Năm điểm chính trong Thông điệp liên bang của Trump – Phần cuối


Chương trình nghị sự còn lại

Các trận chiến chính trị về bức tường trong hai tháng qua đã làm lu mờ những cuộc thảo luận về các ưu tiên khác của tổng thống. Trong bài phát biểu tại Quốc hội, tổng thống đã cố thổi sức sống vào một số ưu tiên chính sách khác của mình, bao gồm các lĩnh vực có thể – trong thời gian ít phân cực hơn – được sự hỗ trợ của lưỡng đảng.

Đầu tư cơ sở hạ tầng, một mục tiêu tổng thống hứa hẹn từ lâu nhưng không bao giờ được chính thức đề xuất, một lần nữa lại được hô hào. Ông khoe thỏa thuận thương mại mới được đàm phán với Canada và Mexico, mặc dù ông chưa bao giờ kêu gọi Quốc hội phê chuẩn thỏa thuận này một cách rõ ràng, và đây là điều ông phải làm lúc nào đó. Ông cũng nói vài câu về việc giảm giá thuốc theo toa bác sĩ và loại bỏ được việc lây truyền HIV và ung thư của trẻ em.

Khi ông chuyển sang chính sách đối ngoại – chủ đề cuối cùng trong bài phát biểu trước Quốc hội – danh sách những việc phải làm tiếp tục. Ông quảng bá việc rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung với Nga và cảnh báo rằng nếu không đạt được thỏa thuận mới, Mỹ sẽ “đầu tư nhiều hơn và đổi mới hơn” tất cả những quốc gia khác trong phát triển vũ khí hạt nhân.

Ông khoe khoang về các cuộc đàm phán đang diễn ra với Triều Tiên bao gồm hội nghị thượng đỉnh mới với Kim Jong-un vào cuối tháng Hai này. Ông cũng nói về việc kết thúc “những cuộc chiến bất tận”, một lần nữa khẳng định rằng Mỹ sẽ rút quân đội khỏi Syria và đàm phán hòa bình ở Afghanistan. Tuy nhiên, ông không đưa ra mốc thời gian nào cho quá trình này.

Về chính sách đối ngoại, tổng thống có quyền hạn khá rộng. Nếu ông Trump có thể bỏ qua những lời chỉ trích từ các nhà lập pháp và thỉnh thoảng sự không chấp thuận trong chính quyền của mình, ông có thể thực hiện một số mục tiêu của mình.

Tuy nhiên, khi nói đến chính sách đối nội, các đề xuất của ông thực sự đã chết cứng. Chính  sách đối nội, vì thế là điểm phụ trong bài diễn văn, được phát biểu không nhiệt tình lắm. Ngày mai, hầu hết những điều ông nói sẽ bị lãng quên, khi “cơn lốc chính trị Mỹ” hiện đại tiếp tục kéo qua.

Phản ứng của đảng Dân chủ

Đảng Dân chủ đang gặp khó khăn trong việc tìm được một tiếng nói cho đảng từ một người không chứa chấp, bí mật hoặc công khai, tham vọng làm tổng thống.

Thay vì nhường sự chú ý cho mộ thành viên đang muốn trở thành ứng cử viên tổng thống, đảng Dân chủ đã chọn một người mà cuộc tranh cử gần đây nhất kết thúc trong thất bại, bà Stacey Abrams của tiểu bang Georgia.

Mặc dù bà Abrams hiện không phải là một dân cử, chiến dịch tranh cử cho ghế thống đốc tiểu bang Georgia của bà đã phản ánh vị trí của Đảng Dân chủ ngày nay – đa dạng về sắc tộc và tiến bộ về chính trị.

Trong khi bài phát biểu của tổng thống ít có những đề xuất chính sách mới, thì bài diễn văn phản hồi của đảng Dân chủ do bà Abrams đọc dầy đặc với chính sách. Trong khoảng 5 phút, bà nói đến kiểm soát súng, học phí đại học cao, biến đổi khí hậu, cải cách y tế và quyền bầu cử.

Bà đổ lỗi cho đảng Cộng hòa về việc chính phủ đóng cửa, chỉ trích dự luật cải cách thuế của tổng thống là “bất lợi và chống lại” “người dân lao động” và ca tụng sự đóng góp của người di dân vào xã hội Mỹ.

Đảng Dân chủ hông phải là không có những bất đồng nội bộ. Có những câu hỏi về cách thực hiện chính sách y tế phổ cập và hạ thấp học phí đại học, làm thế nào để giải quyết bất bình đẳng thu nhập, phân biệt chủng tộc, và những loại thuế nào phải cắt giảm và phải tăng.

Họ cũng có những cuộc tranh luận riêng về chính sách đối ngoại, điều này được thấy rõ khi một số ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ trong phòng Hạ viện hoan nghênh câu nói của ông Trump về các cuộc chiến tranh nước ngoài bất tận.

Tuy nhiên, phản hồi của bà Abrams đã làm dịu đi những chia rẽ đó và đưa ra hình ảnh của đảng Dân chủ như chọn lựa những chính sách từ bi hơn so với chính sách của ông Trump và đảng Cộng hòa.

Bà Abrams nói: “Sự tiến bộ của chúng ta luôn được tìm thấy trong sự che chở, trong bản năng cơ bản của chính sách Mỹ, để làm những điều tốt cho người dân của chúng ta”.

Tuy nhiên, khi cuộc tranh cử tổng thống của đảng Dân chủ nóng lên, sự khác biệt trong đảng – và giữa những ứng cử viên chạy đua để trở thành người được đảng đề cử – sẽ trở thành hiển nhiên.

Nguồn: TKNB – 12/02/2019

Advertisements

Cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Kim: Phiên bản Việt Nam – Phần cuối


Điều gì sẽ được đề cập tới trong chương trình nghị sự tại cuộc gặp thượng đỉnh ở Việt Nam?

Vershbow: Chương trình nghị sự cần thực thi thực sự tuyên bố chung tại Singapore nhằm tính tới lộ trình mà Biegun đã nói tới, cũng như làm rõ những yếu tố đầy tham vọng trong tuyên bố đó. Tóm lại, nghị trình này cần là một sự dịch chuyển khỏi những tuyên bố mới chỉ dừng lại ở mức ý định sang việc thực thi cụ thể.

Metzl: Mỹ cần thúc đẩy phi hạt nhân hóa thực sự Triều Tiên. Việc điều này sẽ không được đặt lên bàn đàm phán là bằng chứng cho thấy cuộc gặp thượng đỉnh này sẽ bị nhận thức sai lệch như thế nào.

Manning: Một nhiệm vụ được các nhà lãnh đạo tán thành để thực hiện các cam kết ở cả hai phía: phi hạt nhân hóa, phá hủy các cơ sở làm giàu urani và các cơ sở sản xuất plutoni cấp độ vũ khí, phá hủy các tên lửa và cơ sở tên lửa, và một cam kết giám sát đầy đủ và xác minh toàn bộ chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt của Triều Tiên. Điều này đòi hỏi phải tuyên bố danh sách đầy đủ các cơ sở hạt nhân và vật liệu phân hạch, cũng như là các vũ khí hạt nhân của Triều Tiên vào một thời điểm nào đó. Thời điểm đưa ra tuyên bố trong quá trình này có thể linh hoạt. Nó có thể được tiến hành theo các giai đoạn, với vũ khí hạt nhân ở các giai đoạn sau.

Hai bên cần nhất trí nguyên tắc về các bước đối ứng nhằm xây dựng lòng tin, mỗi bước đi của Triều Tiên nhằm hủy bỏ chương trình hạt nhân của họ phải đáp ứng những nhượng bộ tương ứng từ phía Mỹ – chẳng hạn như tạm hoãn một số lệnh trừng phạt, mở một văn phòng liên lạc, viện trợ lương thực nhân đạo… Ít nhất hai bên cần nhất trí về một đề cương lộ trình để đạt được các mục tiêu đã được nhất trí.

Hai bên cũng cần nhất trí về nguyên tắc hoạt động song song trong việc phi hạt nhân hóa, và đàm phán về một hiệp ước hòa bình cũng như một tiến trình dẫn tới bình thường hóa quan hệ Mỹ – Triều.

Miyeon Oh: Cam kết rõ ràng của Triều Tiên nhằm thúc đẩy phi hạt nhân hóa. Như Biegun đã tuyên bố, cốt yếu là phải xem Triều Tiên đề xuất những gì như là “cam kết bổ sung” trên cơ sở cam kết mà nước này đã đưa ra – tháo dỡ và phá hủy các địa điểm thử hạt nhân và tên lửa (Punggye-ri và Tongchang-ri) cũng như các cơ sở làm giàu plutoni và urani (Yongbyon). Cam kết bổ sung có thể bao gồm việc tạm dừng sản xuất tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) có thể xác minh, di dời các ICBM và đầu đạn hạt nhân sang một nước thứ ba, và tạm ngừng sản xuất vật liệu phân hạch tại các địa điểm bí mật hoặc bắt đầu tháo dỡ các cơ sở hạt nhân khác ngoài Yongbyon.

Giám đốc tình báo quốc gia Dan Coats xác nhận rằng Triều Tiên khó có khả năng từ bỏ các vũ khí hạt nhân của họ. Mỹ có thể làm gì để khuyến khích tiến trình phi hạt nhân hóa và những biện pháp này sẽ diễn ra theo trình tự như thế nào?

Vershbow: Ông Coats đã đưa ra bằng chứng đáng kể cho thấy Triều Tiên vẫn chưa làm gì ngoài một vài cử chỉ chiếu lệ liên quan đến việc tháo dỡ một số bộ phận nhỏ trong cơ sở hạ tầng hạt nhân của họ, và đó không phải là phi hạt nhân hóa thực sự. Nó phản ánh một nhận định đã có từ lâu rằng chế độ Kim Jong-un, giống như các chế độ tiền nhiệm, sẽ rất miễn cưỡng từ bỏ chính sách bảo hiểm mà đại diện là năng lực hạt nhân. Họ xem vũ khí hạt nhân là thứ không thể thiếu đối với sự tồn tại của chế độ.

Tôi cho rằng nhận định của Coats được đại đa số các chuyên gia về Triều Tiên tại Mỹ chia sẻ, những người mô tả việc thiếu vắng những hành động tiếp sau cuộc gặp thượng đỉnh tại Singapore là bằng chứng cho thấy các ý đồ thực sự của Kim Jong-un.

Tôi cũng có chung sự hoài nghi này, nhưng tôi cho rằng Chính quyền Mỹ đã đúng khi tiếp tục theo đuổi một giải pháp ngoại giao và chờ xem liệu Kim Jong-un có sẵn sàng xa rời sách lược truyền thống của gia tộc Kim để đổi lấy các khích lệ về kinh tế, bình thường hóa quan hệ ngoại giao và những đảm bảo an ninh mà sẽ thuyết phục ông rằng chế độ của ông có thể tồn tại ngay cả khi không có vũ khí hạt nhân hay không.

Thay vì giả vờ đàm phán, chúng ta cần phải thử thách Kim Jong-un đồng thời đưa ra một loạt rộng rãi các ưu đãi trên bàn đàm phán. Thuật ngữ truyền thống cho điều này torng các cuộc đàm phán với Triều Tiên là “hành động đổi lấy hành động”. Trong quá khứ, điều này chỉ mang lại tiến triển có hạn, nhưng có lẽ là cách duy nhất để tiến lên nếu chúng ta muốn đạt được một giải pháp toàn diện.

Có nhiều vấn đề hóc búa cần phải giải quyết, bao gồm cả việc xác nhận và tuyên bố đầy đủ các chương trình hạt nhân của Triều Tiên. Biegun đã đưa ra dấu hiệu cho thấy Mỹ không khăng khăng yêu cầu một tuyên bố toàn diện khi bắt đầu tiến trình, nhưng phải có một giải trình đầy đủ ở giai đoạn nào đó. Nếu không, sẽ không có cách nào để biết liệu chúng ta đã loại bỏ thành công toàn bộ chương trình này hay chỉ một vài phần của nó.

Việc mở cửa các cơ sở hạt nhân của Triều Tiên cho hoạt động thanh sát quốc tế chưa bao giờ dễ dàng. Triều Tiên có thể sẵn sàng mở cửa các lò phản ứng hạt nhân của mình như một phần trong thỏa thuận chấm dứt hoạt động sản xuất nguyên liệu phân hạch, nhưng họ từng lập luận rằng việc bố trí vị trí đặt các tên lửa đạn đạo và kho lưu trữ vũ khí hạt nhân sẽ tương đương với việc trao cho Lầu Năm Góc một danh sách mục tiêu. Sẽ không dễ gì khiến họ mất đi tính kín đáo vốn ăn sâu bám rễ này.

Metzl: Triều Tiên sẽ chỉ từ bỏ các vũ khí hạt nhân của mình nếu cái giá của việc giữ chúng lại lớn hơn cái giá của việc từ bỏ chúng. Vì các nhà lãnh đạo Triều Tiên coi vũ khí hạt nhân là chính sách bảo đảm cuối cùng, nên chướng ngại vật đối với việc này sẽ là rất lớn. Chỉ Trung Quốc mới có khả năng gây áp lực đối với Bình Nhưỡng ở mức độ đó, nhưng Trung Quốc vốn dĩ đã đưa ra quyết định chiến lược là chung sống với một Triều Tiên được trang bị hạt nhân. Do đó, chính sách Triều Tiên của Mỹ cần tìm cách gia tăng phí tổn của chương trình vũ khí hạt nhân của Triều Tiên đối với Trung Quốc. Việc bình thường hóa quân đội ở Nhật Bản, tái cân bằng các cơ sở ngoại giao và quân sự của Mỹ sang châu Á và tăng cường đáng kể hệ thống phòng thủ tên lửa trên khắp khu vực sẽ là một khởi đầu tốt đẹp.

Manning: Một trong những tiền đề của các cuộc đàm phán này là “lần này sẽ khác” so với những thỏa thuận thất bại trước đó, vì Kim Jong-un còn trẻ, muốn giữ vai trò nổi bật trong vài thập kỷ, đã hứa hẹn với người dân nước ông về sự thịnh vượng kinh tế và muốn tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Nhưng cho đến nay, gần đây nhất là trong bài phát biểu năm mới của mình – mà 2/3 thời lượng dành để nói về nền kinh tế – những từ ngữ như cải cách, hiện đại hóa hay thay đổi không hề được nhắc tới. Nếu muốn có một nền kinh tế năng động hơn, ông cần tham gia hệ thống kinh tế toàn cầu và bắt đầu các cuộc đàm phán gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới và Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Đầu tư từ Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản có tiềm năng lớn. Nhưng Triều Tiên không có uy tín quốc tế, không có hệ thống pháp lý hay trọng tài thương mại nào, và có khả năng Triều Tiên không thể thực hiện được bất kỳ lời hứa hẹn đao to búa lớn nào về cơ sở hạ tầng – đường sắt, đường ống dẫn dầu khí, tuabin khí hay năng lượng hạt nhân – cho tới khi họ thực hiện những bước đi đó.

Mỹ cần khuyến khích bằng cách tiếp tục bình thường hóa quan hệ, hỗ trợ Kim Jong-un bắt đầu các cuộc đàm phán với IMF, Ngân hàng Thế giới và WTO, và đề nghị đào tạo các chuyên gia – chẳng hạn như các luật sư, thạc sĩ quản trị kinh doanh và kế toán. Mỹ cũng có thể cung cấp những sự bảo đảm an ninh – một mình hoặc cùng với Trung Quốc và Nga. Và khi xét tới niềm yêu thích môn bóng rổ và đội Chicago Bulls của Kim Jong-un, Mỹ có thể sắp xếp cho Micheal Jordan tới thăm Triều Tiên.

Trình tự có ý nghĩa quan trọng, và chừng nào họ có những bước đi lớn – chẳng hạn như Kim Jong-un đề nghị phá hủy tất cả cá cơ sở hạt nhân ở Yongbyon, trong đó bao gồm một lò phản ứng hạt nhân, cơ sở sản xuất nguyên liệu phân hạch, nhà kho và các cơ sở hạ tầng khác, thì chừng đó Mỹ nên đưa ra những phần thưởng lớn. Một cách hay để thực hiện việc này là để Hội đồng Bản an Liên hợp quốc đưa ra một nghị quyết mới, đề nghị đình chỉ một số biện pháp trừng phạt của Liên hợp quốc tương ứng với tiến trình phi hạt nhân hóa, nhưng kèm theo một điều khoản áp dụng trở lại, để nếu Triều Tiên gian lận hoặc không thực hiện được các bước đi thì Liên hợp quốc sẽ khôi phục đầy đủ các biện pháp trừng phạt. Tuy vậy, Mỹ cũng có thể đàm phán nhiều lựa chọn khác nhau – chẳng hạn như bao gồm việc cho phép xuất khẩu than hoặc nhập khẩu dầu nhiều hơn, hoặc cho phép Hàn Quốc mở cửa trở lại khu công nghiệp chung Kaesong.

Miyeon Oh: Cộng đồng quốc tế, những người ra quyết định ở Mỹ và báo giới không tin rằng Kim Jong-un sẽ từ bỏ vũ khí hạt nhân. Mỹ cần thuyết phục chế độ của Kim Jong-un rằng họ có thể sống sót sau một hiệp ước hòa bình và nhận được những sự bảo đảm về an ninh vì đã từ bỏ vũ khí hạt nhân và các hệ thống phóng. Việc thuyết phục Kim Jong-un rằng nền kinh tế của đất nước ông sẽ trở nên tốt đẹp hơn khi không có chương trình hạt nhân là rất quan trọng. Mỹ cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc phi hạt nhân hóa bằng cách duy trì cách tiếp cận đồng thời và song song nhằm tìm kiếm sự can dự cũng như sức ép ngoại giao. Vì Triều Tiên sẽ tìm kiếm những phần thưởng ngày càng lớn qua từng giai đoạn trong tiến trình phi hạt nhân hóa, nên Mỹ có thể đưa ra những biện pháp tương ứng, trong đó có việc đưa ra một tuyên bố ba bên chính thức chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên, thiết lập văn phòng liên lạc tại Bình Nhưỡng, tổ chức các cuộc giao lưu nhân dân, giao lưu văn hóa và nới lỏng các biện pháp trừng phạt về viện trợ nhân đạo.

Nguồn: www.atlanticcouncil.org – 06/02/2019

TLTKĐB – 13/02/2019

Tổng quan về chiến tranh thương mại Trung – Mỹ


Trung Quốc và Mỹ là hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, quan hệ kinh tế giữa hai nước liên quan đến sự phát triển ổn định và phồn vinh của mỗi nước cũng như của cả thế giới, tuy nhiên hiện nay mối quan hệ này đang có va chạm, có xu hướng không ngừng leo thang. Quan hệ thương mại Trung – Mỹ rơi vào tình trạng bế tắc, thu hút sự quan tâm sâu sắc của các bên, vậy xung đột thương mại vì sao xảy ra? Điều gì đã thúc đẩy Chính quyền Trump đơn phương tấn công về thuế đối với Trung Quốc? Trung Quốc làm thế nào để ứng phó? Hàng loạt vấn đề liên tục nảy sinh, các phán đoán và đối sách cũng được đưa ra. Đánh giá một cách lý trí tranh chấp thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ ra sao? Thông qua số liệu thống kê và phân tích như thế nào để làm rõ vấn đề, gia tăng kết nối và giao lưu giữa hai nước, xây dựng một số nhận thức chung của Trung Quốc và Mỹ để giải quyết chiến tranh thương mại, là điều cần được giới tham mưu Trung Quốc và Mỹ đi sâu phân tích và giải mã.

Trong bối cảnh đó, Viện nghiên cứu toàn cầu hóa (CCG) đã phân tích toàn diện và khá hệ thống quan hệ thương mại Trung – Mỹ từ nhiều mặt, phân tích từ các phương diện như nguyên nhân hình thành, động cơ từ phía Mỹ, xu hướng tranh chấp… Báo cáo cho rằng: Chênh lệch cán cân thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ do nhân tố mang tính cơ cấu ở cấp độ sâu tạo thành và bị đánh giá là nghiêm trọng, sử dụng phương thức bảo hộ nâng cao hàng rào thương mại để giảm nhập siêu thì không thể giải quyết được vấn đề. Lợi ích giữa Trung Quốc và Mỹ đan xen với nhau một cách sâu sắc, phương pháp thống kê số liệu truyền thống có sự đánh giá sai lầm nghiêm trọng đối với chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước. Cục diện vừa cạnh tranh vừa hợp tác giữa hai quốc gia trở thành trạng thái bình thường, tập trung tăng cường hợp tác là phù hợp với lợi ích của hai nước. Chiến tranh thương mại không phải là trò chơi có thắng có thua, kết quả là cả hai cùng thua và nhiều nước cùng thua, gây thiệt hại đối với hai quốc gia và toàn nhân loại. Nước Mỹ bao gồm Thượng viện và Hạ viện cũng có rất nhiều tiếng nói phản đối chiến tranh thương mại, tình hình nội bộ nước Mỹ phản đối chiến tranh thương mại có xu hướng gia tăng, đông đảo cộng đồng quốc tế cũng giữ thái độ phản đối Mỹ thực hiện chủ nghĩa bảo hộ thương mại, khả năng Trung Quốc và Mỹ khởi động đối thoại tăng lên.

Trên cơ sở nhận định những vấn đề trên, báo cáo xuất phát từ điểm căn bản chiến tranh thương mại có thể giải quyết được, làm thế nào để giải quyết chiến tranh thương mại, đã đưa ra những kiến nghị sau:

1/ Trung Quốc và Mỹ đều đang đối mặt với một số thách thức mang tính cơ cấu kinh tế, Trung Quốc và Mỹ cần nhanh chóng điều chỉnh cơ cấu kinh tế của mỗi nước, bắt đầu từ bản thân, trên cơ sở gia tăng về lượng để cùng cải thiện hiện trạng mất cân bằng thương mại. Trung Quốc và Mỹ là hai quốc gia có nền kinh tế thị trường lớn nhất thế giới, tính bổ sung cho nhau về kinh tế mạnh, cần tìm kiếm đồng thuận lớn,, để lại bất đồng nhỏ, vượt qua sự khác biệt về ý thức hệ, tránh địa chính trị hóa va chạm thương mại. Hai nước lấy xuất phát điểm là hạnh phúc của hai nước và toàn nhân loại, đổi mới hệ thống quản lý thế giới, xây dựng giá trị chung của loài người, cùng xây dựng cộng đồng chung vận mệnh của nhân loại.

2/ Phải có sự đổi mới phương pháp thống kê thương mại của Trung Quốc và Mỹ, phải từ bỏ phương thức thống kê thương mại truyền thống và lỗi thời, phải lấy phương thức chuỗi giá trị toàn cầu để tính toán thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ, phải nhìn nhận toàn diện bao gồm thương mại dịch vụ và thu nhập đầu tư tại Trung Quốc…, như vậy không những thể hiện chính xác hơn giá trị thực sự mà hai nước giành được, mà còn công bằng hơn.

3/ Thương mại dịch vụ của Trung Quốc và Mỹ trong tương lai có không gian tăng trưởng to lớn, Mỹ có xuất siêu thương mại dịch vụ để cân bằng với thương mại hàng hóa, bao gồm rất nhiều lĩnh vực như du lịch, du học, dịch chuyển nhân tài, người nhập cư đầu tiên, tiền bản quyền và thu nhập từ bên thứ ba, thương mại điện tử…

4/ Tăng cường hiệu ứng của công cụ cân bằng trong quan hệ thương mại Trung – Mỹ, các công ty Mỹ có lợi ích lớn hơn khi đầu tư ở Trung Quốc, thu nhập mỗi năm từ Trung lên tới 200 đến 300 tỷ USD, có lợi ích lớn khi đầu tư ở Trung Quốc. Thông qua ảnh hưởng của công ty xuyên quốc gia, hiệp hội, giới tham mưu, tổ chức vận động hành lang chính trị ở Mỹ để làm dịu căng thẳng quan hệ thương mại Trung – Mỹ đang ở trong tình trạng bế tắc, tiến tới quay lại quỹ đạo đối thoại hiệp thương.

5/ Tăng cường hợp tác giữa các tỉnh, thành phố của Trung Quốc với các bang của Mỹ trên các lĩnh vực như xây dựng cơ sở hạ tầng, ngành sản xuất mới, khí hậu, năng lượng…, khuyến khích các địa phương của Trung Quốc tăng cường hợp tác với chính quyền các bang  và thành phố của Mỹ, tổ chức các cuộc gặp hàng năm giữa lãnh đạo các tỉnh của Trung Quốc và các bang của Mỹ, giữa thị trưởng của Trung Quốc và Mỹ vào các thời điểm thích hợp, xây dựng tổ chức và cơ chế hợp tác, thành lập quỹ xây dựng hợp tác giữa chính quyền các tỉnh và các bang.

6/ Tiến hành khởi kiện và đối thoại hợp tác trong khuôn khổ WTO. Trung Quốc có thể khởi kiện Mỹ, lại vừa có thể đàm phán trong khuôn khổ WTO, mở rộng không gian đàm phán hợp tác, thông qua các cơ chế ba bên như WTO để giải quyết tranh chấp.

7/ Mỹ cần nới lỏng hạn chế xuất khẩu, đặc biệt là nới lỏng việc xuất khẩu sang Trung Quốc các loại máy móc công nghệ cao, thực hiện cùng thắng lợi, giảm bớt hiệu ứng tiêu cực do hạn chế xuất khẩu gây ra và cục diện không có lợi khi cắt giảm nhập siêu.

8/ Thúc đẩy Hiệp định đầu tư song phương Trung – Mỹ (BIT) hoặc đàm phán hiệp định thương mại Trung – Mỹ mới, cắt giảm trở ngại đầu tư lẫn nhau, tăng cường cải cách sâu rộng thị trường giữa hai nước. BIT là nền tảng cơ chế quan trọng để bảo vệ quan hệ đầu tư và quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ.

9/ Duy trì cơ chế đa phương toàn cầu, thúc đẩy hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ trong quản lý thế giới, thúc đẩy hình thành cơ chế hợp tác đa phương châu Á – Thái Bình Dương, đẩy nhanh xây dựng hệ thống thương mại đa phương khu vực, Trung Quốc trong tương lai có thể xem xét gia nhập CPTPP. Trung Quốc và Mỹ tăng cường quản lý thế giới, có không gian hợp tác to lớn trong tổ chức nhân tài thế giới, liên minh thương mại điện tử quốc tế, hợp tác công nghệ số toàn cầu, có thể hoàn thiện hợp tác hiệp thương hệ thống quản lý thế giới.

10/ Phát huy vai trò của “ngoại giao kênh hai” (trái ngược với ngoại giao kênh một giữa các chính phủ, ngoại giao kênh hai thường chỉ giao lưu giữa các học giả, quan chức nghỉ hưu của các nước – ND) thúc đẩy kết nối giữa hai nước. Nâng cao trình độ giao lưu ngoại giao, khuyến khích các tổ chức dân sự, tổ chức phi chính phủ (NGO), giới nghiên cứu, hiệp hội thương mại Trung Quốc và Mỹ… phát huy vai trò “ngoại giao kênh hai”, hình thành kênh kết nối và cơ chế đối thoại hiệu quả, linh hoạt, phụ trách truyền đạt tiếng nói của hai bên, tích cực hỗ trợ hai nước xóa bỏ hiểu lầm, giảm bớt bất đồng và cuối cùng đưa ra phương án giải quyết.

Nguồn: www.ccg.org.cn

CĐQT số 10/2018

Cổng nhà – Phần X


Mùi tiền

Dòng tiền đầu tư xuyên biên giới tồn tại dưới ba hình thức: nợ, bao gồm các khoản nợ ngân hàng, trái phiếu và các công cụ kinh tế khác; danh mục đầu tư – bao gồm cổ phiếu công ty; và đầu tư trực tiếp nước ngoài, công cụ cho phép một cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài có quyền sở hữu tài sản vật chất trong nước như nhà máy hoặc mỏ. Trong đó, nợ có khả năng gây ra tổn hại kinh tế nghiêm trọng nhất. Thực tế, nó là nguyên nhân gây ra những đợt suy giảm sản lượng và tổn thất tài sản lớn nhất đối với nền kinh tế thế giới ở kỷ nguyên thứ ba, hậu những năm 1990. Nhưng hoạt động mua cổ phiếu và đầu tư nước ngoài mới vấp phải sự phản đối dữ dỗi nhất về mặt chính trị. Đã liên quan đến tiền thì thực tế cho thấy cái ít gây thiệt hại nhất lại là vấn đề gây tranh cãi nhất trong chính trị.

Chúng ta khó nhìn thấy vốn nước ngoài đầu tư vào các công ty tư nhân – dưới dạng người nước ngoài mua cổ phần hoặc xây dựng nhà xưởng – gây thiệt hại kinh tế trong nước như thế nào. Nói cho cùng, đầu tư chính là chìa khóa để có tăng trưởng, mà như đã nói, tăng trưởng là mục tiêu cao nhất của chính sách kinh tế, đúng hơn là của chính sách công nói chung ở hầu khắp mọi nơi. Đầu tư có được là nhờ tiết kiệm, và tiết kiệm đòi hỏi con người phải hy sinh: theo định nghĩa, tiền tiết kiệm là tiền không đem ra để tiêu dùng. Khi đầu tư, các hộ gia đình, doanh nghiệp và cả quốc gia phải hy sinh hiện tại để có tương lai tốt đẹp hơn. Đầu tư nước ngoài đã tận dụng được tiền tiết kiệm của mọi người, cho phép một quốc gia vừa làm bánh vừa được thưởng thức nó, tức là được tiêu dùng ở hiện tại, nhưng vẫn có lợi trong tương lai. Thương mại quốc tế làm mất đi việc làm trong nước. Nhưng đầu tư nước ngoài lại tạo việc làm. Chính những nước bỏ tiền ra đi đầu tư ở nước khác mới có lý do để phàn nàn – rằng tiền của họ lại không được đầu tư tạo việc làm trong nước.

Hơn nữa, nhìn chung mọi người không tâm kỹ đến quốc gia bỏ vốn cho họ, chưa nói đến họ từ chối vốn đầu tưv ì lý do có nguồn gốc tệ hại. Có một câu ngạn ngữ cổ La Mã về suy nghĩ bất biến này của con người: pecunia non olet – tiền thì làm gì có mùi. Vậy tại sao vốn đầu tư nước ngoài lại là ngoại lệ?

Tương tự vấn đề nhập cư, nguyên nhân dẫn đến phong trào chính trị phản đối vốn đầu tư nước ngàoi không chỉ đơn thuần là vì kinh tế. Đầu tư dẫn đến vấn đề quyền tài sản và khi có quyền tài sản, người đầu tư sẽ kiểm soát chúng. Việc người nước ngoài kiểm soát tài sản trong nước có vẻ như vi phạm quyền tự chủ quốc gia. Cũng như nhập cư, đầu tư dường như một hình thức xâm lược, làm người dân trong nước bị tước đoạt một thứ rất quan trọng, quý giá – đó là quyền kiểm soát quốc gia của chính mình – khi bị người nước ngoài chi phối các vấn đề chính trị và kinh tế. Đầu tư nước ngoài vấp phải sự phản đối khi nó bị coi là na ná với hành vi thôn tính một công ty khác, hay một cách ví von khác: nó tương tự như con ngựa gỗ thành Troy, công cụ giúp đối thủ tiềm năng giành được quyền kiểm soát các tài sản quan trọng mang tính chiến lược.

Quan điểm coi đầu tư nước ngoài là phương tiện nhằm chi phối chính trị một cách bất hợp pháp đã trở nên rất phổ biến ở thế kỷ 20, vì nó là một phần cảu một trong những hệ tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất giai đoạn này – chủ nghĩa Marx – Lenin. Marx coi tất cả tài sản cá nhân là công cụ phục vụ áp bức giai cấp, và các đảng cộng sản đi theo tư tưởng của ông đều thủ tiêu nó. Lenin, người sáng lập nước Liên Xô, còn mở rộng quan điểm đó lên tầm quốc tế. Ông khẳng định đầu tư nước ngoài – cái mà ông gọi là “vốn tài chính” – sẽ dẫn đến mở rộng chủ nghĩa đế quốc, và tham vọng mở rộng sẽ khiến các nước đế quốc không thể tránh khỏi chiến tranh. Theo ông đây chính là lý do nổ ra Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Không như Lenin nghĩ, các quốc gia tư bản cho thấy họ có thể trở nên giàu có mà không cần thuộc địa, đồng thời có thể chung sống hòa bình với nhau. Nhưng quá trình mở rộng chủ nghĩa đế quốc cũng có sinh ra đầu tư nước ngoài, và đôi khi có làm chủ đầu tư giàu lên, còn người dân địa phương thì nghèo đi. Ví dụ, lợi nhuận từ sản xuất nông nghiệp và khai thác nguyên liệu thô ở các thuộc địa châu Á và châu Phi thường thuộc về nhà đầu tư nước ngoài châu Âu chứ không phải người bản địa.

Vì vậy, khi những đế quốc châu Âu cuối cùng sụp đổ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, lãnh tụ trong nước lên nắm quyền ở các thuộc địa cũ thường phản đối đầu tư nước ngoài. Các chính phủ cộng sản còn cấm mọi hình thức đầu tư tư nhân bất kể là trong hay ngoài nước, còn các nước theo đuổi chiến lược thay thế hàng nhập khẩu thì tìm cách ngăn chặn cả dòng vốn lẫn hàng hóa từ bên ngoài.

Nhưng đến thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, quan điểm kinh tế và chính trị về dòng vốn xuyên biên giới đã thay đổi. Sự nghi ngờ cơ chế kế hoạch hóa tập trung và chiến lược tăng trưởng nhờ thay thế nhập khẩu đã làm dịu bớt tiếng xấu của đầu tư nước ngoài – một phần không thể thiếu của cả hai con đường nói trên. Hoàn toàn không còn bị coi là một phương tiện khai thác, giờ đây, đầu tư nước ngoài được xem là một công cụ hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao nhất. Trung Quốc là một ví dụ với việc thành lập các “đặc khu kinh tế” với các quy định hết sức thân thiện với vốn đầu tư nước ngoài.

Cùng lúc đó, dòng vốn quốc tế cũng đổi hướng. Vào thế kỷ 19, có thể nói nó chảy “xuôi”, từ nước giàu đến những nước kém phát triển hơn: Đế quốc Anh, nhà đầu tư nước ngoài chính, đồng thờicũng là quốc gia giàu nhất thế giới. Sau năm 1945, tình thế thay đổi theo chiều ngang: các quốc gia phương Tây đầu tư lẫn nhau. Nhưng từ thập niên 1990, vốn bắt đầu chảy “ngược”, từ nước nghèo sang các nước giàu hơn, đặc biệt là từ Trung Quốc – một quốc gia có hàng trăm triệu người đang ở mức rất nghèo – sang Mỹ.

Mô hình thứ ba này tồn tại vì nhiều lý do khác nhau, các nhà đầu tư vốn mới đã kiếm được nhiều lợi nhuận nhờ thương mại với phần còn lại của thế giới, và họ quyết định đầu tư một phần số tiền kiếm được vào châu Âu và Bắc Mỹ. Một đôi lần, đề xuất đầu tư của họ gặp phải phản ứng thù địch về chính trị, vì quốc gia đầu tư vừa không dân chủ, vừa không thân thiện, và vì vốn đầu tư không đến từ khu vực tư mà từ chính phủ.

Năm 2005, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc – một công ty nhà nước – đã nỗ lực mua lại công ty dầu khí Mỹ Unocal. Năm 2006, Dubai Ports World, một tập đoàn khác sở hữu chính phủ Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) cũng muốn mua công ty Tàu biển và hậu cần P&O (Peninsular and Oriental Steam Navigating), là công ty có trụ sở ở London và quản lý một số cảng ở Mỹ. Trong cả hai tình huống, sức ép phản đối của xã hội đã buộc các bên phải hủy bỏ thương vụ. Năm 2009, công ty khai thác mỏ Úc – Anh Rio Tinto đã rút khỏi thảo thuận bán một tỷ lệ nhỏ cổ phần cho một công ty Trung Quốc. Năm 2012, Ủy ban Tình báo của Hạ viện Mỹ đề nghị các công ty Mỹ không mua hai công ty viễn thông lớn của Trung Quốc là Huawei và ZTE, đồng thời cũng cấm hai công ty này mua lại các công ty của Mỹ. Đằng sau mỗi sự vụ đều là mối lo ngại người nước ngoài sẽ kiểm soát các tài sản mang tầm quan trọng chiến lược trong nước.

Đầu tư từ Trung Quốc gây ra lo ngại đặc biệt hơn vì Trung Quốc là một quốc gia lớn, ngày càng hùng mạnh và đang là mối đe dọa với các nước láng giềng, là kẻ thù đối với các cường quốc phương Tây. Các công ty Trung Quốc có thể về danh nghĩa là tư nhân, nhưng thường đều có mối quan hệ mật thiết với chính phủ. Nên người ta lo ngại rằng vốn đầu tư của Trung Quốc ra nước ngoài có thể có mục tiêu chính trị nhiều hơn là lợi nhuận. Thông qua sở hữu tài sản ở nước ngoài, các công ty Trung Quốc có thể lấy được những công nghệ nhạy cảm, có giá trị về quân sự, hoặc tham gia vào hoạt động tình báo, thậm chí lật đổ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Indonesia: Di sản lẫn lộn của chương trình cải cách – Phần cuối


Cải cách quân đội

Cải cách quân đội Indonesia mang lại kết quả lẫn lộn. Về phần tích cực, các lực lượng vũ trang chính thức nằm ngoài chính trị, sau khi đã gỡ bỏ tư tưởng dwifungsi (“chức năng kép”, trong tiếng Indonesia), điều hợp pháp hóa sự tham gia các vấn đề chính trị và an ninh. Quân đội cũng đã ngăn sĩ quan tại ngũ nắm giữ các vị trí dân sự trong bộ máy hành chính và các doanh nghiệp quân đội cũng đã ngừng hoạt động. Nhiều doanh nghiệp quân đội đã bị phá sản sau cuộc khủng hoảng tài chính trong khi phần còn lại phải chuyển nhượng cho chính phủ vào năm 2009 theo luật.

Về phần tiêu cực là những dấu vết của cách làm theo Trật tự mới. Một mặt, hệ thống địa hạt phổ biến của quân đội vẫn giữ nguyên, được cho là một phần cốt yếu để giám sát xung đột tiềm tàng nhưng theo giáo sư Marcus Mietzner, là “nền tảng quyền lực của quân đội từ những năm 1950”. Ở cấp địa phương, quân đội cũng tham gia phát triển, như hỗ trợ an ninh lương thực thông qua việc phân phát gạo và xây dựng đường sá. Đối với các cộng đồng vùng xa, sự hỗ trợ của quân đội là chính đáng. Tuy nhiên, một số nhà phân tích lập luận rằng hệ thống này chỉ củng cố vai trò an ninh nội địa của quân đội thay vì cải cách, và hạn chế sự phát triển năng lực của các cơ quan dân sự. Kết quả là một lời tiên đoán tự chứng minh là đúng: Một số cộng đồng càng phụ thuộc nhiều vào dịch vụ của quân đội, quân đội sẽ càng lập luận chức năng cung cấp dịch vụ của họ là thiết yếu.

Thế hệ lãnh đạo quân đội hiện nay không mang vết nhơ vi phạm nhân quyền như các chỉ huy trong thời kỳ chiếm đóng Timor Leste. Nhiều người đã trải qua phần lớn sự nghiệp của họ trong kỷ nguyên hậu Trật tự mới. Do đó, đã có những sự thay đổi trong thái độ và niềm tin của quân đội về vai trò của mình trong chính trị và việc sử dụng bạo lực.

Đồng thời, nhiều nhân vật kỳ cựu của Trật tự mới có ảnh hưởng trong các vị trí dân sự. Cựu lãnh đạo Các lực lượng vũ trang quốc gia Indonesia (TNI) từ năm 1998 đến 1999, Tướng Wiranto, hiện nắm một vị trí quan trọng trong nội các của Jokowi với tư cách là Bộ trưởng điều phối các vấn đề chính trị, tư pháp và an ninh. Bên cạnh đó là cựu chỉ huy các lực lượng đặc nhiệm kiêm doanh nhân, tướng Luhut Panjaitan, với tư cách Bộ trưởng điều phối các vấn đề hàng hải và cựu chỉ huy lục quân, tướng Ryamizard Ryacudu, với tư cách Bộ trưởng Quốc phòng. Mô hình này đã tiếp tục thậm chí với các sĩ quan thuộc thế hệ trẻ hơn. Tướng Moeldoko, tư lệnh quân đội từ năm 2013 đến 2015, hiện là Bộ trưởng nội các.

Jokowi cũng đã tìm cách xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp hơn với quân đội vì sự ủng hộ chính trị của quân đội vẫn được coi là không thể thiếu cho thành công trong bầu cử. Ông là tổng thống đầu tiên không có lý lịch tinh hoa và mặc dù có sự ủy nhiệm mạnh mẽ để lãnh đạo, ông biết rõ rằng các khả năng phi quân sự của ông cần vốn chính trị của các lực lượng vũ trang.

Vẫn có một cách hiểu, chủ yếu của các nhóm nhân quyền và các nhà hoạt động dân chủ, rằng bất chấp cải cách, quân đội tránh được trừng phạt nghiêm khắc vì vi phạm nhân quyền. Năm 2013, các binh sĩ đeo mặt nạ của lực lượng đặc nhiệm lục quân (Kopassus) đã bố ráp một nhà tù ở Nam Java, bắn chế 4 người bị tạm giữ. Cái chế của những người bị tạm giữ, được gọi là preman hay gangster, là đòn trả đũa vì họ được cho là giết hại một binh sĩ Kopassus khác trong một vụ gây lộn ở quán bar. Khi các binh sĩ bị kết án vì giết người mà không qua xét xử, cộng đồng địa phương đã biểu tình để ủng hộ hành động của họ, lập luận rằng nhờ những cái chết này mà xã hội đã bớt đi một tai ương. Nói cách khác, cộng đồng ủng hộ quân đội, thay vì cảnh sát, thực thi luật pháp. Người dân còn bảo vệ các binh sĩ hơn nữa vì các thành viên Kopassus đã hỗ trợ nhân đạo sau một vụ phun trào núi lửa nghiêm trọng nhiều năm trước. Trong mắt cộng đồng, quân đội là người bảo vệ thực sự của họ.

Hai thập kỷ sau khi chịu tai tiếng đen đủi, quân đội Indonesia vẫn là một trong những thể chế đáng tin cậy nhất đất nước, theo các cuộc thăm dò. Mặt khác, cảnh sát là một trong những thể chế ít đáng tin cậy nhất. Những cách hiểu tích cực này đã góp phần gia tăng vai trò của quân đội trong chống khủng bố, được ghi vào những bản sửa đổi mới nhất luật chống khủng bố. Bất chấp Trật tự mới đã kết thúc, có một điều rõ ràng: Quân đội duy trì ảnh hưởng thông qua những hình thức tham gia chính trị phức tạp và khôn khéo hơn, trái ngược lại những kỳ vọng về quy tắc quan hệ quân sự – dân sự.

Xã hội dân sự phần lớn vẫn tỏa sáng

Điểm sáng trong kỷ nguyên hậu Trật tự mới của Indonesia là xã hội dân sự. Trong đó có những tổ chức Hồi giáo như Muhammadiyah và Nahdlatul Ulama, đều được thành lập vào đầu nhữmg năm 1990 và đóng một vai trò quan trọng ủng hộ các nhà hoạt động sinh viên vào năm 1998. Các nhóm khác bao gồm xã hội dân sự ngày nay đại diện cho một loạt rộng lớn của các tôn giáo, lợi ích, bản sắc và quyền lợi. Trong khi Trật tự mới đã bóp nghẹt tự do chính trị, nó cho phép công chúng tham gia vào các vấn đề dân sự, dù thông qua các chương trình do nhà nước quản lý để hỗ trợ cho các giá trị dân tộc. Khi có sự thay đổi, không khó để năng lượng của các nhóm hoạt động này được chuyển sang các mục tiêu mới để hỗ trợ mục đích dân chủ.

Dù lớn mạnh trong 2 thập kỷ, quyền tự do lập hội và biểu đạt hơn này có một số giới hạn. Chẳng hạn, những hoạt động ngày càng lớnt iếng của các nhóm Hồi giáo theo đường lối cứng rắn hơn ở một nước Indonesia dân chủ đã gây kinh ngạc. Tháng 7/2017, chính phủ đã đề xuất một quy định cho phép Bộ Tư pháp cấm những tổ chức quần chúng nhất định mà không cần đến tòa án. Trước đây các nhóm bị cảnh cáo 3 lần trước khi bị giải tán thông qua quá trình pháp lý. Bộ trưởng điều phối các vấn đề chính trị, an ninh và pháp lý Wiranto giải thích rằng quy định “không nhằm giới hạn tự do lập hội, nó đơn thuần nhằm duy trì đoàn kết và bảo vệ sự tồn tại của đất nước”. Kể từ đó chính phủ đã sử dụng quy định này để cấm Hizbut Tahrir Indonesia, một tổ chức Hồi giáo bị cáo buộc là phá hoại hệ tư tưởng dân tộc Pancasila. Những người chỉ trích nói việc cấm Hizbut Tahrir Indonesia, vốn cũng bị cấm ở một số nước Hồi giáo, đặt ra một tiền lệ nguy hiểm về cách dùng sai nguyên tắc này trong tương lai.

Một bước tiến, hai bước lùi

Trong khi các chính trị gia người Java vẫn nắm độc quyền các chức vụ chính trị hàng đầu, các nhóm sắc tộc khác được trao quyền nhiều hơn để đại diện chính trị bên ngoài thủ đô. Sự phi tập trung hóa đã dẫn đến “sự phục hưng của các bản sắc địa phương”, trái ngược với các chính sách “đồng nhất hóa” của Trật tự mới, vốn đưa các quan chức người Java và người Sunda vào chính quyền địa phương. Hiện nay, cử tri có thể chọn ứng cử viên địa phương làm đại biểu cho họ, với quan hệ cộng đồng của các ứng cử viên (cùng với chiến thuật bảo trợ) được coi là sống còn cho thành công. Để hấp dẫn nhiều cử tri nhất có thể trong một khu vực nhất định, nhiều ứng cử viên được khuyến khích chọn đối tác tranh cử thuộc sắc tộc hay tôn giáo khác. Hiệu ứng chung là có sự ổn định lớn hơn cũng như sự hợp tác giữa các nhóm trên khắp quốc đảo.

Tuy vậy, sự sụp đổ thu hút nhiều chú ý của thị trưởng Jakarta và cựu cấp phó của Jokowi, Basuki Tjahaja Purnama (còn được gọi là Ahok), một người Hoa theo đạo Cơ đốc, vào năm 2016 điển hình cho những cách thức trong đó sự thiếu bao dung sắc tộc và tôn giáo có thể bị thổi bùng vì mục đích chính trị. Một người dùng truyền thông mạng xã hội đã đăng tải một đoạn video đã biên tập có hình Ahok đọc một đoạn kinh Koran. Các đối thủ chính trị nắm lấy lời của Ahok, gọi đó là báng bổ, một tội theo luật Indonesia, kêu gọi bắt giữ ông và huy động các cuộc tuần hành quần chủ để bảo vệ đạo Hồi. Mặc dù không phải tất cả người biểu tình đều phản đối gốc gác dân tộc của ông, tình cảm bài Hoa theo bản năng trong sự bàn luận công khai gợi nhớ lại làn sóng thù ghét của năm 1998. Ám ảnh với bạo lực của kỷ nguyên đó, cộng đồng người Hoa ở Jakarta lo sợ bị trả thù và có thể bị ngăn cản leo lên những đỉnh cao chính trị như vậy vì sợ rằng sắc tộc sẽ một lần nữa được sử dụng làm một thứ vũ khí.

Sự không khoan dung ngày càng tăng trong công luận cũng được nhằm vào cộng đồng LGBT của Indonesia. Các nhóm nhân quyền đã chỉ trích sự xói mòn dần dần việc bảo vệ cho các quyền thiểu số thông qua các vụ đàn áp của cảnh sát và các nhóm dân phòng. Các bộ trưởng trong nội các của Jokowi đã lên tiếng phản đối các hoạt động của LGBT, gọi chúng là những điều xấu xa của phương Tây nhằm để phá hoại sự gắn kết xã hội Indonesia. Như tác giả Sana Jafrey lưu ý mới đây, xu hướng hạn chế xã hội dân sự Indonesia không chỉ là về nhân rộng các quan điểm không bao dung mà còn là “đưa các lợi ích và nguồn lực của nhà nước trở lại vào không gian công cộng”.

Dẹp nạn tham nhũng

Tham nhũng vẫn là một đặc trưng của chính trị và xã hội Indonesia. Việc phi tập trung hóa các nguồn quỹ xuống các khu vực cũng có nghĩa là phân phối lại tham nhũng. Theo Chỉ số nhận thức tham nhũng 2017 của tổ chức Minh bạch Quốc tế, Indonesia xếp 96 trên 180. Việc thành lập các cơ chế giám sát, chịu trách nhiệm pháp lý và khởi tố tốt hơn, như Ủy ban diệt trừ tham  nhũng (KPK) thành lập năm 2002, là những nỗ lực mạnh mẽ để kiểm soát tham nhũng. Việc bổ sung “bài kiểm tra độ thích hợp” dành cho các đại biểu dân bầu cũng như các chỉ huy quân đội và cảnh sát nhằm đưa sự minh bạch nhiều hơn vào vị trí lãnh đạo. Tự do báo chí có nghĩa là các vụ án có tiếng được đưa lên trang nhất.

KPK là một ngọn đèn hy vọng, bất chấp những cuộc tấn công vào quyền lực và nhân viên của ủy ban này. Tháng 4/2017, nhà điều tra Novel Baswedan đã mù hẳn một mắt và mù một phần mắt kia khi bị tạt axit vào mặt. Đó là lần thứ 6 ông bị tấn công khi làm việc. Thành công của ông trong việc kết tội các chính trị gia và thậm chí chánh án Tòa án hiến pháp Indonesia, bị bắt trong một chiến dịch giăng lưới vì nhận hối lộ để phán quyết bầu cử, đã biến ông thành mục tiêu. Tuy thế, KPK tiếp tục chiến đấu chống tham nhũng, vào tháng 10/2017 đã bắt giam một trong những nghi can cao cấp nhất, chủ tịch Hạ viện Setya Novanto, người liên quan đến các khoản lỗ nhà nước trị giá 225 triệu USD trong một phần của kế hoạch làm thẻ căn cước công dân.

Indonesia đang hướng về đâu?

Trong bối cảnh đó, bất chấp sự gia tăng ngay lập tức tình trạng bạo lực, Indonesia đã không “Balkan hóa” như nhiều người đã dự đoán sẽ diễn ra vào năm 1998. Giới lãnh đạo thời ngay sau Trật tự mới, đặc biệt là Habibie, đã đi những bước dài tiến tới cải thiện khủng hoảng kinh tế mà nước này phải đối mặt trong khi đem lại các quyền tự to chính trị và sự chia sẻ quyền lực mà đem tới sự ổn định lớn hơn.

Khi Indonesia hướng tới thập kỷ dân chủ thứ 3 của mình, quả thực đã có những dấu hiệu đáng lo ngại về sự suy giảm một số chủ quyền và quyền tự do nhất định. Một số nhân vật chủ chốt từ Trật tự mới vẫn còn, thậm chí đảm nhận chức vụ trong nội các của Jokowi. Tuy nhiên họ hoạt động ở một nước Indonesia khác, một nơi mà người dân Indonesia kỳ vọng và sẽ vận dụng trách nhiệm của mình trong các cuộc bỏ phiếu. Trong khi Indonesia có thể không phải là một nền dân chủ tự do, các truyền thống dân chủ bầu cử, quy trình pháp lý, các nhóm nhân quyền, báo chí sôi động và xã hội dân sự của nước này mang đến một sức mạnh nội tại mà có lẽ không phải luôn được truyền tải bên cạnh những tít báo đau buồn. Bất chấp nhiều bất lợi, Indonesia đã sống sót qua sự chuyển giao dân chủ và tiếp tục phát triển.

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/06/the-mixed-legacies-of-indonesias-reformasi/

TLTKĐB – 09/08/2018

Cuộc chiến virus tâm lý – Phần cuối


INTERNET VÀ CÔNG NGHỆ MẠNG LƯỚI

Chúng ta tổng kết tiếp. Nhận thức được rằng Internet và các công nghệ mạng ngày nay đã trở thành một thứ vũ khí thực thụ mà nhờ nó các nhà quân sự phương Tây, trong số đó có Hoa Kỳ, thực hiện các chiến dịch thiết lập kiểm soát chiến lược lên những lãnh thổ riêng rẽ và các quốc gia, chúng ta đi tới một kết luận không mấy an ủi. Với nhiều người, không loại trừ Nga, đó là vấn đề thật sự. Chính các cơ quan quân sự các nước phương Tây trong khía cạnh thực hành đã sử dụng các công nghệ mạng, như vũ khí meme (memetic warfare), đồng thời hiện thực hóa các chiến lược chiếm chính quyền và thiết lập kiểm soát chính trị lên các nước bằng những công nghệ cách mạng rối búp bê.

Chúng ta tìm thấy một trong những hình thức của chiến tranh mạng là công nghệ cách mạng Twitter đã được sử dụng tích cực từ lâu, và cơ sở của khái niệm quân sự Hoa Kỳ hiện đại là cuộc chiến không đổ máu giữa những con sâu thông tin, dẫn đến việc là việc phi chủ quyền hóa và thiết lập kiểm soát chính trị trực tiếp.

Vũ khí meme, công nghệ cách mạng rối búp bê như một nâng cấp của sự đa dạng các chiến dịch thực hiện trong lĩnh vực chiến tranh mạng, từ lâu được cơ quan quân sự Hoa Kỳ sử dụng thành công trong không gian Âu – Á và nói riêng là ở phe Liên Xô cũ, cũng như trong thế giới Arab (loạt “cách mạng màu của mạng lưới”), do đó, chúng là hiểm họa trực tiếp cho chúng ta. Trên lãnh thổ Nga những năm gần đây, một cuộc chuẩn bị ráo riết những điều kiện đủ nhằm thực hiện các kịch bản phi chủ quyền hóa bằng cách sử dụng mạng xã hội và Internet đang được tiến hành. Để làm điều đó, một môi trường tương ứng được hình thành, là điều kiện cần để khởi động và thực hiện kịch bản sau: Internet hóa toàn cầu, tin học hóa, phổ biến những thiết bị điện tử mới nhất (iPhone, iPad) và những mạng xã hội hiện đại Twitter, Facebook,…

Các meme mạng mang tính phá hoại được tích cực tạo ra, áp đặt rồi quay vòng. Ví dụ cho những meme thiếu xây dựng như thế là các công thức ta đã xem xét như “Nước Nga thống nhất – đảng của những kẻ lừa đảo và trộm cắp”, cũng giống như các khái niệm như “Putin – tham nhũng”, “Putin – Kabayeva” và những scandal thông tin đi èm với chúng. Nhờ những meme như thế mà trong ý thức quần chúng hình thành những liên tưởng tiêu cực với những khái niệm “Putin” và “Nước Nga thống nhất”, mà trong trường hợp chiến thắng của hai chủ thể chính trị này bất cứ lúc nào cũng sẽ gợi lên sự từ chối đồng loạt có ý thức hoặc vô thức, tạo nên bởi sự không đồng điệu thuần lý của nhận thức xã hội và được lập trình bằng việc truyền đi những meme đã nêu hay meme tương tự khác. Tình hình càng trầm trọng thêm bởi việc thực hiện công nghệ rối búp bê mà phần lớn (tới 60%) nội dung trên Internet chỉ do 2% người dùng mạng tích cực tạo ra, những người có liên quan trực tiếp tới các đại sứ quán các nước phương Tây và đại diện của chúng trên đất Nga vốn thuê các blogger làm các “dự án nhân đạo trên mạng”. Nhờ đó hình thành nên môi trường không hài lòng như đã biết với bất cứ kết quả bầu cử tích cực nào của chính quyền hiện hành, thể hiện qua hình thức những cuộc biểu tình đường phố của quần chúng và các hành động phản kháng.

Cần thiết chiến lược phản công

Nhận thức được thực tế các mối đe dọa buộc ta phải suy nghĩ về cách thông qua những biện pháp chống lại việc xúc tiến không gặp trở ngại cũng như việc lan truyền các meme phá hoại. Để làm điều đó cần thực hiện một loạt bước đi.

Bản thân môi trường mạng lưới về bản chất “dân chủ” đến độ hoàn toàn không loại trừ không chỉ việc thực hiện những mạng lưới song song sử dụng công nghệ rối búp bê, mà cả việc áp đặt nó. Cuối cùng, tính đến khả năng “nhân cách hóa” của môi trường mạng lưới, không bị ai quấy rầy trong trường hợp cần sử dụng các phân khúc mạng lưới khác, “ngoại lai”, và xếp đặt chúng thành những mạng song song tạo ra cho những nhu cầu của mình. Và nếu hiện nay ai đó vì nguyên nhân này hay khác làm việc cho mạng lưới Đại Tây Dương thù địch, điều đó không lại trừ công việc của anh ta cho mạng lưới cả bạn vào ngày mai, nếu anh ta tuân thủ những cách tiếp cận và các điều kiện nhất định.

Nếu như ở Nga tồn tại một định chế mà mục tiêu của nó là phản ứng lại những hình ảnh của các diễn viên chính trị trong lĩnh vực truyền thông và chính trị đối nội Nga, chắc nó sẽ hoặc độc lập làm việc, hoặc thuê như thuê nhà thầu, các cấu trúc mạng lưới chuyên sản xuất trực tiếp các nội dung mạng tích cực (kiểu như các khái niệm “Putin”, “Nước Nga thống nhất”, “ONF”, những gì được cho là giá trị với chế độ hiện hành), hoặc là tạo ra những meme mạng tương ứng.

Đến lượt mình, việc này sẽ xác định bước đi tiếp theo – thúc đẩytruyền bá những nội dung và meme được sản xuất giúp lấn át những nội dung tiêu cực khỏi phạm vi ảnh hưởng trong cộng đồng mạng lẫn trong những người dùng riêng biệt.

Như một biện pháp đáp trả đối xứng, nhất thiết phải sử dụng phản ứng tích cực đối với bất cứ nội dung tiêu cực nào theo các đề tài đã nêu. Trong số này có phản ứng quần chúng, tức kích hoạt một số lượng lớn những posting ngắn phản ứng lại. Suy nghĩ về phản ứng cho từng việc, tức tạo ra những đáp trả đúng điểm có viện dẫn tài liệu, có cơ sở, sẽ là nền tảng cho những cuộc vận đồng quần chúng tiếp theo. Cần tạo ra những công thức tích cực trên cơ sở, chẳng hạn, những khái niệm như “Putin”, “Nước Nga thống nhất”, “ONF” và xúc tiến một phông nền của chúng (ở khắp nơi). Và thêm nữa – lập ra hay dùng báo mạng hoặc báo giấy sẵn có để quáng bá bộ meme đã đưa ra, nhắm vào một nhóm đối tượng mục tiêu, bao gồm cả những người không nằm trong tác động của thế giới blog. Tất cả những bước đi này nhìn từ một phía nằm trên bề mặt, nhưng từ phía khác – chúng hoàn toàn không thấy được với những ai không phải là người mang nhận thức mạng lưới, và do đó, họ không xem các biện pháp này là hiệu lực.

Nguồn lực chính cho việc thực hiện những phương pháp tiếp cận này có thể là bất cứ mạng blogger địa phương nào, được lập nên trên cơ sở các phong trào thanh niên yêu nước kiểu như “Liên đoàn tuổi trẻ Á – Âu”, “Nước Nga trẻ”, “Người địa phương”, hay những cơ cấu tư vấn phân tích nghiêm túc hơn như “Trung tâm nghiên cứu địa chính trị”, “Câu lạc bộ Izbor”, “Phong trào quốc tế Á – Âu”, những đảng yêu nước mới được thành lập kiểu như “Đảng Đại Tổ quốc” của Nikolai Starikov hay Đảng “Đường lối quốc gia” của Yevgeni Phyodorov cùng những cộng đồng mạng liên kết với chúng. Tất cả các tổ chức này đều đủ số lượng các văn phòng đại diện khu vực, có trình độ để có thể tác động mạng lưới lên giới trẻ và có quan điểm yêu nước Á – Âu chống phương Tây vững vàng để có thể phản kích thành công những cuộc tấn công mạng lưới từ phương Tây.

Mạng lưới bao gồm chính những người dùng cũng như các bot – những người dùng ảo nằm dưới sự điều khiển của các người máy mạng chịu sự kiểm soát của những người dùng chính. Phân khúc tiếng nga của Mạng Internet bao gồm các trang web như Liverjournal, Facebook, LiveInternet… Ước tính số lượng cần thiết cho một phản ứng đối xứng thích hợp của nhóm hoạt động mạng bao gồm khoảng 300 người. Ở đây cần tính rằng nhiều người dùng nắm trong tay từ 2 đến 30 tài khoản ảo, và trong số đó, đặc biệt những kẻ kiếm sống trên mạng nhờ những chiêu thức lừa đảo, có thể có một số lượng bot hiệu lực trên những mạng khác nhau, giúp tăng gấp nhiều lần hiệu ứng trong việc thể hiện tính đại chúng trên danh nghĩa, một yếu tố rất quan trọng.

Các mạng truyền thông cũng đóng vai trò không kém quan trọng khi đưa vào hệ thống tính toán của mình “Yandex.Tin tức” tạo điều kiện hình thành những chủ đề tin tức (các chủ đề trên Yandex) gồm khoảng hàng chục đầu tên. Trong số đó có thể có khoảng 20 – 30 báo giấy hay tạp chí khu vực, một loạt các kênh truyền hình vệ tinh hay cáp (kể cả truyền hình Internet), những yếu tố cần thiết giúp tạo ra một “phông nền tin cậy”, tức tạo cảm giác đa dạng nguồn tin. Một người tiêu dùng thông tin trung bình thường có khuynh hướng không tin một kiểu nguồn tin và luôn tìm xác nhận trên những môi trường thông tin song song.

Thành lập và tích hợp mạng

Để khởi động một cơ chế phản ứng nhằm cân bằng nội dung mạng, cần kích hoạt một mạng lưới đã được lập trước, trong đó có thể đưa vào một phần những phân khúc mạng lưới phần nào bị đóng băng do thiếu những nhiệm vụ chính trị thật sự và thiếu tài trợ. Ở đây cần tính đến động lực chính trị của những thành viên mạng lưới, bởi ở các giai đoạn trước, nhiều người trong số họ là những nhà hoạt động của các phong trào thanh niên, có nghĩa họ được thúc đẩy về mặt tư tưởng, giúp nâng cao tính hiệu quả. Bên cạnh đó, với sự hiện hữu của các thành viên không có động lực chính trị, về số lượng chỉ có thể đông hơn so với những người có động cơ chính trị, cần tính đến những phương tiện để thúc đẩy họ mà trước hết là tài chính. Ở đây, cần hiểu là toàn bộ lĩnh vực mãng lưới đòi hỏi những đầu tư nghiêm túc bởi tác động của chúng đối với chính sách thật sự là khá nghiêm trọng. Tuy nhiên các khoản đầu tư này vẫn thấp hơn nhiều so với chi phí duy trì bất cứ binh chủng nào hoạt động với vũ khí thật, dù về tối thiểu chúng phải cao hơn các khoản tài trợ rời rạc cho các tổ chức được chọn lựa của mạng lưới, các NGO và NPO chuyên các hoạt động mạng. Để hiểu những loại chi phí nào quốc gia Hoa Kỳ đầu tư cho lĩnh vực này, có thể dẫn những con số từ quyển sách của Richard A. Clarke và Robert K. Knake, Chiến tranh mạng (Cyber War: The Next threat to national security and what to do about it). Trong đó, một trong hai tác giả thừa nhận: “Vào năm 2000 tôi đã lấy được từ ngân sách liên bang 2 tỷ USD cho các kế hoạch trong lĩnh vực an ninh không gian điều khiển, nhưng đó cũng chỉ là một phần nhỏ trong nguồn tiền chúng tôi cần đầu tư”. Cần biết bản thân chiến tranh trên không gian điều khiển là cái gì đó trung gian giữa những cuộc chiến sử dụng vũ khí thông thường với chiến tranh mạng lưới, mà chi phí cho chiến tranh mạng lưới thấp hơn nhiều so với việc đảm bảo an ninh không gian điều khiển và duy trì quân đội không gian điều khiển, đồng thời thấp hơn nhiều so với việc duy trì quân đội và cùng với đó là việc tiến hành những chiến dịch quân sự ở các điểm nóng.

Việc thực hiện chiến lược như thế đòi hỏi cả việc thành lập một bộ máy nhân sự và tiến hành các khóa đào tạo, học tập cho các nhóm nhằm nâng cao tay nghề và trao đổi các thành tựu công nghệ mới nhất trong lĩnh vực này, cho chạy thử để sửa lỗi hay những sơ sót nào đó. Giai đoạn thứ nhất có thể là cho chạy không mạng và bộ máy nhân sự mà ban đầu có thể sản xuất, xúc tiến một nôi dung hoàn toàn tùy ý không cần bất cứ thông số đầu vào nào. Rồi đến giai đoạn tiếp theo, khi mạng chính đã hoạt động và các mạng địa phương độc lập khác nhau và các lợi ích khác nhau bắt đầu kết nối vào nó, có thể bắt đầu nhập vào các thông số cần thiết của nội dung được sản xuất, đặt ra nhiệm vụ, đánh giá hiệu quả. Tất cả những điều này phải được thực hiện đồng thời với nỗ lực bao phủ tất cả cấu trúc nào còn tự do, tức những cấu trúc chưa bị phương Tây thuê mướn, những cộng đồng mạng liên kết theo các đề tài khác nhau.

Chắc chắn cuộc cách mạng rối búp bê, meme và những công nghệ mạng khác là vũ khí hết sức hiệu quả. Nhưng chỉ hiệu quả khi nào nó có mục tiêu. Và hiệu quả trong tay những ai hiểu nó làm gì. Ngày nay có thể phủ nhận thế nào cũng được vai trò tiêu cực của Hoa Kỳ trong những quá trình đang diễn ra, điều điệp viên các mạng lưới phương Tây thử làm khi khẳng định mọi chuyện không phải do họ, mà chúng “tự rơi” và đơn giản vì bản thân những xã hội này có vấn đề. Nhưng đồng thời không ai phủ nhận rằng hiện nay Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất, bá chủ toàn cầu duy nhất đang vẽ lại toàn bộ không gian thế giới vì lợi ích của mình. Còn việc hết quốc gia này đến quốc gia khác đánh mất chủ quyền của mình có lợi cho ai – ở đây mỗi người có thể tự đưa ra kết luận.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Chia sẻ tri thức và cộng đồng thực hành – Phần V


c/ Các vai trò và trách nhiệm trong cộng đồng thực hành

Các cộng đồng gồm con người, không phải công nghệ. Thành viên của cộng đồng có thể chủ độngg đảm nhiệm vai trò của mình thông qua việc đóng góp thảo luận và hỗ trợ những thành viên khác. Điều này chính là “sự tham gia”. Những thành viên khác có thể đơn giản đọc những điều mà người khác đăng mà không thực hiện một vai trò nào cả. Những thành viên này được gọi là những “thành viên ẩn” hoặc những thành viên rìa.

Trong hầu hết các trường hợp, nếu sự tham gia của các thành viên càng lớn, thì càng có nhiều giá trị được tạo ra cho các thành viên trong cộng đồng. Tuy nhiên, trong các cộng đồng nói chung, tỷ lệ người đọc so với người đăng thông tin rất cao. Những người tham gia một cộng đồng, đọc thông tin và không đăng một thông tin nào cả chiếm tỷ lệ 90% thành viên cộng đồng. Những thành viên thụ động này không thực sự chủ động trong mọi trường hợp, bởi họ có thể chủ động sử dụng và áp dụng các nội dung mà họ đã thu thập và đánh giá trên mạng.

Kim (2000) đã liệt kê những chức năng chính trong một cộng đồng thực hành: Khách, Người mới, Thành viên thường xuyên, Lãnh đạo và Người già.

Khách có thể thăm cộng đồng một lần hoặc hai lần, có thể ghi danh tham gia cộng đồng hoặc không. Họ có thể chỉ tò mò và tìm hiểu xem cộng đồng này hoạt động vì cái gì. Những người mới là những thành viên mới, sẽ lặng lẽ theo dõi thông tin cho tới khi họ thực sự làm quen được với cộng đồng và các thành viên khác của cộng đồng. Thành viên thường xuyên là những người thường xuyên đóng góp và tương tác với các thành viên khác. Lãnh đạo là những thành viên dành nhiều thời gian và công sức để đảm nhiệm những vai trò chính thống hơn như hỗ trợ hoạt động của cộng đồng. Người già là những người nắm rõ các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan, họ cũng biết rõ các chủ đề thảo luận trong lĩnh vực, cũng như nắm rõ về về hoạt động của cộng đồng. Họ chính là nguồn tri thức nghề nghiệp và tri thức văn hóa quan trọng của cộng đồng. Những người già cũng dành thời gian tư vấn cho các thành viên cộng đồng khác liên quan tới chủ đề đang thảo luận.

Các cộng đồng thực hành đều cần phải có một số các vị trí nhất định. Những vị trí này không nhất thiết phải được đảm nhận bởi một người theo giờ hành chính (full time), mà nhiều người có thể chia thời gian, nhiệm vụ để cùng làm. Tùy thuộc vào loại cộng đồng, số thành viên tham gia, các yếu tố phạm vi khác, nguyên tắc thông thường là dành khoảng 10 – 20% thời gian của một nhân viên để làm các công việc của cộng đồng thực hành.

d/ Chia sẻ tri thức trong cộng đồng thực hành

Một trong những dạng chia sẻ tri thức trong cộng đồng liên quan đến sự phát triển của những quy tắc thực hành tốt nhất (tìm ra cách thức tốt nhất để thực hiện một công việc) hoặc những bài học được đúc rút (rút ra từ những thành công hay thất bại). Các quá trình chia sẻ tri thức liên quan tới việc tìm kiếm, đánh giá, thực hiện, xem xét lại và đưa vào quy trình.

Phân tích sâu hơn các dạng trao đổi diễn ra trong quá trình chia sẻ tri thức cho thấy phần lớn các trao đổi tri thức gồm các yêu cầu, nhận xét, sửa lỗi, hoặc sắp xếp lại, xuất bản, tham chiếu (ví dụ nói với người khác về ai biết cái gì), giới thiệu, sử dụng lại những kết quả của những người đi trước.

Các cộng đồng tri thức không chỉ cung cấp sự tiếp cận với các dữ liệu, tài liệu, các cộng đồng còn nối kết mạng xã hội những con người tạo ra và những người sử dụng tri thức. Giá trị của cộng đồng tri thức không chỉ nằm ở các tri thức được chia sẻ ban đầu; mà còn ở những kinh nghiệm áp dụng tri thức ấy trong các điều kiện làm việc cụ thể khác.

IV/ Những rào cản trong chia sẻ tri thức

Rào cản quan trọng nhất chính là quan điểm cho rằng tri thức là tài sản và việc sở hữu nó rất quan trọng. Một trong những cách tốt nhất để phá bỏ quan niệm này là phải đảm bảo với các cá nhân rằng quyền tác giả vẫn được duy trì. Việc đảm bảo duy trì mối liên hệ giữa tri thức và những người tạo ra nó là điều tối quan trọng trong bất cứ hệ thống quản trị tri thức nà. Tri thức là sức mạnh. Tri thức càng được chia sẻ với nhiều người, việc sáng tạo tri thức càng dễ xảy ra. Tuy nhiên, rõ ràng có rủi ro khi bạn chia sẻ những điều bạn biết vì trong hầu hết các trường hợp, các cá nhân nhận được phần thưởng vì những cái họ bỉết chứ không phải vì những cái họ chia sẻ. Kết quả là việc giữ tri thức dẫn tới những hậu quả không tốt như sáng chế lại bánh xe, cảm giác cô độc trong công việc và sự phản kháng đối với các ý tưởng từ bên ngoài tổ chức. Cách tốt nhất để đối phó với vấn đề này là điều chỉnh chế độ thưởng phạt, tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp. Các tổ chức cần bổ sung cơ chế thưởng cho các sáng kiến chia sẻ tri thức có giá trị.

Một lý do phổ biến nữa cản trở việc chia sẻ tri thức là việc người chia sẻ tri thức không chắc chắn rằng người nhận tri thức có hiểu và sử dụng đúng tri thức không, hay người nhận tri thức không chắc chắn về độ tin cậy của tri thức nhận được. Cả hai vấn đề này đều có thể bị loại bỏ nếu việc chia sẻ tri thức này diễn ra trong cộng đồng thực hành bởi đó là một hệ thống tự giám sát trong đó cả nội dung và thành viên đều được thường xuyên xem xét và đánh giá lại.

Cuối cùng, văn hóa và môi trường tổ chức có thể hoặc hỗ trợ hoặc ngăn cản việc chia sẻ tri thức. Văn hóa tổ chức khuyến khích việc khám phá và sáng tạo sẽ hỗ trợ chia sẻ tri thức, trong khi đó nếu văn hóa tổ chức chỉ nuôi dưỡng những nhân tài sẽ cản trở việc chia sẻ tri thức. Một tổ chức thưởng cho các công việc tập thể sẽ hỗ trợ tạo ra một môi trường tin tưởng, trong khi đó văn hóa dựa trên vị trí xã hội của cá nhân sẽ cản trở chia sẻ tri thức. Nếu tổ chức không có văn hóa chia sẻ tri thức, việc trao đổi và chia sẻ tri thức dĩ nhiên sẽ không thể xảy ra. Như vậy nhiều tổ chức sẽ phải có những thay đổi lớn để có thể tạo được môi trường hiệu quả cho trao đổi tri thức diễn ra.

Cũng cần lưu ý rằng trong khi chúng ta nói những yếu tố đề cập ở trên sẽ cản trở việc chia sẻ tri thức, trên thực tế, chia sẻ tri thức vẫn diễn ra trong nhiều trường hợp mà chúng ta chưa để ý tới. Hiện tượng này thường được gọi là “mạng ngầm” (undernet), cũng là một hiện tượng mà các tổ chức cần biết và chú ý.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Đặng Thị Việt Đức & Nguyễn Thu Hương – Quản trị tri thức trong doanh nghiệp – NXB TT&TT 2016.