Các đảng phái chính trị ở Mỹ – Phần III


Để huy động các cử tri. Cho dù được tổ chức tốt đến đâu, các liên minh bầu cử sẽ thất bại nếu họ không thể có được đủ số người bỏ phiếu cho các ứng cử viên của mình. Cuộc cạnh tranh giành phiếu bầu đã khuyến khích các nhà lãnh đạo liên minh thu hút các cử tri và đưa họ tới bên hòm phiếu vào ngày bầu cử. Trong thời kỳ đầu của nền cộng hòa, việc vận động bầu cử diễn ra theo những hình thức truyền thống. Tập quán kính trọng về mặt chính trị đối với những người bề trên không hề bị xóa bỏ bởi cuộc Cách mạng. Những thành viên nổi bật nhất và thành công nhất trong xã hội được xem là những tác nhân tự nhiên của một xã hội hài hòa, và các lợi ích cộng đồng được cho là an toàn nhất khi ở trong tay của những người được nuôi dạy, giáo dục tốt hơn và có kinh nghiệm hơn trong các vấn đề công. Những hạn chế đối với quyền bầu cử là rất phổ biến. Những người có quyền bỏ phiếu thường công khai nêu rõ những ưu tiên của họ, một thông lệ khuyến khích sự kính trọng đối với những người có địa vị cao ở địa phương. Bản thân các cuộc bầu cử được quyết định chủ yếu dựa trên cơ sở cá nhân; các cuộc tranh đua, nếu có, thường là giữa các cá nhân được hậu thuẫn bởi những người ủng hộ họ trên phương diện cá nhân. Trong những trường hợp này, việc theo đuổi công khai một chức vụ chính trị bị xem là không đúng đắn, và các chiến dịch vận động diễn ra một cách lặng lẽ, thông qua bạn bè và các đồng minh. Điều này không có nghĩa là các chiến dịch vận động bầu cử không được biết đến; xét cho cùng, những kỹ thuật để huy động sự ủng hộ và tập hợp phiếu bầu đã được biết đến trong hàng thế kỷ bởi các cuộc bầu cử đã được tổ chức hàng thế kỷ nay. Nhưng chúng là những kỹ thuật được thiết kế cho các cộng đồng nhỏ với những giới cử tri thậm chí còn nhỏ hơn mà, trong hầu hết các trường hợp, đều làm theo sự chỉ dẫn của các nhân vật quan trọng ở địa phương.

Sau khi Hiến pháp được thông qua, tài sản và những tiêu chuẩn khác để được quyền bỏ phiếu (của nam giới da trắng) đã ngày càng giảm bớt hoặc bị xóa bỏ, và tinh thần quân bình chủ nghĩa tại những vùng mới mở mang đã dần dần lấn át thói quen tôn kính, ngay cả tại những bang lâu đời hơn. Khi quy mô của giới cử tri tăng lên, nhiệm vụ xác định và thu hút những người ủng hộ cũng như đưa họ tới bên hòm phiếu trong ngày bầu cử cũng trở nên nặng nề hơn. Người nào có thể giành được các cử tri mới này sẽ có lợi thế về chính trị. Những mạng lưới các nhà lãnh đạo và hoạt động chính trị tập hợp cùng nhau để huy động sự ủng hộ của giới cử tri đã trở thành những tổ chức đảng phái đầu tiên.

Để phát triển những kỹ năng bầu cử mới. Khi đã được tổ chức, các đảng phái bầu cử đề xuất những mối quan hệ mới giữa các cử tri và các nhà lãnh đạo được bầu. Những lời kêu gọi và sự giúp đỡ cá nhân mà các ứng cử viên đã từng sử dụng để giành được sự ủng hộ của những người hàng xóm từ thời thuộc địa không mất đi, nhưng bản thân chúng vẫn chưa đủ để vươn tới một giới cử tri lớn hơn nhiều, bị phân tán và không thể biết rõ. Những nhà tổ chức đảng phái hướng tới các phương tiện truyền thông đại chúng – báo chí, tờ rơi, thư gửi công chúng, và các bài diễn văn được in ra – có nội dung kích động cử tri bằng những lời kêu gọi đầy diễn cảm đối với các vấn đề. Sự cám dỗ của việc tuyên truyền kích động là không thể cưỡng lại khi các chiến dịch bầu tìm cách thuyết phục những người không hiểu biết nhiều và không tham gia vào chính trị rằng họ có lợi ích trong cuộc bầu cử và có lý do bắt buộc để bỏ phiếu. Bất kỳ ai cố gắng huy động các công dân bỏ phiếu đều phải khắc phục khuynh hướng ngồi không hưởng lợi của giới cử tri, bởi chiến thắng của một đảng là lợi ích tập thể mà mọi người đều được hưởng cho dù họ có bỏ phiếu hay không. Như vậy, ngay từ đầu, phần lớn công việc của các chiến dịch vận động bầu cử đã nhằm mục đích giải quyết, theo cách này hay cách khác, vấn đề về những người ngồi không hưởng lợi.

Để sử dụng mác đảng phái và cưỡng chế trách nhiệm tập thể. Các cử tri cần một cách thức để phân biệt giữa các ứng cử viên, và mác đảng phái là một gợi ý nhanh chóng và hữu ích, giúp cho các quyết định bỏ phiếu trở nên đơn giản và bớt tốn kém – miễn là những mác này cung cấp thông tin cần thiết. Mác đảng phái của một ứng cử viên càng nói lên một cách chính xác những gì ông/bà ta sẽ làm khi lên nắm quyền, thì nó sẽ càng hữu ích đối với các cử tri và các cử tri sẽ càng tin cậy vào những gợi ý về đảng phái khi đưa ra lựa chọn của mình. Bên cạnh đó, các cử tri càng tin cậy vào những gợi ý đảng phái, thì mác đảng phái càng có giá trị đối với các ứng cử viên. Những nhà lãnh đạo tương lai sử dụng một trong những mác đảng phái đang có để được hưởng lợi từ thói quen tìm kiếm gợi ý của giới cử tri. Các ứng cử viên địa phương tham gia những liên minh đảng phái quốc gia ngay cả khi những chia rẽ trong nền chín trị địa phương có thể chẳng có mối quan hệ lôgích nào với các vấn đề mà những đản gphái quốc gia đang tranh chấp.

Tuy nhiên, khi họ đã chấp nhận sử dụng mác đảng phái, các chính trị gia có lợi ích cá nhân trong việc duy trì giá trị của “nhãn hiệu” của đảng, điều có thể tạo ra phí tổn của việc tuân thủ bằng cách đòi hỏi những tham vọng và quan điểm riêng của họ phải đặt ở hàng thứ yếu so với lợi ích và danh tiếng của đảng. Mác đảng phái cho phép các cử tri thưởng công hoặc trừng phạt những quan chức được bầu với tư cách cả nhóm vì thành tích hoạt động của họ khi đương nhiệm. Nếu các cử tri không thích những gì chính quyền đang làm và muốn “lật đổ những kẻ bất lương”, họ có một cách rất dễ dàng để xác định những kẻ bất lương: đó là các thành viên của đảng chiếm đa số. Nguy cơ về sự trừng phạt tập thể đem lại cho đảng chiếm đa số một động cơ mạnh mẽ để cai quản đất nước theo những cách thức làm cử tri hài lòng. Như vậy, các đảng phái phát triển thàn những hệ thống gồm ba phần kết nối (1) đảng cầm quyền, một liên minh gồm các quan chức đương nhiệm hợp tác để định hình chính sách công; (2) tổ chức đảng phái, tập trung vào việc lựa chọn các ứng cử viên của đảng; (3) đảng trong giới cử tri, bao gồm các cử tri ủng hộ một đảng và thường xuyên bỏ phiếu cho các ứng cử viên của nó.

Những đặc trưng cơ bản của hệ thống đảng phái

Như vậy, các đảng phái xuất hiện không phải do mọi người cho rằng chúng là một ý tưởng tốt, mà là do những cấu trúc và quy trình thể chế được tạo ra theo Hiến pháp khiến chúng trở nên hữu dụng tới mức không thể bỏ qua. Giá trị hiển nhiên của chúng đối với những nhà lãnh đạo được bầu đang ganh đua vì những mục tiêu chính trị, đối với các ứng cử viên đang cạnh tranh để đạt tới địa vị, và đối với các cử tri trong cuộc tìm kiếm những lối tắt dễ nhận thấy cho quyết định bỏ phiếu của mình đã bảo đảm rằng những giá trị hữu ích trên thực tế của các đảng phái sẽ được khai thác liên tục bởi mọi thế hệ trong hoạt động chính trị. Chắc chắn là các đảng phái không phải lúc nào cũng có cùng hình thức; có rất nhiều cách để sắp đặt hành động tập thể trong nền chính trị Mỹ. Nhưng một số đặc trưng luôn tồn tại trong bất kỳ hệ thống đảng phái nào trong lịch sử, bởi chúng phản ánh cấu trúc cơ bản của chính quyền Mỹ theo quy định của Hiến pháp. Những đặc trưng này bao gồm sự cạnh tranh giữa hai đảng chủ chốt được hình thành bởi những liên minh đảng phái phân tách và phi tập trung – những liên minh được duy trì bởi các chính trị gia lão luyện.

Sự cạnh tranh giữa hai đảng. Trong một vài nhiệm kỳ Quốc hội đầu tiên, các nhà lãnh đạo quốc gia đã dần dần phân chia thành hai phe chính, khởi đầu cho mô hình cạnh tranh giữa hai đảng mà vẫn tiếp tục cho tới tận ngày nay, trừ một số ngoại lệ tạm thời. Người dân Mỹ có xu hướng nghĩ về hệ thống hai đảng như một điều đương nhiên, nhưng hầu hết các nền dân chủ hiện đại đều có nhiều hơn hai đảng (xem Hình 12 – 1). Trên thực tế, điều đáng chú ý là một dân tộc luôn bị chia rẽ bởi vùng miền, tôn giáo, chủng tộc và sắc tộc chưa nói tới các tín ngưỡng xã hội và lợi ích kinh tế, lại có thể thích hợp với chỉ hai phe nhóm chính trị chủ yếu. Nhưng mô hình này vẫn được tiếp tục bởi một lý do bắt buộc. Trong mọi cuộc bầu cử, khi chỉ có một người thắng cử duy nhất được lựa chọn bởi đa số phiếu (người có nhiều phiếu bầu nhất), xu hướng phổ biến đối với các đối thủ cạnh tranh nghiêm túc là giảm xuống chỉ còn hai người, bởi vì các cử tri thường có khuynh hướng bỏ phiếu theo những cân nhắc chiến lược. Nếu ứng cử viên thuộc đảng mà họ yêu thích không có cơ hội thắng cử, họ sẽ hcuyển hướng sang ứng cử viên ít bị phản đối hơn trong số các ứng cử viên của đảng chủ chốt có cơ hội thắng cử (xem hộp “Các ứng cử viên đảng thứ ba”). Xu hướng này mạnh mẽ tới mức các học giả đã dành cho nó vị thế của một đạo luật. Nó được gọi là Luật Duverge, theo tên tọi của nhà khoa học chính trị người Pháp đã đề xuất nó. Nhận thức được mô hình này, những người tìm kiếm các chức vụ trong bộ máy chính quyền thường tham gia vào một trong hai đảng cạnh tranh, thay vì theo đuổi các chức vụ với tư cách là những ứng cử viên độc lập hoặc của đảng thứ ba.

 

Hình 12.1

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Trung Quốc: 2017 mới là năm khó khăn nhất về kinh tế


Từ Cấn

Từ năm 2016 đến 2017, tình hình kinh tế thế giới không mấy lạc quan. Mỗi năm trôi qua thì vẫn thế còn tuổi đời của mỗi con người lại thay đổi. Điều mà câu thành ngữ này đề cập đến không phải là cảnh đẹp được lặp lại hàng năm, mà là tình hình kinh tế hàng năm. Trong thời đại Internet, tất cả những phát ngôn và tuyên bố đều được ghi âm lại, làm cho mọi dự báo sai lầm của từng chuyên gia kinh tế đều để lại bằng chứng. Đó là “2008 là một năm khó khăn nhất của kinh tế Trung Quốc”, “2009 sẽ là một năm khó khăn nhất về kinh tế của Trung Quốc”, “2010 là năm khó khăn nhất của kinh tế Trung Quốc”, “2011 là một năm phức tạp nhất và khó khăn nhất của kinh tế Trung Quốc”, “2012 có thể là một năm khó khăn nhất nhưng có nhiều hy vọng nhất”, “2013 có thể là một năm khó khăn nhất của Trung Quốc”, “2014 sẽ là năm khó khăn nhất”, “2015 là một năm khá khó khăn để vận hành kinh tế Trung Quốc”, “2016 có thể là năm khó khăn nhất, mọi người phải chuẩn bị vượt qua những ngày gian khổ”… Những dự báo trên do rất nhiều người đưa ra, có người làm việc nơi trung tâm hoạch định chính sách hàng đầu, có người là nhà kinh tế học từ nước ngoài trở về có bề dày nghiên cứu rất nổi tiếng, có người là chuyên gia ở nơi xa, có quan điểm độc lập, nói chắc như đinh đóng cột, khi tập hợp lại xem ra ai cũng phải tin. Nhiều năm gần đây, số liệu GDP của Trung Quốc vẫn luôn cao, dường như năm nào cũng đều làm cho những chuyên gia dự báo bi quan phải tự vả vào miệng mình.

Đối với những dự báo này, rất nhiều cư dân mạng không ủng hộ. Họ tới tấp đặt câu hỏi tại sao họ vẫn được tăng lương, mua nhà, lập nghiệp trong mấy năm “khó khăn nhất” đó, làm gì có chuyện khó khăn đó? Sự khác biệt giữa thống kê vĩ mô và từng cá thể là ở đâu? Các chuyên gia sai lầm hay là cư dân mạng có cách nhìn sai lệch? Vào tháng 10/2016, Cục Thống kê Trung Quốc đưa ra đánh giá bước đầu, tổng sản phẩm quốc nội trong ba quý đầu năm là 52.997 tỷ NDT, căn cứ vào tính toán chênh lệch giá cả, tăng trưởng là 6,7%. Một báo cáo khác của Tân Hoa Xã dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc năm 2016 sẽ là 6,63%.

Thời điểm sống của con người hiện đại đi cùng với cuộc khủng hoảng tài chính

Trước hiện tượng phức tạp, có lúc thụt lùi, có thể nhìn thấy rõ thực tế lịch sử. Bắt đầu từ năm 1978, Trung Quốc đã quay trở lại nền kinh tế thế giới, làm thế nào để xử lý toàn diện kinh tế Trung Quốc sau đó?

Kinh tế Trung Quốc duy trì mức tăng trưởng hai con số trong vòng 30 năm, kỷ lục đó được coi là kỳ tích, nhưng khi nghiên cứu sâu bản chất cũng thấy phù hợp với nguyên lý kinh tế học. Tác phẩm nổi tiếng “Nền kinh tế Trung Quốc đã xảy ra chuyện gì” đã đưa ra ba lợi ích lớn đằng sau câu chuyện của Trung Quốc. Trước hết là lợi ích từ cải cách, cải cách thể chế đã tạo ra sự năng động của thể chế, làm cho hàng tỷ người dân có thể toàn tâm toàn ý tập trung vào công việc sản xuất; thứ hai là lợi ích từ dân số, cơ chế thị trường giải phóng khả năng sáng tạo phù hợp với nguồn lực lao động nông thôn nhàn rỗi và đông đảo, đã bảo đảm giá nhân công rẻ cho ngành chế tạo của Trung Quốc, đáp ứng đầy đủ thị trường thế giới; cuối cùng là lợi ích từ mở cửa, đã có cơ chế thị trường và lực lượng lao động thì sản phẩm xuất khẩu đi đâu? Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) không những làm cho sản phẩm của Trung Quốc có thể tiến ra thị trường toàn cầu mà còn giúp Trung Quốc có thể nhanh chóng tiếp xúc toàn diện với thế giới, học tập nhanh chóng công nghệ mới và khái niệm mới. Từ sự so sánh con đường phát triển giữa phương Đông và phương Tây, chúng ta có thể phát hiện ra triển vọng lớn hơn, kỳ tích của Trung Quốc thực ra không phải là điều mới mẻ. Sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trong quá khứ đã kế thừa lộ trình phát triển của các nước mới nổi ở châu Á, mà xu hướng kinh tế nửa cuối thế kỷ 20 cơ bản là câu chuyện các nước mới nổi cố gắng theo kịp những quốc gia phát triển.

Căn cứ vào thống kê của các chuyên gia lịch sử kinh tế, GDP của châu Á (không bao gồm Nhật Bản) vào năm 1000 sau công nguyên chiếm hơn 2/3 GDP của toàn thế giới, Tây Âu chiếm chưa đến 9%; năm 1820, châu Á chiếm 56% GDP của cả thế giới, Tây Âu là 24%, đến năm 1998, châu Á chiếm 30%, Tây Âu và những nước được tạo ra từ Tây Âu (như Mỹ) chiếm 46%. Không những vậy, căn cứ vào đánh giá lạc quan nhất, cũng là đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) về quyền lực tương đối, GDP của Trung Quốc tính theo ngang giá sức mua (PPP) đã vượt qua Mỹ vào năm 2014.

Dự báo của The Economist khá bảo thủ, dự báo GDP của Trung Quốc có thể vượt qua Mỹ vào năm 2030. Cho dù đánh giá theo PPP chỉ là một trò chơi thống kê, nhưng khẩu hiệu “số 1 là Trung Quốc” luôn khiến người Trung Quốc đồng lòng hướng về phía trước, cũng khiến người ta nghĩ đến Nhật Bản đã cao giọng tuyên bố “số 1 là Nhật Bản” vào thập niên 80 của thế kỷ 20. Trên thực tế, mô hình của Trung Quốc và Nhật Bản dựa vào tín dụng giá rẻ của ngân hàng để đầu tư thúc đẩy nền kinh tế khá giống nhau. Cho dù đứng trước cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, các nước đã rơi vào suy thoái kinh tế, Trung Quốc vẫn đầu tư trọn gói một khoản lớn trị giá 4000 tỷ NDT, giúp kinh tế Trung Quốc thể hiện phản ứng theo mô hình chữ “V”, ngạo nghễ trước vực sâu thê thảm của thế giới. Kinh tế hiện đại là nền kinh tế tín dụng, nền kinh tế tín dụng có nghĩa là tài chính tiền tệ đã thấm sâu vào mọi mặt của nền kinh tế, do đó, thời điểm sinh sống của con người hiện đại cùng tồn tại với cuộc khủng hoảng tài chính. Trong bối cảnh đó, vì sao những tiếng nói đánh giá “khó khăn nhất” vẫn chưa xa rời nền kinh tế Trung Quốc? Nói cách khác, hơn 10 năm qua là thời đại hoàng kim trong lịch sử kinh tế Trung Quốc, vậy làm thế nào để giải thích vì sao thời kỳ đen tối sắp đến, thậm chí có thể xảy ra sóng gió tài chính? Bất kỳ thành công nào cũng có cái giá phải trả, đây là vấn đề đầu tiên của kinh tế học. Ba lợi ích lớn tạo ra kỳ tích của Trung Quốc không tồn tại mãi mãi, cùng với bước ngoặt Lewis (lý thuyết của nhà kinh tế đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1979, Athur Lewis, ông khẳng định sử dụng lực lượng dư thừa từ nông thôn để tạo ra sản phẩm giá rẻ sẽ đến thời điểm cạn kiệt, dẫn đến áp lực tiền lương – ND) đang đến gần, cải cách cơ chế bước vào giai đoạn rất khó khăn, ưu thế về giá rẻ của Trung Quốc không còn nữa, lợi ích dần dần sụt giảm, thậm chí đi theo hướng bất lợi.

Động lực phát triển mới cần thiết cho nền kinh tế Trung Quốc không thể đạt được trong thời gian ngắn. Biện pháp dựa vào đầu tư chắc chắn sẽ đến lúc kết thúc, vì sao rất nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế cuối cùng thể hiện ở khủng hoảng tài chính? Cuốn sách “Người in tiền” của tôi đã giải thích kỹ, kinh tế hiện đại là kinh tế tín dụng, kinh tế hiện đại là tài chính tiền tệ đã thấm sâu vào mọi mặt của nền kinh tế, do đó thời điểm sống của con người hiện đại đi cùng với khủng hoảng tài chính.

Đối với Trung Quốc, đầu tư quá mức có nghĩa là nền kinh tế có đầu tư không hiệu quả với quy mô lớn trong quá trình duy trì tăng trưởng, đầu tư không hiệu quả cuối cùng thể hiện trong vấn đề nợ nần ở hệ thống tài chính, thể hiện ở năng lực sản xuất quá dư thừa trong hệ thống sản xuất. Do đó, nợ nần quá lớn và năng lực sản quá dư thừa là hai mặt trong một vấn đề duy nhất, đó là đầu tư không hiệu quả. Nợ nần có giới hạn của nó: Nợ không thể đòi lại, cuối cùng không thể tiếp tục, đây là quy luật không thể thay đổi giống như phép tính 1 + 1 = 2.

2017 là thời kỷ đen tối sắp diễn ra

Nhìn lại quá khứ, rút cục năm nào mới là một năm khó khăn nhất của kinh tế Trung Quốc? Tôi hiểu rõ tinh thần 9 lần dũng cảm trong 5 cuộc suy thoái trước đây mà các chuyên gia kinh tế dự báo, nên cảm thấy năm tồi tệ nhất trong quá khứ là năm 1998. Khi đó, môi trường bên ngoài Trung Quốc đối mặt với tác động lớn do cuộc khủng hoảng tài chính châu Á gây ra, về đối nội đối mặt với sự biến động trong xã hội do công nhân mất việc làm vì cải cách doanh nghiệp nhà nước. Đối với tình hình hiện nay, năm 2016 có gặp trắc trở nhưng 2017 mới là năm khó khăn nhất trong mấy năm gần đây. Nếu Trung Quốc không thận trọng thì có thể trở lại xu thế của năm 1998, nhưng trước kia là do Trung Quốc bị tác động tiêu cực, nhưng trong tương lai, Trung Quốc sẽ là tâm bão. Theo thống kê chính thức do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc công bố, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc trong tháng 1/2016 là 3.230,893 tỷ USD, dự báo sẽ giảm xuống còng 3210 tỷ USD, giảm 99,469 tỷ USD so với tháng 12/2015 (3.330,362 tỷ USD). Việc dự trữ ngoại hối không ngừng chảy ra nước ngoài đã gây áp lực cho đồng NDT. Hơn nữa, tỷ giá đồng NDT có liên quan chặt chẽ với những đánh giá về bất động sản và thị trường chứng khoán. Cuộc chiến giằng co trong tương lai không bao gồm toàn bộ lĩnh vực kinh tế mà chủ yếu thể hiện ở lĩnh vực tài chính tiền tệ. Mùa Đông lạnh sắp đến, Trung Quốc dựa vào sự cứu giúp của ai? Hơn 200 năm trước, sau khi chứng kiến mấy lần nước Anh rơi vào khủng hoảng tài chính, biên tập viên Walter Bagehot của tờ The Economist đã viết một tác phẩm nổi tiếng thế giới “Phố Lombard”. Ông cho rằng nhân cơ hội thị trường sụp đổ, Ngân hàng Trung ương phải gánh vác trách nhiệm của người cứu trợ. Đây chính là nguyên tắc Bagehot: Khi xảy ra khủng hoảng tài chính, Ngân hàng Trung ương phải cung cấp các khoản vay, cho dù lãi suất cho vay cao đến mức lãi suất mang tính trừng phạt thì Ngân hàng Trung ương cũng vẫn phải đóng vai trò của người cho vay cuối cùng. Năm 2017, Donald Trump đã đắc cử tổng thống Mỹ. Chính sách kinh tế bảo thủ của ông ta sẽ có thể gây ra nhiều biến động hơn cho nền kinh tế thế giới.

Đến nay Walter Bagehot vẫn luôn được coi là tổng biên tập vĩ đại nhất trong lịch sử báo chí nước Anh, thậm chí có thể là nhà quan sát kinh tế vĩ đại nhất trong lịch sử. Cho dù là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 hay là khủng hoảng tài chính tiền tệ của Trung Quốc trong tương lai gần, chúng ta đều đã lĩnh hội khả năng ứng dụng phù hợp của nguyên tắc Bagehot. Trước sự bùng nổ của khủng hoảng tài chính, Ngân hàng Trung ương một mặt khó tránh khỏi trách nhiệm như buông lỏng cho bong bóng nợ, đầu tư…, đồng thời cũng là cơ quan cứu giúp cuối cùng của khủng hoảng tài chính; quyền lực của Ngân hàng Trung ương hiện nay ngày càng gia tăng. Trong tình hình kinh tế đi xuống và sóng gió tài chính tiền tệ, là một trong những nơi “in tiền” quan trọng nhất thế giới, vai trò của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc khá lớn, chúng ta có thể kỳ vọng ngân hàng này sẽ ứng phó được tình trạng kinh tế đi xuống, thậm chí là sóng gió tài chính hay không? Trong năm 2016, ngân hàng này vẫn nắm trong tay dự trữ ngoại hối hơn 3000 tỷ USD, nếu tình hình kinh tế thế giới vẫn bình ổn thì vẫn ứng phó được, nhưng đến năm 2017, tất cả sẽ phức tạp hơn. Biến động kinh tế trong tương lai gần, quyền lực của ngân hàng trung ương các nước sẽ ngày càng tăng lên. Do ngày càng nhiều khoản nợ đến hạn phải trả, đồng NDT đối mặt với sức ép mất giá ở bên ngoài, áp lực đi xuống của nền kinh tế Trung Quốc cũng tiếp tục gia tăng. Việc tăng lãi suất của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), cơ quan in tiền nhiều nhất, và lãi suất âm của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cũn glàm cho những cơ quan in tiền khác trên thế giới gặp khó khăn. Điều này có nghĩa là Trung Quốc đã bước vào thời kỳ mới chưa từng xuất hiện trước đây. Định nghĩa về khó khăn cũng phải bắt đầu xác định lại, những người quen thuộc với cuộc sống tươi đẹp sẽ phải đối mặt với những ngày khổ sở. Nếu Trung Quốc may mắn có thể vượt qua năm 2016, thì ở thời điểm hiện nay phải chuẩn bị đầy đủ cho năm 2017, không bị lỗ là nguyên tắc đầu tư tối ưu trong thời kỳ đen tối.

Nguồn: Mạng Phượng Hoàng (Hong Kong) – 11/12/2016

TLTKĐB – 18/01/2017

Từ Cấn, phụ trách thông tinh kinh tế của phần tiếng Trung thuộc trang web Financial Time.

Cải cách thể chế chính trị và phát triển xã hội ở Trung Quốc lục địa – Phần IV


Một vấn đề xã hội khác liên quan tới lĩnh vực chính trị là quan hệ giữa Trung ương và địa phương. Chính phủ trung ương dưới nền kinh tế kế hoạch trên thực tế không thể nào thỏa mãn thích đáng nhu cầu và lợi ích của địa phương, bởi vậy cải cách kinh tế ngay từ đầu đã triển khai việc “phân quyền cho cấp dưới”, làm cho chính phủ địa phương và xí nghiệp đều có quyền tự chủ tương đối lớn. Nhưng hơn 10 năm nay việc trao quyền nhường lợi lại làm cho uy quyền của Trung ương suy yếu, chính lệnh không được thực hiện, các địa phương tự ban hành chính sách, không còn cục diện “cả nước một bàn cờ” như thời kinh tế kế hoạch nữa, sức ngưng tụ của đất nước bị công kích. Quan hệ giữa Trung ương và địa phương vốn là vấn đề đại lý xã hội cần được phát triển cân đối, nhưng việc “trao quyền nhường lợi” trước đây làm cho quyền lực chính trị và sức ảnh hưởng mà địa phương có tăng lên, chủ nghĩa địa phương phát triển lên cùng với kinh tế chư hầu, Trung ương lo lắng không chỉ là kinh tế chư hầu, vùng ven biển gần như đã trở thành cơ sở kinh ế của nước ngoài và của Hương Cảng, Đài Loan; Trung ương càng lo lắng về sự trỗi dậy của “chư hầu”, đặc biệt là thế lực địa phương sẽ kết hợp với lợi ích kinh tế của quân khu địa phương sở tại. Cải cách thể chế chính trị trước hết đụng chạm tới mối quan hệ giữa người thống trị và người bị thống trị, cũng tức là tới vấn đề lợi ích của nhân dân có được tôn trọng không; và liên quan tới đó là những vấn đề phát sinh do Trung Quốc Đại lục quá rộng lớn, đó là quyền tự chủ của chính phủ địa phương vốn coi trọng lợi ích địa phương, phải chăng được Trung ương coi trọng? Trung ương và địa phương có thể đạt được sự cân đối thích đáng hay không?

Từ năm 1994 Trung Quốc Đại lục đã bắt đầu cải cách chế độ thuế, và thự chiện chế độ phân chia thuế, thay đổi “chế độ bao biện” trước đây, tăng cường năng lực tài chính của Trung ương, có lợi cho việc Trung ương thực hiện điều tiết vĩ mô. Tỷ trọng thu ngân sách của Trung ương trong thu ngân sách toàn quốc sẽ từ 30% hiện nay tăng tới khoảng 60%; còn tỷ trọng chi ngân sách của Trung ương trong chi ngân sách của toàn quốc sẽ từ 31% hiện nay dần tăng tới 40%, sau đó thông qua việc chuyển chi để chuyển 20% tổng thu nhập từ Trung ương cho chính phủ địa phương. Việc làm này không những tăng thu nhập của địa phương, làm cho tình trạng dật gấu vá vai của các ngành chính phủ các cấp bớt căng thẳng mà còn làm cho chính phủ trung ương có năng lực giúp đỡ các vùng tương đối nghèo nàn lạc hậu, làm cân bằng sự chênh lệch lớn giữa vùng sâu trong đất liền và vùng ven biển, giữa miền Tây và miền Đông. Điều quan trọng hơn là Trung ương phải dựa vào việc này để khôi phục uy tín và năng lực điều khiển đối với địa phương, ngăn chặn tình trạng “tự ban hành chính lệnh”, “một bàn cắt rời rạc” sâu sắc thêm. Nhưng đến nửa cuối năm 1995, hiệu quả của chế độ chia thuế vẫn chưa thể hiện rõ, thu ngân sách nhà nước chưa có sự cải thiện lớn.

Từ quá trình “giải cấu trúc” chế độ cũ ở Trung Quốc Đại lục chúng ta phát hiện thấy toàn bộ hệ thống có vấn đề. Không thể hoàn toàn quy tội về điều đó cho việc thay đổi hệ thống con kinh tế, cũng không thể giản đơn nói một cách vũ đoán là do các hệ thống con khác  (xây dựng pháp chế, văn hóa, xã hội…) chưa được hoàn thiện, chưa thể phối hợp tốt với sự thách đố mà việc mở cửa kinh tế đem lại, trong khi hệ thống con chính trị với tính cách là linh hồn thì chưa thể tác động hữu hiệu để các hệ thống con khác phát huy vai trò cần có của chúng. Do vậy, ngay từ đầu những năm 80 ở Trung Quốc Đại lục đã có cuộc thảo luận: cải cách chính trị cần phát triển cùng nhịp và phối với cải cách kinh tế hay không. Đáng tiếc là cho đến nay, đặc biệt là qua sự kiện “4 – 6”, ngoài việc xây dựng chế độ công vụ viên, còn thì hành động thực chất của cải cách thể chế chính trị vẫn như lầu mây trong không trung, trong thấy đấy mà không tới đấy được, còn quyền uy của cơ quan Nhà nước và của Đảng đang suy yếu nhanh chóng, hiện tượng “mục nát” về xã hội và chính trị của Trung Quốc Đại lục đang ảnh hưởng đến toàn b6ọ đất nước.

IV/ Đặc điểm của thể chế chính trị Trung Quốc Đại lục

Theo phân tích của các học giả Trung Quốc Đại lục như La Thành Huy (Luo Chenghui)… thì chế độ chính trị và thể chế chính trị có những ý nghĩa khác nhau: “thể chế chính trị quy định và chế ước hoạt động chính trị của con người, còn sự phát triển tiến bộ của kinh tế, văn hóa, xã hội lại thúc đẩy một số khâu và mặt nào đó của chế độ chính trị không ngừng cải cách và hoàn thiện… Chế độ chính trị có tính quy định về chất, là một mặt quan trọng quyết định tính chất của xã hội, không thể cải biến sự quy định về chất này, mà vấn đề là làm thế nào để nó thể hiện đầy đủ; còn thể chế chính trị là chế độ lãnh đạo, hình thức tổ chức cụ thể của chế độ chính trị trong một giai đoạn nhất định, là hình thức biểu hiện của việc sử dụng, vận hành quyền lực nhà nước. Chế độ chính trị của cùng một nước, do những biến đổi xã hội, kinh tế, văn hóa và quan hệ giai cấp cũng như sự biến đổi của những nhiệm vụ đặt ra cho nhà nước, nên tương ứng, thể chế chính trị cũng cần được cải cách. Điều này ở bất cứ một nước nào cũng như vậy, do đó thể chế chính trị có tính khả biến rõ rệt. Có nghĩa là chế độ chính trị có sự phân biệt giữa chế độ cở bản và chế độ cụ thể của nó”.

Tức là chế độ chính là cơ bản, bất khả biến, còn thể chế chính trị là hình thức biểu hiện cụ thể của chế độ chính trị trong một giai đoạn phát triển cụ thể. Thể chế chính trị cần không ngừng được cải cách theo sự phát triển kinh tế xã hội, làm cho chế độ chính trị không ngừng hoàn thiện. Cuốn sách này của các học giả La Huy Thành… hoàn thành năm 1993, dường như in dấu quan điểm của các nhà lãnh đạo Trung Quốc Đại lục hiện nay về cải cách thể chế chính trị. Thực ra, lúc mới nêu ra việc cải cách chính trị, sự phân biệt giữa “chế độ” và “thể chế” hoàn toàn không rạch ròi, chẳng hạn năm 1979 Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Binh đều nói đến cải cách và hoàn thiện chế độ chính trị XHCN”, còn sau năm 1979, mới tương đối nhất trí nêu ra một cách cụ thể là cải cách thể chế chính trị”.

Trọng điểm thảo luận trước năm 1989 là ở chỗ phải dùng cải cách chính trị triệt để để thay đổi mối quan hệ giữa người thống trị và người bị thống trị hay là chỉ cần cải thiện sự lãnh đạo của Đảng? Đáp án ngày nay đã hoàn toàn rõ ràng: chế độ chính trị căn bản của CHND Trung Hoa từ ngày lập nước đến nay tuyệt đối không thể thay đổi, cái cần thay đổi chỉ là phương thức quản lý, mục đích là trừ bỏ chế độ quan liêu, tăng cường hiệu suất công tác của chính phủ. Theo cách nói cả La Thành Huy:

“Nội dung hạt nhân của cải cách thể chế chính trị là phát triển nền dân chủ XHCN, nâng cao hiệu suất, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ và quản lý nhà nước của nhân dân để thúc đẩy kinh tế Trung Quốc phát triển tăng tốc và xã hội tiến bộ toàn diện”.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 13 & 14

Đinh Vĩ (Ding Wei) là PGS Khoa Chính trị và Quan hệ quốc tế, Đại học Thẩm Tín Hội, Hương Cảng.

Bốn bước tiến trong cuộc gặp thượng đỉnh Trung – Mỹ


Yves Tiberghien

Cuộc gặp tuần này giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ở khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago được xem như hội nghị thượng đỉnh song phương quan trọng nhất trong hàng chục năm qua. Thế giới như chững lại để chứng kiến cuộc gặp mặt giữa hai nhà lãnh đạo quyền lực nhất thế giới, một cuộc “so găng” không hề đơn giản giữa một siêu cường suy yếu với một siêu cường mới nổi.

Sau 2 ngày với hàng loạt cuộc hội đàm, trong đó có sự góp mặt của chiến lược gia trưởng Steve Bannon và Bộ trưởng Thương mại Wibur Ross, có vẻ như 2 bên đã đạt được một vài tiến bộ. Hai nhà lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc đã hiểu nhau hơn và tìm ra được hướng giảm bớt đối đầu. Hai bên cũng đã xây dựng được một kế hoạch hành động và đồng ý về những cột mốc trong tương lai. Đây có thể coi là một bước tiến quan trọng, nếu xét đến quan điểm chống Trung Quốc dân cao chưa từng có trong chiến dịch bầu cử tại Mỹ năm ngoái.

Kết quả này khiến Canada có thể tạm thở phào. Đối đầu Trung – Mỹ hạ nhiệt cho phép Canada có thêm dư địa phát triển quan hệ đồng thời với cả hai cường quốc lớn nhất thế giới. Qua chuyến thăm, Canada nhìn thấu thái độ và mức độ thực dụng của Mỹ, điều có lẽ cũng sẽ được thể hiện trong các cuộc tái đàm phán Thảo thuận Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Cho đến nay, Tổng thống Trump vẫn đẩy căng các điều kiện đàm phán lại, nhưng không vượt quá giới hạn.

Có 4 điểm nổi bật trong cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ – Trung:

Thứ nhất, những tín hiệu tích cực từ chuyến thăm kéo dài hai ngày đã làm đẹp mặt ông Tập Cận Bình trước dư luận tò mò trong nước. Hình ảnh cô cháu ngoại Arabella Kushner của Tổng thống Trump hát ca khúc truyền thống Jasmine và đọc một bài thơ nhà Đường cho Chủ tịch Tập Cận Bình có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Trung Quốc. Cuộc họp báo sau hội nghị cũng đã nhấn mạnh đến tình hữu nghị và những cam kết của hai bên về các cuộc gặp trong tương lai.

Thứ hai, cuộc khủng hoảng bất ngờ tại Syria đã mở thêm nội dung thảo luận cho hai nhà lãnh đạo. Kết thúc tiệc chiêu đãi tối 7/4, Tổng thống Trump đã thông báo vắn tắt với Chủ tịch Tập Cận Bình về vụ không kích nhằm vào căn cứ quân sự Syria. Trước nay, Trung Quốc luôn đứng về phía Nga trong việc bác bỏ các nghị quyết trừng phạt của Hội đồng Bản an Liên hợp quốc đối với Syria, và cũng luôn ủng hộ hai chính quyền Nga và Syria. Tuy nhiên, như những gì mà Ngoại trường Rex Tillerson đã báo cáo lại về cuộc trao đổi giữa hai nhà lãnh đạo Mỹ – Trung liên quan đến tình hình Syria, quan điểm của Bắc Kinh dường như đã khác trước. Ông Tillerson nói rõ: “Chủ tịch Tập Cận Bình, tôi nghĩ, là đã bày tỏ cảm kích trước việc Tổng thống (Trump) cho ông biết tình hình, cung cấp lý do và nói rằng, như những gì truyền đạt đến tôi, là ông ấy hiểu phản ứng như vậy là cần thiết khi trẻ em bị giết hại”.

Ở bên kia địa cầu, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh cũng đưa ra phát biểu tương tự khi nói rằng Trung Quốc “sốc trước vụ tấn công hóa học mới nhất ở Syria và cực lực lên án hành động này”. Mặc dù kêu gọi các bên kiềm chế và tránh can thiệp, nhưng bà Hoa Xuân Oánh đã từ chối lên án hành động tấn công của Mỹ. Lập trường lần này của Trung Quốc trái ngược hoàn toàn với sự lên án mạnh mẽ của Nga và việc Kremlin bác bỏ vụ tấn công bằng vũ khí hóa học. Chính điều này đã khiến Bắc Kinh có được thiện chí của Tổng thống Trump.

Thứ ba, trong vấn đề thương mại đầy gai góc, hai bên đạt được tiến bộ bước đầu khi nhất trí về “kế hoạch 100 ngày” tập trung đẩy mạnh xuất khẩu của Mỹ để thu hẹp thâm hụt thương mại song phương. Trong phát biểu của mình, Bộ trưởng Thương mại Wilbur Ross tuyên bố sẽ “đóng băng” bất kỳ hành động đơn phương nào chống Trung Quốc trong giai đoạn 100 ngày này. Bộ trưởng Ross dường như đã bị thuyết phục rằng Trung Quốc có cùng mong muốn thu hẹp thặng dư thương mại vì lo ngại sẽ “tác động dòng tiền và lạm phát”.

Thứ tư, Mỹ và Trung Quốc đồng ý mở rộng Đối thoại kinh tế và an ninh chiến lược một trụ cột trong quan hệ song phương từ dưới thời Chính quyền Tổng thống Barack Obama. Theo đó, các nội dung thảo luận sẽ được mở rộng thêm hai mảng, bao gồm “hành pháp và an ninh mạng” và “các vấn đề kinh tế, xã hội”.

Liên quan đến vấn đề Triều Tiên, hai bên thảo luận khá dài nhưng không tìm ra điểm đột phá. Ông Trump muốn tiến hành biện pháp tổng thể cho tất cả các vấn đề liên quan và những khó khăn Trung Quốc đang đối mặt trong vấn đề Triều Tiên. Hai bên chỉ nhất trí sẽ chia sẻ thông tin và hợp tác trong các hành động tiếp theo. Trong khi đó, Trung Quốc có thể đã cam kết tăng áp lực lên Bình Nhưỡng. Ngoài ra, vấn đề nhân quyền và Biển Đông cũng đã được thảo luận nhưng không đi đến điểm chung. Trong khi đó vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu hoàn toàn không được nhắc đến.

Nói tóm lại, đây là một cuộc “đi săn” khó khăn đối với cả Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình, nhưng hai bên đã biết được quan điểm của nhau và nhất trí về một số bước tiếp theo, qua đó đẩy lùi nguy cơ có các hành động đe dọa đơn phương. Trong thời gian diễn ra chuyến thăm, cuộc khủng hoảng tại Syria đã tạo cơ hội tốt cho Chủ tịch Tập Cận Bình lấy được cảm tình từ Tổng thống Trump.

Nguồn: The Globe and Mail – 10/04/2017

TKNB – 11/04/2017

Yves Tiberghien là Giám đốc Viện nghiên cứu châu Á thuộc Đại học Bristish Columbia và là một thành viên cấp cao của Quỹ châu Á – Thái Bình Dương Canada.

Giai đoạn hai của cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý – Phần XI


Đường ranh giới

Trong con mắt dư luận xã hội thì có tồn tại một vạch phân cách giữa Nhà nước Xôviết và những người bất đồng chính kiến. Nhưng nó chỉ là tưởng tượng, giả tạo. Vấn đề là ở chỗ đại đa số người dân đều thấy sự giống nhau giữa chính quyền Xôviết, chế độ XHCN và kẻ thù giấu mặt của nó – đám các nhà tư tưởng, đấu tranh chống lại Nhà nước của mình. Còn hệ thống các nhà tư tưởng – những người bất đồng chính kiến là cùng một phe, trong đó màn kịch là do các nhà tư tưởng dựng nên.

Chỉ cần nêu những cái tên như Nekrasov, R. Medvedev, Z. Medvedev, Solzenhitsưn, Zinoviev, Safarevich, Snhiavski, Limonov, Orlov, Aksenov, Brodxki, Kallistratova, Rastropovich, Sakharov. Chúng có điểm chung là chống lại trật tự hiện hữu.

Trong tương lai một bộ phận người bất đồng chính kiến sẽ hối tiếc về hoạt động của mình trước đây vì đã gây thiệt hại cho đất nước mình. Một số trở thành những  người tích cực đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân mình. Một số có xu hướng thân phương Tây rõ ràng sẽ thúc đẩy việc phá hoại đất nước mình. Trong số những người ủng hộ đám bất đồng chính kiến, có người xuất phát từ lý tưởng công bằng. Họ đon giản chỉ muốn giúp những người phải chịu khổ vì quan điểm của mình, chứ không theo đuổi mục tiêu chính trị nào cả.

Những người phản ứng tiêu cực với phong trào bất đồng chính kiến thì khác hẳn nhau về mục đích riêng. Một phần trong số này mưu cầu lợi ích cá nhân, và 10 năm sau họ trở thành “những người dân chủ”. Một trong số chuyển đổi như vậy được mô tả trong cuộc phỏng vấn của Latưnhina với người bất đồng chính nổi tiếng Ginzburg, nay sống ở Paris:

Xin lỗi, thế trên cơ sở nào mà anh bị kết tội phản bội tổ quốc?

Thế trên cơ sở nào mà Solzenhitsưn bị kết tội? Điều tra viên của tôi Evgeni Mikhailovich Sauskin đã đưa ra công thức rõ ràng. Ông nói: “Không lẽ anh nghĩ các anht rừng phạt chúng tôi hai tỷ, còn chúng tôi tha cho anh sao?”

“Trừng phạt hai tỷ” có nghĩa là thế nào?

Sự việc thế này: hoạt động của Nhóm Helsinki đã ảnh hưởng tới tình trạng có lợi trong buôn bán với Liên Xô, do vậy họ đã bị thiệt hại hai tỷ. Tuy vậy, mặc cho những nỗ lực củ Sauskin, vẫn không gán được cho tôi điều 64, và lời buộc tội vi phạm các quy tắc sử dụng ngoại tệ cũng không thành công.

Evgeni MIkhailovich Sauskinh hiện bây giờ là đại biểu Hội đồng Moskva của khối “Nước Nga dân chủ” và đang dạy bảo chúng ta việc xây dựng Nhà nước pháp quyền.

Anh hoài nghi đối với viễn cảnh xây dựng một Nhà nước pháp quyền?

Tôi hoài nghi đối với viễn cảnh đó nếu như những luật gia chính của cải tổ là những người kiểu như diiều tra viên Sauskin.

Anh có tin vào sự hối cải không?

Ơn trời. Nhưng sự hối cải không bắt đầu từ nói dối. Còn vị đại tá đã săn đuổi chúng tôi, sau này kể lại trên báo “Ngọn lửa nhỏ” là ông ta rất xấu hổ, thì tôi sẵn lòng chìa tay bắt. Sauskin bắt đầu hoạt động dân chủ của mình bằng sự giả dối. Hắn miễn cưỡng thú nhận vụ Ginzburg là có, nhưng sau đó thì không có gì. Mà trong lương tâm của hắn là Mark Morozov đã chết trong tù, Tania Osipova trong nhóm Helsinki”.

Mặt khác, nhiều người ký vào tuyên bố lên án hoạt động của những người bất đồng chính kiến cho rằng, nghĩa vụ của họ là bày tỏ quan điểm của mình, bảo vệ đất nước. Họ cho rằng hoạt động của những người bất đồng chính kiến gây bất ổn định và sẽ gây nhiều hậu quả tiêu cực. Ví dụ trong số 40 viện sĩ Viện HLKH Liên Xô ký vào bức thư ngỏ lên án Sakharov, nhiều người vẫn giữ quan điểm như vậy.

Mỗi người tham gia vào cái sự đối chọi giả tạo ấy đều có thể là vì đất nước mình hay vì kẻ thù. Vào thời ấy gần như không có ai hiểu được ý nghĩa thực của sự việc. Hệ tón các nhà tư tưởng – người bất đồng chính kiến đã làm mất định hướng người dân.

4/ Các điệp viên ảnh hưởng tham gia chính quyền

Tình hình trong ban lãnh đạo

Quá trình phân rã Đảng Cộng sản Liên Xô dần dần tăng tốc. Nó cũng giống như việc trồng cây cối trên nền đất bị nhiễm bẩn chất thải công nghiệp. Đối với vài loại cây, chất bẩn cụ thể được tập trung ở phần trên, còn rễ củ vẫn sạch. Trong Đảng Cộng sản Liên Xô cũng vậy, những nhân vật xấu tập trung nhiều ở bên trên, lớp cao nhất. Điều này được hỗ trợ bởi bom nổ chậm được đặt từ khời Khrusev. Khi đó, như đã nói, quan chức Đảng ngoài “quyền con người” thông thường, thực tế còn có thêm quyền phản bội tổ quốc. Từ hồi đó và sau này, bất cứ cuộc điều tra nào của KGB vềối quan hệ hay hoạt động của ủy viên BCH TW, bí thư thành ủy, thậm chí huyện ủy, và một số loại quan chức khác đều bị cấm (khác với dân thường). Điều này đã cho các quan chức Đảng được toàn quyền hành động, tức là tạo điều kiện để điệp viên ảnh hưởng của phương Tây thâm nhập rộng rãi (từ giữa thập niên 70), và đưa dần chúng vào những vị trí then chốt.

Khi phân tích tình hình đất nước vào những năm đó, bạn sẽ thấy sự gia tăng đột biến những hành động sai lầm và vô lý của ban lãnh đạo, làm hại cho đất nước. Tầm mức của các hành động vô lý và thiệt hại của đất nước giai đoạn này thật ấn tượng. Như vậy, bên cạnh các nhà tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô, và những người bất đồng chính kiến, đóng vai trò ngụy trang nghi binh, còn có một lực lượng nữa. Đó là các điệp viên ảnh hưởng bên trong ban lãnh đạo Đảng – Nhà nước cao nhất. Tất cả bọn chúng nấp dưới bóng của những ông già tốt bụng, làm bộ như đang điều hành đất nước.

Chiến dịch “Những ông già nắm quyền”

Vào giữa thập niên 70 nổi rõ sự nhảy vọt trong hành động của đội quân thứ năm. Chúng tăng cường tiềm năng của mình và có khả năng ảnh hưởng quyết định tới những lĩnh vực chủ yếu trong đời sống của Đảng và Nhà nước. Chúng đưa vấn đề cán bộ lên hàng đầu: chỗ nào cần đưa người của mình vào, chỗ nào nên giữ lại vị trí lãnh đạo cho các ông già có công, nhưng yếu đuối, bệnh tật.

Tới giữa thập niên 70, Liên Xô trở thành đất nước do những ông già lãnh đạo. Breznhev quá già và gần như không còn khả năng lao động nhưng vẫn nắm chức Tổng Bí thư cho tới tận lúc chết. Năm 1984, Chernhenko 72 tuổi trở thành Tổng bí thư, lúc đó ông những không đủ khả năng điều hành đất nước, mà cả ZEK nữa. Nhân đây nhiều người còn nhớ cuộc tọa đàm giữa Girsin và Chernhenko được truyền trên tivi, lúc đó “lãnh tụ” gần như tất cả câu hỏi đều trả lời “rất tốt”. Người xem không rõ Tổng bí thư khi ấy có hiểu điều gì đang diễn ra không. Vào năm 1980, Tikhonov 75 tuổi, người đồng đội của Breznhev ở Dnepropetrovsk, được cử làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ông ta ngồi ở chức vụ này ngay cả khi sức khỏe sa sút, chỉ có thể tới nơi làm việc vào giữa buổi (sáng sớm là các thủ tục chuẩn bị). Các cấp thấp hơn cũng là những ông già. Một vương quốc mơ ngủ đang trải rộng ra. Ban lãnh đạo cao nhất thực tế trở nên không có khả năng hoạt động và điều hành.

Một khía cạnh khác trong hoạt động của các nhà tư tưởng là gạt bỏ những cá nhân sáng tạo mạnh mẽ, có khả năng ảnh hưởng tới hình ảnh đất nước trong tương lai. Chúng thu thập tài liệu vu khống họ, hay loại trừ bằng cách này hay cách khác. Âm mưu chống lại Kosưgin, ngăn chặn cuộc cải tổ do ông chuẩn bị được mọi người biết rõ. Mazurov và Selepin bị loại ra khỏi Bộ Chính trị của Breznhev. Về Selepin thì có tin đồng tung ra, là “Surik thép” đang dự tính thiết lập trật tự và tước bỏ những quyền tự do có được dưới thời Breznhev. Cho tới giờ nhiều điều vẫn chưa rõ về cái chết của Maserov và Kulakov, những người nổi bật trong Bộ Chính trị bằng những phẩm chất công việc và con người của họ. Maserov là nhân vật nổi bật, có uy tín to lớn, và là người có thể sẽ kế tục Breznhev. Về một người có khả năng sẽ kế tục khác là Romanov, thì có tin đồn dai dẳng (giả tạo) về việc sử dụng các dịch vụ của bảo tàng Ermitaz trong đám cưới con gái. Những tin đồn này được lan truyền rộng rãi, và tên tuổi Romanov trong mắt nhiều người trở thành biểu tượng của tham nhũng. Nhưng trong cấp cao nhất của Đảng có quyết định sẽ không phủ nhận gì hết, cứ kệ cho tin đồn tự tan đi. Phương pháp loại trừ những nhân vật, những chuyên gia mạnh mẽ, sáng tạo khỏi chức vụ của mình như thế này cũng xảy ra ở cấp thấp hơn. Các khẩu hiệu: “đừng ngoi lên”, và “mọi sáng kiến đều bị trừng trị” trở nên phổ biến.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III: Cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý, TC2 – 1999.

Nga – ASEAN: Tìm kiếm sự hợp lực kinh tế và thống nhất chính trị – Phần VI


Hệ tư tưởng: Những điểm chung

Mặc dù ASEAN cách rất xa Nga về mặt địa lý, chính Hiệp hội và các quốc gia thành viên rất quan tâm tới quan điểm chiến lược phát triển quốc gia, bảo vệ những giá trị và nguyên tắc trật tự thế giới. Một số trong những nguyên tắc này Nga đang bảo vệ, một số khác có triển vọng tốt.

Thuyết không phổ biến

ASEAN thường được so sánh với EU và thậm chí còn được coi là đối thủ cạnh tranh trực tiếp về sự thành công của dự án hội nhập. Và, người ta thường nói rằng nếu EU thống nhất các nền dân chủ châu Âu, các quốc gia gẫn gũi về mặt văn hóa và chính trị thì các thành viên ASEAN khác nhau rất nhiều. Mặc dù, lúc đầu khối được hình thành theo lý do hệ tư tưởng, như bảo vệ trước mối đe dọa cộng sản, hiện hệ thống chính trị các nước thành viên khác nhau đến mức có thể.

Tại Việt Nam, Đảng Cộng sản cầm quyền, nhưng trong đó tích cực áp dụng các hình thức thị trường vào quản lý kinh tế, trong khi không từ bỏ mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa. Tại Lào học thuyết xã hội chủ nghĩa được luận giải khắt khe hơn, còn tại Campuchia, mặc dù là chế độ quân chủ và gần gũi với Việt Nam, đảng “nhân dân” cầm quyền, phe đối lập hoạt động mạnh mẽ. Những vấn đề tham nhũng tại Philippines và Malaysia đang đánh bóng cho nền dân chủ phát triển khá tốt tại Indonesia, trong khi tại Malaysia còn có những vấn đề phức tạp liên quan đến sự minh bạch và cân bằng hệ thống bầu cử.

Hình thức quản lý của Singapore theo thước đo sự hiểu biến nền dân chủ của phương Tây còn lâu mới được hoàn thiện, tuy nhiên theo nghĩa rộng thì tốt hơn và hiệu quả hơn cuộc đấu tranh chính trị làm phân hóa xã hội ở Thái Lan, dẫn đến việc vào năm 2014 giới quân sự lên cầm quyền. Trong khi đó, giới truyền thông lại ít viết về Quốc Vương Hồi giáo Brunei, tuy nhiên những khuynh hướng quân chủ ở nước này mang sắc thái tôn giáo rõ rệt với việc áp dụng luật Hồi giáo Sharia. Cuối cùng là Mayanmar, quốc gia đang chậm chạp và đau đớn chuyển từ hình thức cầm quyền quân sự sang dân sự, đồng thời thúc đẩy hòa bình giữa các tôn giáo.

Sự đa dạng hệ thống chính trị được bổ sung bằng sự khác nhau về dân tộc và tôn giáo. Indonesia và Malaysia là một trong những quốc gia Hồi giáo lớn nhất thế giới. Người dân Philippines gần như hoàn toàn theo Cơ Đốc giáo. Thái Lan, Lào và Campuchia phần lớn là theo Đạo Phật, còn tại quốc gia láng giềng Myanmar, tín ngưỡng này thường mang hình thức cực đoan. Tại Việt Nam, Đạo Phật kết hợp với tín ngưỡng tâm linh sâu sắc, mặc dù về mặt chính thức phần lớn người Việt Nam là vô thần. Bất chấp những khác nhau đó, các nước ASEAN khá thành công trong việc phát triển kinh tế và cũng như chung sống với nhau rất tốt trong khuôn khổ một Cộng đồng.

Trong một chừng mực nào đấy có thể coi việc không áp dụng các quan điểm phổ biến đối với việc xây dựng nhà nước và lòng khoan dung đối với những đặc điểm phát triển là nguyên nhân và kết quả của sự thống nhất trong đa dạng của ASEAN. Các quốc gia Đông Nam Á không nỗ lực áp đặt các hình thức quản lý và thể chế nhà nước giống nhau cho nhau là hoàn toàn đúng đắn. Và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác liên quan chặt chẽ với cách tiếp cận như thế. Thực chất, không nói đến bất kỳ sự hội nhập chính trị nào trong ASEAN bởi vì các quốc gia thành viên ít khi cho phép mình bình luận và hơn nữa ảnh hưởng đến chính trị nội bộ của nhau. Các nước thành viên ASEAN chỉ quan tâm nhiều đến thị trường tự do hợp tác kinh tế cùng có lợi. Ví dụ, sự thay đổi chính quyền đột ngột tại Thái Lan vào năm 2014 không khiến nước này bị ruồng bỏ trong ASEAN, và mối quan hệ của chính quyền quân sự ở Bangkok với phe đối lập không khiến các quốc gia thành viên khác đặc biệt quan tâm. Trong chừng mực nào đó, những nguyên tắc này có thể dẫn đến chủ nghĩa thực dụng trong chính sách đối ngoại, tương phản với quan điểm thực tế về thế giới. Các thành viên ASEAN thừa nhận rằng những giá trị chung tồn tại, tuy nhiên chúng không liên quan đến thể chế bên trong của quốc gia: Các quốc gia ASEAN hiểu rằng những nguyên tắc chính trị không thể nâng lên tầm thống nhất đối với tất cả. Trung tâm của sự chú ý là phát triển kinh tế hoặc cùng phát triển, đáp ứng hầu hết những khiếm khuyết chính trị mà các đấu thủ bên ngoài đang chỉ trích.

Tăng trưởng quan trọng hơn tự do

Tăng trưởng kinh tế chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống các ưu tiên của hầu hết các quốc gia thành viên ASEAN. Chính mong muốn bảo đảm sự thịnh vượng và hình thành sự khác nhau đã đề cập ở trên trong các mô hình phát triển quốc gia. Tất nhiên, quá trình phát triển dân tộc của mỗi nước cụ thể, và đặc tính giới tinh hoa chính trị đóng vai trò nổi bật, tuy nhiên đối với nhiều nước trong khu vực chính tốc độ tăng trưởng thịnh vượng của người dân hiện nay là công cụ chính hợp pháp hóa giai cấp cầm quyền.

Mô hình phát triển Singapore là tấm gương như thế. Chính sự kết hợp tốc độ tăng trưởng kinh tế phi thường, hiệu quả quản lý nhà nước và sự khắt khe hệ thống chính trị đã biến Singapore trở thành tượng đài của các hệ thống chuyên chế trên khắp thế giới. “Sự thần kỳ của Singapore” vừa trở thành lý tưởng khó đạt tới vừa là lý do từ chối lý thuyết tăng trưởng kinh tế tự do tại các nước khác.

Những người biện hộ cho mô hình phát triển này cho rằng sự thay đổi chính quyền là không cần thiết nếu tầng lớp cầm quyền thực hiện, thậm chí vượt quá những cam kết về cải thiện chất lượng cuộc sống người dân. Trên thực tế, đây là phương án giao ước xã hội cổ điển tập trung: người dân từ chối ngày càng nhiều quyền cá nhân và chính trị hơn bình thường, đổi lại có được nhiều thịnh vượng và an toàn hơn bình thường.

Giao ước như thế trong trường hợp Singapore còn được củng cố bằng những khả năng kỹ thuật lớn của quốc gia.

Hệ thống số hóa theo dõi và xử lý số liệu PRISM bảo đảm sự theo dõi chưa từng có tiền lệ đối với người dân mà nhận được từ chính phủ sự bảo đảm rằng những số liệu này sẽ được sử dụng nhằm mục đích vì lợi ích của người dân. Mô hình tương tự “nhà nước – bảo mẫu” gần gũi với những khuynh hướng gia trưởng truyền thống châu Á, khi sự quan tâm của nhà cầm quyền về lợi ích của mọi người ngụ ý muốn nói là tiên nghiệm.

Ở Singapore cũng như đa số các nước Đông Nam Á tăng trưởng kinh tế và cải thiện thịnh vượng thực tế của người dân là nguồn gốc quan trọng nhất của tính hợp pháp các hệ thống chính trị. Trong khi đó, để kiểm soát chính trị, giới tinh hoa thường sử dụng đòn bẩy kinh tế, mà trong nhiều trường hợp không thể kìm được việc thu lợi tức. Vì vậy, trong xã hội các nước Đông Nam Á khuynh hướng nhà nước rất mạnh. Nhà nước ở đây là chủ thể quan trọng nhất trong không gian xã hội, mà đại diện có thể là Nhà vua và gia đình, Đảng Cộng sản hay tổn thống được bầu. Tập trung quyền lực mạnh, các tập đoàn nhà nước là nòng cốt, vai trò quan liêu lớn đến nỗi mà thường muốn mô tả các thành tích kinh tế như công lao của mình và điều này đã biện minh cho sự thiếu minh bạch.

Khó có thể nói rằng tăng trưởng kinh tế trong bao lâu thì có thể bảo đảm được sự ổn định của các chế độ ở Đông Nam Á, tuy nhiên phần lớn nhờ có sự ổn định nên đầu tư nước ngoài tiếp tục đổ xô đến khu vực này. Khế ước xã hội hiện nay tại các nước Đông Nam Á hoạt động phần lớn là do hầu hết người dân ở những quốc gia này làm nông nghiệp nên rất thụ động về mặt chính trị, còn xã hội công dân hiện vẫn chưa đạt đến mức chín muồi. Ở đó, nơi mà đang hình thành tầng lớp thành thị có học, xuất hiện cả những mối đe dọa đối với sự ổn định, chia rẽ trong xã hội, trước hết là nói đến Thái Lan và Malaysia, và trong chừng mực nào đó là Thái Lan. Không thể dự báo được, liệu giới tinh hoa chính trị Đông Nam Á có thể đáp ứng được nhu cầu của các lực lượng xã hội mới và thuyết phục họ nghiêng về hướng sự đồng tâm nhất trí truyền thống.

(còn tiếp) 

Nguồn: http://carnegie.ru

CĐQT số 12/2016

Quan hệ Việt – Trung: “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” kết nối hiệu quả với “Một vành đai, một con đường” – Phần đầu


Đúng vào dịp kỷ niệm 67 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã tới thăm Trung Quốc theo lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình. Đây là chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sau khi tiếp tục giữ vị trí này trong nhiệm kỳ mới, cũng là nguyên thủ nước ngoài đầu tiên đến thăm Trung Quốc ngay trong những ngày đầu năm mới. Chuyến thăm này có ý nghĩa quan trọng đối với việc đưa sự hợp tác giữa Trung Quốc và Việt Nam trong lĩnh vực chính trị và kinh tế đi vào chiều sâu, giúp thúc đẩy sự hợp tác kết nối giữa “Một hành lang, một con đường” và “Hai hành lang, một vành đai kinh tế”, tăng cường cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – Việt Nam.

Nhân dân hai nước có tình hữu nghị truyền thống “đồng chí – anh em”, Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhấn mạnh Trung Quốc và Việt Nam đều là các nước xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, là cộng đồng chung vận mệnh có ý nghĩa chiến lược. Để thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác giữa hai đảng, hai nhà nước, trong cuộc hội đàm với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã đưa ra 7 điểm kiến nghị gồm tăng cường sự lãnh đạo cấp cao, đưa sự hợp tác giữa hai đảng đi vào chiều sâu, đi sâu hợp tác thiết thực, tăng cường sự kết nối chiến lược, mở rộng hợp tác giữa quân đội hai nước và tăng cường sự phối hợp quốc tế. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng cho biết Việt Nam kiên trì phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” để thúc đẩy mối quan hệ đối tác hợp tác toàn diện Trung Việt,  đây là sự lựa chọn chiến lược, chính sách ngoại giao lâu dài và ưu tiên hàng đầu trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Hai nước Trung Quốc và Việt Nam núi liền núi sông liền sông. Hai nước có chế độ chính trị tương đồng, niềm tin lý tưởng tương thông, con đường phát triển tương tự nhau, tiền độ vận mệnh có liên quan và cũng coi nhau là cơ hội phát triển. Sự giao lưu giữa hai đảng ngày càng được tăng cường, các chuyến thăm thường xuyên giữa lãnh đạo hai nước đã góp phần tăng cường sự trao đổi và lòng tin ở cấp cao giữa hai đảng, hai nhà nước, thông qua sự dẫn dắt về chính trị, kết nối chiến lược phát triển. Năm 2015, hai nước đã ký tuyên bố chung, hai nhà lãnh đạo cùng chứng kiến việc ký kết một loạt văn kiện hợp tác trong các lĩnh vực như liên đảng, giao thông, du lịch, hợp tác năng lực sản xuất, văn hóa, đường sắt, năng lượng, tài chính và hợp tác đa phương. Chuyến thăm thường xuyên giữa lãnh đạo cấp cao hai nước còn có thể trực tiếp thúc đẩy sự kết nối “Một vành đai, một con đường” và “Hai hành lang, một vài đai kinh tế”, lần này hai bên đã đạt được những thành quả thiết thực trong việc thúc đẩy sự hợp tác hơn nữa ở trên biển, trên bộ và tài chính, giúp đẩy mạnh sự trao đổi về chính sách, liên thông cơ sở hạ tầng, thương mại thông suốt, lưu thông vốn và lòng dân hiểu nhau, đồng thời tăng cường xây dựng cộng đồng chung vận mệnh lấy cộng đồng lợi ích và cộng đồng trách nhiệm làm cơ sở, đem lại lợi ích cho người dân hai nước, mang lại điểm tăng trưởng mới cho hai nước, thực hiện cùng có lợi cùng thắng lợi. Sau khi Anh ra khỏi Liên minh châu Âu, Donald Trump trúng cử tổng thống Mỹ, 2017 lại là năm bầu cử của châu Âu, nền kinh tế thế giới phục hồi yếu đang đối mặt với vấn đề thiếu nhu cầu. Trong bối cảnh nhân tố khó xác định, bất ổn trên thế giới tăng mạnh, hai đảng Cộng sản, hai nước Trung Quốc và Việt Nam tăng cường hợp tác với nhau ra sao là điều mọi người đang đặt kỳ vọng. Hai nước có lý do tin rằng chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ càng làm kiên định lòng tin hợp tác giữa hai đảng, hai nhà nước, tăng thêm nhân tố ổn định mới cho nền chính trị và kinh tế thế giới.

Thương mại thông suốt đã tạo thêm sức sống mới cho sự tăng trưởng kinh tế của hai nước. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 6 và nước nhập khẩu lớn thứ 11 của Trung Quốc, trong khi Trung Quốc 12 năm liên tục là bạn hàng số 1 của Việt Nam. Năm 2016, Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN. Trong tình hình tốc độ tăng trưởng thương mại toàn cầu chậm lại, kim ngạch thương mại hai nước năm 2015 đạt 95,97 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam đứng thứ 9 trong số 116 quốc gia và khu vực mà Trung Quốc đầu tư ra bên ngoài. GDP của Việt Nam năm 2016 tăng 6,2% thấp hơn năm 2015, thúc đẩy tăng trưởng trở thành nhiệm vụ cấp bách hiện nay. Trong điều kiện chủ nghĩa bảo hộ thương mại toàn cầu, chủ nghĩa cô lập và chủ nghĩa dân túy trên toàn cầu thịnh hành, đặc biệt là sau khi Mỹ tuyên bố rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), việc Trung Quốc và Việt Nam tăng cường hợp tác kinh tế – thương mại càng có ý nghĩa lớn. Sự tăng cường hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ giúp thúc đẩy sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế giữa hai nước. Ngân hàng Thế giới khuyến nghị Việt Nam cần cải cách mang tính cơ cấu và Việt Nam đang dốc sức cải các cơ cấu kinh tế trong đó có cải cách doanh nghiệp nhà nước. Năm 2017 Trung Quốc cũng sẽ coi cải cách mang tính cơ cấu theo hướng trọng cung làm mạch chính của công tác kinh tế. Việc hai nước tăng cường sự hợp tác thiết thực trong lĩnh vực chính trị và kinh tế sẽ tạo điều kiện cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế của hai nước. Cùng với việc Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ tăng lãi suất, năm 2017 sẽ có khả năng dẫn tới sự chảy ngược thậm chí thiếu hụt đồng USD, sự tăng cường hợp tác tiền tệ và tài chính giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ giúp giảm bớt rủi ro tài chính, đặc biệt là thông qua tăng cường các phương tiện kết nối và lưu thông tiền tệ sẽ giúp tăng cường sự hợp tác thương mại và ngành nghề giữa hai nước, có lợi cho việc thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế trong khu vực. Trong thông cáo chung có nêu rõ hai nước muốn tăng cường sự hợp tác kết nối giữa “Một vành đai, một con đường” và “Hai hành lang, một vành đai kinh tế”. Trước hết hai bên phải hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và tài chính tiền tệ, cùng nhau thúc đẩy việc hợp tác xây dựng khu vực hợp tác kinh tế xuyên biên giới và các khu công nghiệp. Trung Quốc và Việt Nam có những ngành nghề có thể bổ sung cho nhau, ngành sản xuất của Trung Quốc có kỹ thuật phong phú và kinh nghiệm quản lý, mấy năm gần đây do sự điều chỉnh cơ cấu ngành nghề nên một số doanh nghiệp đang chuyển tới Đông Nam Á. Trung Quốc và Việt Nam có thể tăng cường sự hợp tác năng lực sản xuất hơn nữa trong lĩnh vực dệt may, điện tử, vật liệu xây dựng, công nghiệp phụ trợ, sản xuất trang thiết bị, điện lực và năng lượng có thể tái sinh. Điều này không những giúp thúc đẩy sự kết nối cơ sở hạ tầng giữa hai nước mà còn giúp nâng cao trình độ công nghiệp hóa của Việt Nam, thúc đẩy kinh tế – thương mại giữa hai bên phát triển nhanh, từ đó góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của ASEAN. Trung Quốc và Việt Nam có lịch sử hữu nghị lâu đời, thúc đẩy sự trao đổi hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực văn hóa, du lịch giúp người dân hai nước càng thêm hiểu lẫn nhau. Mỗi năm hai nước có 3 triệu lượt người qua lại, 10 tháng đầu năm 2016, có 2,23 triệu lượt khách Trung Quốc tới Việt Nam du lịch, tăng 55%, có trên 13000 lưu học sinh trao đổi giữa hai nước. Vì vậy hai nước rất cần phải tăng cường hơn nữa sự hợp tác trong lĩnh vực nhân văn, tin tức, văn hóa, giáo dục, du lịch và thanh niên, củng cố tình hữu nghị giữa người dân hai nước.

(còn tiếp) 

Nguồn: china168.hk – 15/01/2017

TLTKĐB – 19/01/2017