Cải cách kinh tế học nhìn từ bên trong


Cameron Murray

Không thể cường điệu thách thức mà cải cách kinh tế học phải đối mặt. Kinh tế học hiện đại dòng chính vẫn chiếm ưu thế trong các trường đại học và các chính phủ của chúng ta mặc cho bằng chứng áp đảo chống lại hầu hết các nguyên tắc cốt lõi của nó, và mặc cho nhiều thập niên nỗ lực của các cuộc cách mạng. Khái niệm về trạng thái cân bằng tĩnh và ‘tác nhân tiêu biểu’ (‘representative agent’) của phương pháp tổng gộp chỉ là hai khái niệm mà đã nhiều lần cho thấy là không có sự nhất quán nội tại, không chỉ từ những người bên ngoài mà còn từ nhiều trong số những nhà lãnh đạo trong dòng chính. Tuy nhiên, chúng vẫn tiếp tục thống trị bộ môn [kinh tế học] này.

Điều cốt lõi vẫn không hề suy suyển.

Các khái niệm lỗi thời và không thích đáng về mặt kinh tế vẫn chiếm đầy các trang của những quyển giáo trình nhập môn. Từ đó, chúng được nhồi vào tâm trí của mỗi thế hệ sinh viên mới, đến lượt mình, họ tiếp tục chuyển giao các ý tưởng này cho thế hệ sinh viên tiếp theo, và toàn bộ xã hội rộng lớn hơn. Để biến đổi bộ môn [kinh tế học], điều cần thiết là phải phá vỡ những vòng phản hồi trong hệ thống này.

Lời kêu gọi đa nguyên xứng đáng được ca tụng. Đa nguyên là một mục tiêu mà hầu hết các nhà cải cách đều đồng thuận. Nhưng theo quan điểm của tôi, những nỗ lực cải cách kinh tế học trước đó đã thất bại vì chúng lẩn tránh, hoặc không đủ thấu hiểu, hai rào cản chính đối với sự thay đổi. Thoạt tiên, trông có vẻ không thể vượt qua được những rào cản này, nhưng nếu không tận dụng chúng để tạo ra sự thay đổi, [kinh tế học] dòng chính sẽ vẫn chiếm ưu thế bởi cách tiếp cận phân tích kinh tế chủ đạo.

Rào cản chính đầu tiên là xã hội. Kinh tế học là một ngành thường tưởng thưởng cho lòng trung thành đối với bộ lạc hơn là việc điều hòa ý kiến bất đồng. Nếu bạn theo dõi các blog về kinh tế học trong những năm gần đây, bạn có thể có cái nhìn khá rõ về điều này. Nhưng những hoạt động sôi nổi tương tự cũng xảy ra trong giới học thuật. Các tạp chí buộc [các bài viết phải] tuân theo các phương pháp và các khái niệm ưa thích của mình và hành động như người gác cổng cho bộ lạc, yêu cầu tất cả mọi người khi đến bộ lạc đều phải dâng hương kính lễ cho các tộc trưởng lão làng. Thêm vào đó, [kinh tế học] dòng chính đại diện cho hơn 80% của ngành, vì vậy, bất kỳ thay đổi nào do các nhóm thiểu số khởi xướng đều nhận được những cái chau mày khó chịu. Và đây chính là hiện thực xã hội.

Thách thức về mặt xã hội này, về bản chất, là làm thế nào mang các bộ lạc lại với nhau sao cho tất cả đều cảm thấy bản thân mình là “người trong nhà” trong một nhóm mới lớn hơn. Điều này không có nghĩa là khiêu chiến với các bộ lạc hùng mạnh, đặc biệt là không gây chiến với [kinh tế học] dòng chính hiện nay; mà nó có nghĩa là nêu bật bất kỳ nền tảng chung nào mà các bộ lạc đồng thuận và tin tưởng vào cách mà họ góp tay xây dựng một quan điểm tốt hơn về kinh tế học. Còn nhiều vấn đề có thể bàn về các rào cản xã hội đối với sự thay đổi trong kinh tế học, và tôi hy vọng sẽ giải quyết chúng vào chi tiết trong tương lai. Nhưng với những mục đích hiện tại thì điều này cũng cung cấp đủ bối cảnh để thảo luận về rào cản thứ hai đối với sự thay đổi.

Rào cản chính thứ hai là kỹ thuật. Vấn đề liên quan đến kỹ thuật ở đây là: Làm sao bạn có thể giảng dạy một chương trình đa nguyên khi không có cấu trúc chính thức để giới thiệu nội dung từ các tư tưởng khác nhau và thường trái ngược với nhau, và khi mà có rất ít học giả được đào tạo đủ khả năng để thực hiện điều này?

Giảng dạy một chương trình đa nguyên không nên giống như là đang giới thiệu bộ môn kinh tế học như thể nó là một trong các bộ lạc có mối thù truyền kiếp. Tôi chia sẻ nỗi lo sợ của Simon Wren-Lewis rằng một chương trình giảng dạy đa nguyên có thể trở thành một cửa hàng mà sinh viên có thể mua sắm tất cả mọi thứ, họ lướt qua các bộ lạc trước khi gia nhập vào bộ lạc nào phù hợp với hệ tư tưởng chính trị hiện có của mình nhất. Thay vào đó, mục tiêu nên là đào tạo một thế hệ kinh tế gia nhận thức được di sản của mỗi trường phái tư tưởng, và thừa nhận nền tảng chung giữa chúng.

Có một câu châm ngôn xưa cũ cho rằng nếu bạn hỏi năm nhà kinh tế cùng một câu hỏi, bạn sẽ nhận được năm câu trả lời khác nhau – và sáu nếu có nhà kinh tế ở Harvard. Liệu chúng ta có thể giảng dạy một chương trình đa nguyên mà chương trình này sẽ làm cho các kinh tế gia suy nghĩ theo cách tương tự nhau, để rồi khi bạn đặt cùng một câu hỏi cho năm nhà kinh tế, bạn sẽ nhận được một câu trả lời hay ho?

Vấn đề này cần một giải pháp có hệ thống. Ví dụ, chúng ta cần suy nghĩ về phương cách để cấu trúc việc giảng dạy xung quanh các chủ đề và khái niệm cho phép sinh viên có thể nghiên cứu các vấn đề và đánh giá các cách tiếp cận tiềm năng. Chúng ta cần một giáo trình hoặc một bộ giáo trình thay thế mà ở đó có thể thể hiện thỏa đáng mỗi cách tiếp cận và cuối cùng là cung cấp nền tảng cho một chương trình giảng dạy đa nguyên.

Hiện nay, thậm chí các quyển giáo trình chính thống nhất cũng chỉ bổ sung một vài ý kiến về các cách tiếp cận khác. Ví dụ, các trường phái kinh tế học thực nghiệm hoặc kinh tế học hành vi phổ biến hiện nay – dù cho khắp nơi coi đó là một cuộc cách mạng trong tư duy kinh tế và khoa học kinh tế – nhận được rất ít tín nhiệm trong các quyển giáo trình phổ biến nhất. Sau khi xem xét nội dung của 25 quyển giáo trình nhập môn kinh tế vi mô phổ biến ở bậc đại học,Lombardini-Riipinien và Autio thấy rằng:

“… mười trong số 25 quyển giáo trình được kiểm tra không có tài liệu tham khảo nào về kinh tế học hành vi; sáu quyển dành cho nó ít hơn 1% tổng số trang, sáu quyển từ 1% đến 2,6%, và ba quyển từ 6% đến 11%. Khi thảo luận về kinh tế học hành vi, trọng tâm vẫn có xu hướng bàn về duy lý hạn chế (bounded rationality) hơn là tư lợi hạn chế (bounded self-interest) hoặc ý chí hạn chế (bounded willpower).”

“Kinh tế học thực nghiệm không hề được thảo luận trong mười quyển giáo trình, mười hai quyển dành cho nó ít hơn 0,6% tổng số trang, trong khi ba quyển dành từ 2% đến 10% tổng số trang.”

Joan Robinson đã cố gắng viết lại toàn diện quyển giáo trình cốt lõi về nhập môn kinh tế học với John Eatwell vào năm 1973. Tuy quyển sách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là đặt phân tích kinh tế trong bối cảnh triết học và lịch sử, nhưng nó lại không cung cấp khung sườn cố kết để dựa vào đó mà xây dựng sự thông hiểu về kinh tế học. Nó chứa đựng rất ít nội dung hỗ trợ sinh viên trong việc trả lời các câu hỏi thực tế hàng ngày về nền kinh tế. Tiền đến từ đâu? Làm thế nào để đo lường thất nghiệp? Làm thế nào chúng ta có thể đánh giá các đối chọn thay thế để giải quyết các hiệu ứng ngoại lai tiêu cực (negative externalities)? Khái niệm rất riêng về hiệu ứng ngoại lai này có hữu ích không khi nó ngụ ý sự tồn tại của một thế giới không hề có hiệu ứng ngoại lai?

Điều cần thiết ở đây là một phương cách để kết cấu việc khảo sát phân tích kinh tế bằng cách sắp xếp các vấn đề kinh tế xung quanh một số lĩnh vực cốt lõi. Các phương pháp tiếp cận từ những trường phái tư tưởng khác nhau có thể được đưa vào phân tích khi thích hợp, cùng với việc nhấn mạnh nền tảng chung và các mối liên kết giữa chúng.

Theo quan điểm của tôi, để đạt được điều này đòi hỏi phải sắp xếp những mô hình và ý tưởng vào các lĩnh vực khái niệm vượt khỏi các trường phái tư tưởng cụ thể. Sau đó, bất kỳ chủ đề kinh tế nào cũng đều có thể được trình bày như một vấn đề chung, chẳng hạn như, “Tại sao các công ty tồn tại?”, hoặc “Tại sao chúng ta quan tâm đến việc phân bổ các nguồn lực?” Nhưng các cuộc thảo luận này sẽ được cấu trúc thành các lĩnh vực có thể áp dụng rộng rãi.

Để minh họa, hãy xem xét sơ đồ sau đây. Hai mức thấp hơn (được đánh dấu màu vàng) là hai lĩnh vực kinh tế học dòng chính hiện hành.

Khi thảo luận về hành vi của người tiêu dùng, nó sẽ được lưu ý rằng đây là một phân tích về phúc lợi. Một giảng viên giỏi sẽ giải thích rằng bất kỳ lựa chọn nào của người tiêu dùng cũng sẽ phụ thuộc vào tình hình trong các lĩnh vực ở phía cao hơn [trong sơ đồ trên]. Khi thảo luận về sản xuất và các lựa chọn của công ty, chúng sẽ được phác họa như là một trong những nguồn lực thực được đồng thuận, hàng hóa vật chất mà chúng ta tiêu thụ, và tư bản hữu hình mà chúng ta đầu tư. Một lần nữa, các lĩnh vực ở phía cao hơn [trong sơ đồ trên] sẽ cung cấp kiến thức cho những điều này, chẳng hạn như ai sở hữu quyền đối với tài sản. (Rốt cuộc thì bạn sẽ không thể xây dựng một tòa nhà mà không có quyền hợp pháp đối với địa điểm bạn dự kiến sẽ xây.)

Chúng ta cần phải khám phá các mối liên kết giữa các lĩnh vực và những hạn chế của từng lĩnh vực trong việc đưa ra lời giải thích cho toàn bộ, và tôi hy vọng sẽ phát triển khái niệm này trong tương lai.

Nếu cộng đồng các nhà cải cách kinh tế không nỗ lực để tái xây dựng đường lối giảng dạy kinh tế học, và đưa ra những quyết định khó khăn về phương cách kết cấu các giáo trình cốt lõi mới, bao gồm những gì nên để lại và những gì nên bỏ đi, khi đó sự thay đổi vẫn còn ngoài tầm tay. Chúng ta không thể kêu gọi sự thay đổi trong môi trường xã hội bộ lạc của kinh tế học mà không đưa ra một lựa chọn hấp dẫn thay thế – một lựa chọn mà trong đó bao trùm những tinh hoa từ mỗi trường phái tư tưởng và tìm kiếm nền tảng chung mà không cần tạo ra một tập hợp mới những người ngoài cuộc.

Nguyễn Hoàng Mỹ Phương dịch

Nguồn: Murray, Cameron. “Inside the reform of Economics. Reforming Economics: The Challenge”. Inside, Vol. 1, no.1, November 10, 2014.

Advertisements

Tranh cãi về chính sách quản lý ngành tài chính ở Mỹ


Simon Johnson

Giờ đây đã có sự đồng thuận gần như tuyệt đối rằng đạo luật cải tổ tài chính Dodd-Frank của Mỹ, được thông qua năm 2010, đã không chấm dứt được các vấn đề liên quan đến một số ngân hàng “quá lớn để sụp đổ”. Tuy nhiên, khi nói tới những giải pháp được đề xuất thì lại không tồn tại bất kỳ sự đồng thuận nào như vậy. Ngược lại, điều tiết ngành tài chính đã trở thành một vấn đề chủ chốt trong các cuộc bầu cử quốc hội và tổng thống vào tháng 11 này.

Vậy ai là người có kế hoạch khả thi và tốt hơn nhằm giảm thiểu các rủi ro liên quan tới các công ty tài chính khổng lồ? Những người thuộc Đảng Dân chủ đã có một chiến lược được chấp thuận và có thể thực hiện được, điều sẽ đem lại một sự cải thiện rõ ràng so với tình thế hiện tại. Nhưng không may là đề xuất của Đảng Cộng hòa lại là một công thức cho thảm họa lớn hơn những gì mà nước Mỹ (và cả thế giới) đã trải qua năm 2008.

Về phía Đảng Dân chủ, các tài liệu từ chiến dịch của bà Hilary Clinton cũng như đề cương tranh cử của Đảng này hướng tới một kế hoạch chi tiết nhằm bảo vệ cho đạo luật Dodd-Frank và đi xa hơn trong việc gây áp lực buộc các công ty tài chính lớn nhất trở nên ít phức tạp hơn và, nếu cần, là phải nhỏ hơn. Các ngân hàng cũng phải tự tạo nguồn tài chính theo một cách ổn định hơn. Nếu bà Clinton thắng cử, bà sẽ thu hút sự ủng hộ mạnh mẽ từ các Nghị sĩ Đảng Dân chủ – bao gồm cả đối thủ cạnh tranh vị trí ứng cử viên Đảng Dân chủ, Bernie Sanders, và thượng nghị sĩ Elizabeth Warren – khi bà đi theo đường lối này.

Một số nhà bình luận cho rằng bà Clinton đã bị “kéo về phía tả” trong lĩnh vực điều tiết tài chính trong suốt chiến dịch của mình. Nhưng nếu bạn nhìn một cách kỹ lưỡng vào các phát ngôn của bà trong mùa bầu cử này, ngay từ đầu chúng hầu như giống hệt những gì mà Warren đã tìm kiếm trong suốt hơn 6 năm qua. Và những mục tiêu này hoàn toàn đồng nhất với điều mà tất cả các quan chức có trách nhiệm mong muốn. Mỗi người với suy nghĩ đúng đắn của mình đều muốn ngăn chặn những ngân hàng lớn nhất vượt ra khỏi tầm kiểm soát, chuyển những rủi ro thành những hoạt động không được điều tiết hay mập mờ (được thể hiện hoặc không trên bản cân đối tài chính của họ) và những người tiêu dùng bị lừa dối.

Đây là một nghị trình đầy khôn ngoan và có trách nhiệm. Dĩ nhiên, nó bị phản đối bởi những người được trả tiền để đại diện cho những ngân hàng lớn nhất, theo cách này hay cách khác.

Về phía Đảng Cộng hòa, các ý định cụ thể của Donald Trump ít rõ ràng hơn, mặc dù ông tự gọi mình một cách đầy tự hào là “vua nợ”, điều có vẻ không đặc biệt đem lại nhiều hy vọng. Hàng núi nợ khổng lồ có thể giúp làm giàu cho những chủ dự án bất động sản hay những nhà đầu tư tài chính, nhưng chúng nhìn chung sẽ dẫn tới rắc rối cho nền kinh tế vĩ mô. Chính những khoản nợ như núi đó đã đổ sụp xuống nền kinh tế Hoa Kỳ và toàn cầu năm 2008. Rất nhiều khoản đã bị chôn vùi trong cuộc Đại suy thoái theo sau đó; còn nhiều khoản nữa vẫn đang được khai quật.

Không giống với Trump, các Hạ nghị sĩ Đảng Cộng hòa đã thành lập và công bố các kế hoạch chi tiết khá tương tự với kế hoạch mà Đảng Dân chủ đã trình bày. Và, trong trường hợp Trump trở thành Tổng thống, chính sách tài chính nhiều khả năng sẽ được định hình một phần lớn bởi Ủy ban các Dịch vụ Tài chính Hạ viện, mà chủ tịch của nó đã phát biểu rõ ràng rằng những ưu tiên bao gồm giảm sự bảo hộ người tiêu dùng và gỡ bỏ các rào cản hiện thời đối với các hoạt động của những ngân hàng lớn.

Trọng tâm trong chiến lược của các Hạ nghị sĩ Đảng Cộng hòa là một ý tưởng đơn giản: tất cả các công ty tài chính nên có khả năng bị phá sản mà không ảnh hưởng đến phần còn lại của nền kinh tế cũng như không khiến chính phủ phải liên lụy. Điều này nếu là một câu khẩu hiệu tranh cử thì ổn. Nhưng logic của nó lại có vấn đề lớn.

Vào tháng 9 năm 2008, Lehman Brothers phá sản – và không có hỗ trợ nào của chính phủ được đưa ra. Đã có những hậu quả mang tính thảm họa đối với phần còn lại của ngành tài chính; nền kinh tế phi tài chính và với việc làm.

Các nghị sĩ Đảng Cộng hòa đã đề xuất sửa chữa điều này bằng cách sửa đổi đạo luật về quy chế phá sản. Điều này nghe có vẻ cũng tốt, nhưng thực chất nó có nghĩa gì?

Việc chỉ hứa hẹn không cung cấp gói cứu trợ là khó tin được. Nước Mỹ là một nước lớn và nhiều quyền lực, và khi rủi ro tới, các nhà đầu tư sẽ mua trái phiếu chính phủ liên bang – làm lãi suất xuống thấp. Nước Mỹ có một bản cân đối kế toán như một “thành trì”, cũng như một trong những ngân hàng trung ương đáng tin cậy nhất trong lịch sử thế giới.

Nếu các nhà làm chính sách trong khoảnh khắc đó nghĩ rằng sự hỗ  trợ của chính phủ hay ngân hàng trung ương sẽ giúp ngăn chặn một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, họ sẽ hành động theo suy nghĩ đó. Đó là điều mà Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson, Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Ben Bernanke và Tổng thống George W. Bush (tất cả đều thuộc Đảng Cộng hòa) đã làm sau khi tác động toàn diện từ sự sụp đổ của Lehman trở nên rõ ràng.

Tính khả thi từ đề xuất cho phép các công ty tài chính phá sản của Đảng Cộng hòa nói tóm lại là: ai sẽ cấp tiền cho một định chế tài chính lớn phức tạp – hoạt động trên phạm vi toàn cầu – trong khi nó đang bị tái cấu trúc vì phá sản? Khu vực tư nhân sẽ không làm điều này. Bản thân các tòa án cũng không thể đi vay. Nếu không có nguồn tài chính, đề xuất này sẽ sụp đổ – và chúng ta lại có một “khoảnh khắc Lehman” khác, hoặc thậm chí còn tồi tệ hơn.

Do vậy chúng ta hẳn là đang nói về một tình huống mà trong đó một số bộ phận của chính phủ liên bang, dù có hay không sự chấp thuận rõ ràng của quốc hội, vội vàng cung cấp một khoản vay tức thời trong phạm vi hàng chục đến hàng trăm tỷ đô-la, thông qua một thẩm phán. Điều này thật khó hiểu và cực kỳ khó chấp nhận.

Hãy nghĩ đến những sai lầm kinh doanh sẽ được tạo ra và sự phản ứng chính trị dữ dội. Hãy cộng thêm vào đó tác động bóp méo nền kinh tế khi cho phép quá nhiều bảo hiểm miễn phí cho các rủi ro như vậy.

Đảng Dân chủ đang ủng hộ một cách tiếp cận tài chính mà sẽ làm cho hệ thống tài chính an toàn hơn, để nó sẽ không bao giờ phải rơi vào rủi ro này nữa. Kế hoạch của Đảng Cộng hòa sẽ chỉ có lợi cho những ngân hàng “quá lớn để sụp đổ”. Và sự giúp đỡ đó sẽ càng làm cho chúng trở nên nguy hiểm hơn.

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Simon Johnson, “The Republican Bankruptcy Illusion”, Project Syndicate, 31/07/2016.

Simon Johnson, nguyên kinh tế trưởng tại IMF, là giáo sư tại Trường Quản trị Sloan (MIT), nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Peterson về Kinh tế Quốc tế, và là đồng sáng lập của blog kinh tế học hàng đầu mang tên The Baseline Scenario. Ông là đồng tác giả với James Kwak cuốn White House Burning: The Founding Fathers, Our National Debt, and Why It Matters to You.

Các nhà kinh tế đưa ra quy tắc đạo đức


Ben Casselman

Một nhóm các nhà kinh tế hàn lâm hàng đầu đã thông qua các quy tắc xung đột lợi ích để đáp lại những phê phán cho rằng ngành kinh tế học không những thất bại trong việc dự đoán cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008, mà trong thực tế có thể còn giúp tạo ra nó.

Chính sách mới này quyết định không đi tới cùng trước lời kêu gọi của một số người trong ngành kinh tế học về những hướng dẫn chung về mặt đạo đức.

Nhiều nhà kinh tế còn làm tư vấn cho các công ty, các chính phủ và các tập đoàn khác, những công việc ngoài lãnh vực học thuật chính thức của họ. Các nhà phê bình, cả bên trong và bên ngoài ngành kinh tế học, đã biện luận rằng các mối quan hệ đó – thường có lợi và đôi khi không được công bố – có thể đã gây ảnh hưởng đến công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế, khiến họ, trước tiên, bỏ lỡ những dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng sắp xảy đến và tiếp đó khuyến nghị những giải pháp về chính sách chỉ phục vụ cho lợi ích của các khách hàng của họ, với cái giá mà nền kinh tế nói chung phải gánh trả.

Những phê phán nổi bật nhất đã được đưa ra trong bộ phim “Inside Job (Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế)” năm 2010, bộ phim đã giành được giải thưởng Oscar về phim tài liệu hay nhất năm 2011. Bộ phim nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa các nhà kinh tế lỗi lạc với các công ty và các chính phủ, để rồi sau đó sụp đổ trong cuộc khủng hoảng tài chính. Giám đốc Charles Ferguson đã cáo buộc các nhà kinh tế hàn lâm là những người “tham nhũng“, những người đã góp phần trực tiếp vào cuộc khủng hoảng.

Theo quy định mới của Hiệp hội Kinh tế Mỹ (AEA, American Economic Association) được thông qua tại cuộc họp thường niên ở đây tuần trước, các nhà kinh tế sẽ phải thông tin các mối quan hệ tài chính và các xung đột lợi ích tiềm tàng khác trong các bài báo được đăng tải trên các tạp chí khoa học. Những người ủng hộ chính sách mới này biện luận rằng những thông tin được công bố ấy sẽ giúp khôi phục lại niềm tin vào giới kinh tế học, bằng cách cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách và công chúng có thêm thông tin để đánh giá sự tư vấn của các nhà kinh tế.

Người dân, khi nghe những gì chúng ta nói, có quyền được biết chúng ta là ai, chúng ta vướng mắc những gì, lý do vì sao những vướng mắc ấy tồn tại để có thể bị cho là đáng ngờ,” Michael Woodford, giáo sư Đại học Columbia, ủy viên ban điều hành của Hiệp hội, người đã nhất trí thông qua chính sách, đã nói. “Hầu như chắc chắn đã có một số suy nghĩ ngây ngô nào đó. Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng: “Vâng, chúng tôi nghĩ chúng tôi là những người không thể chê vào đâu được, nên đó là điều hiển nhiên“.

Một vài nhà kinh tế đã biện luận trong nhiều năm rằng kinh tế học cần có những hướng dẫn rõ ràng về mặt đạo đức giống như bên các ngành y học, kỹ sư và các lĩnh vực khác. Nhưng vấn đề không được cộng đồng kinh tế rộng rộng lớn hơn hưởng ứng.

Trưởng khoa kinh tế của Đại học Harvard John Campbell, người được thấy trong bộ phim “Inside Job” lúng túng bảo vệ ngành kinh tế học, hôm chủ nhật cho biết rằng những phê phán của công chúng cho thấy cần phải minh bạch hóa nhiều thông tin hơn. Nhưng ông cũng lưu ý một sự khác biệt giữa các lĩnh vực như y học, nơi mà các nhà nghiên cứu có thể ngăn chặn những dữ liệu nào không hỗ trợ cho kết quả mong muốn của họ hoặc của các nhà tài trợ của họ, thì trong kinh tế học, đa số các nghiên cứu đều dựa trên những thông tin công khai có sẵn. Và ông bác bỏ quan điểm cho rằng xung đột lợi ích góp phần vào sự thất bại trong việc đoán trước cuộc khủng hoảng. “Phần thưởng đối với các nhà kinh tế khi dự đoán hoặc cảnh báo đúng một cuộc khủng hoảng là rất lớn“, ông Campbell nói.

Tuy nhiên, bộ phim đã làm cho một số nhà kinh tế phải tự vấn lương tâm. Tại một buổi họp chuyên đề về đạo đức nghề nghiệp ở đây vào hôm thứ bảy, David Colander, nhà kinh tế học của trường Middlebury College, đã kêu gọi xây dựng một bộ quy tắc đạo đức dựa trên bộ quy tắc đã được Hiệp hội quốc gia các kỹ sư chuyên nghiệp thông qua. George Demartino, giáo sư tại Đại học Denver, dẫn đầu buổi hội thảo, thậm chí đã biện luận rằng việc thông qua một “lời thề của các nhà kinh tế” rộng lớn hơn sẽ giải quyết được những vấn đề như đạo đức của việc tham mưu cho các nhà độc tài và trách nhiệm của các nhà kinh tế đấu tranh vì người nghèo. Giáo sư Deirdre McCloskey, thuộc Đại học Illinois, nói với hội nghị rằng các nhà kinh tế thường hành động giống như các luật sư, đấu tranh vì một quan điểm nào đó mà không quan tâm đến bằng chứng.

Cái tội chủ yếu, đặc biệt trong kinh tế học Mỹ, là biện hộ mà không quan tâm đến chân lý,” Bà McCloskey cho biết.

Chính sách mới này không giải quyết những vấn đề lớn như vậy, mà thay vào đó, bám lấy những vấn đề mà thông tin được minh bạch hóa ít gây tranh cãi hơn.

Theo chính sách này, sẽ được ban hành vào năm sau, các tác giả khi gửi bài nghiên cứu cho các tạp chí khoa học phải thông tin cho các biên tập viên của tạp chí tất cả các nguồn tài trợ cho việc nghiên cứu và tất cả các quan hệ tài chính “đáng kể” với các nhóm hoặc cá nhân có một “quyền lợi tài chính, ý thức hệ hoặc chính trị” trong nghiên cứu. Chính sách định nghĩa thuật ngữ “đáng kể” là một sự hỗ trợ tài chính dành cho tác giả và cho các thành viên trực hệ trong gia đình một số tiền tổng cộng bằng ít nhất 10.000 USD trong vòng ba năm qua. Các tạp chí, sau đó, sẽ công khai những gì mà các biên tập viên của họ cho là “xung đột lợi ích tiềm tàng có liên quan.”

Về mặt chính thức, chính sách này chỉ áp dụng cho bảy tạp chí được hiệp hội AEA xuất bản, nhưng các nhà xuất bản học thuật khác có khả năng làm theo. Chính sách này cũng kêu gọi các nhà kinh tế áp dụng các nguyên tắc tương tự trong các cuộc phỏng vấn với báo chí, các lời chứng với chính phủ và các công trình phi học thuật khác.

Gerald Epstein, giáo sư tại Đại học Massachusetts tại Amherst, người trước đây đã phê phán việc các nhà kinh tế thiếu minh bạch, trong một email đã gọi chính sách này là “một bước tiến lớn về phía trước.” Ông cho biết lời kêu gọi bạch hóa thông tin trong các công trình phi học thuật, mặc dù không bị bắt buộc, là điều đặc biệt quan trọng vì nó giúp “thiết lập các chuẩn mực ứng xử mà các đồng nghiệp, báo chí, sinh viên và người dân có thể giúp các nhà kinh tế có trách nhiệm giải trình.”

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

NguồnEconomists Set Rules on Ethics, The Wall Street Journal, January 9, 2012.

Ai sẽ chi phối quá trình thiết lập quy tắc kinh tế thương mại?


Với tư cách là một hiệp định quan trọng để một số nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương thực hiện các quy tắc kinh tế thương mại theo tiêu chuẩn cao hơn, Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đồng thời đang gánh vác một trách nhiệm lớn là làm cho các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương chiếm trước địa vị chủ đạo vạch ra quy tắc kinh tế thương mại thế hệ mới, tạo dựng lại trật tự kinh tế thương mại trong khu vực. CPTPP sắp có hiệu lực, liệu điều này có nghĩa là cuộc cạnh tranh trong việc thiết lập quy tắc kinh tế thương mại bao trùm mờ mịt này đang bước vào cao trào hay không? Các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương không phải là thành viên của CPTPP sẽ đối phó ra sao?

Sự thay đổi và không thay đổi của CPTPP

Về quy mô inh tế, CPTPP được sinh ra từ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn chiếm 13% GDP danh nghĩa của thế giới, 15% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu. So với TPP, CPTPP đã bảo lưu một số nội dung và đặc điểm ở mức độ tương đối lớn về tiêu chuẩn quy tắc và kết cấu thành viên của hiệp định ban đầu, nhưng cũng có những thay đổi mới.

Thứ nhất, về tiêu chuẩn quy tắc, cho đến nay CPTPP vẫn là mộ thiệp định thương mại tự do có tiêu chuẩn, yêu cầu cao nhất thế giới, tiếp tục theo đuổi mục tiêu phải đạt được quy tắc thương mại thực chất, mặc dù giữ lại trên 95% nội dung của TPP nhưng một số điều khoản đưa vào đàm phán theo yêu cầu trước đó của Mỹ được gác lại. Từ phiên bản cuối cùng của CPTPP do Chính phủ New Zealand công bố có thể cho thấy những điều khoản được gác lại chủ yếu tập trung vào chương đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ, cũng như các điều khoản có nội dung liên quan đến quản lý hải quan và tạo thuận lợi cho thương mại, thương mại dịch vụ xuyên biên giới, dịch vụ tài chính, viễn thông, mua sắm công, môi trường, mức độ minh bạch và chống tham nhũng.

Đối với những quy tắc mang tính trình tự, CPTPP cũng sửa lại những điều khoản về chế độ liên quan đến hiệu lực, rút lui, tham gia hiệp định. Theo quy định của CPTPP hiện nay, chỉ cần 6 nước hoặc tối thiểu 50% số nước ký kết thì hiệp định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày, do lấy tiêu chuẩn ở ngưỡng tương đối thấp nên mức độ khó khăn để CPTPP có hiệu lực thấp hơn hẳn so với TPP. Vì vậy, khi Australia trở thành nước thành viên thứ 6 phê chuẩn, trình tự hiệu lực của CPTPP đã được khởi động ngay sau đó. Ngoài ra, CPTPP quy định thành viên mới có thể bao gồm bất kỳ quốc gia hoặc khu vực thuế quan riêng biệt nào, sau khi hiệp định có hiệu lực thì có thể tham gia nếu nhận được sự đồng ý của các nước thành viên, trong khi TPP lại yêu cầu thành lập tiểu ban phê chuẩn để thẩm tra tư cách đối với thành viên mới, điều này đồng nghĩa với việc rào cản tham gia đối với các thành viên mới sẽ giảm đi.

Thứ hai, về kết cấu thành viên, ngoại trừ Mỹ, CPTPP do các thành viên của TPP hợp thành, nhưng xét về kết cấu quyền lực giữa các nước thành viên, CPTPP dường như đang thiếu một người cầm trịch. Mặc dù luôn đóng vai trò dẫn dắt và điều phối cơ chế sau khi Mỹ rút lui, nhưng Nhật Bản không có quyền lực áp đảo như Mỹ, những kiến nghị mà nước này đưa ra luôn cần nhận sự ủng hộ và đồng ý của các nền kinh tế phát triển trong số các thành viên như Canada, Australia… mới có thể thực hiện thuận lợi, điều này đồng nghĩa với việc mức độ khó khăn khi điều phối cơ chế trong nội bộ CPTPP lớn hơn so với TPP.

Cục diện kinh tế thương mại châu Á – Thái Bình Dương đứng trước sự thay đổi

Hiện nay, CPTPP sắp có hiệu lực, thắng lợi lớn nhất đang thuộc về nước dẫn dắt CPTPP – Nhật Bản. Dựa vào CPTPP, Nhật Bản đã lấy lại được vị thế tương đối có lợi trong cục diện kinh tế thương mại châu Á – Thái Bình Dương. Hiện nay, Nhật Bản vẫn tích cực thuyết phục Mỹ quay trở lại TPP (tức là gia nhập CPTPP), điều này phù hợp với sách lược đi theo Mỹ của Nhật Bản bấy lâu nay. Tuy nhiên, cho dù Nhật Bản có hữu ý, nhưng Mỹ lại tỏ ra vô tình. Hiện nay, Mỹ đang tích cực thúc đẩy đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương, tìm cách lấy song phương thay thế đa phương, bảo vệ lợi ích của Mỹ ở mức độ lớn hơn.

CPTPP có hiệu lực cũng đem đến cơ hội mới cho các nền kinh tế thành viên khác. Một mặt CPTPP sẽ cung cấp nền tảng hạ thấp rào cản thương mại giữa các nước thành viên cho một số nền kinh tế phát triển tương đối nhanh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, củng cố hoặc thiết lập quan hệ thương mại mới, giúp mở rộng và tăng cường mạng lưới đối tác thương mại ở nước thành viên. Mặt khác, không gian phát triển của các nước đang phát triển sẽ được mở rộng hơn nữa trong khuôn khổ CPTPP. Đặc biệt là Việt Nam, một khi CPTPP có hiệu lực, nước này sẽ bước lên đoàn tàu cao tốc nắm quyền chủ động trong việc hoạch định quy tắc, đi đầu thực hiện quy tắc thương mại có tiêu chuẩn và trình độ cao trong các nước đang phát triển, năng lực lan tỏa kinh tế ra bên ngoài và mức độ hội nhập kinh tế thế giới trong tương lai được nâng cao rõ rệt, rất có thể sẽ nhanh chóng trở thành nền kinh tế mới nổi có ảnh hưởng quan trọng nhất ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

CPTPP có hiệu lực còn có nghĩa là quá trình mở rộng nội dung theo cơ chế bước tiếp theo đang được đưa vào chương trình nghị sự. Có nguồn tin cho biết Nhật Bản đã dự định thúc đẩy CPTPP mở rộng thành viên sau khi hiệp định này có hiệu lực, dự tính vào đầu năm 2019 mờ đại diện của các nước thành viên đến Nhật Bản tham dự hội nghị Ủy ban CPTPP lần đầu tiên và trọng điểm thảo luận về đề tài tiêu chuẩn tiếp nhận thành viên mới. Hiện nay, các nước như Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Anh, Colombia.. đều mong muốn gia nhập CPTPP.

Trung Quốc cần đẩy nhanh các bước hướng đến quy tắc thương mại với tiêu chuẩn cao hơn

Trung Quốc hiện nay không phải là thành viên của CPTPP. Sức ép quy tắc mà CPTPP hình thành có thể có những ảnh hưởng tương đối lớn đối với Trung Quốc. Trên thực tế, tình hình quy tắc thương mại mà Trung Quốc phải đối mặt hiện nay đã thể hiện một xu thế nghiêm trọng hơn. Các tranh chấp thương mại có liên quan đến Trung Quốc hiện nay liên tục tăng lên, nguyên nhân ngoài do ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa đơn phương và chính sách bảo hộ của các nước khác, một nhân tố quan trọng là Trung Quốc vẫn chưa thể thích nghi và thực hiện quy tắc thương mại với tiêu chuẩn cao hơn, điều này sẽ tạo cớ để nước khác tấn công Trung Quốc. Chẳng hạn, ngày 26/10, đại sứ quán Canada tại Trung Quốc tuyên bố do Trung Quốc chưa đáp ứng được mong đợi của mọi người về các chính sách như tiêu chuẩn tham gia thị trường nông nghiệp, tiền lương, bình đẳng giới… Canada sẽ tạm thời ngừng đàm phán hiệp định thương mại cho đến khi những vấn đề đó được cải thiện. Có thể thấy Trung Quốc cần nhanh chóng thích ứng với quy tắc thương mại có tiêu chuẩn cao hơn, tránh bị gạt ra ngoài các tổ chức thương mại.

Thứ nhất là tăng cường nghiên cứu quy tắc của CPTPP, giảm bớt tác động tiêu cực có thể có của các quy tắc mới đối với Trung Quốc.

Thứ hai là vững bước thúc đẩy chiến lược khu vực thương mại tự do, xây dựng mạng lưới đối tác thương mại tự do nhằm giành được quyền thiết lập quy tắc thương mại.

Ở cấp độ song phương, Trung Quốc một mặt cần tiếp tục tìm kiếm đối tượng ký FTA thích hợp, mở rộng mạng lưới đối tác thương mại tự do, tìm kiếm sự ủng hộ của nhiều đối tác hơn để thúc đẩy hệ thống quy tắc thương mại phù hợp hơn với nhu cầu phát triển của nước mình. Hiện nay, Trung Quốc đang đàm phán để xây dựng các khu vực thương mại tự do song phương với các nước như Sri Lanka, Panama…, có 8 khu vực thương mại tự do song phương mới đang được nghiên cứu. Mặt khác, Trung Quốc còn cần chú trọng nâng cấp và duy trì các FTA hiện có. Xem xét từ kinh nghiệm hiện có, Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc – ASEAN là hiệp định nâng cấp đầu tiên được hoàn thành trên nền tảng khu vực thương mại tự do hiện có, trong quá trình đàm phán nâng cấp hiệp định, hai bên vừa nhấn mạnh việc cắt giảm nhiều hơn hàng rào thuế quan trong thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ…, vừa chú trọng đưa các vấn đề mới như hợp tác công nghệ liên quan đến kinh tế như thương mại điện tử xuyên quốc gia vào đàm phán, thực hiện đồng thời việc đi sâu và mở rộng quan hệ thương mại song phương, cung cấp kinh nghiệm có thể học hỏi cho việc đàm phán nâng cấp các FTA khác. Trung Quốc hiện nay đã khởi động đàm phán nâng cấp FTA với Singapore và New Zealand, bắt đầu đàm phán FTA giai đoạn hai với Hàn Quốc và Pakistan. Trung Quốc phải nắm chắc cơ hội triển khai đàm phán nâng cấp FTA với những quốc gia này, có không gian đi sâu nâng cấp quy tắc của nước mình.

Nguồn: Mạng Cankao Xiaoxi (Tin tức tham khảo) – TQ

TKNB – 08/11/2018

Tại sao Kinh tế học tân cổ điển và Kinh tế học hành vi sẽ không có ý nghĩa gì nếu không có Darwin


Terry Burnham

Kinh tế học đã phải trải qua một cuộc khủng hoảng thầm lặng, rơi vào sự chia rẽ từ bốn mươi năm trước [những năm 1970] và hiện tại vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi. Trong nghiên cứu “Hướng đến sự kết hợp theo thuyết Darwin mới của kinh tế học tân cổ điển và kinh tế học hành vi”, tôi đã tranh luận về việc những môn khoa học tự nhiên đã đưa ra được một lộ trình để tái thống nhất kinh tế học theo hướng tốt nhất.

Kinh tế học được chia thành trường phái tân cổ điển (the neoclassical school), vốn cho rằng con người là những sinh vật tối đa hóa một cách duy lí, và trường phái hành vi (the behavioral school) vốn chỉ ra rằng con người – theo cách nói của Richard Thaler – “ngớ ngẩn và tử tế” hơn nhiều so với những giả định của các nhà kinh tế học tân cổ điển.

Kinh tế học hành vi đã và đang trở nên có sức nặng hơn bởi nó đã ghi nhận hàng loạt chênh lệch giữa hành vi của con người thực tế (actual living people) và hành vi được Con người kinh tế (Homo economicus) tiên đoán.

Sự chia rẽ giữa hai phe kinh tế có thể nhìn thấy qua ví dụ về mối quan hệ của Giáo sư Thaler và giáo sư Eugene Fama, đồng nghiệp của mình ở Đại học Chicago. Trên tờ New York Times, Fama bác bỏ công trình của Thaler như sau: “Về cơ bản việc Thaler đã làm chỉ là một thứ tò mò … Làm thế nào mà mấy thứ này [kinh tế học hành vi] lại được xuất bản cơ chứ?“.

Ở đây bạn thấy được 2 giáo sư chính thức của đại học Chicago, một trong những trường kinh tế tốt nhất thế giới, bất đồng ý kiến với nhau về những giả thuyết cốt lõi trong lĩnh vực này. Kinh tế học vẫn đang trong tình trạng hỗn loạn.

Những nghiên cứu đầu tiên về kinh tế học hành vi được Daniel Kahneman và Amos Tversky công bố vào những năm 1970. Sau gần nửa thế kỷ, các học giả tân cổ điển và hành vi vẫn chưa nhích lại gần nhau hơn. Trên thực tế, bài báo năm 2001 trên tờ New York Times mà Eugene Fama bác bỏ kinh tế học hành vi vẫn là một sự mô tả tốt về tình trạng của kinh tế học. Chẳng có gì thay đổi trong 15 năm qua.

Trong thực tế, kinh tế học vẫn chưa tìm ra lối thoát trong nhiều thập kỷ. Lúc này đây, sinh học mở ra một hướng đi hàn gắn sự chia rẽ và đưa kinh tế tiến về phía trước. Những cuộc thảo luận cốt lõi trong kinh tế học đang hòa giải những hành vi phức tạp, ‘thông minh’ với những hành vi phi lí (silly), ‘ngớ ngẩn’ (‘dumb’). Lý thuyết thống nhất của sinh học có thể giải thích cho cả hai loại hành vi, và không hề có sự chia rẽ như thế trong sinh học.

[Bây giờ chúng ta] xem xét công trình của nhà khoa học đạt giải Nobel Niko Tinbergen trên những chú mòng biển (herring gulls). Những chú chim này đều tung ra mọi loại chiến lược tinh vi để sống sót và sinh sôi nảy nở trong những môi trường nghiệt ngã. Một nhà kinh tế học tân cổ điển có thể ngạc nhiên về khả năng bay, tìm thức ăn, và nuôi con của chúng.

Tuy nhiên, công trình Tinbergen đã chứng minh một số hành vi của chú mòng biển có vẻ phi lí. Trong tự nhiên, chú mòng biển con đòi ăn bằng cách mổ vào mỏ của con trưởng thành, ngay nơi có đốm đỏ. Tinbergen phát hiện ra rằng chú mòng biển con bẩm sinh có khuynh hướng mổ vào đốm đỏ ngay cả với những chú chim nhân tạo. Hơn nữa, những chú mòng biển con (gull chicks) còn thích những cây bút chì với những cục tẩy màu đỏ hơn cả những chú chim mô hình, như thật nhưng không có vết đỏ.

Nếu Richard Thaler từng nghiên cứu những chú mòng biển, người ta có thể hình dung ông sẽ viết một bài nghiên cứu kinh tế học hành vi về hành vi ‘bất thường’ của chúng. Loài chim này ngốc nghếch đến nỗi cố gắng đòi ăn cả những cây bút chì. Giáo sư Thaler có thể tiếp tục kết luận rằng lý thuyết của Darwin là sai lầm bởi những chú mòng biển trong những sắp đặt nhân tạo (artificial settings) đã không thể sống sót và sinh sôi nảy nở.

Tuy nhiên, các nhà sinh học không có vấn đề gì với những con mòng biển hành xử theo những cách có vẻ vừa thông minh vừa phi lí. Chọn lọc tự nhiên hình thành nên những kết quả thông minh như việc bay. Tuy nhiên, hành vi được các cơ chế thần kinh cụ thể tạo ra có thể hình thành nên hành vi bất thường trong một vài sắp đặt nhất định.

Thật vậy, Tinbergen đã không xem hành vi mổ bút chì là bất thường, thay vào đó ông nhìn nhận điều này là kết quả của các cơ chế thích nghi nảy sinh trong thế giới mòng biển không có những cục tẩy bút chì.

Quan điểm sinh học này đưa ra một phương thức để dung hòa kinh tế học hành vi và kinh tế học tân cổ điển. Con người, cũng như các loài động vật khác, đang chịu áp lực tiến hóa để tối đa hóa. Việc tối đa hóa này gần giống với dự đoán của các nhà kinh tế học tân cổ điển. Tuy nhiên, khi các cơ chế ra-quyết định được kích hoạt trong những môi trường cụ thể sẽ tạo ra những bất thường của kinh tế học hành vi.

Kinh tế học có thể học tập theo sinh học, hàn gắn sự chia rẽ, và tiến lên phía trước với một cách tiếp cận liên kết chặt chẽ và phù hợp với hành vi con người.

Nguyễn Thị Trà Giang, Nguyễn Việt Anh dịch

Nguồn: Why Neoclassical and Behavioral Economics Doesn’t Make Sense Without Darwin, evonomics, 9 November 2015.

Terry Burnham là nhà kinh tế học chuyên nghiên cứu nền tảng sinh học và tiến hóa của hành vi con người. Ông là Phó Giáo sư tại đại học Chapman. Có thể theo dõi ông trên Twitter: @TerenceBurnham.

Canada hưởng lợi gì từ CPTPP?


Canada là một trong 11 quốc gia ký Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Khi chính thức được đưa vào thực hiện, thỏa thuận này sẽ mở ra nhiều thị trường mới cho các doanh nghiệp Canada, bao gồm Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Việt Nam… Với dân số 495 triệu người và GDP 13500 tỷ USD (chiếm 13,5% kinh tế thế giới), CPTPP với quy mô tương tự Hiệp định kinh tế và thương mại toàn diện (CETA) giữa Canada với Liên minh châu Âu (EU). Không chỉ thể, CPTPP còn có các điều khoản tiến bộ quy định rõ trong các chương về môi trường và lao động.

Vậy CPTPP sẽ mang lại cho Canada những lợi ích gì? Trong loạt bài “CPTPP – Các doanh nghiệp hưởng lợi từ thỏa thuận thương mại mới nhất của Canada” đăng trên trang web của Cơ quan xúc tiến xuất khẩu Canada (EDC), cơ quan này cho rằng về mặt kinh tế, CPTPP sẽ bổ sung thêm cho nền kinh tế Canada 4,2 tỷ CAD nhờ việc nước này được quyền tiếp cận phi thuế quan và/hoặc ưu đãi thuế với thị trường của 10 nước thành viên còn lại. CPTPP cũng sẽ mang lại cho Canada cơ hội đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và đầu tư.

Theo lời của nhà kinh tế học Motria Savaryn-Roy thuộc Trung tâm tình báo kinh tế và chính trị EDC, với việc tham gia CPTPP, Canada hầu như đã có chân trong hầu hết các thỏa thuận thương mại chính của thế giới. Cụ thể, Canada đã có thỏa thuận thương mại tự do với Mỹ và Mexico (thông qua NAFTA), với EU (thông qua CETA), Hàn Quốc (thông qua Hiệp định thương mại tự do (ETA) song phương) và với phần lớn khu vực châu Á – Thái Bình Dương (thông qua CPTPP). Ngoài ra, Canada cũng đang tiến hành các cuộc thảo luận thăm dò với Trung Quốc và Ấn Độ về ETA song phương. Ông Savaryn-Roy nói: Điều này sẽ giúp Canada phần nào giảm bớt phụ thuộc vào thị trường Mỹ, đồng thời nhấn mạnh thêm rằng CPTPP sẽ thực sự mở ra các cơ hội mới cho Canada ở châu Á.

Theo đánh giá của ông Gustavo Galvis, Trưởng đại diện EDC tại vùng Andes và Trung Mỹ, CPTPP là một thỏa thuận đầy tham vọng. “Với một số lượng lớn khách hàng tiềm năng và quy mô các nền kinh tế thành viên, sẽ có rất nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Canada khai thác, nhất là ở khu vực vành đai Thái Bình Dương”. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội có được từ tiếp cận ưu đãi với các thị trường mới, CPTPP cũng sẽ đem lại những thách thức cho các doanh nghiệp Canada trước sự cạnh tranh của các đối thủ đến từ 10 quốc gia thành viên. Ông Galvis nói: “Các doanh nghiệp Canda sẽ phải chuẩn bị sẵn sàng và tăng cường hiệu quả để có thể bảo vệ thị trường trong nước. Sẽ luôn có cho – nhận, được – mất mỗi khi có một thỏa thuận mới được ký kết”.

CPTPP hiện có 11 nước thành viên và được hình thành sau 12 năm đàm phán ròng rã. Mốc khởi điểm bao đầu của thỏa thuận này là Thỏa thuận đối tác kinh tế chiến ược xuyên Thái Bình Dương, được ký năm 2006 giữa 4 nước Brunei, Chile, New Zealand và Singapore (còn gọi là nhóm P4). Đầu năm 2010, thỏa thuận này được nâng cấp thành Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) khi có thêm 4 nước tham gia là Australia, Peru, Việt Nam và Mỹ. Cuối năm 2010, Malaysia đặt chân lên chiếc thuyền TPP. Hai năm sau, danh sách thành viên tham gia đàm phán mở rộng thêm 2 nước là Canada và Mexico. Một năm sau đó, Nhật Bản cũng chính thức nhập cuộc sau những tranh cãi gay gắt ở trong nước, nâng tổng số thành viên đàm phán lên con số 12. Tháng 2/2016, các nước chính thức ký TPP ở New Zealand, nhưng chỉ một năm sau, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố rút khỏi thỏa thuận này ngay khi vừa nhậm chức. Sự rút lui của Mỹ đã buộc 11 nước thành viên còn lại phải tiến hành đàm phán lại và sửa đổi các nội dung của TPP, tiền đề cho việc đổi tên lần thứ hai thành CPTPP. Tới ngày 23/1/2018, các nước mới đạt được nhất trí về nội dung phiên bản sửa đổi cuối cùng của CPTPP. Ngày 11/3 vừa qua, các bộ trưởng của 11 nước thành viên chính thức ký CPTPP tại thủ đô Santiago của Chile, chính thức hình thành một trong những khối thương mại tự do lớn nhất và tham vọng nhất thế giới hiện nay.

CPTPP bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau, từ nông nghiệp, ô tô, văn hóa, thủy sản đến lâm nghiệp… Theo đánh giá của Quỹ Tây Canada, những ngành và tiểu ngành của Canada được hưởng lợi nhiều nhất là nông sản, thực phẩm chế biến, các sản phẩm gỗ, máy móc công nghiệp, kim loại và khoáng sản, nhôm, nikel, các sản phẩm từ dầu mỏ…), Canada sẽ được hưởng lợi lớn khi hầu hết các hảon thuế sẽ được dỡ bỏ. Hiện tại, mỗi năm Canada xuất khẩu khoảng 6,8 tỷ CAD kim loại và khoáng sản sang các nước CPTPP với mức thuế 20% ở Malaysia, 40% ở Việt Nam, 6,3% ở Nhật Bản và 5% ở Australia. Theo thỏa thuận trong CPTPP, Malaysia, Việt Nam, Nhật Bản và một số nước khác sẽ phải dỡ bỏ các loại thuế này trong vòng 10 năm, riêng Australia chỉ có thời gian 4 năm.

Ngành thịt bò và thịt lợn của Canada cũng được cho là sẽ hưởng lợi lớn. Theo nhà quản lý quan hệ công chúng của Hội đồng thịt lợn Canada, ông Gary Stordy, CPTPP tạo ra một trong những thị trường chính cho các nhà xuất khẩu thịt lợn của Canada. Hội đồng này ước tính CPTPP sẽ giúp tăng tổng số thịt lợn xuất khẩu thêm 600 triệu CAD mỗi năm nhờ có lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ Mỹ và Anh trong việc tiếp cận ưu đãi với thị trường Nhật Bản và một số thị trường khác trong khối. Phó Chủ tịch Hội đồng thịt bò Canada Ron Glaser cũng bày tỏ hy vọng vào triển vọng xuất khẩu thịt bò sang các nước CPTPP. Ông Glaser khẳng định: “Chỉ một thay đổi nhỏ về tỷ lệ phần trăm cũng sẽ làm tăng mạnh doanh số bán”, trước khi cho biết thêm rằng Nhật Bản, Việt Nam và Singapore sẽ là những thị trường mục tiêu chính của thị bò Canada.

Ngành hàng không cung nhìn thấy nhiều dư địa phát triển trong CPTPP bởi, theo nhận định của Chủ tịch kiêm CEO Hiệp hội công nghiệp hàng không Csanada Jim Quick, các nền kinh tế trong CPTPP đều là “những thị trường hàng không đang nổi”. Việt Nam và Singapore là hai ví dụ điển hình và điều này sẽ cho phép ngành hàng không Canada đặt một chân vào những thị trường này, bên cạnh việc tiếp tục củng cố thị trường truyền thống là Nhật Bản.

Với ngành công nghệ thông tin, trước mắt Canada đặt mục tiêu vào các thị trường Nhật Bản, Malaysia và Australia. Đây đều là những thị trường khó tính ở châu Á, nhưng có giá trị toàn cầu và triển vọng phát triển tốt.

Trong khi đó, do phải cân bằng với các điều kiện và quy định trong NAFTA nên ngành sản xuất ô tô và phương triện vận tải của Canada được dự báo chỉ đạt tăng trưởng nhẹ. Con số ước tính cho ngành sản xuất ô tô là 206 triệu CAD.

Riêng đối với ngành sữa, Chính phủ Canada ước tính doanh số nhập khẩu sẽ tăng vượt trội so với xuất khẩu. Cụ thể, tổng giá trị nhập khẩu có thể sẽ tăng khoảng 135,1 triệu CAD do phải mở cửa thị trường cho các nước khác, trong khi giá trị xuất khẩu chỉ tăng khiêm tốn khoảng 3,5 triệu CAD. Tuy nhiên, Chính phủ Canada đã cam kết sẽ hỗ trợ và bảo vệ chuỗi quản lý nguồn cung trong ngành này.

So sánh với các thỏa thuận thương mại tự do khác, CPTPP được coi là một “hiệp định hiện đại”, đặc biệt là các chương về lao động và môi trường. Chương lao động được thiết kế để bảo vệ quyền lợi người lao động và đảm bảo rằng họ sẽ được hưởng lợi, chứ không phải trả giá cho sự tiến bộ kinh tế. CPTPP thúc đẩy các quyền và nguyên tắc lao động đã được quốc tế công nhận. Chương này cũng cam kết loại bỏ lao động trẻ em và lao động cưỡng bức. Vì thế, các nước thành viên CPTPP phải “tái khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, tôn trọng văn hóa và đa dạng văn hóa, bảo tồn và bảo vệ môi trường, thúc đẩy bình đẳng giới, đảm bảo quyền của người bản địa, các quyền lao động, thương mại toàn diện, phát triển bền vững, phong tục truyền thống cũng như bảo lưu quyền ra quyết định bảo vệ các lợi ích công cộng”. Trong khi đó, chương về môi trường được xem là tham vọng nhất, được thiết kể để đảm bảo rằng tất cả các bên tham gia đều phải bảo vệ môi trường và đề ra quy trình thực hiện việc này.

Bên cạnh hai chương mang tính hiện đại trên, những quy định trong CPTPP sẽ giúp các doanh nghiệp Canada tiếp cận được thị trường với sức tiêu thụ khoảng nửa triệu dân, tham gia các hợp đồng mua sắm chính phủ ở nước ngoài, mua hàng hóa, dịch vụ phi thuế quan hoặc thuế thấp… Vấn đề đặt ra là CPTPP sẽ giúp các doanh nghiệp Canada tiếp cận với khách hàng mới ở châu Á như thế nào?

Như đã phân tích ở trên và nhiều ý kiến nhận định khác của các chuyên gia, Nhật Bản, Malaysia, Việt Nam và Singapore sẽ là những thị trường ưa chuộng thịt lợn và thịt bò của Canada, khi những hạn chế thương mại được dỡ bỏ, nông dân Canada và các doanh nghiệp chế biến thực phẩm ở nước này sẽ được đối xử tương tự như các doanh nghiệp địa phương. Theo Mark Agnew, Giám đốc chính sách quốc tế của Phòng thương mại Canada, tiếp cận với thị trường châu Á là điều thú vị nhất của CPTPP. Nhật Bản sẽ là thị trường nhiều hứa hẹn hấp dẫn nhất, đáp ứng mong muốn lâu nay của các doanh nghiệp Canada.

Bên cạnh đó, các thị trường đang phát triển như Malaysia và Việt Nam cũng mang lại nhiều hứa hẹn. Dưới con mắt cảu Agnew, một trong những cơ hội hấp dẫn cho các doanh nghiệp Canada là được tham gia các hợp đồng mua sắm chính phủ. Các công ty của Canada trong lĩnh vực từ tư vấn, xây dựng đến kỹ thuật, đều có thể công khai, đấu thầu với các doanh nghiệp địa phương. Không chỉ thế, dù kinh doanh mặt hàng gì, các doanh nghiệp Canada cũng sẽ có cơ hội mở rộng thị trường hoạt động nhờ có những thỏa thuận thương mại tự do như CPTPP, một phần do có sự minh bạch hơn về đầu tư và các quy tắc thương mại.

Tất nhiên, sẽ luôn có những quan điểm trái chiều (chống đối hay ủng hộ) trong bất kỳ một thỏa thuận thương mại tự do nào. Các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng quốc tế sẽ có cơ hội phát triển tốt hơn nhờ có thỏa thuận thương mại tự do. Tuy nhiên cùng với đó, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải chịu cạnh tranh khốc liệt hơn với các đối tác thương mại nước ngoài. Thế nhưng, cạnh tranh sẽ khiến giá cả hàng hóa giảm xuống và làm tăng thêm năng lực cho các doanh nghiệp Canada, nhất là những doanh nghiệp chế biến thực phẩm, nông nghiệp, máy móc và thiết bị.

Nguồn: TLTKĐB – 18/04/2018

Hãy chặn đứng chủ nghĩa tự do kinh tế


Christian Chavagneux

Bài phỏng vấn Alan Kirman gây sốc

Alan Kirman, giáo sư danh dự về kinh tế tại Đại học Aix-Marseille 3, không được công chúng biết đến nhiều. Nhưng ông rất được tôn trọng trong thế giới nhỏ bé của các nhà kinh tế, ở nước ngoài cũng như ở Pháp. Là môn đồ của lý thuyết thống trị và các công cụ của nó, ông được các đồng nghiệp thừa nhận, nhưng điều đó không ngăn ông thường phê phán rất gắt những tiến hóa của phân tích kinh tế. Trong cuộc phỏng vấn này dành cho trang Evonomics(kinh tế học tiến hóa) của Mỹ, ông tranh luận về vị thế của chủ nghĩa tự do trong các suy tưởng kinh tế.

Từ Smith đến Hayek

Tự do kinh doanh, đó là ý tưởng cho rằng càng để cho các cá nhân quyết định làm những gì họ muốn, thì nền kinh tế càng có nhiều khả năng tự tổ chức tốt hơn. Bằng cách nào? Đối với câu hỏi này, các nhà kinh tế lại không trả lời được, Kirman khẳng định. Tư tưởng của Adam Smith đã bị những người theo chủ nghĩa tự do làm biến dạng và chuyển hướng, ông chưa bao giờ viết rằng chỉ cần để cho các cá nhân làm những gì họ muốn, thì mọi thứ sẽ vận động tốt.

Đối với Walras, vấn đề là phải chứng minh bằng toán học, dưới một số giả định nào đó, rằng tất cả các thị trường đều có thể tồn tại đồng thời ở trạng thái cân bằng. Ông không quan tâm đến việc liệu điều đó tốt hay không cho xã hội và ông không phải là người ủng hộ chủ nghĩa tự do kinh tế. Về phần mình, Pareto nói rằng nếu đạt được trạng thái cân bằng cạnh tranh thì đó là điều tối ưu theo nghĩa không thể cải thiện vị thế của một ai đó mà không làm xấu đi vị thế của một người khác. Kirman nhấn mạnh rằng đó là một tiêu chí tối ưu khá yếu. Và Pareto không nói rằng nếu có được tối đa chủ nghĩa tự do, thì có đạt được kết quả ấy không.

Nhưng những mũi tên độc nhất nhắm vàoHayek, “một con người kinh khủng“. Đối với Kirman, đó là điều hiển nhiên rằng Hayek, là người phân biệt chủng tộc, viện dẫn một bài phỏng vấn trong đó ông gán các đặc điểm chủng tộc cho các sinh viên người Ấn Độ tại Trường Kinh tế học London, nơi ông giảng dạy (Kirman nói về một băng video nhưng không cho biết nguồn). Người ta tìm thấy một trích dẫn tương đương, và không chỉ đối với người Ấn Độ, trong bài viết này. Hayek đã tạo nên một danh tiếng vào cuối Thế chiến II khi tố cáo bộ máy quan liêu, được coi là nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa phát xít. Nhưng ông không trả lời câu hỏi bất nhã của Ronald Coase chỉ ra rằng Hoa Kỳ là nước đầy dẫy các viên chức quan liêu, những bộ máy quan liêu trong các tập đoàn đa quốc gia lớn. Vã lại, Hayek sẽ chấp nhận để công ty General Motors chi trả việc xuất bản phiên bản hoạt hình về cuốn sách của ông The Road to Serfdom (Đường về nô lệ) …

Một hệ tư tưởng cho những kẻ quyền lực và người tham lam

Trong thực tế, người phỏng vấn hỏi ông, có phải tự do kinh doanh là một hệ tư tưởng phục vụ cho những kẻ quyền lực, muốn làm những gì họ muốn mà không bị hạn chế không? “Hoàn toàn đúng,” giáo sư Kirman trả lời. Và thông điệp chính của kẻ mạnh là thông điệp của Gordon Gekko, nhà tài chính gian xảo trong bộ phim Wall Street của Oliver Stone: “tham lam là tốt“!

Tiếp đó, Kirman lên án sự ám ảnh về tính hiệu quả của các nhà kinh tế tự do. Phải xóa bỏ mọi quy tắc ngăn cản tính hiệu quả tối đa. Kể cả các quy tắc tồn tại trên thị trường lao động. Tuy nhiên Kirman vặn lại, các quy tắc ấy được ban hành vì một mục đích rõ ràng và nếu muốn loại bỏ chúng thì phải đánh giá các hệ quả mang lại. Như vậy, thị trường lao động càng linh hoạt, thì các doanh nghiệp càng ít đầu tư cho việc đào tạo nhân viên của họ. Liệu đó có thực sự là kết quả mong muốn không? Đơn giản hóa các quy định hành chính là điều luôn luôn hữu ích, nhưng “nó không có nghĩa là loại bỏ tất cả các quy định“.

Đây là câu chuyện về một thầy tu, một nhà phân tâm học và một nhà kinh tế …

Cuối cùng, Kirman minh họa việc đi tìm tính hiệu quả tuyệt đối từ một câu chuyện. Một thầy tu, một nhà phân tâm học và một nhà kinh tế cùng chơi golf. Nhưng họ mất nhiều thời gian, bởi vì người chơi đứng trước họ chơi rất chậm, làm chậm đi cuộc chơi của họ. Mặc cho tiếng la ó, người chơi kia không chơi nhanh hơn bao nhiêu. Vì vậy, vị thầy tu đến nói chuyện với người ấy và quay trở lại nói: “người ấy chơi chậm bởi vì ông ấy bị mù! Thật là khủng khiếp, bởi vì tôi luôn nói với con chiên tôi rằng phải thân thiện và tôn trọng người khác“. Nhà phân tâm học nói: “Thật là khủng khiếp, bởi vì tôi thường tiếp người mù tại phòng khám của tôi và tôi nói với họ hãy cứ sống như những người khác, và tôi hét điều đó vào mặt anh ta“. Và nhà kinh tế nói: “Thật là khủng khiếp, bởi vì tình hình hoàn toàn không hiệu quả, anh chàng kia nên đến chơi vào ban đêm!”

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Haro sur le libéralisme économique: l’interview choc d’Alan KirmanAlterEcoPlus,26/10/2015