Bản đồ du lịch châu Á đang thay đổi vì bất ổn chính trị


Theo tờ Nikkei Asia Review, những bất ổn về chính trị trong mùa Hè này đang tái định hình bản đồ du lịch châu Á, khi nhiều du khách Hàn Quốc và Trung Quốc từ bỏ các điểm đến ưa thích trước đó như Nhật Bản và Hong Kong để tìm đến các quốc gia Đông Nam Á.

Tình trạng căng thẳng đang gia tăng trong mối quan hệ thương mại giữa Tokyo và Seoul, các cuộc biểu tình ở Hong Kong (Trung Quốc) cùng với các chiến dịch quảng bá tích cực của nhiều quốc gia Đông Nam Á chính là nguyên nhân dẫn tới những thay đổi này.

Trong nửa đầu năm 2019, số lượng du khách Hàn Quốc tới Đông Nam Á đã tăng gần 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Con số này có thể tiếp tục tăng trong các kỳ nghỉ lễ sắp tới. Chỉ tính riêng trong tháng Sáu, số lượng du khách Hàn Quốc tới Malaysia đã tăng mạnh sau khi Kuala Lumpur tích cực quảng bá hình ảnh thông qua các hãng lữ hành và các phương tiện truyền thông, đồng thời mời những người có ảnh hưởng với giới trẻ tới nước này. Các hình ảnh và thông tin do những người có ảnh hưởng đăng tải trên mạng xã hội đã giúp thu hút những du khách trẻ tuổi.

Cùng với Malaysia, cả Việt Nam và Philippines đều chứng kiến tốc độ tăng trưởng 2 con số về số lượng du khách Hàn Quốc đến thăm. Đối với Việt Nam, lý do chủ yếu là khoảng 150.000 người Hàn Quốc đang sống ở nước này, nơi có hai nhà máy lớn của Samsung Electronics – tập đoàn đang chiếm gần 1/4 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Một hãng lữ hành ở Hà Nội cho biết Việt Nam là một quốc gia quen thuộc với người Hàn Quốc.

Bên cạnh đó, khoảng cách gần gũi về địa lý là một nhân tố khác đóng góp vào sự tăng trưởng số lượng du khách Hàn Quốc đến Việt Nam. Chuyến bay từ Seoul đến Đà Nẵng thường mất khoảng 4 tiếng rưỡi vá điều này khiến Đà Nẵng trở nên thuận tiện hơn so với Phuket của Thái Lan hay Bali của Indonesia. Chính phủ Hàn Quốc dự định sẽ mở lãnh sự quán ở Đà Nẵng vào cuối năm nay để phục vụ các du khách tại đây.

Trong nỗ lực thu hút khách du lịch, Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) bắt đầu giảm giá 30% cho các du khách đến từ Đông Á tại các cửa hàng miễn thuế và khu mua sắm lớn. Chiến dịch giảm giá này sẽ kéo dài cho đến cuối tháng 10 năm nay. Các du khách đến từ Đông Á vẫn được biết đến là những người thích mua sắm. Vì vậy, Phó Tổng cục trưởng TAT Chattan Kunjara Na Ayudhya cho biết, ông hy vọng rằng chiến dịch này sẽ giúp nâng doanh thu của ngành du lịch Thái Lan.

Tuy nhiên, kết quả khảo sát của công ty thương mại điện tử Wemakeprice cho thấy Đà Nẵng vẫn là điểm đến được ưa chuộng nhất đối với các du khách Hàn Quốc trong các kỳ nghỉ lễ Chuseok của Hàn Quốc. Tiếp theo là Bangkok và Guam. Vị trí của các điểm đến ở Nhật Bản như Tokyo và Okinawa đã bị rớt trên bảng xếp hạng.

Trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 7/2019, số lượng du khách Hàn Quốc tới Nhật Bản đã giảm 4% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó chỉ riêng trong tháng Bảy, mức giảm đã lên tới 8%. Nhiều du khách Hàn Quốc đã tẩy chay tất cả những gì liên quan đến Nhật Bản, do tình trạng căng thẳng trong quan hệ Nhật – Hàn khởi đầu từ vấn đề lao động cưỡng ép đã lan sang lĩnh vực thương mại.

Tất cả 8 hãng hàng không của Hàn Quốc đều đã cắt giảm số lượng chuyến bay đến và đi từ Nhật Bản trong bối cảnh nhu cầu giảm. Hơn 60 chuyến bay đã bị tạm ngừng hoặc hủy bỏ. Thay vào đó, các hãng này đã tăng số lượng các chuyến bay tới khu vực Đông Nam Á.

Korean Air dự định sẽ tăng thêm 7 chuyến bay giữa Seoul và sân bay quốc tế Clark ở thủ đô Manila của Philippines trong tháng 10 cũng như tăng số lượng chuyến bay tới Đà Nẵng của Việt Nam và Bali của Indonesia. Trong khi đó, các hãng hàng không Asiana Airlines và Air Seoul cũng có kế hoạch tăng gấp đôi số lượng chuyến bay tới Đà Nẵng trong các tháng tới.

Tại Trung Quốc, các cuộc biểu tình ở Hong Kong có vẻ như đã ảnh hưởng rất lớn. Trong 6 tháng đầu năm 2019, số lượng du khách Trung Quốc tới Đông Nam Á đã tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi số lượng du khách Trung Quốc tới Hong Kong giảm 31% vào đầu tháng Tám. Vùng lãnh thổ Đài Loan (Trung Quôc cũng đang mất vị thế trên bản đồ du lịch châu Á do tình trạng căng thẳng đang gia tăng với đại lục. Chính phủ Trung Quốc đã ngừng cấp giấy thông hành cá nhân cho Đài Loan trong tháng 8 như một thông điệp gửi tới nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn, người đang cố gắng tăng cường quan hệ với Mỹ.

Các nhà chức trách Đài Loan dự báo số lượng du khách Trung Quốc tới vùng lãnh thổ này sẽ giảm 400.000 lượt người trong nửa cuối năm nay. CBRE ước tính thiệt hại kinh tế cho Đài Loan sẽ lên tới khoảng 630 triệu USD.

Các số liệu thống kê của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cho thấy Hàn Quốc chiếm khoảng 5% số lượng du khách tới khu vực này  và đứng thứ ba trong số các thị trường du lịch ngoài ASEAN, sau Trung Quốc và Liên minh châu Âu (EU).

Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc (UNTWO), các du khách Trung Quốc đã chi 277 tỷ USD cho các chuyến du lịch nước ngoài năm 2018, đứng đầu thế giới. Về số tiền mà du khách chi trả cho các chuyến du lịch nước ngoài, Hàn Quốc đứng thứ 2 ở châu Á và thứ 9 trên toàn thế giới, với tổng số tiền là 32 tỷ USD.

Nguồn: TKT – 17/09/2019

Advertisements

Nhật Bản có thể trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất” của một cuộc chiến tiền tệ


Ngày 6/8, hãng tin Kyodo News đã đăng bài phân tích cảu tác giả Tomoyuki Tachikawa với tiêu đề “Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung có thể leo thang thành cuộc chiến tiền tệ”, trong đó bày tỏ quan ngại về khả năng cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung có thể leo thang thành cuộc chiến tiền tệ và Nhật Bản có thể trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất” của cuộc chiến tiền tệ này.

Các nhà giao dịch nhận định trong bối cảnh hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới này sẽ lắng dịu, thị trường ngoại hối toàn cầu chắc chắn sẽ tiếp tục phản ứng trước bất cứ phát biểu hay động thái nào của Mỹ và Trung Quốc trong thời gian tới.

Các nhà phân tích cho rằng Nhật Bản, với đồng Yen được coi là một tài sản an toàn trong thập kỷ qua, sẽ gặp rắc rối với các tranh chấp thương mại và tiền tệ đang gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc. Ông Masanobu Ishikawa, Tổng Giám đốc Tokyo Forex & Ueda Harlow – một công ty kinh doanh ngoại hối, nói: “Chúng ta không thể dự đoán Tổng thống Trump sẽ làm gì tiếp theo. Điều chúng ta có thể nói bây giờ là sự hỗn loạn trên thị trường tiền tệ có thể sẽ kéo dài trong một thời gian, và Nhật Bản sẽ bị thiệt hại từ sự hỗn loạn này”.

Một đồng NDT yếu hơn thường giúp thúc đẩy xuất khẩu bằng cách giúp cho hàng hóa của các công ty Trung Quốc rẻ hơn khi xuất khẩu sang các nước khác, đồng thời làm tăng doanh thu bằng đồng NDT ở nước ngoài. Chuyên gia kinh tế trưởng Junichi Makino của Công ty Chứng khoán SMBC Nikko, nói: “Nếu Trung Quốc cố gắng giảm thiểu tác động tiêu cực của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung bằng cách bằng cách hạ giá đồng bản tệ, cuộc chiến thương mại giữa hai cường quốc kinh tế này có thể sẽ chuyển thành một cuộc chiến tiền tệ”.

Một nhà kinh doanh ngoại hối nói: “Không thể loại trừ khả năng Tổng thống Trump sẽ can thiệp vào thị trường tiền tệ để hạ giá đồng bạc xanh của Mỹ”.

Mỹ vẫn chưa can thiệp vào thị trường tiền tệ kể từ năm 2011, thời điểm khi Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7) tiến hành một hành động chung để giúp bình ổn giá của đồng Yen sau trận động đất kinh hoàng tháng 3 năm đó ở Nhật Bản, và tránh các tác động tiềm tàng lên thị trường tài chính toàn cầu.

Ông Ishikawa nhận định Mỹ hầu như không có cơ hội kiểm soát tỷ giá USD vì Washington đang thúc giục Bắc Kinh không làm như vậy. Tuy nhiên, ông nói: “Tôi không thể nói là “tuyệt đối không”. Tổng thống Trump có thể làm bất cứ điều gì mà ông ấy có thể để thách thức Trung Quốc”. Nếu các quan ngại về một cuộc chiến tiền tệ đang lan rộng trên thị trường ngoại hối, Nhật Bản, nước có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu, có thể sẽ trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất”.

Cùng chung nhận định đó, chuyên gia Makino cho rằng đồng Yen của Nhật Bản đang tăng giá khi nhiều nhà giao dịch đã bán các tài sản rủi ro hơn, trong đó có chứng khoán, và đổ xô mua vào các tài sản an toàn hơn trong bối cảnh triển vọng kinh tế toàn cầu đang mờ mịt hơn.

Hôm 6/8, đồng Yen đã ngừng tăng giá nhưng đồng tiền này vẫn đứng ở mức cao nhất trong 7 tháng, trên ngưỡng 105 Yen/USD. Việc đồng Yen tăng giá sẽ làm giảm giá hàng nhập khẩu, khiến cho Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe gặp nhiều khó khăn hơn trong việc thực hiện mục tiêu đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng thiểu phát đã kéo dài nhiều thập kỷ qua và gây khó khăn cho Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) trong việc thực hiện mục tiêu nâng tỷ lệ lạm phát ở nước này lên 2%.

Trong tháng 6/2019, chỉ số giá tiêu dùng lõi của Nhật Bản (không bao gồm sự biến động của giá thực phẩm tươi sống) đã tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, các số liệu thống kê mới nhất của Chính phủ cho thấy đà tăng của chỉ số này vẫn thấp nhất trong gần 2 năm qua do giá dầu giảm. Trong tình hình như vậy, có những đồn đoán về khả năng BOJ sẽ nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ để kích thích nền kinh tế và chặn đà tăng giá của đồng Yen.

Tuy nhiên, Thủ tướng Abe đã cam kết tăng thuế tiêu dùng từ mức 8% hiện nay lên 10% vào đầu tháng 10/2019 để giúp khôi phục sự lành mạnh tài chính của nước này trong bối cảnh nợ công đang ở mức cao nhất trong số các nền kinh tế phát triển. Điều này làm gia tăng dự đoán rằng chi tiêu và đầu tư của khu vực tư nhân sẽ giảm. Các nhà kinh tế cho rằng nếu nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới đối mặt với áp lực suy thoái, giá cổ phiếu sẽ giảm và điều này có thể làm đẩy nhanh nhu cầu tìm đến đồng Yen như một nơi trú ẩn an toàn.

Nguồn: TKNB – 08/08/2019

Trung Quốc có thể “gây ra hậu quả đáng sợ” cho trật tự khu vực


Tờ Thời báo Nhật Bản vừa đăng bài phân tích có tựa đề “Trung Quốc có thể chiếm quần đảo Senkaku” của tác giả Jesse Johnson về sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc và khả năng Bắc Kinh có thể chiếm quần đảo Senkaku mà Nhật Bản đang kiểm soát. Trong bài viết, tác giả nhận định, sức mạnh quân sự đang gia tăng của Trung Quốc ở châu Á có thể gây ra “những hậu quả đáng sợ” cho trật tự khu vực do Mỹ dẫn dắt.

Trong báo cáo công bố hôm 19/8, Trung tâm Nghiên cứu Mỹ thuộc Đại học Sydney nhận định, kho tên lửa hùng mạnh của Trung Quốc có thể khuyến khích Bắc Kinh “trong tương lai gần” chiếm quần đảo Senkaku mà Nhật Bản đang kiểm soát và các vùng lãnh thổ khác nằm trong chuỗi Ryukyu.

Báo cáo này nhấn mạnh một thập kỷ “cấp vốn chậm trễ và không thể dự báo trước” cho ngân sách quốc phòng của Mỹ khiến Washington mất ưu thế ở khu vực Tây Thái Binh Dương và tạo ra lợi thế cho Bắc Kinh. Trung Quốc đã nghiên cứu thấu đáo phương thức chiến tranh của Mỹ, nhất là ở khu vực Trung Đông, và triển khai “một lực lượng tên lửa có sức mạnh kinh khủng và có độ chính xác cao cũng như các hệ thống chống lại sự can dự để làm suy yếu sự thống trị của quân đội Mỹ trong khu vực”.

Trung Quốc đã gia tăng, nâng cấp và mở rộng một cách có hệ thống kho tên lửa và các bệ phóng trong một chương trình mà Chính quyền Mỹ coi là “chương trình phát triển tên lửa đạn đạo tích cực nhất và đa dạng nhất trên thế giới”.

Bên cạnh đó, tại sa mạc Gobi, Bắc Kinh có vẻ như đang thực hành tấn công phủ đầu bằng tên lửa đối với các căn cứ tiền đồn của Mỹ, vốn đang là chỗ dựa cho sức mạnh quân sự của Washington ở khu vực Tây Thái Bình Dương, bằng cách sử dụng các mô hình chi tiết các cơ sở quân sự quan trọng của Mỹ ở Nhật Bản như căn cứ hải quân ở Yokosuka, tỉnh Kanagawa, căn cứ không quân ở Kadena, tỉnh Okinawa, và căn cứ Misawa ở tỉnh Aomori.

Theo báo cáo trên, việc huy động nhanh chóng một lực lượng hạn chế với những vũ khí này sẽ dựa trên giả thuyết đạt được một thắng lợi đã rồi, nhất là tại khu vực xung quanh Đài Loan, bán đảo Nhật Bản hoặc tuyến đường biển ở khu vực Đông Nam Á trước khi Mỹ có thể phản ứng.

Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nhiều lần đặt dấu hỏi về hệ thống đồng minh của Mỹ và các cam kết quốc tế cũng như sự thống trị về kinh tế của nước này cho dù không nơi nào rõ ràng hơn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Với khẩu hiệu “nước Mỹ trên hết”, Tổng thống Trump đã xa lánh các nước đồng minh lâu năm của Washington, đồng thời yêu cầu các đồng minh này phải chi thêm tiền cho các binh sĩ và căn cứ của Mỹ đang đồn trú ở đó và dọa rút quân khỏi nước đó nếu tình trạng “bất bình đẳng” đ1o vẫn không được giải quyết.

Dù không nêu đích danh Tổng thống Trump nhưng báo cáo trên ca ngợi chính quyền của ông này vì biết cách lo xa cũng như đánh giá cao những ưu tiên về chi tiêu quốc phòng của chính quyền này. Tuy nhiên, báo cáo này cũng chỉ ra các khó khăn mà các liên minh của Mỹ sẽ phải đối mặt trong một cuộc xung đột với Trung Quốc. Báo cáo có đoạn: “Sự phân nhánh ngày càng lớn hơn của việc Trung Quốc đặt các nước khác vào việc đã rồi sẽ hủy hoại cán cân sức mạnh ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và sự ổn định của liên minh và hệ thống đối tác của Mỹ. Về mặt trực tiếp, việc Trung Quốc nắm giữ các vị trí chiến lược như các giao điểm trọng yếu trên quần đảo Ryukyu sẽ giúp cho PLA có các lợi thế quân sự quan trọng”.

Theo báo cáo này, các lợi thế đó có thể bao gồm sự đe dọa ngày càng tăng đối với các lực lượng Mỹ và khu vực, khả năng sử dụng sức mạnh ở biển Hoa Đông và Đài Loan, và khả năng chia cắt Nhật Bản khỏi các đối tác an ninh ở phía Tây Nam trong một cuộc khủng hoảng.

Bất cứ thất bại nào trong nỗ lực phòng ngừa một cuộc tấn công của Trung Quốc vào một vùng lãnh thổ của đồng minh sẽ làm gia tăng các quan ngại về khả năng và sự sẵn sàng của Mỹ để hành động như một người bảo trợ an ninh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Báo cáo nhấn mạnh: “Mặc dù Mỹ có thể sẽ, nhưng không chắc chắn, chiếm ưu thế trong một cuộc chiến tranh mở rộng nhưng sự leo thang đến mức độ đó sẽ rất nguy hiểm và tốn kém về chi phí. Do các lợi ích của Mỹ về việc đảm bảo an ninh cho các đồng minh về cơ bản chỉ là thứ yếu…, cuối cùng, Washington có thể can thiệp nhưng sự can thiệp đó không có giá trị”.

Nguồn: TKNB – 23/08/2019

Căng thẳng Hàn – Nhật có thể còn kéo dài


Theo tờ Korea Herald, căng thẳng trong quan hệ Hàn Quốc – Nhật Bản có thể sẽ tiếp diễn trong một thời gian do cả hai bên không muốn nhượng bộ. Quan hệ Seoul – Tokyo đã rơi xuống mức tồi tệ sau quyết định của Tokyo áp dụng các hạn chế xuất khẩu nguyên liệu công nghiệp quan trọng sang Hàn Quốc, do đó làm tăng thời gian xử lý thủ tục nhập khẩu lên 90 ngày.

Nhật Bản tuyên bố rằng những thay đổi làm chậm tiến độ nhập khẩu các nguyên liệu như nhiệt dẻo (fluorinated polyimide) đã được thực hiện để đối phó với việc Seoul để các nguyên liệu có khả năng gây nguy hiểm này lọt vào Triều Tiên. Tuy nhiên, Hàn Quốc xem những thay đổi này là sự trả đũa phán quyết của Tòa án Tối cao Hàn Quốc vốn có lợi cho những người bị buộc lao động cho các công ty Nhật Bản trong giai đoạn 1938 – 1945.

Trong khi một số người ở Hàn Quốc hiểu động thái của Nhật Bản là một mưu đồ nhằm củng cố sự ủng hộ phe bảo thủ trước cuộc bầu cử Thượng viện Nhật Bản ngày 21/7, ông Abe dường như cũng không bớt cứng rắn sau khi giành chiến thắng trong cuộc bầu cử này. Ông Abe phát biểu trong một cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình Asahi TV ngày 21/7: “Nếu Hàn Quốc không đưa ra câu trả lời thích đáng về việc vi phạm Thỏa thuận giải quyết khiếu nại, thì các cuộc thảo luận mang tính xây dựng sẽ không thể thực hiện được”.

Thủ tướng Abe đã đề cập đến thỏa thuận Hàn Quốc – Nhật Bản ký năm 1969, theo đó Nhật Bản đã viện trợ tài chính và vật chất cho Hàn Quốc để bồi thường cho việc chiếm đóng Bán đảo Triều Tiên trong nửa đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, Tòa án Tối cao Hàn Quốc đã ra phán quyết trong những năm gần đây rằng thỏa thuận này không chấm dứt quyền của cá nhân đòi bồi thường cho những mất mát của họ dưới thời Nhật Bản chiếm đóng.

Ông Abe cũng tái khẳng định các biện pháp thương mại này không phải là sự trả đũa, và rằng Nhật Bản chỉ đang quản lý việc “mua bán các mặt hàng liên quan tới an ninh”. Thủ tướng Nhật Bản cũng cho rằng Seoul đã bác bỏ những lời kêu gọi của Tokyo tiến hành đàm phán các vấn đề liên quan trong 3 năm qua. Ông Abe còn ngụ ý rằng Hàn Quốc đã phá vỡ lòng tin giữa hai bên. Phủ Tổng thống Hàn Quốc đã đáp lại những tuyên bố này, nghi ngờ những lý lẽ của Chính phủ Nhật Bản biện minh cho các biện pháp hạn chế xuất khẩu.

Phát ngôn viên Nhà Xanh, bà Ko Min-jung, tuyên bố “(Chính phủ Hàn Quốc) đã liên tục gợi ý việc theo đuổi một cách tiếp cận hai đường, đó là tách biệt quá khứ và tương lai trong quan hệ Hàn – Nhật”. Bà nói Seoul đã đáp trả các tuyên bố của Nhật Bản về chuyện nguyên liệu công nghiệp nhập khẩu từ Nhật Bản lọt vào Triều Tiên, cũng như các vấn đề được đưa ra trong phán quyết của Tòa án Tối cao về bồi thường cho các lao động bị cưỡng ép.

Bà Ko Min-jung nói thêm: “(Nhật Bản) đã nêu các vấn đề an ninh, sau đó là các vấn đề lịch sử rồi lại nêu các vấn đề an ninh. Hôm nay, (ông Abe) một lần nữa đề cập đến các vấn đề lịch sử, song tôi nghĩ Nhật Bản nên chú ý tới đường lối đối ngoại”. Theo bà, việc hai nước hợp tác là có lợi nhất cho người dân Hàn Quốc và Nhật Bản.

Khi Hàn Quốc và Nhật Bản tiếp tục “lạc nhịp”, khả năng Thủ tướng Hàn Quốc Lee Nak-yon đóng vai trò lớn hơn trong vấn đề này đã được chú ý. Ý tưởng cử ông Lee đến Nhật Bản với tư cách một Đặc phái viên đã được nêu trong chính trường, trong đó có cả ý kiến của nhà lập pháp kỳ cựu Park Jie-won từ đảng đối lập nhỏ Hòa bình Dân chủ.

Chỉ vài giờ sau khi trở về nước ngày 22/7, ông Lee đã gặp Ngoại trưởng Kang Kyung-wha và nhà soạn thảo chính sách hàng đầu Kim Sang-jo để thảo luận các vấn đề liên quan, tiếp tục thúc đẩy những suy đoán rằng ông sẽ đóng vai trò trực tiếp hơn. Tuy nhiên, Nhà Xanh đã nhiều lần tuyên bố mặc dù tất cả các biện pháp còn để ngỏ, bao gồm lựa chọn cử một Đặc phái viên đến Nhật Bản, song tất cả các bước đi sẽ được xem xét cẩn trọng.

Đảng Dân chủ cầm quyền của Hàn Quốc đagn thực hiện một đường lối cứng rắn hơn, coi các hành động của Nhật Bản là một “cuộc xâm lược kinh tế”, và đi xa hơn khi nói rằng Nhật Bản không thể tìm kiếm một sự thay đổi chính quyền ở Hàn Quốc”. Chủ tịch đảng Dân chủ Đồng hành Lee Hae-chan phát biểu ngày 22/7: “Cuộc xâm lược kinh tế của Nhật Bản sẽ bắt đầu. Chính phủ, đảng và nhân dân Hàn Quốc phải có quyết tâm phi thường trong việc đối phó với sự chuyên chế của Nhật Bản, nước đang gây mất ổn định, thậm chí trật tự an ninh khu vực”.

Quan chức này cho hay Nhật Bản dự kiến sẽ tiến hành các biện pháp tiếp theo vào cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 tới. Ngày 19/7, ông Lee tuyên bố các động thái của Nhật Bản chỉ có thể đdược hiểu là một nỗ lực làm suy yếu chính quyền Moon Jae-in, trích dẫn bài báo trên nhật báo Asahi Shimbun. Bài báo đã dẫn lời một quan chức Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản cho biết các biện pháp hạn chế thương mại sẽ được duy trì chừng nào ông Moon Jae-in vẫn nắm quyền ở Hàn Quốc.

Nguồn: TKTTK – 24/07/2019

Những thay đổi lớn và triển vọng tình hình Bán đảo Triều Tiên – Phần cuối


3/ Xu thế phát triển của tình hình bán đảo

Hiện nay, Mỹ và Triều Tiên đang đàm phán về thỏa thuận từ bỏ hạt nhân, việc thực hiện từ bỏ hạt nhân cuối cùng phụ thuộc vào sự thành công của thỏa thuận. Như đã nói ở trên, một mặt, Mỹ và Triều Tiên bất đồng nghiêm trọng trong các vấn đề như hình thức từ bỏ hạt nhân, nội dung từ bỏ hạt nhân và xây dựng cơ chế hòa bình…, việc đạt được thỏa thuận là tương đối khó khăn, mấu chốt của việc đạt được thỏa thuận từ bỏ hạt nhân là Mỹ phải đưa ra quyết định chính trị (giống như việc xử lý vấn đề hạt nhân Iran trong thời kỳ Obama); Mặt khác, trong trường hợp Mỹ và Triều Tiên đạt được thỏa thuận từ bỏ hạt nhân (Mỹ và Triều Tiên hai lần đạt được thỏa thuận liên quan đến hạt nhân vào năm 1994 và 2005), nhân tố then chốt của sự phát triển tình hình tiếp theo là Mỹ liệu có thực thi thỏa thuận một cách trung thực hay không, điều này phụ thuộc vào sự lựa chọn chiến lược của Mỹ chứ không chỉ ở nhân tố cá nhân Trump. Đương nhiên, trong việc thực thi thỏa thuận một cách cụ thể còn sẽ đối mặt với vấn đề mang tính kỹ thuật phức tạp, như các vấn đề nhạy cảm liên quan đến an ninh quốc gia như kê khai (nội dung và phạm vi kê khai), xác minh (tính xâm phạm của xác minh), tiêu hủy (bảo vệ bí mật vũ khí)…, một chút sơ suất sẽ nảy sinh bất hòa nghiêm trọng thậm chí dẫn đến đảo ngược tình hình.

Mặc dù vấn đề từ bỏ hạt nhân của Triều Tiên tạm thời chưa thể thực hiện, thì cục diện tình hình bán đảo trong tương lai tiếp tục theo chiều hướng tốt và ổn định hòa bình và tổng thể vẫn có thể duy trì, điều không chỉ vì sự điều chỉnh đáng kể và chuyển hướng phát triển của chính sách quốc gia Triều Tiên, mà cũng phụ thuộc vào nhận thức chung và nỗ lực hành động của các nước liên quan đối với việc duy trì sự ổn định của tình hình bán đảo. Trong số đó, tác dụng và vai trò của Hàn Quốc vô cùng quan trọng. Là một bên của cộng đồng vận mệnh lợi ích Hàn – Triều của bán đảo, cũng là một bên của quan hệ đồng minh quân sự Mỹ – Hàn, Hàn Quốc vừa có thể chủ động lựa chọn hành động với Triều Tiên, chi phối quan hệ liên Triều, lại có thể kiềm chế hành động quân sự của Mỹ – Hàn, gây ảnh hưởng đối với tình hình an ninh bán đảo. Mặc dù Hàn Quốc không phải bên chi phối trong quan hệ đồng minh quân sự Mỹ – Hàn, nhưng có ảnh hưởng quan trọng đối với hành động quân sự thậm chí là địa vị đóng quân của Mỹ – Hàn. Hàn Quốc nên làm rõ một đạo lý: trong cục điện bán đảo hiện nay, bảo đảm an ninh cho Hàn Quốc là mục tiêu cao nhất đặt trên tất cả, các lựa chọn chiến lược chính trị khác bao gồm đồng minh quân sự với Mỹ…, chỉ là biện pháp để thực hiện mục tiêu cao nhất này chứ không phải là mục đích. Nếu bằng cách cải thiện quan hệ với Triều Tiên, xoa dịu tình hình bán đảo để có thể từng bước thực hiện mục tiêu này, mà việc tăng cường quan hệ quân sự với Mỹ dẫn đến việc Triều Tiên đẩy mạnh xây dựng vũ lực, nâng cao mức độ chuẩn bị chiến đấu ngược lại còn làm suy yếu mục tiêu này, như vậy, Hàn Quốc phải có lựa chọn đúng đắn. Trong tình hình hiện nay, Hàn Quốc không chỉ cần phải tiếp tục cải thiện quan hệ với Triều Tiên, đồng thời cùng phải kiềm chế các hành vi gây xáo trộn, tổn hại đến tình hình bán đảo của Mỹ (như tăng cường các biện pháp trừng phạt, diễn tập quân sự…), để ủng hộ Triều Tiên tiếp tục con đường hòa dịu, từ bỏ hạt nhân, bảo đảm rằng tình hình bán đảo tiếp tục phát triển theo hướng tốt lên.

Duy trì hòa bình ổn định của bán đảo cũng phù hợp với lợi ích chung của các nước Đông Bắc Á khác như Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, các nước Đông Bắc Á có trách nhiệm và nghĩa vụ cùng nỗ lực bảo vệ cục diện tốt đẹp đang nảy sinh trên bán đảo, cần phải có sự đồng thuận cao độ về vấn đề này. Để làm được điều này, trước hết, các nước cần phải phản ứng một cách tích cực sự điều chỉnh chính sách của Triều Tiên, thông qua ngoại giao chính trị ủng hộ hành động từ bỏ hạt nhân của Triều Tiên, ủng hộ nỗ lực xoa dịu quan hệ giữa Hàn Quốc và Triều Tiên, thúc giục Mỹ với Triều Tiên đạt được thỏa thuận từ bỏ hạt nhân và thực hiện thỏa thuận một cách chân thực, thúc đẩy tiến trình phi hạt nhân hóa bán đảo; Thứ hai, nỗ lực tìm cách phát triển quan hệ song phương với Triều Tiên, cải thiện môi trường quốc tế của Triều Tiên, khuyến khích Triều Tiên theo con đường mở cửa đối ngoại, hội nhập với thế giới; Cuối cùng, dựa trên những hành động đóng băng và từ bỏ hạt nhân mà Triều Tiên chủ động thực hiện, dưới tiền đề Hội đồng Bản an Liên hợp quốc thúc đẩy nới lỏng các lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên và không vi phạm nghị quyết của Hộ đồng Bảo an Liên hợp quốc, nỗ lực hỗ trợ Triều Tiên xây dựng kinh tế, đồng thời đặt Triều Tiên vào sự phát triển kinh tế khu vực Đông Bắc Á, thúc đẩy nhất thể hóa kinh tế Đông Bắc Á, từ đó có thể phát huy vai trò quan trọng.

Kết luận

Năm 2018 là một năm quan trọng của sự phát triển tình hình bán đảo Triều Tiên, bán đảo đối mặt với vấn đề lựa chọn chiến tranh hay hòa bình. Năm 2019 này lại đối mặt với một vấn đề quan trọng, là liệu có nắm bắt được cơ hội phi hạt nhân bán đảo và phát triển bán đảo theo chiều hướng tốt hay không. Về việc này, một mặt, vấn đề là thực hiện phi hạt nhân hóa chủ yếu phụ thuộc vào Mỹ liệu có thể đưa ra quyết sách chiến lược hay không; mặt khác, việc duy trì cục diện bán đảo theo hướng tích cực sẽ phụ thuộc vào các bên đặc biệt là sự phát huy via trò của Hàn Quốc, sự nỗ lực và đồng thuận của Trung Quốc, Nga, Nhật Bản cũng rất quan trọng.

Nguồn: www.iwep.org.cn

CVĐQT – số 03/2019

Những thay đổi lớn và triển vọng tình hình Bán đảo Triều Tiên – Phần V


Từ quan điểm của Triều Tiên, mặc dù hiện nay Triều Tiên một lần nữa khẳng định mục tiêu phi hạt nhân hóa, và chủ động thực hiện các biện pháp đóng băng hạt nhân vô điều kiện, thể hiện thành ý rất lớn trong việc từ bỏ hạt nhân, nhưng nhìn về mặt địa lý, lịch sử và tình hình thực tế thì Triều Tiên không thể từ bỏ hạt nhân trong ngắn hạn. Nguyên nhân chính là: Thứ nhất, việc phát triển sở hữu vũ khí hạt nhân của Triều Tiên là mục tiêu chiến lược nước này kiên trì theo đuổi trong nhiều thập kỷ, sở hữu hạt nhân đã được đưa vào hiến pháp, Triều Tiên đã rất nỗ lực và cái giá phải bỏ ra là rất lớn để có được điều này, vì vậy khi đã sở hữu hạt nhân sẽ không dễ dàng từ bỏ, trừ khi các điều kiện bảo đảm an ninh cho Triều Tiên được đáp ứng một cách đáng tin cậy, mà điều này không dễ dàng có được từ Mỹ. Thứ hai, hiện nay Triều Tiên đã hoàn thành xây dựng “sự nghiệp lịch sử cường quốc hạt nhân”, nếu trong tình huống từ bỏ hạt nhân trong thời gian ngắn mà không có đượoc cam kết an ninh đáng tin cậy của Mỹ thì không chỉ quân bài an ninh bị phá hủy trong chốc lát, mà còn không thể bàn giao trong nội bộ. Triều Tiên tuyên bố rõ ràng trong báo cáo Hội nghị toàn thể lần thứ ba đảng Lao động khóa VII, “chỉ cần không bị đe dọa hạt nhân và khiêu khích hạt nhân, Triều Tiên tuyệt đối không sử dụng vũ khí hạt nhân, cũng sẽ không tiết lộ vũ khí hạt nhân và công nghệ hạt nhân”, rõ ràng là Triều Tiên đã công bố chính sách hạt nhân của mình, Triều Tiên đã tự cho mình là quốc gia hạt nhân. Thứ ba, nhìn vào thái độ của hàng loạt tuyên bố của Triều Tiên, Triều Tiên khẳng định rằng phi hạt nhân hóa là mục tiêu cuối cùng chứ không phải mục tiêu ngắn hạn, kiên trì phương án thực hiện phi hạt nhân hóa đồng bộ và chia giai đoạn, điều này báo hiệu việc từ bỏ hạt nhân của Triều Tiên không phải là một quá trình trong ngắn hạn; Thứ tư, lịch sử đã chứng minh, cho dù Triều Tiên cuối cùng có đạt được thỏa thuận hạt nhân với Mỹ thì quá trình thực hiện cũng tồn tại biến số rất lớn (thỏa thuận thực thi của Mỹ không đáng tin cậy, như hai lần thực hiện thỏa thuận từ bỏ hạt nhân Triều Tiên và Thỏa thuận hạt nhân Iran trước đây, uy tín của Mỹ đáng phải hoài nghi), Triều Tiên sẽ không hoàn thành từ bỏ hạt nhân cho đến khi đạt được mục tiêu an ninh đáng tin cậy, trong khi việc từ bỏ hoàn toàn hạt nhân của Triều Tiên lại là điều kiện tiên quyết để Mỹ trao cho Triều Tiên sự đảm bảo an ninh, đây chắc chắn sẽ là một quá trình phức tạp và đầy mâu thuẫn.

Đồng thời, từ quan điểm của Mỹ, việc Triều Tiên từ bỏ hạt nhân liên quan đến địa vị và địa chiến lược của Mỹ tại Đông Bắc Á. Nếu Triều Tiên thực hiện mục tiêu từ bỏ hạt nhân, sau đó Triều Tiên và Hàn Quốc hoàn toàn hòa giải, bán đảo xây dựng cơ chế hòa bình lâu dài, như vậy, cơ chế đồng minh quân sự giữa Mỹ và Hàn Quốc cũng như việc đóng quân tại Đông Bắc Á của Mỹ sẽ trở thành vấn đề, sự chủ đạo và kiểm soát của Mỹ đối với cục diện chiến lược Đông Bắc cũng sẽ phải đánh dấu một dấu hỏi, địa vị bá quyền của Mỹ sẽ bị ảnh hưởng lớn, e rằng trong giai đoạn hiện nay Mỹ sẽ không chấp nhận viễn cảnh này. Bây giờ Trump đưa ra yêu cầu với Triều Tiên về cái gọi là từ bỏ hạt nhân hoàn toàn trong thời gian ngắn, trong một lần, trên thực tế đây là một cái giá cao đối với Triều Tiên, Triều Tiên đương nhiên khó mà chấp nhận. Hơn nữa, trong tình hình hiện nay khi Triều Tiên đã thể hiện mong muốn phi hạt nhân hóa, Mỹ vẫn tuyên bố sẽ không từ bỏ các biện pháp gây áp lực như các lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên, sau cuộc gặp mặt đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo Nam – Bắc diễn ra tại Panmunjom Mỹ vẫn khăng khăng tiến hành diễn tập quân sự quy mô lớn và khiến cho Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều xuất hiện nhiều nghi vấn, đồng thời cử tướng lĩnh cứng rắn với Triều Tiên là Đô đốc Harris làm đại sứ Mỹ tại Hàn Quốc, vẫn khẳng định không nới lỏng lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên và nhấn mạnh các lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên, chính sách và hành động của Mỹ đáng đặt nghi vấn.

Người ta có thể đặt ra một câu hỏi, nếu Mỹ không thực sự giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên, thì tại sao trong năm nay hai nước thù địch này thực hiện cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên và đưa ra tuyên bố chung, hai bên bắt đầu tương tác thường xuyên? Câu trả lời là, đó là hành động của cá nhân Trump, chứ không phải chiến lược của Mỹ. Là vị tổng thống phi truyền thống đầu tiên kể từ khi nước Mỹ thành lập hơn 200 năm nay, Trump thể hiện tư duy và hành động phi quy tắc, quyết định bất ngờ gặp gỡ Kim Jong-un của ông là quyết định cá nhân chứ không phải là kết quả khi đã thông qua quyết định của tầng quyết sách Nhà Trắng, nếu không sẽ không có chuyện một ngày trước đó Ngoại trưởng Tillerson vẫn kiên quyết điều kiện tiên quyết của cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ – Triều và sau đó đột nhiên từ chức, sau đó nhiều lần xuất hiện hiện tượng không bình thường là Trump bày tỏ quan điểm trong vấn đề Triều Tiên trước, sau đó Nhà Trắng mới bổ sung thêm. Tất nhiên đó là do tính cách độc đoán, tự kiêu, khác người của Trump. Nhưng hành vi và mục tiêu của Trump sau này không chỉ bị phê bảo thủ truyền thống kìm hãm, mà cũng sẽ bị cản trở bởi các cơ quan chính phủ (trong thực tế đã thể hiện điều đó). Điều này sẽ càng đem đến biến số lớn cho quan hệ Mỹ – Triều và vấn đề phi hạt nhân hóa bán đảo bởi tính bất ổn và khó đoán định của Chính quyền Trump.

2/ Hy vọng giải quyết tương lai của vấn đề hạt nhân Triều Tiên

Giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên sẽ là một quá trình phức tạp lâu dài đầy mâu thuẫn. Trong tình hình chiến lược toàn cầu và mục tiêu chiến lược Đông Á của Mỹ không thay đổi, Mỹ chắc chắn sẽ tiếp tục duy trì quyền chủ đạo và sự kiểm soát đối với an ninh chính trị Đông Bắc Á, vấn đề hạt nhân Triều Tiên về cơ bản khó mà giải quyết. Nhưng lịch sử luôn phát triển và sự vật luôn thay đổi, cùng với diễn biến của tình hình chiến lược thế giới và cục diện địa chính trị Đông Bắc Á, khi thực lực Mỹ khó mà duy trì mục tiêu chiến lược toàn cầu của nước này mà buộc phải rút khỏi Đông Bắc Á, vấn đề hạt nhân Triều Tiên mới có thể giải quyết triệt để thực sự.

Hiện nay, tình hình chiến lược thế giới và trật tự quốc tế đang ở vào giai đoạn điều chỉnh sâu sắc nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới đang hướng đến một bố cục và trật tự hoàn toàn mới trong tương lai, mà Mỹ chính là nguyên nhân đầu tiên của việc thay đổi này. Bố cục và trật tự quốc tế kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai mặc dù trải qua sự đối kháng cao độ giữa hai cực trong Chiến tranh Lạnh cũng như những tác động lớn của việc kết thúc Chiến tranh Lạnh nhưng về tổng thể vẫn giữ được sự ổn định cơ bản. Tuy nhiên, cùng với sự suy yếu của Mỹ, phương Tây thì chìm nghỉm, và sự trỗi dậy của các nền kinh tế mới nổi, diễn biến của tình hình quốc tế đang ở nút giao nhau lịch sử từ biến đổi về lượng đến biến đổi về chất, sau 10 năm nữa, tổng lượng kinh tế của các nước đang phát triển sẽ vượt qua tổng lượng kinh tế của các nước phát triển, cục diện quốc tế sẽ có sự thay đổi bước ngoặt mang tính lịch sử. Hiện nay Mỹ không chỉ thúc đẩy chủ nghĩa bảo hộ thương mại, mà còn thực hiện hàng loạt hành động đơn phương, liên tục rút khỏi nhiều cơ chế và thỏa thuận đa phương của quốc tế, điều này không chỉ có nghĩa là quyền lợi của Mỹ trong các cơ chế và thỏa thuận này bị suy yếu, cũng có nghĩa là sự thoái thác trách nhiệm và nghĩa vụ quốc tế của Mỹ, thậm chí ngay cả trách nhiệm bảo vệ những đồng minh quan trọng nhất để duy trì địa vị bá quyền của mình Mỹ cũng muốn giảm bớt, điều này cho thấy sự suy yếu của địa vị bá quyền cũng như sự “mệt mỏi” trong việc “lãnh đạo” thế giới của Mỹ. Sự phát triển của bố cục và tình hình này chắc chắn sẽ phản ánh trong cục diện địa chính trị. Cùng với việc cục diện này tiếp tục diễn biến, hy vọng về một giải pháp hòa bình vấn đề hạt nhân Triều Tiên cũng ngày càng lớn.

Đương nhiên, cho dù dưới cục diện địa chính trị Đông Á hiện nay, dưới sự tác động của các nhân tố tổng hợp như lịch sử, môi trường và thực tế… cùng với sự phát triển của tình hình, cũng có khả năng Triều Tiên chọn tự nguyện từ bỏ hạt nhân. Trong mục “Tình hình và triển vọng của bán đảo Triều Tiên” của “”Báo cáo chính trị và an ninh toàn cầu” năm 2018 đã nêu ra “một phương án khả thi khác để giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên trong hòa bình là Triều Tiên tự nguyện từ bỏ hạt nhân, điều kiên tiên quyết của phương án này là Triều Tiên đưa ra một lựa chọn chiến lược thay đổi đường lối phát triển quốc gia, đó là đi theo con đường cải cách mở cửa để thực hiện hội nhập với thế giới, tự bảo vệ an ninh và phát triển”. Năm 2018, Triều Tiên có sự điều chỉnh đáng kể về phương hướng phát triển và chính sách quốc gia, sự thay đổi và điều chỉnh này về tổng thể là không thể đảo ngược, như vậy, khả năng Triều Tiên tự nguyện từ bỏ hạt nhân trong tương lai càng trở nên thực tế hơn, đáng để kỳ vọng. Để làm cho khả năng này biến thành hiện thực, không chỉ phụ thuộc vào sự kiên định trong điều chỉnh chính sách của Triều Tiên, còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của các nước khác đặc biệt là các nước xung quanh đối với việc điều chỉnh chính sách của Triều Tiên, phải để Triền Tiên có cảm giác thắng lợi và cảm giác hài lòng đối với sự lựa chọn đường lối và chính sách này, khiến Triều Tiên tự tin tiếp tục đi trên con đường này, như vậy, khi tình hình phát triển đến một mức độ nhất định, Triều Tiên có khả năng sẽ lựa chọn con đường tự nguyện từ bỏ hạt nhân.

(còn tiếp)

Nguồn: www.iwep.org.cn

CVĐQT – số 03/2019

Những thay đổi lớn và triển vọng tình hình Bán đảo Triều Tiên – Phần IV


Ba là, bất đồng về lịch trình của việc từ bỏ hạt nhân. Trong các cuộc họp trao đổi giữa Mỹ và Triều Tiên, vấn đề lịch trình của việc từ bỏ hạt nhân luôn là một trong những vấn đề chính. Mỹ theo đuổi một sự từ bỏ hạt nhân ngắn gọn rõ ràng, đại diện của Mỹ tại Liên hợp qốc Nikki Haley từng bày tỏ, Mỹ tuy sẽ giữ kiên nhẫn trong vấn đề từ bỏ hạt nhân, nhưng cũng không muốn chờ đợi quá lâu. Do bất đồng nghiêm trọng, lịch trình cho việc từ bỏ hạt nhân vẫn chưa xuất hiện trong tuyên bố chung của  Trump và Kim Jong-un trong cuộc gặp tại Singapore. Nhưng Ngoại trưởng Mỹ Pompeo vào ngày thứ hai sau hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều đã bày tỏ rằng, Mỹ hy vọng Triều Tiên có động thái chính đối với việc từ bỏ vũ khí hạt nhân trong hai đến hai năm rưỡi nữa, tức là trước khi Tổng thống Mỹ Donald Trump kết thúc nhiệm kỳ 4 năm, đây là tuyên bố công khai đầu tiên của Mỹ trong vấn đề lịch trình từ bỏ hạt nhân của Triều Tiên. Do bị Triều Tiên từ chối, ông Pompeo sau đó đã đổi giọng rằng, lịch trình cuối cùng của việc phi hạt nhân hóa do phía Triều Tiên quyết định. Điều này cho thấy Mỹ và Triều Tiên vẫn chưa có tiến triển đáng kể nào trong vấn đề liên quan đến lịch trình từ bỏ hạt nhân.

Vấn đề lịch trình từ bỏ hạt nhân có sự chuyển biến trước Hội nghị thượng đỉnh lần thứ ba giữa Hàn Quốc và Triều Tiên. Trước thềm hội nghị, Chung Eui-yong, Giám đốc Văn phòng An ninh Quốc gia của Tổng thống Hàn Quốc dẫn đầu đoàn đến thăm Triều Tiên và gặp gỡ Kim Jong-un, sau đó Nhà Xanh cho biết, lãnh đạo tối cao Triều Tiên Kim Jong-un khi gặp gỡ đoàn đặc phái viên Hàn Quốc đã bày tỏ rằng, Triều Tiên mong muốn Mỹ – Triều trong nhiệm kỳ của Tổng thống Trump có thể kết thúc lịch sử thù địch kéo dài 70 năm, cải thiện quan hệ, thực hiện phi hạt nhân hóa. Điều này ngụ ý rằng, Triều Tiên đồng ý hoàn thành từ bỏ hạt nhân trong nhiệm kỳ của Tổng thống Trump, đây là sự đồng thuận quan trọng mà Mỹ – Triều đạt được trong vấn đề từ bỏ hạt nhân, tuy nhiên trong tình hình Mỹ và Triều Tiên tồn tại bất đồng nghiêm trọng trong một số vấn đề thực tế như nội dung từ bỏ hạt nhân và phương thức từ bỏ hạt nhân, sự đồng thuận này chỉ có ý nghĩa chính trị, không mang tính thực tế.

3/ Xây dựng cơ chế hòa bình bán đảo

Tóm lại, căn nguyên của vấn đề hạt nhân là do sự mất cân bằng của cục diện an ninh bán đảo, tương tự như vậy, giải quyết vấn đề hạt nhân cũng cần phải thay đổi cục diện an ninh mất cân bằng này, điều này đòi hỏi phải xây dựng cơ chế hòa bình mới trên bán đảo để bảo đảm nhu cầu an ninh của các bên, đó cũng là ý tưởng “cùng tiến hành song song” phi hạt nhân hóa bán đảo và xây dựng cơ chế hòa bình bán đảo mà Trung Quốc đề xuất. Nhưng về mặt xây dựng cơ chế hòa bình, vẫn có những bất đồng lớn giữa các bên liên quan.

Triều Tiên kiên trì tiến hành đồng bộ phi hạt nhân hóa bán đảo và chuyển đổi cơ chế từ đình chiến sang hòa bình, trong khi Mỹ lại yêu cầu Triều Tiên hoàn thành từ bỏ hạt nhân trước sau đó mới bàn đến vấn đề xây dựng cơ chế hòa bình, thậm chí đến vấn đề dỡ bỏ lệnh trừng phạt mà Triều Tiên đòi hỏi Mỹ cũng kiên quyết lập trường như vậy. Các quan chức cấp cao Mỹ như Ngoại trưởng Mỹ Pompeo và Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc Nikki Haley đều nói rằng sẽ không xem xét vấn đề dỡ bỏ các lệnh trừng phạt cho đến khi Triều Tiên thực hiện từ bỏ hạt nhân một cách triệt để. Rõ ràng, Mỹ đã đưa ra một cái giá rất cao cho việc dỡ bỏ các lệnh trừng phạt Triều Tiên, xây dựng cơ chế hòa bình bán đảo và cải thiện quan hệ với Triều Tiên, đòi hỏi này không phù hợp với nguyên tắc và logic quốc tế.

Các lệnh trừng phạt của Liên hợp quốc đối với Triều Tiên là do Triều Tiên liên tục tiến hành thử nghiệm hạt nhân và phóng thử tên lửa đạn đạo đang bị Liên hợp quốc cấm. Nếu dựa trên các nguyên tắc chính trị quốc tế nói chung, sau khi Triều Tiên bày tỏ quyết tâm từ bỏ hạt nhân, tuyên bố không tiến hành thử nghiệm hạt nhân và phóng thử tên lửa đạn đạo đồng thời thực hiện các hành động đóng băng hạt nhân thực tế như hủy bỏ các bãi thử hạt nhân, các điểm phóng tên lửa đạn đạo…, Liên hợp quốc cần phải đưa ra các phản ứng tương ứng đối với vấn đề này, dỡ bỏ một số lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên, điều này không chỉ phù hợp với nguyên tắc và mục đích liên quan đến lệnh trừng phạt của Liên hợp quốc, cũng là hành động khích lệ Triều Tiên tiếp tục nỗ lực trong hướng đi từ bỏ hạt nhân, thúc đẩy mục tiêu phi hạt nhân hóa bán đảo tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, Mỹ không chỉ tiếp tục kiên trì các lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên, thậm chí còn nhấn mạnh các biện pháp trừng phạt Triều Tiên tại Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Vào ngày 17, trước hôm Moon Jae-in bắt đầu chuyến thăm Triều Tiên vào ngày 18/9/2018, Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc, bà Nikki Haley đã yêu cầu Hội đồng bảo an tổ chức một cuộc họp công khai về vấn đề hạt nhân bán đảo Triều Tiên và tình hình chấp hành lệnh trừng phạt của Liên hợp quốc đối với Triều Tiên, trong cuộc họp bà cáo buộc Nga vi phạm nội dung nghị quyết trừng phạt Triều Tiên của Liên hợp quốc. Ngoại trưởng Mỹ Pompeo cũng bày tỏ, Mỹ vẫn thắt chặt lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên. Cách làm khiến Triều Tiên phải “đưa đồ trước, nhận tiền sau” của Mỹ nếu không phải do logic chính trị cường quyền của Mỹ đưa tới, thì sẽ làm người ta hoài nghi về việc Mỹ có thực sự muốn thúc đẩy Triều Tiên từ bỏ hạt nhân, thực hiện phi hạt nhân hóa bán đảo hay không.

Khi Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đến thăm Triều Tiên hồi tháng 9/2018, đã nahnh chóng đạt được sự nhất trí với Triều Tiên về tuyên bố kết thúc chiến tranh, ông nói rằng tuyên bố kết thúc chiến tranh là một bản tuyên ngôn chính trị tuyên bố chấm dứt quan hệ thù địch, là khởi điểm của triển khai đàm phán ký kết hiệp định hòa bình. Để xoa dịu Mỹ, ông nói rằng  tuyên bố kết thúc chiến tranh không ảnh hưởng đến tình trạng của quân đội Mỹ ở Hàn Quốc, thậm chí ông còn bày tỏ trong cuộc phỏng vấn của kênh truyền hình FOX, trong tương lai “ngay cả khi Triều Tiên được thống nhất cũng vẫn cần đến sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Hàn Quốc” (hy vọng rằng đây chỉ là những lời lẽ xoa dịu Mỹ của Moon Jae-in, không phải là chính sách của Hàn Quốc, nếu không sẽ xảy ra hậu quả nghiêm trọng). Moon Jae-in nói mục tiêu của Hàn Quốc là ký tuyên bố kết thúc chiến tranh trong năm nay, nội dung liên quan sẽ thảo luận cụ thể trong cuộc họp giữa các nhà lãnh đạo Mỹ và Triều Tiên. Ký kết tuyên bố kết thúc chiến tranh là khởi đầu cho việc đàm phán cơ chế hòa bình, việc Mỹ có đồng ý đạt được tuyên bố này trong cuộc họp thượng đỉnh Mỹ – Triều lần thứ hai hay không, chính là phép thử kiểm tra xem liệu Mỹ có thật lòng thúc đẩy xây dựng cơ chế hòa bình trên bán đảo hay không.

III/ Sự phát triển trong tương lai của tình hình bán đảo Triều Tiên

Sự phát triển trong tương lai của tình hình bán đảo Triều Tiên chắc chắn sẽ phụ thuộc vào tiến trình phi hạt nhân hóa, đây sẽ là một quá trình quanh co lâu dài, diễn biến của tình hình địa chính trị Đông Á và cục diện thế giới trong tương lai có thể đem đến hy vọng cho việc thực hiện phi hạt nhân hóa bán đảo. Mặc dù trong tình hình bất lợi cho sự phát triển tiến trình phi hạt nhân hóa bán đảo như hiện nay thì tình hình bán đảo vẫn có khả năng duy trì được sự hòa dịu, điều này không chỉ vì Triều Tiên đã thay đổi chính sách quốc gia và phương hướng phát triển, mà còn liên quan mật thiết với sự nỗ lực và đồng thuận của các bên liên quan.

1/ Triển vọng phi hạt nhân hóa

Hiện nay, điều Mỹ theo đuổi là Triều Tiên hoàn thành mục tiêu từ bỏ hạt nhân trong khoảng từ cuối năm 2020 đến đầu năm 2021 khi Trump sắp kết thúc nhiệm kỳ. Sau khi trải qua sự lựa chọn khó khăn, Triều Tiên cũng mới đồng ý với mục tiêu này. Nhưng nhìn từ cấp độ chiến lược chính trị, cho dù là Mỹ hay là Hàn Quốc, đều khó mà thực sự thúc đẩy mục tiêu này, đặc biệt là nhìn từ quan điểm của Triều Tiên, đồng ý với lịch trình từ bỏ hạt nhân mà Mỹ đưa ra có thể là một bước đi chiến lược. Nhìn từ nguyên nhân sâu xa và mấu chốt của vấn đề hạt nhân Triều Tiên, việc giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên phụ thuộc vào quyết định chiến lược của Mỹ, từ đó suy luận, triển vọng giải quyết vấn đề hạt nhân của Triều Tiên không mấy lạc quan, vấn đề hạt nhân Triều Tiên có thể tiếp tục kéo dài, hơn nữa hiện nay Triều Tiên đã sở hữu vũ khí hạt nhân và tuyên bố có khả năng răn đe bằng hạt nhân đến tận lãnh thổ Mỹ, điều này hoàn toàn khác với tình hình hai lần đạt được thỏa thuận từ bỏ hạt nhân năm 1994 và 2005.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.iwep.org.cn

CVĐQT – số 03/2019