Nhật Bản sẽ đấu tranh pháp lý như thế nào với Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc?


Theo JB Press ngày 19/2, trước việc Trung Quốc ban hành Luật Hải cảnh mới cho phép sử dụng vũ khí trong “trường hợp cần thiết”, Nhật Bản cần điều chỉnh tiêu chí sử dụng vũ khí của lực lượng chức năng được quy định trong luật, tương ứng với tiêu chí của thế giới. Nếu không sẽ khó có thể ngăn chặn được hành vi xâm lược của phía Trung Quốc.

Ngày 1/2, Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc chính thức có hiệu lực, trong đó quy định thẩm quyền cho phép sử dụng vũ khí đối với lực lượng Hải cảnh nước này. Điều này thu hút sự chú ý của giới truyền thông Nhật Bản và thế giói. Nội dung cụ thể quy định trong Điều 22 Luật Hải cảnh mới nêu rõ: “Khi chủ quyền quốc gia, quyền chủ quyền và quyền tài phán Trung Quốc bị các cá nhân và tổ chức nước ngoài xâm phạm phi pháp hoặc đối diện mối nguy cấp bách bị xâm phạm phi pháp, theo luật này và các luật liên quan khác, lực lượng Hải cảnh có quyền áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết, gồm sử dụng vũ khí, để chặn đứng hành vi xâm phạm và loại trừ mối nguy”.

Như vậy, tàu tuần tra của lực lượng Hải cảnh Trung Quốc có thể sử dụng vũ khí nhằm vào các tàu nước ngoài (tàu ngầm Mỹ hoặc tàu tuần tra của Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản). Điều này dẫn đến lo ngại về khả năng phát sinh xung đột vũ trang trên biển. Việc lực lượng Hải cảnh Trung Quốc có thể sủ dụng vũ khí tại “vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc” và “lãnh hải Trung Quốc” có thể xem là tương ứng với tiêu chuẩn sử dụng vũ khí của thế giới. Tuy nhiên, các điều khoản liên quan của Luật này lại không xác định rõ đâu là khu vực thuộc “quyền tài phán của Trung Quốc”, đây chính là vi phạm luật pháp quốc tế.

Về mặt lý thuyết, Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản có trách nhiệm vụ đối phó với các hoạt động xâm phạm lãnh hải của Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư (còn gọi là “vùng xám”). Trong trường hợp Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản không thể kiểm soát đuọc tình hình, Thủ tướng Nhật Bản có quyền điều động Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản phối hợp đảm bảo an ninh. Tuy nhiên, hiện vẫn có một số hạn chế về tiêu chuẩn sử dụng vũ khí đối với các lực lượng này theo Hiến pháp Nhật Bản.

Theo đó, Điều 7 của Luật thực thi nhiệm vụ của sỹ quan cảnh sát quy định sử dụng vũ khí gây hại cho đối phương trong các trường hợp: (i) Phòng vệ chính đáng hoặc cứu nạn khẩn cấp; (ii) Trấn áp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; (iii) Thi hành lệnh bắt. Như vậy, có thể thấy quy định này đã hạn chế nhất định trong việc triển khai ứng phó của lực lượng chức năng Nhật Bản trước hành động xâm phạm chủ quyền của tàu Hải cảnh Trung Quốc tại khu vực “vùng xám”.

Tác giả bài viết cho rằng, Nhật Bản cần nghiên cứu để sửa đổi Luật An ninh lãnh hải nhằm tăng quyền hạn cho Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản và cho phép sự tham gia của Lực lượng Phòng vệ trên Biển Nhật Bản, trong đó quy định tiêu chí được phép sử dụng vũ khí phải tương ứng với tiêu chí của thế giới hiện nay.

Một số ý kiến cho rằng, Nhật Bản không nên củng cố các thể chế liên quan để tránh bị Trung Quốc tạo cớ nhằm củng cố lập trường cứng rắn đối với Nhật Bản. Tuy nhiên, làm như vậy sẽ dẫn đến một chính sách mang tính “xoa dịu” đối với Trung Quốc hay còn gọi là chính sách ứng phó “kiểu thỏa hiệp”. Lịch sử đã chứng minh chính sách “xoa dịu” của cựu Thủ tướng Anh Chamberlain đối với Đức trong những năm 1930 là một thất bại. Chính vì vậy, Nhật Bản nên cho thấy quyết tâm cao, sẵn sàng đương đầu với xung đột vũ trang với một quốc gia đã bộc lộ ý đồ xâm phạm chủ quyền một cách phi pháp. Tất nhiên, không nên cố đẩy việc leo thang căng thẳng không cần thiết vì vẫn còn giải pháp ngoại giao. Trước mắt, cần liên hệ chặt chẽ với cộng đồng quốc tế, nhất là Mỹ để kiềm chế hành vi phi pháp và thái độ ngạo mạn của phía Trung Quốc.

Sau khi thông tin trên được đăng tải, nhiều cư dân mạng Mỹ đã viết trên mạng xã hội: “Hãy nhìn xem, đây là thế giới thực tế mà Donald Trump đã gây ra sau 4 năm nhậm chức. Đây là hậu quả xấu xa mà ông ta gieo rắc”. Ngoài ra, một số cư dân mạng Iran bình luận trên các mạng xã hội rằng “cái này gọi là “gậy ông đập lưng ông”, “lấy độc trị độc”. Từ trước tới nay, Mỹ luôn thích dùng “tập trận chung” để gây rối tình hình ở Biển Đông và Đông Âu. Bây giờ thì đến lượt chúng ta”.

Nguồn: TKNB – 22/02/2021.

Kim Jong-un đối mặt với phép thử lớn


Khi Kim Jong-un, nhà độc tài thế hệ thứ ba của Triều Tiên, viết một lời chúc mừng ngắn và sáo rỗng gửi tới người dân của mình để “tô điểm” cho số đầu tiên của tờ nhật báo Rodong Sinmun thuộc quản lý của nhà nước, điều này đã kích động hàng loạt suy đoán trong giới chuyên gia nghiên cứu Bình Nhưỡng về những gì mà Kim Jong-un đã không làm. Kể từ khi thành lập nhà nước cộng sản, một sản phẩm gần như là thường niên là một thông điệp năm mới dài dòng của nhà lãnh đạo đất nước, trong đó ca ngợi những thành tích mà chế độ đạt được và những vinh quang sắp tới.

Giống như cách các hoàng đế Trung Hoa thực hiện những nghi thức Nho giáo, bài diễn văn cũng khẳng định vị trí của dòng họ Kim trên đỉnh của một trật tự quy tắc thiêng liêng. Khác với cha và ông, Kim Jong-un, lên cầm quyền từ năm 2011, có một đặc điểm là luôn tự mình đưa ra các bài phát biểu. Tuy nhiên, năm 2020, ông chỉ đăng tải một bài diễn văn dài nhạt nhẽo, và năm nay không có một lời ca tụng nào cả. Phải chăng Kim Jong-un lúc đó đang chuẩn bị cho một kỳ đại hội quan trọng của Đảng Lao động Triều Tiên, một sự kiện mới chỉ được tổ chức lần thứ hai kể từ năm 1980? Hội nghị kín đầy mập mờ này đã được tổ chức vào ngày 5/1 mà không có một bài diễn văn mang tính nghi thức nào từ vị lãnh đạo, mà thay vào đó là một sự thẳng thắn thừa nhận thất bại. Ông Kim Jong-un đã thừa nhận rằng những mục tiêu của kế hoạch kinh tế 5 năm của đất nước ông, được khởi động từ năm 2016 và hứa hẹn những điều cao siêu, đã “không được như mong đợi trong hầu hết tất cả các lĩnh vực”.

Mặc dù vương triều họ Kim được dựng lên nhờ những câu chuyện hoang đường, song ông không thể dễ dàng che đậy mọi thứ. Những hệ quả kinh tế của năm ngoái tại một đất nước vốn đã khó khăn quả thực rất thảm khốc. Thương mại sụt giảm khoảng 80% (chỉ 1,6 triệu USD hàng hóa chính thức đi qua đường biên giới với Trung Quốc trong tháng 10). Những thị trường không chính thức và doanh nghiệp tư mà hàng triệu người dân Triều Tiên phải dựa vào đó hiện phải vật lộn để bù đắp chỗ hổng. Tình trạng thiếu thốn đang ngày càng gia tăng, trong khi giá rau củ và hoa quả tăng chóng mặt. Theo thông tin trên trang nk News tại Seoul, ngay cả các siêu thị hạng sang ở Bình Nhưỡng, thủ đô lý tưởng của người dân, cũng thiếu thốn đường, dầu ăn và kem đánh răng.

Biện pháp đóng cửa các đường biên giới từ đầu năm 2020 để đối phó với đại dịch COVID-19 được ưu tiên hàng đầu trong chính sách ngoại giao phong tỏa cô lập của Triều Tiên. Đối với cả hai hành động tự hại bản thân mình này, lỗi đều thuộc về Kim Jong-un. Ông đã tính toán rằng các vụ thử tên lửa và hạt nhân mang tính khiêu khích của mình sẽ buộc Mỹ phải đàm phán. Chiến lược này đôi lúc cũng có vẻ hiệu quả với Tổng thống Donald Trump, người đã bày tỏ sự ngưỡng mộ với lãnh đạo Triều Tiên. Tuy nhiên, Kim Jong-un đã quá liều lĩnh. Các cuộc đàm phán thất bại còn các lệnh trừng phạt thì ngày càng siết chặt. Có lẽ ông hy vọng rằng một nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump có thể tạo điều kiện cho mối quan hệ cá nhân giữa hai lãnh đạo một lần nữa được phát huy. Thế nhưng, ông sẽ phải đối diện với một Joe Biden điềm đạm hơn.

Về đại dịch COVID-19, Kim Jong-un coi đây là một mối đe dọa đối với chế độ và đã cho đóng cửa đường biên giới trọng yếu với Trung Quốc – các lính gác ở biên giới thậm chí còn bắn súng vào những con cò vì cho là chúng mang mầm bệnh sang đất nước họ. Hệ thống y tế nghèo nàn của đất nước chắc hẳn không thể chống đỡ được đại dịch. Trong khi đó, như tác giả Benjamin Katzeff Silberstein đã chỉ ra trên Diễn đàn Đông Á của trường Đại học Quốc gia Australia, việc tiếp nhận các nhà dịch bệnh học nước ngoài có thể khiến đất nước có nguy cơ bị nước ngoài do thám và gây ảnh hưởng bằng những hệ tư tưởng xấu xa.

Tuy nhiên, phản ứng cực đoan này phải trả một cái giá rất lớn về mặt nhân đạo. Theo chuyên gia Andrei Lankov của trường Đại học Kookmin tại Seoul, nền kinh tế Triều Tiên dường như “đã bắt đầu tuột dốc thảm hại” và nạn đó một lần nữa bao trùm mảnh đất này.

Nếu thực sự quan tâm đến người dân của mình, Kim Jong-un nên tiếp nhận vaccine của nước ngoài dù là kèm theo sự hỗ trợ của những thành phần bên ngoài trong việc phân bổ và quản lý chúng. Đại hội đảng cũng nên khởi động những mô hình cải cách thị trường vốn đã mở đường cho Trung Quốc và Việt Nam tiến bước vào con đường tăng trưởng (và cũng là điều mà Triều Tiên đã có lúc muốn thử dấn thân trong giai đoạn đầu Kim Jong-un lên cầm quyền). Tuy nhiên, khả năng cao là đại hội sẽ mở ra một kỷ nguyên mới của sự kiểm soát nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân, và điều này thậm chí gây tổn hại nhiều hơn nữa đến kế sinh nhau của người dân. Chuyên gia Lankov cho rằng chế độ đang phải đối mặt với phép thử lớn nhất của mình kể từ sau nạn đói cách đây 20 năm do sự thiếu năng lực của người cha và người ông quá cố của Kim Jong-un. Trong phép thử đó, chế độ đã sống sót bất chấp những cái chết của hơn 500.000 người Triều Tiên. Tuy nhiên, ngày nay, người dân đã biết đến thế giới bên ngoài nhiều hơn. Họ ngày càng bớt tôn trọng chế độ và họ thường xuyên phải đương đầu với khó khăn mà không cần nhà nước: họ có thể sẽ phản ứng giận dữ với việc tái áp đặt sự kiểm soát từ trung ương.

Không thể nói là vương triều họ Kim đang trên bờ vực sụp đổ. Thế nhưng, ngay cả những rối loạn nhỏ nhất ở cả trong và ngoài nước đều đang được coi là một dấu chỉ báo hiệu điều này. Những nghi lễ của chế độ đang thể hiện Kim Jong-un là một người đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc và không có gì để chê trách. Đó là thông điệp mà ông sẽ sớm phải củng cố.

Nguồn: The Economist TKNB – 12/01/2021.

Nhật Bản công khai tài liệu về sự kiện Thiên An Môn – Phần cuối


Hội nghị thượng đỉnh năm 1989: Nhật Bản thỏa hiệp với từng nước để bảo vệ Trung Quốc

Tài liệu ngoại giao được công bốcho biết Nhật Bản đã có những động thái mang tính thỏa hiệp với các nước nhằm đưa vào tuyê bố chính trị của hội nghị thượng đỉnh những lời lẽ ôn hòa hơn khi chỉ trích Chính phủ Trung Quốc.

Pháp, nước chủ trì hội nghị ngày 4/7, cho rằng Chính phủ Trung Quốc đã có hành động đàn áp và hành quyết dã man. Nước này cũng kiến nghị với 4 nước châu Âu khác về các biện pháp trừng phạt đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, Nhật Bản lại có ý không chấp nhận các biện pháp trừng phạt nhằm vào Trung Quốc và khẳng định phương châm cơ bản là không nên đề cập đến điều này. Theo Nhật Bản, các nước nên cố gắng thể hiện lập trường cứng rắn, nếu họ thực sự muốn vậy, theo một cách trừu tượng nhất có thể.

Hơn nữa, Nhật Bản cũng tiếp cận và trao đổi riêng với từng nước về cách thức thể hiện ngôn từ trong tuyên bố chính trị trên cơ sở không chỉ trích nặng nề Trung Quốc và không đề cập đến trừng phạt nước này.

Tại cuộc thảo luận cấp chuyên viên diễn ra vào ngày 7/7, Nhật Bản lúc đầu cho rằng không cần thiết phải có một tuyên bố đặc biệt, trong khi tất cả các bên tham gia còn lại đều chor ằng tuyên bố chính trị là cần thiết. Sau đó, Nhật Bản yêu cầu thể hiện một cách trừu tượng nhất có thể các biện pháp trừng phạt đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, Mỹ lại cho rằng điều này là không thể, trong khi Tây Đức nhấn mạnh rằng một tuyên bố không đề cập đến các biện pháp trừng phạt cụ thể là một tuyên bố vô nghĩa.

Do đó, trong cuộc thảo luận giữa những người phụ trách đàm phán Nhật – Mỹ ngày 11/7, Nhật Bản kiến nghị tuyên bố nên chỉ rõ rằng các biện pháp trừng phạt Trung Quốc chỉ là một giải pháp thỏa hiệp chứ không có ý cô lập Trung Quốc. Tuy nhiên, Mỹ phản đối quan điểm đó bằng lập luận hành động này sẽ làm giảm uy lực của tuyên bố.

Ngày 14/7, tức một ngày trước khi tuyên bố chính trị được thông qua, Thủ tướng Nhật Bản Uno đã có cuộc trao đổi riêng với người phụ trách đàm phán phía Pháp Jacques Attali. Ông nói: “Chúng ta cần thúc đẩy cải cách chứ không phải cô lập Trung Quốc”. Jacques Attali đáp lại: “Đó là một cụm từ thông minh và không có vấn đề gì”.

Trong hội nghị ngày 15/7, Thủ tướng Nhật Bản Uno cho biết: “Điều quan trọng chúng ta cần ghi nhớ là Turng Quốc hiện nay là một Trung Quốc “yếu”. Lịch sử Trung Quốc chot hấy khi “yếu” Trung Quốc sẽ thể hiện thái độ bài ngoại vô cùng mạnh mẽ. Do đó, khi công khai tuyên bố chính trị cần hết sức cẩn trọng để không kích động tinh thần dân tộc của người dân Trung Quốc và không nên kích động thái độ cứng rắn của họ”.

Do đó, Tuyên bố cuối cùng đã phản ánh được lập trường quan điểm của Nhật Bản khi nêu rõ: “tạo điều kiện tránh cô lập Trung Quốc và để Trung Quốc mở lại các hoạt động hướng tới cải cách mở cửa về chính trị, kinh tế, hy vọng tạo điều kiện để sớm khôi phục quan hệ hợp tác sớm nhất có thể”.

Sau sự kiện Thiên An Môn, Thủ tướng Anh lo lắng về tương lai của Hong Kong

Tài liệu ngoại giao vừa được công bố cho biết, tháng 9/1989, 5 năm sau thỏa thuận Anh đồng ý trao trả Hong Kong về Đại lục, Thủ tướng Anh khi đó là Magaret Thatcher đã bày tỏ sự lo ngại về lập trường của Đặng Tiểu Bình và tương lai của Hong Kong sau khi xảy ra sự kiện Thiên An Môn.

Cụ thể, ngày 14/9, 5 ngày trước chuyến thăm Nhật Bản, Thủ tướng Thatcher đã trao đổi trong một bữa ăn tối với Đại sứ Nhật Bản tại Anh là Kazuo Chiba rằng: “Khi tôi nói chuyện với Đặng Tiểu Bình, tôi không thể hiểu được pháp luật của Chính phủ Anh sẽ được tuân thủ như thế nào khi Trung Quốc là nước nếu cần có thể thay đổi cả hệ thống pháp luật”, qua đó bày tỏ quan ngại Đặng Tiểu Bình sẽ thống trị Trung Quốc bằng luật pháp.

Sau đó, khi thăm Nhật Bản, trong trao đổi với Bộ trưởng Ngoại giao Taro Nakayama, Thủ tướng Magaret Thatcher tiếp tục đề cập: “Từ kinh nghiệm qua các cuộc nói chuyện với Đặng Tiểu Bình và Triệu Tử Dương, không thể đoán trước rằng sẽ xảy ra sự kiện gây sốc như sự kiện Thiên An Môn, một sự kiện như vậy không bao giờ được xảy ra một lần nữa”. Bà Thatcher nhấn mạnh Hong Kong có 5 triệu dân, nhưng tôi lo lắng một điều tương tự có thể sẽ xảy đến với người dân Hong Kong vào một thời điểm nào đó”.

Giáo sư Đại học Kyushu Takuma Nakajima, chuyên gia về lịch sử ngoại giao thời hậu chiến cho biết, những gì Thủ tướng Thatcher nói khi đó như thể bà đã tiên đoán được tình trạng khủng hoảng tại Hong Kong hiện nay. Rõ ràng cảm nhận của việc Đặng Tiểu Bình sẽ thống trị Trung Quốc bằng luật pháp đã được minh chứng bằng thực tế ngày nay. Đó cũng là một gợi ý rất tốt cho Nhật Bản khi thể hiện quan điểm lập trường đối với Trung Quốc vào thời điểm hiện nay.

Sự kiện Thiên An Môn là gì?

Tên gọi “sự kiện Thiên An Môn” xuất phát từ sự kiện diễn ra tại quảng trường Thiên An Môn ở thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc vào ngày 4/6/1989. Khi đó Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã dùng vũ lực để đàn áp phong trào đấu tranh đòi dân chủ của sinh viên và người dân Trung Quốc. Hậu quả là một số lượng lớn người đã thiệt mạng hoặc bị thương khi binh lính xả súng vào người dân.

Ngày 15/4/1989, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Diệu Bang từ trần. Hồ Diệu Bang được cho là người theo trường phái cải cách và từng bị cách chức trước sự tấn công của phe bảo thủ. Nhân sự kiện này, liên tục trong nhiều ngày, một lượng lớn sinh viên đã tổ chức biểu tình trước quảng trường Thiên An Môn để đòi khôi phục danh dự cho Hồ Diệu Bang, sau đó phong trào đã chuyển hóa thành biểu tình đòi dân chủ.

Tình hình đột ngột thay đổi vào ngày 26/4 khi tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã đăng một bài xã luận coi phong trào đấu tranh của sinh viên là một hành vi bạo loạn. Bài xã luận đã kích động sự phản đối mạnh mẽ và nhanh chóng lan rộng trong giới sinh viên, họ tiếp tục kêu gọi nhà chức trách Trung Quốc phải rút lại quan điểm này. Phong trào không những mở rộng quy mô lên đến hàng triệu người tham gia mà còn có những hành động quá khích.

Đảng Cộng sản Trung Quốc nhận thấy tình hình trở nên nghiêm trọng, đã ra lệnh thiết quân luật đối với thủ đô Bắc Kinh vào ngày 20/5. Sau đó, quân đội trong và xung quanh khu vực quảng trường Thiên An Môn được huy động, trong đêm ngày 3/6 rạng sáng ngày 4/6 đã sử dụng vũ lực để đàn áp biểu tình bằng cách xả súng vào người dân. Hậu quả là nhiều sinh viên đã thiệt mạng vào thời điểm này. Chính phủ Trung Quốc bị chỉ trích khi thông báo số người chết chỉ là 319, nhưng con số thực tế có thể còn cao hơn nhiều.

Nguồn: TLTKĐB – 27/12/2020.

Nhật Bản công khai tài liệu về sự kiện Thiên An Môn – Phần đầu


Theo trang tin tức của đài NHK ngày 24/12/2020, tài liệu ngoại giao được công khai hôm 23/12 vừa qua đã tiết lộ thông tin rằng trong sự kiện Thiên An Môn năm 1989, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định đưa ra phản ứng mềm mỏng đối với Trung Quốc, trái ngược hoàn toàn với phản ứng của các nước phương Tây khi đó. Giới chuyên gia Nhật Bản chỉ trích lập trường yếu đuối của Chính phủ nước này – coi đây chỉ là vấn đề nội bộ của Trung Quốc và ủng hộ chính sách cải cách mở cửa cũng như quan điểm “một Trung Quốc” ổn định sẽ có lợi cho thế giới.

Tài liệu chỉ rõ Nhật Bản chia sẻ các giá trị phổ quát về tự do và dân chủ với các nước phương Tây, đồng thời cho rằng việc Chính phủ Trung Quốc đàn áp sinh viên và người dân bằng vũ lực gây thương vong lớn nhìn từ góc độ nhân đạo là điều không thể chấp nhận được.

Mặt khác, tài liệu cũng đề cập đến lập trường của Chính phủ Nhật Bản khi đó: Theo họ, sự việc này về cơ bản chỉ là vấn đề nội bộ của Trung Quốc, nước có thể chế chính trị xã hội và quan điểm giá trị khác với Nhật Bản. Do đó, xét một cách tổng thể, việc các nước phương Tây có tạo ấn tượng rằng họ đoàn kết với nhau để theo đuổi chủ trương cô lập Trung Quốc về lâu dài không phải là một ý tưởng hay. Ngoài ra, chính các nước phương Tây cũng muốn Chính phủ Trung Quốc duy trì chính sách cải cách mở cửa. Do đó, họ cũng cần tạo điều kiện để Trung Quốc trở thành một quốc gia được cộng đồng quốc tế chấp nhận và từng bước khôi phục quan hệ với nước này.

Giáo sư Akio Takahara, chuyên gia nghiên cứu về chính trị Trung Quốc đương đại của Viện cao học chính sách công thuộc Đại học Tokyo, cho rằng việc phản đối mạnh mẽ các hoạt động vi phạm nhân quyền là điều nên làm nhưng câu hỏi đặt ra là: Làm vậy để được gì? Chính phủ Nhật Bản cho rằng nên ủng hộ Trung Quốc cải cách mở cửa và một Trung Quốc ổn định sẽ có lợi cho Nhật Bản, khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thế giới. Thế nhưng, Nhật Bản có thay đổi nhận thức này sau sự kiện Thiên An Môn?

Sau sự kiện này, Bộ Ngoại giao Nhật Bản vẫn giữ quan điểm đối lập với Mỹ là duy trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc. Tài liệu cho biết trước quan ngại từ phía Mỹ về việc Nhật Bản vẫn duy trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, một quan chức ngoại giao Nhật Bản khi đó đã phản biện: “Điều đó không có nghĩa là Nhật Bản phải cắt đứt một cách máy móc hoạt động hợp tác kinh tế với một nước phi dân chủ”.

Liên quan đến vấn đề hợp tác kinh tế với Trung Quốc, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định ngừng cung cấp viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn tháng 6/1989, nhưng đến tháng 7/1990 lại nối lại nguồn viện trợ này.

Trong một tài liệu ngoại giao công bố ngày 23/6, tức 10 ngày sau sự kiện Thiên An Môn, một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao Nhật Bản trong một cuộc hội đàm với Mỹ đã bác bỏ lo ngại của nước này khi Nhật Bản duy trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc.

Về vấn đề này, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ khi đó, Robert Forber, chỉ rõ: “Việc Chính phủ Nhật Bản lần lượt thông qua các dự án hợp tác kinh tế với Trung Quốc có thể sẽ buộc Washington phải hành động”.

Đáp lại, Vụ phó Vụ Châu Á của Bộ Ngoại giao Nhật Bản khi đó Katsuya Suzuki nói: “Chúng tôi cũng lấy làm tiếc về vụ bạo lực ở Thiên An Môn”. Đồng thời, ông khẳng định: “Tuy thế chính trị và quan niệm giá trị của các nước phương Tây khác với của Trung Quốc, nhưng điều đó không thể buộc Nhật Bản phải chấm dứt hợp tác kinh tế một cách máy móc với một quốc gia phi dân chủ”.

Cựu Đại sứ Nhật Bản tại Trung Quốc Yuji Miyamoto cho rằng những người thuộc nhóm gọi là “phái cải cách” ở Trung Quốc đã phải hứng chịu sự chỉ trích của dư luận trong nước – họ vừa bắt tay vào cải cách mở cửa thì xảy ra sự kiện Thiên An Môn. Tuy vậy, cải cách mở cửa là một lựa chọn đúng đắn và không có lý do gì để ngừng cấp ODA.

Giáo sư Aiko Takahara cho biết mặc dù Mỹ luôn nhấn mạnh vấn đề nhân quyền và hạn chế trao đổi với Trung Quốc, nhưng cách doanh nghiệp Nhật Bản vẫn duy trì giao thương với nước này. Phải chăng Mỹ lo ngại Nhật Bản và Trung Quốc có thể bắt tay với nhau sau lưng mình?

Hội nghị thượng đỉnh ngay sau sự kiện Thiên An Môn: Nhật Bản nỗ lực tránh đề Trung Quốc bị cô lập

Tài liệu mà Bộ Ngoại giao Nhật Bản vừa công khai cho thấy rõ rằng sau sự kiện Thiên An Môn, một hội nghị thượng đỉnh giữa lãnh đạo các nước phát triển đã được tổ chức nhằm thông qua một tuyên bố chính trị lên án gay gắt Trung Quốc. Khi đó, Chính phủ Nhật Bản đã đề xuất một tuyên bố với lời lẽ ôn hòa nhằm tránh việc Trung Quốc bị cô lập.

Theo đó, ngay sau sự kiện Thiên An Môn vào tháng 6/1989, Hội nghị thượng đỉnh G7 đã được tổ chức ở ngoại ô thủ đô Paris,Pháp, với mục tiêu lớn nhất là bàn thảo cách thức phản ứng đối với Chính phủ Trung Quốc sau hành động đàn áp dã man sinh viên và người dân Trung Quốc biểu tình đòi dân chủ gây thương vong lớn.

Trong tài liệu được công bố có đề cập rằng khi lãnh đạo Pháp và các nước khác muốn thông qua một tuyên bố chính trị chỉ trích gay gắt Trung Quốc, Chính phủ Nhật Bản lại hướng tới một tuyên bố ôn hòa hơn để tránh cô lập Trung Quốc. Ban đầu, tuyên bố chính trị mà Pháp đề xuất mô tả phản ứng của Chính phủ Trung Quốc là đàn áp và hành quyết dã man, đồng thời kiến nghị các biện pháp trừng phạt như ngừng hoạt động trao đổi cấp cao và hợp tác quân sự và hoãn các khoản vay mới của Ngân hàng Thế giới dành cho Trung Quốc. Trong khi đó, Nhật Bản lại muốn dập tắt những chỉ trích đối với Trung Quốc và không đề cập đến các biện pháp trừng phạt, đồng thời tìm cách tiếp cận từng nước để đưa vào dự thảo tuyên bố chính trị quan điểm không để Trung Quốc bị cô lập và muốn Trung Quốc tự giải quyết vấn đề nội bộ của mình.

Cho dù vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các nước nhưng Nhật Bản vẫn kiên trì phương châm loại bỏ nội dung cô lập Trung Quốc ra khỏi tuyên bố chính trị. Thủ tướng Nhật Bản khi đó Sosuke Uno đã tiếp cận thuyết phục Jacques Attali, người phụ trách đàm phán phía Pháp. Kết quả là, tuyên bố được đưa ra thể hiện phương châm của Nhật Bản là tạo điều kiện để Trung Quốc không bị cô lập và khôi phục quan hệ hợp tác với nước này trong thời gian sớm nhất có thể.

Nguyên Đại sứ Nhật Bản tại Trung Quốc Yuji Miyamoto, người đã tham gia các cuộc thảo luận về tuyên bố chính trị khi đó với tư cách nhân viên Bộ Ngoại giao, cho biết cô lập Trung Quốc là việc không nên làm vì hành động này có thể kích động Trung Quốc và khơi dậy tinh thần dân tộc của người dân nước này một cách không cần thiết.

Giáo sư Akio Takahara bình luận rằng nếu xét trong bối cảnh hiện nay, nhiều người có lẽ sẽ đặt câu hỏi vì sao Nhật Bản lại giúp Trung Quốc nhiều đến vậy. Việc ủng hộ chính sách cải cách mở cửa của Trung Quốc dường như sẽ khiến Nhật Bản phải đối mặt với nhiều khó khăn sau này. Lập trường của Nhật Bản khi đó nên bị coi là một quyết định đáng tiếc trong quá trình phát triển lâu dài.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 27/12/2020.

Về thỏa thuận bất thường vừa đạt được giữa Mỹ và Nhật Bản


Theo tờ Thời báo Nhật Bản ngày 17/02, Tokyo và Washington đã đạt được một thỏa thuận bất thường kéo dài một năm về việc chia sẻ chi phí đồn trú của các lực lượng Mỹ ở Nhật Bản. Thỏa thuận đặc biệt này đạt được sau các cuộc đàm phán giữa chính quyền của Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga và Tổng thống Mỹ Joe Biden. Tuy nhiên, đây là một giải pháp tạm thời của cả hai bên trong lúc đại dịch COVID-19 vẫn đang hoành hành.

Tại cuộc họp thông báo về thỏa thuận trên, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Toshimitsu Motegi nhấn mạnh: “Trong bối cảnh môi trường an ninh ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đang xấu đi, quan hệ đồng minh Nhật – Mỹ và các lực lượng Mỹ đóng tại Nhật Bản là tuyệt đối cần thiết cho nền quốc phòng của chúng ta cũng như hòa bình và ổn định của khu vực”. Theo ông Motegi, việc Nhật Bản và Mỹ có thể đạt được thỏa thuận ngay sau khi Tổng thống Biden nhậm chức là kết quả “rất đáng khen ngợi” của các cuộc đàm phán thẳng thắn giữa Nhật Bản và Mỹ, nhấn mạnh thỏa thuận trên thể hiện cam kết mạnh mẽ của hai nước đối với liên minh Mỹ – Nhật và chứng minh cho cộng đồng quốc tế về sự tin cậy của liên minh này. Bộ trưởng Quốc phòng Nobuo Kishi đánh giá thỏa thuận trên là cực kỳ quan trọng cho việc duy trì sự ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đồng thời cho rằng dịch bệnh COVID-19 và sự chuyển giao quyền lực ở Mỹ là nguyên nhân cản trở việc đạt được thỏa thuận sớm hơn.

Theo thỏa thuận mới đạt được, Nhật Bản sẽ phải chi khoảng 200 tỷ Yen, gần bằng năm trước, cho việc đồn trú của các lực lượng Mỹ ở nước này. Đây được coi là một biện pháp tạm thời giúp giảm bớt áp lực cho Chính quyền Biden trước vấn đề hóc búa này để tập trung chống chọi với đại dịch đang hoành hành ở Mỹ, đồng thời giúp Nhật Bản tránh được một cuộc đàm phán có khả năng gây tranh cãi về vấn đề này.

Theo hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ, Nhật Bản sẽ chi trả một phần chi phí cho việc tiếp nhận khoảng 55.000 binh sĩ Mỹ tại nước này, bao gồm chi phí nhân công, đào tạo và các tiện ích. Hai nước thường ký kết các thỏa thuận kéo dài 5 năm về cái gọi là kinh phí hỗ trợ của nước chủ nhà cho các lực lượng Mỹ đồn trú ở nước này. Thỏa thuận hiện tại giữa hai nước dự kiến hết hạn vào cuối tháng 3/2021. Mặc dù mới chỉ bắt đầu đàm phán từ ngày 2/2/2021 nhưng việc nhanh chóng đạt được thỏa thuận cho thấy cả chính quyền Suga và Biden đều coi kết quả trên là một chiến thắng.

Đối với Thủ tướng Suga, vấn đề chia sẻ chi phí đồn trú của lực lượng Mỹ có lẽ là vấn đề hóc búa nhất mà ông phải xử lý vì nó có tác động trực tiếp đến an ninh và quốc phòng của Nhật Bản. Giải quyết xong vấn đề này sẽ giúp Chính quyền Suga tập trung triển khai hiệu quả chương trình tiêm phòng vaccine và khống chế đại dịch ở trong nước. Hiện nay, Thủ tướng Suga đang phải đối mặt với những chỉ trích gay gắt về khả năng ứng phó của Chính phủ với đại dịch COVID-19. Kết quả thăm dò của hãng tin Kyodo trong tháng 2/2021 cho thấy tỷ lệ ủng hộ đối với nội các của Thủ tướng Suga chỉ còn 38,8%. Đây là lần đầu tiên tỷ lệ này giảm xuống dưới ngưỡng 40%. Mặt khác, việc xử lý ổn thỏa vấn đề này cũng giúp Thủ tướng Suga tránh được những lời chỉ trích từ Washington về việc ngân sách quốc phòng trong năm đầu tiên dưới sự lãnh đạo của ông không cao như Mỹ kỳ vọng. Vào cuối năm ngoái, chính quyền của Thủ tướng Suga đã thông qua dự thảo ngân sách quốc phòng cao kỷ lục 5.340 tỷ Yen cho tài khóa 2021 trong bối cảnh các mối đe dọa từ Trung Quốc và Triều Tiên đang gia tăng. Trước đó, ngân sách quốc phòng 2020 của Nhật Bản chỉ chiếm khoảng 0,9% GDP, trong khi Mỹ đã yêu cầu các đồng minh chi 2% GDP cho quốc phòng.

Ông Corey Wallace, một chuyên gia về an ninh ở Đông Á tại Đại học Kanagawa, cho rằng việc nhanh chóng đạt được thỏa thuận không phải là một “điều tồi tệ” đối với Nhật Bản khi chính quyền Suga đang phải đối mặt với nhiều thách thức khác. Tuy nhiên, ông Wallace dự báo Nhật Bản khó có thể tiếp tục duy trì mức chi trả như hiện tại trong bối cảnh Washington muốn Tokyo tăng gánh nặng chi phí. Theo ông Wallace, Nhật Bản khó có thể tránh khỏi việc tăng chỉ trả trong dài hạn.

Đối với Chính quyền Biden, thỏa thuận trên được ký kết khi chính quyền mới nhậm chức đang định hình chính sách đối ngoại ở một khu vực ngày càng quan trọng đối với Mỹ, đồng thời cho phép họ tập trung vào các vấn đề ưu tiên mang tính đối nội, trong đó có dịch bệnh COVID-19. Vì vậy, theo chuyên gia Wallace, việc gây chiến với các đồng minh có thể sẽ không có lợi trong lúc họ đang cố gắng đối phó với đại dịch và định hình một chính sách mang tính cạnh tranh hơn của Mỹ đối với Trung Quốc và vị thế của Mỹ ở Đông Á.

Trước đó, quan hệ đồng minh Nhật – Mỹ đã trở nên căng thẳng vì lời đe dọa rút quân của Washington nếu Tokyo không tăng ngân sách dành cho việc đồn trú của các lực lượng Mỹ. Dưới thời Tổng thống Donald Trump, Washington đã thúc ép Tokyo chi nhiều tiền hơn cho sự đồn trú của lực lượng Mỹ. Trong một cuốn hồi ký được xuất bản năm ngoái, ông John Botton, cựu Cố vấn An ninh Quốc gia dưới thời Chính quyền Trump, tiết lộ Tổng thống Trump khi đó đã nói rằng cách tốt nhất để khiến các đồng minh như Nhật Bản và Hàn Quốc tăng chi trả “là đe dọa rút tất cả lực lượng Mỹ”. Tuy nhiên, thông qua mối quan hệ cá nhân của Thủ tướng Nhật Bản khi đó là Shinzo Abe với ông Trump, Tokyo đã tìm cách xoa dịu để Washington không thực hiện các hành động quyết liệt bằng cách nêu bật các lợi ích của sự hiện diện của quân đội Mỹ trong khu vực.

Trong giai đoạn chuyển giao quyền lực đầy khó khăn ở Mỹ, Bộ Ngoại giao Nhật Bản vẫn duy trì quan điểm rằng Tokyo đã truyền đạt ý kiến của mình về vấn đề chia sẻ chi phí đồn trú và rằng “bóng đang ở trên sân” của Washington. Tuy nhiên, theo một quan chức ngoại giao cấp cao, cả đảng Cộng hòa và Dân chủ đều nhận thức rõ rằng thỏa thuận hiện tại ở Nhật Bản sẽ kết thúc vào cuối tháng 3/2021. Liên quan tới các cuộc đàm phán trong tương lai, Bộ trưởng Kishi cho biết các cuộc đàm phán giữa hai nước về một thỏa thuận mới có hiệu lực từ tháng 4/2022 sẽ tiếp tục và thời gian hiệu lực của thảo luận trong các cuộc đàm phán đó.

Theo nhật báo Asahi, trong thời gian từ nay tới cuối năm, phía Nhật Bản có thể hướng tới đàm phán một hiệp định có hiệu lực trong 4 năm còn lại của một thỏa thuận mà trên thực tế có hiệu lực trong 5 năm.

Các nhà quan sát cho rằng các cuộc đàm phán mới cũng có thể tập trung vào việc củng cố hơn nữa quan hệ đồng minh Nhật – Mỹ trong các lĩnh vực như an ninh mạng và không gian, đồng thời tập trung đặc biệt vào việc chống lại sự quyết đoán ngày càng tăng cảu Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Nguồn: TKNB – 22/02/2021.

Nhà đầu tư Nhật Bản giải bài toàn chọn Việt Nam hay Ấn Độ thay thế Trung Quốc


Trang eurasiareview.com ngày 24/08/2020 đăng bài nhận định rằng kể từ khi Thủ tướng Nhật Bản tuyên bố dành 2,2 tỷ USD hỗ trợ các nhà đầu tư nước này rút khỏi Trung Quốc để chuyển về Nhật Bản hoặc sang các quốc gia đang phát triển khác, giới truyền thông và các nhà nghiên cứu đã “xôn xao” về việc Ấn Độ và Việt Nam sẽ là những điểm đến hứa hẹn thay thế Trung Quốc.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư Nhật Bản lại rơi vào tình thế khó xử khi kết quả khảo sát không cho thấy kết quả đồng nhất và khó có thể kết luận Ấn Độ hay Việt Nam là lựa chọn tốt hơn. Trong khi một số khảo sát cho rằng Việt Nam là điểm đến hứa hẹn hơn, một số khác lại chọn Ấn Độ. Trong khi khảo sát của NNA Japan Co (tiến hành vào tháng 01/2020) đánh giá Việt Nam là điểm đến tiềm năng nhất cho các nhà đầu tư Nhật Bản, khảo sát của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) lại đưa Ấn Độ lên vị trí hàng đầu về điểm đến đầu tư.

Trong cuộc khảo sát lần thứ 31 được thực hiện vào tháng 11/2019, JBIC kết luận Ấn Độ là điểm đầu tư hấp dẫn nhất năm 2019, trong khi Trung Quốc và Việt Nam lần lượt xếp thứ hai và thứ ba. Cuộc khảo sát cho thấy sự gia tăng thứ hạng của Ấn độ là do tỷ lệ tham gia khảo sát ở Trung Quốc giảm. Nói cách khác, sự sụt giảm của Trung Quốc đã mở đường để Ấn Độ vươn lên dẫn đều về điểm đến đầu tư.

Tuy nhiên, khảo sát ý kiến chỉ là một chỉ dẫn độ tin cậy của công cụ này phụ thuộc vào mức độ bao quát của các luồng ý kiến chủ đạo. Trong khi đó, dữ liệu nhiều khi không nói lên xu hướng.

Theo METI, năm 2019, Ấn Độ nổi lên là nước nhận đầu tư lớn thứ 5 của Nhật Bản ở châu Á, bỏ xa Việt Nam ở vị trí thứ 6. Đáng chú ý, cũng trong năm này, đầu tư của Nhật Bản vào Ấn Độ cao gấp 2 lần so với đầu tư vào Việt Nam và tăng gấp 4 lần trong vòng 3 năm (từ 1,6 tỷ USD năm 2017 lên 5,1 tỷ USD năm 2019). Trong khi đó, đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam chỉ nhích nhẹ từ 2 tỷ USD năm 2017 lên 2,5 tỷ USD năm 2019. Xu hướng này cho thấy sự phụ thuộc của Nhật Bản vào tiềm năng của Ấn Độ.

Tại sao Ấn Độ lại bị Việt Nam “lật đổ” trong cuộc khảo sát của NNA 2 tháng sau cuộc khảo sát của JBIC? Về mức độ phổ biến và độ tin cậy, JBIC được đánh giá cao hơn vì ngân hàng này thực hiện cuộc khảo sát trong 3 thập kỷ. Điều đó ám chỉ gì? Nên tin vào khảo sát của JBIC hay NNA khi xác định Nhật Bản sẽ lựa chọn điểm đến đầu tư nào thay thế Trung Quốc.

Không nghi ngờ gì nữa, Việt Nam có nhiều đặc điểm hấp dẫn: chi phí đầu vào rẻ, chính trị ổn định, chính sách thương mại và đầu tư ngày càng tự do hóa và sở hữu hiệp định thương mại tự do với Nhật Bản và các nước khác. Tuy nhiên, Việt Nam cũng có những hạn chế – đó là sự phụ thuộc quá lớn vào nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất và xuất khẩu, có ít lĩnh vực cho đầu tư, thoái lui của toàn cầu hóa sau COVID-19 và dân số ít hơn nhiều.

Sự phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu đầu vào từ nước ngoài hạn chế việc mở rộng công suất, ẩn chứa rủi ro nếu xảy ra đối đầu chính trị, trong khi sự thoái lui của toàn cầu hóa làm suy giảm cường độ nhập khẩu trong sản xuất và xuất khẩu. Dân số nhỏ cũng hạn chế nhu cầu trong nước.

Thứ nhất, Trung Quốc là nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào chính của Việt Nam. Hơn 1/3 hàng nhập khẩu của Việt Nam đến từ Trung Quốc. Do quá phụ thuộc nhiều vào đầu vào nước ngoài, xuất khẩu của Việt Nam bao gồm nhiều hàng hóa trung gian của Trung Quốc hơn là các sản phẩm nội địa. Điều này làm tăng rủi ro cho tăng trưởng bền vững trong xuất khẩu, đặc biệt trong trường hợp có biến động chính trị.

Ấn Độ là một trường hợp điển hình. Sự phụ thuộc quá mức của Ấn độ vào linh kiện và bộ phận sản xuất điện thoại di động của Trung Quốc đã khiến chính phủ Ấn Độ phải “đau đầu”. Dù điều này giúp xây dựng một ngành công nghiệp mới, song quan hệ chính trị gay gắt giữa hai nước trong bối cảnh thường xuyên xảy ra xung đột biên giới buộc chính phủ Ấn Độ phải đặt ra các rào cản đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc.

Thứ hai, việc phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc ảnh hưởng đến khả năng Việt Nam hội nhập với các quốc gia châu Á khác. Hàng hóa nhập khẩu từ các nước này vào Việt Nam giảm trong khi hàng nhập khẩu từ Trung Quốc lại tăng. Điều này vẫn có lợi nếu quan hệ chính trị vẫn bình thường. Tuy nhiên, Trung Quốc đã đánh mất hình ảnh một đối tác thương mại tốt với chính sách bành trướng của họ. Sau khi Trung Quốc phớt lờ phán quyết của tòa trọng tài ở La Hay về vấn đề Biển Đông, chủ quyền của Việt Nam rơi vào thế nguy hiểm.

Thứ ba, Việt Nam còn hạn chế về các lĩnh vực thu hút đầu tư. Các ngành công nghiệp mũi nhọm của Việt Nam là điện tử, da giày và dệt may. Điều này có nghĩa là các công ty đang tìm cách chuyển dịch khỏi Trung Quốc sẽ chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu của họ. Các nhà đầu tư sẽ có nhiều cơ hội hơn ở Ấn Độ, quốc gia có nhiều lĩnh vực đầutư. Từ sản xuất thiết bị điện tử, ô tô và thiết bị quốc phòng đến xây dựng, bao gồm đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng, Ấn Độ có thể cung cấp phạm vi lớn hơn cho đầu tư của Nhật Bản vào Ấn Độ.

Thứ tư, nhu cầu trong nước là một thông số quan trọng khác giúp Ấn Độ vượt xa Việt Nam. Dân số Ấn Độ lớn gấp 10 lần Việt Nam. Trong khi các nhà đầu tư ở Việt Nam phải tìm kiếm lợi nhuận thông qua xuất khẩu, thì ở Ấn Độ, nhu cầu nội địa trở thành yếu tố quyết định doanh số bán hàng.

Nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam là một giải pháp thay thế Trung Quốc về chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, COVID-19 đã đặt rủi ro cho chuỗi cung ứng với sự gián đoạn sản xuất trên khắp thế giới. Khó khăn này buộc các quốc gia phải cân nhắc về sự phụ thuộc vào nhập khẩu trong mô hình chuỗi giá trị toàn cầu và quay về phát triển chuỗi cung ứng trong nước.

Nguồn: TKNB – 25/08/2020.

Cuộc cải cách thị trường của Triều Tiên đang bị đe dọa?


Một số cải cách kinh tế nổi lên sau khi nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un lên nắm quyền đang bị đe dọa, trong bối cảnh Bình Nhưỡng phải đối phó với một loạt cuộc khủng hoảng bằng cách tái khẳng định quyền kiểm soát của nhà nước, khiến người ta cảm thấy hoài nghi về một trong những vấn đề vốn là dấu ấn riêng của nhà lãnh đạo trẻ này.

Khi nhà lãnh đạo Kim Jong-un chào đón hàng nghìn đại biểu đến dự một đại hội hiếm hoi của Đảng Lao động Triều Tiên trong tuần qua ở thủ đô Bình Nhưỡng. Triều Tiên đang phải đối mặt với một bối cảnh có thể coi là khó khăn nhất kể từ sau nạn đói từng tàn phá đất nước này những năm 1990. Với nền kinh tế đã bị bao vây bởi các lệnh trừng phạt quốc tế do liên quan tới chương trình phát triển vũ khí hạt nhân, năm ngoái, tình hình của Triều Tiên còn “bi đát hơn” khi bị ảnh hưởng bởi các trận lũ lụt và phải phong tỏa đất nước gây thiệt hại nặng nề về kinh tế nhằm ngăn chặn sự bùng phát của đại dịch COVID-19. Ông Kim Jong-un đã đi từ việc mở các thương xá chất đầy hàng hóa và lên kế hoạch phát triển các khu du lịch hồi năm 2019 sang công khai thừa nhận rằng các mục tiêu kinh tế mà ông đề ra đã không thực hiện được.

Đối mặt với những cuộc khủng hoảng đó, Đại hội Đảng Lao động Triều Tiên đã công bố một kế hoạch kinh tế 5 năm mới, với nhiều nhà quan sát dự đoán sẽ có một chương trình nghị sự với mục tiêu củng cố những nỗ lực gần đây nhằm tái thiết lập quyền kiểm soát nhiều hơn của trung ương đối với nền kinh tế. Ông Kim Jong-un đã biến nền kinh tế trở thành một khía cạnh trung tâm trong thời gian ông nắm quyền, và kể từ khi ông lên cầm quyền vào năm 2011, điện thoại di động, tấm pin mặt trời và các mặt hàng tiêu dùng khác đã trở nên phổ biến hơn. Một số sáng kiến, bao gồm các đặc khu kinh tế và các khu du kịch, đều do chính phủ chỉ đạo. Những sáng kiến khác, chẳng như nới lỏng kiểm soát đối với thị trường tư nhân và một số hoạt động kinh doanh, thường được chính phủ chấp nhận hoặc sẽ làm ngơ trước các xu hướng đang diễn ra. Theo những người từng đào tẩu khỏi Triều Tiên, các nhà phân tích và doanh nhân có kinh nghiệm làm việc ở Triều Tiên, trong khi trên giấy tờ, những chính sách đó vẫn còn nguyên giá trị, nhưng có những dấu hiệu cho thấy Bình Nhưỡng đang tự khẳng định lại vị trí của mình bằng cách đảo ngược lại hoặc cắt giảm bớt một số cải cách đó. Geoffrey See, làm việc cho tổ chức phi lợi nhuận Choson Exchange từng phát biểu mạnh trong thời kỳ Triều Tiên mở rộng hoạt động kinh doanh dưới thời ông Kim Jong-un, nói: “Trong bối cảnh như vậy, bản năng sẽ là áp đặt một nền kinh tế phân phối theo khẩu phần do nhà nước kiểm soát và chỉ đạo dòng chảy của các nguồn tài nguyên”.

Những hạn chế kinh tế

Tuy nhiên, với việc đóng cửa biên giới và hạn chế đi lại trong nước để ngăn chặn dịch COVID-19, thương mại với Trung Quốc đã sụt giảm mạnh và các thương nhân đã phải vật lộn để duy trì những mạng lưới hậu cần cần thiết để cung cấp cho các doanh nghiệp của họ.

Một nhà ngoại giao nước ngoài có các mối liên hệ ở Bình Nhưỡng cho biết các kệ hàng trong các cửa hàng tạp hóa từng chất đầy các sản phẩm nhập khẩu trong thời kỳ đầu Kim Jong-un lên cầm quyền hiện đang dần trở nên thưa thớt. Chính sách kinh tế là lĩnh vực mà trong đó dường như tồn tại các phe phái thực sự trong nội bộ chính phủ Triều Tiên. Sokeel Park, làm việc cho tổ chức Tự do cho Triều Tiên – một tổ chức giúp đỡ những người đào tẩu khỏi Triều Tiên, nói rằng một số nhà lãnh đạo đang thúc giục cần cởi mở hơn nữa đối với ít nhất một số cải cách theo kiểu thị trường, trong khi những thành phần bảo thủ khác tìm cách giành thêm quyền kiểm soát nhiều hơn. Ông nói: “Đại dịch đã khiến trái bóng luôn ở bên sân của phe bảo thủ và cho phép họ làm mọi thứ họ muốn. Đây có thể là một di sản tiếp tục tồn tại sau khi đại dịch kết thúc”. Tuy nhiên, trao đổi với Daily NK – một trang web có trụ ở tại Seoul chuyên cung cấp những tin tức và thông tin dựa trên các nguồn tin bên trong lãnh thổ Triều Tiên, Kang Mi-jin, một người đã đào tẩu khỏi Triều Tiên, cho rằng Kim Jong-un hiểu rõ tầm quan trọng của thị trường tư nhân, các mặt hàng tiêu dùng và hình thức liên kết kinh doanh, vốn đã trở nên quen thuộc đối với rất nhiều người Triều Tiên và nhiều khả năng họ sẽ không chấp nhận đảo ngược húng hoàn toàn. Kang Mi-jin nói thêm rằng Đại hội Đảng Lao động Triều Tiên lần này có thể được sử dụng để áp đặt quyền lãnh đạo lớn hơn của đảng cầm quyền. Ông Park cho rằng ngay cả khi nhà lãnh đạo Kim Jong-un không thực sự đảo ngược lại các cải cách, thì một chính phủ ngày càng quyết đoán hơn có thể sẽ có ảnh hưởng lâu dài. Ông nói: “Do mọi người đang phải dựa vào thị trường để tồn tại, chính phủ không thể và sẽ không loại bỏ chúng, tuy nhiên, các hoạt động à sự thịnh vượng có thể đạt được thông qua đó sẽ bị giảm xuống rất nhiều”, có khả năng chính phủ sẽ áp đặt thêm nhiều thuế hoặc các quy định.

Lợi dụng khủng hoảng

Chuyên gia về Triều Tiên tại trừng Đại học Leiden ở Hà Lan, ông Christopher Green, cho rằng mặc dù việc Triều tiên tự đóng cửa biên giới và hạn chế đi lại ở trong nước dường như xuất phát từ lo ngại thực sự về đại dịch COVID-19, nhưng các quyết định khác chỉ đơn thuần là lợi dụng các cơ hội mà đại dịch này tạo ra. Ông viết trong một bài phân tích gần đây cho trang mạng NK Pro chuyên theo dõi tình hình Triều Tiên: “Bình Nhưỡng đã thực hiện các bước đi bổ sung vốn không liên quan gì tới những mối lo ngại cấp bách về việc kiểm soát đại dịch, mà chủ yếu liên quan tới việc đảo ngược một số cải cách mà nước này đã thực hiện kể từ khi Kim Jong-un lên nắm quyền”.

Theo các quan chức Hàn Quốc, một trong số những biện pháp này cho đến nay bao gồm việc quản lý ngoại hối đối với các nhà ngoại giao và đàn áp hoạt động của các nhà kinh doanh tiền tệ ở các khu vực biên giới, trong đó có cả việc dường như một người kinh doanh tiền tệ đã bị hành quyết.

Theo dữ liệu do Daily NK thu thập được, tại khu chợ đen ở thủ đô Bình Nhưỡng, giá trị của đồng won Triều Tiên đã tăng khoảng 17,5% và 15,2% lần lượt so với đồng USD và NDT trong 3 tháng qua. Ha Tae-keung, một nghị sĩ Hàn Quốc và là thành viên của Ủy ban Tình báo Quốc hội, sau khi được cơ quan tình báo của Hàn Quốc thông báo, cho biết rằng các nhà chức trách Triều Tiên đã hạn chế việc sử dụng đồng USD để thúc đẩy nhu cầu trong nước, khiến giá đồng won tăng vọt và gây ra các vấn đề đối với những người dân chưa có dự trữ. Daily NK đưa tin rằng cuối năm 2019, Triều Tiên đã đưa ra các quy định mới giúp đảng Lao động cầm quyền được can thiệp và kiểm soát nhiều hơn đối với thị trường tiêu dùng. Trang mạng này viết: “Những thay đổi này cuối cùng đã giúp Ủy ban Trung ương đảng mở rộng khả năng giám sát và kiểm soát đối với toàn bộ nền kinh tế dân sự”. Những kẻ buôn lậu, những người mà các nhà phân tích cho rằng rất cần thiết nếu Triều Tiên muốn làm giảm bớt những hậu quả xã hội tồi tệ nhất của việc đóng cửa biên giới, thay vào đó đã bị buộc tội vì có các hành động chống phá nhà nước. Chuyên gia Green nói: “Đây là những hành động của một chế độ đang lợi dụng một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng rõ ràng để làm cái cớ nhằm tái áp đặt sự thống trị đối với nền kinh tế – một sự thống trị đã bị suy giảm trong một thời gian khá dài, cho tới khi đại dịch xảy ra”.

Nguồn: TKNB – 12/01/2020.

Nhìn lại 2020 – Bán đảo Triều Tiên: Sự ổn định không chắc chắn


Dương Hi Vũ

Năm 2020, tình hình bán đảo Triều Tiên có thể khái quát “duy trì sự ổn định không chắc chắn” với từ khóa trong đó là “ổn định”. Mặc dù phát sinh một số sự việc nhỏ, nhưng về cơ bản không ảnh hưởng đến sự ổn định của bán đảo. Tháng 6, phía Hàn Quốc tiến hành rải truyền đơn chống Triều Tiên, hành động mang tính kích động này khiến Triều Tiên rất phẫn nộ. Triều Tiên đã phá hủy Văn phòng liên lạc liên Triều, thậm chí tuyên bố “sẽ trao quyền thực hiện các hành động đối địch tiếp theo cho Quân đội nhân dân Triều Tiên”, nhưng cuối cùng Quân ủy Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên đã tạm đình chỉ kế hoạch hành động quân sự đối với Hàn Quốc. Tháng 9, một viên chức Hàn Quốc bị bắn chết tại khu vực bên phía Triều Tiên trong vùng biển tranh chấp phía Tây bán đảo Triều Tiên, khiến quan hệ giữa hai miền Nam – Bắc lại căng thẳng, nhưng phía Triều Tiên đã gửi thư xin lỗi chân thành người nhà nạn nhân, sự việc này sau đó đã được giải quyết.

Xét về tổng thể, năm 2020 mặc dù bán đảo Triều Tiên có vài lần xảy ra nguy cơ va chạm, nhưng về cơ bản vẫn duy trì ổn định. Sau khi Hội nghị thượng đỉnh Triều – Mỹ tan vỡ, một thời gian tình hình bán đảo Triều Tiên xuất hiện dấu hiệu cực đoan, cuối năm 2019 phía Triều Tiên bắn tin rằng muốn tặng “món quà lớn” cho Mỹ, nhưng cuối cùng không có hành động gì. Trước dịp kỷ niệm 75 năm thành lập Đảng Lao động Triều Tiên, Bình Nhưỡng lại đề cập đến việc “tặng quà” nhưng cũng không thực hiện, vì vậy tình hình bán đảo duy trì được ổn định. Sự khó đoán định là đặc điểm cơ bản của sự ổn định này, bởi không ai có thể dám khẳng định trước khi kết thúc năm, cho dù hiện đã là cuối năm, liệu bán đảo Triều Tiên có thể duy trì sự ổn định này hay không. Tháng 1/2021, Đảng Lao động Triều Tiên sẽ triệu tập Đại hội VIII, trước sự kiện đó, nước này có thể duy trì cục diện ổn định, nhưng vẫn là sự ổn định không chắc chắn.

Sự không chắc chắn này thể hiện trên hai phương diện sau:

Một là, sự không chắc chắn của tình thế bế tắc trong vấn đề hạt nhân Triều – Mỹ. Sau bế tắc của vấn đề hạt nhân từ năm 2019 đến nay, liệu Mỹ và Triều Tiên có tiếp tục đối thoại không, khôi phục đối thoại với điều kiện gì, câu hỏi này đến nay vẫn chưa có lời giải. Chúng ta đều nhận thấy rằng hai bên có điểm chung là không ai nói mình không đối thoại, cũng không ai nói mình không thông qua đối thoại giải quyết vấn đề hạt nhân. Tuy nhiên, điều kiện đối thoại mới là nguyên nhân sâu xa nhất khiến bế tắc hạt nhân rất khó phá vỡ. Nói một cách cụ thể, chính là vấn đề “Yongbyon+” hoặc “Yongbyon-”. Triều Tiên và Mỹ muốn đối thoại, thì cần đối thoại để đạt được kết quả, cụ thể hơn là cần dùng việc phá hủy cơ sở hạt nhân Yongbyon để đổi lấy việc dỡ bỏ cấm vận. Cơ sở hạt nhân Yongbyon rốt cuộc cần phá hủy bao nhiêu? Một bộ phận hay toàn bộ, hoặc là cộng thêm 2 cơ sở hạt nhân bí mật khác? Đó là vấn đề vẫn chưa được giải quyết kể từ sau Hộ nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều tại Việt Nam đến nay, cũng là nhân tố khó đoán định nhất.

Hai là sự không chắc chắn về tiến trình đối thoại và hợp tác Bắc-Nam. Cái gọi là sự không chắc chắn có một bối cảnh lớn hơn, chính là bán đảo Triều Tiên hiện đang ở giữa ngã tư của một chu kỳ mới. Từ khi bùng phát cuộc khủng hoảng hạt nhân lần đầu tiên vào những năm 1990 đến nay, bán đảo Triều Tiên đã trải qua hai chu kỳ khủng hoảng, hiện đã ở vào vòng thứ ba của chu kỳ. Chu kỳ thứ nhất tính từ cuộc khủng hoảng hạt nhân lần đầu tiên năm 1993, kéo dài đến năm 2002. Tháng 5/1993, Mỹ đe dọa tấn công cơ sở hạt nhân Yongbyon, tình hình đã từng rất căng thẳng. Tháng 10/1994, hai bên ký hiệp định khung tại Geneva, cục diện được cứu vãn. Tháng 10/2000, Phó chủ tịch thứ nhất Ủy ban Quốc phòng Triều Tiên Cho Myong Rok đã đến thăm Mỹ với danh nghĩa Đặc phái viên của Kim Jong-il, hai bên đã ra Thông cáo chung Washington, sau đó Ngoại trưởng Mỹ Albright thăm Bình Nhưỡng, hai bên thậm chí đã thảo luận về việc sắp xếp để Tổng thống Clinton sang thăm Triều Tiên, nhưng lần tiếp xúc Triều – Mỹ này cuối cùng đã đổ vỡ.

Năm 2002, khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên lại xảy ra. Tháng 10/2006, Triều Tiên tiến hành vụ thử hạt nhân đầu tiên, đến tháng 9/2017, tổng cộng Triều Tiên đã tiến hành 6 vụ thử hạt nhân. Ở chu kỳ này, Trung Quốc đã nỗ lực khởi động đàm phán 6 bên trong nỗ lực ngăn chặng khủng hoảng. Năm 2008, thậm chí Triều Tiên đã phá hủy lò phản ứng hạt nhân Yongbyon, nhưng đến năm 2009, Triều Tiên lại tuyên bố rút khỏi đàm phán 6 bên. Bắt đầu từ năm 2018, một vòng đối thoại mới lại bắt đầu. Đối thoại lần này ở cấp cao hơn, trên thực tế là Kim Jong-un đã khởi động ngoại giao nguyên thủ, vì vậy xuất hiện hàng loạt hoạt động của nguyên thủ, bao gồm Trung-Triều, Hàn-Triều, Mỹ-Triều, mở ra vòng thứ ba giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên.

Tuy nhiên, tiến trình đối thoại dồn dập từ năm 2018 đến năm 2019 lại rơi vào bế tắc, năm 2002 thì bước vào giai đoạn ổn định và không chắc chắn. Ở đây cần nêu một vấn đề: Tiến trình được khởi động từ năm 2018 này vẫn lặp lại sai lầm của chu kỳ trước hay có thể thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn đó, bước vào một thời kỳ mới, thực hiện phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, thực hiện hòa bình ổn định lâu dài? Đó là sự lựa chọn chiến lược lớn nhất mà Triều Tiên và Hàn Quốc cũng như hai bên liên quan chủ yếu là Mỹ và Trung Quốc đang đối mặt. Nếu các bên tương tác không tốt, thì chắc chắn sau một vòng ồn ào lại là chu kỳ khủng hoảng thứ 3. Nếu như thúc đẩy tốt, thì sẽ bước ra khỏi chu kỳ khủng hoảng, đi vào một thời kỳ mới. Chủ tịch Tập Cận Bình từng nói với Tổng thống Trump rằng “bán đảo Triều Tiên cần thực hiện hòa bình ổn định lâu dài”.

Tiến trình ngoại giao do các nguyên thủ khởi xướng sẽ bước vào thời kỳ mới ổn định lâu dài hay lại một lần nữa rơi vào một cuộc khủng hoảng mới, đây sẽ là một thử nghiệm lịch sử đối với các nhà lãnh đạo các bên liên quan. Nó không phải là thử nghiệm về chính sách, mà là một thử nghiệm của lịch sử. Từ bài học lịch sử sẽ thấy rằng không có người thắng sau hai chu kỳ đầu tiên. Đây là một thử thách tưởng chừng rất đơn giản nhưng thực tế lại rất nghiêm trọng. Nhìn từ cấp độ chiến lược, thế giới luôn biến đổi, đối diện với thời đại mới, tình thế mới, vấn đề mới cần phải có tư duy mới, biện pháp mới. Nếu như vẫn làm theo lối cũ, kết quả sẽ lại đi vào một chu kỳ khủng hoảng mới. Nhưng nếu như các nước dám sáng tạo, dám thừa nhận trách nhiệm lịch sử, thì viễn cảnh của bán đảo Triều Tiên và các bên liên quan đều sẽ rất lạc quan. Do đó, sau khi bước vào năm 2021, cùng với việc chính phủ mới của Mỹ lên nắm quyền, cùng với việc Triều Tiên xác lập ban lãnh đạo mới và xác định đường lối phát triển kinh tế chính trị mới tại Đại hội VIII của Đảng Lao động, cùng với việc lãnh đạo Trung Quốc và các bên liên quan khôi phục và tăng cường thúc đẩy vấn đề bán đảo Triều Tiên, vẫn còn cơ hội để tình hình bán đảo Triều Tiên chuyển theo hướng tốt. Tác giả cho rằng thách thức lớn nhất trong giải quyềt vấn đề bán đảo Triều Tiên không phải do việc giải quyết như thế nào từng vấn đề cụ thể, mà do có thể phá vỡ phương pháp tư duy trong xử lý vấn đề hạt nhân Triều Tiên trước đây.

* * *

Dương Hi Vũ, nghiên cứu viên Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế.

Nguồn: Tạp chí Tri thức thế giới (TQ) – Số 24/2020

TLTKĐB – 24/12/2020.

Nhìn lại 2020 – Nhật Bản: Ba biến động lớn về chính trị ngoại giao


Dương Bá Giang

Năm 2020, Nhật Bản đã trải qua ba biến động lớn: Một là dịch COVID-19 bùng phát, giáng một đòn mạnh mẽ, toàn diện vàokinh tế, xã hội, chính trị và quan hệ đối ngoại của nước này; hai là, tình thế và khó khăn của Chính quyền Abe dưới bối cảnh dịch bệnh gia tăng, là một nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi chính quyền; ba là môi trường bên ngoài biến động phức tạp, đặc biệt là quan hệ chiến lược Mỹ – Trung căng thẳng, ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ chính trị nội bộ, chiến lược của Nhật Bản đối với Trung Quốc.

Dịch COVID-19 đã giáng một đòn nặng nề vào nền kinh tế Nhật Bản. Kể từ năm 2013, nền kinh tế Nhật Bản bước vào giai đoạn tăng trưởng chậm,kéo dài tới 71 tháng, đến tận giữa năm 2019. Nhưng từ nửa cuối năm ngoái, kinh tế Nhật Bản sụt giảm rõ rệt, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong quý 4 giảm 6,3%, viễn cảnh khởi sắc của Abenomics chấm dứt. Đúng lúc đó thì dịch COVID-19 bùng phát, tạo hiệu ứng kép, càng khiến kinh tế Nhật Bản bị tổn thương nhiều hơn.

Trong quý I/2020 GDP thực tế của Nhật Bản giảm 3,4%, tăng trưởng âm trong 2 quý liên tiếp, bước vào giai đoạn “suy thoái kỹ thuật”. Quý II, mức sụt giảm lên đến 27,8%, là mức giảm kỷ lục kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đến tháng 10, Ngân hàng trung ương Nhật Bản dự đoán tăng trưởng thực tế của Nhật Bản ở mức -5,5% trong năm tài khóa 2020. Dự báo này thấp hơn so với dự báo đưa ra vào tháng 7. Mặc dù mức giảm trong quý 3 đã ít hơn, nhưng sức khôi phục lại yếu. Dự kiến, kinh tế Nhật Bản năm 2021 sẽ chuyển biến tốt, nhưng khả năng xuất hiện khôi phục hình chữ V là thấp. Dịch bệnh không chỉ khiến nhu cầu ở trong và ngoài nước thu hẹp, xuất khẩu giảm mạnh, mà còn tác động mạnh đến tâm lý dân tộc, tâm lý xã hội. Thế vận hội Tokyo bị buộc phải hoãn lại, trước tiên là tổn thất kinh tế nghiêm trọng. Thế nhưng, tổn thất do hoãn Thế vận hội không chỉ là trong lĩnh vực kinh tế. Thế vận hội Tokyo năm 1964 đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao bầu không khí xã hội, khôi phục đất nước sau chiến tranh, cho nên người Nhật Bản rất coi trọng thế vận hội lần này, hy vọng có thể qua đó thay đổi vận mệnh đất nước, thực hiện bước chuyển kinh tế. Việc lùi thời gian rõ ràng đã giáng đòn mạnh vào lòng tự tin dân tộc, hình ảnh đất nước và ảnh hưởng quốc tế.

Năm 2020, ngoại giao Nhật Bản tiếp tục xu hướng đẩy mạnh mức độ phát triển về chiến lược tổng hợp và đạt được thành quả nhất định. Trong bối cảnh dịch bệnh, Nhật Bản đã triển khai “ngoại giao đại dịch” một cách tích cực, ngoài chính sách đối với Mỹ, chính sách đối với châu Âu và Đông Nam Á đều khiến dư luận chú ý, thông qua viện trợ chống dịch, trao đổi thông tin về dịch bệnh, nhiều tính toán chiến lược, mở rộng ra nhiều nội dung quan trọng như hợp tác kinh tế, an ninh quốc phòng… Nhật Bản thông qua tầm nhìn toàn cầu, nêu cao ngọn cờ ủng hộ hòa bình, phát triển khu vực, thế giới, thông qua thúc đẩy hợp tác, cải thiện, tăng cường quan hệ song phương và đa phương, mở rộng không gian chiến lược quốc tế và nỗ lực đi đầu trong việc xây dựng các quy tắc trong các lĩnh vực liên quan.

Chính sách ngoại giao đối với châu Âu đã đạt kết quả quan trọng. Tháng 10/2020, Nhật Bản và Anh đã ký hiệp định hợp tác kinh tế. Anh là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Nhật Bản ở châu Âu, sau khi hiệp định có hiệu lực, sẽ bỏ thuế quan của 94% hàng hóa nhập khẩu và 99% hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản với Anh. Theo tính toán của Nhật Bản, 15 năm sau, xuất khẩu của Nhật Bản sang Anh sẽ tăng 80%, xuất khẩu từ Anh sang Nhật Bản sẽ tăng 17,2% so với năm 2019. Đối với Nhật Bản, giá trị của Hiệp định Nhật-Anh không chỉ dừng lại ở chỗ có lợi cho thương mại song phương, mà còn có lợi cho việc kéo Anh vào Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) do Nhật Bản chủ đạo, có lợi cho việc dẫn dắt các thành viên khác của NATO, đưa nhân tố châu Âu để cân bằng trong chiến lược châu Á – Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Đối với Đông Nam Á, ngoài việc thúc đẩy “ngoại giao đại dịch”, Nhật Bản còn thúc đẩy hợp tác an ninh có trọng điểm. Năm 2014, Nhật Bản đã có những sửa đổi quan trọng đối với “ba nguyên tắc xuất khẩu vũ khí” thành “ba nguyên tắc chuyển nhượng trang bị quốc phòng”, để xuất khẩu vũ khí từ chỗ không cho phép về nguyên tắc thành không ngăn cấm về nguyên tắc, từ chỗ chỉ nhập khẩu thành cả xuất nhập khẩu. Sáu năm sau, đơn đặt hàng đầu tiên, cuối cùng đã được mở vào tháng 8/2020: Nhật Bản cùng Philippines đạt được thỏa thuận sẽ xuất khẩu cho Philippines 4 radar phòng không, tổng giá trị lên đến 100 triệu USD. Đây là dấu mốc lịch sử trong việc hợp tác quân sự, trang thiết bị quân sự giữa Nhật Bản với nước ngoài kể từ sau chiến tranh.

Năm 2020, quan hệ Trung-Nhật có sự mở đầu tốt, nhưng quá trình lại không mấy thuận lợi. Thời gian đầu đại dịch bùng phát, các đoàn thể xã hội và địa phương hai nước đã chia sẻ, hỗ trợ nhau, cùng vượt qua khó khăn. Nhưng sau tháng 3, quan hệ hai nước xuất hiện vấn đề mới, thách thức mới, chủ yếu thể hiện trong lĩnh vực an ninh chính trị, phản ánh hai nước vẫn thiếu tin tưởng lẫn nhau nghiêm trọng. Xoay quanh vấn đề nhạy cảm lớn giữa hai nước, xu hướng tiêu cực trong nội bộ Nhật Bản tăng cao, liên quan đến vấn đề đảo Điếu Ngư/Senkaku ở Đông Hải (biển Hoa Đông), Nam Hải (Biển Đông), Hong Kong và Đài Loan. Tháng 7, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng Nhật-Mỹ-Australia đã ra tuyên bố, bày tỏ hết sức quan ngại đối với những vấn đề đã nêu trên, Sách Trắng quốc phòng hàng năm của Nhật Bản cũng thể hiện rõ vấn đề đó.

Vấn đề trong quan hệ Trung – Nhật đã phản ánh đúng bối cảnh chính trị trong nước Nhật Bản. Cùng với việc chuyển giao chính quyền, ảnh hưởng của đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền đối với chính sách đối ngoại vẫn gia tăng. Dưới thời Abe, Thủ tướng giữ vai trò chủ đạo trong chính sách ngoại giao, nhưng sau khi Suga lên nắm quyền, sắc thái này đã giảm đi. Suga không có đủ quyền uy và năng lực kiểm soát tình hình như Abe. LDP có ban đối ngoại riêng, hiệp hội điều tra ngoại giao riêng và liên minh Nghị sĩ quốc phòng riêng của mình, những nghị sĩ phái bảo thủ cứng rắn đã đưa ra những luận điệu tiêu cực đối với vấn đề quan hệ Trung – Nhật.

Ảnh hưởng của nhân tố Mỹ đối với chính sách Trung Quốc của Nhật Bản cũng tăng lên rõ rệt. Cùng với cạnh tranh chiến lược Trung – Mỹ gia tăng, sức ép của Mỹ đối với Nhật Bản cũng tăng lên. Tháng 7, Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế nổi tiếng của Mỹ (CSIS) đã công bố báo cáo chính sách nhan đề “Sức ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Nhật Bản”, trực tiếp chỉ đích danh và cáo buộc Tổng thư ký đảng Dân chủ Tự do Toshirio Nikai và liên minh cầm quyền là Đảng Công minh thực hiện chính sách ngoại giao “theo đuôi Trung Quốc”. Điều này tạo ra hiệu ứng xấu trong chính giới và dư luận Nhật Bản, khiến người muốn nói chuyện về quan hệ Trung – Nhật không dám lên tiếng. Ở góc độ chính thức, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper đã công khai chỉ trích hành động của Trung Quốc ở biển Hoa Đông, giống như việc ngày 13/7, Ngoại trưởng Mỹ Pompeo đưa ra “Tuyên bố Biển Đông”.

Tuy nhiên, quan hệ Trung – Nhật dù gặp phải nhiều vấn đề mới, thách thức mới, nhưng về tổng thể vẫn không đi chệch khỏi đúng quỹ đạo theo xu hướng cải thiện từ năm 2017 đến nay. Cần thấy rằng trong bối cảnh dịch bệnh, lợi ích chung và không gian hợp tác Trung – Nhật không những bị thu hẹp, mà ngược lại còn mở rộng, bao gồm lĩnh vực hợp tác trong quản lý khu vực, y tế công cộng, thậm chí trong lĩnh vực điều chỉnh chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, hai bên còn nhiều mặt hợp tác tiềm năng khác. Tháng 4, Chính phủ Nhật Bản còn ban hành chính sách trợ giúp doanh nghiệp rút khỏi Trung Quốc. Tuy nhiên kết quả cho thấy Chính phủ Nhật Bản không thể tách rời khỏi Trung Quốc, giới kinh tế trên thực tế cũng không làm được như vậy. Dưới sự ràng buộc của các yếu tố cơ bản, sự tách rời khỏi chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng với Trung Quốc mà Nhật Bản thảo luận, thực chất chính là quá trình gắn kết ở một mức độ nhất định.

Triển vọng năm 2021, hợp tác sâu rộng trong các lĩnh vực tương quan của kinh tế xã hội sẽ là chủ đề quan trọng ổn định quan hệ Trung – Nhật, việc đi sâu hợp tác giữa hai bên có nhiều tiềm năng, nhưng quan trọng là phải nhìn kết quả chung, hiệu quả thực tế. Quan hệ Trung – Nhật trong lĩnh vực an ninh chính trị tiếp tục đứng trước thử thách, có thể thiết lập lòng tin hay không, đó là điều quan trọng.Trong bối cảnh đảng Dân chủ ở Mỹ lên nắm quyền, khả năng kiểm soát nội bộ và chống lại sức ép bên ngoài của Thủ tướng Suga đều đối mặt với thử thách nghiêm trọng.

* * *

Dương Bá Giang, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, Viện khoa học xã hội Trung Quốc.

Nguồn: Tạp chí Tri thức thế giới (TQ), số 24/2020

TLTKĐB – 24/12/2020.

Trung Quốc đang tìm cách tránh bẫy Thucydides


Theo trang mạng essra.org.cn ngày 25/11, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) luôn là dịp để các nước thể hiện quan điểm của mình, song diễn đàn năm nay bỗng nhiên có một sự trùng hợp kỳ diệu. Phát biểu trong buổi đối thoại với lãnh đạo các doanh nghiệp của APEC, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga cho biết năm tới sẽ đảm nhận Chủ tịch luân phiên của Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), mở rộng quy mô của CPTPP. Ngay sau phát biểu của Thủ tướng Suga, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã phát biểu tại hội nghị các nhà lãnh đạo không chính thức rằng ông sẽ tích cực xem xét việc tham gia CPTPP.

Đây có vẻ như Yoshihide Suga đã “chuyền bóng” cho Tập Cận Bình “ghi bàn”. Tuy nhiên, không phải như vậy, thái độ của Nhật Bản luôn không rõ ràng đối với việc liệu Trung Quốc có tham gia CPTPP hay không. Cho nên, Bộ trưởng Tái thiết kinh tế Nhật Bản, Yasutoshi Nishimura đã phát biểu rằng cần phải xem liệu Trung Quốc đã chuẩn bị tốt các điều kiện tự do hóa ở trình độ cao mà khu vực thương mại tự do này chuẩn bị tốt các điều kiện tự do hóa ở trình độ cao mà khu vực thương mại tự do này yêu cầu hay không. Điều đó có nghĩa rằng Trung Quốc vẫn chưa đủ tiêu chuẩn!

Trước đó, Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đã được ký kết sau 8 năm đàm phán khó khăn. Việc ký kết hiệp định này chắc chắn sẽ là động lực tốt trong bối cảnh nỗi lo tiềm ẩn về sự bất ổn kinh tế cao do dịch bệnh gây ra.

Tuy nhiên, thái độ của Nhật Bản thực chất lại không phải là vấn đề, mà vấn đề nằm ở Mỹ. CPTPP là hiệp định thay thế cho Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Obama. TPP là để bao vây kiềm chế Trung Quốc. Mục đích là hình thành liên minh kinh tế chống Trung Quốc bao gồm các nước Nhật Bản, Bắc Mỹ, Australia và New Zealand cộng thêm các nước ASEAN, đặc biệt là Việt Nam, bản thân hiệp định này là sản phẩm của địa chính trị. Chỉ có điều Trump, người có khuynh hướng chủ nghĩa cô lập lên cầm quyền đã phá hỏng mục đích năm đó.

Tất nhiên, việc Biden đánh bại Trump trong năm nay có nghĩa là đường lối bao vây năm đó có thể được hồi sinh. Cách nói “bằng mặt nhưng không bằng lòng” của Nhật Bản là để giữ không gian cho Mỹ tái thành lập một mặt trận thống nhất.

Tuy nhiên, vì RCEP đã được ký kết và các quốc gia liên quan của ASEAN đều nhận thức rõ rằng động lực và triển vọng kinh tế của nó chắc chắn sẽ phụ thuộc vào Trung Quốc, chứ không phải là Mỹ. Do đó, liên minh chống Trung Quốc dựa vào TPP có lẽ đã một đi không trở lại.

Sự ra đời của RCEP đồng nghĩa với việc Trung Quốc Đại lục và các nước láng giềng, tức là hệ thống triều cống trong hơn hàng nghìn năm qua là một vòng tròn kinh tế cộng sinh cùng phát triển. Sự phát triển của Trung Quốc chính là sự phát triển của ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc và ngược lại. Đối với các nước xung quanh Trung Quốc, đối đầu với Trung Quốc là tự gây tổn hại cho chính mình, đây không phải là quy luật còn sót lại từ hệ thống triều cống trước đây, mà là quy luật tự nhiên của kinh tế thương mại. Tất cả các chuỗi cung ứng và thương mại đều có liên quan đến các nước láng giềng. Hiệp định thương mại tự do giữa Mỹ – Canada – Mexico luôn lớn hơn thương mại với các nước châu Âu, châu Á và nội bộ Liên minh châu Âu (EU) cũng vậy.

RCEP không phải là một tập hợp lớn của sự kết hợp miễn cưỡng, mà là điều tất yếu logic dưới sự thúc đẩy của lợi ích. Sau khi ASEAN nhận thức được điều đó, liên minh chống Trung Quốc mà TPP muốn hình thành sẽ rất khó để hình thành hoặc liên kết được.

Có lẽ sau khi đưa ra nhận định như vậy, Tập Cận Bình đã tuyên bố: “Tích cực xem xét việc gia nhập CPTPP”, mục tiêu cuối cùng vẫn là hình thành một Khu vực tự do thương mại châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP) rộng lớn hơn, mở rộng khối liên kết chặt chẽ từ châu Á sang nhiều quốc gia châu Mỹ và châu Đại Dương, trong đó có cả Mỹ.

Bước thứ nhất, gia nhập CPTPP nhằm hóa giải sự đối kháng của CPTPP, cộng thêm với Hiệp định thương mại tự do (FTA) Trung Quốc – Nhật Bản – Hàn Quốc, mục đích cụ thể là đưa Nhật Bản thực sự trở thành thành viên của hệ thống châu Á mà Trung Quốc là chủ đạo, xóa bỏ sự phục tùng Mỹ của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nếu Mỹ cũng tìm cách tham gia CPTPP, thì Trung Quốc và Mỹ đều là thành viên của hiệp định này. Bước thứ hai là việc hình thành FTAAP cũng sẽ là điều tất nhiên. Nếu Mỹ không tham gia CPTPP, thì FTAAP vẫn là bước thứ hai.

Đây là một kế hoạch rất xa của Tập Cận Bình và êkip của ông, mục đích là để thoát khỏi cuộc chiến bắt buộc phải có giữa Mỹ và Trung Quốc dựa trên bẫy Thucydides, để Mỹ và Trung Quốc có thể tránh được trận chiến sinh tử, đạt được sự sắp xếp trật tự thế giới mới hoặc mối quan hệ khung hợp tác ở tầm mức chiến lược.

Con đường này chắc chắn sẽ đầy gian nan, bởi lẽ tâm lý của Nhật Bản vẫn hướng về Washington, sự căm ghét của người dân đối với Trung Quốc đã lên tới mức cao nhất trong lịch sử. Tuy nhiên, cuối cùng lợi ích kinh tế đ lôi kéo Nhật Bản tham gia RCEP. Xét về lý, việc Trung Quốc gia nhập CPTPP không phải là điều không tưởng.

Tuy nhiên, việc Mỹ và Trung Quốc tiến tới hòa giải còn khó hơn nhiều, ngoài việc Mỹ chưa từng thất bại kể từ khi trở thành bá chủ toàn cầu nên có thể làm bừa ra, thì trong tương lai Đài Loan vẫn sẽ là biến số lớn nhất của mối quan hệ Mỹ – Trung. Chủ nghĩa ly khai của Đài Loan là sự hấp dẫn lớn nhất để Mỹ sử dụng như một quân bài thương lượng chống lại Trung Quốc và các hành động khiêu khích được khơi dậy từ chủ nghĩa dân tộc thường mang lại hiệu quả to lớn. Đài Loan mê hoặc lôi kéo Mỹ và Trung Quốc rơi vào bẫy Thucydides. Cuộc chiến quyết tử của hai cường quốc cũng sẽ dẫn đến bi kịch.

Vì vậy, trước khi điều này xảy ra, các nhà lãnh đạo của Bắc Kinh phải tìm ra phương án và cơ chế để kiểm soát Đài Loan, nếu không nhân loại có thể sẽ phải chịu một thảm họa vô cớ.

Nguồn: TKNB – 27/11/2020.