“Verum est ipsum factum” – Hiện thực là cái được tạo ra như vậy – Phần V


Phương pháp hoài nghi của Descartes bao gồm vài cấp độ. Cấp độ hoài nghi thứ nhất đưa ra sự nghi ngờ về các giác quan, bởi chúng đôi khi đánh lừa chúng ta. Cấp độ hoài nghi tiếp theo là luận cứ tưởng tượng, có nghĩa là đôi khi bạn nhìn thấy “sự thật” trong các giấc mơ của bạn. Vì vậy, chúng ta có chắc là chúng ta đang thức tỉnh khi chúng ta cảm thấy như vậy không? Song loại nghi ngờ này không bao hàm kiến thức số học hay toán học, bởi 2 + 3 = 5 cho dù bạn có đang ngủ hay thức. Giai đoạn cuối cùng trong phương pháp hoài nghi của Descartes là suy xét về sự tồn tại hay không tồn tại của thế giới vật chất. Theo Descartes, có khả năng là một kẻ dối trá có quyền năng tuyệt đối nào đó (không phải là Chúa/Thượng đế, bởi Chúa không phải là kẻ dối trá mà là một đấng sáng tạo mang tính tiên nghiệm) đang sử dụng mọi sức lực của mình nhằm đánh lừa con người; bầu trời, trái đất, các hình thù và màu sắc cũng có thể là những ảo giác hay mơ tưởng mà vị toàn năng này nghĩ ra nhằm làm xáo trộn những đánh giá của con người. (Chávez-Arvizo 1997: xvi)

Vậy làm sao chúng ta có thể biết (nhận thức luận), nếu mọi thứ đều bị nghi ngờ, hay khẳng định rằng tất cả những thứ có thể là giả sẽ bị cho là giả. Theo Descartes, chúng ta nên hy vọng tìm thấy, ít nhất là một lời tuyên bố trung thực, dù là yếu ớt, song chắc chắn và cương quyết, để dựa vào đó dựng nên một hệ thống kiến thức toàn diện. Điều này liên quan tới “luận đề “Tôi tồn tại” nổi tiếng. Cho dù có một sức mạnh lừa dối tối cao có thể cố tình và không ngừng đánh lừa chúng ta, song khả năng nghi ngờ (suy nghĩ) của chúng ta là một yêu cầu thực sự, đủ để Descartes xây dựng nên một hệ thống kiến thức toàn diện (Chávez-Arvizo 1997: xviii). Tuy nhiên, ở cấp độ thực tiễn, Descartes thừa nhận rằng, cho đến thời điểm đó, khi chân lý đã được khám phá hoàn toàn bằng việc áp dụng phương pháp của ông, chúng ta không có cách nào khác ngoài việc hành động phù hợp với những đánh giá về khả năng có thể xảy ra (Descartes 2006 [1637]: 23).

Có vẻ như là để thống nhất với các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa, các nhà chủ nghĩa duy lý, như Descartes, còn có sứ mệnh ngầm là nghi ngờ sự tồn tại của Chúa như là một sự thật mang tính tiên nghiệm, nhưng do môi trường Cơ đốc giáo của mình mà họ dứt khoát cố chứng minh là toàn bộ sự thật bắt nguồn từ Chúa. Nhưng Spinoza là một triết gia thậm chí phản đối bất cứ ý niệm nào vệ sự chọn lựa đặc biệt của loài người và sự thống trị mang tính đặc quyền của con người trong vũ trụ (Spinoza 1996 [1677]: xvi).

Spinoza đồng nhất Chúa/Thượng đế với tự nhiên và ông phủ nhận khả năng có thể có hành động sáng tạo. Spinoza cố gắng miêu tả Chúa và tự nhiên, thể xác và linh hồn, là một. Ở một chừng mực, ông (Spinoza) đi cùng một hướng như Descartes, vốn là người coi thể xác và linh hồn là hai thực thể riêng biệt, nhưng đồng thời là gắn kết chặt chẽ với nhau. Nhưng Spinoza khác với Descartes khi ông nói rằng, con người không có linh hồn siêu nhiên và các quá trình tư duy của con người gắn bó mật thiết không thể tách rời với các quá trình phát triển của cơ thể (Spinoza 1996 [1677]: xii). Điều này, trên thực tế, là một hình thái của chủ nghĩa duy vật và, vì vậy, chúng ta có thể mặc nhiên công nhận rằng, ngay cả trí óc của chúng ta cũng là một thứ vật chất.

Theo Spinoza, con người hai mặt (tư duy và sự phát triển về mặt cơ thể) là tương đối tự do, theo chừng mực là chúng ta đang bàn tới sự tự do về tư tưởng, song cùng lúc lại bị giới hạn, theo chừng mực chúng ta đang hình dung bản thân chúng ta là các sinh vật đang đối phó với các lực lượng tự nhiên trong môi trường. Liên quan tới sự tự do tư tưởng của con người, Spinoza mặc nhiên công nhận rằng, không thể bắt chúng ta phải tuân theo niềm tin, và chức năng chính và duy nhất của nhà nước là chịu trách nhiệm bảo vệ/duy trì trật tự công cộng. Đa số các công dân, không biết gì về triết học, sẽ luôn bị giới hạn bởi trí tưởng tượng về những phần thưởng và sự trừng phạt của thần thánh hơn là bởi sự nhận thức về tính tư lợi hợp lý. Vì vậy, nguyên tắc của nghệ thuật quản lý đất nước là thúc đẩy các đức tin mê tín do tôn giáo tạo ra khi thái độ hoài nghi tôn giáo có thể dẫn tới sự rối loạn và bạo lực. Một hệ thống đạo đức riêng hợp lý có vẻ lúc nào cũng có ở nhóm thiểu số, những người có thói quen suy ngẫm và tự ý thức về bản thân từ những đam mê phi lý trí của họ. Tuy nhiên, Spinoza không đi theo các nhà khắc kỷ chủ nghĩa khi lập luận rằng con người thông thái không bị ngăn trở bởi các cảm xúc. Đường dẫn tới sự thông thái và hạnh phúc là việc thích thú với hoạt động tinh thần và tập trung vào niềm vui phát triển sức mạnh thể chất và tinh thần.

Theo Spinoza, có ba cấp độ hay ba “loại kiến thức”. “Loại kiến thức” thứ nhất là quan điểm hay sự tưởng tượng: “bắt nguồn từ những dấu hiệu, chẳng hạn như từ thực tế là khi nghe được hay đọc được những từ nào đó, chúng ta nhớ lại các sự việc, và hình thành những ý niệm nhất định về chúng…”. “Loại kiến thức” thứ hai bao gồm lý trí: “…từ thực tế là chúng ta có các khái niệm chung và các ý tưởng đầy đủ về các thuộc tính của các sự vật”. “Loại kiến thức” thứ ba là kiến thức mang tính trực giác: “…loại kiến thức này có được từ ý niệm đầy đủ về bản chất bên ngoài của những thuộc tính nào đó của Chúa cho tới sự hiểu biết đầy đủ về bản chất của mọi vật” (Spinoza 1996 [1677]: 57).

Nói chung, có thể không có những khác biệt lắm giữa chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý. Có thể cho rằng, mọi kiến thức có thể có có có thể bắt nguồn, theo suy luận, từ lý trí. Nhưng điều đó có nghĩa là các nhà duy lý chủ nghĩa thậm chí phải có được kiến thức ban đầu, tức là kiến thức bẩm sinh, mà dựa vào đó họ cố gắng lập luận về phần còn lại của tất cả những kiến thức khác có thể có. Do đó, việc làm thế nào để có được kiến thức ban đầu này là một câu hỏi hết sức quan trọng. René Descartes giải quyết vấn đề này bằng việc lưu ý rằng nếu ai đó có thể suy nghĩ (nghi ngờ), anh ta dứt khoát phải hiện hữu (cogito ergo sum). Theo cách nhìn nhận này Descartes đề cập đến bản thể luận, song cũng đề cập đến vấn đề nhận thức luận, bởi nếu ai đó có thể suy nghĩ (và hoài nghi) và vì vậy có thể đánh giá về sự tồn tại thực sự của anh/cô ta bằng lý trí đơn thuần, thì anh/cô ta cũng có thể suy luận được về tất cả những kiến thức có thể có. Nhìn thoáng qua có vẻ như là chủ nghĩa kinh nghiệm của Lock và Hume sẽ mang đến một hướng giải quyết hoàn thiện hơn, song trên thực tế có thể ngược lại, bởi các giác quan của chúng ta có thể chỉ mang lại các ý niệm chứ không phải là kiến thức nào đó. Về khía cạnh này, Descartes chỉ trích các nhà triết học kinh viện (không chỉ các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa kinh viện, mà cả các nhà triết học kinh viện) bằng tuyên bố rằng, “Thậm chí các nhà triết học kinh viện còn khư khư bám lấy câu châm ngôn cho rằng chẳng có gì trong trí tuệ, cái trước kia chưa có trong các giác quan, song chắc chắn là, trong trí tuệ những ý niệm về Chúa và linh hồn chưa từng tồn tại”; và ông tiếp tục: “Bởi rốt cuộc, cho dù chúng ta đang thức hay đang ngủ, chúng ta đừng bao giờ cho phép mình bị thuyết phục, ngoại trừ dựa vào bằng chứng lập luận của chúng ta… Vì mặc dù chúng ta nhìn thấy mặt trời hết sức rõ ràng, song chúng ta không nên vì lý do đó mà phán đoán rằng nó chỉ lớn như chúng ta nhìn thấy nó…”.

Các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa có cùng sự nghi ngờ về mặt nhận thức luận về những nhận thức cảm quan của chúng ta như các nhà chủ nghĩa duy lý, cho dù những giác quan này được coi là nguồn gốc chủ yếu tạo nên kiến thức của chúng ta. Khi chúng ta khảo sát từ khoảng cách xa hơn, chẳng hạn, một đường thẳng được vẽ, chúng ta nhìn có vẻ là một đường thẳng, song càng nhìn gần càng có vẻ như là đường kẻ này là bất kỳ cái gì đó nhưng thẳng:

Chúng ta thấy rõ là chúng ta không có bất kỳ công cụ hay tài nghệ đo lường nào để có thể bảo vệ chúng ta khỏi mọi sai lầm và sự không chắc chắn. Chúng ta có thể sử dụng cùng một suy luận đối với đường cong và đường thẳng. Chẳng cái gì rõ ràng hơn đối với các giác quan ngoài sự khác biệt giữa đường cong và đường thẳng” (Hume 1985 [1739 – 40]: 96 – 99).

Chủ nghĩa thực dụng và bản thể học xã hội – “Những gì hiện hữu có thể chỉ vì chúng ta chấp nhận như vậy”

“Là một nhà triết học, nhưng giữa toàn bộ triết lý của bạn, bạn vẫn là con người” (Hume 1995 [1758]: 18).

Chủ nghĩa thực dụng là một thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp pragma, có nghĩa là “hành động”, từ đó các từ “thực tiễn/practice” “thực hành/practical” của chúng ta ra đời. Theo các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa như David Hume, chúng ta – với tư cách là con người – nên nhớ rằng có ít nhất 2 thực tế trong đời sống con người: thực tế khoa học và thực tế thực sự. Điều này dẫn chúng ta tới chủ nghĩa thực dụng thông thường, vốn là cái được hiểu, về cơ bản, là “cách tiếp cận thực tiễn đối với các vấn đề và các sự vụ” (Từ điển bách khoa toàn thư mới của Webster 1994: 791), nghĩa là như là “một quan điểm hay cách giải quyết mang tính thực dụng” (Pearsall (ed.) 2001: 1456). Trong triết học, nội dung của chủ nghĩa thực dụng có thể được hiểu là một “học thuyết cho rằng, ý nghĩa của một ý niệm phải được tìm thấy trong những vật mang thực tế của nó rằng chức năng của tư duy là dẫn dắt hành động, và rằng chân lý phải được thử nghiệm bởi những kết quả thực tế của đức tin” (Từ điển bách khoa toàn thư mới của Webster 1994: 791); tức là như là “một cách tiếp cận đánh giá tính đúng đắn về ý nghĩa của các lý thuyết hay các đức tin khi chúng được áp dụng thành công vào trong thực tiễn” (Pearsall (ed.), 2001: 1456).

(còn tiếp) 

Người dịch: Thái Hà

Nguồn: Torsti Sirén – “Verum est ipsum factum” – True is what has been made as such – Journal of Military Studies, Vol. 1, No. 1 (2010).

TN 2014 – 12, 13,14, 15 & 16.

Advertisements

Đừng quá kỳ vọng vào Indonesia trong vấn đề Biển Đông


Indonesia, nền kinh tế lớn nhất khu vực Đông Nam Á, đang có nhiều hoạt động để bảo vệ chủ quyền hàng hải tại khu vực Biển Đông có nhiều tranh chấp. Động thái này được coi là nhằm chống lại các hành động gây hấn của Trung Quốc.

Vùng Đặc quyền kinh tế (EEZ) của Indonesia cũng nằm trong phạm vi “Đường 9 đoạn” mà Trung Quốc đơn phương vạch ra. Tuy nhiên, không giống nhiều nước láng giềng, Indonesia chưa từng vướng vào những xung đột âm ỉ đang xói mòn quan hệ nội bộ các nước châu Á hiện nay. Những hành động gần đây của Jakarta cho thấy họ đang khẳng định và củng cố các cam kết bảo vệ chủ quyền trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng bành trướng trong khi vực.

Ngày 14/7 vừa qua, chính quyền của Tổng thống Joko Widodo đã đổi tên vùng biển phía Bắc EEZ nơi có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt dồi dào, thành Biển Bắc Natura. Cùng ngày, quân đội Indonesia cũng ký một biên bản ghi nhớ với Bộ Năng lượng và Tài nguyên Khoáng sản để đảm bảo an ninh cho các hoạt động khai thác tài nguyên trên biển và đất liền. Tờ Jakarta Post dẫn lời Tướng Gatot Nurmantyo khẳng định rằng các hoạt động khai thác ngoài khơi thường xuyên bị “tàu có gắn cờ nước ngoài” làm phiền. Theo CNBC, các tàu mà ông Murmantyo ám chỉ chính là tàu của Trung Quốc.

Ian storey, nhà nghiên cứu kỳ cựu tại Viện Nghiên cứu Chiến lược ISEAS-Yusof Ishak ở Singapore, được CNBC dẫn lời nói: “Đây rõ ràng là hành động nhằm đảo bảo chủ quyền của Indonesia tại các vùng lân cận quần đảo Natuna khỏi sự xâm lược của Trung Quốc, mặc dù Jakarta chưa bao giờ công khai lên án quốc gia này… Hải quân Trung Quốc ngày càng lớn mạnh và hạm đội đánh cá của họ tiến sâu hơn về phía Nam để tìm kiếm nguồn cá. Bởi vậy, Jakarta ngày càng lo ngại, càng quyết tâm bảo vệ nguồn tài nguyên biển của mình”. Theo ông Storey, những thông tin về hoạt động của Indonesia được công bố ngày 14/7 chủ yếu là để trấn an các doanh nghiệp khai thác dầu mỏ và khí đốt đang hoạt động tại các vùng biển ngoài khơi.

Cũng theo CNBC, Trung Quốc có “bảng thành tích” khá dài những lẫn gây cản trở hoạt động của các nước láng giềng ở Biển Đông. Nhà nghiên cứu Collin Koh Swee Lean, hiện làm việc tại Đại học Kỹ thuật Nanyang, bình luận: “Trung Quốc cũng đã nhiều lần gây nhiễu các chiến dịch thực thi luật pháp của Indonesia”. Tuy nhiên, Trung Quốc có lẽ không phải là mối lo ngại duy nhất của Jakarta. Ông Lean nói thêm: “Bản ghi nhớ được ký ngày 14/7 vừa qua là một lời cảnh báo đối với mọi toan tính can thiệp của nước ngoài đối với hoạt động khai thác dầu mỏ và khí đốt của Indonesia, chứ không chỉ nhằm vào một mình Trung Quốc… Indonesia chia sẻ các biên giới hàng hải với nhiều quốc gia ASEAN khác… Tại biển Celebes, Indonesia cũng đang có những tranh chấp chưa giải quyết được với Malaysia về chủ quyền tại vùng Ambalat, nguyên nhân chính dẫn đến những cuộc đối đầu vào năm 2002 và 2009”.

Trang mạng của tờ Straitimes cũng nhận định việc Jakarta công bố bản đồ mới không công nhận “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc đang khiến mối quan hệ vốn không mấy bằng phẳng này tiếp tục trở nên căng thẳng. Straitimes dẫn lời nhà nghiên cứu Evan Laksmana, hiện làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, nói: “Bóng đang ở trong sân của Trung Quốc, Indonesia đã tìm cách khẳng định quan điểm của mình thông qua tấm bản đồ, dựa trên sự nhất trí về ranh giới với Singapore, Philippines và nhất là với phán quyết của Tòa trọng tài hồi tháng 7/2016”.

Chuyên gia về luật Hikmahanto Juwana, thuộc trường Đại học Indonesia, cũng đồng tình với quan điểm này và cho rằng tấm bản đồ mới mà Indonesia công bố là cách để họ khẳng định chủ quyền của mình, và nhấn mạnh rằng Indonesia không hề công nhận “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc, điều cũng từng bị Tòa Trọng tài bác bỏ hồi năm ngoái. Ông Euan Graham, Giám đốc An ninh của Viện chính sách Quốc tế Lowy ở Sydney (Australia), cho rằng động thái này có giá trị biểu tượng lớn, bởi Indonesia đang khéo léo “thực thi phán quyết của Tòa Trọng tài”. Ông nhấn mạnh: “Các sự kiện gần đây có thể là thông điệp gửi tới Trung Quốc rằng các nước Đông Nam Á sẽ không buông xuôi chào thua theo cách mà Trung Quốc trông đợi”.

Nhiều chuyên gia cho rằng những diễn biến gần đây có thể xem là điểm sáng trong nỗ lực kiềm chế sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy nhiên, không hẳn ai cũng có cái nhìn lạc quan như vậy. Trang mạng của Viện Lowy ngày 19/7 vừa đ8ang bài viết của chuyên gia Aaron L. Connelly phân tích về ý nghĩa việc Indonesia đổi tên một vùng biển thuộc EEZ của mình. Theo ông Connelly, dù nhiều người cho rằng những động thái gần đây của Indonesia, trong đó những chuyến thăm căn cứ quân sự của Tổng thống Jokowi, hay những công bố ngày 14/7, cho thấy quốc gia này đang có cách tiếp cận cứng rắn hơn trong vấn đề Biển Đông, song “những động thái này chỉ cho thấy sự cương quyết hơn của Indonesia trên khía cạnh bảo vệ lợi ích kinh tế và chủ quyền xung quanh Natuna, chứ không hẳn là trong cả vấn đề Biển Đông và các hành vi của Trung Quốc”.

Ông cho rằng Indonesia không thực sự muốn nắm vai trò lãnh đạo khu vực bằng việc có những hành động này, bởi bản thân Tổng thống Jokowi cũng không mấy mặn mà với việc thừa kế trọng trách từ người tiền nhiệm Susilo Bambang Yudhoyono, và cũng bởi ông Jokowi hiểu được rằng việc đối đầu trực diện với Trung Quốc sẽ khiến ông khó có thể thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này đối với các dự án cơ sở hạ tầng mà ông đang thúc đẩy. Theo chuyên gia Australia, phản ứng có phần “nhẹ nhàng” của Bắc Kinh sau khi Jakarta tiết lộ tin đổi tên ở biển ở vùng Natuna, cho thấy là Trung Quốc đã thừa biết là việc làm của Indonesia chỉ có ý nghĩa hạn chế.

Theo chuyên gia Aaron L. Connelley, nhà lãnh đạo Indonesia và các cố vấn của mình tin rằng với việc lựa chọn một hướng đi riêng trong vấn đề Biển Đông, họ có thể vừa bảo vệ các lợi ích của mình, vừa tránh làm tổn hại tới triển vọng đầu tư trong nước. Cách tiếp cận này có thể bảo vệ chủ quyền và quyền hàng hải của Indonesia trong ngắn hạn, song thực tế lại không phải là một phương án hiệu quả lâu dài, nhất là khi so sánh quy mô và năng lực ngày càng phát triển của Quân đội Giải phóng Nhân dân và Lực lượng Tuần duyên Trung Quốc với thực lực các hạm đội Indonesia. Hơn thế nữa, ông Connelly nhấn mạnh cách hành xử của Jakarta cũng khó có thể ngăn chặn các hành vi hung hãn của Trung Quốc, điều dường như chưa có điểm dừng khi họ ngày càng trỗi dậy mạnh mẽ.

Ông Connelly cho rằng thay cho rằng thay vì dấn thân vào những cuộc mạo hiểm mới, Indonesia và các nước Đông Nam Á khác cần tập trung vào các biện pháp thực tế, như xây dựng một mặt trận ngoại giao mạnh mẽ để phản đối các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc, nhằm đảo bảo tự do và hòa bình cho khu vực. Không chỉ vậy, các nhà quan sát quốc tế cũng không nên quá vội vã ca ngợi những thay đổi trong việc đặt tên của Indonesia là tín hiệu cho thấy sự cứng rắn và cương quyết của quốc gia này.

Nguồn: TKNB – 24/07/2017

Sự lột xác và quay về loại trừ (bớt) và đưa thêm (thêm) – Phần VI


Sự loại bỏ cái ác là không dễ trong chính sách nội bộ. Như vào năm 705, năm nước chư hầu liên kết lại, như năm hào dương của quẻ, để đánh đuổi chế độ hôn nhân không cưới xin (tức triều đại Võ Tắc Thiên – ND) với thành công là đã tạo ra một đế chế nữ quyền Võ Tắc Thiên (Wu Zetian), người ta có thể tin rằng một trang sử mới đã được thiết lập vĩnh viễn; tuy nhiên, trong thực tế, cháu của Võ Hậu thất bại, Wu Sansi không những giữ vững triều đình mà còn củng cố vị trí khi trở thành người tình của nữ hậu mới: bằng cách cưới con gái của nữ hậu cho con trai mình, tiếp đó ông ta đề ra việc chỉ định con dâu làm “quân vương kế vị” để có thể điều hành mọi việc qua bà ta; nhưng các đại thần trong triều đã ngăn cản ý đồ đó của ông ta, khi ấy ông ta dựa vào “ngũ đại” để lật đổ nữ hậu, thừa hưởng từ đó về sau một uy thế lớn, và trừng phạt; không sủng ái các đại thần nữa. Sự loại trừ mà các đại thần không biết cách theo đuổi đến tận cùng đã kết thúc bằng việc họ bị chống lại. Một ví dụ khác mà Vương Phu Chi vay mượn, lần này, từ lịch sử đương thời: trong những thập niên cuối cùng, hết sức hỗn loạn của triều đại nhà Minh (đầu thế kỷ XVII), một Feng Quan nào đó đã thành công trên con đường triều chính nhờ đặc huệ của ông ta là một hoạn quan. Wei Zhongxien, khi đó cai trị bằng chính sách khủng bố, và phó mặc, trong số các tội ác, sự phao tin sai lạc (Sanchao yaodian) nhằm làm mất uy tín giới học sĩ (Donglin): khi hoàng đế băng hà, loạn đảng nho sĩ nắm lại được quyền lực, không biết đốt đi mọi hồ sơ lưu trữ trước đó, nhưng cuộc thanh trừng được sắp đặt đã không đụng chạm tới Feng Quan là người phải chịu trách nhiệm chính về điều bí mật này; điều bí mật được trông đợi là quá ít, Vương Phu Chi chua chát mỉa mai, bởi Feng Quan, một kẻ cơ hội gặp thời, sẽ tìm lại cái vai trò là hợp tác với quân xâm lược Mãn Châu: ông gánh lấy cho riêng mình cái khó khăn có thể hoàn toàn làm trong sạch.

Cũng cần đọc lại Thoán từ về quẻ này để thấy rõ hơn sự đối địch hết sức nguy hiểm mà ông đã ghi nhận theo như cách hiểu của Vương Phu Chi (rất khác cách hiểu của các dịch giả phương Tây), hình thức mở đầu bằng dấu hiệu “Không khí thỏa mãn và yên tĩnh” (dương với nghĩa dương dương nhi tự đắc) về hào âm cuối cùng trên đỉnh quẻ – vị trí cuối cùng này khi ấy thể hiện bộ phận “tụt hậu” (và do đó, theo tôi là cái bí mật nhất, cái thuận lợi nhất cho các mưu mô) của “cung đình” (bởi thế sự tiếp tục chỉ hào ngũ, hào tương ứng với vị trí thống trị): cũng như nó là âm ở vị trí âm, hào lục là “nằm đúng chỗ”, và nếu như nó có một độ lệch, rất có thể, từ các mưu mô này, độ lệch này giữ yên tĩnh hoàn tòa, dò xét mọi người qua lại trong triều… Như vậy, đối mặt với cái “nghiêm trang” của tình huống, với tất cả mọi hào đều dương, được “liên kết” với nhau, không quên “kêu gọi lẫn nhau”. Trong thực tế, chúng chỉ có khả năng khác là “cảnh báo” lẫn nhau để luôn cảnh giác đối với “lãnh địa riêng của chúng”. Bởi thế nó không “tiện lợi” cho chúng khi đi đến “đối đầu” sớm (chống lại địch thủ này được thể hiện bằng hào âm được rút ra ở đỉnh); nhưng cũng như trường hợp của quẻ trước đó (quẻ Phục); nó là thuận tiện cho các hào dương tiếp tục “tiến lên phía trước”; bởi vì nếu dương đi theo con đường của nó – cũng là con đường đúng đắn – và không ngừng được củng cố, nó sẽ đạt tới một ngày nào đó mà hành vi suy thoái của âm (chắc chắn không phải chính bản thân âm, mà sự lạc đường đi ra ngoài sự kiểm soát của dương), sẽ kết thúc bởi bị bắt “dừng lại” và “bị phá hủy”.

Chờ đợi sự sụp đổ này, năm hào dương của quẻ gặp khó khăn trong việc loại trừ bằng cách phân rã như qua một lăng kính, các hình thái khác biệt này. Khó khăn này giữ, như cấp độ của hào sơ hay hào tam, vị trí bị chiếm. Trường hợp hào sơ, ở cơ sở của quẻ, “sức mạnh” tiếp nhận được hãy còn rất yếu ớt (nó chỉ được phản ánh với mức độ “một ngón chân cái” qua lời hào từ), nhưng bởi vì hào này là dương trong vị trí dương và tính toán để tích lũy từ dương nằm trên nó, nó vội vàng đi tới thực hiện áp lực chống lại âm, để bài xuất nó: nó không chỉ đạt tới điều đó mà con hơn thế “lưỡi gươm của dương còn bị bẻ gãy”, Vương Phu Chi ghi nhận, trong khi đó vị trí của âm, tại đỉnh, lại được củng cố. Điều không thể thiếu để đạt tới mỗi lần khi mong muốn đương đầu với bọn người sâu mọt khi ấy và vị thế xã hội riêng tư không đủ để nâng mình hoặc giả bước tiến đạo đức chưa đủ; tương tự khi các tín đồ đạo Phật hay đạo Lão, Vương Phu Chi nói tiếp, muốn ngăn chặn con đường của các khát vọng trần thế, nhưng khi đó khả năng của họ hãy còn hạn chế và sự minh triết của họ là “thô tục”, điều đó chỉ dẫn tới “các trật tự hỗn loạn”. Còn với hào tứ, vị trí của nó không mang lại một sự suy đoán tương tự, mà nó đưa tới sự lo ngại về một sự thỏa mãn từ phía nó đối diện với hào âm (ở vị trí thứ sáu mà nó tương thích); cần phải đưa ra ở đây một sự phản ánh nhằm làm tiêu tan mọi nghi ngại (về thân bại danh liệt): “sức mạnh” được đưa ra lúc đó ở cấp độ “kẻ bất tài”, chỉ sự phán xét, và có nguy cơ gây nên sự hận thù của bọn tiểu nhân mà “sức mạnh” này phản kháng lại, lúc đ1o không thiếu cái “hung”, Vương Phu Chi minh họa trường hợp này bằng câu chuyện về Zhou Yi (đầu thế kỷ IV) người, mặc dầu gắn bó với gia đình Wang Dun (ông ta được Wang Dun bảo trợ hoàn toàn và chính ông là người cứu Wang Dao, cha của Wang Dun) đã thề phải chứng minh chừng nào có thể tính cố chấp khi Wang Dun tham gia bạo loạn chống triều đình và bị giết. Giữa hai bờ này, hào nhị xuất hiện như là sự cân bằng và vì nó là “cảnh giác” đối với cả chính nó và, hơn thế, nó “kêu gọi” những hào khác để báo động cho chúng, nó không còn “phải lo sợ” các “cuộc tấn công” mà âm có thể bất ngờ chống lại nó (tương tự như một tên cướp “rơi tõm vào đêm đen” bởi vì nó không phải là sự tương thích đều đặn). Tuy nhiên Vương Phu Chi kết luận, hào này là hào duy nhất ở trong lòng của các hào “thu được thắng lợi” “thỏa mãn với những gì đã đạt được và không thể bận tâm tới sự không loại trừ của âm”: từ đây, ta kiểm tra thấy rằng với quẻ của “sự loại trừ” này; sự loại trừ, trên thực tế, không đạt được sự thành công.

Bởi chính hào tứ và hào ngũ không thể đẩy xa hơn sự loại trừ mong muốn – nhưng bằng một lí do khác: sự cám dỗ của chúng, khi tiếp cận gần với hào âm, để cho sự xác định của chúng bị yếu đi, để bị quyến rũ bởi hào này (So sánh qua quan hệ với giá trị biểu trưng của các quẻ đơn: khi mà quẻ Càn, thể hiện tính kiên trì tiến lên phía trước, còn quẻ Đoài, thể hiện sự đồng thuận trọng thể và của sở thích). Như vậy được tiến về phía trước đạt tới “sự lưỡng lự và nặng nhọc” ở hào tứ (như thể nó không còn là “tấm đệm để ngồi”) và còn nguy cơ thiếu đi sự xác định cần thiết ở hào ngũ (như là “con cừu” – biểu tượng của quẻ Đoài – đang gặm cỏ trên “cao nguyên” và nơi đó là tốt nên nó không vội vã, tiến lên trước bất chấp mọi lời cảnh cáo. Hào cuối cùng này, trong thực tế, là “người chịu trách nhiệm” cho sự bài xuất của nó, bởi vì nó ở rất gần âm; Bởi thế nếu nó “không mắc lỗi” vì nó thành công, nhờ vị trí ở trung tâm trong lòng quẻ đơn này, không bị “mềm yếu” bởi âm, nó thiếu đi quyết định đúng đắn giúp nó “tỏa sáng”.

Cuối cùng cũng đạt đến sự phá vỡ “không một tiếng kêu” ở hào lục. Vương Phu Chi làm nổi bật nó một lần nữa bằng ví dụ lịch sử, ví dụ về Xu Da, vượt qua nhiều chiến dịch, dẫn đầu quân đội Trung Hoa, tại ngoại ô Bắc Kinh (năm 1368): các thủ lĩnh Mông Cổ tận dụng đêm tối để chạy trốn và Trung Hoa được giải phóng. Sự minh triết, trong triển vọng loại trừ, là lôi kéo tất cả các lực lượng về mình và đồng thời nó “chờ đợi” các kho báu mà kẻ hưởng thụ đã kết thúc bằng “sự khánh kiệt”. Bởi vì, nếu không, ta luôn luôn phải sợ rằng kẻ khác ở phía dưới sẽ lọt được vào một lần nữa.

V/ Dự phòng sự rủi ro luồn lách ngay từ trong lần gặp đầu tiên (Quẻ Thiên Phong Cấu – số 44)

Quẻ cuối cùng của loạt quẻ này, quẻ Cấu (số 44) được tạo thành từ một hào âm xuất hiện dưới sự tích lũy của các hào dương. Thể hiện sự rủi ro khi dương gặp gỡ với âm, hào âm này bắt đầu luồn lách dưới nó. Sự nguy hiểm của một sự luồn lách, nổi lên từ cơ sở của quẻ, tạo ra ở đó sự đảo ngược cần thiết của sự loại trừ được phản ánh tại đỉnh của quẻ trước đó (quẻ Quái – số 43): với bấy nhiêu sự luồn lách mở đầu một cách dễ dãi thì có chừng ấy sự loại trừ tiếp theo từ sự luồn lách này, như ta thấy, là khó để kết thúc (hoàn thành). Đồng thời, quẻ về sự luồn lách này, vốn là quẻ cuối cùng trong cặp hai quẻ được xem xét, cung cấp điểm xuất phát từ đó quẻ đầu của bốn quẻ này, quẻ Bác, chỉ sự “lột xác” (số 22), cho phép nhìn thấy kết quả: khi luồn lách một cách kín đáo từ cơ sở của quẻ, hào âm bắt đầu con đường hướng lên trên dẫn tới sự “lột xác” dần dần của dương. Vì thế, ta chấp nhận nó theo cách tốt nhất về những gì mà quẻ luồn lách này trái ngược với trường hợp, theo cách tương đồng, được thể hiện, trong một cặp quẻ khác, sự “trở về” của dương (quẻ Phục – số 23): trong khi mà, ở trường hợp cuối cùng này, sự xuất hiện của dương ở cơ sở của quẻ tạo thành sự rung động kích hoạt nhờ đó tiến trình vận hành của thực tại (hoặc của ý thức đạo đức) phải đi theo mọi sự mở rộng của nó, sự xuất hiện của âm ở cơ sở tại quẻ này thể hiện chặng đầu tiên của sự xuyên thấm mà kết quả suy thoái sẽ lan ra sau đó, bằng luồn cúi, dẫn tới đe dọa toàn cục.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: François Jullien – Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về kinh dịch – NXB ĐN 2007.

Nguyên do học lịch sử và triết lý sử học – Phần II


7 – LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI LÀ TÍCH LŨY ĐƠN THUẦN, CŨNG KHÔNG PHẢI LÀ TẤT YẾU TUYỆT ĐỐI

Nếu những khám phá khoa học có thể nối đuôi nhau bất kể theo thứ tự nào, thì các khoa học sẽ chỉ có một thứ ký biên niên (annales) chứ không hề có lịch sử: bởi vì nội dung của sự siêu việt của lịch sử so với biên niên là nó cho một sợi chỉ dẫn đường, nhờ đó người ta có thể nắm bắt một số khuynh hướng tổng quát, và tuy chúng không loại trừ kiểu thay đổi thất thường của ngẫu nhiên trong những tình cờ chi tiết, về lâu về dài các khuynh hướng này sẽ thắng thế, bởi vì chúng thoát thai từ cái thường xuyên và tinh yếu nhất trong bản chất của sự vật. Trong giả thuyết cực đoan sau, khi một khám phá nhất thiết phải dẫn đến cái khác, và khám phá thứ hai này cũng lại tất yếu phải đưa đến cái thứ ba, theo một trật tự được quy định một cách lôgic, thì thật ra cũng sẽ không có lịch sử khoa học đúng nghĩa, mà chỉ có một bảng niên đại (table chronologique) những khám phá: phần đóng góp của cái ngẫu nhiên sẽ bị rút gọn vào việc nới rộng hoặc thu hẹp khoảng thời gian từ phát hiện này tới khám phá khác. Điều may mắn cho quan tâm lịch sử là cả giả thuyết cực đoan trước lẫn cái sau đều không thể được chấp nhận; tuy nhiên, khi các công trình khoa học ngày càng được tổ chức, khi số lượng người nghiên cứu ngày càng tăng, khi các phương tiện thông tin liên lạc giữa họ với nhau ngày càng hoàn hảo, thì rõ ràng là ta tiến gần hơn tới giả thuyết thứ hai; ở đây, do sự loại bỏ hầu như hoàn toàn cái ngẫu nhiên, các khoa học sẽ thực sự thoát ra khỏi cái mà ta có thể gọi là thời kỳ lịch sử[8].

8 – LỊCH SỬ CHÍNH TRỊ VÀ LỊCH SỬ CÁC KHOA HỌC

Có nhiều lý do khiến cho phần tham dự của yếu tố ngẫu nhiên luôn luôn là lớn hơn trong lịch sử chính trị so với lịch sử của các khoa học:  tuy nhiên, ta có thể quan niệm rằng phần này sẽ phải giảm dần, khi sự quan trọng của các vĩ nhân cũng lần hồi nhạt nhòa trước sự tham dự và tỏa sáng của tất cả mọi người – nghĩa là khi các thế lực có số lượng và kích thước dần dần chiếm ưu thế ở khắp nơi trên trên những cảm xúc và đam mê, vốn là những hứng khởi ngẫu nhiên hơn, ít bền vững hơn. Vào thời xa xưa, trước khi những con người hùng vĩ đã sáng lập ra nền văn minh của các dân tộc xuất hiện, thì những dân tộc này chưa hề có lịch sử, không chỉ vì họ thiếu những sử gia, nhưng bởi vì dưới khối ảnh hưởng của các thứ lực bản năng mà quần chúng tuân theo, những điều kiện để lịch sử (theo nghĩa chúng ta hiểu) xuất hiện là hoàn toàn thiếu vắng. Nếu không có gì chặn đứng nền văn minh nói chung trên bước đường phát triển tiệm tiến của nó, thì ở một thời điểm nào đó cũng phải đến thôi, các quốc gia sẽ chỉ còn có báo chí thay vì lịch sử, và có thể nói là thế giới văn minh sẽ bước ra khỏi thời kỳ lịch sử8, và sẽ không còn chất liệu gì cho những Hume, Macaulay, Titus Livius hay Tacitus[9] tác nghiệp cả, trừ phi trở đi trở lại trên một quá khứ xa xăm.

Lịch sử chính trị (và cũng phải nói như thế về lịch sử của ngôn ngữ, tôn giáo, nghệ thuật và các định chế dân sự) còn khác với lịch sử của các khoa học ở một điểm quan trọng nữa. Chúng ta có thể nói rằng trong các khoa học mà đối tượng, trong tất cả những nét thiết yếu của nó, tồn lưu độc lập với sự cấu tạo và những phát minh của tinh thần con người, thì không có gì tùy thuộc vào tính thất thường hoặc thị hiếu đặc biệt của người phát minh, vào sự tình cờ của những phát hiện khoa học hay vào trật tự liên tiếp của những khám phá, lại có thể tồn lưu vô thời hạn. Vì được đặt trên bản chất của sự vật, điều tốt nhất rốt cuộc rồi cũng phải luôn luôn được nhận ra, và sớm được đặt vào vị trí hiển nhiên không thể chống đối. Ngược lại, trong trình tự sự kiện chính trị xã hội, cũng như trong trình tự sự kiện tự nhiên, cái mà nguồn gốc tùy thuộc vào loại tình huống ngẫu nhiên có thể để lại những dấu vết luôn luôn còn tồn tại, hay thậm chí chế ngự toàn bộ chuỗi biến cố tiếp theo như trong các ván xúc xắc hay cờ vua, như thể nó là một dữ kiện tự nhiên, có bản chất không bao giờ thay đổi và thoát khỏi quyền lực con người. Vì sao sao Mộc lại có bảy mặt trăng thay vì sáu? Tại sao bán cầu bắc của ta lại cho thấy nhiều vùng đất nhô lên hơn là ở nam bán cầu? Tại sao bộ răng của loài bốn tay ở [lục địa mới] Mỹ châu lại có 4 răng nhiều hơn loài bốn tay ở lục địa cũ [châu Âu]? Có lẽ chỉ là chuyện tình cờ thôi: nhưng hậu quả của những ngẫu nhiên tương tự có thể tồn lưu cũng lâu dài như thế giới này. Đối với loại thiết chế nhân sự cũng thế; và vì vậy, nhất là trong lịch sử chính trị, có những khoảnh khắc nghiêm trọng, mang tính quyết định như ta vẫn nói, và tuy không phải lúc nào cũng là tụ điểm của những quan tâm bi hùng nhất hay kích thích sự tò mò của kẻ góp nhặt giai thoại nhất, chúng luôn luôn là những thời điểm phải thu hút ưu tiên sự chú ý của triết gia, nếu họ muốn nghiên cứu về nguyên do học lịch sử.

9 – GIẢI THÍCH SỬ HỌC PHẢI TỰ BẰNG LÒNG VỚI NHỮNG XÁC SUẤT

Thật vậy, một mặt, triết gia bị ràng buộc bởi thiên chức vào việc tìm hiểu lý do của mọi sự vật; mặt khác (như được chỉ ra bởi từ aïtia, nguyên nhân, lý do), nguyên do học lịch sử bao gồm việc nghiên cứu và thảo luận về các nguyên nhân mà sự kết chuỗi tạo thành cái nền của lịch sử. Nhưng ta phải đồng ý về các loại nguyên nhân đã[10]. Một tướng lãnh quân đội bỗng đau yếu đúng vào ngày phải ra trận sau một cảm giác khó chịu nào đó mà chỉ kẻ hầu cận của ông ta mới biết tại sao, hoặc một quyết định quan trọng đã được chính phủ thông qua như thế nào sau một âm mưu sa-lông nào đấy chẳng hạn, đều thuộc loại nguyên nhân được giới săn giai thoại ưa chuộng, đồng thời cung cấp thêm cho các nhà đạo đức một cơ hội bàn ra tán vào về sự yếu đuối và khốn khổ của con người, nhưng chúng không xứng đáng chút nào với nguyên do học lịch sử hay triết lý sử học, như chúng tôi hiểu. Trong hoàn cảnh nào thì chỉ cần sự can thiệp của một ngẫu nhiên thất thường cũng đủ để thay đổi hay hủy hoại cả một chuỗi biến cố dài? Trong hoàn cảnh nào khác thì một kết quả tất yếu không thể tránh né sẽ xảy ra, vì ở đó những dữ kiện tinh túy của tình thế cuối cùng đã thắng thế, vượt lên mọi tai nạn bất ngờ? Đó mới là mối bận tâm, chúng tôi không nói là của khoa học lịch sử, bởi vì sự chứng minh khoa học không phải là món đặt cược ở đây, nhưng của triết lý sử học, cái bị bắt buộc phải tự bằng lòng với những loại suy, quy nạp, tức là với phép tính xác suất, như mọi thứ triết lý khác – dù phải sử dụng nó một cách thận trọng và tỉnh táo mà sự nghiêm túc của chủ đề đòi hỏi. Khi thảo luận về điều trị y học, trong một số trường hợp, ta sẽ không ngần ngại quy sự phục hồi hoặc tử vong của bệnh nhân cho liệu pháp, mặc dù có thể chẳng bao giờ có được bằng cớ chứng minh rằng bệnh nhân sẽ chết hay sẽ được chữa lành bệnh nếu, hoặc theo một liệu pháp khác, hoặc không theo bất kỳ lối trị liệu nào. Đối với nguyên do học lịch sử chỉ vừa mới ra đời, dám tự đưa ra một sự so sánh nào đó với bệnh căn học, vốn được trau dồi từ rất lâu, đã là quá nhiều.

10 – GIẢI THÍCH SỬ HỌC: TÌM LÝ DO HƠN LÀ NGUYÊN NHÂN 

Nếu muốn bám sát tính chính xác của ngôn ngữ, ta phải nói rằng nguyên do học hay triết lý sử học tìm hiểu lý do của sự kiện hơn là nguyên nhân của sự kiện2,10. Bởi vì ý tưởng nguyên nhân hàm chỉ một hành động, một động lực có năng lượng riêng của nó; nhưng những gì công việc phê phán sử học phải làm nổi bật lên lại thường là các kháng cự thụ động, những điều kiện về cấu trúc và hình thức, về lâu dài và trong toàn bộ các biến cố, sẽ chiến thắng các nguyên nhân đúng nghĩa, những gì đã can thiệp bằng phương thức riêng của mình vào việc sản sinh ra mỗi biến cố cụ thể đặc thù. Nếu sau nhiều lần ném xúc xắc mà con át vẫn xuất hiện thường hơn các con số khác, thì đấy là dấu hiệu có sự bất thường trong cấu trúc và sự phân bố của cả khối con thò lò, điều duy nhất có thể giải thích tần số được quan sát, nhưng do quán tính vật chất của con xúc xắc, nó chỉ can thiệp một cách thụ động, và do đó không phải là một nguyên nhân theo nghĩa chặt chẽ của từ nàyNếu ta cứ dùng từ nguyên nhân ngay cả trong trường hợp đó, và nói rằng sự bất thường về cấu trúc nói trên đã tác động trong chiều hướng thuận lợi cho sự xuất hiện của con át, thì đấy chỉ có thể là một trong những ẩn dụ hoặc chuyển tiếp mà chúng ta đã tìm đủ mọi cách trục xuất ra khỏi ngôn ngữ nhưng vô vọng. Thực ra, ta sẽ loại bỏ như tình cờ và ngẫu nhiên, hay như xa lạ với đối tượng nghiên cứu, tất cả những gì liên quan đến hành động của các nguyên nhân đúng nghĩa, nghĩa là của những xung lực cứ mỗi lần lại biến thiên về cường độ và phương hướng một cách thất thường.

11 – GIẢI THÍCH SỬ HỌC PHẢI KHÔNG TỰ GIỚI HẠN VÀO LỊCH SỬ CHÍNH TRỊ  

Tương tự như vậy, … Nếu có thể so sánh trái núi với con chuột[11], thì các nhân vật được mời gọi xuất hiện trên sân khấu lịch sử (lịch sử như thường được hiểu và như ta phải hiểu), quốc vương, chiến tướng, nhà hùng biện, lập pháp, ngoại giao, đều có vai trò tích cực, đều can thiệp trong danh nghĩa nguyên nhân hiệu năng (causes efficientes)[12] vào việc xác định mỗi sự kiện rời rạc. Họ chiến thắng hay thua trận, họ kích động hoặc đàn áp những cuộc nổi dậy, họ thảo ra luật lệ và các thỏa ước, họ xây dựng và phê chuẩn các hiến pháp. Và vì chính họ đã bước lên sân khấu sau những dàn xếp chính trị, nên trước tiên có vẻ như chính trị đã tạo ra và dẫn dắt tất cả các phần còn lại. Tuy nhiên, trong tất cả các lĩnh vực lịch sử, chính trị sử rõ ràng là nơi xảy ra nhiều ngẫu nhiên, tình cờ và bất ngờ nhất: đến nỗi mà đối với các triết gia «xem thường sự kiện» (những kẻ chẳng quan tâm gì đến cái tình cờ và cái ngẫu nhiên, cho dù vì sao băng có tỏa sáng cỡ nào, vụ nổ bom có vang dội đến đâu), toàn bộ sử học cũng rơi vào cùng một nguy cơ bị khinh thị như các trò cuồng ngông của chính trị, nếu không chỉ có nhiều biểu hiện bên ngoài hơn là hiện thực trong sự dẫn dắt lịch sử bởi chính trị như một thứ bánh xe chủ đạo này, và nếu ta không phân biệt giữa nguyên nhân của những sự kiện (cái thất thường của người đời) với lý do của các biến cố (thứ rốt cuộc sẽ thắng thế trên cái thất thường của số phận và của con người). Một hoàng tử yếu đuối như món đồ chơi yêu thích trong tay tình nhân hoặc sủng thần thì cũng chẳng khác gì con xúc xắc mà một làn gió có thể xáo lộn các vòng lăn; nhưng nếu tên của ông ta là Louis XV hoặc Charles IV[13], thì phán quyết về triều đại của ông đã được viết ra, cho dù những trò đồng bóng của tình nhân hay sủng thần lúc đó làm nghiêng ý chí bệnh hoạn của ông ta về hướng nào.

Chính vì vai trò lớn hơn của ngẫu nhiên trong kết cấu dọc ngang của những biến cố chính trị, mà chính trị luôn luôn đứng sau và hầu như là thứ yếu trong phác thảo về phê phán sử học hay nguyên do học lịch sử này, trong khi nó luôn luôn dẫn đầu như đối tượng chính yếu của sử học trong thuật ký sử kiểu thường[14].

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Văn Khoa

Nguồn: Antoine-Augustin Cournot, Considérations sur la marche des idées et des événements dans les temps modernes (Cân nhắc về bước tiến của những ý tưởng và sự kiện trong thời hiện đại) Paris: Hachette, 1872, q. 1, ch. 1.

http://www.ired.edu.vn/vn/tu-lieu-giao-duc/ChiTietTin/136/nguyen-do-hoc-lich-su-va-triet-ly-su-hoc

[8] Nếu thời tính và sử tính không trộn lẫn vào nhau, thì sự tồn tại của các xã hội  người trong thời gian có thể bao gồm cả những yếu tố phi lịch sử (anhistorique), hay chỉ ít nhiều có sử tính, tùy theo thời tính của chúng có mang lấy một hình thức rõ rệt và bền vững không, hoặc tự thu mình thành một thứ biên niên hay niên đại thuần túy. Nói cách khác, theo Cournot, không phải mọi lĩnh vực xã hội đều phát triển theo cùng một nhịp, mà hơn nữa, lịch sử theo nghĩa ông hiểu (và gọi là thời kỳ lịch sử = phase historique) chỉ là một thời đại trong sự phát triển của loài người.

Với sự phân biệt hai thời đại – lịch sử và phi lịch sử mà ông gọi là «hậu lịch sử» (posthistoire) – này, vô hình trung Cournot đã góp mặt vào cuộc tranh luận phức tạp và đa nghĩa đã kéo dài từ Hegel đến Francis Fukuyama, về «sự kết thúc của lịch sử». Nhưng trước hết, ở Cournot, «hậu lịch sử» không phải là một tiên đoán khoa học, mà chỉ là một tin tưởng mang tính «xác suất triết lý» (probabilité philosophique – khi không thể dùng thống kê, «xác suất triết lý» là thứ phán đoán của lý trí qua đó ta có thể cân nhắc mức độ phù hợp của các tin tưởng của ta với hiện thực; nó thay đổi theo hiểu biết của kẻ phát biểu), và như một xu hướng hơn là một hiện thực.

Mặt khác, từ «kết thúc» ở đây cũng không phải là một điểm dừng vĩnh viễn, nó chỉ đơn giản là đặt thời đại của ta như giai đoạn cuối của lịch sử loài người, khi những sinh lực trong xã hội (bản năng, nhiệt tình, đam mê) rơi vào một trạng thái đờ đẫn, dẫn tới sự phục tùng tiệm tiến loại nguyên tắc tổ chức cố định (kinh nghiệm, luật lệ, tính toán, hợp lý hóa…). Người ta thường cho rằng, để có lịch sử: phải có sự thay đổi, có ý thức về sự thay đổi đó, và ý thức này phải chủ yếu quay về đối chiếu với quá khứ; và để có thay đổi: phải có biến cố, phải có một cái gì mới, cái mới đó phải đơn nhất và đặc biệt, phải khó dự đoán và bàng bạc không nơi chốn nhất định. Ở đây, con người tưởng mình đang tiến lên, nhưng thật ra chỉ giẫm chân tại chỗ; ở đây, lịch sử và sử học sẽ nhường chỗ cho thời sự và báo chí. Hình ảnh thường được dùng để minh họa phần nào ý tưởng «hậu lịch sử» của tác giả là chiếc xe đạp đổ, dù bánh xe tiếp tục quay bao lâu đi nữa, chiếc xe vẫn không di chuyển, vì bánh xe không còn bám lên mặt đường. Dù sao, «sự kết thúc của lịch sử» là một đề tài phổ biến và quen thuộc của giới triết gia và sử gia Âu châu ở thế kỷ XIX. Xem thêm ở cc10. NVK

[9] Bốn sử gia nổi tiếng, hai của nước Anh trong thế kỷ thứ XVIII (Hume, Macaulay) và hai của thời La Mã cổ đại (Titus Livius, Tacitus).

[10] Triết lý sử học của Cournot được đặt trên hai nguyên lý, một mang tính phương pháp (dựa trên sự phân biệt nguyên nhân với lý do), và một mang tính biểu tượng (dựa trên nhận thức rằng xã hội con người vừa là sinh thể = organismes, vừa là cơ chế = mécanismes).

Về nguyên lý thứ nhất, Cournot xác định rằng vai trò của nguyên do học lịch sử  là, giữa vô vàn sự kiện và biến cố đã tác động lên sự tiến hóa của xã hội, phát hiện ra và phân cấp, đâu là nguyên nhân tình cờ hay hời hợt, đâu là lý do sâu xa, đâu là sự kiện thống trị, đâu là tiểu tiết ngẫu nhiên,… đã định ra cái xu hướng tiến hóa tổng quát, đã tạo nên cái dáng dấp (allure) chung của một thời kỳ. Mọi sự kiện, biến cố lịch sử, do đó, sẽ được sắp xếp theo mức độ tổng quát, và tầm ảnh hưởng của chúng đối với phần còn lại.

Về nguyên lý thứ hai, mặc dù dùng mô hình sinh học để nghiên cứu xã hội, Cournot chỉ quan tâm đến khía cạnh động của nó, và xem mọi hiện tượng xã hội (ngôn ngữ, tín ngưỡng, truyền thống, tập quán…) như những biểu hiện của một năng lượng sống – một thứ bản năng bộc phát để tự tổ chức và bảo tồn của cá thể và giống loài, nhằm đối phó với những gì cản trở hành động của chúng. Như vậy, Cournot phân biệt hai dạng thức tồn tại và phát triển của hiện tượng xã hội, với xu hướng là phần cơ chế (tác động của những sản phẩm khoa học, kỹ thuật, công nghiệp, những thành tố của nền văn minh cơ giới và vật chất, hướng về sự ổn định hóa và đồng nhất hóa) sẽ dần dần đạt ưu thế trên phần sinh động. Đấy chính là khuynh hướng toàn cầu hóa của nền văn minh xuất phát từ Âu châu. Xem thêm ở cc8. NVK

[11] Trong nguyên bản: Si magna licet componere parvis Si l’on peut comparer les grandes choses aux petites = Nếu  ta có thể so sánh những vật lớn với vật nhỏ. NVK

[12] Cournot còn có một quan niệm và quy chiếu  khác về những «cá nhân vĩ đại». Xem thêm, ở đây: A. A. Cournot, Lịch sử, «sàn diễn của những cá nhân vĩ đại».

[13] Charles IV (tv 1322-1328, vua cuối cùng của triều đại Capet trực tiếp) và Louis XV (tv 1715-1774, vua cuối cùng của nhà Bourbon) đều là hai vị vua mà số phận hầu như đã được định trước là sẽ tiêu vong cùng với triều đại của dòng họ, do sự yếu đuối của bản thân và các tình huống vượt khỏi khả năng đối phó của mỗi người, hơn là do sự lũng đoạn của vài kẻ thân cận, sủng thần hay ái phi.

[14]  Lịch sử chính trị là bộ phận sử học được triển khai nhiều nhất ở Âu châu (suốt từ tk thứ V tCn đến đầu tk XX sCn, và đôi khi rất chính thống), với các đặc tính sau: xoay quanh hai thực thể, hoặc thế quyền (nhà nước, quốc gia), hoặc thần quyền (nhà thờ); tập trung trên loại cá nhân xuất sắc được Cournot liệt kê ở trên; được trình bày như những chuỗi biến cố nối tiếp nhau; với mục đích là giáo dục kẻ lãnh đạo về kinh nghiệm chính trị.

Chỉ từ tk Khai Sáng, thứ sử học chật hẹp này mới bước đầu bị phê phán – nhất là ở Pháp từ 1789 trở đi, nhờ những quan điểm phát sinh từ đòi hỏi diễn giải mọi biến cố trước và sau cuộc Cách mạng. Tuy rằng qua ngả đó, chính trị sử đã được mở dần sang nhiều lĩnh vực khác (ngoại giao, xã hội, kinh tế, văn hóa), vào thời Cournot, lịch sử chính trị vẫn giữ được ưu thế nhờ «trường phái phương pháp (école méthodique)»* với ảnh hưởng hiển nhiên của chủ nghĩa thực chứng đương thời vẫn còn ở thế áp đảo.

Chỉ từ 1930 trở đi, với sự ra đời của tạp chí và trường phái Annales*, nền sử học ở Pháp mới thực sự mở dần sang mọi lĩnh vực học thuật, theo từng bước phát triển của trường phái này. Từ tk XX, có thể xem như sử học đã lột xác hoàn toàn tại mọi quốc gia văn hóa lớn, với những đổi mới về quan điểm, thời gian, chủ đề, và cả về phương pháp, dụng cụ nghiên cứu. Tuy nhiên, nhận định trên của Cournot vẫn còn đúng ở một số quốc gia khác, nơi chẳng những người ta không cải cách nổi lối viết và học sử, mà còn có xu hướng biến quốc sử thành tiểu thuyết lịch sử vì mục đích chính trị, với hậu quả tai hại là chẳng còn ai tin sử, học sử nữa cả. NVK.

Việt Nam và câu chuyện về hai kỳ APEC – Phần cuối


Đánh cược lớn của Việt Nam về FTA là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), mà đem lại cho nước này thuế quan ưu đãi cho hàng xuất khẩu sang Mỹ, thị trường lớn nhất của Việt Nam. Mặt khác, Việt Nam chỉ có thể có được điều này thông qua một FTA song phương giữa nướ này và Mỹ, điều rất khó đạt được. Vì vậy, Việt Nam đã nhất trí với cam kết về các doanh nghiệp nhà nước, quyền của người lao động và các vấn đề nhạy cảm khác. Điều không may là với việc cả 2 ứng cử viên tổng thống Mỹ đều phản đối TPP trong chiến dịch tranh cử năm 2016, và việc Mỹ cuối cùng rút khỏi TPP dưới thời Tổng thống Donald Trump, thỏa thuận này cũng đã mất đi sức hấp dẫn đối với Việt Nam. Không có mong muốn lớn nào tại Việt Nam tiếp tục theo đuổi một TPP không có Mỹ, do Việt Nam có FTA với hầu hết các bên tham gia khác trong TPP, và các nước khác, chẳng hạn như Canada và Mexico, không phải là những thị trường lớn hay hấp dẫn. Ngoài ra, bất chấp đồn đoán ban đầu về việc Mỹ theo đuổi các FTA song phương trong khu vực, Washington vẫn chưa đưa ra một sáng kiến kinh tế thay thế nào cho khu vực.

Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), một FTA khổng lồ khác trong khu vực, sẽ bao trùm nhiều hoạt động thương mại và đầu tư hơn so với TPP, và qua đó vẻ bề ngoài thể hiện bản thân nó như là một giải pháp thay thế. Tuy nhiên, cho dù RCEP hứa hẹn bao trùm nhiều chủ đề tương tự như của TPP, chẳgn hạn như mua sắm Chính phủ, RCEP không có ý định thiết lập mức độ cam kết tương tự trong văn bản của nó. Các cuộc đàm phán trong RCEP cũng liên tục bị sa lầy vì cho dù tất cả các bên tham gia RCEP đều có FTA với ASEAN, họ không nhất thiết có FTA với nhau, như trường hợp của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ. Vì vậy, việc giải quyết trước tiên các vấn đề FTA đối với các bên tham gia RCEP này đã trì hoãn các cuộc đàm phán vượt quá khung thời gian hiện tại của chúng và đe dọa “làm loãng” các cam kết pháp lý tiềm tàng của thỏa thuận RCEP cuố cùng.

FTA giữa Việt Nam và EU đã được ký kết thành công, nhưng nó phải đối mặt với một tiến trình phê chuẩn kéo dài. Một số sự trì hoãn bắt nguồn từ một tranh cãi pháp lý của châu Âu thách thức thẩm quyền pháp lý của các thể chế EU đàm phán các FTA. Với việc thách thức pháp lý này liên quan tới FTA giữa EU và Singapore đã kết thúc, FTA giữa EU và Việt Nam vẫn phải đối mặt với một cuộc chiến phê chuẩn giữa các nước thành viên EU. Tiến trình này có thể chứa đựng nhiều rắc rối, như kinh nghiệm gần đây về việc một chính quyền địa phương tại Bỉ đã đẩy Thỏa thuận kinh tế và thương mại toàn diện Canada – châu Âu vào tình thế rủi ro đã cho thấy. Cuối cùng, việc Anh sắp rời khỏi EU đồng nghĩa với việc một số điều khoản trong FTA giữa EU và Việt Nam sẽ phải được sửa lại để phản ánh sự ra đi của Anh, và Việt Nam sẽ được tiếp cận để đàm phán một FTA riêng giữa Anh và Việt Nam.

APEC 2017: Các cơn bão chống toàn cầu hóa đã vươn tới quê nhà

Các áp lực chống toàn cầu hóa đối với Việt Nam không chỉ được cảm nhận tại các thị trường ngoài nước của nước này, mà còn ở quê nhà. Trong phần lớn lịch sử của mình, các quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam đã bị Trung Quốc, nước láng giềng khổng lồ ở phía Bắc, chi phối. Việt Nam và Trung Quốc từ lâu đã có một mối quan hệ đi từ yêu sang ghét và ngược lại, và hiện tại cũng không có gì khác biệt.

Dĩ nhiên, việc Trung Quốc xây dựng căn cứ quân sự trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) ảnh hưởng lớn đến quan hệ Trung – Việt hiện nay. Người Việt Nam vẫn rất nhạy cảm với sự mở rộng đang tiếp diễn của Trung Quốc tại khu vực tranh chấp. Khi Trung Quốc đưa một giàn khoan di động vào vùng biển Việt Nam tuyên bố chủ quyền năm 2014, những cuộc biểu tình dữ dội chống lại Trung Quốc đã nổ ra ở Việt Nam.

Tuy nhiên, quan hệ Trung – Việt cũng bị ảnh hưởng bởi các vấn đề thương mại và đầu tư thông thường hơn. Theo số liệu thống kê thương mại của Liên hợp quốc, giống như hầu hết các nước khác, Trung Quốc là nguồn hàng hóa nhập khẩu lớn nhất vào Việt Nam và có thâm hụt thương mại với Việt Nam (33 tỷ USD).

Thị trường trong nước khổng lồ và các doanh nghiệp nhà nước chiếm ưu thế của Trung Quốc là những lợi thế cạnh tranh chủ yếu so với Việt Nam, nước có một thị trường nhỏ hơn nhiều và một nền kinh tế phụ thuộc nhiều hơn vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều đó khiến Việt Nam dễ bị tổn thương trước sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc không kém gì trường hợp từng xảy ra ở các thị trường khác như phương Tây. Chẳng hạn, theo WTO, Trung Quốc hầu hết thường là mục tiêu trong các cuộc điều tra chống bán phá giá của Việt Nam nhằm vào hàng hóa nhập khẩu được mau bán một cách không công bằng, cũng như Trung Quốc là mục tiêu tương tự trong các cuộc điều tra thương mại khác trên toàn thế giới.

Trung Quốc cũng tác động đến nền kinh tế Việt Nam theo những cách khác. Đầu năm 2017, tác giả đã tiến hành một hội thảo các nhà xuất khẩu tại Hà Nội dành cho nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam. Được tài trợ bởi Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GiZ), hội thảo này nhằm mục đích mở rộng cơ hội thương mại và đầu tư theo Thỏa thuận thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA). Nhiều công ty Việt Nam đã phàn nàn vè các hàng rào phi thuế quan của Trung Quốc như các tiêu chuẩn thực phẩm và nông nghiệp và các cuộc kiểm tra tùy tiện. Các công ty Việt Nam cũng phàn nàn về các nhà nhập khẩu Trung Quốc, có lợi thế là nguồn tín dụng rẻ hơn và nguồn tài chính lớn hơn, mua lương thực của cả vụ trong một năm với giá thấp trước khi chúng có thể được thu hoạch và vận chuyển bằng đường biển sang Trung Quốc. Kết quả là, lợi ích từ thương mại tự do theo ACFTA như họ ước đoán sẽ về tay người Trung Quốc chứ không phải người nông dân Việt Nam.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam nhận thức sâu sắc những quan điểm này. Họ cần phải như vậy. Dư luận đại chúng có tầm quan trọng ở Việt Nam, mặc dù không giống như cách ở phương Tây. Truyền thông xã hội nhìn chung không bị kiểm soát ở Việt Nam. Ngoài ra, không như Trung Quốc, Việt Nam có ít hơn các tầng lớp quan liêu gây chia rẽ chính quyền quốc gia và chính quyền địa phương, điều cho phép các vấn đề địa phương nhanh chóng leo thang thành các vấn đề quốc gia. Cuối cùng, Đảng Cộng sản Việt nam có các cuộc bầu cử và chọn lọc thường xuyên trong nội bộ mà trong đó dư luận nội bộ đảng giữ vai trò then chốt (một lần nữa theo một cách khác với Trung Quốc).

APEC 202X: Vạch kế hoạch cho một tiến trình mới?

Do đó, sức ép bên ngoài và sức ép bên trong nảy sinh từ những thay đổi về tình hình toàn cầu đưa ban lãnh đạo Việt Nam vào một tình thế phức tạp hơn. Không giống như 11 năm kể từ APEC 2006, sự hội nhập kinh tế không bị kiểm soát không phải là giải pháp cho tất cả các nhu cầu phát triển kinh tế còn lại của Việt Nam.

Sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào kinh tế Trung Quốc sẽ buộc một Việt Nam vốn vẫn cảnh giác với người láng giềng khổng lồ của mình phải chịu thêm các chi phí xã hội, kinh tế và an ninh. Việc cân bằng giữa Trung Quốc với sự ủng hộ và các mối liên kết với các bên tham gia quốc tế khác như Mỹ và châu Âu trở nên phức tạp hơn bởi những thay đổi về tình hình tại địa bàn. Ngay cả mối quan hệ với các nước láng giềng của Việt Nam trong khối ASEAN sẽ không phải hoàn toàn không có rắc rối.

Vì vậy, việc Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị cấp cao APEC 2017 tại Đà Nẵng khiến cho sự kiện này mang tính lịch sử đặc biệt. Trong cuộc Chiến tranh Đông Dương ở thế kỷ trước, Đà Nẵng và miền Trung Việt Nam là tuyến đầu. Máy bay Mỹ đã xuất kích từ căn cứ không quân rộng lớn tại Đà Nẵng, liên tục ném bom các tuyến tiếp tế ở miền Trung Việt Nam kết nối Chính quyền miền Bắc với cuộc nổi dậy ở miền Nam. Mặc dù các vấn đề của năm 2017 không trầm trọng như các vấn đề của năm 1967 đối với Chính phủ Việt Nam, nhưng những vấn đề kinh tế này cũng có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định và phồn thịnh lâu dài của Việt Nam. Các nhà lãnh đạo Việt Nam sẽ phải chèo lái con tàu giữa những vùng biển lặng là sự phồn thịnh và những bãi đá ngầm gồ ghề là những xung đột xã hội và an ninh.

Vào thời điểm nào đó trong thập kỷ tới, Việt Nam sẽ lại đăng cai tổ chức Hội nghị cấp cao APEC. Liệu APEC 202X là sự chào mừng thành công kinht ế của Việt Nam hay là sự thương tiếc các cơ hội đã mất sẽ phụ thuộc vào những lựa chọn mà ban lãnh đạo Việt Nam và các đối tác của họ đưa ra trong một vài năm tới. Dù bằng cách nào thì Việt Nam cũng sẽ phải có những sự điều chỉnh khi họ vạch kế hoạch cho một tiến trình mới.

Nguồn: https://thediplomat.com/2017/10/vietnam-a-tale-of-two-apecs/

TLTKĐB – 07/11/2017

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần XI


Theo Schultz, mỗi con người nhờ giáo dục mà có được kiến thức kỹ năng nghề nghiệp, gọi là “vốn trí tuệ”, từ đó mà có được thu nhập tiền lương và địa vị xã hội. Nền kinh tế của mỗi quốc gia tồn tại và phát triển là nhờ vốn vật chất (tài nguyên, đất đai) và vốn con người (tư bản nhân lực). Vốn con người nhờ giáo dục đào tạo nên, thể hiện trình độ lành nghề của nguồn nhân lực (đội ngũ lao động). Như vậy, chất lượng vốn con người tùy thuộc đáng kể vào sự đầu tư cho giáo dục. Schultz và Becker cho rằng, sai lầm nghiêm trọng của các lý thuyết phát triển trước kia là coi các chi phí cho giáo dục là sự phí tổn và chi tiêu cho học tập cũng được quan niệm như chi phí đối với một loại hàng hóa hay dịch vụ tiêu dùng tương tự các loại hàng hóa tiêu dùng khác. Hoặc quan niệm sai lầm khi coi chi tiêu công cộng cho giáo dục là những khoản chi tiêu “phúc lợi” mang tính hỗ trợ, giúp đỡ, dẫn đến tìm cách “tiết kiệm”, giảm thiểu chi phí cho giáo dục. Từ đó, Schultz và Becker đưa ra quan điểm phải coi giáo dục là hàng hóa công đặc biệt, do đó, chi tiêu cho việc bảo vệ, chăm sóc y tế, giáo dục và nâng cao sức khỏe không phải là chi phí mà là sự đầu tư để phát triển kinh tế – xã hội, biến nguồn tư bản thông thường dần dần trở thành tư bản nhân lực, thành vốn con người, tư bản nhân lực sẽ sinh ra thu nhập tăng dần, làm cho tăng trưởng kinh tế trở nên lâu dài, liên tục. Lý thuyết về đầu tư phát triển giáo dục nói riêng và đầu tư phát triển vốn con người nói chung đã được kiểm chứng qua mô hình phát triển ở nhiều nước khác nhau. Thực tế đã khẳng định những nước đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục và phát triển vốn con người cũng đồng thời là những nước thuộc loại phát triển nhanh và bền vững. Do đó, Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững cũng phải thực sự quan tâm đầu tư phát triển giáo dục đúng với nghĩa là “quốc sách hàng đầu” như đường lối của Đảng đã khẳng định.

d/ Lý thuyết về vốn xã hội

Vốn xã hội là một khái niệm mới được sử dụng phổ biến trong khoảng vài ba thập nhiên gần đây, trở thành một trong những khái niệm cốt lõi trong các lĩnh vực kinh tế học, xã hội học, tâm lý học, chính trị học, khoa học tổ chức… nhưng cho đến nay vẫn chưa một định nghĩa rõ ràng, thống nhất về khái niệm này. Có ý kiến cho rằng, nhà kinh tế học Mỹ Glen Loury là người đầu tiên vào năm 1977 sử dụng khái niệm “vốn xã hội” (Social capital) để chỉ những nguồn lực vốn có trong những quan hệ gia đình và cách tổ chức xã hội của cộng đồng mà những quan hệ này có lợi cho sự phát triển trí tuệ và phát triển xã hội của thế hệ trẻ. Như vậy, khái niệm vốn xã hội được sử dụng để nhấn mạnh vai trò của quan hệ xã hội và cấu trúc xã hội như là những nguồn lực xã hội để giảm bớt chi phí giao dịch kinh tế và phát triển vốn con người.

Khi đề cập đến lý thuyết về vốn xã hội, người ta thường kể đến ba tác giả tiêu biểu là Pierre Bourdieu, Coleman và Robert Putnam.

Pierre Bourdieu (1930 – 2002) là nhà xã hội học Pháp, đại diện tiêu biểu của thuyết cấu trúc về vốn xã hội. Trong công trình Các hình thức của vốn (Forms of Capital) xuất bản năm 1983, khi tìm cách giải thích tình trạng bất bình đẳng xã hội và quá trình tái sản xuất tình trạng đó, Bourdieu đã du nhập khái niệm “vốn” hay “tư bản” (Capital) của lĩnh vực kinh tế vào lĩnh vực xã hội học để phân tích quá trình lưu thông của các loại tài sản khác nhau trong không gian xã hội. Ngoài vốn kinh tế (Capital économique), Bourdieu còn phân biệt ba loại vốn nữa là vốn văn hóa (Capital culture), vốn xã hội (Capital social) và vốn biểu tượng (Capital symbolique) với tư cách là những hình thức biểu hiện và chuyển hóa của vốn xã hội. Bourdieu định nghĩa: “Vốn xã hội là tập hợp những nguồn lực thực tế hoặc tiềm tàng gắn liền với việc nắm giữ một mạng lưới bền vững gồm các mối quan hệ quen biết và thừa nhận lẫn nhau ít nhiều được thể chế hóa”. Theo Bourdieu, vốn tồn tại dưới hình thức vật chất là vốn kinh tế được đo bằng tiền và tài sản. Vốn tồn tại dưới hình thức phi vật chất là vốn văn hóa được đo bằng vốn con người và vốn xã hội được đo bằng các mối quan hệ ràng buộc và các chức danh. Các loại vốn có thể chuyển đổi lẫn nhau. Vốn xã hội là một loại vốn phi kinh tế (vốn văn hóa, vốn con người, vốn biểu tượng) và có thể dẫn tới vốn kinh tế và ngược lại thông qua những nỗ lực biến đổi nhất định. Chẳng hạn, để chuyển đổi vốn kinh tế sang vốn xã hội cần phải đầu tư thời gian và những nỗ lực thể hiện ở sự quan tâm, chăm sóc, biểu lộ tình cảm thông qua trao đổi tiền bạc, tặng quà, thiết lập các mối quan hệ. Lợi ích kinh tế thu được từ sự chuyển hóa này có thể là những cái hữu hình như tiền bạc, hiện vật, hàng hóa, hợp đồng làm ăn; những cái khó nhìn thấy như lòng tin, sự hiểu biết lẫn nhau hay sự nâng cao năng lực, kỹ năng, tức là vốn người, nhờ đó mà có được vị trí nhất định trong tổ chức, tức là vốn xã hội. Theo Bourdieu, vốn xã hội được xây dựng và tái hoạt động với sự đóng góp của ba dạng: vốn kinh tế có được từ thu nhập, nắm giữ và lưu thông kinh tế, tài chính; vốn văn hóa với việc xây dựng và tạo dựng các giá trị, các biểu trưng, các di sản và vốn xã hội là toàn bộ các nguồn, các tiềm năng liên quan đến các quan hệ bền vững của một thực thể xã hội, tạo nên niềm tin, sự cảm thông, sự gắn kết, hợp tác và những hành động mang tính tập thể. Vốn xã hội này nằm ngoài tài sản, vốn tư bản, nhưng nằm trong các quan hệ của con người, của các chủ tài sản, nó ẩn giấu trong các mối quan hệ giữa các chủ tài sản. Nó thể hiện ra ngoài bằng: 1 – Niềm tin, sự tin cậy lẫn nhau; 2 – Sự tương hỗ có đi có lại; 3 – Các quy tắc, các hành vi mẫu mực, các chế tài; 4 – Sự kết hợp với nhau thành mạng lưới. Quy mô của vốn xã hội phụ thuộc vào quy mô của mạng lưới quan hệ xã hội và quy mô của mỗi loại vốn kinh tế hay vốn văn hóa hoặc vốn biểu tượng mà mỗi người nắm giữ khi quan hệ với nhau. Qua đó có thể thấy, vốn kinh tế xét cho cùng là nguồn gốc của tất cả các loại vốn phi kinh tế và sự chuyển hóa của chúng là cơ chế tái sản xuất ra các loại vốn.

Dựa vào chức năng luận, nhà xã hội học Mỹ James Coleman (1926 – 1995) định nghĩa vốn xã hội là các nguồn lực cấu trúc – xã hội mà cá nhân c1o thể sử dụng như là nguồn vốn tài sản. Vốn xã hội có hai yếu tố chung: – Là một chiều cạnh của cấu trúc xã hội, – Tạo điều kiện, hỗ trợ cho hành động nhất định của cá nhân trong phạm vi cấu trúc đó. Vốn xã hội không tồn tại trong cá nhân mà ở trong cấu trúc của các mối quan hệ giữa người này với người khác. Coleman phân biệt ba loại vốn: vốn vật thể là kết quả của những biến đổi vật thể tạo thành công cụ sản xuất; vốn con người là kết quả của những biến đổi vật thể tạo thành công cụ sản xuất; vốn con người là kết quả của những biến đổi trong con người cấu thành tài nghệ và khả năng thao tác; vốn xã hội. Vốn xã hội có ba đặc tính là mức độ tin cậy nhau, giá trị của các quan hệ xã hội, thói quen xã hội. Có vốn xã hội trong gia đình và vốn xã hội trong cộng đồng. Vốn xã hội trong gia đình là mức độ quan tâm, thời gian mà cha mẹ dành cho con cái trong những sinh hoạt trí tuệ. Vốn xã hội trong cộng đồng là mối quan hệ giữa cá nhân với các thành viên của cộng đồng xã hội. Như vậy, theo quan điểm của Coleman, vốn xã hội mà các cá nhân, gia đình, tổ chức và cộng đồng xã hội tạo nên và dựa vào là một trong những nguồn lực quan trọng và cần thiết cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội nói chung. Phương pháp tiếp cận chức năng luận của Coleman đòi hỏi phải phân tích chức năng và phi chức năng của vốn xã hội. Chức năng của vốn xã hội thường nói lên mặt tích cực của nó, nhưng không phải lúc nào cũng như vậy. Trong cấu trúc của vốn xã hội cũng hàm chứa những mặt trái, những khía cạnh tiêu cực hay phi chức năng mà ta cần lưu ý khi đề cập đến vốn xã hội. Chẳng hạn, vốn xã hội tạo nên các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tin cậy trong xã hội là những cái giúp cho các thành viên gắn bó, cố kết, có thể hành động chung với nhau một cách hiệu quả, nhằm đạt tới những mục tiêu chung, đó là khía cạnh tích cực, là giá trị cần phát huy. Tuy nhiên, vốn xã hội cũng có thể tạo ra sự ràng buộc bên trong nhóm, tạo ra và nuôi dưỡng tính cục bộ, khép kín. Điều đó có thể hạn chế quan hệ của các thành viên trong nhóm với những người ngoài nhóm, ngăn cản các sáng kiến, làm giảm tính chủ động, sáng tạo của các thành viên, tạo thành sức ì tập thể. Vốn xã hội khép kín trong một nhóm, một cộng đồng có nguy cơ là giảm sự tự do, sự riêng tư của cá nhân, tạo nên tâm lý bình quân chủ nghĩa. Đây là mặt tối, mặt tiêu cực cần điều chỉnh, cân nhắc khi sử dụng vốn xã hội.

Cũng giống như Coleman, Putnam xem vốn xã hội gồm các yếu tố của một tổ chức xã hội, chẳng hạn như sự tin cậy, các chuẩn mực và các mạng lưới mà có thể cải thiện năng lực của xã hội bằng việc tạo điều kiện cho những hành động hợp tác. Như vậy, trong khi Bourdieu nhấn mạnh tới vốn xã hội như là một thứ tài sản mà mỗi cá nhân có thể có được, thì Coleman và Putnam lại hiểu vốn xã hội như là một thứ tài sản chung của một cộng đồng hay một xã hội nhất định. Cách hiểu của Coleman và Putnam nêu trên cũng phần nào tương tự như cách hiểu của Ngân hàng Thế giới hiện nay về vốn xã hội: “Vốn xã hội là một khái niệm có liên quan tới những chuẩn mực và những mạng lưới xã hội dẫn đến hành động tập thể. Ngày càng có nhiều sự kiện minh chứng rằng, sự gắn kết xã hội – vốn xã hội – đóng vai trò trọng yếu đối với việc giảm nghèo và sự phát triển con người và kinh tế một cách bền vững”.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần III


Chính sách của các “nhà cải cách”, theo khẩu hiệu của chiến tranh tâm lý (quan hệ thị trường, noi gương các “nước văn minh”…), đang đưa đất nước đến lệ thuộc toàn diện vào phương Tây và đói khổ, trên thực tế hoàn toàn khác với những gì các nước phát triển đang làm:

Tại Đức, chính sách nông nghiệp được tuyên bố là bộ phận quan trọng nhất của chính sách kinh tế quốc dân, mục tiêu nông nghiệp được coi là ưu tiên. Do nông nghiệp có lợi nhuận bao giờ cũng thấp hơn các ngành khác (đây là đặc điểm cơ bản của nông nghiệp), ngay từ năm 1955 Đức đã ra luật “Về sản xuất nông nghiệp Đức” nhằm cân bằng tình trạng bất cân giữa nông nghiệp và công nghiệp. Luật nêu rõ “Nhà nước có trách nhiệm coi việc đảm bảo cung cấp lương thực cho nhân dân là vấn đề chiến lược, lập quỹ lương thực khi cần thiết và áp dụng tổng thể mọi biện pháp nhằm khuyến khích và trợ giúp để không đặt vấn đề lương thực phụ thuộc vào nước thứ ba”.

Một trong những luận điểm của phương tiện thông tin đại chúng không ngừng nhồi sọ dân chúng là cần thủ tiêu nông trường, nông trang tập thể dù họ ngụy trang dưới chiêu bài thủ tiêu hậu quả chế độ cực quyền. Người cứu nước Nga phải là các chủ trang trại. Trên thực tế, tại Mỹ gần 80% sản lượng lương thực do các xí nghiệp nông nghiệp lớn làm ra. Phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền cho sự phá sản toàn bộ nền nông nghiệp Nga nhằm chiếm đất của nông dân.

Vấn đề cơ bản của nông nghiệp mà phương tiện thông tin đại chúng (và các ông chủ thực sự của nó) lờ đi là sự thay đổi môi trường bởi hậu quả nóng lên toàn cầu do hiệu ứng nhà kính. Trong Nạn đói đang chờ nước Nga của P.T. Burducốp – Sự thật năm, số 22, 14 – 21 tháng 6 năm 1996, nói về vấn đề này như sau:

Sự nóng lên đồng nghĩa với sự dịch chuyển biên giới chúng ta xuống phía Nam và mở rộng diện tích canh tác ở miền Bắc. Mặt khác, khí hậu thay đổi dứt khoát làm cho đất đai Mỹ giảm độ phì nhiêu 1,5 – 2 lần. Có nghĩa là chỉ sau vài thập kỷ, Nga đủ sức trở thành nước xuất khẩu nông nghiệp lớn nhất thế giới.

Phương Tây hiểu điều đó. Bởi vậy, họ mới quan tâm mua đất nông nghiệp, họ ép Nga, tìm cách chia nhỏ Nga. Bởi vậy, cuộc tranh cãi về thị trường đất đai và an ninh lương thực mới căng thẳng và kịch liệt. Hơn thế nữa, có một số giới chức phương Tây ấp ủ một ảo không chỉ biến Nga và các nước cộng hòa Xô Viết cũ thành nguồn cung cấp nguyên liệu, mà phải quét sạch dân bản địa, tình trạng an ninh lương thực hiện nay của Nga cho phép thực hiện được các kế hoạch dạng đó”.

Thời xưa, các thủ lĩnh da đỏ ở Mỹ bán đất như cho không, chỉ đổi được mấy đồ trang sức thủy tinh vớ vẩn (phần lớn các vụ đổi chác đó được luật pháp Mỹ đảm bảo). Rồi họ bị tiêu diệt vì đã chiếm đất đai của chính mình “bất hợp pháp”, ai sống sót bị tống vào rừng sâu. Lịch sử đang lặp lại. Nhân dân bản địa sống trên lãnh thổ Nga (người Nga) đang ở giai đoạn đầu của quá trình đó. Đội quân thứ năm của Mỹ đang gây sức ép tàn bạo nhất nhằm tổ chức bán tháo đất Nga, ban đầu qua trung gian, sau đó sẽ chính họ mua. Trị giá đất được người Mỹ tính qua việc in tiền USD, tức người da đỏ Mỹ bán đất với giá cao hơn trị giá thực tế.

Đặt cược vào sự thay đổi khí hậu, Mỹ sẽ không từ bất kỳ thủ đoạn nào. Ban đầu là mua đất, rồi “thanh trừ hàng loạt” dân chúng nhằm bảo vệ tài sản thiêng liêng để rồi tống dân Nga bản địa vào rừng sâu.

Tiêu diệt tiềm lực quốc phòng Nga

Mười năm trước, Nga – Mỹ nằm trong thế cân bằng quân sự. Các nhà cải cách lên cầm quyền, tiềm lực quốc phòng bắt đầu bị thủ tiêu có hệ thống. Vũ khí, trang bị bị thủ tiêu hàng loạt, xe tăng, tàu chiến, tàu ngầm, tên lửa bị bán làm sắt vụn ở quy mô đáng kinh ngạc. Lực lượng tàu ngầm hùng hậu gần như tuyệt diệt. Bài của Kh. Kharlamov nêu quy mô thủ tiêu vũ khí, trang bị kỹ thuật Không quân Nga:

Căn cứ hủy bỏ vũ khí, trang bị ăng-ten ở ngoại ô Xaratov làm công tác tháo gỡ trang bị kỹ thuật quân sự. Không quân chuẩn bị “thịt” các máy bay vận tải quân sự Nga. Bị thịt sẽ là các máy bay IL-18 cũ kỹ lẫn TU-134 đang bay tốt. Các chuyên gia quân sự còn dự đoán, có thể cả IL-62, TU-154, “Antey” cũng bị tống vào lò mổ. Lý do “tàn sát” chúng thật cay đắng và đơn giản: Bộ Quốc phòng không đủ chi phí duy trì, bảo dưỡng các máy bay này. Dự kiến đến đầu thế kỷ tới khoảng 200 máy bay sẽ bị hủy, gồm cả 70 máy bay ném bom chiến lược TU-22 và TU-95, niềm tự hào của Nga. Thế mà Không quân Nga chỉ có thể mua được một vài máy bay mới trong một năm. Các chuyên gia quân sự NATO cho rằng, chỉ vài thập niên nữa, Nga sẽ đánh mất khoảng trời. Điều đặc trưng nữa là trang thiết bị dùng hủy máy bay Nga lại do Mỹ và Anh cung cấp”.

Lá chắn chiến lược tên lửa – hạt nhân, người bảo vệ vững chắc cho nước Nga trước các cuộc tấn công từ bên ngoài (mà hiểm họa này đáng tiếc đã trở nên hiện thực) cũng đang bị phá hủy vội vàng. Nền tảng của an ninh chiến lược nước Nga là các tên lửa đạn đạo liên lục địa (IBM) đặt trên mặt đất hiện đại, có trang bị các đầu đạn tách rời với hệ dẫn đường riêng. Để có được ưu thế quyết định, Mỹ ép nước Nga vào Hiệp ước START-2, Ovchinikov kể về những sự kiện liên quan tới hiệp ước này:

Về Hiệp ước START-2, do tổng thống Elcin và G. Bush ký ngày 3 tháng 1 năm 1993 đã được nói tới nhiều rồi. Thực chất của văn kiện này cũng đã rõ. Nó tước mất phương tiện kiềm chế hạt nhân hữu hiệu nhất của chúng ta – các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (IBM) với nhiều đầu đạn. Nhưng mặt khác, có người nói trong khi Duma quốc gia chưa phê chuẩn thì nó chưa được thực hiện. Có đúng vậy không? Hoàn toàn không! Hiệp ước START-2 thực tế đã được thực hiện bởi chính quyền hai nước, sau lưng người dân Nga.

Chỉ một tháng sau khi ký kết hiệp ước, tức là vào tháng 2 năm 1993 đã có sắc lệnh của Tổng thống Nga. Theo điều kiện của hiệp ước, thì những IBM nhiều răng (tới mười đầu đạn) của chúng ta được htay bằng các tên lửa một răng. Sắc lệnh này quy định thứ tự và thời hạn thử nghiệm, đưa vào trang bị những tên lửa kém chức năng ấy. Đây chính là phương hướng thực hiện hiệp ước một cách gấp rút. Mà nó vẫn chưa được phê chuẩn.

Giai đoạn 1994 – 1995 cho thấy  nhiều nhượng bộ tiếp theo đối với Washington. Trước hết là trong quan hệ Nga – Mỹ đã áp dụng bất hợp pháp quy tắc cắt giảm “không thể đảo ngược” các vũ khí hạt nhân – tên lửa, như được ghi trong Hiệp ước START-2, trước khi làm rõ quan điểm của Duma. Các bước đầu tiên hình thành cơ chế không đảo ngược được thỏa thuận giữa Kremlin và Nhà Trắng vào tháng 1, sau đó là vào tháng 9 năm 1994.

Tháng 5 năm 1995, trong thời gian Tổng thống Mỹ Clinton tới Moskva dự lễ 50 năm Ngày Chiến thắng, một văn kiện mới về việc này đã được ký kết. Theo đó, “các vật liệu phân rã lấy từ vũ khí nguyên tử bị hủy (theo Hiệp ước START-2) sẽ được để trong “hầm chứa vật liệu phân rã tại mục tiêu “Maiak”. Điều này có nghĩa là:

a/ Một số lượng nhất định các đầu nổ hạt nhân của Nga cần phải được tháo dỡ.

b/ Các vật liệu phân rã lấy ra buộc phải bảo quản tại một nơi.

c/ Các vật liệu ấy trở thành chất vô hại đối với người Mỹ, họ sẽ thực hiện theo dõi chúng.

Nói cách khác, các đầu đạn “thừa” của Nga theo Hiệp ước START-2 nằm dưới sự kiểm soát thực tế của Mỹ, mặc dù tới thời điểm này chưa phía nào phê chuẩn Hiệp ước cả. Tức là, không phụ thuộc vào việc Duma có thể có quan điểm chống lại, Hiệp ước đã được tích cực thực hiện”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.