“Vòng ngọc bích” đối phó với “Chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc – Phần cuối


Tây Tạng

Tây Tạng là một vấn đề nhức nhối đối với Trung Quốc. Vị thế của Tây Tạng thay đổi theo những thăng trầm của Trung Quốc. Đáng chú ý là nó chưa bao giờ bất biến. Nếu Trung Quốc suy yếu, Tây Tạng có thể có quyền tự trị lớn hơn. Ngược lại, nếu Tây Tạng có quyền tự trị, Trung Quốc sẽ bắt đầu suy yếu. Nếu chính quyền lưu vong Tây Tạng tiếp tục điều hành từ Ấn Độ, Trung Quốc sẽ không hài lòng. Đây là cơ hội mà Ấn Độ có thể tận dụng. Vào thời điểm hiện tại, cơ hội này cần phải được mở rộng thêm chút nữa.

Tân Cương

Tây Tạng và Tân Cương tạo thành cửa sau đầy bất ổn của Trung Quốc. Thế giới đang quan sát điểm nóng nằm sâu trong nội địa này của Trung Quốc và cách thức. Trung Quốc giam hãm người Duy Ngô Nhĩ. Liệu có cần phải hỗ trợ người Duy Ngô Nhĩ hay không? Câu trả lời tất nhiên là có.

Mông Cổ

Mông Cổ chỉ là một vùng đệm giữa Nga và Trung Quốc. Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, Mông Cổ buộc phải trở thành vệ tinh của Trung Quốc. Trung Quốc là đối tác thương mại chính của Mông Cổ. Cho đến gần đây, Mông Cổ vẫn tỏ ra hài lòng và vẫn buộc phải núp bóng Trung Quốc trong một chừng mực nào đó. Trong thập kỷ qua, nước này dường như đã có một sự thay đổi chiến lược, bao gồm cả việc quan hệ của họ với Ấn Độ đang ấm dần lên. Thương mại giữa Ấn Độ và Mông Cổ đã tăng gấp nhiều lần. Gần đây, Ấn Độ đã khánh thành một nhà máy hóa dầu ở nước này. Mông Cổ kiên quyết ủng hộ Ấn Độ ứng cử vị trí thành viên thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ấn Độ cần mở rộng hợp tác này tại sân sau của Trung Quốc.

Eo biển Malacca

Eo biển Malacca là điểm mấu chốt của chiếc “Vòng ngọc bích”. Ảnh hưởng của nó từ quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ – được mệnh danh là “tàu sân bay không thể chìm” đã làm trầm trọng thêm tình thế tiến thoái lưỡng nan của Trung Quốc.

Tuyến thứ hai – tuyến tạm thời

Dân chủ

Trung Quốc vô cùng lo lắng về vấn đề dân chủ. Điểm yếu của Trung Quốc ở Hong Kong đã rõ ràng. Trung Quốc không thể giải quyết vấn đề dân chủ và các quyền tự do đi kèm với nó. Trung Quốc hiểu rằng dân chủ là một loại virus làm bùng phát một cuộc cách mạng. Ấn Độ có thể cân nhắc việc cử những phái đoàn gồm các chính trị gia lớn tiếng tới Trung Quốc trong khuôn khổ các cuộc trao đổi giữa nhân dân hai nước. Họ sẽ làm những việc cần thiết để phát tán loại virus này.

Tôn giáo

Vấn đề tôn giáo đang quay trở lại Trung Quốc, nơi kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tôn giáo. Tuy nhiên, tôn giáo là một linh hồn tự do và không thể bị kiểm soát. Phật giáo đang nổi lên như là tôn giáo chính và lan truyền ở Trung Quốc. Ấn Độ là cái nôi của Phật giáo trên toàn thế giới. Sức mạnh mềm của Bodh Gaya và Sarnath đang chờ để được khai thác. Bên cạnh Phật giáo là Hồi giáo với những tác động hoàn toàn về mặt tâm lý đối với Trung Quốc. Sự nhạy cảm và phản ứng thái quá của Trung Quốc được bộc lộ rõ ràng trên toàn thế giới thông qua cách nước này đối xử với người Duy Ngô Nhĩ và người theo đạo Hồi.

Tuyến thứ ba – tuyến tăng cường

Quan hệ đối tác chiến lược Mỹ – Ấn

Quan hệ đối tác chiến lược Mỹ – Ấn ngày càng phát triển là công cụ trực tiếp để kiềm chế Trung Quốc. Khi quan hệ đối tác này phát triển, không gian hành động của Trung Quốc giảm đi. Tuy nhiên, nó sẽ kích hoạt một chu kỳ hợp tác và cạnh tranh giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Cách thức Ấn Độ lèo lái mối quan hệ đối tác này sẽ là một vấn đề đáng chú ý trong tương lai. Đây sẽ là một tuyến vô cùng quan trọng trong chiến lược “Vòng ngọc bích”. Nó sẽ củng cố và tăng cường chiến lược này.

Bộ tứ

Bộ tứ vẫn đang phát triển. Cho dù hình thức hoạt động là gì thì chỉ riêng quá trình tư duy và giai đoạn trước khi hình thành nhóm này cũng sẽ có tác động nhất định. Việc các bộ trưởng ngoại giao của các nước trong Bộ tứ nhóm họp bên lề chuỗi sự kiện của Đại hội đồngg Liên hợp quốc mới kết thúc gần đây là một bước đi đáng chú ý.

Tuyến thứ tư – tuyến thu hẹp không gian

ASEAN

Ấn Độ đã tiến một bước dài từ chỗ chỉ là nước đứng ngoài quan sát ASEAN. Việc các nhà lãnh đạo ASEAN trở thành khách mời danh dự tại Lễ diễu hành kỷ niệm 69 năm ngày thành lập nước Cộng hòa Ấn Độ là sự kiện đáng chú ý. Quan hệ đối tác với ASEAN đã mở rộng sang các lĩnh vực như an ninh, kinh tế, thương mại, văn hóa và nông nghiệp. Sự mở rộng can dự như vậy đã làm thu hẹp không gian của Trung Quốc. Hơn nữa, có thể thấy rất rõ từ góc nhìn của nhân dân hai nước rằng cán cân đang nghiêng về phía một Ấn Độ không can thiệp thay vì một Trung Quốc hiện đang chi phối. Sức mạnh mềm rất có khả năng đem lại những kết quả đáng kể. Quan hệ đối tác này sẽ ngày càng phát triển.

Các quốc đảo Thái Bình Dương

Sự can dự gần đây của Thủ tướng Modi với đại diện của các quốc đảo Thái Bình Dương có ý nghĩa quan trọng. Các quốc đảo Thái Bình Dương bao gồm Fiji, Cộng hòa Kiribati, Cộng hòa quần đảo Marshall, Nhà nước liên bang Micronesia, Cộng hòa Nauru, Cộng hòa Palau, Nhà nước độc lập Papua New Guinea, Nhà nước độc lập Samoa, quần đào Solomon, Vương quốc Tonga, Tuvalu và Cộng hòa Vanuatu. Việc đối thoại với các quốc gia – dân tộc nhỏ bé này ở Thái Bình Dương sẽ gia tăng ảnh hưởng của Ấn Độ và làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực Thái Bình Dương.

Tuyến thứ năm – tuyến tấn công trực tiếp

BRI

Ấn Độ là một trong số ít các quốc gia đã công khai xa lánh và phản đối bộ đôi BRI – CPEC ngay từ khi mới hình thành. Giới chiến lược hiện đều công nhận rằng Ấn Độ không tham gia tất cả các diễn đàn BRI. Đây không phải một vấn đề nhỏ nhặt. Ngay cả Trung Quốc cũng đã tìm cách xoa dịu Ấn Độ trong vấn đề này bằng cách đề xuất các cơ chế thay thế. Cuộc gặp thượng đỉnh không chính thức giữa Thủ tướng Modi và Chủ tịch Tập Cận Bình là kết quả trực tiếp của lập trường này.

Chính sách “Một Trung Quốc”

Ấn Độ đã kiên quyết từ chối công nhận chính sách “Một Trung Quốc”. Chính sách này là giấc mơ thầm kín của Trung Quốc. Chỉ riêng sự tồn tại của Đạt Lai Lạt Ma ở Ấn Độ cũng là một sự phủ nhận đối với chính sách này. Đây là chính sách thâm hiểm mà giới chiến lược Ấn Độ thường không hiểu. Chắc chắn chính sách này sẽ tiếp tục trong tương lai và sẽ là một thành phần quan trọng trong ngoại giao Trung Ấn và thỏa thuận chiến lược giữa hai bên.

Kết luận

Trung Quốc muốn có một thế giới đa cực chứ không phải một châu Á đơn cực mà trong đó nước này là cực duy nhất. Học thuyết “Chuỗi ngọc trai” có lẽ do một nhà tâm lý học nào đó của Trung Quốc khởi xướng và được một vài người tin tưởng hoàn toàn, tiếp tục củng cố quan điểm này. Đã đến lúc phải ngăn chặn làn sóng đó. Nhiều nước ở châu Á thừa nhận sự tăng trưởng và vai trò đối trọng của Ấn Độ. Có nhiều không gian để kiềm chế Trung Quốc nếu chúng ta có được một chính sách. Từ đó khái niệm “Vòng ngọc bích” đã được đưa ra. Nhiều người sẽ bác bỏ nó và cho rằng một ý tưởng như vậy là quá tầm với Ấn Độ. Kể từ khi chính sách Hành động hướng Đông được đưa ra, nhiều yếu tố trong chiến lược “Vòng ngọc bích” đã xuất hiện. Hãy cân nhắc chúng. Nếu không phải vì tầm quan trọng của Ấn Độ trong kế hoạch của Trung Quốc thì Tập Cận Bình hẳn là sẽ không tới đây để tham dự một cuộc gặp thượng đỉnh không chính thức. Đó cũng là bằng chứng cho thấy Trung Quốc rất coi trọng Ấn Độ. Chiến lược “Vòng ngọc bích” chỉ là tấm gương phản chiếu của “Chuỗi ngọc trai”. Nó là có thật. Nếu được thực hiện nghiêm túc, chiến lược này sẽ củng cố nỗ lực của Ấn Độ trong việc đối phó với Trung Quốc từ nhiều hướng. Đây là một trận đấu mà hai bên vừa tấn công vừa phòng thủ. Ấn Độ không nên đánh giá thấp bản thân.

Nguồn: www.sniwire.com – 12/10/2019

TLTKĐB – 22/10/2019

“Vòng ngọc bích” đối phó với “Chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc – Phần đầu


P.R. Shanka

Với việc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Mamallapuram để tham dự cuộc gặp thượng đỉnh không chính thức với Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, đã đến lúc phải có cái nhìn thực tế về mối quan hệ Trung – Ấn. Đã xuất hiện rất nhiều bài báo về cách thức thúc đẩy quan hệ song phương Trung – Ấn. Không có vấn đề gì với tất cả những nguyên tắc cơ bản và mối quan hệ tuyệt vời giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Narendra Modi. Mặc dù những hoạt động nhằm tạo ra sự hòa hợp này nên tiếp diễn, nhưng Ấn Độ vẫn cần phải có cái nhìn thấu đáo vào thực tế để tăng cường chiến lược dài hạn nhằm đối phó với Trung Quốc. Thực tế quan hệ Trung – Ấn sau sự cố Doklam, cho dù có bỏ qua những tranh cãi và sự thù địch trong quá khứ, vẫn khá ảm đạm. Trung Quốc tiếp tục ngăn cản Ấn Độ gia nhập Nhóm các nước cung cấp hạt nhân (NSG). “Chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc ngày một lớn mạnh. Tình trạng mất cân bằng thương mại lan rộng. Trung Quốc đang hỗ trợ Pakistan trong tất cả các hoạt động của nước này. Pakistan là con rối bị Trung Quốc giật dây để chống lại Ấn Độ. Hành lang kinh tế Trung Quốc – Pakistan (CPEC) tiếp tục phát triển, bất chấp những quan ngại về chủ quyền của Ấn Độ. Trung Quốc đã nhiều  lần cản trở Liên hợp quốc tuyên bố Masood Azhar là phần tử khủng bố. Họ đã chuyển hướng dòng chảy của sông Brahmaputra với thái độ hoàn toàn thiếu tôn trọng các nước khác. Tuyên bố chung Trung Quốc – Pakistan được đưa ra ngay trước khi cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tập Cận Bình và Narendra Modi diễn ra cũng không giúp thúc đẩy lòng tin giữa hai nước. Tất cả những điều này củng cố tuyên bố của Shri George Fernandes: Trung Quốc là kẻ thù số một của Ấn Độ.

Chiến lược “Vòng ngọc bích”

Phần lớn các chuyên gia đều phân tích Trung Quốc từ quan điểm lấy Ấn Độ làm trung tâm. Nếu nhìn nhận Trung Quốc một cách khách quan, thì sẽ thấy một số tùy chọn thú vị đã xuất hiện. Một phương án hấp dẫn là đáp trả “Chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương bằng một “Vòng ngọc bích” gồm nhiều tuyến. Theo quan điểm của tác giả, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Macau, Việt Nam, Tây Tạng, Gilgit-Baltistan, Tân Cương và Mông Cổ hình thành nên tuyến đầu tiên của “Vòng ngọc bích”. Tuyến thứ hai là tôn giáo và dân chủ. Tuyến thứ ba là quan hệ đối tác chiến lược Mỹ – Ấn và Bộ Tứ Tuyến thứ tư là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các quốc đảo Thái Bình Dương. Tuyến thứ năm là sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) và chính sách “Một Trung Quốc”. Và chiếc hộp chứa đựng chiếc “Vòng ngọc bích” này là chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ. Hãy cùng tìm hiểu một số thành tố trong các tuyến này.

Tuyến đầu tiên – tuyến chính

Nhật Bản

Trong lịch sử, quan hệ Trung – Nhật vốn mang tính đối kháng. Trước đó, hai nước là kẻ thù của nhau, nhưng hiện quan hệ song phương đã hòa dịu hơn. Ở cấp chính phủ, hai nước có quan hệ thương mại phát triển nhanh chóng bất chấp các tranh chấp lãnh thổ trên biển Hoa Đông. Ở cấp nhân dân, giữa hai nước tiềm ẩn mối bất hòa, căm ghét hoặc thù địch lẫn nhau. Nhìn chung, Nhật Bản vẫn cảnh giác trước các ý đồ của Trung Quốc, giống như các nước còn lại trên thế giới. Mặt khác, mối quan hệ Nhật Bản – Ấn Độ ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cả hai nước đều có lợi ích chung trong việc chống lại sự tấn công dữ dội của Trung Quốc. Đây không phải là một bí mật hay một sự giác ngộ. Nhật Bản là yếu tố chủ chốt trong chiến lược “Vòng ngọc bích”.

Việt Nam

Quan hệ Trung – Việt luôn biến động. Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giành độc lập từ tay Pháp và Mỹ. Cả hai nước đều có chung ý thức hệ cộng sản và tự do trao đổi thương mại với nhau. Tuy nhiên, hai nước có các tranh chấp lãnh thổ tại quần đảo Trường Sa ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Việt Nam coi Ấn Độ là hàng rào ngăn cách tự nhiên với Trung Quốc và cần Ấn Độ vì nhiều thứ. Việt Nam tin tưởng Ấn Độ và đã trao cho Ấn Độ một bãi đá ở biển Nam Trung Hoa. Quan hệ Việt – Ấn đang phát triển. Mối quan hệ này rất cần phải được nâng cấp lên thành quan hệ đối tác hợp tác và chiến lược. Việt Nam và Nhật Bản là bàn đạp thúc đẩy mọi hoạt động của Ấn Độ ở biển Hoa Đông và biển Nam Trung Hoa.

Đài Loan

Đài Loan là trở ngại trước ngưỡng cửa của Trung Quốc và là khu vực rắc rối số một của Trung Quốc. Đài Loan đã chống lại mọi nỗ lực của Trung Quốc nhằm nuốt trọn quần đảo này theo chính sách “Một nước, hai chế độ” đang được áp dụng ở Hong Kong. Cơn ác mộng tồi tệ nhất của Trung Quốc là Đài Loan tuyên bố độc lập. Quan hệ thương mại mạnh mẽ nhưng tất cả các mối quan hệ còn lại đều yếu ớt và mang tính thù địch. Đài Loan cũng là bàn đạp đầu tiên mà Trung Quốc phải nắm giữ được, cho dù là khó, để vượt ra ngoài chuỗi đảo thứ nhất của mình nhằm thống trị biển Nam Trung Hoa. Quần đảo Trường Sa bị tranh chấp không tạo điều kiện dễ dàng cho Trung Quốc. Cho dù có tăng cường sức mạnh cho Đài Loan thì Trung Quốc vẫn bị kiềm chế. Khi phân tích trong bối cảnh rộng hơn, có thể thấy Trung Quốc phải đối mặt với một vấn đề hóc búa. Nếu họ vượt qua kênh đào này để chiếm lấy Đài Loan, thì cửa sau của họ là Tây Tạng sẽ bị bỏ ngỏ. Nếu họ băng qua dãy Himalaya, thì cửa trước của họ là Đài Loan sẽ bị hở. Theo đánh giá của tác giả, Trung Quốc không thể làm cả hai việc này. Do đó, điều Ấn Độ cần phải làm là nâng cấp quan hệ Ấn Độ – Đài Loan. Điều này đang diễn ra.

Hàn Quốc

Quan hệ Trung – Hàn đi theo quỹ đạo quen thuộc là tăng cường thương mại nhưng lại thiếu lòng tin. Hàn Quốc là một trong những nước cuối cùng công nhận Trung Quốc. Vấn đề của họ là Trung Quốc đang hỗ trợ Triều Tiên. Hai nước có tranh chấp lãnh thổ trên biển Hoa Đông. Quan hệ Ấn Độ – Hàn Quốc đã và đang phát triển trên nhiều phương diện và quy mô khác nhau. Mối quan hệ này cần được nâng lên cấp chiến lược để mang lại giá trị tốt hơn. Một thực tế khác là Ấn Độ là một trong số ít các quốc gia có quan hệ ngoại giao với Triều Tiên. Trong một kịch bản có thay đổi. Ấn Độ sẽ đóng một vai trò lớn nếu hai miền Triều Tiên thống nhất trong tương lai gần.

Hong Kong – Macau

Hong Kong và Macau là các đảo thuộc chủ quyền của Trung Quốc, và từng là thuộc địa của Anh và Bồ Đào Nha. Hai đặc khu này hoạt động theo mô hình “Một nước, hai chế độ”. Nỗ lực của Trung Quốc trong việc hợp nhất hoàn toàn các vùng lãnh thổ này theo chính sách “Một Trung Quốc” đang vấp phải sự phản kháng chưa từng có ở Hong Kong. Trung Quốc rất cảnh giác với các đặc khu này kể từ khi cả hai có được trải nghiệm về nền dân chủ. Tất cả những gì Ấn Độ phải làm là giúp đỡ các “nền dân chủ” này bằng bất cứ cách nào dù chỉ là trên danh nghĩa.

Gilgit-Baltistan

Gilgit-Baltistan là một con dao hai lưỡi. Nếu đụng vào nó thì cả Pakistan và Trung Quốc đều sẽ bị tổn hại. Chỉ cần bộc lộ ý định rõ ràng về việc chiếm lại khu vực này là sẽ gây sức ép đối với việc trao trả bất hợp pháp thung lũng Skaksgam cho Trung Quốc và CPEC. Một số bước đi ngoại giao và việc triển khai sức mạnh mềm sẽ mang lại các kết quả to lớn, trong đó việc làm chuyển hướng sự chú ý khỏi Điều 370. Các động thái của Ấn Độ nhằm bãi bỏ Điều 370 và tuyên bố chủ quyền đối với vùng Kashmir do Pakistan chiếm đóng đã được các nhà phân tích chiến lược quốc tế coi là các yếu tố làm thay đổi cuộc chơi.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.sniwire.com – 12/10/2019

TLTKĐB – 22/10/2019

Bản đồ du lịch châu Á đang thay đổi vì bất ổn chính trị


Theo tờ Nikkei Asia Review, những bất ổn về chính trị trong mùa Hè này đang tái định hình bản đồ du lịch châu Á, khi nhiều du khách Hàn Quốc và Trung Quốc từ bỏ các điểm đến ưa thích trước đó như Nhật Bản và Hong Kong để tìm đến các quốc gia Đông Nam Á.

Tình trạng căng thẳng đang gia tăng trong mối quan hệ thương mại giữa Tokyo và Seoul, các cuộc biểu tình ở Hong Kong (Trung Quốc) cùng với các chiến dịch quảng bá tích cực của nhiều quốc gia Đông Nam Á chính là nguyên nhân dẫn tới những thay đổi này.

Trong nửa đầu năm 2019, số lượng du khách Hàn Quốc tới Đông Nam Á đã tăng gần 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Con số này có thể tiếp tục tăng trong các kỳ nghỉ lễ sắp tới. Chỉ tính riêng trong tháng Sáu, số lượng du khách Hàn Quốc tới Malaysia đã tăng mạnh sau khi Kuala Lumpur tích cực quảng bá hình ảnh thông qua các hãng lữ hành và các phương tiện truyền thông, đồng thời mời những người có ảnh hưởng với giới trẻ tới nước này. Các hình ảnh và thông tin do những người có ảnh hưởng đăng tải trên mạng xã hội đã giúp thu hút những du khách trẻ tuổi.

Cùng với Malaysia, cả Việt Nam và Philippines đều chứng kiến tốc độ tăng trưởng 2 con số về số lượng du khách Hàn Quốc đến thăm. Đối với Việt Nam, lý do chủ yếu là khoảng 150.000 người Hàn Quốc đang sống ở nước này, nơi có hai nhà máy lớn của Samsung Electronics – tập đoàn đang chiếm gần 1/4 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Một hãng lữ hành ở Hà Nội cho biết Việt Nam là một quốc gia quen thuộc với người Hàn Quốc.

Bên cạnh đó, khoảng cách gần gũi về địa lý là một nhân tố khác đóng góp vào sự tăng trưởng số lượng du khách Hàn Quốc đến Việt Nam. Chuyến bay từ Seoul đến Đà Nẵng thường mất khoảng 4 tiếng rưỡi vá điều này khiến Đà Nẵng trở nên thuận tiện hơn so với Phuket của Thái Lan hay Bali của Indonesia. Chính phủ Hàn Quốc dự định sẽ mở lãnh sự quán ở Đà Nẵng vào cuối năm nay để phục vụ các du khách tại đây.

Trong nỗ lực thu hút khách du lịch, Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) bắt đầu giảm giá 30% cho các du khách đến từ Đông Á tại các cửa hàng miễn thuế và khu mua sắm lớn. Chiến dịch giảm giá này sẽ kéo dài cho đến cuối tháng 10 năm nay. Các du khách đến từ Đông Á vẫn được biết đến là những người thích mua sắm. Vì vậy, Phó Tổng cục trưởng TAT Chattan Kunjara Na Ayudhya cho biết, ông hy vọng rằng chiến dịch này sẽ giúp nâng doanh thu của ngành du lịch Thái Lan.

Tuy nhiên, kết quả khảo sát của công ty thương mại điện tử Wemakeprice cho thấy Đà Nẵng vẫn là điểm đến được ưa chuộng nhất đối với các du khách Hàn Quốc trong các kỳ nghỉ lễ Chuseok của Hàn Quốc. Tiếp theo là Bangkok và Guam. Vị trí của các điểm đến ở Nhật Bản như Tokyo và Okinawa đã bị rớt trên bảng xếp hạng.

Trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 7/2019, số lượng du khách Hàn Quốc tới Nhật Bản đã giảm 4% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó chỉ riêng trong tháng Bảy, mức giảm đã lên tới 8%. Nhiều du khách Hàn Quốc đã tẩy chay tất cả những gì liên quan đến Nhật Bản, do tình trạng căng thẳng trong quan hệ Nhật – Hàn khởi đầu từ vấn đề lao động cưỡng ép đã lan sang lĩnh vực thương mại.

Tất cả 8 hãng hàng không của Hàn Quốc đều đã cắt giảm số lượng chuyến bay đến và đi từ Nhật Bản trong bối cảnh nhu cầu giảm. Hơn 60 chuyến bay đã bị tạm ngừng hoặc hủy bỏ. Thay vào đó, các hãng này đã tăng số lượng các chuyến bay tới khu vực Đông Nam Á.

Korean Air dự định sẽ tăng thêm 7 chuyến bay giữa Seoul và sân bay quốc tế Clark ở thủ đô Manila của Philippines trong tháng 10 cũng như tăng số lượng chuyến bay tới Đà Nẵng của Việt Nam và Bali của Indonesia. Trong khi đó, các hãng hàng không Asiana Airlines và Air Seoul cũng có kế hoạch tăng gấp đôi số lượng chuyến bay tới Đà Nẵng trong các tháng tới.

Tại Trung Quốc, các cuộc biểu tình ở Hong Kong có vẻ như đã ảnh hưởng rất lớn. Trong 6 tháng đầu năm 2019, số lượng du khách Trung Quốc tới Đông Nam Á đã tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi số lượng du khách Trung Quốc tới Hong Kong giảm 31% vào đầu tháng Tám. Vùng lãnh thổ Đài Loan (Trung Quôc cũng đang mất vị thế trên bản đồ du lịch châu Á do tình trạng căng thẳng đang gia tăng với đại lục. Chính phủ Trung Quốc đã ngừng cấp giấy thông hành cá nhân cho Đài Loan trong tháng 8 như một thông điệp gửi tới nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn, người đang cố gắng tăng cường quan hệ với Mỹ.

Các nhà chức trách Đài Loan dự báo số lượng du khách Trung Quốc tới vùng lãnh thổ này sẽ giảm 400.000 lượt người trong nửa cuối năm nay. CBRE ước tính thiệt hại kinh tế cho Đài Loan sẽ lên tới khoảng 630 triệu USD.

Các số liệu thống kê của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cho thấy Hàn Quốc chiếm khoảng 5% số lượng du khách tới khu vực này  và đứng thứ ba trong số các thị trường du lịch ngoài ASEAN, sau Trung Quốc và Liên minh châu Âu (EU).

Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc (UNTWO), các du khách Trung Quốc đã chi 277 tỷ USD cho các chuyến du lịch nước ngoài năm 2018, đứng đầu thế giới. Về số tiền mà du khách chi trả cho các chuyến du lịch nước ngoài, Hàn Quốc đứng thứ 2 ở châu Á và thứ 9 trên toàn thế giới, với tổng số tiền là 32 tỷ USD.

Nguồn: TKT – 17/09/2019

Nhật Bản có thể trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất” của một cuộc chiến tiền tệ


Ngày 6/8, hãng tin Kyodo News đã đăng bài phân tích cảu tác giả Tomoyuki Tachikawa với tiêu đề “Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung có thể leo thang thành cuộc chiến tiền tệ”, trong đó bày tỏ quan ngại về khả năng cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung có thể leo thang thành cuộc chiến tiền tệ và Nhật Bản có thể trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất” của cuộc chiến tiền tệ này.

Các nhà giao dịch nhận định trong bối cảnh hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới này sẽ lắng dịu, thị trường ngoại hối toàn cầu chắc chắn sẽ tiếp tục phản ứng trước bất cứ phát biểu hay động thái nào của Mỹ và Trung Quốc trong thời gian tới.

Các nhà phân tích cho rằng Nhật Bản, với đồng Yen được coi là một tài sản an toàn trong thập kỷ qua, sẽ gặp rắc rối với các tranh chấp thương mại và tiền tệ đang gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc. Ông Masanobu Ishikawa, Tổng Giám đốc Tokyo Forex & Ueda Harlow – một công ty kinh doanh ngoại hối, nói: “Chúng ta không thể dự đoán Tổng thống Trump sẽ làm gì tiếp theo. Điều chúng ta có thể nói bây giờ là sự hỗn loạn trên thị trường tiền tệ có thể sẽ kéo dài trong một thời gian, và Nhật Bản sẽ bị thiệt hại từ sự hỗn loạn này”.

Một đồng NDT yếu hơn thường giúp thúc đẩy xuất khẩu bằng cách giúp cho hàng hóa của các công ty Trung Quốc rẻ hơn khi xuất khẩu sang các nước khác, đồng thời làm tăng doanh thu bằng đồng NDT ở nước ngoài. Chuyên gia kinh tế trưởng Junichi Makino của Công ty Chứng khoán SMBC Nikko, nói: “Nếu Trung Quốc cố gắng giảm thiểu tác động tiêu cực của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung bằng cách bằng cách hạ giá đồng bản tệ, cuộc chiến thương mại giữa hai cường quốc kinh tế này có thể sẽ chuyển thành một cuộc chiến tiền tệ”.

Một nhà kinh doanh ngoại hối nói: “Không thể loại trừ khả năng Tổng thống Trump sẽ can thiệp vào thị trường tiền tệ để hạ giá đồng bạc xanh của Mỹ”.

Mỹ vẫn chưa can thiệp vào thị trường tiền tệ kể từ năm 2011, thời điểm khi Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7) tiến hành một hành động chung để giúp bình ổn giá của đồng Yen sau trận động đất kinh hoàng tháng 3 năm đó ở Nhật Bản, và tránh các tác động tiềm tàng lên thị trường tài chính toàn cầu.

Ông Ishikawa nhận định Mỹ hầu như không có cơ hội kiểm soát tỷ giá USD vì Washington đang thúc giục Bắc Kinh không làm như vậy. Tuy nhiên, ông nói: “Tôi không thể nói là “tuyệt đối không”. Tổng thống Trump có thể làm bất cứ điều gì mà ông ấy có thể để thách thức Trung Quốc”. Nếu các quan ngại về một cuộc chiến tiền tệ đang lan rộng trên thị trường ngoại hối, Nhật Bản, nước có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu, có thể sẽ trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất”.

Cùng chung nhận định đó, chuyên gia Makino cho rằng đồng Yen của Nhật Bản đang tăng giá khi nhiều nhà giao dịch đã bán các tài sản rủi ro hơn, trong đó có chứng khoán, và đổ xô mua vào các tài sản an toàn hơn trong bối cảnh triển vọng kinh tế toàn cầu đang mờ mịt hơn.

Hôm 6/8, đồng Yen đã ngừng tăng giá nhưng đồng tiền này vẫn đứng ở mức cao nhất trong 7 tháng, trên ngưỡng 105 Yen/USD. Việc đồng Yen tăng giá sẽ làm giảm giá hàng nhập khẩu, khiến cho Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe gặp nhiều khó khăn hơn trong việc thực hiện mục tiêu đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng thiểu phát đã kéo dài nhiều thập kỷ qua và gây khó khăn cho Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) trong việc thực hiện mục tiêu nâng tỷ lệ lạm phát ở nước này lên 2%.

Trong tháng 6/2019, chỉ số giá tiêu dùng lõi của Nhật Bản (không bao gồm sự biến động của giá thực phẩm tươi sống) đã tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, các số liệu thống kê mới nhất của Chính phủ cho thấy đà tăng của chỉ số này vẫn thấp nhất trong gần 2 năm qua do giá dầu giảm. Trong tình hình như vậy, có những đồn đoán về khả năng BOJ sẽ nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ để kích thích nền kinh tế và chặn đà tăng giá của đồng Yen.

Tuy nhiên, Thủ tướng Abe đã cam kết tăng thuế tiêu dùng từ mức 8% hiện nay lên 10% vào đầu tháng 10/2019 để giúp khôi phục sự lành mạnh tài chính của nước này trong bối cảnh nợ công đang ở mức cao nhất trong số các nền kinh tế phát triển. Điều này làm gia tăng dự đoán rằng chi tiêu và đầu tư của khu vực tư nhân sẽ giảm. Các nhà kinh tế cho rằng nếu nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới đối mặt với áp lực suy thoái, giá cổ phiếu sẽ giảm và điều này có thể làm đẩy nhanh nhu cầu tìm đến đồng Yen như một nơi trú ẩn an toàn.

Nguồn: TKNB – 08/08/2019

Trung Quốc có thể “gây ra hậu quả đáng sợ” cho trật tự khu vực


Tờ Thời báo Nhật Bản vừa đăng bài phân tích có tựa đề “Trung Quốc có thể chiếm quần đảo Senkaku” của tác giả Jesse Johnson về sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc và khả năng Bắc Kinh có thể chiếm quần đảo Senkaku mà Nhật Bản đang kiểm soát. Trong bài viết, tác giả nhận định, sức mạnh quân sự đang gia tăng của Trung Quốc ở châu Á có thể gây ra “những hậu quả đáng sợ” cho trật tự khu vực do Mỹ dẫn dắt.

Trong báo cáo công bố hôm 19/8, Trung tâm Nghiên cứu Mỹ thuộc Đại học Sydney nhận định, kho tên lửa hùng mạnh của Trung Quốc có thể khuyến khích Bắc Kinh “trong tương lai gần” chiếm quần đảo Senkaku mà Nhật Bản đang kiểm soát và các vùng lãnh thổ khác nằm trong chuỗi Ryukyu.

Báo cáo này nhấn mạnh một thập kỷ “cấp vốn chậm trễ và không thể dự báo trước” cho ngân sách quốc phòng của Mỹ khiến Washington mất ưu thế ở khu vực Tây Thái Binh Dương và tạo ra lợi thế cho Bắc Kinh. Trung Quốc đã nghiên cứu thấu đáo phương thức chiến tranh của Mỹ, nhất là ở khu vực Trung Đông, và triển khai “một lực lượng tên lửa có sức mạnh kinh khủng và có độ chính xác cao cũng như các hệ thống chống lại sự can dự để làm suy yếu sự thống trị của quân đội Mỹ trong khu vực”.

Trung Quốc đã gia tăng, nâng cấp và mở rộng một cách có hệ thống kho tên lửa và các bệ phóng trong một chương trình mà Chính quyền Mỹ coi là “chương trình phát triển tên lửa đạn đạo tích cực nhất và đa dạng nhất trên thế giới”.

Bên cạnh đó, tại sa mạc Gobi, Bắc Kinh có vẻ như đang thực hành tấn công phủ đầu bằng tên lửa đối với các căn cứ tiền đồn của Mỹ, vốn đang là chỗ dựa cho sức mạnh quân sự của Washington ở khu vực Tây Thái Bình Dương, bằng cách sử dụng các mô hình chi tiết các cơ sở quân sự quan trọng của Mỹ ở Nhật Bản như căn cứ hải quân ở Yokosuka, tỉnh Kanagawa, căn cứ không quân ở Kadena, tỉnh Okinawa, và căn cứ Misawa ở tỉnh Aomori.

Theo báo cáo trên, việc huy động nhanh chóng một lực lượng hạn chế với những vũ khí này sẽ dựa trên giả thuyết đạt được một thắng lợi đã rồi, nhất là tại khu vực xung quanh Đài Loan, bán đảo Nhật Bản hoặc tuyến đường biển ở khu vực Đông Nam Á trước khi Mỹ có thể phản ứng.

Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nhiều lần đặt dấu hỏi về hệ thống đồng minh của Mỹ và các cam kết quốc tế cũng như sự thống trị về kinh tế của nước này cho dù không nơi nào rõ ràng hơn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Với khẩu hiệu “nước Mỹ trên hết”, Tổng thống Trump đã xa lánh các nước đồng minh lâu năm của Washington, đồng thời yêu cầu các đồng minh này phải chi thêm tiền cho các binh sĩ và căn cứ của Mỹ đang đồn trú ở đó và dọa rút quân khỏi nước đó nếu tình trạng “bất bình đẳng” đ1o vẫn không được giải quyết.

Dù không nêu đích danh Tổng thống Trump nhưng báo cáo trên ca ngợi chính quyền của ông này vì biết cách lo xa cũng như đánh giá cao những ưu tiên về chi tiêu quốc phòng của chính quyền này. Tuy nhiên, báo cáo này cũng chỉ ra các khó khăn mà các liên minh của Mỹ sẽ phải đối mặt trong một cuộc xung đột với Trung Quốc. Báo cáo có đoạn: “Sự phân nhánh ngày càng lớn hơn của việc Trung Quốc đặt các nước khác vào việc đã rồi sẽ hủy hoại cán cân sức mạnh ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và sự ổn định của liên minh và hệ thống đối tác của Mỹ. Về mặt trực tiếp, việc Trung Quốc nắm giữ các vị trí chiến lược như các giao điểm trọng yếu trên quần đảo Ryukyu sẽ giúp cho PLA có các lợi thế quân sự quan trọng”.

Theo báo cáo này, các lợi thế đó có thể bao gồm sự đe dọa ngày càng tăng đối với các lực lượng Mỹ và khu vực, khả năng sử dụng sức mạnh ở biển Hoa Đông và Đài Loan, và khả năng chia cắt Nhật Bản khỏi các đối tác an ninh ở phía Tây Nam trong một cuộc khủng hoảng.

Bất cứ thất bại nào trong nỗ lực phòng ngừa một cuộc tấn công của Trung Quốc vào một vùng lãnh thổ của đồng minh sẽ làm gia tăng các quan ngại về khả năng và sự sẵn sàng của Mỹ để hành động như một người bảo trợ an ninh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Báo cáo nhấn mạnh: “Mặc dù Mỹ có thể sẽ, nhưng không chắc chắn, chiếm ưu thế trong một cuộc chiến tranh mở rộng nhưng sự leo thang đến mức độ đó sẽ rất nguy hiểm và tốn kém về chi phí. Do các lợi ích của Mỹ về việc đảm bảo an ninh cho các đồng minh về cơ bản chỉ là thứ yếu…, cuối cùng, Washington có thể can thiệp nhưng sự can thiệp đó không có giá trị”.

Nguồn: TKNB – 23/08/2019

Căng thẳng Hàn – Nhật có thể còn kéo dài


Theo tờ Korea Herald, căng thẳng trong quan hệ Hàn Quốc – Nhật Bản có thể sẽ tiếp diễn trong một thời gian do cả hai bên không muốn nhượng bộ. Quan hệ Seoul – Tokyo đã rơi xuống mức tồi tệ sau quyết định của Tokyo áp dụng các hạn chế xuất khẩu nguyên liệu công nghiệp quan trọng sang Hàn Quốc, do đó làm tăng thời gian xử lý thủ tục nhập khẩu lên 90 ngày.

Nhật Bản tuyên bố rằng những thay đổi làm chậm tiến độ nhập khẩu các nguyên liệu như nhiệt dẻo (fluorinated polyimide) đã được thực hiện để đối phó với việc Seoul để các nguyên liệu có khả năng gây nguy hiểm này lọt vào Triều Tiên. Tuy nhiên, Hàn Quốc xem những thay đổi này là sự trả đũa phán quyết của Tòa án Tối cao Hàn Quốc vốn có lợi cho những người bị buộc lao động cho các công ty Nhật Bản trong giai đoạn 1938 – 1945.

Trong khi một số người ở Hàn Quốc hiểu động thái của Nhật Bản là một mưu đồ nhằm củng cố sự ủng hộ phe bảo thủ trước cuộc bầu cử Thượng viện Nhật Bản ngày 21/7, ông Abe dường như cũng không bớt cứng rắn sau khi giành chiến thắng trong cuộc bầu cử này. Ông Abe phát biểu trong một cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình Asahi TV ngày 21/7: “Nếu Hàn Quốc không đưa ra câu trả lời thích đáng về việc vi phạm Thỏa thuận giải quyết khiếu nại, thì các cuộc thảo luận mang tính xây dựng sẽ không thể thực hiện được”.

Thủ tướng Abe đã đề cập đến thỏa thuận Hàn Quốc – Nhật Bản ký năm 1969, theo đó Nhật Bản đã viện trợ tài chính và vật chất cho Hàn Quốc để bồi thường cho việc chiếm đóng Bán đảo Triều Tiên trong nửa đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, Tòa án Tối cao Hàn Quốc đã ra phán quyết trong những năm gần đây rằng thỏa thuận này không chấm dứt quyền của cá nhân đòi bồi thường cho những mất mát của họ dưới thời Nhật Bản chiếm đóng.

Ông Abe cũng tái khẳng định các biện pháp thương mại này không phải là sự trả đũa, và rằng Nhật Bản chỉ đang quản lý việc “mua bán các mặt hàng liên quan tới an ninh”. Thủ tướng Nhật Bản cũng cho rằng Seoul đã bác bỏ những lời kêu gọi của Tokyo tiến hành đàm phán các vấn đề liên quan trong 3 năm qua. Ông Abe còn ngụ ý rằng Hàn Quốc đã phá vỡ lòng tin giữa hai bên. Phủ Tổng thống Hàn Quốc đã đáp lại những tuyên bố này, nghi ngờ những lý lẽ của Chính phủ Nhật Bản biện minh cho các biện pháp hạn chế xuất khẩu.

Phát ngôn viên Nhà Xanh, bà Ko Min-jung, tuyên bố “(Chính phủ Hàn Quốc) đã liên tục gợi ý việc theo đuổi một cách tiếp cận hai đường, đó là tách biệt quá khứ và tương lai trong quan hệ Hàn – Nhật”. Bà nói Seoul đã đáp trả các tuyên bố của Nhật Bản về chuyện nguyên liệu công nghiệp nhập khẩu từ Nhật Bản lọt vào Triều Tiên, cũng như các vấn đề được đưa ra trong phán quyết của Tòa án Tối cao về bồi thường cho các lao động bị cưỡng ép.

Bà Ko Min-jung nói thêm: “(Nhật Bản) đã nêu các vấn đề an ninh, sau đó là các vấn đề lịch sử rồi lại nêu các vấn đề an ninh. Hôm nay, (ông Abe) một lần nữa đề cập đến các vấn đề lịch sử, song tôi nghĩ Nhật Bản nên chú ý tới đường lối đối ngoại”. Theo bà, việc hai nước hợp tác là có lợi nhất cho người dân Hàn Quốc và Nhật Bản.

Khi Hàn Quốc và Nhật Bản tiếp tục “lạc nhịp”, khả năng Thủ tướng Hàn Quốc Lee Nak-yon đóng vai trò lớn hơn trong vấn đề này đã được chú ý. Ý tưởng cử ông Lee đến Nhật Bản với tư cách một Đặc phái viên đã được nêu trong chính trường, trong đó có cả ý kiến của nhà lập pháp kỳ cựu Park Jie-won từ đảng đối lập nhỏ Hòa bình Dân chủ.

Chỉ vài giờ sau khi trở về nước ngày 22/7, ông Lee đã gặp Ngoại trưởng Kang Kyung-wha và nhà soạn thảo chính sách hàng đầu Kim Sang-jo để thảo luận các vấn đề liên quan, tiếp tục thúc đẩy những suy đoán rằng ông sẽ đóng vai trò trực tiếp hơn. Tuy nhiên, Nhà Xanh đã nhiều lần tuyên bố mặc dù tất cả các biện pháp còn để ngỏ, bao gồm lựa chọn cử một Đặc phái viên đến Nhật Bản, song tất cả các bước đi sẽ được xem xét cẩn trọng.

Đảng Dân chủ cầm quyền của Hàn Quốc đagn thực hiện một đường lối cứng rắn hơn, coi các hành động của Nhật Bản là một “cuộc xâm lược kinh tế”, và đi xa hơn khi nói rằng Nhật Bản không thể tìm kiếm một sự thay đổi chính quyền ở Hàn Quốc”. Chủ tịch đảng Dân chủ Đồng hành Lee Hae-chan phát biểu ngày 22/7: “Cuộc xâm lược kinh tế của Nhật Bản sẽ bắt đầu. Chính phủ, đảng và nhân dân Hàn Quốc phải có quyết tâm phi thường trong việc đối phó với sự chuyên chế của Nhật Bản, nước đang gây mất ổn định, thậm chí trật tự an ninh khu vực”.

Quan chức này cho hay Nhật Bản dự kiến sẽ tiến hành các biện pháp tiếp theo vào cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 tới. Ngày 19/7, ông Lee tuyên bố các động thái của Nhật Bản chỉ có thể đdược hiểu là một nỗ lực làm suy yếu chính quyền Moon Jae-in, trích dẫn bài báo trên nhật báo Asahi Shimbun. Bài báo đã dẫn lời một quan chức Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản cho biết các biện pháp hạn chế thương mại sẽ được duy trì chừng nào ông Moon Jae-in vẫn nắm quyền ở Hàn Quốc.

Nguồn: TKTTK – 24/07/2019

Những thay đổi lớn và triển vọng tình hình Bán đảo Triều Tiên – Phần cuối


3/ Xu thế phát triển của tình hình bán đảo

Hiện nay, Mỹ và Triều Tiên đang đàm phán về thỏa thuận từ bỏ hạt nhân, việc thực hiện từ bỏ hạt nhân cuối cùng phụ thuộc vào sự thành công của thỏa thuận. Như đã nói ở trên, một mặt, Mỹ và Triều Tiên bất đồng nghiêm trọng trong các vấn đề như hình thức từ bỏ hạt nhân, nội dung từ bỏ hạt nhân và xây dựng cơ chế hòa bình…, việc đạt được thỏa thuận là tương đối khó khăn, mấu chốt của việc đạt được thỏa thuận từ bỏ hạt nhân là Mỹ phải đưa ra quyết định chính trị (giống như việc xử lý vấn đề hạt nhân Iran trong thời kỳ Obama); Mặt khác, trong trường hợp Mỹ và Triều Tiên đạt được thỏa thuận từ bỏ hạt nhân (Mỹ và Triều Tiên hai lần đạt được thỏa thuận liên quan đến hạt nhân vào năm 1994 và 2005), nhân tố then chốt của sự phát triển tình hình tiếp theo là Mỹ liệu có thực thi thỏa thuận một cách trung thực hay không, điều này phụ thuộc vào sự lựa chọn chiến lược của Mỹ chứ không chỉ ở nhân tố cá nhân Trump. Đương nhiên, trong việc thực thi thỏa thuận một cách cụ thể còn sẽ đối mặt với vấn đề mang tính kỹ thuật phức tạp, như các vấn đề nhạy cảm liên quan đến an ninh quốc gia như kê khai (nội dung và phạm vi kê khai), xác minh (tính xâm phạm của xác minh), tiêu hủy (bảo vệ bí mật vũ khí)…, một chút sơ suất sẽ nảy sinh bất hòa nghiêm trọng thậm chí dẫn đến đảo ngược tình hình.

Mặc dù vấn đề từ bỏ hạt nhân của Triều Tiên tạm thời chưa thể thực hiện, thì cục diện tình hình bán đảo trong tương lai tiếp tục theo chiều hướng tốt và ổn định hòa bình và tổng thể vẫn có thể duy trì, điều không chỉ vì sự điều chỉnh đáng kể và chuyển hướng phát triển của chính sách quốc gia Triều Tiên, mà cũng phụ thuộc vào nhận thức chung và nỗ lực hành động của các nước liên quan đối với việc duy trì sự ổn định của tình hình bán đảo. Trong số đó, tác dụng và vai trò của Hàn Quốc vô cùng quan trọng. Là một bên của cộng đồng vận mệnh lợi ích Hàn – Triều của bán đảo, cũng là một bên của quan hệ đồng minh quân sự Mỹ – Hàn, Hàn Quốc vừa có thể chủ động lựa chọn hành động với Triều Tiên, chi phối quan hệ liên Triều, lại có thể kiềm chế hành động quân sự của Mỹ – Hàn, gây ảnh hưởng đối với tình hình an ninh bán đảo. Mặc dù Hàn Quốc không phải bên chi phối trong quan hệ đồng minh quân sự Mỹ – Hàn, nhưng có ảnh hưởng quan trọng đối với hành động quân sự thậm chí là địa vị đóng quân của Mỹ – Hàn. Hàn Quốc nên làm rõ một đạo lý: trong cục điện bán đảo hiện nay, bảo đảm an ninh cho Hàn Quốc là mục tiêu cao nhất đặt trên tất cả, các lựa chọn chiến lược chính trị khác bao gồm đồng minh quân sự với Mỹ…, chỉ là biện pháp để thực hiện mục tiêu cao nhất này chứ không phải là mục đích. Nếu bằng cách cải thiện quan hệ với Triều Tiên, xoa dịu tình hình bán đảo để có thể từng bước thực hiện mục tiêu này, mà việc tăng cường quan hệ quân sự với Mỹ dẫn đến việc Triều Tiên đẩy mạnh xây dựng vũ lực, nâng cao mức độ chuẩn bị chiến đấu ngược lại còn làm suy yếu mục tiêu này, như vậy, Hàn Quốc phải có lựa chọn đúng đắn. Trong tình hình hiện nay, Hàn Quốc không chỉ cần phải tiếp tục cải thiện quan hệ với Triều Tiên, đồng thời cùng phải kiềm chế các hành vi gây xáo trộn, tổn hại đến tình hình bán đảo của Mỹ (như tăng cường các biện pháp trừng phạt, diễn tập quân sự…), để ủng hộ Triều Tiên tiếp tục con đường hòa dịu, từ bỏ hạt nhân, bảo đảm rằng tình hình bán đảo tiếp tục phát triển theo hướng tốt lên.

Duy trì hòa bình ổn định của bán đảo cũng phù hợp với lợi ích chung của các nước Đông Bắc Á khác như Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, các nước Đông Bắc Á có trách nhiệm và nghĩa vụ cùng nỗ lực bảo vệ cục diện tốt đẹp đang nảy sinh trên bán đảo, cần phải có sự đồng thuận cao độ về vấn đề này. Để làm được điều này, trước hết, các nước cần phải phản ứng một cách tích cực sự điều chỉnh chính sách của Triều Tiên, thông qua ngoại giao chính trị ủng hộ hành động từ bỏ hạt nhân của Triều Tiên, ủng hộ nỗ lực xoa dịu quan hệ giữa Hàn Quốc và Triều Tiên, thúc giục Mỹ với Triều Tiên đạt được thỏa thuận từ bỏ hạt nhân và thực hiện thỏa thuận một cách chân thực, thúc đẩy tiến trình phi hạt nhân hóa bán đảo; Thứ hai, nỗ lực tìm cách phát triển quan hệ song phương với Triều Tiên, cải thiện môi trường quốc tế của Triều Tiên, khuyến khích Triều Tiên theo con đường mở cửa đối ngoại, hội nhập với thế giới; Cuối cùng, dựa trên những hành động đóng băng và từ bỏ hạt nhân mà Triều Tiên chủ động thực hiện, dưới tiền đề Hội đồng Bản an Liên hợp quốc thúc đẩy nới lỏng các lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên và không vi phạm nghị quyết của Hộ đồng Bảo an Liên hợp quốc, nỗ lực hỗ trợ Triều Tiên xây dựng kinh tế, đồng thời đặt Triều Tiên vào sự phát triển kinh tế khu vực Đông Bắc Á, thúc đẩy nhất thể hóa kinh tế Đông Bắc Á, từ đó có thể phát huy vai trò quan trọng.

Kết luận

Năm 2018 là một năm quan trọng của sự phát triển tình hình bán đảo Triều Tiên, bán đảo đối mặt với vấn đề lựa chọn chiến tranh hay hòa bình. Năm 2019 này lại đối mặt với một vấn đề quan trọng, là liệu có nắm bắt được cơ hội phi hạt nhân bán đảo và phát triển bán đảo theo chiều hướng tốt hay không. Về việc này, một mặt, vấn đề là thực hiện phi hạt nhân hóa chủ yếu phụ thuộc vào Mỹ liệu có thể đưa ra quyết sách chiến lược hay không; mặt khác, việc duy trì cục diện bán đảo theo hướng tích cực sẽ phụ thuộc vào các bên đặc biệt là sự phát huy via trò của Hàn Quốc, sự nỗ lực và đồng thuận của Trung Quốc, Nga, Nhật Bản cũng rất quan trọng.

Nguồn: www.iwep.org.cn

CVĐQT – số 03/2019