Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21: Tâm điển Ấn Độ Dương – Phần IV


Đông Phi: Một khu vực hấp dẫn đầy tiềm năng

Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng nhất của châu Phi (trao đổi thương mại đã đạt 127 tỷ USD trong năm 2010, 166 tỷ USD trong năm 2011). Trong diễn đàn Trung Quốc – Châu Phi vào tháng 12/2015, Trung Quốc đã công bố khoản tiền lên tới 46 tỷ USD viện trợ và đầu tư tại Châu Phi (đang được thực hiện). Trung Quốc nhập khẩu từ châu Phi một phần ba nhu cầu về dầu khí của họ. Nhìn rộng hơn, quan hệ giữa hai bên chủ yếu dựa trên buôn bán nhiên liệu (dầu lửa của Angola, 75% lượng xuất khẩu đồng của Congo, 70% lượng xuất khẩu sắt của Nam Phi…). Trung Quốc đã trở thành một trong những quốc gia quan trọng nhất về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại châu Phi (7 tỷ USD trong năm 2008, 36 tỷ USD trong năm 2013). Tuy nhiên, lưu ý rằng cán cân thương mại Trung Quốc – châu Phi không phải hoàn toàn mất cân bằng. Châu Phi là thị trường tiêu thụ quan trọng đối với hàng hóa Trung Quốc. Về điểm này, châu Phi sẽ trở thành một tác nhân lớn của OBOR, và số quốc gia châu Phi liên quan tới dự án này sẽ tăng trong vài năm tới.

Sáng kiến OBOR có tham vọng tăng cường và mở rộng những trao đổi này sang những lĩnh vực khác. Hiện đã có những dự án công nghiệp như tại Tanzania với việc xây dựng cảng Bagamoyo (hơn 10 tỷ USD), xây dựng đường ống dẫn khí (từ các mỏ ngoài khơi Songo Songo tới Mtwara và Dar-es-Salaam) hoặc tuyến đường sắt Mombassa/Dar-es-Salaam. Trong năm 2015, Trung Quốc đã cam kết dỡ bỏ thuế quan đối với 97% hàng hóa nhập khẩu từ châu Phi (những nước kém phát triển nhất).

Mục tiêu của Trung Quốc vượt ra ngoài khuôn khổ hợp tác kinh tế, đang được tiến hành rộng rãi, thiế lập một chính sách thực sự gây ảnh hưởng làm đối trọng với những cường quốc đã có mặt từ lâu ở đây. Sự kiện ba tầu chiến của Hải quân Trung Quốc dừng chân tại Tanzania vào tháng 5/2016 (với việc chia sẻ thông tin trong đấu tranh chống cướp biển và bán tàu tuần tra do một tập đoàn Trung Quốc sản xuất) nằm trong khuôn khổ của chính sách này. Khu vực kênh Mozambique cũng khiến Trung Quốc đặc biệt quan tâm (một tuyến đường biển quan trọng thay thế tuyến đường đi qua Suez). Vì vậy, Trung Quốc có thể tăng cường quan hệ với những nước như Mozambique, Kenya (tái thực hiện dự án hàng lang Kenya – Nam Sudan – Ethiopia, xây dựng tuyến đường sắt Mombasa – Nairobi hoặc các dự án ống dẫn dầu giữa Ouganda và Keyna) hoặc Madagascar (các cảng Toliara và Antsiranana). Việc phát triển sâu sắc hơn nữa các quan hệ với Comoros cho thấy mối quan tâm của Trung Quốc đối với khu vực chiến lược này. Những vấn đề về an ninh cũng nảy sinh tại những nước này (các cuộc tấn công nhằm vào người lao động Trung Quốc tại Sudan) và có thể cản trở phần nào thành công của OBOR. Dù Sudan là một trong những đối tác hàng đầu của Trung Quốc, Bắc Kinh vẫn có thể lợi dụng những nước khác như Tanzania để tái cân bằng các quan hệ của mình.

Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng của châu Phi cần tới 93 tỷ USD mỗi năm. Việc cấp vốn của Trung Quốc đặc biệt được chào đón và cần thiết. Tuy nhiên, đối với các nước châu Phi, cần dành các vốn đầu tư này cho sự tăng trưởng của địa phương, đặc biệt dành việc làm cho người dân sở tại. Tuy nhiên, Trung Quốc có xu hướng ưu tiên đưa ồ ạt công nhân của họ tới làm việc trên các công trường (hơn 30.000 lao động Trung Quốc đã có mặt tại Libya trước khi có sự can thiệp của phương Tây) và bán các sản phẩm của họ. Điều này tạo ra những căng thẳng với người dân địa phương vì nó cản trở nhân công địa phương nâng cao tay nghề để tiến từ nền kinh tế nông thôn sang một nền kinh tế chế biến. Các vụ rắc rối đã xảy ra tại Ghana, Senegal, Nam Phi hoặc tại Kenya. Ngược lại, các doanh nghiệp đã tuyển mộ nhân công địa phương làm việc tại công trường đường sắt Djibouti – Addis Abeba, điều này cho thấy Trung Quốc bắt đầu lưu tâm tới vấn đề quan trọng nêu trên. Tiếp đó, việc sử dụng các nguồn vốn vay của Trung Quốc là một nguy cơ đối với các nền kinh tế châu Phi, vốn đã đầy nợ nần (theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế nợ của Ghana đã từ 33% GDP của nước này vào năm 2008 lên đến 67% năm 2014). Cuối cùng, các nước châu Phi phải có khả năng xác định đường lối phát triển thực sự với hồ sơ những công việc cụ thể cho các nhà đầu tư nước ngoài như Trung Quốc.

Trên lĩnh vực văn hóa, nhiều Viện Khổng Tử được thiết lập tại châu Phi (60 viện tại 33 quốc gia) và tiếng Trung bắt đầu được dạy trong các nhà trường (Nam Phi, Zambia, Mauritius). Nhiều chương trình trao đổi sinh viên hoặc học bổng được thực hiện giữa các quốc gia châu Phi và Trung Quốc. Trên bình diện chính trị, Trung Quốc ngày càng can dự vào châu Phi (khủng hoảng an ninh tại Nam Sudan, khủng hoảng nhân đạo liên quan tới Ebola) thông qua chẳng hạn các chiến dịch duy trì hòa bình (tại Mali với 4 binh lính bị chết vào tháng 6/2016) hoặc tài trợ 100 triệu USD cho việc thành lập Lực lượng thường trực châu Phi. Trung Quốc tham gia vào hoạt động bình định tại nhiều quốc gia và hướng tới gia tăng các hoạt động và quan hệ đối tác quân sự với nhiều nước châu Phi. Trung Quốc thiết lập quan hệ đối tác quân sự với Sudan, Tanzania (mua nhiều vũ khí của Trung Quốc), Zimbabwe (Trung Quốc tài trợ 98 triệu USD cho việc xây dựng Trường Quốc phòng của nước này, có thể xây dựng một căn cứ không quân trong vùng Marange, cung cấp nhiều loại trang thiết bị quân sự) và đang thảo luận với Angola. Điều đó là một thách thức đối với Mỹ và, ở mức độ thấp hơn, với Pháp.

Trung Quốc lợi dụng việc họ không có quá khứ thực dân ở đây hoặc con bài “nhân đạo” để thiết lập những quan hệ không có mặc cảm với châu Phi. Tuy nhiên, sáng kiến OBOR, coi các quan hệ đối tác “cùng thắng” là trọng tâm, sẽ phải có khả năng tái phân phối tốt hơn những hệ quả của tăng trưởng phục vụ cho phát triển cơ sở hạ tầng. Với mong muốn tăng cường ảnh hưởng của mình, Trung Quốc sẽ cần phải có khả năng thực hiện chính sách mà họ công bố nếu như họ muốn xuất hiện như tác nhân đáng tin cậy thay thế siêu cường Mỹ. Châu Phi sẽ là tâm điểm của những tham vọng của Trung Quốc cũng như Ấn Độ, chính các nước châu Phi phải xây dựng những chính sách thích hợp để được hưởng lợi từ điều này. Châu Phí có thể là nơi diễn ra những tranh chấp sắp tới giữa Mỹ và Trung Quốc.

Pakistan: Một đối tác lớn giữa biển và đất liền

Pakistan đóng một vai trò then chốt trong OBOR và rộng hơn trong các quan hệ quốc tế của Trung Quốc. Nước này cho phép kết nối khía cạnh đất liền với khía cạnh biển nhờ “Hành lang kinh tế Trung Quốc – Pakistan” (giữa Kachgar ở Tân Cương và Gwadar). Hành lang này đã được xúc tiến từ năm 2013 (chuyến thăm của ông Lý Khắc Cường tới Pakistan) rồi được gộp vào OBOR (từ đó được gọi là “dự án hàng đầu của OBOR”) vào tháng 4/2015. Nó giúp Trung Quốc đến với Ấn Độ Dương mà không phải qua Malacca, cũng như mang lại cho các tỉnh phía Tây của Trung Quốc các thị trường tiêu thụ hàng hóa và cho phép phá thế mắc kẹt cho một số khu vực của Pakistan. Pakistan là một đối tác thương mại quan trọng, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Trung Quốc, và được lợi nhờ các khoản đầu tư của Trung Quốc (46 tỷ USD hứa hẹn đầu tư trong nhiều lĩnh vực khác nhau). Cảng Gwadar, là một thí dụ, có tham vọng trở thành một trung tâm hậu cần tại Ấn Độ Dương nhờ sự can dự của Trung Quốc. Các hoạt động hợp tác được triển khai trong lĩnh vực sản xuất điện với mục tiêu tăng gấp đôi sản lượng điện của Pakistan trong sáu tháng. Một hệ thống tài trợ thông qua các khoản cho vay từ các ngân hàng lớn của Trung Quốc và các hợp đồng liên doanh giữa các công ty Trung Quốc và Pakistan đã thiết lập để thực hiện các dự án công nghiệp này. Pakistan cũng giữ một vai trò chủ chốt trong các vấn đề chiến lược, là đối trọng với Ấn Độ, và là đối tác trong cuộc đấu tranh chống khủng bố… Hơn nữa, nước này còn là khách hàng lớn nhất của Trung Quốc trong lĩnh vực mua bán vũ khí, chẳng hạn cung cấp các tên lửa đất đối không LY-80, tàu hộ tống chống tàu ngầm F-22P và gần đây nhất là tàu ngầm S20.

Tuy nhiên, thành công của các quan hệ đối tác với Pakistan không được đảm bảo do nhiều nguy cơ: các vấn đề đặt ra về an ninh trong những khu vực bộ lạc và tại Baloutchistan, thánh địa của các phần tử phiến loạn Duy Ngô Nhĩ; những vấn đề gắn với khả năng của Pakistan tạo một môi trường thuận lợi cho việc thực hiện các dự án công nghiệp (nạn tham nhũng, luật pháp, ổn định chính trị…). Quân đội Pakistan đã xây dựng một đơn đặc nhiệm (dự kiến 12000 quân) để bảo vệ các công nhân Trung Quốc (hơn 8000 người trên hơn 2000 công trường). Ngoài việc thông báo các dự án này được thực hiện tương đối chậm (một số thậm chí bị hủy bỏ), thì tiềm năng kinh tế rất lớn, vấn đề đối với hai nước là cụ thể hóa tiềm năng đó.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện quan hệ quốc tế và chiến lược Pháp

CVĐQT – số 5/2017

Trật tự thế giới mới của Donald Trump – Phần IV


Nói tóm lại, Theodore Roosevelt ủng hộ một chính sách đối ngoại Hoa Kỳ dựa chắc chắn trên lợi ích quốc gia, trên việc xây dựng sức mạnh quân sự và cán cân quyền lực. “Nếu tôi phải lựa chọn giữa một chính sách vũ lực tàn bạo và một chính sách nhạt nhẽo”, ông đã nói với một người bạn, “thì tôi sẽ chọn chính sách vũ lực. Nó sẽ tốt hơn không chỉ cho một dân tộc mà về lâu dài còn cho cả thế giới”. Hội Quốc liên của Wilson đã nhắc ông nhớ tới câu chuyện ngụ ngôn của Aesop “về chuyện sói và cừu thỏa thuận từ bỏ vũ khí như thế nào, để làm tin, cừu đã sa thải chó giữ nhà và ngay lập tức cừu liền bị sói ăn thịt”.

Có lẽ việc duy nhất Roosevelt và Kissinger giống với Barack Obama là cả ba đều nhận được giải Nobel hòa bình – là việc mà tất nhiên có nhiều điều để nói về Ủy ban Nobel hơn là về hòa bình.

Vậy là, theo các nguyên tắc của Roosevelt, chúng ta có thể trông đợi Tổng thống Trump theo đuổi đại chiến lược nào? Dường như rõ ràng là, giống như Theodore Roosevelt, Trump quan niệm về một trật tự quốc tế không còn được nước Mỹ ủng hộ với một giá đắt. Thay vào đó, giống như Roosevelt, ông Trump muốn có một thế giới được vận hành bởi các cường quốc khu vực lớn với những người chỉ huy mạnh mẽ mà tất cả họ đều hiểu rằng bất cứ một trật tự quốc tế lâu bền nào cũng đều phải được dựa trên sự cân bằng quyền lực. Tóm lại, Trump đã có nhiều điểm chung với Roosevelt hơn là ông biết. “Đối với ông”, Kissinger đã viết về Roosevelt, “đời sống quốc tế có nghĩa là tranh đấu, và lý thuyết của Darwin về sự sống sót của sinh vật nào có khả năng thích nghi nhất là một cẩm nang tốt cho lịch sử hơn là đạo đức cá nhân. Theo quan điểm của Roosevelt, người hiền lành được thừa kế trái đất chỉ khi họ mạnh. Đối với ông, nước Mỹ không phải là một đại nghĩa mà là một cường quốc lớn – có khả năng là lớn nhất”. Điều này nghe có vẻ quen thuộc.

“Trong một thế giới được điều hành bởi cường quốc”, Kissinger lập luận, “Roosevelt tin rằng trật tự tự nhiên của các sự việc được phản ánh trong khái niệm “phạm vi ảnh hưởng”, nó phân chia ảnh hưởng nổi trội đối với các khu vực rộng lớn cho các cường quốc cụ thể”. Người đọc sẽ để ý thấy rằng đây chính là kiểu thế giới mà hiện giờ – theo Kissinger – chúng ta đang sống trong đó, cách nhiệm kỳ tổng thống của Roosevelt hơn một thế kỷ.

Nếu áp dụng theo nghĩa đen phép loại suy này thì tất nhiên chúng ta sẽ phải nói đến một chính sách hướng sang Nhật Bản chống lại Nga ở châu Á và hướng vào nước Anh và pháp để chống lại Đức ở châu Âu. Tuy nhiên, điều này sẽ không tính đến được những thay đổi trong cán cân quyền lực đã xuất hiện trong khoảng một trăm năm qua. Để hình dung một chiến lược Roosevelt cho năm 2017, chúng ta cần xem xét một tập hợp các liên minh khả dĩ khác.

Khi tôi suy nghĩ về các phương án lựa chọn của ông Trump ngay sau khi ông thắng cử, tôi đã thực hiện một thí nghiệm tưởng tượng sau đây. Ngược với mọi mong đợi, điều gì sẽ xảy ra nếu ông Trump quyết định thiết lập các mối quan hệ tốt hơn với cả Moskva lẫn Bắc Kinh? Điều này có thẻ sẽ kết hợp cả xu hướng thân Nga của ông với lý lẽ của Kissinger ủng hộ một chính sách hợp tác mới với Trung Quốc. Về mặt lý thuyết, một sự thỏa thuận như thế có thể thực hiện được nếu ông Trump chỉ can dự vào sân khấu kabuki với Trung Quốc về thương mại (là điều mà nhiều người Trung Quốc có thế lực mong muốn ông làm như vậy). Cũng nên kiên định với đường lối cứng rắn đối với chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo mà chiến dịch tranh cử của ông Trump đã đưa ra, bởi vì vấn đề này đã có ba cường quốc lớn – đều là những nước có các cộng đồng thiểu số Hồi giáo đang gia tăng và gây lo lắng – có cùng quan tâm. Và cũng có thể phải kiên định với một việc sắp đặt lại trật tự mới ở Trung Đông để tái áp đặt chế độ cũ cho những ông vua và những nhà độc tài ở các nước Arập và tăng cường cho Israel, tất cả là để hạn chế Iran, những điều này không có lý do lịch sử nào để mong chờ sự trung thực của nước Nga, của Trung Quốc còn ít hơn nhiều.

Hệ quả là, ba cường quốc có thể đồng ý hạ cấp châu Âu khỏi vị thế cường quốc lớn, bằng cách lợi dụng không chỉ Brexit mà còn cả tính chất ngày càng phân mảnh và thu mình của nền chính trị EU. Một cách khả dĩ để ông Trump làm điều này có thể là đề xuất thay thế Hiệp định NAFTA “nhỏ” bằng NAFTA “lớn” – Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Đại Tây Dương, là cái có thể sẽ đưa nước Anh tham gia trực tiếp vào không gian Anh – Đại Tây Dương hậu EU, trong khi đồng thời vẫn giữ được lời hứa của ông Trump về việc thực hiện lời cam kết chống Mexico (mặc dù không chống Canada) trước bầu cử. Đồng thời, người ta tin ông Trump có thể gây sức ép đối với các thành viên khác của NATO để gia tăng các khoản ngân sách quốc phòng hiện tại đáng buồn cười của họ. Cuối cùng, ông ta và Putin có thể cùng nhau hành động để giúp những người theo chủ nghĩa dân túy ở lục địa châu Âu như Marine Le Pen thắng cử vào năm 2017. Như Roosevelt đã phát biểu năm 1906: “Nước Pháp cần phải đi với chúng ta và nước Anh – ở trong khu vực của chúng ta và trong sự phối hợp của chúng ta. Đó là một thỏa thuận mạnh về mặt kinh tế và chính trị”.

Một đặc điểm nổi bật của một chiến lược như vậy là năm ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cuối cùng tất cả có thể hoặc là theo chủ nghĩa dân túy hoặc là độc đoán bị kiểm soát, với giả định rằng Le Pen có thể được giúp đỡ phần nào để vượt qua ranh giới chống lại “hiệp ước cộng hòa” của Pháp. Như vậy, các thể chế an ninh tập thể kiểu Wilson có thể chấm dứt phục vụ cho các lợi ích của các cường quốc lớn như trước đây chưa từng có: đó là sự trả thù của Realpolitik (Chính trị thực tiễn).

Hiển nhiên, phần còn lại của thế giới có thể là những người thua cuộc trong sự công quản quyền lực. Nhật và Đức có thể là những nước thua thiệt nhiều nhất, giống như họ từng là những nước được lợi nhiều nhất từ cấu trúc quốc tế sau chiến tranh đã được phác thảo để đồng thời vừa giải trừ quân bị, vừa cưỡng ép và vừa làm giàu cho họ – mặc dù Kissinger có thể chắc chắn thúc giục chính quyền mới của Mỹ thông qua cách tiếp cận theo kiểu Bismarck đối với Nhật Bản, trong khi vẫn duy trì cam kết của Mỹ đối với quốc phòng của nước này bất chấp quan hệ đối tác mới với Trung Quốc, trong khi khuyến khích Đức vẫn là của châu Âu hơn là theo chủ nghĩa dân tộc trong quan điểm chung của nó.

Thỏa thuận ba bên Mỹ – Trung Quốc – Nga có thể sẽ  lỏng lẻo hơn so với Liên minh Thần thánh hậu Napoleon giữa Áo, Phổ và Nga, nhưng, giống như các bậc tiền bối của họ cách đây hai thế kỷ, những người theo chủ nghĩa tự do có thể sẽ tự tố giác là một Liên minh Phi Thần thánh của những người dân túy và độc đoán, không quan tâm đến quyền con người và luật pháp quốc tế. Các nhà cai trị chuyên quyền khác có thể vui mừng; các đối thủ của họ thì có thể bị hại không chỉ bởi thiếu một sự ủng hộ của phương Tây mà, nguy hiểm hơn, còn bởi phải chịu sự theo dõi của tình báo thông tin. Cả về mặt kinh tế, Khu vực Thịnh vượng chung Bắc Bắn cầu mở rộng có thể phát đạt với sự phương hại đến các nước BRICS khác – gồm Brazil, Ấn Độ và Nam Phi – cũng như đến nhiều nước nhỏ khác đã từng là những nước hưởng lợi chính của thời đại toàn cầu hóa. Đối với các nước vùng Baltic, điều này cũng có thể là một bước ngoặt tai hại của các sự kiện. Cả Cộng hòa Ireland – một hòn đảo châu Âu trên một đại dương Anh – Mỹ – cũng có thể thấy vị trí của mình bất ngờ bị bỏ rơi. Điều này cũng tệ hại đối với Mexico và tồi tệ hơn cho Ukraine. Nhưng đối với thế giới xét trên tổng thể, ít nhất nó cũng có thể là một trật tự thứ hạng. Và có lẽ dưới sự bảo hộ của nó sẽ không có chiến tranh thế giới nào nổ ra.

Cái gì có thể cản đường một giải pháp theo kiểu Roosevelt như vậy cho những vấn đề được Kissinger xác định như là những vấn đề mà một Tổng thống Trump mới đắc cử đang phải đương đầu? Một sự phản bác rõ ràng có thể cho rằng một sự phối hợp giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc, cũng như với Anh và Pháp, là một việc không có tiền lệ, nhưng sự phản bác này rõ ràng là vô nghĩa: Chính kiểu liên minh này là cái đã chiến thắng trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Điều phản bác thứ hai có thể cho rằng một kiểu liên minh như vậy là không bền vững do thiếu một nước gây hấn như Đức và Nhật. Tuy nhiên, Chiến tranh Lạnh chỉ đến năm 1948 mới bắt đầu, và ở Trung Quốc Đảng Cộng sản chỉ đến năm sau mới giành được quyền lực: Cho đến thời điểm này, nhiều người biết điều vẫn hy vọng vào việc duy trì được khối liên minh của thời chiến. Quả thực, đó từng là ý đồ của Franklin Roosevelt khi ông hình dung các thành viên thường trực cảu Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc như là “bốn cảnh sát” (cộng với Pháp). Ông đã đánh giá thấp tính thâm hiểm của Stalin và sự kém cỏi của Tưởng Giới Thạch. Một điều phản bác thứ ba có thể là Nga và Trung Quốc, với 2600 dặm đường biên giới chung, sớm hay muộn sẽ lại phải tranh chấp, như họ đã từng xung đột vào cuối những năm 1960. Có lẽ: ngoại trừ bất kể những bất đồng nào có thể được tiên đoán từ chiến lược “Một vành đai, một con đường” của Trung Quốc nhằm mở rộng kinh tế vào Trung Á còn phải được hiện thực hóa.

Chúng ta hãy xem xét những phản biện hợp lý hơn. Thứ nhất, chính quyền Trump được ủy thác gia tăng ngân sách quốc phòng, đi ngược lại những cắt giảm “để riêng”, và đóng hàng trăm tàu mới để kiểm soát Thái Bình Dương. Động lượng trong Hải quân Mỹ là gia tăng sự tự do các hoạt động hàng hải ở Biển Đông Việt Nam, và thách thức những yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ông Trump có thể lựa chọn phương án hành động này như là một phần của chiến thuật đấm bốc vô hình với Bắc Kinh. Đây có thể là cơ hội vàng cho chính phủ Nhật Bản để họ lợi dụng thái độ công khai chống Trung Quốc của ông Trump. Theo quan điểm của Thủ tướng Shinzo Abe – là nhà lãnh đạo nhanh tay nhất trên thế giới thu xếp một cuộc gặp với Tổng thống Mỹ mới đắc cử – một trăm ngày đầu của nhiệm kỳ Tổng thống Trump là thời kỳ ngắn ngủi mà ông cần phải có được không chỉ sự tái khẳng định của ông Trump về mối liên minh Mỹ – Nhật, mà có lẽ còn phải có được sự ủng hộ của ông Trump đối với sự bổ sung Hiến pháp mà ông Abe đang muốn để chấm dứt việc từ bỏ chiến tranh của Nhật Bản. Đầu năm nay, Bắc Kinh đã vạch một “đường cấm” của riêng mình khi nó đe dọa sẽ trả đũa nếu tàu chiến Nhật Bản tham gia với Hoa Kỳ trong các hoạt động tự do hàng hải.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Niall Furgeson – Donald Trump’s New World Order – The American Interest, Vol 12, No 4, 21/11/2016.

TN 2017 – 1, 2 & 3

Chú trọng dân sinh văn hóa, thúc đẩy xã hội hài hòa – Phần cuối


Xem xét từ góc độ cơ chế thực hiện, mấu chốt của chú trọng dân sinh văn hóa là ở việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống phục vụ văn hóa chung (hay văn hóa cộng đồng). Vấn đề hệ thống phục vụ văn hóa chung lấy việc thực hiện quyền lợi văn hóa của người dân làm logic xuất phát, cũng là thỏa mãn nhu cầu văn hóa của toàn xã hội, hướng đến công chúng để đưa ra các sản phẩm văn hóa cộng đồng và sự phục vụ cùng các hệ thống cơ chế liên quan, nó là bộ phận hợp thành của hệ thống phục vụ cộng đồng quốc gia. Xuất phát điểm chủ yếu của nó chính là đảm bảo lợi ích văn hóa cho quần chúng nhân dân, duy trì quyền lợi văn hóa cho người dân; nội dung chủ yếu gắn liền với bốn phương diện cơ bản: lý luận văn hóa và sáng tạo cơ chế mới đối với hệ thống giá trị văn hóa, các thiết chế văn hóa chung và môi trường sinh thái văn hóa, chủ thể vi mô hỗn hợp của sự nghiệp phục vụ văn hóa chung, thể chế quản lý giám sát và hệ thống chính sách pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống phục vụ văn hóa cộng đồng cũng chính là con đường chủ yếu để thực hiện, duy trì và phát triển tốt quyền và lợi ích văn hóa cơ bản của người dân. Ngoài ra, cũng cần phải coi trọng việc xây dựng hệ thống phục vụ thị trường văn hóa. Việc xây dựng đó đương nhiên cần tuân theo quy luật thị trường, nhưng vẫn phải thể hiện ý thức dân sinh, từ đó mà hình thành hai nhân tố tác động hữu cơ với nhau trong hệ thống phục vụ văn hóa.

Xem xét từ góc độ mục đích cuối cùng, chú trọng dân sinh văn hóa là nhằm giải quyết vấn đề tinh thần gia đình, thực hiện quyền lợi và nhu cầu tinh thần đa tầng của người dân. Con người là tồn tại văn hóa, văn hóa là biểu hiện người của con người, cũng là huyết mạch và linh hồn cho sự phát triển và sinh tồn của một dân tộc, tinh thần gia đình và ký ức tinh thần dân tộc thể hiện sự đồng cảm của dân tộc, phản ánh sức sống của dân tộc, sức kết dính của dân tộc. Văn hóa của một dân tộc là sự kết dính của cảm thụ hiện thực và nhận thức lịch sử của dân tộc đó đối với thế giới và đối với bản thân, tích tụ và nhuần nhuyễn các chuẩn tắc hành vi, truy cầu tinh thần, bao gồm các thói quen sinh hoạt chung, phương thức tư duy, phương thức hoạt động, tình cảm đạo đức, thị hiếu thẩm mỹ, tôn giáo tín ngưỡng, tiêu chuẩn giá trị… Do vậy, con người không thể chỉ dừng lại ở chỗ truy cầu và thụ hưởng trên phương diện vật chất, không cần tinh thần gia đình, nếu tinh thần không có nơi nương tựa, tâm hồn sẽ trở nên trống rỗng. Xã hội hiện đại đang trong giai đoạn chuyển đổi, đi liền với nó là các hiện tượng tâm lý như ảo tưởng, trống rỗng, lo âu, lạnh nhạt, khiếp sợ, bất an,… Do vậy, cần phải thông qua những quan tâm mang tính nhân văn, những tư vấn tâm lý để giải quyết các vấn đề đó. Mục đích cuối cùng của việc xây dựng dân sinh văn hóa chính là xây dựng tinh thần gia đình, giải quyết sự bình yên tinh thần, làm cho cuộc sống của quần chúng nhân dân càng thêm hạnh phúc, vui vẻ. Đương nhiên, ở đây cần phải chú ý nhiều tầng bậc khác nhau của sự truy cầu tinh thần, không chỉ phải chú trọng việc xây dựng tinh thần gia đình chung của toàn thể dân tộc, mà còn phải chú ý đến sự truy cầu tinh thần của các cộng đồng khác nhau, giai tầng khác nhau, các cá nhân khác nhau.

3/ Chú trọng văn hóa dân sinh thể hiện tính tự giác văn hóa mới

Phí Hiếu Thông đã từng cho rằng, “tự giác văn hóa là chỉ con người trong một nền văn hóa nhất định, tự hiểu về nền văn hóa của mình, hiểu lịch sử của nó, quá trình hình thành của nó, cũng như đặc sắc và xu thế phát triển của nó. Ở đây không chứa đựng bất kỳ ý nghĩa nào của “trở về văn hóa”, không phải là “phục cổ”, đồng thời cũng không chủ trương “tây hóa hoàn toàn” hoặc “tha hóa hoàn toàn”. Tự giác văn hóa chính là chỉ sự tự giác ngộ, tự phản tỉnh, tự sáng tạo của văn hóa. Do rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, tự giác văn hóa của chúng ta trì trệ hơn so với tự giác đối với lực lượng sản xuất, xây dựng văn hóa cũng khá chậm chạp. Việc chú trọng dân sinh văn hóa thể hiện một cách đầy đủ tự giác văn hóa mới trong tiến trình xây dựng xã hội hài hòa ở Trung Quốc hiện nay.

Thứ nhất, biểu hiện định hướng giá trị lấy dân làm gốc

Quyền và lợi ích văn hóa cũng như nhu cầu văn hóa của quần chúng nhân dân mang tính đa dạng và có nhiều cấp độ; các khu vực khác nhau, các giai tầng khác nhau, các cộng đồng khác nhau đều có những nhu cầu văn hóa khác nhau. Từ sau cải cách mở cửa, vấn đề tôn trọng quyền lợi văn hóa của người dân, nỗ lực thúc đẩy phương diện công bằng văn hóa đã giành được những tiến triển nhất định. Nhưng, tốc độ thực hiện quyền lợi văn hóa vẫn còn khá thấp, chủ yếu thể hiện ở chỗ: Một là, những chi tiêu cho văn hóa và giải trí có tỷ trọng tương đối thấp trong tổng chi phí của người dân; Hai là, trong sự phát triển của văn hóa, có sự mất cân bằng trong phát triển giữa các khu vực, giữa thành thị và nông thôn, giữa các giai tầng khác nhau, cụ thể sự phát triển văn hóa khu vực tây trung bộ rõ ràng chậm chạp hơn khu vực đông bắc, nông thôn chậm chạp hơn thành thị; Ba là, thiếu sự tôn trọng quyền biểu đạt đối với các nhu cầu văn hóa của quần chúng, quyền tham gia vào các quyết sách văn hóa chung; Bốn là, phương diện thực thi cơ sở văn hóa cộng đồng còn thiếu. Điều này làm cho việc thực hiện bình đẳng trong thụ hưởng văn hóa của người dân không thể đảm bảo. Chú trọng dân sinh văn hóa cần phải lấy việc tôn trọng quyền lợi văn hóa của người dân, thỏa mãn nhu cầu văn hóa của nhân dân làm xuất phát điểm, cần phải kiên trì tính công ích, tính công bằng và hiệu quả xã hội, coi đó là những nguyên tắc đầu tiên, đem lại cho người dân sự ưu đãi, miễn phí, phục vụ văn hóa một cách hiệu quả, nhanh chóng, giúp cho người dân có thể được hưởng những thành quả của sự phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội.

Thứ hai, nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của văn hóa đối với việc nâng cao quyền lực mềm của đất nước

Sức mạnh của một đất nước bao gồm quyền lực cứng và quyền lực mềm, quyền lực cứng biểu hiện ở thực lực trên các phương diện chủ yếu, như quân sự, kỹ thuật, kinh tế. Quyền lực mềm biểu hiện ở sức lôi cuốn của văn hóa, năng lực thuyết phục trên lĩnh vực ngoại giao, sức thu hút của chế độ chính trị, trong đó sức ảnh hưởng, độ kết dính và lôi cuốn của văn hóa đóng vai trò hạt nhân của quyền lực mềm. Trong thời đại ngày nay, quyền lực mềm của văn hóa đóng vai trò ngày càng quan trọng trong năng lực cạnh tranh của một đất nước. Quốc gia nào chiếm vị trí đỉnh cao trong phát triển văn hóa, quốc gia đó sẽ nắm quyền chủ động trong cạnh tranh quốc tế. Như trên đã trình bày, xây dựng dân sinh văn hóa bao gồm nội dung ở nhiều cấp độ khác nhau, bất luận sự sáng tạo và sản sinh các sản phẩm văn hóa hay các thiết chế văn hóa, thực hiện và tôn trọng các quyền lợi văn hóa của nhân dân, đều là xây dựng hệ thống phục vụ văn hóa cũng như xây dựng tinh thần gia đình của quần chúng nhân dân, đều là nhằm nâng cao quyền lực mềm văn hóa. Quyền lực mềm văn hóa, ở cấp độ cao nhất, biểu hiện trạng thái tinh thần quốc gia, sức kết dính nội tại và phẩm cách ý chí, tất cả những cái đó đến từ sự đồng thuận đối với các giá trị nòng cốt trong xã hội của mọi người. Theo đó, trọng tâm của việc xây dựng quyền lực mềm là xây dựng dân sinh văn hóa, hạt nhân của xây dựng dân sinh văn hóa là xây dựng tinh thần gia đình.

Thứ ba, thể hiện lựa chọn lý tính đối với sự phát triển và sáng tạo văn hóa mới của Trung Quốc đương đại

Văn hóa Trung Quốc đương đại thể hiện tính phong phú, đa dạng, sáng tạo và phát triển văn hóa mới. Chú trọng văn hóa dân sinh cần phải tiếp thu và học hỏi những thành tựu văn hóa cổ kim và trên thế giới. Sự tồn tại và phát triển một nền văn hóa của bất kỳ dân tộc hay quốc gia nào cũng đều phải được kế thừa, phát triển, sáng tạo trên nền tảng văn hóa truyền thống. Nếu xa rời truyền thống, đứt đoạn, thì sẽ tự đánh mất mình, đánh mất gốc. Đối với văn hóa Trung Hoa, cần nỗ lực duy trì tính dân tộc, thể hiện tính thời đại nhằm làm cho văn hóa phù hợp với xã hội và văn minh hiện đại; đối với văn hóa của các dân tộc, cần tăng cường khai thác và giữ gìn; đối với đặc sắc văn hóa truyền thống của các khu vực, vùng miền, cần khuyến khích và tạo điều kiện phát triển. Như vậy, tinh thần gia đình của dân sinh văn hóa mới có thể gắn kết với thực tiễn, với cuộc sống, với quần chúng, mới có thêm sức và lực mới. Cùng với sự tăng tốc của quá trình toàn cầu hóa kinh tế, nhân loại đang bước vào giai đoạn có những xung đột lớn về các giá trị văn hóa. Xây dựng dân sinh văn hóa còn phải đối diện với sự tồn tại khách quan của tính đa dạng văn hóa thế giới. Tính đa dạng, một mặt, mang lại tính phong phú của văn hóa; mặt khác, cũng mang đến những thách thức đối với văn hóa truyền thống dân tộc và nguy cơ xung đột văn hóa. Trong quá trình ngày càng phức tạp của sự giao lưu văn hóa quốc tế, sự tăng tốc của các sản phẩm văn hóa trong và ngoài nước đã mở rộng tầm mắt văn hóa cho người dân, kích thích những nhu cầu văn hóa chung, tăng cường sự phục vụ các sản phẩm văn hóa mang sắc thái thời đại, cũng là mở rộng sức ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trên phạm vị thế giới; đồng thời, cũng mang đến những thách thức và xung đột đối với văn hóa truyền thống Trung Quốc, chẳng hạn, một số hình thức văn hóa truyền thống địa phương, như hý kịch, các ngày lễ truyền thống,… dần dần mai một. Mặc dù vậy, Trung Quốc hiện vẫn luôn tràn đầy tự tin, hội nhập với thế giới thông qua việc đối diện với chỉnh thể văn hóa của quá trình toàn cầu hóa, đối diện với hoàn cảnh lịch sử thế giới của quá trình toàn cầu hóa để từ đó khảo nghiệm vấn đề dân sinh văn hóa.

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn & Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Vấn đề của môn xã hội học nhận thức – Phần III


Mối quan tâm của Scheler đến môn xã hội học nhận thức nói riêng và các vấn đề xã hội học nói chung, về căn bản chỉ là một giai đoạn ngắn ngủi trong sự nghiệp triết học của ông. Mục tiêu cuối cùng của ông là thiết lập một môn nhân học triết học có khả năng vượt qua tính tương đối của những quan điểm vốn nằm trong những bối cảnh lịch sử và xã hội đặc thù. [Đối với ông] môn xã hội học nhận thức là một công cụ phục vụ cho mục tiêu ấy, với chủ đích chính là gạt bỏ những khó khăn do xu hướng tương đối luận [relativism] gây ra để có thể tiến hành công việc triết học thực thụ. Xã hội học nhận thức của Scheler, theo đúng nghĩa của nó, là ancilla philosophie [nàng hầu của triết học], và hơn nữa [là nàng hầu] của một ngành triết học rất chuyên biệt.

Theo chiều hướng này, xã hội học nhận thức của Scheler về căn bản là một phương pháp âm bản. Scheler lập luận rằng mối liên hệ giữa “các nhân tố ý thể” (Idealfaktoren) và “các nhân tố hiện thực” (Realfaktoren) – các thuật ngữ này rõ ràng gợi lại sơ đồ “cơ sở hạ tầng/kiến trúc thượng tầng” của Marx – chỉ là một mối liên hệ điều tiết [regulative]. Nghĩa là, “các nhân tố hiện thực” điều tiết các điều kiện mà theo đó những “nhân tố ý thể” nhất định có thể xuất hiện trong lịch sử, nhưng lại không thể tác động đến nội dung của “các nhân tố ý thể” này. Nói cách khác, xã hội định đoạt sự tồn tại hiện có (Dasein) chứ không định đoạn bản tính (Sosein) của các ý tưởng. Như vậy, môn xã hội học nhận thức là phương sách được dùng để khảo sát cách thức chọn lọc các nội dung ý thể [ideational contents] trong lịch sử xã hội – hiểu theo nghĩa là bản thân các nội dung này độc lập với sự quy định nhân quả của lịch sử xã hội, và do đó chúng nằm ngoài tầm với của sự phân tích xã hội học. Nếu muốn mô tả phương pháp của Scheler một cách hình tượng, thì [chúng ta có thể nói rằng] đây là việc ném một mẩu bánh đỗ dành cho “bà chằng” của tính tương đối, nhưng làm như vậy thì chỉ càng dấn sâu vào phái đài của các kiểu xác tín bản thể luận.

Trong khuôn khổ khiêm tốn một cách chủ ý (và không tránh được) này, Scheler đã phân tích rất chi tiết cách thức mà theo đó kiến thức của con người được xã hội sắp xếp vào trật tự. Ông nhấn mạnh rằng kiến thức mà con người có được trong xã hội là một a priori [tiên thiên] đối với kinh nghiệm cá nhân, cung cấp cho kinh nghiệm cá nhân cái trật tự ý nghĩa của nó. Trật tự này, mặc dù có liên quan tới một hoàn cảnh lịch sử – xã hội đặc thù nào đó, xuất hiện ra trước cá nhân như một lối nhìn tự nhiên về thế giới. Scheler gọi đây là “thế giới quan tự nhiên – tương đối” (relativnatűrliche Weltanschauung) của một xã hội – đây là một khái niệm mà cho đến nay vẫn còn có thể được coi là khái niệm trung tâm của môn xã hội học nhận thức.

Sau khi Scheler “phát minh” ra môn xã hội học nhận thức, ở Đức đã diễn ra một cuộc tranh luận rộng rãi bàn về hiệu lực, phạm vi và khả năng áp dụng bộ môn mới mẻ này. Từ cuộc tranh luận này, đã nảy sinh một công thức diễn đạt mới đánh dấu bước chuyển tiếp của môn xã hội học nhận thức sang một bối cảnh xã hội học hạn hẹp hơn. Chính là với công thức diễn đạt này mà môn xã hội học nhận thức xuất hiện trong thế giới nói tiếng Anh. Đó là công thức diễn đạt của Karl Mannheim. Chúng ta có thể nói một cách chắc chắn rằng khi các nhà xã hội học ngày nay nghĩ về môn xã hội học nhận thức, dù là theo hoặc chống, họ đều thường sử dụng cách diễn đạt của Mannheim về bộ môn này. Trong nền xã hội học Mỹ, đây là điều dễ hiểu vì người ta dễ dàng tiếp cận được hầu hết các công trình của Mannheim bằng tiếng Anh (thực vậy, một số công trình của Mannheim được viết bằng tiếng Anh trong thời kỳ ông giảng dạy ở Anh sau khi xuất hiện chế độ Quốc xã ở Đức, hoặc được xuất bản bằng các phiên bản Anh ngữ đã được ông duyệt lại), trong khi đó, các công trình của Scheler về xã hội học nhận thức đến bây giờ vẫn chưa được dịch [sang tiếng Anh]. Ngoài nhân tố “truyền bá” này, các công trình của Mannheim ít “nặng gánh” triết học hơn so với các công trình của Scheler. Điều này đặc biệt đúng với các công trình thời kỳ sau của Mannheim, và chúng ta cũng có thể thấy rõ điều này nếu so sánh phiên bản Anh ngữ của công trình chính yếu của ông, Ideology and Utopia [Ý thức hệ và sự không tưởng] với nguyên bản bằng tiếng Đức. do vậy, Mannheim đã trở thành một gương mặt “gần gũi” hơn với các nhà xã hội học, kể cả những người phê phán lẫn những người không quan tâm lắm tới lối tiếp cận của ông.

Quan niệm của Mannheim về môn xã hội học nhận thức đã có ảnh hưởng sâu rộng hơn nhiều so với quan điểm của Scheler, có lẽ vì việc đối chất với lý thuyết marxist tỏ ra đậm nét hơn trong công trình của ông. Ở đây, xã hội được coi là định đoạt không chỉ sự xuất hiện, mà định đoạt cả nội dung của sự hình thành ý tưởng [ideation] nơi con người, ngoại trừ ngành toán học và ít ra một vài ngành khoa học tự nhiên. Do vậy, [kể từ Mannheim] môn xã hội học nah65n thức đã trở thành một phương pháp thực chứng nhằm nghiên cứu hầu như mọi góc cạnh của tư duy con người.

Điều đáng nói là mối bận tâm chủ yếu của Mannheim chính là hiện tượng ý thức hệ. Ông phân biệt giữa khía cạnh cá biệt, khía cạnh toàn diện và khía cạnh tổng quát của khái niệm ý thức hệ – [khía cạnh cá biệt]: ý thức hệ xét như là một bộ phận của tư tưởng của một bên đối kháng; [khía cạnh toàn diện]: ý thức hệ xét như là toàn bộ tư tưởng của một bên đối kháng (tương tự như “ý thức lầm lạc” của Marx); và [khía cạnh tổng quát]: (đến đây thì, như Mannheim từng nghĩ, ông đi xa hơn ý tưởng của Marx) ý thức hệ không chỉ là tư tưởng của một bên đối kháng, mà cả của chính cá nhân. Với khái niệm ý thức hệ hiểu theo nghĩa tổng quát này, chúng ta đã đạt tới cấp độ xã hội học nhận thức – đó là quan niệm cho rằng không một tư tưởng nào của con người (chỉ trừ những ngoại lệ đã nêu trên) có thể miễn nhiễm trước những ảnh hưởng ý thức hệ hóa [ideologizing influences] của bối cảnh xã hội của nó. Qua việc mở rộng lý thuyết về ý thức hệ, Mannheim đã tìm cách trừu xuất hóa vấn đề trung tâm của lý thuyết này ra khỏi bối cảnh sử dụng [thuật ngữ ý thức hệ] trong lĩnh vực chính trị, và luận giải như đây là một vấn đề tổng quát của môn nhận thức luận [epistemology] và môn xã hội học lịch sử [historical sociology].

Tuy Mannheim không đồng ý với những tham vọng bản thể luận của Scheler, nhưng ông vẫn cảm thấy không yên tâm trước xu hướng cái gì cũng quy vào ý thức hệ [pan-ideologism] mà lối tư duy của ông có vẻ như đưa đẩy ông tới. [Vì thế] ông đã tạo ra thuật ngữ “tương quan luận” [relationism] (khác với “tương đối luận” [relativism]) để mô tả nhãn quan nhận thức luận của môn xã hội học nhận thức của ông – đây không phải là một sự đầu hàng của tư duy trước các tính tương đối lịch sử – xã hội, mà là một sự thừa nhận điềm tĩnh rằng kiến thức luôn luôn phải là kiến thức xuất phát từ một lập trường nào đó. Về điểm này, có lẽ ảnh hưởng của Dilthey đóng vai trò rất quan trọng trong tư tưởng của Mannheim – vấn đề của lý thuyết marxist được giải quyết nhờ những công cụ của tư tưởng duy sử luận. Dù vậy, Mannheim tin rằng những ảnh hưởng ý thức hệ hóa, tuy không thể loại trừ chúng hoàn toàn, vẫn có thể được giảm nhẹ nhờ sự phân tích có hệ thống về những lập trường khác nhau trong xã hội càng nhiều càng tốt. Nói cách khác, đối tượng của tư duy dần dần trở nên sáng tỏ hơn nhờ quá trình tích lũy các nhãn quan khác nhau về nó. Đây phải là nhiệm vụ của môn xã hội học nhận thức, và nhờ vậy môn này sẽ phải trở thành một trợ thủ quan trọng trong công cuộc truy tầm bất cứ sự hiểu biết đúng đắn nào về các biến cố của con người.

Mannheim cho rằng các nhóm xã hội thường khác biệt nhau lớn lao về khả năng vượt ra khỏi lập trường hạn hẹp của mình. Ông đặt niềm hy vọng chủ yếu của mình vào “giới trí thức không bị ràng buộc về mặt xã hội” (freischewebende Intelligenz, một thuật ngữ bắt nguồn từ Alfred Weber), một loại tầng lớp nằm xen kẽ [giữa các tầng lớp khác] mà ông cho là tương đối độc lập với các lợi ích giai cấp. Mannheim cũng nhấn mạnh đến sức mạnh của tư duy “không tưởng” [utopian] – đây là thứ tư duy (giống như ý thức hệ) sản xuất ra một hình ảnh thiên lệch về thực tại xã hội, nhưng (khác với ý thức hệ) nó có năng lực chuyển hóa thực tại ấy theo hình ảnh của nó.

Khỏi cần phải nói, những nhận xét trên đây không thể trình bày đầy đủ và đúng đắn cả quan niệm của Scheler lẫn quna niệm của Mannheim về bộ môn xã hội học nhận thức. Đây không phải là chủ đích của chúng tôi ở đây. Chúng tôi đã chỉ nêu ra một số đặc điểm then chốt của hai quan niệm này, vốn từng được gọi một cách đúng đắn là một quan niệm “quân bình” và một quan niệm “triệt để” về xã hội học nhận thức. Điều đáng lưu ý là sự phát triển sau đó của môn xã hội học nhận thức, trong phần lớn các trườn ghợp, là những sự phê phán và những sự cải biến đổi với hai quan niệm này. Như chúng tôi đã nói, công thức diễn đạt của Mannheim về xã hội học nhận thức đã đặt ra khuôn khổ quy chiếu cho bộ môn này kể từ đó trở đi, đặc biệt là trong giới xã hội học khối Anh ngữ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Peter L. Berger, Thomas Luckmann – Sự kiến tạo xã hội về thực tại – NXB TT 2015.

Tư duy khởi sự kinh doanh – Phần XII


Mấy năm lại đây, Chính phủ rất quan tâm và quyết tâm cải thiện môi trường kinh doanh nước ta. Đặc biệt những năm 2014 – 2015 nhiều cải cách hành chính đã được triển khai từ chính phủ đến các cơ quan cấp bộ và các địa phương cả nước với quyết tâm giảm thủ tục hành chính theo định hướng đến năm 2016 môi trường kinh doanh nước ta đạt trung bình nhóm ASEAN-4 (Hộp dưới).

Việt Nam muốn tiến sát Thái Lan về môi trường kinh doanh

Chính phủ yêu cầu đến năm 2016, môi trường kinh doanh đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN-4, tiến gần với Thái Lan

Thông tin trên được tiến sĩ Nguyễn Đình Cung – Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho biết tại Hội thảo sáng nay (12/3/15). “Nếu môi trường kinh doanh Việt Nam đạt mức trung bình ASEAN-4 thì sẽ tiến gần đến Thái Lan”, Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung phát biểu.

Yêu cầu này cho thấy Chính phủ tiếp tục nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, trong bối cảnh 3 – 5 năm tới là giai đoạn then chốt đối với tiến trình hội nhập quốc tế, sau khi hoàn tất đàm phán và bắt đầu triển khai hiệp định thương mại tự do (FTA) với các nước chủ chốt, xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN.

Trước đó, Nghị quyết 19 ban hành đầu năm 2014 đặt mục tiêu đến cuối năm nay chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam đạt và vượt mức trung bình các nước ASEAN-6 (gồm Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Brunei). Tuy nhiên, sau một năm thực hiện, Chính phủ đánh giá cần gia tăng nhiệm vụ hơn nữa cho các Bộ, ngành, địa phương, bởi hơn một nửa giải pháp vẫn bị đánh giá có năng lực cạnh tranh và môi trường kinh doanh thấp trong khu vực.

Chẳng hạn, đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới về năng lực cạnh tranh cho thấy Việt Nam xếp thứ 68, sau các nước Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines. Môi trường kinh doanh cũng được Ngân hàng thế giới xếp ở vị trí 78 trên 189 quốc gia và vùng lãnh thổ, kém Thái Lan 52 bậc.

Tại phiên họp thường kỳ tháng 2/2015, Chính phủ cũng đã tập trung bàn luận về các giải pháp để cải thiện xếp hạng. Theo đó, đến cuối năm nay, một số chỉ tiêu phải giảm một nửa thời gian thực hiện so với hiện nay như nộp thuế, tiếp cận điện, làm thủ tục phá sản… Sang năm 2016, Việt Nam đặt mục tiêu lọt top 60 nước trên thế giới về khởi sự kinh doanh, top 50 về bảo vệ nhà đầu tư, top 20 về chỉ số tiếp cận tín dụng.

Nhằm hoàn thành mục tiêu, Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành phải tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, đảm bảo cạnh tranh minh bạch, bình đẳng, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và tái cơ cấu nền kinh tế…

Hàng năm tổ chức VCCI đã sử dụng các tiêu chí nhất định để xếp hạng tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh cho 63 tỉnh/thành ở nước ta. Những tỉnh xếp hạng cao đã chú trọng đến việc tạo các điều kiện thuận lợi nhất định cho hoạt động kinh doanh; ngược lại, các tỉnh xếp sau đang ít chú ý đến cải thiện môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.

Thực trạng này của môi trường kinh doanh nước ta đã gây ra rất nhiều khó khăn, thậm chí làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ta. Điều này dẫn đến những tính toán, lựa chọn của những người khởi sự kinh doanh: trước khi khởi sự bên cạnh việc nghiên cứu cơ hội kinh doanh phải chú ý đánh giá chính xác môi trường kinh doanh để lựa chọn cho mình nơi kinh doanh thuận lợi. Khi đã chấp nhận, người sắp khởi nghiệp phải chú ý nghiên cứu các điều kiện môi trường kinh doanh rất cụ thể tại địa phương mình muốn kinh doanh để thật am hiểu khi tiến hành các hoạt động kinh doanh, giải quyết các công việc có liên quan tại các cơ quan công quyền. Nếu không nhận thức đúng hoặc bỏ qua các vấn đề này đôi khi hoạt động kinh doanh “coi như” chấm dứt ngay từ khi mới khởi sự. Mặt khác, mỗi nghiệp chủ lại đều cần nhận thức được chính bản thân mình cũng có trách nhiệm góp phần làm lành mạnh môi trường kinh doanh mà mình hoạt động trong đó.

3.2.3/ Nền kinh tế thị trường mang tính đan xen

Nhiều doanh nghiệp nước ta ngày nay kinh doanh trong nền kinh tế thị trường mang tính đan xen: vừa ở nơi thị trường mang tính cạnh tranh, vừa ở nơi mà thị trường chưa hoặc chưa thực sự cạnh tranh. Trong khi nước ta chưa có thị trường cạnh tranh thì nhiều thị trường ở nhiều nước đã mang tính cạnh tranh. Hơn nữa, dù thị trường tổng thể ở nước ta chưa thực sự cạnh tranh thì thị trường rất nhiều loại sản phẩm cụ thể cũng đã mang tính cạnh tranh. Nhiều doanh nghiệp nước ta vẫn phải trực tiếp hoặc gián tiếp cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng loại của nước ngoài. Vì thế, doanh nhân không thể chỉ am hiểu thị trường chưa cạnh tranh lại không am hiểu thị trường mang tính cạnh tranh.

Cầu là mối quan hệ giữa giá của một mặt hàng với lượng cầu đối với mặt hàng đó, trong điều kiện những yếu tố khác không đổi. Giá được đo theo đơn vị tiền và lượng cầu được tính theo đơn vị hàng mà người tiêu dùng sẵn lòng mua và có thể mua trong một thời điểm. Quy luật cầu cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa giá và lượng cầu: khi giá tăng, lượng cầu của người tiêu dùng giảm đi.

Cung là mối quan hệ giữa giá của một mặt hàng với lượng cung đối với mặt hàng đó, trong điều kiện những yếu tố khác không đổi. Giá được đo theo đơn vị tiền và lượng cung được tính theo đơn vị hàng mà người bán sẵn lòng bán và có thể bán trong một thời điểm. Quy luật cung cho thấy mối quan hệ đồng biến giữa giá và lượng cung: khi giá tăng, lượng cung của người bán cũng tăng lên.

Mức giá mà lượng cầu bằng lượng cung gọi là giá cân bằng thị trường hay là giá cả thị trường. Giá này chính là giá cả tại thị trường cạnh tranh. Tại mức giá này, người bán đã bán được bằng với mức giá mà họ mong muốn và bán được hết hàng, người mua cũng mua được hàng với giá mà họ muốn mua. Nếu giá thị trường thấp hơn giá cân bằng, lượng cầu của người tiêu dùng sẽ vượt lượng cung của nhà sản xuất dẫn đến một số người có cầu nhưng không được đáp ứng; nếu giá thị trường cao hơn mức giá cân bằng, lượng cầu của người tiêu dùng sẽ ít hơn lượng cung của nhà sản xuất, dẫn đến có một lượng cung không được người tiêu dùng chấp nhận. Cũng vì vậy, người mua và người bán đều nhận thức được điểm cân bằng cung – cầu là điểm đem lại lợi ích lâu dài cho cả hai phía.

Như thế, muốn kinh doanh nghiệp chủ phải có nhận thức giá cả phải là giá cả thị trường (chứ không phải giá do người bán mong muốn); Khi bán hàng không thể và không chú ý nghiên cứu thị trường: cung – cầu, tính chất cạnh tranh,… và chính điều này mới đem lại lợi ích và sự phát triển lâu dài cho doanh nghiệp.

Nếu nhìn ra toàn cầu thì các doanh nghiệp nước ta đang kinh doanh trong môi trường vừa chưa thị trường (như đã chỉ ra ở đặc điểm trên), vừa mang đặc điểm thị trường cạnh tranh (với nhiều doanh nghiệp có quan hệ xuất nhập khẩu hàng hóa). Ngày nay, hình ảnh phổ biến của các thị trường trên thế giới là thị trường cạnh tranh, xu thế phát triển chủ yếu ngày nay là xu thế mở rộng cạnh tranh của thị trường. Ở nước ta, thị trường cũng mang nhiều màu sắc: có loại hàng hóa thị trường đã mang tính cạnh tranh như thị trường bán lẻ hàng hóa, thị trường nông sản ở các chợ truyền thống, thị trường viễn thông… và cũng còn nhiều thị trường của nhiều loại hàng hoa chưa thực sự là thị trường; đặc biệt là thị trường hàng hóa liên quan đến các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước,…

Trong bối cảnh này, một lời khuyên đơn giản: thứ nhất là nguyên tắc “nhập gia, tùy tục”, kinh doanh ở thị trường nào phải biết ra quyết định phù hợp với thực trạng thị trường đó; thứ hai, nếu muốn kinh doanh thành đạt trong nền kinh tế thị trường hiện đại người khởi nghiệp hãy biết “quên” dần đi các cách ứng xử trong thị trường phi cạnh tranh hoặc ít cạnh tranh để hình thành các cách thức ra quyết định kinh doanh trong môi trường cạnh tranh.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Viết Nga (đcb) – Giáo trình khởi sự kinh doanh – NXB ĐHKTQD 2016.

Xây dựng vịnh Cam Ranh và chiến lược cân bằng của Việt Nam ở Biển Đông – Phần cuối


Việt Nam mong muốn lôi kéo các quốc gia bên ngàoi khu vực để gây rối loạn tình hình Nam Hải, nhưng cũng không muốn kích động Trung Quốc quá mức, làm xấu đi quan hệ Trung – Việt, vấn đề mở cửa vịnh Cam Ranh rất thận trọng. Ví dụ như chuyến thăm vịnh Cam Ranh của Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản vào ngày 12/4/2016. Nhật Bản vốn có kế hoạch là tàu nước ngoài đầu tiên đến thăm, nhưng Việt Nam bất ngờ chuyển địa điểm đến thăm của tàu hải quân Singapore từ Đà Nẵng sang vịnh Cam Ranh vào giữa tháng 3/2016, để hải quân Singapore mới là lực lượng hải quân nước ngoài đầu tiên đến thăm vịnh Cam Ranh; thứ hai, khi Lực lượng phòng vệ trên biển của Nhật Bản thăm Cam Ranh, Viẹt Nam đã cử sĩ quan có quân hàm khá thấp ra tiếp đón, cuối cùng, trong hạm đội hoàn chỉnh của Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản thăm Đông Nam Á có một tàu ngầm Oyashio, nhưng Việt Nam không mời tàu ngầm này vào vịnh Cam Ranh.

Kết luận

Việt Nam mong muốn sử dụng vị trí chiến lược quan trọng và điều kiện cảng biển vượt trội của vịnh Cam Ranh để thúc đẩy chiến lược cân bằng ở khu vực Nam Hải. Chiến lược cân bằng Nam Hải của Việt Nam thực hiện ở nhiều cấp độ. Trước hết, Việt Nam hy vọng thúc đẩy hiện đại hóa quân sự của họ, cân bằng giữa sự phát triển lực lượng hải quân Trung Quốc và ảnh hưởng từ chiến lược “tái cân bằng châu Á – Thái Bình Dương” của Mỹ, do đó Việt Nam sẽ lựa chọn vịnh Cam Ranh có ưu thế về điều kiện địa lý làm căn cứ hải quân chủ yếu, một mặt xây dựng và tu sửa quân cảng với quy mô lớn, mặt khác mua tàu hộ vệ và tàu ngầm hạng nhẹ để triển khai ở đây. Thứ hai, Việt Nam mong muốn thực hiện chiến lược cân bằng trong cuộc đọ sức giữa các nước lớn xung quanh Nam Hải, giữ đối trọng, tối đa hóa lợi ích quốc gia của Việt Nam, do đó, Việt Nam xây dựng và mở cửa cảng quốc tế Cam Ranh, thông qua ưu thế vị trí địa lý chiến lược và ý nghĩa tượng trưng chiến lược lớn để thu hút tàu quân sự của các nước đến thăm, triển khai ngoại giao quân sự ngang bằng. Cùng với việc lôi kéo các nước lớn bên ngoài khu vực, Việt Nam chú trọng cân bằng quan hệ Trung – Việt, giới học giả Việt Nam cho rằng quan hệ Việt – Trung là trụ cột quan trọng của ngoại giao Việt Nam, cần cùng Trung Quốc quản lý và kiểm soát có hiệu quả bất đồng, thúc đẩy hợp tác thiết thực về nhiều mặt. Thứ ba, Việt Nam chú ý cân bằng chiến lược của họ ở Nam Hải với mưu cầu bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Tuy Việt Nam nỗ lực lợi dụng cảng Cam Ranh lôi kéo các nước lớn bên ngoài khu vực can dự vào tranh chấp Nam Hải, nhưng luôn nắm chắc quyền kiểm soát tuyệt đối với vịnh Cam Ranh. Cuối cùng, Việt Nam chú ý cân bằng quan hệ giữa chính sách an ninh chính trị và lợi ích kinh tế, một mặt xây dựng vịnh Cam Ranh thành căn cứ hải quân chủ yếu, mặt khác lại coi trọng mở mang phát triển kinh tế đối với vịnh Cam Ranh, đặc biệt là ra sức phát triển ngành du lịch.

Chiến lược cân bằng Nam Hải của Việt Nam tạo ra nhiều ảnh hưởng lớn đối với Trung Quốc. Thứ nhất, chiến lược cân bằng đã phản ánh xu hướng hoạch định chính sách thiết thực và mang tính lý trí của Chính phủ Việt Nam, về lâu dài có thể tăng cường tính ổn định của tình hình Nam Hải; thứ hai, Việt Nam mong muốn thông qua chiến lược cân bằng để lôi kéo các nước lớn bên ngoài khu vực can dự, sẽ làm gia tăng tính phức tạp của tình hình Nam Hải; thứ ba, Việt Nam có ý đồ thông qua hiện đại hóa quân sự để cân bằng sự hiện diện quân sự của nước lớn ở Nam Hải, có thể dẫn đến chạy đua vũ trang trong khu vực, tăng thêm tính rủi ro của tình hình Nam Hải.

Đối mặt với chiến lược cân bằng của Việt Nam, Trung Quốc phải thực hiện biện pháp tái cân bằng, tạo thế chủ động đối với chiến lược Nam Hải của Việt Nam, cùng với việc nỗ lực tích cực bảo vệ và duy trì chủ quyền ở Nam Hải, làm tiêu tan nhân tố tiêu cực trong chiến lược cân bằng của Việt Nam. Trong lĩnh vực quân sự, Trung Quốc một mặt phải tiếp tục triển khai ngoại giao quân sự với Việt Nam, tăng cường giao lưu giữa quân đội hai nước, cùng với việc thể hiện thiện chí, cần thiết lập cơ chế kiểm soát xung đột trên biển; mặt khác cần tiếp tục hoàn thiện các công trình xây dựng đảo ở Nam Hải, tăng cường sự hiện diện quân sự thường xuyên ở Nam Hải, cân bằng và làm suy yếu giá trị chiến lược của vịnh Cam Ranh, vừa răn đe Việt Nam vừa giảm bớt có hiệu quả sức hấp dẫn của vịnh Cam Ranh đối với nước lớn bên ngoài khu vực. Về chính trị, Trung Quốc ra sức thúc đẩy sự giao lưu giữa hai nước, đặc biệt là hai đảng, nhấn mạnh quan niệm giá trị chung châu Á, cân bằng có hiệu quả tác động ý thức hệ từ bên ngoài. Về kinh tế, Trung Quốc một mặt tích cực thúc đẩy đi sâu hợp tác kinh tế với Việt Nam, mặt khác thông qua cấm vận và trừng phạt kinh tế tiêu cực đối với hành động “vượt quá giới hạn” của Việt Nam, để Việt Nam phải lựa chọn giữa sự phát triển kinh tế và sự đối đầu toàn diện, cân bằng tác động của chủ nghĩa dân tộc trong vấn đề Nam Hải của Việt Nam.

Giáo sư Hans Joachim Morgenthau của Đại học Chicago (Mỹ) nêu rõ: “Điều kiện địa lý là nhân tố quan trọng ổn định nhất của quyền lực nhà nước”. Quốc gia xung quanh Nam Hải có ý đồ dựa vào ưu thế địa lý để theo đuổi lợi ích quốc gia không chỉ có Việt Nam. Singapore thông qua căn cứ quân sự Changi để trở thành đồng minh quan trọng của Mỹ ở khu vực Nam Hải. Trong thời kỳ Benigno Aquino nắm quyền, Philippines thông qua cung cấp căn cứ quân sự để đổi lấy viện trợ quân sự và sự ủng hộ trong vấn đề Nam Hải. Sau khi lên thay Aquino, Duterte nhanh chóng đưa vấn đề “quân đội Mỹ rút khỏi Philippines”. Đằng sau phát biểu của ông ta có thể là toan tính chiến lược kép của Philippiens, vừa mong muốn lấy vấn đề đó để cải thiện quan hệ với Trung Quốc, vừa nâng cao khả năng mặc cả với Mỹ. Ưu thế của Trung Quốc trong cạnh tranh nước lớn xung quanh Nam Hải là ở chỗ những hòn đảo ở Nam hải là lãnh thổ vốn có của Trung Quốc, Trung Quốc không cần dựa vào nước thứ ba đã có chỗ đứng chân chiến lược tự nhiên ở Nam Hải. Điều quan trọng hơn là ưu thế địa lý mới được xây dựng của Trung Quốc thông qua hành động xây đảo nhân tạo nhờ chỗ dựa là sức mạnh tổng hợp của đất nước đã làm suy yếu đáng kể quân bài của các nước xung quanh Nam Hải lợi dụng ưu thế địa lý để thực hiện chiến lược cân bằng. Trước chiến lược cân bằng của các nước xung quanh Nam hải, Trung Quốc không cần phản ứng quyết liệt, chỉ cần làm tốt việc kiểm soát xung đột và quản lý khủng hoảng, tăng cường hơn nữa sự hiện diện quân sự để bảo vệ chủ quyền Nam Hải điều quan trọng hơn là làm tốt sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội ở trong nước, thông qua sức mạnh nội tại để thế cân bằng chiến lược nghiêng về phía Trung Quốc.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu an ninh và biển khu vực châu Á – Thái Bình Dương (TQ).

TLTKĐB – 25/07/2017

Nhà Trắng lựa chọn đối đầu trong quan hệ với Trung Quốc


Theo nhà bình luận phân tích Piotr Tsvetov của đài Sputnik (Nga), thời gian gần đây, tại Biển Đông đã có tình hình tương đối ổn định, không nghe thấy những tranh cãi ngoại giao, bộ đội biên phòng của một nước không săn bắt ngư dân của nước khác, nhưng xét theo mọi việc, giai đoạn này sắp kết thúc.

Thay cho thông tin về quá trình chuẩn bị Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC), các phương tiện truyền thông quốc tế công bố 2 bản tin không mang tính chất hòa bình. Bản tin đầu tiên: Washington thông qua quyết định bán vũ khí và các thiết bị quân sự cho Đài Loan, với tổng giá trị hơn 1,4 tỷ USD. Bắc Kinh đã yêu cầu Mỹ ngừng thương vụ này vì gây thiệt hại nghiêm trọng cho chủ quyền và lợi ích an ninh của Trung Quốc.

Bản tin thứ hai cũng đã gây ra phản ứng tiêu cực của chính quyền Trung Quốc: Tàu khu trục tên lửa dẫn đường Stethem đã đi vào vùng 12 hải lý quanh đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa. Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hòn đảo này và coi Tri Tôn là nơi đang bị quân đội Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp. Tuy nhiên, người Mỹ không có ý định chiếm hòn đảo này của Trung Quốc để chuyển giao cho Việt Nam. Họ làm như vậy để phô trương sức mạnh, để mọi người thấy Mỹ sẽ hành động như thế nào để bảo vệ “tự do hàng hải” thuận tiện cho họ mà không mấy quan tâm đến lợi ích của các nước khác.

Những hành động này của Nhà Trắng có thể được gọi là hành vi mang tính khiêu khích. Tại sao Mỹ thông qua quyết định bán vũ khí cho Đài Loan vào thời điểm hiện nay? Liệu có ai đó đang ấp ủ dự định tấn công vào hòn đảo này? Và ai có thể hài lòng với việc một tàu chiến đi vào khu vực tranh chấp tại Biển Đông? Đặc biệt, hiện nay tàu buôn của tất cả các nước có thể tự do đi qua vùng Biển Đông.

Chứng tỏ về quan ngại nghiêm trọng của Bắc Kinh trước những gì đã xảy ra là cuộc điện đàm ngày 3/7 giữa Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Donald Trump. Nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nói “mối quan hệ Trung Quốc – Mỹ đã bị tác động bởi một số nhân tố tiêu cực”, sau khi Mỹ có hàng loạt hành động khiến Bắc Kinh tức giận.

Rõ ràng, Mỹ cố ý thực hiện các bước đi này. Nhiều khả năng, Nhà Trắng quyết định trừng phạt Bắc Kinh vì Trung Quốc không gây sức ép với ba lãnh đạo Triều Tiên, buộc Bình Nhưỡng phải nhượng bộ Mỹ. Đang có tin đồn rằng trong cuộc gặp thượng đỉnh ở Mỹ vào tháng 4/2017, Tổng thống Trump đã yêu cầu Chủ tịch Tập Cận Bình gây ảnh hưởng đối với ban lãnh đạo Triều Tiên để họ hành động có lợi cho Mỹ. Tuy nhiên, không tin được điều này. Bắc Kinh thực thi đường lối của mình trong quan hệ với Bình Nhưỡng và chắc là không ai có thể làm thay đổi đường lối này.

Một vài tuần trước, Phó Tổng thống Mỹ Micheal Pence đã tuyên bố rằng thời kỳ “kiên nhẫn chiến lược” trong quan hệ của Washington với Triều Tiên đã kết thúc. Rõ ràng, ở Washington sắp cạn kiệt cảm xúc tích cực trong quan hệ với Bắc Kinh. Xét theo mọi việc, Nhà Trắng đã quyết định lựa chọn thái độ cứng rắn và cuộc đối đầu trong quan hệ với Trung Quốc. Mà điều đó có thể ảnh hưởng đến các nước khác trong khu vực.

Vì sao tuần trăng mật đã chấm dứt?

Tờ La Croix (Pháp) có bài giải thích vì sao “Tuần trăng mật giữa Bắc Kinh và Washington đã chấm dứt” dưới dạng 3 câu hỏi.

Trước hết, điều gì đang làm Bắc Kinh tức giận?

Đó là việc Mỹ điều khu trục hạm USS Stethem đi sát đảo Tri Tôn, trong vùng 12 hải lý, thuộc quần đảo Hoàng Sa. Hành động này thể hiện việc Mỹ không thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại đây. Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 3/7 tố cáo đó là một hành động khiêu khích nghiêm trọng về chính trị và quân sự. Đây là lần thứ hai kể từ khi Donald Trump vào Nhà Trắng, Mỹ cho tàu chiến đi vào vùng biển đang có tranh chấp mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố có chủ quyền.

Vậy cội nguồn của việc Mỹ thay đổi thái độ phũ phàng với Trung Quốc là gì?

Hồi tháng 4, Donald Trump đã nồng nhiệt đón tiếp Tập Cận Bình tại Florida. Nguyên thủ Trung Quốc trở thành người bạn tuyệt vời của Tổng thống Mỹ vì lúc đó, ông Trump cần Bắc Kinh gây sức ép với Triều Tiên trong hồ sơ hạt nhân. Tuy nhiên, trong thời gian qua, Bình Nhưỡng vẫn tiếp tục bắn thử tên lửa và Tổng thống Mỹ không còn kiên nhẫn nữa. Tuần trước Donald Trump cho rằng các nỗ lực của Trung Quốc không có kết quả và Bắc Kinh không muốn bỏ rơi Bình Nhưỡng. Và ngay sau đó, chủ nhân Nhà Trắng tiến hành tấn công ngoại giao, kể cả trong các hồ sơ nhạy cảm nhất đối với Trung Quốc.

Vậy Mỹ đang tấn công Trung Quốc trên những vấn đề gì?

Trước tiên, trong vấn đề nhân quyền. Ngày 28/6, Mỹ xếp Trung Quốc trong danh sách đen về tệ nạn buôn người, ngang hàng với Syria, Triều Tiên. Đối với Bắc Kinh, những nhận định này cảu Washington là “vô trách nhiệm”.

Đến ngày 29/6, Mỹ lại bày tỏ quan ngại về tình trạng vi phạm nhân quyền và tự do báo chí tại Hong Kong khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới đây để kỷ niệm 20 năm ngày lãnh thổ này được trao trả cho Trung Quốc.

Nghiêm trọng hơn, ngày 30/6, Donald Trump cho phép bán 1,4 tỷ USD vũ khí cho Đài Loan. Và cuối cùng, Washington thông báo trừng phạt một ngân hàng Trung Quốc vì có những giao dịch bất hợp pháp với Triều Tiên.

Như vậy, thời kỳ trăng mật giữa Mỹ và Trung Quốc đã chấm dứt theo lời Robert Daly, Giám đốc Học viện Kissinger tại Washington, Mỹ quay trở lại chính sách truyền thống chống Trung Quốc, nhưng chính sách này giờ đây bất ổn một cách nguy hiểm.

Cùng chủ đề này, báo Le Figaro có bài “Bắc Kinh tức tối vì những hành động khiêu khích của Washington”. Theo tờ báo này, sau một thời kỳ yên ả, giờ đây, quan hệ giữa hai siêu cường lại căng thẳng trong cuộc chạy đua làm bá chủ thế giới. Trung Quốc và Mỹ đối lập với nhau trên nhiều vấn đề. Tuy nhiên, ít có khả năng xảy ra một cuộc khủng hoảng lớn, nghiêm trọng giữa hai nước vì Bắc Kinh và Washington đều phụ thuộc vào nhau trong lĩnh vực kinh tế.

Nguồn: TKNB – 06/07/2017