nhưng một lần nữa, sự thôi thúc sử dụng các lực lượng có khả năng nhắm đúng mục tiêu chống lại các lực lượng có khả năng nhắm đúng mục tiêu là có thể mạnh mẽ.

Trong khi cường độ phụ thuộc vào việc sử dụng và thiệt hại của cuộc tấn công can dự của Mỹ và các khả năng A2/AD của Trung Quốc, tầm quan trọng của tiềm năng quân sự toàn bộ, bao gồm quân tiếp viện và khả năng huy động, có thể kéo dài hơn khoảng thời gian của cuộc chiến. Tương tự, khả năng phục hồi kinh tế, sự ủng hộ chính trị, và sự giúp đỡ quốc tế có thể tác động đến khả năng tiếp tục chiến đấu của một hoặc cả hai bên. Cả Mỹ lẫn Trung Quốc có khả năng đáng kể, nếu không phải là bất cân xứng, để kéo dài một cuộc xung đột mà không bên nào bị ép buộc về mặt quân sự hoặc sẵn sàng về mặt chính trị để chấm dứt.

Một câu hỏi quan trọng là liệu bên này hay bên kia có thể đạt được một lợi thế rõ ràng trong những giai đoạn đầu của một cuộc xung đột cường độ mạnh đến nỗi mà bên còn lại hầu như không có lựa chọn nào ngoài nhượng bộ không. Khả năng của Mỹ đạt được lợi thế như vậy đang giảm khi Trung Quốc cải thiện các khả năng A2/AD của họ. Đồng thời, khả năng này ngày càng tăng của Trung Quốc để ngăn cản một lợi thế quyết định, lúc ban đầu của Mỹ không nhất thiết chuyển thành khả năng của nước này kết thúc nhanh chóng một cuộc chiến tranh theo các điều kiện của họ.

Bởi vì một cuộc xung đột cường độ nhẹ sẽ đặt ra các yêu cầu nhỏ hơn đối với toàn bộ khả năng tiến hành chiến tranh so với một cuộc xung đột khốc liệt, nó có khả năng kéo dài hơn so với xung đột khốc liệt – thậm chí trở thành một “cuộc xung đột bị đóng băng”. Ngược lại, và rõ ràng, một cuộc xung đột kéo dài, khốc liệt sẽ liên quan đến những phí tổn lớn hơn cho cả hai bên so với các trường hợp khác về phương diện quân sự, kinh tế và chính trị. Một cuộc xung đột dài, khốc liệt sẽ là tốn kém nhất không có nghĩa là nó có ít khả năng diễn ra nhất. Sự bố trí lực lượng vào mọi lúc để duy trì chiến đấu phụ thuộc không chỉ vào các kết quả, thiệt hại, và chi phí cho đến thời điểm đó mà còn vào những sự trông đợi điều gì sẽ đến. Miễn là không bên nào trông đợi thất bại, chiến sự có thể tiếp tục.

Hiện nay Mỹ có nhiều khả năng quân sự để tiến hành một cuộc chiến tranh dài, khốc liệt hơn Trung Quốc. Bởi vì, Mỹ có các lực lượng đáng kể được bố trí tại hoặc được chỉ định cho các khu vực khác mà họ có thể sử dụng trong một cuộc xung đột ở Tây Thái Bình Dương, dù các điều kiện an ninh trong những khu vực này có thể khiến cho họ miễn cưỡng làm vậy. (Trong nhiều năm, Lầu Năm Góc đã từ từ thoát ra khỏi chuẩn mực truyền thống của họ về việc có các lực lượng toàn bộ đầy đủ để đồng thời chiến thắng 2 cuộc chiến tranh lớn). Hơn nữa, các lực lượng của Mỹ hiện nay có thể làm suy yếu các khả năng A2/AD của Trung Quốc nhanh hơn các khả năng A2/AD của Trung Quốc có thể làm suy yếu các lực lượng của Mỹ. Trong khi cả hai có thể trải qua những thiệt hại đáng kể trong chiến sự khốc liệt ban đầu, các triển vọng của Mỹ hiện nay nhìn tốt hơn của Trung Quốc.

Các điều kiện trong tương lai có thể thay đổi, do khả năng những thiệt hại lớn hơn của các lực lượng Mỹ trước A2/AD của Trung Quốc và đến lượt nó những thiệt hại giảm bớt của Trung Quốc trước những lực lượng này của Mỹ. Hơn nữa, vì các lợi thế tác chiến quân sự của Mỹ suy yếu, vị trí “đội nhà” của Trung Quốc có thể trở thành ít bất lợi hơn và là một tài sản hơn, nhờ các tuyến thông tin liên lạc và di chuyển nội tại. Hậu quả tất yếu của những lợi thế quân sự đang thay đổi này là khoảng thời gian chiến tranh được trông đợi, dù cường độ mạnh thế nào, có thể tăng lên khi các khả năng của Trung Quốc cải thiện, vì lý do đơn giản là Trung Quốc sẽ giữ lại nhiều hơn khả năng chiến đấu và đối mặt với ít áp lực chịu thua hơn. Nói chung hơn, một cuộc chiến tranh càng có khả năng ít cân xứng, nó càng ít có khả năng chấm dứt nhanh chóng với chiến thắng của bên mạnh hơn. Bởi vì các khả năng của Trung Quốc và Mỹ, các khái niệm điều hành, những khích lệ và trông đợi tất cả đều chỉ rõ chiến sự khốc liệt, điều này có thể có nghĩa rằng một cuộc chiến tranh có thể kéo dài lâu hơn và tốn kém hơn đã được giả định hoặc, một cách nghịch lý, hơn mức một trong hai bên sẽ mong muốn.

Những sự cân nhắc này nhấn mạnh ảo tưởng của việc giả định rằng chiến sự bạo lực sẽ đặc biệt không kéo dài (như các nhà lãnh đạo châu Âu đã làm vào năm 1914!). Một lần nữa, Trung Quốc ưu tiên và lên kế hoạch một cuộc chiến tranh ngắn, cường độ mạnh bởi vì họ nghĩ đây là cách duy nhất để không thua cuộc. Tuy nhiên quan điểm này lờ đi việc Mỹ đang nhìn vào một hình ảnh phản chiếu: sau cuộc chiến đấu ngắn và cường độ mạnh, những thiệt hại trong tương lai của Mỹ sẽ ít hơn của Trung Quốc. Tuy nhiên nếu cho tới nay Mỹ nghĩ rằng một cuộc chiến tranh cường độ mạnh sẽ là ngắn bởi vì những thiệt hại của Trung Quốc sẽ vượt những thiệt hại của Mỹ với khoảng cách chênh lệch ngày càng tăng khi chiến sự vẫn tiếp tục, họ nên suy nghĩ lại.

Tiến lên phía trước, cả Trung Quốc và Mỹ cần suy tính khả năng một cuộc xung đột khốc liệt, kéo dài, không thể kiểm soát, và gây tàn phá, nhưng lại không có tính quyết định. Nếu chiến tranh bằng cách này hay cách khác nổ ra và cả hai bên đối mặt với các triển vọng như vậy, họ sẽ không nhất thiết được thúc đẩy để dừng chiến bằng thỏa thuận. Lịch sử cho thấy ít có sự khuyến khích rằng các đối thủ bị khóa chặt vào một cuộc chiến tranh đẫm máu nhưng không đi đến hồi kết sẽ nhất trí rút ngắn nó lại, hợp lý như nó có thể. Do đó, sự tự động và bất ổn định tiềm tàng vốn có trong lực đối kháng thông thường đặt ra một nhiệm vụ cho các nhà lãnh đạo chính trị phải đánh giá, đặt câu hỏi, chấp thuận, và tái xem xét các kế hoạch tiến hành chiến tranh.

Phụ thuộc vào các lựa chọn các nhà lãnh đạo chính trị đưa ra trong số các phương án do các chỉ huy quân sự đề nghị, hoặc một cuộc chiến tranh ngắn hoặc cuộc chiến tranh kéo dài có thể là cường độ mạnh hay nhẹ: nhóm tác giả xem xét cả 4 trường hợp. Đồng thời, dường như có khả năng hơn rằng một cuộc xung đột dài nhưng cường độ nhẹ sẽ bắt nguồn từ chiến sự cường độ thấp ban đầu hơn là từ chiến sự cường độ mạnh từ ban đầu và, ngược lại, chiến sự cường độ mạnh sẽ vẫn mạnh miễn là cuộc chiến còn kéo dài. Xét cho cùng, cả hai cuộc chiến tranh thế giới đã bắt đầu một cách tàn bạo, mà dai dẳng và thậm chí tăng cường ít nhiều trong các khoảng thời gian của chúng. Dĩ nhiên, không thể loại trừ việc một cuộc chiến tranh có thể bắt đầu ác liệt nhưng sau đó lắng xuống thành một cuộc chiến cấp độ thấp, bởi vì cả hai bên kết luận rằng họ không thể chiến thắng, từ chối nhượng bộ, và cố gắng tiết chế các thiệt hại của mình.

Một trong những sự cân đối làm bực mình nhất mà các nhà lãnh đạo đối mặt trong việc xác định chiến đấu quyết liệt và kéo dài như thế nào là giữa phí tổn chiến đấu và phí tổn thua cuộc. Phí tổn chiến đấu sẽ có xu hướng thúc đẩy việc hạn chế xung đột ngay cả nếu nó có nghĩa là để mất lợi thế; phí tổn thua cuộc sẽ có xu hướng thúc đẩy làm những gi họ có để chiến thắng, bao gồm tăng cường, mở rộng, và kéo dài xung đột. Chẳng hạn, Mỹ có thể cảm thấy tin tưởng có lý rằng họ có thể chiến thắng trong một cuộc chiến cường độ mạnh với Trung Quốc tuy nhiên đối mặt với các phí tổn nghiêm trọng đến nỗi họ có thể thà duy trì chiến tranh hạn chế và chấp nhận một kết quả ngoại trừ chiến thắng, dù có thể phù hợp với các lợi ích của Mỹ. Ngược lại, Trung Quốc có thể coi cái giá của việc thua một cuộc chiến tranh với Mỹ về chẳng hạn như Đài Loan là cao đến nỗi họ sẽ chịu đựng những phí tổn của cuộc xung đột cường độ mạnh, và có lẽ kéo dài. Nói chung, khi các triển vọng chiến thắng rõ ràng của mỗi bên suy giảm, như có thể là trường hợp trong những năm tới, cả hai bên phải tăng thêm tác dụng của các chi phí chiến đấu – một lý do chủ chốt tại sao cả hai phải xem xét nghiêm khắc về các hậu quả mà một cuộc chiến tranh có thể có.

(còn tiếp)

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Bản chất của văn hóa và các quy luật phát triển của nó – Phần I


Andrej Flier

Toát yếu

Tác giả bài viết này là Flier A.Ja. – GS. TS Triết học, NCV chính, Ban Nghiên cứu văn hóa học ứng dụng và giáo dục trong lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật, Viện Văn hóa học Nga (Moskva). Bài viết trình bày quan niệm của tác giả về văn hóa như là sản phẩm của sự chuyển hóa lịch sử chương trình hành vi xã hội của động và xem xét một số tính quy luật phát triển lịch sử của nó, tính chế ước nhau giữa một bên là nhịp độ phát triển xã hội và một bên là động thái tính biến thiên của văn hóa, tính bảo toàn bản sắc văn hóa và mức độ kiểm soát của xã hội đối với cá nhân.

Hiểu biết và kiến giải vấn đề nguồn gốc ra đời và sự phát triển của văn hóa tùy thuộc rất nhiều vào việc nhà khoa học hiểu văn hóa là gì, nhà khoa học đó giải thích bản chất của văn hóa và chức năng xã hội của nó như thế nào, và tùy thuộc vào cả lập trường của anh ta trong vấn đề nguồn gốc con người.

Tôi hiểu văn hóa là hình thức phổ biến nhất việc thực hiện tính xã hội của con người, thể hiện thiên hướng bẩm sinh của con người là hướng tới các hình thức hoạt động sống tập thể. Văn hóa là khung luật hệ thống nhất các nguyên tắc và các quy tắc chung nhất của sự tồn tại tập nhóm, bảo đảm quy trình xây dựng của sự đồng sinh xã hội của con người. Tôi xem văn hóa là hệ thống hình thành từ lịch sử các mối quan hệ qua lại giữa con người với nhau theo các thủ tục tiêu chuẩn của hoạt động sống chung của họ, là phương tiện duy trì và đảm bảo điều chỉnh các nguyên lý cơ bản của việc láng giềng đồng sinh và tương tác như vậy.

Trong vấn đề này, tôi không đồng quan điểm với E.S. Markaryan rằng do sinh hoạt tập thể của con người, ông này quy quan hệ qua lại giữa con người về lĩnh vực xã hội học. Theo tôi, xã hội học nghiên cứu sự tương tác giữa các tập nhóm xã hội vốn thể hiện lợi ích thực dụng của mình. Còn như các mối quan hệ qua lại giữa con người xét từ góc nhìn phản ánh các giá trị và chuẩn mực tồn tại tập thể của họ – thì đó lại là đối tượng nghiên cứu khoa học của văn hóa học (culturology).

Các thuộc tính “tích cực” của văn hóa như tính người, đạo đức, tế nhị, đạo lý, mỹ cảm… phổ biến trong ý thức quần chúng chỉ là sự phát triển của một số động cơ, ý hướng (intentions) nội tại gắn với việc đảm bảo tính tập thể của Tồn tại con người, và theo quan điểm của tôi, không phải là những đặc tính gốc, mà chỉ là những đặc tính phái sinh của nó. Văn hóa trước hết là cái mang tính quy phạm, và nó chỉ có tính “tích cực” trong dạng biểu hiện lý tưởng của mình. Thêm nữa, văn hóa lại có hàng loạt thuộc tính hình thành trong lịch sử mâu thuẫn với các xu thế của sự phát triển xã hội hiện đại: nó một mực khăng khăng thiên vị “cái của mình” và rất cố chấp đối với “cái khác, lạ”,  nó hạn chế tự do xã hội của con người trong khuôn khổ những mô hình ứng xử “được cho phép”, nó hướng về quá khứ, coi đó là khuôn vàng thước ngọc và luôn tỏ ra ngờ vực mọi cái mới, lạ…

Các chức năng hàng đầu của văn hóa là khuyến khích mọi người hội nhập xã hội vào các tập thể bền ổn và đảm bảo mối quan hệ giao tiếp khá khăng khít giữa các thành viên tham gia. Ở đây thấy rất rõ là giới hạn lãnh thổ của việc quảng bá các văn hóa địa phương, thường là bị giới hạn do sự cách bức về khoảng cách giao tiếp (liên quan đến việc bên ngoài lãnh thổ của nó người ta lại sử dụng một thứ ngôn ngữ nói khác).

Do đó, các công cụ cơ bản của văn hóa là cách ứng xử xã hội và hoạt động giao tiếp, mà vào giai đoạn đầu của lịch sử, được thể hiện qua tập quán và ngôn ngữ. Chính tập quán và ngôn ngữ là những yếu tố đảm bảo sự cố kết về mặt xã hội của tập thể và sự trao đổi thông tin mạnh mẽ trong tập thể. Tiếp đó mới khởi đầu các quá trình phát triển:

+ Tập quán phát triển thành nghi lễ và nghi thức, rồi sau đó thành các luật lệ, và cuối cùng, thành các nguyên tắc và giới hạn cho phép của tự do xã hội, điều chỉnh hành vi xã hội của con người…

+ Ngôn ngữ nói phát triển thành ngôn ngữ viết, thành  ngôn ngữ hình tượng nghệ thuật, thành ngôn ngữ các biểu trưng có ý nghĩa xã hội, nhãn mác xã hội của con người, nghi thức trình diễn…;

Nhưng điều chủ yếu là ở chỗ, với toàn bộ tính đa dạng các chức năng cá biệt của mình nói chung, văn hóa là quy phạm xác định về tương tác xã hội và giao tế được thực hiện trong thực tiễn bởi một số đông thành viên xã hội, được chuyển giao qua các thế hệ bằng các phương pháp đức dục và trí dục, và thường xuyên được tích cực truyền bá bằng các phương tiện nghi thức xã hội, tôn giáo, văn học, nghệ thuật… Đồng thời, thiết tưởng cũng cần phân biệt hai loại hình thức ứng xử xã hội của con người: 1) loại hành vi xã hội có thể quan sát được và ít nhiều phổ biến trong quần chúng mà ta có thể gộp chung lại là “thực tiễn xã hội” của con người, và 2) loại chuẩn hành vi xã hội được tuyên truyền, áp dụng và khuyến khích, các khuôn mẫu hành vi ứng xử xã hội “đúng đắn, mẫu mực”, những quy phạm được định danh là “văn hóa” của cái xã hội ta đang xem xét.

Nếu theo quan niệm thuyết tiến hóa về nguồn gốc con người, thì câu hỏi về nguồn gốc lịch sử của văn hóa tất sẽ đưa ta đến vấn đề xác định xem mức độ văn hóa của người được hiểu như là sự phát triển các bản năng ứng xử xã hội vốn có của động vật bậc cao (đặc biệt là các loài linh trưởng) và mức độ của cái văn hóa có thể được hiểu như là một tập hợp các dấu hiệu đặc trưng phân biệt về nguyên tắc con người với tổ tiên sinh học của nó.

Rõ ràng là văn hóa của người có cả hai loại thuộc tính trên, nhưng những nét đặc điểm chung giống với hành vi xã hội của động vật vẫn chiếm mức độ lớn hơn. Văn hóa hàm chứa trong nó những dấu hiệu đặc trưng giống loài gốc của nó rất rõ, lấy từ hành vi xã hội của các động vật sống kiểu bầy đàn: nó cũng đảm nhiệm vai trò của chức năng cố kết, điều chỉnh các mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân trong nhóm và tạo điều kiện để họ hiểu nhau và tin cậy nhau, tùy theo khả năng điều chỉnh và giao tiếp của mình tương hợp với khả năng của ý thức con người và với lối thức hoạt động sống của con người. Trong hành vi xã hội của động vật ta thấy (và càng thực hiện nhiều nghiên cứu mới, ta càng phát hiện được nhiều hơn) một phần đáng kể các đặc trưng có tính nguyên tắc vốn có của văn hóa con người với tính cách là một hệ thống điều chỉnh xã hội. Cũng là dễ hiểu khi sự biểu hiện đầy đủ những hệ đặc trưng này thường bị hạn chế bởi trình độ phát triển của các phản ứng tâm lý phức tạp vốn có của một loài này hay khác.

Đồng thời, số các hệ đặc trưng để phân biệt về nguyên tắc văn hóa con người với hành vi ứng xử xã hội của động vật là tương đối ít và bị quy định bởi các khả năng to lớn hơn của tâm lý, ý thức, lời nói…  của con người. Và ở các loài động vật khác nhau cũng có những phương cách khá hiệu quả của mình để chia sẻ những thông tin quan trọng, dĩ nhiên là không thể bằng lời nói của con người, nhưng cũng hoàn toàn đáp ứng với lối sống của các loài động vật đó. Tất nhiên, các loài động vật không có phương cách đặc thù để diễn đạt các quan điểm và thiên hướng văn hóa, như nghệ thuật chẳng hạn, của mình. Nhưng dường như có một số loại bản năng cũng đảm đương vai trò chức năng đó trong việc điều chỉnh hành vi và ý thức của người (kích thích về mặt xúc cảm hành vi xã hội mong muốn và thái độ đối với cuộc sống). Nên nhớ rằng chúng ta vẫn còn hiểu biết rất ít về hành vi của động vật: các nghiên cứu từ nguyên (ethologie) có hệ thống trong khuôn khổ tâm lý học động vật chỉ bắt đầu được thực hiện trong thế kỷ XX, và khả năng quan sát từ xa hành vi của động vật trong tự nhiên trong một thời gian dài chỉ thực hiện được cách nay vài thập kỷ.

(còn tiếp) 

Người dịch: Ngô Tuy Phước

Nguồn: TN 2014 – 3 & 4