Nhận thức hiểm họa, một bước tới đáp trả thích đáng – Phần VI


PUTIN VÀ MÙA XUÂN ARAB: GIAO NỘP CHỦ QUYỀN HAY KỊCH BẢN CỨNG

Nước Nga đang kết nối ngày càng chặt chẽ vào thế giới toàn cầu hóa vun vút này, dù muốn hay không muốn điều đó. Không hiểu chúng ta có cần (toàn cầu hóa – ND) đến thế hay không, nhưng dẫu sao từ lâu nó đã là một sự kiện. Chính vì thế mà chúng ta cần xem xét những gì diễn ra ở Nga trong mối quan hệ với những quá trình khởi phát theo ý muốn của châu Âu toàn cầu, vào mùa xuân năm 2011 ở Trung Đông, bởi rõ ràng những gì diễn ra ở khu vực này sẽ không bỏ qua chúng ta.

Chiến tranh “từ trong ra ngoài”

Chiến tranh mạng lưới hiện đang tiến hành chống Nga có nguồn gốc quân sự, trong chiến lược quân sự Hoa Kỳ có một (chiến lược) tương tự được các lực lượng vũ trang Mỹ thực hiện, có tên chiến tranh mạng lưới trung tâm. Tại sao hai cách tiếp cận kỹ thuật này được chúng tôi liệt vào các chiến lược quân sự? Bởi vì kết quả đạt được là chiến thắng quân sự thật sự, tức ở trường hợp này hay trường hợp kia đều là việc chiếm đoạt lãnh thổ và thiết lập kiểm soát. Trong quan hệ đó, việc hiểu những thực tiễn mới đòi hỏi phải xem lại cách tiếp cận để tiến hành các hoạt động quân sự và đạt được kết quả quân sự mà chúng tôi sẽ nói chi tiết hơn sau. Trong kỷ nguyên công nghiệp, các hoạt động quân sự được tiến hành với việc sử dụng các khái niệm như mặt trận và quân đội. Theo đúng nghĩa của nó, đụng độ quân sự diễn ra trực tiếp, các đối thủ tiếp cận nhau trực tiếp, và chiến thắng phụ thuộc vào việc ai có vũ khí và thiết bị hoàn hảo hơn, ai có nhân lực vượt trội hơn. Bản thân chiến thắng được đo bằng số lượng tổn thất của phe này hay phe kia và sự thiết lập kiểm soát trực tiếp, thể lý trên lãnh thổ bị chiếm đóng, dựa trên hiệu ứng của sự hiện diện. Đó là các phạm trù chiến tranh kỷ nguyên hiện đại.

Với sự ra đời của kỷ nguyên thông tin, được biết trong ý nghĩa mô hình kỷ nguyên hậu hiện đại, các tiếp cận trên đã thay đổi. Để thấy rõ, có thể hình dung theo sơ đồ: quốc gia dân tộc hiện đang là cơ sở của trật tự thế giới được các nhà chiến lược chiến tranh mạng xem xét dưới hình thức những vòng tròn đồng tâm. Ở trung tâm là người đứng đầu quốc gia, theo nguyên tắc, là nguyên thủ, chung quanh ông ta là giới thượng lưu chính trị. Các vòng tròn tiếp theo là cộng đồng chuyên gia, những người tạo ra mục đích chính trị và cách diễn giải, và không gian truyền thông chuyển tất cả thông tin sang ngôn ngữ của quần chúng. Lớp áp chót chính là quần chúng – xã hội, nhân dân nước đó. Còn từ bên ngoài là quân đội, các lực lượng vũ trang như phương tiện bảo vệ tất cả cấu trúc đồng tâm đó.Sơ đồ này trong một hình thức hơi khác lần đầu tiên đã được nhà chiến lược Hoa Kỳ, một trong những nhà phát triển học thuyết chiến tranh mạng lưới trung tâm, đại tá quân đội Hoa Kỳ John Gordon đưa ra. Tiếp theo nó được các nhà công nghệ của các chuyển đổi xã hội nhân văn vay mượn, rồi bản thân nó cũng tự chuyển đổi.

Cơ sở của các chiến lược có tên gọi là effects-bases operations (các chiến dịch dựa trên hiệu ứng, EBO) là cuộc tấn công theo mô hình vào một quốc gia, được thực hiện không phải từ bên ngoài, tức không phải chống lại các lực lượng vũ trang trực diện, không phải trực tiếp. Hiệu quả hơn là quan điểm tiến hành chiến tranh “từ trong ra ngoài”. Cú tấn công đầu tiên sẽ nằm ở trung tâm hệ thống này, tức vào nhà lãnh đạo. Bởi vì cấu trúc này có nhiều lớp bảo vệ, nên cuộc tấn công không phải lúc nào cũng theo nghĩa đen, tức tấn công quân sự, mặc dù từng lúc có thể áp dụng phương án này – lật đổ lãnh đạo một cách thực thể, nhưng ít hiệu quả và ấn tượng hơn. Ở đây diễn ra tác động lên tư tưởng, lên ý thức hệ nhân vật số một quốc gia, cài đặt lại ông ta, và trong trường hợp có cơ hội tác động, thay đổi hoàn toàn ông ta thành người trung thành với phương Tây về ý thức hệ.

Lịch sử đáng buồn của Liên Xô – thành công của EBO

Để hiểu cụ thể điều đang nói, hãy nhớ lại các quá trình diễn ra ở Nga cuối những năm 1980 đầu 1990. Các chính khách và giới lãnh đạo Mỹ làm việc trực tiếp với lãnh đạo đất nước chúng ta, lúc đó là Mikhail Gorbachev, tích cực chỉnh lý ông ta, kết quả là dẫn tới tan rã Liên bang Xô viết. Giờ đây người ta hiểu ra Mikhail Sergeyevich lên nắm quyền không phải không có sự tham gia của người Mỹ. Vòng tròn bảo thủ quanh Gorbachev đã cố gắng một cách yếu ớt chống lại việc mất chủ quyền và tan rã Liên Xô (Ủy ban quốc gia về tình trạng khẩn cấp) nhưng đã thua cuộc. Kết quả là một lãnh đạo thân phương Tây, có khuynh hướng Đại Tây Dương đã lên nắm quyền – Boris Yeltsin. Và cả trong trường hợp trước lẫn sau hướng tác động chính vẫn là “từ trong ra ngoài”. Yeltsin tính tới sai lầm của Gorbachev, đã hình thành một nhóm lãnh đạo tương thích với ông ta hơn về mặt thế giới quan mà quả nhiên sau đó ông ta có thể dựa vào.

Theo sau nguyên thủ quốc gia, từ các ý tưởng và ý chí của ông ta, đồng thời cũng dưới sự tác động của giới thượng lưu chính trị đã được cải biến, cộng đồng truyền thông và chuyên gia nằm ở những tầng tiếp theo cũng được tích cực xử lý và định dạng lại. Tất cả các cố vấn, những đấu thủ chính của các quá trình chính trị trong nước đều có xu hướng Đại Tây Dương, nghiêm ngặt thân Mỹ. Cộng đồng truyền thông thì hoàn toàn tương thích với cái nhìn phương Tây tự do của cộng đồng chuyên gia.

Bước tiếp theo là dân chúng, sản phẩm của những tác động từ không gian truyền thông. Dưới sức ép cảu việc nhào nặn hàng oạt của truyền thông, họ miễn cưỡng, đau khổ và xổ toẹt, nhưng dẫu sau vẫn kỷ luật chấp nhận những quan điểm và ý tưởng mà giới tinh hoa áp đặt. Nói một cách khác, theo ý của người lãnh đạo, giới tinh hoa của ông ta, các chuyên gia và báo chí của ông ta, dân chúng được tái lập trình theo tinh thần thân Mỹ, thân phương Tây. Họ được thấm nhuần tư tưởng rằng nước Nga phải tuân thủ một logic phát triển chung của các quá trình toàn cầu, và chúng ta phải từ bỏ chủ quyền của mình; rằng chúng ta phải hành động đồng bộ với các đối tác phương Tây của chúng ta, với các nước thế giới phương Tây. Và rằng quân đội chúng ta, vòng tròn cuối cùng, phân rã, tan vỡ, cũng là chuyện bình thường, bởi nó được quy định bằng mô hình mà theo đó chúng ta phải yếu để thế giới phương Tây có thể dễ điều hành, đưa chúng ta vào những quá trình toàn cầu. Theo đó, quân đội như một tầng lớp xã hội, bắt nguồn trực tiếp từ xã hội nên cũng phải chịu tác động của toàn bộ cấu trúc mà việc chuyển đổi chỉ xảy ra “từ trong ra ngoài”.

Putin và chủ quyền: trong vòng tròn tinh hoa

Với việc Vladimir Putin lên nắm quyền đã diễn ra sự thay đổi nguyên thủ – trung tâm của cấu trúc, kéo theo nó sự thay đổi triệt để đường lối ít nhất liên quan tới khái niệm chủ quyền. Công lao chính của Putin là đã biến chủ quyền nước Nga thành một giá trị và đòi hỏi chúng ta phải phục hồi và bảo vệ nó. Ông thể hiện điều đó triệt để nhất là trong quá trình cuộc chiến Chechnya lần thứ hai, công khai tuyên bố điều đó trong diễn ngôn Munich nổi tiếng. Tức ở trung tâm của cấu trúc này là người đã phần nào thay đổi dấu hiệu phát triển về hướng trái ngược với lãnh đạo tiền nhiệm ông ta, ít ra trong vấn đề đối ngoại. Và từ đây bắt đầu những quá trình đối nghịch. Sự điều chỉnh “từ trong ra ngoài” được bắt đầu theo tinh thần yêu nước, khởi nguồn giờ đây từ phía Putin. Kết quả là những cơ chế phản ứng – các tiến trình sửa chữa “hỏng hóc hệ thống” ấy – bắt đầu hoạt động: khắc phục sai lầm, bản thân hệ thống đã bắt đầu tác động trước nhất lên nguyên thủ, người thay đổi dấu hiệu. Kết nối vào quá trình hiệu chỉnh đầu tiên là giới tinh hoa chính trị vây quanh Putin lúc ấy: Alexandre Voloshin, Mikhail Kasyanov, Vladislav Surkov và nhiều người khác – vòng thân cận đã hình thành từ trước khi Putin lên nắm quyền. Họ là những cán bộ được chọn lọc, có xu hướng tự do theo tinh thần phương Tây vốn đã hình thành từ giai đoạn trước, dưới thời Yeltsin. Họ đưa vòng tròn tiếp theo vào “việc chỉnh lý Putin” – đó là cộng đồng chuyên gia, những người vội vã hình thành những hệ số điều chỉnh suy nghĩ, phủ nhận những thông điệp thế giới quan chính yếu của nguyên thủ quốc gia mới: đó là Pavlosky, Gelman, Diskin, Yurgens, Gontmakher. Một số họ đến nay vẫn còn tiếp tục sản xuất ra số lượng lớn rác tư tưởng đến nỗi đơn giản là nhấn chìm diễn ngôn yêu nước của Putin trong biển nước bẩn của chủ nghĩa tự do, pha trộn nó với luồng chất thải mô phỏng suy nghĩ trước đó.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Advertisements

Sự sáng tạo thắng thế – Phần IV


Nhiều nghiên cứu đã nhắm đến sức mạnh của vua hạng mục. Eddie Yoon, một lãnh đạo Cambridge Group, năm 2011 đã công bố một bài trên Harvard Business Review nhan đề “Sáng tạo hạng mục là chiến lược tối hậu (Category Creation is the Ultimate Growth Strategy). Công ty ông đã tiến hành phân tích 20 công ty hàng đầu trên danh sách các công ty tăng trưởng nhanh nhất năm 2010 của Fortune. Tại 20 công ty đó, cứ mỗi dollar tăng trưởng doanh thu, thì vốn hóa thị trường trung bình tăng 3,40 USD. Nhưng nửa số 20 công ty hàng đầu đó là những người sáng tạo hạng mục, Yoon khẳng định thế, và 10 công ty đó tăng trung bình 5,60 USD vốn hóa cho mỗi dollar tăng trưởng doanh thu. “Wall Street thưởng công rất lớn cho các công ty tạo ra hạng mục”, Yoon viết. Năm 2014, gã khổng lồ ngành tư vấn McKinsey công bố bài báo nhan đề “Lớn nhanh hoặc chết chậm” (Grow Fast or Die Slow). McKinsey phân tích 3000 công ty phần mềm và trực tuyến từ 1980 đến 2012. Nghiên cứu xác định một nhóm nhỏ công ty nổi bật là “siêu tăng trưởng” (supergrower, nhóm này trùng lặp khá nhiều với định nghĩa vua hạng mục của chúng tôi, và tuyên bố rằng tăng trưởng thần tốc ngay từ đầu là chỉ báoo cho sự thành công lâu dài. Vua hạng mục, một khi đã yên vị, hầu như không thể bị thay thế.

Tại sao bây giờ việc này mới xảy ra với tốc độ cao đến vậy, nhất là khi vua hạng mục từ trước đến giờ vẫn luôn tồn tại trong bức tranh kinh doanh?

Mạng có mặt khắp nơi, phân phối điện toán đám mây giá rẻ, và ời truyền miệng lan nhanh như chớp qua các kênh truyền thông xã hội đang tăng cường cho nền kinh tế “kẻ thắng lấy tất cả” – đặc biệt là với các sản phẩm và dịch vụ kỹ thuật số. Hãy nhớ rằng vào năm 1999, chỉ khoảng 400 triệu người kết nối Internet. Đến năm 2015, con số đó đã vọt lên 3 tỷ, đang tiến tới 4 tỷ vào năm 2020. Và đến năm 2020, kỳ vọng có khoảng 6 tỷ smartphone. Đồng thời, hàng chục tỉ đồ vật như xe, đèn, cảm biến công nghiệp, bộ điều nhiệt, và vòng cổ chó được kết nối vào mạng lưới, trong khi các ngành trước nay chưa bao giờ dính dáng đến kỹ thuật số (taxi, khách sạn, y khoa) đang nhanh chóng số hóa. “Internet vạn vật” (Internet of Things) sẽ biến hầu như mọi thứ trở thành một bộ phận của mạng toàn cầu. Vì mạng cho mọi người từ bất cứ nơi đâu khả năng tiếp cận sản phẩm được xem là tốt nhất trong bất cứ hạng mục nào, nên đại đa số chọn sản phẩm dẫn đầu và bỏ rơi các sản phẩm hạng hai hoặc hạng ba. Đó là mặt tối của khái niệm “cái đuôi dài” mà các chuyên gia đã nói đến suốt hơn chục năm nay. Trong bất cứ hạng mục sản phẩm hoặc dịch vụ nào, một thực thể sẽ trở thành con chó, to lớn và đầy giá trị, trong khi tất cả phần còn lại nằm ở phần đuôi đầy khó khăn về mặt kinh tế. Con chó vua hạng mục chắc chắn sẽ tích cự vẫy cái đuôi sau đít nó quay tít.

Khi một công ty chiếm được ngai vàng hạng mục, bánh đà lợi ích sẽ tạo khoảng cách giữa công ty dẫn đầu và phần còn lại. Ví dụ, công ty dẫn đầu ngày càng có dữ liệu tốt hơn hẳn. Thời nay, dữ liệu là sức mạnh. Tất cả các giao dịch trên Amazon cho công ty những hiểu biết quý giá về khách hàng, hàng tồn kho, giá cả – tất cả mọi thứ. Mỗi cuốc Uber, mỗi bộ phim được chọn trên Neflix, mỗi dòng thông tin nhập vào Salesforce.com cũng đều giống như thế. Khi công ty dẫn đầu tích lũy dữ liệu, dữ liệu đó dần trở thành một lợi thế bất công – một khoảng cách mà những kẻ theo sau không bao giờ hi vọng có thể rút lại nổi. Các nhân viên giỏi nhất cũng muốn làm việc cho đức vua. Các đối tác muốn ký kết với hoàng đế. Các nhà phát triển bên ngoài cũng muốn phát triển cho quốc vương. Các nhà đầu tư tốt nhất muốn rót vốn và các ngân hàng đầu tư cũng muốn hỗ trợ chào cổ phiếu bán ra công chúng lần đầu (IPO). Vì vua hạng mục vượt xa về mặt kinh tế, nên họ có đủ tiền để thâu tóm các công ty khác, từ đó lại giúp họ tiến xa hơn nữa trong vị trí dẫn đầu. Sức mạnh kinh tế của vua hạng mục chỉ có ngày càng lớn mà thôi.

Cuối năm 2014, nhà phân tích ngành công nghệ Micheal Walkley ở Canaccord Genuity xem tình trạng lợi nhuận của các công ty smartphone và thấy rằng Apple thu 93% tổng lợi nhuận ngành. Tưởng tượng đi! Trong tất cả các nhà sản xuất smartphone trên thế giới, chỉ một công ty – vị vua hạng mục – nắm gần hết lợi nhuận. Dù muốn hay không, tầng lớp trung lưu trong kinh doanh đang ngày càng biến mất nhanh hơn. Của cải rơi hết vào tay các ông vua. Hoàng tử ở vị trí thứ nhì – như Lyft hay Samsung – có thể nhận được một phần tàm tạm. Những tay chơi còn lại bị đày ải xuống làm kiếp nông nô trong đế chế của vị quân vương.

Vào giữa thập niên 2010, truyền thông bị ám ảnh bởi mức định giá các start-up công nghệ đang tăng cực nhanh. Nhiều con số có thể đã bị lái bởi tình hình thị trường tài chính, thứ mà dĩ nhiên thường ngả theo chiều gió. Nhưng khi nhìn bức tranh lớn, thì sự sôi động này bị lái bởi những thay đổi nền tảng trong công nghệ và nền kinh tế, và được cường hóa bởi hoạt động kinh doanh vua hạng mục. Nếu nhìn kỹ, bạn sẽ thấy rằng các start-up định giá cao nhất hầu như luôn là các vua hạng mục đã yên vị hoặc đang trỗi dậy.

Thông qua dữ liệu, chúng tôi đã kịp thời bắt giữ được khoảnh khắc thể hiện tốc độ tăng trưởng và khoảng cách đang giãn ra giữa các vị vua và phần còn lại. Chúng tôi phân tích dữ liệu đánh giá trên hàng ngàn start-up công nghệ, và phát hiện rằng các công ty thành công được sinh ra trong giai đoạn 2009 – 2014 đạt mức giá siêu cao nhanh gấp 3 lần các công ty khởi nghiệp đầu thập niên 2000. Nói cách khác, chỉ hơn 10 năm, tốc độ tăng trưởng giá trị của các start-up công nghệ tăng trưởng cao gần gấp 3 lần. Nhưng không giống cuộc bùng nổ công nghệ cuối thập niên 1990, cơn thủy triều dâng lần này nâng các đại du thuyền và nhấn chìm những chiếc xuồng con. Những kẻ không ngồi trên ngai phải sống thật vất vả. Nghiên cứu dữ liệu của chúng tôi phát hiện rằng một start-up 6 năm tuổi mà vẫn chưa phải là vua thì cơ hội được ngồi vào hoàng vị gần như bằng 0.

Khoảng cách vua hạng mục nói tóm lại như thế này: Uber được định giá 51 tỷ USD cuối năm 2015, trong khi cùng lúc đó công ty đứng hạng nhì, Lyft, được định giá thấp hơn khoảng 25 lần, khoảng 2 tỷ USD. Phần còn lại của hạng mục đó hầu như không đáng để tâm. Có thể mức định giá này đang cao một cách không bền vững; cũng có thể không. Tuy nhiên, chúng tôi tập trung vào giá trị tương đối: Uber có giá trị gấp 25 lần Lyft. Các nhà đầu tư nhìn vào giá trị tương lai của hạng mục vận chuyển cá nhân theo yêu cầu và thấy chỉ một công ty – Uber hoàng đế – đang chiếm gần hết lãnh thổ.

Chúng tôi bắt đầu viết sách này giữa chu kỳ lên của ngành công nghệ. Chúng tôi không biết đến lúc bạn đọc sách thì đợt bùng nổ công nghệ này đã sang chu kỳ xuống hay chưa. Nhưng chúng tôi chắc chắn rằng động lực và chiến lược trong sách này là vĩnh cửu. Trong các thời kỳ lắm tiền, một công ty cần tư duy như vua hạng mục để có thể vượt qua và ở thế trên cơ tất cả các đối thủ cũng được đầu tư khác. Ở thời khó khăn, khi tiền bạc eo hẹp, ông vua có thể là kẻ duy nhất còn sống sót trong hạng mục. Nói chung, giai đoạn suy thoái chính là cơ hội tuyệt vời cho vua hạng mục triệt hạ tất cả những kẻ thách thức không đủ vốn, để rồi thoát khỏi giai đoạn suy thoái mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Nói ngắn gọn, bất cứ khi nào – thị trường lên, xuống hay đi ngang – cũng đều là thời gian thích hợp để mạnh lên thay vì trông chờ vào vị thần may mắn. Và tư duy như một ông vua hạng mục chính là cách khôn ngoan để cải thiện cơ hội thành công, thay vì bỏ mặc mọi thứ cho số phận. Đó là lý do vì sao phải chơi lớn.

Giới thiệu bộ môn thiết kế hạng mục

Nếu có chơi bài poker thì bạn sẽ biết Greg Raymer. Ông lăn lộn khắp vùng Trung Tây trong thời niên thiếu, lấy bằng thạc sĩ hóa sinh tại Đại học Minnesota, tốt nghiệp khoa Luật tại Đại học Minnesota năm 1992, sau đó làm luật sư bộ phận sở hữu trí tuệ cho Pfizer. Ông đã chơi poker rất nhiều hồi còn ở trường – “chúng tôi cả đám thật thảm hại”, ông hồi tưởng. Sau đó, trong khi đang làm việc ở Chicago, ông quyết định đã đến lúc phải luyện để chơi thật giỏi. Ông đọc sách poker và bắt đầu tham gia giải, dần nâng cao trình độ qua các ván đấu. Năm 2004, ông thắng giải Word Series of Poker – tiền thưởng 5 triệu USD. Tại giải World Series of Poker năm sau, ông đã làm được điều chưa từng có trong một trò chơi thoạt trông có vẻ khá may rủi: Ông nối tiếp chiến thắng năm trước bằng cách kết thúc ở nhóm đầu giải này, mang về nhà hơn 300 ngàn USD. Đến năm 2013, ông đã kiếm được hơn 7,4 triệu USD từ poker. Ờ, và ông cũng bỏ việc luôn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Al Ramadan, Dave Peterson, Christopher Lochheed, Kevin Maney – Chơi lớn – NXB ĐHKT TPHCM – 2018.

Số phận lịch sử của chủ nghĩa Marx – Phần III


Đó là lúc cách mạng xã hội xảy ra, cùng với sự thay đổi cơ sở kinh tế sẽ diễn ra một bước ngoặt nhanh hay chậm trong toàn bộ thượng tầng kiến trúc rộng lớn. Khi xem xét những bước ngoặt như vậy bao giờ cũng cần phân biệt bước ngoặt vật chất được ghi nhận với độ với chính xác của khoa học tự nhiên trong các điều kiện kinh tế của nền sản xuất với những bước ngoặt về các mặt pháp luật, chính trị, tôn giáo, văn học nghệ thuật hay triết học, nói một cách ngắn gọn là phải phân biệt nó với các hình thức hệ tư tưởng, mà trong đó, người ta ý thức được sự xung đột ấy và đấu tranh để giải quyết nó. Cũng như đối với mỗi con người riêng lẻ, không thể xét đoán thời đại có bước ngoặt như vậy căn cứ vào ý thức của nó. Ngược lại, ý thức đó cần được giải thích bắt nguồn từ những mâu thuẫn của đời sống vật chất, từ sự xung đột hiện tồn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã tạo ra môi trường tồn tại nó bị phá vỡ, và các quan hệ sản xuất mới, cao hơn, không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện vật chất để nó tồn tại ngay trong lòng xã hội cũ đạt tới độ chín muồi.

Vì vậy, loài người bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó đủ sức giải quyết, bởi vì khi xem xét sát thực bao giờ cũng thấy rằng bản thân nhiệm vụ bao giờ cũng chỉ phát sinh khi đã có được những điều kiện vật chất để giải quyết nó hoặc ít ra cũng đang trong quá trình hình thành”.

Và còn một đoạn trích nữa. Đó là đánh giá của V.I. Lenin về “thành quả vô cùng vĩ đại của tư duy khoa học” này: “Đồng thời với việc phát huy và làm cho chủ nghĩa duy vật triết học trở nên sâu sắc hơn, Marx đã đẩy nó lên đến cùng, mở rộng cách nhận thức của nó về giới tự nhiên sang nhận thức về xã hội loài người… Hỗn độn và tùy tiện vẫn ngự trị trước nay trong các quan điểm về lịch sử và về chính trị đã được thay thế bằng một lý luận khoa học hết sức toàn diện, nhất quán và cân đối”.

Tất cả những điều đó chúng ta đều đã biết khi chúng ta còn ngồi ở giảng đường đại học, đêm đêm mất ngủ nghiền ngẫm các tập kinh điển của chủ nghĩa Marx – Lenin. Còn bây giờ, khi đọc những người thầy cũ và những người bạn đồng khóa đã trưởng thành trong khoa học của chúng ta, chúng ta lại bắt gặp: “Lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử chưa từng được nghiên cứu một cách thấu đáo”.

Vậy khoa học hiện nay cần một phương pháp như thế nào? “Phương pháp luận của các khoa học, – V.N. Kudrjavcev trả lời, – là hệ thống các nguyên tắc nghiên cứu các hoa học, các cách tiếp cận cơ bản đối với việc nghiên cứu đối tượng của nó, các tiên đề là xuất phát điểm trên con đường nhận thức”. Đồng thời, ông cho rằng đó không được là một chủ nghĩa nhất nguyên phương pháp luận bắt buộc đối với tất cả mọi người. Thực tế, mỗi nhà khoa học đều muốn đi tới mục tiêu đặt ra bằng con đường dễ chấp nhận nhất đối với anh ta, cho phép anh ta đạt được những kết quả nghiên cứu hiện thực. Phương pháp và thủ pháp của các nhà khoa học riêng lẻ hoàn toàn có thể được những người khác sử dụng, khi đó chúng sẽ được công nhận và “có thể được xem xét với tư cách là phương pháp luận nghiên cứu khoa học trong một thời kỳ lịch sử nhất định, của một trường phái khoa học nhất định”.

Điều trình bày trên thúc đẩy chúng ta, trước hết là phải tách ra trong chủ nghĩa duy vật lịch sử những điểm cần phê phán hoặc suy xét lại. Chẳng hạn:

+ Chủ nghĩa Marx nói chung với tư cách là phương pháp nghiên cứu. Đối với tượng của sử học và ý nghĩa của nó.

+ Thành tố hệ tư tưởng, bao gồm CNCS khoa học.

+ Vấn đề các hình thái, quan hệ tương hỗ giữa các cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong mỗi hình thái.

+ Tính chất tuyến tính của quá trình lịch sử và tính thống nhất của quá trình này.

+ Đặt đối lập cứng nhắc cái vật chất và cái tinh thần.

+ Khái niệm “chuyên chính vô sản” và quan niệm về đấu tranh giai cấp với tư cách là động lực của quá trình lịch sử.

+ Vấn đề các mô típ động lực của lịch sử.

+ Chủ nghĩa nhất nguyên lý luận.

+ Con người trong nhận thức lịch sử.

+ Vai trò của tôn giáo trong sự phát triển của xã hội.

+ Phân kỳ lịch sử.

+ Ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên tới sự phát triển của con người và xã hội.

Hoàn toàn dễ hiểu là hiện còn có cả các vấn đề cục bộ hơn đáng được tranh luận. Nhưng chỉ với danh mục nêu trên cũng cho thấy rằng tất cả các luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử cần phải được xem xét lại. Chúng ta cũng đã đề cập đến vấn đề là có một bộ phận nhất định các nhà sử học phản đối việc xét lại chủ nghĩa Marx hoặc những bộ phận riêng lẻ của nó. Khi bàn tiếp chủ đề này, rất nên làm rõ những chứng lý của cuộc tranh luận nói trên của Ju.I. Semenov với L.B. Alaev, L.S. Vasilev và N.A. Ivanov. Chúng tôi xin lưu ý rằng sự phê phán chủ yếu của Ju.I. Semenov là nhằm vào lập trường của L.B Alaev, là người cho rằng lý luận là cần thiết – “nếu lịch sử không có những tính quy luật, nghĩa là không có ý nghĩa cả trong lịch sử lẫn trong sự kiện lịch sử thực tế” và nếu như chủ nghĩa Marx “đã lỗi thời”, thì không cần phải “cứu vãn” nó, mà phải đề ra một chuẩn thức mới về quá trình lịch sử mà trong chuẩn thức ấy vẫn có chỗ cả cho “tinh thần marxist”.

Lý luận mới cần được xây dựng trên những định đề xác định và đề cập đến quá trình lịch sử nói chung, chứ không phải khuôn trong các nước hay các dân tộc riêng lẻ. L.B. Alaev lưu ý đến sự cần thiết phải thừa nhận tư tưởng tiến bộ về “sự phát triển tuyến tính từ bậc thấp lên bậc cao: xét cho cùng là hướng đến một cái đích thiêng liêng nào đó, và sự phát triển đó của loài người phải trải qua nhiều giai đoạn”. Tuyên bố đó nghe qua hoàn toàn đúng tinh thần marxist. Nhưng trong cách hiểu của L.B. Alaev, đó chỉ là một sự giống nhau bề ngoài, bởi vì trong quá trình tìm tòi, như tác giả thừa nhận, trong ý thức ông ta “vẫn còn lại quan niệm duy vật về lịch sử, nhưng không có chủ nghĩa Marx với các học thuyết duy vật khác, tiến bộ và cách mạng”.

Ju.I. Semenov cho rằng vậy là họ (L.B. Alaev và N.A. Ivanov) đúng là không hiểu gì về chủ nghĩa duy vật lịch sử, hầu như tất cả toàn bộ những điều nói trên về chủ nghĩa Marx lại hoàn toàn không phải là điểm đặc trưng của chủ nghĩa Marx, và cách hiểu của tác giả này về chủ nghĩa Marx cũng chẳng hơn gì”.

(còn tiếp)

Người dịch: Bằng Nguyên

Nguồn: TĐB – 97 – 24

Thế nào là Đại học hàng đầu thế giới? – Phần I


Dương Phúc Gia

Lời giới thiệu: Dương Phúc Gia (Yang Fujia, 1936-), tốt nghiệp Đại học Phục Đán (Thượng Hải), nhà vật lý nổi tiếng, Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc, Phó Chủ tịch Hội KHKT Trung Quốc, Chủ tịch Hội KHKT Thượng Hải (1992-1996), Giám đốc Viện Nghiên cứu hạt nhân nguyên tử Thượng Hải thuộc Viện KH Trung Quốc (1987-2001). Năm 1984 được bình chọn là chuyên gia có cống hiến kiệt xuất cấp nhà nước. Năm 1991 được bầu là Viện sĩ Viện KH Trung Quốc, Viện sĩ Viện KH thế giới thứ ba. Từ 1998 được mời làm GS danh dự Đại học Vanderbilt (Mỹ), Ông cũng là Tiến sĩ KH danh dự Đại học Sōka (Nhật), Tiến sĩ Nhân văn danh dự Đại học bang New York, Tiến sĩ danh dự Đại học Hong Kong, Đại học Nottingham (Anh), và Đại học Connecticut (Mỹ). Dương Phúc Gia từng là Hiệu trưởng Đại học Phục Đán (1993-1998), từ 1996 là Ủy viên chấp hành Hội Hiệu trưởng các trường Đại học trên thế giới.

Từ năm 2001 ông được mời làm Hiệu trưởng Đại học Nottingham (hai nhiệm kỳ liền), trở thành người Trung Quốc đầu tiên nhậm chức hiệu trưởng một trường Đại học nổi tiếng Anh Quốc. Những năm gần đây ông nhiều lần thẳng thắn phát biểu về sự yếu kém của giáo dục Đại học Trung Quốc, ý kiến của ông được lãnh đạo nhà nước và giới giáo dục Trung Quốc rất quan tâm.

Dưới đây là phần lược dịch bài viết “Sứ mệnh và nội hàm văn hoá của trường Đại học” của Dương Phúc Gia, đăng trên Thời báo Học tập [TQ] số ra ngày 27/08/2007. Các phần ghi trong dấu ngoặc vuông [  ] là của người dịch.

Bài này gồm 5 phần: Sứ mệnh của trường Đại học; Nội hàm văn hoá Đại học; Gợi ý từ Đại học hàng đầu; Đại học hàng đầu coi trọng những sinh viên như thế nào; và Trách nhiệm của sinh viên.

1/ Sứ mệnh của trường đại học

Sứ mệnh của trường đại học là gì?

Đại học Yale thuộc nhóm Đại học đứng đầu thế giới, liên tục mấy năm liền xếp thứ 3 trong bảng xếp hạng Đại học Mỹ, chỉ sau Đại học Princeton và Đại học Harvard. Đại học Yale thành lập năm 1701, hiện nay [năm 2007] có 11.483 học viên, trong đó có 5.316 sinh viên (học ở Học viện Yale) và 2.522 nghiên cứu sinh, 3.552 sinh viên các học viện chuyên ngành (học ở 11 học viện, như Học viện Y khoa, Học viện Luật, Học viện Nhạc, v.v… đều tuyển người đã tốt nghiệp Đại học).

Sứ mệnh của Đại học Yale là gì? Điều đó đã được xác định ngay từ khi sáng lập trường, đó là: Đào tạo thủ lĩnh cho nhà nước và thế giới.

Đại học Yale là nơi đào tạo 5-6 Tổng thống Mỹ (Bush cha và con, Clinton …). Cho tới nay Yale đã đào tạo được 530 nghị sĩ quốc hội Mỹ, còn đào tạo cả Tổng thống cho Mexico và Đức, Thủ tướng cho Hàn Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao cho Nhật Bản v.v…. Rất nhiều hiệu trưởng xuất sắc của các Đại học hàng đầu thế giới từng tốt nghiệp tại đây.

Về sau Đại học Yale còn đưa ra các sứ mệnh cơ bản của trường: Bảo vệ, truyền thụ, đẩy mạnh và làm phong phú tri thức và văn hoá.

Thoạt xem có thể có cảm giác tựa như các sứ mệnh đó chỉ là một đống từ ngữ, nhưng suy ngẫm kỹ sẽ có thể hiểu, nếu sứ mệnh chỉ có “truyền thụ tri thức” thì điều đó đều thích hợp với ngót 4.000 Đại học Mỹ; nếu thêm “đẩy mạnh và làm phong phú” thì chỉ 3% số trường Đại học có thể đảm đương được nhiệm vụ đó; nếu lại thêm “văn hoá” nữa thì chỉ còn 1%; còn nếu thêm “bảo vệ tri thức và văn hoá” thì e rằng chưa tới 3 phần nghìn.

Đại học Yale có thư viện sách quý hiếm tốt nhất thế giới chính là để gánh vác sứ mệnh đó. Chẳng hạn chỉ ở đây mới có một số sách hoặc tư liệu độc bản trên thế giới.
Tóm lại, sứ mệnh của trường Đại học phải có tính đặc thù, tính khác biệt. Nếu sứ mệnh của Đại học này lại có thể dùng cho bất cứ Đại học nào khác thì cách diễn tả sứ mệnh đó sẽ không xác đáng lắm..

Học viên Công nghệ California [California Institute of Technology, viết tắt Caltech hoặc CIT] là một học viện đơn nhất, nhưng nó nghiên cứu những vấn đề KHKT cơ bản có tính thách thức nhất trong sự giao thoa của các khoa học. Nó đào tạo một loạt sinh viên kiệt xuất trở thành những thành viên có tính sáng tạo trong xã hội. Ở đây tuy không đề cập tới văn hoá Đại học, nhưng không có nghĩa là Caltech không có văn hoá, chỉ có điều nó chú trọng tới cái khác.
Caltech không được gọi là Đại học mà gọi là Học viện [institute], quy mô rất nhỏ. Năm 2005 toàn trường có 386 giáo viên và nghiên cứu viên, 2172 sinh viên và nghiên cứu sinh. Khi mới thành lập trường này, Hội đồng Quản trị nhà trường đã quy định: “Dù ai làm hiệu trưởng cũng không được mở rộng quy mô nhà trường”. Caltech có sứ mệnh “Kết hợp giảng dạy và nghiên cứu khoa học để mở rộng tri thức nhân loại và đem lại hạnh phúc cho xã hội”.

Chính dưới ảnh hưởng của nội hàm văn hoá như thế mà tại Caltech xuất hiện 32 giải Nobel, 31 chủ nhân giải Nobel, có đóng góp lớn làm phong phú kho tàng tri thức của loài người. Ngoài 32 giải Nobel, còn có nhiều cựu sinh viên kiệt xuất, trong đó có Chu Bồi Nguyên, nhà nguyên lão vật lý học của Trung Quốc (tiến sĩ Caltech năm 1928), Triệu Trung Nghiêu người đặt nền móng ngành vật lý hạt nhân Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1930), Đàm Gia Trinh người đặt nền móng di truyền học Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1936), Tiền Học Sâm nhà khoa học nổi tiếng Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1939) [cha đẻ tên lửa Trung Quốc]. Tất cả các vị đại sư đó đã đặt nền móng cho địa vị của Caltech trên thế giới. Trên 3 lĩnh vực hàng không-vũ trụ, khoa học sự sống và vật lý, Caltech là hàng đầu của hàng đầu thế giới. Trường nhỏ mà học vấn lớn, thật là đặc sắc!

Các yếu tố cơ bản để hoàn thành sứ mệnh của trường đại học

Ngay từ năm 1931, ông Mai Di Kỳ hiệu trưởng Đại học Thanh Hoa [Bắc Kinh] từng nói “Một trường Đại học sở dĩ gọi là Đại học, tất cả là ở chỗ trường ấy có giáo sư giỏi hay không.”
Ông nói câu này vào thời điểm Đại học Thanh Hoa vừa cơ bản xây dựng xong, nhà trường bắt đầu đặt trọng điểm vào việc thu hút các đại sư chứ không quá chú ý tới việc xây dựng trường sở.
Thực ra một trường Đại học chỉ có trường sở to và đại sư thì chưa đủ. Cá nhân tôi cho rằng còn phải có “đại ái [tình yêu lớn]”.

Từ bài viết của chủ nhân giải Nobel James Tobin [Nobel kinh tế 1981], ông Richard C. Levin hiệu trưởng Đại học Yale dẫn ra mấy yếu tố cơ bản để thực hiện sứ mệnh của Đại học như sau:Thứ nhất, phải có tài sản hữu hình (tangible assets); thứ hai, phải có tài nguyên con người (human resources); thứ ba, phải có nội hàm văn hoá (internal culture).
Tài sản hữu hình không chỉ gồm có trường sở mà còn có thiết bị, thư viện. Cũng vậy, tài nguyên con người cũng không chỉ có đại sư mà còn có sinh viên và nhân viên quản lý. Một Đại học không có sinh viên giỏi thì không thể trở thành Đại học hàng đầu được.

Trường Đại học sứ mệnh không rõ ràng, không có đặc sắc thì sẽ không có triển vọng

Đại học Princeton 7 năm liền xếp hạng Đại học thứ nhất ở Mỹ. Đại học Harvard 3 năm qua cũng đồng xếp hạng thứ nhất nhưng lần gần đây lại tụt xuống thứ hai, nguyên nhân do Princeton có hai chỉ tiêu vượt trên Harvard. Thứ nhất, số lượng lớp nhỏ dưới 50 sinh nhiều hơn; thứ hai, số lượng cựu sinh viên đền ơn nhà trường nhiều hơn Harvard (không chỉ là tiền, mà nhiều hơn, là sự cảm ơn).

Có người cho rằng Đại học hàng đầu thì phải có số lượng nghiên cứu sinh nhiều hơn sinh viên, nhất định phải có học viện y khoa, nhất thiết phải là Đại học có tính tổng hợp. Nói như vậy không thích hợp với Đại học Princeton – trường này hiện chỉ có 6677 học viên, trong đó 4678 sinh viên, 1999 nghiên cứu sinh. Năm 2006, Đại học Princeton chỉ trao tặng 277 học vị tiến sĩ, 151 học vị thạc sĩ cuối cùng (không học tiếp); tỷ lệ học sinh với giáo viên (chế độ cả ngày) là 5:1; trường này không có học viện y khoa cũng như học viện luật và học viện quản trị kinh doanh (hiện nay ở Trung Quốc các Đại học hàng đầu hầu như đều có học viện quản trị kinh doanh, y khoa và luật khoa); nghiên cứu sinh chỉ chiếm 30% tổng số học viên.
Nhưng Đại học Princeton tuyệt đối là Đại học đứng đầu thế giới. Vậy đâu là cái vĩ đại của Đại học Princeton?

Ngoài việc đào tạo 25 chủ nhân giải Nobel (trong đó 17 giải vật lý) và 12 chủ nhân giải Fields (cả nước Mỹ có 24 người được giải này), Đại học Princeton còn nổi tiếng về không khí học thuật tự do, khoan dung.

Rất nhiều trường Đại học Trung Quốc thiếu những đặc sắc như vậy. Trong 4 lần hội nghị giáo dục cao đẳng do Thủ tướng Ôn Gia Bảo triệu tập trong năm 2006, Thủ tướng có nói về 4 nỗi lo của ông: Thứ nhất, sở dĩ hiện nay Trung Quốc chưa hoàn toàn phát triển, trong đó có một nguyên nhân là chưa có một Đại học nào có thể tổ chức theo mô hình đào tạo nhân tài phát minh sáng tạo KHKT, chưa có sự sáng tạo độc đáo của mình thì không thể đào tạo được nhân tài kiệt xuất cấp đại sư. Thứ hai, vấn đề chất lượng học tập của các trường Đại học cao đẳng; Thứ ba, vấn đề làm thế nào để trường Đại học có đặc sắc của mình. Thứ tư, các trường công ở Trung Quốc đã vay bao nhiêu tiền? 300 tỷ, 400 tỷ hay là 500 tỷ Nhân dân tệ?

(còn tiếp)

Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

Nguồn: http://www.nghiencuuquocte.org

Kiểm soát theo phép quản lý kiểu Trung Quốc – Phần III


Biết cách đoàn kết những người phản đối mình lại, tuyệt đối không phải là một việc dễ dàng. Vì nhìn từ góc độ tâm lý học, con người đều có tham vọng thể hiện chính xác và cao siêu về cái tôi. Khi nhu cầu và tham vọng đạt được tương đối hoặc tạm thời thỏa mãn thì nội tâm của con người sẽ luôn luôn cởi mở và rộng rãi, ngược lại thì sẽ gây tâm lý đè nén thậm chí là tâm lý nghịch phản. Trong trường hợp đó, nhà lãnh đạo thường trở nên hẹp hòi, khó tha thứ cho kẻ có ý kiến trái ngược mình.

Một số lãnh đạo có thể hiểu và bỏ qua những ý kiến phản đối để tăng cường sự đoàn kết. Đó là do đối với một số nhà lãnh đạo thì sai lầm của người khác sẽ thể hiện rõ sự cao minh và đúng đắn của mình, điều đó sẽ làm cho tham vọng và nhu cầu về lòng tự trọng được thỏa mãn một cách tương đối; ngược lại phản đối đúng đắn củ người khác sẽ phản ánh lại khả năng thấp kém và sự sai lầm của chính nhà lãnh đạo đó vì vậy họ sẽ mất cân bằng. Thậm chí có một số nhà lãnh đạo còn xem những ý kiến đúng đắn nhưng bất đồng với mình như những trở ngại ngăn cản việc đạt được mục đích mong muốn, là gây khó khăn với mình. Vì vậy, để bảo vệ sự tôn nghiêm, bảo toàn thể diện hoặc vì những mục đích khác, thù hận với những người phản đối mình đúng đắn, thậm chí có thể chèn ép và đả kích họ đến cùng.

Nghiêm túc mà nói, một người lãnh đạo không thể khoan dung cho những người phản đối mình, thì không chỉ là phong thái hẹp hòi mà còn là sự thiển cận về mặt chính trị. Đối với các ý kiến đúng đắn và trái ngược với chủ trương của mình, mặc dù lắng nghe sẽ cảm thấy chướng tai, thậm chí còn làm tổn hại đến sự tôn nghiêm, nhưng người lãnh đạo nếu có thể “tiếp thu những ý kiến ngược chiều” khoan dung thoáng đạt thì sẽ vô cùng có lợi cho sự nghiệp, sự thịnh vượng, thành tích chính trị nổi bật uy tín và sức hấp dẫn của người lãnh đạo tự nhiên cũng theo đó mà “nước lên thuyền lên”.

Một nhà lãnh đạo ưu tú không những cần phải biết cách sử dụng cấp dưới, mà còn phải biết thông qua việc đào thải viên, giải tỏa những vướng mắc để thức tỉnh tính chủ động về công việc trong con người họ, phải giúp họ xem xét những lo lắng của họ, khiến cho cuộc sống của họ ổn định, tâm lý yên ổn, để toàn tâm toàn ý dành cho công việc.

Quản lý theo kiểu Trung Quốc cho rằng, để giải quyết những lo lắng của cấp dưới thì phải làm được ba điều sau:

Thứ nhất, phải nắm bắt được tình hình cơ bản của cấp dưới. Người lãnh đạo nên thường xuyên trò chuyện với cấp dưới của mình, quan tâm đến đời sống của họ, đối với cấp dưới phải tìm kiểu kỹ đặc biệt là những người có gia đình có nhiều khó khăn, bất kỳ lúc nào cũng phải theo sát được trọng tâm những vướng mắc của cấp dưới để tùy bệnh mà bốc thuốc.

Thứ hai, quan tâm đến cấp dưới phải xuất phát từ lòng chân thành. Mỗi người lãnh đạo bắt buộc phải lấy sự nghiệp làm xuất phát điểm, chân thực, thành tâm thành ý, phải biết cách đặt mình vào hoàn cảnh của cấp dưới, quan tâm đến cấp dưới, thực sự giúp họ loại bỏ những khó khăn. Không nên vì những khuyết điểm nhỏ của cấp dưới mà thay đổi thái độ của mình đối với họ, cũng không nên trách móc cấp dưới kkhi họ phạm phải một số sai lầm. Vì một khi lãnh đạo đã có thái độ khác với một nhân viên nào đó, thì những nhân viên còn lại sẽ tận dụng cơ hội, bao vây công kích nhân viên đó, giậu đổ bìm leo như thế sẽ khiến cho một vấn đề đơn giản trở nên phức tạp, khiến cho nội bộ hỗn loạn, dẫn đến sự ăn mòn từ bên trong sẽ tiêu hao tinh lực của chính mình.

Thứ ba, tạo cơ hội sửa sai cho những nhân viên đã phạm phải sai lầm. Trong “Hán Thư” đã nói “Nói nước trong ắt không có cá, người mà tra xét ắt nói mình vô tội, kẻ tinh thông thì cũng có điều chưa thấy, người thông minh rồi cũng có cái chưa nghe, lấy đại đức để bỏ qua cho những cái nhỏ nhặt, đó cũng là theo đuổi cái nghĩa làm người”. Đối với những cái sai sót của cấp dưới không nên trách cứ họ một cách quá đáng. Trong công việc, người lãnh đạo không thể việc gì cũng nắm được thực chất, quá chi tiết. Trong một số trường hợp phải “giả câm giả điếc”, làm một kẻ “hồ đồ hiếm có”, “vô vi mà trị”, biết đâu lại có thể có một kết quả tương đối lý tưởng.

Quản lý theo kiểu Trung Quốc cực kỳ nhấn mạnh việc cấp dưới của mình cảm thấy yên tâm, một nhà lãnh đạo thì phải có lòng khoan dung độ lượng, nếu như quá tinh ranh, so đo tính toán, không thể chịu nổi một hạt sạn nhỏ vướng trong mắt, ắt sẽ có chẳng khác gì kiểu “vì bụi rậm mà đuổi chim”, “vì vực sâu mà đuổi cá”, không thể có được nhiều người đi theo mình. Tục ngữ đã nói “khoan dung độ lượng một chút ấy là phúc”. Chỉ có người lãnh đạo có trái tim rộng mở như biển cả, không tính toán những sai lầm của cấp dưới thì mới tạo ra được cho mình một sức hút mãnh liệt, đồng thời trong những lúc quan trọng có được sự ủng hộ và giúp đỡ của người khác.

Kiểm soát lẫn nhau tạo thế cân bằng

Trong xã hội phong kiến, quyền lực của hoàng đế là cao nhất, nhưng quyền lực lại cần phải giao phó cho một tổ chức và cá nhân cụ thể hành xử, nếu trong lúc giao phó quyền lực cho đại thần, lại không giới hạn nhất định thì rất dễ dẫn đến chuyện cá nhân đó sẽ chiếm giữ tuyệt đối với quyền lực được giao phó. Trong lịch sử Trung Quốc những chuyện đại thần chuyên quyền, vua chúa nhược đã từng xảy ra. Những bài học của lịch sử rất đáng để tiếp thu quản lý theo kiểu Trung Quốc rất coi trọng điểm này, nó cho rằng muốn ngăn chặn các quan đại thần lạm dụng quyền lực hoặc tiếm quyền, thì phải lấy quyền lực để hạn chế quyền lực, cũng có nghĩa là phải tìm được điểm khống chế cân bằng của quyền lực tiêu chuẩn, khiến cho họ tự kìm hãm lẫn nhau, cạnh tranh nhau để cống hiến sức mình phục vụ cho triều đình. Ở điểm này, Lưu Bị là người đã làm rất tuyệt vời.

Lưu Bị trong giờ phút hấp hối vẫn giữ được đầu óc chính trị sángg suốt, hơn thế còn thể hiện rõ tầm nhìn rất xa không ai sánh được, việc ông khéo léo gửi gắm con côi cho đến chuyện bổ nhiệm các đại thần phò tá đều cho thấy rõ điều đó. Trong lúc hấp hối, một tay ông gạt nước mắt một tay nắm tay Gia Cát Lượng dặn dò: “Tài thừa tướng gấp mười Tào Phi, tất yên định được nhà nước, làm nên việc to. Đối với con trẫm, có thể giúp được thì giúp, bằng hông thì người lên làm chủ đi!” Câu nói trước phút lâm chung này so với câu nói “Thà phụ người trong thiên hạ còn hơn để người trong thiên hạ phụ ta” của Tào Tháo thì còn xảo quyệt giảo hoạt hơn nhiều, vì không chỉ lôi kéo được tình cảm của Gia Cát Lượng mà còn khiến ông sáu lần ra khỏi Kỳ Sơn, hết lòng tận tụy, thề chết để báo đáp ân tình của Lưu Bị, củng cố vững chắc hơn nữa nền tảng sau này cho Lưu Thiền [con trai của Lưu Bị].

Lưu Bị hiểu rất rõ Gia Cát Lượng là người có năng lực, tên tuổi và uy quyền. Nếu thiếu Gia Cát Lượng thì Tây Thục rộng lớn sẽ không thể phát triển bình thường, nhưng nếu không làm yên lòng Gia Cát Lượng, nhờ Gia Cát Lượng nghĩ cách đối phó với Lưu Thiền thì mọi chuyện sẽ hỏng hết. Gia Cát Lượng là người mà Lưu Bị có thể gửi gắm con trai của mình, chỉ cần xác định chính thức vị trí của Gia Cát Lượng, mọi thứ sẽ trở nên dễ dàng. Lưu Bị hiểu rất rõ Lưu Thiền con trai mình là kẻ bạc nhược bất tài. Vì thế, Lưu Bị cương quyết đem việc Lưu Thiền là kẻ “bất tài” ra nói thẳng, chủ yếu để cho Gia Cát Lượng thấy sự tín nhiệm của Lưu Bị đối với con mình. Cứ như thế, cho dù sau này Lưu Thiền đến mức không thể phò tá được nữa thì Gia Cát Lượng cũng sẽ không mưu phản mà can tâm tập trung báo quốc. Quả nhiên khi Hậu chúa [Lưu Thiền] bạc nhược nghe theo những lời sàm tấu, triệu hồi Gia Cát Lượng về triều khi ông đang nắm phần thắng trong tay, thì những gì Gia Cát Lượng làm vẫn là dùng lời lẽ hết lòng khuyên bảo. Cách làm đó không phù hợp với một người có trí tuệ và tính cách như Gia Cát Lượng; cách xử sự đó của ông là do bị thao túng bởi bàn tay vô hình phía sau sân khấu của Lưu Bị.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – Phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.

Bàn về cơ cấu một cuộc xâm lược Đài Loan của PLA – Phần I


Rick Joe

Mối đe dọa xảy ra tình huống bất ngờ ở Đài Loan là cuộc đối đầu quân sự dai dẳng và có khả năng xảy ra nhất mà quân đội Trung Quốc (Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc – PLA) phải đối mặt, và phần lớn sự hiện đại hóa của PLA trong vài thập kỷ qua đã được thiết kế cho một kịch bản như vậy. Nhiều bài viết, bình luận, và thậm chí các video trong những năm qua đã tìm hiểu cách một cuộc xâm lược Đài Loan của PLA có thể diễn ra và mức độ thành công hay thất bại của mỗi bên.

Bài viết này gồm 3 phần thảo luận về các phương pháp chính mà PLA có thể sử dụng để theo đuổi một cuộc xâm lược Đài Loan trong khung thời gian cuối năm 2019. Phần một viết về sức mạnh không quân PLA; phần hai tìm hiểu các lực lượng tên lửa, hải quân và mặt đất của PLA; phần ba đánh giá việc mua sắm và chiến lược của các lực lượng vũ trang Đài Loan (ROCArF) nhằm chống lại các lợi thế của PLA, cũng như xem xét quỹ đạo tương lai của PLA và các năng lực cụ thể của Đài Loan mà họ có thể tìm cách có được.

Không quân

PLA sẽ sử dụng sức mạnh không quân của mình như thế nào trong một cuộc xâm lược ở Đài Loan vào cuối năm 2019?

Chuẩn bị sẵn sàng, các “lá bài tẩy”, các từ viết tắt

Ngay cả quy trình tạo ra cuộc xung đột ban đầu cũng không thể được tiến hành mà không có các mục tiêu chính trị và chiến lược cũng như môi trường dẫn đến cuộc xung đột. Với mục đích của loạt bài viết này, các tác giả sẽ mô tả môi trường địa chính trị như một kịch bản Đài Loan độc lập tiêu chuẩn, trong đó đảng nắm giữ quyền lực ở Đài Bắc có các động thái chính trị công khai hướng tới giành độc lập (bao gồm phát ngôn chính trị và các biểu hiện mang tính tượng trưng trước công chúng) bằng việc tăng cường đưa ra những lời cảnh báo chống Trung Quốc liên quan đến những giới hạn đỏ chính trị. Việc này tiếp diễn trong thời gian 2 tháng khi căng thẳng chính trị và quân sự trên eo biển Đài Loan leo thang, đỉnh điểm là việc chính quyền Đài Loan tuyên bố độc lập chính trị chính thức và việc Trung Quốc phản ứng quân sự ngay lập tức bằng cách tuyên bố bắt đầu lại Nội chiến Trung Quốc, tuyên bố mục tiêu chính trị là “tái thống nhất” và mục tiêu quân sự là một cuộc xâm lược quân sự và dẹp tan sự kháng cự của ROCArF.

Bài viết này giả định PLA sẽ tìm cách đạt được mục tiêu của họ nhanh nhất có thể, một phần để giảm thời gian có thể để Mỹ ra quyết định can thiệp quân sự. Bài viết này sẽ đề cập đến một kịch bản liên quan đến 2 tuần chuẩn bị tích cực và một tuần xung đột chủ động, trong đó Mỹ không trực tiếp tham gia. Tuy nhiên, PLA cũng sẽ không thể đảm bảo dốc toàn lực cho cuộc xung đột này, vì các lực lượng bổ sung sẽ được giữ dự phòng trong trường hợp có sự can thiệp của Mỹ cũng như cho các chỉ thị chiến lược then chốt ở phía Tây và Đông Bắc, nơi Trung Quốc phải đối mặt với Ấn Độ và bán đảo Triều Tiên. Do đó, theo chủ định của bài viết, chỉ khoảng 1/3 tổng phương tiện cơ động của PLA như máy bay chiến thuật và lực lượng hải quân sẽ được bố trí để sử dụng trong tình huống bất ngờ này. Mục tiêu quân sự của ROCArF sẽ là phòng thủ và khiến PLA càng chịu nhiều thương vong càng tốt bằng việc sử dụng các lực lượng sẵn có và tồn tại bằng sự gắn kết về quân sự và chính trị càng lâu càng tốt với hy vọng Mỹ sẽ can thiệp.

Trong bất kỳ kịch bản xung đột nào cũng có các “lá bài tẩy” khác nhau có lợi cho phe này hoặc phe kia. Huấn luyện quân sự và năng lực cơ bản của quân đội và các sĩ quan có lẽ là các yếu tố gây xáo trộn trực tiếp nhất đối với việc đánh giá hiệu quả chiến đấu. Tinh thần quân sự và tinh thần dân sự có thể ảnh hưởng lớn đến toàn bộ quyết tâm và sự sẵn sàng chiến đấu của một quốc gia, và đặc biệt quan trọng đối với ROCArF do phòng thủ của Đài Loan có thể sẽ phụ thuộc đáng kể vào lính nghĩa vụ và quân dự phòng. Các yếu tố khác như ám sát, phá hoại, những đột phá chiến lược về gián điệp, và các cuộc tấn công mạng, cũng có thể làm thay đổi đáng kể sự gắn kết chính trị và quân sự và năng lực của một bên nếu thành công trong một kịch bản xung đột như vậy. Theo chủ đích của bài viết này, các “lá bài tẩy” như đào tạo, tinh thần, các vụ ám sát và phá hoại, gián điệp và tấn công mạng sẽ không được tính đến và PLA hoặc ROCArF sẽ không có lợi thế ngay từ khi bắt đầu xung đột.

Từ “T-day” sẽ được sử dụng để mô tả ngày khởi phát xung đột.

Cuối cùng, các từ viết tắt liên quan sẽ được đưa ra, có thể áp dụng trong toàn bộ bài viết:

+ AEW&C: Cảnh báo sớm và kiểm soát trên không

+ APAR: Radar mảng pha quét điện tử chủ động

+ ASW: Chiến tranh chống tàu ngầm

+ C4I: Hệ thống Chỉ huy, kiểm soát, truyền tin, máy tính, tình báo

+ CAS: Hệ thống yểm trợ không chiến tầm gần

+ DAM: Đạn tấn công trực tiếp

+ DDG: Tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường

+ DEAD: Phá hủy hệ thống phòng không của kẻ thù

+ E/S/C/W/NTC: Bộ tư lệnh chiến trường Đông/Nam/Trung/Tây/Bắc

+ ECM: Các phương tiện gây nhiễu điện tử

+ ELINT: Trí thông minh điện tử

+ EW: Chiến tranh điện tử

+ FFG: Khinh hạm trang bị tên lửa dẫn đường

+ UAV HALE/MALE: Phương tiện bay không người lái có khả năng hoạt động trong thời gian dài với độ cao lớn/độ cao trung bình

+ I/SRBM: Tên lửa đạn đạo tầm trung/tầm ngắn

+ IADS: Hệ thống phòng không tích hợp

+ ISR: Hệ thống tình báo, giám sát, trinh sát

+ LACM: Tên lửa hành trình tấn công mặt đất

+ MPA: Máy bay tuần tra hàng hải

+ PLA: Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

+ PLAAF: Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

+ LAMC: Thủy quân lục chiến Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

+ PLAN: Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

+ PLARF: Lực lượng Tên lửa Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

+ ROCA: Lục quân Đài Loan

+ ROCAF: Không quân Đài Loan

+ ROCArF: Lực lượng Vũ trang Đài Loan

+ ROCN: Hải quân Đài Loan

+ SAM: Tên lửa đất đối không

+ SAR: Radar khẩu độ tổng hợp

+ SEAD: Áp chế hệ thống phòng không của kẻ thù

+ SIGINT: Tình báo tín hiệu

+ SOM: Đạn bắn tự động từ xa.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://thediplomat.com/2019/04/anatomy-of-a-taiwan-invasion-the-air-domain/

TLTKĐB – 04 & 05/06/2019

11 câu hỏi quanh khả năng Việt Nam kiện Trung Quốc về Bãi Tư Chính – Phần đầu


Dương Danh Huy

Việt Nam đang đứng trước tình trạng “hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau” và Bắc Kinh lại uốn tấc lưỡi bảo Việt Nam phải “ứng xử cho đúng”, “tôn trọng chủ quyền Trung Quốc” và “đừng làm phức tạp tình hình”.

Chúng ta may mắn được sống trong một thế giới có những biện pháp hòa bình để bảo vệ quyền lợi của đất nước. Qua các câu hỏi và trả lời, bài viết này cố gắng cung cấp thông tin về một trong những biện pháp văn minh nhất, bình đẳng nhất, đó là kiện Trung Quốc.

1/ Kiện Trung Quốc về điều gì?

Việt Nam cần kiện Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

2/ Nếu Trung Quốc không chấp nhận ra tòa?

Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), trong Phần XV và các Phụ lục liên quan, quy định về một cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc cho các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc. Cơ chế này cho phép các thành viên kiện nhau về các tranh chấp liên quan đến việc diễn giải và áp dụng Công ước, trong đó có tranh chấp về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Với cơ chế này, dù Trung Quốc không chấp nhận ra tòa cũng không ngăn được vụ kiện. Trung Quốc cố ý không giải quyết tranh chấp một cách công bằng, và mục đích của cơ chế này chính là để cho các thành viên UNCLOS có thể thoát khỏi những sự cố ý tồi tệ như thế.

Tuy cơ chế này cần hội tụ đủ một số điều kiện và có một số hạn chế, ví dụ như trong Điều 297 và 298, việc vụ kiện Philippines – Trung 2013 – 2016 được thụ lý cho thấy khả năng nếu Việt Nam kiện và Trung Quốc không chấp ra tòa thì tòa cũng sẽ thụ lý.

3/ Sao không kiện Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa?

Bản chất của tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa là tranh chấp chủ quyền, không phải là diễn giải và áp dụng UNCLOS. Cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS không bao gồm những tranh chấp mà bản chất là tranh chấp chủ quyền. Tòa án Công lý Quốc tế cũng không có thẩm quyền để xử lý tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa cho đến khi mọi bên trong tranh chấp đã chấp nhận thẩm quyền của Tòa bằng một trong những hình thức trong Điều 36 và 37 của Quy chế của Tòa, và hiện nay điều kiện đó chưa được đáp ứng.

4/ Tòa nào sẽ xử?

Điều 287 của UNCLOS cho phép các bên trong tranh chấp tuyên bố chọn phương tiện phân xử, ví dụ như Tòa án Công lý Quốc tế hay Tòa Trọng tài Quốc tế về Luật Biển (ITLOS), nhưng phương cách mặc định là một Hội đồng Trọng tài (HĐTT) lâm-cấp thời (ad hoc) được thiết lập theo Phụ lục vii của UNCLOS.

Hội đồng bao gồm 5 trọng tài: mỗi bên được chọn một và các bên cùng nhau chọn số còn lại. Nếu không đủ 5 trọng tài vì các bên không đồng ý với nhau, hay có bên không chọn, thì Chủ tịch Tòa Trọng tài Quốc tế về Luật Biển sẽ chọn. Chính một HĐTT như thế (đã phân xử vụ kiện Trung Quốc – Philippines) chọn 1 trọng tài, nhưng Trung Quốc không tham gia, và Chủ tịch ITLOS Shunji Yanai chọn 4 trọng tài còn lại.

5/ HĐTT không phải Tòa án Công lý Quốc tế, phán quyết của họ có ý nghĩa gì không?

Phán quyết của HĐTT được thiết lập theo Phụ lục VII của UNCLOS hoàn toàn có tính ràng buộc giữa các quốc gia trong vụ kiện, đối với các quốc gia này thì không khác gì Tòa án Công lý Quốc tế đã xử. Thí dụ, phán quyết 2016 có tính ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc, dù Trung Quốc không công nhận. Tuy nhiên, phán quyết đó không có tính ràng buộc giữa các quốc gia đó và các bên thứ ba.

6/ Phán quyết 2016 đã bác bỏ “đường 9 đoạn” rồi, kiện nữa làm gì?

Phán quyết đó chỉ có tính ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc. Nếu Việt Nam muốn có một phán quyết có tính ràng buộc giữa mình và Trung Quốc, Việt Nam phải kiện Trung Quốc.

7/ Kiện có ích gì khi Trung Quốc sẽ không tuân thủ?

Chắc chắn Trung Quốc sẽ không tự nguyện tuân thủ phán quyết, cũng như họ đã không tuân thủ phán quyết 2016 về vụ kiện Philippines – Trung Quốc. Tuy nhiên, một phán quyết xác nhận Việt Nam đúng, Trung Quốc sai, sẽ vô cùng hữu ích trong việc tranh thủ sự ủng hộ của thế giới. Các nước khác, đặc biệt là Mỹ, có thể ủng hộ Việt Nam một cách danh chính ngôn thuận, không thể bị cho là thiên vị một bên trong tranh chấp và sự ủng hộ của họ sẽ có nhiều trọng lượng hơn.

Trung Quốc sẽ không thể ngụy biện rằng họ đang giải quyết và quản lý tranh chấp với các nước nhỏ một cách tốt đẹp, các nước ngoài khu vực không nên xen vào. Các nước khác có thể lên tiếng bảo vệ các công ty dầu khí của họ khi các công ty này làm việc với Việt Nam, Trung Quốc không thể yêu cầu họ rút khỏi “vùng tranh chấp”.

Trong tương lai, Việt Nam phải đưa tranh chấp ra Liên hợp quốc, vì chắc chắn Trung Quốc sẽ leo thang lấn lướt. Nếu có trong tay một phán quyết xác nhận Việt Nam đúng, Trung Quốc sai, Việt Nam sẽ được nhiều phiếu ủng hộ hơn.

Ngoài ra, phán quyết của HĐTT UNCLOS sẽ xứng đáng với chính nghĩa của Việt Nam hơn là cử người phát ngôn bộ ngoại giao, thậm chí cử ngoại trưởng, ra “đôi co” với các tương nhiệm Trung Quốc, trong khi Bắc Kinh càng ngày càng lấn tới.

8/ Lập luận của Việt Nam sẽ là gì?

Lập luận của Việt Nam có thể là:

Các lô 05, 06, 07, 130, 131, 132, 133, 154, 155, 156, 157 và một phần của Bãi Tư Chính nằm trong EEZ tính từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam. Các khu vực này nằm dưới mặt nước, do đó không nước nào có thể tuyên bố chủ quyền đối với chúng. Bất cứ nước nào, tối đa cũng chỉ có các loại quyền chủ quyền và quyền tài phán (khác với chủ quyền), dựa trên nguyên tắc thống trị biển và UNCLOS.

Các khu vực này không thể nằm trong EEZ hay thềm lục địa của bất cứ đảo nào đang bị tranh chấp (tức là các đảo thuộc quần đảo Trường Sa). (Lý do là theo Điều 121(3) UNCLOS không đảo nào được hưởng quy chế vùng EEZ hay thềm lục địa, như HĐTT 2016 đã khẳng định).

Trung Quốc không thể có quyền lịch sử đối với vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của Việt Nam. (Lưu ý HĐTT 2016 đã khẳng định rằng Trung Quốc vừa không hề có quyền lịch sử đối với vùng biển và đáy bên bên ngoài lãnh hải 12 hải lý, vừa không thể bắt cá hai tay, một mặt thì đòi tự do tiền-UNCLOS trong việc họ khai thác bên trong EEZ của các nước khác, một mặt thì không chấp nhận tự do tiền-UNCLOS của các nước khai thác bên trong EEZ của họ. Việc phê chuẩn UNCLOS có nghĩa phải bỏ cả hai sự tự do này).

Vì vậy, các khu vực này hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam (Lưu ý đây là những quyền có hạn chế được UNCLOS quy định, khác với chủ quyền mà không nước nào có thể có).

Trung Quốc đã vi phạm các quyền này của Việt Nam và phải ngưng vi phạm.

(còn tiếp) 

Nguồn: BBC

TKNB – 08/08/2019