Tư tưởng Trung Quốc – Phần đầu


Khi Phật giáo đến Trung Quốc trong khoảng thế kỷ thứ I thì gặp nơi đó một nền văn hóa hơn hai ngàn năm. Trong nền văn hóa này, các tư tưởng triết học đạt đỉnh cao trong những thời đại sau của nhà Chu (khoảng 500 – 221 trước Công nguyên), thời đại hoàng kim của triết học Trung Quốc, được sự tôn trọng cao nhất của thời bấy giờ.

Từ xưa nền triết học đó có hai khía cạnh bổ túc cho nhau. Vì người Trung Quốc vốn thực tiễn với một ý thức xã hội cao độ nên mọi trường phái triết học không ít thì nhiều đều có tính nhập thế, đều nói về quan hệ giữa người với người, về những vấn đề luân lý và trị nước. Thế nhưng đó chỉ là một mặt của tư tưởng Trung Hoa. Nó được bổ sung bằng mặt siêu hình của tính chất Trung Hoa, tính chất đó cho rằng mục đích cao nhất của triết lý là vượt qua đời sống hàng ngày của xã hội và đạt một bình diện tâm thức cao hơn nữa. Đó là bình diện của chân nhân, là hình ảnh lý tưởng của tư tưởng Trung Hoa về con người giác ngộ, đó là người đã đạt sự thống nhất huyền bí với vũ trụ.

Tuy thế chân nhân của Trung Quốc không chỉ sống trên bình diện tinh thần cao siêu, mà cũng còn quan hệ với các vấn đề thế gian. Đó là người dung hợp trong mình hai mặt tự tính con người – tuệ giác trực tiếp và suy luận cụ thể, tâm tư hướng nội và tác động ngoại cảnh – hai điều mà người Trung Quốc gắn với đặc trưng của chân nhân và hoàng đế. Theo lời của Trang Tử thì con người chứng thực là người “qua tĩnh lặng mà thành chân nhân, qua hoạt động mà ra hoàng đế”. Vào thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, hai mặt của triết học Trung Quốc biến thành hai trường phái triết học, đó là Khổng giáo và Lão giáo. Khổng giáo là triết lý của sự tổ chức xã hội, của đầu óc suy luận trước sau, của tri kiến thực tiễn. Nó cho xã hội Trung Quốc có một hệ thống giáo dục và quy tắc nghiêm nhặt về lễ nghĩa. Một mục đích chính của Khổng giáo là hình thành một nền tảng đạo đức cho hệ thống gia đình truyền thống với những quan hệ phức tạp và lễ nghi thờ cúng tổ tiên. Còn Lão giáo, trước hết quan tâm đến những quan sát thiên nhiên và tìm hiểu đường đi của chúng, đó là “Đạo”. Theo Lão giáo thì con người chỉ hạnh phúc khi nó đi theo đúng quy luật tự nhiên, hành động hồn nhiên và dựa trên trực giác.

Hai tư tưởng này đại biểu cho hai cực trong nền triết lý Trung Quốc, nhưng tại xứ này chúng luôn luôn được xem là hai cực của một tự tính con người duy nhất, chúng bổ túc lẫn nhau. Khổng giáo thường được sử dụng để giáo dục cho trẻ con, để chúng học những phép tắc cần thiết trong đời sống xã hội, trong lúc người già cả hướng về Lão giáo để tìm kiếm và phát huy lại sự hồn nhiên đã bị quy định của xã hội phá hủy. Vào thế kỷ 11 và 12 có nhiều nhà Khổng học hậu thế cố hình thành một sự dung hợp từ Khổng giáo. Phật giáo và Lão giáo, nó trở thành đỉnh cao trong triết học của Chu Hy, một trong những tư tưởng gia lớn nhất của Trung Quốc. Chu Hy là nhà triết học xuất sắc, người đã nối kết giáo lý Khổng Tử với chiều sâu tư tưởng Phật giáo, Lão giáo và xây dựng những yếu tố của ba dòng truyền thừa vào trong hệ thống triết học của mình.

Danh từ “Khổng giáo” xuất phát từ Khổng Phu Tử, vị “vạn thế sư biểu” xuất chúng, là vị thầy xem trách nhiệm của mình là truyền lại gia tài văn hóa cho học trò. Ngài vượt lên phương pháp truyền đạt kiến thức đơn giản bằng cách dùng những khái niệm đạo đức của chính mình để lý giải những ý niệm ngàn xưa truyền lại. Đạo lý của Ngài đặt nền tảng trên năm bộ sách cổ điển về triết lý, lễ nghi, thơ văn, âm nhạc và lịch sử; chúng là tài sản văn hóa và tâm linh của “thánh hiền” trong quá khứ của Trung Quốc để lại. Truyền sử Trung Quốc coi Khổng Tử như gắn liền với tất cả mọi tác phẩm đó, với tính chất là tác giả, nhà luận giải hay người phổ biến. Thế nhưng những khảo cứu gần đây cho thấy Ngài không phải là người viết hay lậun các tác phẩm đó, cũng không phải là người phổ biến. Tư tưởng của Ngài được nêu rõ trong Luận Ngữ, một tuyển tập do học trò của Ngài ghi lại.

Người sáng lập Lão giáo là Lão Tử, mà tên của Ngài có nguyên nghĩa là vị thầy già cả và theo tương truyền là người cùng thời nhưng già hơn Khổng Tử. Người cho rằng Ngài là tác giả của một tập sách, tập sách này được xem là tác phẩm then chốt trong Lão giáo. Tại Trung Quốc người ta gọi tập này đơn giản là Lão Tử, tại phương Tây là Đạo Đức Kinh, một cái tên người ta gán cho sau này. Tôi đã nhắc tới văn phong nghịch lý và ngôn ngữ mạnh mẽ, nên thơ của tập này mà Joseph Needham đã gọi là “không ai chối cãi là tác phẩm sâu sắc và tuyệt diệu nhất trong ngôn ngữ Trung Quốc”.

Tác phẩm quan trọng đứng thứ hai trong Lão giáo là bộ Trang Tử, một tác phẩm có quy mô lớn hơn Đạo Đức Kinh mà tác giả là Trang Tử, sống sau Lão Tử khoảng hai trăm năm. Theo những phát hiện sau này thì tập Trang Tử và cả tập Lão Tử không phải là tác phẩm của một người duy nhất, mà có lẽ là tập hợp những luận giải về Lão giáo, do nhiều tác giả trong nhiều thời kỳ khác nhau họp lại.

Cả Luận Ngữ cũng như Đạo Đức Kinh được viết với một văn phong gọn gàng, có tính chất gợi mở, nó là đặc trưng của tư duy Trung Quốc. Tinh thần người Trung Quốc không thích những loại tư duy logic trừu tượng và nó sản sinh một thứ ngôn ngữ khác xa ngôn ngữ phương Tây. Nhiều từ của họ dùng làm danh từ, tính từ hay cả động từ và thứ tự của chúng không do ngữ pháp quy định mà do nội dung cảm tính của câu văn hình thành. Từ cổ điển của ngôn ngữ Trung Quốc khắc hẳn với một nhóm chữ trừu tượng, mang một khái niệm nhất định. Từ Trung Quốc thường là một âm thanh có một sức kích thích tưởng tượng, nó mang một hình ảnh có phạm vi nhất định, mang lại một số cảm xúc nào đó. Người nói không chú tâm trình bày một ý niệm có tính suy luận mà là nói với người nghe hầu như để tạo một ảnh hưởng lên họ. Cũng vì thế mà các nét chữ của ngôn ngữ này không phải là những hình, dấu trừu tượng mà là một cấu trúc có liên hệ với nhau, đó là một dạng hình chứa đựng toàn bộ hình dung và sự kích thích của một từ.

Vì các triết gia có thể diễn tả tư duy của mình bằng một ngôn ngữ phù hợp như thế, nên các luận giải và quan niệm của họ một mặt được trình bày rất ngắn, không chính xác, một mặt lại đầy hình ảnh gợi mở. Rõ ràng là những hình ảnh này bị mất đi trong các bản dịch ra ngoại ngữ khác. Thí dụ bản dịch của một câu trong Đạo Đức Kinh chỉ phản ánh được một phần của nội dung phong phú đầy ý tưởng của nguyên bản. Vì thế mà các bản dịch khác nhau của tác phẩm này thường mang câu chữ hoàn toàn khác, nội dung có lúc mâu thuẫn lẫn nhau. Phùng Hữu Lan nói: “Người ta cần phải phối hợp nhiều bản dịch đã có cũng như nhiều bản cần có, để khám phá được sự phong phú của nguyên tác Đạo Đức Kinh và Luận Ngữ…”.

Cũng như người Ấn Độ, người Trung Quốc tin rằng có một thực tại cuối cùng, nó là nền tảng của mọi hiện tượng và biến cố, là nơi chúng thống nhất với nhau:

Có ba cách nói – “cái toàn triệt”, “cái bao trùm tất cả”, “cái tổng thể”. Những từ này khác nhau, nhưng tự tính nằm trong những chữ đó thì giống nhau: đó là một cái duy nhất.

Họ gọi cái tự tính này là “Đạo”, nguyên nghĩa của nó là “đường đi”. Đó là đường đi hay tiến trình của vũ trụ, là trật tự của tự nhiên. Về sau môn đệ của Khổng Tử cho nó một nghĩa khác. Họ nói về Đạo của con người hay Đạo của xã hội loài người và xem như là cách thế sống đúng đắn trong nghĩa đạo đức.

Trong nghĩa nguyên thủy, nói về vũ trụ thì Đạo là thể cuối cùng, không thể định nghĩa và như thế nó được đặt ngang tầm Brahman của Ấn Độ giáo và pháp thân của Phật giáo. Thế nhưng nó khác với các khái niệm Ấn Độ là đạo mang tính năng động nội tại, mà theo quan điểm Trung Quốc thì đó là tính chất then chốt của vũ trụ. Đạo là tiến trình vũ trụ trong đó mọi sự vật đều tham dự và thế giới là một sự trôi chảy liên tục và biến đổi không bao giờ ngừng.

Quan điểm của Phật giáo Ấn Độ với thuyết vô thường cũng có cái nhìn tương tự, tuy thế chủ yếu nói về tình trạng con người và hướng về những hệ quả có tính tâm lý. Còn người Trung Quốc không chỉ tin rằng tính biến đổi trôi chảy là tự tính của tự nhiên, mà còn cho rằng cũng có những cấu trúc bất dịch trong sự biến đổi mà con người biết được. Thánh nhân là người biết nhận ra những cơ cấu này và hành động phù hợp với chúng. Được như thế thì con người “là một với Đạo”, sống tùy thuận với tự nhiên và làm gì cũng thành cả. Sau đây là câu nói của Hoài Nam Tử, triết gia sống vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên:

Ai cùng tùy thuận với đạo, cùng thuận theo biến chuyển của trời đất, người đó làm chủ thiên hạ.

Thế thì những gì là cơ cấu của Đạo vũ trụ mà con người cần biết? Đặc điểm chính của đạo là tính chất chu kỳ trong quá trình vận động và biến đổi liên tục. Lão Tử nói: Quy căn viết Tịnh (trở về cội rễ, gọi là Tịnh) và Thệ viết viễn, viễn viết phân (mỗi vật đi đến cực độ phải biến, biến trở về cái đối địch). Đó là quan niệm mọi sự trong trời đất, trong thế giới vật lý, trong đời con người, có một cơ cấu “phản phục”, có sự lên xuống chu kỳ, cơ cấu của đến và đi, của giãn nở và co thắt.

Quan niệm này hiển nhiên bắt nguồn từ vận động của mặt trời, mặt trăng và các mùa trong năm, nhưng cũng được lấy từ quy luật của đời sống. Người Trung Quốc cho rằng, một tình hình khi đã đi tới cùng cực sẽ quay lùi và biến thành dạng ngược lại. Niềm tin cơ bản làm cho họ thêm dũng cảm và sức chịu đựng trong thời kỳ khó khăn cũng như làm cho họ thận trọng và khiêm tốn trong lúc thành công. Nó dẫn đến chủ trương trung dung mà cả Lão giáo hay Khổng giáo đều tin tưởng. Lão Tử nói: “Thị dĩ thánh nhân; khứ thậm, khứ xa, khứ thái” (Ấy nên thánh nhân, lánh bỏ những gì thái quá).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Fritjof Capra – Đạo của vật lý – NXB Trẻ 2015.

Advertisements

Kim tự tháp, máy móc, thị trường và gia đình: Tổ chức thông qua quốc gia – Phần X


Một lý thuyết động lực cổ điển của Mỹ là sự phân biệt của Douglas McGregor giữa “Lý thuyết X” và “Lý thuyết Y”. Tác phẩm của McGregor mang một đặc trưng nhân văn truyền giáo mạnh mẽ của những năm 1950, khi những ý tưởng của ông được hình thành. Các động lực chính của Lý thuyết X là những con người trung bình thì có một sự không thích cố hữu về công việc và sẽ tránh nó nếu anh ta có thể; vì vậy người dân phải bị cưỡng chế, trừng phạt và kiểm soát, để khiến họ đóng góp vào các mục tiêu của tổ chức. Các động lực chính của Lý thuyết Y là phí tổn của nỗ lực thể chất và tinh thần trong công việc là tự nhiên như chơi hay nghỉ ngơi, và rằng trong điều kiện thích hợp, người ta sẽ không chỉ chấp nhận mà thậm chí tìm kiếm trách nhiệm và nỗ lực làm việc hướng đến việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. McGregor rõ ràng là bảo vệ Lý thuyết Y. Trong những năm 1980, Geert được mời đến nói chuyện tại một hội thảo về phát triển nguồn nhân lực tại Jakarta, Indonesia. Có người đề nghị ông nên giải quyết vấn đề làm thế nào đào tạo các nhà quản lý Indonesia thay thế Lý thuyết X bằng Lý thuyết Y. Điều này làm cho ông phản ánh những gì là giả định văn hóa cơ bản, được hiểu ngầm đang có trong cả hai Lý thuyết X và Y. Ông đã đi đến danh sách sau đây:

1/ Công việc là tốt cho mọi người. Mong muốn của Chúa là mọi người nên làm việc.

2/ Năng lực của mọi người cần được sử dụng tối đa. Ý muốn của Chúa là mọi người nên sử dụng năng lực của mình đến mức tối đa.

3/ Có những “mục tiêu tổ chức” mà tồn tại tách khỏi người dân.

4/ Mọi người ở các tổ chức đối xử như những cá nhân không bị ràng buộc.

Những giả định này phản ánh những vị trí giá trị của một chủ nghĩa cá nhân, xã hội nam quyền, chẳng hạn như Hoa Kỳ, nơi McGregor đã lớn lên. Không ai trong số họ áp dụng nền văn hóa ở Indonesia hay các nước Đông Nam Á khác. Các giả định về Đông Nam Á đúng hơn sẽ là:

1/ Công việc là một điều cần thiết, nhưng không có mục tiêu trong chính nó.

2/ Mọi người nên tìm vị trí xứng đáng củ họ, trong hòa bình và hòa hợp với môi trường của họ.

3/ Các mục tiêu tuyệt đối chỉ tồn tại với Chúa. Trên thế giới, những người ở các vị trí có thẩm quyền đại diện cho Thiên Chúa, do đó, mục tiêu của họ nên được theo sau.

4/ Mọi người đối xử như các thành viên của một gia đình và/hoặc nhóm. Những người đó không bị xã hội từ chối.

Do những giả định được xác định về mặt văn hóa khác nhau này, sự phân biệt Lý thuyết X – Lý thuyết Y của McGregor là không thích hợp ở Đông Nam Á. Một khác biệt phù hợp với các nền văn hóa Đông Nam Á sẽ không phản đối giải pháp thay thế độc quyền lẫn nhau mà phá vỡ tiêu chuẩn của sự hòa hợp. Các mô hình lý tưởng sẽ là một cái đối lập bổ sung cho nhau và phù hợp hài hòa với nhau. Chúng tôi gọi đó là Lý thuyết T và Lý thuyết T+, trong đó T là viết tắt của “Truyền thống”.

Lý thuyết T có thể là như sau:

1/ Có một thứ tự của sự bất bình đẳng trong thế giới này mà trong đó mọi người đều có chỗ đứng của mình. Cao và thấp đều được bảo vệ bởi thứ tự này, cái mà theo ý chí của Chúa.

2/ Trẻ em phải học để hoàn thành nhiệm vụ của mình tại nơi mà chúng thuộc về khi sinh ra. Chúng có thể cải thiện vị trí của mình bằng cách học theo một giáo viên tốt, làm việc với một người bảo trợ tốt, và/hoặc kết hôn với một đối tác tốt.

3/ Truyền thống là một nguồn trí tuệ. Do đó, con người trung bình là có một sự không thích cỗ hữu của sự thay đổi và sẽ tránh nó một cách đúng đắn nếu anh ta hoặc cô ấy có thể.

Nếu không có mâu thuẫn với Lý thuyết T, Lý thuyết T+ sẽ khẳng định :

1/ Mặc dù có sự khôn ngoan trong truyền thống, kinh nghiệm trong những thay đổi của đời người là tự nhiên, tự nhiên như làm việc, vui chơi, hoặc nghỉ ngơi.

2/ Cam kết để thay đổi là một chức năng của phẩm chất của các nhà lãnh đạo – người dẫn đầu các thay đổi, các lợi ích gắn liền với thay đổi, và các hậu quả tiêu cực của việc không thay đổi.

3/ Năng lực lãnh đạo mọi người đến một tình hình mới là rộng rãi, không hạn hẹp, phân bố giữa các nhà lãnh đạo trong dân số.

4/ Năng lực học tập của các gia đình trung bình là đầy đủ hơn do hiện đại hóa.

Do đó, một Đông Nam Á tương đương với phát triển nguồn nhân lực có thể dựa trên một cái gì đó giống như Lý thuyết T và T+, không phải trên một sự nhập khẩu không liên quan giống như sự khác biệt Lý thuyết X – Lý thuyết Y.

Những khác biệt quốc gia trong mô hình động lực được phản ánh trong nhiều cách khác nhau của việc bồi thường. Tiền lương và các điều kiện khác được thiết lập bởi so sánh với những người khác trong cùng một thị trường lao động quốc gia. Một nghiên cứu trên 24 quốc gia đã tìm thấy tương quan đáng kể giữa các hoạt động bồi thường và các chỉ số của văn hóa của chúng ta như sau :

+ Người chủ lao động ở các nước có khoảng cách quyền lực nhỏ thường cung cấp việc chăm sóc trẻ tại nơi làm việc cho các nhà quản lý, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, và các lựa chọn cổ phiếu cho người không quản lý.

+ Người chủ lao động ở các nước chủ nghĩa cá nhân thường xuyên thực hiện thanh toán cá nhân hơn, và cung cấp những lựa chọn chứng khoán cho các nhà quản lý.

+ Người chủ lao động ở các nước nam quyền thường xuyên trả hoa hồng hơn cho người lao động không quản lý ; các nước nữ quyền, họ thường xuyên đưa các lợi ích linh hoạt, chăm sóc trẻ em và thai sản vào nơi làm việc cho nhân viên văn phòng và lao động chân tay.

+ Người chủ lao động ở các nước có sự né tránh bất định thường xuyên trả tiền theo thâm niên và kỹ năng.

Lãnh đạo, ra quyết định và trao quyền

Một trong những nhà lý thuyết lâu đời nhất về lãnh đạo trong tài liệu thế giới là Niccolò Machiavelli (1469 – 1527). Ông từng là một chính khách, cuốn sách Quân vương của ông mô tả các kỹ thuật hiệu quả nhất cho các thao tác và duy trì quyền lực, kể cả sự lừa dối, hối lộ và giết người, cuốn sách đã đem đến cho ông một danh tiếng xấu trong các thế kỷ sau đó. Trong thực tế, Machiavelli mô tả những gì ông đã quan sát được – ngày nay ông sẽ được gọi là một nhà xã hội học. Machiavelli đã viết ở Italy và về Italy trong thời của ông rằng những gì ông mô tả là một bối cảnh nam quyền có khoảng cách quyền lực lớn rõ ràng. Khoảng cách quyền lực ở Italy trong các nghiên cứu của IBM đã được tìm thấy là lớn ở mức trung bình, và không có lý do gì để giả định điều này sẽ khác trong thế kỷ thứ 16. Nước Italy trong các nghiên cứu của IBM vẫn ghi điểm rất nam quyền.

Như chúng tôi đã lập luận, lãnh đạo và tính phụ thuộc ở một quốc gia là không thể tách rời. Các quan hệ dọc trong các tổ chức được dựa trên những giá trị chung của cấp trên cấp dưới. Niềm tin về sự lãnh đạo phản ánh các nền văn hóa thống trị của một quốc gia. Yêu cầu mọi người mô tả những phẩm chất của một nhà lãnh đạo tốt là một cách để yêu cầu họ mô tả văn hóa của họ. Nhà lãnh đạo này là một anh hùng văn hóa, trong ý nghĩa của một mẫu cho hành vi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Jofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Phật giáo – Phần cuối


Phật không xây dựng lý thuyết của Ngài như một nền triết học cứng nhắc mà chỉ xem nó là phương tiện để dẫn đến giác ngộ. Những quan điểm của Ngài về thế giới chỉ giới hạn trong sự nhấn mạnh tính vô thường của “vạn sự”. Ngài cho rằng ai cũng có tự do tâm linh của mình, và nói rõ Ngài là người chỉ đường dẫn đến Phật quả và mỗi người phải tự mình tinh tấn đi hết con đường đó. Lời nói cuối cùng của Phật trước khi nhập diệt là thế giới quan của Ngài và nói rõ Ngài chỉ là một người thầy. Vạn sự là vô thường, Ngài nói trước khi ra đi, và hãy tinh tấn tiến lên.

Trong những thế kỷ đầu tiên sau khi Phật nhập diệt, các vị tăng sĩ đứng đầu giáo hội Phật giáo họp nhau nhiều lần để nhắc lại toàn bộ giáo pháp và lý giải nhiều điều khác biệt. Lần kết tập thứ tư xảy ra tại Sri Lanka khoảng thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, tại đó giáo pháp lần đầu tiên được viết lại sau hơn năm thế kỷ chỉ truyền miệng. Những văn bản này được viết bằng văn hệ Pali, đó là cơ sở kinh sách của phái Tiểu thừa kinh viện. Còn phái Đại thừa lại dựa trên một số kinh, những văn bản với một quy mô khổng lồ, được viết khoảng một hay hai trăm năm sau bằng văn hệ Sanskrit, trong đó giáo pháp của Phật được đào sâu hơn rất nhiều và tinh tế hơn hẳn hệ thống kinh sách thuộc văn hệ Pali.

Phái Đại thừa tự nhận là cỗ xe lớn vì phái này đều đề ra cho tín đồ của mình nhiều phương pháp khác nhau, gọi là phương tiện phù hợp để đạt Phật quả. Phái này trải rộng từ quan điểm nhấn mạnh tín tâm cho đến các nền triết lý với những khái niệm hết sức sâu sắc, chúng đi rất gần với tư duy hiện đại của khoa học.

Người luận giải đầu tiên cho phái Đại thừa và là một trong những vị tổ minh triết nhất của Phật giáo là Mã Minh. Ông sống vào thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên và luận về tư tưởng căn bản của Phật giáo Đại thừa – đặc biệt những tư tưởng nói về khái niệm Phật giáo, khái niệm chân như, cái là như thế – trong một cuốn luận nhỏ mang tên “Đại thừa khởi tín luận”. Tập luận văn rõ ràng và rất hay này, khá giống với Bhagavad Gita trong nhiều quan điểm, là bộ luận đặc trưng của giáo lý Đại thừa và trở thành nền tảng của nhiều tông phái Đại thừa Phật giáo.

Có lẽ Mã Minh có ảnh hưởng mạnh mẽ đến Long Thụ, nhà triết học chịu suy luận nhất trong triết lý Đại thừa, là người sử dụng một lối biện chứng rất tinh tế, để chỉ bày những giới hạn của mọi khái niệm về thực tại. Với những luận cứ xuất sắc, ông phản bác lại những quả quyết siêu hình thời đó và chứng tỏ rằng thực tại không thể nắm bắt bằng khái niệm và tư tưởng được. Do đó ông cho nó cái tên Không, sự trống không, một cách nói mà Mã Minh gọi là chân như hay là như thế. Ai đã nhận rõ sự bất lực của cái tư duy khái niệm, người đó sẽ chứng được thực tại như một thể là-như thế thuần túy.

Nền tảng của Long Thụ là Không, là tự tính của thực tại, hoàn toàn khác xa với quan điểm hư vô mà người ta hay gán cho ông. Ông chỉ nói rằng, tất cả mọi khái niệm về thực tại mà đầu óc suy luận của con người bày ra, thực chất là trống rỗng cả. Thực tại hay Không không phải là một tình trạng không có gì cả, mà là nguồn gốc của tất cả mọi đời sống, là cốt tủy của tất cả dạng hình.

Quan điểm này của Phật giáo Đại thừa phản ánh mặt suy luận, tư duy của phái này. Thế nhưng đó chỉ là một mặt của Phật giáo. Mặt này được bổ túc bởi tâm thức tôn giáo của đạo Phật, nó bao gồm tín ngưỡng, lòng thương yêu, lòng từ bi. Đại thừa cho rằng sự minh triết giác ngộ đích thực (bồ-đề) gồm có hai yếu tố mà D.T. Suzuki gọi là “hai cột trụ chống tòa nhà đạo Phật”. Đó là trí huệ, đó là tuệ giác của trực giác, và từ bi, lòng yêu thương.

Cũng thế mà tự tính của thực tại trong Phật giáo Đại thừa không chỉ được mô tả một cách siêu hình trừu tượng bằng là như thế không, mà còn được gọi là Pháp thân, thực tại là hiện thân của pháp thân trong ý thức con người. Pháp thân có thể so sánh với Brahman trong Ấn Độ giáo. Nó xuyên suốt mọi thể vật chất trong vũ trụ và phản chiếu trong tâm thức con người dưới dạng bồ-đề, dưới dạng tuệ giác. Pháp thân như thế vừa là vật chất vừa phi vật chất.

Sự nhấn mạnh lòng từ bi, xem như thành phần chủ yếu của trí huệ được hiện rõ trong hình ảnh cứu cánh của Bồ-tát, một trong những phát triển đặc trưng của Phật giáo Đại thừa, Bồ-tát là một con người tiến hóa siêu việt trên đường đạt Phật quả, nhưng không đi tìm giác ngộ cho bản thân mình, trước khi thực hiện niết bàn, muốn giúp những người khác cũng đạt Phật quả. Nguồn gốc của ý niệm này là quyết định của Phật – theo kinh sách tương truyền lại thì đây là một quyết định đầy lương tâm nhưng không đơn giản của Phật – không nhập niết bàn ngay mà trở lại thế gian để chỉ đường cho con người tự chữa bệnh. Cứu cánh bồ-tát cũng phù hợp với quan điểm vô ngã của Phật giáo, vì nếu không có một cái ta đơn lẻ tách biệt thì hình ảnh của một cá thể nhập niết bàn rõ ràng là vô nghĩa.

Cuối cùng yếu tố tín tâm cũng được nêu trong tông phái Tịnh độ của Phật giáo Đại thừa. Nền tảng của giáo pháp này là tự tính của mọi người, là Phật tính và người ta chỉ việc tin tưởng vào Phật tính nguyên thủy đó là có thể nhập niết bàn hay tái sinh tịnh độ.

Theo quan điểm của nhiều tác giả thì tư tưởng Phật giáo đã đạt đỉnh cao trong phái Hoa Nghiêm, tư tưởng đó đặt nền tảng trong kinh cùng tên. Kinh này được xem là trung tâm của giáo lý Đại thừa và được thiền sư Suzuki tán tụng bằng nhiều lời nhiệt thành sau đây:

Tông Hoa Nghiêm thực sự là tổng kết tất cả tư tưởng Phật giáo, cảm thọ Phật giáo và chứng nghiệm Phật giáo. Theo ý tôi thì không có kinh sách tôn giáo nào trên thế giới mà đạt gần được tính siêu việt về mặt chủ trương, chiều sâu của cảm thọ và cách trình bày tác tuyệt của bộ kinh này. Nó là suối nguồn bất tận của mọi đời sống, không đầu óc tôn giáo nào tìm đến nó, về lại mà còn khao khát hay chỉ thỏa mãn một phần.

Khi Phật giáo Đại thừa lan truyền ra khắp châu Á thì Kinh này hấp dẫn các nhà tư tưởng Trung Quốc và Nhật Bản hơn mọi Kinh khác. Sự khác biệt giữa một bên là Trung Quốc, Nhật Bản, bên kia là Ấn Độ lớn lao tới mức mà người ta cho rằng chúng là hai cực của tâm thức con người. Trong lúc người Trung Quốc và Nhật có tính cách thực tiễn, cụ thể và có tính xã hội thì người Ấn Độ ham tưởng tượng, siêu hình và lánh đời. Thế nhưng khi các nhà luận sư Trung Quốc và Nhật phiên dịch và lý giải Kinh Hoa Nghiêm, một trong những bộ kinh xuất sắc của các thiên tài tôn giáo Ấn Độ, thì hai cực đó đã thống nhất làm một và trở thành một thể năng động mới mẻ. Kết quả là sự hiện diện của triết lý Hoa Nghiêm tại Trung Quốc và Nhật Bản, theo Suzuki là “đỉnh cao của tư tưởng Phật giáo, tư tưởng đã được phát triển tại miền Viễn Đông trong hai ngàn năm trở lại đây”.

Nội dung trung tâm của Hoa Nghiêm là sự nhất thể và mối quan hệ nội tại của mọi sự và mọi biến cố, một quan niệm không chỉ là cốt tủy của thế giới quan phương Đông mà còn là một trong những yếu tố chủ chốt của thế giới quan ngành vật lý hiện đại. Do đó người ta sẽ thấy Kinh Hoa Nghiêm, bộ kinh tôn giáo cổ này, cống hiến những mối tương đồng nổi bật nhất với các mô hình và lý thuyết của vật lý hiện đại.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Fritjof Capra – Đạo của vật lý – NXB Trẻ 2015.

Mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc: Phân tích trên cơ sở các nghiên cứu của các học giả Trung Quốc – Phần III


Các nhà khoa học có ý kiến ngược lại cho rằng lý luận, chế độ và các hệ thống đều là nhằm chống chủ nghĩa Marx – Lenin, không đáp ứng các yêu cầu của chủ nghĩa xã hội khoa học, không theo kịp thời đại. « Dù chúng ta đi sâu bàn về khía cạnh nào chăng nữa thì chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc cũng là sự phủ định hoàn toàn mô hình Stalin. Điều này đã được chứng minh bằng lịch sử cải cách và mở cửa Trung Quốc ». Theo ý kiến của phái theo quan điểm này, quá trình cải cách và mở cửa ở Trung Quốc chính là quá trình từ bỏ hoàn toàn của mô hình Xô Viết. Một số nhà khoa học sau khi phân tích toàn diện những khác biệt căn bản giữa hai mô hình đã chỉ ra rằng mô hình Trung Quốc và mô hình Xô viết là hai mô hình hoàn toàn khác nhau của chủ nghĩa xã hội.

Cần lưu ý rằng cả hai bên đều nhất trí về vấn đề công nhận mô hình của Trung Quốc (tức là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc). Cả hai đều giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, quán triệt bốn nguyên tắc cơ bản và ủng hộ cải cách và cởi mở. Cuộc tranh cãi của họ chỉ đóng khung trong việc nên hiểu về mô hình Xô viết thế nào.

Các nhà khoa học tán đồng loại ý kiến thứ nhất về cơ bản chấp nhận mô hình Xô viết, cho rằng nó tuân thủ đúng các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Với cách tiếp cận này, việc phân tích những mặt khiếm khuyết của mô hình Xô viết và xem xét so sánh hai mô hình – để đi tới kết luận cho rằng các nguyên tắc cơ bản của hai mô hình là giống nhau, và những khác biệt của chúng thể hiện trong các hệ thống cụ thể do điều kiện và thời điểm lịch sử khác nhau. Theo Châu Tân Thành, gốc rễ của sự thay đổi mạnh thái độ của Liên Xô đối với Trung Quốc là do giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đi theo con đường của chủ nghĩa xét lại, phản bội các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Do đó, Trung Quốc cần rút ra bài học và kiên trì quán triệt bốn nguyên tắc cơ bản. Phủ định mô hình Xô viết có nghĩa là phủ định bốn nguyên tắc cơ bản và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Các nhà khoa học khác cho rằng các luận điểm cơ bản của lý luận, nguyên lý của mô hình Xô viết là xa lạ với các luận điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học, không đáp ứng yêu cầu của tình thế của Liên Xô. Mô hình Xô viết là giáo điều, trì trệ, đầy mâu thuẫn gay gắt, lãnh đạo xa rời dân. Ma Long Sơn lưu ý rằng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô viết, tức là mô hình Stalin, không phải là chủ nghĩa xã hội đích thực, chân chính, vì Stalin đã bóp méo chủ nghĩa Marx – Lenin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhóm các học giả này đã rất chú tâm phân tích những điểm khiếm khuyết của mô hình Xô viết. Các nhà khoa học nhấn mạnh rằng Trung Quốc đã phạm sai lầm khi khảo cứu mô hình Xô viết. Cải cách và mở cửa torng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trước hết cần chỉ ra những hạn chế của mô hình Xô viết. Trọng tâm của các học giả này là nhấn mạnh cải cách và mở cửa, đề cao vai trò của đổi mới trong các hệ thống. Chỉ bàn suông về bốn nguyên tắc cơ bản, mà không tập trung chú ý vào những thành tựu to lớn đạt được nhờ cải cách và mở cửa, thì không thể hiểu đúng được thực chất của việc phát huy chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Tiếp tục vận dụng mô hình Xô viết ở Trung Quốc thì chắc chắn không tránh khỏi lặp lại những sai lầm của Liên Xô.

Những tranh cãi này hiện vẫn tiếp diễn. Có thể nói mỗi ý kiến đều có điểm hợp lý và khiếm khuyết riêng của nó. Nhưng điểm chính yếu nhất là cần có những đánh giá mang tính khoa học về mô hình Xô viết.

4/ Mô hình Xô viết qua đánh giá của các nhà khoa học Trung Quốc

Nên đánh giá thế nào về mô hình của Liên Xô – đây là một vấn đề có tính nguyên tắc. Lời giải cho câu hỏi này động chạm đến vấn đề Trung Quốc nên đi theo con đường nào. Bởi vì định hướng tương lai phát triển của Trung Quốc gắn bó chặt chẽ với những bài học cần rút ra từ con đường tiến hóa của Liên Xô.

Giáo sư Châu Tân Thành lưu ý rằng việc đánh giá mô hình Xô viết – đó không chỉ là vấn đề về mặt khoa học, mà còn là một vấn đề chính trị quan trọng liên quan đến vận mệnh của các đảng cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần đứng trên lập trường giai cấp vô sản, sử dụng phương pháp của chủ nghĩa Marx để đánh giá một cách khoa học và tích cực mô hình này. Mô hình Xô viết là sự kết hợp của các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Marx với hoàn cảnh thực tế. Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, chưa có chút kinh nghiệm nào. Vì vậy, việc tìm kiếm thành công hay không thành công con đường của mình là vốn kinh nghiệm quý báu cho phong trào cộng sản quốc tế và giúp ích nhiều cho các dân tộc và quốc gia bước vào con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Chúng ta nên có thái độ cẩn trọng khi tìm hiểu những sai lầm và thiếu sót trong quá trình tìm kiếm. Chớ nên cười nhạo người đi trước, lại càng không nên công kích. Cũng không nên hoàn toàn phủ nhận nó, vì làm như thế không phải là thái độ marxist khi giải quyết vấn đề. Chính vì vậy, ta không nên dùng chữ « thất bại » như đôi khi vẫn nói.

Ma Long Sơn cho rằng không thể không học hỏi kinh nghiệm của Liên Xô, nước xây dựng chủ nghĩa xã hội đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Và cho dù những người đương thời có những ý kiến đánh giá khác nhau về mô hình Xô viết, vẫn phải thừa nhận rằng nó đã giải quyết được hai vấn đề quan trọng – sự ra đời và phát triển của Liên Xô. Liên Xô không chỉ đã đánh thắng phát xít Đức, mà còn đi theo con đường hiện đại hóa đất nước. Shen Tsung – cộng tác viên khoa học Viện Marx – Lenin trực thuộc Viện HLKHXH Trung Quốc, tác giả cuốn « Suy ngẫm lại về mô hình Stalin dưới ánh sáng thời đại ngày nay » (2004) đã khẳng định vị trí lịch sử và những thành tựu của mô hình Xô viết từ góc nhìn hiệu ứng khách quan. Mô hình Xô viết đã đóng một vai trò rất hiệu quả trong việc thực hiện nhanh chóng của hiện đại hóa, tạo dựng cơ sở nền đại công nghiệp, một nền khoa học và văn hóa tiên tiến, trong việc củng cố cơ sở quốc phòng và các lĩnh vực khác. Từ góc nhìn hiện đại hóa, Liên Xô đã nhận trách nhiệm lớn về nền kinh tế và văn hóa lạc hậu, đồng thời nó vẫn trụ vững trước mối đe dọa của kẻ thù bên trong và bên ngoài. Trong hoàn cảnh như vậy, mô hình Xô viết đã giúp Liên Xô hiện đại hóa với nhịp độ nhanh và thoát khỏi tình huống khó khăn.

Còn theo ý kiến của Zheng Yiping và Gun Hailin, mô hình Xô viết không giúp gì cho việc giải quyết các nhiệm vụ cơ bản của chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền dân chủ và luậ pháp xã hội chủ nghĩa, đoàn kết các dân tộc và phát triển mạnh khoa học và văn hóa, (mô hình này) không phù hợp với những tư tưởng của Lenin về xây dựng chủ nghĩa xã hội và kết quả là đã cản trở nhiệm vụ phát triển nhanh nền kinh tế.

Xiao Feng nhấn mạnh rằng mô hình Xô viết là một mô hình quái dị và cứng nhắc của thực tiễn xã hội chủ nghĩa. Mặc dù mô hình này đã đóng một vai trò rất lớn trong lịch sử đất nước và đã cho phép đạt được những thành tích lớn, nhưng trong điều kiện hiện nay nó phải được cải biến lại hoàn toàn. Theo ý kiến tác giả này, mô hình Xô viết là không nhất thiết đối với các nước khác.

Theo Zhang Guangming và Li Zhongyu, sau một nửa thế kỷ cố gắng tìm cách hiện thực hóa mô hình Xô viết, lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy đây là một mô hình không thành công. Nó khép kín và bảo thủ, không có khả năng tự điều chỉnh, hạn chế tính tích cực của quần chúng và kìm hãm sự phát triển của các lực lượng sản xuất xã hội. Zuo Fengrun còn cho rằng mô hình Xô viết không có cơ chế sửa sai lỗi, rằng mô hình không đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện đại.

Mặc dù các nhà khoa học đã đưa ra những đánh giá khác nhau về mô hình Xô viết – cả tích cực lẫn tiêu cực – tất cả đều đã đi tới một ý kiến thống nhất : để đưa ra được những đánh giá khoa học hơn, cần phải kiên định lập trường của chủ nghĩa Marx, sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phân tích một cách công minh và đánh giá công bằng sẽ giúp chúng ta rút ra được những bài học của quá khứ lịch sử và có thêm kinh nghiệm. Và hiển nhiên là tất cả những cái đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc. Sự sụp đổ của Liên Xô là một bài học tốt cho chúng tôi : chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải đáp ứng mệnh lệnh của thời đại và phải được kết hợp với thực tế mỗi nước, không thể sao chép lịch sử, sao chép mô hình của các nước khác, mà phải tự tìm ra mô hình của mình, phù hợp với thực tế và đặc thù của đất nước mình.

(còn tiếp)

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 10 & 11

Lý thuyết gia đứng sau Tập Cận Bình – Phần đầu


Ryan Mitchell

Ngày 25/10/2017, bảy nhân vật trong bộ complet màu đen bước lên bục chính tại Đại lễ đường Nhân dân, trong buổi lễ ra mắt Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong số này, chỉ có một gương mặt gây bất ngờ, đó chính là Vương Hộ Ninh, một nhà tư tưởng lão luyện của đảng, cựu giáo sư chuyên ngành chính trị quốc tế tại Đại học Phúc Đán (Fudan) ở Thượng Hải. Rất ít người nghĩ rằng Vương Hộ Ninh có thể vươn tới một vị trí cao nhất trong Đảng Cộng sản Trung Quốc (CPP). Nhưng giờ thì mọi chuyện đã rõ. Một cựu học giả ẩn dật, nổi tiếng với vẻ điềm đạm, cẩn trọng giờ đã trở thành nhân vật có quyền lực tư tưởng xếp hàng thứ hai trong CCP, chỉ sau Chủ tịch Tập Cận Bình.

Sự xuất hiện của ông Vương trong cơ cấu Thường vụ là điểm khác biệt so với thực tế chính trị tại Trung Quốc trong nhiều thập kỷ trở lại đây. Thông thường, các ủy viên Thường vụ được lựa chọn từ số Ủy viên Bộ Chính trị tiêu biểu, có kinh nghiệm và từng kinh qua cương vị Bí thư tỉnh ủy, Thành ủy. Nhưng ông Vương lại là người xuất thân từ Văn phòng Nghiên cứu Chính sách Trung ương (CPRO), từng làm Giám đốc của một đơn vị tại CPRO phụ trách việc phát triển nền tảng hệ tư tưởng cho CCP. Trường hợp duy nhất một lý thuyết gia tương tự Vương Hộ Ninh có chân trong Thường vụ Bộ Chính trị xảy ra vào năm 1966, thời kỳ đầu Cách mạng Văn hóa, khi Mao Trạch Đông tiến cửu cựu Thư ký Trần Bá Đạt (Chen Boda).

Dĩ nhiên bối cảnh Trung Quốc hiện nay khác xa so với thập niên 1960. Thế nhưng ở một góc độ nào đó vẫn có điểm tương đồng thú vị: Những thay đổi về cục diện quốc gia và quy tắc của chính trị tinh anh dường như một lần nữa lại đưa CCP tới điểm lây nhiễm lịch sử. Với quyền lực tích tụ ngày một lớn, được xem là lãnh đạo hạt nhân của CCP, ông Tập Cận Bình trong nhiệm kỳ hai đã đưa ra lý thuyết cá nhân về “Thời đại mới của chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc”, kết hợp với yêu cầu bảo đảm ổn định xã hội, tăng trưởng kinh tế chất lượng cao, gia tăng sức mạnh quốc gia cho Trung Quốc. Cùng lúc, ông Tập nhắc lại những mối đe dọa hiện hữu từng diễn ra ở Liên Xô mà CCP cần phải nhận ra, nếu như đảng cầm quyền không tìm cách thu phục tin tưởng, tin cậy của người dân Trung Quốc.

Nhiều chính sách của ông Tập Cận Bình, từ “Giấc mộng Trung Quốc” cho tới chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt và “4 Tự tin” mà mỗi đảng viên cần phải thể hiện, đều nhắm tới mục tiêu củng cố, tạo chính danh cho vai trò lãnh đạo của CCP. Khi CCP củng cố quyền lực, sự nổi lên của Vương Hộ Ninh có thể sẽ cho thấy điều gì về con đường của Trung Quốc trong “Kỷ nguyên mới” của Tập Cận Bình.

Tìm kiếm trật tự

Sau khi Mao Trạch Đông qua đời năm 1976 và Cách mạng Văn hóa dần nhường chỗ cho kỷ nguyên cải cách, hàng triệu người Trung Quốc bắt đầu theo đuổi giấc mộng đã từng bị làm thui chột sau một thập kỷ đấu đá chính trị. Ông Vương giành những năm tháng này nghiên cứu văn bản, tài liệu về tính ác trong bản chất con người, nguồn gốc của nhà nước và yêu cầu đối với một người trị vì đầy quyền lực để kiểm soát xung đột xã hội.

Tham gia giảng dạy tại Đại học Phúc Đán năm 1978 sau khi tốt nghiệp cử nhân tiếng Pháp, ông Vương theo học thạc sĩ chuyên ngành chính trị quốc tế năm 1981, với khóa luận tốt nghiệp về chủ đề khái niệm chủ quyền theo quan điểm phương Tây. Tài liệu khảo sát ý tưởng về chủ quyền nhà nước hiện đại, từ thời tiền khởi theo lý luận của nhà tư tưởng người Pháp Jean Bodin trong thế kỷ 16, qua giai đoạn hình thành và cho đến khi bị chối bỏ trong thế kỷ 20. Ông Vương quay lại chủ đề này trong các cuốn sách, bài viết được xuất bản, công bố một thập kỹ rưỡi sau đó, khi ông đạt tới học hàm giáo sư và làm giám đốc chương trình chính trị quốc tế – chuyên ngành mà ông theo học.

Tư tưởng cơ bản của Vương Hộ Ninh về chủ quyền ăn khớp với các lý thuyết gia chủ chốt khác ở phương Tây. Chủ quyền theo quan điểm của ông Vương bao gồm khả năng quyền lực chính trị trong thực thi kiểm soát hành chính thống nhất đối với một vùng lãnh thổ mà không gặp phải đe dọa bên ngoài hay rối loạn bên trong. Bodin là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về chính trị trong đó chỉ có nhà nước mới nắm giữ quyền lực này, loại trừ vai trò của các quyền lực chính trị, tôn giáo hay luật pháp. Điểm mấu chốt của khái niệm chính trị là giả định chủ quyền không thể bị chia cắt; tranh cãi vẫn có thể xuất hiện trong các chính sách hay nguyên tắc nào đó, nhưng vai trò của chủ quyền sẽ không cho phép điều này tồn tại. Trong bộ “Sáu cuốn sách của nền Cộng hòa” (Six Books of the Commonwealth), Bodin khẳng định, “Chủ quyền quốc gia cũng giống như Đức Chúa trời. Không thể có thứ ngang bằng với Chúa, bởi Chúa là tuyệt đối và theo logic thì không thể có hai thực thể tuyệt đối cùng tồn tại. Vì thế chúng ta có thể nói rằng Quân vương, người mà chúng ta cho là mang hình ảnh của Chúa trời, không thể đạt tới chủ thể ngang hàng với Chúa mà không hủy diệt quyền lực của Đức Chúa”.

Đối với Vương Hộ Ninh, phát triển lịch sử của những ý tưởng như vậy là điều đặc biệt quan trọng, vì nó cho thấy ở ngay giai đoạn đầu châu Âu hiện đại – tương tự như xã hội Trung Quốc trong thế kỷ 20, nhà nước hiện đại đã phải chiến đấu để tồn tại giữa những bất ổn của các lực lượng phong kiến chống đối, chia cắt lãnh thổ và đứt gãy xã hội. Những lý thuyết gia vĩ đại nhất châu Âu về chủ quyền, nổi bật là Bodin, Thomas Hobbles và Machiavelli (người mà Vương Hộ Ninh xem là đấu tranh để thống nhất một nước Italy chia rẽ), đã đi trước thời đại khi nhận ra nhu cầu cần một hình thức tổ chứ chính trị có khả năng tạo ra đoàn kết và trật tự để vượt lên yếu kém và hỗn độn. Thời Trung Quốc hiện đại, tương tự như giai đoạn thời kỳ phục hưng Italy, những xu thế bẩm sinh của nhân loại về chiến tranh và cách mạng nói lên rằng chỉ có thể tạo ra nền tảng sức mạnh và độc lập quốc gia nếu như tất cả cùng tuân thủ quyền lực tối cao – tức Nhà nước.

Những ý tưởng như vậy hẳn nhiên từng có ý nghĩa đặc biệt đối với Trung Quốc những năm cuối thập kỷ 1970, sau khi thử nghiệm tệ hại của Cách mạng Văn hóa đã làm suy yếu Nhà nước, khiến nhiều người đặt câu hỏi về nền tảng hệ tư tưởng giúp tạo dựng quyền lực Nhà nước. Nhưng đối với Vương Hộ Ninh, những lý thuyết gia phương Tây thời kỳ đầu về chủ quyền luôn có giá trị bất diệt, bởi họ đã sử dụng quan điểm thực tế để giải thích cho những đam mê hệ tư tưởng của thời đại và hiểu thấu những gì mà xã hội thực sự cần đến: Một người cai trị mạnh mẽ, thống nhất và trung thành với dân tộc, phủ nhận ảnh hưởng của bất kỳ thế lực phong kiến, ngoại bang hay tôn giáo nào. Để rồi chính những nhà cai trị chuyên chính như vậy đã tạo ra nền tảng của nhà nước ổn định và tự trị, đưa phương Tây tiến đến đỉnh cao thống trị toàn cầu.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/china/2017-12-04/chinas-crown-theorist

TKNB – 11/12/2017

Phương tiện truyền thông trong chính trị Mỹ – Phần X


Lựa chọn tin tức. Để đáp ứng năng lực chuyển tải khác nhau của mình, các phương tiện truyền thông phải tính toán thận trọng việc phân bổ thời gian và không gian cho các bản tin. Mỗi phương tiện truyền thông có những tiêu chí khác nhau để quyết định tin tức nào được đưa trên mặt báo và các chương trình của mình. Không giống với các chính trị gia khác, tổng thống luôn được đưa lên trang nhất và trong nhữgn bản tin nổi bật trên trang nhất. Xếp sau tổng thống rất xa là Thượng viện và các thành viên Thượng viện, đối tượng được ưu tiên hơn so với các đồng sự của họ tại Hạ viện. Theo một số nhà quan sát báo chí, một điểm khác cần cân nhắc là số lượng người, điều có thể giải thích tại sao Thượng viện được đánh giá cao hơn Hạ viện. Phần còn lại của Washington thường được giao cho các hãng tin điện tử (Associated Press, Reuteurs, UPI) mà tờ báo đăng ký mua tin; những bản tin này có thể được đăng hoặc không được đăng trên trang ruột của báo chí toàn quốc.

Tiêu chí thứ hai để đăng một bản tin là mức độ tranh cãi của nó: xung đột và bất đồng được chú ý hơn sự đồng thuận. Khi các phóng viên cố gắng bán tin tức của mình cho chủ báo và các tổ chức truyền tin cạnh tranh với nhau, phương tiện truyền thông thường tạo ra sự tranh cãi ở những nơi không có tranh cãi. Đầu năm 1995, Chủ tịch Hạ viện New Gingrich đã lớn tiếng chỉ trích báo giới vì việc đội quân này từ chối đưa tin về cuộc gặp gỡ mang tinh thần lưỡng đảng với Tổng thống Clinton ở khía cạnh tích cực. Sau khi ông tuyên bố rằng Quốc hội mới đắc cử do Đảng Cộng hòa chi phối đang hướng tới sự hợp tác mang tính xây dựng với tổng thống thuộc đảng Dân chủ, một phóng viên đã hỏi ông “Ngài nghĩ rằng nó [sự hợp tác giữa hai đảng] sẽ đổ vỡ vì điều gì?” Gingrich đáp lại: “Anh vừa nghe những lãnh tụ Đảng Cộng hòa nói rằng tổng thống thuộc Đảng Dân chủ hôm nay đã có một cuộc gặp gỡ rất tuyệt vời nhân danh nước Mỹ; chúng tôi đang cố gắng hợp tác cùng nhau. Anh không thể thử, trong 24 tiếng đồng hồ, có một thông điệp tích cực, lạc quan như thể điều đó sẽ thành hiện thực hay sao?”

Một tiêu chí thứ ba có liên quan chặt chẽ tới tiêu chí thứ hai, chính là tính tiêu cực – các tin xấu bao giờ cũng được ưa thích hơn các tin tức tốt lành. Những đợt suy thoái kinh tế được đưa tin nhiều hơn sự thịnh vượng. Tương tự, các phương tiện truyền thông thường nhận thấy nhiều điều để chỉ trích hơn là ca ngợi trong hoạt động củac các chính trị gia. Các tổng thống bị chê trách nhiều nhất, mặc dù Quốc hội cũng không được đánh giá cao hơn là mấy. Năm 1993, khi được hỏi đích danh trong một cuộc họp báo rằng ông nghĩ tại sao uy tín của ông lại bị giảm sút 15 điểm phần trăm chỉ trong vòng hai tháng, Tổng thống Clinton đã ngay lập tức đáp trả: “Tôi đánh cuộc rằng không tới 5% người dân Mỹ biết rằng chúng ta đã thông qua một ngân sách… và nó đã được thông qua với tốc độ nhanh nhất so với bất kỳ ngân sách nào trong vòng 17 năm qua. Tôi đánh cuộc rằng chưa đến một trong số 20 cử tri Mỹ biết điều đó bởi vì… thành công và việc không có bất đồng không đáng chú ý như sự thất bại”. Bằng chứng có tính hệ thống về vấn đề này cho thấy rằng những lời phàn nàn của các tổng thống không quá sai so với thực tế. Một nghiên cứu chấm điểm từng bản tin trên chương trình tin tức buổi tối của kênh truyền hình quốc gia về các tổng thống George H.W. Bush và Clinton trong suốt ba năm đầu nhiệm kỳ đã cho thấy rằng cả hai vị đứng đầu nhà nước này phần lớn bị đưa tin theo hướng tiêu cực. Trong 24 quý, chỉ có bốn quý trong đó bình quân họ được đưa tin trên mạng tin tức quốc gia theo hướng tích cực ngang bằng với hướng tiêu cực.

Trong chừng mực các phóng viên và chủ báo của họ chủ động lọc và diễn giải các thông điệp theo hướng ưu tiên cho sự xung đột hơn là đồng thuận và tin xấu hơn là tin tốt, phương tiện truyền thông không còn đóng vai trò là ống dẫn tuyệt đối trung lập cho dòng chảy thông tin về xã hội dân sự cho khán giả mà nó hướng tới nữa. Một số người chỉ trích giới truyền thông cáo buộc rằng khi lựa chọn các thông điệp truyền tải đi và trình bày nội dung tin tức, các tổ chức truyền tin đã đưa vào đó thiên kiến nguy hại. Những lời buộc tội này nhiều hơn so với bằng chứng thực tế. Tuy nhiên, qua nghiên cứu khảo sát cho thấy những người trả lời thường nói rằng họ phát hiện ra sự thiên lệch của truyền thông. Trên thực tế, những người ủng hộ ở hai phe đối lập của rất nhiều vấn đề tin rằng quan điểm của họ đã không được đăng tải một cách công bằng. Trong những năm gần đây, các tổ chức “theo dõi truyền thông” ra đời rất nhiều để theo dõi gắt gao sự thiên vị của báo giới bất lợi cho quan điểm cụ thể của họ. Họ nhanh chóng lên tiếng báo động, và bằng việc này đã gây áp lực với các tổ chức truyền tin để đưa tin cho phe của họ một cách “cân bằng” hơn (có nghĩa là ủng hộ hơn). Họ thực hiện những hoạt động tốn kém này bởi họ tin rằng tin tức ảnh hưởng tới các cử tri và cuối cùng là tới chính sách quốc gia.

Chắc chắn là việc có quá nhiều thông điệp được gửi tới các phương tiện truyền thông mỗi ngày mang lại cho chúng cơ hội lớn hơn để ủng hộ một số loại tin tức và quan điểm khác. Nhưng thiên hướng này không nhất thiết cho phép các phóng viên đưa những quan điểm chính trị củ mình vào các bản tin hoặc sử dụng tin tức để phục vụ cho lợi ích tài chính của các tập đoàn bảo trợ. Khác với thời kỳ báo giới là công cụ của đảng phái trước đây, báo in và báo hình hiện đại dựa vào độc giả và khán giả để duy trì sinh kế. Bên cạnh việc được trả tiền trực tiếp cho tin tức – ví dụ như tiền trả cho việc đặt mua báo và thuê bao Internet – tất cả phương tiện truyền thông đều thu được tiền từ quảng cáo, và khoản phí họ đòi cho quảng cáo có liên quan trực tiếp tới lượng độc giả. Trong thị trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay, những doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận này sẽ khó có thể thu hút được độc giả theo dõi những sản phẩm (tin tức) đã bị nhiễm thiên kiến của mình. Thực tế, chính thị trường là người thực thi kỷ luật để kiểm soát mọi khuynh hướng của các chủ sở hữu, chủ báo hoặc phóng viên nhằm lợi dụng sự kiểm soát của họ đối với tin tức làm phương tiện thao túng công luận.

Mối quan hệ chiến lược giữa chính trị gia và phóng viên

Xét trên nhiều khía cạnh, những mối quan hệ giữa chính trị gia và phóng viên không thay đổi nhiều lắm kể từ thời kỳ đầu của nền Cộng hòa, khi một nữ phóng viên chộp được Tổng thống John Quincy Adams đang bơi không quần áo giữa dòng Potomac và dọa sẽ hét lên nếu ông lên khỏi mặt nước trước khi cho phép cô ta phỏng vấn về chính sách của mình đối với các ngân hàng nhà nước. (Adams đang trốn trong Nhà trắng, hy vọng tránh phải tuyên bố trước công chúng về vấn đề này). Cảnh tượng khôi hài này giúp nhắc nhở chúng ta về sự căng thẳng cố hữu trong mối quan hệ giữa chính trị gia và phóng viên. Nếu họ có thể, mỗi bên sẽ lợi dụng bên kia bởi mỗi bên đều có một số thứ mà bên kia cần (và không muốn đưa ra). Chính trị gia cần tiếp cận cử tri theo cách thức tạo ra sự ủng hộ, và phóng viên cần thông tin để tạo ra một câu chuyện hay. Ở một ý nghĩa nào đó, cả hai điều này đều đòi hỏi cái giá khá đắt. Không phóng viên nào muốn tỏ ra là một người ủng hộ công khai cho một chính trị gia nào đó. Và thông tin được chuyển tải phục vụ tốt nhất cho mục đích của chính trị gia hầu như không bao giờ đồng nhất với những gì phóng viên mong muốn. Tổng thống Adams rõ ràng đã không nghĩ ra câu chuyện nào có thể phù hợp nhất với các mục đích của ông, nhưng nữ phóng viên dũng cảm này đã chộp được ông vào thời điểm hết sức sơ ý.

Do sự phụ thuộc lẫn nhau chứa đầy nghi kỵ là yếu tố chi phối các mối quan hệ giữa chính trị gia và phóng viên, những tác nhân này nhận thấy họ bị mắc kẹt trong tình thế tiến thoái lưỡng nan kinh điển của tù nhân. Như chúg ta đã nhận thấy, tình thế khó khăn này – vốn hết sức cơ bản trong mọi mối quan hệ chính trị – đã được giải quyết bằng việc tạo ra những thể chế và quy trình để cưỡng chế các cam kết và nuôi dưỡng lòng tin. Nhưng không hành động xây dựng thể chế nào thuộc loại này có thể giải quyết triệt để sự căng thẳng giữa chính trị gia và phóng viên. Kết quả là cả hai phe đều hết sức cảnh giác trước khả năng bị thao túng bởi bên kia. Với vai trò là những khán giả không hài lòng trước các cuộc cãi cọ nội bộ diễn ra thường xuyên giữa hai nhóm, công chúng đã đưa cả chính trị gia lẫn phóng viên xuống các thứ hạng thấp hơn về uy tín nghề nghiệp. Tuy nhiên, trở ngại cho sự hợp tác này chính xác là điều mà các nhà Sáng lập cân nhắc trong đầu khi họ đặt sự bảo vệ báo giới ngay sau quyền tự do ngôn luận trong Tu chính án thứ nhất. Bất kỳ ai nghi ngờ về sự tập trung quyền lực của chính phủ đều sẽ tán thành sự thận trọng mà các bên sử dụng trong giao dịch với bên kia.

Sự căng thẳng cố hữu trong mối quan hệ giữa hai phe không nhất thiết buộc mọi chính trị gia và phóng viên phải tham gia trò chơi lợi dụng lẫn nhau của Machiavelli. Một số người đã tìm ra những cách thức để hạn chế tối thiểu rủi ro và từ đó tối đa hóa lợi ích từ việc hợp tác. Rõ ràng là đối với mọi chính trị gia, “điều khiển báo giới” là một kỹ năng quý báu. Chẳng hạn như John Kennedy – khi còn là thượng nghị sĩ, ông có nhiều bạn bè là phóng viên hơn bất kỳ đồng nghiệp nào trong Thượng viện, và ông đã hướng báo giới theo hướng có lợi cho mình trong chiến dịch vận động tranh cử năm 1960. Ngược lại, Richard Nixon, đối thủ của ông năm đó, đã đi từ sự đối đầu này tới sự đối đầu khác với báo giới. Nixon đã nhận được sự thù ghét của rất nhiều phóng viên trên suốt con đường vận động tranh cử năm 1960, và sau thất bại thứ hai tại cuộc chạy đua vào vị trí thống đốc bang California năm 1962, ông đã trút bỏ cơn giận bị dồn nén của mình với báo giới theo cách mà chưa chính trị gia nào trước đó từng làm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Hồi kết cho toàn cầu hóa?


Daniel Gros

Trung Quốc vừa công bố rằng năm ngoái, lần đầu tiên kể từ khi nước này bắt đầu mở cửa kinh tế với thế giới từ cuối những năm 1970, xuất khẩu của nước này đã giảm so với năm trước. Và đó chưa phải là tất cả; xét trên khía cạnh giá trị, thương mại toàn cầu đã suy giảm trong năm 2015. Hiển nhiên, câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao?

Dù thương mại toàn cầu cũng từng suy giảm vào năm 2009, nhưng lý giải cho việc đó lại rất rõ ràng: thế giới đã trải qua sự sụt giảm mạnh về GDP vào thời điểm đó. Tuy nhiên, vào năm ngoái kinh tế thế giới đã tăng trưởng đáng kể, đạt mức 3%. Hơn nữa, các rào cản thương mại đã không gia tăng rõ rệt ở nơi nào cả, cộng thêm chi phí vận chuyển giảm xuống do sự sụt giảm mạnh của giá dầu.

Đáng chú ý là chỉ số nổi tiếng Baltic Dry Index, dùng để đo lường chi phí thuê những con tàu lớn vốn vận chuyển phần lớn hàng hóa đường dài, đã tụt xuống mức thấp nhất từ trước tới nay. Điều này cho thấy các thị trường không kỳ vọng vào một sự phục hồi, đồng nghĩa với việc các dữ liệu của năm 2015 có thể dự báo trước một thời kỳ thương mại chững lại mới. Một kết luận rõ ràng là những lực đẩy từng không thể cưỡng lại được của toàn cầu hóa đang giảm bớt sức nóng.

Tình hình hiện tại ở Trung Quốc đã nói lên tất cả. Trong những thập niên gần đây, từ khi trở thành nền kinh tế có trao đổi thương mại hàng đầu của thế giới, Trung Quốc đã làm biến đổi hệ thống thương mại toàn cầu. Vào thời điểm này giá trị của cả nhập khẩu và xuất khẩu (của Trung Quốc) đều tụt giảm, mặc dù nhập khẩu giảm nhiều hơn, chủ yếu là do sự sụt giảm của giá cả hàng hoá cơ bản trên thế giới.

Trên thực tế, giá cả hàng hóa cơ bản là chìa khóa để thấu hiểu những khuynh hướng thương mại trong vài thập niên qua. Khi giá cả cao, chúng thúc đẩy thương mại gia tăng – tới mức đẩy tỉ lệ thương mại trong GDP tăng lên – điều dẫn tới quan điểm cường điệu về những tiến bộ tất yếu của toàn cầu hóa. Nhưng trong năm 2012, giá cả hàng hóa cơ bản bắt đầu tuột dốc, nhanh chóng kéo thương mại xuống theo.

Giả sử rằng cần một tấn thép và mười thùng dầu để sản xuất ra một chiếc ô tô. Trong giai đoạn 2002- 2003, toàn bộ số nguyên liệu thô trên trị giá khoảng 800 đô la, tức khoảng 5% giá trị của một chiếc ô tô có giá 16.000 đô la. Điều này hàm ý rằng, trong giai đoạn đầu những năm 2000, các nước công nghiệp phải xuất khẩu năm chiếc ô tô để đạt được giá trị tương ứng với một trăm lần số nguyên liệu như trên mà họ đã nhập về.

Đến giai đoạn 2012-2013, giá trị của các nguyên liệu thô cần thiết để sản xuất một chiếc ô tô đã tăng lên tới gần 2.000 đô la, tức khoảng 10% chi phí của cùng một chiếc ô tô như trên (giá ô tô có tăng nhưng với một mức độ thấp hơn).

Kết quả là các nước công nghiệp đã phải xuất khẩu gấp đôi, tức là mười chiếc ô tô mới tương ứng với cùng một lượng nguyên liệu thô được nhập khẩu như trên.

Rõ ràng, có một mối liên hệ trực tiếp giữa các khuynh hướng trong thương mại và giá cả hàng hóa cơ bản (xem hình). Do mối liên quan này ảnh hưởng đến tất cả các loại hàng hóa chế tạo đòi hỏi đầu vào là nguyên liệu thô, cho nên chẳng có gì ngạc nhiên khi giá cả hàng hóa cơ bản sụt giảm thì thương mại toàn cầu cũng sẽ sụt giảm theo.

Người ta có thể lập luận rằng ví dụ trên chỉ quan tâm tới giá trị của thương mại, và rằng trong những thập niên gần đây, tăng trưởng thương mại tính theo khối lượng cũng đã vượt trội so với tăng trưởng GDP thực tế. Tuy nhiên, giá cả hàng hóa cơ bản cũng tác động đến khối lượng thương mại, vì giá cả hàng hóa cơ bản cao buộc các nước công nghiệp phải gia tăng khối lượng xuất khẩu của họ (mười chiếc xe thay vì năm, như trong ví dụ đã đưa ra), để trang trải chi phí cho cùng một khối lượng nguyên liệu thô được nhập khẩu.

Do thực phẩm, nhiên liệu và nguyên liệu cấu thành khoảng một phần tư tổng thương mại toàn cầu, khi giá cả của chúng biến động – nhất là nếu mạnh mẽ như trong những thập niên gần đây – thì các số liệu về tổng thương mại rõ ràng cũng chịu ảnh hưởng. Chỉ riêng sự sụt giảm mạnh của giá cả hàng hóa cơ bản trong giai đoạn gần đây đã đủ để lý giải cho sự trì trệ trong tăng trưởng thương mại.

Điều này không có nghĩa rằng toàn cầu hóa và thương mại là một. Toàn cầu hóa đòi hỏi nhiều đặc tính khác, bao gồm cả sự tăng vọt trong các giao dịch tài chính xuyên quốc gia và du lịch, trao đổi dữ liệu, và các hoạt động kinh tế khác. Trên thực tế, những mối liên kết này có tác động trở lại thương mại khi chúng kích hoạt cho sự xuất hiện của các chuỗi giá trị toàn cầu, theo đó các công đoạn khác nhau trong một quá trình sản xuất được tiến hành tại nhiều quốc gia khác nhau.

Tuy nhiên hiện tượng này đã được đánh giá quá cao. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới, giá trị gia tăng từ yếu tố nước ngoài chỉ chiếm khoảng 15% giá trị xuất khẩu đối với hầu hết các nền kinh tế lớn, như Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu. Nói cách khác, các chuỗi giá trị toàn cầu chỉ có tác động rất nhỏ tới những nền kinh tế có quy mô giao thương lớn.

Trung Quốc là ngoại lệ duy nhất. Với vị trí như một trạm lắp ráp các sản phẩm trên toàn thế giới, điều này có nghĩa là Trung Quốc đã nhập khẩu hầu hết các phần có giá trị gia tăng cao nhất của các hàng hoá đó. Nhưng khi cơ cấu công nghiệp của Trung Quốc chín muồi hơn – những chiếc iPhone được lắp ráp tại đây hiện nay chứa nhiều bộ phận được sản xuất tại chính đất nước này hơn so với thời điểm chỉ vài năm trước – Trung Quốc sẽ bám đuổi Mỹ và EU sát hơn xét trên phương diện giá trị gia tăng, chứ không phải theo hướng ngược lại. Đây là một nguyên nhân nữa có thể sẽ làm giảm bớt tầm quan trọng của thương mại.

Khi một điều gì đó được cường điệu hóa một cách rộng rãi, hầu như luôn có một lý do thực sự đằng sau nó. Hầu hết các nền kinh tế hiện nay đã mở cửa hơn nếu so với thế hệ trước. Nhưng hiện tại rõ ràng là việc xem toàn cầu hóa như một lực lượng áp đảo và không thể lay chuyển được đã phản ánh rất rõ những tác dụng phụ từ sự bùng nổ giá cả hàng hóa cơ bản trong thập niên trước. Nếu giá cả vẫn duy trì ở mức thấp, như chiều hướng gần đây cho thấy, thương mại toàn cầu trong thập niên tới có thể vẫn tiếp tục trì trệ, trong khi mô hình thương mại sẽ “tái cân bằng”, nghiêng từ các nền kinh tế mới nổi sang các cường quốc công nghiệp lâu đời.

Biên dịch: Nguyễn Hồng Nhung | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Daniel Gros, “The End of Globalizaton?”, Project Syndicate, 08/03/2016.

Daniel Gros là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách châu Âu tại Brussels. Ông từng làm việc cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và đóng vai trò cố vấn kinh tế cho Ủy ban châu Âu, Nghị viện châu Âu cũng như Thủ tướng và Bộ trưởng Tài chính Pháp. Ông là  biên tập viên của tờ Economie Internationale và tạp chí International Finance.