Quan hệ Trung – Nhật “tuột dốc không phanh” – Phần cuối


Các mối quan hệ kinh tế và an ninh phức tạp

Có một thực tế là các hạm đội quân sự của Mỹ và Nhật Bản đã tham gia một loạt các cuộc diễn tập quân sự chung trong những năm gần đây, kể cả vào đầu tháng 10 ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Đây là cuộc tập trận chung đầu tiên tại khu vực biển Nam Trung Hoa mà Trung Quốc yêu sách chủ quyền.

Các nhà nghiên cứu khác của Trung Quốc đã cảnh báo rằng Nhật Bản có ý định sử dụng Liên hợp quốc để tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình với ý đồ trở thành một trong những cường quốc quân sự lớn trên thế giới. Trên một phương tiện truyền thông chính thống của Trung Quốc, các chuyên gia quân sự Hu Fangxin và Zhang Lihua thuộc trường Đại học Phúc Đán đã viết: “Trung Quốc cần cảnh giác trước việc Nhật Bản nỗ lực tìm kiếm các cơ hội sửa đổi Hiến pháp”. Còn Zhang Jifeng, một chuyên gia Trung Quốc nghiên cứu Nhật Bản thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, cho rằng “khi lực lượng phòng vệ Nhật Bản tham gia các cuộc diễn tập ở biển Nam Trung Hoa, thì rõ ràng họ đã vi phạm Hiến pháp Nhật Bản”.

Chuyên gia kinh tế Thomas Glucksmann đã viết trên chuyên mục của tạp chí The Diplomat của Mỹ rằng “mối quan hệ của Nhật Bản với Trung Quốc phụ thuộc vào các quan hệ kinh tế và an ninh rất phức tạp”. Quả thực, “Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản – đã xuất khẩu sang Trung Quốc tổng lượng hàng hóa trị giá hơn 141 tỷ USD vào năm 2020, so với 118 tỷ USD sang Mỹ. Tuy nhiên, như Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã nhấn mạnh, Trung Quốc vẫn cũng là thách thức địa chính trị lớn nhất của Nhật Bản – đây cũng là mối lo ngại của tân Thủ tướng Fumio Kishida”.

Thomas Glucksmann cho biết thêm: “Đối mặt với mối đe dọa an ninh mạng ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong lĩnh vực quân sự, Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã tăng cường năng lực chiến đấu chống lại mối đe dọa này đối với việc thành lập Bộ chỉ huy quốc phòng mới với khoản đầu tư 5,7 tỷ Yen (tương đương 341 triệu USD) riêng cho năm 2021 để trang bị cho Nhật Bản các công nghệ mới trong lĩnh vực an ninh mạng. Tuy nhiên, theo Điều 9 và 21 của Hiến pháp Nhật Bản, Lực lượng phòng vệ Nhật Bản không được phép tiến hành bất kỳ cuộc chiến răn đe, phủ đầu nào, do vậy hạn chế những gì Nhật Bản có thể làm trong việc áp dụng một chiến lược chống lại các mối đe dọa an ninh mạng cũng như năng lực tình báo trong lĩnh vực này.

Các căn cứ quân sự của Mỹ tại Nhật Bản, mục tiêu của tên lửa Trung Quốc

Cùng với những căng thẳng mới này, hình ảnh của Trung Quốc trong tâm trí người dân Nhật cũng đang xấu đi. Theo một cuộc thăm dò của BBC năm 2014, chỉ 3% người Nhật Bản có cái nhìn tích cực về Trung Quốc, 73% bày tỏ quan điểm tiêu cực, một tỷ lệ bài Trung Quốc cao nhất thế giới. Kể từ đó, tâm lý bài Trung Quốc này tiếp tục gia tăng đáng kể. Vào năm 2019, theo một cuộc thăm dò khác do Trung tâm nghiên cứu Pew của Mỹ thực hiện, 83% người Nhật Bản hiện có quan điểm tiêu cực về nước láng giềng Trung Quốc.

Ngày 13/7, Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã công bố bản đánh giá thường niên, trong đó Tokyo đã bày tỏ sự lo ngại về những căng thẳng ngày càng gia tăng xung quanh eo biển Đài Loan. Tài liệu này nhấn mạnh: “Chúng ta cần nhận thức được tình hình hiện tại với sự đề phòng khủng hoảng hơn bao giờ hết. Đặc biệt, sự cạnh tranh trong các lĩnh vực công nghệ sẽ ngày càng gay gắt hơn. Điều cần thiết là chúng ta phải theo dõi tình hình chặt chẽ với một tâm thế cấp thiết chưa từng có”.

Mối quan tâm ngày càng tăng của Chính phủ Nhật Bản đối với các hoạt động quân sự của Trung Quốc xung quanh Đài Loan có thể được giải thích là do Nhật Bản có địa lý gần với Trung Quốc và Đài Loan. Đặc biệt, quần đảo Nhật Bản là nơi tập trung nhiều căn cứ quân sự của Mỹ, trong đó có căn cứ Kadena thuộc tỉnh Okinawa, căn cứ không quân lớn nhất của Mỹ ở Đông Á. Những căn cứ này có thể trở thành mục tiêu của tên lửa Trung Quốc nếu xung đột xảy ra ở Đài Loan.

Vào đầu tháng 7/2021, phó Thủ tướng Nhật Bản kiêm Bộ trưởng Tài chính lúc đó là Taro Aso đã công khai tuyên bố rằng Nhật Bản phải hợp lực với Mỹ để bảo vệ Đài Loan trước bất kỳ âm mưu xâm lược nào của Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng chính Taro Aso đã điều chỉnh lại phát ngôn của ông sau đó, khi đưa ra nhận định rằng bất kỳ tình huống khẩn cấp nào cũng nên được giải quyết thông qua đối thoại.

Tháng 4/2020, cựu Thủ tướng Suga Yoshihide là quan chức nước ngoài đầu tiên được Tổng thống Mỹ Joe Biden tiếp đón tại Nhà Trắng kể từ khi ông lên nắm quyền vào tháng 01/2021. Sau cuộc hội đàm, hai nhà lãnh đạo đã đưa ra một tuyên bố chung, trong đó bày tỏ sự quan tâm duy trì ổn định ở eo biển Đài Loan. Đây là lần đầu tiên Nhật Bản đề cập đến những vấn đề này kể từ khi Tokyo công nhận Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào năm 1972 và đồng thời cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Bắc.

Nguồn: www.asialyst.com – 01/12/2021

TLTKĐB – 13/12/2021

Quan hệ Trung – Nhật “tuột dốc không phanh” – Phần đầu


Mối quan hệ của Nhật Bản với Trung Quốc, vốn không tốt đẹp dưới thời cựu Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga, giờ đây đã “tuột dốc không phanh” kể từ khi người kế nhiệm ông, Fumio Kishida, lên nắm quyền. Nhật Bản dường như coi Trung Quốc là kẻ thù chính.

Ngày 27/11/21, tân Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida đã không ngần ngại tuyên bố: “Mọi lựa chọn đều đang được thảo luận, bao gồm cả lựa chọn để quân đội Nhật Bản có được khả năng tấn công các căn cứ của đối phương”. Đồng thời, ông hứa hẹn xây dựng lực lượng phòng thủ mạnh hơn để bảo vệ đất nước trước các mối đe dọa ngày càng tăng từ Trung Quốc, Triều Tiên và Nga.

Trong uộc thanh tra quân đội Nhật Bản tại một căn cứ phía Bắc Tokyo, Fumio Kishida nhấn mạnh rằng tình hình an ninh xung quanh Nhật Bản đang thay đổi nhanh chóng và thực tế này từ nay trở nên “nghiêm trọng hơn bao giờ hết”. Tình huống này là do cả Triều Tiên, vẫn tiếp tục thử các tên lửa đạn đạo ngày càng tinh vi hơn lẫn Trung Quốc, tiếp tục tái vũ trang với tốc độ chóng mặt và các hoạt động ngày càng hung hăng hơn trong khu vực.

Người đứng đầu Chính phủ Nhật Bản nói thêm: “An ninh xung quanh Nhật Bản đang thay đổi rất nhanh chóng với tốc độ chưa từng có. Những điều vốn chỉ xảy ra trong các tiểu thuyết khoa học viễn tưởng giờ đây đã trở thành hiện thực”. Do vậy, Chính phủ Nhật Bản sẽ tiến hành “các cuộc thảo luận ôn hòa và có tính thực dụng” để xác định những gì cần thiết cho việc bảo vệ cuộc sống người dân, đồng thời thu hút sự ủng hộ của họ.

Việc đạt được “khả năng tấn công” chống lại các mục tiêu quân sự nước ngoài là một khái niệm gây chia rẽ trong dư luận Nhật Bản. Đối với một số người phản đối, điều này vi phạm Hiến pháp hòa bình do Mỹ áp đặt đối với Nhật Bản sau khi nước này đầu hàng năm 1945.

Là người có đường lối khá ôn hòa, nhưng kể từ khi trở thành người đứng đầu Chính phủ Nhật Bản, Fumio Kishida đã áp dụng một lập trường cấp tiến hơn. Điều này dường như làm hài lòng các lãnh đạo của đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền, trong đó có cựu Thủ tướng Shinzo Abe. Giờ đây, tân Thủ tướng đã trở thành người cổ xúy và kêu gọi tăng cường năng lực quân sự của đất nước mình và thậm chí muốn tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng của Nhật Bản.

Ngày 26/11, Chính phủ Kishida cũng đã bật đèn xanh cho việc thông qua gói bổ sung 770 tỷ Yen (tương đương 6,8 tỷ USD) cho ngân sách quân sự 2021. Gói ngân sách này nhằm tài trợ cho việc mua tên lửa, tên lửa chống tàu ngầm và các loại vũ khí khác để đối phó với những gì mà Tokyo coi là sự leo thang trong các hoạt động quân sự của Trung Quốc, Nga và Triều Tiên.

Nếu gói ngân sách bổ sung này được Quốc hội Nhật Bản thông qua, ngân sách quân sự của nước này sẽ đạt mức chưa từng thấy kể từ năm 1945 với hơn 6100 tỷ Yen (tương đương 53,2 tỷ USD) cho năm 2021, tức tăng 15% so với cùng kỳ năm 2020. Ngân sách quân sự khi đó sẽ chiếm hơn 1% GDP của Nhật Bản.

Bộ trưởng Quốc phòng Nobuo Kishi đã đi xa hơn khi nói rằng ông ủng hộ việc tăng gấp đôi chi tiêu quân sự để Nhật Bản có thể đối mặt với một tình hình an ninh đang trở nên tồi tệ hơn từng ngày. Những người phản đối việc tăng chi tiêu quân sự cho rằng số tiền này nên được sử dụng cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở một quốc gia có dân số đang già hóa với tốc độ nhanh nhất trên thế giới.

Hỗ trợ hậu cần cho Mỹ trong trường hợp Trung Quốc tấn công Đài Loan

Cũng như đối với Mỹ, chủ đề căng thẳng chính giữa Nhật Bản và Trung Quốc là vấn đề Đài Loan, nơi mà Bắc Kinh coi là một tỉnh cần phải được sáp nhập trở lại với Trung Quốc đại lục, có thể bằng vũ lực nếu cần thiết.

Theo một bài báo gần đây của Trung Quốc, đăng trên tạp chí Các vấn đề hàng hải và an ninh châu Á – Thái Bình Dương hồi đầu tháng 11, việc Nhật Bản duy trì quan hệ chặt chẽ với Đài Loan cho thấy Tokyo và Washington hiện đang chuẩn bị làm việc cùng nhau để ngăn chặn Bắc Kinh sử dụng vũ lực tấn công hòn đảo. Bài báo này nhấn mạnh: “Nhật Bản không chỉ gửi các tín hiệu ở cấp chính thức và cá nhân, mà còn đang nỗ lực tìm ra các giải pháp (cho mối đe dọa Trung Quốc đối với Đài Loan) thông qua một liên minh quân sự với Mỹ”.

Bài báo giải thích rằng cho dù đại đa số người Nhật Bản ủng hộ Hiến pháp hòa bình của đất nước họ và đã phản đối với việc Nhật Bản tham gia một cuộc xung đột vũ trang, nhưng các nhà chức trách Nhật Bản đã nghiên cứu ba kịch bản. Kịch bản nào cũng khuyến nghị rõ ràng các Lực lượng phòng vệ Nhật Bản sẽ hỗ trợ hậu cầu cho Mỹ trong trường hợp xảy ra chiến tranh ở Đài Loan. Điều này nằm trong khuôn khổ của “thỏa thuận phòng thủ tập thể” với mục tiêu chính là bảo vệ hòn đảo Đài Loan cũng như các căn cứ của Mỹ tại Nhật Bản trước sự tấn công của Trung Quốc.

Bài báo này cũng nhấn mạnh rằng Chính phủ Nhật Bản coi hành động xâm lược Đài Loan như một mối đe dọa trực tiếp và sống còn đối với an ninh quốc gia của Nhật Bản và sự ổn định khu vực. Tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng đã dẫn lời Wu Huaizhong – tác giả bài viết nói trên và là một nhà nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội Trung Quốc: “Thật khó có thể tưởng tượng được việc Nhật Bản tích cực tham gia, trong ngắn hạn hay trung hạn, một cuộc chiến không thể kiểm soát và đầy thảm khốc mà không quan tâm đến cái giá phải trả”, và “rõ ràng quần đảo Nhật Bản sẽ dành sự hỗ trợ hậu cần cho Mỹ và các đồng minh của Mỹ. Câu hỏi không phải là “nếu” mà là “khi nào” Nhật Bản sẽ thực hiện một quyết định như vậy”.

(còn tiếp)

Nguồn: www.asialyst.com – 01/12/2021

TLTKĐB – 13/12/2021

Bài học từ sự kiện Ukraine đối với khu vực Đông Á


Theo tờ Diamon online, bài học rút ra từ sự kiện Ukraine là không thể trông chờ sự giúp đỡ của Mỹ và đồng minh trước các vấn đề mang tính cục diện chính trị tại khu vực Đông Á.

Tại sao Nga lại tấn công Ukraine? Tại sao các quốc gia phương Tây, tiêu biểu là Mỹ không thể ngăn chặn được cuộc tấn công này? Rất nhiều giả thuyết đã được đặt ra, tuy nhiên, có thể thấy lý do Nga tấn công Ukraine là để ngăn chặn NATO liên tục mở rộng về phía Đông kể từ năm 1997, đặc biệt là nỗ lực kết nạp Ukraine trở thành thành viên. Xét từ góc nhìn của Nga, việc một quốc gia lân cận có quan hệ sâu sắc về mặt lịch sử và văn hóa, gia nhập NATO là mối đe dọa trực tiếp đối với an ninh quốc gia, chính vì vậy, Nga đã nhiều lần đề nghị Ukraine không được tham gia NATO. Nếu Mỹ muốn tránh xung đột xảy ra, ít nhất nước này đã phải đưa ra cam kết không kết nạp Ukraine vào NATO và đưa Ukraine trở thành “vùng đệm mang tính chính trị” trong quan hệ với Nga. Tuy nhiên, Mỹ đã không thực hiện như vậy và việc Nga quyết định tấn công Ukraine là điều đương nhiên xảy ra.

Khi căng thẳng với Nga tăng lên, chính quyền Biden đã dần dần loại bỏ lựa chọn đối sách quân sự. Mặc dù đã có những ý kiến trong nội bộ chỉ trích chính quyền Biden “mềm yếu”, tuy nhiên, có thể thấy Mỹ không muốn mạo hiểm với khả năng nguy cơ chiến tranh với một nước sở hữu vũ khí hạt nhân như Nga.

Mặc dù được gọi là khả năng răn đe hạt nhân, nhưng sự tồn tại của vũ khí hạt nhân không phải lúc nào cũng ngăn chặn được chiến tranh. Xung đột giữa các quốc gia sử dụng vũ khí hạt nhân giống như một “cuộc đua”. Việc Ukraine gia nhập NATO không liên quan trực tiếp đến an ninh của Mỹ, song nó gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với Nga. Với ý nghĩa đó, việc chiến thắng trong cuộc đua lần này không thể ai khác ngoài Nga. Điều này cũng giống như mối đe dọa “Cuba” năm 1962 có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh của Mỹ và cuối cùng, Mỹ là người đã giành “chiến thắng”.

Đối với Nga, việc ngăn chặn Ukraine gia nhập NATO là vấn đề lợi ích an ninh cốt lõi. Đối với quốc gia, an ninh là ưu tiên hàng đầu, cao hơn nhiều so với lợi ích kinh tế. Hơn nữa, tác động của các biện pháp trừng phạt kinh tế có tính chất hủy diệt lẫn nhau, tức là chúng không chỉ ảnh hưởng đến Nga mà còn ảnh hưởng đến các nước phương Tây. Nga đã chuẩn bị sẵn sàng để chịu đựng những thiệt hại kinh tế đáng kể để bảo vệ các lợi ích an ninh cốt lõi của mình. Song ở chiều ngược lại, các quốc gia phương Tây liệu có chấp nhận những thiệt hại để bảo vệ Ukraine hay không?

Kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ đã tiến hành các hoạt động can thiệpt quan sự trên khắp thế giới dựa chiến lược xây dựng trật tự quốc tế tự do. Sự mở rộng về phía Đông của NATO là một phần của điều đó. Tuy nhiên, chiến lược của Mỹ đã thất bại với cái giá rất lớn, điển hình là chiến tranh tại Iraq. Trong khi quyền bá chủ của Mỹ suy giảm, trật tự thế giới đang trở nên bất ổn, với sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc.

Mỹ không còn sức mạnh của một quốc gia bá chủ để duy trì trật tự quốc tế. Chính quyền Biden cũng biết điều đó và đó là lý do tại sao Mỹ quyết định rút lui hoàn toàn khỏi Afghanistan và đang cố gắng tập trung vào việc cạnh tranh với Trung Quốc ở Đông Á. Mỹ không có đủ sức mạnh để thực hiện một chiến dịch hai mặt trận đó là đối đầu với Trung Quốc ở phía Đông lục địa Á – Âu và với Nga ở phía Tây. Mặc dù vậy, xét về lâu dài, chính quyền Biden không thể từ bỏ chiến lược tự do và sự mở rộng về phía Đông của NATO.

Chúng ta nên xem xét kỹ hơn những gì đang xảy ra tại Ukraine và đặt giả định vấn đề đối với khu vực Đông Á.

Thứ nhất, tranh chấp giữa các quốc gia có vũ khí hạt nhân trở thành một “cuộc đua” và bên chiến thắng là bên tìm cách bảo vệ các lợi ích an ninh cốt lõi của mình.

Đối với Trung Quốc, Đài Loan là vấn đề có tính lợi ích an ninh cốt lõi. Mặt khác, Đài Loan cũng rất quan trọng về mặt chiến lược đối với Mỹ và khả năng Mỹ sẽ có những biện pháp đối phó quân sự quyết liệt hơn trường hợp Ukraine. Tuy nhiên, việc Trung Quốc chiếm đóng Đài Loan không đe dọa trực tiếp đến an ninh của Mỹ, do đó, Mỹ sẽ không bảo vệ Đài Loan trước nguy cơ xảy ra chiến tranh với Trung Quốc – quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và khả năng Mỹ sẽ là “đội tuyển” từ bỏ cuộc đua đầu tiên.

Với trường hợp của quần đảo Senkaku, khu vực này không quan trọng đối với Trung Quốc như Đài Loan, tuy nhiên, đối với Mỹ, quần đảo này cũng kém quan trọng hơn nhiều so với Đài Loan. Do đó, không có lý do gì để Mỹ chấp nhận đánh đổi rủi ro khi xảy ra chiến tranh với Trung Quốc. Các biện pháp trừng phạt kinh tế sẽ là những gì Mỹ và các đồng minh làm để giúp Nhật Bản bảo vệ quần đảo Senkaku và Nhật Bản, cũng như Ukraine ngày nay, sẽ phải tự bảo vệ lãnh thổ của mình.

Thứ hai, nếu Trung Quốc quyết định xâm chiếm Đài Loan hoặc quần đảo Senkaku, các biện pháp trừng phạt kinh tế sẽ không có tác dụng răn đe hiệu quả. Các biện pháp trừng phạt kinh tế sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế Trung Quốc. Tuy nhiên, các biện pháp trừng phạt kinh tế có tính hủy diệt lẫn nhau, đồng thời Mỹ và các đồng minh cũng chịu nhiều tổn thất lớn. Trung Quốc, với ưu tiên chính trị là sáp nhập Đài Loan, có thể chấp nhận những thiệt hại kinh tế lớn hơn. Hơ nữa, khi xuất hiện tình huống khẩn cấp về Senkaku, Mỹ và các đồng minh sẽ càng sợ bị tổn thất và sẽ chỉ đưa ra những biện pháp trừng phạt kinh tế một cách cẩu thả. Do đó, tình hình hiện tại ở Ukraine cho thấy bài học rằng việc dựa vào sức mạnh của Mỹ và trông đợi các biện pháp phi quân sự như trừng phạt kinh tế là vô ích. Người dân Ukraine đang tự cầm vũ khí của mình và tự mình chống lại nước Nga hùng mạnh. Với ý nghĩa như vậy, Nhật Bản không có lựa chọn nào khác ngoài việc tăng cường khả năng phòng thủ của chính mình.

Nguồn: TKNB – 07/03/2022

Bộ Tứ và ASEAN: Quan điểm của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á – Phần cuối


Nói một cách đơn giản, cách tiếp cận của Bộ tứ hướng tới việc ngăn chặn Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng chiến lược ra toàn châu Á và khu vực bên ngoài. Trước việc Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển trong thập kỷ mới, các cường quốc dân chủ ở châu Á coi Bộ tứ là liên minh để đối trọng với bá chủ mới nổi ở châu Á. Như đã đề cập trước đó, cả Ấn Độ và Nhật Bản đều coi Bộ tứ là cơ chế để gắn kết và điều phối các mối quan hệ an ninh giữa các cường quốc trong khu vực. Trong những năm gần đây, các đối tác của Bộ tứ đã chứng kiến sự hội nhập quân sự ngày càng tăng, cũng như sự phát triển của một cơ chế đối thoại mạnh mẽ và được thể chế hóa. Tất cả những nước này đều đã ký hiệp ước về hậu cần quân sự, cho phép họ triển khai sức mạnh bên ngoài phạm vi lãnh thổ. Việc thường xuyên tham gia các cuộc tập trận chung cũng như chia sẻ các thiết bị quân sự trong tương lai cũng sẽ nâng cao khả năng tương tác. Hơn nữa, việc các thành viên Bộ tứ phối hợp chính sách hỗ trợ kinh tế và quân sự với các nuóc thứ ba cũng giúp nhóm này gia tăng nguồn lực kinh tế chung sẵn có. Các nước thành viên Bộ tứ tin rằng bằng việc mở rộng sự hỗ trợ như vậy, họ có thể giúp các nước ngoài nhóm có được năng lực để trở nên linh hoạt hơn và giảm thiểu những thách thức bắt nguồn từ sự xâm nhập của Trung Quốc. Do đó, tất cả các nước Bộ tứ đều đang cố gắng chuyển các thiết bị quân sự và phương tiện tuần duyên đến các nước ven biển Nam Trung Hoa. Việc cung cấp các năng lực đảm bảo an ninh cho khu vực có thể là một bước để xây dựng khả năng răn đe trước sự ép buộc của Trung Quốc đối với các nước láng giềng nhỏ hơn.

Ngoài ra, các nước thành viên Bộ tứ cũng đang điều phối khoản viện trợ kinh tế dàn cho các nước khác ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, vốn dễ bị ảnh hưởng bởi chính sách ngoại giao kinh tế bẫy nợ của Trung Quốc. Trung Quốc đã giới thiệu một BRI đầy tham vọng trị giá 1000 tỷ USD để phát triển cơ sở hạ tầng kết nối Á – Âu. Tuy nhiên, nhiều người lo ngại các dự án trong khuôn khổ BRI có thể làm phát sinh các khoản nợ khó đòi ở các nền kinh tế nhỏ hơn, điều mà Trung Quốc có thể tận dụng để tạo ra ảnh hưởng chiến lược đáng kể. Bộ tứ đang cân nhắc việc sử dụng sức nặng kinh tế tổng hợp để chống lại các hoạt động như vậy của Trung Quốc thông qua việc cung cấp các nguồn đầu tư thay thế.

Cuối cùng, Bộ tứ hy vọng sự can dự theo cách thức này sẽ mang lại một trật tự khu vực bền vững hơn. Hầu hết các nhà lãnh đạo của các nước thành viên Bộ tứ đều đã cố gắng thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế đến các hành vi hiếu chiến của Trung Quốc tại các diễn đàn khu vực. Điều này đòi hỏi các nước phải tuân thủ nguyên tắc tự do và cởi mở trong hoạt động kinh tế, cũng như tôn trọng các quy định và luật pháp chi phối các quyền hàng hải. Như đã đề cập ở trên, Nhật Bản (cùng với Mỹ và Australia) đang cố gắng thực hiện các hướng dẫn về đầu tư trong khu vực. Những hành động như vậy có thể sẽ trở thành các chuẩn mực chi phối hành vi của các nước, cho dù đó là trong trường hợp tranh chấp lãnh thổ hay đầu tư kinh tế. Khi các tiêu chuẩn trở nên phổ biến trong khu vực, người ta hy vọng trật tự này có thể ngăn ch8a5n sự hiếu chiến của Trung Quốc và định hình hành vi của họ.

Cách tiếp cận của ASEAN nhằm kiềm chế sự quyết đoán của Trung Quốc dựa vào sức mạnh quy chuẩn và một mạng lưới các thể chế. Bản thân ASEAN với tư cách là một thể chế cũng đã phát triển từ một tiến trình không ngừng thay đổi mà trong đó, cả bản sắc và chuẩn mực hành vi đều trở thành quy phạm xã hội. Các quy phạm này vừa hợp lý về mặt pháp lý vừa mang tính văn hóa-xã hội. Các quy chuẩn ràng buộc các thành viên ASEAN với nhau và đã được chuyển giao cho các cơ quan tiểu vùng. Như đã đề cập trước đó, hầu hết các thể chế của ASEAN đều được thúc đẩy bởi hai khái niệm – vai trò trung tâm của ASEAN và phương thức ASEAN. Vị trí trung tâm của ASEAN ám chỉ việc ASEAN là điểm tựa cho tất cả các thể chế ngoài khu vực, nghĩa là các thể chế này được xây dựng xung quanh ASEAN và chủ yếu do ASEAN lãnh đạo. Phương thức ASEAN ám chỉ cơ chế hoạt động của các thể chế trên nguyên tắc đồng thuận ở mức độ cao. Hai đặc điểm này được thể hiện rõ ở hầu hết các thể chế do ASEAN lãnh đạo, trong đó có ARF và EAS.

EAS mang lại cho ASEAN một số lợi thế để kiềm chế sức ép từ các cường quốc. Thể chế này cung cấp cho ASEAN khả năng ràng buộc Trung Quốc vào các chuẩn mực trong khi cân bằng các khuynh hướng bá quyền của một cường quốc bên ngoài là Mỹ. Hơn nữa, ASEAN tin rằng sự gia tăng mức độ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế sẽ hạn chế các cường quốc hiếu chiến như Trung Quốc. ASEAN tận dụng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng và hy vọng điều này sẽ giảm thiểu xung đột. Do đó, tổ chức này đã tiến tới thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN vào năm 1992. Đồng thời, ASEAN cũng tìm cách tăng cường quan hệ kinh tế với Trung Quốc thông qua việc thiết lập FTA của ASEAN – Trung Quốc, có hiệu lực vào năm 2010.

Như đã lưu ý ở trên, cả Ấn Độ và Nhật Bản đều không còn coi ASEAN là phương tiện tiên quyết để kiềm chế khuynh hướng xét lại của Trung Quốc. Từ chỗ nhiệt tình ủng hộ các cơ chế do ASEAN lãnh đạo, Ấn Độ và Nhật Bản đã chuyển sang áp dụng cách tiếp cận cân bằng quyền lực thông qua Bộ tứ. Nỗ lực này có xu hướng loại trừ và có thể không tính đến lợi ích của ASEAN khi các cường quốc thương lượng với nhau. Do đó, các nước thành viên ASEAN đã cố gắng gắn kết khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với vị trí trung tâm và các thể chế của ASEAN. Tuy nhiên, các cách tiếp cận trái ngược nhau tạo ra một số thách thức đối với Bộ tứ trong việc can dự ASEAN.

Thứ nhất, sự suy giảm vai trò trung tâm của ASEAN kéo theo sự suy giảm lợi ích của tổ chức này. Xu hướng quân sự của Bộ tứ làm dấy lên lo ngại về an ninh trong khu vực và do đó tình thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh sẽ ngày càng gia tăng. Xung đột có thể xảy ra ở biển Nam Trung Hoa, trung tâm của Đông Nam Á. Tất cả các thành viên Bộ tứ đều đang tăng cường sự hiện diện quân sự trong khu vực. Trước việc các hành vi khiêu khích của Trung Quốc ngày càng lộ liễu, nguy cơ leo thang do vô tình hoặc ngẫu nhiên là khá cao.

Thứ hai, hình ảnh ban đầu của Bộ tứ như một liên minh các nền dân chủ tạo ra lo ngại rằng các vấn đề về nhân quyền và dân chủ có thể thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Điều này sẽ làm giảm nhẹ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ và tôn trọng chủ quyền mà hầu hết các nước Đông Nam Á coi trọng. Mặc dù đã nhắc lại cam kết duy trì trật tự dựa trên quy tắc, nhưng Bộ tứ và ASEAN đều sẽ trì hoãn những việc họ nên làm và có thể làm. Phương thức ASEAN tập trung vào các cơ chế đối thoại không chính thức và xây dựng đồng thuận giữa các thành viên. Bộ tứ cũng nhắm tới mục tiêu thực thi các quy tắc này nhưng bằng cách thách thức các hành vi vi phạm và khẳng định trật tự thông qua lực lượng quân sự. Các hoạt động tự do hàng hải của Mỹ ở biển Nam Trung Hoa và các hoạt động quân sự của đồng minh trong khu vực không hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận của ASEAN. Tuy nhiên, chúng phục vụ một mục đích quan trọng: thể hiện quyết tâm ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng và sự quyết đoán của Trung Quốc.

Cuối cùng, ASEAN lo ngại rằng sự xuất hiện của Bộ tứ có thể buộc tổ chức này phải chọn phe trong cuộc xung đột địa chính trị đang nổi lên. Thực vậy, việc phải lựa chọn giữa Trung Quốc và liên minh do Mỹ dẫn dắt sẽ gây chia rẽ trong nội bộ ASEAN. Các thành viên ASEAN có xu hướng can dự với nhiều bên để tối đa hóa lợi ích. Trung Quốc đã nổi lên như một đối tác kinh tế quan trọng trong thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư. Tuy nhiên, các thành viên Bộ tứ không chỉ là những đối tác kinh tế quan trọng mà còn là những nhà hỗ trợ truyền thống cho các thành viên ASEAN trong lĩnh vực chính trị và an ninh. Việc lựa chọn một trong hai bên có thể khiến các thành viên ASEAN rơi vào tình thế nguy hiểm về kinh tế hoặc mở ra thời kỳ bất ổn chính trị trong khi vực.

Bất chấp những thách thức này, ASEAN và Bộ tứ vẫn có một số điểm tương đồng. Thứ nhất, nếu Bộ tứ có thể điều chỉnh cách tiếp cận của mình sao cho phù hợp với các chiến lược phòng ngừa rủi ro của ASEAN, thì ASEAN và Bộ tứ có thể có được sự đồng thuận đáng kể. Các nước Bộ tứ đã biến việc mang lại các dự án cơ sở hạ tầng và kết nối cho khu vực là tâm điểm của nhóm. Điều này đã được thể hiện ở một số sáng kiến đang được các thành viên của nhóm triển khai thực hiện. Các nước thành viên ASEAN có thể sẽ hoan nghênh các sáng kiến như vậy. Điều này được phản ánh trong AOIP. Thứ hai, việc tập trung vào các vấn đề an ninh “mềm” như viện trợ nhân đạo và cứu trợ giảm thiểu hậu quả thiên tai, chống cướp biển và khủng bố có thể gia tăng sự đồng thuận trong các hoạt động quân sự giữa Bộ tứ và ASEAN. Điều này có thể dẫn tới các cuộc đàm phán về những vấn đề liên quan đến thể chế như thành lập một nhóm chuyên gia về chương trình nghị sự an ninh phi truyền thống giữa hai bên.

Hiện tại, mối quan hệ giữa Bộ tứ và ASEAN vẫn chưa chắc chắn. Có nhiều thách thức hơn là các điểm chung. Các thành viên Bộ tứ, những nước đã nhiệt tình ủng hộ khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, vẫn đang phát triển các chiến lược để kiềm chế Trung Quốc. Trong bối cảnh không ngừng thay đổi này, ASEAN đã áp dụng cách tiếp cận “chờ đợi và thận trọng”. Tuy nhiên, sự hợp tác về thể chế giữa Bộ tứ và ASEAN đã và đang diễn ra. Mọi việc phần lớn sẽ phụ thuộc vào diễn biến của trò chơi cân bằng quyền lực ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Nếu Trung Quốc thành công trong việc phá vỡ trật tự do Mỹ dẫn đầu trong khu vực, thì việc Bộ tứ hy vọng ASEAN có thể đứng vững trước sức mạnh của Trung Quốc sẽ là điều vô ích. Nếu Bộ tứ thành công trong việc giải quyết những mâu thuẫn nội bộ và kiềm chế sự quyết đoán của Trung Quốc về mặt quân sự, thì ASEAN không thể khổng để mắt đến Bộ tứ. Cuộc chiến giữa các thể chế ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương chỉ mới bắt đầu.

Nguồn: Viện nghiên cứu Nam Á, Quỹ hòa bình Sasakawa, tháng 10/2021

CVĐQT – số 11/2021

Bộ Tứ và ASEAN: Quan điểm của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á – Phần VII


Bất chấp sự gia tăng của các hoạt động hợp tác kinh tế, các nước Đông Nam Á vẫn nhận thức sâu sắc về sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực an ninh giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Vì vậy, một số quốc gia chủ chốt ở Đông Nam Á đã tìm cách thu hút sự tham gia của Mỹ và các nước trong khu vực nhằm giảm thiểu rủi ro khi can dự với Trung Quốc.

Ví dụ, Việt Nam đã nỗ lực cải thiện quan hệ với Mỹ, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh. Năm 2013, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang và Tổng thống Mỹ Barack Obama khi đó đã ký Hiệp định đối tác toàn diện Việt – Mỹ, nâng tầmquan hệ giữa hai nước. Tháng 6/2015, hai nước đã ký Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng, cam kết tăng cường hơn nữa quan hệ quốc phòng song phương. Mỹ cũng thông báo sẽ hỗ trợ Việt Nam 18 triệu USD để cải thiện khả năng phòng thủ trên biển. Năm 2016, Tổng thống Obama đã dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam. Việt Nam cũng duy trì quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Ấn Độ và Nga (ngoài Trung Quốc). Nga là nhà cung cấp vũ khí hàng đầu của Việt Nam và có lợi ích đáng kể trong lĩnh vực năng lượng quốc gia Đông Nam Á này. Việt Nam cũng đã sở hữu các phương tiện ngăn chặn xâm nhập khu vực như tàu ngầm lớp Kilo, máy bay chiến đấu Su-30MK2 và tên lửa chống tiếp cận. Thông qua các thương vụ mua bán vũ khí, Việt Nam muốn cảnh báo Trung Quốc về những thách thức mà nước này sẽ phải đối mặt nếu có xung đột quân sự Việt Nam.

Những hành động tương tự cũng diễn ra ở Philippines. Mặc dù Tổng thống Duterte đã đầu tư công sức đáng kể vào việc thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc, nhưng chính quyền của ông vẫn không từ bỏ Mỹ. Do ngày càng thất vọng về Trung Quốc, Chính quyền Philippines đã bắt đầu tái can dự với Mỹ và âm thầm mở rộng quan hệ quốc phòng với nước này. Cuộc tập trận thường niên BALIKATAN đã chứng kiến sự gia tăng quân số từ 5000 người trong năm 2017 lên 8000 người vào năm 2018 và 7500 người vào năm 2019. Hơn nữa, Philippines dự kiến là nước hưởng lợi nhiều nhất từ Tài trợ quân sự nước ngoài cho khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trị giá 300 triệu USD. Mỹ cũng đã tăng cường hỗ trợ kinh tế cho Philippines trong khuôn khổ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Thông qua Mạng lưới hỗ trợ giao dịch cơ sở hạ tầng, được thực hiện thông qua Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ, nước này đang cố gắng hiện thực hóa khoản đầu tư trị giá 5 tỷ USD vào Philippines. Bất chấp những lời kêu gọi trước đó về việc hủy bỏ Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng với Mỹ, tháng 11/2020, Tổng thống Duterter vẫn quyết định gia hạn thỏa thuận này cho đến khi có thể đàm phán lại.

Philippines cũng đã cố gắng đa dạng hóa đối tác bằng cách tiếp cận Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ. Hợp tác quốc phòng giữa Hàn Quốc và Philippines đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Mới đây, hai nước đã ký biên bản ghi nhớ về việc mua bán một tàu hộ tống cỡ nhỏ. Thông qua Đạo luật hiện đại hóa lực lượng vũ trang, Philippines cũng đang tìm cách mua máy bay FA-50 từ Hàn Quốc, ngoài Gripen hoặc F-16. Hàn Quốc cũng đã ký một thỏa thuận đối tác chiến lược với Nhật Bản vào năm 2011 và hiện là nhà cung cấp viện trợ phát triển lớn nhất của Philippines. Hợp tác quốc phòng của nước này với Nhật Bả cũng đang gia tăng với thỏa thuận chuyển giao các máy bay giám sát hàng hải và tàu tuần tra. Cuối cùng, Ấn Độ và Philippines đang tìm cách tăng cường quan hệ song phương. Đối thoại chính trị và quốc phòng giữa hai nước đang gia tăng và Ấn Độ đang đàm phán về việc xuất khẩu tên lửa hành trình Brahmos sang Philippines. Về mặt kinh tế, hai nước đang đàm phán một hiệp ước đầu tư song phương mới. Các công ty Wipro và GMR của Ấn Độ đã đầu tư đáng kể vào Philippines.

Sự xuất hiện của Bộ tứ có thể làm suy yếu vai trò và vị trí trung tâm của ASEAN trong khu vực và đây là mối quan tâm chung của tất cả các thành viên của tổ chức này. Hầu hết các nước tiếp tục giữ im lặng trước khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Việt Nam và Indonesia là hai quốc gia đã ủng hộ và đề cập đến khái niệm “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” trong các phát ngôn chính sách chính thức. Tuy nhiên, cả hai quốc gia cũng nhận thức được khả năng ASEAN đánh mất vai trò trung tâm trong cấu trúc an ninh khu vực. Do đó, hai nước đã lựa chọn cách tiếp cận cân bằng trong việc can dự – vừa để duy trì vai trò trung tâm của ASEAN vừa để tránh mọi động thái có thể làm đảo lộn mối quan hệ với Trung Quốc.

Indonesia ủng hộ khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm nâng cao lợi thế của ASEAN. Nước này đã tích cực thuyết phục các thành viên khác của ASEAN áp dụng cách tiếp cận này và coi đó là lập trường chính thức của ASEAN. Cách tiếp cận được trình bày trong “Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (AOIP)” theo đề xuất của Indonesia đã được thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 34 hôm 23/6/2019. Theo chuyên gia Hoàng Thị Hà đến từ Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, AOIP tuân thủ nguyên tắc về vai trò trung tâm của ASEAN thông qua các cơ chế do ASEAN dẫn đầu, dựa trên đối thoại và hợp tác, đồng thời hướng tới mục tiêu xây dựng một trật tự khu vực mang tính cởi mở và bao trùm. AOIP tái khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN giữa bối cảnh cạnh tranh nước lớn liên quan đến sự nổi lên của cấu trúc Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ngoài ra, chuyên gia Hoàng Thị Hà cũng lưu ý: “AOIP chuyển hướng sự chú ý từ cạnh tranh chiến lược sang hợp tác kinh tế – chức năng”. Do đó, AOIP được Indonesia ủng hộ nhằm mục tiêu tái khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN cũng như việc phương thức ASEAN là phương tiện hợp tác chính trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Khi can dự với các thành viên Bộ tứ, Indonesia đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc kết hợp và hài hòa giữa khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và các nguyên tắc cơ bản của ASEAN. Thông cáo báo chí chúng của Ấn Độ và Indonesia năm 2018 nêu rõ: “Khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cũng phải được phát triển một cách minh bạch và toàn diện trên tinh thần cởi mở, tôn trọng luật pháp quốc tế và đề cao vai trò trung tâm của ASEAN”. Tương tự, Đối thoại 2+2 Indonesia – Nhật Bản đã ra tuyên bố: “Bốn bộ trưởng đều nhất trí rằng Quan điểm ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có nhiều điểm chung về nguyên tắc cơ bản với Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở”.

Phát biểu tại Ấn Độ vào tháng 3/2018, Chủ tịch nước Trần Đại Quang khi đó đã gọi khu vực này là Ấn Độ Dương – châu Á – Thái Bình Dương. Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc Ấn Độ can dự với ASEAN và duy trì vai trò trung tâm của ASEAN thông qua chính sách “Hành động Hướng Đông”. Năm 2019, khái niệm “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” chính thức đi vào kho từ vựng tiếng VIệt khi nó xuất hiện trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Mặc dù văn bản này được xem là lời cảnh báo đối với Trung Quốc, nhưng nó cũng thể hiện sự thận trọng của Việt Nam trong cách tiếp cận khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Nó củng cố vai trò trung tâm của ASEAN khi nêu rõ: “VIệt Nam đã sẵn sàng tham gia các cơ chế hợp tác an ninh, quốc phòng phù hợp với khả năng và lợi ích của mình, trong đó có các cơ chế an ninh và quốc phòng ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương… Việt nam ủng hộ việc mở rộng hợp tác giữa ASEAN và các đối tác bên ngoài trong khuôn khổ các cơ chế an ninh đa phương do ASEAN dẫn dắt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và quy định cơ bản của ASEAN”.

Do đó, cách tiếp cận của ASEAN đối với Bộ tứ là cố gắng duy trì vai trò trung tâm trong cấu trúc an ninh mới nổi, thông qua việc nhấn mạnh sự cần thiết của việc phối hợp các khái niệm và cách tiếp cận khác nhau về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với các khái niệm như “vai trò trung tâm của ASEAN” và “phương thức ASEAN”. Điều này sẽ cho phép các quốc gia Đông Nam Á duy trì cách tiếp cận theo hướng phòng ngừa trong chính sách đối ngoại và tránh phải chọn bên trong cuộc cạnh tranh địa chính mới xuất hiện.

Kết luận: Hợp lực và chia rẽ

Các nước thành viên của cả ASEAN và Bộ tứ đều lo lắng về sự trỗi dậy của Trung Quốc. Sự lo lắng này xuất phát từ việc Trung Quốc có những hành vi ngày càng hiếu chiến, vi phạm các quy tắc và chuẩn mực quốc tế. Mặc dù có những mối quan ngại chung, nhưng ASEAN và Bộ tứ có thể phải đối mặt với những thách thức khi họ nỗ lực hợp tác trong một không gian khu vực chung. Đó là vì hai thể chế có cách tiếp cận khác nhau trong việc kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Cách tiếp cận của Bộ tứ dựa trên sự cân bằng quyền lực và là sự đúc rút kinh nghiệm từ chiến lược ngăn chặn của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh, trong khi cách tiếp cận của ASEAN dựa trên việc tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau về thể chế và kinh tế giữa các thành viên và đối tác khu vực nhằm giảm thiểu xung đột. Mặc dù một số nước thành viên Bộ tứ, đặc biệt là Nhật Bản tiếp tục hợp tác kinh tế với Trung Quốc, nhưng hai cách tiếp cận này xét về nguyên tắc không tương thích với nhau. Nếu không có sự can dự đáng kể giữa ASEAN và Bộ tứ, thì ASEAN thì ASEAN có thể cảm thấy bị coi là thứ yếu trong bối cảnh an ninh không ngừng thay đổi ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong khi Bộ tứ vẫn bị cho là hoạt động kém hiệu quả. Các thành viên của hai nhóm sẽ cần phải phát triển các liên kết thể chế và cơ chế đối thoại để phối hợp phương pháp tiếp cận với nhau. Điều này sẽ giúp xây dựng lòng tin và trấn an các nước rằng hành động của nhóm này không làm suy yếu lợi ích của nhóm kia.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện nghiên cứu Nam Á, Quỹ hòa bình Sasakawa, tháng 10/2021

CVĐQT – số 11/2021

Bộ Tứ và ASEAN: Quan điểm của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á – Phần VI


Thứ hai, Bộ tứ cho phép Nhật Bản tăng cường các nguồn lực hiện có để cạnh tranh với Trung Quốc thông qua việc thúc đẩy sự phối hợp giữa các cường quốc hiện diện ở châu Á. Như đã được lưu ý trong cuộc thảo luận về nhận thức của Ấn Độ về Bộ tứ, Nhật Bản và Ấn Độ đã ký một cam kết kinh tế sâu rộng. Sự can dự của Nhật Bản không chỉ nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc của Ấn Độ vào kinh tế Trung Quốc mà còn nhằm hỗ trợ sự trỗi dậy của nước này, mở đường cho một châu Á đa cực hơn. Không phải vô cớ mà Ấn Độ là một trong những nước nhận được nhiều ODA nhất của Nhật Bản trong 2 thập kỷ qua. Tuy nhiên, Nhật Bản cũng đang phối hợp với Australia và Mỹ hỗ trợ tài chính cho khu vực trong việc đối phó với những thách thức về kết nối, cơ sở hạ tầng và quản trị. Từng nước cũng đang đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng. Năm 2018, Mỹ đã thông qua Đạo luật sử dụng hiệu quả hơn các khoản đầu tư phát triển (BUILD), cam kết đầu tư ra nước ngoài gần 60 tỷ USD. Mỹ cũng đã thông qua đạo luật sáng kiến tái trấn an châu Á, cam kết tài trợ 1,5 tỷ USD/năm trong 5 năm tới cho các hoạt động quân sự, ngoại giao và kinh tế. Australia cũng đã dành 3 tỷ USD để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở Thái Bình Dương. Một số sáng kiến ba bên cũng đang được tiến hành. Tháng 11/2019, các tập đoàn tài chính phát triển của Mỹ, Nhật Bản và Australia đã khởi động Mạng lưới Điểm xanh với mong muốn thúc đẩy các tiêu chuẩn đạo đức để phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước thứ ba. Những nước này cũng đã tài trợ cho các dự án ở Nam Thái Bình Dương. Họ đang cân nhắc việc đầu tư 1 tỷ USD vào một dự án khí đốt tự nhiên hóa lỏng ở Papua New Guinea và sẽ tài trợ cho việc phát triển một tuyến cáp quang biển tới đảo quốc Palau ở Thái Bình Dương.

Quan điểm của ASEAN về Bộ tứ

Tại Đối thoại Shangri-La năm 2019, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã có bài phát biểu thể hiện sự cân nhắc kỹ càng của nhà lãnh đạo “đảo quốc sư tử”. Mặc dù ca ngợi các khoản đầu tư của Trung Quốc thông qua BRI, nhưng Thủ tướng Lý Hiển Long cũng hoan nghênh các sáng kiến khác như sáng kiến đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ông nói: “Chúng tôi ủng hộ các sáng kiến hợp tác khu vực, vốn là những nền tảng rộng mở và bao trùm để các nước có thể hợp tác trên tinh thần xây dựng và tăng cường hội nhập khu vực”. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng những sáng kiến này nên hướng tới việc tăng cường các thỏa thuận hợp tác tập trung vào ASEAN hiện có, chứ không phải làm suy yếu các thỏa thuận đó, tạo ra các khối đối địch, khắc sâu thêm những rạn nứt hay buộc các nước phải chọn phe. Các quốc gia Đông Nam Á thường xuyên lo ngại rằng khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Bộ tứ sẽ làm suy yếu thể chế ASEAN và vai trò trung tâm của tổ chức này trong cấu trúc an ninh khu vực, khiến họ phải lựa chọn giữa Mỹ hoặc Trung Quốc.

Mong muốn duy trì vai trò trung tâm của ASEAN gắn liền với mong muốn duy trì quyền tự chủ và tự do hành động của Đông Nam Á. Các nước Đông Nam Á đã thể hiện xu hướng phòng ngừa trong chính sách đối ngoại và tránh công khai liên kết với các cường quốc. Việc duy trì vai trò trung tâm của ASEAN cho phép họ duy trì quan hệ hữu hảo với cả Trung Quốc và Mỹ, đồng thời có được ảnh hưởng nhất định đối với cuộc cạnh tranh địa chính trị mới xuất hiện trong khu vực. Điều này cũng sẽ giúp các nước không phải đưa ra lựa chọn khó khăn giữa đối trọng và đi theo các cường quốc mà vẫn được lợi từ họ.

Hiện tại, chưa có công thức chính xác cho chính sách phòng ngừa rủi ro trong giới học thuật về quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, hầu hết các học giả đều nhất trí rằng đó là một chính sách hỗn hợp. Theo lưu ý của Evan Mederois, chính sách phòng ngừa rủi ro bao gồm các hành động mâu thuẫn nhau, kể cả việc can dự với các đối thủ để thu lợi trong khi vẫn phát triển các phương án dự phòng để đảm bảo an ninh nếu hành động này thất bại. Ông đã phân tích cách tiếp cận chính sách phòng ngừa rủi ro trong quan hệ Mỹ – Trung trong giai đoạn cuối những năm 1990 – đầu những năm 2000. Trong khi đó, những người khác lại cho rằng đây là cách tiếp cận để quản lý rủi ro liên quan đến việc liên kết với một hoặc nhiều cường quốc. Quan điểm này chú trọng đến các rủi ro an ninh và cách thức tốt nhất để giảm thiểu những rủi ro đó. Phó Giáo sư John Ciorciari, Giám đốc Trung tâm Chính sách quốc tế thuộc Trường Ford, ủng hộ việc Đông Nam Á áp dụng phương pháp phòng ngừa rủi ro này. Trong một nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Malaysia và Singapore, phó giáo sư Kuik Cheng-Chwee, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu châu Á thuộc Viện nghiên cứu Malaysia và quốc tế (IKMAS) của D(ại học quốc gia Malaysia (UKM), để xuất một khuôn khổ để phân tích chiến lược phòng ngừa rủi ro và các lựa chọn chính sách đi kèm. Ông chia các chiến lược phòng ngừa rủi ro thành hai nhóm – nhóm chiến lược phòng ngừa rủi ro và nhóm chiến lược tối đa háo lợi nhuận. Kuik giải thích: “Tối đa hóa lợi nhuận – thông qua việc phát huy chủ nghĩa thực dụng kinh tế, cam kết ràng buộc và giới hạn phạm vi – cho phép các nước áp dụng phương pháp phòng ngừa rủi ro thu được nhiều nhất có thể lợi ích trong lĩnh vực kinh tế, ngoại giao và chính sách đối ngoại từ các cường quốc khi mọi thứ ổn định. Trong khi đó, phòng ngừa rủi ro, thông qua việc chống lại sự chi phối và gián tiếp đối trọng, nhằm mục đích giảm thiểu tổn thất khi mọi thứ trở nên tồi tệ”.

Đây là cách tiếp cận chính sách đối ngoại phổ biến ở Đông Nam Á. Hầu hết các quốc gia can dự với Trung Quốc, nước nắm giữ bá quyền ở châu Á, chủ yếu vì lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, các quốc gia này cũng đang can dự với một số thế lực khác ở bên ngoài nhằm đa dạng hóa quan hệ. Tuy Mỹ là đối tác quan trọng nhất, nhưng Ấn Độ, Nhật Bản và Australia cũng duy trì các mối quan hệ song phương có ý nghĩa quan trọng với Đông Nam Á.

Trung Quốc bắt đầu can dự với Đông Nam Á từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1996 – 1997. FTA ASEAN-Trung Quốc được ký kết vào tháng 11/2002 đánh dấu việc hai bên tiến tới tăng cường hợp tác kinh tế. Tính đến năm 2018, Trung Quốc chiếm 17,1% tổng kim ngạch thương mại hàng hóa của ASEAN. Hơn nữa, Trung Quốc cũng duy trì các thỏa thuận song phương nhằm tăng cường hợp tác kinh tế giữa các nước, cũng như ký hợp đồng hoán đổi tiền tệ với Indonesia, Thái Lan, Singapore, Việt Nam, Malaysia và Philippines nhằm hạn chế ảnh hưởng của đồng USD trong các giao dịch tiền tệ.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Đông Nam Á đã tìm cách tăng cường hợp tác kinh tế. Thông qua BRI, Trung Quốc đã đầu tư đáng kể vào phát triển cơ sở hạ tầng trên toàn khu vực. Theo một báo cáo, những nước ASEAN nhận được nhiều đầu tư nhất của Trung Quốc liên quan đến sáng kiến trên là Indonesia (171 tỷ USD), Việt Nam (152 tỷ USD), Campuchia (104 tỷ USD), Malaysia (98 tỷ USD) và Singapore (70 tỷ USD). Nhiều nước Đông Nam Á đã tham gia BRI bất chấp mối quan hệ an ninh căng thẳng của khu vực này với Trung Quốc. Năm 2004, Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu hợp tác kinh tế trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai” ở một số lĩnh vực bao gồm thương mại, du lịch và phát triển cơ sở hạ tầng. Trong chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Tập Cận Bình vào tháng 11/2017, hai nước đã ký biên bản ghi nhớ để thăm dò cơ hội hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ BRI của Trung Quốc. Đến năm 2019, Trung Quốc đã trở thành nguồn cung FDI lớn thứ hai, chiếm 15,5% tổng vốn FDI, vào Việt Nam năm 2019. Mặc dù Philippines vẫn áp dụng cách tiếp cận cứng rắn đối với dự án xây đảo của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa, nhưng Tổng thống Rodrigo Duterte đã bắt đầu tiếp cận Trung Quốc để tối đa hóa lợi ích kinh tế. Tuy Tòa trọng tài quốc tế tại La Haye đã ra phán quyết có lợi cho Philippines trong vụ kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa, nhưng nước này vẫn hết sức thận trọng trong lời lẽ đối với Trung Quốc. Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Duterte, Philippines đã nỗ lực giảm leo thang căng thẳng ở biển Nam Trung Hoa và thể chế hóa Cơ chế tham vấn song phương vào năm 2016. Hai nước cũng đã nghiên cứu cơ hội cùng nhau thăm dò và khai thác tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa. Trong chính sách “xoay trục sang Trung Quốc”, Tổng thống Duterte cũng cân nhắc việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trung Quốc và đưa đầu tư của Trung Quốc vào Philippines. Năm 2016, sau chuyến thăm Trung Quốc, Tổng thống Duterte đã tuyên bố quay trở lại với cam kết đầu tư có giá trị lên tới 24 tỷ USD. Tuy nhiên, cho đến nay, cam kết này nhìn chung vẫn chưa được thực hiện. Tại Malaysia, Trung Quốc đã đầu tư gần 35 tỷ USD vào các dự án xây dựng trong giai đoạn 2010 – 2016. Theo Cơ quan phát triển đầu tư Malaysia, năm 2020, Trung Quốc đã đầu tư gần 4,4 tỷ USD. Tháng 3/2017, hai nước cũng đã khởi động Sáng kiến khu vực thương mại tự do kỹ thuật số. Câu chuyện tương tự diễn ra ở Indonesia. Trung Quốc là nguồn đầu tư lớn thứ hai của Indonesia. Năm 2020, đầu tư của Trung Quốc vào nước này đạt 8,4 tỷ USD.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện nghiên cứu Nam Á, Quỹ hòa bình Sasakawa, tháng 10/2021

CVĐQT – số 11/2021

Bộ Tứ và ASEAN: Quan điểm của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á – Phần V


Thứ hai, Bộ tứ cho phép Nhật Bản tăng cường các nguồn lực hiện có để cạnh tranh với Trung Quốc thông qua việc thúc đẩy sự phối hợp giữa các cường quốc hiện diện ở châu Á. Như đã được lưu ý trong cuộc thảo luận về nhận thức của Ấn Độ về Bộ tứ, Nhật Bản và Ấn Độ đã ký một cam kết kinh tế sâu rộng. Sự can dự của Nhật Bản không chỉ nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc của Ấn Độ vào kinh tế Trung Quốc mà còn nhằm hỗ trợ sự trỗi dậy của nước này, mở đường cho một châu Á đa cực hơn. Không phải vô cớ mà Ấn Độ là một trong những nước nhận được nhiều ODA nhất của Nhật Bản trong 2 thập kỷ qua. Tuy nhiên, Nhật Bản cũng đang phối hợp với Australia và Mỹ hỗ trợ tài chính cho khu vực trong việc đối phó với những thách thức về kết nối, cơ sở hạ tầng và quản trị. Từng nước cũng đang đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng. Năm 2018, Mỹ đã thông qua Đạo luật sử dụng hiệu quả hơn các khoản đầu tư phát triển (BUILD), cam kết đầu tư ra nước ngoài gần 60 tỷ USD. Mỹ cũng đã thông qua đạo luật sáng kiến tái trấn an châu Á, cam kết tài trợ 1,5 tỷ USD/năm trong 5 năm tới cho các hoạt động quân sự, ngoại giao và kinh tế. Australia cũng đã dành 3 tỷ USD để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở Thái Bình Dương. Một số sáng kiến ba bên cũng đang được tiến hành. Tháng 11/2019, các tập đoàn tài chính phát triển của Mỹ, Nhật Bản và Australia đã khởi động Mạng lưới Điểm xanh với mong muốn thúc đẩy các tiêu chuẩn đạo đức để phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước thứ ba. Những nước này cũng đã tài trợ cho các dự án ở Nam Thái Bình Dương. Họ đang cân nhắc việc đầu tư 1 tỷ USD vào một dự án khí đốt tự nhiên hóa lỏng ở Papua New Guinea và sẽ tài trợ cho việc phát triển một tuyến cáp quang biển tới đảo quốc Palau ở Thái Bình Dương.

Quan điểm của ASEAN về Bộ tứ

Tại Đối thoại Shangri-La năm 2019, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã có bài phát biểu thể hiện sự cân nhắc kỹ càng của nhà lãnh đạo “đảo quốc sư tử”. Mặc dù ca ngợi các khoản đầu tư của Trung Quốc thông qua BRI, nhưng Thủ tướng Lý Hiển Long cũng hoan nghênh các sáng kiến khác như sáng kiến đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ông nói: “Chúng tôi ủng hộ các sáng kiến hợp tác khu vực, vốn là những nền tảng rộng mở và bao trùm để các nước có thể hợp tác trên tinh thần xây dựng và tăng cường hội nhập khu vực”. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng những sáng kiến này nên hướng tới việc tăng cường các thỏa thuận hợp tác tập trung vào ASEAN hiện có, chứ không phải làm suy yếu các thỏa thuận đó, tạo ra các khối đối địch, khắc sâu thêm những rạn nứt hay buộc các nước phải chọn phe. Các quốc gia Đông Nam Á thường xuyên lo ngại rằng khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Bộ tứ sẽ làm suy yếu thể chế ASEAN và vai trò trung tâm của tổ chức này trong cấu trúc an ninh khu vực, khiến họ phải lựa chọn giữa Mỹ hoặc Trung Quốc.

Mong muốn duy trì vai trò trung tâm của ASEAN gắn liền với mong muốn duy trì quyền tự chủ và tự do hành động của Đông Nam Á. Các nước Đông Nam Á đã thể hiện xu hướng phòng ngừa trong chính sách đối ngoại và tránh công khai liên kết với các cường quốc. Việc duy trì vai trò trung tâm của ASEAN cho phép họ duy trì quan hệ hữu hảo với cả Trung Quốc và Mỹ, đồng thời có được ảnh hưởng nhất định đối với cuộc cạnh tranh địa chính trị mới xuất hiện trong khu vực. Điều này cũng sẽ giúp các nước không phải đưa ra lựa chọn khó khăn giữa đối trọng và đi theo các cường quốc mà vẫn được lợi từ họ.

Hiện tại, chưa có công thức chính xác cho chính sách phòng ngừa rủi ro trong giới học thuật về quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, hầu hết các học giả đều nhất trí rằng đó là một chính sách hỗn hợp. Theo lưu ý của Evan Mederois, chính sách phòng ngừa rủi ro bao gồm các hành động mâu thuẫn nhau, kể cả việc can dự với các đối thủ để thu lợi trong khi vẫn phát triển các phương án dự phòng để đảm bảo an ninh nếu hành động này thất bại. Ông đã phân tích cách tiếp cận chính sách phòng ngừa rủi ro trong quan hệ Mỹ – Trung trong giai đoạn cuối những năm 1990 – đầu những năm 2000. Trong khi đó, những người khác lại cho rằng đây là cách tiếp cận để quản lý rủi ro liên quan đến việc liên kết với một hoặc nhiều cường quốc. Quan điểm này chú trọng đến các rủi ro an ninh và cách thức tốt nhất để giảm thiểu những rủi ro đó. Phó Giáo sư John Ciorciari, Giám đốc Trung tâm Chính sách quốc tế thuộc Trường Ford, ủng hộ việc Đông Nam Á áp dụng phương pháp phòng ngừa rủi ro này. Trong một nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Malaysia và Singapore, phó giáo sư Kuik Cheng-Chwee, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu châu Á thuộc Viện nghiên cứu Malaysia và quốc tế (IKMAS) của D(ại học quốc gia Malaysia (UKM), để xuất một khuôn khổ để phân tích chiến lược phòng ngừa rủi ro và các lựa chọn chính sách đi kèm. Ông chia các chiến lược phòng ngừa rủi ro thành hai nhóm – nhóm chiến lược phòng ngừa rủi ro và nhóm chiến lược tối đa háo lợi nhuận. Kuik giải thích: “Tối đa hóa lợi nhuận – thông qua việc phát huy chủ nghĩa thực dụng kinh tế, cam kết ràng buộc và giới hạn phạm vi – cho phép các nước áp dụng phương pháp phòng ngừa rủi ro thu được nhiều nhất có thể lợi ích trong lĩnh vực kinh tế, ngoại giao và chính sách đối ngoại từ các cường quốc khi mọi thứ ổn định. Trong khi đó, phòng ngừa rủi ro, thông qua việc chống lại sự chi phối và gián tiếp đối trọng, nhằm mục đích giảm thiểu tổn thất khi mọi thứ trở nên tồi tệ”.

Đây là cách tiếp cận chính sách đối ngoại phổ biến ở Đông Nam Á. Hầu hết các quốc gia can dự với Trung Quốc, nước nắm giữ bá quyền ở châu Á, chủ yếu vì lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, các quốc gia này cũng đang can dự với một số thế lực khác ở bên ngoài nhằm đa dạng hóa quan hệ. Tuy Mỹ là đối tác quan trọng nhất, nhưng Ấn Độ, Nhật Bản và Australia cũng duy trì các mối quan hệ song phương có ý nghĩa quan trọng với Đông Nam Á.

Trung Quốc bắt đầu can dự với Đông Nam Á từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1996 – 1997. FTA ASEAN-Trung Quốc được ký kết vào tháng 11/2002 đánh dấu việc hai bên tiến tới tăng cường hợp tác kinh tế. Tính đến năm 2018, Trung Quốc chiếm 17,1% tổng kim ngạch thương mại hàng hóa của ASEAN. Hơn nữa, Trung Quốc cũng duy trì các thỏa thuận song phương nhằm tăng cường hợp tác kinh tế giữa các nước, cũng như ký hợp đồng hoán đổi tiền tệ với Indonesia, Thái Lan, Singapore, Việt Nam, Malaysia và Philippines nhằm hạn chế ảnh hưởng của đồng USD trong các giao dịch tiền tệ.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Đông Nam Á đã tìm cách tăng cường hợp tác kinh tế. Thông qua BRI, Trung Quốc đã đầu tư đáng kể vào phát triển cơ sở hạ tầng trên toàn khu vực. Theo một báo cáo, những nước ASEAN nhận được nhiều đầu tư nhất của Trung Quốc liên quan đến sáng kiến trên là Indonesia (171 tỷ USD), Việt Nam (152 tỷ USD), Campuchia (104 tỷ USD), Malaysia (98 tỷ USD) và Singapore (70 tỷ USD). Nhiều nước Đông Nam Á đã tham gia BRI bất chấp mối quan hệ an ninh căng thẳng của khu vực này với Trung Quốc. Năm 2004, Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu hợp tác kinh tế trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai” ở một số lĩnh vực bao gồm thương mại, du lịch và phát triển cơ sở hạ tầng. Trong chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Tập Cận Bình vào tháng 11/2017, hai nước đã ký biên bản ghi nhớ để thăm dò cơ hội hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ BRI của Trung Quốc. Đến năm 2019, Trung Quốc đã trở thành nguồn cung FDI lớn thứ hai, chiếm 15,5% tổng vốn FDI, vào Việt Nam năm 2019. Mặc dù Philippines vẫn áp dụng cách tiếp cận cứng rắn đối với dự án xây đảo của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa, nhưng Tổng thống Rodrigo Duterte đã bắt đầu tiếp cận Trung Quốc để tối đa hóa lợi ích kinh tế. Tuy Tòa trọng tài quốc tế tại La Haye đã ra phán quyết có lợi cho Philippines trong vụ kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa, nhưng nước này vẫn hết sức thận trọng trong lời lẽ đối với Trung Quốc. Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Duterte, Philippines đã nỗ lực giảm leo thang căng thẳng ở biển Nam Trung Hoa và thể chế hóa Cơ chế tham vấn song phương vào năm 2016. Hai nước cũng đã nghiên cứu cơ hội cùng nhau thăm dò và khai thác tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa. Trong chính sách “xoay trục sang Trung Quốc”, Tổng thống Duterte cũng cân nhắc việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trung Quốc và đưa đầu tư của Trung Quốc vào Philippines. Năm 2016, sau chuyến thăm Trung Quốc, Tổng thống Duterte đã tuyên bố quay trở lại với cam kết đầu tư có giá trị lên tới 24 tỷ USD. Tuy nhiên, cho đến nay, cam kết này nhìn chung vẫn chưa được thực hiện. Tại Malaysia, Trung Quốc đã đầu tư gần 35 tỷ USD vào các dự án xây dựng trong giai đoạn 2010 – 2016. Theo Cơ quan phát triển đầu tư Malaysia, năm 2020, Trung Quốc đã đầu tư gần 4,4 tỷ USD. Tháng 3/2017, hai nước cũng đã khởi động Sáng kiến khu vực thương mại tự do kỹ thuật số. Câu chuyện tương tự diễn ra ở Indonesia. Trung Quốc là nguồn đầu tư lớn thứ hai của Indonesia. Năm 2020, đầu tư của Trung Quốc vào nước này đạt 8,4 tỷ USD.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện nghiên cứu Nam Á, Quỹ hòa bình Sasakawa, tháng 10/2021

CVĐQT – số 11/2021

Bộ Tứ và ASEAN: Quan điểm của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á – Phần IV


Ngoài việc tham gia các diễn đàn do ASEAN dẫn dắt, Nhật Bản còn tăng cường hiện diện trong lĩnh vực an ninh ở Đông Nam Á thông qua các kênh song phương, chủ yếu nhằm đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống như khủng bố và cướp biển. Tháng 8/2001, Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản đã điều một máy bay tuần tra đến Thái Lan và Philippines để thực hiện nhiệm vụ 4 ngày chống cướp biển trong khu vực. Năm 2001, Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản và Philippines đã tiến hành một cuộc tập trận chung chống cướp biển ngoài khơi vịnh Manila.

Nhật Bản và ASEAN cũng là các đối tác kinh tế quan trọng. Nhật Bản đã cung cấp viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho các nước ASEAN trong một thời gian dài và đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nước Đông Nam Á vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 – 1998. Việc ký kết Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) đã đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ song phương giữa những năm 2000. Kim ngạch thương mại giữa Nhật Bản và ASEAN năm 2006 đặt 161,8 tỷ USD, chiếm 13% tổng kim ngạch thương mại của Nhật Bản và 11,5% tổng kim ngạch thương mại của ASEAN. AJCEP cơ bản được soạn thảo vào tháng 8/2007, được ký kết và c1o hiệu lực từ tháng 12/2008. Là FTA đầu tiên của Nhật Bản với một tổ chức khu vực, AJCEP là cột mốc quan trọng trong quan hệ Nhật Bản – ASEAN.

Mãi đến giữa những năm 2000, Nhật Bản vẫn công nhận vai trò trung tâm của ASEAN với ý nghĩa đây sẽ là thể chế giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong việc duy trì cấu trúc an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Theo tính toán của Tokyo, vai trò trung tâm của ASEAN đáp ứng những mục đích sau. Thứ nhất, điều đó khẳng định cam kết của Nhật Bản đối với các chế độ không ngừng phát triển trong khu vực. Chừng nào ASEAN vẫn có thể giảm thiểu những khác biệt trong khu vực và đưa Trung Quốc cũng như nhiều nước khác vào một mạng lưới các quốc gia có sự phụ thuộc về mặt kinh tế, pháp lý và quy chuẩn, thì chừng đó ASEAN vẫn đáp ứng mục tiêu chính sách đối ngoại và lợi ích kinh tế của Nhật Bản. Thứ hai, ASEAN giúp Nhật Bản tăng cường quan hệ kinh tế và an ninh với toàn bộ khu vực thay vì các mối quan hệ song phương mà có thể đã bị rạn nứt do sức mạnh kinh tế của Nhật Bản hay những gì nước này từng làm đối với khu vực trong quá khứ. Thứ ba, ASEAN cũng tạo cơ hội để Nhật Bản tập trung vào các chế độ an ninh và những ràng buộc về thể chế để củng cố an ninh, vốn có được nhờ các liên minh vững chắc trong hệ thống Chiến tranh Lạnh. Tất cả những yếu tố này đã thúc đẩy Nhật Bản tham gia APT và giữ vai trò lãnh đạo trong việc xây dựng ARF và EAS.

Tuy nhiên, thái độ này bắt đầu thay đổi vào giai đoạn từ giữa đến cuối những năm 2000. Khi đó, Nhật Bản bắt đầu tiếp cận vấn đề an ninh qua lăng kính thực tế hơn. Như một học giả đã lưu ý, cuối những năm 1990, các quan điểm tự do, lạc quan của Nhật Bản về chủ nghĩa đa phương trong lĩnh vực an ninh khu vực bắt đầu nhường chỗ cho một quan điểm thực tế, bi quan hơn mà theo đó, ARF có thể được cho là chỉ đóng góp một phần nhỏ vào việc xây dựng lòng tin giữa các nước trong khu vực.

Do đó, Nhật Bản cần nhìn lại vấn đề an ninh thông qua lăng kính cân bằng quyền lực. Như Sách xanh ngoại giao Nhật Bản năm 2008 đã nêu, sự ổn định của khu vực được duy trì chủ yếu thông qua việc xây dựng các thỏa thuận an ninh song phương mà trong đó Mỹ giữ vai trò nòng cốt. Cũng theo văn kiện này, Nhật Bản cũng cho rằng việc phát triển và củng cố một khuôn khổ đa tầng cho các cuộc đối thoại song phương và đa phương trong khi vẫn đảm bảo sự hiện diện và can dự của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương để duy trì một môi trường an ninh ổn định xung quanh Nhật Bản cũng như đảm bảo hòa bình và ổn định trong khu vực là hành động hợp lý và thiết thực.

Để đạt được mục tiêu này, Nhật Bản đã củng cố cấu trúc an ninh khu vực bằng cách thuyết phục Ấn Độ, Australia và New Zealand tham gia EAS. Sau đó, vào năm 2010, nước này đã thuyết phục Mỹ tham gia diễn đàn này. Nhật Bản cũng tìm cách củng cố liên minh an ninh song phương Mỹ – Nhật. Nhưng có lẽ quan trọng nhất là việc cựu Thủ tướng Abe đã đặt nền móng cho Bộ tứ, mà thực tế là tiền thân của khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở (FOIP) bao quát hơn . Khái niệm này sau đó được hầu hết các thành viên Bộ tứ chấp nhận dưới hình thức này hay hình thức khác.

Trong bài phát biểu trước Quốc hội Ấn Độ năm 2007, Thủ tướng khi đó Shinzo Abe đã kêu gọi duy trì trật tự tự do quốc tế thông qua một loạt đối tác dân chủ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, không chỉ bằng cách phát triển các ràng buộc quy chuẩn đối với hành vi theo chủ nghĩa xét lại mà còn bằng cách duy trì cán cân quyền lực có lợi cho các lực lượng dân chủ trong khu vực. Sáng kiến này nhằm đưa 4 trong số các cường quốc dân chủ lớn nhất khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vào một nhóm có khả năng duy trì trật tự dựa trên các quy tắc quốc tế trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Mặc dù còn dè dặt trong những năm đầu hoạt động, nhưgn trước mối đe dọa của chủ nghĩa xét lại ngày càng phát triển ở Trung Quốc, các nước này đã nhanh chóng chấp nhận tham gia nhóm nói trên.

Đến năm 2012, môi trường an ninh của Nhật Bản đã suy thoái đáng kể. Tokyo đã bước vào một cuộc đối đầu công khai với Bắc Kinh xung quanh quần đảo Senkaku (Điếu Ngư). Sử dụng chiến thuật “vùng xám”, Trung Quốc đã đơn phương pháp hoại hiện trạng của Senkaku, thường xuyên xâm phạm hải phận và không phận Nhật Bản xung quanh quần đảo này. Năm 2013, Trung Quốc tuyên bố thiết lập vùng nhận dạng phòng không bao phủ không phận phía trên quần đảo Senkaku. Ngoài việc trực tiếp tranh giành lãnh thổ ở biển Hoa Đông, Trung Quốc còn lăm le xâm chiếm biển Nam Trung Hoa, khiến Nhật Bản hết sức lo lắng. Hơn nữa, Trung Quốc cũng đang tìm cách nhanh chóng mở rộng ảnh hưởng của chính sách kinh tế và đối ngoại thông qua các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) dưới thời Chính quyền Tập Cận Bình. Sự thiếu rõ ràng của BRI gây hoài nghi trong dư luận. Trong một số trường hợp, các khoản đầu tư của Trung Quốc ảnh hưởng đến các khoản đầu tư có kế hoạch của Nhật Bản và Ấn Độ. Nhiều người lo ngại rằng các khoản đầu tư nói trên đã khiến các nền kinh tế nhỏ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương phải gánh chịu những khoản nợ nhiều rủi ro. Các quan chức Nhật Bản coi những hành động này là thách thức đối với thể chế quốc tế hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, làm suy yếu trật tự dựa trên các quy tắc cũng như ảnh hưởng đến tiêu cực đến quyền tự do hàng hải và các hệ thống kinh tế toàn cầu.

Trong bối cảnh môi trường an ninh ngày càng xấu đi, cựu Thủ tướng Abe đã cho triển khai FOIP vào năm 2016 nhằm duy trì trật tự dựa trên các quy tắc, vốn có lợi cho Nhật Bản trong thời kỳ hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, thông qua việc biến Bộ tứ thành khuôn khổ thể chế quan trọng của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Bộ tứ phục vụ 2 mục đích chính trong cách tiếp cận ngày càng phát triển của Nhật Bản đối với khu vực.

Thứ nhất, như cựu Thủ tướng Abe đã lưu ý trong bài phát biểu đầu tiên khi quay trở lại Văn phòng Thủ tướng hồi tháng 12/2012, việc các cuộc tranh chấp vẫn tiếp diễn ở biển Hoa Đông và biển Nam Trung Hoa có nghĩa là Nhật Bản phải coi việc mở rộng tầm nhìn chiến lược là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại quốc gia. Do đó, Nhật Bản đã tăng cường quan hệ với Ấn Độ, bên cạnh đối tác an ninh truyền thống là Mỹ, và nâng cấp quan hệ đối tác với Australia. Không chỉ duy trì đối thoại tích cực với Australia và Mỹ, Nhật Bản còn tăng cường quan hệ thể chế và quốc phòng với Ấn Độ. Năm 2019, Nhật Bản và Ấn Độ đã tổ chức các cuộc đối thoại giữa các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng trong khuôn khổ “2 + 2”. Sau đó, hai nước đã ký Thỏa thuận thu mua và cung cấp dịch vụ chéo, cho phép quân đội hai nước tiếp cận các dịch vụ và nguồn cung của nhau. Năm 2018, Lực lượng phòng vệ mặt đất và Lực lượng phòng vệ trên không Nhật Bản đã tổ chức cuộc tập trận đầu tiên với Lục quân và Không quân Ấn Độ. Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản và Hải quân Ấn Độ cũng thường xuyên tiến hành các cuộc tập trận hải quân.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện nghiên cứu Nam Á, Quỹ hòa bình Sasakawa, tháng 10/2021

CVĐQT – số 11/2021

Bộ Tứ và ASEAN: Quan điểm của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á – Phần III


Hành động của Ấn Độ cũng phù hợp với luận điệu này. Chính quyền Modi đã lựa chọn bước đi tiếp theo là tăng cường các mối quan hệ song phương thay vì lôi kéo sự can dự của cả khối ASEAN. Ví dụ, Ấn Độ đã nâng cấp quan hệ đối thoại với Việt Nam lên thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2016, đồng thời đẩy mạnh quan hệ quốc phòng với quốc gia Đông Nam Á này. Ấn Độ đang xem xét xuất khẩu tên lửa hành trình BrahMos và tên lửa phòng không Akash tiên tiến sang Việt Nam. Trong chuyến thăm Ấn Độ của Bộ trưởng Quốc phòng Singapore Ng Eng Hen vào năm 2017, Ấn Độ và Singapore đã hàon tất thỏa thuận song phương về hợp tác hải quân, thỏa thuận cho phép hải quân hai nước tạm thời triển khai lực lượng từ cơ sở hải quân của nhau và hỗ trợ nhau về mặt hậu cần. Trong chuyến thăm Indonesia của Thủ tướng Modi vào năm 2018, Ấn Độ đã đồng ý phát triển cảng Sabang gần eo biển Malacca, một vị trí quan trọng về mặt chiến lược ở Ấn Độ Dương.

Sự thay đổi về quan điểm của Ấn Độ đối với ASEAN có thể bắt nguồn từ việc nước này không có khả năng kiềm chế sự hiếu chiến của Trung Quốc hoặc duy trì luật pháp quốc tế ở biển Nam Trung Hoa. Trước việc Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh quân sự và có khả năng chia rẽ ASEAN bằng việc sử dụng kết hợp các biện pháp khuyến khích và trừng phạt kinh tế, cộng đồng quốc tế ngày càng nghi ngờ khả năng của ASEAN trong việc kiềm chế hoặc kiểm soát hành động của Trung Quốc. David Brewster lập luận: “Việc giảm thiểu đáng kể mức độ liên quan của các thể chế lấy ASEAN làm trung tâm cuối cùng có thể khiến Ấn Độ lựa chọn vượt lên trên các tổ chức khu vực hiện có và đối phó trực tiếp với các cường quốc khác ở châu Á – Thái Bình Dương”.

Lập luận trên đã thôi thúc Ấn Độ đi theo Bộ tứ. Nhóm này mang lại cho Ấn Độ cơ hội tăng cường sức mạnh quốc gia bằng cách hợp nhất các thế mạnh và phối hợp hành động của họ với cách tiếp cận cảu các cường quốc hàng đầu ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – Nhật Bản, Australia và Mỹ. Ấn Độ gia nhập Bộ tứ để có thể đối trọng với sức mạnh vật chất ngày càng tăng của Trung Quốc, vốn không chỉ đe dọa sự cân bằng sức mạnh quân sự mong manh ở khu vực biên giới trên dãy Himalaya mà còn khiến Ấn Độ mất đi vị thế hàng đầu ở Nam Á và Bắc Ấn Độ Dương.

Kể từ khi thành lập, Bộ tứ đóng vai trò là nền tảng phối hợp hành động và thúc đẩy quan hệ song phương giữa các thành viên. Do đó, về mặt quân sự, Ấn Độ có khả năng phối hợp một cách hợp lý với các cường quốc khác trong khu vực. Ấn Độ đã ký thỏa thuận mua bán và cung cấp dịch vụ với Nhật Bản và Mỹ. Nước này cũng đã ký Thỏa thuận trao đổi và hợp tác cơ bản và Thỏa thuận tương thích và an ninh truyền thông với Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi thông tin giữa quân đội hai nước. Ngoài ra, Ấn Độ thường xuyên tập trận với quân đội Mỹ và Nhật Bản. Từ chỗ chỉ là cuộc tập trận song phương giữa Ấn Độ và Mỹ, cuộc tập trận hải quân Malabar đã chứng kiến sự tham gia của Nhật Bản vào năm 2007 và của Australia vào tháng 10/2020. Phát biểu tại Đối thoại Raisina vào tháng 4/2021, Đô đốc Hải quân Ấn D(ộ Karambir Singh tuyên bố lực lượng hải quân Bộ tứ có độ tương tác cao và có thể nhanh chóng phối hợp hành động khi có cơ hội. Tất cả những diễn biến này chứng tỏ quân đội Ấn Độ có cơ hội lớn hơn để thể hiện sức mạnh ở khu vực lân cận mở rộng. Về mặt kinh tế, Ấn Độ cũng sẵn sàng hưởng lợi từ việc sắp xếp lại các chuỗi cung ứng trong thời kỳ hậu COVID-19. Tháng 9/2020, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia đã công bố Sáng kiến phục hồi chuỗi cung ứng nhằm mục tiêu khuyến khích dịch chuyển các chuỗi cung ứng từ Trung Quốc sang các nước khác thông qua cơ chế tài chính.

Bộ tứ cũng cho phép Ấn Độ đóng góp nguồn lực với các thành viên khác để tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc ở Nam Á và Đông Nam Á. Hiện tại, Ấn Độ có quan hệ hợp tác thực chất nhất về kết nối và phát triển cơ sở hạ tầng với Nhật Bản. Trong chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe năm 2017, hai nước đã quyết định coi việc cung cấp cơ sở hạ tầng chất lượng là trọng tâm của quan hệ song phương này. Ấn Độ và Nhật Bản đang cùng nhau phát triển cảng container phía Tây tại Colombo ở Sri Lanka. Theo đề án Hành lang tăng trưởng Á – Phi được triển khai vào năm 2017, hai nước cũng đã bắt tay phát triển cơ sở hạ tầng ở châu Phi. Hơn nữa, Ấn Độ đã công bố các khoản đầu tư của Nhật Bản vào khu vực Đông Bắc đất nước và đang tìm cách thông qua các khoản đầu tư này hội nhập và kết nối khu vực Đông Bắc, Nepal, Bhutan và Bangladesh với Đông Nam Á.

Quan điểm của Nhật Bản về ASEAN và Bộ tứ

Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã rút khỏi các vấn đề quốc tế và thông qua một hiến pháp theo chủ nghĩa hòa bình, nghiêm cấm sử dụng vũ lực. Nhật Bản thời hậu chiến đã áp dụng học thuyết Yoshida, chú trọng việc phục hồi kinh tế hơn là tái vũ trang. Vào thời điểm này, Nhật Bản coi Đông Nam Á, nơi họ đã để lại vết sẹo chiến tranh, là khu vực giữ vai trò then chốt trong việc cung cấp tài nguyên, lao động và thị trường. Vì vậy, Nhật Bản đã xây dựng lại quan hệ với Đông Nam Á, thường là thông qua các biện pháp khắc phục hậu quả chiến tranh, hỗ trợ kinh tế và mở rộng tương tác thương mại. Tuy nhiên, đến cuối những năm 1970, các nhà hoạch định chính sách Nhật Bản lại nhận định rằng môi trường an ninh không thuận lợi và do đó cần phải định hướng lại chính sách. Quan điểm này xuất phát từ thực tế. Thứ nhất, việc Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1973 và việc Mỹ rút lui khỏi khu vực báo hiệu sự suy giảm các cam kết của Mỹ đối với châu Á. Tokyo cho rằng sự rút lui này sẽ để lại khoảng trống quyền lực, tạo điều kiện cho sự thâm nhập của chủ nghĩa cộng sản. Thứ hai, các nước trong khu vực nhìn chung có quan điểm tiêu cực về các cam kết thương mại của Nhật Bản. Điều này được thể hiện rõ sau sự kiện Malari – sinh viên Indonesia tiến hành các cuộc biểu tình bạo loạn phản đối chuyến thăm của Thủ tướng Nhật Bản Kakuei Tanaka đến nước này vào năm 1974. Một trong những nguyên nhân của bạo loạn là quan niệm cho rằng Nhật Bản đang bóc lột các quốc gia Đông Nam Á. Trước những diễn biến này, năm 1977, Nhật Bản đã đưa ra học thuyết Fukuda, khẳng định nước này có vai trò lớn hơn trong lĩnh vực chính trị, chứ không chỉ dừng lại ở lĩnh vực kinh tế. Theo đó, Nhật Bản đã tăng cường tham gia diễn đàn ASEAN về các vấn đề chính trị-an ninh và tìm kiếm các quan hệ đối tác bình đẳng. Thái độ cơ bản này vẫn được duy trì  trong chính sách đối ngoại hiện tại của Nhật Bản đối với Đông Nam Á.

Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc vào năm 1991, Nhật Bản lại chứng kiến một môi trường an ninh bất ổn. Trong khi cộng đồng quốc tế ăn mừng việc thế giới thoát khỏi tình trạng thù địch và chuyển sang chú ý tới vấn đề tái hội nhập châu Âu cũng như các mối đe dọa an ninh mới nổi ở Trung Đông và các nơi khác, thì Nhật Bản lại phải đối mặt với cuộc Chiến tranh Lạnh tiếp diễn ở châu Á. Nhật Bản nhận thấy mối quan tâm và cam kết an ninh của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương bắt đầu suy giảm trong khi Trung Quốc đang trỗi dậy với những đường hướng không chắc chắn. Bối cảnh này thôi thúc Nhật Bản đảm nhiệm vai trò lớn hơn trong các vấn đề toàn cầu và mở đường cho Nhật Bản đóng góp vào các hoạt động quốc tế vì hòa bình. Tương tự, ở châu Á – Thái Bình Dương, Nhật Bản cũng nhận thấy sự cần thiết của việc mở rộng cam kết chính trị với cơ chế ASEAN, bên cạnh việc duy trì liên minh với Mỹ bằng cách áp dụng cách tiếp cận đa phương về an ninh – một thay đổi đáng kể so với mối quan hệ kinh tế song phương truyền thống của Nhật Bản với các nước trong khu vực. Nhật Bản đã tham gia xây dựng diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) vào năm 1989, nhưng phải đến tháng 7/1991, Ngoại trưởng Taro Nakayama mới đề xuất chính sách chuyển sang các thỏa thuận an ninh đa phương. Mặc dù đề xuất của ông không được chú ý ngay lập tức, nhưng nó đã tạo tiền đề cho cuộc tham vấn tiếp theo giữa các nước có liên quan. Theo đề xuất đó, Nhật Bản đã hỗ trợ phát triển Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) cũng như tham gia tích cực vào việc phát triển diễn đàn ASEAN+3 (APT), bao gồm 10 nước thành viên ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc. Nước này cũng vận động các nước ủng hộ sự phát triển của Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), đồng thời lôi kéo Australia, New Zealand và Ấn Độ vào APT. Nhật Bản muốn thông qua các diễn đàn này xây dựng một thể chế an ninh khu ực nhằm duy trì đối thoại giữa các nhà lãnh đạo chính trị, đảm bảo sự minh bạch về chính sách và thúc đẩy các cam kết có tính chuẩn mực. Trên thực tế, những sáng kiến như vậy hướng tới xây dựng lòng tin ở châu Á – Thái Bình Dương. Nhóm hỗ trợ liên ngành (ISG) đầu tiên của ARF về các biện pháp xây dựng lòng tin (CBM) đã họp tại Tokyo vào năm 1996. Nhật Bản đồng chủ trì cuộc họp với Indonesia và thăm dò khả năng áp dụng các CBM tiên tiến và thiết thực trong các lĩnh vực quân sự, chẳng hạn như lập danh sách vũ khí trong khu vực cũng như thông báo và quan sát các cuộc tập trận. Nhật Bản cũng đồng chủ trì với Singapore cuộc họp ISG về CBM vào năm 1999 – 2000, đưa ra các đề xuất cụ thể nhằm tăng cường các biện pháp ngoại giao phòng ngừa khả thi trong khu vực. Điều này cũng dẫn đến những nỗ lực lên án các vụ thử hạt nhân của Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Triều Tiên tại các diễn đàn này.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện nghiên cứu Nam Á, Quỹ hòa bình Sasakawa, tháng 10/2021

CVĐQT – số 11/2021

Bộ Tứ và ASEAN: Quan điểm của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á – Phần II


Quan điểm của Ấn Độ và ASEAN về Bộ tứ

Sự can dự của Ấn Độ với Đông Nam Á trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh bắt đầu bằng chính sách “Hướng Đông” của Chính quyền Narasimha Rao. Thủ tướng Rao đưa ra chính sách này để giúp Ấn Độ phát triển mối liên kết với các thị trường mới nổi ở Đông Á và Đông Nam Á. Chính sách “Hướng Đông” nhằm thu hút nhiều nhất có thể đầu tư và hợp tác từ các nước châu Á – Thái Bình Dương. Sự can dự vốn chỉ giới hạn ở khía cạnh kinh tế, nhưng sau đó được mở rộng sang khía cạnh chiến lược. Để đạt được mục tiêu này, Ấn Độ đã tăng cường liên kết thể chế và quốc phòng với ASEAN. Năm 2014, Thủ tướng Narendra Modi đưa ra chính sách “Hành động hướng Đông”, tăng cường sự can dự của Ấn Độ với các nước Đông Nam Á cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Chính quyền Modi đã nhận thấy những thiếu sót của các thể chế do ASEAN lãnh đạo trong việc hạn chế hành vi ép buộc của Trung Quốc. Do đó, Ấn Độ đã tiếp cận khu vực này thông qua một lăng kính thực tế hơn. Áp dụng cách tiếp cận cân bằng quyền lực, nước này hiện đã tham gia Bộ tứ với hy vọng có thể kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, đối tác kinh tế chính của Ấn Độ rơi vào tình trạng suy yếu. Liên Xô không còn khả năng cung cấp hỗ trợ phát triển cho Ấn Độ ở mức như trong Chiến tranh Lạnh. Tình hình kinh tế của Ấn Độ cũng bấp bênh vì nước này đang trên bờ vực vỡ nợ. Chính quyền Rao bắt đầu tiến hành cải cách nhằm tự do hóa nền kinh tế. Trong quá trình tự do hóa, New Delhi đã tìm kiếm các đối tác thương mại và đầu tư mới. Việc kinh tế Đông Nam Á ngày càng phát triển và uy tín của ASEAN với tư cách là một tổ chức quốc tế ngày càng tăng đã mang lại cho Ấn Độ nhiều đối tác tiềm năng. Do đó, Ấn Độ đã đặt mục tiêu phát triển các liên kết kinh tế và thể chế với Đông Nam Á. Đối với nhiều người ở New Delhi, việc Ấn Độ tự do hóa kinh tế sẽ giúp thúc đẩy các cơ hội kinh tế với ASEAN. Phát biểu với phái đoàn doanh nghiệp Đông Nam Á năm 1993, Ngoại trưởng Ấn Độ Jyotindra Nath Dixit nêu rõ: “Tự do và thuận lợi hóa thương mại là trọng tâm của Hiến chương ASEAN. Chúng tôi muốn tiến hành đối thoại nhằm thúc đẩy sự kết nối theo hướng đôi bên cùng có lợi giữa quá trình này với quá trình tự do hóa thương mại của chính Ấn Độ”. Ấn Độ trở thành đối tác khu vực của ASEAN vào năm 1992 và sau đó là đối tác đối thoại đầy đủ vào năm 1996. Năm 2002, Ấn Độ và các thành viên ASEAN đã cam kết xây dựng một thỏa thuận thương mại tự do (FTA) nhằm mục đích từng bước tự do hóa và thúc đẩy thương mại hàng hóa và dịch vụ, cũng như tạo ra một cơ chế đầu tư minh bạch, tự do và thuận lợi. Ấn Độ và ASEAN cũng đã tổ chức các cuộc họp cấp cao hàng năm vào tháng 11/2002. Năm 2012, Ấn Độ và ASEAN đã nâng cấp quan hệ hai bên lên thành quan hệ đối tác chiến lược.

Những liên kết kinh tế này đã mang lại lợi ích to lớn cho cả hai bên. Quan hệ thương mại và đầu tư giữa Ấn Độ và ASEAN đang phát triển ổn định, trong đó ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ tư của Ấn Độ. Theo một báo cáo của Bộ Ngoại giao Ấn Độ, năm 2018, kim ngạch thương mại của Ấn Độ với ASEAN đạt 81,33 tỷ USD, chiếm khoảng 10,6% tổng kim ngạch thương mại của nước này. Cùng năm, kim ngạch xuất khẩu của Ấn Độ sang ASEAN chiếm 11,28% tổng kim ngạch xuất khẩu. Hơn nữa, trong giai đoạn từ năm 2000 đến tháng 8/2018, ASEAN chiếm khoảng 18,28% dòng vốn đầu tư vào Ấn Độ. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ ASEAN vào Ấn Độ từ tháng 4/2000 đến tháng 3/2018 đạt khoảng 68,91 tỷ USD trong khi dòng vốn FDI từ Ấn Độ vào các nước ASEAN từ tháng 4/2007 đến tháng 3/2015 đạt khoảng 38,672 tỷ USD.

Trong khi quan hệ kinh tế ngày càng phát triển, quan hệ an ninh của Ấn Độ với ASEAN cần thêm một thời gian nữa mới chín muồi. Sự dịch chuyển từ mối quan hệ kinh tế thuần túy sang mối quan hệ tập trung vào an ninh được thúc đẩy bởi hai thay đổi đáng kể trong môi trường an ninh của Ấn Độ. Thứ nhất, khi kinh tế phát triển, sự phụ thuộc của Ấn Độ vào các tuyến thương mại trên biển và các tuyến đường biển thông thoáng trở nên quan trọng đối với lợi ích của nước này. Học thuyết hàng hải của Ấn Độ do Hải quân Ấn Độ công bố vào năm 2009 là minh chứng cho thực tế này. Các điểm tắc nghẽn ở Đông Nam Á, đặc biệt là các eo biển Malacca, Sunda và Lombok cũng như Singapore, đã trở thành những khu vực được quan tâm hàng đầu của hải quân nước này. Học thuyết hàng hải Ấn Độ cũng xác định Đông-Nam Ấn Độ Dương, bao gồm các tuyến đường biển đến Thái Bình Dương và các vùng ven biển lân cận, biển Nam Trung Hoa và biển Hoa Đông, Tây Thái Bình Dương và các vùng ven biển ở đó là những khu vực tiếp theo cần được quan tâm. Thứ hai, việc Trung Quốc tăng cường hành động trong khu vực khiến Ấn Độ hết sức lo lắng. Tranh chấp biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc khó có thể được giải quyết sớm, và Trung Quốc tiếp tục là đồng minh trung thành của Pakistan. Hải quân Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc cũng đã thâm nhập Ấn Độ Dương bằng cách xây dựng các cảng ở Myanmar và Pakistan.

Khi môi trường an ninh thay đổi, Ấn Độ đã tăng cường can dự thể chế với ASEAN. Nước này công nhận vai trò quan trọng của ASEAN trong việc xây dựng một cấu trúc an ninh có thể duy trì sự ổn định trong khu vực. Năm 1996, Ấn Độ tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), được xây dựng vào năm 1994 với sự tham gia của một nhóm các quốc gia chú trọng vào các vấn đề chính trị và an ninh ở châu Á – Thái Bình Dương. Kể từ đó, Ấn Độ là một phần của Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN+. Năm 2003, Ấn Độ tham gia Hiệp ước thân thiện và hợp tác với ASEAN, một công cụ quan trọng chi phối các chuẩn mực hành vi ở châu Á – Thái Bình Dương. Thủ tướng Ấn Độ các nhiệm kỳ cũng đã tái khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN đối với cấu trúc an ninh châu Á.

Đối với Ấn Độ, vai trò trung tâm của ASEAN đã được cụ thể hóa thành hai quan điểm chính sách quan trọng. Thứ nhất, Ấn Độ chấp nhận ASEAN là nền tảng thể chế duy nhất của các mối quan hệ an ninh ở Đông Nam Á. Thứ hai, ASEAN sẽ dẫn dắt quá trình xây dựng mọi cơ chế an ninh mới trong khu vực. Như Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh đã tuyên bố vào năm 2012, ASEAN đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng và thúc đẩy các cấu trúc, thể chế kinh tế và an ninh đang nổi lên trong khu vực. Như Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh đã tuyên bố vào năm 2012, ASEAN đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng và thúc đẩy các cấu trúc, thể chế kinh tế và an ninh đang nổi lên trong khu vực. Vị trí trung tâm và vai trò lãnh đạo của ASEAN là những yếu tố cần thiết cho sự thành công của các diễn đàn ARF và EAS, và Ấn Độ hoàn toàn ủng hộ ASEAN với tư cách là trụ cột của những nỗ lực này. Tuy nhiên, sự can dự của Ấn Độ với các nước ASEAN trong lĩnh vực an ninh không như kỳ vọng. Năm 2012, giáo sư Raja Mohan đã viết: “Khi Việt Nam và Philippines kêu gọi sự hỗ trợ rõ ràng từ phía Ấn Độ trong các tranh chấp lãnh thổ của hai nước với Trung Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Salman Khurshid đã ra dấu hiệu thái độ thận trọng và loại trừ sự can thiệp của Ấn Độ vào các tranh chấp trên. Điều này cho thấy rõ khoảng cách thực sự giữa kỳ vọng của các nước ASEAN với vai trò an ninh của Ấn Độ trong khu vực”.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên, Chính quyền Modi đã đi theo cách tiếp cận của chính quyền tiền nhiệm, đề cao vai trò trung tâm của ASEAN khi tổ chức này tự giải quyết bất đồng nội bộ xoay quanh các hành động quyết đoán của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa. Tại Hội nghị cấp cao thường niên Ấn Độ – ASEAN năm 2015, Thủ tướng Modi phát biểu: “ASEAN vừa thúc đẩy, vừa dẫn dắt tiến trình hợp tác và hội nhập khu vực. Và theo quan điểm của Ấn Độ, các giá trị và vai trò lãnh đạo của ASEAN sẽ vẫn là tâm điểm của quá trình hội nhập trên khắp châu Á – Thái Bình Dương”.

Tuy nhiên, đến cuối nhiệm kỳ đầu tiên của Thủ tướng Modi, luận điệu của Ấn Độ bắt đầu thay đổi. Thứ nhất, Ấn Độ bắt đầu nhấn mạnh sự cần thiết của việc thống nhất nội bộ ASEAN. Phác thảo cách tiếp cận của Ấn Độ đối với Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vào năm 2018, Thủ tướng Modi tuyên bố rõ ràng: “Sự thống nhất của ASEAN là điều cần thiết để đảm bảo một tương lai ổn định cho khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Hơn nữa, Ấn Độ ngày càng nghi ngờ việc ASEAN thiếu vật lực và động lực để chống lại sức mạnh cũng như ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Do đó, Ấn Độ đã chuyển trọng tâm sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Bộ tứ. ASEAN vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng Ấn Độ không còn chỉ xem xét cách tiếp cận an ninh đối với khu vực qua lăng kính của ASEAN. Các quan chức Ấn Độ không còn coi vai trò trung tâm của ASEAN là điểm tựa thể chế hay kỳ vọng vào vai trò lãnh đạo của tổ chức này. Thông cáo báo chí về những bình luận của Ngoại trưởng Ấn Độ tại EAS năm 2020 cho thấy nước này ngày càng quan tâm đến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương như một không gian hàng hải tự do và có trật tự mà trong đó, ASEAN giữ vai trò trung tâm. Mặc dù trong các thông cáo báo chí trước đây của Bộ tứ, Ấn Độ đã tái khẳng định sự ủng hộ vững chắc của các thành viên đối với vai trò trung tâm của ASEAN và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt trong cấu trúc khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nhưng hội nghị bộ trưởng gần đây chỉ nhấn mạnh sự ủng hộ rõ ràng đối với tính gắn kết và vai trò trung tâm của ASEAN. Do đó, ASEAN chủ yếu vẫn là bên liên quan đến quá trình chuyển đổi địa chính trị đang diễn ra trong khu vực, nhưng không phải là bên tham gia giữ vai trò trung tâm và càng không phải là bên tham gia duy nhất.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện nghiên cứu Nam Á, Quỹ hòa bình Sasakawa, tháng 10/2021

CVĐQT – số 11/2021