Sự dư thừa, châu Á và tự động hóa – Phần II


Nhưng điều đáng nói về Potamac Yards là nó hoàn toàn không có gì khác thường cả! Bạn có thể bắt gặp các cửa hàng khuyến khích mọi người mua sắm kiểu như vậy tại bất cứ đâu trên nước Mỹ, và ngày càng xuất hiện nhiều ở các gian hàng tại châu Âu cũng như châu Á. Những trung tâm mua sắm này là một trong những ví dụ rõ ràng về sự thay đổi vượt bậc của cuộc sống hiện đại. Trong suốt chiều dài lịch sử, cuộc sống của chúng ta luôn gắn liền với sự khan hiếm. Ngày nay, đặc trưng tiêu biểu cho đời sống kinh tế, chính trị, xã hội tại hầu hết các quốc gia trên thế giới là sự dư thừa.

Bán cầu ão trái đã giúp chúng ta giàu có. Nhờ lực lượng “công nhân trí thức”, như cách nói của Drucker, nền kinh tế tri thức đã giúp tạo ra chất lượng cuộc sống ở hầu khắp các nước phát triển trên thế giới mà trước đây thế hệ cha ông chúng ta không biết đến.

Dưới đây là một vài ví dụ về sự dư thừa:

+ Trong suốt thế kỷ XX, hầu như mọi công dân trung lưu ở Mỹ chỉ mong muốn sở hữu một căn nhà và một chiếc ô tô. Giờ đây, hơn 2/3 người dân Mỹ sở hữu một ngôi nhà riêng. (Trên thực tế, 13% những ngôi nhà được mua hiện nay đều đã qua sử dụng). Về ô tô, ngày nay, số lượng ô tô ở Mỹ nhiều hơn cả số lái xe có giấy phép – đồng nghĩa với việc trung bình mỗi người biết lái xe đều sở hữu một chiếc xe.

+ Cho thuê kho bãi – một loại hình kinh doanh cung cấp địa điểm để người dân chứa đồ đạc dư thừa – đã trở thành ngành kinh doanh đem lại nguồn thu tới 17 tỷ USD mỗi năm ở Mỹ, lớn hơn cả doanh thu của ngành điện ảnh. Hơn thế nữa, ngành này đang phát triển với tốc độ nhanh hơn ở những quốc gia khác.

+ Khi không thể chứa được nhiều đồ đạc, chúng ta bèn vứt bỏ chúng đi. Polly LaBarre, một tác giả chuyên viết sách kinh doanh, đã viết: “Chi phí của nước Mỹ cho túi đựng rác thải còn cao hơn chi phí cho tất cả đồ dùng của 90 quốc gia khác. Nói cách khác, đồ chứa rác thải của chúng ta còn tốn kém hơn tất cả những hàng hóa mà gần một nửa số quốc gia trên thế giới tiêu thụ”.

Nhưng sự dư thừa cũng gây hậu quả thật trớ trêu: chiến thắng của lối tư duy theo bán cầu não trái đã hạn chế ý nghĩa của nó. Sự thịnh vượng mà nó đem lại đã tạo vị thế cao hơn cho những cảm giác ít lý trí hơn, do bán cầu não phải định hướng – cái đẹp, tâm linh và cảm xúc. Trong kinh doanh, sẽ là không đủ nếu chúng ta tạo ra những sản phẩm có giá cả hợp lý và chức năng đầy đủ, nó còn phải đẹp, độc đáo và có ý nghĩa, đây là điều mà tác giả Virginia Postrel gọi là “mệnh lệnh mang tính thẩm mỹ”. Có lẽ ví dụ điển hình nhất cho sự thay đổi này – khi gia đình chúng tôi đi mua sắm tại Target – là hiện tượng chạy theo mốt của tầng lớp trung lưu. Những nhà tạo mẫu nổi tiếng trên thế giới như tôi đã đã đề cập ở phần trên là Karim Rashid và Philippe Starck, giờ đây đều thiết kế toán bộ sản phẩm cho các loại cửa hàng hạng trung ở Mỹ. Target và các cửa hàng bán lẻ đã bán được 3 triệu sản phẩm thùng rác polime của hãng Garbo do Rashid thiết kế. Một nhà thiết kế thùng rác! Bạn hãy thử lý giải việc này với bán cầu não trái của mình xem!

Hay vật dụng mà tôi mua ở Target này thì sao?Đó là một chiếc bàn chải toilet do Michael Graves, một giáo sư chuyên ngành kiến trúc của trường Đại học Princeton thiết kế. Ông là một trong những kiến trúc sư và nhà thiết kế sản phẩm nổi tiếng nhất thế giới. Giá của nó là 5,99 USD. Nhờ sự dồi dào của hàng hóa, mọi người mới có cơ hội tìm được những thùng tác và bàn chải toilet đẹp mắt, chuyển đổi từ các sản phẩm tầm thường, thực dụng trở thành những mục tiêu của sự khát khao.

Trong thời đại của sự dư thừa này, việc chỉ đáp ứng những nhu cầu về lý trí, logic và chức năng là chưa đủ. Các kỹ sư phải tính tới tính hiệu quả của sản phẩm. Nhưng nếu những sản phẩm đó không đồng thời thỏa mãn thị hiếu vàchinh phục người mua thì chắc chắn sẽ có ít người mua chúng. Họ vẫn còn quá nhiều sự lựa chọn khác. Ngày nay, việc nắm vững kỹ năng thiết kế, đồng cảm, giải trí và những năng lực “ôn hòa” khác là con đường chính giúp các cá nhân và doanh nghiệp trụ vững trên thị trường đông đảo này.

Sự dư thừa cũng tạo nên một vai trò quan trọng khác cho lối tư duy thiên về bán cầu não phải. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, có lẽ tôi sẽ không nhìn lại cuộc đời mình rồi nói: “Ồ, tôi đã mắc một vài sao lầm. Nhưng ít nhất tôi cũng thật may mắn là trong năm 2004, tôi đã được sử dụng một trong những chiếc bàn chải toilet thật tuyệt của Michael Graves”. Sự dư thừa đã mang lại nhiều điều tốt đẹp cho cuộc sống nhưng nó không phải là điều thiết yếu khiến chất lượng cuộc sống dần dần được nâng cao qua từng thập kỷ song sự thỏa mãn của từng cá nhân, gia đình và cuộc sống vẫn không hề thay đổi. Đó là lý do tại sao ngày càng nhiều người giàu có nhưng không cảm thấy bằng lòng với cuộc sống của mình, đã giải quyết nghịch lý này bằng cách đi tìm ý nghĩa cuộc sống. Như Andrew Delbanco thuộc trường Đại học Columbia đã nói: “Đặc điểm tiêu biểu nhất của nền văn hóa đương thời là niềm khao khát đến cháy bỏng sự siêu nghiệm”.

Đến thăm bất cứ một cộng đồng dân cư tương đối thịnh vượng nào đó của thế giới tiến bộ, với vô vàn lựa chọn khi mua sắm, bạn có thể thấy rất rõ những hành động nhằm thỏa mãn sự khát khao đó. Từ phong trào tập luyện yoga, thiền định du nhập từ nước ngoài đến sự gia tăng tính tâm linh ở nơi làm việc, những chủ đề về sách Phúc âm trên sách báo, phim ảnh hay việc theo đuổi những mục đích, ý nghĩa cuộc sống đã trở thành một phần trong cuộc sống của chúng ta. Tư việc chỉ tập trung vào chủ đề thường ngày trong cuộc sống, con người đã chuyển sang một bối cảnh rộng hơn. Và tất nhiên, không phải mọi người dân sống trong thế giới phát triển đều có đời sống vật chất đầy đủ, chưa kể đến số đông dân cư ở các nước kém phát triển. Nhưng sự dư thừa đã giải phóng hàng trăm triệu người thoát khỏi cuộc đấu tranh sinh tồn và “khiến việc nhận thức về chính bản thân được mở rộng từ một bộ phận nhỏ tới toàn thế giới” như nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel Robert William Fogel, đã viết.

Nếu bạn chưa cảm thấy thuyết phục, tôi sẽ giúp bạn bằng một ví dụ cụ thể và rõ nét nhất. Một thế kỷ trước, điện thắp sáng rất hiếm hoi, nhưng bây giờ nó đã trở nên phổ biến. Bóng đèn thì rẻ. Điện có mặt ở khắp mọi nơi. Thế còn những ngọn nến? Ai cần đến chúng? Rõ ràng, vẫn rất nhiều người cần. Ở Mỹ, doanh thu của ngành kinh doanh nến lên đến 2,4 tỷ USD mỗi năm, với nhiều lý do khác nhau vượt lên trên nhu cầu thắp sáng thông thường, nhằm hướng đến mơ ước mới mẻ hơn về cái đẹp và sự siêu nghiệm.

Châu Á

Đây là bốn người tôi gặp trong quá trình nghiên cứu:Họ đại diện cho những “công nhân trí thức” mà tôi đã đề cập ở phần đầu của bài này. Giống như rất nhiều đứa trẻ thuộc tầng lớp trung lưu khác, họ nghe theo lời khuyên của cha mẹ: học hành chăm chỉ ở trường trung học, kiếm được một tấm bằng tin học hay kỹ sư tại một trường đại học, sau đó làm việc cho một công ty phần mềm lớn, tham gia viết các chương trình mã máy tính cho những ngân hàng và công ty hàng không Bắc Mỹ. Đối với công việc trong lĩnh vực công nghệ cao của họ, không ai trong bốn người trên kiếm được trên 15.000 USD mỗi năm.

Hỡi những công nhân trí thức, hãy gặp các đối thủ cạnh tranh mới của mình: Srividya, Lalit và Kamal đến từ Mumbai, Ấn Độ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Daniel H. Pink – Một tư duy hoàn toàn mới – NXB LĐXH 2008.

Vì sao Việt Nam vỡ quy hoạch điện Mặt trời?


Theo đài RFA, Cố vấn dài hạn Chương trình hợp tác Đối tác năng lượng Việt Nam – Đan Mạch, ông Jakob Stenby Lundsager, khuyến nghị Việt Nam cần sớm dừng đầu tư vào những nhà máy nhiệt điện than mới và ưu tiên vào tiết kiệm năng lượng, tạo khung pháp lý minh bạch và ổn định cho năng lượng tái tạo phát triển.

Khuyến nghị của vị chuyên gia Đan Mạch được đưa ra tại Lễ công bố báo cáo Triển vọng Năng lượng Việt Nam 2019, do Bộ Công thương tổ chức vào chiều 5/11/2019.

Chuyên gia Jakob Stenby Lundsager diễn giải khuyến nghị về dừng đầu tư vào nhà máy nhiệt điện than sẽ có thể giúp tiết kiệm khoảng 30 tỷ USD vì nhu cầu nhập khẩu nhiên liệu than đến năm 2050 sẽ tăng gấp 8 lần so với hiện tại và số liệu này chiếm 3/4 tiêu thụ năng lượng từ năng lượng nhập khẩu.

Vị chuyên gia Đan Mạch cũng nêu lên số liệu tính toán được trong trường hợp nếu Việt Nam không triển khai các nhà máy điện than mới thì sẽ giảm được 39% phát thải khí CO2 và giảm chi phí 20 tỷ USD.

Ông còn nhấn mạnh về tầm quan trọng của điện gió và điện Mặt trời chiếm 10% tổng nguồn điện của Việt Nam trong năm 2030 tăng lên 20% trong năm 2050. Do đó, ông khẳng định Việt Nam cần đưa ra khung pháp lý ổn định, đơn giản, minh bạch và tăng cườgg tính cạnh tranh đối với các dự án năng lượng tái tạo.

Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường cho biết: “Đây là một đề nghị rất chính xác trong hoàn cảnh hiện nay của thế giới cũng như của Việt Nam. Bởi vì, chúng ta cũng biết rằng tất cả các loại sản xuất năng lượng điện truyền thống trước đây, kể cả nhiệt điện và thủy điện mà nhất là nhiệt điện sản xuất bằng than thì đều gây ra tác động xấu về mặt môi trường. Hơn nữa, nhiệt điện than thải ra khí CO2 và nhiều loại khí nhà kính khác và chắc chắn không phải là xu hướng khuyến khích của thế giới, cũng như của Việt Nam. Đi theo con đường sản xuất năng lượng tái tạo, như năng lượng Mặt trời, hoặc năng lượng từ gió chẳng hạn, thậm chí năng lượng từ thủy triều là hướng rất đúng cho Việt Nam”.

Ông Đặng Hùng Võ còn khẳng định: “Chắc chắn thời gian tới, theo như ý kiến của Bộ trưởng Bộ Công thương và ý kiến của các Đại biểu Quốc hội chất vấn đều cho rằng Việt Nam cần phải thay đổi gấp chủ trương này và cần phải có những kế hoạch rất cụ thể để sản xuất điện từ năng lượng tái tạo”.

Thực tiễn vỡ quy hoạch điện Mặt trời tại Việt Nam

Tuy nhiên, tại buổi chất vấn trước Quốc hội vào chiều 6/11 liên quan đến vấn đề phát triển điện Mặt trời, năng lượng sạch, Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh xác nhận: “ Khi lập quy hoạch năm 2017 đã không lường được hết sự phát triển của năng lượng tái tạo, trong đó chủ yếu là điện Mặt trời”.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết, theo Quyết định 11 khi được ban hành thì Việt Nam đối mặt với nguy cơ lớn nếu thiếu điện vào năm 2019 – 2020 nên điện Mặt trời là nguồn năng lượng bổ sung đáng kể. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh của điện Mặt trời gây ra hệ lụy quá tải của hệ thống truyền tải điện.

Lãnh đạo Bộ Công thương cho biết thêm hiện công suất giải tỏa của các dự án điện Mặt trời chỉ đạt 30 – 40% và sẽ cố gắng giải tỏa công suất dự án điện Mặt trời đến năm 2020 đạt 60 – 70%. Thông tin từ Bộ Công thương cho biết đã báo cáo xin chính phủ bổ sung 15 dự án đường dây, trạm biến áp và ủng hộ tư nhân làm các dự án truyền tải điện.

Bộ Công thương cũng vừa trình Thủ tướng Chính phủ một dự án truyền tải điện của doanh nghiệp tư nhân đầu tiên – Công ty Đầu tư xây dựng Trung Nam, trong phê duyệt bổ sung Dự án Điện Mặt trời Trung Nam – Thuận Nam kết hợp đường dây truyền tải và quy hoạch điện quốc gia.

Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore nhận định tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Công thương Việt Nam là không lường được việc vỡ quy hoạch điện Mặt trời. Ông nói: “Quy hoạch đây là quy hoạch không phù hợp với bất kỳ một nền tảng làm chính sách nào cả, do lỗi của tất cả những người làm quy hoạch. Điều này cũng cho thấy quá trình làm chính sách sai từ đầu”.

Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp nhấn mạnh về việc hoạch định chính sách cho năng lượng tái tạo tại Việt Nam cần phải chú trọng vào các yếu tố: “Mọi quy hoạch về điện nói chung, đặc biệt về năng lượng tái tạo là họ phải tính trước đến nhu cầu năng lượng như thế nào, sau đó tính đến an ninh năng lượng và tính đến các yếu tố khác như về thực trạng của ngành điện lực Việt Nam, hành vi tiêu thụ điện của các doanh nghiệp sản xuất hay hành vi tiêu thụ điện của người dân như thế nào, rồi từ đó mới tính toán ra được một quy hoạch, phải xem xét lại để bổ sung quy hoạch rất nhanh trong vòng một vài tháng với nền tảng là Bộ luật Quy hoạch mà Quốc hội đã thông qua”.

Ý kiến của giới chuyên gia

Trong bối cảnh Việt Nam được dự báo sẽ thiếu điện từ năm 2021, một trong những giải pháp hữu hiệu mà giới chuyên gia cho rằng Việt Nam cần phải cân nhắc, đó là tư nhân hóa ngành điện, không để cho nhà nước độc quyền trong sản xuất và phân phối như hiện nay.

Tiến sĩ Kinh tế Nguyễn Huy Vũ, từng nêu lên quan điểm rằng Việt Nam có thể học theo mô hình tư nhân hóa của nhiều nước trong lĩnh vực năng lượng điện tái tạo: “Mô hình Solar City ở Mỹ là họ có chính sách mua lại điện của người dân, công ty ký hợp đồng với người dân để lắp những tấm pin Mặt trời lên mái nhà, người dân dùng không hết thì bán lại. Cách thứ hai là của Israel. Một công ty trong nước có thể kêu gọi một công ty nước ngoài đầu tư chung với mình. Chính phủ cũng là một cổ đông. Tổ hợp đó có thể hoạt động trong vòng 5 năm chẳng hạn, rồi hai công ty đó có thể mua lại cổ phần của chính phủ với giá ưu đãi”.

Tuy nhiên, theo ghi nhận của nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, giáo sư Đặng Hùng Võ, thì hiện nay xu hướng tư nhân hóa trong thủy điện đang gặp không ít những hậu quả nghiêm trọng và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) mua điện của các nhà sản xuất năng lượng tái tạo với mức giá cả chưa khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân trong lĩnh vực này.

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn, một chuyên gia về điện năng tại Pháp, cho rằng Việt Nam có thể đạt 100% năng lượng tái tạo năm 2050 và “Sự thành công phụ thuộc phần lớn vào quyết tâm chính trị của Chính phủ Việt Nam”.

Hồi trung tuần tháng 10/2018, Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn lưu ý một số việc Chính phủ Việt Nam cần phải đặc biệt lưu tâm trong một loạt các đề xuất của ông: “Thực hiện gấp các giải pháp: Không xây dựng các nhà máy điện than; Giảm tỉ lệ tăng trưởng hàng năm về tiêu thụ điện (mục tiêu ngắn hạn dưới 5%); Quy hoạch đất đai một cách thông minh; Bỏ rào cản hành chính và pháp lý cứng rắn; Chính sách mua lại giá thấp, hỗ trợ thuế; Dừng xây dựng các đường dây truyền tải 500 KV; Phân tán, xây cất các nhà máy điện nhỏ, tự chủ năng lượng của các vùng; Phát triển điều hòa nhiệt độ sinh học (điều hòa nhiệt độ hiện nay quá tốn điện); Tìm cách bổ sung cho khí đốt và điện; Triền khai các dự án thăm dò về “năng lượng dương” (energy positive)”.

Giáo sư Đặng Hùng Võ cho biết Việt Nam đang thực hiện giảm xây dựng các dự án nhiệt điện than mới, như đã dừng quy hoạch nhà máy nhiệt điện than ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long.

Tuy nhiên, tại Hội thảo “Cần có cái nhìn đúng về nhiệt điện than” diễn ra vào trung tuần tháng 12/2018, ông Lê Văn Lực, Phó Cục trưởng Cục Điện lực & Năng lượng tái tạo (Bộ Công thương) cho biết nhu cầu điện than ở Việt Nam sẽ chiếm hơn 50% sản lượng điện sau năm 2030 và theo quy hoạch điện 7 điều chỉnh, nguồn năng lượng từ nhiệt điện than sẽ chiếm khoảng 53% hệ thống điện.

Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo tuyên bố: “nhiệt điện than phát thải gây ô nhiễm môi trường là có, nhưng có thể khắc phục được và nằm trong phạm vi cho phép”.

Mặc dù vậy, báo Tuổi trẻ Online tháng 10/2019 dẫn thông tin từ Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường công bố kết quả báo cáo vừa gửi lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho thấy trong giai đoạn 3 năm 2015 – 2018, tổng khối lượng tro xỉ thải ra từ 12 nhà máy nhiệt điện than là hơn 25 triệu tấn. Trong đó, chỉ có hơn 10 triệu tấn tro xỉ được tiêu thục, còn 15 triệu tấn vẫn chưa biết đổ đi đâu.

Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp khẳng định rằng Chính phủ Việt Nam sẽ không gặp bế tắc trong vấn đề lập chính sách quy hoạch năng lượng điện một khi thực hiện được việc “đảm bảo chính sách phục vụ số đông, chứ không thể chỉ để cho một số những đối tượng hay những doanh nghiệp hoặc những cá nhân có thể trục lợi trên chính sách đó”.

Ông Hà Hoàng Hợp cho rằng nếu chính sách không đảm bảo minh bạch, không tránh được hành động tham nhũng chính sách hay tham nhũng kinh tế thì Việt Nam vẫn phải bị ràng buộc trong cái vòng luẩn quẩn là nhập khẩu điện từ nước ngoài, nhất là từ Lào và càng mua điện của Lào thì Trung Quốc càng đầu tư xây đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong. Như vậy, Việt Nam “lãnh đủ” hậu quả về môi trường ở vị trí hạ lưu của dòng Mekong này.

Nguồn: TKNB – 13/11/2019

Văn hóa trong tổ chức: Hai tình huống minh họa – Phần I


Tôi đã trình bày một cách tương đối trừu tượng về phương pháp tư duy khái niệm phức tạp của văn hóa, khi áp dụng cho các nhóm hay tổ chức. Tôi đã nhấn mạnh yêu cầu cần vượt qua những cấp độ bề mặt với những sản phẩm nhân tạo và các niềm tin, giá trị đồng thuận để đến được những giả định căn bản được chia sẻ được coi là hiển nhiên, sâu sắc hơn – chúng là thứ hình thành nên mô hình mẫu của nhận thức, tư duy và cảm xúc được thể hiện bởi các thành viên của nhóm. Nếu không nắm bắt được ở cấp độ sâu hơn, chúng ta sẽ không thực sự lý giải được ý nghĩa của các hiện tượng bề ngoài và, tệ hơn, có thể hiểu sai chúng bởi vì đã áp đặt các thành kiến văn hóa của riêng mình lên những hiện tượng mà ta quan sát thấy.

Trong bài này, tôi sẽ trình bày sự phân tích đa cấp bằng cách mô tả lại hai tình huống minh họa của hai công ty mà tôi từng đến làm việc, cho phép tôi bắt đầu nhận diện được một số yếu tố văn hóa sâu sắc. Tôi gọi là “yếu tố” bởi vì hầu như không thể mô tả được toàn bộ văn hóa, nhưng tôi trình bày đầy đủ các yếu tố để lý giải được các hiện tượng chính yếu trong hai doanh nghiệp này.

Công ty Thiết bị Kỹ thuật số DEC (The Digital Equipment Corp.)

Công ty Thiết bị Kỹ thuật số (DEC) là tình huống minh họa chủ đạo, bởi vì nó không những minh họa cho các khía cạnh liên quan đến cách thức mô tả và phân tích văn hóa tổ chức mà còn cho thấy một số động lực văn hóa quan trọng, lý giải được sự tăng trưởng mạnh của DEC lên vị thế số 2 trong ngành máy tính trên thế giới cũng như sự suy thoái nhanh của công ty này trong thập niên 1990 (Schein, 2003). Tôi là nhà tư vấn cho người sáng lập doanh nghiệp, Ken Olsen, và nhiều ban quản lý cũng như các nhóm kỹ sư điều hành công ty từ năm 1966 đến năm 1992; vì thế tôi có cơ hội đặc biệt để quan sát được các động lực văn hóa trong một khoảng thời gian dài. DEC đã từng là một công ty lớn đầu tiên giới thiệu sự tương tác máy tính và đã trở thành một nhà sản xuất rất thành công đối với sản phẩm “máy tính mini”. Đại bộ phận các văn phòng công ty tọa lạc tại miền Đông Bắc Hoa Kỳ, trụ sở chính đặt tại Maynard, Massachusetts, và còn nhiều chi nhánh trên toàn cầu. Trong giai đoạn đỉnh cao, công ty có hơn 100.000 nhân viên và doanh thu 14 tỷ USD; và đến giữa thập niên 1980 thì nó trở thành nhà sản xuất máy tính lớn thứ hai thế giới, sau IBM. Công ty đã gặp khó khăn lớn về tài chính trong thập niên 1990 và sau cùng được bán cho Compaq vào năm 1998. Sau đó đến lượt Compaq cũng được Hewlett-Packard mua lại trong năm 2001.

Các sản phẩm nhân tạo: gặp gỡ công ty

Để đi vào bất cứ tòa nhà nào trong số rất nhiều tòa nhà của DEC, bạn phải đăng ký với một nhân viên bảo vệ đứng sau quầy, nơi đó có nhiều người đứng tán gẫy, ra vào, kiểm tra phù hiệu của nhân viên khi vào công ty, tiếp nhận thư từ và trả lời điện thoại. Sau khi làm thủ tục vào cửa, bạn ngồi chờ tại một hành lang nhỏ, được trang bị các đồ đạc bình thường cho đến khi người bạn muốn gặp đi ra đón bạn, hay nhờ thư ký dẫn bạn đi.

Ký ức sống động từ những lần đầu tiên tôi đến công ty này, cách đây hơn 40 năm, là kiến trúc mở của văn phòng ở khắp nơi, trang phục và thái độ của con người hết sức xuề xòa, một môi trường cực kỳ năng động với nhịp độ nhanh, mức độ tương tác cao giữa các cá nhân, dường như thể hiện sự nhiệt tình, mạnh mẽ, tích cực và vội vã. Khi đi ngang các phòng nghiên cứu nhỏ hay phòng họp, tôi đều thấy ấn tượng với sự cởi mở. Có rất ít cửa ra vào. Nhà hàng tự phục vụ của công ty trải dài trong một khoảng không gian rộng rãi, nơi đó người ta ngồi bên những chiếc bàn lớn, họ hay đi từ bàn này sang bàn khác và rõ ràng là bàn bạc công việc ngay trong khi ăn trưa. Tôi còn quan sát thấy nhiều phòng nhỏ với máy pha cà phê và tủ lạnh, và thực phẩm luôn luôn là phần tất yếu trong các cuộc họp.

Bố cục không gian vật chất và các mô hình tương tác khiến người ta rất khó có thể nhận ra cấp bậc của mỗi người, và tôi được biết rằng tổ chức này không có những đặc quyền dành riêng cho những người cấp cao, chẳng hạn như phòng ăn riêng, nơi đậu xe đặc biệt hay các phòng làm việc có “cảnh quan đẹp”. Đồ đạc trong những khu vực hành lang và văn phòng đều rất bình thường và thực dụng, trụ sở chính của công ty cũng tọa lạc trong một cao ốc cũ, được chỉnh sửa lại để làm việc. Trang phục bình dị của các nhà quản lý và nhân viên còn củng cố thêm cho ý thức tiết kiệm và chủ nghĩa bình quân tại nơi đây.

Tôi được mời đến DEC để hỗ trợ ban quản lý cấp cao nhất trong việc cải thiện hoạt động giao tiếp và hiệu quả của nhóm này. Khi tôi tham gia vào các cuộc họp định kỳ, tôi khá ấn tượng với tỷ lệ cao các tình huống đối đầu giữa các cá nhân, nhiều tranh cãi và xung đột. Các thành viên trong nhóm quản lý trở nên dễ xúc động, dường như họ dễ nổi nóng với người khác mặc dù điều đáng chú ý là cơn giận chấm dứt ngay khi họ ra khỏi phòng họp.

Ngoại trừ người tổng giám đốc và cũng là sáng lập viên của doanh nghiệp, ông Ken Olsen, thì trong nhóm có rất ít người có cấp bậc rõ ràng, nếu xét từ việc được người khác phục tùng. Bản thân Olsen, thông qua cách hành xử xuề xòa, cũng đã có hàm ý rằng ông ta không quá coi trọng quyền lực từ chức vụ của mình. Các thành viên trong nhóm quản lý tranh cãi với ông nhiều lần. Tuy nhiê, vị thế của ông được thể hiện trong một vài lần ông “lên lớp” cho nhóm khi ông cảm thấy họ không hiểu hay hiểu sai về một vấn đề nào đó. Những lần đó, Olsen có cảm xúc cao độ, theo cách mà các thành viên khác không thể hiện.

Cá nhân tôi khi quan sát công ty và tham gia các cuộc họp này, cho rằng trên đây là các sản phẩm nhân tạo cần được ghi chú lại. Việc tham gia các cuộc họp quản lý cấp cao là điểm hứng thú – và còn gây kinh ngạc khi chứng kiến những cách hành xử mà theo tôi là bất ổn. Tôi lo lắng khi nhìn thấy tỷ lệ đối đầu cao, và tôi cảm thấy chẳng hiểu nổi điều đó nghĩa là gì. Tôi quan sát thêm và biết rằng cách thức tiến hành hội họp này là điển hình và những cuộc họp kiểu như trên thường xuyên diễn ra, đến mức mà người ta phải phàn nàn vì mất thời gian cho việc thành lập các ủy ban. Cùng lúc đó, người ta vẫn tranh luận rằng nếu không có những ủy ban này thì công việc sẽ không chạy tốt.

Công ty được tổ chức như một ma trận, theo một trong những phiên bản xưa nhất của loại hình tổ chức này nếu xét từ góc độ các đơn vị chức năng và dòng sản phẩm, nhưng trong đó mang hàm ý về việc liên tục tổ chức lại và tìm kiếm một cấu trúc “tốt hơn”. Cấu trúc được cho là thứ cần phải được điều chỉnh thường xuyên, cho tới khi nào đúng đắn mới thôi. Có rất nhiều nấc thang trong hệ thống cấp bậc kỹ thuật và quản lý, nhưng tôi cảm thấy chúng chỉ để “cho vui” chứ không được nhìn nhận nghiêm túc. Ngược lại, cấu trúc trao đổi thông tin mới là điều được coi trọng. Công ty đã sẵn có nhiều ủy ban, và liên tục cho ra đời nhiều ủy ban mới; công ty có mạng lưới email phủ khắp toàn cầu, các kỹ sư và nhà quản lý đi công tác thường xuyên và luôn luôn gọi điện thoại cho nhau, và Olsen sẽ không hài lòng nếu thấy sự trao đổi thông tin là chưa đầy đủ hoặc sai lạc. Để tạo thuận lợi hơn cho việc trao đổi thông tin và liên lạc, Olsen xây dựng cho riêng công ty một bộ phận “không lực” bao gồm nhiều máy bay phản lực và trực thăng. Ông cũng là phi công và tự lái máy bay đi nghỉ dưỡng tại Maine.

Nhiều sản phẩm nhân tạo khác của tổ chức này sẽ được trình bày trong các phần sau, nhưng với chừng này thông tin cũng đủ để tôi nắm bắt được những hoạt động thể hiện ra ngoài bề mặt của DEC. Câu hỏi cho tới thời điểm này là: chúng có nghĩa gì? Tôi hiểu được những cảm xúc của mình, nhưng không thực sự nắm bắt được lý do tại sao xảy ra những hiện tượng như trên trong tổ chức và ý nghĩa của chúng đối với các thành viên. Để phám khá được điều này, cần đi sâu hơn vào các niềm tin và giá trị được đồng thuận.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edgar H. Schein – Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo – NXB TĐ 2012.

Tin tức với vai trò là kiến thức công cộng – Phần XI


Điều đó không có nghĩa là báo chí không tác động đến nền dân chủ; nền dân chủ trong thế giới đương đại khó có thể hình dung và định hình nếu không có nó. Nhưng truyền thông có thể làm tốt hơn cho nền dân chủ hay không?

Vấn đề là phải biết cụ thể hơn những nội dung cần hỏi. Tôi có thể tưởng tượng ít nhất có bảy mục tiêu không hoàn toàn tương thích, mà một hệ thống truyền thông dành trọn phục vụ nền dân chủ có thể hướng đến:

1/ Truyền thông báo chí nên cung cấp cho công dân những thông tin đầy đủ và công bằng, nhờ đó họ mới có thể đưa ra những quyết định đúng đắn thể hiện quyền công dân (nói cách khác, truyền thông nên làm đúng những gì mà đa số các nhà báo cho rằng họ đang cố làm – kể cả gây ra hiệu ứng chẳng vui vẻ gì mà, theo như một số người chỉ trích, đó là làm chán nản và gây nhầm lẫn cho mọi người, đẩy họ quay lưng lại với chính trị).

2/ Truyền thông báo chí nên cung cấp một khuôn khổ chặt chẽ để giúp công dân có một cái nhìn tổng thể về thế giới chính trị phức tạp. Họ nên phân tích và giải thích chính trị học theo hướng sao cho công dân có thể hiểu và hành động được. (Nói cách khác, truyền thông nên làm chính những gì mà mục tiêu khách quan nghề nghiệp bảo họ không nên làm: giải thích tin tức).

3/ Truyền thông nên đóng vai trò làm người chuyển tải chung cho các quan điểm của các nhóm người khác nhau trong xã hội; như lời của Herbert Gans là nó nên “đa quan điểm”. (Nói cách khác, truyền thông không nên cung cấp một sự liên kết bao trùm cho tin tức, tức là trái ngược với mục tiêu 2).

4/ Truyền thông báo chí nên cung cấp số lượng và chất lượng tin tức mà mọi người muốn; tức là thị trường phải là tiêu chí sản xuất tin. (Nói cách khác, truyền thông báo chí nên gắn với nguyên tắc vốn được nhiều nhà phê bình khẳng định là đẩy báo chí đến chỗ giật gân, thỏa mãn dục vọng và tầm thường).

5/ Truyền thông nên đại diện cho công chúng và nói lên tiếng nói của công chúng cũng như nói về lợi ích của công chúng để chính quyền biết đến.

6/ Truyền thông báo chí nên khơi dậy sự cảm thông và hiểu biết sâu sắc, để công dân trên quy mô lớn có thể đánh giá đúng tình hình cuộc sống con người trên thế giới, và nhờ vậy những tầng lớp tinh hoa có thể biết và hiểu thực trạng cuộc sống con người, đặc biệt là những người bình thường, và học cách cảm thông với họ. (Nói cách khác, truyền thông báo chí nên làm chính những gì bị các nhà ngoại giao, những người không tin cảm thông là một cơ sở chính sách đối ngoại, chỉ trích; báo chí đã đưa những hình ảnh khốn cùng của người dân Srajevo và Somalia).

7/ Truyền thông báo chí nên cung cấp một diễn đàn đối thoại giữa những công dân, nó không chỉ thông tin về việc ra những quyết định dân chủ, mà phải là một quá trình, một thành tố trong đó.

Ngày nay, giới truyền thông báo chí nói chung đang cùng nhau làm những việc đó. Thực tế, một tổ chức báo chí đơn lẻ có thể thử làm cả bảy điều không thể đó trước bữa sáng. Nhưng xin lưu ý là một mục đích có thể mâu thuẫn với mục đích tiếp sau. Và vũng xin lưu ý là cung cấp thông tin công bằng và chính xác là chức năng thường được nói đến của báo chí, nhưng chỉ là một trong nhiều mục đích mà báo chí có thể tự đặt ra. Chúng ta đã đi quá xa khỏi lý thuyết chuẩn tắc chặt chẽ của báo chí. Và hầu như chẳng có gì để thúc đẩy các tổ chức báo chí thay đổi điều đó. Không giống công nghiệp ô tô và vi điện tử, báo chí Mỹ không bị thách thức từ nước khác. Không giống giáo dục đại học, nó không được thúc đẩy bởi sự đa dạng của các mô hình hoàn thiện bên trong. Báo chí không khao khát sự đa dạng. Báo chí ngầm, báo chí đảng phái, báo chí thay thế vẫn tồn tại nhưng nói chung bị bỏ qua. Các câu chuyện báo chí rò rỉ từ các luồng thông tin của tầng lớp tinh hoa xuống các tầng lớp khác, nhưng sự “chảy ngược lên” của những câu chuyện quan trọng là hiếm hoi đến mức mỗi lúc xảy ra là rất ấn tượng,t hậm chí có thể đạt giải Pulitzer. Dường như báo chí đã bỏ qua và từ chối những điều có thể trở thành mầm mống quan trọng nhất của sự thay đổi. Nhỏ có thể là đẹp trong nghề làm chăn Amish hay trong giai đoạn khởi sự công ty phần mềm – nhưng không phải trong báo chí. Ngay cả ở các trung tâm nghiên cứu của nó và với những hiệp hội trợ giúp của nó, báo chí dường như thành công với sự quyến rũ của danh tiếng, thành công thương mại, và phạm vi quốc gia.

Dù ở các khía cạnh khác, từ thuốc men đến phúc lợi, công tác xã hội và giáo dục, sự tập trung hình thành các chính sách công cộng, làm suy nghĩ trở nên sắc bén. Nhưng trên truyền thông báo chí, hầu hết các vấn đề chính sách lại hoàn toàn mang tính tự do chủ nghĩa – chỉ cần nhà nước đừng dính vào. Thật dễ cảm thông với suy nghĩ đó. Nhưng điều tiếp sau đó là báo chí không phải nghĩ đến bản thân mình theo cách thức mà hầu hết các thể chế đều phải nghĩ – với tư cách là những thể chế phụ thuộc vào sự đánh giá của công chúng và các chính sách điều tiết chung. Phản ánh của nhà báo về các công việc riêng của họ không được kiểm chứng theo quy tắc phải tác động thực tế đến chính sách thể chế. Ngược lại, ngay cả một giảng viên quê kệch thiết kế các khóa đào tạo cơ bản cho sinh viên năm đầu hoặc sửa đổi các yêu cầu nhập học hay chuẩn bị một báo cáo cho ủy ban chấp chứng chỉ cũng đều có kinh nghiệm mắt thấy tai nghe trong việc đề ra chính sách nhiều hơn nhà báo có kinh nghiệm viết về vấn đề đó.

Truyền thông báo chí Mỹ có thể tốt nhất thế giới – mặc dù tôi ngờ rằng hệ thống chính trị và văn hóa cũng phải tương xứng thì tầm vóc đó mới có ý nghĩa. Báo chí Mỹ ngày nay có thể tốt hơn bất kỳ thời điểm nào trước đây – tôi tin vào điều đó. Nhưng báo chí có phục vụ nền dân chủ tích cực như nó có thể hay không lại là một vấn đề khác; về điều này báo chí rất ít nói theo ngôn ngữ thực dụng, thậm chí làm còn ít hơn. Điều đó có thể thay đổi. Trong báo chí, có một phong trào manh nha hướng đến “báo chí công cộng” đang tìm cách thể chế hóa những cách thức mà trong đó chính công chúng, chứ không phải nhà báo hoặc quan chức nhà nước, định ra các chương trình lịch biểu tin tức. Hiện đang có các cuộc tranh luận nghiêm túc xem phải làm gì khi Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp làm xói mòn nền dân chủ chứ không phải bảo đảm cho nền dân chủ ấy. Cass Sunstein là một trong những học giả về hiến pháp cho rằng quan điểm “thị trường tự do” đối với tự do ngôn luận và báo chí có thể cản trở việc thúc đẩy nền dân chủ chủ định. Ông lấy dẫn chứng các lựa chọn chính sách phù hợp với nền dân chủ. Ông lấy dẫn chứng các lựa chọn chính sách phù hợp với nền dân chủ có thể đem ra thử nghiệm: chẳng hạn dùng luật pháp áp đặt quyền phản hồi trên báo chí, hay thậm chí xây dựng chương trình trợ cấp nhà nước mang nội dung trung hòa cho các tờ báo để băng bài đi sâu vào các vấn đề chính trị.

Đây là những diễn biến đáng khuyến khích. Nếu nó còn có lỗi, đó chỉ là vì nó vẫn coi tin tức báo chí như thông tin. Trong dài hạn, điều này có thể sai lầm giống như việc coi tin tức báo chí là hệ tư tưởng. Báo chí là văn hóa. Để phát triển luận điểm đó một cách nhất quán, thì vấn đề đặt ra không phải chúng ta có nhiều hay ít tin tức, mà chúng ta có loại tin tức gì. Và vấn đề không phải là quyết định của tin tức đến nền dân chủ (hoặc của nền dân chủ lên tin tức), mà là đặc điểm cấu thành tương tác của cả hai.

Hãy xem ý nghĩa này để hiểu được những quy ước và thông lệ của báo chí chuyên nghiệp. Nghề truyền thông được định hình không phải trong mối quan hệ với một vài thước đo thống nhất nghề nghiệp trừu tượng, mà là trong mối quan hệ với các cấu trúc chính trị bền vững và nền văn hóa chính trị của một xã hội nhất định. Trái với truyền hình Mỹ, báo chí truyền hình Italy giới thiệu chính trị như là hoạt động đảng phái chứ không phải chính quyền nhà nước hay vận động bầu cử tổng thống. Điều đó có nghĩa là ở nước Mỹ tin tức chính trị thông thường là câu chuyện tổng thống đang cố gắng chi phối, hay đang cố gắng điều hành đất nước theo hướng tối đa hóa khả năng tái cử, Quốc hội ủng hộ hay phá rối, các sự kiện quốc tế làm tăng hay giảm khả năng này, cách thức của ông được tạo điều kiện dễ dàng hay bị làm biến động bởi các lực lượng kinh tế vốn hay vượt quá tầm kiểm soát của tổng thống.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Khai thác các mạng lưới khách hàng – Phần VI


Chiến lược Tùy chỉnh

Chiến lược Tùy chỉnh trong kinh doanh là làm cho sản phẩm của bạn phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Tùy chỉnh ngày càng khả thi do sự lan truyền của thương mại điện tử, tự động hóa trong quản lý kho hàng và vận chuyển, số hóa sản phẩm truyền thông, tiến bộ trong công nghệ in 2D và 3D, khả năng tiếp cận các dữ liệu lớn về sở thích, địa điểm và hành vi của người tiêu dùng. Khi khách hàng tìm kiến nhiều hơn các lựa chọn và trải nghiệm cá nhân, doanh nghiệp cần phải tìm cách đáp ứng nhu cầu mà không làm cho họ bị bội thực với các chọn lựa hay thấy phát ớn vì nhận được quá nhiều tin nhắn cá nhân.

Chiến lược tùy chỉnh có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau bao gồm các công cụ khuyến nghị cũng như các giao diện, sản phẩ, dịch vụ, tin nhắn và nội dung được cá nhân hóa.

+ Công cụ khuyến nghị: Để giúp người xem tìm thấy nội dung cần xem từ danh mục phong phú gồm các chương trình truyền hình và tiêu đề các bộ phim được phát sóng trực tiếp. Neftlix sử dụng dữ liệu hành vi (Những loại chương trình nào mà người dùng thường xem vào tối thứ tư lúc 10 giờ?) kết hợp với một hệ thống các thẻ mà đội ngũ nhân viên dùng để phân loại toàn bộ nội dung trên nền tảng này. Kết quả là một danh sách phát sóng được cá nhân hóa và thay đổi liên tục được hiển thị mỗi khi người dùng đăng nhập. Các vi thể loại phim ảnh (theo một ước tính là hơn 76.000 loại vi thể loại) trải dài từ “Mother-Son Movies from the 1970s” đến “Cerebral Suspenseful Dramas Starring Raymond Burr”. Để đo lường tác động của những khuyến nghị này, có thể nhìn vào mức độ mà khách hàng phải nhờ đến thanh tìm kiếm để tìm ra chương trình của họ muốn xem. Kết quả nổi bật của họ là: các khuyến nghị tùy chỉnh của Neftlix đã thúc đẩy tới 75% số giờ xem phim của khách hàng.

+ Giao diện cá nhân: Chiếc gương ma thuật của Lancôme trên trang Facebook cho phép khách hàng thử các sản phẩm làm đẹp khác nhau ngay trên những bức ảnh mà họ lựa chọn từ Facebook để biết được nét mặt, nước da, và tóc của họ trông sẽ như thế nào khi dùng những sản phẩm này. Ngày càng nhiều khách hàng kỳ vọng vào các giao diện được cá nhân hóa hơn, dù là trực tuyến, trong không gian bán lẻ hoặc chuyển đổi giữa hai bối cảnh này.

+ Các sản phẩm và dịch vụ được cá nhân hóa: vào thời điểm Coca-Cola tung ra những lon Share a Coke tại Australia, doanh thu của Coke đang tụt dốc trong phân khúc thanh niên trẻ tuổi ở quốc gia này. Công ty đã chọn 150 cái tên phổ biến nhất cho đối tượng thanh thiếu niên ở Australia và in chúng lên lon thay cho tên của thương hiệu – nhưng trong cùng một kịch bản dễ nhận biết. Khách hàng với tên ít thông dụng hơn có thể tới các kiot tại trung tâm mua sắm lớn để in những chiếc lon được cá nhân hóa của Coke hay chia sẻ một lon cá nhân ảo trên Facebook. Các lon in tên theo yêu cầu trở nên phổ biến tới mức sản lượng tiêu thụ của người trẻ tăng 7% tại thị trường Australia và Coca-Cola đã mở rộng chiến dịch này đến 80 quốc gia khác trên thế giới. Với công nghệ in 3D được áp dụng cho chân tay giả, khung xe hơi và giày chạy bộ, cơ hội cho các sản phẩm được tùy chỉnh đang mở rộng nhanh chóng.

+ Thư và nội dung được cá nhân hóa: Một trong những cách đơn giản nhất để tùy chỉnh một sản phẩm cho khách hàng đó là thông qua phương tiện truyền thông và tin nhắn. Khi các nhà xuất bản chuyển từ việc sản xuất ấn phẩm dạng in sang ấn phẩm dạng số, họ đã có thể phân phối nội dung phù hợp nhất cho từng khách hàng. Họ có thể mời độc giả thể hiện sự quan tâm đối với nội dung (biểu tượng ngón cái chỉ lên hoặc xuống), trực tiếp quan sát những nội dung mà khách hàng dành thời gian đọc và thúc đẩy các bài viết khác phù hợp nhất. Thông điệp được tùy chỉnh cũng góp phần cải thiện hiệu quả tiếp thị. Microsoft gia tăng tỷ lệ chuyển đổi của một chiến dịch tiếp thị qua email lên tới 70% bằng cách giới thiệu sản phẩm cụ thể đúng đối tượng theo vị trí, độ tuổi, giới tính và hoạt động trực tuyến của người nhận.

Những yếu tố then chốt trong chiến lược tùy chỉnh gồm có xác định những khía cạnh mà nhu cầu, hành vi của khách hàng khác biệt và tìm ra các công cụ phù hợp để thay mặt họ cá nhân hóa trải nghiệm hoặc trao quyền để họ tự tùy chỉnh những trải nghiệm của riêng mình.

Chiến lược Kết nối

Chiến lược kết nối trong kinh doanh là trở thành một phần trong những cuộc hội thoại của khách hàng. Với Facebook – ứng dụng đã vượt qua mốc 1,5 tỷ người dùng hoạt động và các nền tảng khổng lồ khác như Sina Weibo, Twitter và LinkedIn, các phương tiện truyền thông xã hội đã trở thành tiêu chuẩn toàn cầu cho cách khách hàng giao tiếp với nhau. Đây cũng là nơi nhiều khách hàng mong đợi để giao tiếp với doanh nghiệp. Cho dù là trả lời các câu hỏi, giải quyết vấn đề hay cung cấp tin tức về sản phẩm cho khách hàng, doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ có mặt, đáp ứng và chủ động trong các cuộc trò chuyện xã hội.

Chiến lược kết nối có thể có nhiều cách tiếp cận bao gồm lắng nghe xã hội, dịch vụ khách hàng xã hội, tham gia cuộc trò chuyện, yêu cầu các ý tưởng và nội dung, phụ trách một cộng đồng.

+ Lắng nghe xã hội: Những cuộc hội thoại với khách hàng có thể là một nguồn thông tin khổng lồ giúp cung cấp sự thấu hiểu về thị trường cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể được lắng nghe và học hỏi với sự trợ giúp của rất nhiều công cụ. Sự thấu hiểu có thể trải rộng từ các vấn đề liên quan tới sản phẩm đến động lực đằng sau những bình luận tích cực của khách hàng. Nhiều thương hiệu đã sử dụng sự thấu hiểu về xã hội để thông tin về các chiến dịch quảng cáo và thương hiệu mới. Nhà cung cấp cáp Comcast sử dụng lắng nghe xã hội để biết được khu vực nào mất điện sớm hơn cả các đội kỹ thuật.

+ Dịch vụ khách hàng xã hội: Nhiều doanh nghiệp thấy rằng phương tiện truyền thông xã hội có thể đóng vai trò là một kênh hiệu quả trong hỗn hợp dịch vụ khách hàng bên cạnh các trung tâm chăm sóc khách hàng, trò chuyện tức thời vào những công cụ khác. Nếu một doanh nghiệp có thể đưa ra các câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi, nó có thể gây ấn tượng không chỉ cho một khách hàng mà còn cho cả mạng lưới của những người khác (một khách hàng gặp vấn đề được hỗ trợ giải quyết tốt rất có thể sẽ trở thành nhà truyền giáo cho doanh nghiệp). Tất nhiên, không phải tất cả mọi vấn đề đều có thể được giải quyết trong một cuộc trao đổi trên mạng xã hội nhưng việc đào tạo hiệu quả có thể tạo ra một khác biệt lớn. Sau khi xây dựng đội ngũ lãnh đạo cho phương tiện truyền thông xã hội, Citibank đã có thể giải quyết được 36% truy vấn qua Twitter của khách hàng trên kênh truyền thông xã hội này so với chỉ 11% đối với Well Fargo và 3% đối với Bank of America.

+ Tham gia cuộc trò chuyện: Maersk Line, một công ty vận chuyển container với 25.000 nhân viên đã quyết định thử nghiệm liệu các phương tiện truyền thông xã hội có thể hỗ trợ cho truyền thông doanh nghiệp của mình hay không. Khi tiến hành thử nghiệm, công ty bắt đầu tham gia vào các cuộc trò chuyện, chia sẻ video và hình ảnh từ các đội tàu trên khắp thế giới, sử dụng các nền tảng  đa dạng như Facebook, Instagram, LinkedIn, YouTube, Sina Weibo, và Pinterest. Trong vòng một năm, dự án đã giúp xoa dịu cuộc khủng hoảng truyền thông liên quan đến cái chế của những con kỳ lân biển, khám phá video lịch sử từ kho lưu trữ của công ty, xây dựng một lượng lớn khách hàng, các nhà cung cấp, chuyên gia vận chuyển và nhân viên. Trong số những lợi ích dễ thấy nhất mang lại cho Maersk đó là những mạng lưới tuyển dụng mới, nguồn khách hàng tiềm năng mới, và sự hài lòng của cả khách hàng và nhân viên được cải thiện.

+ Hỏi ý kiến và nội dung: Không ít lần các công ty kết nối với khách hàng bằng cách sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để thu nhận các ý tưởng, khuyến nghị hoặc nội dung dưới dạng hình ảnh hoặc video. Thương hiệu máy ảnh hành động GoPro đã gây dựng danh tiếng bằng cách yêu cầu khách hàng chia sẻ những video tuyệt vời nhất mà họ quay bằng được bằng sản phẩm này, dù là lướt sóng, bay lượn hay đạp xe. Những công ty khác từ Dell  đến Starbucks cũng đã sử dụng các công cụ như nền tảng IdeaStorm để thu nhận ý kiến khách hàng và sau đó đã sử dụng những gợi ý này để phát triển sản phẩm cũng như cải tiến dịch vụ. Nhưng tương tác và phản hổi kiểu này có thể là một công cụ cực kỳ hiệu quả để tăng tính làm chủ của khác hàng và thúc đẩy họ đóng góp vào sự thành công của công ty.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: David Rogers – Cải tổ doanh nghiệp trong thời đại số – NXB TH TPHCM 2018.

Tổ chức theo phép quản lý kiểu Trung Quốc – Phần IV


Tôn Quyền trịnh trọng cho gọi Lã Mông và Tưởng Khâm đến nói chuyện. Tôn Quyền nói: “Các ngươi hiện nay đều nắm quyền quản lý nên chăm chỉ đọc thêm sách vở, như thế mới có thể mở rộng kiến thức, nâng cao khả năng được”. Lã Mông trả lời một cách tự nhiên: “Các việc trorng quân đội rất bề bộn, thần e là không có thời gian đọc sách”. Tôn Quyền nghe xong, vẫn kiên nhẫn khuyên nhủ: “Ta không yêu cầu các ngươi khổ công đọc kinh thư làm tiến sĩ mà chỉ hi vọng các ngươi chăm động đến sách vở, như thế mới có thể hiểu được những việc đã qua. Các ngươi nói việc quân khá bận rộn, nhưng các ngươi liệu có bận bằng ta không. Khi còn trẻ ta đã đọc qua các cuốn “Thi”, “Thư”, “Lễ ký”, “Tả truyện”, “Quốc ngữ”, chỉ thiếu “Kinh dịch” là chưa đọc. Từ khi thống lĩnh đại quân đến nay, ta đã đọc thêm ba bộ sách sử lớn là “Sử ký, “Hán thư”, “Đông quan Hán kỳ” và các sách binh pháp nổi tiếng, tự thấy rằng rất có ích. Hai người đều rất thông tuệ, chỉ cần đọc sách cũng có thể thu được nhiều điều bổ ích, lẽ nào không học tử tế một chút?”

Tiếp theo, Tôn Quyền lại chỉ đạo cụ thể: “Các người nên tranh thủ đọc “Tôn Tử”, “Lục Thao”, “Tả Truyện”, “Quốc ngữ” và “Tam Sử”. Khổng Tử nói, cả ngày không ăn cơm, cả đêm không ngủ để suy nghĩ, cũng không có ích lợi bằng học tập chăm chỉ đều đặn. Năm xưa, Quang Vũ đế [nhà Hán] dù việc quân vô cùng bận rộn, tay vẫn không ngơi giở sách, đến cả Tào Tháo cũng tự nhủ “già vẫn muốn học”. Các ngươi sao lại không cố gắng tự mình thúc mình, học nhiều hơn nữa?”

Những lời nói gửi gắm tấm lòng của Tôn Quyền đã khiến những người như Lã Mông thức tỉnh mạnh mẽ, từ đó chăm chỉ đọc sách, “ra sức không biết mệt mỏi”. Chỉ sau một thời gian, việc học đã có tiến bộ rõ rệt, sử sách gọi là “những người như Lã Mông xưa nay rất hiếm”.

Tôn Quyền thấy các tướng như Lã Mông học tập chăm chỉ, tài năng ngày càng cải thiện, cảm thấy rất mãn nguyện vui mừng, than rằng: “Nhiều tuổi mà vẫn tu dưỡng tiến bộ như Lã Mông, Tưởng Khâm, ngày càng trưởng thành. Phú quý vinh hiển cần hiếu học,…” Người trước đây vốn coi thường Lã Mông như Lỗ Túc cũng phải thừa nhận Lã Mông “học vấn uyên bác, kỳ tích phi thường”.

Tập đoàn Tiểu Thiên Nga quan tâm đặc biệt đến việc nâng cao tố chất của toàn thể nhân viên trong doanh nghiệp. Để đào tạo nhân tài, Đảng ủy của Tập đoàn đã đưa ra tín điều của doanh nghiệp “dồn ép bản thân đến đường cùng thì nhất định sẽ tìm ra lối thoát”, dùng điều này để khích lệ nhân viên học tập kỹ thuật, nắm bắt công nghệ, học văn hóa, biết quản lý, thực hiện sát hạch để lên chức, đồng thời tổ chức định kỳ các kỳ thi sát hạch nâng bậc, đồng thời tổ chức các cuộc thi đua lao động, nâng cao trình độ thao tác. Trước đây, cứ 39 giây tập đoàn Tiểu Thiên Nga sản xuất ra một máy giặt, nhưng nhờ nâng cao kỹ năng thao tác của nhân viên và cải tiến kỹ thuật, hiện nay chỉ trong 12 giây đã sản xuất ra một máy giặt. Mỗi năm Tập đoàn Tiểu Thiên Nga còn ký hợp đồng đào tạo với trường Đại học California Hoa Kỳ trong vòng 5 năm để đào tạo thạc sỹ quản trị kinh doanh, cử hai quản lý cấp cao sang Mỹ học tập. Tập đoàn Tiểu Thiên Nga mỗi năm đều chọn ra “10 nhân viên xuất sắc” trong nội bộ doanh nghiệp như 10 lá cờ tiên tiến để cổ vũ nhuệ khí của toàn thể công ty, không chỉ nâng cao tinh thần văn minh, xây dựng tác phong mới mà còn đào tạo được một đội ngũ, ảnh hưởng đến cả một thế hệ, tăng cường sự gắn kết của doanh nghiệp, thúc đẩy toàn thể nhân viên hình thành ý thức đoàn kết và hiệu ứng tập thể, tiếp tục nâng cao tinh thần đoàn kết và hình thành sức mạnh gắn kết mới. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến Tập đoàn Tiểu Thiên Nga có thể giành được vị trí trên thị trường rất nghiêm khắc này.

Một doanh nghiệp không những cần phần gốc bám chắc mà còn phải có lá sum suê. Mục tiêu cuối cùng trong đào tạo nhân viên của các nhà quản lý Trung Quốc chính là làm cho nhân viên dựa trên nền tảng vốn có của mình, có những nâng cao và cải thiện sâu sắc, khiến họ có thể hoàn thành xuất sắc trách nhiệm của một phần tử trong doanh nghiệp. Đào tạo nhân tài là nâng cao ý thức tập thể, tăng cường tinh thần đoàn kết tập thể của doanh nghiệp, đồng thời là một phương pháp hiệu quả kích thích sự phát triển năng động của doanh nghiệp. Vì thế, mỗi doanh nghiệp đều phải chú trọng đến công tác bồi dưỡng nhân tài.

Tăng cường hợp tác

Mọi người thường nói người Trung Quốc “một người là một con rồng, ba người thành một con giun”, “một hòa thượng thì đủ nước uống, ba hòa thượng lại không có nước uống”, nói như vậy để thấy rằng người Trung Quốc không có tinh thần đoàn kết. Liệu thực tế có thực sự như vậy không? Thực tế không hẳn như vậy, đây chỉ là một mặt của vấn đề mà thôi. Người Trung Quốc không phải không có tinh thần đoàn kết, chỉ là khó hợp tác, nếu cùng chung một nhu cầu thì chỉ cần thời cơ thích hợp, tình thế có lợi, thêm sự lãnh đạo hợp lý, những nhóm khác nhau sẽ liên kết lại, thống nhất đối phó bên ngoài.

“Liên Ngô kháng Tào” chính là chính sách ngoại giao Gia Cát Lượng đưa ra trong cuốn “Long trung đối”. Ông đã dựa trên tình hình khách quan lúc đó, đưa ra những kiến nghị hợp lý cho Lưu Bị. Ông phân tích: Từ thời Đổng Trác, mặc dù hào kiệt nổi lên khắp nơi nhưng thiên hạ cuối cùng vẫn quy về ba nước: Tào Tháo đã có trong tay hàng trăm vạn người, mưu sĩ đông đảo, có trong tay cả thiên tử để sai khiến chư hầu, đây là điểm mà chúng ta không có cách nào chống lại được. Tôn Quyền chiếm cứ Giang Đông đã lâu, lực lượng quốc gia mạnh, lại có nhiều người hiền tài, nên chúng ta chỉ có thể hòa hảo chứ không thể gây chiến. Kinh Châu phía bắc giáp với Hán Miến, sức có thể thắng được Nam Hải, đông liền Ngô Hội, tây thông Ba Thục, đó là vùng đất có thể dụng võ, tướng quân có thể đạt được. Địa hình Ích Châu hiểm yếu, đất đai màu mỡ bạt ngàn, là đất Thiên Phù, nên Cao Tổ mới có thể nhờ đó mà làm nên đế nghiệp. Đất của Lưu Chương dân giàu nước mạnh nhưng Lưu Chương lại không biết lo lắng cho dân. Tướng quân là hậu duệ của Vương đế, tín nghĩa nổi tiếng khắp bốn bề, nắm trong tay được một số lượng lớn quần hùng, tư tưởng luôn như khát người hiền tài. Nếu tận dụng cơ hội giành lấy Ích Châu và Kinh Châu, sau đó củng cố thêm lực lượng, tây hòa với Chu Nhung, nam quấy nhiễu Di Việt, đối ngoại quan hệ tốt với Tôn Quyền, đối nội thì chỉnh đốn về mặt chính trị, ắt mảnh đất chúng ta đang đóng quân sẽ rất yên ổn. Một khi thiên hạ có biến, có thể đánh thẳng vào Lạc Dương, tướng quân đích thân dẫn dắt dân chúng Ích Châu ra khỏi Tần Xuyên, cứ như thế, ai dám không chân thành đón tiếp ngài đây? Quả đúng như thế thì đế nghiệp ắt sẽ thành, vương thất nhà Hán có thể hưng thịnh.

Lưu Bị được Gia Cát Lượng phò tá, đã sử dụng phương pháp “liên Ngô kháng Tào”, cuối cùng nổi bật trong quần hùng, trấn giữ một phần ba thiên hạ. Đáng tiếc là Lưu Bị chưa kịp áp dụng hoàn toàn, sau bị Tào Thái lợi dụng mâu thuẫn giữa Tôn Quyền và Lưu Bị, tiêu diệt Quan Vũ, không những giải quyết được việc đất Phàn bị uy hiếp mà còn khiến Thục Hán mất bị vùng đất chiến lược Kinh Châu. Sau này Gia Cát Lượng mấy lần dụng binh với quân Ngụy, chỉ có thể xuất quân theo con đường duy nhất đi qua Tần Xuyên, như thế về sau hình thành nên thế cục cực kỳ có lợi cho Tào Ngụy. Hình thành cục diện này nguyên nhân chủ yếu là nằm ở việc kế sách chính trị “liên Ngô kháng Tào” của Gia Cát Lượng đã không được xem trọng đúng mức, luôn hướng theo tư tưởng xem nhẹ Đông Ngô.

Sau khi Lưu Bị chết, Gia Cát Lượng phò tá A Đấu chấp chính, dành toàn bộ sức lực vào quan hệ đối ngoại, chú trọng chính sách “liên Ngô kháng Tào”. Ông ý thức sâu sắc rằng nước Thục nhỏ bé chống một nước Ngụy lớn mạnh, trước tiên không dựa vào nước Ngô không được. Ông bèn phái Đặng Chi đi sứ Đông Ngô, thấu hiểu lợi hại, tiếp tục thực hiện chính sách “liên Ngô kháng Tào”, để Gia Cát Lượng sau này cử đại quân đánh Ngụy sẽ giải quyết đực mối lo sau này.

Gia Cát Lượng hiểu rõ chân lý “đông người góp củi lửa bốc cao”, thực hiện chính sách “liên Ngô kháng Tào” đã giữ vững được hình thế nước Thục. Vì vậy, thực sự hợp tác là phương pháp tốt nhất đạt đến thành công. Là người lãnh đạo, muốn làm nên nghiệp lớn cần bỏ ý muốn không hợp tác, vì như thế sẽ khó làm nên cục diện của đời người. Chỉ cần biết thông qua những cách hợp tác mà bù đắp những điểm thiếu hụt ở khả năng của bản thân, tăng cường sức mạnh cho bản thân mới có thể đạt được thành công. Ba người khổng lồ của dầu mỏ Trung Quốc đã bỏ qua những mâu thuẫn nội bộ để cùng nhau đối phó với bên ngoài là một ví dụ điển hình về việc hợp tác.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.

“Vòng ngọc bích” đối phó với “Chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc – Phần đầu


P.R. Shanka

Với việc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Mamallapuram để tham dự cuộc gặp thượng đỉnh không chính thức với Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, đã đến lúc phải có cái nhìn thực tế về mối quan hệ Trung – Ấn. Đã xuất hiện rất nhiều bài báo về cách thức thúc đẩy quan hệ song phương Trung – Ấn. Không có vấn đề gì với tất cả những nguyên tắc cơ bản và mối quan hệ tuyệt vời giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Narendra Modi. Mặc dù những hoạt động nhằm tạo ra sự hòa hợp này nên tiếp diễn, nhưng Ấn Độ vẫn cần phải có cái nhìn thấu đáo vào thực tế để tăng cường chiến lược dài hạn nhằm đối phó với Trung Quốc. Thực tế quan hệ Trung – Ấn sau sự cố Doklam, cho dù có bỏ qua những tranh cãi và sự thù địch trong quá khứ, vẫn khá ảm đạm. Trung Quốc tiếp tục ngăn cản Ấn Độ gia nhập Nhóm các nước cung cấp hạt nhân (NSG). “Chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc ngày một lớn mạnh. Tình trạng mất cân bằng thương mại lan rộng. Trung Quốc đang hỗ trợ Pakistan trong tất cả các hoạt động của nước này. Pakistan là con rối bị Trung Quốc giật dây để chống lại Ấn Độ. Hành lang kinh tế Trung Quốc – Pakistan (CPEC) tiếp tục phát triển, bất chấp những quan ngại về chủ quyền của Ấn Độ. Trung Quốc đã nhiều  lần cản trở Liên hợp quốc tuyên bố Masood Azhar là phần tử khủng bố. Họ đã chuyển hướng dòng chảy của sông Brahmaputra với thái độ hoàn toàn thiếu tôn trọng các nước khác. Tuyên bố chung Trung Quốc – Pakistan được đưa ra ngay trước khi cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tập Cận Bình và Narendra Modi diễn ra cũng không giúp thúc đẩy lòng tin giữa hai nước. Tất cả những điều này củng cố tuyên bố của Shri George Fernandes: Trung Quốc là kẻ thù số một của Ấn Độ.

Chiến lược “Vòng ngọc bích”

Phần lớn các chuyên gia đều phân tích Trung Quốc từ quan điểm lấy Ấn Độ làm trung tâm. Nếu nhìn nhận Trung Quốc một cách khách quan, thì sẽ thấy một số tùy chọn thú vị đã xuất hiện. Một phương án hấp dẫn là đáp trả “Chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương bằng một “Vòng ngọc bích” gồm nhiều tuyến. Theo quan điểm của tác giả, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Macau, Việt Nam, Tây Tạng, Gilgit-Baltistan, Tân Cương và Mông Cổ hình thành nên tuyến đầu tiên của “Vòng ngọc bích”. Tuyến thứ hai là tôn giáo và dân chủ. Tuyến thứ ba là quan hệ đối tác chiến lược Mỹ – Ấn và Bộ Tứ Tuyến thứ tư là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các quốc đảo Thái Bình Dương. Tuyến thứ năm là sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) và chính sách “Một Trung Quốc”. Và chiếc hộp chứa đựng chiếc “Vòng ngọc bích” này là chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ. Hãy cùng tìm hiểu một số thành tố trong các tuyến này.

Tuyến đầu tiên – tuyến chính

Nhật Bản

Trong lịch sử, quan hệ Trung – Nhật vốn mang tính đối kháng. Trước đó, hai nước là kẻ thù của nhau, nhưng hiện quan hệ song phương đã hòa dịu hơn. Ở cấp chính phủ, hai nước có quan hệ thương mại phát triển nhanh chóng bất chấp các tranh chấp lãnh thổ trên biển Hoa Đông. Ở cấp nhân dân, giữa hai nước tiềm ẩn mối bất hòa, căm ghét hoặc thù địch lẫn nhau. Nhìn chung, Nhật Bản vẫn cảnh giác trước các ý đồ của Trung Quốc, giống như các nước còn lại trên thế giới. Mặt khác, mối quan hệ Nhật Bản – Ấn Độ ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cả hai nước đều có lợi ích chung trong việc chống lại sự tấn công dữ dội của Trung Quốc. Đây không phải là một bí mật hay một sự giác ngộ. Nhật Bản là yếu tố chủ chốt trong chiến lược “Vòng ngọc bích”.

Việt Nam

Quan hệ Trung – Việt luôn biến động. Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giành độc lập từ tay Pháp và Mỹ. Cả hai nước đều có chung ý thức hệ cộng sản và tự do trao đổi thương mại với nhau. Tuy nhiên, hai nước có các tranh chấp lãnh thổ tại quần đảo Trường Sa ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Việt Nam coi Ấn Độ là hàng rào ngăn cách tự nhiên với Trung Quốc và cần Ấn Độ vì nhiều thứ. Việt Nam tin tưởng Ấn Độ và đã trao cho Ấn Độ một bãi đá ở biển Nam Trung Hoa. Quan hệ Việt – Ấn đang phát triển. Mối quan hệ này rất cần phải được nâng cấp lên thành quan hệ đối tác hợp tác và chiến lược. Việt Nam và Nhật Bản là bàn đạp thúc đẩy mọi hoạt động của Ấn Độ ở biển Hoa Đông và biển Nam Trung Hoa.

Đài Loan

Đài Loan là trở ngại trước ngưỡng cửa của Trung Quốc và là khu vực rắc rối số một của Trung Quốc. Đài Loan đã chống lại mọi nỗ lực của Trung Quốc nhằm nuốt trọn quần đảo này theo chính sách “Một nước, hai chế độ” đang được áp dụng ở Hong Kong. Cơn ác mộng tồi tệ nhất của Trung Quốc là Đài Loan tuyên bố độc lập. Quan hệ thương mại mạnh mẽ nhưng tất cả các mối quan hệ còn lại đều yếu ớt và mang tính thù địch. Đài Loan cũng là bàn đạp đầu tiên mà Trung Quốc phải nắm giữ được, cho dù là khó, để vượt ra ngoài chuỗi đảo thứ nhất của mình nhằm thống trị biển Nam Trung Hoa. Quần đảo Trường Sa bị tranh chấp không tạo điều kiện dễ dàng cho Trung Quốc. Cho dù có tăng cường sức mạnh cho Đài Loan thì Trung Quốc vẫn bị kiềm chế. Khi phân tích trong bối cảnh rộng hơn, có thể thấy Trung Quốc phải đối mặt với một vấn đề hóc búa. Nếu họ vượt qua kênh đào này để chiếm lấy Đài Loan, thì cửa sau của họ là Tây Tạng sẽ bị bỏ ngỏ. Nếu họ băng qua dãy Himalaya, thì cửa trước của họ là Đài Loan sẽ bị hở. Theo đánh giá của tác giả, Trung Quốc không thể làm cả hai việc này. Do đó, điều Ấn Độ cần phải làm là nâng cấp quan hệ Ấn Độ – Đài Loan. Điều này đang diễn ra.

Hàn Quốc

Quan hệ Trung – Hàn đi theo quỹ đạo quen thuộc là tăng cường thương mại nhưng lại thiếu lòng tin. Hàn Quốc là một trong những nước cuối cùng công nhận Trung Quốc. Vấn đề của họ là Trung Quốc đang hỗ trợ Triều Tiên. Hai nước có tranh chấp lãnh thổ trên biển Hoa Đông. Quan hệ Ấn Độ – Hàn Quốc đã và đang phát triển trên nhiều phương diện và quy mô khác nhau. Mối quan hệ này cần được nâng lên cấp chiến lược để mang lại giá trị tốt hơn. Một thực tế khác là Ấn Độ là một trong số ít các quốc gia có quan hệ ngoại giao với Triều Tiên. Trong một kịch bản có thay đổi. Ấn Độ sẽ đóng một vai trò lớn nếu hai miền Triều Tiên thống nhất trong tương lai gần.

Hong Kong – Macau

Hong Kong và Macau là các đảo thuộc chủ quyền của Trung Quốc, và từng là thuộc địa của Anh và Bồ Đào Nha. Hai đặc khu này hoạt động theo mô hình “Một nước, hai chế độ”. Nỗ lực của Trung Quốc trong việc hợp nhất hoàn toàn các vùng lãnh thổ này theo chính sách “Một Trung Quốc” đang vấp phải sự phản kháng chưa từng có ở Hong Kong. Trung Quốc rất cảnh giác với các đặc khu này kể từ khi cả hai có được trải nghiệm về nền dân chủ. Tất cả những gì Ấn Độ phải làm là giúp đỡ các “nền dân chủ” này bằng bất cứ cách nào dù chỉ là trên danh nghĩa.

Gilgit-Baltistan

Gilgit-Baltistan là một con dao hai lưỡi. Nếu đụng vào nó thì cả Pakistan và Trung Quốc đều sẽ bị tổn hại. Chỉ cần bộc lộ ý định rõ ràng về việc chiếm lại khu vực này là sẽ gây sức ép đối với việc trao trả bất hợp pháp thung lũng Skaksgam cho Trung Quốc và CPEC. Một số bước đi ngoại giao và việc triển khai sức mạnh mềm sẽ mang lại các kết quả to lớn, trong đó việc làm chuyển hướng sự chú ý khỏi Điều 370. Các động thái của Ấn Độ nhằm bãi bỏ Điều 370 và tuyên bố chủ quyền đối với vùng Kashmir do Pakistan chiếm đóng đã được các nhà phân tích chiến lược quốc tế coi là các yếu tố làm thay đổi cuộc chơi.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.sniwire.com – 12/10/2019

TLTKĐB – 22/10/2019