Nợ, thâm hụt ngân sách và đồng dollar – Phần III


Thương vụ mua lại của Buffett có thể hiểu là cách thoát khỏi tiền giấy và đầu tư vào tài sản hữu hình, đồng thời bảo vệ những tài sản đó khỏi mọi tác động của việc đóng cửa thị trường cổ phiếu. Nó có thể là một “cuộc đặt cược vào đất nước” – nhưng nó cũng là một rào chắn chống lại lạm phát và khủng hoảng tài chính. Nhà đầu tư nhỏ không thể mua lại toàn bộ tuyến đường sắt có thể đặt cược tương tự bằng cách mua vàng. Buffett nổi tiếng là coi thường vàng, nhưng ông là vua đầu tư tài sản hữu hình, và khi nói đến giới siêu giàu, tốt hơn là nên nhìn vào việc họ làm thay vì lời họ nói. Tiền giấy là một hợp đồng được thế chấp bằng vàng, mà vàng là một tài sản hữu hình không gì so sánh được.

Nợ, thâm hụt ngân sách, và sự bền vững

Cục Dự trữ Liên bang không phải là con nợ duy nhất có liên hệ với Chính phủ trong hệ thống tiền của Hoa Kỳ. Trên thực tế, quy mô con nợ lớn hơn rất nhiều. Kho bạc Hoa Kỳ đã phát hành hơn 17.000 tỷ USD nợ dưới hình thức trái phiếu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, so với khoảng 4 nghìn tỷ USD giấy nợ dưới dạng tiền mà FED phát hành.

Không giống như giấy nợ của Cục Dự trữ Liên bang, tín phiếu Kho bạc không phải là tiền, mặc dù những công cụ thanh khoản nhất thường được gọi là “tương đương tiền mặt” trên bản cân đối kế toán doanh nghiệp. Một điểm khác biệt nữa giữa giấy nợ của Cục Dự trữ Liên bang và tín phiếu Kho bạc là tín phiếu Kho bạc có kỳ hạn và có trả lãi. Giấy nợ của FED có thể được phát hành với số lượng vô hạn và có giá trị lưu hành mãi mãi, nhưng tín phiếu Kho bạc phải tuân thủ kỷ luật của thị trường trái phiếu, nơi các nhà đầu tư giao dịch hơn 500 tỷ USD chứng khoán Kho bạc mỗi ngày.

Kỷ luật thị trường bao gồm việc các nhà đầu tư liên tục đánh giá xem liệu gánh nặng nợ của Kho bạc có bền vững hay không. Sự đánh giá này đặt ra câu hỏi liệu Kho bạc có thể thanh toán các khoản nợ tồn đọng theo thỏa thuận hay không. Nếu câu trả lời là có, thị trường sẽ vui vẻ chấp nhận thêm nợ Kho bạc với nợ lãi suất hợp lý. Nếu câu trả lời là không, thị trường sẽ từ chối khoản nợ Kho bạc, và lãi suất sẽ tăng vọt. Trong trường hợp cực kỳ không chắc chắn do thiếu vốn hoặc không sẵn sàng trả nợ, nợ Chính phủ có thể trở nên gần như vô giá trị, như việc đã xảy ra ở Hoa Kỳ sau cách mạng và rất nhiều lần ở các nước khác từ trước đến nay.

Việc phân tích nợ Chính phủ nhiều thách thức hơn cả khi câu trả lời không phải là có hay không, mà là có thể. Chính tại những điểm bùng phát này (mà những người ủng hộ lý thuyết về sự phức hợp gọi là giai đoạn chuyển tiếp), thị trường trái phiếu đứng giữa sự tự tin và cơn hoảng loạn, và có vẻ như khả năng vỡ nợ rất cao. Các thị trường trái phiếu nhà nước ở châu Âu đến rất gần điểm này vào cuối năm 2011 và vẫn mấp mé bờ vực cho tới tháng 9 năm 2012, khi Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu – ông Mario Draghi đưa ra tuyên bố nổi tiếng:”làm bất cứ điều gì cần thiết”. Ý của Mario là ECB sẽ thay thế khoản nợ tiền của mình bằng nợ nhà nước với số lượng cần thiết để trấn an các chủ nợ nhà nước. Biện pháp trấn an này đã có hiệu quả, và các thị trường nợ nhà nước châu Âu được kéo xa khỏi mép vực.

Trong những năm gần đây, các vụ mua chứng khoán Chính phủ bằng tiền do Cục Dự trữ Liên bang in ra chiếm một tỷ lệ cao trong nợ ròng mới do Kho bạc phát hành. FED nhấn mạnh rằng, việc mua chứng khoán của họ là một công cụ chính sách nhằm nới lỏng các điều kiện tiền tệ, chứ không nhằm mục đích kiếm tiền từ nợ quốc gia. Cùng lúc đó, Kho bạc lại khẳng định rằng họ là con nợ tốt nhất thế giới và hoàn toàn không gặp khó khăn gì trong việc đáp ứng những yêu cầu tài trợ cho Chính phủ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, một người quan sát bình thường có lý do để tin rằng FED đang kiếm tiền từ khoản nợ bằng cách làm giảm giá trị của tiền – một bước đi hướng đến kết cục sụp đổ cho các hệ thống chính trị và kinh tế mà người ta đã thấy rất nhiều trong lịch sử, từ Rome cổ đại đến Argentina ngày nay. Trò chơi vĩ đại của FED là hoán đổi các giấy nợ không lãi suất của mình lấy giấy nợ có lãi suất của Kho bạc, sau đó trả lãi ít hơn cho Kho bạc. Thách thức đối với thị trường trái phiếu, và với nhà đầu tư nói chung, là phải quyết định xem Kho bạc phát hành bao nhiêu tín phiếu thì bền vững và thay thế tín phiếu Kho bạc bằng bao nhiêu giấy nợ FED thì chấp nhận được, trước khi giai đoạn chuyển tiếp xuất hiện và sự sụp đổ bắt đầu.

Động năng của nợ Chính phủ và thâm hụt ngân sách phức tạp hơn nhiều so với quan điểm thông thường. Tranh cãi xảy ra xung quanh vấn đề nợ nần và thâm hụt ngân sách thường xuyên thoái trào thành những lựa chọn “nhị phân”: Nợ vay tốt hay xấu cho nền kinh tế? Thâm hụt ngân sách của Mỹ quá cao hay chấp nhận được? Phe bảo thủ ở Đảng Trà (Tea Party) cho rằng về bản chất thì việc chi tiêu thâm hụt ngân sách gây ra tác động tiêu cực, rằng một ngân sách cân bằng là khao khát của chính họ, và rằng Hoa Kỳ đang trên con đường trở thành một Hy Lạp thứ hai. Những người theo chủ nghĩa tự do kiểu Krugman lại cho rằng nợ là yếu tố cần thiết để tài trợ những chương trình “trong mơ” nhất định, và rằng trước đây, Hoa Kỳ đã ở vào tình trạng này nếu xét về tỷ lệ nợ/GDP. Sau Thế chiến II, tỷ lệ nợ/GDP của Hoa Kỳ là 100% – xấp xỉ mức hiện nay. Trong suốt thập niên 1950 và 1960, Hoa Kỳ dần gảim tỷ lệ này xuống, và phe tự do nói rằng Mỹ có thể tái hiện thành tích đó bằng việc tăng thuế đôi chút.

Quan điểm của cả hai bên đều có những điểm hợp lý, nhưng cũng có thể dễ dàng bị bác bỏ. Vấn đề chính sách ở đây là một cuộc tranh luận được đóng khung theo cách này tạo ra những sự lưỡng phân giả tạo, chỉ lo cho hùng biện chứ không giúp tìm ra giải pháp. Về bản chất, nợ không tích cực cũng không tiêu cực. Tính hữu dụng của nợ được quyết định bởi việc người đi vay làm gì với số tiền vay được. Các mức nợ tự nó không quá cao hoặc quá thấp, điều quan trọng đối với chủ nợ là xu hướng hướng đến sự bền vững.

Nợ có thể tiêu cực nếu nó được sử dụng để bù đắp các khoản thâm hụt ngân sách tài chính mà không hề có kế hoạch trả nợ nào khác ngoài cách đi vay thêm. Nợ có thể tích cực nếu nó tài trợ cho những dự án đem lại hiệu quả cao hơn chi phí bỏ ra, và tự nó có thể trả hết nợ qua thời gian. Tỷ lệ nợ/GDP có thể tương đối thấp nhưng vẫn gây phiền hà nếu chúng đang ngày một tăng lên. Tỷ lệ nợ/GDP có thể tương đối cao nhưng không đáng lo ngại nếu chúng đang  ngày một giảm xuống.

Tranh cãi về nợ

Việc đóng khung các cuộc tranh cãi về nợ và thâm hụt ngân sách trong những điều kiện này làm dấy lên nhiều câu hỏi khác. Đâu là hướng dẫn thỏa đáng để xác định xem nợ có đang được sử dụng đúng mục đích mong muốn hay không, và xu hướng của tỷ lệ nợ/GDP có đang đi đúng hướng? May thay, cả hai câu hỏi đều có thể được trả lời một cách chính xác và không phản ánh sự chia rẽ trong ý thức hệ chính trị mà không cần nhờ đến tài hùng biện của phe bảo thủ hay phe tự do.

Nó được sử dụng để tài trợ chi tiêu Chính phủ có thể chấp nhận được khi nó đáp ứng ba điều kiện: lợi ích của việc chi tiêu phải lớn hơn chi phí, chi tiêu của Chính phủ phải hướng vào các dự án mà khu vực tư nhân không thể thực hiện, và mức tổng nợ phải bền vững. Những bài kiểm tra này phải được áp dụng độc lập, cả ba điều kiện đều phải được thỏa mãn. Ngay cả khi chỉ tiêu của Chính phủ có thể chứng minh được lợi ích ròng, thì nó vẫn không hợp lý nếu khu vực tư nhân có thể làm tốt hơn. Khi chi tiêu Chính phủ tạo ra chi phí ròng, nó sẽ hủy hoại khối tài sản trong xã hội và không bao giờ có thể chấp nhận được trừ khi xảy ra một cuộc khủng hoảng hiện sinh như chiến tranh.

Khó khăn nảy sinh khi chi phí và lợi ích không được định nghĩa rõ ràng, và khi ý thức hệ thay thế cho kết quả phân tích trong quá trình ra quyết định. Hai trường hợp minh họa những vấn đề này là Internet và gói kích thích của Obama năm 2009.

Những người ủng hộ chi tiêu Chính phủ chỉ ra rằng, Chính phủ đã tài trợ cho sự phát triển ban đầu của Internet. Quả thực, Chính phủ đã tài trợ cho ARPANET, một hệ thống lưu lượng tin nhắn cực mạnh trong số các máy tính Đại học quy mô lớn được thiết kế để tạo điều kiện cho hoạt động hợp tác nghiên cứu suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, sự phát triển của ARPANET thành Internet ngày nay được thúc đẩy bởi khu vực tư nhân thông qua việc phát minh ra World Wide Web, trình duyệt web và nhiều dự án cách tân khác. Lịch sử này cho thấy rằng, một số khoản chi tiêu của Chính phủ có thể mang lại lợi ích cao khi nó kích thích năng lực sáng tạo, cách tân của khu vực tư nhân. ARPANET có tham vọng khá khiêm tốn nếu xét theo các tiêu chuẩn hiện nay, và nó đã thành công. Không phải lúc nào Chính phủ cũng đóng băng ARPANET. Thay vào đó, họ đã tạo ra những giao thức có sẵn cho các nhà phát triển tư nhân rồi tránh đường để khối tư nhân làm việc. Internet là một ví dụ của việc Chính phủ giao lại công việc cho khu vực tư nhân.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Sponsored Post Learn from the experts: Create a successful blog with our brand new courseThe WordPress.com Blog

WordPress.com is excited to announce our newest offering: a course just for beginning bloggers where you’ll learn everything you need to know about blogging from the most trusted experts in the industry. We have helped millions of blogs get up and running, we know what works, and we want you to to know everything we know. This course provides all the fundamental skills and inspiration you need to get your blog started, an interactive community forum, and content updated annually.

Kế “hoãn binh” đe dọa nền dân chủ Malaysia


Trong bài bình luận gần đây đăng trên tờ Malaysiakini, tác giả Steve Oh cho rằng Malaysia đang trong tình trạng khẩn cấp nhưng không phải vì lý do như chính phủ đưa ra là chống COVID-19 mà chỉ là cái cớ “hoãn binh” cho Thủ tướng Muhyiddin Yassin, đồng thời đẩy nền dân chủ Malaysia vào tình trạng “hôn mê”.

Theo bài viết, tình trạng khẩn cấp có thể mang những ý nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau, song điều chắc chắn là một quốc gia trong tình trạng khẩn cấp cần được sự quan tâm khẩn cấp, giống như một người bệnh hoặc bị thương cần được hỗ trợ y tế khẩn cấp. Giới quan sát khẳng định rằng việc ban bố tình trạng khẩn cấp chỉ là cái cớ bởi Thủ tướng Muhyiddin Yassin sợ gặp phải Waterloo (một địa danh của Bỉ nơi xảy ra trận chiến vào năm 1815, đánh dấu sự kết thúc những trận chiến của Napoleon) nếu các cuộc bầu cử đột xuất diễn ra tại thời điểm này.

Rốt cuộc, không có quốc gia nào khác trên thế giới có nhiều ca nhiễm COVID-19 đình chỉ hoạt động quốc hội của họ. Hậu quả là đưa nền dân chủ vào trạng thái “hôn mê”. Vào thời điểm này, một quốc gia cần tất cả những nghị sĩ được bầu, dù có năng lực tốt hay không tốt, để nỗ lực giải quyết cuộc khủng hoảng quốc gia và toàn cầu này, chứ không phải để cho nhiều thành viên của chính phủ và phe đối lập rơi vào tình trạng bất khả kháng vì quốc hội ngừng hoạt động.

Việc ban bố tình trạng khẩn cấp không giúp ích gì mà còn gây trở ngại vì điều này làm gia tăng nguy cơ bất trắc đối với tình hình dịch bệnh vốn đang gây không ít hoang mang cho cộng đồng. Chính phủ có tất cả quyền lực cần thiết để chiến đấu với COVID-19 mà không cần sử dụng sức mạnh của việc ban bố tình trạng khẩn cấp. Malaysia đã từng ban bố sắc lệnh này trước đây. Công tác điều hành và sống trong tình trạng khẩn cấp chỉ gây khó khăn hơn cho cuộc sống của mọi người. Cho dù cái cớ nói trên bị chỉ trích nhiều như thế nào, người ta không thể bỏ qua tình trạng khẩn cấp thực sự để không bị lây nhiễm COVID-19 và không bị hủy hoại bởi chủng virus này. Một quốc gia thất bại trong cuộc chiến chống COVID-19 còn biểu hiện những thực trạng gây ảnh hưởng hơn rất nhiều so với chủng virus có thể đánh bại được này. Các “virus” vô hình và cứng đầu đang lây nhiễm vào Malaysia gây ra một mối đe dọa lâu dài hơn cho đất nước. Vì vậy, tác giả bài viết cho rằng việc ban bố tình trạng khẩn cấp thực sự không chỉ nhằm đối phó với đại dịch COVID-19 và sự quản lý yếu kém như một chính trị gia đã viết. Thay vào đó, tình trạng khẩn cấp ở đây nhằm đối phó với công tác quản lý yếu kém của toàn thể đất nước nói chung. Ngày nay, mạng xã hội không thiếu những bài báo phẫn nộ, chủ yếu do người Mã Lai viết, những người đã chán ngấy các nhân vật chính trị gia mà họ từng ủng hộ bởi họ đã trở thành những kẻ tham nhũng, phản bội và xấu hổ về chủng tộc và tôn giáo của họ kèm theo đó là lừa dối quốc gia.

Thiếu năng lực

Dịch bệnh, thậm chí là một đại dịch, không phải là lý do để vô hiệu hóa nền dân chủ của một quốc gia, trừ khi có sự hỗn loạn hoàn toàn và nguy cơ gây bất ổn dân sự. Việc ban bố tình trạng khẩn cấp là một cách đánh lạc hướng vô ích và không hiệu quả khi nó vi phạm Lệnh kiểm soát dịch chuyển (MCO) vẫn đang được áp dụng ở nhiều nơi tại Malaysia.

Đại dịch COVID-19 ập đến không báo trước. Các vấn đề khác đang lây nhiễm trong nền chính trị Malaysia mang tính chất mãn tính, một số vấn đề mang tính hệ thống, trong khi một số vấn đề khác mang tính hệ tư tưởng, khiến một quốc gia phải đối mặt với nhiều vấn đề khác nhau và một tương lai không được đảm bảo.

Các vấn đề vẫn tồn tại không được giải quyết không phải vì chính phủ thiếu năng lực mà vì sự chủ tâm và do thiếu một chính quyền trong sạch, hoạt động hiệu quả, đáng tin cậy, công bằng và công tâm. Đơn giản là không có cơ chế an toàn cho người dân khi những người nắm quyền phải sử dụng chính trị như một công cụ bất công, vi hiến và thậm chí bẩn thỉu. Đại dịch xảy ra và sẽ kết thúc. Tuy nhiên, nếu không có cải cách triệt để thì Malaysia sẽ phải hứng chịu những hậu quả tồi tệ kéo dài mà một hệ thống tham nhũng gây ra, một hệ thống do giới lãnh đạo không phải do dân bầu ra, không đáng tin cậy và vô kỷ luật vận hành.

COVID-19 có thể không phải do con người tạo ra nhưng “những virus hủy diệt quốc gia” lại do con người tạo ra và những loại “virus” này là sản phẩm của hệ thống chính trị và nguy hiểm hơn nhiều, lan rộng hơn và gây ra nhiều hệ quả hơn. Làm thế nào để có thể tiêm phòng chống lại “virus” lạm dụng, tham nhũng và đồi bại về đạo đức trong một chính phủ rạn nứt nghiêm trọng do các chính trị gia không đáng tin cậy lãnh đạo? Người dân từng hy vọng cuộc tổng tuyển cử năm 2018 (GE14) sẽ đem lại “phương thuốc” chưa bệnh cho tìnht rạng trên, song chỉ để nhận ra đó là một trò ngu ngốc. Tuy nhiên, nếu bạn không thành công, hãy thử lại nhiều lần cho đến khi đạt được nguyện vọng của người dân về chính phủ quản trị tốt. Đừng bao giờ bỏ cuộc.

Cách điều trị là loại bỏ

Thay đổi chính trị không phải là trò chơi dành cho những trái tim yếu ớt. Đó là một thách thức cho những người tuyệt vọng bị đè nén bởi nạn tham nhũng của các chính trị gia. Nếu bạn từ bỏ sự phấn đấu để có được quản trị tốt thì hãy từ chức để sống trong tình trạng thất bại. Và hãy chuẩn bị chịu đựng.

Đã đến lúc những người Malaysia có cùng chí hướng từ mọi tầng lớp xã hội đoàn kết lại tại thời điểm quan trọng và thuận lợi nhất trong lịch sử để loại bỏ những kẻ phản bội chính, những kẻ cướp bóc, những kẻ cuồng tín tôn giáo, những kẻ cùng tín và những kẻ thù thực sự của Malaysia đãđược chứng minh. Nguy cơ xảy ra tình trạng phân tán số phiếu trong cuộc tổng tuyển cử lần thứ 15 (GE15) là có thật. Những người thúc đẩy cải cách muốn thay thế các chính trị gia đương nhiệm ở Putrajaya phải vượt lên trên tham vọng cá nhân và chính trị để áp dụng một chiến lược thành công chung. Nếu có một ý chí, sẽ có một con đường. Các cử tri không được để những virus độc hại mang màu sắc chính trị của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, tôn giáo cực đoan và tham nhũng lây nhiễm vào hệ thống chính trị và đánh lừa họ. Hãy tăng cường khả năng kiểm tra chéo giữa các cơ quan ban ngành. Do đó, điều quan trọng là tăng cường vai trò của một nền dân chủ hoạt động hiệu quả. Và nếu hệ thống bị “nhiễm bệnh”, hãy điều trị bằng cách loại bỏ “virus” gây bệnh. Kêu gọi bầu cử và loại bỏ những chính trị gia làm lây lan “virus”. Không bỏ phiếu cho các chính trị gia tham nhũng và bỏ phiếu miễn nhiệm khi họ bị phát hiện là tham nhũng. Chỉ các cử tri mới có thể sử dụng “vaccine bầu cử” quan trọng trước khi cuộc tổng tuyển cử lần thứ 15 (GE15) diễn ra vì chính phủ đương nhiệm sẽ không để các chính trị gia khác kêu gọi tiến hành một cuộc bầu cử bất ngờ. Ban bố tình trạng khẩn cấp là đòn phủ đầu ngăn chặn mà mọi người đã tiên liệu được.

Trước khi xảy cuộc bạo luận chính trị tại khách sạn Sheraton ở thủ đô Kuala Lumpur, chính phủ đã ở trong tình trạng bất ổn. Niềm tin của công chúng vào chính phủ hiện đang ở mức thấp nhất trong thời gian gần đây. Mặc dù đại dịch COVID-19 giống như một “cơn giông tố” đang càn quét, để lại một làn sóng virus vô hình kéo dài, nạn phân biệt chủng tộc, tôn giáo quá khích, tham nhũng, bỏ bê nhu cầu cốt yếu đang gây ra những cơn gió độc mãn tính mang theo dịch bệnh.

Malaysia cần được điều trị khẩn cấp. Liệu Thủ tướng Muhyiddin Yassin có đủ khả năng thực hiện những thay đổi triệt để hay không là một vấn đề cần bàn. Nếu không cải cách, Malaysia sẽ chìm nghỉm. Muhyiddin cần phải suy nghĩ thấu đáo, song câu hỏi là phải làm như thế nào trong bối cảnh ông ta đang rơi vào vực thẳm chính trị? Ông bị “trói tay, trói chân” về mặt chính trị. Việc ban bố tình trạng khẩn cấp chỉ là kế “hoãn binh” cho ông ta và những người khác.

Những tội phạm chính trị vẫn đang hoạt động và là mối đe dọa đối với nhà nước pháp quyền. Họ không chỉ sở hữu hàng đống tiền mà còn liều lĩnh điều hành chính phủ. Malaysia phải đối mặt với một tương lai ảm đạm nếu không sửa chữa những cách làm sai và loại bỏ những chính trị gia bị kết án.

Vaccine chống lại sự quản lý tồi mang tên “DVIKON” – viết tắt của cụm từ “Don’t Vote In, Kick Out Now” (tạm dịch: Đừng bỏ phiếu, hãy loại bỏ) những phần tử “con sâu làm rầu nồi canh” trong chính trị. Và những chính trị gia này sẽ phải đối mặt với phản ứng dữ dội còn kinh hoàng hơn cả việc mất chức.

Nguồn: TKNB – 03/02/2021.

Nhiều cách hiểu đan xen nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần III


Hiện có hai cuộc tranh luận liên quan đến chủ đề này:

+ Sự phân chia nhiệm vụ giữa nhà nước và các doanh nghiệp – điều này đưa chúng ta trở lại với những câu hỏi liên quan tới xu hướng tân gia trưởng: khi bước ra khỏi lĩnh vực hoạt động kinh tế truyền thống, liệu các doanh nghiệp có tránh khỏi nguy cơ bị kết tội là muốn chi phối thế giới mà không phải tuân thủ sự kiểm soát về mặt chính trị? Dù sao thì chiều kích quốc tế ngày càng tăng trong hoạt động của doanh nghiệp đã làm thay đổi thế cờ: khi mà các doanh nghiệp không bị lũng đoạn bởi các nhóm mafia quốc tế, thì sự thiếu vắng luật lệ quốc tế đối với các hoạt động của doanh nghiệp là điều mà ai cũng có thể nhận thấy một cách nghiêm túc. Tất nhiên ngoại trừ một số lĩnh vực đã có những thỏa ước quốc tế. Nhưng, khi Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc chẳng hạn, muốn thúc đẩy các chuẩn mực mang tính cưỡng chế đối với các công ty đa quốc gia thì Phòng Thương mại quốc tế (International Chamber of Commerce) và Hội đồng kinh doanh quốc tế của Mỹ (US Council for International Business) liền chỉ trích gay gắt các chuẩn mực này và cho rằng người ta đã dịch chuyển nghĩa vụ tôn trọng nhân quyền từ các nhà nước sang phía các doanh nghiệp.

+ Cuộc tranh luận thứ hai diễn ra xoay quanh những trách nhiệm của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và của công dân nói chung. Các nhà công nghiệp cho rằng họ chỉ sản xấut ra những sản phẩm có người mua trên thị trường và do đó, họ không phải chịu trách nhiệm với người tiêu dùng cuối cùng vì người này có quyền tự do mua hoặc không mua. Cuộc tranh luận xa xưa này đã kết thúc từ lâu khi người ta quan tâm đến chiều kích cá thể hóa của yếu tố cầu trước sự độc quyền thiểu số của cung (thị trường độc quyền nhóm – ND). Mặt khác, người tiêu dùng chưa bao giờ có thể gây ảnh hưởng lên các quyết định đầu tư hoặc những lựa chọn về công nghệ và cách tổ chức lao động trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Rõ nhất là lập luận cố chứng minh rằng các thị trường sẽ hợp thức hóa mọi hoạt động kinh tế; điều này có nghĩa là gán cho thị trường một tính chất đạo đức và một sự sáng suốt mà nó không hề có, bằng chứng là những hoạt động kinh tế phi pháp vẫn đang diễn ra hàng ngày trước mắt chúng ta. Nhưng những chủ thể hành động khác ngoài doanh nghiệp cũng có những trách nhiệm của mình và họ có thể thể hiện những trách nhiệm ấy thông qua các hoạt động công dân hoặc các hành vi tiêu dùng có trách nhiệm. Tất nhiên chúng ta đều đồng ý rằng mỗi người đều có trách nhiệm riêng của mình trong bối cảnh hành tinh hiện nay, nhưng cũng có những mức độ trách nhiệm mà ta không thể bỏ qua hoặc tránh né vì, như Anna Harendt đã từng nói, “nếu mọi người đều cùng có trách nhiệm thì sẽ chẳng ai có trách nhiệm cả”.

Rõ ràng, phạm vi của CSR là điều mà người ta còn đang tranh cãi và sẽ còn tranh cãi bởi sự phức tạp của vấn đề cũng như những lý do khác nhau của các chủ thể hành động. Nhưng dù sao thì vấn đề cũng đã được đặt ra. Luật của nước Pháp, khi quy định rằng những doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán phải công bố các thông tin về những hậu quả xã hội và môi trường do hoạt động của mình gây ra, vẫn còn để lại một khoảng trống cho câu hỏi về phạm vi bao phủ và mọi người đều đồng ý rằng điều này cần được nêu cho chính xác hơn. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cũng cố gắng xác định điều mà tổ chức này gọi là “những vùng ảnh hưởng” của các doanh nghiệp, bằng cách lấy các quan hệ đầu tư làm tiêu chuẩn để xem xét. Các ngân hàng chẳng hạn, cần nhận thức rõ rằng trách nhiệm của họ không chỉ giới hạn trong phạm vi của các trụ sở mà còn phải tính đến cả những tác động của dự án mà họ cho vay. Các nhà máy chế biến thực phẩm phải giám sát nguồn gốc của các sản phẩm do mình làm ra trong suốt quá trình sản xuất. Những người đặt hàng và các siêu thị lớn cũng được yêu cầu phải kiểm tra chất lượng xã hội của các sản phẩm từ các nhà cung ứng hoặc từ công ty gia công trước khi bán chúng ra thị trường. Những ví dụ này cho thấy rằng phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp, xét từ khía cạnh không gian lẫn thời gian, đang là một mối bận tâm lớn, và vẫn còn gây ra nhiều cuộc tranh luận.

“Xã hội” cần được hiểu như thế nào?

Trong tiếng Pháp, tính từ “social” (“mang tính xã hội” – ND) mang rất nhiều ý nghĩa khiến cho khái niệm “trách nhiệm xã hội” trở nên mơ hồ hơn. Bởi vì khái niệm này được áp dụng cho các doanh nghiệp nên rất nhiều người đã giới hạn CSR vào các mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, đồng thời loại bỏ tất cả các khía cạnh khác liên quan đến sự phát triển bền vững. Chính vì thế mà người ta sử dụng tính từ “sociétal” (“trên quy mô xã hội” – ND) để phân biệt những gì có liên quan tới xã hội theo nghĩa rộng với những gì chỉ liên quan tới các mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động (ví dụ bản tổng kết xã hội theo nghĩa rộng [bilan sociétal] so với bản tổng kết xã hội theo nghĩa hẹp [bilan social]). Đồng thời, sự quy giản này đã làm nảy sinh những cụm từ nhằm hội nhập thêm những chiều kích khác như: trách nhiệm xã hội và môi trường (responsibilité sociale et environnementale), trách nhiệm trên quy mô xã hội (responsibilité sociétale), trách nhiệm tổng thể (responisbilité globale). Hiện nay, việc sử dụng tính từ “xã hội” (trong ngữ cảnh CSR) đang ngày càng có xu hướng ngả theo cách hiểu Anh – Mỹ, tức tính xã hội phổ quát, bao trùm mọi khía cạnh của đời sống xã hội. Cách hiểu này gần như đã được chấp nhận bởi vì một trong những ý nghĩa của tính từ xã hội trong tiếng Pháp là chỉ các mối quan hệ của con người trong xã hội hiểu theo nghĩa rộng.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Bác lại sự bôi xấu Mao Trạch Đông trong cuốn Chu Ân Lai cuối đời – Phần I


Li Jie

Năm 2003, Nhà xuất bản Tấm gương (Mirror Books) ở New York Mỹ đã xuất bản cuốn Chu Ân Lai cuối đời của Cao Văn Khiêm (Gao Wenqian), một người Trung Quốc cư trú tại Mỹ. Trên cơ sở số lượng lớn tài liệu hồ sơ mà phía Trung Quốc chưa chính thức công bố, cuốn sách đã trình bày lại kỹ càng quan hệ giữa Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai trước và sau cách mạng văn hóa, trong đó đề cập đến nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc như Lâm Bưu (Lin Piao), Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping), Giang Thanh (Jiang Qing)… Nội dung mà cuốn sách này làm rõ trái ngược hẳn với hệ tư tưởng mà phía quan phương Trung Quốc chú tâm tạo dựng nên. Theo các phương tiện truyền thông nước ngoài, đây được coi là tác phẩm “phi Mao hóa” tiêu biểu mà tuy phía quan phương Trung Quốc ra sức ngăn chặn nhưng nó vẫn được lưu truyền rộng rãi, thậm chí trở thành món quà quý để tặng các nhân vật trong quan trường, được gọi là “cuốn sách của cán bộ cấp bộ”.

Năm 2004 Tư Mã Công (Zima Gong) công bố tài liệu viết trên tạp chí Kính góc rộng (Guangjiao jing), phê phán Chu Ân Lai cuối đời. Gần đây, ngày 14 tháng 10 năm 2013, phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc Lý Tiệp (Li Jie) lại công bố trên báo Khoa học xã hội Trung Quốc bài viết “Bác lại sự bôi xấu Mao Trạch Đông trong cuốn Chu Ân Lai cuối đời”. Các website lớn và các cơ quan truyền thông Trung Quốc đều đăng lại bài viết, các phương tiện truyền thông bằng Trung văn quan trọng ở hải ngoại đều đưa tin về việc này; tìm kiếm qua Google tiêu đề bài viết này, có trên 50 nghìn kết quả.

Từ bên kia đại dương, Cao Văn Khiêm đã viết bài đăng trên tạp chí ra hai tuần một kỳ Quyền con người ởTrung Quốc (Zhongguo renquan shuangzhukan) phản bác lại bài viết của Lý Tiệp.

Cao Văn Khiêm cho rằng bối cảnh của việc nhắc lại chuyện cũ này là Tập Cận Bình (Ji Jinping) muốn lấy việc giương ngọn cờ Mao Trạch Đông (Mao Zedong) để nắm lại quyền diễn ngôn tư tưởng hệ, cũng là dọn sạch sân cho việc kỷ niệm 120 năm ngày sinh Mao vào năm nay.

Hơn 20 năm trước Cao Văn Khiêm và Lý Tiệp cùng là đồng nghiệp tại Trung tâm Nghiên cứu Văn kiện Đảng thuộc Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ngày 18 tháng 5 năm 1989, trong đội ngũ diễu hành của hàng triệu người thuộc các giới ở Bắc Kinh ủng hộ sinh viên tuyệt thực tại Thiên An Môn, Cao Văn Khiêm là một trong đội ngũ đi đầu diễu hành của Trung tâm Văn kiện, còn Lý Tiệp là người tham gia. Sau cuộc trấn áp ngày 4 tháng 6, họ đều bị đơn vị tra xét thanh lọc, Lý qua được cửa ải kiểm tra, được lãnh đạo tín nhiệm lại, Cao thì cảm thấy “duyện phận với Đảng Cộng sản đã hết”, chuồn ra hải ngoại, hai người phân biệt đi theo hai con đường hoàn toàn khác nhau, một bên là phò Mao, một bên là bài Mao.

Dưới đây là bài viết của Lý Tiệp và của Cao Văn Khiêm.

BÁC LẠI SỰ BÔI XẤU MAO TRẠCH ĐÔNG TRONG CUỐN CHU ÂN LAI CUỐI ĐỜI

Lý Tiệp

Mấy năm gần đây có người nhân danh “suy xét lại” để tùy tiện bóp méo “cách mạng văn hóa”, thực sự không nên. Cuốn Chu Ân Lai cuối đời của ông Cao Văn Khiêm (Gao Wenqian) nhiều chỗ phớt lờ thực tế lịch sử, thay thế miêu tả khách quan bằng tưởng tượng cá nhân, thay thế phân tích lý tính bằng trích dẫn cắt xén, thay thế kết luận công tâm bằng cách nhìn thành kiếm cảm tính. Việc “suy xét lại” như vậy rốt cuộc có giá trị và ý nghĩa gì? Ở đây chúng tôi chỉ xin phân tích một số vấn đề liên quan đến Mao Trạch Đông trong cuốn sách này, tin rằng qua đó bạn đọc có thể thấy rõ vấn đề, làm rõ đúng sai.

Cuốn sách này bắt đầu bằng một “câu chuyện” nhỏ về việc Mao Trạch Đông đốt pháo. Chuyện xảy ra vào đêm trừ tịch 3 tuần sau khi Chu Ân Lai tạ thế, Mao Trạch Đông cho người đốt một trận pháo tại chỗ ở Trung Nam Hải. Đốt pháo đêm trừ tịch là phong tục của người Trung Quốc, việc làm này của Mao Trạch Đông làm sao lại có “ngụ ý” được? Nhưng tác giả lại cho rằng đây là sự “bất kính lớn” của Mao đối với Chu Ân Lai vừa qua đời. Nhưng thực tế là, là người chứng kiến tại chỗ lúc bấy giờ, Trương Ngọc Phượng (Zhang Yufeng) trong “Vài mẩu chuyện về Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai cuối đời” đã nhớ lại như sau: Đêm trừ tịch năm 1975, thân thể cực kỳ suy yếu, Mao Trạch Đông nghe thấy “tiếng pháo phía xa xa khiến Người nghĩ đến cảnh tượng đốt pháo năm trước. Người nói với tôi bằng giọng khàn khàn: “Đốt ít pháo đi. Những người trẻ tuổi các bạn cũng phải ăn tết chứ”. Thế là tôi báo cho mấy nhân viên khác đang trực ban. Họ sửa soạn mấy bánh pháo và đốt một lúc ngoài phòng. Mao Chủ tịch lúc này nghe thấy tiếng pháo, trên nét mặt gầy yếu, mềm nhão của Người lộ một nét cười. Trong lòng chúng tôi đều hiểu, nét cười này của Chủ tịch là đang an ủi chúng tôi, những nhân viên công tác tháp tùng Người”. Đọc đến chỗ này tôi vỡ nhẽ, “sự kiện đốt pháo” chẳng qua là như vậy, không hề liên quan gì đến việc Chu Ân Lai qua đời.

Tác giả tóm lấy việc đốt pháo để viết văn, đó tuy chỉ là một cách “mở đầu” giàu tính văn học nhưng nó đã đặt ý chính cho cả cuốn sách, tức là những năm tháng cuối đời của Chu Ân Lai mây mù lớp lớp, đầy bí ẩn. Để bồi lấp vào cái khuôn khổ tự sự đặt trước này, giống như một vị quan tòa lịch sử bất chấp luật pháp vì tư lợi, tác giả dùng mọi thủ đoạn làm cho “hồ sơ” có vẻ càng đáng tin cậy. Thủ pháp của Chu Ân Lai cuối đời trong việc treo đầu dê bán thịt chó, lập lờ đánh lận con đen vô cùng điêu luyện. Thí dụ, trong sách nói rằng Mao Trạch Đông phát động “cách mạng văn hóa” là “xuất phát từ sự thúc đẩy của nỗi sợ hãi sâu trong lòng, chỉ sợ mình rơi vào kết cục bị người ta quất vào thây sau khi chết giống như Stalin, từ đó có hành vi tiên phát chế nhân đối với Lưu Thiếu Kỳ, một “Khrushov của Trung Quốc””. Tác giả tùy tiện tưởng tượng cuộc “cách mạng văn hóa” do Mao Trạch Đông phát động là một thứ quyền mưu. Ông còn nói: “Trước cái chết của Stalin, Mao Trạch Đông vừa mừng vừa lo”. “Vừa mừng vừa lo” đích xác từ miệng Mao Trạch Đông nói ra, nhưng ý nghĩa đích thực của nó cũng không phải như trong sách nói Nói theo lời của chính Mao Trạch Đông, mừng là mừng đã gỡ bỏ được cái ô thần thánh hóa Stalin, xóa bỏ mê tín, giải phóng tư tưởng, khiến mọi người dám nói lời thực, dám nghĩ vấn đề; lo là cái kiểu phủ định toàn diện đối với Stalin, một gậy đập chết, từ đó sẽ sớm đem lại một loạt hậu quả nghiêm trọng. Do vậy Mao Trạch Đông cũng lo ngại Trung Quốc xuất hiện Khrushov, và dần dần coi Lưu Thiếu Kỳ – một người nhiều lần không nhất trí với mình về đường hướng công tác – là Khrushov của Trung Quốc, đây là lối tư duy của một thời đại cụ thể, có thể hiểu được. Nhưng cuốn Chu Ân Lai cuối đời lại đánh lộn giới hạn thời gian, khái quát cái đơn lẻ thành cái toàn bộ để gây hiểu lầm cho nhữg bạn đọc không am hiểu giai đoạn lịch sử này.

Để chứng minh cho cái gọi là “lão luyện trong quyền mưu” của Mao Trạch Đông. Chu Ân Lai cuối đời bám riết lấy “sự kiện Ngũ Hào” để làm nên chuyện. “Sự kiện Ngũ Hào” xẩy ra năm 1967 mà cuốn sách nói tới thực ra vốn rất rõ ràng, là sự việc do Giang Thanh và một số người cố ý tạo ra nhằm vu khống Chu Ân Lai là “kẻ phản bội”. Đối mặt với “sự kiện Ngũ Hào”, Chu Ân Lai ra sức làm rõ chân tướng vụ việc và trình lên Mao Trạch Đông. Sau khi Mao Trạch Đông nghiêm khắc ngăn chặn, nhóm Giang Thanh tạm thời thôi. Trong vụ việc này, mỗi lần họ Chu vượt qua được cửa ải gian nan nguy hiểm đều có quan hệ rất lớn với sự ủng hộ, tín nhiệm trước sau như một của Mao Trạch Đông đối với ông. Phát động “cách mạng văn hóa”, thúc đẩy “cách mạng văn hóa”, duy trì “cách mạng văn hóa”, Mao Trạch Đông không thể rời nhóm Giang Thanh, càng không thể rời Chu Ân Lai Đây là sự thực lịch sử lúc bấy giờ.

(còn tiếp)

Người dịch: Viễn Phố Nguồn:

TN 2014 – 64 & 65

Hiểm họa đồng USD và tầm quan trọng của vàng – Phần II


Một đặc trưng của hệ thống dự trữ vàng cục bộ chính là sự mơ hồ về giới hạn của hai loại sản phẩm và dịch vụ ngân hàng. Các nhà ngân hàng tiến hành “tiêu chuẩn hóa” thiết kế tín phiếu ngân hàng, khiến người bình thường rất khó phân biệt sự khác nhau về bản chất của hai loại chứng chỉ ngân hàng này. Vì vậy, hàng trăm năm nay, các ngân hàng Anglo-Saxon bị liên đới trong nhiều vụ kiện tụng. Trong khi khách hàng phẫn nộ phản đối các nhà ngân hàng lại tuyên bố rằng, họ có quyền sử dụng số tiền của khách hàng mà không cần phải giải thích cho khách hàng biết mục đích sử dụng, miễn sao khi rút tiền, hách hàng không phải than phiền gì. Một trong những vụ án nổi tiếng nhất chính là vụ Foley kiện Ngân hàng Hill mà quan tòa đã phán quyết: “Khi gửi vào ngân hàng thì tiền không còn thuộc về khách hàng nữa. Lúc này, tiền đã thuộc về ngân hàng. Ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả tiền cho khách hàng khi có yêu cầu. Và như vậy, ngân hàng có toàn quyền sử dụng số tiền đó mà không có nghĩa vụ phải trả lời khách hàng về việc số tiền này có nguy cơ gì không, có bị dùng vào việc đầu cơ gây hại hay không. Ngân hàng chỉ có nghĩa vụ bảo quản nguyên vẹn số tiền của khách hàng theo sự ràng buộc của hợp đồng”.

Theo pháp luật, phán quyết này của quan tòa nước Anh như một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử tiền tệ. Theo đó, tiền bạc của khách hàng gửi vào ngân hàng không còn được luật pháp bảo hộ. Điều này xâm phạm quyền tài sản của công dân một cách nghiêm trọng. Sau vụ việc, ngân hàng Anglo-Saxon hoàn toàn từ chối thừa nhận tính hợp pháp của dịch vụ “ủy thác quản lý tiền gửi”, và việc dự trữ toàn ngạch đã mất đi tính hợp pháp, mọi khoản tiền gửi của dân chúng đều có thể bị ngân hàng sử dụng vào việc đầu tư mạo hiểm.

Trong chiến dịch Waterloo năm 1815, vì nắm được kết cục bại trận sớm hơn 24 giờ so với cơ quan tình báo Anh nên gia tộc Rothschild đã kiểm soát  được thị trường công trái Anh quốc, kiểm soát luôn quyền phát hành tiền tệ củ Đế quốc Anh. Sau đó không lâu, gia tộc này lại tiếp tục khống chế việc phát hành tiền tệ của các quốc gia khác như Pháp, Áo, Phổ, Italy để từ đó nắm giữ quyền định giá thị trường vàng thế giới trong suốt gần 200 năm. Mạng lưới ngân hàng do Rothschild, Schiff Warburg và các nhà ngân hàng Do Thái xây dựng tại các quốc gia trên thực tế đã tạo nên hệ thống tiền tệ quốc tế và trung tâm thanh toán thế giới sớm nhất trong lịch sử. Chỉ bằng cách gia nhập vào mạng lưới thanh toán của họ thì các ngân hàng khác mới có thể lưu hành ngân phiếu xuyên quốc gia. Từng bước một, các nhà tài phiệt ngân hàng đã hình thành nên một cartel (tập đoàn lũng đoạn) trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Các nguyên tắc do họ đặt ra đã trở thành “thông lệ quốc tế” của ngành tài chính thế giới hiện nay.

Cartel là lực lượng thúc đẩy quan trọng nhất của hệ thống dự trữ cục bộ, đồng thời cũng là đơn vị đượchưởng lợi nhiều nhất. Trong khi đạt đến một quy mô tương đối, lực lượng này tất yếu phải ủng hộ, thậm chí là trực tiếp thiết lập nên những quy tắc chính trị cũng như quy tắc luật pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của mình.

Năm 1913, một phiên bản của hệ thống dự trữ cục bộ đã được tạo dựng thành công tại Mỹ – Cục Dự trữ Liên bang (FED). Nhu vậy, đồng tiền của hệ thống dự trữ toàn ngạch dần dần bị “tiền xấu” (không được bảo đảm bằng vàng) chi phối và loại bỏ ra khỏi cuộc cạnh tranh. Tiền giấy bạc và tiền giấy vàng do Chính phủ Mỹ phát hành thời đó được xem là thứ may mắn còn tồn tại của hệ thống dự trữ toàn ngạch do Chính phủ đảm bảo bằng vàng bạc thật. Một ounce vàng bạc có giá trị tương đương với số tiền giấy đối ứng. Chi dù mọi khoản nợ vốn có của hệ thống ngân hàng có bị hoàn trả hết thì trên thị trường vẫn lưu thông đồng USD vàng bạc, và kinh tế vẫn có thể phát triển bình thường giống như trước khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thành lập năm 1913.

Từ năm 1913 đến nay, đồng USD “xấu” trên thị trường của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ dần dần loại bỏ đồng USD “tốt” (được đảm bảo bằng vàng) của hệ thống dự trữ toàn ngạch. Vì muốn tạo ra chế độ dự trữ cục bộ nhằm lũng đoạn thế giới tài chính hiện hành, đồng thời hất cẳng Chính phủ ra khỏi lĩnh vực phát hành tiền tệ, các nhà ngân hàng quốc tế đã huy động mọi kỹ năng có thể, để rồi cuối cùng loại bỏ thành công đồng USD bạc vào thập niên 1960 của thế kỷ XX, đồng thời cắt đứt mối liên hệ cuối cùng giữa và và đồng USD năm 1971. Từ đây, chế độ dự trữ cục bộ đã hoàn thành sứ mệnh lũng đoạn của mình.

Đồng USD vay mượn được “biến hóa” như thế nào?

Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York miêu tả đồng USD như thế này: “Đồng USD không thể hoán đổi thành vàng hay bất cứ tài sản nào khác của Bộ Tài chính. Nó không mang ý nghĩa thực tế mà chỉ có tác dụng ghi nợ… Ngân hàng chỉ tạo ra tiền tệ khi người đi vay cam kết hoàn trả các khoản vay của ngân hàng. Ngân hàng thông qua “tiền tệ hóa”các khoản nợ thương mại và tư nhân để tạo ra tiền tệ”.

Sự giải thích của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Chicago là: “Ở Mỹ, bất luận tiền giấy hay là tài khoản ngân hàng đều không có đủ giá trị nội tại như một loại hàng hóa. Đồng USD chẳng qua chỉ là một tờ giấy. Còn tài khoản ngân hàng cũng chỉ là những con số ước lượng ghi trên giấy. Tiền kim loại tuy có một giá trị nội tại nhất định, nhưng lại thường thấp hơn nhiều so với mệnh giá của chúng”.

Vậy rốt cuộc, điều gì khiến cho những công cụ tiền tệ như ngân phiếu, tiền giấy, tiền đúc kim loại được người ta tiếp nhận theo đúng mệnh giá của chúng trong việc hoàn nợ cũng như các công dụng thanh toán khác? Câu trả lời là lòng tin của con người. Người ta tin rằng bất cứ lúc nào, họ có thể dùng những loại tiền tệ này để hoán đổi thành tài sản khác. Một phần nguyên do trong vấn đề này là Chính phủ đã sử dụng pháp luật để ban hành các quy định nên các loại tiền pháp định bắt buộc phải được tiếp nhận.

Nói cách khác, việc tiền tệ hóa dịch vụ cho vay tạo ra đồng USD, còn mệnh giá của đồng USD lại do một ngoại lực tác động cưỡng chế. Vậy làm thế nào dịch vụ cho vay nợ lại biến thành đồng USD được? Nếu muốn hiểu rõ quá trình này, chúng ta cần dùng đến “kính hiển vi” để quan sát tỉ mỉ cơ chế vận hành hệ thống tiền tệ của Mỹ.

Các độc giả không có chuyên môn về tài chính có lẽ cần phải đọc kỹ nội dung dưới đây mới có thể hiểu quy trình tạo ra tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hệ thống ngân hàng. Đây là một bí mật thương mại quan trọng nhất của ngành tài chính phương Tây.

Do Chính phủ Mỹ không có quyền phát hành tiền tệ mà chỉ có quyền phát hành công trái, sau đó đem công trái nộp cho Cục Dự trữ Liên bang làm vật thế chấp để phát hành tiền tệ thông qua Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hệ thống ngân hàng thương mại mà ngọn nguồn của đồng USD nằm ở công trái.

Bước thứ nhất, Quốc hội phê chuẩn quy mô phát hành công trái, Bộ Tài chính sẽ thiết kế công trái thành nhiều loại khác nhau, trong đó loại có kỳ hạn 1 năm thì gọi là T-Bills (Treasury Bill), loại có kỳ hạn từ 2 – 10 năm thì gọi là T-Notes, còn loại có kỳ hạn 30 năm gọi là T-Bonds. Những công trái này có mức lãi suất khác nhau và thời hạn khác nhau, được tiến hành phát mãi công khai trên thị trường. Cuối cùng, Bộ Tài chính sẽ đem toàn bộ số công trái không phát mãi được trong giao dịch chuyển qua Cục Dự trữ Liên bang. Trên sổ sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, những công trái này sẽ được ghi vào mục “Tài sản chứng khoán” (Securities Asset).

Do Chính phủ Mỹ dùng tiền thu thế trong tương lai làm thế chấp nên công trái của nước này được coi là “tài sản đáng tin cậy nhất” trên thế giới. Ngay sau khi thu được khoản tài sản này, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có thể sử dụng nó để tạo ra một dạng tiền nợ (Liability) gọi là “Chi phiếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ”.

Đây là bước đi quan trọng trong quá trình “biến không thành có”. Tuy nhiên, loại chi phiếu Cục Dự trữ Liên bang này chẳng có bất cứ loại tiền nào có thể đảm bảo. Một bước thiết kế hết sức tinh vi dưới sự ngụy trang khéo léo. Sự tồn tại của loại chi phiếu này khiến Chính phủ càng dễ khống chế cán cân cung cầu khi phát mãi công trái. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thu lãi từ khoản tiền cho Chính phủ vay, còn Chính phủ thì nhận tiền một cách hợp pháp mà không để lộ ra dấu vết trong việc ấn hành một lượng lớn tiền giấy. Rõ ràng, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tay không mà bắt được giặc, mọi con số trong sổ sách kế toán hoàn toàn cân đối, tài sản công trái bằng với số nợ. Cả hệ thống ngân hàng được bao bọc khéo léo trong lớp vỏ ngụy trang này.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Song Hong Binh – Chiến tranh tiền tệ – Phần I – NXB LĐ 2020.

Việt Nam có đủ tiềm lực để thực hiện kế hoạch phát triển đô thị ứng phó biến đổi khí hậu 2021 – 2030?


Theo đài RFA, phát triển đô thị để ứng phó với biến đổi khí hậu cho Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 là đề án cuối cùng của ông Nguyễn Xuân Phúc trước khi rời cương vị Thủ tướng chính phủ. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ban hành Quyết định số 438/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030”.

Theo GS.TS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030 là kịp thời, phù hợp với yêu cầu hiện nay.

Ông Đặng Hùng Võ cho rằng có 4 lý do dẫn đến việc Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt đề án với mục tiêu Việt Nam trở thành nước công nghiệp với tỷ lệ đô thị hóa từ 42% hiện nay lên 65% vào năm 2030: “Thứ nhất là thể hiện cam kết của Việt Nam tại Hội nghị toàn cầu về biến đổi khí hậu ở Paris, thường gọi là COP-21.

Thứ hai, năm 2020, trong tình trạng cả nước phải dồn vào việc kiểm soát COVID-19 thì gần 15 cơn bão đã tràn vào tàn phá các tỉnh miền Trung. Tình trạng các khu dân cư ven biển bị tàn phá do ngập lụt lâu ngày, núi lở, đất sụt gây chết chóc và mất tích rất nhiều người. Chính phủ Việt Nam ý thức được rằng không thể phát triển các đô thị như hiện nay trong khi nhiệm vụ đô thị hóa như một trọng tâm 10 năm tới.

Thứ ba, trong thời gian miền Trung bị bão lũ, Ngân hàng thế giới (WB) đã hoàn thành báo cáo “Tăng cường khả năng chống chịu khu vực ven biển: Phát triển khu vực ven biển Việt Nam – Cơ hội và rủi ro thiên tai”. Báo cáo chỉ ra rằng: “dù có tiến bộ đáng kể nhưng các biện pháp quản lý rủi ro thiên tai hiện tại của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu”. Đếm lại con số 11,8 triệu cư dân ven biển đang gặp rủi ro cao do lũ lớn, 35% khu dân cư ven biển thuộc vùng hay bị sạt lở. Mỗi năm, kinh tế thiệt hại 852 triệu USD, tương đương 0,5% giá trị GDP, thiệt hại 316 nghìn việc làm do lũ sông và lũ ven biển.

Thứ tư, 2021 là năm đầu của kỳ quy hoạch cho thời kỳ 2021 – 2030 với tầm nhìn 2050. Đó là năm chuẩn bị quy hoạch cả nước, các vùng địa lý kinh tế, các tỉnh. Nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu cần được đặt như một trọng tâm, đặc biệt phải đặt điểm nhấn vào quy hoạch phát triển đô thị trong quá trình đẩy mạnh đô thị hóa”.

Đối với chuyên gia về biến đổi khí hậu, PGS.TS Lê Tuấn Anh – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ), quyết định của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giúp tìm giải pháp để các đô thị phục hồi tốt hơn sau khi thiên tai, đồng thời có sự chuẩn bị nhằm giảm nhẹ tác hại khi thiên tai xảy ra: “Bởi vì, hiện nay các đô thị của Việt Nam đều ít nhiều chịu tác động của biến đổi khí hậu. Khi thiên tai xảy ra thì tất cả các hoạt động đều ngưng trệ hoặc chậm lại, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế cũng như xã hội của các đô thị”.

Theo GS.TS Đặng Hùng Võ, thành quả cần đạt được trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ bao gồm 6 điểm quan trọng:

Một là hình thành cơ sở dữ liệu cảnh báo rủi ro đô thị, Atlas đô thị và khí hậu tại các địa phương.

Hai là ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến quy hoạch và phát triển đô thị, thực hiện lồng ghép các hướng dẫn và nội dung quản lý rủi ro trong phát triển đô thị.

Ba là các định hướng, quy hoạch, chương trình phát triển đô thị đã được điều chỉnh, bổ sung nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu và có giải pháp kiểm soát phát triển đô thị.

Bốn là chỉ tiêu xác định các khu vực ưu tiên đầu tư xây dựng, nâng cấp cải tạo tại các đô thị ứng phó với biến đổi khi hậu làm cơ sở đầu tư xây dựng hiệu quả.

Năm là bổ sung hệ thống các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về xây dựng và phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thông minh, hệ sinh thái bền vững; ban hành các tài liệu đào tạo nâng cao năng lực quản lý rủi ro, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Sáu là hợp tác quốc tế nghiên cứu, thực hiện thí điểm một số chương trình, dự án ứng dụng công nghệ, vật liệu mới nhằm phát triển đô thị đảm bảo sức chống chịu với biến đổi khí hậu.

Chuyên gia biến đổi khí hậu Lê Anh Tuấn giải thích bổ sung: “Ví dụ, mỗi thành phố phải có kế hoạch dự báo, cảnh báo khi thiên tai sắp xảy ra. Và khi thiên tai đã xảy ra thì phải có biện pháp giảm nhẹ hoặc biện pháp cứu trợ nạn nhân thiên tai. Sau đó là những chương trình tái thiết, đồng thời chương trình chuẩn bị cho những thiên tai khác trong tương lai.

Đây là cách mà tất cả những thành phố lớn trên thế giới phải làm theo. Có nghĩa là chúng ta phải chuẩn bị trước, trong và sau khi có thiên tai”.

Tuy nhiên, vẫn theo lời nhà nghiên cứu Lê Anh Tuấn, trong điều kiện của Việt Nam thì có thể có một số điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của một quốc gia chưa phát triển cao như các nước Âu – Mỹ: “Việt Nam có phương châm “cứu người tại chỗ”, có nghĩa là cộng đồng có thể chỉ huy được phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ, ví dụ các nhóm thanh niên, các nhóm tình nguyện viên để giúp người khó khăn. Địa phương cũng phải có những kho chứa lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, thuốc men, lều, trại cả những kế hoạch tập huấn cứu hộ cứu nạn trong những tình huống khác nhau. Đó là cách Việt Nam làm bên cạnh những tiêu chuẩn mà quốc tế đã làm”.

Kế hoạch phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030, do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt trước khi rời nhiệm sở, được chia làm 3 thời kỳ:

+ Giai đoạn từ 2021 – 2025: các tỉnh được quan tâm cải tạo gồm 5 thành phố trực thuộc trung ương, 7 tỉnh vùng ven biển, 7 tỉnh vùng núi.

+ Giai đoạn hai từ 2025 – 2030: kế hoạch được mở rộng ra các tỉnh khác và bị tác động của biến đổi khí hậu.

+ Giai đoạn ba sau 2030 xem xét tất cả các đô thị trên phạm vi toàn quốc.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường Đặng Hùng Võ nhận định tính hợp lý rất cao trong quyết định của Thủ tướng, quan trọng Việt Nam có làm được hay không: “Tôi chỉ nói rằng nó hợp lý và nội dung như vậy là đủ. Thế nhưng bằng cách nào và điều gì quan trọng nhất thì tôi cho rằng là vấn đề ngân sách. Việt Nam có tiền để làm hay không? Với số lượng lớn các tỉnh, trước kia phát triển có phần lộn xộn, thì có đủ tiền cải tạo hay không? Đây là câu hỏi chỉ những người trong hệ thống lãnh đạo hiện nay mới có thể trả lời đc”.

Khó khăn cần đến là trí tuệ, ông Đặng Hùng Võ nhấn mạnh: “Khi đã cần hệ thống pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn, kể cả cơ sở dữ liệu, thì cảnh báo như thế nào từ những cơ sở dữ liệu đó cũng cần sáng kiến gọi là chắt lọc về mặt trí tuệ, về mặt chất xám”. Thực tế lâu nay cho thấy có nhiều kế hoạch đề ra được đánh giá là hoành tráng, nhưng khi áp dụng thì không thể vượt qua những trở ngại do chính đội ngũ thực thi gây ra.

Nguồn: TKNB – 09/04/2021.

Bí mật an ninh mạng – Phần XXVII


Đọc, Ghi, Thực thi

ĐỌC, GHI, THỰC THI: trong điện toán, những hoạt động này được gọi là quyền hạn. Về mặt chức năng, chúng xác định phạm vi thẩm quyền của bạn trong một máy tính hoặc mạng máy tính, xác định chính xác những gì bạn có thể và không thể làm. Quyền đọc cho phép bạn truy cập vào nội dung của tập tin, trong khi quyền ghi cho phép bản sửa đổi tập tin. Trong khi đó, thực thi có nghĩa là bạn có khả năng cho vận hành một tập tin hoặc chương trình, để xúc tiến các hoạt động mà nó được thiết kế để thực hiện.

Đọc, Ghi, Thực thi: Đây là kế hoạch ba bước đơn giản của tôi [Snowden]. Tôi muốn đào sâu vào trung tâm của hệ thống mạng được bảo mật nhất thế giới để tìm ra sự thật, tạo một bản sao, và đưa nó ra công chúng. Và tôi đã phải làm tất cả những điều này sao cho không bị phát hiện – không ai biết tôi đọc, ghi và thực thi những gì.

Hầu hết mọi việc bạn làm trên máy tính, trên bất kỳ thiết bị nào, đều để lại một mục ghi nhận. Không nơi nào mà điều này lại đúng cho bằng ở NSA. Mỗi lần đăng nhập và đăng xuất sẽ tạo ra một mục nhật ký truy cập. Mỗi quyền hạn tôi sử dụng đều để lại dấu vết chứng cớ của nó. Mỗi lần tôi mở một tập tin, mỗi lần tôi sao chép một tập tin, hoạt động ấy được ghi nhận hết. Mỗi lần tôi tải xuống, dời đi, hoặc xóa một tập tin cũng đều được ghi nhận, và nhật ký bảo mật sẽ được cập nhật để phản ánh hoạt động này. Có những mục ghi nhận dòng lưu thông tin dữ liệu trong hệ thống mạng, có những mục ghi nhận mã xác minh kỹ thuật số – mọi người thậm chí còn nói đùa về các camera giấu trong phòng tắm, trong các buồng vệ sinh. NSA có không ít các chương trình phản gián chuyên do thám những người đang theo dõi người khác, và thậm chí nếu có ai phát hiện tôi đang làm gì ngoài quyền hạn của mình, thì hậu quả sẽ không chỉ là một tập tin bị xóa.

May mắn thay, sức mạnh của các hệ thống này cũng chính là điểm yếu: Vì chúng phức tạp cho nên ngay cả những người vận hành cũng không nhất thiết phải biết chúng hoạt động như thế nào. Không ai thực sự hiểu chúng chồng chéo ở đâu và những kẽ hở của chúng ở đâu. Tức là không một ai, ngoại trừ các quản trị viên hệ thống. Nói cho cùng, những hệ thống giám sát tinh vi mà bạn có thể tưởng tượng ra – những hệ thống có cái tên đáng sợ như MINDNIGHTRIDER – thì ngay từ đầu cũng phải được một ai đó cài đặt chúng vào hệ thống. NSA có thể đã trả tiền cho hệ thống mạng này, nhưng những người quản trị hệ thống như tôi mới là người thực sự làm chủ nó.

Giai đoạn Đọc sẽ liên quan đến việc nhảy múa qua mạng lưới cạm bẫy kỹ thuật số giăng khắp các tuyến đường kết nối NSA với mọi cơ quan tình báo khác, trong và ngoài nước. Trong số đó có nước Anh đối tác, Tổng bộ Thông tin Chính phủ (Government Communications Headquarters – GCHQ), nơi đang thiết lập những hệ thống càn quét thông tin như OPTICNERVE, chương trình cứ mỗi năm phút lại lưu một bản sao nội dung thu đượctừ camera cảu những người nói chuyện qua video trên các nền tảng như Yahoo Messenger, và PHOTONTORPEDO, chương trình thâu tóm địa chỉ IP của người dùng MSN Messenger. Bằng cách sử dụng Heartbeat để lấy về các tài liệu mong muốn, tôi có thể “thu thập đại trà” để chống lại những người đã “thu thập đại trà” chống lại công chúng, một hành động thực tế đã biến Cộng đồng Tình báo Mỹ thành con quái vật Frankenstein. Các công cụ bảo mật của NSA vẫn theo dõi xem ai đã đọc những gì, nhưng điều này không thành vấn đề: Bất kỳ ai bận tâm kiểm tra nhật ký truy cập của họ thì đến bây giờ đều đã quen với hệ thống Heartbeat của tôi. Sẽ không hề có báo động. Đó là vỏ bọc hoàn hảo.

Nhưng cho dù Heartbeat hoạt động như một cách thu thập các tập tin – quá nhiều tập tin – nó chỉ đưa chúng về máy chủ ở Hawaii, một máy chủ lưu giữ nhật ký truy cập mà ngay cả tôi cũng không thể tránh né được. Tôi cần một cách nào đó để làm việc với các tập tin này, tìm kiếm trong đó, và loại bỏ những thứ không liên quan và không thú vị, cùng với những tập tin nào chứa đựng những bí mật chính đáng mà tôi sẽ không cung cấp cho các nhà báo. Vào thời điểm này, vẫn trong giai đoạn Đọc của tôi, khả năng rủi ro lại rất cao, chủ yếu là do các giao thức mạng mà tôi gặp phải đã không còn hướng đến việc giám sát nữa mà là để ngăn chặn. Nếu tôi chạy các tìm kiếm của mình trên máy chủ Heartbeat này, nó sẽ nháy sáng một dấu hiệu điện tử báo động HÃY BẮT TÔI.

Tôi mất một thời gian suy nghĩ điều này. Tôi không thể cứ sao chép các tập tin trực tiếp từ máy chủ Heartbeat vào một thiết bị lưu trữ cá nhân và tung tăng ra khỏi Đường hầm mà không bị bắt. Dù vậy, những gì tôi có thể làm là đưa các tập tin này đến gần hơn, hướng chúng đến một trạm phụ trung gian.

Tôi không thể chuyển chúng đến một trong những máy tính thông thường của chúng tôi, bởi vì đến năm 2012, toàn bộ máy tính cá nhân trong Đường hầm đã được nâng cấp lên loại mới là “máy khách phụ thuộc” (thin client): Những máy tính bất lực với ổ đĩa và CPU bị hạn chế, không thể tự nó lưu trữ hoặc xử lý dữ liệu mà thực hiện mọi việc lưu trữ và xử lý trên đám mây. Nhưng ở một góc bị lãng quên của cơ quan này, có một chồng cao các máy tính để bàn không còn sử dụng – những chiếc máy đời cũ, bỏ không, đã được xóa sạch ổ đĩa rồi phế thải. Khi tôi nói “cũ”ở đây là tôi muốn nói “còn mới” theo tiêu chuẩn của những ai không sống bằng ngân sách khổng lồ cỡ NSA. Chúng là các máy tính Dell khoảng năm 2009 hoặc 2010,những khối chữ nhật lớn màu xám có trọng lượng khá nhẹ, có thể tự lưu trữ và xử lý dữ liệu mà không cần kết nối với đám mây. Tôi thích các máy cũ này ở điểm dù chúng không bị theo dõi chặt, miễn là tôi không kết nối chúng vào các hệ thống mạng trung tâm.

Tôi có thể dễ dàng biện minh việc cần phải sử dụng các thùng máy lạnh lùng, đáng tin cậy này bằng cách tuyên bố rằng tôi đang cố gắng làm cho Heartbeat hoạt động được với các hệ điều hành cũ. Nói cho cùng, đâu phải tất cả mọi người ở mọi cơ sở của NSA đều đã được trang bị một “máy khách” đời mới. Và nếu hãng Dell muốn triển khai một phiên bản dân sự của phần mềm Heartbeat thì sao? Hoặc nếu CIA, hoặc FBI, hoặc một cơ quan khác cũng lạc hậu về công nghệ như vậy muốn sử dụng Heartbeat thì sao? Với cái cớ kiểm tra khả năng tương thích, tôi có thể chuyển các tập tin sang các máy tính cũ này, nơi tôi có thể tìm kiếm, chọn lọc và sắp xếp chúng tùy ý, miễn là tôi cẩn thận. Tôi đang vác một trong những cái thùng máy cũ kềnh càng đó trở lại bàn làm việc cảu mình thì đi ngang qua một trong những giám đốc CNTT của Đường hầm, người này đã ngăn tôi lại và hỏi tôi cần nó để làm gì – chính ông ta là người đề xuất việc loại bỏ các thứ này. “Đánh cắp bí mật”, tôi đáp, và cả hai cùng cười vang.

Giai đoạn Đọc kết thúc với các tập tin mong muốn đã được sắp xếp gọn gàng thành các thư mục. Nhưng chúng vẫn nằm trong một chiếc máy tính không phải của tôi, vẫn ở trong Đường hầm dưới lòng đất. Bắt đầu giai đoạn Ghi, một giai đoạn trong ý đồ của tôi đồng nghĩa với một quá trình chậm chạp, nhàm chán nhưgn cũng rất đáng sợ, để sao chép các tập tin từ chiếc máy Dell cũ vào phương tiện nào đó mà tôi có thể lén mang ra khỏi tòa nhà này.

Các dễ dàng nhất và an toàn nhất để sao chép tập tin từ bất kỳ máy trạm nào của Cộng đồng IC cũng là cách lâu đời nhất: máy ảnh. Smartphone tất nhiên là bị cấm trong các tòa nhà của NSA, nhưng nhân viên vẫn luôn vô tình mang chúng vào mà không ai biết. Họ để chúng trong túi đựng đồ tập thể dụng hoặc trong túi áo gió. Nếu họ bị bắt gặp mang điện thoại trong một cuộc kiểm tra ngẫu nhiên và thộn mặt ra ngạc nhiên chứ không hoảng loạn la hét tiếng Tàu vào chiếc đồng hồ đeo tay của mình, thì họ sẽ chỉ bị nhắc nhở, nhất là khi mới vi phạm lần đầu. Nhưng đưa một chiếc smartphone chứa đầy bí mật NSA ra khỏi Đường hầm là một nước cờ thí nguy hiểm hơn. Điều lạ lùng là không hề có ai chú ý – hoặc quan tâm – nếu tôi đi ra ngoài với chiếc smartphone. Nó có thể là một công cụ thích hợp cho một nhân viên đang toan tính sao chép một bản báo cáo tra tấn duy nhất, nhưng tôi không điên tới mức toan tính dùng điện thoại để chụp hàng ngàn bức ảnh màn hình máy tính của mình ngay giữa một cơ sở tối mật. Ngoài ra, chiếc điện thoại ấy sẽ phải được cấu hình theo cách nào đó mà ngay cả các chuyên gia điều tra hàng đầu thế giới nếu có thu giữ và lục soát trong đó cũng không tìm thấy bất cứ thứ gì lẽ ra không nên có.

Tôi sẽ không công bố phương cách chính xác mà tôi đã tiến hành giai đoạn Ghi của mình – sao chép và mã hóa tài liệu – để cho NSA ngày mai vẫn còn đứng vững. Tuy vậy, tôi sẽ đề cập đến công nghệ lưu trữ tôi đã sử dụng cho các tập tin sao chép này. Quên ở đĩa USB đi; chúng rất cồng kềnh mà dung lượng lưu trữ lại khá nhỏ. Thay vào đó, tôi đã sử dụng các thẻ SD – từ viết tắt của Secure digital. Trên thực tế, tôi đã đi mau nhiều thẻ mini-SD và micro-SD.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edward Snowden – Bị theo dõi, bí mật an ninh mạng – NXB ĐN 2020.

Các nước Balkans Âu – Á – Phần III


Là một nước hết thời đế chế và vẫn đang trong quá trình xác định lại bản sắc của mình, Thổ Nhĩ Kỳ bị kéo căng ra ba hướng. Phái hiện đại muốn nước này trở thành một nhà nước châu Âu và do vậy họ hướng về phía Tây; phái Hồi giáo ngả về Trung Đông và một cộng đồng Hồi giáo, do vậy họ hướng về phía Nam; còn phái chủ nghĩa dân tộc suy nghĩ về lịch sử thấy các dân tộc Thổ của vùng lòng chảo biển Caspian và Trung Á có một nhiệm vụ mới là xây dựng một nước Thổ Nhĩ Kỳ thống soái trong khu vực và do vậy hướng về phía Đông. Mỗi góc nhìn này đều định ra một trục chiến lược khác nhau, và sự va chạm giữa chúng, lần đầu tiên kể từ sau cuộc cách mạng của người Keman sẽ tạo ra sự bất ổn ở mức độ nào đó đối với vai trò của Thổ Nhĩ Kỳ trong khu vực.

Hơn nữa, bản thân Thổ Nhĩ Kỳ có thể trở thành nạn nhân của các cuộc xung sắc tộc trong khu vực. Tuy dân số vào khoảng 65 triệu mà chủ yếu là người Thổ Nhĩ Kỳ (khoảng 80%), còn lại là các sắc tộc như Circassia, Albani, Bosnia, Bulgaria và Arab và khoảng 20% là người Kurd. Sống tập trung ở các khu vực phía Đông đất nước, người Kurd ở đây ngày càng bị lôi kéo vào cuộc đấu tranh độc lập dân tộc mà người Kurd ở Iran và Iraq đã khơi dậy. Những mối căng thẳng trong nội bộ Thổ Nhĩ Kỳ liên quan đến hướng đi chung của đất nước rõ ràng sẽ khuyến khích người Kurd gây sức ép mạnh mẽ hơn đòi vị thế dân tộc riêng.

Định hướng tương lai của Iran cũng còn nhiều vấn đề. Cuộc cách mạng của phái Shiite theo trào lưu chính thống từng chiến thắng vào cuối thập kỷ 70 vừa qua có thể đang bước vào giai đoạn lụi tàn, và điều đó làm tăng sự bất ổn cho vai trò địa chính trị của Iran. Một mặt, sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vô thần đã mở cửa các nước láng giềng phương Bắc mới độc lập của Iran để tôn giáo hóa họ; mặt khác, sự thù địch của Iran đối với Mỹ đã đưa Iran đến chỗ đi theo hướng thân Nga. Điều này cũng vì Iran lo ngại về tác động mà nền độc lập mới của Azerbaijan có thể gây ra đối với sự liên kết của chính họ.

Mối lo ngại đó phát sinh từ việc Iran không có khả năng giải quyết những căng thẳng về sắc tộc. Trong số 65 triệu dân của Iran thì chỉ có trên một nửa là người Ba Tư. Khoảng gần 1/4 người Azeri, số còn lại bao gồm cả người Kurd, Baluchi, Turkmen, Arab… Ngoài người Kurd và người Azeri, các tộc người khác hiện nay không có khả năng đe dọa sự toàn vẹn quốc gia của Iran, nhất là khi dân Ba Tư luôn có ý thức cao về quốc gia và đế chế. Những tình thế này có thể thay đổi nhanh chóng nếu có một cuộc khủng hoảng chính trị mới trên chính trường Iran.

Hơn nữa, việc tồn tại một số “công xã” Stanr mới độc lập trong khu vực và ngay cả 1 triệu dân Chechen cũng có thể khẳng định khát vọng chính trị của họ sẽ lan sang người Kurd cũng như sang cả những sắc tộc thiểu số khác của Iran. Nếu Azerbaijan thành công trong công cuộc phát triển kinh tế và chính trị ổn định thì người Azeri gốc Iran có thể sẽ ngày càng đi theo ý tưởng một nước Azerbaijan lớn hơn. Do đó, sự bất ổn chính trị và chia rẽ ở Iran có thể phát triển lên thành yếu tố thách thức sự thống nhất của nhà nước này.

2/ Cuộc đấu đa phương

Các nước Balkans cổ truyền ở châu Âu đã cuốn hút cuộc cạnh tranh trực diện giữa ba đế chế địch thủ là đế chế Ottoman, đế chế Áo – Hung và đế chế Nga. Còn ba thành viên nữa gián tiếp tham gia trận đấu, đó là Đức, Pháp và Anh. Đức sợ thế lực của Nga, Pháp chống Áo – Hung và Anh muốn một đế chế Ottoman kiểm soát vùng eo biển Dardanelles. Trong suốt thế kỷ XIX, những cường quốc này tìm cách kiềm chế các cuộc xung đột ở vùng Balkans, nhưng họ đã không làm được điều đó, mà chỉ gây hậu quả tai hại cho tất cả.

Ngày nay, cuộc cạnh tranh trong các nước Balkans Âu – Á cũng lôi kéo trực tiếp ba nước láng giềng: Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, mặc dù Trung Quốc cũng có thể trở nên một nước chủ đạo quan trọng. Tham gia vào cuộc cạnh tranh ở tầm xa còn có Ukraine, Pakistan, Ấn Độ và Mỹ.

Ba đối thủ chính tham dự vào cuộc đấu không chỉ vì tham vọng những món lợi kinh tế và địa chính trị mà còn vì những xung đột lịch sử mãnh liệt. Những nước này đã từng giữ địa vị thống soái về chính trị hoặc văn hóa trong vùng. Mỗi nước đều nhìn các nước khác bằng con mắt nghi ngờ. Tuy khó xảy ra chiến tranh trực diện giữa họ, nhưng tác động của những kình địch giữa họ có thể góp phần gây rối loạn khu vực.

Thái độ thù địch của Nga đối với Thổ gần như một nỗi ám ảnh. Báo chí Nga mô tả người Thổ có xu hướng kiểm soát khu vực, và là những kẻ xúi giục người địa phương chống Nga (vụ Chechnya cũng phần nào chứng minh điều đó), và đe dọa nền an ninh chung của Nga. Sự mô tả này vượt quá sự thật.

Người Thổ cũng có một thái độ như vậy Nga. Họ coi mình có vai trò giải phóng những cho những người anh em khỏi sự đàn áp đã kéo quá dài của Nga. Người Thổ và Iran (ba Tư) trong lịch sử đã là những đối thủ trong khu vực. Sự kình địch đó trong những năm gần đây đã sống lại.

Có thể nói, mỗi nước trong ba nước đều tìm kiếm một khu vực ảnh hưởng. Tham vọng của Nga có tầm quan trọng hơn, vì họ vẫn còn những hồi ức tương đối mới về quyền kiểm soát đế chế, sự hiện diện của hàng triệu người Nga và ý muốn đưa Nga trở lại vị trí một đại cường toàn cầu. Những tuyên bố trong chính sách đối ngoại của Nga đã chứng minh việc họ nhìn toàn bộ không gian Liên Xô cũ là khu vực lợi ích địa chiến lược đặc biệt của họ, và do đó cần phải loại trừ ảnh hưởng chính trị, và thậm chí lợi ích kinh tế của bên ngoài.

Trái lại, khát vọng của Thổ Nhĩ Kỳ muốn giành ảnh hưởng khu vực vẫn mang dấu ấn của một quá khứ đế chế xa xưa. Song, những khát vọng đó có cội nguồn từ nhận thức về một sự đồng nhất sắc tộc và ngôn ngữ với các dân tộc Thổ trong khu vực. Do sức mạnh quân sự và chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ có hạn nên họ không thể đạt được một khu vực ảnh hưởng chính trị đặc quyền. Trái lại, Thổ Nhĩ Kỳ tự coi mình như một lãnh tụ tiềm tàng của một cộng đồng lỏng lẻo những người nói tiếng Thổ, và tận dụng trình độ tương đối hiện đại, tính tương đồng về ngôn ngữ và các biện pháp kinh tế của mình để đưa nước này lên địa vị có ảnh hưởng nhất trong quá trình xây dựng quốc gia đang diễn ra trong vùng.

Tuy khát vọng của Iran vẫn chưa rõ ràng, nhưng về âu dài cũng chẳng kém phần nguy hiểm hơnt ham vọng của Nga. Đế chế Ba Tư là một ký ức xa xôi hơn. Vào lúc hoàng kim nhất, khoảng 500 trước Công nguyên, đế chế này bao gồm lãnh thổ hiện tại của ba nước vùng Kavkaz (Turkmenistan, Uzbekistan, Tajikistan). Tuy những khát vọng địa chính trị hiện tại của Iran ở mức độ thấp hơn Thổ Nhĩ Kỳ, tức là chủ yếu nhằm vào Azerbaijan và Afghanistan, nhưng toàn bộ dân Hồi giáo (kể cả trên lãnh thổ Nga) là mục tiêu trong mối quan tâm tôn giáo của Iran. Thực ra sự hồi sinh của đạo Hồi ở Trung Á đã trở thành một bộ phận hữu cơ của những khát vọng trong giới lãnh đạo hiện tại của Iran…

Ở giai đoạn này, vai trò của Trung Quốc bị hạn chế và mục tiêu của họ không rõ ràng, vì Trung Quốc chú ý đến một tập hợp những nước tương đối độc lập ở phía Tây hơn là một đế chế Nga. Trung Quốc lo rằng, dân thiểu số Thổ Nhĩ Kỳ ở Tân Cương có thể tìm thấy ở các nước Trung Á mới độc lập những ví dụ đầy hấp dẫn đối với họ, và vì vậyTrung Quốc đã tìm cách tranh thủ sự bảo đảm của Kazakhstan rằng họ sẽ trấn áp hoạt động vượt biên của dân thiểu số. Về lâu dài, những nguồn năng lượng của khu vực sẽ là điều mà Trung Quốc đặc biệt quan tâm với mục tiêu là trực tiếp tiếp xúc các nguồn năng lượng đó mà không phụ thuộc vào sự kiểm soát của Nga. Do vậy, lợi ích địa chính trị chung của Trung QUốc có xu hướng va chạm với lợi ích đại chính trị chung của Nga.

Đối với Ukraine, các vấn đề Trung tâm là đặc điểm tương lai của cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) và khả năng tiếp cận tự do hơn với các nguồn năng lượng, như vậy sẽ làm giảm sự phụ thuộc củ Ukraine vào Nga. Ở khía cạnh này, những mối quan hệ thân thiết hơn với Azerbaijan, Turkmenistan, Uzbekistan đã trở nên quan trọng đối với Ukraine và việc Ukraines ủng hộ các nước này độc lập với Nga. Do đó, Ukraine cũng đã ủng hộ cố gắng của Gruzia vươn lên địa vị làm chủ một tuyến đường chạy theo hướng Tây phục vụ cho xuất khẩu dầu Azeri. Ukraine còn hợop tác với Thổ Nhĩ Kỳ để làm suy yếu ảnh hưởng của Nga ở Biển Đen và đã ủng hộ những cố gắng của Thổ Nhĩ Kỳ nhằm chuyển lưu lượng dầu từ Trung Á tới các trạm cuối của Thổ.

Hiện nay cả Pakistan và Ấn Độ đều đang quan tâm tới các nước Balkans Âu – Á mới này. Đối với Pakistan, lợi ích chính của họ là đạt chiều sâu địa chiến lược thông qua ảnh hưởng địa chính trị ở Afghanistan và không để Iran có ảnh hưởng như vậy ở Afghanistan cũng như ở Tajikistan và cuối cùng thu lợi từ việc xây dựng đường dẫn dầu nối Trung Á với biển Arab. Nhằm chống lại Pakistan và ảnh hưởng lâu dài của Trung Quốc ở khu vực này, Ấn Độ xem xét ảnh hưởng của Iran và Afghanistan là sự hiện diện lớn hơn của Nga trong không gian Liên Xô cũ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Mô hình kinh tế tuần hoàn, chiến lược của Nhật Bản và bài học – Phần IV


Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường của các ngành công nghiệp cơ bản, Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng một số biện pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, thực hiện sản xuất sạch hơn. Theo nguyên tắc “3R” (sửa chữa, tái sử dụng, tái chế) của nền kinh tế tuần hoàn mà Chính phủ Nhật Bản tuân thủ thì tiết kiệm tài nguyên là quy tắc ưu tiên hàng đầu. Do đó, việc thực hiện sản xuất sạch hơn, giảm tiêu dùng lãng phí tài nguyên thiên nhiên là nhiệm vụ chính đặt ra đối với các ngành công nghiệp cơ bản tại Nhật Bản. Nhiệm vụ này bao gồm nhiều hoạt động đa dạng như áp dụng quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm các nguồn năng lượng thông thường, phát triển các nguồn năng lượng mới, tái sử dụng chất thải, giảm các bước quy trình sản xuất không cần thiết, tiêu chuẩn hóa sản xuất và thiết kế bao bì xanh.

Thứ hai, làm rõ trách nhiệm của nhà sản xuất. Luật cơ bản thúc đẩy xây dựng xã hội định hướng tái chế của Nhật Bản, chỉ rõ doanh nghiệp phải thực hiện hoạt động tái chế và tái sử dụng nguyên vật liệu và sản phẩm cũ trong phạm vi chịu trách nhiệm của mình. Cụ thể là nhà sản xuất cần phải chịu trách nhiệm về các tác động môi trường trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất và thậm chí có nghĩa vụ tái sử dụng các sản phẩm tái chế. Ví dụ như nhiều doanh nghiệp sản xuất thiết bị gia dụng lớn và chế tạo ô tô phải tuân thủ yêu cầu xây dựng các trung tâm xử lý rác thải và tái chế sản phẩm.

Thứ ba, kiến tạo những khu công nghiệp sinh thái. Trong mô hình kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản, đi đôi với với xây dựng doanh nghiệp sạch, Nhật Bản cũng chú trọng xây dựng một hệ thống sản xuất tuần hoàn giữa các ngành công nghiệp cơ bản thông qua việc thiết lập những khu công nghiệp sinh thái. Việc liên kết các quy trình sản xuất và chia sẻ tài nguyên giữa các doanh nghiệp trong khu công nghê sinh thái có thể gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực, giảm bớt lượng chất xả thải và thực hiện tái chế tối đa nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất.

Tại Nhật Bản, hầu hết các ngành công nghiệp cơ bản hàng đầu đều có ngành công nghiệp hỗ trợ đi kèm. Ví dụ ngành công nghiệp tái chế thiết bị gia dụng được phát triển dựa trên ngành công nghiệp sản xuất điều hòa không khí, tủ lạnh, tivi và máy giặt. Nhật Bản đã xây dựng 26 khu công nghiệp sinh thái cho các ngành công nghiệp hỗ trợ. Những khu công nghiệp sinh thái này không chỉ ưu tiên phục vụ chiến lược xây dựng kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản, mà còn đóng một vai trò quan trọng trong phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong khu vực. Có thể nói, đi đôi với các ngành công nghiệp cơ bản thì Chính phủ Nhật Bản cũng ban hành các quy luật và quy định nhằm phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung và đặc biệt là hoạt động của các khu công nghiệp sinh thái được xây dựng giành riêng cho các ngành công nghiệp hỗ trợ này. Cụ thể như sau:

Một là, thiết lập một hệ thống tái chế chất thải và năng lượng. Chính phủ Nhật Bản căn cứ vào đặc điểm của các ngành công nghiệp địa phương, các hình thức và số lượng chất thải để xây dựng các khu công nghiệp sinh thái tái chế tương ứng. Nguyên tắc chung đối với hoạt động của các khu công nghiệp này là toàn bộ quá trình tái chế đều do các doanh nghiệp trong khu công nghiệp thực hiện với mục tiêu thực hiện hoạt động tái chế trên quy mô lớn.

Hai là, tập hợp các tổ chức nghiên cứu để tiến hành hợp tác nghiên cứu chuyên sâu. Cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ cũng như nhu cầu cấp bách cảu thị trường, các tổ chức nghiên cứu của Nhật Bản đã tiến hành hàng loạt các nghiên cứu cơ bản về nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất nhằm giảm bớt chất thải công nghiệp, phát triển công nghiệp tái chế tài nguyên, công nghệ tái chế chất thải và các công nghệ khác làm cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản.

Ba là, thực hiện tuyên truyền và giáo dục thường xuyên. Hoạt động này do nhiều cấp chính quyền và các tổ chức đoàn thể có liên quan thực hiện cho nhiều đối tượng khác nhau. Ví dụ thành phố Kitakyushu có thể coi như một ví dụ tiêu biểu về hoạt động giáo dục về ý thức bảo vệ môi trường cho người dân. Chính quyền thành phố thường xuyên tổ chức các bài giảng về môi trường, tuyên truyền và các công nghệ và sản phẩm tái chế và là địa phương đầu tiên trong khu vực áp dụng chu trình tái chế rác thải tuần hoàn thực sự.

c/ Hợp tác chặt chẽ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất

Trong nền kinh tế tuần hoàn, sự hợp tác toàn diện giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất có ý nghĩa quan trọng. Người tiêu dùng hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế tuần hoàn thông qua các hoạt động cụ thể như tự động phân chia rác thải hay sản phẩm cũ theo đúng quy định về tái chế hay trả phí tái chế trực tiếp khi mua và sử dụng sản phẩm. Các nhà sản xuất thể hiện vai trò của mình thông qua việc gia tăng vòng đời sản phẩm, sử dụng vật liệu tái chế nhiều hơn, hoặc sản xuất những sản phẩm có thể dễ dàng sửa chữa tái sử dụng và tái chế. Mối quan hệ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất thể hiện qua một số hình thức cụ thể như sau:

+ Xây dựng hệ thống thu gom sản phẩm tái chế tiện dụng: Tại Nhật Bản hệ thống thu gom các thiết bị cũ để tái chế rất toàn diện và dễ sử dụng cho nên phần lớn người tiêu dùng Nhật Bản thường xuyên áp dụng. Các thiết bị cũ được các nhà bán lẻ thu nhận lại tại cửa hàng hoặc khi cung cấp thiết bị mới. Đối với thiết bị CNTT cũ thì tùy theo quy định của chính quyền địa phương mà khách hàng có thể yêu cầu nhà sản xuất tới nhà để thu lại hoặc gửi trả qua bưu điện. Hệ thống này phổ biến và được sử dụng rộng rãi trên khắp đất nước Nhật Bản.

+ Người tiêu dùng trả phí trước: Đối với một số sản phẩm gia dụng như thiết bị điện tử, chi phí vận chuyển và thu hồi sản phẩm cũ đã được người tiêu dùng thanh toán tại thời điểm mua hàng, hờ vậy, đã giảm bớt sự miễn cưỡng của khác hàng khi thực hiện các quy định về thu gom sản phẩm cũ. Thêm vào đó là mức xử phạt cao cho việc không tuân thủ các quy định về xả rác cũng làm cho người tiêu dùng có động cơ thực hiện đúng các quy trình về thu gom và xử lý sản phẩm cũ.

+ Cơ sở hạ tầng tái chế là đồng sở hữu: Tại Nhật Bản, luật pháp quy định rõ các doanh nghiệp sản xấut lớn, đồng thời phải đầu tư dài hạn để xây dựng các nhà máy tái chế, đảm bảo họ có thể được hưởng lợi trực tiếp từ việc thu hồi các nguyên liệu hay các bộ phận trong các sản phẩm cũ. Khi doanh nghiệp đồng thời sở hữu cả nhà máy sản xuất và nhà máy tái chế sẽ khiến cho họ hiểu rõ những khó khăn khi phải tháo gỡ để tái chế các sản phẩm có thiết kế kém. Do đó, khi thiết kể sản phẩm mới, một số công ty thậm chí còn đưa hàng mẫu tới nhà máy tái chế để kiểm tra nhằm đảm bảo những sản phẩm này có thể dễ dàng tháo gỡ và tái chế.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng  số 14 – 7/2018.

Nhật Bản sẽ đấu tranh pháp lý như thế nào với Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc?


Theo JB Press ngày 19/2, trước việc Trung Quốc ban hành Luật Hải cảnh mới cho phép sử dụng vũ khí trong “trường hợp cần thiết”, Nhật Bản cần điều chỉnh tiêu chí sử dụng vũ khí của lực lượng chức năng được quy định trong luật, tương ứng với tiêu chí của thế giới. Nếu không sẽ khó có thể ngăn chặn được hành vi xâm lược của phía Trung Quốc.

Ngày 1/2, Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc chính thức có hiệu lực, trong đó quy định thẩm quyền cho phép sử dụng vũ khí đối với lực lượng Hải cảnh nước này. Điều này thu hút sự chú ý của giới truyền thông Nhật Bản và thế giói. Nội dung cụ thể quy định trong Điều 22 Luật Hải cảnh mới nêu rõ: “Khi chủ quyền quốc gia, quyền chủ quyền và quyền tài phán Trung Quốc bị các cá nhân và tổ chức nước ngoài xâm phạm phi pháp hoặc đối diện mối nguy cấp bách bị xâm phạm phi pháp, theo luật này và các luật liên quan khác, lực lượng Hải cảnh có quyền áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết, gồm sử dụng vũ khí, để chặn đứng hành vi xâm phạm và loại trừ mối nguy”.

Như vậy, tàu tuần tra của lực lượng Hải cảnh Trung Quốc có thể sử dụng vũ khí nhằm vào các tàu nước ngoài (tàu ngầm Mỹ hoặc tàu tuần tra của Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản). Điều này dẫn đến lo ngại về khả năng phát sinh xung đột vũ trang trên biển. Việc lực lượng Hải cảnh Trung Quốc có thể sủ dụng vũ khí tại “vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc” và “lãnh hải Trung Quốc” có thể xem là tương ứng với tiêu chuẩn sử dụng vũ khí của thế giới. Tuy nhiên, các điều khoản liên quan của Luật này lại không xác định rõ đâu là khu vực thuộc “quyền tài phán của Trung Quốc”, đây chính là vi phạm luật pháp quốc tế.

Về mặt lý thuyết, Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản có trách nhiệm vụ đối phó với các hoạt động xâm phạm lãnh hải của Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư (còn gọi là “vùng xám”). Trong trường hợp Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản không thể kiểm soát đuọc tình hình, Thủ tướng Nhật Bản có quyền điều động Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản phối hợp đảm bảo an ninh. Tuy nhiên, hiện vẫn có một số hạn chế về tiêu chuẩn sử dụng vũ khí đối với các lực lượng này theo Hiến pháp Nhật Bản.

Theo đó, Điều 7 của Luật thực thi nhiệm vụ của sỹ quan cảnh sát quy định sử dụng vũ khí gây hại cho đối phương trong các trường hợp: (i) Phòng vệ chính đáng hoặc cứu nạn khẩn cấp; (ii) Trấn áp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; (iii) Thi hành lệnh bắt. Như vậy, có thể thấy quy định này đã hạn chế nhất định trong việc triển khai ứng phó của lực lượng chức năng Nhật Bản trước hành động xâm phạm chủ quyền của tàu Hải cảnh Trung Quốc tại khu vực “vùng xám”.

Tác giả bài viết cho rằng, Nhật Bản cần nghiên cứu để sửa đổi Luật An ninh lãnh hải nhằm tăng quyền hạn cho Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản và cho phép sự tham gia của Lực lượng Phòng vệ trên Biển Nhật Bản, trong đó quy định tiêu chí được phép sử dụng vũ khí phải tương ứng với tiêu chí của thế giới hiện nay.

Một số ý kiến cho rằng, Nhật Bản không nên củng cố các thể chế liên quan để tránh bị Trung Quốc tạo cớ nhằm củng cố lập trường cứng rắn đối với Nhật Bản. Tuy nhiên, làm như vậy sẽ dẫn đến một chính sách mang tính “xoa dịu” đối với Trung Quốc hay còn gọi là chính sách ứng phó “kiểu thỏa hiệp”. Lịch sử đã chứng minh chính sách “xoa dịu” của cựu Thủ tướng Anh Chamberlain đối với Đức trong những năm 1930 là một thất bại. Chính vì vậy, Nhật Bản nên cho thấy quyết tâm cao, sẵn sàng đương đầu với xung đột vũ trang với một quốc gia đã bộc lộ ý đồ xâm phạm chủ quyền một cách phi pháp. Tất nhiên, không nên cố đẩy việc leo thang căng thẳng không cần thiết vì vẫn còn giải pháp ngoại giao. Trước mắt, cần liên hệ chặt chẽ với cộng đồng quốc tế, nhất là Mỹ để kiềm chế hành vi phi pháp và thái độ ngạo mạn của phía Trung Quốc.

Sau khi thông tin trên được đăng tải, nhiều cư dân mạng Mỹ đã viết trên mạng xã hội: “Hãy nhìn xem, đây là thế giới thực tế mà Donald Trump đã gây ra sau 4 năm nhậm chức. Đây là hậu quả xấu xa mà ông ta gieo rắc”. Ngoài ra, một số cư dân mạng Iran bình luận trên các mạng xã hội rằng “cái này gọi là “gậy ông đập lưng ông”, “lấy độc trị độc”. Từ trước tới nay, Mỹ luôn thích dùng “tập trận chung” để gây rối tình hình ở Biển Đông và Đông Âu. Bây giờ thì đến lượt chúng ta”.

Nguồn: TKNB – 22/02/2021.