Đô thị với tính cách một dạng thức văn hóa – Phần cuối


Môi trường quy phạm. Yếu tố của dạng thức văn hóa quy định lối thức cư xử và quan hệ với “người mình” và “người khác mình”. Nếu theo những lý tưởng của G. Zimmel chẳng hạn, thì dân đô thị về thực chất cư xử với nhau như những “người dưng” (Zimmel, 2008). Vì vậy, cách cư xử khi quan hệ với người khác ở đô thị nên thế này: thái độ hợp tác với những người có chung cách suy nghĩ như mình và tránh xa với tất cả số còn lại (trong đó kể cả để “tiết kiệm cảm xúc và thông tin”). Trong các phương án cấp tiến nhất, một thái độ như vậy có nghĩa là sợ hãi, nghi ngại, không tin, được thể hiện ở ý muốn tạo ra một bức tường bảo vệ chắc chắn trước đủ loại mối đe dọa thực và ảo – những ổ khóa chất lượng trên cửa các căn hộ, bình xịt trong túi xách tay, chỉ đi về theo những tuyến đường quen và an toàn, sáng sủa và có người quen đi cùng… (Architecture of fear, 1997; Sennet, 2008). Đồng thời cũng nên giữ thái độ tương đối bình thường, (không vồ vập) với mọi người, đơn giản là cảnh giác với người lạ hoặc không muốn len vào thế giới riêng tư của người khác.

Có lẽ có thể coi các biến thể tiếp theo là các trường hợp có tính chất cá biệt. Chẳng hạn, có thể theo G. Hans, người đã từng nói về những khác biệt giữa những người dân đô thị “thông thường” với “người nông thôn sống ở đô thị” (urban villagers) (Gans, 1962), M. Kastells, người phân biệt giới tinh hoa “công dân thế giới” và “quần chúng bản địa” (Kastells, 1989), cuộc tranh luận giữa R. Florida và D. Kotkin về các hệ đặc tính của lớp người đại diện cho “giai cấp sáng tạo” (Gnedovskij, 2004) và… chứ không nói về các mảng văn hóa cấp nhánh của giới trẻ. Không phải ngẫu nhiên mà R. Park viết rằng “ở đô thị, được tự do, mỗi cá nhân, dù có thái độ ly tâm đến mấy cũng nhất định tìm ra được môi trường để có thể phát huy và thể hiện, bằng cách nào đó, những đặc điểm bản tính của mình… Và một cộng đồng nhỏ đôi khi bị tách xa trung tâm, nhưng đô thị lại thường bản thưởng cho nó. Rõ ràng nét hấp dẫn của đô thị là do ở đây bất kỳ kiểu cá nhân nào – một kẻ tội phạm hay một gã lang thang hay một thiên tài – cũng đều sẽ tìm thấy hội chơi của mình, và tội đồ hay thiên tài bị giam hãm trong cảnh chật hẹp tù túng của gia đình hoặc giả sử trong một khuôn khổ hẹp hơn của một cộng đồng nhỏ đều phát hiện ở đây một bầu không khí đạo đức mà nó cần để bộc lộ hết mình. Còn nói chung thì mọi ước vọng thiêng liêng và mọi ham muốn bị kìm nén đều tìm thấy ở đô thị một cách biểu đạt” (Park, 2002: 12). Tương ứng, vì mỗi xã hội, ở mức độ nào đó, đều là đơn vị văn hóa độc lập, có những chuẩn mực, quan niệm riêng của mình về bổn phận, nghĩa vụ, về sự lịch thiệp đàng hoàng và về cái xứng đáng được tôn trọng” (Park, 2002: 8), những đặc tính được nhấn mạnh của môi trường quy phạm của dạng thức văn hóa đều có thể được goi là “mẫu số chung” của tính quy phạm đô thị.

Môi trường sự vật. Nếu không nói đến khía cạnh vật chất của đô thị thì rõ ràng có thể coi chính bản thân đô thị là môi trường sự vật của dạng thức văn hóa, và sống ở đô thị có thể hiểu là tiêu dùng nó. Tuy nhiên khi nói về văn hóa đại diện nói chung và về dạng thức văn hóa nói riêng, môi trường sự vật là thuộc tính của sự vật là các dấu hiệu nhận biết, các biểu trưng thể hiện các quan niệm, là những cái cập nhật tính trình diễn trong việc sử dụng các sự vật.

Hệ đặc trưng của đô thị với tính cách là “nơi tiêu dùng” được ưu đãi – là một trong các hệ đặc tính then chốt. Đô thị thực tế đưa lại nhiều khả năng lớn để tiêu dùng, đồng thời điều muốn nói ở đây không chỉ là tiêu dùng vật chất. Đối với nhiều người, dấu hiệu nhận biết một “người đô thị đích thực, chân chính” là sự tiêu dùng văn hóa. Người ta thường cho rằng “con người (có) văn hóa” (người đô thị hiểu theo cách đối lập truyền thống thành thị – nông thôn cũng giống như là “văn hóa” đối lập với “tự nhiên”) mặc dù chỉ thỉnh thoảng “cần” đến nhà hát, rạp chiếu phim, triển lãm, đi nhà hàng, uống cà phê và… Ở đây, ý nghĩa riêng tư cá nhân của những việc đó hoàn toàn có thể giới hạn ở việc thể hiện cách tiêu dùng và đề cao cái vị thế của mình và/hoặc cái bản sắc đô thị. Ở đây, sự vật là cái tiêu biểu cho tính sở thuộc đô thị (mình là người thành phố), là thứ “đạo cụ” của sự tương tác trong sinh hoạt đời thường (Hofman, 2003; Waksteinm, 2006: Kharlamov, 2007).

Không có gì ngạc nhiên khi nền kinh tế hiện đại bằng mọi cách duy trì ham muốn tiêu dùng, đẻ ra đủ dạng mẫu “phong cách đô thị”. Người đô thị cần chăm lo cho bản thân và đời sống tiện nghi của mình mà muốn thế thì phải dùng đồ tốt, thường là có thương hiệu hàng đầu thế giới, dùng đủ loại kỹ thuật, muốn là hàng đời mới, sống ở những nơi gần sự kiện văn hóa đáng quan tâm, trang phục trước hết là hướng vào mục đích tiện dụng, đồng thời cũng thể hiện tính cách riêng (Sinozhataskaja, 2011) và… Bản thân đô thị ở đây có lẽ nói cho đúng là một thứ đồ trang trí, ở chừng mực nào đó phù hợp cho việc “hoàn chỉnh hình ảnh”. Ở đô thị có những nơi chốn mà với người này là thực tiễn đô thị, còn với người khác, lại là những cái là biểu tượng của quá khứ hoặc tương lai, và cũng là dấu hiệu (đặc tính) nhận biết – các yếu tố của môi trường đô thị “chỉ cho thấy” những ý nghĩa “đã bị quên lạng” (Serto, 2010).

Mối liên hệ giữa tư tưởng đô thị với vị thế và tiêu dùng biểu diễn là hiển nhiên ngay từ thời phát triển chủ nghĩa tư bản nếu không nói là sớm hơn thế, khi tính sở thuộc vào giới quý tộc hoặc không hẳn là để lừa người khác, hoặc vẫn là việc khó khăn như trước đây. Trong điều kiện “tầng lớp thị dân” trở thành một đẳng cấp cao sang hơn so với vị thế một nông dân, mà thị dân đây không phải là một anh công nhân, mặc dù cả hai đều là người sống ở đô thị. Các giai cấp này đối lập nhau rất rõ, đặc biệt là trong quy thức hệ tư tưởng Xô Viết.Tuy nhiên, việc người công nhân (vốn trước đây là nông dân) muốn xích lại gần hơn với phương tiêu dùng kiểu “thị dân” là điều hoàn toàn hợp logic. Từ thế kỷ XIX, từ “thị dân” đã có nghĩa không chỉ và không hẳn là đại diện của đẳng cấp tương ứng, mà chính là một kiểu cá nhân xác định có đặc điểm là tham vọng sở hữu các sự vật (mà thường là bất chấp sở thích), vặt vãnh và ky cóp, không có xác tín cứng nhắc, ý thức trách nhiệm trước xã hội, bình thản theo số đông và cuộc sống an bình không xáo động (chẳng hạn có thể xem: Gorki, 1982; Fedosjuk, 2008). Nếu thêm vào đó “tin chắc rằng lối sống và hệ giá trị của mình là tuyệt đối đúng đắn và do đó, nó có thái độ cố chấp đối với cá mục đích và sở nguyện sống khác với mình” (Tabunov, 2004) thì ta sẽ thấy một hình ảnh hoàn toàn tương hợp với các quan niệm về “con người đại chúng”, “con người một chiều” (Marcuse, 2002; Ortega-i-Gaset, 2001).

Một mặt, vì văn hóa đại chúng, nền sản xuất và tiêu dùng vốn là đặc trưng vốn có của xã hội đô thị hiện đại (Lefebvre, 1970; Kastells, 1977) nét đặc điểm này của hệ tư tưởng đô thị không có gì đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, mặt khác, nó lại rất mâu thuẫn với các giá trị rất có ý nghĩa trước đây như thành đạt, sự tự thể hiện và… Đây là một thí dụ nữa cho thấy tính chất mâu thuẫn của hệ tư tưởng đô thị, cái thể hiện ý thức của các tầng lớp dân đô thị khác nhau, hình thành nên các phong cách sống đô thị khác nhau (Hans, 1962). Tương ứng, khó có thể coi sự mô tả của chúng ta về nội dung của văn hóa đô thị với tính cách hình mẫu để hình thành nên tính đồng bản sắc là phương án duy nhất. Nói cho đúng hơn là chúg tôi chỉ nêu lên một quan niệm chung nhất về “văn hóa đô thị”, cái có nhiều biến thể khác nhau tùy thuộc vào từng đối tượng và điều kiện tiếp cận nghiên cứu nó.

* * *

Xem xét đô thị với tính cách một dạng thức văn hóa là phương cách dù chỉ là trên những nét đặc điểm chung nhất để chỉ nội dung của văn hóa đô thị như là nguồn gốc các trị nghĩa để định hình tính đồng bản sắc đô thị. Dạng thức văn hóa trong cách giải thích của Ionin cần gồm chứa các yếu tố như môi trường quy phạm, hệ tư tưởng, môi trường sự vật, lợi ích. Hoàn toàn có thể xem đô thị là một cấu thể có các yếu tố đó. Trong trường hợp đô thị, lợi ích gắn trước hết với việc đảm bảo các cơ hội, khả năng hiện thực hóa các nhu cầu, lợi ích và mục tiêu khác nhau của mỗi cá nhân của người dân sống nơi đô thị. Điều này, đến lượt mình, cho thấy có sự hợp lý nhất định cả trong việc giải thích đô thị nói chung (hệ tư tưởng) cũng như thái độ khá bình thản (nhưng thường là cảnh giác) đối với những người xung quanh (môi trường quy phạm). Môi trường sự vật của đô thị có thể lý giải không chỉ với tính cách là “cơ sở hạ tầng” như là phương tiện duy lợi thỏa mãn các nhu cầu, mà còn như là một thứ “đạo cụ” để thể hiện và tôn vinh danh tính (dân đô thị) của mình.

Có thể xem nội dung bài viết này chỉ là “điểm xuất phát” cho các nghiên cứu khác, trong đó có các nghiên cứu kinh nghiệm. Chính là từ góc nhìn này, khái niệm dạng thức văn hóa, cũng như hệ quan niệm về sàn diễn văn hóa nói chung, theo chúng tôi, là một công cụ lý thuyết thành công trong bối cảnh phân tích bản sắc đô thị.

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 5

Các ví dụ về thành công và thất bại trong việc phản ứng trước khủng bố – Phần I


Một trong những hình thức khủng hoảng phức tạp và tàn khốc nhất là tấn công khủng bố. Bởi các cuộc tấn công khủng bố là cố ý, chúng rất khó, nếu không muốn nói là không thể, hoàn tàon ngăn chặn được. Sự cố ý của chúng cũng tạo ra sự rối loạn về tình cảm và tâm lý nghiêm trọng cho người dân. Trên thực tế, mục tiêu của khủng bố là tạo ra sự tổn hại rộng lớn về tâm lý. Khủng bố có thể có nhiều dạng, bao gồm tấn công cơ sở hạ tầng bằng các vũ khí thông dụng, vũ khí hủy diệt hàng loạt, tấn công khủng bố trên mạng, và thậm chí cả vũ khí sinh học.

Trong phần lớn lịch sử nước Mỹ, khủng bố không được coi là một mối đe dọa nghiêm trọng trong nước. Hầu hết các vụ khủng bố chỉ diễn ra ở Trung Đông hoặc châu Âu. Chỉ có một vài vụ khủng bố lớn diễn ra trong nước Mỹ trước vụ tấn công vào Lầu Năm Góc và Trung tâm Thương mại Thế giới ngày 11 tháng 9 năm 2001. Vụ khủng bố trong nước đầu tiên diễn ra vào năm 1920, khi một quả bom được đặt trong một chiếc xe ngựa đỗ trên phố Wall nổ tung, giết chết 35 người. Lỗi được đổ cho những người bonsevich hoặc những người khủng bố theo chủ nghĩa vô chính phủ. Vào năm 1975, một quả bom phát nổ ở nhà hàng Fraunces Tavern, thành phố New York, làm 4 người thiệt mạng và 50 người bị thương. Một nhóm người theo chủ nghĩa dân tộc Peurto Rico đã nhận trách nhiệm.

Vào năm 1936, 6 người chết và 1040 người bị thương khi một chiếc xe bom phát nổ ở garage ở tầng hầm của Trung tâm Thương mại Thế giới, 6 người đàn ông Trung Đông bị kết tội đã đặt bom.

Vụ tấn công khủng bố tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ cũng nhằm vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York. Vào ngày 11 tháng 09 năm 2001, hai máy bay phản lực, chất đầy nhiên liệu phản lực và hành khách, đã được cố ý lái đâm thẳng vào tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới. Một chiếc máy bay khác đã đâm vào Lầu Năm Góc, và một chiếc thứ tư rơi xuống một cánh đồng ở Pennsylvania. Các vụ tấn công đã được lần dấu vết đến một tổ chức khủng bố gọi là Al-Qaeda, cầm đầu bởi một trùm khủng bố nổi tiếng, Osama bin Laden. Các vụ tấn công này và sự phản ứng sau đó đã làm thay đổi những hiểu biết cơ bản về khủng bố và biến khủng bố thành quan tâm hàng đầu của nước Mỹ.

Để minh họa khái niệm sự không chắc chắn, truyền đạt thông tin có hiệu quả, và khả năng lãnh đạo, chúng tôi sẽ miêu tả ba trong số các phản ứng quan trọng nhất trước các sự kiện khủng bố trong nước Mỹ: Phản ứng của Rudolph Giuliani trước các vụ tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới; Phản ứng của Thống đốc bang Oklahoma Frank Keating trước vụ đánh bom thành phố Oklahoma, và phản ứng của Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh (CDC) trước các vụ tấn công bệnh Than năm 2001 và SARS. Sau mỗi trường hợp này là một loạt các câu hỏi để giúp bạn áp dụng các nguyên tắc đã được miêu tả.

SỰ KHÔNG CHẮC CHẮN TRONG KHỦNG HOẢNG

Trường hợp 11 tháng 9

Các vụ khủng bố 11 tháng 9 đã thay đổi thế giới một cách cơ bản. Hiểu biết thông thường của chúng ta về nhữung gì được coi là bình thường đã bị thay đổi. Trước 11 tháng 9, an ninh ở sân bay chẳng hạn, thường là tối thiểu. Phần lớn khách du lịch ghét sự xâm phạm của kiểm tra an ninh. Giờ đây, những người di chuyển theo đường hàng không phải đi qua nhiều mức kiểm tra an ninh trước khi lên máy bay, và phần lớn mọi người thấy an tâm vì sự tăng cường an ninh. Trước 11 tháng 9, phần lớn mọi người nghĩ rằng, một vụ khủng bố trên đất Mỹ là khó có thể xảy ra. Giờ đây, một lượng lớn công sức được bỏ ra để chuẩn bị cho khả năng một vụ khủng bố lớn xảy ra. Mặc dù vụ khủng bố 11 tháng 9 cho chúng ta nhiều bài học quan trọng về truyền đạt thông tin có hiệu quả trong tình trạng khủng hoảng, một trong những vấn đề quan trọng nhất có liên quan đến sự không chắc chắn.

Đầu tiên, nguyên nhân và mức độ của vụ tấn công là không chắc chắn. Trên thực tế, những bản tường thuật thông tin đầu tiên nói rằng sự việc bao gồm một máy bay nhỏ và đó là một tai nạn. Những người ở vùng lân cận, thậm chí cả những người ở trong Trung tâm Thương mại Thế giới, còn không để ý rằng có một chiếc máy bay có liên quan. Ngay cả khi chiếc máy bay thứ hai đâm vào tòa tháp thứ hai, nhiều người vẫn nghĩ rằng đó là một tai nạn. Người dẫn chương trình Today Show của đài NBC, Matt Lauer, thậm chí còn đoán trên tivi rằng các vụ đâm máy bay này bị gây ra bởi thất bại trong hệ thống điều khiển giao thông trên không.

Trong số các sự không chắc chắn là các câu hỏi về ai là người thiệt mạng, bao nhiêu người đã thiệt mạng, và ai là người chịu trách nhiệm cho các cuộc tấn công khủng bố này. Cũng có sự không chắc chắn rất lớn về nguy cơ của các đợt tấn công tiếp theo, liệu đi lại bằng đường hàng không có an toàn hay không, mọi người nên làm gì, và ý nghĩa của những vụ tấn công này là gì. Không có thông tin về những thành viên gia đình và bạn bè thất lạc, và nhiều người phải dùng đến cách phát tờ rơi hoặc dán thông báo xin thông tin về những người thân bị mất tích của họ. Sau một thời gian, mọi chuyện đã trở nên rõ ràng rằng nhiều người mất tích đã thiệt mạng trong các vụ tấn công.

Một cuộc nghiên cứu các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 thông báo rằng, thông tin mà quần chúng muốn có nhất liên quan đến nguồn gốc của thảm họa, các mối đe dọa thêm, mức độ thiệt hại, và ý nghĩa của sự kiện. Một cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng, trung bình một người dành hơn 8 tiếng đồng hồ trong ngày để tìm kiếm thông tin về thảm họa, bằng cách xem các bản tin trên tivi, nghe đài, nói chuyện với bạn bè và gia đình. Nhiều người muốn ở cạnh bạn bè và gia đình khi họ xem các bản tin (Seeger, Veentte, Ulmer & Sellnow, 2002).

Ngay cả khi mọi việc đã rõ ràng rằng, cuộc khủng hoảng 11 tháng 9 là một hành động khủng bố, việc ai là người chịu trách nhiệm vẫn chưa rõ ràng. Trên thực tế, mọi việc vẫn còn chưa chắc chắn khi Tổng thống Bush nói chuyện với cả nước Mỹ lần đầu tiên vào ngày sau đó. Tổng thống chỉ đơn giản gọi những kẻ tấn công là “những kẻ khủng bố độc ác”. Một nhân tố phụ làm tăng thêm sự không chắc chắn và thiếu thông tin là nhiều tháp điện thoại di động và ăngten phát sóng trong khu vực Hạ Manhattan đều nằm trên đỉnh Trung tâm Thương mại Thế giới. sự mất đi các tháp phát sóng này khiến cho các máy di động và truyền đạt thông tin bằng đài trong khu vực mất tác dụng.

Một trong những nhân vật quan trọng nhất trong cuộc khủng hoảng này là Thị trưởng thành phố New York, Rudolph Giuliani. Mặc dù các vụ tấn công xảy ra với rất ít hoặc hầu như không có sự cảnh báo nào và gây ra sự không chắc chắn và rối loạn rất lớn, thành phố New Yrk không hoàn toàn không có chuẩn bị gì. “Mặc dù vụ đâm máy bay này vô cùng gây bàng hoàng”, Thị trưởng Giuliani giải thích sau đó, “chúng tôi đã lên kế hoạch cho đúng một thảm họa như thế này. Bộ máy hoạt động của chúng tôi đã xây dựng một trung tâm điều khiển vô cùng hiện đại cho những trường hợp khẩn cấp mà một thành phố như New York sẽ không thể tránh khỏi” (Giuliani & Kurson, 2002, p4). Những người chịu trách nhiệm phản ứng đầu tiên của thành phố New York, lính cứu hỏa, và những người phản ứng trong trường hợp khẩn cấp, đã luyện tập thường xuyên để đối phó với các cuộc khủng hoảng như virus West Nile và mất điện toàn thành phố.

Sau khi nghe tin về vụ đâm máy bay, Thị trưởng Giuliani đã đến xem xét hiện trường ngay lập tức, “Tôi cần phải nhìn tận mắt chứng kiến hiện trường của thảm họa và họt động cứu nạn của chúng ta, và đề hiểu sơ qua những gì chúng tôi sẽ phải đối phó trong các tháng sắp tới” (Giuliani & Kurson, 2002, p22). Ông cũng thường xuyên tổ chức họp báo từ những chỗ gắn liền với hiện trường của Trung tâm Thương mại Thế giới, có những khi nói chuyện với báo chí nhiều lần trong một ngày. Trên thực tế, ông xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí trong một buổi họp báo đi bộ, trong khi vôi gạch đổ nát đang rơi từ hai tòa tháp sụp đổ. Thông thường, ông có ít hoặc thậm chí không có thông tin gì mới hơn là báo cáo bao nhiêu thi thể được tìm thấy và cố gắng hồi phục đang diễn ra. Ông báo cáo về bao nhiêu người đang tham gia vào công tác hồi phục, hoặc quá trình hoạt động đang diễn ra như thế nào để di chuyển vôi gạch vụn đi. Ông cũng rất dễ xúc động, và thường giận dữ, khi ông nói về các vụ tấn công. Khi thời gian trôi đi và có thêm thông tin, ông chia sẻ các chi tiết về tình trạng khẩn cấp với quần chúng. Giọng điệu và phong thái của ông đã giúp những người dân New York và toàn bộ người dân trong cả nước yên lòng. Tại một trong những buổi họp báo đầu tiên của mình, ông nói: “Ngày mai New York sẽ ở đây. Và chúng ta sẽ xây dựng lại, và chúng ta sẽ mạnh hơn chúng ta trước đây… Tôi muốn người dân New York trở thành một ví dụ cho cả nước, và cả thế giới, rằng khủng bố không thể ngừng chúng ta lại” (Rudy Giuliani, không có ngày xuất bản). Ông đã dự hàng trăm đám tang và dành thời gian với gia đình của các nạn nhân. Ông cũng điều phối các hoạt động của những người phản ứng trong tình trạng khủng hoảng. Ông tham gia vào hầu hết các mặt của thảm họa, từ hồi phục đến lên kế hoạch các buổi lễ tưởng niệm. Quan trọng nhất là ông đã nói chuyện với nhiều nhóm về các kiện, về ý nghĩa của chúng, và về việc làm thế này New York sẽ hồi phục.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Robert R. Ulmer, Timothy L. Sellnow, Matthew W. Seeger – Truyền thông hiệu quả trong khủng hoảng – NXB TT 2009

Phá tan Liên Xô – Phần XII


Những nỗ lực kháng cự cuối cùng

Sau những sự kiện quyết định năm 1988, tình hình trong nước liên tục căng thẳng, và Liên bang Xô Viết đi dần tới cuộc khủng hoảng toàn diện. Sự băng hoại đạo đức con người tăng lên, hành động của phương tiện thông tin đại chúng ngày càng mang tính phá hoại. Tình thế trở nên đe dọa. Xuất hiện những tiếng nói phản đối. Bên trong Đảng Cộng sản Liên Xô những tiếng nói này bị nhóm Gorbachev dập tắt mạnh tay, còn những người cố ngóc đầu lên bị phương tiện thông tin đại chúng tấn công dồn dập, thường là dưới hình thức tin đồn, nói lập lờ để tránh bị trách nhiệm. Ví dụ tiêu biểu là Ligachev, người trong vài vấn đề đã chuyển sang đối lập với Gorbachev. Một chiến dịch được triển khai chống ông ta, với những tố cáo tham nhũng (cụ thể, nhưng dưới hình thức mập mờ). Dần dần nhiều nhà hoạt động Đảng cảm thấy sợ hãi và thiếu tin tưởng.

Những cố gắng chống đối xuất hiện ở mọi cấp, kể cả trong Bộ Chính trị và BCH TW, nhưng thiếu tính tổ chức. Để làm ví dụ, chúng ta hãy xem bản tốc ký của Hội nghị TW ngày 25 – 26 tháng 12 năm 1989 về việc tổ chức Đảng Litva tách ra khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô. Đứng lên tranh cãi có Vladimir Vasilievich Karpov – Chủ tịch hội nhà văn Liên Xô, anh hùng Liên Xô, một chiến sĩ chiến đấu trong tiểu đoàn phạm binh, hàng chục lần đối mặt với cái chết. Xin trích :

« KARPOV : Đang có một sự khủng bố tư tưởng thật sự trong Đảng. Tất cả các anh đều cảm thấy sức ép này. Tại sao tất cả chúng ta lại im lặng. Tất cả chúng ta ngồi im phòng thủ. Tại Litva đã có bầu cử theo tên, và sau đó là khủng bố chống lại những ai là thiểu số, những ai chống lại « Sayudis ».

Còn chỗ chúng ta bầu cử theo tên sẽ có kết quả gì ? Trong tòa nhà mà tôi sống đã có những kẻ nào đó tới tìm hiểu ai sống trong căn hộ nào. Ai đó đã tìm hiểu chuyện này. Hãy đến chỗ tôi, mà nhiều người ở đây cũng sống tại đó, người ta viết dòng chữ cao cả mét : « những đồ đểu BCH TW ». Dòng chữ này có từ ngày Đại hội cơ. Các đồng chí, chúng ta sẽ nhắm mắt làm ngơ với mối nguy hiểm này sao ?

GORBACHEV : Vâng.

KARPOV : Anh nói rất hay về Liên bang : cần một Liên bang chứa đầy những ý nghĩa XHCN mới. Đó là vấn đề, mà theo tôi, chúng ta nhẽ ra phải giải quyết trong Đại hội vừa rồi.

Sao vậy ? Tại sao chúng ta không thành lập Liên bang ? Tại sao chúng ta khi đó lại làm cái việc biên tập suốt mấy ngày – thêm một từ, bớt một dòng. Các anh có biết, tôi tới gian Đại hội ấy mà như vào con tàu vũ trụ nào đó. Chúng ta họp lại, bắt đầu làm việc, rời khỏi trái đất và bay đi. Chúng ta tạo ra những điều luật nào đó.

Còn tôi có cảm giác là khi chúng ta hạ xuống trái đất, Liên bang Xô Viết không còn nữa, nó đã tan rã. Thế chúng ta tạo ra luật để cho ai ?

GORBACHEV : Sao anh lại hoảng loạn như vậy, Vladimir Vasilievich ? Đó là người ta viết khẩu hiệu ! Mà đã viết bao nhiêu năm rồi ! Anh cứ đi dạo nhất định sẽ thấy khẩu hiệu. (cả phòng ồ lên).

KARPOV : Tôi không phải là người nhát gan, tôi chẳng sợ những dòng chữ ấy ».

Đó là câu trả lời của Gorbachev. Hãy đọc nó kỹ hơn, nó được viết đầy đủ, không che đậy. Đoạn văn này rất đặc trưng, không khác gì với những đoạn độc thoại khác của Gorbachev. Ta thử bắt theo suy nghĩ của ông ta.

« GORBACHEV : Vladimir Vasilievich, thế này nhé. Giữa chúng ta thôi. Chúng ta đang trong BCH TW. Tôi nhận biết bao lá thư như vậy, 4 – 5 nghìn cái một ngày. Trong đó người ta viết đủ thứ trên đời, nói tôi không ra sao… Nhưng rồi sao ? Hãy nghe chúng ta cần phải định hướng vào cái gì ?

Kết cục thì chúng ta cần phải định hướng vào chính mình, vào đạo đức, vào chính sách, vào sự hiểu biết tình hình của mình, vào sự trung thành với các lý tưởng của mình. Chúng ta, những người đồng chí hướng phải cùng nhau tìm kiếm sự giúp đỡ những cái đúng để tìm ra giải pháp. Đó là con đường không được « mềm yếu », phải cứng rắn để tồn tại…

Nhưng khi tôi chỉ thấy sự cứng rắn và kiên quyết có thể phá tan mọi thứ ở đây, thì đó không phải là sự cứng rắn. Đó chỉ là sự thô thiển đang len lỏi cả vào chính sách, cả tư tưởng, vào mọi thứ trong chúng ta. Cần phải cứng rắn để thật sự đưa đất nước ra khỏi tình thế hiện nay, để cứu lấy Đảng, nhân dân, mọi thứ và cả CNXH.

Hôm nay, ở đây trong các căn phòng của Kremlin này, đang quyết định số phận của thế giới – nó sẽ trở nên như thế nào. Bởi vậy những gì ta làm rất vĩ đại.

Vì vậy tôi kêu gọi mọi người đừng làm nhau sợ. Hãy phân tích và đi tới kết luận đúng đắn.

Còn những gì tôi nói, đó không phải vì tôi muốn từ chức, hay là gì khác nữa. Hay là tôi sẽ ra đi, tôi muốn từ bỏ các đồng chí. Không. Đơn giản là nếu tôi thấy những gì tôi nói ra không được tiếp nhận, mà có tiếng xì xầm chạy trong phòng… Và ngược lại, khi dưới tiếng vỗ tay, được tiếp nhận rằng là cần phải « chém », « diệt »… Hãy hiểu, khi đó làm sao tôi có thể điều hành BCH TW, cùng với Bộ Chính trị lãnh đạo nó ?

Tôi không cường điệu vai trò của mình. Tôi nghĩ, các anh đã thấy là ở tôi không có tí chút độc tài nào, và sẽ không có. Nhưng cần phải dẫn dắt công việc. Chúng ta cần phải đồng lòng.

Tức là nếu trong BCH TW có sự hiểu biết vấn đề khác, thì các anh nên hiểu đó không phải là phong cách làm việc. Đó đã là chính sách.

Trao đổi ý kiến, điều đó cũng cần. Nhưng khi chúng ta đã tới lúc hình thành chính sách, quyết định đưa nó ra toàn Đảng, toàn đất nước, thì lúc này tôi cần phải nguyên tắc trước các anh. Thế các anh thấy tôi là loại nào ? Tôi là kẻ chỉ cố giữ cái ghế Tổng Bí thư này ư ? Tôi cần phải dịu dàng trước các anh hay là còn gì nữa ?

Không. Tôi nghĩ, nhiệm vụ của tôi là luôn nói những gì tôi nghĩ. Để cho các anh biết trước mặt mình là ai. Còn việc của các anh là tự xác định. Tôi muốn nói tới việc này, các anh hiểu không.

Chúng ta đi về đâu sau Hội nghị TW này – điều đó rất quan trọng đối với số phận đất nước, với CNXH, với toàn thế giới. Chúng ta sẽ đi về đâu ? Vì vậy vấn đề không phải ở chỗ cái ghế này !…

Tôi nói thế này. Sao chỉ có một xu hướng buộc tội vậy ! Còn những người khác thì im lặng, chẳng nói lời nào. Tất cả đều đồng ý sao ?

Nếu vậy tôi cần phải nói rằng, Bộ Chính trị ngay bây giờ cần phải từ bỏ quyền hạn của mình. Chúng ta cần triệu tập, thành lập một hội đồng. Hãy để nó quyết định ngày hôm nay BCH TW cần một Bộ Chính trị như thế nào.

Vấn đề là ở chỗ đó, các anh hiểu không : chúng ta sẽ đi về đâu sau Hội nghị TW này ? Đó là vấn đề của các vấn đề.

Cũng chẳng cần đơn giản hóa : chúng ta « cho chúng một trận », còn chúng « cho ta một trận », và ta lại cho chúng « thuốc đắp » ! Sao lại thuốc đắp, thuốc đắp nào ? Tất cả cái đó thật thô thiển, giản đơn, nếu như trong Hội nghị TW sẽ cử ai đó cho ai « thuốc đắp » !

Không, chúng ta ở đây để đánh giá tiến trình cải tổ, đánh giá quá trình, đánh giá để rút ra bài học, để hình thành chính sách.

Tôi không thấy cơ sở phải xem xét lại chính sách chuyển đổi của chúng ta, thậm chí sau tất cả những gì khó khăn nhất mà chúng ta vấp phải trên đường đi. Tôi không thấy !

Vladimir Vasilievich cứ mỗi lần Hội nghị TW đều dạy tôi. Đã tới lúc phải ngưng lại và suy nghĩ, rằng mỗi người cũng phải làm điều gì đó, không phải đơn giản cứ ở đây…

Đoạn trích từ bản tốc ký này rất quan trọng để hiểu được thực chất hành động của Gorbachev và nhóm của ông ta. Tất nhiên ở đây không thấy ý nghĩa, nó không có. Thực tế đó chỉ là tập hợp từ ngữ, trừ một câu then chốt : « Tôi không thấy cơ sở phải xem xét lại chính sách chuyển đổi của chúng ta ». Cứ như vậy ở mọi chỗ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC II – 1999.

Trung Quốc có thể thay thế các nhà tài trợ phương Tây ở châu Phi?


Trong những năm qua, Trung Quốc đã tăng viện trợ đáng kể về giá trị cho châu Phi và số lượng ngày càng gia tăng, nhưng có thể đang được “tô hồng” do Bắc Kinh không công khai các số liệu chính thức, cụ thể và các phương tiện thông tin của Trung Quốc và các nước thụ hưởng thường công bố số liệu dựa trên những cam kết nhưng chưa được triển khai.

Một cuộc điều tra dư luận về việc Trung Quốc gia tăng tài trợ có làm giảm vai trò của các nhà tài trợ phương Tây ở châu Phi hay không, được thực hiện với 50 chuyên gia cấp cao đang làm việc cho các nhà tài trợ song phương và đa phương tại gần 20 quốc gia châu Phi. Kết quả cho thấy hơn một nửa số nhà tài trợ nói “không”, 20% nói “có” và số còn lại thì cho biết họ không chắc chắn. Những chuyên gia trên cho biết khi làm việc với các quốc gia thụ hưởng viện trợ nước ngoài, các nước thường không quan tâm nhiều đến yếu tố viện trợ từ đâu, ví dụ Trung Quốc hay các nước phương Tây, nhất là khi đề xuất chính sách cho các quốc gia châu Phi. Đặc biệt, các quyết định về cung cấp, phân bổ viện trợ và hợp tác phát triển trong lĩnh vực khai thác khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên. Đến nay, các nhà tài trợ phương Tây không đánh giá cao tác động của các chương trình, dự án viện trợ từ Trung Quốc ở châu Phi.

Nhận định trên có thể ngược lại với nhiều đánh giá về sự nổi lên và tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại các quốc gia châu Phi trong những năm gần đây. Tuy nhiên, nhóm tiến hành điều tra đã xem xét các dự án mà Trung Quốc thực hiện ở 3 quốc gia châu Phi là Ghana, Tanzania và Uganda và nhận thấy Bắc Kinh chủ yếu tài trợ cho các công ty nhà nước trong các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, nông nghiệp và khoáng sản. Trong khi các nhà tài trợ phương Tây thường hỗ trợ vào các lĩnh vực xã hội như y tế, giáo dục, đào tạo… Vì vậy, trên thực tế Trung Quốc ít khi đối đầu với các nhà tài trợ truyền thống phương Tây. Ngay cả khi các lãnh đạo châu Phi muốn xa rời các nhà tài trợ phương Tây như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản thì Trung Quốc cũng không phải là sự lựa chọn thay thế đầu tiên. Các nhà quản lý ngân sách quốc gia và các lĩnh vực phụ thuộc nhiều vào sự viện trợ nước ngoài cũng không thể dễ dàng khước từ các nhà tài trợ truyền thống.

Tuy nhiên, báo cáo nghiên cứu trên cũng đánh giá sự đột phá và cách tiếp cận về nguồn vốn đầu tư phát triển của Trung Quốc tại châu Phi là rất đáng quan tâm. Trong một số ngành và lĩnh vực, Trung Quốc thực sự đang cạnh tranh với các nhà tài trợ và đang dần chiếm ưu thế so với các nước phương Tây, nhất là Mỹ. Hiện nay, Chính phủ nhiều nước châu Phi “thích” viện trợ của Bắc Kinh bởi sự triển khai nhanh, ít quan liêu, ít ràng buộc, nhất là vấn đề chính trị, tham nhũng, nhân đạo… Ví dụ điển hình là dự án xây dựng đập thủy điện Bui tại Ghana, đã được triển khai rất nhau sau khi chuyển từ Ngân hàng Thế giới (WB) sang cho Trung Quốc, hiện dự án đã xây dựng hơn 1/2 khối lượng và có thể hoàn thành vào cuối năm 2018. Dự án đường sắt nối liền thủ đô Nairobi với thành phố cảng Mobasa của Kenya (ngày 31/5, Tổng thống Kenya Uhuru Kenyatta đã cắt băng khánh thành). Tuyến đường sắt này có chiều dài 472 km, được xây dựng từ nguồn vốn vay và hỗ trợ công nghệ của Trung Quốc, thay thế tuyến đường sắt “Lunatic Express” của Anh trước đây. Mặc dù còn nhiều tranh cãi, trong đó có cáo buộc liên quan đến tham nhũng, chất lượng công trình và lo ngại về những tác động tiêu cực đối với môi trường, nhưng công trình giao thông lớn nhất Kenya này thực sự là một trong những “quân bài” quan trọng trong việc gây ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Kenya nói riêng và châu Phi nói chung trong tương lai.

Theo nhà phân tích khu vực, hiện chưa có đánh giá đầy đủ về mối tương quan giữa sự nổi lên của Trung Quốc và sự xói mòn vị trí của các nhà tài trợ truyền thống phương Tây tại châu Phi. Mặc dù, chưa thể đánh giá quá cao các nguồn tài trợ cấp từ Trung Quốc cũng như xem xét mối liên hệ trực tiếp giữa việc Trung Quốc tăng ngân sách viện trợ cho các quốc gia châu Phi với việc các nhà tài trợ truyền thống đang có chiều hướng rút dần khỏi khu vực nhạy cảm này.

Nguồn: Allafrica – 31/05/2017

TKNB – 02/06/2017

Việt Nam tìm kiếm mô hình phát triển mới – Phần I


Vào tháng 1/2016, Việt Nam đã trải qua một sự chuyển giao lãnh đạo quan trọng tại Đại hội 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền. Nền kinh tế nước này đứng trước một bước ngoặt, sau 30 năm đổi mới biến Việt Nam thành một nước có thu nhập trung bình thấp với một nền kinh tế đang phát triển thịnh vượng dựa vào sản xuất, hướng theo xuất khẩu, nhưng vẫn còn mong muốn nhiều điều. Việt Nam vẫn đứng ở vị trí cuối cùng của chuỗi cung ứng toàn cầu, và vẫn bị kiềm chế với một khu vực nhà nước phần lớn là kém hiệu quả và một khu vực tài chính yếu ớt. Tuy nhiên, Chính phủ muốn hoàn tất công cuộc “hiện đại hóa, công nghiệp hóa và chất lượng cuộc sống tốt hơn” đến năm 2035, khi Việt Nam tròn 60 năm thống nhất.

Trên mặt trận quốc tế, Việt Nam đã tạo dựng được một loạt quan hệ đối tác với các nước khác – bao gồm cả các nước láng giềng lẫn các nước lớn hơn – và tìm cách xác định lại các mối quan hệ của họ với phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Tuy nhiên, nước này phải đối mặt với những thách thức về chính sách đối ngoại phức tạp hơn bao giờ hết bắt nguồn chủ yếu từ thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) – mà ở đó Việt Nam là một nước tích cực đưa ra yêu sách chủ quyền trong những tranh chấp lãnh thổ trên biển – và một trật tự khu vực đang tiến triển. Ban lãnh đạo cũng như dân chúng dường như đang tìm kiếm một bên làm thay đổi cuộc chơi có thể giúp giải quyết loạt thách thức địa chiến lược và kinh tế – xã hội mà Việt Nam đang phải đối mặt. Nếu 30 năm qua là nền móng để Việt Nam lập biểu đồ lịch sử hậu chiến tranh của mình và điều kiện cho các quan hệ của họ với thế giới bên ngoài, thì giai đoạn từ năm 2016 trở đi dự kiến sẽ mở ra một kỷ nguyên mới năng động tại đất nước gần 100 triệu dân này.

Tìm kiếm một mô hình phát triển mới

Việt Nam cần một chiến lược phát triển mới, 30 năm cải cách theo định hướng thị trường đã biến đổi đất nước từng bị chiến tranh tàn phá thành một xã hội của giai cấp tiểu tư sản, một trung tâm sản xuất hàng may mặc và điện tử phát triển thịnh vượng trong khu vực và một điểm đến ngày càng hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài. Đồng thời, nền kinh tế nước này vẫn chỉ mới hội nhập một cách lỏng lẻo vào chuỗi cung ứng toàn cầu, phụ thuộc chủ yếu vào đầu tư nước ngoài để thúc đẩy sự tăng trưởng của mình hướng theo xuất khẩu, và chịu đựng một khu vực nhà nước rộng lớn kém hiệu quả và một khu vực tư nhân trong nước chậm phát triển. Đồng thời với việc chi phí lao động đều đặn gia tăng đang đặt khu vực sản xuất hàng may mặc của Việt Nam vào thế bất lợi so với các đố thủ cạnh tranh như Bangladesh và Myanmar, 86% trong tổng số hơn 2 triệu việc làm trong ngành công nghiệp may mặc và giày dép có thể gặp rủi ro trong thập kỷ tới do các công nghệ tự động và gây gián đoạn. Nước này đã nổi lên như một trung tâm sản xuất hấp dẫn đối với các công ty công nghệ toàn cầu – cung cấp điện thoại thông minh và các thiết bị và thành phần điện tử – với các mặt hàng xuất khẩu trong ngành điện tử đang nổi lên trong những năm gần đây để trở thành nguồn thu từ xuất khẩu lớn nhất cho Chính phủ. Tuy nhiên, số liệu thống kê cho thấy các nhà cung cấp Việt Nam chỉ chiếm 20% các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp phụ trợ cung ứng cho khu vực sản xuất công nghệ cao đang mở rộng – so với tỷ lệ lên tới 40% ở các nước láng giềng Malaysia và Thái Lan. Những con số này cho thấy rằng nếu không có những đầu tư nghiêm túc nhằm giúp nước này leo lên bậc cao hơn trong chuỗi giá trị, Việt Nam sẽ chỉ thu được những lợi ích có hạn từ mô hình tăng trưởng hiện tại của mình. Các thể chế công, được xây dựng từ lâu cho một nền kinh tế kế hoạch tập trung kiểu Xô Viết, luôn không theo kịp với các nhu cầu của một nền kinh tế mở hơn do thị trường thúc đẩy.

Ban lãnh đạo muốn Việt Nam trở thành một “quốc gia công nghiệp hóa cơ bản” và có sẵn nền tảng cho một “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” vào năm 2020, và hiểu rằng việc tái cơ cấu kinh tế toàn diện có ý nghĩa then chốt để Việt Nam duy trì mức tăng trưởng 6% hoặc 7% trong tương lai, do đó duy trì tính hợp pháp của Đảng. Tuy nhiên, các quan chức cũng như các học giả trong lĩnh vực chính trị vẫn lúng túng về ý nghĩa của việc xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và, kết quả là, việc cần nới lỏng đến mức độ nào sự kiểm soát của Nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Sự lưỡng phân này sẽ là một đường đứt gãy quan trọng trong việc hoạch định chính sách của Việt Nam những năm tới.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, được biết đến là một nhà quản lý đầy tâm huyết, đã khiến các nhà quan sát ngạc nhiên khi ông bắt đầu ủng hộ khái niệm “chính phủ kiến tạo”, một tinh thần mà ông yêu cầu quan chức chính quyền các cấp tiếp nhận hướng đến dân chúng và cộng đồng doanh nghiệp, ngay sau khi nhậm chức hồi tháng 4/2016. Trong các bài phát biểu của mình, ông Phúc chỉ ra rằng Chính phủ quá thường xuyên cản trở, thay vì trợ giúp đời sống doanh nghiệp và nhân dân, một tư duy mà ông nói phải thay đổi. Trong ngữ cảnh phát ngôn chính thức của Việt Nam, ý kiến cho rằng Chính phủ cần được chỉ đạo theo một đặc điểm rõ ràng – trong trường hợp này là sự kiến tạo – khi làm việc với các cử tri của mình chí ít cũng là điều thú vị. Điều này là bởi theo cách nói truyền thống trong hoạt động chính trị của Hà Nội, Đảng, Nhà nước và nhân dân rất thường xuyên là những nhóm nhỏ của cùng một thực thể, hoặc có thể hoán đổi cho nhau. Phát ngôn mới của ông Phúc đã gây nên một cuộc tranh luận sôi nổi trong giới học giả và trên truyền thông xã hội về việc hiểu thế nào cho đúng nhất về “chính phủ kiến tạo”, khái niệm chưa có sẵn thuật ngữ tương đương trong tiếng Anh, và việc nó nói gì về chiều hướng của các mối quan hệ giữa Nhà nước và xã hội ở Việt Nam. Theo một học giả đáng kính của Việt Nam, sự khác biệt cơ bản giữa “chính phủ kiến tạo” và các phương thức quản lý trước đây là trong khi các phương thức quản lý trước đây nhấn mạnh việc quản lý hay cai trị dân chúng và cộng đồng doanh nghiệp, “chính phủ kiến tạo” tập trung tạo ra các cơ hội cho họ. Ngoài ra, kể từ khi nhậm chức, Thủ tướng đã có nhiều chuyến thăm bất ngờ đến các khu chợ và cửa hàng địa phương dưới danh nghĩa kiểm tra an toàn thực phẩm và tương tác với dân thường, theo một cách gần giống với các chính trị gia chẳng hạn như ở đất nước Indonesia được quản lý một cách dân chủ. Tuy nhiên, liệu câu thần chú của ông Phúc có tác động gì đến chế độ quan liêu của Việt Nam hay không thì vẫn cần phải được xem xét.

Tháng 10/2016, 6 tháng sau khi lên cầm quyền, Chính phủ đã phê chuẩn một kế hoạch tái cơ cấu kinh tế cho giai đoạn 2016 – 2020 được xây dựng trên 3 mục tiêu chỉ đạo. Đó là: (1) dần dần cho phép các cơ chế thị trường giữ vai trò dẫn đầu trong nền kinh tế và phân bổ các nguồn lực; (2) phát triển ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn để dần dần trở thành đầu máy của nền kinh tế, thay thế các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng thấp hiện nay (chẳng hạn như ngành sản xuất hàng may mặc, lắp ráp điện tử); và (3) tích cực thực hiện hội nhập quốc tế (nghĩa là trong thương mại và đầu tư) và cải thiện vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Để thực hiện nghị trình này, Hà Nội đã đặt ra 5 lĩnh vực cải cách chủ yếu cho nhiệm kỳ hiện tại. Một là, Chính phủ đã nhất trí rằng họ cần giúp đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của khu vực tư nhân trong nước và tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hai là, cần có những nỗ lực phối hợp trong cải cách khu vực nhà nước, trong đó có cải cách các doanh nghiệp nhà nước (SOE) và các cơ chế quản lý đầu tư công và chi tiêu công. Ba là, cải cách khu vực tài chính, bao gồm các thể chế tín dụng và phát triển các thị trường vốn, cần được chú trọng hơn. Bốn là, Chính phủ cần hiện đại hóa lối tư duy và quy hoạch kinh tế theo những cách thức mà sẽ giúp thúc đẩy năng suất. Và năm là, ban lãnh đạo cần cho phép các lực lượng thị trường, quyết định các nhân tố quan trọng của sản xuất như việc sử dụng đất đai, lao động, và khoa học và công nghệ. Nỗ lực trong vòng 5 năm này ước tính có chi phí gần 500 tỷ USD, hoặc 10.000.000 tỷ VND, và sẽ bao gồm chi phí giải quyết nợ xấu tại các ngân hàng trong nước tích tụ từ đầu những năm 2000.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Southeast Asia Affairs – 2017

TLTKĐB – 11/07/2017

Tổng quan về tri thức – Phần III


2/ Các dạng của tri thức

Sau khi đã phân biệt được tri thức, thông tin và dữ liệu, chúng ta sẽ tiến thêm một bước nữa, nghiên cứu các dạng tồn tại của tri thức và các cách thức để tiếp cận, chia sẻ và kết hợp tri thức. Đây sẽ là bước quan trọng tiếp theo để tìm hiểu về quản trị tri thức.

Trong nhiều thập kỷ qua, các học giả đã cố gắng phân loại tri thức và mỗi lĩnh vực nghiên cứu khác nhau tập trung vào các góc nhìn khác nhau về tri thức để tiến hành phân loại.

Trong quản trị tri thức cách phân loại tri thức phổ biến nhất là phân chia tri thức thành tri thức ẩn và tri thức hiện. Tri thức ẩn được lưu trữ trong bộ não của con người. Tri thức hiện được lưu trĩ trong các tài liệu và các phương tiện lưu trữ khác ngoài bộ não của người như sách vở, hoặc ẩn trong các thiết bị, sản phẩm, quy trình, dịch vụ và hệ thống. Con người có thể tạo ra cả hai loại tri thức này trong quá trình tương tác và sáng tạo. Đồng thời, nó cũng có thể được tạo ra trong các mối quan hệ, tương tác. Tri thức cho phép các tổ chức hoạt động, thực hiện chức năng của mình để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Tri thức cũng giúp các tổ chức phản ứng với những tình huống và những thách thức mới.

2.1/ Tri thức ẩn

Loại tri thức này lần đầu tiên được định nghĩa bởi Polayni năm 1966. Tri thức ẩn (Tacit knowledge) còn được gọi là know-how; Tri thức ẩn rất khó thể hiện ra bằng lời một cách rõ ràng hay có thể chuẩn hóa, ghi âm. Tri thức ẩn bao gồm sự cảm nhận, hiểu biết trực giá hay các linh cảm, dự đoán… Tất cả những điều này đều không rõ ràng và rất khó có thể nói ra hay trao đổi với người khác.

Tri thức ẩn thuộc về từng cá nhân. Tri thức ẩn được lưu trữ trong bộ não từng người. Nó được tích lũy thông qua quá trình học và trải nghiệm. Nó phát triển trong quá trình tương tác với những người khác, thông qua quá trình thử và sai, những thành công và thất bại. Vì tri thức ẩn mang tính cá nhân cao, mức độ và phương tiện để chia sẻ tri thức phụ thuộc nhiều vào khả năng và mong muốn chia sẻ của người sở hữu nó.

Việc chia sẻ tri thức ẩn là thách thức đối với mọi tổ chức, doanh nghiệp. Tuy vậy, cho đến nay hầu hết các tác giả đều đồng thuận rằng mặc dù khó, tri thức ẩn vẫn có thể được chia sẻ thông qua nhiều hoạt động và cách thức khác nhau. Các hoạt động ấy có thể bao gồm đối thoại, hội thảo, quan sát thực hành… và có thể dùng thêm sự hỗ trợ của công nghệ.

Ví dụ 3: Các kỹ sư muốn tự động hóa cách thức làm bánh, làm rượu ngon của các nghệ nhân thường bắt đầu với việc trở thành thợ học việc trong một thời gian dài. Sau khi để tự bản thân có thể lĩnh hội những bí quyết làm thực phẩm mà chính các nghệ nhân cũng không thể mô tả bằng lời, họ mới tìm cách chế tạo dây chuyền công nghệ mô phỏng phù hợp.

Một ví dụ khác là nhân chứng của các vụ án thường khó có thể miêu tả một cách rõ ràng được hình ảnh tội phạm mà họ nhìn thấy trong hoàn cảnh sợ hãi. Tuy vậy, với sự hỗ trợ của phần mềm nhận dạng, cảnh sát có thể hỗ trợ các nhân chứng và tìm được hình ảnh của tội phạm mà họ không thể miêu tả bằng lời.

Để quản trị tri thức ẩn, điều khó khăn nhất đối với hầu hết các tổ chức, doanh nghiệp là xác định tri thức ẩn hữu ích cho tổ chức. Một khi tri thức ẩn hữu ích đã xác định, nó sẽ tạo giá trị đặc biệt cho tổ chức bởi tri thức ẩn là tài sản duy nhất mà các tổ chức khác khó có thể bắt chước. Chính sự duy nhất và đặc trưng khó bắt chước làm tri thức ẩn trở thành cơ sở tạo lợi thế cạnh tranh cho tổ chức. Vì vậy, mỗi tổ chức đều phải khám phá, khai thác và sử dụng tri thức ẩn của các thành viên của mình nhằm tối ưu việc sử dụng nguồn vốn tri thức.

Trong bất kỳ một tổ chức nào, tri thức ẩn là điều kiện cần cho việc đưa ra các quyết định đúng đắn. Một nhà quản trị chưa làm quen với tổ chức sẽ gặp nhiều khó khăn khi đưa ra các quyết định quản trị vì anh ta chưa nắm được tri thức ẩn về cách thức làm việc của tổ chức. Tri thức ẩn vì vậy là thiết yếu để tổ chức hoạt động suôn sẻ và tạo giá trị. Tri thức ẩn cũng là cốt lõi của “tổ chức học tập”. Cả các nhà quản lý và nhân viên đều cần học tập và tiếp thu tri thức phù hợp thông qua kinh nghiệm và hành động. Và họ cần tạo ra tri thức mới thông qua tương tác cá nhân và nhóm trong tổ chức.

2.2/ Tri thức hiện

Tri thức hiện (Explicit knowledge) là tri thức dễ dàng mã hóa. Nó được lưu giữ trong các tài liệu, cơ sở dữ liệu, các trang Web, thư điện tử… Tri thức hiện có thể truyền tải, chia sẻ bằng các dạng ngôn ngữ chính thức và hệ thống.

Trong tổ chức tri thức hiện thể hiện dưới các dạng tài sản hiện hữu, chẳng hạn các báo cáo, các kế hoạch kinh doanh, các bản vẽ, bằng phát minh, nhãn hiệu, danh sách khách hàng và những thứ tương tự như vậy. Chúng là sự tích lũy kinh nghiệm của tổ chức, được lưu giữ dưới dạng mà những người quan tâm có thể tiếp cận dễ dàng và thực hiện theo nếu muốn.

Từ khía cạnh quản trị, điều quan trọng nhất trong quản trị tri thức hiện cũng giống với quản trị thông tin. Nó liên quan tới việc đảm bảo mọi người có thể tiếp cận được với các thông tin mà họ cần một cách nhanh chóng, đảm bảo tri thức được lưu trữ và đảm bảo tri thức thường xuyên được xem lại, cập nhật hoặc loại bỏ.

Tuy vậy, tri thức hiện không hoàn toàn tách rời với tri thức ẩn. Thậm chí, hai dạng tri thức này thường bổ sung, hỗ trợ nhau. Botha và cộng sự chỉ ra rằng tri thức ẩn và tri thức hiện nên được xem là hai tầng tri thức hơn là hai dạng tri thức. Trên thực tế mọi tri thức đều là sự kết hợp của hai tầng tri thức này. Nếu không có tri thức ẩn, sẽ rất khó, thậm chí không thể hiểu được tri thức hiện. Ví dụ, nếu một người nếu không có các kiến thức kỹ thuật, toán và khoa học (là tri thức ẩn) sẽ rất khó có thể hiểu được những công thức toán học cao cấp hoặc các biểu đồ quá trình hóa học, mặc dù những tài liệu này đều sẵn có trong thư viện hoặc cơ sở dữ liệu của tổ chức (tri thức hiện). Và trừ khi chúng ta cố gắng chuyển tri thức ẩn thành tri thức hiện, chúng ta không thể thể hiện nó, nghiên cứu hay thảo luận về nó hoặc chia sẻ nó trong tổ chức, bởi vì tri thức ẩn đó vẫn còn ở sâu và không thể tiếp cận được trong bộ óc người sở hữu nó. Tuy vậy, với mục tiêu nghiên cứu và trình bày, việc phân chia hai dạng tri thức sẽ là cần thiết để có những mô hình quản trị tri thức rõ ràng và dễ hiểu hơn.

Sự phân biệt hai dạng tri thức ẩn và tri thức hiện là quan trọng nhất trong quản trị tri thức. Nhiều mô hình quản trị tri thức xoay quanh việc phát hiện, nắm bắt tri thức ẩn, sắp xếp, hệ thống hóa tri thức hiện (Dalkir) hay chuyển đổi tri thức ẩn thành tri thức hiện và ngược lại (Nonaka và Takeuchi). Tuy nhiên, một số phân loại khác cũng có giá trị bổ sung để hỗ trợ việc xây dựng các hệ thống quản trị tri thức. Vì vậy, chúng ta sẽ cùng xem xét một vài cách phân loại khác của tri thức sâu đây.

2.3/ Tri thức cá nhân, tri thức nhóm và tri thức tổ chức

Trong khi bàn luận sâu về việc chuyển tri thức ẩn sang tri thức hiện, Nonaka và Takeuchi cũng nhấn mạnh đến việc chuyển tri thức ẩn cá nhân thành tri thức của tổ chức ở mức cao hơn. Nonak và Takeuchi xem xét tri thức cá nhân và tri thức tổ chức là một sự phát triển liên tục của tri thức từ mức cá nhân, lên mức nhóm, tới mức tổ chức và giữa các tổ chức với nhau. Điều này cũng hàm nghĩa rằng chúng ta có thể có được tri thức hoặc thông qua kinh nghiệm cá nhân hoặc thông qua tương tác xã hội.

Tri thức cá nhân (Individual Knowledge) thường ở dạng tri thức ẩn, gắn với cảm nhận, kinh nghiệm, quá trình học tập và hoạt động của các cá nhân. Tri thức cá nhân cũng có thể là tri thức hiện, nhưng nó phải mang tính cá nhân, ví dụ một cuốn sổ ghi chép cá nhân.

Tri thức nhóm (Group Knowledge) là tri thức của một nhóm nhất định nhưng không chia sẻ cho phần còn lại của tổ chức. Các doanh nghiệp thường bao gồm các tổ, nhóm, các cộng đồng nhỏ thông thường được hình thành một cách tự nhiên thông qua quá trình giao tiếp và làm việc của các nhân viên. Các tổ nhóm hay cộng đồng này thường được gọi là cộng đồng thực hành. Những nhóm hay cộng đồng này chia sẻ các giá trị chung, ngôn ngữ chung, hiểu biết, kỹ năng chung. Đó chính là tri thức ẩn và tri thức hiện của nhóm.

Tri thức tổ chức (Organizational Knowledge) gắn với các tổ chức chính thống hơn. Có nhiều định nghĩa khác nhau về tri thức tổ chức. Hatch đưa ra khái niệm về tri thức tổ chức như sau: “Khi tri thức nhóm của nhiều nhóm hoặc cộng đồng trong tổ chức được kết hợp lại và tạo ra tri thức mới thì tri thức kết quả được gọi là tri thức tổ chức”. Tri thức tổ chức là tất cả các nguồn lực tri thức trong tổ chức mà tổ chức ấy có thể sử dụng phục vụ cho hoạt động của mình.

Phân biệt tri thức ở mức cá nhân, nhóm và tổ chức có ý nghĩa lớn đối với hoạt động quản trị tri thức. Quản trị tri thức liên quan tới sự phát triển liên tục từ tri thức cá nhân tới tri thức nhóm rồi tới tri thức tổ chức nhằm thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức. Quản tri tri thức phải quản trị kho tri thức tổ chức, các kinh nghiệm hoạt động được đúc rút lại và tạo một môi trường thuận lợi cho việc học tập và chia sẻ tri thức. Quản trị tri thức cũng liên quan tới việc tiếp cận các tri thức từ các nguồn bên ngoài nếu tri thức này cần thiết cho sự phát triển của nguồn tri thức tổ chức. Vì vậy, nếu xem xét ở nghĩa rộng, quản trị tri thức sẽ liên quan tới việc quản trị việc học tập của tổ chức, bộ nhớ của tổ chức, chia sẻ tri thức, sáng tạo tri thức và văn hóa tổ chức.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Đặng Thị Việt Đức & Nguyễn Thu Hương – Quản trị tri thức trong doanh nghiệp, NXB TTTT 2016.

Một tương lai không chắc chắn – Phần XII


Năm 1989 là năm đặc biệt thành công trong việc đảo ngược xu thế, khi đó mức gia tăng dân số tự nhiên tuyệt đối tăng liên tục (tăng thêm 87,7 triệu người) và năm sau đó, mức tăng bất đầu giảm (tăng thêm 77,3 triệu người trong năm 2007). Cục Dân số Mỹ (US. Census Bureau) dự đoán rằng, đến nửa thập niên tới mức tăg dân số tuyệt đối của trái đất sẽ duy trì ở mức gần bằng hiện nay, tức dao động trong khoảng từ 76 đến 78 triệu mỗi năm, sau đó, sẽ liên tục giảm đến mức 46 triệu người/năm trong nửa thế kỷ này.

Nếu mức trung bình ấy là có lợi dưới góc độ kinh tế – xã hội phân bố theo khu vực, thì đấy là cơ sở để chúng ta hài lòng. Song lại không được như vậy. Có những nơi, số dân tăng nhanh với tốc độ đáng sợ, có những nơi, dân số thụt giảm đáng kể. Xu hướng khác nhau là hàm số của một số biến số, trước hết là tỷ lệ sinh và chết yểu của trẻ sơ sinh và tuổi thọ, mà quá trình dân số lại là hàm số của điều kiện kinh tế trong cuộc sống và những kỳ vọng về những thay đổi của nó trong tương lai. Có một sự phân tán rất lớn liên quan đến tất cả các biến số này. Ngoài ra, tác động tới quá trình này còn có hiệu ứng của hiện tượng di cư. Điều này sẽ tiếp diễn trong tương lai.

Bi kịch là ở chỗ, số trẻ sinh ra nhiều nhất lại ở các nước lạc hậu nhất, nơi mà điều kiện dinh dưỡng, nuôi dạy và giáo dục là vô cùng khó khăn. Đấy là một thực tế đáng buồn. Điều này diễn ra trong những bối cảnh xã hội văn hóa đặc thù. Những hậu quả kinh tế rất đáng lo ngại, bởi vì tình trạng không phát triển biểu hiện bằng mức thu nhập thấp, thiếu thốn lương thực và thiếu những điều kiện chăm sóc sức khỏe cơ bản nhất, một phần các cháu đã chết yểu ngay sau khi sinh ra, một số sống được đến 5 tuổi, số mà tồn tại được thì lại rơi vào tình cảnh cùng cực.

Trong số 10 quốc gia có tỷ lệ sinh cao nhất, thì 4 – Afghanistan, Somalia, Brundi và Cộng hòa Dân chủ Congo – lại thuộc 10 nước nghèo nhất thế giới, với mức thu nhập tính trên đầu người thấp hơn 800 USD (tính theo PSN). Somalia và 3 nước khác trong nhóm 10 nước nghèo nhất – Mali, Niger và Angola – lại nằm trong những vị trí cuối cùng trong 10 nước có tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong cao nhất. Tỷ lệ tử vong sau khi sinh tại Angola và Sierra Leone lần lượt là 184,4 và 158,3 trên 1000 trẻ sơ sinh. Tại Mali và Niger phụ nữ sinh trung bình 7,4 con, tại Afghanistan và Yemen – là 6,6 và 6,5. Tính trung bình thì cứ một gia đình thì ít nhất lại có ít nhất một cháu chết yểu. Năm trước trong số 10 nước có tỷ lệ sinh con cao nhất cũng là những nước có tốc độ tăng dân số cao nhất (theo ước tính của Liên hợp quốc cho các năm 2005 – 2010) : Brundi – 3,9%, Afghanistan – 3,85%, Niger – 3,49%, Mali – 3,02% và Congo 3 – 3,22%. Gần đây, Liberia nổi lên như một quốc gia có tốc độ tăng dân số cao nhất thế giới – 4,5%. Đứng ở vị trí đỉnh của danh sách này là các nước hay vùng lãnh thổ như Tây Sahara và Đông Timor hay Eryteria và Palestine. Điều đập vào mắt chúng ta là, trong phần lớn các trường hợp thì đó là những nước cho đến gần đây vừa trải qua những xung đột vũ trang, chúng phản ứng ở phần nào về thời kỳ kinh hoàng đó.

Nếu đi du lịch tới các nước này thì có thể cảm nhận được điều đó trong bầu không khí xã hội sở tại. Và cũng dễ dàng nhận thấy rằng, những nước này rơi vào vòng luẩn quẩn – nghèo khó làm gia tăng dân số, sự gia tăng dân số lại càng làm nghèo khó hơn, mà có thể từ đây bùng nổ những xung đột vũ trang, được kích động bởi sự khác biệt sắc tộc – không có cơ hội vượt qua sự đình trệ mang tính cơ cấu để bước vào con đường phát triển. Nếu như Trung Quốc, mới chỉ gần đây thôi còn là một nước nghèo, không cương quyết áp dụng những biện pháp triệt để nhằm kiểm soát việc sinh đẻ (ở đó một phụ nữ sinh trung bình 1,75 con và tốc độ tăng dân số là 0,58%) thì ngay nay có lẽ đã là nước nghèo khổ và đông dân nhất thế giới, chứ không thể tự hào như hiện nay vì thành tích to lớn trong công cuộc phát triển đất nước.

Ở thái cực kia, chúng ta lại có những quốc gia, mà phụ nữ chỉ sinh 1 con và bình quân không nhiều hơn con số 1. Những trường hợp cá biệt, không đem lại ý nghĩa gì đối với số phận thế giới, do quy mô quá nhỏ, đấy là Đài Loan, Singapore, và Hong Kong, ở những nước này, mỗi phụ nữ sinh lần lượt là 1,12 ; 1,07 ; và 0,98 con. Các nước có dân số đáng kể, nhưng nằm gần đáy bảng xếp hạng là Nhật Bản và Ukraine với tỷ lệ lần lượt là 1,23 ; 1,24 hay Nga và Đức – lần lượt là 1,39 ; 1,40. Tóm lại, trong danh sách 222 quốc gia và các vùng lãnh thổ được các tổ chức quốc tế xây dựng, có tới 96 quốc gia có tỷ lệ sinh đẻ thấp hơn (tỷ lệ) 2,1. Tỷ lệ này được coi là tỷ lệ sinh đẻ tái tạo, nhằm bảo đảm duy trì số dân hiện thời (không tính tới tác động của di dân).

Trong danh sách dài lê thê của các quốc gia, điều làm ngạc nhiên là Mỹ có tỷ lệ 2,09, đứng ở vị trí thứ 126. Ba Lan với tỷ lệ 1,26, đứng ở vị trí 206 giữa một bên là các nước như Italy, Tây Ban Nha, Hàn Quốc và bên kia là Litva, Slovenia, Moldavia, Ukraine, Bosnia và Hercegovina. Có một điều đặc biệt là, trong số 20 quốc gia có nhịp độ tăng dân số âm, thì có tới 16 nước thuộc các nước hậu xã hội chủ nghĩa Châu Âu, kể cả Nga, Gruzia và Armenia. Bốn nước còn lại là Đức và Nhật Bản, có tỷ lệ sinh đẻ rất thấp và đi xuống, thêm vào đó còn có thể kể đến các nước như Dominica cạnh biển Caribean và Guiana tại Nam Mỹ. Như vậy, khi loài người ngày càng đông đảo, thì tại một số nước dân ngày càng nhiều (và quá đông), còn tại một số nước khác lại ngày một ít đi (và quá ít). Sự không đồng đều hiểu nhiên về dân số này sẽ ngày càng sâu sắc và hiện tượng di dân không còn là nhỏ.

Nhận định rằng, đến năm 2050, tỷ lệ sinh đẻ giảm dưới ngưỡng bảo toàn tái tạo dân số sẽ diễn ra ở cả những nước khác nữa. Hiện nay tình trạng này đã hiện hữu ở tất cả 27 nước thuộc Liên minh châu Âu. Nếu như 50 năm trước đây – vào năm 1957, khi nền tảng cho Liên minh hiện nay được thiết lập – ở tất cả các nước đó tỷ lệ sinh đẻ cao hơn 2,1, thì hiện nay cũng ở tất cả các nước, không có ngoại lệ, tỷ lệ này ở mức báo động, dao động quanh mức từ 1,86 tại Ireland đến 1,21 ở Litva. Trong bối cảnh đó, dự báo suy giảm số dân ở Châu Âu từ mức hiện nay là chưa đầy 730 triệu xuống khoảng – vâng, chính thế, khoảng bao nhiêu đây ?

Một số dự báo mức giảm khoảng 1%, tức là khoảng 7 triệu người. Một số người khác – trong đó – điều quan trọng – có các chuyên gia của Liên hợp quốc – giảm đến 10% tức là trên 70 triệu người. Trong phương án thứ hai, người Châu Âu không phải như hiện nay, tức chiếm 11% mà khoảng 7% dân số thế giới. Duy chỉ có Bắc Mỹ là duy trì được tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ trung bình của thế giới, tuy nhiên số dân ở riêng nước Mỹ sẽ tăng thêm 100 triệu, từ mức khoảng 302 triệu (không tính một vài chục triệu là dân di cư bất hợp pháp) lên 402 triệu trong nửa thế kỷ này. Tuy nhiên, có thể sẽ khác hơn nếu lưu ý tới cuộc tái chiếm Trung và Nam Mỹ đặc biệt của người Tây Ban Nha và sự gia tăng làn sóng di cư từ Nam Mỹ và Trung Mỹ vào California, New Mexico, Arizona, Nevada, Texas. Một số người nhập cư vẫn còn mang dòng máu của người da đỏ, nhưng giờ đây không thể đuổi họ đi hoặc nhốt họ trong những khu rừng sinh thái được.

Tuy nhiên, tất cả các dự báo dân số học đều khiến chúng ta không khỏi nghi ngờ và e ngại. Những dự báo stricte kinh tế lại càng nhiều hơn. Ai cũng hiểu rằng mỗi dự báo đều dựa trên những giả thuyết nhất định. Và ai cũng hiểu rằng khoảng thời gian dự báo cũng kéo dài, mức độ không chắc chắn càng lớn, mà các dự báo về dân số thực chất là những dự báo dài hạn. Cũng là điều dễ hiểu, rằng trong thời gian đó có thể xuất hiện những bối cảnh mà hiện nay không chỉ không dự đoán được mà còn không thể giả định được. Thì từ những kinh nghiệm trong quá khứ, chúng ta đều biết dự báo là một công việc nhiều rủi ro như thế nào. Trong dự báo dân số, thì dự báo về tỷ lệ sinh và tử vong ở những nước kém phát triển và dự báo về những đợt di dân ồ ạt là hết sức khó khăn.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào dự đoán về sự giảm sút dân số tại Nga từ mức 142 triệu hiện nay xuống còn 104 triệu vào năm 2050, thì chúng ta buộc phải đưa ra câu hỏi, liệu có đúng như vậy không hay chẳng qua vấn đề bị nhìn nhận một cách méo mó. Nếu vấn đề bị nhìn nhận một cách méo mó (là điều rất nên nghi ngờ) thì là do vô tình hay hữu ý ? Không thể ngoại suy từ xu hướng của những năm gần đây – khi nước Nga đang trải qua cuộc khủng hoảng sâu sắc về dân số, mà một phần là hậu quả thứ cấp của những thực nghiệm chuyển đổi thể chế theo hướng tân tự do, một phần là do hậu quả của môi trường bị đầu độc và lối sống thiếu lành mạnh đối với sức khỏe – cho vài chục năm tiếp theo.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB Thế giới 2010.