Việt Nam theo mô hình phát triển của Trung Quốc, nhưng không chắc chắn thành công


Nguyễn Bảo Hân

Tổng cục Thống kê Việt Nam đã công bố tăng trưởng GDP quý 2/2022 là 7,72%, đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong quý thứ hai trong 11 năm qua. Có chuyên gia tại Việt Nam đã cảnh báo về con số tăng trưởng GDP này. PGS.TS. Phạm Thế Anh, Trưởng bộ môn Kinh tế vĩ mô thuộc Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết: “Mức tăng trưởng GDP quý vừa qua chưa phản ánh đúng thực tiễn, dường như bị “thổi phồng” hơi quá so với thực tiễn khi mà doanh nghiệp vẫn đang gặp nhiều khó khăn”.

Cho đến nay, mặc dù có lượng hàng hóa xuất khẩu ấn tượng vào thị trường Mỹ và EU, thế nhưng, Việt Nam vẫn đang nhập khẩu một lượng lớn nguyên liệu thô từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước khác và có mạng lưới chuỗi cung ứng kém phát triển hơn. Sản phẩm sau đó được xử lý và hoàn thiện trước khi chuyển đến Mỹ, EU…Điều quan trọng cần lưu ý là quỹ đạo hiện tại của Việt Nam chính là quỹ đạo của Trung Quốc vài năm trước.

Trong những năm gần đây, các cuộc thảo luận liên quan đến sự chuyển dịch của ngành sản xuất Trung Quốc sang các nước Đông Nam Á và Nam Á không ngừng “nóng” lên. Các quốc gia này tương đồng về chính trị, kinh tế, địa lý và văn hóa và Việt Nam là một trong những đối tượng tiêu biểu nhất được đưa ra phân tích. Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đã khiến cho mức thuế nhập khẩu của Mỹ đối với Trung Quốc tăng lên đáng kể, nên thực tế đã xuất hiện hiện tượng một số ngành sản xuất của Trung Quốc chuyển dịch sang Việt Nam.

Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều từ mô hình chính trị của Trung Quốc, nên về đường lối phát triển kinh tế, Việt Nam cũng sao chép nhiều từ Trung Quốc. Tuy nhiên, có một số lý do khiến Việt Nam không thể trở thành “công xưởng của thế giới” như Trung Quốc.

Thứ nhất, tài nguyên quốc gia của Việt Nam hữu hạn. Về các yếu tố tự nhiên cơ bản, Việt Nam chỉ nên so sánh với Nhật Bản. Với lãnh thổ dài, hẹp và dân số gần 100 triệu, Việt Nam thực sự giống với Nhật Bản giai đoạn xây dựng lại sau Chiến tranh thế giới thứ Hai. Tuy nhiên, ngay cả ở thời kỳ đỉnh cao về sản xuất, Nhật Bản cũng chưa bao giờ đạt đến cấp độ “công xưởng thế giới”, mà chỉ giành được lợi thế dẫn đầu trong một số lĩnh vực thành phẩm công nghệ cao. Do đó, thay vì muốn thay thế Trung Quốc, ngành sản xuất của Việt Nam tốt hơn nên lấy hình mẫu Nhật Bản hoặc Hàn Quốc trước đây để làm mục tiêu phấn đấu.

Thứ hai, cơ cấu công nghiệp của Việt Nam mất cân đối nghiêm trọng. Nếu một quốc gia muốn trở thành “công xưởng thế giới” cần phải có một hệ thống công nghiệp hoàn chỉnh, trong đó công nghiệp nặng là không thể thiếu. Vì phát triển nền công nghiệp nặng đồng nghĩa với việc sở hữu cơ sở hạ tầng kinh tế của một nền kinh tế hiện đại, có thể tạo ra các tư liệu sản xuất như nguyên vật liệu và các thiết bị công nghiệp. Tuy nhiên, cơ cấu công nghiệp hiện có của Việt Nam chủ yếu là công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng chiếm tỷ trọng rất nhỏ.

Trên thế giới, ngành công nghiệp nặng của các nước phát triển muộn thường dựa vào sự hỗ trợ của nhà nước, rất khó phát triển trên thị trường tự do. Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản đều thiết lập được hệ thống công nghiệp tương đối hoàn chỉnh dưới sự thúc đẩy của “chính phủ lớn”. Tuy nhiên, đường lối cải cách và phát triển hiện nay của Việt Nam dường như đang đi theo hướng hệ thống “tự do hóa” – không đủ quyết tâm và sự quyết đoán để thúc đẩy công nghiệp hóa bằng bất cứ giá nào. Chừng nào tình thế này chưa thay đổi, thì sự phát triển của nền công nghiệp Việt Nam chỉ có thể gắn liền với trật tự kinh tế do Mỹ và châu Âu lãnh đạo.

Thứ ba, Việt Nam còn thiếu một chuỗi công nghiệp độc lập và hoàn chỉnh. HIện nay, mô hình hoạt động chủ yếu của ngành sản xuất Việt Nam là “nguồn cung và thị trường tiêu thụ đều nằm ở nước ngoài” – cụ thể là nguồn cung cấp linh kiện và bán thành phẩm chủ yếu đến từ Trung Quốc, còn thị trường tiêu thụ thành phẩm chủ yếu là ở Mỹ. Điều này khiến ngành sản xuất của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào ngoại thương, theo mô hình “nguồn cung và thị trường tiêu thụ đều nằm ở nước ngoài” – vai trò chính của Việt Nam chỉ là lắp ráp và sản xuất thành phẩm. Do đó, giá trị mà Việt Nam có được trong chuỗi sản xuất toàn cầu là rất thấp.

Trong một báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) hồi tháng 5/2022, các chuyên gia đưa ra 5 cải cách quan trọng cần triển khai để thúc đẩy phát triển kinh tế VIệt Nam. Đó là: Việt Nam cần tạo nền tảng thể chế vững chắc cho từng ưu tiên phát triển nhằm biến những ưu tiên phát triển đó thành hành động cụ thể; hài hòa các quy trình, thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả của chính quyền các cấp; sử dụng các công cụ thị trường để tạo động lực cho các bên liên quan trong khu vực nhà nước và tư nhân; thực thi hiệu lực các quy định và quy tắc nhằm nâng cao động lực, lòng tin và công bằng; áp dụng các quy trình có sự tham gia để bảo đảm nâng cao minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Có lẽ, Chính phủ Việt Nam cần thận trọng trước các thông tin “lạc quan thái quá” để điều chỉnh nền kinh tế theo các đề nghị của WB. Đó chính là cách thiết thực nhất.

Nguồn: TKNB – 14/07/2022

Mỹ thực hiện cam kết bảo vệ Đài Loan như thế nào? – Phần đầu


Bài trả lời phỏng vấn của chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc Jean Pierre Cabestan, thuộc Đại học Baptist Hong Kong đăng trên trang mạng asialyst.com

Theo nhận định của nhà nghiên cứu về Trung Quốc Jean Pierre Cabestan, tác giả cuốn sách “Trung Quốc ngày mai: chiến tranh hay hòa bình?”, sự mơ hồ chiến lược của Mỹ đã được “xóa bỏ phần nào”. Tổng thống Biden đã nhiều lần khẳng định Washington sẽ “bảo vệ” Đài Loan trong trường hợp Trung Quốc xâm lược, điều mà những người tiền nhiệm của ông chưa bao giờ nói thẳng ra như vậy, vì e ngại khuyến khích Đài Loan giành độc lập. Nhưng câu hỏi về sự “phòng thủ” của “hòn đảo nổi loạn” mà Mỹ đặt ra vẫn còn nguyên vẹn. Đài Loan có thể làm gì nếu người Mỹ quyết định không can thiệp trực tiếp trên thực địa giống như trong bối cảnh Ukraine và không trở thành “kẻ đồng lõa?”

Asialyst (-): Trước những hậu quả đối với Nga từ cuộc chiến ở Ukraine kể từ ngày 24/2, liệu chính quyền Tập Cận Bình có rút ra được bài học đối với Đài Loan?

Jean Pierre Cabestan (+): Vâng, dĩ nhiên, Tập Cận Bình rút ra được những bài học hữu ích từ đó. Tôi tin rằng Chính phủ Trung Quốc đang theo dõi rất chặt chẽ cuộc xung đột ở Ukraine. Ông ấy cố xem liệu cuộc xâm lược Ukraine của Nga mang lại cơ hội mới cho Trung Quốc liên quan đến Đài Loan hay trái lại, liệu cuộc xung đột này có loại bỏ triển vọng giải quyết vấn đề Đài Loan, kể cả bằng biện pháp quân sự hay không.

(-): Và theo những gì ông biết, liệu xu hướng này có thay đổi hay không?

(+): Tôi nghĩ cuộc chiến ở Ukraine đang khiến Tập Cận Bình và Chính phủ Trung Quốc phải suy nghĩ kỹ trước khi lao vào cuộc phiêu lưu quân sự chống lại Đài Loan. Giờ đây, có những lập luận đi theo cả hai hướng. Lập luận đầu tiên là sự thay đổi rất đáng lo ngại trong tương quan lực lượng giữa Trung Quốc và Đài Loan. Đài Loan có các phương tiện hạn chế để ngăn cản hay chống lại một cuộc xâm lược quân sự của Trung Quốc. Trung Quốc rất có thể cố gắng hành động và thôn tính Đài Loan bằng các biện pháp quân sự, cho dù chi phí của cuộc xâm lược này dường như rất cao. Nếu đúng như vậy, Đài Loan sẽ phải nhượng bộ và sẽ bị buộc phải chấp nhận, thậm chí trước khi xung đột kết thúc, một hình thức dàn xếp chính trị rõ ràng sẽ rất có lợi cho Bắc Kinh. Lập luận thứ hai là sự thay đổi tương quan lực lượng quân sự không cân xứng hơn nhiều so với tương quan lực lượng quân sự giữa quân đội Nga và quân đội Ukraine.

(-): Chẳng phải Mỹ và Nhật Bản đang tăng cường hiện diện quân sự ở Đài Loan hay sao?

(+): Dĩ nhiên, đúng vậy. Tuy nhiên, phản ứng của Mỹ trước sự xâm lược của Nga ở Ukraine có thể khiến Đài Loan kết luận rằng trong trường hợp bị Trung Quốc tấn công, Mỹ sẽ lựa chọn hỗ trợ quân sự và tài chính cho Đài Loan, bao gồm cả việc cấp những vũ khí quan trọng để bảo vệ lãnh thổ Đài Loan, nhưng không can thiệp quân sự trực tiếp. Như trong trường hợp của Ukraine, không có liên minh chính thức nào giữa Mỹ và Đài Loan. Trong Đạo luật Quan hệ với Đài Loan, Mỹ cam kết cung cấp cho Đài Loan vũ khí phòng thủ và coi bất kỳ cuộc tấn công nào nhằm vào sự ổn định ở eo biển Đài Loan đều là “vấn đề nghiêm trọng cần quan tâm” đối với Mỹ. Nhưng luật này không buộc Mỹ tham gia một cuộc xung đột trực tiếp với Trung Quốc trong trường hợp Trung Quốc tấn công Đài Loan. Chính điều mà người ta gọi là sự mơ hồ chiến lược của Mỹ vẫn là lập trường chính thức của Chính phủ Mỹ. Tất nhiên, người ta có thể tranh luận về ý nghĩa của sự mơ hồ chiến lược này trong khi từ nhiều năm qua, Washington đã chuyển hướng sang một sự rõ ràng chiến lược. Sự mơ hồ chiến lược này đã phần nào được xóa bỏ qua một số tuyên bố của Tổng thống Joe Biden, của cá nhà lãnh đạo quân sự Mỹ. Những tuyên bố này làm cho người ta tin tưởng ý tưởng can thiệp quân sự của Mỹ trong trường hợp Trung Quốc tấn công Đài Loan vô cớ. Nhưng không ai biết cam kết này sẽ được đưa ra dưới hình thức nào. Tuy nhiên, Mỹ vẫn rất miễn cưỡng trong việc loại bỏ hoàn toàn sự mơ hồ chiến lược này, điều này cũng bảo vệ Mỹ trước bất kỳ tuyên bố đơn phương nào về độc lập của Đài Loan.

Kết quả là, nếu Đài Loàn “đơn phương độc mã” chiến đấu với Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA), chỉ với sự hỗ trợ hậu cần của Mỹ và thậm chí của Nhật Bản, thì chắc chắn Đài Loan sẽ ở một vị trí rất dễ bị tổn thương. Một lập luận khác gây lo ngại là như chúng ta biết, nhiều người không tin rằng Vladimir Putin muốn xâm lược Ukraine. Thế nhưng, Putin đã đưa ra quyết định này, mà không có bất kỳ ai cản đường. Trong khi đó, Tập Cận Bình ngày nay đã thâu tóm nhiều quyền lực đến mức người ta tự hỏi liệu ông có ở trong hoàn cảnh tương tự hay không. Bị kích động bởi một chủ nghĩa dân tộc muốn giải quyết xong vấn đề Đài Loan trước thế hệ tiếp theo, Tập Cận Bình cũng có thể chuyển sang hành động. Chúng ta có thể thấy rõ rằng tương lai của Trung Quốc, sự trỗi dậy cũng như sự “hồi sinh” quốc gia và quốc tế của họ gắn với sự thống nhất hoàn toàn đất nước và do đó phải hoàn toàn sáp nhập Đài Loan.

(-) Nếu Vladimir Putin thua trong cuộc chiến này, liệu đó có phải là dấu chấm dết cho Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như Tập Cận Bình hay không?

(+) Tôi không chắc về điều này. Một số người nghĩ rằng một thất bại quân sự của Trung Quốc sẽ gây rủi ro và ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng Cộng sản. Nhưng điều này còn lâu mới xảy ra. Tôi cho rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sẽ vượt qua thử thách cho dù kết quả thế nào đi chăng nữa. Vì trong trường hợp thất bại, lực lượng chính trị nào sẽ có mặt ở Trung Quốc để đe dọa Đảng Cộng sản? Chúng tôi nhận thấy rằng Putin hoàn toàn biết cách điều chỉnh cuộc xung đột mà ông ấy khởi xướng, và đặc biệt là các mục tiêu của ông, sau khi mọi thứ diễn ra khác với các kế hoạch ban đầu của ông. Nếu một cuộc chiến tranh chớp nhoáng chống lại Đài Loan tiến triển theo chiều hướng không thuận lợi, rất có thể Tập Cận Bình sẽ công bố những mục tiêu mới và nói rằng dù thế nào đi nữa Đài Loan cũng sẽ nhượng bộ. Tôi không nghĩ rằng Đảng Cộng sản và hệ thống chính trị Trung Quốc bị đe dọa trực tiếp bởi một cuộc xung đột quân sự với Đài Loan. Không có một chính đảng nào có thể thay thế Đảng Cộng sản ở Trung Quốc đại lục ngày nay. Điều này không có nghĩa là một thất bại sẽ không gây chia rẽ trong Đảng. Người ta có thể nghĩ rằng những chia rẽ này sẽ dẫn đến việc áp dụng chính sách thống nhất ôn hòa hơn, chẳng hạn làm sống lại “chiến lược phát triển hòa bình” mối quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan mà Hồ Cẩm Đào chủ trương. Nhưng tôi nghĩ rằng cho dù trong giới tinh hoa có sự chia rẽ, thì điều này cũng không có khả năng dẫn đến sự thay đổi chế độ.

(-) Liệu có tranh luận trong giới lãnh đạo Bắc Kinh về việc có nên tấn công Đài Loan hay không?

(+) Những quan chức của ĐCSTQ có phần lo lắng không biết liệu họ có đạt được các mục tiêu quân sự mà Đảng giao phó hay không, liệu có nên tiếp tiếp tục sử dụng những “vùng xám” giữa chiến tranh và hòa bình để tạo ra ngày càng nhiều khu vực mất an ninh xung quanh Đài Loan, dần dần làm suy yếu tinh thần của người Đài Loan và buộc họ phải nhượng bộ, đặc biệt phải chấp nhận nguyên tắc “một nhà nước Trung Quốc”. Một câu hỏi khác là liệu Tập Cận Bình có thực sự nắm giữ nhiều quyền lực cá nhân như Putin hay không. Tôi cũng không chắc nữa. Rõ ràng là ông đã tập trung rất nhiều quyền lực trong tay. Tuy nhiên, về việc có nên tấn công Đài Loan hay không, ông không thể quyết định một mình. Như chúng ta đã biết, ĐCSTQ là một cơ cấu bao gồm Ban thường vụ Bộ Chính trị (7 thành viên), Bộ Chính trị (25 thành viên), Quân ủy Trung ương (7 thành viên). Liệu Tập Cận Bình có thể đưa ra quyết định một mình hay không nếu đa số thành viên của những cơ quan này còn dè dặt? Tôi cho rằng Tập Cận Bình buộc phải có được sự ủng hộ chính thức của họ.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 24/06/2022

Ngân hàng trung ương – Phần I


Sau khi lớp thứ hai của tiền xuất hiện, các chính phủ chuyển sang kiểm soát vị trí quan trọng giữa lớp thứ nhất và lớp thứ hai. Vào thế kỷ XVII và XVIII, Ngân hàng Amsterdam và Ngân hàng Anh Quốc thêm mình vào kim tự tháp tiền tệ, trao cho chính phủ của họ quyền lực chưa từng có đối với những vấn đề tiền tệ của người dân. Bằng cách bắt buộc sử dụng đồng tiền lớp thứ hai của chính họ, chính phủ và những điều lệ mới của ngân hàng trung ương đã xóa bỏ khả năng tự do sử dụng mệnh giá tiền tệ của người dân. Ngày nay chính phủ và tiền tệ liên kết chặt chẽ với nhau vì chính phủ công bố sự độc quyền đối với tiền lớp thứ hai và sử dụng cho lợi ích của riêng mình, bắt đầu với Ngân hàng Amsterdam vào năm 1609. Khi xem xét hai ngân hàng trung ương đã phát minh ra mọi khía cạnh những gì chúng ta ngày nay xem là dịch vụ của ngân hàng trung ương, việc đánh giá những mặt mà cải cách tiền tệ đóng góp thế nào tới chương trình hành động của chính phủ rất quan trọng. Những ngân hàng này cũng cho chúng ta biết ý nghĩa khi phát hành thứ mà phần còn lại của thế giới xem là tiền tệ dự trữ. Các ngân hàng trung ương, tiền tệ dự trữ thế giới và sự xuất hiện của tiền tệ lớp thứ ba sẽ được tìm hiểu nhiều hơn trong bài này.

Thanh toán ngay

Ngân hàng Amsterdam (BoA) được tạo ra nhờ công ty cổ phần đầu tiên của thế giới, Công ty Đông Ấn Hà Lan (Vereeingde Oostindische Compagnie, hay VOC). Câu chuyện về VOC bắt đầu vào năm 1585 khi người Hà Lan nhanh chóng kết thúc vai trò trung tâm nền thương mại của thế giới của Antwerp bằng việc đóng cửa sông Schedl và chặn lối ra biển. Sự đóng cửa xảy ra trong thời gian giữa cuộc nổi dậy của Hà Lan, 80 năm chiến đấu vì độc lập của Hà Lan khỏi chế độ quân chủ của Tây Ban Nha. Với mục đích chính trị, cuộc nổi dậy của Hà Lan đã truyền cảm hứng cho sự thay đổi từ chế độ quân chủ sang hình thức mang tính đại diện hơn cho chính phủ như ở nước Anh, Pháp và Mỹ. Cuộc nổi dậy dẫn đến sự hình thành Cộng hòa Liên bang Hà Lan, thường được gọi là Cộng hòa Hà Lan. Việc hình thành nền cộng hòa mới khởi đầu cho sự tập trung hóa tài chính đã thay đổi bộ mặt của tiền tệ và kinh tế mãi mãi. Thế kỷ tiếp theo của thị trường tiền tệ và tất cả nền tài chính đều tập trung ở Amsterdam.

Vào đầu thế kỷ XVII, các thương nhân người Hà Lan đã đưa thuyền đến hòn đảo Java của Indonesia để mua gia vị và bán lại ở châu Âu với khoản lợi nhuận đáng kể. Lợi nhuận đã thu hút thêm nhiều thương nhân và ngay sau đó một đoàn các thương nhân quốc tế bắt đầu tự làm rõ với nhau. Hoạt động mua bán quế và gừng sau đó đã dẫn đến lợi nhuận cao hơn, và những thương nhân này nhanh chóng nhận ra nỗ lực của họ có thể tăng lên gấp nhiều lần bằng cách hợp lực và thu hút vốn như một cá thể thống nhất. Kết quả là công ty cổ phần đầu tiên được thành lập vào năm 1602, công ty VOC. Đối với chúng ta điều đó ngày nay rất bình thường, như VOC là ví dụ đầu tiên về việc các nhà đầu tư cổ phần góp vốn để đổi lấy sự chia sẻ trong việc làm chủ theo hình thức một tờ giấy chứng nhận. Chính phủ Hà Lan cho VOC sự độc quyền trong việc giao dịch tại châu Á cũng như quyền thuê lính và tiến hành chiến tranh với nhiệm vụ tạo ra lợi nhuận từ giao dịch quốc tế. Khả năng huy động vốn của công ty mang lại cho nó đòn bẩy để tạo nên thành công trong kinh doanh. Cổ phần trong VOC là một tài sản được nhiều người săn đón. Khi cổ phần tăng giá trị, các nhà đầu tư ban đầu nhìn thấy lợi nhuận bằng việc bán chúng cho các nhà đầu tư mới để lấy tiền mặt, và điều đó là cách mà thị trường chứng khoán đầu tiên ra đời. Amsterdam Bourse được đặt tên theo tiền thân của nó ở Antwerp và được thành lập nhanh chóng sau những dấu hiệu đầu tiên của thị trường giao dịch cổ phần của VOC. VOC tự mình tạo ra thị trường nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi cổ phần của nó trên thị trường thứ cấp và đi kèm với khả năng theo dõi tất cả những hoạt động giao dịch. Việc tạo ra Amsterdam Bourse cho phép VOC quan sát việc lưu chuyển cổ phiếu trong chính nền tảng của mình.

Sự ra đời của thị trường chứng khoán dẫn đến sự tăng trưởng khổng lồ trong các giao dịch tài chính, điều này đòi hỏi một cơ chế thanh toán ưu việt nhất từ trước đến nay. Vì mối quan tâm đối với cổ phần của VOC gia tăng, các giao dịch tăng lên. Tất cả những giao dịch mua bán cổ phần đều được thực hiện bằng tiền, nhưng loại tiền nào các cổ đông sẽ chấp nhận? Họ sẽ yêu cầu tiền mặt , nhưng chấp nhận một túi lớn đầy những đồng vàng và bạc sẽ không có lợi cho việc trao đổi hoạt động hiệu quả. Với hơn 1000 loại tiền khác nhau lưu thông trong trung tâm thương mại quốc tế mới của Amsterdam, tình hình tiền tệ này quá phức tạp đối với một thành phố có thị trường chứng khoán đầu tiên của thế giới. Một công cụ tiền tệ được yêu cầu để thanh toán và hoàn thiện tất cả các giao dịch mua bán. Vào năm 1609, Ngân hàng Amsterdam hay Wisselbank được thành lập như một sự phát triển tự nhiên của các tổ chức tài chính theo sau sự xuất hiện của Amsterdam Bourse. Việc lưu hành cổ phần VOC cần sự cải tiến trong thanh toán bằng tiền. Sử dụng đơn vị ủy quyền tài khoản, cũng được gọi là đồng florin của Hà Lan, Ngân hàng Amsterdam triển khai một nền tảng cho việc thanh toán cho việc thanh toán miễn phí và ngay lập tức đối với tất cả những người gửi tiền. Cộng hòa Hà Lan mới được thành lập cần tiền lớp thứ hai của chính nó để hỗ trợ cho việc liên doanh thuộc địa thành công rực rỡ của nó.

Nhiệm vụ kinh doanh đầu tiên của BoA là cấm các thủ quỹ và giấy nợ của họ cũng như bắt buộc tất cả đồng vàng và bạc của thành phố phải được gửi vào ngân hàng. Thủ quỹ là những người đổi tiền của Amsterdam cho đến khi hoạt động của họ bị xem là phạm pháp. Họ giữ đồng vàng và bạc, phát hành giấy nợ dựa vào nó. Thủ quỹ là tác nhân chính giữa tiền lớp thứ nhất và thứ hai ở Amsterdam, vì vậy để BoA thu hút vốn, nó cần phải làm vậy bằng quy định chính thức. Tất cả thủ quỹ phải giao nộp kim loại quý cho Ngân hàng Amsterdam và được BoA phát hành ký quỹ. Các thủ quỹ được phép hoạt động trở lại nhiều năm sau khi bị cấm nhưng chỉ được phép giữ tiền trong một vài ngày trước khi ký quỹ tất cả tại Ngân hàng Amsterdam. BoA có thể thành công trong việc độc quyền phát hành tiền lớp thứ hai bằng cách loại bỏ quyền tiếp cận của công chúng đối với tiền lớp thứ nhất.

Khoản ký quỹ của ngân hàng BoA trở thành loại tiền được yêu thích ở khắp châu Âu, đặc biệt vì vị trí của Amsterdam là trung tâm thương mại quốc tế. Hàng hóa của VOC chinh phục châu Á và sự phổ biến của cấu trúc công ty cổ phần đã mang đến hàng loạt nguồn vốn cho thành phố. Điều này tạo điều kiện cho cuộc cách mạng thực sự đầu tiên của Ngân hàng Amsterdam: khả năng cho phép chuyển nhượng tức thì giữa những người gửi tiền. Dù là giao dịch nhỏ và lớn, việc chuyển nhượng giữa những người gửi tiền của BoA trở nên vô cùng đơn giản. Để tăng mức độ sử dụng, BoA không thu phí đối với các giao dịch chuyển nhượng nội bộ. Việc chuyển nhượng cũng không yêu càu bất kỳ giao dịch tiền xu hay tiền giấy. Chỉ có Ngân hàng Amsterdam điều chỉnh sổ cái kế toán. Tất cả điều này có nghĩa là với số lượng đăng ký mệnh giá trong và ngoài Hà Lan ngày càng tăng, chuyển tiền trở nên dễ dàng hơn rất nhiều so với việc sử dụng tiền xu hay thậm chí tiền giấy. Vì sự cải tiến về thanh toán tức thì đối với tiền lớp thứ hai này, Ngân hàng Amsterdam là ngân hàng trung ương đầu tiên bởi vì theo luật ngân hàng này là trung tâm của tất cả các giao dịch liên quan đến tiền. Nhiệm vụ thanh toán, hay thực hiện chuyển nhượng giữa những người gửi tiền là nền tảng của ngân hàng trung ương. Ngân hàng Amsterdam là động thái quản lý đối với giao dịch chứng khoán và là một cách để chính phủ kiểm soát mọi giao dịch diễn ra giữa những người gửi tiền. Nó có sự giám sát tài chính tuyệt đối với nền kinh tế bởi vì nó tập trung định tuyến tất cả những giao dịch và có tầm ảnh hưởng đối với các mối quan hệ tài chính giữa những ông chủ lớn.

Yêu cầu về đồng tiền của BoA tăng cao ở khắp châu Âu khi Amsterdam nâng cao vị thế của mình như cái nôi của nguồn vốn. Đồng florin Hà Lan được xem là tiền tệ dự trữ của thế giới trong thế kỷ XVII vì các thương nhân và doanh nghiệp khắp châu Âu dự trữ nó vì sự tin tưởng tuyệt đối với người phát ngôn. Danh hiệu tiền tệ dữ trữ của thế giới tồn tại đến tận thế kỷ XVIII.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Nik Bhatia – Sự tiến hóa của tiền tệ – NXB CT 2021

Tính có thể sai và tính phản xạ – Phần III


Tính phản xạ trong lịch sử các ý tưởng

Hãy để tôi định vị trí của khái niệm tính phản xạ trong lịch sử các ý tưởng. Các nhận định có thể tác động đến đối tượng mà chúng nói tới – thực tế đó được xác định đầu tiên bởi Epimenides, một người dân đảo Crete (Hy Lạp) khi ông đặt ra nghịch lý của kẻ nói dối. Dân đảo Crete luôn luôn nói dối, ông nói, và bằng cách nó lên điều đó, ông đã khiến người ta đặt câu hỏi về tính chân thực trong nhận định của ông. Vốn là người dân đảo Crete, nếu ý nghĩa của điều ông nói là chân thực, thì nhận định của ông phải là giả dối; trái lại, nếu nhận định của ông là chân thực, thì cái ý nghĩa mà nó chuyển tải tất phải giả dối.

Nghịch lý của kẻ nói dối được coi như một sự tò mò về trí tuệ, và bị bỏ qua trong một thời gian quá dài vì nó cản trở việc theo đuổi chân lý mà nếu không có nó, vẫn thường là thành công. Chân lý bắt đầu được thừa nhận như là sự phù hợp của các nhận định với các thực tế bên ngoài. Cái gọi là lý thuyết phù hợp về chân lý bắt đầu được chấp nhận chung ở đầu thế kỷ hai mươi. Đó là thời điểm khi việc nghiên cứu thực tế đã giành được những kết quả đầy ấn tượng, và những thành tựu khoa học được sự khâm phục rộng rãi.

Được khuyến khích bởi sự thành công của khoa học, Bertrand Russell tìm cách giải quyết nghịch lý mà kẻ nói dối gặp phải. Giải pháp của ông là phân biệt giữa hai loại nhận định: một loại bao gồm những nhận định quy chiếu về và nói tới chính bản thân chúng, và một loại thì loại trừ những nhận định như trên. Chỉ những nhận định thuộc loại sau mới có thể được coi là những nhận định vững chắc với một giá trị chân thực xác định. Trong trường hợp những nhận định tự nói về mình, có lẽ không thể phân biệt liệu chúng là chân thực hay giả dối. Những người theo chủ nghĩa thực chứng logic đã đẩy lập luận của Bertrand Russell xa hơn nữa và tuyên bố rằng những nhận định nào mà giá trị chân thực của chúng không thể được xác định là vô nghĩa. Xin nhớ rằng đó là một thời điểm khi khoa học đang cung cấp những giải thích xác định cho một loạt ngày càng mở rộng các hiện tượng, trong khi triết học đã trở nên ngày càng xa rời hiện thực. Chủ nghĩa thựcc chứng logic là một giáo điều vốn tán dương tri thức khoa học như là hình thức hiểu biết duy nhất xứng đáng với cái tên của nó, và đặt siêu hình học ra ngoài vòng pháp luật. Ludwig Wittgenstein nói trong kết luận của Tractatus Logico Philosophicus của ông rằng: “Những người nào đã hiểu lập luận của tôi phải nhận ra rằng mọi thứ tôi đã nói trong cuốn sách là vô nghĩa”. Đấy xem ra là sự kết thúc con đường cho những đoán định siêu hình và sự thắng lợi hoàn toàn của tri thức dựa trên cơ sở thực tế, tất định chủ nghĩa, vốn là đặc trưng của khoa học.

Chẳng bao lâu sau đó Wittgenstein nhận ra rằng phán đoán của ông quá nghiêm khắc, và ông bắt đầu nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày. Ngay khoa học tự nhiên cũng đã trở nên ít tất định hơn. Nó gặp những ranh giới mà vượt ra ngoài chúng thì các quan sát không thể nào được giữ tách khỏi đối tượng của chúng. Các nhà khoa học đã hiểu ra được và vượt qua hàng rào ngăn cản, trước tiên với thuyết tương đối của Einstein, rồi với nguyên lý tính không xác định của Heisenberg. Gần đây hơn, các nhà điều tra vốn dùng lý thuyết các hệ thống tiến hóa, cũng còn gọi là thuyết hỗn loạn (chaos), bắt đầu thám sát những hiện tượng phức hợp mà tiến trình của chúng vốn không thể được quyết định bởi những quy luật có giá trị phi thời gian. Các sự kiện đi theo một con đường không thể đảo ngược, trong đó ngay những khác biệt mong manh nhất cũng trở nên to lớn cùng với thời gian trôi qua. Lý thuyết hỗn loạn đã có khả năng rọi sáng nhiều hiện tượng như thời tiết mà trước đó vẫn tỏ ra là không xử lý được về mặt khoa học, và nó đã khiến cho dễ chấp nhận hơn cái ý tưởng về một vũ trụ không xác định, trong đó các sự kiện đi theo một con đường độc nhất, không thể đảo ngược.

Điều thực sự xảy ra là tôi bắt đầu áp dụng khái niệm tính phản xạ vào tìm hiểu tài chính, chính trị và kinh tế học vào đầu những năm 1960, trướ khi lý thuyết các hệ thống tiến hóa ra đời. Tôi đạt tới nó với sự hỗ trợ của các tác phẩm do Karl Popper viết, thông qua khái niệm tự quy chiếu về bản thân (self-reference). Hai khái niệm có liên quan chặt chẽ nhưng không nên lẫn lộn chúng với nhau. Tự quy chiếu về bản thân là một thuộc tính của các nhận định: nó hoàn toàn thuộc về địa hạt của tư duy. Tính phản xạ nối tư duy với hiện thực; nó thuộc về cả hai địa hạt. Có lẽ đó là lý do vì sao nó bị bỏ qua suốt một thời gian dài như vậy.

Điều chung giữa tính phản xạ và tự quy chiếu về bản thân là yếu tố không xác định. Chủ nghĩa thực chứng logic coi các nhận định tự quy chiếu về bản thân là vô nghĩa và đặt chúng ra ngoài vòng pháp luật, nhưng bằng cách đưa ra khái niệm tính phản xạ, tôi đang đặt chủ nghĩa thực chứng logic lên đầu của nó. Hoàn toàn không vô nghĩa, tôi cho rằng những nhận định mà giá trị chân thực của chúng không định lại thậm chí có ý nghĩa hơn những nhận định mà giá trị chân thực của chúng đều đã được biết rõ. Những nhận định loại sau tạo thành tri thức: chúng giúp ta hiểu thế giới như nó vốn có. Nhưng nhận định loại trước, những biểu hiện của hiểu biết vốn không hoàn hảo của chúng ta, lại giúp nhào nặn thế giới nơi chúng ta sống.

Vào thời điểm tôi đạt được kết luận này, tôi đã coi nó là một phát kiến lớn lao. Bây giờ thì khoa học tự nhiên không còn khăng khăng viện dẫn một cách diễn giải tất định về mọi hiện tượng, và chủ nghĩa thực chứng logic đã lùi về phía sau, tôi cảm thấy dường như tôi đang hăng hái làm một việc đã lỗi thời mà chẳng ai quan tâm nữa. Dĩ nhiên, thời thượng trí tuệ đã quay sang một cực đoan đối lập: việc phân giải hiện thực thành các quan điểm và thành kiến chủ quan của những người tham dự đã trở nên hết sức thịnh hành. Còn chính bản thân cái cơ sở để trên đó có thể phán xét các quan điểm khác nhau, cụ thể hơn là bản thân sự thật, lại đang bị đặt thành câu hỏi. Tôi cho rằng cái cực đoan khác này cũng làm người ta lạc đường giống như vậy. Tính phản xạ nên dẫn tới một sự đánh giá lại, chứ không phải một sự hoàn toàn bác bỏ, cái quan niệm của chúng ta về sự thật.

Một khái niệm phản xạ về sự thật

Chủ nghĩa thực chứng logic phân loại các nhận định là chân thực, giả dối hay vô nghĩa. Sau khi loại bỏ những nhận định vô nghĩa, nó còn lại với hai phạm trù: chân thực hoặc là giả dối. Sơ đồ này hết sức thích hợp với một vũ trụ vốn tách biệt và độc lập với những nhận định về nó, nhưng lại rất không thích hợp với việc hiểu biết thế giới của các tác nhân biết suy nghĩ. Ở đây chúng ta cần thừa nhận một phạm trù bổ sung: những nhận định phản xạ mà giá trị chân lý của chúng phụ thuộc vào những tác động chúng tạo ra.

Bao giờ cũng có thể tấn công lập trường của chủ nghĩa thực chứng logic ở bên lề của nó bằng cách gợi nên những nhận định nào đó mà giá trị về mặt chân lý của chúng có thể gây tranh cãi; ví dụ: “Vị vua hiện nay của nước Pháp bị hói đầu”. Nhưng những nhận định như vậy hoặc là không có ý nghĩa hoặc là bịa đặt ra; dù trường hợp nào xảy ra đi nữa, chúng ta vẫn có thể sống không cần chúng. Trái lại, những nhận định phản xạ thì không thể thiếu. Chúng ta không thể sống thiếu những nhận định phản xạ vì chúng ta không thể tránh những quyết định vốn có một ảnh hưởng đến số mệnh chúng ta; và chúng ta không thể đạt đến các quyết định mà không dựa vào những ý tưởng và lý thuyết vốn có thể tác động đến những đối tượng mà chúng nói tới. Bỏ qua những nhận định như vậy hoặc gán ép chúng vào các phạm trù “chân thực” và “giả dối” sẽ đẩy ngôn từ vào một hướng lạc đường, và đặt cách chúng ta diễn giải các quan hệ con người và lịch sử vào một khung sai lầm.

Tất cả mọi nhận định về giá trị đều mang tính phản xạ: “Những người nghèo được ban phước lành, vì thiên đường là của họ” – nếu người ta tin ở nhận định này, thì dĩ nhiên những người nghèo có thể được ban phước lành, nhưng họ có thể sẽ ít có động cơ thúc đẩy để đưa chính họ ra khỏi cảnh khốn khổ của họ. Tương tự như vậy, nếu người ta cho rằng người nghèo có lỗi về khốn khó của họ, thì họ ít có khả năng sống cuộc đời được ban phước hơn. Hầu hết các khái quát hóa về lịch sử và xã hội đều mang tính chất phản xạ tương tự như vậy; hãy xét, “Những người vô sản của thế giới chẳng có gì để mất ngoài xiềng xích của họ” hay “Lợi ích chung được phục vụ một cách tốt nhất bằng việc cho phép mỗi người theo đuổi lợi ích riêng của họ”. Có thể là thích hợp nếu khẳng định rằng những nhận định như vậy không có giá trị chân lý, nhưng sẽ là lạc đường (và về mặt lịch sử thực ra là rất nguy hiểm) nếu coi chúng là vô nghĩa. Chúng tác động đến tình huống mà chúng nói.

Tôi không tuyên cáo rằng một phạm trù thứ ba về chân lý là không thể thiếu để đề cập tới các hiện tượng phản xạ. Điểm mấu chốt là trong các tình huống phản xạ các thực tế không nhất thiết cung cấp một tiêu chuẩn độc lập về chân lý. Chúng ta đã đi đến chỗ coi sự phù hợp như là dấu hiệu xác nhận chân lý. Nhưng có thể mang lại sự phù hợp theo hai cách: hoặc là bằng cách đưa ra những nhận định chân thực hoặc là bằng cách tạo ra một tác động đến bản thân thực tế. Sự phù hợp không phải là cái bảo đảm chân lý. Điều báo trước này đúng với hầu hết các tuyên cáo chính trị và dự báo kinh tế.

Tôi chẳng cần nhấn mạnh ý nghĩa sâu sắc của mệnh đề này. Không có gì cơ bản cho tư duy của chúng ta hơn khái niệm của chúng ta về chân lý. Chúng ta đã quen suy nghĩ về những tình huống vốn có những người tham dự biết suy nghĩ theo cùng một cách như chúng ta nghĩ về các hiện tượng tự nhiên. Nhưng nếu có một phạm trù thứ ba về chân lý, chúng ta phải xem lại thật cẩn thận cái cách chúng ta suy nghĩ về thế giới của các sự việc, con người và xã hội.

Tôi muốn đưa ra một minh họa nhỏ từ lĩnh vực tài chính quốc tế. IMF đang bị sức ép ngày càng tăng phải hoạt động hteo một cách rõ ràng hơn, và tiết lộ những suy tính và quan điểm nội bộ của họ về các nước riêng lẻ. Những đòi hỏi này bỏ qua tính chất phản xạ của những nhận định này. Nếu IMF tiết lộ những quan tâm của họ về những nước nhất định, những nhận định đó sẽ tác động đến những nước mà chúng nói tới. Nhận ra điều này, các uqan chức IMF sẽ bị cấm biểu hiện những ý kiến thực của họ, và những tranh cãi nội bộ sẽ bị giấu kín. Nếu chân lý là mang tính phản xạ, thì việc tìm kiếm chân lý đôi khi đòi hỏi sự kín đáo.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999

Môi trường hàng hải sau Đối thoại Shangri-La


Đối thoại Shangri-La lần thứ 19 đã diễn ra trong 3 ngày từ 10 – 12/6 tại Singapore sau 2 năm gián đoạn. Nhìn từ phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin và Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida tại diễn đàn an ninh này, cũng như một số thông tin liên quan, có thể thấy rằng môi trường hàng hải xung quanh Trung Quốc sẽ có những đặc điểm mới và nước này sẽ đối mặt với những thách thức chưa từng có.

Thứ nhất, xu hướng quân sự hóa và các nhóm đối đầu do Mỹ thúc đẩy đã tăng tốc. Trong bài phát biểu về chính sách Trung Quốc của Chính quyền Mỹ cách đây vài ngày, Ngoại trưởng Antony Blinken cho biết “chiến lược của Chính quyền Biden có thể được tóm gọn trong ba từ – đầu tư, liên kết, cạnh tranh”.

Tại Đối thoại Shangri-La, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Austin nhấn mạnh đến vai trò của Nhóm “Bộ tứ” và AUKUS, cũng như liên minh của Mỹ với Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc. Những điều này cho thấy Mỹ sẽ dựa vào các liên minh quân sự song phương ở Tây Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Biển Hoa Đông và Biển Hoa Nam (Biển Đông), cũng như vào “Bộ tứ” ở Ấn Độ Dương và AUKUS ở Nam Thái Bình Dương, nhằm kiềm chế Trung Quốc về mặt chiến lược và quân sự.

Để đối phó với Trung Quốc ngoài phương cách truyền thống là sử dụng các căn cứ, các cuộc tập trận chung, thu thập thông tin tình báo và hoạt động tự do hàng hải, Mỹ cùng các đồng minh và các đối tác có thể vận dụng cả các công nghệ quân sự và phương thức chiến tranh mới như máy bay không người lái, trí tuệ nhân tạo và thiết bị siêu thanh.

Hơn nữa, do cả “Bộ tứ” và AUKUS đều nhằm mục đích kiềm chế Trung Quốc, không thể loại trừ khả năng hai cơ chế này cuối cùng sẽ kết hợp với nhau. Trên thực tế, chỉ cần Nhật Bản tham gia AUKUS hoặc Anh tham gia “Bộ tứ”, thì hai cơ chế sẽ có những hội nhập cụ thể nhất định.

Thứ hai, không gian phát triển hàng hải của Trung Quốc sẽ bị siết chặt hơn nữa, các hoạt động của nước này sẽ bị Mỹ và các đồng minh tăng cường giám sát. Tuyên bố chung được đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt Mỹ-ASEAN vào tháng 5, và bài phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Austin tại Đối thoại Shangri-La cho thấy mức độ cam kết mới của Mỹ cũng như phạm vi triển khai lực lượng Bảo vệ bờ biển Mỹ (USCG) tới Đông Nam Á. Cụ thể, Mỹ đã tuyên bố sẽ hành động để duy trì luật pháp và quy tắc quốc tế ở “vùng xám”, bao gồm việc triển khai USCG “chưa từng có” ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Mục tiêu của các tuyên bố như vậy của Mỹ, mặc dù không nói thẳng, nhưng cũng thể hiện các mục đích khá rõ ràng.

Cuối cùng, Mỹ sẽ gia tăng hoạt động hàng hải sôi động hơn bao giờ hết, và Trung Quốc sẽ phải đối mặt với những thách thức gay go hơn để bảo vệ các yêu sách hàng hải của mình. Với chính sách tạo áp lực đòi hỏi các quốc gia “chọn phe” ở Biển Đông, sự ủng hộ của Washington đối với phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA), hoạt động hành pháp xuyên biên giới USCG, và sự hợp tác sắp tới giữa Mỹ và các nước Đông Nam Á trong các lĩnh vực nhận diện tình huống và thực thi pháp luật sẽ dẫn đến xung đột căng thẳng và thường xuyên hơn trong lĩnh vực hàng hải. Mâu thuẫn có thể nảy sinh giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng, hay thậm chí là ngoài khu vực, liên quan đến việc phát triển và sử dụng tài nguyên, an toàn hàng hải, hoạt động đánh bắt và duy trì trật tự.

Tại Quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa) xu hướng hợp tác phát triển dầu khí đang gia tăng, và việc hợp tác giữa lực lượng cảnh sát biển các nước có yêu sách chủ quyền cũng như USCG trong việc thực thi pháp luật sẽ trở thành hoạt động thường lệ. Một số nước có tuyên bố chủ quyền trong khu vực sẽ tận dụng phán quyết của PCA làm cơ sở cho những “tuyên bố” pháp lý và thậm chí là đệ trình những yêu sách về thềm lục địa mở rộng hoặc thúc đẩy Ủy ban Ranh giới Thềm Lục địa thụ lý các đòi hỏi này.

Trước những thách thức mới, Trung Quốc có thể chủ động ứng phó ở hai cấp độ chiến lược và chiến thuật. Trong số đó, ở cấp độ chiến thuật, các biện pháp chỉ là “kiểm soát, các biện pháp đối phó và phòng ngừa”. Đối với các cuộc khủng hoảng và xung đột có thể xảy ra trong lĩnh vực quân sự và thực thi pháp luật, cần phải có các cơ chế và quy tắc ràng buộc, đối với các phạm vi trong lĩnh vực phát triển dầu khí và nghề cá trong các khu vực tranh chấp, cần các biện pháp ngoại giao và các hành động hàng hải cần thiết.

Nguồn: TKNB – 16/6/2022

Internet – Phần I


Năm 2006, Thượng nghị sĩ Alaska Ted Stevens, người được giao nhiệm vụ đưa ra các quy định mới về Internet, đã có một bài phát biểu đầy tai tiếng, trong đó ông cố gắng giải thích cách thức hoạt động của Internet:

Mười bộ phim phát trực tuyến trên đó, trên Internet, và điều gì sẽ xảy ra với Internet của cá nhân bạn? Cho đến gần đây, tôi mới hiểu… có một Internet do nhân viên của tôi gửi đến vào lúc 10 giờ sáng thứ Sáu. Đến hôm qua tôi mới hiểu. Tại sao? Bởi tất cả những thứ hổ lốn đang diễn ra trên Internet đều mang tính thương mại… người ta muốn truyền tải một lượng lớn thông tin qua Internet. Và tôi nhắc lại một lần ữa, Internet không phải là cái gì đó để các bạn có thể đổ bất cứ thứ gì vào. Nó không phải một chiếc xe tải. Đó là một chuỗi các ống.

Rõ ràng là Thượng nghị sĩ Stevens không hiểu gì về Internet. Nhưng chúng ta có hiểu không?

Điều gì sẽ xảy ra khi bạn nhập “Google.com” và nhấn enter?

Có thể ngày nào bạn cũng mở một trình duyệt web và nhập “google.com” vào thanh địa chỉ. Nhưng điều gì thực sự xảy ra trong khoảng thời gian từ khi bạn nhấn enter cho đến khi trang chủ quen thuộc hiện thị trên màn hình của bạn?

Địa chỉ của website

Trước khi nói về website, chúng ta hãy nói về địa chỉ của các tòa nhà. Mỗi tòa nhà đều có địa chỉ để mọi người có thể tìm thấy chúng dễ dàng và nhất quán. Nếu chúng tôi nói với 50 người rằng hãy đi đến “1600 phía Tây Bắc đại lộ Pennsylvania, Washington, DC 20500”, tất cả họ sẽ đến cùng một địa điểm. Ngay cả khi ai đó chưa từng đến Mỹ trước đây, họ vẫn có thể tìm ra cách để đến được tòa nhà này; đến Quận Columbia, đi về phía Tây Bắc đại lộ Pennsylvania, và đi bộ đến dãy nhà 1600.

Mỗi trang web, giống như một tòa nhà, đều có địa chỉ riêng. Một trang web có thể có địa chỉ là https://www.nytimes.com/secton/sports.

Và cũng giống như các tòa nhà, địa chỉ trang web khiến những người khác nhau dễ dàng truy cập vào cùng một trang. Ví dụ: nếu bạn gửi địa chỉ https://www.nytimes.com/section/sports cho 50 người bạn, tất cả họ sẽ tìm đến cùng một trang web. Địa chỉ trang web này gọi là bộ định vị tài nguyên thống nhất, hay URL (Uniform Resource Locator).

Trong ví dụ của chúng tôi, bạn đã nhập vào google.com. Nhưng trên thanh địa chỉ hiển thị URL, là https://www.google.com! Vậy tất cả những thứ thêm vào đó là gì?

Quay lại ví dụ tương tự của chúng tôi về địa chỉ tòa nhà, bạn nên biết rằng có thể rút ngắn địa chỉ đó và mọi người vẫn hiểu ý của bạn. Ví dụ: thay vì nói “1600 Pennsylvania Avenue Northwest, Washington, DC 20500”, bạn chỉ cần nói “1600 Pennsylvania Avenue NW, Washington, DC”, tức là bạn đã bỏ đi mã bưu chính 20500 và viết tắt “tây bắc” thành “NW”. Thậm chí, có thể bạn chỉ cần nói “1600 Penn Ave NW Dc” và mọi người vẫn hiểu ý bạn. (Hãy thử nhập tất cả các cách viết địa chỉ này vào Google Maps – tất cả đều sẽ đưa bạn đến Nhà Trắng).

Tương tự, google.com chỉ là địa chỉ viết tắt của URL đầy đủ https://www.google.com nhưng trình duyệt biết bạn muốn nói gì và chỉ điền nốt phần còn lại của URL. Nhưng tóm lại thì những phần còn lại của URL có nghĩa là gì?

Giải mã địa chỉ

Khi trình duyệt của bạn nhìn thấy URL đầy đủ, nó sẽ chia URL thành các phần tử để tìm ra nơi cần đến. Việc này giống như cách bạn chia địa chỉ của một tòa nhà thành số nhà, đường phố, thành phố, tiểu bang và mã bưu chính. Ta hãy cùng chia nhỏ URL thành các phần tử nhỏ giống như cách làm của trình duyệt.

Đầu tiên là https://, còn gọi là giao thức “protocol”, sẽ xác định cách thức trình duyệt của bạn kết nối với website. Tương tự như khi bạn đang cố gắng đi Uber đến Nhà Trắng, bạn sẽ có một số lựa chọn để đến được nơi đó: UberPOOL, UberX, hoặc UberBLACK (dịch vụ xe hạng sang của Uber).

Tương tự như vậy, khi thử tìm kiếm trên Internet, bạn có hai lựa chọn chính để tìm kiếm hay còn gọi là hai giao thức “protocol”. Giao thức mặc định là HTTP, hay còn gọi là giao thức truyền siêu văn bản (HyperTex Transfer Protocol), xuất hiện dưới dạng http:// trong URL. Phiên bản được mã hóa an toàn hơn của HTTP là HTTPS (HyperTex Transfer Protocol System), xuất hiện dưới dạng https:// trong URL. Trông chúng khá giống nhau, nhưng HTTPS cho biết trình duyệt nên mã hóa thông tin của bạn, để giữ nó an toàn trước tin tặc. Bất cứ khi nào bạn nhập mật khẩu hoặc cung cấp số thẻ tín dụng của mình, website nên sử dụng HTTPS. Trong trường hợp này, trình duyệt của bạn biết phải sử dụng HTTPS thay vì HTTP – việc này giống như khi bạn yêu cầu bạn bè gọi UberBLACK thay vì gọi UberX.

Phần tử thứ hai của URL là www. Phần tử này là tùy chọn đối với hầu hết các trang website, nhưng trình duyệt của bạn thường sẽ hiển thị nó cho đầy đủ. Việc này giống như khi bạn đưa số điện thoại của người Mỹ cho một người Mỹ khác, bạn không cầng cung cấp mã quốc gia +1 (như trong +1-617-555-1234), nhưng bạn có thể cung cấp thêm nếu muốn).

Sau đó, trình duyệt sẽ nhìn vào google.com, còn gọi là “tên miền”. Mỗi website có tên miền riêng. Những tên miền này khá quen thuộc: google.com, wikipedia.org, whitehouse.gov…

Địa chỉ IP

Vấn đề là máy tính không hiểu tên miền; chúng chỉ hiểu các mã số, tức các địa chỉ IP. Mỗi website có ít nhất một địa chỉ IP, giống như việc hầu hết mọi người đều có số điện thoại di động. Máy tính của bạn chỉ có thể truy cập các website nếu nó biết địa chỉ IP của chúng. Giống như việc bạn không thể gọi điện cho “Bill Gates” nếu chỉ nhập tên vào điện thoại, bạn phải tra cứu số điện thoại của ông ấy.

Để chuyển đổi một tên miền thành một địa chỉ IP, trình duyệt sẽ sử dụng Domain Name Service (DNS). DNS tương tự một cuốn danh bạ khổng lồ. Máy tính sẽ lưu danh sách các cặp địa chỉ IP-tên miền gần đây trên ổ cứng của bạn. Nếu máy tính không thể tìm ra một địa chỉ IP tương ứng với một tên miền, nó thường sẽ hỏi nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), như Comcast hoặc Verizon. GIống như khi bạn không lưu số điện thoại của người anh họ của mình, bạn có thể hỏi một thành viên khác trong gia định.

Quay lại ví dụ của chúng tôi, máy tính sẽ sử dụng DNS để tra địa chỉ ID của google.com. Google có nhiều địa chỉ IP, một trong số đó là 216.58.219.206.

Bây giờ trình duyệt của bạn đã biết địa chỉ IP của google.com để truy cập, có thể là 216.58.219.206, thông qua HTTP bảo mật, tức là HTTPS. Phần tử còn lại của URL ngoài tên miền, tức là “đường dẫn”, vẫn giữ nguyên, vì vậy google.com/maps sẽ trở thành 216.58.219.206/maps. (Đây là một mẹo để bạn gây ấn tượng với bạn bè: hãy nhập 216.58.219.206/maps vào thanh địa chỉ và cho họ thấy Google Maps xuất hiện một cách kỳ diện như thế nào).

Chờ đã! Bạn có thể nói. Chúng tôi không chỉ định một đường dẫn; chúng tôi chỉ muốn google.com! Được thôi. Nếu bạn không chỉ định đường dẫn, trình duyệt sẽ sử dụng giá trị đường dẫn giữ chỗ “/” để thể hiện cho trang chủ của website. Cả https://www/google.comhttps://www.google.com/ (lưu ý dấu gạch chéo được thêm vào URL thứ hai) chính xác là một và cả hai đều hướng đến trang chủ nổi tiếng của Google.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Neel Mehta, Aditya Agashe & Parth Detroja – Gạt mở chiến lược kinh doanh ẩn sau thế giới công nghệ – NXB CT 2021

Xu thế của học thuật Trung Quốc – Phần XVII


Tống Nho ra sức bài xích dị đoan, vậy học thuyết của Thân, Hàn, Quản, Thương há chẳng phải là dị đoan hay sao? Đệ tử đích phái của dị đoan ngồi cao trong Khổng miếu, há chẳng phải là chuyện lạ hay sao? Tốt nhất là mời Gia Cát Lượng ra ngoài, chỗ thiếu thì lấy của Trần Dư trong “Sử ký” bù vào. “Sử ký” viết: “Trần An quân là nhà Nho, tự xưng là nghĩa binh, không dùng mưu kế”. Đây mới thực sự được tính là nhà Nho, giả sử gặp phải tướng địch nhu nhược, Trần Dư vừa đánh đã thắng, há chẳng phải là “người nhân từ là mạnh nhất”, rất hợp với học thuyết của Mạnh Tử hay sao? E rằng trong Khổng miếu sớm đã thờ “bài vị của tiên Nho Trần Dư” rồi, không may vận khí của Trần Dư không tốt, gặp phải Hàn Tín là danh tướng nghìn đời, thua trận thân vong, các nhà Nho cũng không để ý tới ông nữa.

Gia Cát Lượng rõ ràng là có tài phò tá bá nghiệp lại chỉ nói là mình có tài phò tá vương nghiệp, rõ ràng là Pháp gia lại được suy tôn là tiên Nho, há chẳng phải vô cùng giảo hoạt hay sao? Khi nhà Nho nói Gia Cát Lượng nhận phó thác con côi, cung cúc tận tụy, rất hợp với đạo của nhà Nho cho nên mới được vào Khổng miếu, cần biết rằng nhận phó thác con côi, cúc cung tận tụy vốn không phải là phẩm chất vốn có của nhà Nho. Lẽ nào chỉ có nhà Nho mới tạo ra được nhân tài như vậy, còn Pháp gia thì không tạo ra được nhân tài như vậy hay sao? Đạo lý này làm sao mà nói cho lọt được? Tôi không nói gì khác mà gọi thẳng đó là “khuất phục quyền thế”. Chỉ vì sau thời Hán, nhà Nho không tìm được nhân tài kiệt xuất nào, công lao của Gia Cát Lượng là đứng đầu trong ba đời, liền hoan nghênh ông ta vào Khổng miếu, mượn đó để làm rạng rỡ mặt mũi, kỳ thực hà tất phải khổ như vậy?

Lâm Phóng hỏi “gốc của lễ”, chỉ nói được ba chữ này cũng được vào Khổng miếu, Lão Tử là người mà Khổng Tử đã từng hỏi về lễ, trong “Sử ký” nhiều lần dẫn lời của Lão Tử, Khổng Tử khen ông là “giống rồng”, sùng bái đến cực điểm. Tống Nho vẫn còn ôm nỗi bất bình thay cho Khổng Tử, ra sức phỉ báng Lão Tử, đạo lý này nói làm sao cho thông đây?

Thịt hai bên vai, ngay cả Chu Trúc Đà cũng không muốn ăn, vốn là thứ không đáng để tranh đoạt, có điều chúng ta cần biết: Một bộ “Nhi thập tứ sử” trên thực tế có rất nhiều chỗ hồ đồ, nơi cao quý nhất không gì bằng thánh miếu; nhân phẩm cao thượng nhất không ai bằng Trình Chu, nhưng nếu tìm hiểu cho kỹ thì lại có vô số những bí mật đen tối, vì sao không được nói tới vậy?

Tống Nho có hai chữ “đạo thống” mắc ở trong lòng, chỗ nào cũng là gai góc, tôi không biết hai chữ “đạo thống” này có gì quý trọng mà đáng phải tranh chấp như vậy. May mà họ sinh ra sau thời Trang Tử, giả sử bị Trang Tử trông thấy, e rằng lại xảy ra chuyện tranh luận chim uyên sồ và con chuột. Chúng ta đọc sách bàn luận chuyện xưa nên tự mình đưa ra kiến giải, tuyệt đối không thể bị người xưa làm cho ngu muội.

Lưu Xưởng phát minh ra chính học, rõ ràng là thuần Nho, còn chưa kịp chào hỏi đám người Y Lạc liền bị coi là dị đảng. Bí mật trong bức màn đen này sớm đã bị Kỷ Hiểu Lam hé lộ. Tư Mã Quang khen Dương Hùng, chê Mạnh Tử, nhưng do đã chào hỏi đám người Y Lạc nên sau khi chết vẫn được vào Khổng miếu, loại bí mật này vẫn chưa bị người khác tiết lộ.

3/ Khuyết điểm của Tống Nho

Tác giả thường ngày có một loạt kiến giải, phàm là người muốn thành công, thứ nhất phải khoan dung độ lượng thì tiếp sau đó mới có đức hạnh được. Nói về hai người Lưu Bang, Hạng Vũ thời Sở Hán đều chưa thể nói tới chữ “đức”, tài của Hạng Vũ vượt trên Lưu Bang nhưng tấm lòng khoan dung độ lượng của Lưu Bang lại lớn hơn Hạng Vũ. Hàn Tín, Trần Bình, Anh Bố đều là người của phe Hạng Vũ, chỉ vì Hạng Vũ lòng dạ nhỏ nhen nên không chứa được những người này, họ mời cùng nhau chạy sang phe của Lưu Bang. Lưu Bang khoan hồng đại lượng, dung nạp hết tất cả những người này, do vậy Hán hưng Sở bại là chuyện nhất định xảy ra. Từ đây có thể thấy được tầm quan trọng của chữ “lượng”. Hai thứ tài và đức của Tống Nho đều tốt cả, thứ thiếu nhất chính là chữ “lượng”, trong giới chính trị là như vậy, trong giới học thuật cũng như vậy, quân tử bài xích quân tử, do vậy gây ra cuộc chiến Lạc Thục, tín đồ của Khổng Tử bài xích tín đồ của Khổng Tử, do vậy mới gây ra cuộc chiến Chu Lục.

Lúc Thiệu Khang Tiết sắp chết, Y Xuyên có tới thăm, Khang Tiết giơ hai tay lên nói: “Con đường trước mắt hẹp lắm, hẹp tới mức không có chỗ nương thân, phải làm sao mới đi được đây?” Một chữ “hẹp” này đã đánh trúng vào căn bệnh của Y Xuyên. Học án Tống Nguyên có viết: “Nhị Trình đi theo hầu hạ phụ thân đến Hán Châu làm tri phủ, ngủ lại một ngôi chùa, Minh Đạo đi vào cửa bên phải, tùy tùng đều đi theo. Tiên sinh (chi Y Xuyên) đi vào cửa bên trái, chỉ có một mình, đến pháp đường thì gặp nhau. Tiên sinh nói: “Đây là chỗ ta không bằng gia huynh”. Có ý nói Minh Đạo hòa nhã nên mọi người đều thân cận với ông, còn tiên sinh thẳng thắn nghiêm khắc nên mọi người không dám đến gần”. Còn nói: “Minh Đạo thường hay nói đùa… Y Xuyên thì luôn nghiêm chỉnh, ngồi xuống không hỏi tôn ti trưởng ấu, coi như không biết”. Ti ấu thì không cần phải nói, nhưng khi ông gặp bậc tôn quý hay trưởng bối cũng coi như không biết. Ngay cả khi đi trên đường cũng không có người nào dám đi cùng với ông, kiểu người như vậy trong xã hội làm sao mà phát triển được. Chẳng trách khi Lạc Thục chia đảng, Đông Pha hỏi ông ta: “Đánh mất sự thành kính từ lúc nào?” Lời này tuy không tránh khỏi khinh bạc nhưng đã đáng trúng bằng căn bệnh của Y Xuyên.

“Tống Nguyên học án” còn viết: “Đại Trình đức tính khoan hồng, lòng dạ rộng rãi, trong sáng. Tiểu Trình khí chất cương trực, thích đơn độc cao ngạo, tuy đồng đạo nhưng về mặt đức thì có sự khác biệt”. Từ đó có thể thấy được Minh Đạo là người khoan dung đại lượng, còn Y Xuyên lòng dạ hẹp hòi, đáng tiếc khi Thần Tông mất, Triết Tông lên ngôi, Minh Đạo cũng mất luôn. Sau khi ông chết, Y Xuyên và Đông Pha do nguyên nhân là lời nói mà càng ngày càng trở nên ầm ĩ, đến mức khiến cho Lạc Thục chia đảng, oán thù không giải được. Nếu như Minh Đạo chưa chết thì sự tranh chấp đảng phái này chắc chắn sẽ không xảy ra.

Chuyện gì Y Xuyên cũng tự cho là mình đúng, ngay cả học vấn của Thiệu Khang Tiết, ông ta cũng chẳng coi ra gì, Khang Tiết nói với con trai mình rằng: “Trương Tuấn và Hứa Viễn đều là người trung nghĩa, con em hai nhà lại đánh lẫn nhau, phàm là những người mượn thuyết của Y Xuyên để nghị luận về ta, con cháu không được tranh luận”. Khang Tiết có thể cảnh cáo trước hậu nhân như vậy, do đó giữa hai nhà Trình Thiệu mới không xảy ra tranh chấp.

Lòng dạ của Chu Tử cũng vô cùng hẹp hòi, ông là đích hệ của Y Xuyên, tự mình chiếm lấy đạo thống, phàm là những người tin theo học thuyết của Y Xuyên và của ông thì nói ông là người tốt, còn những người không tin theo thì nói ông là người xấu. Tô Hoàng vốn là một nhân vật nổi tiếng, Chu Tử phỉ báng nhị Tô, chỉ duy nhất không phỉ báng Sơn Cốc, bởi vì nhị Tô là đảng phái đối lập với Y Xuyên cho nên chửi mắng họ, cháu nội của Sơn Cốc là Hoàng Quân tự Tử Canh, là học trò của Chu Tử, cho nên mới không chửi mắng ông ta.

Lâm Lật, Đường Trọng Hữu lập thân, không hổ là bậc quân tử, Chu Tử cùng Lâm Lật bất hòa về mặt lập luận liền trở thành kẻ thù. Môn nhân của Chu Tử thậm chí còn muốn đốt sách của Lâm Lật. Bạn bè của Chu Tử là Trần Lượng làm quan kĩ ở châu Hiệp Đài, xóa bỏ môn tịch của Đường Trọng Hữu, chuyện này vốn chỉ là không hợp với Chu Tử, vậy mà người trong Chu phái liền coi Trọng Hữu là kẻ thù. Trương Tuấn thua trận ở Phú Bình, đánh mất ba mươi vạn quân, lại thua trận ở Hoài Tây, đánh mất bảy vạn quân, lần thứ ba thua trận ở Phù Li, đánh mất mười bảy vạn quân. Ông ta còn thường xuyên chỉ trích Lý Cương, ủng hộ Tần Cối, giết hại Khúc Đoan, bài xích Nhạc Phi, tội danh làm mất nước ai cũng có thể thấy được, nhưng con trai ông ta là Trương Nam Hiên là bạn tốt của Chu Tử trong việc dạy học, Chu Tử liền làm truyện thay cho Trương Tuấn rồi ra sức suy tôn.

Điều đáng trách nhất là Chu Tử và Lã Đông Lai vốn là bạn bè tốt nhất của nhau, mười bốn quyển “Cận tư lục” là do ông ta cùng Chu Tử biên soạn. Về sau do tranh luận “Mao thi” không hợp, Chu Tử liền châm biếm từng chữ trong tác phẩm của ông ta, như nói: “Đông Lai học rộng biết nhiều thì đúng, nhưng giữ lời hứa thì chưa chắc đã biết”. Lại nói: “Sai lầm của Bá Cung đều ở chõ giả dối”. Lại nói: “Bá Cung dạy người đọc văn tự cũng thô”. Lại nói: “Bá Cung thông minh, đọc văn lý lại không cẩn thận, do trước kia ông ta đọc nhiều sách sử quá, cho nên mắt nhìn cũng thô đi”. Lại nói: “Bá Cung đối với sử thì hết sức tỉ mỉ, nhưng đối với kinh thì lại không lĩnh hội được”. Đối với Đông Lai, người của Chu phái ra sức chê bai, tùy thanh phụ họa, cho nên người Nguyên tu sửa sách sử liền đưa Đông Lai vào Nho lâm truyện, không đưa vào Đạo học truyện, thông thường mọi người đều cho rằng “Cận tư lục” là của Chu Tử, gần như không có người nào biết rằng Lã Đông Lai cũng cùng soạn bộ sách này.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI 

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB VH 2020

Liệu “Cuộc nổi dậy của Nga” trong quan hệ với phương Tây có thành công? – Phần cuối


Trước sự bất bình ngày càng tích tụ trong giới chính trị Nga, không có gì đáng ngạc nhiên khi vấn đề Ukraine trở thành nguyên nhân cho “cuộc nổi dậy của Nga”. Moskva coi các cuộc biểu tình và sự thay đổi quyền lực là cuộc tấn công bất ngờ vào hệ thống chính trị của Ukraine, đồng thời cũng cảnh giác trước mối đe dọa từ một cuộc tấn công như vậy đối với chính họ. Ngoài ra, giới học thuật ngày càng coi Ukraine là một dự án khác biệt một cách cơ bản và ngày càng tiến gần về phía các giá trị phương Tây. Theo quan điểm của giới hoạch định chính sách đối ngoại trong vấn đề Ukraine, lợi ích của Nga trong lĩnh vực an ninh không được chú trọng. Các vấn đề kinh tế ở đây cũng tác động tới chính trị: Moskva có thể gây áp lực đối với Kiev thông qua giá khí đốt và đe dọa những nỗ lực đa dạng hóa phương thức vận chuyển, nhưng nước này rõ ràng đang thua Liên minh châu Âu và các nước phương Tây khác trong việc hội nhập kinh tế. Không có gì đáng ngạc nhiên khi những vấn đề liên quan đến Ukraine đã khiến tất cả những mâu thuẫn tích tụ sau Chiến tranh Lạnh bùng phát.

Nhận thấy trò chơi đang diễn ra theo hướng cơ bản là bất lợi cho Nga, Moskva đã quyết định “ra đòn” với đối thủ và đối thủ của họ lúc này là Ukraine. Về phía mình, phương Tây nhận thấy sự khó chịu, bất mãn và phản đối của Nga tỷ lệ thuận với sự bất mãn của chính họ. Phương Tây thất vọng trước “cuộc nổi dậy” của Nga nhằm cân bằng giữa lợi ích và thiệt hại, cho rằng đó là hành động vô nghĩa và bất mãn trước hành vi ép buộc tàn nhẫn của Nga. Điều này đã dẫn đến các cuộc tấn công trả đũa đầy cảm tính và kế hoạch tịch thu tài sản của phương Tây đối với Nga, sự thất bại của “những kẻ đầu sỏ” (phe cánh thân phương Tây trong giới thượng lưu Nga), cũng như sự ức hiếp vô nghĩa đối với nền văn hóa, thể thao, tầng lớp trí thức và toàn xã hội Nga. Phương Tây chỉ thiếu nước đe dọa tiến hành một cuộc đối đầu quân sự trực tiếp chống lại Nga.

Phương Tây có nhiều lý do để lo sợ về một “cuộc nổi loạn của Nga”. Lo ngại về một trật tự thế giới tự do đã xuất hiện từ trước năm 2014. Tuy nhiên, so với Nga, Trung Quốc gây ra mối nguy hiểm lớn hơn nhiều. Nếu “cuộc nổi dậy của Nga” thành công, thì tham vọng của Trung Quốc rõ ràng sẽ càng khó bị kiềm chế hơn. Hơn nữa, không giống như Nga, Trung Quốc có thể đưa ra một mô hình kinh tế thay thế, quan điểm của riêng họ về nền dân chủ và một khái niệm khác về quan hệ quốc tế.

Thành công của “cuộc nổi dậy của Nga” có thể là phần mở đầu cho những thách thức mang tính hệ thống hơn nhiều. Do đó, đối với Nga, việc “bình định” phương Tây là nhiệm vụ vượt ra ngoài không gian hậu Xô viết và thậm chí là cả châu Âu-Đại Tây Dương.

Trong khi đó, các hành động của Moskva đã có những dấu hiệu tiến triển gây khó chịu cho phương Tây. Quả thực, sự phong tỏa của phương Tây sẽ khiến nền kinh tế Nga càng trở nên lạc hậu và các hoạt động quân sự gây tốn kém, kích động những phản ứng xã hội khó lường và thậm chí thách thức sự ổn định chính trị. Tuy nhiên, tất cả những thách thức này không thể đánh bật Nga khỏi con đường chính trị của họ trong lúc này. Moskva đang từng bước đẩy mạnh một cuộc tấn công và dường như đang chuẩn bị đưa các vùng lãnh thổ Ukraine bị chiếm đóng vào không gian chính trị, thông tin và kinh tế của mình. Ukraine không chỉ đối mặt với thiệt hại lớn về kinh tế và con người, mà còn đối mặt với nguy cơ bị mất lãnh thổ. Viện trợ quy mô lớn cảu phương Tây đang phát huy tác dụng, khiến Nga khó hành động, nhưng điều này rõ ràng không thể ngăn chặn Nga tiến tới mục tiêu của mình: việ cung cấp thiết bị quân sự chỉ đơn giản là tạo cơ sở cho các hoạt động quân sự. Xung đột càng kéo dài, Ukraine càng có nguy cơ mất thêm nhiều lãnh thổ. Điều này buộc phương Tây phải cân nhắc việc đạt được ít nhất một thỏa thuận tạm thời với Nga. Trước khi thỏa thuận tạm thời này được hoàn tất, một nỗ lực nhằm đảo ngược tình thế quân sự có thể được thực hiện. Nhưng nếu nỗ lực này thất bại thì sẽ không thể tránh được việc bị mất lãnh thổ.

Nói cách khác, “cuộc nổi dậy của Nga” có cơ hội sẽ kết thúc thành công với một cuộc cải tổ mang tính nguyên tắc của một quốc gia lớn hậu Xô viết mà không lâu trước đó là đối thủ của Nga. Cuộc nổi dậy này sẽ chứng tỏ thái độ sẵn sàng và khả năng của Nga trong việc hỗ trợ các tuyên bố của mình bằng những hành động cấp thiết.

Liệu thành công của cuộc nổi dậy có đồng nghĩa với chiến thắng của cuộc nổi dậy đó hay không? Câu trả lời sẽ phụ thuộc vào hai thành phần. Thành phần thứ nhất là các hệ quả chính trị quốc tế. Một thành công quân sự ở Ukraine có thể gây ra một loạt hậu quả trên phạm vi toàn cầu, dẫn đến sự suy tàn của phương Tây. Thế nhưng, một viễn cảnh như vậy là điều không chắc chắn. Phương Tây vẫn an toàn, cho dù họ đã bộc lộ những điểm yếu rõ ràng. Nhận định rằng những biên liên quan không thuộc phương Tây sẵn sàng từ bỏ những lợi ích của việc toàn cầu hóa và vì lợi ích của những chủ trương chính trị trừu tượng và mơ hồ giống như trong một thế giới đa cực là điều hoàn toàn không có cơ sở. Nhiều khả năng phương Tây sẽ phải chấp nhận hiện trạng mới của Ukraine. Điều đó không có nghĩa là mô hình phương Tây thất bại. Nga không thách thức mô hình này một cách có hệ thống và chưa có một bức tranh toàn cảnh về sự thay đổi của mô hình đó. Moskva có thể đang dựa vào mô hình này để duy trì sự tồn tại, nhưng kết quả của hành động đó còn lâu mới rõ ràng.

Thành phần thứ hai là hậu quả đối với chính nước Nga. Để tránh thúc đẩy một giải pháp thay thế toàn cầu cho trật tự tự do, Nga ít nhất sẽ phải quyết định một chương trình phát triển của riêng mình. Cho đến nay, một số mô hình của chương trình này trong một số lĩnh vực chủ yếu được xây dựng dựa trên sự phủ nhận của phương Tây. Hơn nữa, đại đa số các quốc gia không thuộc phương Tây vẫn tích cực phát triển và trau dồi các thông lệ phương Tây theo hướng có lợi cho họ trong khi bảo vệ chủ quyền của mình. Đây là  những hình mẫu về việc tổ chức công nghiệp, phát triển khoa học-giáo dục và tham gia hệ thống phân công lao động quốc tế. Việc từ chối các thông lệ như vậy vì cho rằng chúng đi kèm với các điều kiện gắn liền với phương Tây và sao chép các thông lệ của Liên Xô được tạo ra trong những điều kiện lịch sử khác nhau và kế thừa từ quá khứ xa xăm có thể chỉ làm tăng thêm những khó khăn mà nước Nga đang phải đối mặt. VIệc bảo tồn và phát triển nền kinh tế thị trường cũng như một xã hội cởi mở và linh hoạt như vậy là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.

Nguồn: TLTKĐB – 24/06/2022

Những bài toán cần lời giải trong vận tải container đường biển – Phần III


Một khía cạnh khác của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là xu thế phát triển của tự động hóa. Trong những năm vừa qua, nhữgn sự phát triển như công nghệ in 3-D đã xuất hiện một dày đặc hơn trên truyền thông. Từ góc nhìn của ngành vận tải, chúng ta đang ở thời điểm mà một số hãng tàu hiện thử nghiệm công nghệ in 3-D với các phụ tùng thiết bị trên tàu. Một mặt, sự phát triển này có thể góp phần giúp cho các chủ tàu cắt giảm chi phí khai thác, nhưng mặt khác chúng ta cũng không nên bơm thổi câu chuyện này lên tầm vóc của một cuộc cách mạng, vì những bước đi này giống với sự phát triển tự nhiên lên những cách thức hoạt động hiệu quả hơn mà thôi.

Nhìn rộng ra thì công nghệ in 3-D lại đang mang đến những mối quan ngại nhất định với ngành vận tải container. Tầm nhìn tương lai của công nghệ này là chúng ta có thể in ấn hầu hết như mọi thứ trên một chiếc máy in 3-D, do đó doanh nghiệp không nhất thiết phải sản xuất hàng hóa ở nhiều hơn khác nhau nữa, hệ quả đương nhiên là nhu cầu vận chuyển hàng hóa cũng sẽ giảm sút đáng kể.

Tuy nhiên, nếu công nghệ in 3-D thực sự đạt tới mức nhiều người kỳ vọng như trên, thì từ một góc nhìn khác, sự tiến bộ này cũng sẽ ảnh hưởng đến các quy trình sản xuất đại trà theo cách tạo ra một bước ngoặt lớn trong hiệu quả sản xuất. Do đó tập trung hoạt động sản xuất về một số khu vực vẫn sẽ hợp lý hơn là phân tán ra từng thành phần nhỏ. Mặc dù vậy, công nghệ này cũng hàm ý rằng nhu cầu sản xuất tại các địa điểm tập trung quá lớn sẽ bị thách thức thay vào đó, khâu sản xuất có thể được rải ra một số địa điểm với quy mô đủ lớn. Diễn biến này có thể trở thành sự cộng sinh hoàn hảo với những thay đổi nhân khẩu học đã trình bày trước đó, và nhấn mạnh hơn nữa về thách thức mà các hãng tàu phải đối mặt trước một mạng lưới vận chuyển phân tán hơn nhiều so với mạng lưới Đông-Tây truyền thống.

Hơn nữa, khả năng sản xuất hàng loạt của máy in 3-D có thể được hình dung chính xác hơn với các nhà máy tự động sử dụng người máy. Đây là thực tế ở ngay trước mắt chúng ta, với ví dụ là những nhà máy sản xuất truyền thống, trước đây được vận hành bằng lao động thủ công ở Trung Quốc, thì nay đang được chuyển dịch, chẳng hạn như về Mỹ, nơi mà khâu sản xuất được đảm nhiệm bởi người máy.

Tuy nhiên, sự thay đổi trong sản xuất theo kịch bản như vậy sẽ không làm cho nhu cầu vận tải biển biến mất. Thay vì vận chuyển thành phẩm từ nhà máy đến các cửa hàng phân phối, giờ đây nhà sản xuất sẽ có nhu cầu vận chuyển các hợp phần (subcomponent) được sử dụng trong nhà máy tự động. Những sự dịch chuyển này sẽ làm giảm nhu cầu vận chuyển, vì các hợp phần đương nhiên là chiếm ít không gian hơn là thành phẩm.

Thách thức chính cho các hãng tàu là họ sẽ phải đối diện với tác động tiêu cực lên cầu vận chuyển gây ra bởi sự phát triển của các công xưởng và nhà máy tự động hóa. Tình cờ rằng, tác động này cũng là một phần trong xu hướng mà ngành vận tải container đường biển gặp phải trong những năm qua, xu hướng thường được gọi là near-shoring, miêu tả sự dịch chuyển hoạt động sản xuất về gần nơi tiêu thụ hàng hóa. Với thị trường châu Âu thì có thể lấy ví dụ là các doanh nghiệp đã dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc về Thổ Nhĩ Kỳ. Do đó mặc dù nhu cầu vận chuyển thực tế tính theo TEU là không thay đổi, thì quãng đường vận chuyển hàng hóa lại giảm đáng kể, qua đó làm giảm nhu cầu sử dụng tàu container lớn.

Tác động kép từ diễn biến nhân khẩu học và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhiều khả năng là tiêu cực. Lượng hóa từng yếu tố riêng lẻ tác động cụ thể thế nào thì lại chẳng dễ dàng cho lắm, và thực tế là không ai có thể dự đoán chắc chắn được rằng quá trình tự động hóa sẽ làm cho xu hướng near-shoring diễn ra nhanh đến mức nào, cũng không ai đoán được rằng mức tăng dân số ở các siêu đô thị sẽ làm sức mua hàng tăng nhanh ra sao để chuyển hướng dòng chảy nhu cầu hàng hóa. Các hãng tàu phải hoạch định và chuẩn bị trong bối cảnh của những điều thiếu chắc chắn đó.

Trong kịch bản lạc quan nhất, từ nay đến năm 2025, ngành vận tải container đường biển có thể duy trì được mức tăng trưởng trung bình của nhu cầu vận chuyển hằng năm ở mức 2-4%. Một giả định lạc quan khác là khoảng cách hàng hải trung bình của hàng hóa sẽ không thay đổi. Trong trường hợp này, lượng nhu cầu vận chuyển toàn thế giới vào năm 2025 sẽ tăng ở mức 20-42% so với hiện nay. Mức tăng trưởng này mang đến cơ hội đủ lớn để không chỉ hấp thụ được hết công suất dôi dư hiện tại, mà còn để lại dư địa để các hãng tàu có thể đóng thêm tàu nhằm phục vụ cho các tuyến thương mại mới.

Trong bối cảnh đó, thiết nghĩ cũng nên nhắc lại rằng mức độ thừa công suất đội tàu đang ở vào khoảng 10-20%, không có con số chính xác bởi nó phụ thuộc vào việc các hãng tàu áp dụng phương pháp chạy tàu chậm hay nhanh. Thêm vào đó, lượng đóng mới đang chiếm 15% sức chở đội tàu hiện hữu. Có nghĩa là ngành vận tải container cần lượng cầu vận chuyển đạt mức tăng trưởng từ 25 – 35% để lấp đầy lượng cung dư thừa cũng như lượng sức chở bổ sung từ đội tàu xuất xưởng trong tương lai.

Với giả định rằng lượng tàu được đưa đi phá dỡ hàng năm chiếm 3% tổng sức chở đội tàu container, thì đến năm 2025, đội tàu tại thời điểm đó sẽ mất ròng 24% năng lực so với đầu năm 2017. Con số này là tương đối cao trong lịch sử ngày, vì tổng sức chở mất đi lên đến 600.000 TEU mỗi năm. Với kịch bản phá dỡ đó, ngành vận tải container cần bổ sung lượng sức chở mới vào khoảng 9%-41% quy mô đội tàu hiện tại.

Cần lưu ý rằng, kể cả khi chúng ta lựa chọn điểm cực đại của tăng trưởng đội tàu nêu trên, 41%, thì cũng chỉ quy chiếu ra một mức tăng trưởng hằng năm không thực sự ấn tượng. Nếu lượng tàu mới được giao cho các đơn vị khai thác tàu trong khoảng 7 năm từ 2019 đến 2025, thì con số 41% trong cả giai đoạn này chỉ tương đương với mức tăng trưởng sức chở 5% mỗi năm. Đây thực ra là con số chưa bằng một nửa mức tăng trưởng mà thị trường vận tải đã chứng kiến trong quá khứ, nhưng dù sao mức tăng này vẫn đáp ứng được tiến độ các hãng đưa tàu mới vào khai thác. Và một câu chuyện bên lề, cần lưu ý rằng mức tăng trưởng không đáng kể này lại là vấn đề tương đối đáng kể với các xưởng đóng tàu, những đơn vị sẽ gặp khó trong việc kiếm đơn hàng mới.

Chúng ta cũng ghi nhận rằng, nếu lượng cầu dịch vụ không đạt được mức dự báo cực đại, các hãng tàu sẽ trì hoãn việc đóng thêm tàu mới, tránh làm trầm trọng thêm tình trạng thừa cung dịch vụ.

Nếu lượng cầu dịch vụ tệ hơn, viễn cảnh sẽ còn bết bát hơn nữa. Khi đó tăng trưởng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực từ sự cộng hợp của hai yếu tố đã bàn ở trên, những thay đổi nhân khẩu học đưa đến một thế giới già cỗi hơn kết hợp với xu hướng near-shoring tạo nên bởi quá trình tự động hóa trong sản xuất. Với kịch bản tiêu cực này, một góc nhìn thẳng thắn sẽ cho thấy cầu vận chuyển chỉ tăng trưởng lình xình trong khoảng thời gian dài. Đây là kịch bản mà thị trường sẽ phải mất kha khá thời gian để chịu đựng, và nếu chúng ta giả định rằng cầu vận chuyển sẽ không tăng trưởng từ năm 2025 trở về sau, thì mức tăng trưởng gộp từ nay đến năm 2025 sẽ chỉ vỏn vẹn là 15%, nếu con số này vào năm 2017 là 3%. Và mức tăng trưởng của nhu cầu vận chuyển trong gần một thập niên đó sẽ được đáp ứng đầy đủ chỉ với lượng tàu được xuất xưởng trong giai đoạn 2017 – 2018. Khi đó, bài toán thừa công suất sẽ chỉ có thể được giải quyết bằng cách phá dỡ bớt đội tàu hiện hữu – điều sẽ khiến cho các hãng rất khó để đóng bổ sung tàu mới, nếu muốn thì phải chờ đến năm 2025.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lars Jensen – Vận tải container đường biển đến năm 2025 – NXB ĐH KTQD 2018

Vai trò của truyền thông nhà nước – Phần III


Dân chúng nói chung. Các phương tiện truyền thông do nhà nước chi phối khiến đa số các đối tượng truyền thông tôn trọng và kính sợ hệ thống cai trị, nhưng nhiệm vụ không kém phần quan trọng chính là nuôi dưỡng thái độ thờ ơ và thụ động. Cách thức chủ yếu của các phương tiện truyền thông của hệ thống cai trị ở đây là kết hợp các hành động làm trệch hướng, xuyên tạc và gây hoang mang để cổ động cho cái mà học giả theo quan điểm dân chủ Ivan Krastev gọi là “chủ nghãi độc tài xác sống”.

Để duy trì quyền lực, chế độ độc tài buộc phải khiến đại đa số người dân không thể can thiệp vào các hoạt động chính trị. Các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát có thể giúp sức bằng cách nhấn mạnh những lợi ích của bối cảnh hiện tồn theo những cách thức tương đồng và bôi xấu mọi sự đối ngược với hiện trạng. Tồn tại những cảnh báo cho rằng, chi phí để theo đuổi sẽ vượt hơn mức bình thường và những lợi ích hão huyền của nó sẽ có hiệu ứng bình giảm và trở kháng. Truyền thông độc tài do nhà nước kiểm soát hiện thời thường thực hành truyền thông bằng nhiều phép dụng từ mà Albert O. Hirschman đã phân tích từ vài thập niên trước trong nghiên cứu kinh điển của ông về phép dụng từ phản nghịch. Các chương trình truyền thông hiện có nhiều nỗ lực đa dạng để chứng tỏ sự thay đổi về mặt chính trị sẽ có cái kết bằng không hay thậm chí bằng những hệ quả trái ngược với dự định, và nó sẽ buộc xã hội phải gánh chịu những khoản chi phí hoặc những hậu quả không thể chấp nhận.

Từ sau những cuộc biểu tình phản kháng cuộc bầu cử Thượng viện thiếu minh bạch diễn ra ở Nga hồi tháng 12/2011, chiến lược truyền thông của hệ thống cai trị đã hướng đích giảm trừ các động thái tích cực của dân chúng thông qua hoạt động giải trí. Tại sao lại phải tổ chức một cuộc mít tinh đường phố hay tham gia một nhóm dân sự trong khi những thứ hấp dẫn như Dom-2, một phiên bản của serie chương trình truyền hình thực tế Big Brother đang trình chiếu? Bằng cách xử sự như vậy với đại đa số dân chúng, chính quyền Putin đã bắt đầu học theo các phương thức ở giai đoạn cuối thời kỳ Xô viết, chú trọng hoạt động giải trí hơn là động thái chính trị.

Các kênh truyền hình do nhà nước kiểm soát là công cụ chính yếu, ở các quốc gia độc tài, truyền hình vốn thu hút 3/4 hoặc hơn thế lượng công chúng quan tâm đến các tin tức chính trị. Ở Trung Quốc, ngay cả khi tồn tại sự phát triển bùng nổ của Internet, nhu cầu tin tức vẫn được đáp ứng chủ yếu thông qua mạng lưới truyền hình quốc gia. Ở Nga, 88% số người được hỏi trong cuộc thăm dò ý kiến của Trung tâm Levada hồi tháng 6/2013 đều trả lời họ đã thu nhận tin tức về quốc gia và thế giới thông qua truyền hình. Không một kênh truyền thông nào khác nhận được hơn mức 25% lượng câu trả lời. Cũng trong cuộc khảo sát này, 51% số người trả lời khẳng định niềm tin vào các chương trình phát sóng. Tỷ lệ này vẫn có nghĩa, ngay cả khi nó là kết quả của mức giảm mạnh từ tỷ lệ 79% số người bày tỏ sự tin tưởng vào các kênh truyền hình của Nga trong một cuộc khảo sát hồi tháng 8/2009. Dẫn chứng từ các quốc gia khác nhau như Azerbaijan, Belarus, Campuchia, Iran và Việt Nam đều vẽ nên một bức tranh về tính ưu trội và tầm ảnh hưởng của các kênh truyền hình do nhà nước kiểm soát không hề khác so với những gì được nhận thấy ở Nga.

Mặc dù vậy, như tỷ lệ giảm 28% mức độ tin tưởng đã chỉ ra, nhiều người Nga vốn tín nhiệm các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát đang hoài nghi về những gì họ nhìn thấy. Nghiên cứu của Ellen Mickiewicz về khán giả truyền hình Nga cho thấy, họ không đơn thuần chấp nhận mọi thứ hiện diện trên các kênh truyền hình do Điện Kremlin kiểm soát, thay vì thế, họ thu nhận chúng theo những phương cách phức tạp vốn khác biệt so với ý định của giới cầm quyền. Thái độ bất tín ngày càng tăng đối với các kênh truyền hình do nhà nước kiểm soát ở Nga có lẽ đã cảnh báo những rào cản đối với hình mẫu thụ động do các phương tiện truyền thông nuôi dưỡng.

Tuy nhiên, truyền hình và các kênh truyền thông chính thống khác cũng chứng minh tính hiệu quả trong việc chuyển tải rõ ràng thông điệp cho rằng việc tích cực tranh luận với các nhà cầm quyền sẽ có hậu quả tai hại. Đại đa số mải mê với ý tưởng cho rằng họ có thể ít nhiều thay đổi hiện trạng. Họ vẫn giữ thái độ lãnh đạm và thờ ơ. Chính quyền Bắc Kinh, Moscow và các thủ phủ độc tài khác đã mạo danh các hệ thống truyền thông do nhà nước kiểm soát để gợi mở những động thái phù hợp với những gì Barbara Geddes và John Zaller đã quan sát thấy liên quan đến chế độ độc tài quân sự tồn tại ở Brazil từ năm 1964 đến năm 1985. Đặc biệt, họ lưu ý, “mục đích chính yếu của việc bảo vệ truyền thông ủng hộ chính phủ là thuyết phục những người thờ ơ với chính trị chí ít cũng trở thành những nhân vật thụ động ủng hộ chính sách của chính phủ”. Nói cách khác, ngay cả khi khán giả của hệ thống truyền hình quốc gia không hẳn tin tưởng vào những gì họ thấy, họ vẫn phải xử sự theo cách vốn có.

Sau cùng, nó hàm nghĩa nhiều chế độ độc tài đã nhận ra những nền tảng hỗ trợ căn cốt của mình trong nhóm cư dân nông thôn và nhóm thị dân ít học – với các nhóm này, các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát đã chứng tỏ bản thân có cách tiếp cận đặc biệt hiệu quả. Ở Trung Quốc, những người dân này vẫn là đối tượng truyền thông chính yếu của CCTV trong khi các công dân Trung Quốc trẻ hơn và được giáo dục tốt hơn bị thu hút về hướng Internet. Truyền hình quốc gia Nga đang cẩn trọng nuôi dưỡng dân chúng ở mọi vùng miền bằng một chế độ truyền thông bất biến, vốn mô tả việc Nga luôn bị bủa vây bởi các mối đe dọa từ nước ngoài mà đặc biệt là Mỹ. Những khán giả không có nhiều học thức hoặc trải nghiệm vốn có thể nói khác về những mối đe dọa từ Mỹ lại có khuynh hướng đặt niềm tin vào mạng lưới truyền thông quốc gia khi nó đưa ra những phán xét (khắt khe) các định ý và chính sách của Mỹ. Không hề ngoa ngôn khi nói rằng chủ nghĩa chống Mỹ, bằng nhiều phương cách khác nhau, chính là thứ gần cận nhất với “hệ tư tưởng” hợp nhất mà Điện Kremlin hiện sở hữu, cũng đồng thời nắm giữ vai trò chính thống trọng yếu đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Những người nhiệt tình “kết nối” với Internet. Giống như truyền hình, Internet là thứ mà giới chức độc tài và những kẻ dưới quyền hiện nhận ra rằng họ cần phải nỗ lực kiểm soát. Thế giới tự do của truyền thông và nghị trình trực tuyến khiến họ ngày càng thêm lo ngại. Để nắm quyền quản lý, các cơ quan tuyên giáo và kiểm duyệt của nhà nước đang trở lại với các phương thức được chứng minh là hữu dụng trong việc “quản lý” các phươg tiện truyền thông truyền thống. Song không có sự tương đồng về nhiệm vụ: Thực hiện kiểm soát đối với nội dung chính trị cốt yếu của một mạng lưới truyền hình trung ương dễ dàng hơn nhiều so với việc kiểm soát nguồn tin trực tuyến tương tự. Nhưng các chế độ độc tài đang thể hiện sự quyết tâm cao độ và chú trọng đổi mới để đạt đến mục tiêu. Giống như với các phương tiện truyền thông truyền thống, các giải pháp hạn chế đang được thử nghiệm vốn không được thiết kế để khóa chặn mọi thứ, nhưng thay vào đó, nó chủ yếu hướng đích ngăn cản các nguồn tin chính trị hoặc những vấn đề nhạy cảm khác vốn luôn hướng tới các đối tượng truyền thông chính yếu. Khi việc sử dụng và phổ cập Internet gia tăng ở các quốc gia độc tài – và với dẫn chứng sinh động sẵn có từ Nga và thế giới Arab về năng lực hữu dụng của các công cụ sử dụng công nghệ web trong việc tổ chức những hành động phản kháng quy mô lớn – các chế độ độc tài đang làm việc tích cực hơn bao giờ hết để tìm cách cản trở dòng lưu chuyển thông tin chính trị xác tín thông qua không gian số.

Tính phổ truyền của Internet thật đáng để chú tâm, và nhiều hệ thống độc tài hiện là cấu phần tạo thành xu hướng – thực tế, các chính phủ của họ không có nhiều lựa chọn ở đây trừ khi họ muốn thử chi phối một Bắc Triều Tiên khác. Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đòi hỏi phải được “nối mạng”. Vì vậy, ở một Việt Nam tăng trưởng nhanh nhưng chuyên chế, 40% người dân đã truy cập Internet. Ở Belarus (vốn mang danh là “chế độ độc tài cuối cùng của châu Âu”), Kazakhstan, và Saudi Arabia, tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn, xấp xỉ 55%. Trung Quốc là quốc gia có mức phổ cập Internet là 45% và hiện có gần 600 triệu người sử dụng Internet, có hơn 330 triệu người sử dụng mạng xã hội, hầu hết họ đều dùng Sina Weibo, phiên bản Twitter của Trung Quốc. Ở Nga, quốc gia mới đây đã vượt mức truy cập Internet 50%, các phương tiện truyền thông sử dụng công nghệ web như TV Rain đang giúp phe đối lập tiếp cận với lượng khán giả lớn hơn.

Khi Internet hiện diện hoành tráng hơn, động thái can thiệp chính trị mang tính độc tài đối với nó cũng có quy mô tương ứng. Cho đến gần đây Nga mới sử dụng các kỹ thuật tương đối tinh vi và phức tạp “được thiết kế để định hướng và gây ảnh hưởng đến thời điểm và cách thức thu nhận thông tin của người dùng tin mà không phủ nhận hoàn toàn quyền truy cập”. Theo đó, luật định 2012 của Nga cho phép chính phủ đóng cửa các trang web có nội dung không phù hợp – tương tự nội dung một nghị định do Bộ Truyền thông và Tổng cục An ninh Liên bang Nga (đơn vị kế nhiệm của ủy ban An ninh quốc gia Xô viết) ban hành, dự kiến có hiệu lực vào năm 2014, yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet giám sát mọi động thái trên Internet, bao gồm các địa chỉ IP, các số điện thoại và tên người dùng, đánh dấu một bước thụt lùi thấy rõ xét về quyền tự do trên Internet. Ngày 01/09/2013, Việt Nam thực thi Nghị định 72, một giải pháp đầy tham vọng mong muốn ngăn cấm người dùng trực tuyến của đất nước này luận bàn về các sự kiện thời sự và chia sẻ các tin tức báo chí. Trong khi đó, chính phủ Trung Quốc lại dẫn đầu trong công tác kiểm duyệt trực tuyến và cũng trở thành chuyên gia hàng đầu về những phương thức tinh vi trấn áp truyền thông chính trị trực tuyến. Bắc Kinh sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn với các hệ thống cai trị khác, như ở Belarus, Việt Nam và Zimbabwe. Ngay cả khi các quốc gia như Belarus, Việt Nam, Iran, Saudi Arabia và các quốc gia vùng Vịnh khác nhận thấy sự gia tăng nhanh chóng quyền truy cập Internet, Tổ chức Nhân quyền Freedom House vẫn xếp họ vào danh sách những quốc gia có mức tự do trực tuyến thua kém hơn. Sự xếp hạng như vậy cho thấy, ở những quốc gia này, khả năng “quy tụ phản nghịch” có thể diễn ra, trong đó nội dung thông tin của các phương tiện truyền thông mới đang chịu sự kiểm soát ngày càng giống như tình trạng từng xảy ra đã lâu của các phương tiện truyền thông truyền thống.

(còn tiếp)

Người dịch: Bùi Hồng

Hiệu đính: Mai Chi

Nguồn: Christopher Walker & Robert W. Orttung – The role of State-Run Media, Journal of Democracy – January 2014. Vol.25, No.1

TN 2014 – 69