Gia nhập thể chế thương mại quốc tế nhiều bên – Phần đầu


I/ Gia nhập Hiệp định chung

1/ Trình tự đàm phán gia nhập Hiệp định chung

Bất kỳ nước nào cũng có thể gia nhập Hiệp định chung theo điều 33 của hiệp định. Thông thường, việc gia nhập Hiệp định chung phải trải qua một quá trình thẩm nghị và đàm phán lâu dài.

a/ Giai đoạn một: thẩm nghị “vào cửa”.

Khi nhận được đơn chính thức xin gia nhập Hiệp định chung, Hội đồng đại biểu lập ra tổ công tác tiến hành việc thẩm nghị. Tổ công tác căn cứ vào bị vong lục về chế độ thương mại do nước xin gia nhập gửi tới để tiến hành thẩm nghị chính sách thương mại hiện hành và các quy chế có liên quan của họ. Sau khi công tác thẩm nghị cho rằng mọi vấn đề cơ bản về thương mại đã rõ thì bước vào giai đoạn hai là giai đoạn đàm phán.

b/ Giai đoạn hai: đàm phán.

Trong giai đoạn này, tổ công tác khởi thảo các điều kiện cơ bản về gia nhập hiệp định, còn nước xin gia nhập hiệp định thì tiến hành đàm phán tay đôi với các nước thành viên khác, lập ra biểu thuế và quy định về các điều khoản giảm thuế khác, biểu thuế này được đưa vào phụ lục Hiệp định chung.

Nội dung đàm phán sẽ do tổ công tác tập hợp lại và báo cáo lên Hội đồng đại biểu.

c/ Giai đoạn ba: ký và phê chuẩn nghị định thư gia nhập hiệp định.

Sau khi hoàn thành các giai đoạn trên, Toàn thể các nước ký hiệp định căn cứ vào điều hơn lẽ thiệt về thương mại và chính trị sau khi nước này gia nhập Hiệp định chung và cân nhắc cái giá phải trả về các ngoại lệ khi chấp nhận sự gia nhập Hiệp định chung của nước này để đưa ra quyết định có tiếp nhận là nước thành viên hay không.

Việc tiếp nhận một nước là nước thành viên phải được 2 phần 3 số nước ký hiệp định nhất trí.

Cuối cùng là ký nghị định thư (gồm cả biểu thuế) về kết quả đàm phán. Nếu không phải trình cơ quan lập pháp nước ấy thông qua thì trong vòng 30 ngày việc quyết định gia nhập hiệp định này sẽ có hiệu lực.

2/ Phương thức “vào cửa” gia nhập Hiệp định chung

Phương thức “vào cửa” khác nhau trong việc gia nhập Hiệp định chung phản ánh đặc điểm kinh tế và thương mại của các loại hình quốc gia khác nhau.

a/ Các nước phát triển có nền kinh tế thị trường.

Tiền đề áp dụng Hiệp định chung là nền kinh tế thị trường. Điều đó không gây ra bất kỳ khó khăn nào đối với các nước công nghiệp phát triển có nền kinh tế thị trường. Song, đối với một nước cụ thể nào đó thì những điều kiện cụ thể khi gia nhập Hiệp định chung phải quy định rõ ràng trong nghị định thư gia nhập hiệp định để bảo đảm cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ. Như khi gia nhập Hiệp định chung, Thụy Sĩ được phép hạn chế nhập khẩu để bảo hộ nền công nghiệp của họ, nhưng phải cố gắng giảm thiệt hại lợi ích của các nước thành viên khác, hằng năm phải báo cáo các biện pháp hạn chế được áp dụng và cứ ba năm Toàn thể các nước ký hiệp định lại kiểm tra một lần. Hay như Thụy Sĩ không phải là thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, cho nên phải cam kết tuân thủ nguyên tắc quy định trong hiệp định đặc biệt về ngoại hối.

b/ Các nước đang phát triển có nền kinh tế thị trường, gia nhập Hiệp định chung với đặc điểm khác với các nước phát triển. Chẳng hạn, khi gia nhập Hiệp định chung, Thái Lan, được hưởng ưu đãi đặc biệt áp dụng cho các nước đang phát triển, nhưng phải cam kết trong thời hạn sau 5 năm phải hạ mức thuế đánh thuế hàng nhập khẩu ngang với thuế doanh nghiệp và thuế tiêu thụ đánh vào sản phẩm sản xuất trong nước.

c/ Các nước có nền kinh tế kế hoạch từ trung ương.

Loại hình quốc gia này gia nhập Hiệp định chung với phương thức rất đặc biệt. Như năm 1967, khi ký nghị thư gia nhập Hiệp định chung, Ba Lan phải cam kết mỗi năm tăng nhập khẩu 7% để được ưu đãi và chấp nhận điều khoản bảo đảm đặc biệt, trong đó cho phép các nước thành viên khác hạn chế nhập khẩu từ Ba Lan khi hàng nhập khẩu từ Ba Lan gây ra hoặc có thể sẽ gây ra tổn thất nặng nề cho các nhà sản xuất và hãng buôn trong nước của họ. Năm 1973, khi Hungary gia nhập Hiệp định chung cũng phải chấp nhận điều khoản bảo đảm đặc biệt này; vì tại các nước thuộc loại hình này, giá cả không do cơ chế thị trường hình thành mà do nhà nước quy định.

3/ Gia nhập theo “quan hệ ủy trị”

Điều 26 hiệp định còn quy định một phương thức gia nhập hiệp định đơn giản hơn. Theo truyền thống thì phương thức này áp dụng đối với những nước đã giành được độc lập, đã thoát khỏi quan hệ thuộc địa trước kia và có quyền tự chủ trong quan hệ ngoại thương. Trong những trường hợp này, theo điều 26, dù chưa giành được độc lập về chính trị, một khu vực thuế quan tự trị cũng có thể trở thành một bên ký kết hiệp định, chỉ cần một thư giới thiệu là có tư cách là thành viên, không cần đàm phán.

4/ Việc sử dụng điều khoản về không áp dụng Hiệp định chúng đối với nhau

Tính tới lợi ích của những nước có ý kiến phản đối một nước nào đó gia nhập hiệp định, hoặc tính tới lợi ích của bản thân nước mới gia nhập hiệp định, Hiệp định chugn đặt ra điều 35, gọi là điều khoản không áp dụng Hiệp định chung với nhau. Điều này chấp nhận việc một nước nào đó do nguyên nhân chính trị hoặc thương mại mà không đồng ý có quan hệ pháp lý hoặc thương mại trong khuôn khổ Hiệp định chung với một nước mới gia nhập Hiệp định chung, đồng thời cũng chấp nhận việc nước mới gia nhập hiệp định không đồng ý có quan hệ pháp lý hoặc thương mại trong khuôn khổ Hiệp định chung với nước nào đó đã ký hiệp định.

Nhưng điều này không ngăn cản họ cùng tham gia những tổ chức nào đó của Hiệp định chung, không ngăn cản họ cùng bỏ phiếu biểu quyết, không ngăn cản họ đóng góp có tính chất xây dựng đối với Hiệp định chung.

5/ Các thành viên của Hiệp định chung

Tới tháng 10/1991, có tất cả 103 nước (bên) ký Hiệp định chung. Tất cả các nước thành viên (24 nước) của tổ chức hợp tác phát triển đều ký Hiệp định chung. Các nước đang phát triển luôn luôn có vai trò quan trọng, trong số 23 nước sáng lập ban đầu có 11 nước đang phát triển, hiện nay đã chiếm trên 2 phần 3 ghế. Các nước Đông Âu: Tiệp Khắc, Ba Lan, Rumani và Hungary cũng là các nước ký Hiệp định chung.

Ngoài ra, còn có 29 nước tuy không phải là các nước ký Hiệp định chung, nhưng trong thực tế chính sách thương mại của họ lại áp dụng nguyên tắc của Hiệp định chung. Những nước này và một số nước khác là quan sát viên trong một số tổ chức của Hiệp định chung. Còn có 7 nước đang ở trong quá trình đàm phán.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Advertisements

Lợi nhuận được hình thành như thế nào? – Phần IV


Hầu hết các công ty lớn đều không có được mô hình kinh doanh cho phép khai thác đồng thời hai nhân tố sóng đôi đó trong môi trường doanh nghiệp, nhưng một vài công ty đã tìm ra được những cách thức để làm như vậy. ABB đã tách thành 500 trung tâm lợi nhuận có mối liên hệ trực tiếp với khách hàng và chịu trách nhiệm trực tiếp về lợi nhuận. Softbank cũng tự tách thành những trung tâm lợi nhuận với khoảng 10 người/trung tâm để có thể liên hệ trực tiếp với khách hàng và hệ thống quản lý dòng tiền trong vòng 5 ngày.

Doanh nghiệp điển hình đã áp dụng mô hình lợi nhuận đầu tư này phải kể đến Thermo Electron – một hãng đã ngăn chặn trước sự phá hủy lợi nhuận do ảnh hưởng của quy mô bằng cách không ngừng tách mình thành các công ty con. Các nhà quản lý của những công ty con trực thuộc Thermo Electron luôn giữ mối liên hệ trực tiếp với khách hàng và có trách nhiệm tạo ra lợi nhuận cũng như trách nhiệm trực tiếp với các cổ đông.

Cấu trúc này cho phép tập trung vào cách thức tiếp cận sáng tạo không giống những cấu trúc khác. Nó tạo ra một nguồn lực đầy quyền uy mới: động lực phát triển mạnh mẽ. Những nhà quản lý của các công ty con sở hữu cổ phần trong những công ty này. Nếu họ hoạt động kinh doanh tốt, giá cổ phiếu sẽ tăng và họ sẽ giành được phần thưởng to lớn. Không giống như nhiều nhà quản lý cấp trung, họ không thể đổ lỗ cho công ty mẹ hoặc trụ sở chính hay “chính sách công ty”. Tại các công ty con của Thermo Electron, năng lượng tốn cho những lời phàn nàn đã chuyển hóa thành các đơn hàng tiếp theo với lợi nhuận tốt nhất có thể.

Các doanh nghiệp không thích cạnh tranh với Thermo Electron vì họ thích cạnh tranh với những công ty lớn hơn, chậm chạp hơn và cô lập hơn. Việc cạnh tranh với các nhân viên thường dễ dàng hơn so với các ông chủ.

9/ Mô hình lợi nhuận Chuyên môn hóa

Tất cả các doanh nghiệp đều khởi đầu từ sự thành thục một việc gì đó. Họ bắt đầu bằng cách đề nghị sự tinh thông chuyên nghiệp của mình trong lĩnh vực nào đó. Nhưng khi đã phát triển, họ thường có xu hướng rời khỏi huyên môn của mình và “nhảy” sang các hoạt động khác hay lĩnh vực khác khiến họ trở nên tầm thường hơn. Trong những trường hợp này, doanh thu tăng nhưng lợi nhuận lại giảm xuống.

Mặt khác, sự tăng trưởng thông qua chuyên môn hóa theo trình tự có thể mang lại mức lợi nhuận phi thường. Ví ụ, Electronic Data Systems (EDS) đã lớn mạnh nhờ vào khả năgn chuyên môn hóa theo trình tự – nắm vững tính phức tạp và kinh tế của các giải pháp máy tính cho nhiều phân khúc dọc (chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm, sản xuất, ngân hàng). Tuy nhiên, hãng này tiến hành mọi việc theo trình tự chứ không phải đồng thời cùng một lúc. Trong mỗi phân khúc thị trường dọc này, EDS đều chứng tỏ khả năng chuyên môn tuyệt hảo mà không một đối thủ nào có thể sánh kịp và trở thành một đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực của mình đồng thời phát triển khả năng đó trong toàn bộ phân khúc này. Sau đó, nó mới dịch chuyển sang phân khúc khác.

Cho dù rất lớn mạnh nhưng EDS vẫn là một nhóm chuyên gia. Lợi nhuận của phương pháp này có thể rất cao. Năm 1994, EDS đã giành được 13% lợi nhuận bằng các dịch vụ kinh doanh máy tính của họ trong khi IBM – đối thủ chính của hãng – chỉ hòa vốn.

Phép kỳ diệu trong mô hình kinh doanh toàn cầu của ABB cũng xuất phát từ sự chuyên môn hóa. Hệ thống của ABB cho phép mỗi hãng kỹ thuật trong mạng lưới của nó chuyên môn hóa với cường độ mạnh hơn chứ không phải cố gắng để có thể mang lại mọi thứ cho tất cả khách hàng. Kết quả là lợi nhuận biên được nhân lên gấp bội (từ 2% lên 10% hoặc cao hơn thế nữa).

10/ Mô hình lợi nhuận xây dựng cơ sở dữ liệu người tiêu dùng

Một trong những cơ chế mang lợi nhuận mạnh nhất trong kinh doanh là mô hình lợi nhuận xây dựng cơ sở dữ liệu người tiêu dùng (Minh họa 2). Nhà cung cấp tạo ta một cơ sở rộng lớn người sử dụng – những người sau đó sẽ chọn thương hiệu của nhà cung cấp khi mua bất k2y mặt hàng hay sản phẩm đã được chào bán ra công chúng.

Minh họa 2: Mô hình lợi nhuận xây dựng cơ sở dữ liệu khách hàng
Cơ sở xây dựng Thị trường theo sau
Dao cạo Lưỡi dao cạo
Thang máy Hợp đồng dịch vụ
Phần mềm Nâng cấp phần mềm
Hệ thống nước tinh khiết Hóa chất khử trùng
Máy photocopy cá nhân Mực in
Máy quay phim Phim

Mô hình kinh doanh tạo dựng cơ sở dữ liệu này có thể rất có lãi nếu như doanh nghiệp có thể kiểm soát được thị trường sản phẩm bổ sung. Loại hình kiểm soát này sẽ có hiệu quả nhất khi cơ sở dữ liệu người tiêu dùng đó cho phép sáng tạo ra một tiêu chuẩn. Trong quá trình lập ra tiêu chuẩn, công ty tạo ra một cơ sở dữ liệu lớn nhất bằng cách lôi kéo tất cả các khách hàng trong ngành sử dụng sản phẩm của mình. Trong những điều kiện này, công ty có thể quản lý thị trường sản phẩm mới xuất hiện bằng cách trở thành nhà cung cấp chính các sản phẩm và dịch vụ mới.

Đó chính là một yếu tố quan trọng trong suy nghĩ của Bill Gates ngay từ bước đi đầu tiên trong hoạt động kinh doanh của ông. Chiến lược của Microsoft là giá rẻ, việc xác lập chuẩn mực, sản phẩm hiện diện khắp mọi nơi, và sau đó là gặt hái lợi nhuận từ việc nâng cấp và chỉnh sửa các sản phẩm bán ra. Bill Gates hành động với một sự hiểu biết chính xác về cách thức mà lợi nhuận sẽ diễn ra trong kinh doanh.

11/ Mô hình lợi nhuận chuẩn phổ biến

Mô hình lợi nhuận xây dựng cơ sở dữ liệu khách hàng cung cấp một dòng lợi nhuận cao, được bảo hộ đều đặn hàng năm. Cơ sở được xây dựng trở thành một yếu tố thiết yếu của một mô hình mang lại lợi nhuận cao khác khi cho phép người sở hữu xây dựng một chuẩn phổ biến. Sau đó chuẩn này sẽ định hướng khách hàng và các hành vi cạnh tranh trong toàn ngành.

Đặc điểm nổi bật nhất của việc kinh doanh phổ biến là tăng doanh thu theo quy mô. Trong loại hình kinh doanh này, một số lượng lớn thành viên tham gia, từ những nhà sản xuất thiết bị gốc (Original Equipment Manufacture – OEM) cho đến các đơn vị phát triển ứng dụng cho người tiêu dùng đều bị cuốn vào quỹ đạo đầy sức hút của tổ chức nắm giữ tiêu chuẩn. Càng có nhiều người tham gia, hệ thống càng có nhiều giá trị hơn. Kết quả là, đơn vị nắm giữ tiêu chuẩn có thể thấy doanh thu của mình tăng lên cùng với giá trị của hệ thống.

Microsoft có thể chuyển vị thế xây dựng cơ sở của mình thành vị thế nắm giữ chuẩn phổ biến vốn là một động cơ kinh tế rất mạnh Oracle đã tạo ra một đường xoắn ốc đi lên tương tự quanh chuẩn phổ biến của mình trong hệ dữ liệu có liên quan. Hệ thống SABRE của American Airline chính là tiêu chuẩn thực tế cho việc đặt chỗ trước trên máy bay và kiếm được nguồn doanh thu quan trọng từ khách hàng Mỹ. Toàn bộ các ngành công nghiệp được xây dựng xung quanh chuẩn phổ biến, để lại các đối thủ đã gục ngã trong cuộc chiến xác định chuẩn (ví dụ như Apple và Sybase) và chỉ biết nhìn lợi nhuận của mình bị xói mòn dần qua thời gian.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Adrian J. Slywotzky & David J. Morrison – Vùng lợi nhuận – NXB TK 2008.

Liệu ngành may mặc Việt Nam có nâng tỷ lệ nội địa hóa kịp theo quy định của EVFTA?


Theo đài RFA, thống kê mới nhất cho thấy Trung Quốc là nguồn cung cấp vải lớn nhất của Việt Nam, chiếm 60% tổng lượng vải nhập vào thị trường may mặc trong nước. Sau Trung Quốc là Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản.

Tỷ lệ vải nhập lớon như vậy khiến ngành may mặc Việt Nam khó được hưởng mức thuế ưu đãi, được cam kết cắt giảm rất sâu, trong Hiệp định thương mại tự do mà Hà Nội ký kết với Liên minh châu Âu (EVFTA) vào cuối tháng 6 vừa qua. Lý do là không bảo đảm tiêu chuẩn xuất xứ của nguyên vật liệu sử dụng để sản xuất.

Số liệu gây tranh cãi!

Ông Nguyễn Đình Trường, thành viên Hiệp hội Dệt may Việt Nam, cho rằng 60% nguồn vải Trung Quốc vào thị trường may mặc Việt Nam là số liệu đúng:

Lý do là Việt Nam kh6ong đầu tư sản xuất nguyên liệu vải nên phải nhập nhiều của Trung Quốc, Đài Loan và một số nước khác. Mỗi năm, trong nước chỉ sản xuất 1 tỷ mét vải, còn phải nhập rất nhiều nên con số thông báo nhập khẩu vải đến 60 – 70% là chính xác”.

Trong khi đó, ông Diệp Thành Kiệt, nguyên Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Thêu Đan, chuyên gia ngành dệt may và da giày Việt Nam, giải thích đây là vấn đề nội địa hóa nguyên vật liệu trong ngành may mặc xuất khẩu của Việt Nam: “Tỷ lệ nội địa hóa phải cao, phải sản xuất trong nước để chính người dân của mình được thu hưởng điều này. Cho nên, vấn đề còn lại là phải làm sao đạt tỷ lệ đó. Theo một số báo cáo tôi có dịp đọc thì tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam đã cao rồi, do đó, tôi tin rằng Việt Nam hiện nay nhập ít hơn số 60% vải của nước ngoài”.

Dù thừa nhận hay không, tỷ lệ nguồn nhập vải từ Trung Quốc vào Việt Nam vẫn cao, điều quan trọng là nếu không tự chủ được nguồn nguyên vật liệu thì ngành may mặc Việt Nam ít có hy vọng được miễn giảm thuế quan thông qua Hiệp định EVFTA. Ông Nguyễn Đình Trường nói: “Không ai tuyên bố là hạn chế mua hàng Trung Quốc mà chỉ nói mình chủ động được bao nhiêu sản xuất trong nước để được hưởng thuế quan, được hưởng cái gọi là “chuỗi giá trị kép” như ông Vũ Đức Giang (Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam) nói. Chúng ta phải độc lập tự chủ bằng nội lực của mình, đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp trong nước liên kết với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài để tạo thị trường vải cho ngành may mặc Việt Nam, bớt phụ thuộc vào nước ngoài”.

Đầu tư nước ngoài vào ngành dệt

Ông Nguyễn Thành Sang, nguyên Tổng Giám đốc Công ty Dệt may Phước Thịnh, cho biết: “Riêng đối với ngành dệt, hiện nay, Trung Quốc là nước đứng đầu về đầu tư trong ngành nguyên liệu và nhuộm tại Việt Nam. Sản lượng rất lớn, còn Việt Nam bị hạn chế nhiều vì không thể cạnh tranh nổi. Vì vậy, doanh nghiệp phải biết tính toán để đầu tư cho đúng”.

Ông Nguyễn Đình Trường nói tiếp, thực tế từ 2 – 3 năm nay, nhiều nhà máy Trung Quốc và Đài Loan đã đầu tư hoạt động sản xuất vải trong nội địa Việt Nam.

Ông Nguyễn Đình Trường nói: “Hiện còn chờ Quốc hội châu Âu phê duyệt, ít nhất là một năm nữa. Trong thời gian đó, các nước chưa áp dụng quy tắc xuất xứ vì hiệp định chưa có hiệu lực thì Việt Nam vẫn còn cơ hội. Chính vì vậy, chính phủ nên khuyến cáo các nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài hợp tác với nhau để cung cấp vải xuất của Việt Nam”.

Tăng tốc phát triển

Cũng tại Diễn đàn Thương mại Việt Nam – EU cuối tháng 7 vừa qua, Bộ Công thương Việt Nam cho rằng để có thể tận dụng mọi cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do thì chính phủ và các địa phương của Việt Nam cần hoạch định chiến lược phát triển các khu công nghiệp nhằm bù đắp cho phần cung bị thiếu hụt.

Về chiến lược phát triển ngành may mặc xuất khẩu, trong vòng 3 năm nay, một số dự án dệt nhuộm công nghệ cao từ châu Âu và Mỹ đã vào Việt Nam. Đức đã đầu tư vào nhà máy kéo sợi len lông cừu tại Đà Lạt, Israel và Mỹ có nhà máy dệt tại Bình Định, nhà máy nhuộm ở Nam Định.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Vũ Đức Giang, đây là những yếu tố giúp doanh nghiệp trong nước chủ động hơn về mặt nguyên liệu đầu vào. Tuy nhiên, ông Vũ Đức Giang phân tích thêm một thách thức gay go cho ngành dệt may nội địa là các địa phương không mặn mà, thậm chí từ chối những dự án dệt nhuộm vì e ngại ô nhiễm môi trường.

Chuyên gia ngành dệt may và da giày Việt Nam, ông Diệp Thành Kiệt cho biết: “Thực ra, Bộ Công thương đã có kế hoạch phát triển cho ngành dệt may và ngành da giày, trong đó đã quy hoạch một số nơi để làm các khu công nghiệp. Đương nhiên, địa phương nào nằm trong phạm vi cho phép thì người ta làm, còn những địa phương mà người ta không cho phép hoặc địa phương nằm gần nguồn nước cung cấp thì người ta không dám làm và việc đó không nên trách các địa phương. Vấn đề trở ngại có thể phân tích được là các địa phương quy hoạch các vị trí của khu công nghiệp dành cho nhuộm và thu6o5c da đôi lúc không thuận lợi cho việc vận chuyển”.

Đó là điểm mâu thuẫn mà các doanh nghiệp trong ngành dệt may và da giày đang kiến nghị và Bộ Công thương đang xem xét. Ông Diệp Thành Kiệt cho biết:

Nếu triệt để bảo vệ môi trường thì người ta đưa những khu này ra những nơi không ảnh hưởng đến nguồn nước của người dân. Không ảnh hưởng tức là phải xa khu dân cư, như vậy lại bất lợi trong việc vận chuyển.

Qua những sự cố môi trường lớn trước đó như đối với Vedan, Formosa hay một số trường hợp khác thì hầu hết các địa phương Việt Nam hiện nay đều rất ngại trong việc cho phép đầu tư vào những lĩnh vực có nước thải lớn như nhuộm, thuộc da, xi mạ. Mặt trái của nó là khi đầu tư thì hứa hẹn sẽ bảo vệ thế này thế kia, nhưng khi chi phí đưa nước thải thành nước sạch quá cao nên người ta né tránh không làm”.

Từ tháng 1 đến tháng 6 vừa qua, tổng lượng vải may mặc mà Việt Nam mua vào trị giá hơn 6,5 tỷ USD, chiếm 5,4% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa cả nước.

Theo Bộ Công thương, giảm được sự phụ thuộc vào nguồn cung vải lớn nhất từ Trung Quốc thì ngành may mặc sẽ thu lợi và mang về cho Việt Nam thêm hàng tỷ USD mỗi năm. Đây cũng là tình trạng chung của nhiều ngành sản xuất tại Việt Nam khi lệ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu Thực tế này khiến lợi nhuận thu được trên sản phẩm làm ra rất thấp, vì thực ra, lợi nhuận chủ yếu đến từ sức lao động của người công nhân.

Nguồn: TKNB – 08/08/2019

Những hứa hẹn của dữ liệu lớn – Phần đầu


Ngày nay, thông tin phong phú hơn bao giờ hết và sự tăng trưởng của nó mỗi ngày càng nhanh hơn. Cách đây hai mươi năm, sự hơn thua chính nằm ở vấn đề kiểm soát thông tin, cả về chính trị cũng như trong các doanh nghiệp. Ngày nay, đó là khả năng khai thác thông tin, biến đổi những khối lượng dữ liệu khổng lồ được tạo ra theo thời gian thực thành giá trị.

Dòng tác dữ liệu kỹ thuật số, được George Day và David Reibstein đề cập trong các cột báo của chúng tôi (ParisTech Review), không chỉ ảnh hưởng đến các ngành nghề tiếp thị. Toàn bộ các tổ chức sản xuất đều bị tác động, và xa hơn nữa là các thách thức về năng lực cạnh tranh, liên quan đến các nền kinh tế quốc gia. Những ai có khả năng sử dụng những dữ liệu này sẽ có một lợi thế lớn không những để biết được ý kiến của công chúng và phát hiện ra những động thái văn hóa, mà còn hiểu được những gì đang diễn ra trong chính tổ chức của họ, để cải tiến quy trình và có thông tin tốt hơn trong quá trình ra quyết định. Tất nhiên cần phải có những phương tiện thỏa đáng: đó là khó khăn lớn nhất cho những ai phải đương đầu với thách thức “dữ liệu lớn”, vừa là một hứa hẹn và là một thách thức. Thách thức về kỹ thuật, đồng thời còn là thách thức về trí tuệ, bởi vì các công cụ tin học giúp khai thác các cơ sở dữ liệu ấy rõ ràng chỉ là một phần của giải pháp mà thôi.

Kỷ nguyên thông tin

Vấn đề trên lần đầu tiên xuất hiện trong giới học thuật, khi một nhóm nghiên cứu của Peter Lyman và Hal R. Varian thuộc Đại học California tại Berkeley, tiến hành đo lường khối lượng thông tin được tạo ra và lưu trữ trên các phương tiện truyền thông, dĩ nhiên là trên các phương tiện truyền thông kỹ thuật số. Họ công bố một báo cáo đầu tiên vào năm 2000 và cập nhật nó vào năm 2003, “How Much Information” (Cần bao nhiêu thông tin). Báo cáo làm nổi bật một hiện tượng từng được dự cảm: khối lượng thông tin không những thường xuyên tăng lên gấp đôi, mà còn gia tăng trong những khoảng thời gian ngày càng ngắn hơn. Các nhà nghiên cứu viện dẫn rất nhiều nguyên nhân. Họ đặc biệt dẫn ra sự phát triển nhanh của các nội dung được số hóa, do năng lực sáng tạo, mà còn do việc số hóa các tài liệu và đặc biệt hơn là việc số hóa các hình ảnh. Việc nhiều tổ chức lưu trữ điện tử các dữ liệu vật chất của họ, cũng góp phần đáng kể vào xu hướng này, đồng thời với phong trào số hóa rộng rãi các dữ liệu in ấn được các thư viện lớn nhất thế giới khởi xướng từ những năm 1990.

Lyman và Varian cũng gợi lên sự tăng trưởng chóng mặt của những trao đổi trực tuyến, với phiên bản Web 2.0 nổi tiếng, khi mà mọi người đều là một nhà xuất bản tiềm tàng. Sự bùng nổ của các mạng xã hội, trong nửa sau của những năm 2000, càng làm tăng tốc xu hướng này.

Trong bối cảnh này, các công cụ tìm kiếm như Google đóng một vai trò ngày càng mang tính quyết định… và chính chúng cũng đã tiến hành tạo ra thông tin, bởi vì siêu dữ liệu (phân loại, lập chỉ mục, lập từ khóa) cũng là thông tin. Và như vậy khối lượng cơ sở dữ liệu khổng lồ đã được cấu thành, và việc khai thác dữ liệu đã tạo ra những dữ liệu mới.

Ngày nay, các siêu dữ liệu, được phát triển từ các dữ liệu thô, chiếm một phần ngày càng tăng trong dòng chảy dữ liệu. Dữ liệu thô có thể là một dòng thông tin trên tài khoản ngân hàng của bạn hay một tấm hình mà bạn chia sẻ trên một trang mạng. Siêu dữ liệu là, chẳng hạn hồ sơ tài khoản ngân hàng của bạn, được hình thành từ nhiều dữ liệu khá nhau về bạn, đó cũng là mạng lưới những người có thể thấy được tấm hình của bạn, những người thực sự thấy nó, nhận xét về nó, cũng như lộ trình số của những người truy cập để đến tấm hình của bạn.

Có lẽ ngoại trừ một số người bản địa sống biệt lập trong các khu rừng nhiệt đới Amazon, mỗi người chúng ta đều để lại dấu vết kỹ thuật số ngày càng nhiều. Người dân ở các nước phát triển để lại vô số dấu vết kỹ thuật số, từ các ý kiến được đăng trên blog đến các giao dịch trực tuyến qua điện thoại thông minh được định vị địa lý. Rất nhanh, một số tác nhân đã thấy được giá trị của những dấu vết kỹ thuật số ấy và học được cách để khai thác chúng, đặc biệt là Google hay Facebook, sử dụng chúng để xác định cac mục tiêu quảng cáo mà ta thấy xuất hiện trên màn hình của chúng ta. Một số tác nhân khác, chẳng hạn như các công ty bảo hiểm, ở các nước mà luật pháp cho phép, thu nhập các dữ liệu cá nhân để làm phong phú và tinh chỉnh kỹ năng của các nhân viên tính toán bảo hiểm của họ

Siêu dữ liệu được cập nhật liên tục, và thông tin có thể được nhận thức như một thế giới phù du luôn thay đổi. Các dòng thông tin ấy tiếp liệu cho các kho dữ liệu, các ngân hàng dữ liệu, nhưng cung có thể được lọc theo thời gian thực, nếu coi chúng như là một khối lượng thông tin khổng lồ đang chuyển động chứ không phải là một khối lượng thông tin trơ ì. Chính các dữ liệu lớn này là trung tâm của sự chú ý ngày nay.

Một cuộc cách mạng tin học

Tin học của ngày hôm qua đã được xây dựng xung quanh việc quản lý các cơ sở dữ liệu tương đối ổn định, tương đối đóng và, có thể nói thêm rằng, tương đối hạn chế. Cuộc cách mạng đang diễn ra cả về quy mô, với khối lượng dữ liệu khổng lồ theo nghĩa đen, lẫn việc cập nhật thông tin liên tục, do việc mở cửa các cơ sở dữ liệu vào các dòng thông tin. Thêm vào đó là sự phức tạp của các định dạng và sự kết nối giữa các cơ sở dữ liệu, không bao gồm việc sử dụng các công cụ quản lý truyền thống.

Tất nhiên, chi phí lưu trữ ngày nay có xu hướng giảm, cũng nhanh gần như khi gia tăng dung lượng lưu trữ. Hơn nữa, các công cụ đã được phát triển, đặc biệt là các siêu máy tính, cho phép quản lý những khối lượng cơ sở dữ liệu khổng lồ.

Ngoài phần cứng, chính bản chất của các công cụ phân tích, trong lĩnh vực phần mềm, giờ đây là một thách thức. Các công cụ truyền thống, ví dụ như các thuật toán phân tích việc ra quyết định, đơn giản bị quá tải bởi khối lượng các dữ liệu được xem xét và bởi sự phân mảnh của chúng. Thông tin của dữ liệu lớn không phải được chứa hoàn toàn trong “cơ sở dữ liệu”: trước hết chúng nằm ở bên ngoài, và cơ sở dữ liệu, nói đúng ra, mang tính ảo.

Sự phát triển của Internet và sự xuất hiện của các dịch vụ công chúng là một thách thức đối với các hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu. Ngay cả ý tưởng về những cơ sở dữ liệu có tính quan hệ (một khối lượng thông tin được phân tách và sắp xếp lại trong những ma trận được gọi là quan hệ hay bảng) cũng đều quá tải bởi dòng chảy của dữ liệu và bản chất thay đổi của chúng. Và cùng với cơ sở dữ liệu, những ngôn ngữ truy vấn có cấu trúc (Structured Query Language, SQL) theo kiểu cũ bị cuốn phăng, bởi vì chức năng của chúng (một cách thô thiển là: xác định dữ liệu, phân loại dữ liệu) chỉ có tính thao tác bên trong một cơ sở dữ liệu đóng, nhưng lại không hiệu quả trong một hệ thống mở.

Các hệ thống quản lý mới đã buộc phải từ bỏ một số tính năng để đạt được khả năng tính toán ca. Vì vậy, người ta thấy xuất hiện các công cụ mới: những cơ sở dữ liệu định hướng theo hàng cột đứng chớ không phải theo hàng ngang, hay những cơ sở dữ liệu “bên trong bộ nhớ”, hoạt động chủ yếu trên cơ sở bộ nhớ trung tâm hơn là bộ lưu trữ trên đĩa cứng. Cơ sở dữ liệu “bên trong bộ nhớ” nhanh hơn so với các kiểu cơ sở dữ liệu khác, bởi vì việc truy cập dữ liệu và các thuật toán tối ưu hóa nội bộ hoạt động đơn giản hơn: do đó việc đọc dữ liệu cũng nhanh hơn.

(còn tiếp) 

Người dịch: Huỳnh Thiện Quốc Việt

Nguồn: Les promesses du Big Data, ParisTech Review, December 19th, 2011.

Anh giúp đỡ tôi, tôi lợi dụng anh – Phần VI


Mối quan hệ lợi ích tương hỗ giữa những cá thể thuộc các loài khác nhau được gọi là quan hệ hỗ sinh hay sự cộng sinh. Chúng thường đem lại nhiều điều cho nhau hơn vì chúng đem đến những “kỹ năng” khác nhau cho sự cộng tác. Dạng khác nhau cơ bản này có thể dẫn tới những chiến lược tiến hóa bền vững của sự hợp tác cùng có lợi. Các con rệp có phần miệng phù hợp với việc bơm nhựa cây lên, nhưng dạng miệng chích hút như vậy không tốt cho việc tự vệ. Lũ kiến không có lợi thế trong việc hút dịch nhựa từ các cây, nhưng chúng có thể chiến đấu tốt. Những gen kiến quy định việc nuôi nấng và bảo vệ các con rệp được ưu tiên trong vốn gen của kiến. Những gen rệp quy định việc hợp tác với kiến được ưu tiên trong vốn gen của rệp.

Mối quan hệ cộng sinh để có lợi ích tương hỗ khá phổ biến trong các loài động, thực vật. Một khóm địa y có vẻ ngoài như một cá thể thực vật như bất kỳ cây nào khác. Nhưng nó thực sự là một nhóm cộng sinh chặt chẽ giữa một loài nấm và tảo lục. Không một kẻ nào có thể sống sót thiếu đối tác của mình. Nếu nói sự liên kết của chúng trở nên chặt chẽ hơn một chút, chúng ta sẽ không thể nói rằng một cây địa y là một sinh vật kép. Vì vậy, có lẽ đã có những sinh vật kép hoặc đa sinh vật mà chúng ta không nhận ra được. Có lẽ cả bản thân chúng ta?

Trong mỗi tế bào của chúng ta có rất nhiều những thể nhỏ bé khác được gọi là ti thể. Các ti thể là những nhà máy hóa học, chịu trách nhiệm cung cấp hầu hết năng lượng mà chúng ta cần. Nếu chúng ta mất đi những ti thể của mình, chúng ta sẽ chết trong giây lát. Gần đây, có những tranh luận đáng chú ý rằng ti thể ban đầu là những vi khuẩn cộng sinh, những kẻ đã gia nhập với các dạng tế bào của chúng ta từ rất sớm trong quá trình tiến hóa. Những gợi ý tương tự cũng đã được đưa ra đối với những thể nhỏ bé khác trong các tế bào của con người. Đây là một trong những ý tưởng về mặt tiến hóa mà phải mất một thời gian mới có thể quen được, nhưng nó đã trải qua thời gian. Tôi cho rằng chúng ta sẽ chấp nhận ý tưởng mang tính cơ bản hơn rằng mỗi một gen người là một đơn vị cộng sinh. Chúng ta là tập hợp khổng lồ của những gen cộng sinh. Người ta không thể thực sự đưa ra được “bằng chứng” cho ý kiến này, nhưng như tôi đã cố đưa ra từ những chương trước, điều này thực sự gắn liền với cách mà chúng ta nghĩ về cách thức các gen hoạt động trong các loài sinh sản hữu tính. Mặt khác của vấn đề là virus có thể là các gen bị tách rời từ “các tổ” như cơ thể chúng ta chẳng hạn. Virus bao gồm một phân tử AND (hoặc là một phân tử có khả năng tự tái bản) được bao quanh bởi một chiếc áo protein. Chúng hoàn toàn sống ký sinh. Ý tưởng về việc chúng đã tiến hóa từ các gen “nổi loạn”, những kẻ đã trốn đi và giờ đây đang di chuyển từ cơ thể này sang cơ thể khác trực tiếp qua không khí chứ không phải qua những phương tiện thuận lợi hơn là các tinh trùng và trứng. Nếu điều này là đúng, chúng ta có thể coi bản thân mình là những ổ virus! Một số chúng phối hợp với nhau theo cách cộng sinh và di chuyển từ cơ thể này qua cơ thể khác trong các trứng và tinh trùng. Chúng là những “gen” thông thường. Một số khác sống ký sinh và di chuyển bằng bất cứ thứ gì mà chúng có thể. Nếu ADN ký sinh di chuyển trong tinh trùng và trứng, nó có lẽ đã tạo ra các đoạn ADN “ngược”. Nếu nó di chuyển qua không khí, hoặc bằng những con đường trực tiếp khác, nó được gọi là “virus” theo nghĩa thông thường.

Nhưng đây là những ước đoán cho tương lai. Hiện tại, chúng ta đang quan tâm đến cộng sinh ở mức độ cao hơn, đó là những mối quan hệ giữa các sinh vật đa bào chứ không phải là trong các tế bào. Từ cộng sinh thường được sử dụng cho những nhóm thành viên thuộc các loài khác nhau. Nhưng giờ đây chúng ta phải tránh dùng quan điểm tiến hóa “cái tốt cho loài” bởi dường như không có lý do logic nào để phân biệt các nhóm thành viên của các loài khác nhau là những sự vật khác với các nhóm thành viên của cùng một loài. Nhìn chung, các nhóm có lợi ích chung sẽ tiến hóa nếu mỗi thành viên có thể nhận được nhiều hơn những gì nó góp vào. Điều này là đúng cho dù chúng ta đang nói về các thành viên của cùng một nhóm linh cẩu hoặc các sinh vật hoàn toàn khác biệt nhau như kiến và rệp cây, hoặc ong và hoa. Trên thực tế có lẽ sẽ khó phân biệt được các trường hợp lợi ích tương hỗ thực sự cho hai bên với những trường hợp một bên lợi dụng bên kia.

Về mặt lý thuyết, sự tiến hóa của các nhóm có lợi ích tương hỗ sẽ dễ dàng hình dung được nếu sự ưu tiên được cho đi và nhận lại một cách đồng thời như trong trường hợp của những thành viên tạo nên địa y. Nhưng các vấn đề sẽ nảy sinh nếu có một độ trễ giữa sự cho đi và sự nhận lại của nó. Điều này là do kẻ tiếp nhận ban đầu có thể cố tình gian lận và từ chối đáp lại khi đến lượt nó phải cho. Việc phân tích vấn đề này rất thú vị và đáng để thảo luận chi tiết. Tôi có thể làm nó tốt nhất dưới dạng một ví dụ giả thiết.

Giả sử rằng một cái dằm đặc biệt bẩn mang theo bệnh nguy hiểm ký sinh vào một loài chim. Việc lấy cái dằm này ra càng sớm càng tốt là việc hết sức quan trọng. Thông thường thì một cá thể chim có thể rút cái dằm ra khi nó rỉa lông. Tuy nhiên, có một ví trí mà mỏ của nó không thể với tới: trên đỉnh đầu. Vấn đề này được giải quyết nhanh chóng với bất kỳ người nào. Một cá thể có thể không với tới được đỉnh đầu anh ta, nhưng không có gì dễ hơn việc nhờ một người bạn làm điều đó. Sau đó, khi người bạn bị dằm đâm, hành động đó có thể được đáp trả. Trên thực tế, việc rỉa, bới lông cho nhau rất phổ biến trong các loài chim và động vật có vú.

Điều này tạo ra cảm giác trực quan tức thì. Bất kỳ ai có nhận thức đều có thể thấy rằng việc tham gia vào nhữn công việc gãi-lưng cho nhau là việc làm khôn ngoan. Nhưng chúng ta phải biết cảnh giác với những gì có vẻ như là cảm nhận trực quan. Gen không có nhận thức. Liệu học thuyết gen vị kỷ có thể giải thích việc gãi lưng cho nhau, hoặc “tính vị tha tương hỗ”, nơi có sự chậm trễ giữa những hành động tốt đẹp và sự đáp trả. Williams đã thảo luận ngắn gọn vấn đề này trong cuốn sách năm 1966 của ông mà tôi đã đề cập đến. Ông đã kết luận giống với Darwin rằng tính vị tha tương hỗ bị chậm trễ có thể tiến hóa trong các loài có khả năng nhận ra và ghi nhớ các cá thể khác. Năm 1971, Trivers đã đưa vấn đề tiến xa hơn. Khi ông viết ra, ông đã không biết ý tưởng về chiến lược tiến hóa bền vững của Maynard Smith. Nếu ông ta biết, tôi đoán rằng ông ta sẽ sử dụng nó, vì nó đưa ra sự diễn giải một cách tự nhiên ý tưởng của ông ấy. Sự trích dẫn của ông ta về “Sự tiến thoái lưỡng nan của người tù” – một câu đố nổi tiếng trong học thuyết trò chơi – cho thấy ông ấy đã nghĩ theo những hướng tương tự.

Giả sử B có một cái dằm trên đầu. A nhổ cái dằm này ra cho nó. Sau đó, khi A có một dằm trên đầu. Nó sẽ tìm đến B để B có thể đáp trả hành động tốt đẹp của A trước đó. B lạnh lùng quay mặt bước đi. B là kẻ gian lận, một cá thể chỉ nhận lợi ích từ hành động vị tha của các cá thể khác nhưng không bao giờ đáp trả, hoặc có đáp trả nhưng không đầy đủ. Những kẻ gian lận sẽ sống tốt hơn những kẻ vị tha không cân nhắc bởi chúng thu được nhiều lợi ích mà không phải trả một cái giá nào. Để cho chắc chắn, cái giá phải trả của việc rỉa lông trên đầu một cá thể khác dường như nhỏ bé hơn so với lợi ích thu được từ việc nhổ cái dằm nguy hiểm ra, nhưng nó không hoàn toàn là vô nghĩa. Một số năng lượng và thời gian quý giá sẽ bị sử dụng.

Hãy để một quần thể bao gồm các cá thể thích nghi với một trong hai chiến thuật. Như trong các phân tích của Maynard Smith, chúng ta không nói đến các chiến thuật có ý thức mà là các tập tính vô thức được lập trình sẵn trong các gen, chiến thuật đó được gọi là “Khờ khạo và gian dối”. Những cá thể khờ khạo rỉa lông cho bất cứ ai cần nó, không hề tính toán. Những cá thể gian dối nhận hành động vị tha của cá thể khờ khạo, nhưng chúng không bao giờ rỉa lông cho ai khác, kể cả những cá thể đã rỉa lông cho chúng trước đó. Cũng như trong trường hợp của diều hâubồ câu, chúng ta sẽ xác định các điểm lợi ích một cách ngẫu nhiên. Các giá trị chính xác không phải là vấn đề gì khi mà lợi ích của việc rỉa lông vượt xa cái giá phải trả của việc rỉa lông cho kẻ khác. Nếu nguy cơ bị dằm đâm là cao, một cá thể khờ khạo trong quần thể khờ khạo có thể trông đợi vào việc được rỉa lông với tần suất mà nó rỉa lông cho kẻ khác. Vì vậy, lợi ích trung bình của một kẻ khờ khạo giữa các cá thể khờ khạo là giá trị dương. Trên thực tế, chúng đều làm tốt mọi việc, và từ khờ khạo có vẻ như không phù hợp. Nhưng hãy giả sử rằng một kẻ gian dối xuất hiện trong quần thể. Là kẻ gian dối duy nhất, nó có thể được rỉa lông bởi tất cả các cá thể khác, nhưng nó sẽ không đáp lại gì cả. Lợi ích trung bình của nó sẽ tốt hơn nhiều so với một kẻ khờ khạo. Vì vậy, các gen gian lận sẽ bắt đầu phát tán trong quần thể. Các gen khờ khạo sẽ sớm bị tuyệt chủng. Điều này là do, cho dù có tỉ lệ thế nào trong quần thể đi chăng nữa, những kẻ gian lận sẽ luôn làm tốt hơn so với những kẻ khờ khạo. Ví dụ, hãy xem xét trường hợp khi một quần thể bao gồm 50% cá thể khờ khạo và 50% cá thể gian lận. Lợi ích trung bình của cả nhóm khờ khạogian lận sẽ ít hơn so với bất kỳ cá thể nào trong quần thể có 100% cá thể khờ khạo. Tuy nhiên, các cá thể gian lận sẽ làm tốt hơn so với các cá thể khờ khạo vì chúng nhận được tất cả những lợi ích mà chúng có được và không phải đáp trả gì cả. Khi tỉ lệ của nhóm gian lận tăng đến 90%, lợi ích trung bình của tất cả các cá thể sẽ rất thấp: rất nhiều cá thể ở cả hai dạng có thể sẽ chết vì nhiễm trùng bởi những chiếc dằm. Nhưng những kẻ gian lận vẫn làm tốt hơn so với những kẻ khờ khạo. Thậm chí nếu toàn bộ quần thể giảm xuống mức tuyệt chủng, sẽ không có lúc nào các cá thể khờ khạo phát triển tốt hơn các cá thể gian lận. Vì vậy, chừng nào chúng ta chỉ xem xét hai chiến thuật này, không có gì có thể ngăn chặn được sự tuyệt chủng của nhóm khờ khạo và rất có thể, sự tuyệt chủng của toàn bộ quần thể.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Sự thay đổi trong quan hệ Mỹ – EU: Nguyên nhân và triển vọng – Phần đầu


Sau khi Donald Trump trở thành tổng thống Mỹ, giới học thuật quốc tế đổ lỗi sự xấu đi của quan hệ Mỹ – Liên minh châu Âu (EU) cho chính sách đối ngoại “Nước Mỹ trước tiên” mà ông thực hiện. Tuy quan điểm này là chính xác, nhưng cũng không hoàn toàn như vậy. Vì sau khi trở thành nước lớn có thực lực hùng mạnh nhất và bị tổn thất ít nhất trên thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ luôn tìm cách bảo vệ địa vị số một toàn cầu của mình. Cho dù đến thời Tổng thống Barack Obama, khi phát biểu tại Học viện Quân sự Mỹ tại West Point tháng 5/2014, ông còn nhấn mạnh: “Tôi không thể chấp nhận việc Mỹ trở thành nước đứng thứ hai thế giới, Mỹ là quốc gia không thể thiếu, đây là điểm giới hạn của chúng ta, Mỹ phải luôn đứng ở vị trí lãnh đạo, nếu chúng ta không lãnh đạo, thì không có ai có thể lãnh đạo. Trong 100 năm tới, Mỹ vẫn phải là nước đứng đầu thế giới”. Trên thực tế, việc quan hệ Mỹ – EU liên tục thay đổi trong hơn 70 năm sau chiến tranh phụ thuộc vào cán cân sức mạnh giữa hai bên.

Quan hệ đồng minh giữa Mỹ và EU hiện nay được bắt nguồn từ liên quan các nước như Mỹ, Anh… để đối phó với cuộc xâm lược vũ trang của phát xít Đức, Italy trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với việc Pháp khôi phục đất nước và được xác định là một trong năm nước chiến thắng, cũng như việc Pháp khởi xướng khởi động tiến trình nhất thể hóa châu Âu bao gồm cả các nước thua trận như Đức, Italy…, để cùng vươn lên, bảo vệ nền hòa bình của châu Âu sau chiến tranh, trong tình hình cùng đối diện với mối đe dọa từ Liên Xô, quan hệ đồng minh quân sự Mỹ – EU dần được hình thành.

Trong thời kỳ diễn ra Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô, quan hệ đồng minh Mỹ – EU do Mỹ đứng đầu trở thành chỗ dựa chủ yếu để Mỹ tranh giành quyền chủ đạo thế giới với Liên Xô, tìm cách chủ đạo trật tự kinh tế – chính trị thế giới. Các nước trng lục địa châu Âu như Pháp, Đức, Italy… đều bị tổn thất nặng nề do chiến tranh, để nhanh chóng khôi phục, buộc phải nhờ đến sự giúp đỡ của Mỹ về kinh tế, sự bảo vệ của Mỹ về an ninh, hình thành quan hệ song phương “Mỹ chủ đạo, EU làm theo”. Do luôn kề vai sát cánh cùng Mỹ tác chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nên Anh có công lao rất lớn, và Vương quốc Anh ngăn cách biển với lục địa châu Âu, tuy cùng chịu nhiều tổn thất, nhưng về tổng thể vẫn tương đối nhỏ. Thủ tướng Anh khi đó Winston Churchill tuyên bố: “Tuy Anh ở cùng với châu Âu, nhưng không thuộc châu Âu”. Điều này không những trở thành “chuẩn mực” của các nhiệm kỳ Chính phủ Anh sau này trong chính sách đối với châu Âu, mà còn là cơ sở để Mỹ và Anh xây dựng quan hệ đối tác đặc biệt.

Đầu những năm 1990, cùng với việc Liên Xô tan rã, tình hình khu vực Trung – Đông Âu thay đổi đột ngột, quan hệ Mỹ – EU cũng bắt đầu xuất hiện thay đổi do cán cân sức mạnh tạo ra. Với tư cách là siêu cường duy nhất, trong nhiệm kỳ Bush (cha), Chính phủ Mỹ đã thúc đẩy chiến lược toàn cầu để cố gắng ngăn chặn việc lại xuất hiện các quốc gia hay tập đoàn các nước giống như Liên Xô trước đây, có thể tạo thành thách thức hoặc mối đe dọa đối với địa vị lãnh đạo của Mỹ trên thế giới, với mục đích là độc chiếm thế giới, kéo dài cho đến ngày nay. Cái gọi là “tập đoàn các nước” thực chất là chỉ EU. Tháng 9/2001, khi thực hiện Kế hoạch thế kỷ mới do Chính quyền Bush (con) vạch ra, các phần tử có tư tưởng chủ nghĩa bảo thủ mới của Mỹ đã tuyên bố một cách trắng trợn rằng: “Mỹ nên khuyên ngăn tất cả các nước phát triển không nên thừa nhận địa vị lãnh đạo của Mỹ, cũng đừng hy vọng phát huy vai trò quan trọng ở khu vực”.

Bên cạnh đó, cùng với tiến trình thúc đẩy nhất thể hóa châu Âu và sự thống nhất của nước Đức, sức mạnh của EU tăng lên, trở thành khối có sức mạnh tổng hợp lớn nhất, mức độ nhất thể hóa cao nhất trên thế giới, phát huy vai trò ngày càng lớn trong các công việc của thế giới. Tổng lượng kinh tế của EU đã đuổi kịp Mỹ, về chính trị, tổ chức này cũng không cam chịu địa vị “Mỹ chủ đạo, EU làm theo”, tìm kiếm địa vị ngang bằng với Mỹ. Cho dù Mỹ xâm lược Iraq hay mở rộng chức năng của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), Mỹ cổ xúy thế giới không có hạt nhân hay rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran, EU do Đức đứng đầu đều có quan điểm trái ngược với Mỹ.

Mục tiêu chiến lược của Mỹ và EU – một bên muốn độc chiếm thế giới, bá quyền bền vững; một bên muốn thể hiện năng lực, mở rộng thế lực – là khác nhau, làm cho mâu thuẫn và xung đột giữa lợi và hại của hai bên ngày càng gay gắt. Tuy “đồng minh” tồn tại trên danh nghĩa, nhưng hai bên đã chuyển hóa từ đồng minh thành đối thủ cạnh tranh, đều đặt lợi ích của mình lên trên quan hệ đồng minh. Hai bên vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau trong quá trình liên kết để chủ đạo trật tự quốc tế.

Việc quan hệ Mỹ – EU xuất hiện cục diện mâu thuẫn gay gắt, bất đồng nổi rõ, chỉ trích lẫn nhau, đối lập công khai sau khi Donald Trump lên làm tổng thống là do ân oán tích lũy trong nhiều năm qua tạo thành. Từ ý nghĩa nhất định, cũng là ảnh hưởng còn sót lại của việc Anh rời khỏi EU và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Xuất phát từ lợi ích cá nhân, trước tiên Chính quyền Obama cùng các nước EU do Đức, Pháp giữ vai trò chủ đạo, tích cực can dự vào cuộc trưng cầu ý dân của Anh, ngăn cản nước này rời khỏi EU; sau khi không thành công, lại cùng với các nước EU ủng hộ ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ Hillary Clinton. Khi Donald Trump thắng cử, Obama đích thân thuyết phục Angela Merkel tiếp tục tranh cử nhiệm kỳ thủ tướng Đức tiếp theo, còn nói rằng thế giới tự do của phương Tây cần có bà, ông không thể tìm được đối tác nào ổn định hơn và đáng tin cậy hơn Merkel. Nhiều năm qua, Donald Trump luôn nhận định các nước đồng minh như Đức đã lợi dụng Mỹ, và trong bài phát biểu nhậm chức có nói sẽ quyết tâm lấy lại tất cả, điều này đang càng thúc đẩy Donald Trump quyết định đi con đường phản đối Obama. Khi vừa lên cầm quyền, ông đã ủng hộ Anh rời khỏi EU, tập trung công kích Đức, mỉa mai chính sách của EU đối với châu Âu.

Việc quan hệ đồng minh Mỹ – EU liên tục căng thẳng, sắp đi đến rạn nứt có những yếu tố chính sau:

1/ Mối đe dọa an ninh chung tan biến, làm cho cơ sở tồn tại của liên minh quân sự Mỹ – EU bị tác động

Ngày 13/11/2016, trước khi Donald Trump đắc cử và trở thành tổng thống, cựu Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger từng nói với phóng viên của tờ Sankei Shimbun (Nhật Bản) rằng: “Rất nhiều quan hệ đồng minh được tạo ra trong thời Liên Xô được coi là mối đe dọa rất lớn. Hiện nay đã tiến vào thời đại mới, nội dung của mối đe dọa đã khác. Chỉ từ điểm này có thể thấy cần phải xem xét lại tất cả các quan hệ đồng minh”. Ông đặt lợi ích thực tế của Mỹ lên trên quan hệ đồng minh có cùng quan niệm giá trị, xem xét quan hệ Mỹ – EU dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá. Từ trước đến nay, Mỹ luôn áp dụng sách lược “chia để trị” đối với EU, khi vừa lên cầm quyền Donald Trump đã chĩa mũi dùi công kích vào Đức, phê phán Merkel đã phạm phải sai lầm rất lớn trong vấn đề người nhập cư. EU đã trở thành công cụ của Đức, Đức không tăng ngân sách quốc phòng nhưng lại đầu tư vào đường ống khí đốt Dòng chảy Phương Bắc 2 của Nga… Mục đích của những hành động này là muốn lôi kéo một số nước ở Trung-Đông-Âu, thậm chí là Nam Âu vốn bất mãn với Đức trong các công việc của châu Âu, cơ bản là không hài lòng đối với công việc quan trọng của EU do Đức chủ đạo. Mục tiêu chiến lược của Mỹ là cố gắng kiềm chế tình hình Đức tái trỗi dậy, một lần nữa trở thành nước đứng đầu châu Âu. Trong bài phát biểu gần đây của mình, Thủ tướng Merkel cho rằng “Thời gian để chúng ta có thể hoàn toàn dựa vào người khác đã kết thúc ở mức độ nào đó, người châu Âu phải nắm lấy vận mệnh của mình”. Đây không phải là điều ngẫu nhiên, nó cho thấy sự biến mất của mối đe dọa chung, quan hệ đồng minh cũng khó có thể tiếp tục.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.cfisnet.com – 14/05/2019

TLTKĐB – 05/06/2019

Chiến lược marketing để khai phá giá trị – Phần I


Chúng ta quên rằng thế giới trông như vậy với chúng ta vì chúng ta đã quen nhìn nó như vậy qua những lăng kính cố định. Tuy nhiên ngày nay chúng ta cần những lăng kính mới và loại bỏ đi những lăng kính cũ.

Kenichi Ohmae

Nếu so sánh một công trình thì cấu trúc marketing sẽ bao gồm ba trụ cột chính là chiến lược, chiến thuật và giá trị. Trong kỷ nguyên cũ, chiến lược marketing gồm có ba thành tố: phân khúc thị trường, nhắm mục tiêu và định vị. Ba thành tố này tạo nền tảng cho một công ty để chiếm lĩnh thị phần trong tâm trí khách hàng (Kotler và cộng sự, 2003).

Phân khúc thị trường được định nghĩa là cách công ty tìm kiếm thị trường cho sản phẩm và dịch vụ một cách sáng tạo. Chúng tôi gọi phân khúc thị trường là “chiến lược vẽ bản đồ” vì nhiệm vụ chính của nó là vẽ ra bản đồ thị trường để từ đó xác định phân khúc. Sau khi đã vẽ được bản đồ thị trường và phân khúc thành nhiều nhóm khách hàng tiềm năng có chung đặc điểm và hành vi, công ty có thể tiến hành chọn ra phân khúc nào để nhắm vào một cách hiệu quả hơn. Đây gọi là quá trình nhắm mục tiêu. Nhắm mục tiêu được định nghĩa là phương tiện để phân bổ tài nguyên của tổ chức hiệu quả bằng cách chọn đúng thị trường mục tiêu. Chúng tôi gọi nhắm mục tiêu là “chiến lược thích nghi” vì nó đòi hỏi điều chỉnh tài nguyên công ty theo nhu cầu của thị trường mục tiêu.

Thành tố cuối cùng của chiến lược marketing là định vị. Định vị là cách một công ty chiếm lĩnh một vị trí trong tâm trí khách hàng. Vì giúp tạo ra bản sắc thương hiệu trong tâm trí khách hàng nên định vị còn được gọi là “chiến lược tồn tại”. Khi một thị trường đã được chia thành các phân khúc và công ty đã điều chỉnh tài nguyên phù hợp với phân khúc mục tiêu, công ty cần phải xác định hình ảnh mình muốn xây dựng để đạt được sự tin cậy trong thị trường mục tiêu của mình.

Đó là cách một công ty phát triển chiến lược marketing trong kỷ nguyên cũ khi thế giới chưa bị tác động bởi làn sóng ngang hàng biến công ty và khách hàng ngang hàng với nhau do kết quả của sự tiến bộ trong ngành công nghệ thông tin. Tuy nhiên, tiến bộ khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi ngoạn mục hành vi khách hàng, do đó đòi hỏi hướng tiếp cận mới trong kinh doanh. Như đã thảo luận, định vị – vốn là cốt lõi của chiến lược marketing – đã biến đổi thành chiến lược làm rõ (clarification). Trong bài này, chúng ta sẽ diễn giải cách mà hai thành tố còn lại của marketing – nhắm mục tiêu và phân khúc – cũng trải qua sự biến đổi về tính chất cơ bản. Phân khúc thị trường trở thành việc xác lập cộng đồng (communitization) và nhắm mục tiêu trở thành xác nhận với cộng đồng đó (confirmation), từ đó tạo lập nên nền tảng cơ bản của chiến lược Marketing Làn sóng mới (hình 10.1).Từ Phân khúc đến Xác lập Cộng đồng

Trong khái niệm marketing truyền thống nổi bật bởi hướng tiếp cận hàng dọc – nơi công ty định vị bản thân tới khách hàng của mình – phân khúc sẽ là quá trình công ty khai phá những cơ hội để chia thị trường thành nhiều phân khúc hay nhóm nhỏ. Việc vẽ ra bản đồ thị trường sẽ dựa vào những đặc điểm sẵn có để giúp công ty xác định rõ ràng hơn phân khúc thị trường nào để thâm nhập. Trong bài viết của mình, Smith (1956) đề xuất rằng phân khúc thị trường có thể là cách hiệu quả giúp một tổ chức quản lý được sự đa dạng trong thị trường.

Khi thực hiện phân khúc, có nhiều lựa chọn để chọn ra những biến số, trong đó mỗi biến sẽ mang đến nhiều cấp độ hiệu quả khi dự đoán hành vi mua hàng  của khách hàng (Goyat, 2011). Nói chung, người làm marketing thường tiến hành phân khúc thị trường dựa trên những thuộc tính tĩnh hoặc động.

Thuộc tính tĩnh gồm các biến số thể hiện thông tin cụ thể nào đó của người tiêu dùng nhưng không phải lúc nào cũng phản ánh hành vi của họ. Ví dụ họ có thể kể đến một loại phân khúc dựa trên các biến về vị trí địa lý và dân số học. Loại phân khúc này dễ định nghĩa hơn nhưng không may là nó thường không hiệu quả vì không cung cấp một chân dung rõ ràng về cách người tiêu dùng lựa chọn và mua sản phẩm. Nó khác với hình thức phân khúc dựa trên tính chất động (gồm các biến về tâm ý và hành vi), thứ trở nên rất hữu dụng khi phản ánh đặc điểm thực tế của người tiêu dùng (Kotler và cộng sự, 2003).

Phân khúc là một hoạt động marketing “hàng dọc” bởi vì nó được thực hiện từ trên xuống bởi công ty nhằm chia khách hàng thành nhiều nhóm khác nhau. Tiêu chí hoặc thuộc tính dùng trong phân khúc là do công ty đề xuất mà không dựa vào hành động nào từ phía khách hàng. Trong kỷ nguyên marketing mới ngày nay, công nghệ Web 2.0 đã mang lại thời kỳ ngang hàng, nơi người tiêu dùng muốn được công nhận là những con người bằng xương bằng thịt, chứ không phải chỉ là luống đất cần chăm bón của công ty.

Hơn thế nữa, công nghệ cũng đã sản sinh ra một nền văn hóa chia sẻ và có vẻ như đã tiến hóa thành một nền kinh tế chia sẻ. Người tiêu dùng đã ngày một mang tính xã hội hơn và ít cá nhân hơn. Quyết định lựa chọn sản phẩm và dịch vụ không chỉ phụ thuộc bản thân mình mà họ chủ động tìm gợi ý từ mọi người xung quanh, cả ngoài đời thực lẫn không gian ảo.

Do đó việc thay đổi quy trình phân khúc thị trường của người làm marketing là điều không thể tránh khỏi để phù hợp với thế giới marketing đang thay đổi. Để thực hiện điều đó, có hai thứ người làm marketing phải cân nhắc. Thứ nhất, họ phải nhận ra được nhu cầu thay đổi cách tiếp cận marketing từ hàng dọc sang hàng ngang, trong đó người tiêu dùng được đặt ngang hàng với công ty. Người tiêu dùng nên được tham gia vào nhiều hơn thay vì bị đối xử như những đối tượng bị động để tiêu thụ sản phẩm của công ty. Thứ hai, người làm marketing cần hiểu quan điểm luôn thay đổi của người tiêu dùng. Như đã nói ở trên, người tiêu dùng không còn được xem là những cá nhân riêng lẻ nữa mà được hiểu là những cá thể xã hội có liên quan đến nhau và mang tính cộng đồng nhiều hơn. Nicholas Christakis, giáo sư xã hội học ở bộ môn Xã hội học của khoa Nghệ thuật và Khoa học Harvard đã nói rằng chìa khóa để hiểu con người là tìm cách hiểu về những mối quan hệ ràng buộc giữa học. Do đó, chúng ta nên đặt trọng tâm của mình vào những mối quan hệ này (Christakis và Fowler, 2011).

Trong kỷ nguyên Làn sóng mới ngày nay, thay vì phân khúc thị trường theo truyền thống, điều các công ty cần làm là xác lập cộng đồng – xem người tiêu dùng như những nhóm người quan tâm lẫn nhau, có cùng chung mục đích và chia sẻ chung những giá trị hoặc bản sắc. Cộng đồng có thể hình thành bởi công ty lập ra (theo thiết kế) hay do người tiêu dùng tự phát (mặc định). Điều quan trọng với người làm marketing là phải đảm bảo và lên kế hoạch để đưa khách hàng trở thành một phần chủ động trong chiến lược của công ty, chứ không phải là những cá thể bị động chỉ biết đón nhận những hoạt động truyền thông hay tài trợ từ phía công ty. Chính vì vậy chúng tôi đưa việc xác lập cộng đồng thành một phần của chiến lược marketing chứ không phải chiến thuật.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hermawan Kartajaya, Philip Kotler, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.