Thế giới chờ đợi gì từ bầu cử giữa kỳ ở Mỹ?


Chống hay ủng hộ ông Donald Trump? Chưa bao giờ một cuộc bầu cử giữa kỳ lại có tác động như một bài trắc nghiệm với người đứng đầu hành pháp Mỹ như cuộc bầu cử giữa kỳ 2018. Đây cũng là một cuộc bỏ phiếu thu hút sự chú ý đặc biệt của cả thế giới không kém gì cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ.

Theo đài RFI, trên phạm vi quốc tế, cuộc bầu cử giữa kỳ lần này của nước Mỹ thu hút sự chú ý nhiều nhất của thế giới. Không chỉ có các đồng minh mà ngay cả các đối thủ của Mỹ đều theo dõi sát sao, ngóng đợi kết quả của cuộc bầu cử hôm nay. Bởi vì, tương quan lực lượng sau cuộc bầu cử sẽ tác động đến bàn cờ chính trị quốc tế cũng như phản ứng của nhiều quốc gia từng bị ảnh hưởng của các quyết sách đối ngoại gần đây của Tổng thống Trump, như tương lai thỏa thuận hạt nhân Iran – vốn đã bị Tổng thống Trump xé bỏ, viễn cảnh lệnh cấm vận Nga cũng như cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung và chiến lược bảo hộ mậu dịch sẽ đi về đâu.

Các cuộc thăm dò dư luận tại Mỹ trước ngày bầu cử đều có chung một xu hướng: hệ thống lập pháp, kiểm soát quyền lực của Mỹ, sẽ được chia lại. Đảng Dân chủ nhiều khả năng giành lại được đa số ở Hạ viện, phe Cộng hòa của tổng thống tiếp tục nắm đa số ở Thượng viện. Những gì đã diễn ra trong kỳ bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016 buộc các nhà quan sát phải thận trọng.

Từ châu Âu

Theo đài VOA, bà Leslie Vinjamuri, người điều hành chương trình về Mỹ và châu Âu tại Viện nghiên cứu Chatham House ở London, cho biết: “Ai trong khu vực tư cũng đều rất quan tâm đến cuộc bầu cử Quốc hội giữa nhiệm kỳ ở Mỹ”. Điều này cũng đúng bên ngoài nước Anh. Một số quốc gia từng hy vọng ông Donald Trump đắc cử hai năm trước giờ đây ước gì họ đã không hy vọng như vậy và họ cổ vũ cho đảng Dân chủ giành được thành tích lớn trong cuộc bầu cử này.

Ở Tây Âu, sự quan tâm của mọi người đối với bầu cử giữa kỳ ở Mỹ xuất phát từ quan ngại rằng Tổng thống Trump dường như sẽ quay lưng lại với liên minh xuyên Đại Tây Dương – một tập hợp các nền dân chủ phương Tây và là đồng minh truyền thống của Mỹ.

Theo bà Vinjamuri, trong số những người trí thức ở London, rất nhiều người muốn cử tri Mỹ ít nhất là đưa Hạ viện về tay Đảng Dân chủ để kiểm soát quyền lực của ông Trump: “Tôi nghĩ rằng có hy vọng làn sóng xnah (màu xanh là màu của Đảng Dân chủ) là có thật”.

Ian Bond, nguyên Giám đốc chính sách đối ngoại tại Trung tâm Cải cách châu Âu có trụ sở ở London, nhận định rằng bầu cử giữa kỳ ở Mỹ được nhìn nhận trong giới hoạch định chính sách ở London không phải như là một cuộc bầu cử nữa, mà là một chỉ dấu quan trọng về phương hướng của nước Mỹ: “Nếu Đảng Cộng hòa giành được thành tích tốt thì trên khắp châu Âu, người dân sẽ nghĩ rằng ông Trump không phải sắp hết thời. Mọi người sẽ bắt đầu nghĩ rằng đây là sự thay đổi chính sách của Mỹ và quan điểm của Mỹ đối với thế giới bên ngoài mà trong nhiều năm mới xảy ra, và chúng tôi sẽ phải thích ứng với việc nước Mỹ sẽ không còn ở trong tình trạng sẵn sàng giúp đỡ châu Âu trong một cuộc khủng hoảng”.

Tuy nhiên, Bond lưu ý, ngay cả khi Đảng Dân chủ giành lại Hạ viện, họ cũng không thể kiềm chế ông Trump được nhiều như châu Âu kỳ vọng vì Tổng thống Mỹ có rất nhiều dư địa để điều hành chính sách  ngoại giao. Và mặc dù nhiều người trong giới chính trị chính thống của châu Âu không thích chính sách “Nước Mỹ trên hết” của ông Trump, vẫn có những người ủng hộ ông, chẳng hạn như những người cổ vũ cho nước Anh rời khỏi châu Âu (Brexit) như cựu Ngoại trưởng Anh Boris Johnson.

Cũng giống như những người cổ súy cho Brexit, ông Trump không thích Liên minh châu Âu mà ông cho là “đầm lầy các quy định” vốn ràng buộc các quốc gia và các doanh nghiệp. Hơn nữa, ông Trump đã lên tiếng nồng nhiệt hơn rất nhiều so với người tiền nhiệm Barack Obama về thỏa thuận thương mại tự do với Anh.

Trung Quốc

Về phần mình, Bắc Kinh có thể hy vọng vào thắng lợi cho Đảng Dân chủ. Trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016, Trung Quốc đã ủng hộ ông Trump, một phần bởi vì bà Hillary Clinton khi còn là Ngoại trưởng dưới thời ông Obama đã rất cứng rắn với Trung Quốc. Bắc Kinh xem ông Trump chỉ là một thương gia mà họ cho rằng họ có thể nói chuyện được và dễ dàng bị tâng bốc.

Tuy nhiên, mọi việc lại không diễn ra như Bắc Kinh nghĩ. Trong năm nay, Trump đã phát động một cuộc chiến thương mại nhằm vào Trung Quốc và áp đặt thuế quan lên khoảng 250 tỷ USD giá trị hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Thuế trả đũa của Trung Quốc nhằm vào các sản phẩm ở các bang là thành trì của đảng Cộng hòa.

Với việc đảng Dân chủ thắng lợi trong ngày 6/11, Tổng thống Trump sẽ bị suy yếu. Điều này sẽ khiến ông Trump phải điều chỉnh lại cách tiếp cận. Học giả Trung Quốc Anson Au nhận định với tời South China Morning Post: “Ông Trump sẽ phải thay đổi cách tiếp cận theo hướng giọng điệu ôn hòa hơn. Ở những chỗ mà trước đây ông ấy có thể chỉ thị, thì giờ đây, ông đàm phán với các nước khác và trong phạm vi nước của ông”.

Kết quả bầu cử giữa kỳ ở Mỹ có thể là một trong những nhân tố mà Bắc Kinh cần phải xem xét trước khi họ thông báo ngày tổ chức Hội nghị trung ương 4.

Ấn Độ

Tuy nhiên, đối với ít nhất một đối tác của Mỹ là Ấn Độ thì bầu cử giữa kỳ lần này cũng không hề quan trọng hơn những lần trước. Dhruva Jaishankar, chuyên gia nghiên cứu chính sách đối ngoại tại phân nhánh của Viện Brookings ở Ấn Độ, nói: “Trước đây, Ấn Độ rất quan tâm đến bầu cử giữa kỳ của Mỹ, bởi vì có những đạo luật đang bị treo với những tác động trực tiếp đến Ấn Độ. Năm nay, sự quan tâm của Ấn Độ ít hơn. Tất cả những vấn đề quan trọng có ý nghĩa đối với Ấn Độ không thật sự tùy thuộc vào kết quả bầu cử giữa kỳ”.

Những vấn đề này bao gồm thuế thép, cấm vận Iran, cấm vận những nước mua vũ khí của Nga và thị thực nhập cư. Hầu như tất cả những vấn đề này phụ thuộc vào nhánh hành pháp hơn là nhánh lập pháp của Mỹ. Ông Trump đã áp thuế thép với Ấn Độ hồi đầu năm và Ấn Độ cũng đã đánh thuế trả đũa mặc dù họ trì hoãn thực hiện. Chính quyền Trump cũng đang cân nhắc liệu có nên rút lại giấy phép làm việc cho những người có visa H-4 hay không vốn sẽ ảnh hưởng đến người hôn phối của những người nhập cư có trình độ mà đa phần đến từ Ấn Độ. Jaishankar nhận định: “Hầu hết những vấn đề chính được giao cho các Bộ trưởng Nội các – chẳng hạn như Bộ trưởng Thương mại hay Ngoại giao. Ngay cả khi đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát cả hai viện Quốc hội và khiến cho Tổng thống bị chìm trong khó khăn thì đối với Ấn Độ cũng không có gì khác biệt”.

Nga

Reuters dẫn nguồn tin từ các nhà điều tra chính phủ, các viện nghiên cứu và công ty bảo mật cho biết vào ngày 6/11, tình báo Nga được cho là phối hợp chặt chẽ với chính phủ đã ra sức phán tán nội dung chia rẽ và quảng bá các chủ đề cực đoan trước cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ, và đang tìm cách giấu kín mọi vết tích. Các nhà nghiên cứu tìm hiểu về việc phát tán thông tin trên Facebook, Twitter, Reddit và các nền tảng khác cho biết các chiến thuật mới và khéo léo đã giúp phát tán phá hoại thông tin bầu cử tránh được kiểm duyệt của các công ty truyền thông xã hội lớn và tránh sự giám sát của chính phủ.

Reuters dẫn lời ông Graham Brookie, Giám đốc Phòng thí nghiệm nghiên cứu về điều tra kỹ thuật số của Hội đồng Đại Tây Dương nói: “Người Nga chắc chắn không để yên. Họ cải biến theo thời gian để đối phó với việc Mỹ tăng cường tập trung vào các hoạt động gây ảnh hưởng bầu cử”.

Các cơ quan công lực và tình báo Mỹ cho biết Nga đã sử dụng thông tin đánh lạc hướng và các chiến thuật khác để hỗ trợ cho chiến dịch năm 2016 của Tổng thống Donald Trump. Chính phủ Nga đã bác bỏ các cáo buộ can thiệp bầu cử.

Trong khi đó, theo ông Dmitry Peskov, người phát ngôn của Tổng thống Nga Vladimir Putin, Moskva dự kiến sẽ không có sự cải thiện đáng kể trong mối quan hệ căng thẳng với Washington sau cuộc bỏ phiếu.

Nguồn: TKNB – 08/11/2018

Advertisements

Mái nhà – Phần VI


Dịch vụ mà nước Mỹ cung cấp cho cả thế giới có một nhược điểm nữa: nó không có một lý do hành động thật đẹp đẽ. Thậm chí người Mỹ còn không nghĩ mình đang cung cấp dịch vụ cho cả thế giới, Mỹ đã có những chính sách phù hợp trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh để tự bảo vệ bản thân cũng như các đồng minh trước chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, chính sách của Mỹ vẫn tiếp tục được thực hiện. Mặc dù chúng vẫn bảo vệ thương mại thế giới – một mục đích quan trọng, nhưng người dân Mỹ lại không thấy chúng là cấp thiết, thuyết phục, cần phải duy trì với chi phí khá cao vì lý do tự vệ.

Mỹ vẫn tiếp tục các chính sách hỗ trợ nền kinh tế toàn cầu trong hai thập kỷ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc năm 1991 vì Mỹ có khả năng; nhưng quãng thời gian này sắp sửa chấm dứt. Thế hệ bùng nổ dân số – gồm 78 triệu người Mỹ sinh từ năm 1946 đến 1964 – đang dần về hưu, khiến chi phí của hai chương trình phúc lợi xã hội tốn kém nhất mà mọi công dân Mỹ đều có quyền tham gia là Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm y tế tăng đột ngột. Điều này sẽ gây sức ép lên các chương trình khác của chính phủ, trong đó có cả những chính sách nhằm duy trì vị thế của nước Mỹ trên toàn cầu. Quyết định lựa chọn nghĩa vụ quốc tế hay nghĩa vụ trong nước – súng hay bánh mì – một lựa chọn mang tính chính trị, sẽ càng trở nên khó khăn hơn. Trong những tình huống ấy, có lẽ người Mỹ sẽ có xu hướng ủng hộ chi tiền cho nhu cầu trong nước, cái đem lại lợi ích trực tiếp cho họ. Vì họ không thể ăn súng thay bánh mì.

Cho dù kết quả cuộc đấu tranh chính trị không thể tránh khỏi về chi tiêu chính phủ có như thế nào đi nữa, Mỹ cũng sẽ không rút hết quân đội ở những nơ xa xôi về nước. Mỹ vẫn sẽ là một cường quốc lớn trên thế giới, rất có thể còn là lớn nhất trong nhiều thập kỷ nữa. Nguồn lực dành cho chính sách ngoại giao lâu dài sẽ phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế – một yếu tố khó đoán định: nó có thể rất cao. Trước đây, chính sách ngoại giao của Mỹ thường cương nhu tùy theo từng sự kiện và cũng khó đoán trước được. Còn trong tương lai những năm tới, người Mỹ sẽ nhìn nhận thế giới và lợi ích của mình trong đó rồi mới xem nên tiếp tục chính sách nào trong số những chính sách mà họ thực hiện bất kể giá nào trong thập niên thứ hai của thế kỷ 21.

Tất nhiên, cũng là hợp lý nếu chúng ta cho rằng trong tương lai, Mỹ sẽ ít thể hiện vai trò quốc tế hơn. Vì vậy, mái nhà che chở nền kinh tế thế giới không còn vững chắc, có thể bị dột. Nước Mỹ yếu hơn, nghèo hơn, kém năng động hơn trên trường quốc tế có thể tác động gián tiếp lên các hoạt động kinh tế xuyên biên giới thông qua việc khiến cả thế giới biến thành một nơi hỗn loạn về chính trị và quân sự. Khi đó, thương mại quốc tế cũng trực tiếp bị tác động.

Giám đốc nhà máy

Cần bảo vệ thị trường để nó hoạt động hiệu quả, và chính phủ chính là người bảo vệ. Vào thế kỷ 19, trách nhiệm của nhà nước chỉ có vậy. Họ cung cấp mái nhà che chở thị trường, không hơn không kém. Có một từ được dùng để mô tả mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường: nhà nước gác đêm. Chính phủ đóng vai trò như một người gác cửa, bảo vệ nhà máy khỏi bị ăn trộm hoặc phá hoại sau khi công nhân đã rời xưởng về nhà.

Đến thế kỷ 20, chính phủ bắt đầu làm nhiều việc hơn. Họ bước chân vào nhà máy, tự cho mình có trách nhiệm quản lý sao cho nhà máy hoạt động trơn tru. Chính phủ trở thành giám đốc, thực hiện giám sát sản xuất, thay đổi nhân sự, sửa chữa những bộ phận bị trục trặc của nền kinh tế. Với đời sống kinh tế thì an toàn không còn là hàng hóa công cộng duy nhất được chính phủ cung cấp.

Nền kinh tế thế giới cũng cần được quản lý, sửa chữa trục trặc như nền kinh tế của các quốc gia. Thực tế, một trong những lập luận được nhiều người nhất trí là cuộc Đại Khủng hoảng những năm 1930 có tác động sâu rộng và lâu dài là do không có quốc gia nào có khả năng và sẵn lòng cung cấp dịch vụ như một chính phủ quốc tế: Anh không còn khả năng, còn Mỹ thì chưa sẵn lòng.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ nhận nhiệm vụ cung cấp dịch vụ “không chỉ là bảo vệ” cho nền kinh tế thế giới. Mỹ không làm cho thế giới tất cả mọi việc mà một chính phủ làm cho nền kinh tế trong nước do các nước có thỏa thuận ngầm về chủ quyền: thế giới được chia thành các quốc gia độc lập và chính phủ có quyền lực cao nhất. Chính phủ Mỹ không trả lương hưu và bảo hiểm y tế cho người dân các nước, và nước Mỹ không thể bắt các nước khác thực thi chính sách cụ thể liên quan đến thương mại và đầu tư quốc tế – tất cả đều nhờ vào quyền tự trị của mỗi nước. Khi quyền lợi một nước mâu thuẫn với quyền lợi quốc tế thì trong hầu hết các tình huống, đa phần các quốc gia sẽ ưu tiên quyền lợi trong nước trước.

Chủ quyền luôn được đặt lên hàng đầu có nghĩa là vì lý do chính trị, nền kinh tế thế giới không được quản lý ở mức độ cần thiết. Thiếu vắng một chính phủ quốc tế, trong tình huống tốt nhất thì cũng làm phức tạp hóa, còn tình huống tệ nhất thì sẽ cản trở hoàn toàn những giải pháp thích hợp cho vấn đề dài hạn có lẽ phức tạp nhất hiện nay – sự nóng lên của Trái Đất – và thách thức kinh tế ngắn hạn chắc chắn là nghiêm trọng nhất hiện nay – ngăn chặn cuộc khủng hoảng tài chính tai hại.

Nhưng chủ quyền quốc gia cũng không ngăn được Mỹ cung cấp cho các nước hai “dịch vụ” quan trọng với nền kinh tế, hai hàng hóa công quốc tế. Thứ nhất, Mỹ là thị trường của phần lớn hàng hóa xuất khẩu trên thế giới. Thứ hai, Mỹ đem lại cho thế giới đồng tiền được sử dụng rộng rãi nhất: đồng dollar. Do đó, tương lai của nền kinh tế thế giới phụ thuộc vào việc liệu Mỹ có thể và sẽ tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ ấy hay không, và làm được đến mức độ nào.

Người bán cần có người mua. Các quốc gia xuất khẩu phải có thị trường chào đón sản phẩm của họ. Từ năm 1945 đến nay, Mỹ là thị trường lớn nhất, cởi mở nhất; dù lớn, đủ cởi mở để Tây Âu lấy lại đà tăng trưởng kinh tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai một phần thông qua xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ. Vì họ bán được nhiều hàng như vậy nên thị trường Mỹ cũng trở thành một phần lý do khiến Nhật Bản, Trung Quốc và các quốc gia châu Á khác thành công trong chiến ược hướng đến xuất khẩu vào nửa sau thế kỷ 20.

Từ năm 1996 đến 2005, thực tế là Mỹ đóng góp đến khoảng 45% thành tích tăng trưởng tiêu dùng trên toàn cầu. Có vẻ kỳ cục khi gọi hành vi mua những hàng hóa mà người Mỹ thích là “dịch vụ” mà họ cống hiến cho thế giới. Nói cho cùng, tiêu dùng là hành vi vì lợi ích cá nhân. Mọi người tham gia thương mại vì họ được hưởng lợi từ đó chứ không phải vì họ muốn ủng hộ người bán. Hơn nữa, người mua ô tô của Nhật, đồ điện tử của Hàn Quốc, quần áo, đồ gia dụng, đồ chơi từ Trung Quốc là người dân Mỹ chứ đâu phải chính phủ Mỹ.

Mặc dù là để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, nhưng tính từ những năm 1940 đến thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, hành vi tiêu dùng của người Mỹ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu nhiều hơn bất cứ người dân nước nào khác. Người dân các nước khác không chỉ nghèo hơn, nên ít khả năng mua hàng nhập khẩu hơn; mà họ còn không sẵn lòng làm như vậy. Gần như tất cả bọn họ không nhiệt tình chào đón hàng nhập khẩu như người Mỹ. Ở đây, một lần nữa, chính trị lại góp phần tạo nên kinh tế. Quyết định mở cửa thị trường Mỹ và duy trì nó là một quyết định mang tính chính trị, có cả lý do kinh tế và lý do chính trị đằng sau. Mục tiêu vừa là tăng cường sức mạnh cho các nước đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản, vừa là làm giàu cho người dân Mỹ.

Những quyết định nói trên có ảnh hưởng lớn lên nền kinh tế, làm gia tăng sản lượng trên toàn thế giới, đồng thời cũng có tác động quan trọng về mặt chính trị. Sự phục hồi của châu Âu từ đống đổ nát sau chiến tranh và tốc độ tăng trưởng cao của những nước hướng vào xuất khẩu thay vì thay thế nhập khẩu đã góp phần vào thắng lợi của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế vào cuối thế kỷ 20. Nếu không có thị trường cởi mở ở Mỹ thì lịch sử kinh tế và chính trị thế giới thế kỷ 20 đã rất khác.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Micheal Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Định nghĩa lại Chủ nghĩa tư bản – Phần III


Chủ nghĩa tư bản: Một Hệ thống có tính tiến hóa, giải quyết vấn đề

Nếu sự thịnh vượng được tạo ra bằng cách giải quyết các vấn đề của con người, thì câu hỏi quan trọng đối với xã hội là loại hệ thống kinh tế nào sẽ giải quyết hầu hết những vấn đề đối với hầu hết mọi người một cách nhanh nhất? Nhiều thế kỉ qua đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng, các nền kinh tế tư bản thực hiện tốt hơn trong việc cung cấp mức sống cao cho công dân của họ so với các nền kinh tế được điều hành bởi các hệ thống cộng sản, chuyên quyền, hay phi thị trường khác. Lời giải thích cho điều này trong kinh tế học chính thống (standard economics) là chủ nghĩa tư bản sử dụng tín hiệu giá để cung cấp các động lực sản xuất và phân bổ hàng hóa nhằm tối đa hóa phúc lợi cho mọi người. Nhưng nếu các thị trường thế giới thực không phải những hệ thống cơ học đơn giản được tưởng tượng bởi các nhà tư tưởng của những thế kỷ trước, mà chúng phức tạp, có khả năng thích nghi, và khá giống như các hệ sinh thái hơn, thì lợi ích của chủ nghĩa tư bản có thể khác và lớn hơn những gì chúng ta tưởng tượng.

Mỗi doanh nghiệp được dựa trên một ý tưởng làm thế nào để giải quyết một vấn đề, từ tầm thường nhất (“Bạn làm một lát khoai tây chiên giòn hơn như thế nào?”) đến uyên thâm nhất (“Chúng ta tạo ra một loại thuốc chữa ung thư mới nhằm cứu người như thế nào?”). Quá trình chuyển đổi các ý tưởng lớn thành những hàng hóa và dịch vụ hầu đáp ứng hiệu quả các nhu cầu thay đổi nhanh chóng của con người, là cái xác định hầu hết các doanh nghiệp. Nhưng việc tìm kiếm các giải pháp tốt một cách hiệu quả đòi hỏi một hệ thống có khả năng cung cấp các yếu tố động viên và cho phép sự sáng tạo, cùng với sự thử và sai. Một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa được hiểu tốt nhất như là một hệ thống tiến hóa, sáng tạo không ngừng và nỗ lực đưa ra các giải pháp mới cho những vấn đề theo cách tương tự như quá trình tiến hóa của tự nhiên. Một vài giải pháp là “phù hợp hơn” những giải pháp khác. Giải pháp phù hợp nhất sẽ tồn tại và nhân rộng. Giải pháp không phù hợp sẽ bị đào thải. Nhà kinh tế vĩ đại Joseph Schumpeter gọi quá trình tiến hóa này là “sự tiêu diệt sáng tạo” (“creative destruction”). Và ông nhấn mạnh tầm quan trọng của các doanh nhân chấp nhận rủi ro để làm cho nó trở thành hiện thực.

Vì vậy, đóng góp chủ yếu của các doanh nhân cho sự thịnh vượng của một xã hội là một ý tưởng để giải quyết một vấn đề. Những ý tưởng này sau đó được chuyển hóa thành các hàng hóa và dịch vụ mà chúng ta tiêu thụ, và cuối cùng tổng các giải pháp đó thể hiện sự thịnh vượng của xã hội đó.

Sản xuất tất cả các sản phẩm, ngoại trừ các sản phẩm đơn giản nhất, và đáp ứng nhu cầu của khách hàng thường đòi hỏi nhiều hơn một người, bởi vậy các doanh nhân với các giải pháp mới phải thuê mướn lao động. Đến lượt những việc làm đó cung cấp tiềm lực để mọi người mua hàng hóa và dịch vụ từ các doanh nghiệp khác, điều này sau đó tạo ra cầu, từ đó tạo ra nhiều việc làm và tuyển dụng. Vòng lặp hồi tiếp tích cực này là động lực trung tâm trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Sức mạnh của vòng lặp hồi tiếp này càng lớn thì nền kinh tế càng tạo ra nhiều tăng trưởng và thịnh vượng.

Sức mạnh to lớn của chủ nghĩa tư bản trong việc tạo ra sự thịnh vượng đến từ cách thức tiến hóa, qua đó nó khuyến khích các cá nhân khám phá không gian gần như vô tận của các giải pháp tiềm tàng cho những vấn đề của con người, và sau đó tăng cường và nhân rộng các ý tưởng nào tỏ ra thích hợp, đồng thời giảm quy mô hoặc loại bỏ những ý tưởng không phù hợp. Việc hiểu sự thịnh vượng như các giải pháp, và chủ nghĩa tư bản như một hệ thống giải quyết vấn đề có tính tiến hóa, giúp chúng ta hiểu rõ tại sao nó là công nghệ xã hội hiệu quả nhất nhằm nâng cao mức sống.

Nhập nhằng giữa hiệu quả (efficiency) và hiệu lực (effectiveness)

Quan điểm kinh tế học chính thống cho rằng chủ nghĩa tư bản hoạt động được bởi vì nó hiệu quả (efficient). Nhưng quan điểm xem nền kinh tế như một hệ thống tiến hóa phức hợp cho thấy rằng chủ nghĩa tư bản hoạt động bởi vì nó có tính hiệu lực (effective). Trong thực tế, sức mạnh to lớn của chủ nghĩa tư bản chính là sự sáng tạo của nó, và điều thú vị là sự sáng tạo này khiến nó tất yếu trở thành một quá trình tiến hóa cực kỳ thiếu hiệu quả và lãng phí. Gần một trong những ngôi nhà của chúng ta, hàng năm có người nào đó sẽ mở một nhà hàng và buộc phải đóng cửa chỉ sau vài tháng. Mỗi lần như vậy, các thợ xây dựng sẽ đến loại bỏ các đồ nội thất và trang trí cũ, và đưa vào một vài thứ mới. Sau đó, cuối cùng là một doanh nhân phát hiện ra công thức đúng và nhà hàng đã trở thành một thành tựu lớn, vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Tìm giải pháp cho vấn đề về những thứ mà người dân địa phương muốn ăn là không dễ dàng và đòi hỏi ít nhiều nỗ lực. Chủ nghĩa tư bản có hiệu lực (effective) cao trong việc tìm kiếm và bổ sung các giải pháp nhưng chắc chắn nó đòi hỏi quá trình thử sai, và điều này hiếm khi có hiệu quả (efficient).

Một yếu tố then chốt của việc hiểu chủ nghĩa tư bản như một hệ thống tiến hóa, giải quyết vấn đề là ý tưởng cho rằng không phải mức độ khó khăn của chúng ta trong việc giải quyết một vấn đề là điểm mấu chốt, nhưng đúng hơn, như nhà lý thuyết Scott Page của Đại học Michigan cho thấy, chính sự đa dạng của các ý tưởng và cách tiếp cận mới là quan trọng nhất trong hiệu lực giải quyết vấn đề. “Nguyên tắc khác biệt” này giúp làm rõ lý do tại sao các thị trường mở và công bằng, sự đa dạng, và các thể chế dung nạp (inclusive institutions) là những đặc trưng nổi bật của các nền kinh tế thành công.

Đặc trưng này của chủ nghĩa tư bản thành công cũng nhấn mạnh lý do tại sao đầu tư vào các tầng lớp trung lưu với phương pháp tiếp cận “xem trọng giới trung lưu” (“middle-out”) trong việc hoạch định chính sách tạo ra một nền kinh tế giàu mạnh hơn. [Xem “the middle- out moment”, Issue # 29.] Ngay cả những người giỏi nhất trong số chúng ta chỉ có một vài ý tưởng. Bill Gates, doanh nhân giàu có nhất thời đại của chúng ta, cũng được cho là chỉ có một ý tưởng lớn. Cắt giảm thuế cho những người giàu có như ông ta cũng sẽ không đột nhiên khuyến khích họ có thêm ý tưởng. Sẽ tốt hơn nhiều cho đất nước của chúng ta khi cho phép mọi công dân có thể tham gia vào nền kinh tế tư bản của chúng ta bằng cách đảm bảo rằng họ có sự giáo dục và khả năng tiếp cận vốn, cũng như sự đào tạo cần thiết để chuyển những ý tưởng của họ thành sản phẩm để giải quyết các vấn đề của thế giới. Một phương pháp tiếp cận “xem trọng giới trung lưu” công nhận rằng chính sách hiệu lực là nhằm tạo ra cả những doanh nghiệp mới với những ý tưởng mới và nhiều khách hàng hơn cho những doanh nghiệp này. Nếu người lao động không có tiền thì các doanh nghiệp cũng không có khách hàng. Các chính sách tư bản thành công nhận ra và cổ vũ cho vòng lặp này bằng cách cân bằng các yếu tố khác nhau trong nền kinh tế để tạo ra một vòng thoát của sự tăng trưởng và sự thịnh vượng chung.

Đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa tư bản là cách thức mà nó tán thưởng những người giải quyết các vấn đề của người khác. Những người giải quyết các vấn đề lớn cho một số lượng lớn những người khác một cách có hiệu lực thì có thể được thưởng đậm. Steve Jobs làm cho cuộc sống của rất nhiều người trở nên tốt hơn thông qua các sản phẩm mà công ty ông tạo ra, và ông được đền đáp lớn cho điều này. Như Adam Smith quan sát cách đây 230 năm, một nền kinh tế tư bản được quản lý và quy định thận trọng gắn tư lợi của mọi người vào lợi ích chung của xã hội.

Chính sự tự do và sự động viên mọi công dân giải quyết vấn đề đã giải thích tại sao các nước tư bản trở nên giàu có, và tại sao các nước chuyên quyền cũng như các nước cộng sản nhìn chung là nghèo. Ở các nước như thế sự sáng tạo các giải pháp cho các vấn đề của con người bị hạn chế, hoặc bị cấm, hoặc thường hay hướng vào giải quyết các vấn đề của chế độ. Sự khác biệt lạ thường giữa sự nghèo nàn của Bắc Triều Tiên theo chế độ cộng sản và sự thịnh vượng của Hàn Quốc theo chế độ tư bản là một minh chứng cho điều này.

Tuy nhiên, cũng rất quan trong để thừa nhận rằng, không phải tất cả các giải pháp cho các vấn đề của con người đều được những doanh nhân tạo ra. Một nhà nghiên cứu tại một trường đại học tìm ra một cách mới để làm cho máy tính làm việc nhanh hơn có thể giải quyết một vấn đề quan trọng và dễ dàng như một nhà tư bản (mặc dù nó có thể đòi hỏi một nhà tư bản để sản xuất và truyền bá ý tưởng của nhà nghiên cứu). Tương tự, một giáo viên tìm ra một cách tốt hơn để dạy đại số cũng được xem là người giải quyết một vấn đề quan trọng cho xã hội. Nhân viên chính phủ siêng năng tìm ra một cách để cung cấp dịch vụ tốt hơn với chi phí thấp hơn cho công chúng cũng thế.

Nhưng khu vực công đôi khi phải nỗ lực để tạo ra một văn hóa và các yếu tố động viên, hầu cho phép không gian để thử nghiệm, chấp nhận rủi ro, và thất bại, những điều rất cần thiết để giải quyết vấn đề một cách hiệu lực. Nạn quan liêu và các thế lực chính trị có thể kiềm chế hoặc bóp méo sự thăm dò tiến hóa. Tuy nhiên, có rất nhiều vấn đề mà chỉ có chính phủ mới có thể giải quyết, từ việc cung cấp hàng hóa công như đường xá và cơ sở hạ tầng khác, đến việc giải quyết các ngoại tác như giảm ô nhiễm, thực thi quyền sở hữu, đảm bảo an ninh, và giải quyết những bất công xã hội. Trong thực tế, các khu vực công đang đóng một vai trò lớn trong nhiều thành phần của nền kinh tế cũng như trong nhiều khía cạnh của xã hội. Vì vậy, chính phủ cũng cần phải giải quyết vấn đề. Điều bắt buộc là chúng ta mang quá trình tiến hóa của giải quyết vấn đề vào bên trong các bức tường của chính phủ và xây dựng các thể chế công có động lực để đổi mới và không gian để thử nghiệm.

(còn tiếp)

Nguyễn Minh Cao Hoàng dịch

Nguồn: “Capitalism Redefined”, Democracy, n021, Winter 2014.

Công nghệ là động lực căn bản – Phần cuối


Trực tuyến so với ngoại tuyến

Công nghệ Internet mang lại cho chúng ta sự tiện nghi cùng với hiệu năng cao trong quản lý cuộc sống hằng ngày. Hiện nay, sự tương tác giữa công ty và khách hàng có thể diễn ra bất cứ khi nào và ở bất kỳ nơi đâu. Điều này đang thúc đẩy các công ty ở châu Á lần lượt xâm nhập vào thế giới trực tuyến, họ bắt đầu xây dựng các trang chủ chính thức, nuôi dưỡng những cộng đồng trực tuyến, và thiết lập các nhóm truyền thông mạng xã hội đặc biệt để xây dựng các mối quan hệ với khách hàng. Nhưng trên thực tế, môi trường trực tuyến vẫn còn nhiều hạn chế, điều này có nghĩa là các phương pháp tiếp cận thông thường đối với môi trường ngoại tuyến vẫn không thể bị thay thế hoàn toàn. Dù cho việc sử dụng Internet ngày càng gia tăng và dường như đã có sự cải thiện về hiểu biết công nghệ tại châu Á thì hầu hết người tiêu ùng vẫn chưa hoàn toàn quen thuộc với việc sử dụng các dịch vụ kỹ thuật số hoặc đơn giản là họ không đủ tự tin để hòa vào dòng chảy xu hướng kỹ thuật số. Để các công ty trở nên số hóa, rõ ràng cần phải dành nhiều sự quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục nhận thức khách hàng trong thế giới trực tuyến ngày nay.

Về vấn đề này, các công ty thương mại điện tử ở châu Á đang bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của việc hợp nhất các trải nghiệm mua sắm trực tuyến và ngoại tuyến cho khách hàng. Mặc dù việc kinh doanh qua môi trường thương mại điện tử đang nhận được nhiều sự khuyến khích, nhưng vẫn còn tồn tại một thực tế không thuận lợi cho các doanh nghiệp đó là một bộ phận lớn các khách hàng châu Á vẫn còn dè dặt trong việc thanh toán trực tuyến, Zalora, một nhà bán lẻ thời trang trực tuyến có trụ sở tại Singapore, đã đưa ra một hình thức thanh toán độc đáo vượt ra khỏi phạm vi của phương thức thanh toán trả tiền mặt khi nhận hàng thông thường. Trang web của Zalora cho phép khách hàng có thể thanh toán thông qua hình thức nhờ thu tiền mặt – một phương thức được sử dụng khá phổ biến ở Đài Loan và Nhật Bản. Thông qua việc hợp tác với một số chuỗi cửa hàng tiện lợi, các khách hàng của Zalora có thể đến nhận hàng và thanh toán đơn hàng của họ tại những cửa hàng này (Kotler & cộng sự, 2014).

Nhận xét về sự hợp nhất các tương tác trực tuyến cùng ngoại tuyến, Kasireddy từ công ty Fonterra ở Trung Quốc cho biết: “tách biệt trực tuyến và ngoại tuyến là sai lầm. Điều quan trọng hơn là phải làm cho các phương pháp ngoại tuyến và trực tuyến phối hợp cùng với nhau một cách nhịp nhàng” (The Economist Corporate Network, 2015).

Hình thức so với bản chất

Sự phát triển của Internet đã tạo ra những mô hình mới trong việc tiếp nhận thông tin. Đối với các ấn phẩm in truyền thống, người đọc thường quen thuộc với lối văn phong trau chuốt, tập trung vào các đặc điểm và những câu chuyện có chiều sâu hơn, trong khi người đọc  của các trang tin tức điện tử lại quen thuộc với các bài viết ngắn và có phần dễ hiểu. Trên các màn hình điện thoại di động kích thước nhỏ, việc có quá nhiều nội dung trong một văn bản không chỉ khiến người dùng cảm thấy không thân thiện với người dùng mà còn khiến họ thấy nhàm chán. Để làm nội dung trở nên hấp dẫn đồng thời giúp nâng cao hiệu quả thiết kế, những người xây dựng nội dung thường phải sử dung các yếu tố liên quan đến thị giác như hình ảnh và đồ họa. Trong quyển sách Visual Hammer (Chiếc búa hình ảnh), Ries (2012) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của khía cạnh thị giác như là một tác nhân hỗ trợ định vị bên cạnh từ ngữ để khắc sâu một nhận thức nhất định vào trong tâm trí của khách hàng. Xu hướng này trong thế giới kỹ thuật số đòi hỏi những người sáng tạo phải xây dựng được phần “hình thức” trong nội dung được triển khai.

Tuy nhiên, các công ty không thể đơn thuần chỉ dựa vào khía cạnh hình thức (như hình ảnh, âm thanh, thiết kế,…) mà mong muốn thông tin cung cấp sẽ chạm đến được khách hàng, cả về mặt lý tính và cảm tính. Các nhà sáng tạo nội dung kỹ thuật số sẽ phải thiết lập một sự cân bằng trong việc tạo ra những nội dung ngắn gọn và thú vị, nhưng cũng không làm mất đi bản chất cốt lõi của nó. Chẳng hạn, các nhà sản xuất video quảng cáo trên Youtube sẽ phải rất sáng tạo để thiết kế nên một thông điệp có thể thu hút sự chú ý của người xem chỉ trong vòng 5 giây đầu tiên để họ không bỏ qua đoạn video đó. Đó chính là sự thể hiện về mặt hình thức. Nhưng bên cạnh đó, một thông điệp ấn tượng vẫn có thể truyền tải thông tin quảng cáo về sản phẩm đến khách hàng một cách hiệu quả, và đó chính là những gì thuộc về “bản chất”.

Phương thức giao tiếp máy – với máy so với người – với – người

Số hóa đã mở ra khả năng tương tác giữa các sản phẩm công nghệ với nhau. Các dữ liệu hiện có trên các thiết bị cầm tay của chúng ta có thể được chuyển đến các thiết bị công nghệ khác dưới hình thức những chỉ dẫn, thao tác để thực thi một tác vụ nào đó hoặc mang lại một kết quả cụ thể. Khái niệm này mang tên Internet vạn vật (Internet of Things – IoT) hay công nghệ máy – với – máy (machine – to – machine – M2M). Không gian của người tiêu dùng là một yếu tố quan trọng trong thế giới của M2M mà rất nhiều người tham gia đang nỗ lực tập trung vào, trong đó có cả các nhà cung cấp dịch vụ di động lẫn các nhà sản xuất thiết bị phần cứng. Chẳng hạn các thiết bị đeo tay cùng với tiềm năng của những “ngôi nhà thông minh” (smart homes) hiện nay đang nhận được nhiều sự quan tâm đặc biệt (GSM Association, 2015).

Một loạt các thiết bị đeo tay mới đã được tung ra trong vài năm qua như đồng hồ thông minh Samsung Gear và vòng đeo tay thông minh LG Lifeband. Các thiết bị này được trang bị cảm biến có khả năng kết nối cho phép người dùng tận hưởng một lối sống thông minh hơn, hiệu quả hơn, và các thiết bị cá nhân như điện thoại và máy tính bảng có thể được kết nối với các thiết bị trong ngôi nhà của họ để kích hoạt khả năng tự động hóa. Điều này giúp cho người dùng có thể điều khiển từ xa các chức năng trong nhà của mình, từ việc bật đèn cho đến các hệ thống bảo mật cơ bản. Samsung Electronics tuyên bố 90% sản phẩm của họ – từ điện thoại thông minh cho đến tủ lạnh – sẽ có thể truy cập Web vào năm 2017, và đến 2020, tất cả các sản phẩm của hãng đều sẽ được kết nối với Internet (CNET, 2015).

Tuy nhiên, công nghệ không vì thế mà biến con người trở thành một cỗ máy vô cảm. Thay vào đó, công nghệ kỹ thuật số, đặc biệt là các phương tiện truyền thông mạng xã hội, đã chuyển hóa con người thành những chủ thể biết bộc lộ cảm xúc hơn. Điều này chính là lý do tại sao phương thức kết nối giữa người – với – người (human to human – H2H) không được phép bị lãng quên. Công nghệ phải được tối ưu hóa để tạo nên quan hệ tương tác H2H linh hoạt hơn (không bị giới hạn bởi không gian và thời gian) chứ không phải tạo ra một môi trường biệt lập mà tại đó những cách thức giao tiếp thân mật thông thường có thể dần bị thay thế.

Zappos, một nhà bán lẻ trực tuyến được Amazon mua lại vào năm 2009 với mức giá 1,2 tỷ USD, có một cách thức độc đáo trong việc xây dựng mối quan hệ tương tác H2H với các khách hàng của họ. Mặc dù Zappos rất tích cực sử dụng các mạng xã hội như Twitter, Youtube và Facebook để giao tiếp với khách hàng, nhưng công ty vẫn không từ bỏ việc sử dụng điện thoại. Tony Hsieh, Tổng giám đốc Zappos phát biểu: “Chúng tôi không thực sự xem Twitter như là một công cụ tiếp thị, vì thế chúng tôi không nhìn vào những con số mà nó truyền tải vào kết quả kinh doanh. Điều mà chúng tôi quan tâm là làm thế nào để có thể kết nối với khách hàng ở mức độ cá nhân hơn. Và chúng tôi thực hiện điều đó thông qua điện thoại, cùng với mạng xã hội Twitter. Không một ai viết về điện thoại bởi vì nó không phải là một mẩu tin tức thú vị, nhưng chúng tôi tin rằng điện thoại thực sự là một trong những thiết bị làm công tác xây dựng thương hiệu tốt nhất hiện có”.

Điện thoại cho phép Zappos gọi cho các nhân viên trung tâm để thiết lập kết nối cá nhân (H2H) với khách hàng của họ. Sự thể hiện của nhân viên được đánh giá dựa trên sự hài lòng của khách hàng về các cuộc gọi mà họ xử lý. Và cũng không có sự giới hạn về thời lượng của các cuộc gọi. Cuộc gọi dịch vụ khách hàng dài nhất được ghi nhận kéo dài gần 6 giờ đồng hồ. Điều này làm cho Zappos trở thành một trong những thương hiệu được đánh giá rất cao bởi các khách hàng cả họ (Frei & cộng sự, 2009).

Qua đó ta thấy cả ba nghịch lý của số hóa thực sự có thể được giải quyết đồng thời mà không cần phải có sự phủ định lẫn nhau. Tự bản thân các công ty hãy trở thành cách nghịch lý sáng tạo, vừa xây dựng được các trải nghiệm trực tuyến vừa tích hợp vào đó những trải nghiệm ngoại tuyến, xây dựng nội dung đảm bảo cả về mặt bản chất lẫn hình thức, cũng như phát triển công nghệ M2M được hỗ trợ bởi kết nối H2H. Thành công của công ty trong việc quản trị ba nghịch lý này sẽ tạo nên một lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ để có thể chiến thắng được tâm trí cũng như chinh phục được trái tim của các khách hàng kỹ thuật số tại châu Á.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phillip Kotler, Hermawan Kartajaya & Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Tư duy và năng lực diễn đạt tư duy – Phần VIII


Quả thế, làm bất cứ việc gì, đặc biệt là sáng tạo cái mới, làm nên sự nghiệp, không có nhiệt tình không sao làm nổi.

Nhiệt tình (enthusiasm), xét dưới góc độ tâm lý học, là một tình cảm mạnh mẽ và ổn định. Nhiệt tình là sự thể hiện thái độ có chọn lựa của con người đối với sự vật, tức thể hiện ở khát vọng và sự theo đuổi đối với một sự vật, tức thể hiện ở khát vọng và sự theo đuổi đối với một sự vật này hay sự vật khác. Nhiệt tình có tác dụng đặc biệt quan trọng đối với phương hướng tư tưởng và hành vi của con người. Nhiệt tình là động lực thôi thúc con người tích cực hoạt động. Nhiệt tình thường gắn với nhân sinh quan và thế giới quan của một con người. Nhiệt tình không đơn thuần chỉ là sự trải nghiệm tình cảm, mà còn bao gồm cả thành phần ý chí. Các nhà cách mạng, nhà khoa học, nghệ sĩ vĩ đại thường thể hiện nhiệt tình cao độ đối với sự nghiệp mà mình theo đuổi. Chính nhiệt tình ấy đã làm cho họ có những cống hiến vĩ đại đối với loài người.

Năm tháng làm cho da mặt hằn những nếp nhăn, nếu không còn nhiệt tình sẽ làm thương tổn tâm linh. Bồi dưỡng nhiệt tình sẽ làm cho công việc của chúng ta thêm hương thêm sắc. Edison từng nói: “Kể từ khi có sử đến giờ, không một sự nghiệp vĩ đại nào thành công mà lại không do nhiệt tình”.

Nhiệt tình có thể là tích cực, cũng có thể là tiêu cực. Giá trị xã hội của nhiệt tình do ý nghĩa xã hội của đối tượng mà nó hướng tới quyết định. Nếu như mục tiêu mà nhiệt tình hướng tới là sự nghiệp có lợi cho cộng đồng, có ích cho sự tiến bộ và sự phát triển xã hội thì nhiệt tình càng có giá trị xã hội lớn lao. Nhiệt tình tích cực sẽ làm cho đời sống của con người càng có nội dung, đồng thời góp phần thúc đẩy xã hội đi lên.

Một người cho dù trí tuệ có siêu việt đến đâu, nếu thiếu nhiệt tình cũng không thể dùng trí tuệ ấy vào việc sáng tạo ra cái mới. Cuộc đời có thành đạt hay không phần lớn phụ thuộc vào nơi ta có một nhiệt tình cương cường bất khuất trước hay không.

Tinh thần con người có thể mở rộng không giới hạn cùng Vũ Trụ. Từ nơi sâu thẳm trong tiềm thức, ta hãy nhen lên ngọn lửa của nhiệt tình cháy bỏng không gì dập tắt, nó sẽ là nguồn sức mạnh thôi thúc ta vươn tới những chân trời mới. Đó chính là chân lý bất biến mà Kim tự tháp Chéops mãi mãi “trơ gan cùng tuế nguyệt” đã chỉ dạy cho chúng ta!

4/ Nhìn thẳng vào thất bại

Ai chiến thắng mà không hề chiến bại

Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần?

Huống đường đi còn lắm bước gian truân

Đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!

Tố Hữu: “Dậy mà đi!”

Thất bại là lẽ thường tình, chùn bước là hèn nhát, lặp lại thất bại mới là tai họa.

Người ta giải thích thất bại một cách đơn giản là: không đạt được cái mà mình nghĩ sẽ đạt được.

Thất bại là một loại ngộ tính, là vị gia sư tận tụy. Nó giúp bạn nếm trải vị chua, cay, mặn, chát của cuộc đời, nó biến tất thảy những mộng ước huy hoàng thành cát bụi len lỏi vào mọi ngõ ngách tâm hồn, nó giúp bạn thâu thái được những bài học chẳng thể nào quên, nó làm cho bạn nhận ra năng lực và những hạn chế của bản thân.

Thất bại là một loại cảm xúc, nó thể hiện ở tính kiên định hay sự nản lòng đối với niềm tin, ở quyết định tiếp tục tiến bước hay phó mặc buông trôi. Sau thất bại là ốc đảo có cây xanh nước mát, cũng giống như sau chấn thương là vết sẹo lành, mây đen cuối cùng sẽ tan đi. Mặt Trời sẽ lại hiện ra. Thất bại không phải là thất lạc, không phải là tê liệt, nó vẫn cần có nhiệt huyết, nhiệt tình, nghĩa là dám mạo hiểm, dám thất bại.

Trong những trường hợp thông thường, thất bại thường mang ý nghĩa tiêu cực, nhưng nghĩ cho kỹ, thất bại đâu chỉ là thất bại. Tầng bậc sâu xa ẩn trong thất bại là bài học, mà bài học này không cách gì thu được ngoài nỗi dằn vặt khổ đau. Chính vì vậy người đời có câu: “Thất bại là mẹ thành công”. Thế nhưng, thất bại có thực là mẹ thành công?

Chưa chắc! Vấn đề là ở chỗ ta rút ra được bài học gì đây sau lần thất bại. Quả thế, sau thất bại, nếu ta xem như chẳng có chuyện gì, quên hết quá khứ, làm lại từ đầu, như thế chỉ quanh quẩn giữa “đánh” và “thua”. Muốn người mẹ “thất bại” chấp nhận cô con gái “thành công”, phải tự mình tỉnh ngộ, qua “thất bại” rút ra được bài học làm lòng.

“Nhìn thẳng vào thất bại” chứa đựng hai ý nghĩa: đừng sợ thất bại, thất bại có thể là thứ của cải vô cùng quý giá; hãy coi trọng bài học kkinh nghiệm rút ra từ thất bại, quyết không để cho thất bại lặp lại lần thứ hai.

Tổng kết những điều đã trình bày, ta có được vòng liên hoàn:

Tinh thần tiến thủ -> cơ hội -> thất bại (bậc thang) -> thành công

Đây là một phương trình có hai đáp số.

Không ai sinh ra đã là người thất bại!

Không ai sinh ra đã là người chiến thắng!

Qua phương trình này ta còn nhận thấy: tinh thần tiến thủ là vô cùng quan trọng, cơ may ai ai cũng được đãi ngộ như nhau. Thế nhưng, từng người phải chủ động tìm kiếm cơ may, chọn lựa cơ may, nắm chắc cơ may. Phải tự tin, tin rằng mình có quyền có cơ may.

Thất bại, suy cho cùng chẳng qua chỉ là loại học phí trả cho những thách thức mới của cuộc đời.

5/ Tự tin mới có thể thành công

Trong tác phẩm “Con đường đi tới thành công”, Napoleon Hill viết: “Tôi thành công vì tôi quyết chí thành công”. Nếu như không có niềm tin vào thành công, chắc chắn Hill chẳng thể có quyết tâm và niềm tin sắt son đến thế. Vậy tự tin là gì? Tự tin là một trạng thái tâm lý tin rằng tự mình có thể thành công, tự mình có thể làm được.

Tự tin là một hy vọng, tự mình hy vọng về mình. Tự tin giúp cho con người có tinh thần tích cực, hướng thượng, sẵn sàng đón nhận những thách thức trong đời.

Không có lòng tự tin sẽ không có thành công. Một người đạt được thành công lớn trong đời là do có lòng tin. Nhà nữ khoa học tiếng tăm Marie Curie nói: “Tự tin là hòn đá tảng của tất thảy mọi thành công”. Từ xưa tới nay, rất nhiều người thất bại không phải do bất tài, mà do thiếu tự tin.

Tự tin làm cho cái không có thể trở thành có thể, cái có thể trở thành hiện thực. Tự tin một phần, thành công một phần; tự tin mười phần, thành công mười phần.

Thế nhưng, tự tin mới chỉ là thành công một nửa, chưa hẳn đã phải thành công. Nếu bạn không nhận thức rõ điểm này, có ngày một nửa mà bạn nắm được trong tay cũng sẽ tuột đi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Thế Trường – Hành trang thời đại kinh tế tri thức – NXB VHTT 2005.

Một bài khóa to lớn có tính thời đại – Phần đầu


Fung Ningjun

Hội thảo Toàn cầu hóa và những đụng độ về giá trị do Ban biên tập Nghiên cứu triết học, Trường đảng tỉnh ủy Giang Tô ĐCSTQ, Khoa Triết học Đại học Nam Kinh, Khoa Triết học và Khoa học – Đại học Đông Nam cùng chủ trì, đã tiến hành tại Giang Tô từ ngày 21 – 23/9/1999. Hơn 60 đại biểu từ Bắc Kinh và các tỉnh về dự, thảo luận sôi nổi trên các vấn đề thực chất của toàn cầu hóa, nhận thức như thế nào về bản chất của CNTB trong thời đại ngày nay, những đụng độ về giá trị trong công cuộc toàn cầu hóa, khảo sát phương pháp luận trên vấn đề toàn cầu hóa,… Những người tham dự cuộc hội thảo nhất trí cho rằng: Vấn đề toàn cầu hóa là một trong những bài khóa quan trọng nhất, được đặt ở vị trí hàng đầu trong thời đại ngày nay. Nhận thức và giải quyết vấn đề này như thế nào là việc có quan hệ to lớn đến vận mệnh của sự nghiệp xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc.

Về thực chất của toàn cầu hóa

Hội thảo trước hết đề cập đến vấn đề làm thế nào để nhận thức được thực chất của toàn cầu hóa. Đối với vấn đề này, các luận điểm đưa ra tại hội thảo không phải đều là nhất trí. Có đại biểu vạch rõ rằng: Xét trên góc độ lịch sử phát triển, thì cội nguồn toàn cầu hóa có thể ngược trở lại năm 1492 khi Colombo phát hiện Châu lục mới. Sự kiện lịch sử vĩ đại này khiến loài người lần đầu tiên biết rằng: giữa các nơi quả thật là sống chung trên một quả địa cầu không thể chia cắt được. Tuy nhiên, toàn cầu hóa thật sự trở thành làn sóng không gì ngăn đdược, chỉ có thể là kết quả của khoa học công nghệ hiện đại phát triển với nhịp độ nhanh chóng phi thường, mậu dịch thế giới không ngừng được mở rộng cùng với thông tin văn hóa được truyền bá rộng rãi. Có đại biểu đi sâu hơn nữa, còn vạch rõ rằng: quá trình lịch sử phát triển này trong thực tế là quá trình, như Marx từng đã gọi, lịch sử chuyển biến thành lịch sử thế giới. Phương tiện truyền thông được cải tiến, công nghệ thông tin cũng biến đổi khiến các hoạt động trao đổi qua lại giữa loài người có thể vượt qua ranh giới quốc gia, phá vỡ những trở ngại về thời gian và không gian địa lý tự nhiên, mở rộng thành sự trao đổi rộng khắp trên thế giới, giữa các dân tộc. Xét về kinh tế thì đây là quá trình thiết lập thị trường thế giới cùng với sự hình thành một cách toàn diện sự phân công lao động quốc tế, là quá trình của cải vật chất, tư bản tiền tệ và tài nguyên nhân lực di chuyển trên phạm vi toàn cầu.

Có đại biểu cho rằng, toàn cầu hóa là những yếu tố sản xuất di chuyển với quy mô lớn trên phạm vi toàn cầu, là sự phân bổ tài nguyên trên phạm vi toàn cầu. Xét từ góc độ phân công, toàn cầu hóa là sự phân công quốc tế đi vào chiều sâu, là kinh tế thế giới phát triển lên một giai đoạn mới, là sự xuất hiện của sản xuất quốc tế hóa, tiền tệ và dịch vụ quốc tế hóa, các mối quan hệ kinh tế được quốc tế hóa song song với sự phát triển to lớn của mậu dịch quốc tế hóa. Cũng có đại biểu nhận định rằng toàn cầu hóa là sự nhất thể hóa trên toàn cầu, nền văn hóa hoặc văn minh, trong đó có sự xung đột giữa các giá trị văn hóa và có cả sự hòa nhập về văn hóa.

Ý kiến chiếm địa vị chủ đạo trong hội thảo xác nhận những cách nhìn trên cố nhiên đều có những lý lẽ nhất định nhưng đều chưa đụng chạm đến thực chất của toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa trong thực tế là quá trình lịch sử của phương thức TBCN phát sinh và phát triển. Quá trình này khởi đầu từ chỗ được gọi là thời kỳ tích lũy nguyên thủy. Toàn cầu hóa trên thực chất là toàn cầu hóa TBCN, là toàn cầu hóa những mâu thuẫn cơ bản của CNTB. Tư bản vốn không có ranh giới quốc gia. Tư bản ngay từ lúc sinh ra đã thuộc về quốc tế. Lịch sử phát triển của CNTB là lịch sử tư bản sục sôi lan khắp toàn cầu. Đúng như Marx đã từng nói một thế kỷ rưỡi trước đây, giai cấp tư sản do khai thác thị trường khiến cho sản xuất và tiêu dùng của một số nước mang tính thế giới. Nó khiến những nước chưa được khai hóa hoặc những nước nửa khai thác bị phụ thuộc vào các nước văn minh, làm cho các dân tộc là nông dân phụ thuộc vào dân tộc tư sản, làm cho phương Đông phụ thuộc vào phương Tây. Người ta có thể coi toàn cầu hóa là một giai đoạn mới cảu sản xuất xã hội hóa. Nhưng đây không chỉ là quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và của khoa học công nghệ, mà còn là quá trình những mâu thuẫn cơ bản của CNTB, tức mâu thuẫn giữa nền sản xuất xã hội hóa với chế độ chiếm hữu TBCN được triển khai trên phạm vi toàn cầu. Có thể chia tiến trình toàn cầu hóa ra thành một số giai đoạn và mỗi giai đoạn đều có đặc điểm của nó. Nhưng dù sao đi nữa thì những mâu thuẫn cơ bản của CNTB cùng những mâu thuẫn phái sinh của nó (tức mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản và mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển với nhau, mâu thuẫn giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển, mâu thuẫn giữa CNTB với CNXH) vẫn là những nhân tố chủ yếu hạn chế tiến trình toàn cầu hóa. Các nước lớn siêu cường TBCN xưa nay vẫn không từ bỏ chiến lược chinh phục toàn cầu. Toàn cầu hóa phát triển đến ngày hôm nay đã không giống như sự miêu tả của một số người, là bức tranh lãng mạn bốn biển dâng cao bằng nhau. Toàn cầu hóa là một quá trình chứa đầy mâu thuẫn xung đột. Bởi vậy cần phải phân tích một cách biện chứng và toàn diện đối với những hiệu ứng tích cực cũng như tiêu cực của toàn cầu hóa.

Có đại biểu đã sử dụng một số lớn sự thật để phân tích nửa cuối thập kỷ 80, Mỹ thi hành Chiến lược vượt trên ngăn chặn, lấy đó làm một bộ phận hợp thành quan trọng của chiến lược toàn cầu của nó. Chiến lược này tác động mạnh mẽ vào quá trình Đông Âu chuyển hóa, Liên Xô giải thể. Các đại biểu cũng phân tích việc NATO bành trướng sang phía đông, chèn lấn không gian sinh tồn của Nga và đồng thời hình thành thế trận bao vây mới đối với Trung Quốc, từ đó vạch rõ rằng: Nước lớn phương Tây từ trước đến nay vẫn coi các nước XHCN là trở ngại chủ yếu đối với việc thi hành chiến lược toàn cầu cảu chúng. Có một hiện tượng khiến người ta phải suy nghĩ sâu xa, đó là giữa lúc một số nhân sĩ của Trung Quốc chỉ chăm chú nêu lên những tác động chính diện của toàn cầu hóa thì một số học giả phương Tây lại phân tích, mổ xẻ những tác động mặt trái của tàn cầu hóa đối với các nước đang phát triển, nhất là đối với các nước XHCN. Những tác động mặt trái này là kết quả được sản sinh từ sự vận động của tư bản cùng với thuộc tính của nó. Điều này nhắc nhở mọi người rằng, cố tình hoặc vô ý xóa nhòa những mâu thuẫn khách quan, nhất là những mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển với các nước đang phát triển, những mâu thuẫn giữa CNTB với CNXH trong tiến trình toàn cầu hóa và né tránh việc phán đoán về giá trị đối với quá trình toàn cầu hóa và hậu quả của nó thì không thể nhìn rõ được thực chất của vấn đề và sa vào khu vực sai lầm tôn sùng toàn cầu hóa một cách mù quáng.

Nhận thức như thế nào về bản chất của CNTB trong thời đại ngày nay

Các đại biểu vạch rõ rằng để nhận thức một cách toàn diện và thực chất của toàn cầu hóa, cần phải nhận thức một cách đúng đắn về CNTB trong thời đại ngày nay. Có một số người bị mê hoặc bởi nền kinh tế bong bóng, chính trị bong bóng, văn hóa bong bóng do giai cấp tư sản phương Tây tạo ra. Họ không nhìn rõ bản chất của CNTB trong thời đại ngày nay và nhận định rằng các nói giai cấp công nhân bị bần cùng hóa tuyệt đối nay đã không còn phù hợp với hiện trạng của CNTB phát triển. Hiện nay ở các nước phát triển phương Tây, lợi nhuận mà giai cấp tư sản có được, chủ yếu không phải là từ nguồn giá trị thặng dư của lao động sáng tạo của công nhân mà nguồn lợi nhuận là ở những phát minh sáng tạo của khoa học và công nghệ. Rằng ở Anh và Tây Âu hiện nay không còn tồn tại tình thế cách mạng. Tại hội thảo, có đại biểu đã lấy sự thật cụ thể rõ ràng để bác bỏ thứ quan điểm này, chỉ rõ rằng: 150 năm trước đây Engels trong tác phẩm Tình cảnh của giai cấp công nhân Anh, đã miêu tả một cách chân thực tình hình bi thảm của giai cấp công nhân lúc đó. Nửa cuối thế kỷ XX, do các nước phát triển thi hành chủ nghĩa phúc lợi, nhằm biểu thị CNTB ưu việt hơn CNXH, nên tình cảnh giai cấp công nhân Âu – Mỹ so với 150 về trước, thật sự đã có nhiều biến đổi. Nhưng sau khi Liên Xô – Đông Âu chuyển hóa thì những mâu thuẫn sâu sắc của CNTB ngược lại đã bộc lộ ngày càng rõ giữa ban ngày. Đi đôi với sự suy thoái của chế độ phúc lợi nhà nước hoặc sự cắt giảm của chính sách phúc lợi trong mấy năm gần đây, tình hình đời sống của một bộ phận lớn công nhân lại có xu thế xấu đi. Số thất nghiệp trong công nhân Anh tăng trở lại là 3 triệu người, 1 triệu 70 vạn người không có nhà ở chính thức; năm 1994 khoảng 40% công nhân có công ăn việc làm toàn phần nhưng thu nhập thấp hơn mức lương được Ủy ban Châu Âu quy định. Số dân dưới vạch nghèo khổ từ 1% đầu thập kỷ 80 tăng lên 21%. Thu nhập cá nhân của 5% số người lớn ở Anh chiế 50% thu nhập chung của cá nhân cả nước và sở hữu 75% của cải của xã hội. Năm 1995 ở Pháp đấu tranh biểu tình, bãi công nổ ra tại các thành phố lớn, có tới mấy triệu công nhân tham gia, phản đối chính phủ cắt giảm kế hoạch phúc lợi, tác động mạnh mẽ tới phong trào công nhân Tây Âu. Những hiện tượng đó đều bắt nguồn từ những mâu thuẫn sâu sắc của CNTB.

Còn có đại biểu vạch rõ rằng khi nhận thức về bản chất của CNTB trong thời đại ngày nay trên bối cảnh lớn là toàn cầu hóa, cần phải có tầm nhìn rộng mang tính toàn cầu. Có được tầm nhìn rộng mang tính toàn cầu. Có được tầm nhìn rộng này sẽ dễ dàng phát hiện thấy các tập đoàn tư bản độc quyền các nước phát triển trong thời đại ngày nay không những bóp nặn lao động thặng dư của giai cấp công nhân nước mình mà còn thông qua các mối quan hệ kinh tế, chính trị quốc tế và bằng mọi thủ đoạn, tiến hành bóc lột lao động thặng dư của nhân dân các nước trên thế giới, nhất là nhân dân các nước đang phát triển. Vì thế không nên chỉ quy sự giàu có của các nước phát triển là do khoa học và công nghệ. Bản chất sự giàu có đó là kết quả của những hoạt động lâu dài nhằm hút máu và mồ hôi của nhân dân thế giới. Một đặc điểm khác trước rõ rệt – đó là các nước phát triển trong thời đại ngày nay lợi dụng nhiều hơn khoa học công nghệ cao và mối quan hệ tiền tệ quốc tế, lấy đó làm phương tiện cướp đoạt tài nguyên và cướp bóc kinh tế siêu ngạch trên quốc tế. Nhưng sự kiện NATO oanh tạc Kosovo cũng đồng thời làm cho mọi người thấy rõ là các nước lớn phương Tây vẫn chưa từ bỏ việc sử dụng vũ lực làm thủ đoạn xúc tiến chiến lược toàn cầu hóa của chúng. Một số ớn các sự kiện còn nói lên rằng bản tính của CNTB trong thời đại ngày nay vẫn chưa hề thay đổi. Sự phân tích cảu Marx về bản chất của CNTB không những không lỗi thời mà tiến trình toàn cầu hóa đang diễn ra còn chứng thực cái logic của tư bản đã được Marx vạch rõ từ năm ấy. Đó là tư bản thông qua phương thức phổ cập hóa (toàn cầu hóa) những mâu thuẫn tự thân nó để khắc phục mâu thuẫn của chính bản thân nó và đồng thời dùng biện pháp chuyển khủng hoảng ra ngoài nước để thoát khỏi khủng hoảng. Tư bản quốc tế trong thời đại ngày nay dù cho có thay đổi đủ mọi cách thức thực hiện nhưng cũng không hề thay đổi và không thể nào thay đổi được cái logic được nêu ra trên đây.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: TN 2000 – 09

Một số xu hướng lý thuyết và thực hành địa chính trị trên thế giới – Phần XVII


Bên cạnh Hoa Kỳ, Trung Quốc đang nổi lên là một cường quốc nhập khẩu dầu mỏ. Trung Quốc đang rất có ý thức về vai trò sống còn của nguồn “vàng đen” ở hai khu vực này. Hiện tại, dầu mỏ đang trở thành mục tiêu địa chiến lược quan trọng hàng đầu của Trung Quốc. Nếu như cách đây hơn 20 năm, Trung Quốc còn là nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất Đông Á thì ngày nay, Trung Quốc nổi lên là một quốc gia nhập khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới (xem Biểu đồ). Điều này đã góp phần quan trọng làm thay đổi cục diện địa chính trị thế giới, đặc biệt là ở châu Phi. Cựu ngoại trưởng Trung Quốc Đường Gia Triền đã từng nói: “Ngoại giao của Trung Quốc trong thế kỷ 21 sẽ là ngoại giao dầu mỏ”. Chính vì thế mà người ta đã nói chính sách ngoại giao ngày nay của Trung Quốc là “ngoại giao vết dầu loang”. Đặc biệt là Trung Quốc đã chuyển từ chính sách “nhập khẩu dầu mỏ từ bên ngoài” sang “khai thác dầu mỏ bên ngoài”.

Trong khi đó, những nước có nguồn dự trữ dầu mỏ lớn cũng cố gắng sử dụng nó như một đòn bẩy chiến lược trên vũ đài chính trị quốc tế. Nước Nga dưới thời Putin trỗi dậy được một phần cũng là nhờ dầu mỏ. Việc châu Âu phụ thuộc vào khí đốt của Nga đã trở thành một con bài ngoại giao của nước Nga trên ván cờ châu Âu và khiến cho phương Tây phải e ngại trước các vụ việc xảy ra tại Gruzia, với việc nước Nga tiến vào Gruzia để bảo vệ hai khu vực ly khai Nam Ossetia và Abkhazia; hay như vụ việc mua bán khí đốt giữa Nga với Ukraine.

Dầu mỏ cũng giúp cho Iran thoát được các đòn trừng phạt của Liên hợp quốc trong vấn đề hạt nhân, khi mà nhiều nước phương Tây vẫn phụ thuộc vào nguồn cung cấp dầu mỏ của nước này. Dù rất muốn trừng phạt Iran về vấn đề hạt nhân, nhưng các cường quốc phương Tây và một số nước trong ban giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế [IAEA] – là những nước ít nhiều đều phải nhập khẩu dầu mỏ của Iran – rất ngại sử dụng biện pháp cấm vận dầu mỏ vì nếu làm thế, giá dầu sẽ tăng và làm phương hại đến nền kinh tế của họ.

Venezuela luôn là cái gai ở phía Nam đối với Hoa Kỳ vì lập trường cứng rắn của Tổng thống Hugo Chávez phản đối chủ nghĩa bá quyền của Hoa Kỳ. Thế nhưng nước này lại là 1 trong 4 quốc gia hàng đầu cung cấp dầu thô cho Hoa Kỳ. Chính điều đó đã phần nào giải thích cho thái độ cứng rắn của ông Chávez mà Hoa Kỳ không có cách nào trừng phạt được.

Sudan cũng là một quốc gia dầu khí mới nổi ở châu Phi. Chính nhờ có tài nguyên dầu khí mà đất nước thuộc loại nghèo nhất thế giới này với nhiều bê bối về xung đột sắc tộc đã được một số cường quốc nể nang. Từ năm 1995, Trung Quốc – 1 trong 5 nước thường trực có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc – đã giành được sân chơi dầu khí tại đây và hiện tại, Trung Quốc là nước nhập khẩu dầu mỏ lớn nhất của Sudan.

Hiểu rõ vai trò của địa chính trị dầu mỏ, các quốc gia sản xuất dầu mỏ hiện nay đã biết đoàn kết lại để tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm tạo đối trọng với các cường quốc trong thế cân bằng quyền lực. Cụ thể là đến thập kỷ 1970, các nước này đã cho ra đời Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ [OPEC]. Tổ chức này nhanh chóng trở thành nhân tố quan trọng nhất trong việc điều tiết khai thác và tiêu thụ dầu mỏ, chấm dứt sự độc quyền và khống chế của các đại công ty dầu mỏ phương Tây.

Có thể nói, cho đến nay, dầu mỏ vẫn được coi là một tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng nhất trong việc điều tiết nền chính trị đối nội và đối ngoại của những quốc gia sản xuất và tiêu thụ dầu mỏ. Về mặt này, nhà báo Mỹ nổi tiếng Thomas Friedman còn khẳng định: “Với tất cả sự kính trọng dành cho Ronald Reagan, tôi không tin rằng ông ấy là người đã làm lụn bại Liên Xô. Rõ ràng, trên thực tế còn có nhiều yếu tố khác, nhưng giá dầu toàn cầu sụt giảm vào khoảng cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 là yếu tố then chốt dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô. (Khi Liên bang Xô viết chính thức tan rã vào ngày Giáng sinh năm 1991, giá một thùng dầu dao động ở mức 17 USD)”. Ý kiến của Friedman có thể là quá phóng đại trong trường hợp của Liên Xô, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu Friedman chỉ muốn nhấn mạnh đến sức chi phối của dầu mỏ đối với nền kinh tế Liên Xô. Một lần nữa, chúng ta có thêm một ý kiến góp phần khẳng định xu hướng địa chính trị tài nguyên.

Có ý kiến cho rằng loài người cần phải tiết kiệm khai thác các nguồn tài nguyên quý hiếm, đặc biệt là dầu mỏ, để đảm bảo cho sự phát triển bền vững và lâu dài. Tuy nhiên cũng lại có ý kiến cho rằng, với tốc độ phát triển tăng vọt như hiện nay, rất có thể trong tương lai, con người sẽ tìm ra các phương thức và nguồn tài nguyên thay thế dầu mỏ trong nhiều lĩnh vực sử dụng. Vì thế, các quốc gia cần phải tranh thủ khai thác nguồn tài nguyên vẫn được coi là đắt hàng nhất này trước khi nó bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Nhưng, cho dù thế nào thì bánh xe phát triển của lịch sử cũng không thể dừng lại. Con người vẫn sẽ phải đáp ứng nguyên liệu để phát triển mà không thể tiết chế được các nhu cầu về nguồn lực cho bản thân. Vì thế, dầu mỏ vẫn được coi là quân át chủ bài trong địa chính trị tài nguyên của nhiều quốc gia.

Song địa chính trị tài nguyên không chỉ có dầu mỏ. Trái đất của chúng ta còn có nhiều nguồn tài nguyên khác nữa, từ nguồn tài nguyên thiết yếu nhất và sơ đẳng nhất như đất trồng trọt đến tài nguyên cao cấp nhất phục vụ cho điện hạt nhân là uranium. Từ thời cổ xưa, những vùng đất màu mỡ vẫn là nguồn gốc tranh chấp muôn thuở của nhiều sắc tộc. Trước đây, truyền thuyết cổ đại Hy Lạp ghi lại rằng: Thời bấy giờ nữ thần Athena – con gái của thần Zeus – đã tranh giành đất đai Hy Lạp với thần Poseidon. Hội đồng thần thánh phán rằng, họ sẽ xử cho người nào quyền cai quản miền Atike của Hy Lạp nếu người đó đem đến cho người dân trong vùng một món quà quý nhất. Thần Poseidon tặng họ con ngựa, còn thần Athena tặng họ câu ôliu. Nhờ cây ôliu mà cư dân ở đây đã trở nên giàu có. Thế là Athena thắng cuộc và trở thành thần bảo hộ của thành Athena là thành được mang tên nữ thần từ đó. Rõ ràng, đất nông nghiệp luôn được coi là tài nguyên quý giá nhất. Đến thời hiện đại, trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hitler cũng rất coi trọng đất đai có giá trị nông nghiệp chứ không chú tâm đến công nghiệp và thương mại. Y cho rằng công nghiệp và thương mại chỉ là giải pháp tạm thời, giải pháp lâu dài và bền vững để đảm bảo cho việc tự túc tự cấp của một dân tộc trước hết vẫn là nông nghiệp. Vì thế, quan điểm địa chính trị của Hitler chú trọng đến việc xây dựng một cường quốc đất liền ngay tại châu Âu, chứ không chú tâm đến việc trở thành cường quốc biển. Đó cũng là một nét đặc thù của địa chính trị Đức.

Klare cũng cho rằng “Cuộc cạnh tranh giành tài nguyên là một yếu tố có tính chất quyết định trong việc chi phối sự xung đột kể từ các cuộc chiến tranh được lịch sử ghi chép lại một cách sớm nhất, tại vùng Cận Đồng thời cổ đại. Và đến nay, các quốc gia đấu tranh để giành quyền kiểm soát những vùng đất thích hợp cho hoạt động nông nghiệp – thường là lưu vực các con sông (lưu vực sông Tigre – Euphrates, lưu vực sông Jordan, lưu vực sông Nile…) hoặc những khu vực gần các con suối và các vùng đất màu mỡ. Bên cạnh đó còn nổ ra các cuộc chiến trnah giành các nguồn tài nguyên có giá trị khác như khoáng sản, gỗ và gia vị”. Đó cũng là đặc điểm của quá trình bành trướng thuộc địa quy mô lớn của các cường quốc châu Âu từ thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 19.

Quả thực, hầu như bất cứ một nguồn tài nguyên quý giá nào cũng đều có thể trở thành nguyên nhân dẫn đến các cuộc xung đột quốc tế. Nước, một nguồn tài nguyên tưởng chừng như vô tận lại đang trở thành đối tượng tranh chấp của nhiều quốc gia liền kề nhau. Bây giờ người ta mới thấy nguy cơ của tình trạng khan hiếm nước ngọt có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nguy cơ này càng trở nên thúc bách khi mà dân số thế giới đang có xu hướng gia tăng, khi tình trạng hạn hán trở nên phổ biến do hiện tượng nóng lên toàn cầu đang diễn ra trầm trọng. Vấn đề thường trở nên phức tạp vì các nguồn cung cấp nước ngọt lại không tuân theo biên giới chính trị của các quốc gia. Vì vậy, rất nhiều nước phải cùng nhau chia sẻ một số lượng hạn chế các nguồn nước chủ yếu. Và vì thế, nguy cơ xung đột vì tranh giành nguồn nước chung sẽ không tránh khỏi gia tăng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Văn Dân – Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia – NXB KHXH 2011.