Thành công của Singapore là rất đáng nể nhưng không dễ bắt chước


Singapore chưa bao giờ thiếu người hâm mộ. Nhiều lãnh đạo các nước đang phát triển kính nể Lý Quang Diệu, người sáng lập và dẫn dắt quốc đảo này từ thế giới thứ ba lên thế giới thứ nhất trong khi vẫn quay lưng với lời kêu gọi tự do hóa chính trị hơn nữa của phương Tây. Paul Kagame, vị tổng thống bàn tay sắt của Rwanda hy vọng rằng đất nước của ông ta sẽ trở thành “Singapore của châu Phi”. Các fan hâm mộ của tổng thống Philippine Rodrigo Duterte thì so sánh ông ta với Lý Quang Diệu vì ý chí mạnh mẽ và không khoan nhượng đối với tội phạm và tham nhũng.

Gầy đây, thế giới các nước giàu cũng bắt đầu tăm tia hòn đảo này. “Muốn loại bỏ Obamacare ư? Vậy thì hãy cóp-py mô hình chăm sóc y tế kỳ diệu của Singapore”, một bài ý kiến trên trang web của hãng truyền thông bảo thủ Mỹ Fox News líu lo ngay sau khi Donald Trump thắng cử. Ý kiến này cho rằng “sự thần kỳ” nằm ở hai đặc tính mà phe Cộng hòa thiết tha cổ súy – “trao quyền cho người tiêu dùng và ươm dưỡng sự cạnh tranh”. Một số người ủng hộ Brexit to tiếng hơn còn mơ về việc biến Anh quốc thành “Singapore trên dòng sông Thames”: nơi kinh doanh thuận lợi, ít bị ràng buộc luật lệ và thuế thấp cho các doanh nghiệp sẵn sàng giao thương với châu Âu. Giống như câu chuyện mấy ông mù sờ voi và tả con vật theo đúng bộ phận mà họ sờ tới, những fan hâm mộ này có nhận xét đúng về Singapore nhưng lại không thể nhìn ra toàn cục.

Bắt đầu với phe ủng hộ Brexit. So với Singapore, Anh có 65 triệu dân, nhiều hơn 12 lần, và rải đều trên lãnh thổ lớn hơn Singapore 337 lần. Thuế ở Anh vốn đã nhẹ và được điều tiết theo chuẩn châu Âu, nhưng so với Singapore thì An vẫn là con voi ma mút. Suất thuế thu nhập cao nhất của Anh là 45%, gấp đôi của Singapore, chi tiêu của chính phủ chiếm khoảng 38% GDP, gấp đôi hệ thống nhà nước tinh gọn của Singapore. Việc tinh giản hơn nữa có nghĩa phải giảm mạnh chi tiêu nhà nước và định hình lại toàn diện Dịch vụ Y tế Quốc gia. Cử tri Anh sẽ chắc chắn trừng phạt bất kỳ đảng phái nào manh nha thực hiện điều này.

Ngay cả khi giả định rằng EU sẽ cho phép nước Anh có thuế thấp dễ dàng tiếp cận thị trường chung của mình, thì bối cảnh láng giềng cũng khác hẵn. Đông Nam Á là khu vực đang bùng nổ với 630 triệu dân, đa số sống ở các nước có tình hình không ổn định, tham nhũng, hay cơ sở hạ tầng yếu kém. Một Singapore hiệu quả cho phép các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận lực lượng người tiêu dùng này trong khi tối thiểu hóa rủi ro. Ngược lại, châu Âu có thể trì trệ, dù mang những nguy cơ dân túy, nhưng vẫn ổn định về mặt chính trị và hầu như được quản trị tốt. Khó có thể hình dung một doanh nghiệp sẽ chọn đầu tư vào Anh để phục vụ thị trường Tây Ban Nha thay vì thiết lập hoạt động ở Singapore để phục vụ khách hàng Indonesia – và càng khó hình dung hơn điều này sẽ xảy ra khi Anh không còn hưởng quyền tiếp cận không hạn chế vào thị trường châu Âu, điều rất có thể xảy ra khi Brexit hoàn tất.

Về phần phe bảo thủ Mỹ, họ đã đúng khi cho rằng hệ thống chăm sóc y tế của Singapore đạt được những kết quả tốt đẹp bằng cách chú trọng vào trách nhiệm cá nhân, cạnh tranh và hạn chế chi tiêu công. Dân Singapore tự trả hầu hết chi phí chăm sóc y tế từ túi riêng và tận hưởng tuổi thọ thuộc loại cao nhất và tỉ lệ tử vong sơ sinh thấp nhất thế giới. Nước này chi tiêu chỉ 5% GDP cho chăm sóc y tế, trong đó khoảng 2% là từ túi tiền người dân. Mỹ chi hơn rất nhiều, với tỉ lệ tương ứng là 17% và 8%, nhưng dân chúng lại kém xa về sự khỏe mạnh.

Tuy nhiên, hệ thống của Singapore cũng thể hiện sự cưỡng ép và can thiệp của nhà nước nhiều hơn hẵn những gì mà người Mỹ có thể chấp nhận. Đa số bệnh viện là của nhà nước. Hầu hết các các viện hay nhà chăm sóc cuối đời là của tư nhân nhưng được chính phủ cấp ngân sách. Chính phủ trợ cấp mạnh cho chăm sóc đặc biệt. Họ khuyến khích cạnh tranh thông qua công khai hóa đơn bệnh viện; các tổ chức dịch vụ y tế của Mỹ, ngược lại cố gắng che dấu viện phí để bệnh nhân không thể dò giá. Chính phủ Singapore buộc người dân phải chuyển 10,5% tiền lương của mình vào tài khoản “Medisave” (chủ lao động cũng phải đóng góp vào đây). Chính phủ cũng trợ giá cho những loại thuốc “thiết yếu và hiệu quả chi phí”; những loại thuốc không được duyệt, nếu có, sẽ vô cùng tốn kém.

Cả hai phe tả hữu đều thấy có nhiều điều đáng nể từ hệ thống chăm sóc y tế của Singapore. Nhưng bất kỳ ai có quan điểm cho rằng việc Michelle Obama khuyến khích trẻ em ăn nhiều táo là kiểu vú em ép trẻ ăn, sẽ khó chấp nhận hệ thống này. Như Hiệu trưởng Kishore Mahbubani của Trường Chính sách công Lý Quang Diệu giải thích: “ý thức hệ dẫn dắt Lý Quang Diệu không phải là kiểu Ayn Rand.”

Một mô thức tương tự – trách nhiệm cá nhân được hỗ trợ bởi sự cưỡng ép và mạng lưới an sinh tinh gọn và mạnh mẽ, được áp dụng cho toàn bộ nền kinh tế của Singapore. Hơn 90% dân Singapore sở hữu nhà riêng, nhưng đa số là căn hộ do chính phủ xây, chính phủ định giá, và cũng chính phủ cho vay mua nhà. Nơi cư ngụ của dân Singapore một phần phụ thuộc vào sắc tộc của họ: để tránh hình thành những khu ghetto sắc tộc, Singapore bắt buộc các khu nhà do nhà nước xây là đa thành phần để phản ánh nền tảng đa chủng tộc của đất nước.

Cuộc mặc cả khó khăn

Hình thức thiết kế xã hội này sẽ khiến cử tri phương tây kinh hãi và tòa án phương tây sẽ gạt bỏ ngay. Nhưng dân Singapore lại chấp nhận. Chủ nghĩa gia trưởng đã áp đặt được sự ôn hòa sắc tộc. Người gốc Hoa đa số ở đây đã tránh được sự thù hằn mà những Hoa kiều ở nơi khác như Malaysia và Indonesia gặp phải. Quan trọng hơn là sự đánh đổi mà Lý Quang Diệu đưa ra vẫn còn giá trị: nền chính trị phi tự do đổi lại một chính phủ tốt và mức sống cao.

Các lãnh đạo Singapore bảo vệ một cách quyết liệt uy tín của mình bằng cách đưa ra tòa tội bôi nhọ, và dàn xếp cử tri để duy trì tính đa số của đảng cầm quyền. Nhưng ngược lại họ cung cấp đường xá an toàn, chăm sóc y tế hạng nhất, giao thông công cộng tốt và một nền hành chính công sạch và nhạy bén. Trong một hình thái không hoàn chỉnh, các cuộc bầu cử vẫn cho phép cử tri tác động lên chính sách: sau khi đảng cầm quyền gánh chịu kết quả bỏ phiếu tệ hại nhất năm 2011, “chỉ” được 60% số phiếu ủng hộ, thì họ đã chuyển theo hướng dân túy hơn và giành thắng lợi vẻ vang 4 năm sau đó.

Thỏa thuận của Lý Quan Diệu khó có thể bắt chước. Cả hai vế đánh đổi đều quan trọng đối với sự thành công của Singapore. Tuy nhiên, những fan hâm mộ như ông Duterte và Hun Sen, người đàn ông cứng của Campuchia, chỉ chăm học phần chuyên quyền độc đoán, mà quên phần chính phủ sạch hay việc kiến tạo sự thịnh vượng. Còn với các fan của Singapore từ thế giới giàu có, thì lại thiếu nền chính trị bị thuần hóa đã cho phép các nhà cầm quyền Singapore đề ra chính sách mà không phải lo lắng quá nhiều về đợt bầu cử tiếp theo – hay quá lo về quyền tự do dân sự của công dân.

Người dịch: https://www.facebook.com/tamnq?fref=mentions

Nguồn: http://www.economist.com/news/asia/21722865-city-states-success-offers-much-admire-little-emulate-how-foreigners-misunderstand

Năm 2017 và những nguy cơ đến từ đồng USD mạnh


Giá trị của đồng USD đang đứng ở mức cao kỷ lục trong một thập niên qua, và những bối cảnh của nền kinh tế thế giới có vẻ sẽ khiến đồng bạc xanh còn tăng giá trị hơn nữa. Khi đồng tiền dự trữ của thế giới quá mạnh, không nước nào tránh được sự tác động. Và đối với nhiều nền kinh tế mới nổi, vốn vay nợ rất nhiều bằng đồng USD, thì năm 2017 có thể là một năm đầy khó khăn.

Ngày nay, đồng USD cản trở thế giới giống như chiếc vòi bạch tuộc thời hiện đại. Những quốc gia gắn giá trị đồng nội tệ với đồng USD sản xuất 1/3 sản lượng của toàn cầu, và đồng USD hiện là sự lựa chọn của hầu hết giao dịch hàng hóa. Đồng bạc xanh có mặt trong 85% giao dịch ngoại hối và hiện là đồng tiền của 39% tổng số nợ của toàn cầu, 63,4% kho dự trữ tiền tệ công khai của thế giới.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, một số nhà phân tích đã viện dẫn thâm hụt thương mại của Mỹ như là bằng chứng cho thấy thời hoàng kim của đồng USD sắp lụi tàn và đồng thời đưa ra dự đoán rằng đồng USD sẽ bị “ruồng bỏ”. Tuy nhiên, họ đã sai bởi các luồng vốn đổ vào ồ ạt chỉ càng củng cố vị thế của đồng USD như là “nơi trú ẩn” an toàn bất chấp tương lai đầy bấp bênh của chính đồng tiền này. Điều tưởng chừng như rất nghịch lý này lại đặc biệt chính xác bởi nước Mỹ là “thủ phạm chính” gây ra cuộc khủng hoảng tài chính 2008.

Để đối phó với các khủng hoảng của năm 2008, chính phủ của các thị trường đã triển khai những chính sách ngăn chặn sự tái diễn “tình trạng đình đốn” như Phố Wall từng gây ra hồi những năm 1930. Các ngân hàng trung ương điều hành chính sách tiền tệ cực kỳ lỏng lẻo, khiến thị trường tràn ngập tiền mặt bằng cách ấn định lãi suất thấp kỷ lục và những chính sách nới lỏng định lượng, trong đó Mỹ là nước đi đầu trào lưu này. Kết quả là đồng USD đổ vào thị trường toàn cầu do các nhà đầu tư ở thế giới phát triển nhận thấy các thị trường nội địa của họ không để đem lại đủ lợi nhuận. Các thị trường mới nổi nhận được lượng vốn lớn và hầu hết là dưới hình thức nợ công ty. Do các nhà đầu tư không muốn cấp các khoản vay bằng đồng nội tệ đối với những thị trường mới nổi có tỷ lệ lạm phát cao, nên các khoản cho vay tính bằng đồng USD lại được “lạm dụng”.

Hiện tại, những quốc gia gánh nhiều rủi ro nhất từ đồng USD mạnh là những nước đang có những món nợ chồng chất tính bằng đồng USD. Kho dự trữ ngoại hối dồi dào có thể phần nào giúp giải cứu vấn đề này bởi có thể được dùng để củng cố đồng nội tệ hay thanh toán nợ công ty. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lãi sẽ khiến đồng USD tự khắc “chảy ra” khỏi những nước này.

Trong thời gian tới, đồng USD sẽ tiếp tục mạnh lên và có thể khiến nhiều nước phải “đau đầu” Một trong số những “nạn nhân lớn nhất” là Trung Quốc. Trong suốt 18 tháng qua, đồng NDT đã mất giá so với đồng USD,d ẫn đến tình trạng tẩu tán vốn. Điều này có nguy cơ trở thành một tiến trình rối loạn và Trung Quốc đã phải chi một lượng khá lớn dự trữ ngoại tệ để kiểm soát tình hình. Kho dự trữ của nước này hiện là 3,1 nghìn tỷ USD, một con số vẫn được coi là “khổng lồ”, song giảm 25% so với năm 2014. Đồng USD mạnh sẽ gây áp lực hơn nữa lên Bắc Kinh buộc họ phải tiêu số dự trữ ngoại tệ còn lại ở tốc độ thậm chí còn nhanh hơn nữa, làm hao mòn khối tài sản mà nước này tích cóp suốt 2 thập niên qua.

Tuy nhiên, những quốc gia “dễ bị tổn thương” nhất là những nước (chủ yếu có các thị trường mới nổi) đang phải “cõng” gánh nặng nợ tính bằng đồng USD và không có nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào để “chống lưng”. Đồng USD mạnh lên khiến các quốc gia này khó có thể thanh toán hay trả lãi cho các khoản nợ, nhất là khi chi phí trao đổi đồng USD trên thị trường tăng. Đồng USD mạnh lên là “điềm báo” cho thấy 2017 sẽ là một năm đầy khó khăn cho các thị trường mới nổi.

Nguồn: Strator – 08/12/2016

TKNB – 09/12/2016

Trung Quốc đã sẵn sàng thay thế Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương


Winarno Zain

Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump dường như sẽ có chính sách đối ngoại với khu vực châu Á – Thái Bình Dương khác người tiền nhiệm là ông Barack Obama. Điều đó thể hiện qua việc ông cam kết sẽ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) xem lại chính sách quan hệ với các đồng minh chủ chốt của mình ở khu vực… Chính những điều này đang tạo cho Trung Quốc một cơ hội lớn để khẳng định mình như một cường quốc sẵn sàng thay thế cho vị trí của Mỹ ở khu vực.

Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump dường như sẽ không tiếp tục thực hiện chính sách “xoay trục” của Mỹ hướng về khu vực châu Á – Thái Bình Dương bằng việc cam kết sẽ rút khỏi TPP. Trong bối cảnh đó, các nước ở khu vực này đang phải vật lộn để tìm một thỏa thuận tự do thương mại thay thế.

Trong chiến dịch vận động tranh cử của mình, ông D. Trump đã nói rằng TPP là một “thỏa thuận thương mại khủng khiếp” và rằng ông sẽ rút khỏi TPP ngay trong ngày đầu tiên chính thức làm tổng thống Mỹ.

TPP là một hiệp định thương mại được Tổng thống Barack Obama tâm huyết muốn nó trở thành hiện thực nhằm đối trọng với Trung Quốc ở khu vực. Hiệp định này bao gồm 12 quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương mà không bao gồm Trung Quốc.

Cũng giống như các hiệp định thương mại tự do khác, TPP được cho là sẽ giúp tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập và đem lại cuộc sống thịnh vượng hơn cho người dân các quốc gia thành viên. TPP không chỉ xóa bỏ hàng rào thuế quan trong hợp tác thương mại giữa các quốc gia mà nó còn thiết lập các tiêu chuẩn về môi trường, quyền sở hữu trí tuệ và các điều kiện lao động…

Ngay sau khi tổng thống đắc cử của Mỹ tuyên bố không ủng hộ hiệp định này, các quốc gia thành viên còn lại của TPP đang xem Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP) mà các thành viên bao gồm 10 quốc gia ASEAN cùng với Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand có thể là giải pháp thay thế.

RCEP hiện đang được 16 quốc gia đàm phán sẽ là sự thay thế hợp lý TPP và trở thành hiệp định thương mại quan trọng nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương về Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), kim ngạch thương mại cũng như quy mô dân số.

Lãnh đạo một số nước thành viên, trong đó có Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã thừa nhận rằng nếu TPP không thể ra đời, rất có thể RCEP sẽ lấp khoảng trống này.

Tuy nhiên, hiện nay, để quá trình đàm phán RCEP đi đến ký kết, vẫn còn phải mất một thời gian nữa. Hiện tại các quốc gia thành viên chưa thể thống nhất với nhau về nhiều vấn đề, trong đó có những khía cạnh quan trọng về tự do thuế quan của hiệp định thương mại này.

ASEAN, Nhật Bản và Australia muốn việc cắt giảm thuế đối với nhiều loại sản phẩm, trong khi Trung Quốc cho rằng việc cắt giảm này chỉ tập trung ở một số mặt hàng, dựa trên các thỏa thuận thương mại song phương hiện đang tồn tại trong hợp tác của các quốc gia thành viên.

Điều đó có nghĩa là Trung Quốc chưa sẵn sàng mở cửa nền kinh tế một cách rộng khắp đối với các sản phẩm của mình.

Một số quốc gia đã có những kinh nghiệm xương máu trong hợp tác thương mại với Trung Quốc. Brazil là nước có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu tài nguyên sang Trung Quốc, khi kinh tế Trung Quốc bị chững lại, các loại hàng hóa của Brazil xuất khẩu vào nước này đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Tình trạng Indonesia được cho là có khá hơn một chút so với Brazil khi quốc gia này rút ra bài học từ năm 2014, thời điểm kinh tế Trung Quốc bắt đầu suy giảm.

Tuy nhiên, thực tế thâm hụt thương mại của Indonesia với Trung Quốc đã xấu đi kể từ năm 2010 với mức thâm hụt 5,6 tỷ USD, con số này đã tăng vọt lên 16 tỷ USD vào năm 2015.

Trong khi giá của các mặt hàng như than đá, niken cũng như các mặt hàng khác của Indonesia xuất khẩu vào Trung Quốc đều bị giảm thì các sản phẩm của Trung Quốc xuất khẩu vào Indonesia vẫn được duy trì mức giá cũ. Các loại hàng hóa của Trung Quốc như thép xây dựng, máy móc, thiết bị điện tử, điện thoại thông minh, đồ chơi… vẫn đang tràn ngập thị trường Indonesia, điều đó cũng đã gây ra những khó khăn rất lớn cho nhà sản xuất trong nước.

Trong khi đó, hiện nay, chính phủ Indonesia đang cố gắng để thúc đẩy quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư của nước này, đặc biệt là đối với lĩnh vực cơ sở hạ tầng.

Năm 2016 đã có sự nhảy vọt về đầu tư của Trung Quốc vào Indonesia. Tính đến tháng 9/2016, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc vào quốc gia này đã đạt 1,6 tỷ USD, gấp 3 lần so với tổng số vốn đầu tư của năm 2015. Thị phần tổng số vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc vào Indonesia đã tăng từ 2,1% lên đến 7,4%.

Đầu tư của Trung Quốc tập trung vào lĩnh vực khoáng sản, năng lượng, cơ sở hạ tầng. FDI từ Trung Quốc được dự báo sẽ tiếp tục tăng khi chính phủ Indonesia tiếp tục thực hiện chính sách ưu đãi đối với Trung Quốc, trong đó bao gồm việc thiết lập một “Văn phòng tư vấn đầu tư” đối với các doanh nghiệp Trung Quốc, trụ sở được đặt tại Ban Điều phối Đầu tư (BKPM) của Indonesia tại thủ đô Jakarta.

Vấn đề thứ hai mà các quốc gia đàm phán RCEP cần quan tâm, đó là tình trạng dư thừa các loại hàng hóa tại Trung Quốc. Các nhà đàm phán đã cảnh báo về việc Trung Quốc sẽ sử dụng RCEP để tuồn các loại hàng hóa dư thừa trong nước sang các nước thành viên khi hiệp định này trở thành hiện thực.

Điều này không có gì đáng ngạc nhiên khi trong vòng vài năm qua, các sản phẩm thép giá rẻ của Trung Quốc đã tràn sang thị trường các quốc gia ASEAN và làm cho thị trường thép của các nước này bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Tại Indonesia, việc nhập khẩu thép giá rẻ từ Trung Quốc đang làm cho tập đoàn PT Krakatau Steel và các doanh nghiệp sản xuất thép khác của nước này đứng trước nguy cơ thua lỗ nặng.

Khi RCEP trở thành hiện thực, với mức thuế nhập khẩu bị giảm, trong khi đó Bắc Kinh không có sự điều chỉnh giảm tương ứng, ngành công nghiệp sản xuất thép của Indonesia sẽ đối mặt với nguy cơ phá sản.

Một điểm đáng lưu ý nữa cho thấy Trung Quốc đang muốn thiết lập vị trị thống trị của mình ở khu vực đó là vào tháng 10/2014, Trung Quốc đã cùng 20 quốc gia khác thành lập Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB). Ngân hàng này tập trung đầu tư vào các dự án hạ tầng ở khu vực châu Á. Khi AIIB được thành lập, nó đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của Mỹ và Nhật Bản bởi vì khi đi vào hoạt động nó sẽ cạnh tranh quyết liệt với Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB).

Trung Quốc có thể sử dụng AIIB để mở rộng ảnh hưởng của mình ở khu vực châu Á, khu vực trước kia luôn do Mỹ thao túng. Bên cạnh đó, việc cho ra đời ngân hàng này cũng sẽ giúp đồng NDT của Trung Quốc có giá trị hơn trong thanh toán toàn cầu.

Mặc dù Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất châu Á, Philippines hiện vẫn chủ yếu dựa vào nguồn vốn từ ADB. Thị phần đầu tư của Nhật Bản ở quốc gia này hiện vẫn gấp 2 lần Trung Quốc.

Đối với Indonesia, việc trở thành một trong những quốc gia sáng lập AIIB cũng giúp quốc gia này nhận được các khoản cho vay lớn từ ngân hàng này. AIIB được chính phủ Indonesia kỳ vọng sẽ là một nguồn bổ sung kinh phí đáng kể cho các dự án cơ sở hạ tầng quy mô của quốc gia này trong những năm tới.

Thông qua RCEP và AIIB, Trung Quốc đang dần khẳng định vai trò lãnh đạo không thể từ chối trong các vấn đề liên quan đến kinh tế, chính trị khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, hiện nay, Trung Quốc không phải không có những vấn đề khiến các nước trong khu vực phải dè chừng cũng như e ngại về sức mạnh của họ. Trung Quốc cần phải thể hiện là một nước lớn, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, bình đẳng trong hợp tác, làm ăn với các quốc gia láng giềng cũng như các quốc gia ở khu vực, từ đó mới có thể tiếp quản vai trò lãnh đạo trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Nguồn: The Jakarta Post – 08/12/2016

TKNB – 09/12/2016

Sự tạo tiền trong nền kinh tế hiện đại – Phần cuối


Mối liên hệ giữa QE và lượng tiền

QE có tác động trực tiếp đến cả lượng tiền cơ sở và lượng tiền theo nghĩa rộng do cách mà Ngân hàng tiến hành mua tài sản. Chính sách này nhằm mục đích mua các tài sản, trái phiếu chính phủ, chủ yếu từ các công ty tài chính phi ngân hàng, như quỹ hưu trí hay các công ty bảo hiểm. Ví dụ, giả sử mua trái phiếu chính phủ trị giá 1 tỷ bảng từ quỹ hưu trí. Một cách mà Ngân hàng có thể thực hiện việc mua sắm này là in 1 tỷ bảng Anh và trao đổi trực tiếp với quỹ hưu trí. Nhưng giao dịch với số tiền mặt lớn như vậy là không thực tế. Bởi vậy, những loại giao dịch này được thực hiện bằng cách sử dụng các loại tiền điện tử.

Vì quỹ hưu trí không có tài khoản dự trữ ở Ngân hàng Anh, nên ngân hàng thương mại nơi mà nó mở tài khoản ngân hàng được sử dụng như một trung gian. Ngân hàng của quỹ hưu trí ghi có vào tài khoản của quỹ hưu trí 1 tỷ bảng tiền gửi để đổi lấy trái phiếu chính phủ. Điều này được minh họa như hàng thứ nhất của Hình 3. Ngân hàng trung ương Anh tài trợ cho việc mua sắm này bằng cách ghi có dự trữ cho ngân hàng của quỹ hưu trí- nó trao cho ngân hàng thương mại một IOU (hàng thứ hai). Bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại mở rộng: nợ tiền gửi mới tương ứng với một tài sản dưới dạng dự trữ mới (hàng thứ ba).

Hai quan niệm sai lầm về cách thức QE vận hành

Tại sao dự trữ bổ sung không phải là “tiền tự do” đối với các ngân hàng

Trong khi việc mua tài sản của ngân hàng trung ương liên quan- và tác động- đến các bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại, thì vai trò chính của các ngân hàng này là một trung gian nhằm tạo thuận lợi cho giao dịch giữa ngân hàng trung ương với quỹ hưu trí. Khoản dự trữ bổ sung thể hiện trong Hình 3 chỉ đơn giản là một phụ phẩm của giao dịch này. Đôi khi người ta lập luận rằng, bởi vì chúng là tài sản của các ngân hàng thương mại, và ngân hàng thương mại kiếm được lãi từ nó, nên những khoản dự trữ này tượng trưng cho “tiền tự do” của các ngân hàng. Trong khi các ngân hàng kiếm được lãi suất trên dự trữ mới, QE cũng tạo ra một nghĩa vụ nợ đi kèm cho ngân hàng dưới dạng tiền gửi của quỹ hưu trí, mà chính ngân hàng thường phải trả lãi cho tiền gởi đó. Nói cách khác, QE đưa cho các ngân hàng một IOU mới từ ngân hàng trung ương, nhưng cũng đưa một IOU mới tương ứng cho người tiêu dùng (trong trường hợp này là quỹ hưu trí) và các lãi suất của hai IOU này đều phụ thuộc vào lãi suất Ngân hàng.

Hình 3: Tác động của QE lên các bảng cân đối kế toán.

Tại sao các khoản dự trữ bổ sung không được nhân lên thành các khoản cho vay và tiền theo nghĩa rộng mới

Như đã thảo luận ở trên, cơ chế truyền dẫn của QE dựa vào các tác động của khoản tiền theo nghĩa rộng mới tạo ra- chứ không phải tiền cơ sở. Khởi đầu của sự truyền dẫn là việc tạo ra các khoản tiền gửi ngân hàng trên bảng cân đối kế toán của người nắm giữ tài sản thay thế cho nợ của chính phủ (Hình 3, hàng đầu). Điều quan trọng là các khoản dự trữ được tạo ra trong khu vực ngân hàng (Hình 3, hàng thứ ba) không đóng vai trò trung tâm. Như đã giải thích ở trên, điều này là do các ngân hàng không thể trực tiếp cho vay các khoản dự trữ này. Dự trữ là một IOU từ ngân hàng trung ương cho các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng này có thể sử dụng nó để thanh toán cho nhau, nhưng không thể sử dụng chúng cho khách hàng trong nền kinh tế, những người không có tài khoản dự trữ, “vay”. Khi các ngân hàng cho vay thêm, nó phải ghi nợ thêm khoản tiền gửi tương ứng- lượng dự trữ không thay đổi.

Hơn nữa, dự trữ mới không nhân lên một cách cơ học thành các khoản cho vay mới và tiền gửi mới như tiên liệu của lý thuyết về số nhân của tiền. QE làm gia tăng tiền theo nghĩa rộng mà không trực tiếp dẫn đến, hoặc đòi hỏi, sự gia tăng trong cho vay. Trong khi phần đầu tiên của lý thuyết về số nhân của tiền liên quan đến QE- quan điểm về tiền tệ quyết định một cách cơ học lượng dự trữ- các khoản dự trữ mới được tạo ra không tự chúng thay đổi một cách có ý nghĩa các động cơ để các ngân hàng tạo ra khoản tiền theo nghĩa rộng mới bằng cho vay. QE có thể tác động gián tiếp đến các động cơ để các ngân hàng cho vay mới, ví dụ bằng cách giảm chi phí huy động vốn hay tăng dư nợ tín dụng thông qua việc tăng cường hoạt động.[41] Tuy nhiên, QE có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp hoàn trả nợ ngân hàng, nếu như họ phát hành thêm trái phiếu hoặc cổ phiếu và sử dụng số tiền huy động được này để trả nợ ngân hàng. Bởi vậy, nếu cân nhắc kĩ thì QE có thể tăng hoặc giảm lượng tiền vay ngân hàng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, các kênh này không được kỳ vọng là những phần then chốt của cơ chế truyền dẫn: thay vào đó, QE vận hành thông qua việc tác động đến lĩnh vực ngân hàng, nhằm tăng chi tiêu trực tiếp của khu vực tư nhân.[42]

Kết luận

Bài báo này đã thảo luận cách thức mà tiền được tạo trong nền kinh tế hiện đại. Hầu hết tiền trong lưu thông được tạo ra không phải từ máy in của Ngân hàng Anh, mà do chính các ngân hàng thương mại tạo ra: các ngân hàng tạo tiền bất cứ khi nào nó cho một ai đó trong nền kinh tế vay hoặc mua một tài sản từ người tiêu dùng. Trái ngược với những mô tả được tìm thấy trong một số giáo trình, Ngân hàng Anh không kiểm soát trực tiếp lượng lượng tiền cơ sở lẫn lượng tiền theo nghĩa rộng. Tuy vậy, Ngân hàng Anh vẫn có thể tác động đến lượng tiền trong nền kinh tế. Nó thực hiện điều này trong những thời kỳ bình thường bằng cách thiết lập chính sách tiền tệ- thông qua mức lãi suất mà nó trả cho các khoản dự trữ của các ngân hàng thương mại ở ngân hàng trung ương. Dù vậy, gần đây, với lãi suất Ngân hàng bị ràng buộc bởi giới hạn thấp hơn hiệu quả (effective lower bound), chương trình mua tài sản của Ngân hàng Anh đã tìm cách tăng lượng tiền theo nghĩa rộng trong lưu thông. Điều này ảnh hưởng đến giá cả và số lượng của một loạt các tài sản trong nền kinh tế, bao gồm cả tiền.

Nguyễn Minh Cao Hoàng dịch

Nguồn: “Money creation in the modern economy“, Bank of England, Quarterly Bulletin, 2014 Q1

—–

[41] Một cơ chế tương tự, theo đó QE có thể tăng cho vay ngân hàng bằng cách cho phép các ngân hàng thu hút nguồn vốn ổn định hơn được thảo luận trong Miles (2012).

[42] Những kênh này, cũng như tác động của QE đối với việc cho vay ngân hàng rộng rãi hơn, được thảo luận chi tiết trong một hộp ở Butt và cộng sự (2012).

—–

Tài liệu tham khảo

Astley, M and Haldane, A (1995), ‘Money as an indicator’, Bank of England Working Paper No. 35.

Bank of England (1999), ‘The transmission mechanism of monetary policy’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/publications/%20Documents/other/monetary/montrans.pdf.

Benes, J and Kumhof, M (2012), ‘The Chicago Plan revisited’, IMF Working Paper No. 12/202.

Benford, J, Berry, S, Nikolov, K, Robson, M and Young, C (2009), ‘Quantitative easing’,Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 49, No. 2, pages 90–100.

Bernanke, B (2007), ‘The financial accelerator and the credit channel’, speech at a conference on The Credit Channel of Monetary Policy in the Twenty-first Century, Federal Reserve Bank of Atlanta.

Bindseil, U (2004), ‘The operational target of monetary policy and the rise and fall of the reserve position doctrine’, ECB Working Paper No. 372.

Bowdler, C and Radia, A (2012), ‘Unconventional monetary policy: the assessment’,Oxford Review of Economic Policy, Vol. 28, No. 4, pages 603–21.

Bridges, J, Rossiter, N and Thomas, R (2011), ‘Understanding the recent weakness in broad money growth’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 51, No. 1, pages 22–35.

Bridges, J and Thomas, R (2012), ‘The impact of QE on the UK economy — some supportive monetarist arithmetic’, Bank of England Working Paper No. 442.

Brigden, A and Mizen, P (2004), ‘Money, credit and investment in the UK industrial and commercial companies sector’, The Manchester School, Vol. 72, No. 1, pages 72–79.

Burgess, S and Janssen, N (2007), ‘Proposals to modify the measurement of broad money in the United Kingdom: a user consultation’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 47, No. 3, pages 402–14.

Butt, N, Domit, S, Kirkham, L, McLeay, M and Thomas, R (2012), ‘What can the money data tell us about the impact of QE?’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 52, No. 4, pages 321–31.

Button, R, Pezzini, S and Rossiter, N (2010), ‘Understanding the price of new lending to households’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 50, No. 3, pages 172–82.

Capie, F and Webber, A (1985)A monetary history of the United Kingdom, 1870–1982, Vol. 1, Routledge.

Carpenter, S and Demiralp, S (2012), ‘Money, reserves, and the transmission of monetary policy: does the money multiplier exist?’, Journal of Macroeconomics, Vol. 34, No. 1, pages 59–75.

Clews, R, Salmon, C and Weeken, O (2010), ‘The Bank’s money market framework’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 50, No. 4, pages 292–301.

Congdon, T (1992)Reflections on monetarism, Clarendon Press.

Congdon, T (2005), ‘Money and asset prices in boom and bust’, Institute of Economic Affairs, Hobart Paper No. 152.

Disyatat, P (2008), ‘Monetary policy implementation: misconceptions and their consequences’, BIS Working Paper No. 269.

Farag, M, Harland, D and Nixon, D (2013), ‘Bank capital and liquidity’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 53, No. 3, pages 201–15.

Friedman, M (1963)Inflation: causes and consequences, Asia Publishing House.

Haldane, A (2009), ‘Why banks failed the stress test’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/archive/documents/historicpubs/%20speeches/2009/speech374.pdf.

Hancock, M (2005), ‘Divisia money’, Bank of England Quarterly Bulletin, Spring, pages 39–46.

Hills, S, Thomas, R and Dimsdale, N (2010), ‘The UK recession in context — what do three centuries of data tell us?’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 50, No. 4, pages 277–91.

Howells, P (1995), ‘The demand for endogenous money’, Journal of Post Keynesian Economics, Vol. 18, No. 1, pages 89–106.

Jackson, C and Sim, M (2013), ‘Recent developments in the sterling overnight money market’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 53, No. 3, pages 223–32.

Joyce, M, Tong, M and Woods, R (2011), ‘The United Kingdom’s quantitative easing policy: design, operation and impact’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 51, No. 3, pages 200–12.

Kaldor, N and Trevithick, J (1981), ‘A Keynesian perspective on money’, Lloyds Bank Review, January, pages 1–19.

Kamath, K, Reinold, K, Nielsen, M and Radia, A (2011), ‘The financial position of British households: evidence from the 2011 NMG Consulting survey’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 51, No. 4, pages 305–18.

Kydland, F and Prescott, E (1990), ‘Business cycles: real facts and a monetary myth’,Federal Reserve Bank of Minneapolis Quarterly Review, Vol. 14, No. 2, pages 3–18.

Laidler, D (1984), ‘The buffer stock notion in monetary economics’, The Economic Journal, Vol. 94, Supplement: Conference Papers, pages 17–34.

Laidler, D and Robson, W (1995), ‘Endogenous buffer-stock money’, Credit, interest rate spreads and the monetary policy transmission mechanism, Session 3, conference on The Transmission of Monetary Policy held at the Bank of Canada in November 1994.

Miles, D (2012), ‘Asset prices, saving and the wider effects of monetary policy’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/%20publications/Documents/speeches/2012/speech549.pdf.

Mitchell, B R (1988)British historical statistics, Cambridge University Press.

Moore, B (1988)Horizontalists and verticalists: the macroeconomics of credit money, Cambridge University Press.

Palley, T (1996)Post Keynesian economics: debt, distribution and the macro economy, Macmillan.

Sefton, J and Weale, M (1995)Reconciliation of National Income and Expenditure: balanced estimates of national income for the United Kingdom, 1920–1990, Cambridge University Press.

Singh, M (2013), ‘Collateral and monetary policy’, IMF Working Paper No. 13/186.

Solomou, S N and Weale, M (1991), ‘Balanced estimates of UK GDP 1870–1913’,Explorations in Economic History, Vol. 28, No. 1, pages 54–63.

Thomas, R (1997a), ‘The demand for M4: a sectoral analysis, Part 1 — the personal sector’, Bank of England Working Paper No. 61.

Thomas, R (1997b), ‘The demand for M4: a sectoral analysis, Part 2 — the corporate sector’, Bank of England Working Paper No. 62.

Tobin, J (1963), ‘Commercial banks as creators of ‘money’’, Cowles Foundation Discussion Papers No. 159.

Tucker, P (2009), ‘The debate on financial system resilience: macroprudential instruments’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/%20publications/Documents/speeches/2012/speech549.pdf.

Tucker, P, Hall, S and Pattani, A (2013), ‘Macroprudential policy at the Bank of England’,Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 53, No. 3, pages 192–200.

Sự tạo tiền trong nền kinh tế hiện đại – Phần VI


Thông tin về các loại tiền khác nhau và tổng khối lượng tiền

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Ngân hàng Anh là đảm bảo ổn định tiền tệ bằng cách giữ lạm phát theo đúng lộ trình nhằm đạt được mục tiêu 2% của Chính phủ. Milton Friedman (1963) đã đưa ra lập luận nổi tiếng rằng “lạm phát luôn luôn và bất kì đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”. Vì vậy, sự thay đổi trong cung tiền có thể chứa đựng thông tin có giá trị về chi tiêu và áp lực lạm phát trong nền kinh tế. Vì tiền là thứ thiết yếu để mua hàng hoá và dịch vụ, nên có thể chứa đựng thông tin xác thực (corroborative information) về mức chi tiêu danh nghĩa hiện tại trong nền kinh tế. Nó cũng có thể cung cấp thông tin bổ sung (incremental information) về các biến động trong tương lai của chi tiêu danh nghĩa và do đó có thể là một chỉ báo hữu ích về áp lực lạm phát trong tương lai. Cuối cùng, hành vi của tiền có thể giúp tiết lộ bản chất của cơ chế truyền dẫn tiền tệ, đặc biệt khi chính sách tiền tệ được vận hành thông qua “nới lỏng định lượng” (QE).

Trên thực tế, khó khăn chính là đánh giá xem những thước đo nào của tiền là những thước đo thích hợp để xem xét cho từng mục đích khác nhau. Ngân hàng gần đây xây dựng nhiều loại đại lượng tổng gộp về tiền và công bố một loạt các dữ liệu giúp tính được chúng, được tóm tắt trong Bảng 1. Biểu đồ A cho thấy một số chuỗi thời gian dài hạn trong quá khứ của sự tăng trưởng tổng khối lượng tiền so với mức chi tiêu danh nghĩa trong nền kinh tế.[32] Với những thay đổi khác nhau trong cơ chế tiền tệ của Anh trong 150 năm qua, rất có thể với một chỉ báo tiền tệ đơn nhất không thể nắm bắt tất cả thông tin xác thực và thông tin bổ sung về tiền một cách đầy đủ. Ngành tài chính Anh cũng đã trải qua những thay đổi cấu trúc khác nhau, và điều này cần phải được lưu ý khi xem xét mối liên hệ cơ bản giữa tiền và chi tiêu. Ví dụ, trong những giai đoạn khi mà lĩnh vực tài chính tăng trưởng tương đối so với phần còn lại của nền kinh tế (chẳng hạn như vào đầu những năm 1980 và những năm 2000), tiền theo nghĩa rộng có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với chi tiêu danh nghĩa một cách ổn định.

Về nguyên tắc, các thước đo hẹp hơn của tiền, chẳng hạn như tiền giấy và tiền kim loại và tiền gửi không kì hạn (những tài khoản có thể rút ngay lập tức mà không bị phạt) tốt hơn các chỉ báo xác thực về chi tiêu, bởi đây là những loại tiền được sử dụng để thực hiện đa số các giao dịch về hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế. Tổng lượng tiền giấy, tiền kim loại và tiền gửi không kì hạn được nắm giữ bởi khu vực tư nhân phi ngân hàng thường được gọi là tiền có kì đáo hạn ngay lập tức (zero maturity money) hay “MZM”.[33]

Các thước đo rộng hơn của tiền có thể thích hợp hơn các chỉ báo bổ sung về chi tiêu trong tương lai và tiết lộ nhiều hơn về bản chất của cơ chế truyền dẫn. Ví dụ, M2, bổ sung thêm các khoản tiền gửi có kì hạn của hộ gia đình như các tài khoản tiết kiệm.[34] Và M4 lại là một thước đo rộng hơn, bao gồm cả tiền gửi có kì hạn và không kì hạn được nắm giữ bởi các doanh nghiệp phi tài chính và các doanh nghiệp phi ngân hàng. Bài báo chính mô tả cách thức QE vận hành bằng cách tăng tiền gửi của các công ty tài chính ở bước đầu tiên. Khi các công ty này tái cấu trúc danh mục của họ, giá tài sản có khuynh hướng tăng và, với một độ trễ, dẫn đến sự gia tăng trong chi tiêu của hộ gia đình cũng như doanh nghiệp. Vì vậy, việc giám sát tiền theo nghĩa rộng là một phần quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của QE.[35]

Nhiều nghiên cứu kinh trắc đã chỉ ra rằng những thay đổi trong lượng tiền theo nghĩa rộng cũng có thể cung cấp thông tin bổ sung có giá trị về mức chi tiêu trong nền kinh tế.[36] Ví dụ, tiền gửi của các doanh nghiệp phi tài chính dường như là một chỉ báo hàng đầu về đầu tư của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Người ta cũng có thể kiểm tra và cân đối các loại tiền hẹp và rộng với nhau bằng cách sử dụng một vài tham số về lượng tiền mà mỗi loại tiền được sử dụng trong các giao dịch – được gọi là chỉ số Divisia.[37] Trong thực tế, lãi suất trả cho một loại tiền nào đó thường được sử dụng như một thước đo gia quyền (weight metric). Đó là bởi vì các cá nhân và doanh nghiệp chỉ có khuynh hướng nắm giữ tiền, loại tài sản có lãi suất thấp so với các công cụ tài chính khác, nếu nó bù đắp cho họ bằng cách cung cấp các dịch vụ giao dịch ấn tượng hơn.

Việc xác định thước đo phù hợp của tiền đã trở nên phức tạp do sự phát triển không ngừng của ngành tài chính. Nó đã mở rộng hàng loạt công cụ có thể đối xử như tiền và hàng loạt định chế tài chính có thể vay và gởi tiền từ hệ thống ngân hàng truyền thống. Ví dụ, các hợp đồng bán và mua lại (được biết như repos) – ở đó một công ty đồng ý mua một khoản bảo đảm từ một ngân hàng với cam kết sẽ bán lại nó sau đó – hiện đang được xếp vào M4 bởi khoản bồi thường được nắm bởi ngân hàng có thể được coi là tiền bảo chứng.

Bên cạnh đó, một số nhà kinh tế học đã lập luận rằng, một loạt các công cụ cung cấp tài sản thế chấp cho các hình thức vay và cho vay khác nhau cũng có thể được đưa vào một thước đo rộng hơn về tiền tệ.[38] Hơn nữa, nhiều định chế phi ngân hàng chủ yếu nắm tiền gửi trung gian giữa các ngân hàng. Các khoản tiền gửi của các định chế này, được biết như “các tổ chức tài chính trung gian khác” (IOFCs), có khuynh hướng phản ánh các hoạt động trong hệ thống ngân hàng, chứ không liên quan trực tiếp đến chi tiêu trong nền kinh tế.[39] Vì lý do này, thước đo tổng quát của Ngân hàng về tiền theo nghĩa rộng là M4 mở rộng (M4ex), không bao gồm tiền gửi IOFC.

Bảng 1. Các đại lượng tổng gộp về tiền phổ biến có thể được tính toán từ các số liệu hiện có của Anh(a)

Tên Định nghĩa Mô tả(b) Hiệu lực
Tiền giấy và tiền kim loại Tiền giấy và tiền kim loại lưu thông bên ngoài Ngân hàng Anh. Thước đo hẹp nhất của tiền và được sử dụng như một chỉ báo của các giao dịch dựa trên tiền mặt. 1980- hiện tại(c)
M0 Tiền giấy và tiền kim loại cộng với dự trữ tại ngân hàng trung ương. Thước đo cơ bản mang tính lịch sử của tiền được sử dụng trong tính toán số nhân của tiền. Thường được sử dụng như một thước đo gần đúng về quy mô của bảng cân đối kế toán của Ngân hàng Anh.

Không còn được xuất bản bởi Ngân hàng Anh nhưng có thể được khôi phục.(d)

1870- hiện tại(c)
M1 không được hưởng lãi suất Tiền giấy và tiền kim loại cộng với tiền gửi không kì hạn không được hưởng lãi suất mà khu vực tư nhân phi ngân hàng nắm giữ. Một chỉ báo về các giao dịch hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế, ngày nay nó ít hữu dụng bởi hầu hết tiền gửi không kì hạn đều được hưởng lãi.

Không được công bố bởi Ngân hàng Anh nhưng có thể được tính toán từ các thành phần đã công bố.

1921- hiện tại(c)
MZM Tiền giấy và tiền kim loại cộng với tất cả tiền gửi không kì hạn được nắm giữ bởi khu vực tư nhân phi ngân hàng. Một chỉ báo về giao dịch hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế.

Không được công bố bởi Ngân hàng Anh nhưng có thể được tính toán từ các thành phần đã công bố. Ngân hàng Anh cũng đưa ra một thước đo dựa trên một định nghĩa của ECB về M1.

1977- hiện tại
M2 hay retailM4 Tiền giấy và tiền kim loại cộng với tất cả tiền gởi cá nhân (bao gồm cả tiền gửi cá nhân có kì hạn) được nắm giữ bởi khu vực tư nhân phi ngân hàng. Một thước đo của tiền rộng hơn MZM bao gồm tất cả các khoản tiền gửi cá nhân. Các khoản bổ sung chính là tiền gửi có kì hạn của hộ gia đình và một số loại tiền gửi cá nhân có kì hạn của doanh nghiệp.

Được công bố bởi Ngân hàng Anh. Ngân hàng cũng đưa ra một thước đo dựa trên một định nghĩa của ECB về M2.

1982–hiện tại
M3 Tiền giấy và tiền kim loại cộng với tất cả tiền gửi có kì hạn và không kì hạn tại các ngân hàng (không bao gồm tại các định chế tài chính dưới tên gọi building societies) được nắm giữ bởi khu vực tư nhân. Cho đến năm 1987 khối lượng tiền tổng quát được xây dựng bởi Ngân hàng Anh.

Ngân hàng cũng đưa ra một thước đo dựa trên một định nghĩa của ECB về M3.

1870–1990(c)
M4 Tiền giấy và tiền kim loại, tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi, repos và chứng khoán với thời gian đáo hạn ít hơn 5 năm được nắm giữ bởi khu vực tư nhân phi ngân hàng. Cho đến năm 2007 khối lượng tiền tổng quát được xây dựng bởi Ngân hàng Anh. 1963– hiện tại
M4 mở rộng M4 không tính đến tiền gửi của IOFCs. Kể từ năm 2007 đại lượng tổng gộp hàng đầu về tiền được xây dựng bởi Ngân hàng Anh.

 

1997–hiện tại
Divisia Tổng theo trọng số của các loại tiền khác nhau. Nhằm mục đích quyền số hóa các tài sản thành phần của tiền rộng theo các dịch vụ giao dịch mà chúng cung cấp.(e) 1977–hiện tại
(a)  Tất cả các định nghĩa chỉ đề cập đến thước đo đồng bảng. Một vài định nghĩa trong bảng này được thay đổi tại các thời điểm khác nhau. Ví dụ, đại lượng tổng gộp M3 nguyên thủy bao gồm tiền gửi của khu vực công và tiền gửi bằng ngoại tệ của khu vực tư nhân phi ngân hàng. Một lịch sử toàn diện hơn về sự phát triển của các đại lượng tổng gộp về tiền ở Anh có thể được tìm thấy tạiwww.bankofengland.co.uk/statistics/Documents/ms/articles/art2jul03.pdf.

(b)  Được xuất bản bởi Ngân hàng Trung ương trừ khi có quy định khác.

(c)  Chuỗi này sử dụng dữ liệu được xây dựng bởi Capie và Webber (1985).

(d)  Dữ liệu về M0 không còn được công bố sau những cải cách hoạt động của Ngân hàng Anh vào năm 2006. Xemhttp://www.bankofengland.co.uk/statistics/Documents/ms/articles/artjun06.pdf  để biết thêm chi tiết

(e)  Chỉ số Divisia cho các tập đoàn tài chính khác và cho khu vực tư nhân phi ngân hàng không còn được công bố vào năm 2013. Xemhttp://www.bankofengland.co.uk/statistics/Documents/ms/articles/art1aug13.pdf  để biết thêm chi tiết.

QE kéo theo một sự thay đổi trong trọng tâm của chính sách tiền tệ đối với lượng tiền: ngân hàng trung ương mua một lượng tài sản, được tài trợ bởi việc tạo tiền theo nghĩa rộng và sự gia tăng lượng dự trữ tại ngân hàng trung ương tương ứng. Người bán tài sản sẽ nắm giữ các khoản tiền gửi mới được tạo ra thay cho trái phiếu chính phủ. Họ có thể sẽ nắm nhiều tiền hơn họ muốn, so với các tài sản khác mà họ muốn giữ. Bởi vậy, họ sẽ muốn tái cấu trúc danh mục của họ, ví dụ bằng cách sử dụng tiền gửi mới để mua các tài sản có có khả năng sinh lời cao hơn như trái phiếu và cổ phiếu được phát hành bởi các doanh nghiệp, dẫn đến hiệu ứng “khoai tây nóng” như đã thảo luận ở trên. Điều này sẽ làm tăng giá trị của những tài sản đó và làm giảm chi phí cho các doanh nghiệp trong việc huy động vốn ở các thị trường này. Kết quả là, thúc đẩy chi tiêu trong nền kinh tế.[40] Bởi vậy, cách vận hành của QE khác với hai quan niệm sai lầm phổ biến về việc mua sắm tài sản của ngân hàng trung ương rằng: QE bao gồm việc trao cho các ngân hàng “tiền tự do- free money”; Và mục đích chính của QE là tăng cường cho vay ngân hàng bằng cách cung cấp thêm dự trữ cho hệ thống ngân hàng, như có thể được mô tả bởi lý thuyết số nhân của tiền. Phần này giải thích mối quan hệ giữa tiền và QE, đồng thời xua tan những quan niệm sai lầm này.

(còn tiếp)

Nguyễn Minh Cao Hoàng dịch

Nguồn: “Money creation in the modern economy“, Bank of England, Quarterly Bulletin, 2014 Q1

——-

Chú thích

[32] Những chuỗi này liên quan đến việc kết hợp dữ liệu Ngân hàng Anh hiện tại với dữ liệu lịch sử về các đại lượng tổng gộp về tiền.

[33] Một thước đo hẹp hơn được gọi là M1 không được hưởng lãi suất cũng có thể được xây dựng. Thước đo này đã trở thành đại lượng tổng gộp về tiền ít hữu dụng hơn vì hầu hết các khoản tiền gửi không kì hạn hiện nay đều được hưởng lãi. Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng tài chính khi lãi suất giảm xuống gần mức 0, sự tăng trưởng của M1 không được hưởng lãi suất đã tăng lên rõ rệt vì chi phí liên quan đến việc nắm giữ tiền gửi không được hưởng lãi suất đã giảm mạnh so với giữ tiền gửi được hưởng lãi suất. Tập trung vào M1 sẽ đưa ra tín hiệu sai lạc về sự tăng trưởng trong chi tiêu danh nghĩa trong nền kinh tế.

[34] M2 bao gồm tiền giấy và tiền kim loại, cộng với tiền gởi “cá nhân” (“retail deposits”)- loại tiền gởi được nhận một lãi suất quảng cáo. Phần lớn các khoản dự trữ này được nắm giữ bởi hộ gia đình, nhưng cũng sẽ áp dụng cho một vài khoản tiền gửi của doanh nghiệp.

[35] Xem trong Bridges, Rossiter and Thomas (2011) và Butt cùng cộng sự (2012).

[36] Ví dụ, xem trong Astley và Haldane (1995), Thomas (1997a, b), Brigden và Mizen (2004).

[37] Ví dụ, xem trong Hancock (2005).

[38] Ví dụ, xem trong Singh (2013).

[39] Xem chi tiết hơn trong Burgess and Janssen (2007) và tại www.bankofengland.co.uk/statistics/Pages/iadb/notesiadb/m4adjusted.aspx.

[40] Những cách thức mà QE tác động đến nền kinh tế được đề cập chi tiết hơn trong Benford và cộng sự (2009), Joyce, Tong và Woods (2011), Bowdler và Radia (2012). Vai trò của tiền tệ được mô tả cụ thể hơn trong Bridges, Rossiter và Thomas (2011), Bridges và Thomas (2012), và Butt cùng cộng sự (2012).

Sự tạo tiền trong nền kinh tế hiện đại – Phần V


(iii)         Chính sách tiền tệ- ràng buộc cuối cùng đối với việc tạo tiền

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Ngân hàng Trung ương Anh là đảm bảo ổn định tiền tệ bằng cách giữ cho mức lạm phát giá tiêu dùng theo đúng lộ trình nhằm đạt mục tiêu 2% mà Chính phủ đề ra. Và, như đã thảo luận trong hộp ở các trang 16-21 (của nguyên tác – ND), qua từng thời kỳ, các thước đo khác nhau của tiền đã tăng trưởng với tốc độ tương đương với chi tiêu danh nghĩa – chỉ tiêu quyết định áp lực lạm phát của nền kinh tế trong trung hạn. Bởi vậy, thiết lập chính sách tiền tệ thích hợp để đạt được mục tiêu lạm phát cần phải đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng và sự tạo tiền ổn định, phù hợp với mục tiêu đó. Phần này giải thích mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và các loại tiền khác nhau.

Trong những giai đoạn bình thường, Ủy ban Chính sách Tiền tệ (MPC), giống như hầu hết các cơ quan tương đương với nó ở các nước khác, thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách thiết lập các mức lãi suất ngắn hạn, cụ thể thiết lập mức lãi suất mà ngân hàng trung ương phải trả cho các ngân hàng thương mại khi nắm giữ các khoản dự trữ của ngân hàng thương mại.Có thể làm được điều này là vì vị thế của Ngân hàng như là nhà cung cấp độc quyền về tiền ngân hàng trung ương ở Vương quốc Anh. Và bởi vì tồn tại nhu cầu về tiền ngân hàng trung ương – phương tiện thanh toán cuối cùng của các ngân hàng, những chủ thể tạo tiền theo nghĩa rộng – điều này khiến cho giá của các khoản dự trữ có tác động có ý nghĩa đối với các mức lãi suất khác trong nền kinh tế.

Lãi suất mà các ngân hàng thương mại có thể kiếm được từ việc kí gởi tiền tại ngân hàng trung ương tác động đến lãi suất mà họ sẵn sàng cho vay với các điều khoản tương tự trong các thị trường đồng bảng Anh – thị trường mà ở đó Ngân hàng và các ngân hàng thương mại cho nhau vay và cho các định chế tài chính khác vay. Chi tiết chính xác về cách thức Ngân hàng sử dụng hoạt động thị trường tiền tệ để thực hiện chính sách tiền tệ đã thay đổi theo thời gian, và các quy trình hoạt động của ngân hàng trung ương ngày nay khác nhau ở các nước khác nhau, như đã thảo luận trong Clews, Salmon và Weeken (2010).[23] Sự thay đổi trong lãi suất liên ngân hàng sau đó làm thay đổi hàng loạt lãi suất ở các thị trường khác nhau và ở các kì hạn khác nhau, bao gồm cả lãi suất cho vay và lãi suất huy động của các ngân hàng.[24] Bằng cách ảnh hưởng đến giá tín dụng theo cách này, Chính sách tiền tệ tác động đến việc tạo tiền theo nghĩa rộng.

Sự mô tả mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và tiền này khác với sự mô tả được đề cập trong nhiều giáo trình, mà ở đó các ngân hàng trung ương quyết định lượng tiền theo nghĩa rộng qua một “số nhân của tiền” bằng cách chủ động thay đổi lượng dự trữ.[25] Theo quan điểm đó, các ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách chọn lượng dự trữ. Và với giả định tỷ số giữa tiền theo nghĩa rộng và tiền cơ sở là không đổi, những khoản dự trữ này sẽ được “nhân lên” dẫn đến sự thay đổi lớn hơn trong tiền gửi ngân hàng do các ngân hàng tăng cho vay và tiền gửi.

Không phải bước nào trong câu chuyện đó cũng mô tả chính xác mối liên hệ giữa tiền và chính sách tiền tệ trong nền kinh tế hiện đại. Các ngân hàng trung ương thường không chọn một lượng dự trữ để đạt được mức lãi suất ngắn hạn mong muốn.[26] Thay vào đó, họ tập trung vào giá – thiết lập các mức lãi suất.[27] Ngân hàng Anh kiểm soát các mức lãi suất bằng cách cung ứng và trả lãi cho những khoản dự trữ ở mức lãi suất chính sách đã chọn. Cung về cả dự trữ và tiền (chúng cùng tạo nên tiền cơ sở) được quyết định thông qua cầu về dự trữ của các ngân hàng nhằm thanh toán các khoản trả và đáp ứng cầu tiền của khách hàng- cầu mà ngân hàng trung ương thường phải thích ứng.

Bởi vậy, cầu về tiền cơ sở này có xu hướng là hệ quả chứ không phải là nguyên nhân của việc các ngân hàng cho vay và tạo tiền theo nghĩa rộng. Điều này là do các quyết định mở rộng tín dụng của các ngân hàng được dựa trên các cơ hội cho vay sinh lời hiện có ở bất kỳ thời điểm nào. Khả năng sinh lời của việc cho vay sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như đã thảo luận ở trên. Một trong số đó là chi phí của các nguồn vốn mà các ngân hàng phải gánh chịu, chi phí này liên quan mật thiết đến lãi suất trả cho các khoản dự trữ, lãi suất chính sách.

Ngược lại, lượng dự trữ hiện có trong hệ thống không ràng buộc việc tạo tiền theo nghĩa rộng thông qua hoạt động cho vay.[28] Trụ đỡ này của số nhân của tiền đôi khi được thúc đẩy bằng cách thu hút các yêu cầu dự trữ của ngân hàng trung ương, theo đó các ngân hàng có nghĩa vụ nắm giữ một lượng tiền dự trữ tối thiểu theo một tỷ lệ cố định với lượng tiền gửi mà họ nắm giữ. Tuy nhiên, các yêu cầu dự trữ không phải là một khía cạnh quan trọng của khung chính sách tiền tệ ở hầu hết các nền kinh tế tiên tiến hiện nay.[29]

Một quan điểm mơ hồ hơn của chính sách tiền tệ là có thể làm tăng lượng tiền theo nghĩa rộng bằng cách giảm lãi suất vay và tăng dư nợ cho vay. Và một lượng tiền theo nghĩa rộng lớn hơn, đi cùng với mức chi tiêu tăng lên trong nền kinh tế, có thể khiến các ngân hàng và khách hàng có nhu cầu về dự trữ và tiền nhiều hơn.[30] Bởi vậy, trên thực tế, lý thuyết về số nhân của tiền hoạt động ngược với cách thức mà thường được mô tả.

QE – Sự tạo tiền theo nghĩa rộng trực tiếp với chính sách tiền tệ

Phần trước đã thảo luận chính sách tiền tệ có thể được xem như ràng buộc cuối cùng đối với việc tạo tiền của các ngân hàng thương mại như thế nào. Nhưng các ngân hàng thương mại vẫn còn có thể tạo một khoản tiền quá nhỏ để phù hợp với việc đáp ứng mục tiêu lạm phát của nền kinh tế. Trong những thời kỳ bình thường, MPC có thể phản ứng bằng cách hạ lãi suất chính sách để khuyến khích cho vay nhiều hơn và do đó tạo ra nhiều tiền hơn. Nhưng, để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính, MPC đã giảm lãi suất Ngân hàng xuống còn 0.5%- thường được gọi là giới hạn thấp hơn hiệu quả (the so-called effective lower bound).

Một khi các lãi suất ngắn hạn đạt đến mức giới hạn thấp hơn hiệu quả, ngân hàng trung ương không thể cung cấp thêm kích thích cho nền kinh tế bằng cách giảm lãi suất đối với các khoản dự trữ được hưởng lãi.[31] Một cách có thể cung cấp thêm kích thích tiền tệ cho nền kinh tế là thông qua một chương trình mua tài sản (QE). Giống như việc giảm lãi suất Ngân hàng, việc mua tài sản là cách mà MPC có thể nới lỏng quan điểm chính sách tiền tệ nhằm kích thích hoạt động kinh tế và đạt được mục tiêu lạm phát. Nhưng vai trò của tiền trong hai chính sách là không giống nhau.

(còn tiếp)

Nguyễn Minh Cao Hoàng dịch

Nguồn: “Money creation in the modern economy“, Bank of England, Quarterly Bulletin, 2014 Q1

———

[23] Khung hoạt động của Ngân hàng trên thị trường đồng bảng Anh được trình bày trong “Sách Đỏ” của Ngân hàng, có thể xem tại www.bankofengland.co.uk/markets/Documents/money/publications/redbook.pdf. Sự phát triển gần đây của các thị trường đồng bảng Anh được thảo luận trong Jackson và Sim (2013).

[24] Ngân hàng Anh (1999) thảo luận cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ chi tiết hơn.

[25] Benes và Kumhof (2012) thảo luận về chuyện hoang đường của số nhân của tiền chi tiết hơn.

[26] Như đã thảo luận trong Disyatat (2008).

[27] Bindseil (2004) cung cấp một bản miêu tả chi tiết về cách thực hiện chính sách tiền tệ thông qua lãi suất ngắn hạn.

[28] Carpenter và Demiralp (2012) cho thấy rằng sự thay đổi trong lượng dự trữ không liên quan đến sự thay đổi về số lượng cho vay ở Hoa Kỳ.

[29] Ví dụ, Ngân hàng Anh hiện không có các yêu cầu dự trữ chính thức. (Nó yêu cầu các ngân hàng phải nắm giữ một tỷ lệ “tiền mặt/tiền gởi” tại Ngân hàng cho một phần nợ của mình mà không được hưởng lãi. Nhưng chức năng của tỷ lệ tiền mặt/tiền gởi này không có hiệu lực. Mục đích duy nhất của chúng là để cung cấp thu nhập cho Ngân hàng.) Bernanke (2007) thảo luận tại sao các yêu cầu dự trữ hiện nay ở Hoa Kỳ ít có sự ép buộc hơn so với trước.

[30] Kydland và Prescott (1990) nhận thấy rằng các đại lượng tổng gộp về tiền theo nghĩa rộng đi trước chu kỳ, trong khi các đại lượng tổng gộp về tiền cơ sở có khuynh hướng trễ hơn chu kì một chút.

[31] Nếu ngân hàng trung ương hạ các lãi suất xuống thấp hơn 0% đáng kể, các ngân hàng có thể chuyển đổi dự trữ ngân hàng của họ thành tiền, sẽ phải trả lãi suất cao hơn (0 hoặc ít hơn một chút sau khi tính đến chi phí lưu trữ tiền tệ). Hay dẫn đến vấn đề khác, nhu cầu về dự trữ ngân hàng trung ương sẽ biến mất, do đó, ngân hàng trung ương không còn khả năng ảnh hưởng đến nền kinh tế bằng cách thay đổi giá các khoản dự trữ đó.

Sự tạo tiền trong nền kinh tế hiện đại – Phần IV


Quản lý rủi ro liên quan đến việc cho vay

Các ngân hàng cũng cần phải quản lý các rủi ro liên quan đến việc cho vay mới. Một cách để thực hiện điều này là đảm bảo rằng họ thu hút các khoản tiền gửi tương đối ổn định để phù hợp với các khoản cho vay mới của họ, đó là các khoản tiền gửi không có xu hướng hoặc không thể được rút ra với một lượng lớn. Điều này có thể đóng vai trò như một ràng buộc bổ sung đối với số tiền mà các ngân hàng có thể cho vay. Ví dụ, nếu tất cả các khoản tiền gửi mà ngân hàng nắm giữ đều ở dạng tài khoản rút tiền nhanh (tức rút tiền mà không cần báo trước – instant access accounts), chẳng hạn như tài khoản vãng lai, thì ngân hàng có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro đối với nhiều khoản tiền gửi này trong trường hợp chúng được rút ra trong một khoảng thời gian ngắn. Bởi vì các ngân hàng có xu hướng cho vay với kì hạn nhiều tháng hoặc nhiều năm, nên ngân hàng có khả năng không thể hoàn trả tất cả các khoản tiền gửi đó – nó sẽ phải đối mặt với rất nhiều rủi ro thanh khoản. Để giảm rủi ro thanh khoản, các ngân hàng cố gắng đảm bảo rằng một số khoản tiền gửi của họ ổn định trong một khoảng thời gian nhất định hoặc kỳ hạn.[16] Người tiêu dùng có khuynh hướng yêu cầu sự bù đắp cho sự bất tiện khi nắm giữ các khoản tiền gửi dài hạn. Tuy nhiên, những điều này có khuynh hướng làm tăng chi phí cho các ngân hàng, hạn chế số lượng các ngân hàng cho vay muốn thực hiện. Và như đã thảo luận ở trên, nếu các ngân hàng phòng ngừa rủi ro thanh khoản bằng cách phát hành nợ dài hạn, điều này có thể phá hủy tiền trực tiếp khi các doanh nghiệp thanh toán chúng bằng cách sử dụng tiền gửi.

Việc cho vay của mỗi ngân hàng cũng bị giới hạn bởi sự cân nhắc đến rủi ro tín dụng. Đây là rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt khi những người đi vay không có khả năng trả nợ. Phần nào, các ngân hàng có thể phòng ngừa rủi ro tín dụng bằng cách có đủ vốn để hấp thụ bất kỳ tổn thất không mong đợi nào đối với các khoản cho vay của họ. Nhưng vì các khoản cho vay sẽ luôn tồn tại một vài rủi ro khiến các ngân hàng chịu tổn thất, chi phí của những tổn thất này sẽ được tính đến khi định giá các khoản cho vay. Khi một ngân hàng cho vay, lãi suất mà nó tính sẽ thường bao gồm khoản bù đắp cho tổn thất tín dụng trung bình mà ngân hàng dự kiến sẽ gánh chịu. Tỷ trọng của thành phần này trong lãi suất sẽ lớn hơn khi các ngân hàng ước tính họ sẽ phải gánh chịu tổn thất cao hơn, ví dụ như khi cho người vay thế chấp vay với tỷ lệ cho vay/giá trị tài sản thế chấp cao. Khi các ngân hàng mở rộng cho vay, tổn thất dự kiến trung bình trên mỗi đơn vị tín dụng có khuynh hướng tăng lên, khiến cho các khoản cho vay này giảm khả năng sinh lời. Điều này càng hạn chế số lượng các ngân hàng cho vay có thể kiếm được lợi nhuận, và lượng tiền nó có thể tạo ra.

Các tác lực thị trường không phải lúc nào cũng khiến cho mỗi ngân hàng phòng ngừa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng một cách thích đáng. Do đó, quy định thận trọng nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng không chấp nhận rủi ro quá mức khi cho vay mới, bao gồm thông qua các yêu cầu về vốn của ngân hàng và các trạng thái thanh khoản (liquidity positions). Bởi vậy, các yêu cầu này có thể đóng vai trò như một sự kiềm hãm bổ sung đối với số tiền mà các ngân hàng thương mại tạo ra bằng cách cho vay. Khung pháp lý thận trọng, cùng với chi tiết về vốn và tính thanh khoản, được mô tả trong Farag, Harland và Nixon (2013).

Cho đến phần này, chúng ta đã được xem xét trường hợp của một ngân hàng riêng lẻ thực hiện các khoản cho vay thêm bằng cách đưa ra mức lãi suất cạnh tranh – cả lãi suất vay lẫn lãi suất tiền gửi. Nhưng nếu tất cả các ngân hàng đồng loạt quyết định nỗ lực để cho vay nhiều hơn, sự tăng trưởng tiền có thể không bị giới hạn theo cách tương tự. Mặc dù mỗi ngân hàng có thể mất các khoản tiền gửi “về tay” các ngân hàng khác, nhưng chính nó cũng có thể nhận được một số khoản tiền gửi khi các ngân hàng khác cho vay.

Có nhiều lý do khiến nhiều ngân hàng có thể lựa chọn tăng cho vay một cách đáng kể cùng một lúc. Ví dụ, khả năng sinh lời của việc cho vay ở một mức lãi suất nào đó có thể tăng do sự cải thiện chung về các điều kiện kinh tế. Hoặc các ngân hàng có thể quyết định cho vay nhiều hơn nếu họ nhận thấy những rủi ro liên quan đến việc cho hộ gia đình và doanh nghiệp vay đã giảm. Kiểu tiến triển này đôi khi được cho là một trong những lý do khiến ngân hàng mở rộng cho vay nhiều đến mức dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính.[17] Nhưng nếu nhận thức về một môi trường ít rủi ro hơn là thiếu cơ sở,  thì có thể khiến cho hệ thống tài chính trở nên mong manh hơn.[18] Một trong những phản ứng đối với cuộc khủng hoảng ở Vương quốc Anh là sự thành lập một cơ quan chuyên trách sự thận trọng vĩ mô (macroprudential authority), Ủy ban Chính sách Tài chính, để xác định, giám sát và hành động nhằm giảm hoặc loại bỏ các rủi ro đe dọa khả năng phục hồi của toàn hệ thống tài chính.[19]

(ii) Những ràng buộc phát sinh từ phản ứng của hộ gia đình và doanh nghiệp

Ngoài nhóm ràng buộc từ phía các ngân hàng trong việc hạn chế sự tạo tiền, hành vi của hộ gia đình và doanh nghiệp đối với việc tạo tiền của ngành ngân hàng cũng có thể rất quan trọng, như lập luận của Tobin. Hành vi của khu vực tư phi ngân hàng ảnh hưởng đến tác động cuối cùng của việc tạo tín dụng của ngành ngân hàng lên cung tiền vì có thể tạo ra nhiều tiền hơn (hoặc ít hơn) lượng họ muốn giữ so với các tài sản khác (như của cải hoặc cổ phần). Bởi hộ gia đình và doanh nghiệp vay nợ vì họ muốn chi tiêu nhiều hơn, họ sẽ nhanh chóng chuyển tiền cho người khác khi họ chi tiêu. Cách thức mà hộ gia đình và doanh nghiệp phản ứng sẽ quyết định lượng cung tiền trong nền kinh tế, và có khả năng tác động đến chi tiêu cũng như lạm phát.

Có hai khả năng chính cho những gì có thể xảy ra đối với các khoản tiền gửi mới được tạo ra. Thứ nhất, theo ý kiến của Tobin, tiền có thể nhanh chóng bị phá hủy nếu hộ gia đình hay doanh nghiệp nhận tiền sau khi khoản vay được phê duyệt và sử dụng nó để trả nợ ngân hàng. Điều này đôi khi được gọi là “lý thuyết hồi lưu” (“reflux theory”).[20] Ví dụ, người mua nhà lần đầu có thể thực hiện một khoản vay thế chấp để mua một ngôi nhà từ một người cao tuổi, người mà sau đó hoàn trả khoản vay thế chấp hiện tại của mình và cùng gia đình dọn đến nơi ở mới. Như đã thảo luận ở trên, việc hoàn trả khoản vay ngân hàng sẽ phá huỷ tiền giống y như việc cho vay tạo ra nó. Vì vậy, trong trường hợp này, bảng cân đối kế toán của người tiêu dùng trong nền kinh tế sẽ trở lại trạng thái giống như trước khi khoản vay được thực hiện.

Khả năng thứ hai có thể xảy ra là việc tạo thêm tiền của các ngân hàng có thể thúc đẩy chi tiêu trong nền kinh tế. Để khoản tiền mới tạo ra bị phá hủy, nó cần phải chuyển đến hộ gia đình và doanh nghiệp mà muốn hoàn trả những khoản vay hiện tại. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng đúng, bởi vì tài sản và nợ mà các chủ thể trong nền kinh tế nắm giữ có xu hướng khác nhau đáng kể.[21] Thay vào đó, ban đầu tiền có thể chuyển đến tay những hộ gia đình hay những doanh nghiệp có tài sản tài chính lạc quan: người cao tuổi có thể đã trả hết khoản vay thế chấp của họ, hay một công ty nhận được tiền thanh toán và có đủ tài sản thanh khoản để trang trải những chi phí hợp lý. Khi đó, họ có thể nắm giữ nhiều tiền hơn họ muốn, và cố gắng giảm số tiền “dư thừa- excess” bằng cách tăng chi tiêu cho hàng hoá và dịch vụ. (Trong trường hợp đối với một doanh nghiệp, nó có thể mua các tài sản khác mà có khả năng sinh lời cao hơn).

Hai kịch bản cho những gì có thể xảy ra với tiền mới được tạo ra này – bị phá hủy nhanh chóng hoặc được luân chuyển qua con đường chi tiêu – có những hệ quả rất khác nhau đối với hoạt động kinh tế. Trong trường hợp thứ hai, tiền có thể tiếp tục được luân chuyển giữa các hộ gia đình và các doanh nghiệp khác nhau, kết quả là mỗi chủ thể có thể tăng cường chi tiêu. Quá trình này – đôi khi được gọi là hiệu ứng “khoai tây nóng – hot potato” – có thể dẫn đến, sự gia tăng áp lực lạm phát của nền kinh tế.[22] Ngược lại, nếu tiền bị phá hủy nhanh như trong kịch bản thứ nhất thì sẽ không có tác động gì thêm đối với nền kinh tế.

Cho đến phần này chúng ta đã thảo luận hành động của các ngân hàng, hộ gia đình và doanh nghiệp có thể tác động đến lượng tiền trong nền kinh tế, và do đó ảnh hưởng đến áp lực lạm phát như thế nào. Nhưng yếu tố quyết định cuối cùng của những trạng thái tiền tệ trong nền kinh tế chính là chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương.

(còn tiếp) 

Nguyễn Minh Cao Hoàng dịch

Nguồn: “Money creation in the modern economy“, Bank of England, Quarterly Bulletin, 2014 Q1

—-

Chú thích

[16] Các ngân hàng cũng phòng ngừa rủi ro thanh khoản bằng cách nắm giữ các tài sản thanh khoản (bao gồm dự trữ và tiền), thứ mà hoặc có thể được sử dụng trực tiếp để bù đắp cho các dòng tiền, hoặc nếu không thể chuyển thành các tài sản có thể một cách nhanh chóng và ít tốn kèm. Mặc dù nếu các ngân hàng mua tài sản thanh khoản như trái phiếu chính phủ từ các chủ thể phi ngân hàng, nhưng điều này có thể tạo thêm tiền gửi.

[17] Ví dụ, xem Haldane (2009).

[18] Tucker (2009) thảo luận về khả năng “ảo giác rủi ro” như vậy trong hệ thống tài chính.

[19] Tucker, Hall và Pattani (năm 2013) mô tả các quyền hạn mới đối với việc hoạch định chính sách vĩ mô thận trọng ở Vương quốc Anh sau cuộc khủng hoảng tài chính gần đây.

[20] Xem Kaldor and Trevithick (1981).

[21] Xem Kamath và cộng sự (2011).

[22] Cơ chế này được giải thích chi tiết hơn trong các bài báo như: Laidler (1984), Congdon (1992, 2005), Howells (1995), Laidler và Robson (1995), Bridges, Rossiter và Thomas (2011), Bridges và Thomas (2012).