Ánh sáng hay bóng tối? – Phần cuối


Ham mê và kiềm chế ở nơi làm việc

Giáo sư quản trị và chuyên gia văn hóa người Nga Sergey Myasoedov được biết đến ở các trường kinh doanh Đông Âu về những bài tường thuật thú vị của ông, mô tả những xung đột văn hóa giữa các giám đốc người Mỹ ở Nga với nhân viên hoặc khách hàng. Ông nhấn mạnh rằng nhân viên lễ tân Mỹ đòi hỏi phải luôn luôn mỉm cười với khách hàng. Điều này dường như phổ biến ở các nền văn hóa hạnh phúc và ham mê nói chung như Mỹ. Nhưng một công ty như McDonald’s cố gắng mang khuôn mẫu ở Mỹ áp dụng vào một xã hội kiềm chế cao thì sẽ có những kết quả không mong đợi.

Khi họ đến Nga, họ mang theo văn hóa doanh nghiệp đặc trưng của mình. Họ quyết định đào tạo các cô bé cậu bé bán hàng người Nga. Họ muốn chúng mỉm cười theo cách mà McDonald’s trình diễn, phô hết tất cả 32 cái răng ra. Nhưng sau đó, các chuyên gia McDonald’s thấy rằng khách hàng Nga bị sốc bởi nụ cười hết cỡ đó. Họ nhìn chằm chằm vào nhân viên bán hàng thực sự kinh ngạc: “Tại sao lại nhe răng cười toe toét như thế?”. Họ đã nghiên cứu và thấy rằng một nụ cười ngoác với một người lạ không phải là văn hóa ở Nga. Người Nga không bao giờ cười như thế khi họ tình cờ gặp một người lạ. Khi một ai đó làm như vậy với người Nga, phản ứng thường thấy là: “Người này có vấn đề gì vậy?”.

Những khác biệt đó cũng thành thông lệ cho hình ảnh công chúng của những nhà lãnh đạo chính trị. Ở Mỹ, duy trì một bộ mặt hề sẽ là dấu chấm hết cho ứng viên chính trị hoặc cho người quản lý một văn phòng chính trị cấp cao. Hình ảnh công chúng ở Mỹ được mong đợi là phải có chút lạc quan và vui vẻ ngay cả thâm tâm họ đang lo lắng về sự nghiệp chính trị của mình. Nhưng ở Nga, một bộ mặt nghiêm nghị là dấu hiệu của sự nghiêm túc, và Vladimir Putin là một ví dụ sống động.

Geert cho rằng Ham mê cũng giải thích thông lệ mỉm cười khi chụp ảnh (“Hãy nói thật tuyệt!”). Những người bạn Đông Âu của ông dường như không có thói quen này.

Ham mê và kiềm chế và nhà nước

Một điểm trong nghiên cứu WVS từ 1995 đến 2004 hỏi người được phỏng vấn là lựa chọn mục tiêu quan trọng nhất trong 4 mục tiêu quốc gia: duy trì trật tự quốc gia, đem lại tiếng nói cho người dân nhiều hơn, chống giá cả tăng, bảo vệ tự do ngôn luận. Phần trăm người được hỏi chọn “duy trì trật tự quốc gia” là mục tiêu đầu tiên liên hệ nghịch với ham mê, và liên hệ thuận với kiềm chế như là một nét văn hóa. Người dân ở các xã hội kiềm chế nhiều hơn thường sẽ xem duy trì trật tự (hay bất cứ thứ gì họ hiểu như thế) như là một một mục tiêu quốc gia quan trọng đặt lên trên các mục tiêu khác.

Trong nghiên cứu WVS, thậm chí có một mối tương quan mạnh hơn giữa ham mê và lựa chọn tự do ngôn luận làm mục tiêu quốc gia quan trọng nhất. Đây là một phát hiện quan trọng đối với các chính trị gia phương Tây và các nhà báo, nhiều người trong số họ gặp rắc rối trong việc hiểu được thực tế là con người ở một vài nước không coi trọng mục tiêu quốc gia, như Mỹ và Hà Lan. Sự tự do ngôn luận có thể là mục tiêu nổi bật ở một xã hội phương Tây ham mê nhưng ở một nước kiềm chế thì nó có thể bị coi thường, đặc biệt nếu người ta phải thực hiện những chọn lựa quan trọng hơn. Phần trăm người được hỏi chọn tự do ngôn luận làm mục tiêu đầu tiên rải từ 36,6 ở Hà Lan đến 1,5 – mức thấp nhất trên thế giới – ở Nga. Người Nga, cũng như người dân ở nhiều nước Đông Âu khác, ít ưu tiên đến một số quyền con người mà công dân các nước phương Tây coi trọng. Điều này giải thích tại sao tỷ lệ người Nga không quan tâm đến việc bị cai quản bởi những kẻ chuyên quyền cao đến vậy; trong một xã hội kiềm chế, phân chia quyền lực lớn, luật cầm quyền có thể được chấp nhận. Nó cũng giải thích tại sao nhiều công dân Nga sống ở nước ngàoi và quen với cuộc sống phương Tây lại không ấn tượng chút nào với sự tự do mà họ chứng kiến. Bình luận về các chiến thuật mạnh tay của Điện Kremlin, họ khăng khăng đó là điều tốt để có một chính phủ mạnh, nếu không sẽ có hỗn loạn, và đó là một điều đất nước không bao giờ muốn.

Kết luận cũng giống với dữ liệu của Eurobarometer năm 2008. Trong 26 nước châu Âu, phần trăm người được hỏi chọn “tự do ngôn luận” làm mục tiêu mưu cầu cho tương lai có liên quan mật thiết với ham mê. Tương tự với phần trăm người chọn “dân chủ” là quan trọng nhất trong mối tương liên với ý kiến về hạnh phúc.

Bảng 8.3: Những khác biệt chính giữa xã hội cởi mở và Cấm kỵ
II. Cuộc sống riêng tư, hành vi của người tiêu dùng, giới tính, và chính trị
Cởi mở Cấm kỵ
Thưởng thức âm nhạc và phim ảnh nước ngoài cao Ít thưởng thức âm nhạc và phim ảnh nước ngoài
Đáp ứng nhiều hơn cuộc sống gia đình Ít hài lòng với cuộc sống gia đình
Nhiệm vụ gia đình phải được chia sẻ Bất bình đẳng chia sẻ nhiệm vụ gia đình
Tích cực tham gia các môn thể thao Hiếm khi tham gia các môn thể thao
Email và Internet cho các địa chỉ liên hệ cá nhân Ít trao đổi email với các nhân
Email và Internet liên lạc với người nước ngoài Ít email và Internet liên lạc với người nước ngoài
Ít tiêu thụ cá Tiêu thụ nhiều cá
Dùng nhiều nước giải khát và bia Dùng ít nước giải khát và bia
Ở các nước giàu: tỷ lệ phầm trăm những người béo phì cao hơn Ở những nước giàu: tỷ lệ phầm trăm những người béo phì ít hơn
Quy định vai trò giới tính lỏng lẻo Vai trò giới tính theo quy định nghiêm ngặt
Ở các nước giàu: tiêu chí tình dục không quá cấm đoán Ở các nước giàu: tiêu chí tình dục nghiêm ngặt
Mỉm cười như một tiêu chuẩn Mỉm cười khi nghi ngờ
Tự do ngôn luận được xem là tương đối quan trọng Tự do ngôn luận không phải là một mối quan tâm chính
Duy trì trật tự trong cả nước không là ưu tiên cao Duy trì trật tự trong cả nước được coi là một ưu tiên cao
Số lượng nhân viên cảnh sát thấp trên 100.000 dân Số lượng nhân viên cảnh sát cao trên 100.000 dân

Sự xuất hiện sự tự do bộc lộ và tự do dân chủ ở một đất nước đã được cho thấy có liên quan đến những giá trị con người trong lĩnh vực phân chia quyền lực, chủ nghĩa cá nhân và sự tránh né bất trắc. Mối liên hệ với IVR cho thấy một ảnh hưởng khác lên việc con người một nước nghĩ thế nào về những ý tưởng chính trị liên quan.

Chỉ số ham mê không chỉ dự đoán được thái độ đối với chính quyền quốc gia trong các nghiên cứu viết. Trên thực tế, nó liên hệ nghịch với số lượng cảnh sát trên 100.000 dân ở 41 nước mà dữ liệu thu thập. Những xã hội kiềm chế hơn thì nghiêm túc hơn về các giớ hạn của họ – họ có nhiều cảnh sát tính trên đầu người hơn.

Như trường hợp của hầu hết các khía cạnh văn hóa, thật khó giải thích chắc chắn được tiến trình lịch sử đã tạo ra những khác biệt gì trong trục Ham mê và Kiềm chế mà chúng ta quan sát hôm nay. Lời giải thích có thể được Misho đưa ra trong một bài viết trên tờ báo Nhân loại học Sage có tên CrossCultural Research (Nghiên cứu giao thoa văn hóa) cũng như những ấn phẩm trước đó của ông. Ông cho rằng những xã hội ham mê không có lịch sử hàng thiên niên kỷ của nền văn minh nông nghiệp tập trung Âu – Á kéo dài đến ngày nay. Theo lịch sử, nền nông nghiệp tập trung chưa bao giờ có ở vùng cận Sahara châu Phi. Một số nước hình thành từ con đường này đaã tồn tại ở một vài nơi trên châu Mỹ, nhưng giống như châu Phi, không có các động vật dưới nước ở đây, đó là một trở ngại nghiêm trọng cho sự phát triển của nó. Đối với các quốc gia nói tiếng Anh và Scandinavia, lịch sử văn hóa nông nghiệp tập trung truyền thống đã có từ lâu trước khi bị mai một. Nền nông nghiệp tập trung cao của loại hình Á – Âu mang lại vô số tai ương cho những người đã nếm trải nó: làm việc căng thẳng, các thời kỳ luân phiên dồi dào và khan hiếm thực phẩm, tình trạng đè nén và khai thác quá mức, dịch bệnh tràn lan, và chiến tranh lãnh thổ triền miên. Không ngạc nhiên khi các xã hội Á – Âu của nền nông nghiệp tập trung phát triển những học thuyết triết học như Phật giáo, theo đó cho rằng cuộc sống là chịu đựng và mưu cầu hạnh phúc là phí phạm thời gian, hoặc ba nền tôn giáo Trung Đông vĩ đại là đạo Do Thái, đạo Thiên Chúa và đạo Hồi, những tôn giáo dạy hạnh phúc thực sự nằm ở cuộc sống bên kia. Xã hội săn bắn hái lượm và trồng trọt chăn nuôi không bị đe dọa bởi các thiên tai của nền nông nghiệp tập trung, điều này giải thích tại sao họ có mong muốn tự do và hạnh phúc cao hơn. Như chuyên gia người Mỹ ở SWB Ed Diener và William Tov phát biểu, nghiên cứu những người Inuit và Maasai đã tiết lộ rằng họ hạnh phúc như những người Mỹ giàu có nhất. Hơn nữa, nền nông nghiệp tập trung đòi hỏi phải có kỷ luật khắt khe, lập kế hoạch và tiết kiệm cho tương lai, tránh xa nghỉ ngơi, thắt chặt quản lý xã hội, và điều đó lại không cần thiết, cũng không thể có ở mức độ như vậy trong xã hội săn bắn hái lượm hay trồng trọt chăn nuôi. Những xã hội hiện đại tiên tiến bậc cao với nền kinh tế dịch vụ dường như lại đang quay trở lại nền văn hóa ham mê hơn của thời xa xưa, trước khi nền văn minh nông nghiệp tập trung ra đời.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hosfstede, Gert Jan Hofstede, Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Advertisements

Bán đảo Triều Tiên khó tránh khỏi xu thế hỗn loạn và chiến tranh – Phần I


Tiết Lý Thái

Tiếp sau vụ phóng tên lửa liên lục địa Hwasong-14 vào ngày 4/7, Triều Tiên lại phóng tên lửa Hwasong-14 đã được cải tiến vào ngày 28/7, bay được 998 km, độ cao 3725 km. Vụ phóng tên lửa này nếu bay quỹ đạo bình thường, tầm bắn lên tới 10000 km, có thể tấn công thành phố lớn Los Angeles của Mỹ.

Vụ phóng tên lửa lần này tiến hành với phương thức đường đạn tầm cao, có thể đạt được tốc độ bay cần thiết của tên lửa hành trình, đó là tình trạng tối thiểu của thử nghiệm tên lửa trong môi trường áp suất thay đổi. Lãnh thổ Triều Tiên rất nhỏ hẹp, không có tàu trắc nghiệm xa bờ nên thử tên lửa tầm xa, cũng đủ để kiểm chứng tình trạng và tính năng của tên lửa.

Triều Tiên sẽ có tên lửa hạt nhân liên lục địa

Tên lửa Hwasong-14 được phát triển dựa trên phiên bản tên lửa Hwasong-12 một tầng thuốc phóng được tăng thêm tầng thứ hai. Khi nghiên cứu và chế tạo tên lửa tầm xa Đông Phong – 4, Trung Quốc cũng thêm một tầng vào tên lửa tầm trung Đông Phong – 3, lại giải quyết được ba kỹ thuật then chốt là kỹ thuật chia tách giữa các tầng thuốc phóng, kỹ thuật điểm hỏa ở trên cao đối với động cơ phóng ở tầng hai và thiết bị đo gia tốc chính xác, nghiên cứu và chế tạo thành công tên lửa tầm xa Đông Phong – 4.

Ngành công nghiệp tên lửa của các nước khi thiết kế tên lửa hạt nhân, trọng lượng và hình dạn của đầu đạn hạt nhân do cơ quan phụ trách công nghiệp hạt nhân quyết định là yêu cầu thiết kế đối với trọng tải của tên lửa. Từa đó có thể thấy Triều Tiên cũng đã có tiến bộ lớn về việc nghiên cứu tên lửa tầm xa trong vấn đề thu nhỏ đầu đạn hạt nhân. Giới nghiên cứu của các nước không thể đánh giá thấp khả năng Triều Tiên nghiên cứu và chế tạo vũ khí chiến lược.

Từ tháng 2 đến nay, Triều Tiên đã tiến hành 12 vụ thử tên lửa, tổng cộng phóng 17 tên lửa, số lần thử và phóng tên lửa tương đương với tổng số lần thử tên lửa từ năm 2006 đến 2012. Điều này vừa phản ánh tâm trạng sốt ruột của các lãnh đạo Bình Nhưỡng muốn nhanh chóng phát triển tên lửa liên lục địa, vừa phản ánh kỹ thuật tên lửa của Triều Tiên thực sự ở vào giai đoạn phát triển vô cùng nhanh chóng. Không bao lâu nữa, Triều Tiên có tên lửa liên lục địa để tấn công hạt nhân vào lãnh thổ Mỹ là điều không còn phải nghi ngờ.

Cho dù Triều Tiên có tên lửa tầm xa, thậm chí là tên lửa liên lục địa thì vẫn thiết khả năng chiến đấu thực sự. Vấn đề then chốt không nằm ở đầu đạn hạt nhân có được thu nhỏ hay không và có khả năng bay xa hay không mà ở chỗ có thể sản xuất được lớp chịu nhiệt để bảo vệ đầu đạn hạt nhân hay không. Tầm phóng tên lửa càng xa, tốc độ của đầu đạn trở lại bầu khí quyển trái đất càng nhanh, nhiệt độ của đầu đạn càng cao. Tuy tên lửa tầm ngắn của Triều Tiên không cần lớp chịu nhiệt đặc biệt, nhưng nhất định phải sản xuất lớp chịu nhiệt với tính năng thật tốt mới có thể giúp tên lửa tầm xa và tên lửa liên lục địa của Triều Tiên có khả năng tác chiến thực sự. Nếu Triều Tiên không làm được như vậy, thì trong quá trình đầu đạn hạt nhân trở lại bầu khí quyển trái đất, chưa bay đến mục tiêu đã bị nổ.

Chẳng hạn vào thập niên 1970, Trung Quốc đã gắn thêm tầng nhiên liệu rắn thứ ba vào tên lửa tầm xa Đông Phong – 4 để phóng thành công vệ tinh Đông Phương Hồng – 1. Điều này chứng tỏ Trung Quốc khi đó đã có khả năng phóng tên lửa Đông Phong – 4 vào mục tiêu ngoài biên giới 4800 km. Tuy nhiên, đến đầu thập niên 1980, Trung Quốc mới có được kỹ thuật khó của lớp chịu nhiệt, mới có thể triển khai tên lửa Đông Phong – 4 vào trực chiến.

Theo quan điểm đó, sau khi Triều Tiên chế tạo được lợp chịu nhiệt phù hợp thì tên lửa tầm xa và tên lửa hạt nhân liên lục địa mà họ sở hữu mới có khả năng chiến đấu trong thực tế. Điều này có nghĩa là cộng đồng quốc tế vẫn còn vài năm để giải quyết, tìm kiếm giải pháp cuối cùng mới có thể giải quyết vấn đề hạt nhân của Triều Tiên.

Mỹ không thể ngồi nhìn Bình Nhưỡng sở hữu vũ khí hạt nhân

Các lãnh đạo cao cấp của Triều Tiên những năm gần đây đã dốc hết nguồn lực của đất nước, quyết tâm phát triển tên lửa liên lục địa bằng mọi giá. Mục tiêu tấn công đã xác định của họ đương nhiên là Mỹ, chứ không phải quốc gia khác.

Chính sách của Chính quyền Obama xử lý vấn đề hạt nhân Triều Tiên là “nhẫn nại chiến lược”. Trong thời gian 8 năm cầm quyền, Obama không làm được gì, đẩy vấn đề gai góc này cho Trung Quốc. Sau khi Trump lên cầm quyền, ông không thể kiên nhẫn, lập tức coi vấn đề hạt nhân của Triều Tiên là lựa chọn ngoại giao cấp bách nhất. Lý do chuyển hướng chiến lược lớn này là:

1/ Việc nâng cấp đổi bệ phóng của Triều Tiên đối với vũ khí hạt nhân có hiệu quả, Bình Nhưỡng tuyên bố đã sở hữu bom nhiệt hạch (bom khinh khí). Cho dù họ nói đúng hay sai thì khả năng gây thiệt hại lớn của vũ khí hạt nhân sau này không chỉ giới hạn ở bom nguyên tử, đó là điều không còn phải nghi ngờ.

2/ Triều Tiên đang đẩy nhanh các bước đi nghiên cứu và chế tạo tên lửa liên lục địa. Nếu xu hướng này chưa bị kiềm chế, thì Triều Tiên sẽ có khả năng tấn công bằng vũ khí hạt nhân vào khu vực đông dân cư ở Mỹ. Chứng cứ là Triều Tiên liên tục phóng tên lửa hai lần trong tháng 7.

3/ Tác phong của Kim Jong-un quyết đoán, đã hành quyết chú dượng Jang Song-thaek, lại ám sát người anh ruột Kim Jong-nam ở nước ngàoi, xử tử rất nhiều quan chức và sĩ quan cao cấp. Về hoạch định chính sách, Kim Jong-un không mấy chín chắn, mức độ khó lường cao, nếu sau này thể hiện trong cuộc khủng hoảng quốc tế lớn, hậu quả sẽ bi thảm.

4/ Từ khi Triều Tiên bắt đầu hai dây chuyền sản xuất nhiên liệu hạt nhân là làm giàu plutoni và urani, năng lực sản xuất vũ khí hạt nhân của họ tăng lên. Một khi Triều Tiên đã sở hữu 40 đến 50 quả bom hạt nhân, nhất định sẽ kích động Nhật Bản hoạch định chính sách không đi theo con đường cũ và sở hữu vũ khí hạt nhân, Hàn Quốc thậm chí Đài Loan cũng có thể làm theo Nhật Bản. Như vậy, cục diện chính trị Đông Bắc Á, cũng như cả thế giới mà Mỹ kiểm soát hiện nay cũng sẽ thay đổi lớn.

Bình Nhưỡng có thể kiềm chế hơn, củng cố thành quả mang tính giai đoạn, không nâng cấp và thay thế hệ vũ khí hạt nhân, hạn chế số lượng đầu đạn hạt nhân, đồng thời giới hạn tên lửa mang đầu đạn hạt nhân ở tầm ngắn và tầm trung, chỉ là nước sở hữu vũ khí hạt nhân duy nhất tầm khu vực. Nếu Triều Tiên làm như vậy thì vũ khí hạt nhân của họ không thể đe dọa đến an ninh lãnh thổ Mỹ, Chính quyền Trump cũng sẽ không kích động Nhật Bản có bước đi khởi động vũ trang hạt nhân, sẽ không đến mức thay đổi nhanh chóng chính sách của chính quyền tiền nhiệm đối với vấn đề hạt nhân của Triều Tiên.

Giới học giả Trung Quốc cho rằng sở dĩ Triều Tiên khởi động các chương trình về vũ khí hạt nhân là do chính sách của Mỹ có ý đồ lật đổ chính quyền nhà họ Kim nên Bình Nhưỡng bị ép buộc phải đưa ra quyết sách. Bình Nhưỡng lo ngại một khi các nước như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản… kích động, đất nước này có thể xảy ra rối ren chính trị, chính quyền hiện tại có thể bị lật đổ. Chính quyền Gaddafi ở Libya đã từ bỏ chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân của nước này, cuối cùng dẫn đến chính quyền của ông sụp đổ trong hỗn loạn. Số phận bi thảm của Gaddafi chính là lời cảnh báo. Do đó, Chính quyền Bình Nhưỡng phải nắm trong tay vũ khí hạt nhân để bảo vệ họ. Đây là việc làm dường như có lý.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.dunjiaodu.com – 01/08/2017

TLTKĐB – 17/08/2017

Hợp nhất hệ thống song trùng Đảng – Nhà nước liệu có khả thi?


Chuyện hợp nhất các chức danh của Đảng Cộng sản với các cơ quan chính quyền là việc được bàn đến từ lâu ở Việt Nam. Liệu Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 đang diễn ra có bàn đến vấn đề này hay không? Và nếu có thì có quyết định thực hiện hay không?

Nhất thể hóa là một dự án nghiên cứu từ lâu

Tiêu biểu nhất cho ý tưởng hợp nhất, hay còn gọi là nhất thể hóa này, là bài báo của ông Nhị Lê trên Tạp chí Cộng sản tháng 8/2016. Đến tháng 6/2017 lại có bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, trên tạp chí Tia sáng, trong đó đưa ra khái niệm “Tổng thống lưỡng tính”, thực chất là gộp hai chức danh Tổng Bí thư Đảng và Chủ tịch nước như mô hình Trung Quốc.

Theo Tiến sĩ Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế hiện sống ở Hà Nội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa chuyện gộp các chức danh Đảng với Nhà nước vào đề án nghiên cứu bấy lâu nay. Ông Ngô Trí Long nói:

Vấn đề nhất thể hóa đã được bàn từ lâu rồi. Nội dung của kỳ họp Trung ương 6 khóa XII này có rất nhiều vấn đề, nhưng nội dung ấy là cốt lõi. Việc thu gọn hệ thống hành chính, chính trị của Việt Nam là không thể lùi lại được nữa, vì hiện nay nợ công rất lớn, bội chi thì cao, cho nên phải tinh giản mới giảm được chi phí thường xuyên, còn chuyện có quyết định hay không thì phải chờ hội nghị”.

Trong cơ cấu tổ chức của nhà nước Việt Nam hiện nay, cứ một bộ phận của chính quyền thì song song đó có một bộ phận của Đảng, ví dụ như bên cạnh Ủy ban nhân dân tỉnh có tỉnh ủy. Đây được xem như là mô hình Đảng Cộng sản lãnh đạo mọi hoạt động của xã hội. Tuy nhiên, sự trùng lặp như vậy tạo nên một biên chế rất lớn cho lĩnh vực hành chính công tại Việt Nam. Tại Hội nghị trung ương 6, một số thống kê cụ thể được đưa ra là hiện nay, có 2,5 triệu biên chế của khoảng 58.000 đơn vị sự nghiệp công lập, chưa kể tổ chức trong công an, quân đội và khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Theo ghi nhận của Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu chính trị Việt Nam tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á, việc nghiên cứu hợp nhất 2 chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước đã được Đảng Cộng sản Việt Nam bàn luận suốt 15 năm qua nhưng không thực hiện được.

Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 6, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói rằng sẽ sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn. Nhưng đồng thời, ông cũng nói rằng đây là vấn đề phức tạp và nhạy cảm, liên quan đến vai trò lãnh đạo của Đảng.

Có khả thi hay không?

Một nhà quan sát độc lập tại TPHCM, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng không tin rằng chuyện hợp nhất bộ máy Đảng và chính quyền trong hoàn cảnh hiện nay có thể xảy ra. Một lý do quan trọng được ông đưa ra là khả năng của các viên chức đảng thuần túy và sự kháng cự của bộ máy chính quyền vì nếu gộp 2 bộ phận làm một thì sẽ dư ra rất nhiều vị lãnh đạo mà không biết đưa vào đâu. Ngoài ra, với các mối quan hệ chằng chịt về gia đình và quyền lợi thì khó có thể loại một cán bộ Đảng nào đó. Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Ngô Trí Long, mô hình hợp nhất này đã được thí nghiệm ở Việt Nam. Ông Long cho biết:

Việc này Quảng Ninh đã làm rồi và cảm thấy rất hiệu quả. Đó là mô hình điểm rồi mới đưa ra Hội nghị Trung ương, không lùi được nữa, phải tiến, nhưng nhanh hay chậm là một vấn đề”.

Tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện mô hình nhất thể này ở cấp xã, chỉ có một viên chức được chỉ định điều hành mọi công việc cho xã, chứ không phải là hai vị trí Chủ tịch xã và Bí thư xã như trước kia. Theo một số nguồn tin, chính từ việc thực hiện thành công mô hình này mà Bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh Phạm Minh Chính được thăng chức Ủy viên Bộ Chính trị trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII vào đầu năm 2016. Một điều đáng chú ý là trong cả hai bộ phận, bộ phận chính quyền như mọi quốc gia khác, và bộ phận Đảng, tất cả các viên chức đều là đảng viên, nhưng tại sao lại không thể sắp xếp họ theo mong muốn của Đảng?

Theo ông Ngô Trí Long, với những bức bách về ngân sách quốc gia, việc nhất thể hóa Đảng và chính quyền chắc chắn phải được thực hiện, nhưng theo một lộ trình nhanh hay chậm là tùy tình hình thực tế. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng có thể Hội nghị Trung ương 6 sẽ ra nghị quyết về vấn đề nhất thể hóa. Ông Doanh nói:

Việc này phải chờ quyết định của Trung ương, không phải là các dự án trình ra thì trung ương chấp nhận, rất nhiều quyết định của Trung ương khác so với dự án”.

Đánh giá về khả năng nhất thể hóa Đảng và nhà nước, ông Hà Hoàng Hợp nói rằng điều đó tùy thuộc vào nhóm người mong muốn thay đổi đông hay ít, và một trở ngại nữa cho việc nhất thể hóa này là Đảng Cộng sản Việt Nam sợ rằng quyền hành tập trung vào một mối dẫn đến việc không thể kiểm soát được. Tuy nhiên, từ khi Đảng Cộng sản bước lên vũ đài chính trị Việt Nam từ năm 1954 ở miền Bắc, và từ 1975 trên cả nước, quyền lực lãnh đạo đất nước chỉ tập trung duy nhất vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nguồn: RFA

TKNB – 09/10/2017

Bàn tay vô hình gặp con khỉ đột vô hình: Kinh tế học và tâm lý học của sức chú ý khan hiếm


Diane Coyle

Phải chăng các nhà kinh tế học đã thiếu chú ý? Bài báo này tường thuật lại một hội nghị về tâm lý học và kinh tế học của “sức chú ý khan hiếm”. Trung tâm của cuộc thảo luận là giả thiết phải chăng việc có quá nhiều thông tin khiến cho việc ra quyết định trở nên mù quáng và liệu điều này có thể giải thích tại sao rất nhiều nhà kinh tế học bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo về một cuộc khủng hoảng.

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính [2008 – ND], nhiều nhà bình luận đã đặt câu hỏi tại sao rất nhiều nhà kinh tế đã không dự đoán được nó – hoặc thậm chí liệu rằng kinh tế học có vai trò nào trong việc (góp phần) gây ra cuộc khủng hoảng. Một nhóm các chuyên gia Anh trong năm 2009 cho rằng việc không dự đoán được này là một dạng “tâm lý học của sự từ chối” đang đè nặng toàn bộ thế giới tài chính.[2]

Giới kinh tế từ đó tiếp tục đánh giá vai trò của mình trong thảm họa tài chính và khủng hoảng kinh tế sau này. Những giả thiết chuẩn của chủ đề này về cách mọi người đưa ra quyết định và lựa chọn hành xử là trọng tâm đặc biệt được nghiên cứu kỹ lưỡng. Phải chăng giả định rằng các sự lựa chọn đều dựa trên lý trí, vì mục đích có lợi cho bản thân, dựa trên các thông tin có sẵn, tự chính nó góp phần vào một hiểu lầm khủng khiếp của các cơ quan điều tiết và hoạch định chính sách về những gì có thể xảy ra trong các thị trường tài chính?

Kinh tế học hành vi đưa ra một số ví dụ về các quy tắc theo kinh nghiệm về hành vi khác nhau mô tả quyết định điển hình chính xác hơn so với các giả thiết chuẩn. Tuy nhiên, để giải quyết các câu hỏi một cách hệ thống, các nhà kinh tế sẽ cần phải học từ tâm lý học (cụ thể, tâm lý học về sự lựa chọn cá nhân trong tình huống mà con người phải đối mặt với một dòng thông tin liên tục, như họ thường phải đối mặt với nhiều quyết định kinh tế).

Những người tham gia một buổi hội thảo gần đây về Tâm lý học và Kinh tế học của sức chú ý khan hiếm tại trường Kinh tế Toulouse đã đề cập tới những vấn đề này (xem tóm tắt ở đây). Chủ đề chính là liệu sự hiểu biết ngày càng lớn của các nhà khoa học về tri nhận về cách “cảm nhận giác quan” chuyển thể thành hành động, với sức chú ý có hạn của con người, có đưa ra được bài học nào cho các nhà kinh tế hay không.

Một minh họa sống động về sự tương đồng tiềm năng được đưa ra trong một ví dụ do Giám đốc Nghiên cứu CNRS Kevin O’Regan của Học viện Descartes Paris về Thần kinh học và Nhận thức (Institut Paris Descartes de Neurosciences et Cognition) đưa ra, về một vụ tai nạn máy bay (trong mô phỏng) do phi công không nhìn thấy chiếc máy bay khác phía trước mình khi anh hạ cánh. Tại sao phi công giàu kinh nghiệm không nhìn thấy máy bay trên đường băng? Thật sự thì câu hỏi này cũng giống như hỏi tại sao hầu hết mọi người không nhìn thấy sự sụp đổ sắp xảy ra trong các thị trường tài chính, khi các thông tin đã có sẵn cho những người tìm kiếm cẩn thận?

“Sự mù lòa vô thức” là chuyện bình thường. Ví dụ nổi tiếng nhất liên quan đến những gì mọi người gần một nửa thời gian là không thấy khi đặt ra nhiệm vụ xem một đoạn video và đếm số lần chuyền bóng giữa hai đội bóng rổ – một con khỉ đột đi ngang trên màn hình (Chabris và Simons 2010). Các nhà thần kinh học tham gia hội thảo đã không cảm thấy thuyết phục rằng có sự giống nhau giữa sự mù lòa vô thức và việc không thể dự đoán, nhưng các nhà kinh tế cho rằng con khỉ đột vô hình có thể cung cấp cho họ một bộ giả thiết hiệu quả hơn các hơn so với bàn tay vô hình khi nói đến cách con người hình thành sở thích và đưa ra quyết định của mình.

Nếu cho rằng sự chú ý là có chọn lọc trong việc đối phó với số lượng lớn các thông tin mà các giác quan có thể thu được từ thế giới bên ngoài, thì cả hai yếu tố tự nguyện và không tự nguyện có thể đều tham gia vào việc lựa chọn đó. Kiến trúc của não nắm giữ chìa khóa để hiểu được cơ chế lựa chọn. Nhiều khu vực khác nhau của bộ não xử lý các nhận thức trực quan. Mỗi phần có chức năng chuyên biệt của mình, hoạt động đồng thời và tương tác với nhau. Hệ thống này phức tạp và ít nhiều có tính thứ bậc, và tất cả các giác quan thể hiện vai trò cùng một lúc. Có một sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các tế bào thần kinh trong quá trình chọn lọc.

Do đó, quan điểm hiện tại về sức chú ý khan hiếm là nó bắt nguồn từ kiến trúc của não. Ví dụ như trong xử lý hình ảnh, thông tin đi từ cấp thấp đến cấp cao hơn của não. Các tế bào thần kinh cấp thấp (trong vỏ não thị giác chính) rất nhạy cảm với các đặc điểm đơn giản như góc cạnh trong khi những tế bào cấp cao rất nhạy cảm với các đối tượng và phạm trù (như khuôn mặt). Ngoài ra, các tế bào thần kinh cấp thấp được kích hoạt bởi các đặc điểm trực quan tại các địa điểm cụ thể trong khi tế bào thần kinh cấp cao lại không cụ thể như vậy, và các vùng tiếp nhận tương ứng (các khu vực không gian, nơi mà sự hiện diện của một tác nhân kích thích sẽ làm thay đổi sự phản ứng của tế bào thần kinh đó) là lớn hơn. Cả hai điều này đều có nghĩa là mỗi tế bào thần kinh cấp cao có liên quan với một vài tế bào thần kinh cấp thấp – những tế bào cấp thấp này đang cạnh tranh với nhau trong một cuộc thi “được ăn cả, ngã về không”. Có một thất thoát thông tin [ở đây], và là cơ sở thần kinh của sự chú ý khan hiếm.

Có vẻ như mục tiêu rõ ràng cho việc áp dụng những bài học từ tâm lý học về cách hướng sự chú ý hiệu quả – ví dụ như, khi tìm kiếm cách trình bày thích hợp các dữ liệu về thị trường tài chính để giúp cảnh báo các cơ quan chức năng về những cuộc khủng hoảng trong tương lai. Các nhà kinh tế cũng quan tâm tới những bài học khái quát hơn cho các giả thiết về việc ra quyết định trong các mô hình kinh tế. Một lĩnh vực kinh tế mà sự chú ý là một yếu tố quan trọng là trong quảng cáo. Chúng ta có chú ý đủ đến quảng cáo để thay đổi lựa chọn mua sắm của mình không – quảng cáo có hiệu quả không?

Vấn đề về hiệu quả của quảng cáo đã trở nên cấp thiết hơn khi ngày càng nhiều phương tiện truyền thông và chi tiêu chuyển sang hoạt động trực tuyến. Các nhà quảng cáo đang xem xét nơi họ có thể truyền đạt tới người tiêu dùng hiệu quả nhất, trong khi người tiêu dùng đang phải đối mặt với các loại quảng cáo mới, và ngày càng bị “quá tải thông tin”. Quảng cáo trực tuyến tạo ra dữ liệu phong phú, và nghiên cứu kinh tế đang bắt đầu đề cập tới một số vấn đề này.

Số lần nhấp chuột vào các quảng cáo trực tuyến (clicks on ads online) chiếm 98% doanh thu của Google. Hal Varian, Nhà kinh tế trưởng (Chief economist) tại Google, cho rằng vị trí của quảng cáo trên màn hình quyết định tần suất mọi người nhấp vào nó. Sự lựa chọn vị trí một phần là do văn hóa – ví dụ, tùy thuộc vào việc người đó có đọc ngôn ngữ đó từ trái sang phải hay không – và một phần phát triển từ việc Google học hỏi dần dần từ người sử dụng và sự lựa chọn của nhà quảng cáo. Do đó, việc chọn vị trí của mỗi quảng cáo trên trang trực tuyến được quyết định bằng giá trị của vị trí mỗi nhà quảng cáo nhận được đối với họ; và sự khác biệt giữa các mức đấu giá là thước đo giá trị của sự chú ý. Nếu mọi người đều có khả năng nhấp vào bất kỳ quảng cáo trên trang web như nhau, các nhà quảng cáo sẽ không sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để được đặt ở phía trên cùng của trang.

Sự hiểu biết thông thường về áp lực thương mại ngày càng tăng trên cả hai ngành công nghiệp báo chí và phát thanh là doanh thu của họ đang bị phá hoại bởi cả việc người dùng không sẵn lòng trả tiền cho bất cứ điều gì trực tuyến lẫn việc doanh thu từ việc quảng cáo trực tuyến thấp hơn rất nhiều so với quảng cáo ngoại tuyến (quảng cáo thông thường). Tuy nhiên, Varian lập luận rằng việc cho rằng quảng cáo ngoại tuyến đắt hơn rất nhiều là sai, vì sự so sánh thích hợp là giá của sự chú ý, chứ không phải là giá của bản thân quảng cáo.

Độc giả ngoại tuyến tạo ra 88% doanh thu quảng cáo báo chí tại Mỹ, và họ dành ra trung bình 24 phút mỗi ngày để đọc báo. Độc giả trực tuyến tạo ra 12% doanh thu quảng cáo và dành ra chỉ 1,2 phút một ngày để đọc. Vì vậy, quảng cáo ngoại tuyến rẻ hơn cho mỗi phút đọc khi so sánh với đọc báo trực tuyến, nó (quảng cáo ngoại tuyến) chiếm được gấp 20 lần sự chú ý mà chỉ tốn chi phí gấp bảy lần. Lý do có vẻ là do người ta đọc báo trực tuyến tại nơi làm việc, còn đọc báo ngoại tuyến ở nhà. Điều đó tạo nên thách thức thực sự cho báo chí để làm cho người dân dành nhiều thời gian hơn để đọc báo trực tuyến, Varian kết luận.

David Reiley (2011), nhà khoa học nghiên cứu chính (Principal Research Scientist) tại Yahoo! Research, mô tả các kết quả của một thí nghiệm nghiên cứu hơn một triệu khách hàng đã mua từ một nhà bán lẻ lớn của Mỹ và cũng là người sử dụng Yahoo! Các khách hàng được phân ngẫu nhiên vào hai nhóm xử lí và nhóm đối chứng. Nhìn vào số liệu của mỗi khách hàng về mức độ tiếp xúc với quảng cáo và việc mua sắm hàng tuần tại cửa hàng bán lẻ này, cả trực tuyến và tại cửa hàng, cho thấy tác động đáng kể về mặt thống kê và kinh tế của quảng cáo trên doanh thu. Tác động này kéo dài trong vài tuần sau khi kết thúc một chiến dịch quảng cáo, và tổng tác động lên doanh thu vượt quá chi phí của nhà bán lẻ dành cho quảng cáo. Một chiến dịch quảng cáo tốn 25.000 USD đem lại thêm doanh thu trong hai tuần là 83.000 USD (+/-70.000 USD- khoảng tin cậy rộng do số liệu doanh số bán lẻ có dao động lớn). Sau năm tuần, một chiến dịch quảng cáo được ước tính trị giá 33.000 USD đã tăng doanh số bán hàng thêm 250.000 USD +/-190.000 USD. Tuy nhiên, hầu hết các tác động của quảng cáo trực tuyến trên doanh số bán hàng là thông qua bán hàng tại cửa hàng.

Những bằng chứng khác được trình bày tại hội thảo cho rằng cá nhân hoá quảng cáo trực tuyến thường ít hiệu quả hơn so với việc gửi thông báo chung. Việc tuỳ chỉnh quảng cáo cho mỗi cá nhân căn cứ theo hành vi duyệt web của họ – được biết đến trong ngành công nghiệp là “tái lập mục tiêu động” – là tâm điểm niềm hy vọng khổng lồ của các nhà quảng cáo để đạt được hiệu quả lớn hơn nhờ sự liên quan của quảng cáo hiển thị cho từng cá nhân. Nhưng bằng chứng từ một thí nghiệm trực tuyến được trình bày bởi Anja Lambrecht của Trường Thương mại London (London Business School), (thí nghiệm này) sử dụng tái lập mục tiêu động ngẫu nhiên cho một công ty du lịch, cho rằng quảng cáo chung có nhiều khả năng khiến cho một người tiêu dùng quyết định mua hơn là một quảng cáo cụ thể, tăng khả năng chuyển đổi thêm 60%. Những người duy nhất mà các quảng cáo cụ thể có hiệu quả hơn là những người đã đọc qua một trang web đánh giá để tìm kiếm một loại sản phẩm cụ thể. Lambrecht cho rằng sự khác biệt này có thể chỉ ra rằng nhiều người tiêu dùng ban đầu không có sở thích rõ ràng, và sử dụng các quá trình tìm kiếm để tinh chỉnh sở thích của họ. Nhưng nếu họ đã biết đủ về những gì họ muốn mua để truy cập vào một trang web đánh giá, có thể nói là họ đã có sở thích khá cụ thể. Bài học cho ngành công nghiệp quảng cáo là để có hiệu quả lớn hơn họ sẽ cần phải có cái nhìn sâu sắc hơn hiện tại về quá trình ra quyết định của khách hàng, cần phải biết sở thích của họ đã cố định đến mức nào, và theo mức độ chi tiết mà quảng cáo nhắm tới một đối tượng khách hàng cần phải có để đạt hiệu quả (Lambrecht và Tucker 2011).

Lưu Anh Trí, Nguyễn Thị Trà Giang dịch

Nguồn: The invisible hand meets the invisible gorilla: The economics and psychology of scarce attentionVoxeu.Org, 03 Dec. 2011.

Diane Coyle là Giáo sư Kinh tế, Đại học Manchester; nhà sáng lập Kinh tế học Khai minh và là đồng giám đốc của Policy@Manchester.

Các nhóm lợi ích ở Mỹ – Phần cuối


Ma trận của Enron: Giới hạn của hoạt động vận động hành lang

Sự sụp đổ về tài chính của tập đoàn Enron, từng được xếp thứ bảy về thu nhập hàng năm trong số các tập đoàn Mỹ, đã hướng sự chú ý tới các hoạt động vận động hành lang rất ráo riết của công ty này. Hoạt động trong những lĩnh vực mà chính sách của chính phủ có ảnh hưởng quyết định tới lợi nhuận – trong đó có sản xuất và phân phối điện, bưu chính viễn thông và buôn bán hàng hóa – Enron đã đầu tư những khoản tiền khổng lồ cho nỗ lực định hình chính sách công vì lợi ích của tập đoàn. Nổi tiếng nhất sự ủng hộ hào phóng của nó cho chiến dịch vận động tranh cử tổng thống của George W. Bush (các ủy ban hành động chính trị của Enron và nhân viên của nó đã đóng góp 114.000 USD cho chiến dịch của ông, và cựu Giám đốc điều hành của tập đoàn là Kenneth Lay là người gây quỹ hàng đầu cho Bush), cũng như các khoản “tiền mềm” rất lớn tặng cho các đảng chính trị. Enron cũng tham gia rất sâu vào các chiến dịch vận động bầu cử Quốc hội.

Đầu năm 2002, khi tiến hành điều tra những lời cáo buộc về việc vi phạm nguyên tắc kế toán kiểm toán, che giấu tài liệu và buôn bán trong nội bộ hãng, Quốc hội đã bắt đầu với đôi chút ngần ngại: 43% số hạ nghị sĩ và 71% số thượng nghị sĩ đã từng được Enron ủng hộ về mặt tài chính. Sự hào phóng của Enron dành cho cả hai đảng, mặc dù đảng Cộng hòa có được nhiều hơn. Sáu mươi hai phần trăm số người được tài trợ là Đảng viên Cộng hòa, đã nhận khoảng 2/3 tổng số tiền đóng góp cho các ứng cử viên chạy đua vào Quốc hội.

Tuy  nhiên, số tiền đóng góp cho các chiến dịch tranh cử chỉ là một phần trong những khoản đầu tư vào chính trị của Enron. Tập đoàn này cũng đã xây dựng một hệ thống thu thập và đánh giá thông tin chính trị hết sức tiên tiến. Môt chương trình máy tính được các nhà thiết kế đặt tên là “ma trận” theo dõi những biến động về chính sách có thể tác động tới lợi nhuận của Enron. Các nhân viên ở Washington D.C. nhập thông tin về những dự luật đề xuất hoặc thay đổi trong luật vào ma trận, và các nhà kinh tế học của Enron tại trụ sở công ty ở Houston sẽ sử dụng chúng để tính toán chi phí dự kiến của chúng đối với hãng trong tương lai, có điều chỉnh kỹ lưỡng với lạm phát và tăng trưởng. Một nhà kinh tế học tham gia vào việc xây dựng chương trình này nói: “Tôi sẽ nói với (các giám đốc điều hành) “Đây là kết quả dự kiến. Các ông hãy quyết định liệu có đáng sử dụng bộ máy vận động hành lang hay không”. Nếu việc vận động là đáng, các giám đốc điều hành sẽ khởi động “bộ máy gây ảnh hưởng hết sức rộng lớn của họ, huy động các nhà vận động hành lang và gọi điện cho các chính trị gia đã nhận tiền đóng góp cho chiến dịch vận động bầu cử của Enron”.

Ma trận này hiển nhiên đã giúp tìm ra phần lớn công việc cho các nhà vận động hành lang của Enron. Theo một tính toán, trong nửa đầu năm 2001, chỉ riêng hãng đã dành hơn 2 triệu USD vận động Quốc hội trong 85 dự luật và vấn đề khác nhau. Các chủ đề gồm thuế khóa, ngoại thương, năng lượng, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải và ngân sách. Enron cũng tìm kiếm sự đối xử thân thiện từ giới truyền thông bằng cách mời những nhà lãnh đạo công luận – phóng viên, bình luận viên và các nhà hoạt động chính trị – tham gia một ủy ban cố vấn chọn lọc. Chỉ bằng việc đàm thoại về những sự kiện đang diễn ra với các giám đốc điều hành của Enron vài lần một năm, mỗi cố vấn này sẽ được nhận mức lương 50.000 USD một năm.

Lực lượng vận động hành lang khổng lồ của Enron có thể đã giúp tạo dựng một bầu không khí thuận lợi trong việc điều tiết và thuế khóa, tăng cường sự thịnh vượng hiển nhiên của công ty và làm giàu cho các giám đốc cấp cao của hó, song lực lượng này đã không làm gì để bảo vệ công ty hay các nhà lãnh đạo của nó khi ngôi nhà tài chính đang lung lay của nó bắt đầu sụp đổ. Các quan chức cao cấp ở Bộ Tài chính và Bộ Thương mại lắng nghe lời cầu khẩn giúp đỡ của hội đồng quản trị Enron nhưng rõ ràng đã không làm gì. Thay vào đó Bộ Tư pháp, Bộ Lao động và Ủy ban chứng khoán và hối phiếu đã mở các cuộc điều tra về hoạt động của nó. Tập đoàn này không tìm thấy một người bảo vệ nào ở Quốc hội; các nghị sĩ hưởng lợi từ các khoản đóng góp cho chiến dịch tranh cử của Enron đôi khi còn kịch liệt chỉ trích để chứng tỏ rằng họ không bị mua chuộc. Tổng thống Bush hầu như chẳng có điều gì để nói về Enron hoặc Lay, người bạn thân thiết của gia đình ông và nhà ủng hộ tài chính hào phóng nhất, và thư ký báo chí của tổng thống đã gợi ý các phóng viên hỏi về thất bại của tập đoàn nên hướng sang Bộ Tài chính. Tất cả những người liên quan đều hết sức cố gắng để bày tỏ sự thông cảm hoàn toàn với hàng nghìn nhân viên và các nhà đầu tư mà việc làm, phúc lợi hưu trí hoặc các khoản đầu tư của họ đã biến mất cùng với sự phá sản của công ty. Vụ bê bối Enron cũng khiến cho rất nhiều hạ nghị sĩ đang lưỡng lự chuyển hẳn sang phe ủng hộ cải cách việc tài trợ cho các chiến dịch vận động, dù để thông qua một dự luật xóa bỏ các khoản tiền mềm từ ngân quỹ vận động của liên bang – bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của các lãnh tụ Đảng Cộng hòa ở Hạ viện.

Mặc dù các tam giác sắt không còn giữ vị trí chi phối nữa, song tình trạng phổ biến của các nhóm lợi ích góp phần khiến chúng suy yếu cũng tạo ra những vấn đề riêng. Đòi hỏi mạnh mẽ của các nhóm cạnh tranh với nhau bị coi là nguyên nhân dẫn tới sự bế tắc về chính sách. Với những người chơi tích cực hơn, các nhà vận động chính sách nhận thấy càng khó có thể tập hợp liên minh để giành chiến thắng. Và một số nhà quan sát cho rằng càng có nhiều nhóm có khả năng tự bảo vệ mạnh mẽ, thì càng không thể đề xuất bất kỳ thay đổi nào nhằm tập trung chi phí vào một nhóm để đạt được các lợi ích chung, ngay cả khi lợi ích này vượt xa chi phí.

Có vô số ví dụ về sự bế tắc trong chính sách. Trận chiến dài để cắt giảm thâm hụt ngân sách trong suốt các thập niên 1980 và 1990 (và tái diễn trong Quốc hội khóa 109 [2005 – 2006]) là một ví dụ. Mặc dù ngoài miệng ai cũng thừa nhận sự lý tưởng của việc cân bằng ngân sách, song từng chương trình chi tiêu và cắt giảm thuế đều được những nhóm lợi ích có tổ chức bảo vệ quyết liệt, trong khi việc giảm thâm hụt, một lợi ích tập thể với phạm vi ảnh hưởng lớn, chỉ khơi dậy sự ủng hộ có tổ chức ở mức độ yếu hơn nhiều.

Tuy nhiên, nếu cho rằng nền chính trị nhóm lợi ích chỉ tạo ra sự bế tắc trong chính sách và duy trì nguyên trạng, vậy thì ngành hàng không, truyền thanh truyền hình và vận chuyển bằng xe tải sẽ không bao giờ được giải điều tiết; cải cách thuế có lẽ là đã thất bại vào năm 1986; những chương trình cắt giảm thâm hụt ngân sách cả gói đã không được thông qua vào các năm 1990, 1993, 1997; và chương trình Chăm sóc y tế đã không được điều chỉnh toàn bộ năm 2003. Thành công của dự luật thuế 1986 đã gây kinh ngạc cho hầu hết mọi người. Như chúng ta đã nhận thấy, hầu như chẳng ai nghĩ rằng một dự luật xóa bỏ các khoản cắt giảm thuế để tài trợ cho việc giảm tỷ lệ thuế thu nhập chung có thể có cơ hội sống sót. Tuy nhiên, nó đã được thông qua bởi các nhà lãnh đạo Quốc hội đã ấn định trò chơi lập pháp để bảo đảm rằng sự sáng suốt về chính trị nằm trong việc lá phiếu ủng hộ cho cải cách.

Ví dụ về dự luật thuế đưa tới cho chúng ta một điểm then chốt: sự phổ biến của các nhóm lợi ích trên thực tế đã tăng cường sức mạnh cho các quan chức được bầu. Những nhóm được phân tích và chuyên biệt hóa ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào thành viên Quốc hội hoặc quan chức Nhà trắng để xây dựng và lãnh đạo các liên minh lập pháp. Các nhà lập pháp kiểm soát kỹ lối vào, một loại hàng hóa đặc biệt có cầu lớn hơn bao giờ hết do số lượng các nhóm lợi ích ngày càng tăng. Với vai trò là người tay trong thực sự, các nghị sĩ Quốc hội ở vào vị trí tốt nhất để biết khi nào các lợi ích cụ thể sẽ có nguy cơ bị tổn hại – đây là những thông tin tối quan trọng đối với các nhà vận động hành lang phải đối mặt với một nền chính trị đầy rẫy sự bất trắc. Hơn nữa, các nhóm đối lập thường chỉ đơn giản là cạnh tranh và loại trừ lẫn nhau, để mặc cho các chính trị gia lựa chọn nhóm lợi ích nào phù hợp với lợi ích cá nhân hoặc đảng phái của họ. Có một số ngoại lệ quan trọng và rất rõ ràng – chẳng hạn như không mấy quan chức được bầu sẵn sàng gây trở ngại cho AARP – nhưng phần lớn các nhóm lợi ích không có khả năng gây ảnh hưởng mạnh khi đứng riêng rẽ. Tuy nhiên, tập hợp với nhau, chúng vẫn duy trì được ảnh hưởng hết sức to lớn, bởi chúng là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu về mặt kỹ thuật chính trị giúp định hình chính sách công.

Mặc dù James Madison có thể sẽ kinh ngạc trước sự phát triển mạnh mẽ của các “bè phái” có tổ chức trong nền chính trị Mỹ hiện đại, ông cũng sẽ là người đầu tiên công nhận logic đằng sau sự phát triển này. Những quy tắc và thể chế mà Hiến pháp thiết lập, được điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh kinh tế – xã hội đang chuyển đổi mạnh mẽ, đã khiến cho các nhóm lợi ích là yếu tố không thể tránh khỏi và rất cần thiết. Các chính quyền phân phối những lợi ích và các nguồn lực khan hiếm, tạo ra động lực để các công dân nỗ lực tác động tới quyết định của chúng. Hành động dựa trên các quyền quy định ở Tu chính án thứ nhất, các công dân Mỹ đã thực thi quyền tự do của mình để liên kết lực lượng và hành động tập thể nằm theo đuổi lợi ích và giá trị của mình thông qua chính trị. Tác động từ các quyết định của chính quyền càng rộng lớn và mạnh mẽ, thì mức độ hoạt động của nhóm lợi ích càng đa dạng và căng thẳng. Hơn nữa, chính phủ càng làm nhiều việc, thì các quan chức càng cần được biết nhiều hơn về hậu quả tiềm tàng từ những lựa chọn của họ. Các cuộc bầu cử khiến cho thông tin chính trị trở nên hết sức quan trọng; tính phức tạp khiến cho thông tin kỹ thuật trở nên thiết yếu. Chính phủ Mỹ hiện đại không thể vận hành nếu thiếu các thông tin do những nhóm lợi ích có tổ chức cung cấp.

Tuy nhiên, Madison cũng sẽ là người đầu tiên thừa nhận rằng bè phái tiếp tục tạo ra những vấn đề nghiêm trọng đối với nền dân chủ Mỹ. Cộng đồng các nhóm lợi ích, mặc dù rất lớn và đa dạng, song luôn ủng hộ một số nhóm lợi ích này trên cơ sở gây thiệt hại cho những nhóm khác. Các nguồn lực cần thiết để tạo ra ảnh hưởng – tiền bạc, lối vào và kinh nghiệm chuyên môn – được phân phối rất bất bình đẳng. Một số nhóm sẽ có khả năgn vượt qua những rào cản đối với hành động tập thể dễ dàng hơn so với các nhóm khác. Do vậy, các nhóm lợi ích tư nhân hẹp thường có lợi thế hơn các nhóm lớn.

Những vấn đề này phần nào được hạn chế bởi động lực của bầu cử; các ứng cử viên chạy đua vào những vị trí công quyền luôn ủng hộ những giá trị và lợi ích được đông đảo mọi người đồng tình cho dù chúng có được sự ủng hộ của những nhóm giàu có và tổ chức tốt hay không. Sự xuất hiện của rất nhiều nhóm vận động hành lang tập trung vào một số khía cạnh đạo đức của lợi ích công cũng giúp hạn chế vấn đề nêu trên. Chủ nghĩa đa nguyên về xã hội và thể chế mà Madison nghĩ rằng sẽ phải đương đầu vất vả với “mối nguy hại của bè phái” đã phát triển thậm chí còn mạnh hơn, bao gồm thêm nhiều nhóm chuyên biệt hóa hơn và kết nối với nhau theo những cách thức hết sức phức tạp. Sự biến đổi này đã làm tăng phạm vi của chủ nghĩa đa nguyên cường điệu và sự bế tắc trong chính sách chính là công chúng. Chương trình cải cách y tế thất bại năm 1994, không đơn giản bởi các nhóm lợi ích đã vận động để xóa bỏ chúng, mà còn vì không có sự đồng thuận của công chúng trên bất kỳ cách tiếp cận nào. Quốc hội và tổng thống nhận thấy việc cân bằng ngân sách là rất khó không chỉ đơn giản vì các nhóm lợi ích đặc biệt bảo vệ từng chương trình chi tiêu và từng khoản cắt giảm thuế, mà còn bởi vì không có sự đồng thuận của công chúng đối với việc nên kết hợp những khoản chi tiêu công và chương trình tăng thuế nào để cân bằng ngân sách (hoặc, trên thực tế, rằng việc cân bằng ngân sách phải là mục tiêu quan trọng nhất của chính phủ). Những mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích có tổ chức phản ánh, và đôi khi kết tinh, sự chia rẽ và bất trắc đang chi phối công chúng Mỹ. Để diễn giải theo như nhân vật Pogo trong các cột tranh biếm họa, chúng ta phải đáp ứng các nhóm lợi ích đặc biệt, và đó chính là chúng ta.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Truyền thông và phát triển và liên hệ Việt Nam – Phần cuối


2/ Một vài liên hệ Việt Nam

Một và nét về công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa bằng con đường hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Đây được gọi là công cuộc Đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo Giáo sư Nguyễn Duy Quý (2011), nguyên Viện trưởng Viện KHXH Việt Nam thì đổi mới ở Việt Nam diễn ra từ hai chiều: “từ dưới lên” tức là ở các hợp tác xã, doanh nghiệp và “từ trên xuống” tức là các quyết định của Đảng và Nhà nước. Đó là đặc điểm nổi bật của quá trình đổi mới ở Việt Nam, vừa có sự chỉ đạo từ trên xuống, vừa có sự sáng tạo của nhân dân từ bên dưới. Cũng theo ông, khác với các nước Đông Âu và Liên Xô, ở Việt Nam nhu cầu đổi mới các chính sách xuất phát từ chính lĩnh vực kinh tế, chứ không phải là hệ quả của những biến động chính trị. Một trong những lý do chính Việt Nam áp dụng mô hình phát triển thống lĩnh chậm hơn một số quốc gia khác như Nhật Bản, Trung Quốc là vì Việt Nam giành được thắng lợi thống nhất đất nước năm 1975, 30 năm sau Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc.

Có thể nói, công cuộc Đổi mới đã đạt được nhiều mục tiêu về kinh tế, nhưng chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu ghi nhận thành tựu đổi mới lớn và nổi bật trong chính trị, văn hóa, xã hội dù việc áp dụng mô hình này ở Việt Nam được đánh giá là có sự tương tác giữa các tổ chức sản xuất địa phương với các chính sách vĩ mô của Nhà nước và Chính phủ (Nguyễn Duy Quý, 2011).

Truyền thông phát triển ở Việt Nam

Theo tìm hiểu của tác giả, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung về truyền thông phát triển ở Việt Nam. Hầu hết các đề cập về thực hành truyền thông phát triển ở Việt Nam thường xuất hiện trong các báo cáo, xuất bản phẩm của các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP), Tổ chức bảo vệ quyền trẻ em (UNICEF)…

Thực tế, bất kể dự án phát triển nào dù là dự án trong kinh tế, nông nghiệp, nước sạch, cơ sở hạ tầng, hay sức khỏe thì nó cần sự tham gia, đối thoại giữa các bên có liên quan (Mefalopulos, 2008). Nói cách khác, các hoạt động phát triển đều cần sử dụng đến truyền thông như một công cụ, một phương pháp để đạt được mục tiêu mà các hoạt động này đề ra.

Đặt ở bối cảnh, Việt Nam vẫn đặt chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 sẽ trở thành một nền kinh tế công nghiệp hiện đại, thu nhập đầu người là 3000 USD và đạt mức tăng trưởng GDP trung bình 7 – 8%/năm. Như vậy tính từ năm 1996 trở lại đây, Việt Nam đã có gần 30 năm để thực hiện con đường phát triển thông qua hiện địa hóa và công nghiệp hóa đất nước như mô hình thống lĩnh về phát triển đề xướng. Trong các văn kiện đại hội Đảng hoạch định chiến lược phát triển kinh tế, xã hội chưa chỉ rõ các cách tiếp cận cụ thể để thúc đẩy sự tham gia của các bên liên quan cũng như dựa trên các nghiên cứu khoa học cụ thể để đạt được các mục tiêu phát triển toàn diện. Các nội dung của chiến lược còn khá nặng về lý luận và có sự khác biệt sâu rộng giữa lý luận và thực tế trong việc triển khai thực hiện.

Theo UNICEF (2001), một số nguyên nhân chính của tình trạng lý luận và thực tế khác xa nhau bao gồm: sự tín nhiệm của bộ máy từ trên xuống dưới sử dụng phong cách truyền thông mang tính mô phạm; thiếu hụt các nghiên cứu trước khi có các can thiệp truyền thông; sự phối hợp yếu kém trong các hoạt động truyền thông giữa các đơn vị, lĩnh vực; không xác định được phân khúc công chúng phù hợp nên kết quả cuối cùng là đưa một thông điệp không phù hợp cho toàn xã hội nói chung và một nhóm công chúng cụ thể nói riêng; nhu cầu được tạo ra bởi thông điệp truyền thông không phải lúc nào cũng phù hợp; tài liệu phát triển và phân bố không được quan tâm đúng mực.

Ngày nay, khi việc giải quyết được các thách thức xã hội cũng là xem một thước đo quan trọng tương đương như các chỉ số chỉ sự phát triển về kinh tế thì có rất nhiều yêu cầu đặt ra với truyền thông về phát triển ở Việt Nam. Đầu tiên, có lẽ là việc xem xét, nghiên cứu nội hàm khái niệm này và việc ứng dụng các cách tiếp cận về truyền thông phát triển trong điều kiện văn hóa, xã hội, kinh tế Việt Nam. Đồng thời cũng không thể đặt lên vai truyền thông phát triển nhiều vai trò cùng một lúc vì làm như vậy sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn.

Đề xuất nêu trên xuất phát từ một nghiên cứu về truyền thông trong thông tin giáo dục cảu Laverack, G & Dao, Huy Dap (2003). Trong nghiên cứu này thì cách hiểu khái niệm truyền thông thông tin giáo dục information education communication – IEC ở Việt Nam có một số nghĩa khác so với nhận thức nguyên bản. IEC ở Việt Nam cần có sự kết hợp cả định hướng truyền thông và tư tưởng. Thuật ngữ cũng bao hàm rất nhiều các tư tưởng phức tạp khác như là xã hội hóa, tuyên truyền, giáo dục.

Đến nay, vẫn có một số tranh cãi trong việc tìm những ưu tiên nhất định trong các giai đoạn của phát triển. Nhất là việc xem xét Việt Nam có cần lấy công nghiệp hóa hiện đại hóa làm thước đo và làm mục tiêu tiến lên của cả đất nước hay không? Một số ý kiến chuyên gia cho rằng, chiến lược phát triển đất nước bằng con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chưa dựa trên thế mạnh và nền tảng lịch sử phát triển của Việt Nam. Nếu cho rằng con đường này là tất yếu, tốt nhất và phù hợp nhất thì truyền thông về tiến trình phát triển này đã thực sự hoàn thành nhiệm vụ của mình chưa?

Trong quá trình phát triển đất nước về phương diện kinh tế, có rất nhiều các thách thức xã hội phát sinh. Do vậy, việc xây dựng chiến lược truyền thông phát triển phù hợp là việc cần làm và cần phải dựa vào các nghiên cứu khoa học nghiêm túc và đúng đắn. Việc lưu ý và đầu tư xứng đáng cho truyền thông phát triển của các cơ quan hữu quan sẽ là điều kiện và đòn bẩy giúp cho Việt Nam phát triển một cách bền vững.

3/ Kết luận

Như đã nói trên, lĩnh vực truyền thông phát triển được nghiên cứu khoảng hơn 7 thập kỷ và vẫn đang thay đổi hàng ngày qua ứng dụng thực tiễn. Bài viết mới chỉ đề cập đến các nội hàm cơ bản của các khái niệm phát triển, truyền thông phát triển và sơ lược về lĩnh vực này cũng như mới chạm tới lớp vỏ của các cách tiếp cận truyền thông về phát triển trong thực tế. Các từ khóa quan trọng của truyền thông phát triển như bền vững, tương tác, đối thoại, trao quyền… vẫn chưa được đề cập một cách cụ thể và thỏa đáng. Phần liên hệ Việt Nam còn nông cạn và thiếu căn cứ khoa học. Tác giả rất mong sẽ có những nghiên cứu liên quan, bổ sung nhằm giúp cho bài viết này khắc phục được các thiếu sót.

Nguồn: ĐHKHXHNV – ĐHQGHN – 25 năm nghiên cứu và đào tạo báo chí truyền thông – NXB ĐHQGHN 2015.

Sự im lặng của Đức Phật và sự khởi đầu của biện chứng pháp – Phần cuối


Luận điểm của Trung quán tông được phát biểu rõ ràng trong một số câu kinh văn nổi tiếng. Đức Phật cho ta biết có hai quan điểm chính: đó là kiến giải về Hữu hay Hữu kiến luận (bhavadiţţhi), và kiến giải về Vô hay Vô kiến luận (vibhavadiţţhi). Không một ai chấp trước vào một trong hai kiến giải này mà lại mong đạt đến giải thoát. Chỉ có những người biết phân tích và thấu triệt được căn nguyên cùng bản chất và sự mâu thuẫn của những kiến giải này mới có thể thoát khỏi sinh tử luân hồi. Tôn giả Kaccãyana (Ca Chiên Diên) muốn thấu hiểu bản chất của Chánh Kiến (sammãdiţţhi), và đức Thế Tôn đã bảo cho ông biết rằng thế gian đã quen dựa vào tính nhị nguyên đối đãi giữa khẳng định và phủ định: “Nó là” (atthitam) và “Nó không là” (natthitam); song đối với người quán chiếu thế gian bằng chân trí và tuệ giác, liễu ngộ được tướng sinh diệt của vạn pháp thì không hề có sự đối lập giữa Hữu và Vô, giữa Có và Không.

Này Kaccãyana, cho rằng thế gian tồn tại, đó là một cực đoan; cho rằng thế gian không tồn tại, đó là một cực đoan khác. Lìa bỏ cả hai cực đoan này, Như Lai tuyên thuyết Chánh pháp (dhammam) từ Trung đạo”.

Nãgãrjuna trích dẫn đoạn kinh văn này trong tác phẩm Mãdhyamika Kãrikãs (Trung luận kệ tụng) để tuyên bố rằng đức Thế Tôn phủ nhận cả hai quan điểm Hữu – Vô, phủ nhận tất cả mọi quan điểm. Kinh Kãśyapaparivarta (Ca Diếp sở vấn) trong bộ Ratnakũţa (Đại Bảo tích) – một trong những cuốn kinh đại thừa cổ nhất – đề cập rõ ràng đến hai kiến giải Hữu ngã và Vô ngã, đồng thời cho rằng trung đạo siêu việt cả hai kiến giải này.

Trong kinh Alguddũpama Sutta, đức Phật so sánh các pháp với một chiếc bè cần phải bỏ lại trên bờ khi đã sang được bên kia sông; không nên chấp vào chúng như là giáo lý cứu cánh. Trung quán tông xem đó chỉ là phương tiện giáo, mang giá trị như một phương tiện tạm thời, cần phải xả ly sau khi đã đạt đến cứu cánh.

Khi chỉ bày cho thấy khổ đau chỉ là vọng tưởng, là vô tự tính, đức Phật dẫn chứng câu chuyện ngụ ngôn về Vepacitta (A tu la vương); quân vương này bị trói buộc hay được tự do tự tại là tùy theo bản chất thiện ác trong tư tưởng của y. Vọng tưởng (kalpanã) là trói buộc, vọng tưởng diệt là tự do tự tại, đó là giáo lý cơ bản của Trung quán tông được trình bày nhiều lần trong Mãdhyamika-Kãrikãs của Long Thọ. Ta cần lưu ý rằng đức Phật phủ nhận mọi hệ thống triết học tư biện hiểu theo nghĩa giáo điều độc đoán (diţţhi hoặc diţţhigatãnĩmãni), và Ngài tuyên thuyết Như Lai thoát khỏi tất cả kiến giải, xả ly mọi hý luận. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Trung quán tông xem việc phê phán và đả phá mọi kiến giải là cách để kiến tạo nên trí huệ thâm huyền vô thượng. Diễn đạt những quan điểm siêu hình học theo cách thức nhị luật bội lý có tầm quan trọng không kém. Việc hình thành bốn luận chấp mà ta thường thấy trong các cuộc đối thoại của đức Phật cũng dự báo sự ra đời của biện chứng pháp Trung quán tông.

Các đoạn kinh văn hỗ trợ cho cách giải thích của Trung quán tông có lẽ không nhiều, và phần lớn lại nằm rải rác trong những văn bản mang tính độc đoán giáo điều. Tuy nhiên, chúng đặt ra yêu cầu cần phải giải thích lại toàn bộ giáo pháp của đức Phật. Bởi vì có thể xem giáo lý uẩn – giới – xứ như một phần phụ thuộc của giáo pháp tuyệt đối luận, nhưng điều ngược lại không đúng; uẩn – giới – xứ có thể được xem là hữu hiệu trong thế giới hiện tượng, và sự cấu thành nên chúng vẫn mang nhiều ý nghĩa. Thế nhưng các đoạn kinh văn nói về chúng như là những thứ hư ảo, như là tà kiến cần loại bỏ đi, lại không thể được hiểu theo cách nào khác, ngoại trừ được xem là giáo pháp cứu cánh. Đối với kinh điển Ấn Độ, ta thấy trường hợp tương tự, đó là đem giá trị tương đối gán cho các văn bản “para” và “apara” trong các Upanişad. Trong những thứ được xem như là kinh văn, chúng ta cần phải gán giá trị cho các văn bản liễu nghĩa (nĩtãrtha), và không được gán cho các văn bản bất liễu nghĩa (neyãrtha). Những chú sở của Trung quán tông đều giải thích một cách nhất quán theo phương pháp phân biệt này.

Quan điểm của Phật giáo nguyên thủy rất giống với Trung quán tông, song các nhà Đông phương học như Kern, Otto France, Poussin và ngay cả Keith lại hoàn toàn không nhận ra điều đó. Kern nói rằng “ngay tự buổi khai thủy, Phật giáo đã là thuyết hư vô mang tính duy tâm”. Ông ta còn nói: “giống với Phật giáo đại thừa, luận điểm của Phật giáo nguyên thủy mang tính phủ định, mặc dù thể cách lập luận cho thấy luận điểm mang tính duy tâm đó hướng về phủ định luận một cách vô thức, mơ hồ”.

Tác giả Keith nói: “Majihima Nikãya (Trung bộ kinh) chứa nhiều tư tưởng về Tánh Không”, và đã đưa ra nhiều đoạn trích dẫn chính xác. “Niềm tin vào sự tồn tại của tư tưởng này chỉ là chiếc bè giúp con người vượt qua đại dương sinh tử… Khi vượt qua được rồi thì chiếc bề trở nên vô dụng, cần vứt bỏ đi”.

Khi Yamaka hỏi Sãriputta về vấn đề “chân ngã của Như Lai có phải là sắc thân hay không”, và ông đã trả lời là không. Những câu trả lời tương tự cũng được nêu ra cho các câu hỏi với bổn luận chấp Như Lai nằm trong sắc thân, hay sắc thân nằm trong Như Lai, hay sắc thân khác Như Lai… Yamaka cũng chấp nhận rằng ngũ uẩn tụ hội không tạo nên Như Lai, mà lài ngũ uẩn thì cũng không có Như Lai. Sãpirutta kết luận rằng bản thân ông cũng không thể nào thấu hiểu được chân thể của Như Lai khi Ngài còn tại thế, do đó càng phi lý hơn nữa khi muốn khẳng định Như Lai còn hay mất sau khi tịch diệt. Có phải điều này có nghĩa là: ngay khi Như Lai còn tại thế, chính Yamaka cũng không hiểu được Ngài có thực sự tồn tại hay không, thì có thể phát biểu được gì về Ngài sau khi nhập diệt? Đây là cách giải thích hợp lý và hoàn toàn phù hợp với luận điểm Trung quán tông.

Không thể khẳng định rằng đã có một nền biện chứng pháp hoàn chỉnh nơi đức Phật, nhưng có thể khẳng định rằng đã có những gợi ý chỉ dẫn nhất định để dẫn đến sự hình thành biện chứng pháp bởi Trung quán tông, đúng theo trình tự phát triển của luận lý. Lý do là như vầy: sự xung đột của lý tính – căn nguyên phát sinh nên ý thức biện chứng pháp – trong giai đoạn này vẫn chưa đạt đến hình thức hệ thống hoàn chỉnh mà chỉ mang tính gợi mở. Chỉ khi nào những hệ tư tưởng đố lập phát triển mạnh mẽ và tạo nên sự khác biệt triệt để thì sự mâu thuẫn mới trở nên sâu sắc. Giai đoạn này kéo dài khoảng vài thế kỷ, trong đó hệ tư tưởng dần hình thành một hình thức xác định cụ thể. Trung quán tông đại diện cho giai đoạn mà sự xung đột của lý tính đã mang tính hệ thống, và giải pháp cho sự xung đột đó là vượt lên trên mọi luận chấp.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: T.R.V Murti – Tánh không, cốt tủy triết học phật giáo – NXB HĐ 2013.