Sự độc lập-tự chủ và không độc lập-tự chủ của tự-ý-thức; làm chủ và làm nô – Phần II


§ 187

 Tuy nhiên, sự tự thể hiện chính mình như là sự trừu tượng thuần túy của Tự-ý thức là nằm ở chỗ: chứng tỏ chính mình như là một sự phủ định thuần túy đối với hình thái [hay phương thức tồn tại như] đối tượng [khách quan] của mình; hay chứng tỏ rằng mình không bị ràng buộc nơi một sự hiện hữu nhất định nào, không hề bị cột chặt với bất kỳ tính cá biệt phổ biến nào của sự hiện hữu nói chung, nghĩa là không bị gắn liền với sự sống. Tiến trình thể hiện này là việc làm nhị bội: việc làm về phía cái khác và việc làm về phía chính mình. Trong chừng mực đó là việc làm của cái khác [cái Tự-ý thức hay cá thể đối lập], mỗi phía nhắm vào mục đích là cái chết của phía bên kia. Nhưng trong việc này cũng thể hiện [loại] việc làm thứ hai, việc làm bởi chính mình, vì cái trước đã bao hàm việc nó đặt cả mạng sống riêng của nó vào đó. Như vậy, mối quan hệ [hay “tình huống”] của hai Tự-ý thức được quy định theo kiểu chúng tự chứng tỏ và chứng tỏ cho nhau thông qua cuộc chiến đấu mất còn.

Chúng phải đi vào cuộc chiến đấu này, bởi chúng phải nâng sự xác tín của chính chúng như là tồn tại cho-mình lên cấp độ của sự thật nơi cái khác cũng như nơi chính bản thân chúng. Và chỉ có việc liều mạng sống mới bảo tồn được tự do; và chỉ có như thế mới chứng tỏ được rằng đối với Tự-ý thức, bản chất của nó không phải là sự tồn tại [trần trụi], không phải đơn thuần là phương thức trực tiếp trong đó nó xuất hiện ra [như lúc đầu], không phải là sự đắm chìm trong việc triển khai sự sống mà đúng hơn là, không có gì nơi nó mà không thể được nó xem như là một yếu tố đang tiêu vong; rằng Tự-ý thức chỉ là sự tồn tại-cho-mình thuần túy. Một cá thể [cá nhân] đã không dám liều mạng sống, tất nhiên, vẫn có thể được thừa nhận như một “con người” (Person)[12], nhưng cá nhân ấy đã không đạt đến sự thật của sự được thừa nhận này như là một Tự-ý thức độc lập-tự chủ. Cũng thế, giống như mỗi bên đều liều mạng sống của chính mình, mỗi bên phải nhắm vào cái chết của bên kia; bởi vì mỗi bên đánh giá bên kia không khác gì chính mình; bản chất của mình thể hiện ra cho mình trong hình thức của “cái khác”; nó đang ở bên ngoài chính mình và phải thủ tiêu cái “tồn tại-ở-bên-ngoài-mình” này đi. | “Cái khác” là một ý thức còn sống trực tiếp trong môi trường của tồn tại đơn thuần còn bị ràng buộc và gắn chặt với nhiều mối quan hệ đa tạp, [trong khi] nó phải trực nhận cái tồn tại-khác này của nó như là cái tồn tại cho-mình thuần túy hay như là sự phủ định tuyệt đối[13].

§ 188

Thế nhưng, sự chứng tỏ [sự thử thách] bằng cái chết sẽ thủ tiêu sự thật lẽ ra phải là kết quả từ đó [đối với cả hai phía] và cùng với sự thật, thủ tiêu cả sự xác tín về mình nói chung. | Bởi lẽ, cũng như mạng sống là sự thiết định [hay đặt định] tự nhiên của ý thức như là sự độc lập nhưng không có tính phủ định tuyệt đối; thì cái chết là sự “phủ định” tự nhiên của ý thức, [nhưng] như là sự phủ định không có sự độc lập, và như thế, sự phủ định ấy vẫn không đạt được ý nghĩa đòi hỏi của việc thừa nhận [đích thực]. Tuy rằng thông qua cái chết, sự xác tín đã hình thành, cho thấy cả hai đều dám liều mạng sống và xem thường cái chết nơi chính mình và nơi cái khác, nhưng sự xác tín này lại không dành cho những ai đứng vững trước cuộc chiến đấu này. Họ thủ tiêu chính ý thức của họ vốn đã được đặt vào trong yếu tố xa lạ này của sự tồn tại tự nhiên [nơi cái khác]; nói khác đi, họ thủ tiêu chính mình và bị thủ tiêu với tư cách là cái đối cực muốn tìm kiếm sự tồn tại cho-mình. Nhưng, cùng với điều ấy, từ sự tương tác, trao đổi qua lại này, cũng sẽ biến mất luôn cả cái yếu tố bản chất, đó là việc phân hóa ra thành những đối cực với các đặc điểm đối lập nhau; và cái [hạn từ] trung giới [Tự-ý thức] đổ sập vào trong một nhất thể chết cứng, là cái cũng phân rã ra thành những đối cực, nhưng chúng chết cứng [không có sự sống], chỉ đơn thuần tồn tại trực tiếp [trần trụi] chứ không đối lập nhau. | Và cả hai [đối cực] ấy sẽ không còn cho và nhận lại từ nhau thông qua ý thức, trái lại chúng buông rời nhau ra một cách dửng dưng như [giữa] các sự vật. Việc làm này của chúng là sự phủ định trừu tượng, chứ không phải sự phủ định [mang đặc điểm] của Ý thức; [bởi] Ý thức [bao giờ cũng] thủ tiêu  [vượt bỏ] theo kiểu bảo lưu và duy trì cái bị thủ tiêu và bởi đó, sống sót qua việc bị thủ tiêu của nó[14].

§ 189

Trong kinh nghiệm này, Tự-ý thức nhận ra rằng mạng sống [sự sống] cũng có tính bản chất đối với nó giống như Tự-ý thức thuần túy. Trong Tự-ý thức trực tiếp, cái Tôi đơn giản là đối tượng tuyệt đối, tuy nhiên, đối tượng này – cho-ta hay là tự-mình – là sự trung giới tuyệt đối và có sự độc lập tự tồn làm yếu tố bản chất. Sự phân rã [giải thể] của cái nhất thể đơn giản này là kết quả của kinh nghiệm đầu tiên; qua đó, một Tự-ý thức thuần túy được thiết định và [bên cạnh đó] là một ý thức không tồn tại-cho mình một cách thuần túy mà tồn tại cho một cái khác, tức, như là một ý thức tồn tại đơn thuần trực tiếp [trần trụi] hay là ý thức trong hình thái của vật tính. Cả hai yếu tố đều có tính bản chất; [nhưng] vì thoạt đầu chúng không ngang bằng [không đồng nhất] và đối lập nhau, và sự phản tư của chúng vào trong sự thống nhất chưa hình thành; nên chúng hiện hữu như hai hình thái đối lập nhau của ý thức. | Một hình thái là ý thức độc lập-tự chủ và bản chất của nó là tồn tại-cho mình; còn hình thái kia là không độc lập-tự chủ và bản chất của nó là sự sống [mạng sống] hay là tồn tại cho-một cái khác. | Cái trước là CHỦ (der HERR); cái sau là NÔ (der KNECHT)[15].

§ 190

[III. CHỦ và NÔ:]

CHỦ là ý thức tồn tại cho-mình, nhưng không còn đơn thuần là Khái niệm [phổ biến] về một ý thức tồn tại-cho-mình mà chính là ý thức tồn tại cho-mình được trung giới với chính mình thông qua một ý thức khác, tức thông qua một ý thức mà bản chất của ý thức này là gắn chặt với sự tồn tại độc lập-tự chủ, hay với vật-tính nói chung. CHỦ quan hệ với cả hai yếu tố này: với một sự vật, xét như sự vật, là đối tượng của sự ham muốn; và với một ý thức mà bản chất là vật-tính. | Và trong khi CHỦ a/ với tư cách là Khái niệm về Tự-ý thức có mối quan hệ trực tiếp của sự tồn tại-cho-mình[16], nhưng đồng thời b/ với tư cách là sự trung giới, hay là một sự tồn tại cho-mình chỉ “tồn tại cho-mình” thông qua một cái khác, do đó, CHỦ vừa a/ quan hệ trực tiếp với cả hai yếu tố[17], vừa b/ quan hệ một cách gián tiếp [qua trung giới] với mỗi cái thông qua cái khác. CHỦ quan hệ với NÔ một cách gián tiếp thông qua trung giới của cái tồn tại [“sự vật”] độc lập vì chính cái tồn tại này giữ chặt NÔ trong sự nô lệ; đó là xiềng xích của nó mà nó đã không thể trút bỏ được trong cuộc đấu tranh và vì thế, tự chứng tỏ mình là không độc lập-tự chủ, [bởi] nó có sự độc lập-tự chủ của mình trong [hình thái của] vật-tính. Trong khi đó ngược lại, CHỦ là quyền lực trên cái tồn tại [“sự vật”] này, vì nó đã chứng tỏ trong cuộc đấu tranh rằng đối với nó, tồn tại này chỉ có giá trị như một cái [bị] phủ định. | Và trong khi CHỦ là quyền lực đứng trên sự tồn tại, còn sự tồn tại lại là quyền lực đứng trên cái khác [NÔ], nên kết quả là: CHỦ có cái khác [NÔ] dưới quyền lực của mình [bắt NÔ phải lệ thuộc vào mình]. Cũng cùng một phương cách như thế, CHỦ quan hệ với sự vật một cách gián tiếp thông qua trung giới của NÔ. | NÔ, với tư cách là Tự-ý thức nói chung, cũng quan hệ với sự vật một cách phủ định và thủ tiêu sự độc lập của sự vật; thế nhưng vì sự vật đồng thời là độc lập-tự chủ đối với NÔ, do đó bằng tất cả sự phủ định, NÔ vẫn không thể đi xa đến chỗ thanh toán dứt khoát, tức là hư vô hóa sự vật, mà nói cách khác, NÔ chỉ lao động với sự vật thôi [bearbeiten: làm việc nhào nặn sự vật][18].

Ngược lại, đối với CHỦ, nhờ thông qua tiến trình trung giới này, mối quan hệ trực tiếp trở thành sự phủ định thuần túy đối với sự vật; nói khác đi, [chỉ] là sự hưởng thụ. | Những gì sự ham muốn đã không thành công thì bây giờ thành công, đó là thanh toán hoàn toàn sự vật và đạt được sự thỏa mãn trong việc hưởng thụ nó. Điều này đã không đạt được bằng sự ham muốn [đơn độc] là bởi do tính độc lập-tự chủ của sự vật; nhưng nay CHỦ đã đẩy NÔ vào giữa CHỦ và sự vật, nên qua đó, chỉ quan hệ với mặt không-độc lập-tự chủ của sự vật và hưởng thụ nó một cách thuần túy; còn mặt độc-lập-tự chủ của sự vật thì CHỦ nhường lại cho NÔ, kẻ đang lao động [nhào nặn, tạo hình thể] với sự vật[19].

(còn tiếp) 

Nguồn: Georg Wilhelm Friedrich Hegel. “Sự độc lập-tự chủ và không độc lập-tự chủ của tự-ý-thức; làm chủ và làm nô”. Trích từ chương IV: “Sự thật của việc xác tín vềchính mình.” Trong Hin tượng học tinh thần. Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải. Nxb. Văn học, Hà Nội, 2006, tr. 434-455.

—-

[12] “Person”: “con người”. Ý nghĩa của chữ “Person” trong Hegel không ổn định. Trong HTHTT, “Person” là sự biểu thị chung ở cấp độ thấp nhất về “con người”, được áp dụng cho bất cứ ai, không thể hiện một Tự-ý thức độc lập; vì thế, trong Chương VI, §§477-480, ông còn bảo “Person” là từ “diễn đạt sự khinh bỉ”. Nhưng, trong “Triết học pháp quyền” (§35), một “Person” là ý thức về chính mình như một cái Tôi, trong khi Tự-ý thức là ý thức về chính mình chỉ như là một “tồn tại nhất định”. (Xem thêm: Triết học pháp quyền: §35, §41, §46, §105). Tuy nhiên, nhìn chung, khác với Kant, Hegel hiểu “Person” là sự biểu thị tương đối mờ nhạt, trừu tượng về “con người”, đơn thuần theo nghĩa “pháp nhân”.

[13] “Sự phủ định tuyệt đối” (absolute Negation): Sự phủ định tuyệt đối là sự phủ định nhị bội (gấp đôi, phủ định của phủ định). Sự phủ định thứ nhất là sự phủ định mà Tự-ý thức đã trải nghiệm thông qua sự tồn tại ở bên ngoài chính mình (Außersichsein). Nhưng, để quay trở lại với “sự tồn tại-cho mình thuần túy” của mình, sự phủ định này phải được phủ định hay vượt bỏ đi; do đó là sự phủ định gấp đôi hay “sự phủ định tuyệt đối”.

[14] Sự phủ định vừa “thủ tiêu”, vừa “bảo lưu” và “duy trì” chính là sự “vượt bỏ” (Aufheben) (xem: Chú giải dẫn nhập: 3.4.3.2.f). Ở đây, theo J.H, ta không được quên rằng có hai sự độc lập-tự chủ: sự độc lập của Sự sống (không có tính phủ định tuyệt đối) và sự độc lập của cái tồn tại-cho mình (chỉ đơn thuần là tính phủ định tuyệt đối). Vậy, kết quả của cuộc đấu tranh mất còn này là tính bản chất của Sự sống “cho” Tự-ý thức.

[15] Bước chuyển hóa có tính bản chất: hai mô-men (Moment) của Tự-ý thức sẽ tự phân ly: một bên là sự lặp thừa của Tôi = Tôi sẽ mang lại ý thức của CHỦ đặt mình lên trên sự tồn tại của Sự sống; bên kia là ý thức trong hình thức của vật tính (Dingheit), mang lại ý thức của Nô, chỉ hiện hữu cho một cái khác. Vậy, có ba hạn từ cho diễn trình biện chứng tiếp theo: Chủ, Nô và Vật tính. Đoạn §189 này là nền tảng cho cách lý giải “bản thể học” về Tự-ý thức (E. Fink, R. Ludwig…) khác với cách lý giải “nhân loại học” hay “triết học lịch sử” của nhiều tác giả khác.

[16] tức nó là sự lặp thừa (Tautologie) của Tự-ý thức: Tôi = Tôi.

[17] “Với cả hai yếu tố”: nghĩa là: với sự vật (đối tượng của sự ham muốn), và với Nô. Chủ quan hệ gián tiếp (qua trung giới) với sự vật, vì Nô lao động với sự vật mà Chủ hưởng thụ; và cũng gián tiếp với Nô, vì điều làm cho Nô thành Nô là sự lệ thuộc của nó với sự vật, với cái tồn tại tự nhiên mà nó không thể dứt bỏ trong cuộc chiến đấu. Nói cách khác, sự trung giới thiết yếu đối với Tự-ý thức đã chuyển sang bên ngoài Tự-ý thức, trong một ý thức khác, đó là ý thức của Nô.

[18]  “bearbeiten”: Nô cũng là Tự-ý thức nói chung vì nó phủ định sự vật, nhưng sự vật vẫn bảo tồn sự độc lập-tự chủ của mình đối với Nô. Do đó, sự phủ định không đi đến tận cùng (tức “hưởng thụ” sự vật) mà là sự phủ định dang dở, tức chỉ là “lao động”, nhào nặn, cải biến, tạo hình thể cho sự vật theo nguyên nghĩa của từ “bearbeiten”.

[19] Quan hệ trực tiếp (sự lặp thừa của Tự-ý thức: Tôi = Tôi) sở dĩ có được cho Chủ là nhờ thông qua sự trung giới (không được nhận thức) của Nô. Đối với Chủ, thế giới khách quan không có sự đề kháng; nó là đối tượng cho sự hưởng thụ của Chủ (cho sự khẳng định bản ngã của Chủ); trong khi đó, với Nô, thế giới này là thế giới “cứng rắn” mà nó chỉ có thể “nhào nặn, tạo hình thể, cải biến” mà thôi (theo J.H).

Advertisements

Khảo cứu vài luận điểm phản bác biện chứng pháp – Phần III


Các triết gia không bao giờ nhất trí với nhau về các lượng, nghĩa là bản chất, số lượng, và chức năng của những quy tắc luận lý học cùng căn nguyên của nhận thức. Nếu có nổi lên một cuộc tranh luận về số lượng và bản chất của những thứ này, thì ngay từ ban đầu rất khó mà đề nghị họ cùng chấp nhận chúng để có thể hóa giải được cuộc tranh luận. Họ sẽ rơi vào vòng tròn lý luận luẩn quẩn khi phải chấp nhận những lượng này để có thể xác định được các lượng khác. Và nếu như có thể hủy bỏ nguyên tắc: cần phải chấp nhận các lượng trước, sau đó mới có thể bắt đầu tranh luận. Nếu có thể mở đầu và hướng dẫn một cuộc tranh luận một cách vô điều kiện, thì những cuộc tranh luận khác cũng có thể được tiến hành thuận lợi không kém. Trong bất kỳ cuộc tranh luận nào, ta cũng đều phải phân biệt rạch ròi những đòi hỏi thông thường trong tranh luận với những điều liên quan đến các giả thiết cơ bản về nhận thức.

Tuy nhiên, không hề có cái gọi là luận lý học “trung tính” [neutral] mà mọi triết gia đều có thể chấp nhận, hoặc buộc phải chấp nhận. Các nhà thực tại luận có luận lý học riêng của mình, và các nhà duy tâm luận lại có một loại luận lý học khác. Những cách giải thích khác nhau về luật đồng nhất hoặc các định luật cơ bản khác đã chứng minh cho điều này. Thậm chí họ cũng không bao giờ thống nhất với nhau về bản chất của phán đoán. Lý luận của một hệ thống triết học là phương thức giải minh lập trường cơ bản của mình, thông qua các khái niệm và những biểu tượng ngôn ngữ. Có nhiều nền luận lý học khác nhau là điều không thể tránh khỏi, do có nhiều lập trường siêu hình học khác nhau. Nếu chấp nhận một nền siêu hình học đặc thù nào đó, dù là cố ý hay không, thì ta cũng phải chấp nhận luôn một kỹ xảo giải minh đặc thù, tức là luận lý học của hệ thống triết học đó. Từ trong cốt tủy, luận lý học chính là siêu hình học. Trong các cuộc tranh luận triết học, điều thông thường dễ phát hiện nhất, đó là khi kết thúc tranh luận thì sự khác biệt lại càng thêm sâu sắc. Cho đến tận ngày nay, nhiều hệ thống triết học khác nhau vẫn nối tiếp nhau xuất hiện mà không hề có một dấu hiệu nào báo trước, điều đó cũng chẳng phải là chuyện ngẫu nhiên tình cờ. Nếu có một nền luận lý học “trung tính” được tất cả mọi người chấp nhận thì có lẽ mọi sự di biệt về quan điểm đã được giải quyết từ lâu lắm rồi. Không cần phải chỉ ra rằng: các triết gia sở dĩ khác nhau về kiến giải là vì người nào cũng cố chấp vào định kiến ban đầu, vì chính cái khuynh hướng vô thức ban đầu này là cái mà ta gọi là kiến chấp hay dŗşti (abhiniveśa). Tham gia tranh luận để giải quyết sự khác biệt chỉ chứng minh được một điều: người tranh luận hoàn toàn không hề ý thức được sự khác biệt cơ bản giữa họ, mà lại kỳ vọng để giải quyết sự khác biệt bằng tranh luận.

Sự phản bác nghiêm trọng nhất là như vầy: nếu như một số quy tắc nhận thức – vốn được xem là chân thực và có giá trị tối cao, bất khả xâm phạm – lại phải mặc nhiên nhượng bộ không điều kiện, thì không thể có bất kỳ sự phê phán nhận thức nào cả. Chỉ cần đưa công cụ đơn giản phủ quyết này ra là mọi sự phê phán đều bị tê liệt. Các lượng (pramāņa) hoặc những nguyên lý khác chi phối kiến thức tư duy của chúng ta, điều đó có thực. Chúng giữ vai trò như những nhân tố tiên nghiệm, và phát huy tác dụng một cách vô thức.

Nhưng sự phê phán nào muốn phô bày lớp vỏ ngụy trang của phạm trù tiên nghiệm một cách trần trụi thì tự thân nó lại không thể bị chi phối bởi phạm trù tiên nghiệm. Bởi vì, nếu như vậy thì phạm trù tiên nghiệm phải giữ một lúc cả hai chức năng: vừa là các nhân tố chi phối nhận thức, vừa là đối tượng được nhận thức (bị chi phối). Nếu một phạm trù tiên nghiệm lại là đối tượng được được nhận thức của một tập hợp gồm các phạm trù tiên nghiệm khác, thì điều này không những dẫn đến sự suy diễn hồi quy [regress], mà ta còn không bao giờ hiểu được phạm trù tiên nghiệm hoạt động như thế nào, và tri thức được cấu tạo ra làm sao. Điều này thực sự phủ nhận khả năng phê phán của nhận thức. Khư khư chấp nhận các lượng (pramāņa) hay các quy tắc nhận thức khác một cách vô điều kiện không chút hoài nghi, đó là phương sách của những học thuyết giáo điều cực đoan nhằm làm tê liệt hoàn toàn mọi thuyết phê phán hay biện chứng pháp. Phủ nhận sự tự mãn túc [self—sufficiency] của Lý tính là kìm hãm khả năng phán đoán của Lý tính trên chính nó. Biện chứng pháp cho ta biết cách hoạt động của Lý tính, lý luận được định hình như thế nào, kinh nghiệm được cấu tạo ra làm sao. Ngay tự bản chất, công việc nghiên cứu này không thể giả lập bất cứ điều gì được xem là hợp lệ và bất khả xâm phạm.

Sự phản bác này có thể là hậu quả do bất đồng trong cách sử dụng thuật ngữ. Các thuật ngữ như “Nhận thức”, “Lý tính” “Chứng minh”… được sử dụng theo nghĩa song trùng. “Nhận thức” được dùng để chỉ sự nhận thức một đối tượng, đồng thời để chỉ sự nhận thức về chính sự nhận thức nữa; “Lý tính” không những được sử dụng cho các luận chứgn đặc thù mà còn được dùng để chỉ sự liễu tri về bản chất và phương thức hoạt động của chính Lý tính nữa. Nhận thức các phạm trù tiên nghiệm không phải là sự nhận thức thông qua phạm trù tiên nghiệm. Chứng cứ về việc phạm trù tiên nghiệm hoạt động trong nhận thức (toàn bộ tác phẩm Phê phán Lý tính thuần túy  của Kant là một minh hoạt xuất sắc về điều này) không phải là một chứng cứ khoa học về tính chất thường nghiệm được trầm tư thông qua phạm trù tiên nghiệm. Nhận thức về phạm trù tiên nghiệm hoàn toàn không phải là một hoạt động thường nghiệm; nó không phải là một loại nhận thức có thể đem so sánh được với nhận thức về các đối tượng khách quan. Quá trình và giá trị của hai loại nhận thức này hoàn toàn khác nhau. Nhận thức thường nghiệm hoạt động thông qua và nhờ vào các giả thiết tiên định; nó là tục đế (samvŗti), hướng đến việc hiểu biết và xử lý các khách thể. Nhận thức mang tính phê phán là sự liễu tri về các giả thiết tiên định này, nó khai ngộ cho tâm trí thấy được chúng đang trói buộc tâm trí. Giá trị của nhận thức này là quét sạch các giả tượng của kinh nghiệm, và khai phóng tâm trí đạt đến sự tự do tự tại, chứ không hề mang tính thực dụng hay theo nhận thức của thế gian. Nó là Tánh Không (Śūnyatā) hay Thắng nghĩa đế (parāmartha-satya). Trung quán tông phân biệt kiến tri (dŗşti-jnānā) – vốn bị chi phối bởi khái niệm và danh ngôn phân biệt (savikalpa, prapana) – với Prajña hay Tánh Không – vốn vô phân biệt (nirvikalpa) và siêu việt tất cả danh ngôn, hý luận (nişprapañca).

Các thuật ngữ được sử dụng trong các trước tác triết học là loại ngôn ngữ tối tăm rối rắm, khiến người đọc thêm khó hiểu. Ngôn ngữ là công cụ chủ yếu để biểu đạt kinh nghiệm. Điều này không chỉ mang tính tự nhiên, mà về phương diện thực dụng còn cực kỳ quan trọng nữa Thông thường thì triết học, nhất là những học thuyết tuyệt đối luận, phải dùng những biểu tượng rất thông thường để chuyển tải những nội dung không thể biểu tượng hóa một cách mặc nhiên được. Chính vì vậy mà nó phải cưỡng bức ngôn ngữ bằng cách gắn những ý nghĩa mang tính áp đặt hay giả tạo lên những ngôn từ quy ước. Trong Trung quán tông cùng những hệ thống triết học tuyệt đối luận khác, ta có thể vạch ra rất nhiều điểm mơ hồ và thiếu nhất quán theo nghĩ này. Chúng cố gắng chuyển tải, thông qua ngôn ngữ và khái niệm, những nội dung không thể dùng ngôn ngữ để làm công cụ biểu đạt.

V/ Biện chứng pháp và ý nghĩa của sự phủ định

Liệu sự phủ định toàn triệt của Trung quán tông với câu “Nhất thiết giai Không” có hợp lý và nhất quán không? Nếu nhất quán thì liệu nó có ý nghĩa hay không?

1/ Thứ nhất, nếu A bị phủ định điểm này thì nó vẫn có thể tồn tại ở điểm khác. Khi tính chất sai lầm của một cá nhân bị phủ định thì tất yếu điều đó sẽ dẫn đến việc xác nhận tính đúng đắn của người đó. Ta không thể ngăn cản điều này bằng sự phủ định thuần túy. Sự phủ định chỉ có ý nghĩa khi nó khẳng định một thực thể đang tồn tại dưới một hình thức khác, hoặc ở một vị trí khác, khác với cái mà nó đang bị nhận lầm hoặc bị xác định sai vị trí. Hơn nữa, mệnh đề “A không phải là B” có thể có nghĩa, và thường có nghĩa, là “A là X”. Đồng xu không có hình trái xoan, bởi vì nó có hình tròn. Câu phát biểu sau đây không chỉ là nền tảng của phán đoán phủ định mà còn phần bổ sung để hoàn tất mệnh đề “A không phải là B, bởi vì nó là X”.

Mọi phán đoán đều là sự thách đố đối với câu hỏi này: “Vì sao lại như vậy?” hoặc ít ra là: “Làm sao bạn biết được nó là thế?”. Câu hỏi thứ nhất yêu cầu căn nguyên hay nền tảng thực sự, còn câu sau yêu cầu căn nguyên của nhận thức hay nền tảng lý luận. Như vậy, trong sự phủ định cần phải có yếu tố này của nội dung xác định, nghĩa là cái thuộc tính biện chính được sự phủ định của chúng ta. Phủ định, một hình thức khác của phán đoán, phải có khả năng đóng góp cho nhận thức một cái gì đó mang nội dung xác định. Ta phải giả định theo Plato rằng nhận thức luôn là nhận thức về một cái gì; và nếu ta có thể nhận biết được bản chất của cái “hư không, vô vật” [nothing] – hiểu theo nghĩa hoàn toàn không có nội dung suy tưởng – thì cái “hư không, vô vật” phải “một sự vật nào đó” [something] theo hướng này. Do đó, mọi ý nghĩa đều phải mang tính xác định, và sự phủ định có ý nghĩa [significant negation] phải chuyển tải được một nội dung xác định.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy triết học Phật giáo – NXB HĐ 2013.

Nước Nga thời hậu Putin – Phần III


Ngoài sự bắt tay giữa chính quyền và giới kinh doanh, nền kinh tế Nga còn phải gồng mình “nuôi” nhóm Siloviki đang ngày một “phình ra” (những người làm việc trong các cơ quan quyền lực của Nga, như Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Cơ quan an ninh Liên bang Nga (FSB), Viện công tố Nga, Ủy ban điều tra…). Năm 2014, ở Nga có 719.000 nhân sự được tuyển dụng làm nhân viên gác cổng, nhân viên an ninh tại các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân. Trong khi đó, nhân sự của Bộ Nội vụ Nga lên đến 914.500 người. Cần phải thêm vào con số này 400.000 người thuộc Lực lượng cảnh vệ quốc gia, 289.000 người thuộc Bộ tình trạng khẩn cấp, 295.000 người làm việc trong hệ thống nhà tù, 200.000 lính biên phòng, chưa kể đến khoảng 100.000 nhân sự thuộc FSB. Tỷ lệ lực lượng này ở Nga chiếm 3,5% tổng lực lượng lao động Nga, tức nhiều gấp 4 lần so với phần lớn các nước phát triển. Trong vòng 15 năm, khoản tiền tài trợ cho nhóm Siloviki đã tăng hơn 5,5 lần và sĩ số của họ đã tăng gấp 3 lần. Tuy nhiên, lực lượng lao động Nga đã bắt đầu giảm, vì các lý do về dân số. Theo ước tính của cựu Bộ trưởng Tài chính Alexei Kudrin, mỗi năm, lực lượng lao động Nga giảm từ 500.000 đến 1.000.000 người. Đáng buồn hơn, nhóm Siloviki giống như một loại tầm gửi ăn bám giới kinh doanh. Kiểu sống ký sinh này là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng yếu kém của Nga. Sự tham gia của nhà nước trong nền kinh tế Nga đạt 70% trong nhiệm kỳ ba của Putin. Và, chúng ta không nên quên rằng các nhà lãnh đạo Nga không quan tâm đến việc phát triển một nền kinh tế tri thức – vốn bao hàm việc nới lỏng kiểm soát đối với các công dân.

Giới chức trách Nga hầu như không che giấu việc họ áp dụng thuyết Darwin xã hội (là lý thuyết xã hội học coi đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên là động lực chủ yếu của sự phát triển xã hội – ND). Số bệnh viện đã giảm từ 10.700 bệnh viện vào năm 2000 xuống còn 5400 bệnh viện vào năm 2015. Từ tháng 1 đến tháng 9/2017, số người chết lớn hơn số người được sinh ra là 106.176 người, trong khi vào cùng kỳ năm 2016, số người được sinh ra lớn hơn số người chết là 18.143 người. Ở vùng Samara, từ tháng 1 đến tháng 9/2017, tỷ lệ tử vong vượt tỷ lệ 26,9% (trong khi đó tỷ lệ này của năm 2016 là 9,4%). Nền giáo dục công không được cải thiện tốt hơn: Số trường học đã giảm từ 68.100 trường vào năm 2000 xuống còn 44.100 vào năm 2015.

Những hệ quả của sự tuyên truyền mạnh mẽ

Có một điều đã được nói đến, nhưng vẫn cần thiết phải nhắc lại rằng người dân Nga bị khuất phục trước sự tuyên truyền mạnh mẽ qua truyền hình. Trước hết, đó là việc tuyên truyền về nền tảng tư tưởng của chế độ Putin, nhằm chỉ ra rằng Mỹ đang vật lộn chống lại Nga bởi Nga là một cực độc lập và không chịu đầu hàng. Nga được coi là “tội đồ của thế giới phương Tây, cực thứ hai của hành tinh, là hiện thân của công lý trên lục địa châu Âu trong các vấn đề quốc tế”. Mục tiêu lớn khác của việc tuyên truyền qua truyền hình là khơi dậy một bầu không khí hận thù chống lại một số mục tiêu mà Điện Kremlin đã định hình. Kể từ năm 2014, Ukraine đã trở thành mục tiêu chính; ít nhất là một nửa các bài phóng sự được viết về nước này, nhằm hai mục đích khiến người Nga ghê tởm bất cứ cuộc “cách mạng cam” nào và kích động sự thù ghét những người Ukraine. Việc tập cho quan với sự hận thù là như vậy, nhưng Chính quyền Putin đã không ngừng “tăng liều” để tiếp tục huy động sự ủng hộ của người dân Nga. Trên thực tế, nước Nga không chỉ có kẻ thù bên ngoài; giờ đây tồn tại cả những hận thù giữa những người Nga với nhau, mà nguyên nhân một phần là do tình trạng “giáo sĩ hóa” chế độ chính trị Nga ở mức độ ngày càng gia tăng. Nước Nga của Putin cần những “kỹ sư tâm hồn” (và Putin tìm kiếm họ trong Giáo hội Chính thống giáo), cũng như Liên Xô dưới thời Stalin tìm kiếm họ trong Hội nhà văn. Bộ phim Matilda của đạo diễn Alexey Uchitel, một bộ phim kể về mối tình của Sa hoàng Nicolas II và nữ diễn viên ballet Matilda Kchesinskaya, đã kích động người dân Nga. Quả thực, các tín đồ Chính thống giáo đã xem bộ phim này như là một “hành động khiêu khích chống nước Nga và phỉ báng tôn giáo”. Họ cho rằng vì Nicolas II đã được Giáo hội Chính thống giáo phong thánh, nên việc ông có một mối tình trước khi kết hôn là điều không thể chấp nhận được. Các rạp chiếu phim lên lịch công chiếu bộ phim này đã bị tấn công, và đạo diễn phim cũng bị đe dọa. Các hiện tượng quá khích tập thể đang gia tăng ở Nga. Theo một số nhà quan sát, người dân Nga tiên đoán được điều gì đang đợi nước Nga sau khi Putin rời khỏi quyền lực.

Một điều cũng hết sức đáng lo ngại khác là những điều phi lý ngày càng gia tăng. Có thể nêu lên ví dụ mới đây nhất, Phó giám mục Archeacon Andrei Kouraev đã quy trách nhiệm liên quan tới sự cố tên lửa mang vệ tinh thời tiết Meteor-M cho vị giáo trưởng – người đã ban phước cho thiết bị này trước khi tiến hành phóng tên lửa. Theo nhà thần học có ảnh hưởng này, “điều rất lạ là Giáo hội cung cấp các dịch vụ, nhưng không bao giờ chịu trách nhiệm về chất lượng của các dịch vụ đó”. Phát biểu này đã gây ra một cơn bão trong giới giáo sĩ Chính thống giáo ở Nga.

Quân sự hóa đất nước

Hoạt động tuyên truyền của Chính quyền Putin cũng nhấn mạnh việc chuẩn bị cho chiến tranh. Nó làm cho người dân chấp nhận việc tăng cường quân sự hóa đất nước – nguyên nhân khiến cho mức sống của người dân Nga ngày một đi xuống. Kể từ năm 2015, một chính sách lệ thuộc của nền kinh tế dân sự vào các nhu cầu quân sự đã được thiết lập dưới sự bảo trợ của Ủy ban quân sự – công nghiệp – trực tiếp thuộc thẩm quyền của Tổng thống kể từ năm 2014. Nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ được tổ chức phù hợp với “Luật về tình trạng chiến tranh”. Các hội đồng tham mưu trong các vùng liên bang do Tổng thống bổ nhiệm có thể tạm đình chỉ các quyền công dân và phát huy điều này khi có đe dọa khủng bố và hành vi phá hoại. Các thống đốc vùng, Cơ quan an ninh Liên bang Nga và lực lượng cảnh sát phụ thuộc vào các nhà lãnh đạo quân sự. Ngày 22/11/2017, Vladimir Putin đã ra lệnh cho các tập đoàn công nghiệp Nga, thuộc khu vực tư nhân và nhà nước, chuẩn bị cho tình trạng chiến tranh. Các trường học cũng được chỉ dẫn cách ứng phó trong thời chiến.

Trước một bối cảnh như vậy, người ta hiểu được sự nản lòng của phe đối lập ở Nga và việc chấp nhận một nhiệm kỳ mới của Putin. Người ta lo ngại rằng nếu khủng hoảng lên tới mức đỉnh điểm, nước Nga sẽ chịu chung số phận với các cộng đồng ly khai tại Donetsk và Lugansk, nơi mà từ 3 năm qua đã chứng kiến sự hoành hành của các nhóm vũ trang với những nhân vật điển hình nhất là những nhà tài trợ trong thế giới ngầm, các cựu thành viên trong quân đội hay trong các cơ quan an ninh. Những cuộc đấu tranh bạo lực, cùng những vụ thanh toán đẫm máu, sẽ đặt các phe phái thù địch vào thế đối đầu nhau, trên cơ sở chia sẻ nguồn lợi tại chính mà xung đột mang lại.

Cần phải làm gì?

Trước tiên, cần phải tránh có suy nghĩ cho rằng việc Putin rút lui khỏi chính trường Nga sẽ là một giải pháp toàn năng cho những vấn đề mà nước Nga đang phải hứng chịu. Trong một cuốn sách gần đây mang tên “Chế độ chuyên chế ở Nga”, nhà sử học Dmitri Choucharine đã đưa ra luận điểm cho rằng có một sự tiếp nối giữa chế độ chuyên chế dưới thời Xô viết và chế độ hiện tại, mà ông gọi là “chế độ chuyên chế mới hậu hiện đại”. Dưới một chế độ như vậy, phẩm chất của nhà lãnh đạo không quan trọng. Putin đã được chọn chính xác là vì ông là “người không có các phẩm chất” là người của đám đông. Trong một hệ thống như vậy, khái niệm về khủng hoảng không giống như trong một chế độ dân chủ tự do: Những gì được coi là dấu hiệu khủng hoảng ở phương Tây, như suy giảm mức sống, tình trạng thiếu thốn, thất nghiệp, các vụ tấn công khủng bố, lại có thể giúp củng cố quyền lực. Điều này được thể hiện chính xác dưới thời Stalin, nạn đói khủng khiếp năm 1933 đã cho phép nhà lãnh đạo chuyên chế này củng cố ảnh hưởng của mình trong đảng và đất nước. Tương tự, nhà sử học Nga Choucharine nhấn mạnh rằng không nên hiểu nhầm về tầng lớp trung lưu của Nga dưới thời Putin. Tầng lớp này chủ yếu gồm nhóm Siloviki, người làm công ăn lương trong các tập đoàn nhà nước, các thành viên có thế lực trong Đảng Cộng sản Liên Xô và các nhà tuyên truyền: Nói cách khác, đó là một tầng lớp chuyên chế. Điểm độc đáo là Choucharine đã không đặt chính quyền đối lập với xã hội. Ông cho rằng ở Nga, chính quyền, nhân dân và phe đối lập đều chuyên chế. Một chế độ chuyên chế không còn cần đến hệ tư tưởng, bởi hệ tư tưởng đã được thay thế bởi văn hóa đám đông.

Cho dù không có thái độ bi quan như Choucharine, việc cải cách nước Nga thời hậu Putin có lẽ sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí khó khăn hơn việc ra khỏi chủ nghĩa cộng sản. Bởi đó là việc thực hiện những gì đã không xảy ra vào giai đoạn 1991 – 1993: Phá vỡ ma trận chuyên chế của chính quyền Nga. Do vậy, một số nhà đối lập, như Garry Kasparov, đã kêu gọi một giải pháp triệt để: sửa đổi Hiến pháp, hủy bỏ chức vụ tổng thống và chuyển sang một nền cộng hòa nghị viện. Một số người khác, như Vladimir Pastukhov, thì cho rằng cần dành ưu tiên cho việc thiết lập một dạng chủ nghĩa liên bang thực sự ở Nga, và coi đây là cách duy nhất để phá vỡ ma trận chuyên chế bắt nguồn từ mong muốn kiểm soát các không gian rộng lớn của Đế chế Nga.

Cần xác định các biện pháp giúp cải thiện nhanh chóng tình hình hoặc kéo theo có một tác động tâm lý, và bắt tay thực hiện chúng. Chẳng hạn, lập một quỹ từ các tài sản tịch thu được của giới quan chức tham nhũng. Quỹ này sẽ được trao cho chính phủ mới và sẽ được sử dụng để tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng, các trung tâm nghiên cứu, các bệnh viện… Điều này sẽ cho phép bác bỏ nội dung cơ bản của chiến dịch tuyên truyền của ông Putin rằng phương Tây chỉ nghĩ đến việc cướp bước và tiêu diệt Nga. Sau đó, các nhà cải cách có thể sẽ chuyển sang thực hiện các biện pháp triệt để hơn để đối phó với các nhóm lợi ích có thế lực. Điều cấp thiết nhất là phải “bóc tách” hệ thống chính trị Putin dựa trên những biện pháp mà Putin đã thông qua để bảo vệ quyền lực. Năm 2000, tân tổng thống Nga đã đề ra hai mục tiêu trước mắt là tập trung hóa quyền lực và kiểm soát chính trị, thông qua việc xây dựng các phương tiện truyền thông.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Politique Internationale – số 158/2018

CVĐQT số 4/2018

Dẫn luận vào lĩnh vực học thuyết chiến tranh mới – Phần IV


Nhưng cũng cần suy nghĩ về việc môi trường này, phù hợp một cách lý tưởng cho việc kiểm soát từ bên ngoài lãnh thổ, thuận lợi cho việc xây dựng và cấu hình thực tế đáp ứng lợi ích của những kiến trúc sư mạng lưới, cũng như chính quyền hiện đại, thực chứng còn sót lại từ thực tế vật chất Xô viết được hình thành trên những nguyên tắc hiện đại, mơ về sự hiện đại hóa công nghiệp duy vật, hiểu rằng nó hoàn toàn không có khả năng dựa vào thực tiễn đang có. Thực tiễn này hiện nay đơn giản là đã trượt qua dưới chân nó, vuột khỏi kẽ tay. Đó là cái không thể chộp lấy, không thể sắp xếp, áp đặt những quan điểm hiện đại của riêng mình, đó là cái người ta không thể cho nó một hình thái nào, không thể đặt vào đâu đó càng không thể dịch chuyển đi đâu đó. Nó không có chiều thẳng đứng, mà là một môi trường phân tán, lan tỏa, là sóng. Và chính quyền hiện nay đang cố kiểm soát môi trường sóng này – cau mày, họ mấy máy môi nói: “Đấy, các người này bây giờ đến đây, còn những người kia, ở đây, các người được sắp xếp như thế”. Xếp đi đâu chứ? Không ai có thể sắp xếp đi đâu được nữa, bởi chính quyền thực chứng và xã hội mạng lưới hiện diện ở những chiều kích khác nhau, chúng thậm chí còn không đại diện cho nhau.

Một trong những tiêu chí chính của xã hội mạng lưới là việc xem nhẹ quốc gia và thậm chí khinh bỉ nó. Việc đối đầu giữa mình với quốc gia được đánh giá cao, đối với môi trường mạng lưới, nhà nước không phải là một giá trị. Khi chính quyền kêu gọi: “Hãy tập hợp lại, hãy dốc hết sức mình để đất nước phồn vinh”, nó phải chấp nhận rằng không còn khả năng hòa hoãn với việc từ lâu điều này đã có tác dụng ngược, bởi cùng với lời kêu gọi, nhà nước không còn đưa ra được động lực. Bất cứ động lực nào cũng bị hòa tan trong hậu hiện đại. Con người không còn nhớ tới “nhà nước” nữa. “Nhà nước là gì?” họ hỏi.

Hậu hiện đại hiện nay rõ ràng là một thực tế hiển nhiên, không thể trông thấy nó, dù có thể hiểu được. Và Dmitri Medvedev càng cổ vũ Twitter và iPad mạnh bao nhiêu thì việc phân rẽ và hậu hiện đại hóa xã hội chúng ta càng dữ dội bấy nhiêu, chính quyền, chế độ và nhà nước càng mất kiểm soát chúng nhanh bấy nhiêu. Xã hội đơn giản sẽ trôi xa khỏi nhà nước để đi vào một thực tế khác, các cảm biến mạng sẽ trực tiếp đi qua đầu của chính quyền hiện nay, trên cả Putin, bỏ qua Medvedev, qua bộ máy hành chính tổng thống, kết nối trực tiếp vào xã hội mạng lưới này, từ bên ngoài bắt đầu mô hình hóa các kiểu mẫu xã hội và điều khiển chúng, áp đặt các giá trị và chiến lược trước đó đã hình thành ở phương Tây. Trong những môi trường, xin lưu ý, có tính trí tuệ.

Đừng đánh giá thấp hậu hiện đại và cười bảo giờ đây chúng tôi sẽ xây những chuyến bay mới giữa các vì sao và đời sống vật chất hạnh phúc. Có thể, chúng ta rồi sẽ xây được nó, nhưng phải mất nhiều năm. Còn để chèn mạng lưới vào thực tế – chỉ cần vài phút. Chúng ta vẫn chưa kịp tìm hiểu hết những chức năng của món đồ điệnt ử mới, sống như thế nào trong thực tiễn khác. Không cần chúng ta có hiểu hậu hiện đại hay không.

NGUYÊN NHÂN ĐỊA CHÍNH TRỊ CỦA CHIẾN TRANH MẠNG LƯỚI

Trong hoạt động của mình, người Mỹ luôn xuất phát từ những quy luật địa chính trị, và hằng số cơ bản của địa chính trị là sự đối đầu giữa nền văn minh lục địa, mà đại diện hiện nay là Nga, với nền văn minh biển mà thành trì và sự thống trị của nó là Hoa Kỳ.

Địa chính trị là không thể thay thế với người Mỹ, họ luôn xuất phát từ những nguyên tắc địa chính trị, vì vậy hằng số địa chính trị có mặt trong mỗi bước đi của họ, trong mỗi hành động cụ thể. Chiến tranh mạng lưới – đó là công nghệ bắt nguồn hợp lý từ địa chính trị Mối đe dọa chính với Hoa Kỳ, xuất phát từ logic địa chính trị, chính là Nga với tư cách một không gian lớn, vì thế nhiệm vụ chính của Hoa Kỳ là giảm bớt không gian lớn này bằng cách tước đoạt các lãnh thổ vì lợi ích của mình và chia nhỏ chúng

Trong địa chính trị, không gian – khối lượng địa chính trị – có một ý nghĩa đặc biệt, thậm chí không phụ thuộc vào việc nó có nhiều khoáng sản hay đất đai màu mỡ, mặc dù theo quan điểm “địa linh thiêng” đi trước địa chính trị, chất lượng của không gian cũng có ý nghĩa lớn. Nga là một thực thể địa chính trị lớn, trong thuật ngữ địa chính trị thì đó là không gian lớn, có nghĩa nó là đe dọa sự thống trị độc tôn của Hoa Kỳ. Mục tiêu của “đế chế” Hoa Kỳ là phân chia không gian lớn đó ra thành từng phần, càng manh mún càng tốt. Và ở đây mọi phương tiện đều tốt: bắt đầu từ phá hoại tư tưởng, suy thoái đạo đức, Chiến tranh Lạnh, phong tỏa kinh tế và kết thúc bằng tấn công quân sự trực tiếp. Chiến tranh mạng lưới nằm đâu đó ở giữa.

Chiến tranh mạng lưới và địa chính trị cổ điển: Mối liên hệ

Dựa vào sự đối đầu giữa nền văn minh lục địa với văn minh biển, địa chính trị cổ điển xác định chính quyền lục địa bằng khái niệm “tellurocracy” (“telos” – đất và “cratos” – chính quyền), và chính quyền biển bằng khái niệm “thalassocracy” (thalasso biển). Các kiểu văn minh này được hình thành trong nhiều thế kỷ – cái nhìn từ biển về đất liền, nhận thức của con người của biển về đất liền và nhận thức của đất liền về biển: “những tên cướp biển” và “những kẻ du mục trên đất liền” – đó là những gì nằm trong mô hình xã hội học của hai kiểu văn minh này. Nền văn minh biển có đặc điểm là tính cơ động xã hội, trong khi nền văn minh lục địa thích ứng hơn với những nguyên tắc bảo thủ.

Trong toàn bộ những cái nhìn và mô hình mà người sáng lập địa chính trị đề xuất, chúng tôi sẽ dùng lại riêng ở các công trình của Halfrd Mackinder, tác giả địa chính trị then chốt, người đưa ra mô hình được sử dụng cho đến nay. Ông chia không gian thế làm ba khu vực. Đó là khu vực đất lõi (hearland) nằm ở trung tâm lục địa Á – Âu, về lịch sử đã và đang trùng hợp với biên giới của đế chế Nga và khối Xô viết, hiện nay là biên giới của những vùng được xác định như Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). Còn có vùng đảo thế giới, không gian được thống trị bởi nền văn minh thallasocratic Đại Tây Dương, không gian đại dương. Và có vùng mà nền văn minh lục địa đụng độ nền văn minh biển – đó là vùng ven biển quanh đất lõi, được gọi là vùng vành đại (rimland) – dải đất chung quanh lục địa Á – Âu. Ở phía Tây, vùng vành đai có châu Âu, tiếp đó là Nam Âu. Ở phía nam có Trung Đông (những nơi gọi là vùng Balkan Á – Âu theo định nghĩa của Brzezinski), Trung Quốc và Nhật Bản. Tức trong địa chính trị, rimland là vùng đụng độ giữa các nền văn minh.

Mackinder đã nhấn mạnh tầm quan trọng của rimland bằng định nghĩa: “Ai kiểm soát Đông Âu sẽ kiểm soát rimland, ai kiểm soát rimland sẽ kiểm soát lục địa Á – Âu và có quyền thống trị vùng heartland, và ai nắm quyền thống trị heartland sẽ kiểm soát thế giới. Theo đó, nền văn minh Đại Tây Dương, nền văn minh biển, đang cố mở rộng khu vực này bằng cách thay đổi kích cỡ. “Tên cướp biển” thấy bến bờ chính là dải đất rộng, trong khi “kẻ du mục trên đất liền” thấy biên giới của đất liền và biển trong hình dáng một đường vạch. Điều này được phản ánh trong các phương pháp tiếp cận địa chính trị ở chỗ nền văn minh biển luôn hình dung biên giới là một dải đất rộng tiến sâu và bờ biển, trong khi “kẻ du mục đất liền” luôn có giảm bớt đường biên giới xuống còn một vạch kẻ, điều tự nhiên đối với văn minh lục địa. Chính quyền lục địa (tellurocracy) cố thu hẹp ranh giới ảnh hưởng của mình (xuống còn thành một vạch kẻ – ND), kiểm soát biên giới trên thực tế của lục địa Á – Âu, bởi tuyến bờ biển Á – Âu chính là biên giới tự nhiên đối với nền văn minh lục địa.

Như thế, trong không gian vành đai sẽ diễn ra cuộc đụng độ vă minh chính. Nền văn minh biển tiến sâu vào lục địa, cố mở rộng dải ảnh hưởng của mình; nền văn minh lục địa dịch chuyển khỏi trung tâm, từ trong lục địa, cố thu hẹp dải đất này và biến nó thành một vạch tuyến của vùng ven biển. Những khái niệm nền tảng này của Mackinder là then chốt và được sử dụng như những định nghĩa cơ bản trong địa chính trị cổ điển cho tới ngày nay.

Cuộc đối đầu lịch sử giữa hai nền văn minh có thể được hình dung qua thí dụ của cuộc đối đầu giữa Rome và Carthage, và sau này giữa Anh và Đế quốc Nga. Trong thời kỳ hiện đại, người kế thừa Anh chính là Hoa Kỳ, và theo đó trung tâm địa chính trị chính quyền biển nằm ở chính đó. Chiến lược mà khởi đầu là sự đối kháng giữa Anh và đế quốc Nga đã được tiếp tục thực hiện ngày nay. Trong lịch sử, nhiệm vụ chính của đế quốc Anh là nỗ lực không cho Nga tiến đến Ấn Độ Dương để kiểm soát Bosporus và Dardannelles, không tạo cơ hội cho đất lõi tiến ra những vùng biển ấm. Toàn bộ cuộc đối dầu giữa thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20 cho đến nay, khi mà Hoa Kỳ chưa nhận lãnh chức năng của trung tâm chính quyền biển, đã phát triển theo logic đó. Và chúng ta thấy hiện nay, cuộc đối kháng không biến mất đi đâu, nền văn minh thallasocracy dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ tiếp tục tiến sâu vào lục địa Á – Âu, mở rộng vùng vành đai ven biển.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Không và sắc – Phần cuối


Thế nên, trong lý thuyết trường lượng tử, tất cả các tương tác đều được lý giải bằng sự trao đổi của các hạt giả. Tương tác càng lớn, tức là lực giữa các hạt càng lớn, thì xác suất của một tiến trình trao đổi đó càng lớn, tức là các hạt giả trao đổi với nhau càng nhiều. Hơn thế nữa, vai trò của các hạt giả không chỉ dừng lại ở tương tác. Thí dụ, một nucleon tự nó một mình có thể phóng thích một hạt giả ra rồi sau đó hấp thụ lại. Giả định rằng một meson được hình thành rồi được phân hủy trong khoảng thời gian mà nguyên lý bất định cho phép thì không có gì ngăn cấm một tiến trình như vậy xảy ra. Trong trường họp đó thì biểu đồ Feynman của một neutron, nó phóng thích ra pion rồi lại hấp thụ nó, được vẽ như dưới đây.

Xác suất của một tương tác tự thân như thế là rất lớn đối với các nucleon, vì tầm tương tác mạnh của chúng. Điều đó có nghĩa là trong thực tế các nucleon luôn luôn phun hạt giả ra và nuốt chúng trở lại. Theo lý thuyết trường, người ta phải xem nó như tâm điểm của một hoạt động liên tục, được bọc xung quanh bởi một đám mây chỉ toàn hạt giả. Các hạt meson giả phải biến mất rất sớm sau khi được tạo thành, vì thế chúng không thể rời nucleon đi đâu xa được. Thế nên đám mây meson cũng phải rất nhỏ. Vùng biên của chúng chứa đầy meson hạng nhẹ (thường là pion), các meson hạng nặng nằm ở phần trong của đám mây, vì chúng lại bị hấp thụ sau một thời gian ngắn hơn.

Mỗi nucleon được một đám mây của meson giả bọc quanh, các meson giả đó có đời sống hết sức ngắn ngủi. Trong một số điều kiện đặc biệt thì meson giả có thể biến thành meson thật. Khi nucleon bị một hạt khác có vận tốc cao va chạm thì một phần của động năng hạt đó có thể truyền lên một meson giả và giải thoát nó ra khỏi đám mây. Với cách thế này mà meson được sinh ra thật trong các cuộc va chạm cao năng lượng. Mặt khác thì hai nucleon tiến gần nhau đến mức mà đám mây của chúng choàng lên nhau thì có thể vài hạt giả, thay vì trở về nơi sinh ra của chúng là nucleon mẹ, nhảy qua nucleon kia và bị cái kia hấp thụ. Đó chính là tiến trình trao đổi, chúng diễn tả tương tác mạnh.

Hình ảnh này chỉ rõ, tương tác giữa các hạt, tức các lực giữa chúng, như thế được quy định bởi thành phần của các đám mây giả. Cự ly của tương tác, tức là khoảng cách giữa hai hạt mà tác động đó bắt đầu có hiệu quả, tùy thuộc vào kích thước của đám mây giả và dạng cụ thể của sự tác động cũng dựa trên tính chất của các hạt trong đám mây. Thế nên các lực điện từ là do sự hiện diện của các photon giả trong hạt có điện tích mà thành, trong lúc sự tương tác mạnh của các nucleon là do sự hiện diện của các pion và các meson khác trong  các nucleon mà thành. Trong lý thuyết trường thì lực giữa các hạt trở thành tính chất nội tại của các hạt. Lực và vật chất, hai khái niệm mà trong quan điểm nguyên tử của Hy Lạp và của Newton bị tách rời nghiêm ngặt, theo cách nhìn ngày nay, chúng có một nguồn gốc chung trong những cấu trúc động mà ta gọi là hạt.

Cách nhìn đó về lực cũng là đặc trưng của đạo học phương Đông, họ nhìn vận hành và biến dịch là tự tính nội tại của mọi vật. Trương Tài nói về trời “Tất cả vật quay tròn, chúng đều có lực tự nhiên nội tại, sự vận hành của chúng không phải từ bên ngoài tác động vào” và trong Kinh Dịch ta đọc thấy “Nguyên lý của tự nhiên không xem lực nằm ngoài vật, mà chúng biểu hiện sự hòa hợp của sự vận động nội tại của chúng”.

Cách mô tả cổ đại này của Trung Quốc, xem lực là đại biểu cho sự hòa hợp của vận hành nội tại trong sự vật hiện ra dưới ánh sáng của lý thuyết trường lượng tử rất phù hợp, trong đó lực giữa các hạt được xem là sự phát biểu của những cơ cấu động (đám mây giả), những đám mây này là tính chất nội tại của hạt.

Lý thuyết trường của vật lý hiện đại đòi hỏi ta phải từ bỏ sự phân biệt cổ điển giữa hạt mang khối lượng và không gian trống rỗng. Thuyết trọng trường của Einstein và thuyết lượng tử cả hai đều cho thấy, hạt không thể tách rời khỏi không gian chung quanh. Một mặt chính nó quyết định cấu trúc của không gian đó, mặt khác không thể xem nó là một đơn vị độc lập, mà là sự kết tụ của một trường liên tục, hiện diện khắp nơi trong không gian. Trong thuyết trường lượng tử thì trường này là nguồn gốc của mọi hạt và tương tác giữa các hạt với nhau.

Trường luôn luôn hiện diện, cùng khắp; không có gì hủy diệt được nó, nó là chất liệu của mọi tiến trình vật chất. Nó là cái “không”, từ đó mà proton đã sản sinh ra nhưng π-meson (pion). Hạt sinh ra hay phân hủy chỉ là những dạng vận động của trường.

Cuối cùng, sự phân biệt giữa vật chất và không gian trống rỗng phải hoàn toàn được từ bỏ, khi ta phát hiện rằng những hạt giả có thể từ Không tự nhiên sinh ra và lại hoại diệt trong Không mà không hề cần có sự hiện diện của bất kỳ một nucleon nào hay một loại hạt nào của tương tác mạnh. Biểu đồ chân không sau đây trình bày một tiến trình như thế: ba hạt – một proton (p), một đối hạt antiproton và một pion – được sinh ra từ chân không và phân hủy lại trong chân không. Theo thuyết trường lượng tử thì tiến trình như thế xảy ra liên tục. Chân không không hề trống rỗng. Ngược lại nó chưa vô lượng các hạt, chúng sinh thành và phân hủy vô tận.

Ở đây, vật lý hiện đại có sự tương đồng sát sao nhất với khái niệm Không của đạo học phương Đông. Như tính Không của phương Đông, chân không vật lý – được gọi như thế trong lý thuyết trường – không phải là một tình trạng không có gì mà hàm chứa khả năng của tất cả mọi dạng hình của thế giới hạt. Những dạng này lại không phải là những đơn vị vật lý độc lập, mà là những dạng xuất hiện tạm thời của cái hông cơ bản đó. Như Kinh nói: “Sắc chính là Không. Không chính là Sắc”.

Mối liên hệ giữa các hạt giả và chân không tự nó cũng là một mối liên hệ động. Chân không thực tế là một “Không sinh động”, nó cũng thở trong một nhịp điệu vô tận của sinh thành và phân hủy. Nhiều nhà vật lý cho rằng sự phát hiện tính động của chân không là một trong những khám phá quan trọng nhất của vật lý hiện đại. Từ vai trò chỉ là cái bình trống rỗng của các hiện tượng vật lý, chân không đã trở nên một đại lượng động với ý nghĩa quan trọng nhất. Kết quả của vật lý hiện đại dường như đã xác định lời nói của nhà đạo học Trung Quốc Trương Tài:

Khi đã rõ, cái Không to lớn chứa đầy Khí,

Thì ai nấy đều biết, không có cái “không có gì”.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Fritjof Capra – Đạo của vật lý – NXB THTPHCM 2015.

Chủ nghĩa xã hội thời đại toàn cầu hóa – Phần I


Yu Keping

BBT: Do sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu và Liên Xô, cùng với những thay đổi mới của CNTB thời đại toàn cầu hóa và sự tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, từ đầu thập kỷ 90 ở phương Tây đã dấy lên một cuộc thảo luận lớn về CNXH, trong đó có nhiều quan điểm mới đáng chú ý.

Bài viết xem xét những quan điểm mới này của các học giả phương Tây về CNXH, chú ý đến tính chung trong quan niệm của họ về “giá trị hạt nhân” của CNXH có liên quan mật thiết với “mục tiêu cơ bản” của CNXH và với cách thức thực hiện mục tiêu đó. Bài viết cũng đồng thời phân tích sự lý giải của họ về chế độ chính trị và chế độ kinh tế của CNXH.

Bài viết cho thấy quan điểm của những người XHCN phương Tây thập kỷ 90 có nhiều khác biệt so với các tiêu chuẩn của CNXH khoa học, mặc dù họ tự cho mình là những người chia sẻ những giá trị cơ bản của CNXH. Cuộc thảo luận được tiến hành ở phương Tây về CNXH từ đầu thập kỷ 90 đến nay còn lâu mới đến hồi kết thúc.

Để nhận thức đúng đắn về CNXH và những vấn đề đang được đặt ra trước CNXH trong thời đại toàn cầu hóa, không thể không phân tích một cách khoa học những quan điểm mới của CNXH phương Tây.

Năm 1989, chính quyền XHCN Liên Xô và các nước Đông Âu nối tiếp nhau sụp đổ. Kèm theo đó phong trào XHCN với tư cách là một thực tiễn cũng đi vào thoái trào.. Căn cứ vào đây, nhiều học giả tuyên bố rằng CNXH đã bị diệt vong và việc nghiên cứu CNXH trở thành câu chuyện lịch sử. Mặc dù vậy, đây mới chỉ là một mặt của vấn đề. Mặt khác là, vẫn còn nhiều học giả coi sự phân rã của CNXH như một dịp may để họ suy ngẫm lại một cách triệt để về CNXH, kết hợp với đặc điểm của CNTB trong thời đại ngày nay và với những tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới đối với xã hội loài người. Hoặc nói khác đi, để họ tiến hành công việc nhận thức lại về lịch sử, hiện thực và tương lai của CNXH. Trong quá trình nhận thức lại này, đã xuất hiện nhiều loại quan điểm mới, học thuyết mới về CNXH và cuộc tranh luận giữa những quan điểm khác nhau đó đã hình thành cuộc bàn luận mới về tư tưởng XHCN.

Cuộc thảo luận lớn và mới về CNXH đang đà sôi nổi này, thông qua việc tự kiểm điểm về CNXH hiện thực, phân tích đặc trưng của thời đại mới và sự phát triển của khoa học công nghệ, đã nêu lên những thách thức đối với không ít các quan niệm và mô hình từng được ước lệ và hình thành một cách thông tục. Trong thực tiễn, cuộc bàn luận này đang có ảnh hưởng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến tiến trình hiện thực của CNTB và CNXH trong thời đại ngày nay. Bài viết này chủ yếu đi vào xem xét những điều suy ngẫm lại khái niệm của các học giả XHCN phương Tây từ thập kỷ 90 đến nay về CNXH, chú trọng bình luận và giới thiệu những quan điểm của họ trên hai vấn đề dưới đây: Giá trị hạt nhân và mục tiêu cơ bản của CNXH; Chế độ chính trị, kinh tế của CNXH.

Tư tưởng XHCN vừa ra đời tức thì nẩy sinh nhiều trường phái. Và đi đôi với sự phát triển của phong trào XHCN, các trường phái tư tưởng XHCN không những không giảm đi mà ngày càng tăng lên. Chỉ tính riêng các trường phái XHCN đang có ảnh hưởng hiện nay, cũng đã có: CNXH dân chủ, CNXH thị trường, CNXH đa nguyên, CNXH sinh thái, CNXH tự trị… Trong đó mỗi trường phái còn có thể phân chia tỉ mỉ hơn thành nhiều nhánh phái khác nhau. Như CNXH thị trường, theo ý kiến của James Vinker, giáo sư Đại học Tây Ilinois (Mỹ), hiện nay có tới 5 nhánh phái và đang được các nhà XHCN ở các nước bàn luận sôi nổi. Ông Vinker nói: Từ thập kỷ 30, Oscar Lange trong tác phẩm Lý luận kinh tế XHCN của mình, đã đề cập đến khái niệm CNXH thị trường, từ đấy cho đến thập kỷ 90, cả thảy xuất hiện 5 thứ CNXH thị trường khác nhau: CNXH thị trường Lange; CNXH thị trường dịch vụ, tức sản xuất có tính chất phi doanh lợi; CNXH thị trường hợp tác của Benjamin Otto; CNXH thị trường thực dụng; CNXH thị trường sở hữu khu vực của Roland Stopiel.

Sự phân định trên đây chưa được khoa học, song từ đó người ta có thể thấy tính đa dạng và phức tạp của các trường phái tư tưởng XHCN hiện thời và cũng cho thấy tính nhiều ý nghĩa của khái niệm CNXH. Đúng như nhà tư tưởng của Đảng Xã hội – Dân chủ Mỹ M. Hartlington đã nói: “người ta nhận định rằng chỉ có một thứ CNXH, nhưng tôi nói CNXH có nhiều thứ”. Nhà kinh tế học từng là Bộ trưởng tài chính Ba Lan là L. Basarovitch cũng cho rằng, về khái niệm CNXH, ít nhất người ta có thể có 4 sự phân định: CNXH được coi là một lý tưởng, CNXH là một loại thể chế, CNXH là một loại học thuyết và CNXH là một phong trào chính trị. Người viết bài này cho rằng vấn đề quan trọng là phải làm cho rõ, đằng sau các loại CNXH khác nhau, phải chăng kể từ thập kỷ 90 đến nay, trong quá trình suy ngẫm lại về CNXH, các học giả XHCN phương Tây đã đi tới một nhận thức chung nào đó về giá trị cơ bản của CNXH, đến mức cái giá trị chung ấy có thể cấu thành cơ sở của các loại khái niệm XHCN khác nhau. Xin trả lời là đã có rồi. Sau thập kỷ 90, tuy giữa các nhà nghiên cứu CNXH vẫn còn có những bất đồng to lớn, nhưng trên giá trị hạt nhân và mục tiêu chủ yếu của CNXH thì họ ngày càng đi tới một nhận thức chung lớn hơn.

Theo đuổi bình đẳng và hiệu suất đối với những người XHCN, luôn luôn là hai giá trị lớn cơ bản. Các học giả phương Tây cho rằng trong thập kỷ 90, bình đẳng và hiệu suất vẫn là hai giá trị lớn cơ bản của CNXH, nhưng căn cứ vào thể chế hiện thực ở các nước phát triển phương Tây trong thời đại ngày nay vốn coi trọng hiệu suất hơn bình đẳng, vì thế ngày càng có nhiều học giả XHCN phương Tây đặt trọng tâm nhấn mạnh vào bình đẳng, chứ không nhấn mạnh hiệu suất. Đối với các học giả coi trọng bình đẳng hơn, cố nhiên hiệu suất vẫn là quan trọng và cũng là giá trị cơ bản của CNXH, song dường như bình đẳng mới là giá trị hạt nhân và là giá trị chủ yếu nhất của CNXH. David Miller, nhà chính trị học trường Đại học Oxford, nhận định: Cho đến nay niềm tin hướng vào bình đẳng trong xã hội vẫn là đặc trưng quan trọng nhất của CNXH.

Các học giả XHCN phương Tây nhấn mạnh vào bình đẳng đã đi từ ba mặt để luận chứng vì soa bình đẳng là giá trị quan trọng hàng đầu của CNXH. Trước hết bình đẳng là giá trị cơ bản, là quyền lợi chính trị cơ bản của loài người. Nó là mục tiêu cơ bản của dân chủ về chính trị. Không bình đẳng có nghĩa là không dân chủ và xã hội chưa thực hiện đầy đủ các quyền lợi chính trị của mọi người. Không bình đẳng về kinh tế được biểu hiện là sự bóc lột. Không bình đẳng về xã hội và chính trị có nghĩa là áp bức. Sở dĩ CNXH phải xóa bỏ bóc lột và áp bức, suy cho cùng, cũng là nhằm xóa bỏ sự không bình đẳng trong xã hội, khiến toàn thể nhân dân cùng được hưởng các quyền lợi ngang nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, từ đó khiến cá tính của con người được phát huy đầy đủ.

Thứ đến, bình đẳng xã hội là tiền đề phát huy đầy đủ tài năng của mỗi cá nhân. Chỉ khi nào năng lực của mỗi cá nhân được phát huy đầy đủ thì người đó mới có tự do thật sự, từ đó mục tiêu cuối cùng của CNXH – thể liên hợp của những con người tự do – mới có thể được thực hiện. Các nhà học giả XHCN này của phương Tây tin rằng, năng lực của những người dân thường vốn có liên quan chặt chẽ với sự coi trọng chủ nghĩa bình đẳng. Chế độ TBCN sở dĩ đè nén nhân tính xét về bản chất, bởi vì chế độ tư bản là một thứ chế độ không bình đẳng.

Sau nữa, hiệu suất và bình đẳng vốn là không mâu thuẫn nhau, theo đuổi hiệu suất không nhất thiết phải hi sinh bình đẳng, vị thế của hia cái đó không phải là có cái này thì mất cái kia. Các học giả thuộc dòng chủ yếu của cánh hữu phương Tây luôn nhận định rằng: nhấn mạnh quá mức sự bình đẳng, tất nhiên sẽ làm tổn thương tính tích cực sản xuất của con người, gây tổn hại cho cơ chế kích thích sản xuất có hiệu quả của xã hội. Vì thế sự không bình đẳng trong xã hội ở mức độ nào đó là một cái giá tất yếu phải trả để kích thích kinh tế phát triển, cũng như cái chế độ xã hội, kinh tế, chính trị tương ứng với thứ trạng thái không bình đẳng đó, là một loại cái ác cần thiết của xã hội loài người. Các học giả XHCN phương Tây kiên quyết phản đối cách đề cập này. Họ nhận định rằng hiệu suất và bình đẳng về căn bản là không mâu thuẫn nhau. Sở dĩ trước mắt có trạng thái mâu thuẫn đó nguyên nhân là ở chế độ TBCN. Chỉ cần thay đổi thứ chế độ này và thiết lập nên chế độ chính trị kinh tế XHCN thì giữa hiệu suất với bình đẳng sẽ xuất hiện mối quan hệ hài hòa chứ không phải là mối quan hệ mâu thuẫn.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: TN 2000 – 06

Bàn về chính sách kinh tế của Trung Quốc – Phần đầu


Trước Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XIX (Đại hội XIX), chính sách kinh tế tập trung cao độ vào việc đảm bảo một môi trường thuận lợi cho đại hội. Giờ đây khi Tập Cận Bình đã củng cố được quyền lực của mình, công tác hoạch định chính sách kinh tế được nới lỏng hơn, và một số sang kiến thú vị mới nảy sinh. Tuy nhiên, chúng ta vẫn không biết được danh sách cuối cùng các nhân vật được bố trí vào những vị trí then chốt đối với chính sách kinh tế, và sự đa dạng của các chính sách mới không phải là một bước ngoặt có tính hệ thống đối với các cải cách định hướng thị trường.

Một sự kiện như Đại hội XIX rõ ràng có vai trò then chốt trong việc quyết định quỹ đạo chính sách của Trung Quốc. Đại hội đảng quyết định toàn bộ việc sắp xếp các vị trí lãnh đạo, trước mắt là trong thành phần Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Sau đại hội, mọi người đều thấy được sự phân bố quyền lực. Tuy nhiên, kết quả về chính sách kinh tế có phần mơ hồ hơn. Điều này phần lớn là do việc các vị trí trong chính phủ không thể được tiết lộ trước Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc vào tháng 3/2018. Ngay dù Tập Cận Bình đã kéo tới mức đáng kể công tác hoạch định chính sách kinh tế quay trở lại quỹ đạo của đảng, nhưng các kết quả về chính sách kinh tế vẫn bị ảnh hưởng đáng kể bởi cách thức bố trí nhân sự vào các vị trí cụ thể và phân định trách nhiệm hằng ngày. Ở khía cạnh này, vẫn còn nhiều điều chúng ta không biết.

Trước thềm Đại hội XIX

Trước Đại hội XIX, các nhà hoạch định chính sách, cùng với tất cả những người khác ở Trung Quốc, đều hiểu rằng Tập Cận Bình muốn nền kinh tế trông có lợi cho đại hội. Những sự xáo trộn sẽ bị ngăn chặn, và bất kỳ bước đi nào có khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng sẽ được thực hiện. Ngoài ra, các chính sách kích thích của chính phủ sẽ mang lại các nguồn lực mà có thể dùng để đền đáp những người ủng hộ Tập Cận Bình. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi tất cả các công cụ chính sách đều được sử dụng để đưa nền kinh tế đến đúng vị trí mà Tập Cận Bình mong muốn vào ngày 18/10/2017, khi đại hội khai mạc. Tuy nhiên, mức độ hiệu quả mà các nhà hoạch định chính sách có thể đạt được trong việc thực hiện mục tiêu này là điều đáng ngạc nhiên.

Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc đã ổn định: Sau khi giảm tốc dần dần mà không thể tránh khỏi xuống còn 6,7% vào giữa năm 2016, tăng trưởng đã nhích một chút trogn 2 quý đầu của năm 2017 lên 6,9%. Mức độ hiệu quả mà các nhà hoạch định chính sách có thể đạt được trong việc triển khai nhiều thành phần chính sách góp phần mang lại kết quả tốt đẹp là điều còn đáng ngạc nhiên hơn. Khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước được phục hồi, đặc biệt trong khu vực công nghiệp than và thép bị ảnh hưởng nặng nề. Điều này ở mức độ đáng kể là do sáng kiến Cải cách cấu trúc trọng cung (SSSR), về cơ bản là một chương trình nhằm chấm dứt tình trạng dư thừa công suất bằng việc thành lập các hiệp hội những nhà sản xuất. SSSR đã thực hiện được mục tiêu này, mục tiêu chính yếu ban đầu của nó. Đồng thời, quỹ nhà ở chưa bán được và bỏ không giảm đáng kể từ mức đỉnh điểm vượt quá 500 triệu m2 vào đầu năm 2015 xuống còn dưới 400 triệu m2 trước thềm đại hội. Điều này đạt được phần lớn thông qua việc chuyển đổi nhà chưa bán được thành nhà cho thuê do chính quyền địa phương sở hữu, một mục tiêu then chốt khác của SSSR. Hệ thống ngân hàng đã bơm tiền vào nền kinh tế dưới dạng các khoản cho vay đáng kể mới. Sự tăng trưởng nhanh chóng của các khoản cho vay thế chấp đã góp phần ổn định tình hình thị trường nhà ở. Chính quyền địa phương được cung cấp tín dụng để đảm bảo họ có thể theo đuổi các dự án đầu tư. Trong nửa đầu năm 2017, đầu tư cơ sở hạ tầng chủ yếu do chính quyền địa phương thực hiện tăng trong khoảng từ 14,7% (giao thông vận tải) đến 25,2% (cơ sở hạ tầng địa phương, chủ yếu là các tuyến đường nội đô, hệ thống xử lý nước và chất thải, cầu, công viên…), nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng đầu tư cố định nói chung tính theo tỷ lệ phần trăm.

Tuy nhiên, trong khi đó, các nhà hoạch định chính sách đã đạt được thành công ở mức độ nào đó bằng việc trấn áp trong lĩnh vực tài chính. Một vài tập đoàn đang mở rộng một cách nhanh chóng đã phải chịu sự giám sát chặt chẽ và bị buộc phải rút lại các dự án mở rộng. Sự tăng trưởng nói chung của tín dụng đen không thuộc ngân hàng – sau khi tăng đột ngột vào cuối năm 2016 và đầu năm 2017 – đã bị kiểm soát ở tốc độ vừa phải chỉ thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng đều đặn của ngân hàng tính tính theo đồng NDT. Mặc dù chính sách tiền tệ  không “chặt” đến mức tuyệt đối, nhưng mức tăng trưởng tín dụng nói chung là 13% chỉ cao hơn 1 điểm phần trăm so với mức tăng trưởng GDP trên danh nghĩa là 12% trong 3 quý đầu. Nợ doanh nghiệp như một phần của GDP đã trở nên ổn định và thậm chí còn giảm chút ít trong quý II và quý III. Để tất cả những điều này phát huy hiệu quả, giới chức tài chính đã tiếp tục áp dụng những biện pháp kiểm soát đối với các dòng vốn, chặn các kênh mà dòng “tiền nóng” theo đó chảy ra và kiểm soát chặt chẽ hơn nhiều các khoản đầu tư trực tiếp ra bên ngoài. Những biện pháp này đã phát huy hiệu quả, nghĩa là chúng đạt được các mục tiêu đặt ra cho chúng.

Đây là một thành tích đáng chú ý. Đúng là các nhà hoạch định chính sách đã may mắn: Một nền kinh tế toàn cầu đang hồi phục đã thúc đẩy nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc vào khoảng thời gian giữa năm. Lý do phản đối cơ bản hơn là các biện pháp được áp dụng không phải là không có giá của chúng. Nhiều biện pháp được áp dụng đòi hỏi phải có những sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế mà bóp méo các thị trường và sẽ phải mất nhiều tháng hoặc nhiều năm để xóa bỏ, nếu chúng từng được xóa bỏ… Ngoài ra, thực tế rằng mọi công cụ chính sách sẵn có đều nhằm mục tiêu vào một kết quả tốt đẹp trong ngắn hạn có nghĩa là không có sẵn các công cụ cho các nhiệm vụ quan trọng khác, chẳng hạn như việc xử lý một cách nghiêm túc các vấn đề về nợ dài hạn. Nhưng các nhà hoạch định chính sách kinh tế đã đạt được những mục tiêu mà họ đề ra. Và họ chắc chắn đã làm vui lòng Tập Cận Bình, người đã đến dự Đại hội XIX trong tình hình kinh tế đúng như những gì mà ông hẳn đã mong muốn.

Đại hội đảng: Các quyết định về nhân sự

Người ta theo dõi sát sao đại hội đảng để tìm kiếm những dấu hiệu cho thấy những thay đổi về ban lãnh đạo và đặc biệt là mức độ củng cố quyền lực của Tập Cận Bình. Hầu như không có mấy nghi ngờ về việc Tập Cận Bình chi phối tiến trình lựa chọn ban lãnh đạo và giờ đây rõ ràng là nhà lãnh đạo Trung Quốc mạnh mẽ nhất (chí ít) từ thời Đặng Tiểu Bình. Tuy nhiên, đại hội đưa ra ít dấu hiệu hơn về chính sách kinh tế so với những gì mà chúng ta mong muốn.

Hai nhà lãnh đạo có năng lực trong lĩnh vực chính sách kinh tế đã được đề bạt vào Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Hàn Chính, nguyên Bí thư thành ủy Thượng Hải, được xem là người có năng lực nhưng cũng không gây mối đe dọa về mặt chính trị và là người phục tùng một cách mù quáng các chỉ thị từ các nhà lãnh đạo hàng đầu. Uông Dương làm tốt mọi nhiệm vụ được giao – gần đây nhất chịu trách nhiệm về đối thoại kinh tế và chiến lược Mỹ – Trung – và được xem là người có tư duy độc lập và xu hướng ủng hộ cải cách.

Nhìn một cách rộng hơn, những thành công của năm 2017 dường như đã khiến cho một số ít các nhà hoạch định chính sách có công trong việc thực thi chính sách trở nên mạnh mẽ hơn. Chúng ta không thể đọc được suy nghĩ của Tập Cận Bình, nhưng sẽ có lý khi cho rằng các cố vấn kinh tế của ông có thể đã giành lại được phần nào sự tín nhiệm mà họ có lẽ đã để mất trong những thất bại liên quan đến thị trường chứng khoán và tỷ giá hối đoái năm 2015. Rõ ràng nhất là Lưu Hạc, cố vấn kinh tế thân cận nhất của Tập Cận Bình, là động lực then chốt thúc đẩy sáng kiến cải cách trọng cung ngay từ đầu. SSSR giờ đây đã được nâng lên (và mở rộng) thành tiêu đề cho một loạt sáng kiến chính trị rộng lớn hơn nhiều so với loạt sáng kiến mà nó bao trùm lúc đầu. Bản thân Lưu Hạc cũng được cất nhắc trở thành ủy viên Bộ Chính trị. Người ta cho rằng Lưu Hạc tiếp tục giữ một vai trò quan trọng trong lĩnh vực chính sách kinh tế năm 2018, mặc dù ông bị đồn là có vấn đề về sức khỏe. Lưu Hạc vừa có kỹ năng và hiểu biết về nền kinh tế, vừa có xu hướng cải cách mạnh mẽ ủng hộ thị trường và sự tin tưởng của Tập Cận Bình. Vai trò và ảnh hưởng của ông sẽ là mang tính then chốt trong tương lai gần.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí China Leadership Monitor

CVĐQT – số 07/2018