Những rủi ro đối với kinh tế Việt Nam


Trong bối cảnh kinh tế châu Á đứng trước áp lực suy giảm do xung đột thương mại Mỹ – Trung, kinh tế châu Á đứng trước áp lực suy giảm do xung đột thương mại Mỹ – Trung, kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong vòng hơn một thập niên qua nhờ xuất khẩu tăng, nhu cầu trong nước cao, lạm phát thấp và triển vọng trong những năm tới ổn định.

Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra những nguy cơ tiềm ẩn của nền kinh tế Việt Nam như chậm cải cách khu vực nhà nước, khu vực tư nhân không hội nhập tốt vào chuỗi giá trị toàn cầu để mất miếng bánh vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nguy cơ xuất khẩu sụt giảm nếu các nền kinh tế lớn trên thế giới tăng trưởng chậm lại.

Những triển vọng

ADB ghi nhận, trong năm 2018, Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong vòng 11 năm qua với 7,1%, tiếp tục đà tăng mạnh trong năm 2017 là 6,8%. Có được kết quả này là nhờ xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng trưởng ổn định và nhu cầu mạnh mẽ của các thị trường bên ngoài đóng góp quan trọng trong tăng trưởng GDP của Việt Nam. Mặc dù tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam chỉ tăng 14,3% trong năm 2018 (so với 16,7% trong năm 2017), song mức xuất khẩu ròng (xuất khẩu trừ nhập khẩu) lại tăng lên 9,2% do xuất khẩu tăng nhưng nhập khẩu giảm.

Về tiêu dùng của người dân (cấu phần lớn nhất trong GDP), ADB dẫn số liệu của Tổng cục thống kê Việt Nam cho biết đó là nguyên nhân đóng góp chủ yếu cho tốc độ GDP tăng nhanh trong năm 2018, dù nhu cầu trong nước có sự giảm nhẹ trong năm 2018 xuống 7,2% so với 7,3% năm trước đó.

Nguyên nhân khiến nhu cầu của người dân trong nước tăng mạnh là thu nhập tăng và lạm phát ổn định. Bất chấp tốc độ tăng trưởng tăng gây áp lực đối với lạm phát, song trong năm 2018, lạm phát vẫn được duy trì ở mức 3,5% – dưới chỉ tiêu quốc hội đề ra là 4%. Lạm phát duy trì được như vậy trong bối cảnh các chi phí về y tế, giáo dục và đi lại đều tăng là do giá dầu thế giới giảm, chính sách tiền tệ chặt chẽ và việc chính phủ hoãn tăng giá điện.

Trong năm 2018, chính phủ Việt Nam đã áp đặt giới hạn chặt chẽ hơn đối với tăng trưởng tín dụng và siết chặt tín dụng trong các lĩnh vực có rủi ro cao như bất động sản và chứng khoán. Theo đó, tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 14% và tăng nguồn cung tiền chỉ ở mức 12% – thấp nhất kể từ năm 2015.

Cũng theo ADB, kinh tế tăng trưởng mạnh đã giúp Việt Nam duy trì nợ công ở mức 61,4% GDP vào cuối năm 2018, thấp hơn so với đỉnh điểm 63,7% năm 2016 và nằm trong ngưỡng cho phép của Quốc hội là 65%.

Về triển vọng kinh tế Việt Nam trong những năm tới, ADB dự báo mức tăng trưởng ổn định với 6,9% trong năm nay và 6,8% trong năm 2020.

ADB đánh giá các thỏa thuận thương mại tự do mà Việt Nam tham gia như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EVFTA) sẽ thúc đẩy đầu tư vào Việt Nam khi các doanh nghiệp nước ngoài tìm kiếm cơ hội mà các thỏa thuận này đem lại.

Nếu chiến tranh thương mại Mỹ – Trung tiếp tục kéo dài, Việt Nam sẽ được hưởng lợi trong giao thương và đầu tư, với tăng trưởng GDP thêm khoảng 2% tích lũy trong trung hạn đến dài hạn.

Các rủi ro chính

Báo cáo của ADB cũng chỉ ra một rủi ro lớn là các đối tác thương mại chủ chốt của Việt Nam như Trung Quốc, châu Âu, Mỹ và Nhật Bản có nguy cơ tăng trưởng sụt giảm mạnh.

Ngoài ra, khu vực doanh nghiệp nhà nước cải cách chậm chạp cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Báo cáo cho rằng tốc độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong năm 2018 thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra là ít nhất 85 doanh nghiệp.

Một rủi ro khác đến từ khu vực doanh nghiệp tư nhân, vốn chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng đóng góp gần một nửa tổng thu nhập nội địa. Mặc dù Việt Nam được lợi khi mở cửa vào các thị trường lớn trên thế giới, nhưng phần bánh của chuỗi giá trị toàn cầu chủ yếu là do các công ty có vốn đầu tư nước ngoài hưởng trọn, còn các doanh nghiệp trong nước vẫn không thể hội nhập được vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nguyên nhân mà ADB chỉ ra là các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ không có điều kiện chiếm giữ những công nghệ mới do bị hạn chế tiếp cận nguồn tín dụng và thiếu lực lượng công nhân có trình độ. Điều này dẫn đến chất lượng sản phẩm và dịch vụ của họ không đồng đều, trong khi các thị trường quốc tế ngày càng siết chặt các chuẩn mực về kỹ thuật, sức khỏe, môi trường và kiểm dịch.

Trao đổi với đài VOA, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa từ bang California (Mỹ) cho rằng kinh tế Việt Nam đạt được tăng trưởng cao như vậy là nhờ xu thế từ năm 2015, khi giới đầu tư thế giới từ bỏ Trung Quốc để tìm nơi có công nhân rẻ hơn, ví dụ như hãng Samsung của Hàn Quốc hay Intel của Mỹ đã mở nhà máy sản xuất ở Việt Nam. Bên cạnh đó, so với các nước Đông Nam Á khác phát triển hơn, Việt Nam đi sau nên tốc độ phát triển lúc nào cũng cao hơn.

Khi được hỏi xung đột thương mại Mỹ – Trung có góp phần thúc đẩy Việt Nam tăng trưởng như thế không, ông Nghĩa cho rằng đó là “gia tốc để thúc đẩy sự chuyển mạnh hơn”, nhưng xu thế này đã có từ trước. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng trong tương lai, Việt Nam không thể dựa mãi vào nhân công giá rẻ để làm đòn bẩy cho xuất khẩu, mà phải nâng cao trình độ công nghệ của lao động trong nước.

Về tiêu dùng nội địa, ông Nghĩa cho rằng Việt Nam có lợi thế là có thị trường nội địa với dân số đông gần 100 triệu người. Việt Nam kiểm soát lạm phát tốt trong năm 2018 một phần là nhờ vào sự điều hành của chính phủ. Việt Nam nên mạnh dạn cải cách khối doanh nghiệp nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khối doanh nghiệp tư nhân vì chính họ mới là lực đẩy chính của nền kinh tế đất nước. Ông nói: “Chính phủ Việt Nam nên xem việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân là ưu tiên (để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu)”, nhưng cảnh báo Việt Nam không nên quá lạc quan.

Nguồn: www.adb.org

TKNB – 10/04/2019

Advertisements

Vấn đề dân sinh trong Đại Việt sử ký toàn thư và ý nghĩa thời đại của nó – Phần I


Trần Nguyên Việt

Vấn đề dân sinh trong lịch sử phát triển của nhân loại, về thực chất, là vấn đề chính trị được đại đa số các quốc gia trên thế giới quan tâm. Tuy  nhiên, việc giải quyết vấn đề này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trước hết là chủ trương và chính sách của giai cấp thống trị, sau đó đến các tổ chức xã hội khác hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau tạo thành chỉnh thể của một quốc gia. Xét về logic hình thái, khái niệm “dân sinh” có nội hàm rộng hơn khái niệm “an ninh sinh xã hội”; bởi khái niệm thứ hai mang tính cấp thiết nhất thời, nó được dùng để chỉ sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình bằng một loạt những biện pháp công cộng, nhằm chống đỡ sự hụt hẫng về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già,… Khái niệm dân sinh bao hàm không chỉ những vấn đề của an sinh xã hội, mà còn cả vấn đề bảo vệ sự ổn định đời sống lâu dài của nhân dân thông qua những chính sách, chủ trương được luật pháp hóa.

Xuất phát từ tính cấp thiết mà Đảng và Chính phủ ta đặt ra hiện nay về vấn đề tam nông (nông dân, nông nghiệp và nông thôn), chúng tôi muốn truy xét vấn đề dân sinh theo dòng lịch sử, xem nó đã từng được các triều đại phong kiến Việt Nam nêu và giải quyết như thế nào qua bộ sử quan trọng của nước ta là Đại Việt sử ký toàn thư. Sở dĩ chúng tôi coi vấn đề dân sinh trong lịch sử luôn gắn liền với nông dân vì nước ta là một nước nông nghiệp. Ở đó, nông dân là lực lượng dân cư luôn chiếm gần 80% dân số cả nước, luôn đóng vai trò quan trọng trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thêm nữa, đến nay, nền kinh tế nước ta vẫn coi nông nghiệp là chủ đạo và vì vậy, có thể nói, vấn đề dân sinh trong Đại Việt sử ký toàn thư, về thực chất, là vấn đề “tam nông” trong lịch sử đất nước cần được nghiên cứu.

Đại Việt sử ký toàn thư là một bộ sự lớn, ghi chép lại các sự kiện từ thời Hồng Bàng đến năm Ất Mão (năm 1675), tức là đến đời vua Gia Tông nhà Lê. Như vậy, xét về sử biên niên, bộ sử này đã ghi chép lại những sự kiện của gần 3000 năm; trong đó, đáng để chúng ta chú ý nhất là từ thời kỳ đất nước giành được độc lập năm 938 đến thời Lê Trung Hưng (năm 1675). Trong thời kỳ đó, việc xây dựng Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Việt Nam (từ thời Lý, Trần đến thời Lê Trung Hưng) đã ít nhiều gắn liền với việc củng cố mối quan hệ quân – dân mà ở đó, vấn đề dân sinh luôn được các triều đại phong kiến chú ý. Mặc dù thước đo thịnh trị của bất kỳ triều đại phong kiến nào cũng lấy tiêu chuẩn lòng dân – ý trời làm cơ sở, song vấn đề dân sinh lại phụ thuộc vào khâu trung gian thực hiện các tiêu chuẩn đó là “thiên tử”, còn bộ máy thống trị quan liêu núp dưới chiêu bài “phụ mẫu của dân” có trách nhiệm thay trời “giáo hóa dân và trị vì thiên hạ”. Chính vì vậy, như chúng tôi đã đề cập ở trên, việc phân tích dựa trên các nguyên tắc của triết học xã hội để làm sóng tỏ vấn đề dân sinh qua từng giai đạn lịch sử được nêu trong Đại Việt sử ký toàn thư là cần thiết, qua đó chỉ ra ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước “của dân, do dân và vì dân” ở Việt Nam hiện nay.

Để làm rõ hơn khái niệm dân sinh từ góc độ triết học xã hội, chúng tôi cho rằng, không thể bỏ qua việc phân tích các lĩnh vực đời sống xã hội. Thứ nhất, đó là lĩnh vực đời sống sản xuất vật chất xã hội, mà mục đích cao nhất của nó là thỏa mãn các nhu cầu vật chất với tư cách cơ sở phổ biến về tính tất yếu trong hoạt động lao động của con người. Con người khác với động vật trong hoạt động nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất ở chỗ, nó không thể giản đơn sử dụng những cái có có sẵn trong tự nhiên như động vật, mà phải cải tạo, chế biến các sự vật tự nhiên, như Karl Marx viết: “Việc tạo một cách thực tiễn ra thế giới vật thể, việc cải tạo giới tự nhiên vô cơ là sự khẳng định của con người với tư cách là một sinh vật có tính loài có ý thức, nghĩa là một sinh vật đối xử với loài như với bản chất của chính mình, hoặc đối xử với bản thân mình như với một sinh vật có tính loài.

Tính chất của việc chế tác sự vật từ giới tự nhiên để đảm bảo cuộc sống của con người cũng thay đổi theo quá trình lịch sử, tùy thuộc vào sự phát triển về nhiều mặt trong đời sống xã hội. Khả năng cải tạo tự nhiên theo chiều hướng tích cực dần dần làm cho con người ít bị lệ thuộc vào tự nhiên hơn, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp đã đáp ứng đáng kể nguồn lương thực cho con người hiện nay. Tuy nhiên, nếu xét lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất cách đây khoảng 2000 năm ở nước ta – một nước nông nghiệp lúa nước vốn phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, vấn đề dân sinh lúc đó luôn là vấn đề phức tạp, đòi hỏi không chỉ sự cần cù, sáng tạo của người nông dân, mà cả chính sách cụ thể của Nhà nước về an sinh xã hội trong những trường hợp rủi ro thiên tai gây ra, cũng như những biện pháp liên quan đến sản xuất nông nghiệp. Các chính sách ấy đã được ghi rõ trong Đại Việt sử ký toàn thư.

Trước hết, chúng tôi đề cập đến vấn đề an sinh xã hội. Đây là vấn đề quan trọng, bởi có thể xem nó là thước đo tính đúng đắn trong đường lối trị nước của mỗi triều đại phong kiến Việt Nam. Như ở trên chúng tôi đã nói, nền nông nghiệp lúa nước của Việt Nam trong lịch sử (thậm chí cả trong giai đoạn hiện nay) bị chi phối đáng kể bởi các yếu tố tự nhiên. Đặc biệt, những vấn đề tự phát, tự nhiên luôn là mối đe dọa đến sinh mật của người dân và điều đó hầu nhưu xảy ra thường xuyên, buộc nhà nước phải có các biện pháp cứu trợ,  từ việc giảm thuế đến trợ cấp lương thực, thuốc men.

Ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn (tức Lý Thái Tổ) đã thực hiện iệc xá thuế cho nhân dân. Điều này ông làm không phải để cứu trợ cho dân trong hoàn cảnh khó khăn do thiên tai gây ra, mà thể hiện sự thông cảm với cuộc sống đang rất khó khăn của nhân dân. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa Đông, tháng 12… đại xá thuế cho thiên hạ 3 năm, những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thốn đã lâu, đều tha cho cả”.

Sang thời Trần, sử chép: “Canh Dần năm thứ 6 (1290), đí to, 3 tháng gạo trị giá 1 quan tiền, nhân dân nhiều người phải bán ruộng đất và bán con trai con gái làm nô tỳ cho người khác, một người trị giá 1 quan tiền. Xuống chiếu phát thóc công để chẩn cấp dân nghèo và miễn thuế nhân đinh. Thậm chí, sự cứu trợ bằng thóc công cũng không đủ, triều đình phải kêu gọi những nhà giàu đem thóc ra cứu dân. Thời Trần Dụ Tông hoàng đế (Mậu Tuất), sử chép: “Đại Trị năm thứ 1 (1358). Từ tháng 3 cho đến mùa thu tháng 7, đại hạn và sâu ăn lúa; cá chết nhiều. Mùa thu, tháng 8, xuống chiếu khuyên các nhà giàu ở các lộ bỏ thóc ra chẩn cấp cho dân nghèo, quan tư sở tại tính xem số thóc đã quyên ra bao nhiêu trả lại bằng tiền”. Nhà nước còn khuyến khích việc đó bằng cách ban tước phẩm cho những người dâng thóc để phát chẩn cho dân nghèo (năm 1361).

Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi chép nhiều sự kiện tương tự ở thời nhà Lê (từ Lê Sơ đến Lê Trung Hưng), Nhà nước trợ cấp cho dân trong trường hợp thiên tai, mất màu, dẫn đến đói kém trong thiên hạ. Tuy nhiên, đó chỉ là những giải pháp cần kíp trước mắt, còn về lâu dài, các triều đại phong kiến Việt Nam chú ý tới lĩnh vực tổ chức sản xuất vật chất của xã hội.

Trước hết, chúng tôi muốn nói đến tinh thần làm gương của các quân vương qua việc cày ruộng tịch điền, tức là loại ruộng riêng của cung đình. Sử chép: “Đinh Hợi năm thứ 8 (987) (Tống, Ung Hy năm thứ 4). Mùa xuân, vua bắt đầu cày ruộng tịch điền ở núi Đọi, được một chĩnh nhỏ vàng, lại cày ở núi Bàn Hải, được một chĩnh nhỏ bạc, vì thế đặt tên là ruộng Kim Ngân”. Nhâm Thân năm thứ 5 (1032), Vua Lý Thái Tông “đến Tín Hương ở Đỗ Động giang cày ruộng tịch điền; nông dân dâng một cây lúa chiêm có chín bông thóc. Xuống chiếu đổi ruộng ấy làm ruộng ứng Thiên”. Năm Bính Thìn (1316), vua Trần Minh Tông còn sai tế thần, tôn thất cùng các quan gặt ruộng tịch điền. Như vậy, các ông vua nói trên và những ông vua khác trong lịch sử Việt Nam đã nêu gương tốt qua việc cày ruộng tịch điền, một mặt, để khích lệ tinh thần lao động của nhân dân, mặt khác, thể hiện tinh thần trọng nông, trọng dân, phần nào đó muốn xóa đi sự cách biệt giữa quân và dân. Điều đó chứng tỏ rằng, nhiều quân vương trong lịch sử Việt Nam có quan niệm khác với mẫu người lý tưởng của Nho gia theo tinh thần Khổng Mạnh (ở đó, các nhà sáng lập Nho gia thể hiện tư tưởng về sự cách biệt giữa kẻ cầm quyền với người lao động, thậm chí cho rằng, người làm ruộng, làm vườn (lão nông) là kẻ tiêu nhân, là kẻ lao lực (kẻ bị trị) phải làm ra của cải để nuôi kẻ lao tâm (kẻ thống trị)).

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Tư bản hậu công nghiệp và kinh tế học siêu vĩ mô – Phần IV


Cùng với sự phát triển của tư bản công nghiệp sẽ hình thành nên những phân tầng xã hội mới, đặc biệt là sự hình thành một tầng lớp tinh hoa mới đối với xã hội ở những lĩnh vực công nghệ cao, và ở những lĩnh vực đỉnh cao của quyền lực xã hội. Cùng với sự phân chia mới đối với xã hội, sự cấu kết giữa giới doanh nghiệp, giới chính trị và giới quan chức nhà nước trở nên ngày càng chặt chẽ. Cho đến nay, công việc quốc gia của Nhật cũng chỉ là công việc của một nhóm nhỏ người có quyền lực chóp bu, mà thủ tướng Nhật đương nhiệm gặp rất nhiều khó khăn trong việc cải cách để thay đổi tình trạng đó.

Các lý thuyết hiện có không giải thích được sự phát triển nền kinh tế hậu công nghiệp với đặc điểm cơ bản là tạo ra các tạo phẩm phi vật thể, mà các tạo phẩm này có thể tạo nên được các kết hợp mới về nguyên tắc, vượt qua những giới hạn không gian và thời gian, khiến cho tình hình càng trở nên rắc rối hơn. Trong hoàn cảnh hiện nay, ngoài việc những ngành công nghệ cao thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội, rất nhiều thực tế mà nền kinh tế hậu công nghiệp đem lại như khi một thương hiệu của một hãng có giá trị hơn những tài sản vật chất của hãng đó nhiều lần đã đòi hỏi người ta phải có cách tiếp cận mới đối với nền kinh tế đương đại.

Tư bản hậu công nghiệp có những tầng mức khác nhau, tầng mức siêu vĩ mô liên quan tới nhiều quốc gia, tầng mức vĩ mô liên quan tới các quốc gia cụ thể và tầng mức vi mô liên quan tới hoạt động của các doanh nghiệp và tổ chức khác nhau. Có những tổ chức phi lợi nhuận nhưng buộc xã hội tiêu dùng những tạo phẩm của nó không phải theo con đường mua bán thông thường, mà qua hình thức tài trợ nào đó, và đây là một đặc điểm thương mại đặc thù của thời đại hiện nay khi quy mô và tầm ảnh hưởng cảu chúng không ngừng mở rộng. Mỗi xã hội tìm ra được những cách thức khác nhau để các tổ chức phi lợi nhuận vận hành được, và những xã hội nào tìm ra được những biện pháp hữu hiệu để các tổ chức này hoạt động sẽ đem lại môi trường thuận lợi cho tư bản hậu công nghiệp. Hoàn toàn không ngẫu nhiên mà ở Mỹ, nhiều người, nhiều doanh nghiệp đóng góp nhiều tiền vào các quỹ từ thiện, các hội đoàn phi lợi nhuận.

2/ Sự chi phối của tư bản hậu công nghiệp với các loại tư bản cũ

Ngay từ thời của Lenin, tư bản công nghiệp đã bị tư bản tài chính chèn ép, và buộc phải khuất phục. Trong thời đại hiện nay, trước hết có thể thấy ngay tư bản hậu công nghiệp chi phối tư bản công nghiệp, trước hết trong lĩnh vực tạo nên các nhu cầu mới.

Không có nhu cầu thì tư bản công nghiệp không hoạt động được trong nền kinh tế thị trường. Nhưng khi xã hội có những loại hàng hóa tiêu dùng nhiều đời không hết thì làm thế nào để người ta mua tiếp những hàng hóa cùng loại nữa? Đó là phải tạo cho hàng hóa đó những tạo phẩm phi vật thể mới nhằm tạo ra nhu cầu mới cho xã hội.

Tư bản hậu công nghiệp có nhiều đẳng cấp khác nhau và có rất nhiều nhánh, và các nhánh này phát triển, hỗ trợ cho nhau, tạo nên những tăng trưởng mang tính đột biến. Chẳng hạn luật doanh nghiệp có thể khai thông sự ra đời của hàng loạt doanh nghiệp. Có nhiều nhánh tạo ra tạo phẩm phi vật thể mới, và cho đến nay, số lượng các nhánh này không ngừng gia tăng và xu hướng gia tăng này đang đóng vai trò chủ đạo. Các nhánh của tư bản hậu công nghiệp phải vận hành đồng bộ thì mới đem lại hiệu quả. Các nhánh này đưa một hay nhiều vật thể vào trạng thái hoạt động nào đó, và sự vận hành liên tục có thể dẫn đến một tác động sau một khoảng thời gian nào đó.

Các đặc điểm của tạo phẩm phi vật thể: nhân bản được nhanh chóng, không phụ thuộc vào tài nguyên vật chất, gây kích hoạt, làm cho tư bản hậu công nghiệp có khả năng gia tăng nhanh chóng một cách đột biến. Người sử dụng trong thời đại hậu công nghiệp được trao cho công cụ khai thác các dịch vụ, tự mình tìm kiếm những gì mình cần đã làm cho việc tiêu dùng thay đổi hẳn về chất. Do đặc tính luôn mở ra những cái mới, tư bản hậu công nghiệp đóng vai trò lãnh đạo kinh tế thế giới, đưa mọi nền kinh tế vào vòng ảnh hưởng của nó.

Giá trị thặng dư to lớn của tư bản hậu công nghiệp đã đem lại thế thượng phong của tư bản hậu công nghiệp so với các tư bản khác. Mỗi thành phần của giá trị thặng dư hậu công nghiệp có thành phần thặng dư nhất định khiến cho chúng có bước phát triển mới trong tương lai, mà giá trị thặng dư theo quan niệm của Marx chỉ là một bộ phận của giá trị thặng dư do tư bản hiện đại đem lại. Sự phát triển mang tính đột biến của giá trị thặng dư hậu công nghiệp trong thời đại ngày nay đã khẳng định địa vị của chúng kkhi thôn tính tư bản cũ và đưa tư bản cũ gia nhập được tư bản mới, nâng lên giá trị của tư bản cũ, lồng vào tư bản cũ những thứ vô hình nhưng đem lại giá trị mới. Một doanh nghiệp ở một nước đang phát triển được một đại công ty ở nước phát triển mua lại thì bản thân doanh nghiệp được mua lại đó đã tiếp nhận được những tạo phẩm vô hình mới do đại công ty mang lại khiến cho giá trị của nó được nâng lên. Đây là hiện tượng mới của thời đại ngày nay.

Việc hướng dẫn nền kinh tế là một trong những yêu cầu quan trọng để nền kinh tế có thể phát triển liên tục. Việc tạo ra tư bản hậu công nghiệp và làm cho tư bản hậu công nghiệp vận hành được có hiệu quả là một công trình chung của xã hội đòi hỏi phải có nhiều nhánh hoạt động xã hội vận hành đồng thời, dẫn đến nhu cầu đòi hỏi phải có một chủ thể đứng ra lãnh đạo, phối hợp các nhánh hoạt động đó, đưa chúng vào tình trạng vận hành ăn khớp nhau, đồng thời chấp nhận được những đột biến, đòi hỏi phải có sự siêu tập trung nào đó thì mới có thể vận động và gia tăng được, mới đạt được hiệu quả của mình.

Khi có môi trường tạo nên được những dạng phi vật thể mang lại những kết hợp mới thì xã hội có thể giải phóng những tiềm năng nhất định, thu hút được những nguồn lực mới để phát triển. Tư bản hậu công nghiệp nhanh chóng gia tăng về số lượng và tầm chi phối của chúng đối với các loại tư bản khác, thậm chí, lồng nội dung của nó vào các loại tư bản khác. Tư bản hậu công nghiệp buộc các vật phẩm do tư bản công nghiệp tạo ra phải hàm chứa trong chúng rất nhiều loại tạo phẩm phi vật thể, khiến cho tư bản công nghiệp phân nhánh nhanh chóng thành tư bản công nghiệp thuần túy và tư bản công nghiệp – hậu công nghiệp.

Tư bản có nhiều đẳng cấp, và trong một xã hội có nhiều loại tư bản có đẳng cấp khác nhau cùng tồn tại. Mỗi khi tư bản có được hình thái mới thì những hình thái mới thì những hình thái mới tập trung ở một nhóm người trong khi các hình thái cũ trở nên phổ biến rộng khắp ra các thành phần của xã hội. Trong những nước phát triển, một thời rất ít người có cổ phiếu của các công ty thì hiện nay, hơn một nửa dân số là những người nắm giữ các cổ phiếu công ty. Việc tạo nên khuôn khổ để một loại tư bản vận động là điều cực kỳ quan trọng. Nếu không có luật pháp đủ mạnh và những người thi hành luật có hiệu quả về sở hữu trí tuệ thì không thể có những ngành kinh tế hậu công nghiệp. Nếu không có những quy định về trách nhiệm xã hội đối với các doanh nghiệp mà trở thành những bộ phận cấu thành của hoạt động thương mại thì không có những hoạt động sản xuất và thương mại hiện đại.

Tư bản hậu công nghiệp đưa ra những luật chơi nghiệt ngã của nó và bắt buộc các loại tư bản khác phải chịu tác động của các luật chơi đó. Nền kinh tế công nghiệp tạo nên các tạo phẩm vật thể, nền kinh tế hậu công nghiệp tạo nên các tạo phẩm phi vật thể, và mỗi nền kkinh tế hình thành nên những mối quan hệ riêng và những tác động chi phối của những tư bản chiếm ưu thế. Tư bản hậu công nghiệp đưa ra những tiêu chuẩn hoàn toàn mới buộc các vật phẩm phải hàm chứa trong chúng các dạng phi vật thể nào đó. Chẳng hạn các loại lương thực thực phẩm phải đáp ứng được các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm.

Khi một nhánh tư bản hậu công nghiệp xuất hiện thì không có gì đảm bảo là nó tồn tại lâu dài. Những thành quả mà nó tạo nên trong vòng đời của nó cần được duy trì và chuyển sang các nhánh khác đang tồn tại. Công việc này đòi hỏi phải có những cách thức đặc biệt mà là thành quả chung của xã hội, mà không phải xã hội nào cũng làm tốt được. So sánh tình trạng phát triển của nền kinh tế Mỹ và Nhật Bản trong 15 năm qua thì thấy ngay các xã hội khác nhau có cách giải quyết vấn đề này khác nhau, và dẫn tới những kết quả khác nhau. Tình trạng suy thoái kéo dài của Nhật Bản chứng tỏ xã hội Nhật Bản đã không tạo được môi trường hữu hiệu để tư bản hậu công nghiệp vận động. Trong khi đó, nền kinh tế hầu như tăng trưởng liên tục kéo dài của Mỹ đã chứng tỏ xã hội Mỹ tạo được môi trường hữu hiệu để tư bản hậu công nghiệp vận động.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2007.

Xu thế của cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ – Phần đầu


Tô Khánh Nghĩa

Cho dù là dùng các cụm từ va chạm thương mại, xung đột thương mại hay cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ để định nghĩa quan hệ kinh tế thương mại Trung – Mỹ hiện nay, thì đều thể hiện một điều: Quan hệ kinh tế thương mại Trung – Mỹ đang trở nên rất căng thẳng và gay gắt. Mức độ căng thẳng này trước đây thực sự khó có thể tưởng tượng được. Trên thực tế, ngay từ tháng 3/2018, Mỹ công bố báo cáo về cuộc điều tra theo “Mục 301” trong Đạo luật thương mại được Mỹ ban hành năm 1974 nhằm điều tra các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ của Trung Quốc, đồng thời tuyên bố sẽ dựa trên báo cáo này để đưa ra các biện pháp kiềm chế nhằm vào Trung Quốc. Tác giả cho rằng trong bối cảnh này, ý nghĩa của việc thảo luận lại vấn đề liệu Trung Quốc và Mỹ có bùng nổ cuộc chiến thương mại hay không là không cần thiết, vì cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ đã nổ ra, điều cần thảo luận là cường độ của cuộc chiến này trong tương lai. Từ tình hình hiện nay cho thấy tác giả vẫn kiên trì phán đoán ban đầu – cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ đã sớm nổ ra. Hiện nay, danh sách áp thuế của hai bên đã được đưa ra có nghĩa là hai bên không chỉ nói suông, mà đã bắt đầu tấn công nhau.. Việc cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ đi đến mức độ hiện nay, và có xu thế ngày càng gay gắt hơn nhận được sự quan tâm của toàn thế giới. Đề tài mà mọi người quan tâm nhất vẫn không tách khỏi: Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung sẽ đi về đâu? Ảnh hưởng của nó ra sao?

Phán đoán xu thế tương lai của cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ là đề tài rất được quan tâm, và sự đoán đổi về đề tài này cũng đầy rủi ro. Nhưng tác giả muốn thử phân tích, miêu tả nhiều hơn về đề tài này. Đề tài này sẽ không nằm ngoài hai vấn đề: Tiếp diễn bao lâu? Cường độ ra sao?

Nguồn gốc của cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ rất rõ ràng, Mỹ gây chiến, Trung Quốc đáp trả, bắt nguồn từ việc chính sách kinh tế thương mại của Mỹ đối với Trung Quốc bắt đầu trở nên cứng rắn, chứ không phải là Trung Quốc điều chỉnh chính sách kinh tế thương mại đối với Mỹ. Việc Mỹ mở màn cuộc chiến thương mại bắt nguồn từ nhu cầu của bản thân không được thỏa mãn, tìm cách sử dụng biện pháp cứng rắn để gây sức ép với Trung Quốc. Về nhu cầu của Mỹ, thực chất phần lớn đều là nhu cầu mà từ trước đến nay Mỹ luôn có, chỉ là sau khi Donald Trump lên cầm quyền, điều kiện của Mỹ cao hơn, sự nhẫn nại ít đi. Vì vậy, phân tích thời gian kéo dài của cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ chính là phân tích sự cứng rắn của Mỹ đối với Trung Quốc trên lĩnh vực kinh tế thương mại sẽ diễn ra bao lâu, tiếp theo cần tìm ra nguyên nhân của việc Mỹ thực hiện biện pháp cứng rắn đối với Trung Quốc trên lĩnh vực này. Nếu nhân tố ảnh hưởng đến sự cứng rắn của Mỹ đối với Trung Quốc trên lĩnh vực kinh tế thương mại không thay đổi, thì cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ sẽ tiếp tục; nếu nhân tố có thay đổi hoặc không xác định, thì cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ sẽ khó có thể kéo dài. Tác giả cho rằng sự chồng chéo của Mỹ trong việc điều chỉnh 3 chính sách lớn làm cho Chính quyền Donald Trump thể hiện tư thế cứng rắn trong chính sách kinh tế thương mại đối với Trung Quốc. Hiện nay, khi phân tích nguyên nhân làm cho Chính quyền Donald Trump thể hiện tư thế cứng rắn trong chính sách kinh tế thương mại đối với Trung Quốc, thường sẽ nhấn mạnh sự điều chỉnh của Mỹ trong chính sách thương mại đối với Trung Quốc. Trên thực tế, sự cứng rắn của Chính quyền Donald Trump trong chính sách đối với Trung Quốc không đơn thuần được bắt nguồn từ việc chính quyền này điều chỉnh chính sách thương mại, hoặc điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc, mà là kết quả điều chỉnh của cả 3 chính sách lớn là chính sách thương mại, chính sách đối với Trung Quốc và chính sách kinh tế.

Mỹ điều chỉnh chính sách thương mại: Từ thúc đẩy tự do hóa thương mại thời Tổng thống Bush (con) đến tự do hóa thương mại khu vực thời Tổng thống Obama, rồi đến buộc đối phương thực hiện tự do hóa thương mại hiện nay. Sau khi Donald Trump lên cầm quyền, từ chỗ vốn coi trọng lợi ích tuyệt đối do thương mại đem lại đến hiện nay coi trọng lợi ích tương đối, Mỹ ngày càng nhận thấy những điểm bất lợi do thương mại gây ra. Điều mà Chính quyền Donald Trump xem xét là phúc lợi tương đối, tức là giá trị tương đối do phúc lợi của Mỹ và nước ngoài cùng tăng lên. Ví dụ Donald Trump cho rằng Trung Quốc giành được lợi ích rất lớn sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhưng lợi ích của Mỹ lại không nhiều như vậy, từ đó bị tổn thất tương đối. Sự thay đổi này làm cho sự hứng thú của Chính quyền Donald Trump trong việc thúc đẩy tự do hóa thương mại giảm xuống, coi trọng việc buộc đối phương phải thực hiện tự do hóa thương mại để đổi lấy phúc lợi tương đối của nước mình tăng lên. Điều này được thể hiện trong quan niệm thương mại “tự do, công bằng và bình đẳng”.

Mỹ điều chỉnh chính sách thương mại đối với Trung Quốc: Ngày càng có khuynh hướng kiềm chế Trung Quốc. Từ thời Chính quyền Obama, Mỹ đã bắt đầu thực hiện chiến lược “quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương”, tinh thần và sức lực trên các phương diện như chính trị, quân sự, kinh tế đều hướng về khu vực này. Mục tiêu chủ yếu của Chính quyền Obama trong chiến lược “quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương” là nhắm vào Trung Quốc. Trên lĩnh vực thương mại, tiêu chuẩn cao của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ chủ đạo rõ ràng là có ý đồ về khách quan sẽ gạt Trung Quốc ra ngoài. Trong nhiệm kỳ thứ hai của Obama, thái độ cảu các giới của Mỹ đối với Trung Quốc cũng dần đạt được sự nhất trí, đó là ngày càng nghiêng về việc coi Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh, đồng thời phải kiềm chế Trung Quốc. Sau khi Chính quyền Donald Trump lên cầm quyền, chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc ngày càng rõ rệt. Mỹ đã xác định Trung Quốc và Nga là đối thủ cạnh tranh của nước này trong Báo cáo an ninh quốc gia.

Mỹ điều chỉnh sách kinh tế: Lại coi giảm nhập siêu thương mại là mục tiêu thực hiện chính sách quan trọng. Dưới thời Chính quyền Ronald Reagan, Mỹ từng coi giảm nhập siêu thương mại là mục tiêu thực hiện chính sách quan trọng. Nhật Bản khi đó được coi là quốc gia chủ yếu liên quan đến nhập siêu thương mại của Mỹ, trở thành đối tượng công kích của Mỹ, đồng thời đã thành công trong việc buộc Nhật Bản phải giảm thặng dư thương mại. Tổng thống Bush (con) và Tổng thống Obama đều không coi đó là biện pháp thực hiện chính sách quan trọng. Nhưng sau khi lên cầm quyền, Donald Trump lại coi giảm nhập siêu thương mại là mục tiêu thực hiện chính sách quan trọng. Biện pháp giảm thuế, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái đàm phán Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), bảo hộ thương mại của Donald Trump đều là để làm giảm nhập siêu thương mại. Donald Trump còn nêu rõ hy vọng Trung Quốc có thể cắt giảm 100 tỷ USD xuất siêu thương mại sang Mỹ trong thời gian ngắn, đồng thời vào trước năm 2020 cắt giảm 200 tỷ USD thặng dư thương mại.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Tri thức thế giới (TQ)

CĐQT số 10/2018

Các thí dụ của những chiến dịch mạng lưới – Phần III


Với sự lên nắm quyền của Putin, họ biến mất đi đâu đó, nhưng hoạt động của những mạng lưới này và của các trung tâm theo kế hoạch đưa tình hinh trở lại trạng thái đầu những năm 1990 có thể xảy ra bất cứ lúc nào, chỉ chờ sự suy yếu và rời khỏi đường lối được vạch ra dưới thời Putin. Mưu toan phục thù này của phe tự do đã được thực hiện bởi giới thân cận Dmitri Medvedev dưới thời ông làm tổng thống những năm 2008 – 2012. Một mặt, có thể phát hiện các mạng lưới này theo hoạt động của chúng, còn mặt khác, theo lưu lượng thông tin trên các mạng này, tức hoạt động của chúng có thể tạo ra tình huống chính trị ở Nga, biến dự án Đại Tây Dương hiện đang đóng băng thành thực tế khi tập trung giới tinh hoa hiện nay vào dưới trướng tự do phương Tây. Mạng lưới này có thể thất bại, khi đó nó sẽ biến mất, hoặc đóng đúng vai trò của mình, thắng lợi và xâm chiếm về mặt ý thức hệ không gian chính trị của nước Nga, một lần nữa giành thế thượng phong.

Quan sát việc Nga lần lượt từ bỏ hết không gian này đến không gian khác khỏi sự kiểm soát chiến lược của mình, có thể khẳng định chắc nịch rằng một phương tiện hiệu quả như “cách mạng nhung” có thể được các đối thủ địa chính trị của chúng ta tiếp tục sử dụng. Khởi đầu ở Đông Âu ngay thời Liên Xô còn tồn tại, những cuộc “cách mạng nhung” đã lật đổ tất cả các chế độ xã hội chủ nghĩa ở châu Âu, làm tan rã Nam Tư, êm ái chuyển đổi khu vực mà khi đó chúng ta cho là vùng kiểm soát chiến lược của nước Nga. Và chính ở không gian SNG hậu Xô viết, những quá trình này bắt đầu mang “sắc mầu” của mình. Tất cả buộc ta phải suy ngẫm về những triển vọng hiện thực hóa kịch bản tương tự trong chính Nga.

Vậy những cuộc “cách mạng nhung” mang lại gì cho các nước nó diễn ra? Và phía sau hiện tượng thay đổi chế độ ở các quốc gia có chủ quyền trong không gian hậu Xô viết theo nguyên tắc domino là gì? Ở mọi nơi mà kịch bản “cách mạng nhung” được thực hiện, ngày nay chúng ta có thể thấy việc đánh mất một phần hay toàn bộ chủ quyền.

Tất cả những cuộc “cách mạng nhung” diễn ra ở các cộng hòa SNG đều được kích động và tổ chức, thực hiện dưới sự hỗ trợ tích cực và tham gia cảu Hoa Kỳ – đó là quy luật chính, quy luật địa chính trị. Mục tiêu – loại nước Nga ra khỏi không gian hậu Xô viết, thu hẹp vùng ảnh hưởng của chúng ta. Logic địa chính trị của hai thập niên qua là như sau: loại bỏ ảnh hưởng của Liên Xô ở châu Âu và các nước thế giới thứ ba, hất Liên Xô ra khỏi châu Âu – Liên Xô sụp đổ; thu hẹp ảnh hưởng của nước Nga trong không gian hậu Xô viết, đẩy nước Nga ra khỏi không gian hậu Xô viết, bước tiếp theo của logic không thể lay chuyển này của phương Tây là sự sụp đổ của nước Nga. Bước đi này được lập trình, lạnh lùng, được tính toán và Hoa Kỳ sẽ không từ bỏ bất cứ điều gì để thực hiện nó. Ở các nước cộng hòa hậu Xô viết chúng ta đang thấy tương lai của chính mình.

Nguyên nhân sâu xa của tất cả các cuộc cách mạng là chiến lược của Hoa Kỳ thiết lập sự thống trị toàn cầu, duy nhất của họ mà vì nó họ sẽ làm tất cả mọi chuyện cần thiết, sử dụng bất kỳ lực lượng nào, kể cả tội phạm, thuần túy vị lợi vì những mục đích thực dụng. Vì thế bất cứ khả năng nào có thể lay chuyển tình hình dẫn tới lật đổ các chế độ cầm quyền, cho dù đó là bất ổn xã hội, nỗi thất vọng trước chính quyền, sự thù ghét Nga, tất cả đều được sử dụng chỉ với một mục tiêu – thiết lập ảnh hưởng của Mỹ. Trong khi đó các kịch bản mà chúng ta đều thấy, không lấp lánh sự đa dạng: bầu cử như cái cớ, tiếp đó mọi chuyện trôi theo cơ chế quán tính. Hoạt động. Hiệu quả. Có nghĩa nó sẽ được tiếp tục áp dụng.

Theo lời chuyên gia chính trị Nga Sergey Markov, ở Gruzia, Ukraine và Kyrgyzstan “Nga đã sử dụng ba kịch bản: can thiệp kín (Gruzia), can thiệp công khai (Ukraine, 2004) và (cuối cùng) là không can thiệp (Kyrgyzstan). Kết quả không khác nhau trong bất kỳ trường hợp nào, ở trường hợp đầu, trường hợp thứ hai lẫn thứ ba, cho thấy rõ chất lượng của công nghệ Hoa Kỳ. Thái độ không can thiệp của chính quyền Nga cũng thấy rõ trong các sự kiện đẫm máu của Maidan Ukraine năm 2014. Nga hoàn toàn thụ động, bất lực và bàng quan giao nộp những lợi ích của mình trong những vùng ảnh hưởng từng giành được bằng cái giá lớn lao của nhiều thế hệ đi trước. Nói một cách đơn giản, hiện giờ chúng ta chẳng có chiến lược nào, một điều hợp lý xuất phát từ sự thiếu vắng chung chính sách đối ngoại lẫn đối nội. Còn về những “lợi ích” mà một số nhà chính trị học nói vo trên nền sụp đổ chung thì đơn giản là báng bổ. Chúng ta đã từ bỏ tất cả, toàn bộ, không một trận đánh, và cái giá của nó là sự xóa bỏ nước Nga như một chủ thể địa chính trị, sắp xảy ra.

“Cách mạng nhung” như yếu tố chiến tranh mạng lưới

“Cách mạng nhung” là lật đổ các chế độ chính trị dựa trên các phương pháp “đấu tranh phi bạo lực” do Gene Sharp thảo ra. Nó hoàn toàn là một sản phẩm công nghệ Hoa Kỳ, một bộ phận cấu thành của công nghệ mạng lưới ngày nay được xác định bằng khái niệm “chiến tranh mạng lưới” trong khoa học chính trị. Ý nghĩa của hiện tượng này nằm ở việc thiết lập kiểm soát trên một lãnh thổ không cần sử dụng vũ khí thông thường. Và lý tưởng là trên cơ sở áp dụng quyền lực mềm, mà nhà khoa học chính trị Hoa Kỳ Joseph S. Nye, Jr. định nghĩa là “khả năng của một quốc gia, một liên minh hay một liên hiệp đạt được những hiệu quả mong muốn trong những vấn đề quốc tế bằng việc thuyết phục chứ không bằng việc trấn áp, áp đặt hay cưỡng ép vốn đặc trưng cho quyền lực cứng. Sức mạnh mềm khi hoạt động sẽ thúc giục những người khác làm theo hay đạt được sự đồng thuận của họ tuân thủ những quy tắc ứng xử nhất định hay theo các định chế trên đấu trường quốc tế, dẫn tới việc đạt được kết quả mong muốn mà không cần ép buộc”. Như thế, Hoa Kỳ đã sử dụng công nghệ mới nhất để tiến hành chiến tranh, cho phép đạt được kết quả mong muốn mà thực sự không đổ máu. “Chiến tranh thế hệ thứ sáu” là một phát triển công nghệ hoàn toàn nằm trong thẩm quyền của Lầu Năm góc, ngày nay đang được thực hiện thành công trong không gian SNG dưới sự “chỉ huy và kiểm soát” gián tiếp từ phía cơ quan quân sự Hoa Kỳ.

Thông thường, khi nói về các cuộc chiến tranh mạng lưới, kết quả đạt được là do sự giúp sức của các mạng xã hội, tức là sự hỗ trợ của chính xã hội, trong đó nổi bật phân khúc giúp hình thành ý kiến xã hội bằng cách nào đó để nhắm tới, chẳng hạn như việc chống lại chế độ hiện hành. Nhờ phân khúc xã hội gồm mạng lưới những thành viên có liên hệ với nhau này mà người ta gây sức ép lên chính phủ đương thời, khiến họ phải từ bỏ việc điều hành đất nước và rời đấu trường chính trị. “Cách mạng nhung” như thế là sự lật đổ tương đối rẻ tiền và không đổ máu bằng cách tổ chức gây sức ép từ bên dưới, được gây xúc tác nhờ sự giúp đỡ của mạng xã hội. Và sức ép từ phía dưới, từ phía mạng xã hội như ta hiểu, là hiện tượng hoàn toàn không tự phát mà do công nghệ tạo ra. Đặc điểm của các công nghệ mạng lưới và “cách mạng nhung” dựa trên những công nghệ này chính là ở đó. Dưới cái cớ những yêu sách rõ ràng nhắm tới chính quyền, người ta kích động làn sóng phản kháng tự tạo, phát triển ngày càng tăng dưới tác động của “rối loạn tâm lý đồng lõa” – đó là điều mà chúng ta đang thấy với một sự đều đặn đáng ganh tị. Đó chính là một quá trình công nghệ có nguồn gốc từ khoa học công nghệ chính trị Hoa Kỳ.

Như thế, tất cả các cuộc “cách mạng nhung” diễn ra hiện nay, và nói riêng là không gian hậu Xô viết và thế giới Arab, ở Iran, là một hiện tượng do Hoa Kỳ kích hoạt để thiết lập sự kiểm soát địa chính trị của mình lên những quốc gia và lãnh thổ trước kia nằm trong vùng ảnh hưởng của Nga hoặc đứng trung lập, nơi mà nó không thể bước vào bằng những phương cách khác.

Chúng ta quan tâm nhiều hơn khả năng tái diễn có thể của những cuộc “cách mạng nhung” đã diễn ra trong không gian hậu Xô viết và nổi tiếng toàn thế giới như những sự kiện đã diễn ra ở Gruzia, Ukraine, ở Kyrgyzstan và Uzbekistan. Và chủ yếu là khả năng thực hiện kịch bản tương tự trên chính nước Nga. Chúng ta cũng quan tâm đến những gì các nước phương Tây cố áp đặt trong tiến trình bầu cử tổng thống ở Iran, nơi họ cũng sử dụng chính những phương pháp đó, công nghệ tiến hành “cách mạng nhung”. Sự thật là Iran dù sao cũng đã bắt đầu các cải cách chính trị đối nội nguy hiểm nhắm vào việc tự do hóa cấu trúc nội bộ, còn những thí nghiệm như vậy chúng ta đang thấy ở Syria, nơi cũng tiến hành tự do hóa và đã để lại hậu quả. Virus dân chủ phương Tây dễ tiêm nhiễm, nhưng thoát khỏi nó thường phải bằng con đường can thiệp phẫu thuật. Muốn lựa chọn đúng đắn, cần bắt đầu bằng việc đánh giá những kết quả mà “cách mạng nhung” đem lại cho các nước nó diễn ra.

Vẫn còn là cường quốc hạt nhân, nước Nga rộng lớn đã gây ra nỗi lo sợ có cơ sở ở các “bạn bè tái khởi động” của chúng ta, mà can thiệp bước ngoặt trực tiếp vào công việc của các nước không gian hậu Xô viết có thể làm Nga không hài lòng, biến thành gây hấn. Mà đó là điều không mong muốn. Thêm vào đó mục tiêu chính của Hoa Kỳ, điều mà Mỹ chẳng bao giờ che đậy, chính là nước Nga.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Xu thế kinh tế vĩ mô của Trung Quốc hiện nay và vấn đề dân sinh – Phần I


Lý Tuyết Tùng

1/ Tình thế trước mắt của kinh tế vĩ mô Trung Quốc

Năm 2003 – 2007, Trung Quốc đã tích cực ứng phó với hoàn cảnh nhiều biến động của thế giới, tập trung vào giải quyết những vấn đề và mâu thuẫn nổi trội trong sự vận hành nền kinh tế vĩ mô, nắm bắt chính xác phương hướng, tiết tấu, mức điều chỉnh vĩ mô, tổng hợp vận dụng nhiều biện pháp và phương thức điều chỉnh, khống chế, vừa chú trọng đảm bảo tính liên tục và ổn định của chính sách, vừa căn cứ vào sự thay đổi tình hình để điều chỉnh chính sách kịp thời và phù hợp, nhằm thúc đẩy sự phát triển, bình ổn nhanh chóng nền kinh tế, tránh việc xuất hiện của những biến động lớn.

Những nội dung điều chỉnh trong 5 năm vừa qua rất phong phú, hiệu quả rõ nét. Sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc tăng lên rõ rệt, sự nghiệp xã hội phát triển toàn diện, nhân dân có được lợi ích thực sự. Năm 2007, giá trị tổng sản phẩm quốc nội vượt qua 2400 tỷ NDT, tăng 67% soo với năm 2002, bình quân mỗi năm tăng 10,8%, tăng từ vị trí thứ 6 lên đứng thứ 4 trên thế giới; thu nhập tài chính cả nước đạt 513 tỷ NDT, tăng gấp 1,71 lần; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 217 tỷ USD, từ vị trí thứ 4 chuyển lên đứng vị trí thứ 3 trên thế giới.

Sự khống chế vĩ mô không phải xong trong một sớm một chiều. Nửa cuối năm 2007, căn cứ vào những vấn đề trong vận hành nền kinh tế Trung Quốc, đặc biệt là áp lực lớn của việc biên độ tăng trưởng kinh tế nhanh chuyển sang quá nóng, áp lực nổi trội của giá cả tăng cao, Hội nghị công tác kinh tế Trung ương cuối năm 2007 đề ra mục tiêu “đề phòng cả đôi”, tức ngăn ngừa giá cả do tính kết cấu tăng cao mà chuyển thành lạm phát rõ rệt.

Vào năm 2008, nguy cơ khủng hoảng tín dụng tài chính Mỹ gia tăng, tăng trưởng kinh tế thế giới chậm lại, rất nhiều quốc gia phải đối mặt với áp lực lạm phát lớn. Trung Quốc liên tiếp phát sinh những thiên tai hiếm gặp trong lịch sử: nhiệt độ xuống thấp đóng băng tuyết, động đất mạnh và lũ lụt, tính mạng tài sản người dân tại vùng thiên tai bị tổn thất nghiêm trọng. Thích ứng với sự biến đổi của tình hình, trong tháng 7, Trung ương kịp thời đề ra phương châm “một là duy trì sự phát triển nhanh, ổn định của kinh tế cùng việc khống chế giá cả tăng quá nhanh làm nhiệm vụ hàng đầu cần phải điều tiết, quản lý vĩ mô.

Dẫu cho tình hình kinh tế thế giới nhiều biến động, gây ảnh hưởng bất lợi tương đối lớn cho sự phát triển kinh tế Trung Quốc, nhưng do chúng ta rất coi trọng sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, vận dụng tổng hợp nhiều công cụ, nắm vững tốt trọng điểm, tiết tấu và sức khống chế vĩ mô, nền về tổng thể, kinh tế Trung Quốc duy trì tình trạng tương đối tốt, tốc độ tăng trưởng nhanh, giá cả tăng chậm, kết cấu kinh tế cải thiện.

1.1/ Tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh

Năm 2007, GDP trong nước tăng 11,9%, liên tục trong 5 năm giữ mức tăng trưởng trong khoảng 10 – 12%. Nửa đầu năm nay, GDP và tăgn trưởng đều tăng 10,4%, tuy tốc độ tăgn trưởng có chậm lại một chút, nhưng vẫn đảm bảo tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh. Nông nghiệp khắc phục được thiên tai nghiêm trọng, lương thực thu hoạch vụ hè trong 5 năm liên tục. Tăng trưởng sản xuất công nghiệp nhanh, từ tháng 1 đến tháng 8, các doanh nghiệp quy mô tàn quốc trở lên tăng giá trị, và thực thế tăng trưởng 15,7%. Đầu năm, thu nhập cư dân nông thôn tăng cao, tăng trưởng của bình quân đầu người của cư dân nông thôn chi phối thu nhập, thu nhập tiền mặt của dân cư nông thông là 14,4% và 19,8%. Tính toán từ tháng 1 đến tháng 7, thu nhập tài chính của cả nước là 4088170 tỷ NDT, tăng 30,5%  so với cùng thời điểm năm ngoái, thu nhập tài chính cả nước tăng nhanh, cung cấp sự đảm bảo vững chắc cho các chi phí trọng điểm dân sinh.

1.2 Mức độ tăng của giá cả chậm dần

Giá cả hàng hóa tiêu dùng năm 2007 tăng 4,8% trong tháng 2 – tháng 4 năm nay, liên tục 3 tháng, chỉ số giá cả tiêu dùng của người dân Trung Quốc (CPI) vượt 8%. Từ tháng 5 trở lại đây, biên độ tăng của CPI giảm liên tục trong 4 tháng, đó là 7,7%, 7,1%, 6,3% và 4,9% so với cùng thời điểm năm ngoái, cho thấy hiệu quả rõ rệt của những chính sách điều chỉnh vĩ mô.

1.3/ Cải thiện kết cấu

Từ tháng 1 đến tháng 8 năm nay, việc tăng tốc đầu tư thực tế giảm sút, thặng dư thương mại giảm. Vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh. Ngoài ra, nửa đầu năm nay, bình quân tốc độ tăng trưởng kinh tế của miền trung, miền tây và miền bắc Trung Quốc vượt qua miền đông, thay đổi cục diện từ cải cách mở cửa đến nay, phía đông luôn chiếm vị trí dẫn đầu so với các khu vực lớn khác. Đồng thời, tỉ trọng tổng giá trị sản xuất của miền trung, miền tây và miền bắc so với cả nước cũng tăng cao. Điều này cho thấy kết cấu kinh tế khu vực Trung Quốc có những thay đổi tích cực, tính điều hòa phát triển giữa các khu vực được tăng cường.

2/ Những vấn đề cần coi trọng trong vận hành kinh tế

Tiến vào giai đoạn mới của thế kỷ mới, sự phát triển Trung Quốc thể hiện ra một số đặc trưng mới có tính chất giai đoạn, những đặc trưng mang tính giai đoạn này biểu hiện chủ yếu về mặt kinh tế là: thực lực kinh tế tăng rõ rệt, đồng thời mâu thuẫn có tính kết cấu hình thành lâu dài  và phương thức tăng trưởng thô sơ vẫn chưa có chuyển biến căn bản; thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa sơ bộ được kiến lập, đồng thời những trở ngại về thể chế, cơ chế ảnh hưởng tới sự phát triển vẫn còn tồn tại; đời sống nhân dân tổng thể đạt mức tiểu khang, đồng thời xu thế kéo giãn khoảng cách phân phối thu nhập vẫn chưa có chuyển biến căn bản; phát triển đồng bộ có được thành tích rõ rệt, đồng thời cơ sở kinh tế nông nghiệp vẫn yếu ớt, cục diện nông thôn phát triển sau, lạc hậu vẫn chưa được thay đổi.

Trước mắt, khủng hoảng tín dúng Mỹ vẫn tiếp tục gia tăng, kinh tế thế giới năm 2009 sẽ có tính không xác định rất lớn. Theo Tổ chức tiền tệ thế giới (IMF) trong báo cáo “Triển vọng kinh tế thế giới” ngày 9 tháng 10, mức độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2008 chỉ là 3,9%, riêng tháng 7 là 4,1%. IMF còn dự đoán tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2009 hạ từ 3,9% xuống còn 3%, là mức tăng trưởng thấp nhất tính từ năm 2002 trở lại đây. IMF còn dự đoán mức tăng trưởng kinh tế Mỹ trong tháng 7 năm 2008 từ 1,3% tăng lên 1,6%, dự đoán mức tăng trưởng kinh tế năm 2009 sẽ giảm 0,8% xuống còn 0,1%. IMF còn hạ dự đoán tăng trưởng kinh tế năm 2008 cảu châu Âu trong tháng 7 từ 1,7% xuống còn 1,3% đồng thời dự đoán mức tăng trưởng kinh tế năm 2009 từ 1,2% xuống còn 0,2%. IMF tính rằng, sau việc điều chỉnh nhân tố giá cả, kinh tế Nhật Bản sẽ tăng trưởng 0,7%, thấp hơn so với dự đoán tháng 7 là 1,5%, IMF còn hạ mức tăng trưởng kinh tế năm 2009 của Nhật Bản từ 1,5% xuống còn 0,5%. IMF cho rằng, tỷ lệ tăng trưởng GDP của Trung Quốc năm 2008 vẫn duy trì ở 9,7% không thay đổi, nhưng mức tăng trưởng năm 2009 dự đoán trong tháng 7 sẽ từ 9,8% hạ xuống còn 9,3%.

Căn cứ vào tình hình biến đổi mới xuất hiện trong và ngoài nước, từ nay trở đi, nền kinh tế Trung Quốc cần coi trọng các vấn đề sau: biên độ dao động giữa tăng trưởng và suy thoái kinh tế nhanh; áp lực lạm phát kinh tế vẫn còn tồn tại; những nhân tố bất lợi chế ước sản xuất nông nghiệp còn nhiều; việc kinh doanh của một số doanh nghiệp sản xuất khó khăn; biến động thị trường vốn quá lớn; mục tiêu nhiệm vụ thực hiện tiết kiệm năng lượng, giảm gây ô nhiễm vẫn còn quá khó khăn,…

(còn tiếp)

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Việt Nam và Mỹ: Quan hệ đối tác “toàn diện” nhưng không phải là “chiến lược” – Phần cuối


7/ Triển vọng quan hệ Việt – Mỹ

Mọi người đều hiểu rằng, cuộc gặp giữa hai đối tác có nhiều khác biệt nghiêm trọng và một lịch sử khó khăn trong quan hệ đã kéo theo nhiều đánh giá khác nhau và thường mâu thuẫn với nhau. Nhưng hầu hết các nhà quan sát đồng ý rằng các đối thủ không đội trời chung trong “chiến tranh lạnh” đã quyết định gác lại quá khứ. Không có những bước đột phá mạnh mẽ trong quan hệ, Việt Nam đã không nhận được những câu trả lời cho những yêu cầu của mình đối với Mỹ, nhưng cả hai bên bằng cách này hay cách khác đều đạt được mục đích của mình. Chuyến thăm đã tạo cơ hội để cả hai nguyên thủ quốc gia chứng tỏ rằng, hai cựu thù đã sẵn sàng thực hiện một bước tiến mới xích lại gần nhau, mặc dù chỉ là mang tính biểu tượng. Thời gian sẽ chứng minh tại sao phải làm điều đó. Trong những trường hợp này việc Việt Nam mời Tổng thống Mỹ đến thăm Việt Nam thì câu trả lời của Tổng thống Mỹ chỉ là lời hứa khá mơ hồ rằng sẽ thực hiện chuyến thăm vào cuối nhiệm kỳ. Sau đó mọi người đã rõ rằng, dự kiến chuyến thăm châu Á vào tháng Tư năm 2014 của Tổng thống B. Obama chỉ là tới Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và Philippines. Có vẻ như cả hai bên đều hài lòng với quan hệ thương mại. Mỹ coi Việt Nam như một thị trường mới cần khai thác còn Việt Nam coi Mỹ là nguồn vốn vay và là nhà đầu tư tiềm năng vào nền kinh tế đang phát triển của Việt Nam.

Trong thời gian tham dự kỳ họp Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ở New York cuối tháng 9 năm 2013, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã gặp Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Bộ  trưởng Thương mại Hoa Kỳ Penny Prittseker. Một lần nữa Thủ tướng đề nghị Hoa Kỳ đẩy nhanh việc công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường và đình chỉ điều tra chống bán phá giá trong 12 tranh chấp thương mại với Việt Nam. Đồng thời, Thủ tướng đặc biệt đánh giá cao sự hỗ trợ của Mỹ thực hiện dự án phát triển lưu vực sông Mekong, tạo điều kiện để Việt Nam, Lào và Campuchia thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế với các nước ASEAN khác và duy trì hệ sinh thái của con sông lớn này tại châu Á.

Năm 2013 kết thúc trong bối cảnh sự leo thang căng thẳng mới trong khu vực Đông Á, do Trung Quốc áp đặt Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên phần lớn vùng nước Đông Hải, bao gồm cả quần đảo Senkaku của Nhật Bản đang bị tranh chấp. Ngay sau đó đã xuất hiện những toan tính sẽ thiết lập ADIZ tại Biển Đông.

Chuyến thăm của Ngoại trưởng John Kerry tới Việt Nam và Philippines vào tháng 12 năm 2013 trong bối cảnh này. Chuyến thăm diễn ra sau khi Tổng thống Obama, vì lý do rõ ràng, đã không tham dự hội nghị thượng đỉnh ASEAN và APEC tại đảo Bali và Brunei. Vì vậy, Ngoại trưởng Hoa Kỳ phải thể hiện rõ rằng, một là, Hoa Kỳ sẽ không rút khỏi châu Á – Thái Bình Dương và sẽ đẩy mạnh “xoay trục” tại châu Á. Hai là, đây là chuyến viếng thăm tới hai nước có tranh chấp gay gắt nhất với Trung Quốc và, hơn tất cả các nước, hai nước không yên tâm về vấn đề liệu có thể dựa được vào Hoa Kỳ khi nước này sẽ thực hiện trách nhiệm của họ trong khu vực. Tại cuộc họp báo tại Hà Nội, John Kerry chỉ trích gay gắt việc thiết lập vùng nhận dạng phòng không tại Biển Hoa Đông.

Ông nói rằng, tất cả các máy bay không phải thực thi những đòi hỏi của Trung Quốc, và Trung Quốc không thể thiết lập vùng nhận dạng phòng không tại những nơi khác, đặc biệt là ở Biển Đông. Ông cũng nói rằng, Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến việc Trung Quốc đẩy mạnh tranh chấp tại Biển Đông, kêu gọi Trung Quốc và Nhật Bản “tăng cường đối thoại” nhằm giảm căng thẳng và giải quyết các tranh chấp lãnh thổ tại Biển Hoa Đông. Tuy nhiên, dường như ngài Ngoại trưởng đã không làm cho các nước Đông Nam Á hết nghi ngờ trước những biện pháp này của Trung Quốc. Không chỉ dừng lại ở những ngôn từ và tuyên bố ấn tượng. Đặc biệt khi chúng không được khẳng định bằng những việc làm. Mỹ chỉ hạn chế bởi cử chỉ tượng trưng dưới hình thức hỗ trợ bảo vệ biên giới biển. Mỹ đã cung cấp cho tất cả các nước Đông Nam Á 32,5 triệu USD nhằm các mục đích trên, trong đó 18 triệu USD dành cho Việt Nam để mua 5 tàu tuần tra nhanh bảo vệ bờ biển. Tổng cộng, theo Bộ Ngoại giao Mỹ, trong 2 năm tới Hoa Kỳ sẽ cung cấp trên 156 triệu USD cho mục đích này.

Hiện tại, Trung Quốc chưa thiết lập vùng nhận dạng phòng không tại Biển Đông. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc bác bỏ các cáo buộc về vấn đề này rằng, Trung Quốc không thấy bất kỳ mối đe dọa từ phía này, và không cần thiết lập ADIZ tại khu vực này. Tuy nhiên, một nghị quyết khác do chính quyền tỉnh Hải Nam, Trung Quốc thông qua có hiệu lực từ tháng 1 năm 2013, theo đó tất cả các tàu cá và tàu nghiên cứu nước ngoài hoạt động trong khu vực đường chữ U, đều phải được họ cho phép. Đương nhiên, tất cả điều này đã làm gia tăng căng thẳng đáng kể trong khu vực. Việt Nam và Philippines tuyên bố hai nước không chấp nhận quyết định này và sẽ không cần một sự cho phép nào.

Chính khi đó, các quan chức cấp cao thuộc chính quyền Mỹ đã đề cập nhiều đến vấn đề này. Ngày 05 tháng 2 năm 2014, Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách những vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, Daniel Russell thuộc ủy ban đối ngoại Quốc hội Mỹ nói rằng, Trung Quốc phải chấm dứt việc thiết lập những khu vực mới như thế. Ông cũng nhấn mạnh rằng, “bất kỳ dẫn chứng nào về đường chữ U vô lối của Trung Quốc tại Biển Đông không hề dính líu tới đường cơ sở bờ biển của Trung Quốc đều không phù hợp với luật pháp quốc tế”. Đây là tuyên bố công khai đầu tiên của một đại diện chính quyền Mỹ liên quan đến tính bất hợp pháp của đường chữ U, mà Trung Quốc vẽ ra để tuyên bố yêu sách lãnh thổ tại Biển Đông. Nhà ngoại giao Mỹ nói một cách thận trọng, cộng đồng quốc tế “sẽ rất hoan nghênh nếu Trung Quốc có lời giải thích về ý nghĩa của đường chữ U và áp dụng nó một cách phù hợp với luật pháp quốc tế”.

Tuy Việt Nam đang gặp nhiều thách thức và trở ngại nhưng đã thực sự là đối tác chính trị quan trọng của Mỹ trong khu vực. Nhưng trong tương lai gần giữa hai nước vẫn không thể có một liên minh quân sự.

Một số nhà phân tích Mỹ viết rằng sẽ là sai lầm khi cho rằng, trong tình hình hiện nay tại Đông Nam Á, Việt Nam chỉ có một lựa chọn duy nhất: hoặc phải tuân thủ những yêu sách của Trung Quốc, hoặc là phải dựa vào Hoa Kỳ. Không có con đường thứ ba nào. Không phải là như thế.

Người Việt Nam không loại trừ nhận được sự giúp đỡ từ bên ngoài nhưng luôn coi trọng việc phải dựa vào sức mình là chính và vận động dư luận thế giới ủng hộ mình. Trong giai đoạn hiện nay, chính sách “trở lại” châu Á – Thái Bình Dương được bắt đầu dưới thời Tổng thống Barack Obama là phù hợp với lợi ích của Việt Nam.

Nhưng không thể nghi ngờ, tại Hà Nội người ta nhận thức được rằng, Việt Nam có thể yêu cầu và tiếp tục hợp tác với Mỹ. Sự ủng hộ của Mỹ luôn có giá của nó. Trong một nỗ lực để có được đầu tư và công nghệ của Mỹ, các lãnh đạo Việt Nam sẽ không thực hiện bất kỳ nhượng bộ nào có thể là nguyên nhân làm thay đổi hệ thống chính trị và trong tương lai gần điều này cũng sẽ không xảy ra.

Như đã nhấn mạnh ở trên, Việt Nam hoàn toàn không muốn các mối quan hệ với Hoa Kỳ sẽ trở thành sự thách thức nào đó đối với Trung Quốc. Mỗi một bước đi nhằm xích lại gần với Hoa Kỳ đều là một thông điệp tới ban lãnh đạo Trung Quốc với một lời nhắc nhở rằng sự đối đầu trực tiếp sẽ là vô nghĩa và nên hướng tới sự hợp tác hòa bình và cùng có lợi. Rõ ràng, Hà Nội không muốn bị lôi kéo vào cái gọi là “kiềm chế” Trung Quốc.

Việt Nam đã duy trì thành công cách tiếp cận cân bằng các mối quan hệ quốc tế nói chung. Chính sách đối ngoại của Việt Nam được thể hiện rõ trong nguyên tắc “ba không”, lần đầu tiên được nêu trong “Sách Trắng Quốc phòng” ngay từ năm 2009 và các chính trị gia Việt Nam nhiều lần nhắc lại.

Các cách tiếp cận cân bằng đó là: Không tham gia vào các khối quân sự, không liên minh quân sự để chống lại Trung Quốc, không có căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nhắc lại điều này trong bài phát biểu tại phiên khai mạc Đối thoại Shangri-La lần thứ 12 tại Singapore vào tháng 5 năm 2013 và thu hút được sự chú ý của báo chí thế giới.

Vì vậy có thể khẳng định chắc chắn rằng, trong một thời gian dài nữa quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ vẫn giống như trong hiện tại.

Người dịch: Đỗ Minh Cao

Nguồn: TN 2014 – 45 & 46