Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần cuối


Chính quyền các bang và địa phương của Mỹ bày tỏ quan ngại và tăng cường trao đổi với Trung Quốc

Gần đây, cựu Giám đốc truyền thông Nhà Trắng Anthony Scaramucci đăng bài trên tờ Financial Times, cho rằng cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ đã tác động đến nền chính trị Mỹ. Ví dụ như doanh nghiệp Trung Quốc ngừng hoàn toàn việc mua đậu tương của Mỹ, các bang có ngành nông nghiệp phát triển đã mất đi đơn đặt hàng trị giá 1,2 tỷ USD. Anthony Scaramucci – từng là bạn của Donald Trump – kêu gọi tổng thống phải ngay lập tức thay đổi sách lược, nếu không sẽ gây bất lợi cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Phần lớn các chính trị gia bỏ phiếu tán thành nghị quyết để Thượng viện hạn chế quyền áp thuế của Donald Trump vào ngày 11/7/2018 đều xuất phát từ xem xét ảnh hưởng của việc áp thuế đối với địa phương đang không ngừng tăng lên. Ví dụ như thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Tom Udall lo ngại việc áp thuế này sẽ làm cho các doanh nghiệp của bang New Mexico gặp nhiều khó khăn. Trong buổi điều trần tại Thượng viện gần đây, Bộ trưởng thương mại Wilbur Ross đã vấp phải công kích của Thượng nghị sĩ Chuck Grassley đến từ bang Iowa chuyên trồng đậu tương, Chuck Grassley chỉ trích Donald Trump theo đuổi kinh tế theo chủ nghĩa trọng thương, chứ không phải kinh tế thị trường tự do. Lãnh tụ phe đa số tại thượng viện Mitch McConnell đến từ tiểu bang Kentucky cho rằng Trung Quốc là thị trường lớn nhất của các loại hàng hóa xuất khẩu chủ yếu của bang này – rượu Wihsky. Trong thời gian Donald Trump đến thăm Trung Quốc năm 2017, Tập đoàn năng lượng quốc gia Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ hợp tác với tiểu bang Tây Virginia, cam kết sẽ đầu tư 83,7 tỷ USD để tham gia dự án kiểu mẫu khai thác trong toàn bộ chuỗi ngành nghề khí đá phiến. Do kinh tế của tiểu bang Tây Virginia phụ thuộc nghiêm trọng vào khai thác than đá gặp nhiều khó khăn, nên khi Donald Trump rút khỏi Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, tỷ lệ ủng hộ của ông ở bang này đạt 70%. Khoản đầu tư này sẽ thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế và việc làm của bang này, còn có lợi cho việc bảo vệ môi trường, hiện nay lại bị quan hệ kinh tế thương mại ngày càng căng thẳng gác lại.

Ngày 11/7, cùng ngày Mỹ công bố danh sách áp thuế 200 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc, đoàn đại biểu của thành phố Chicago đến thăm Trung Quốc, không những đã ký Kế hoạch hợp tác 5 năm để bảo đảm các hạng mục đầu tư liên quan sẽ không bị gián đoạn, mà thị trưởng thành phố Chicago còn công khai bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác kinh tế thương mại với Trung Quốc. Tiểu bang Illinois với thành phố Chicago điển hình không những có các công ty đa quốc gia như Boeing, Caterpillar, McDonald’s, Abbott…, mà còn có hơn 50 doanh nghiệp Trung Quốc như tập đoàn lương thực quốc doanh lớn nhất Trung Quốc COFCO, ngân hàng Trung Quốc, hãng hàng không Hải Nam, tập đoàn sản xuất kính Fuyao, tập đoàn Wanxiang… Không ít trong số các bang này bày tỏ sự bất mãn đối với cuộc chiến thương mại mà Donald Trump thực hiện với Trung Quốc. Tiểu bang Michigan là nơi đặt trụ sở chính cảu General Motors, Ford, Daimler AG và Chrysler; tiểu bang Ohio có Procter & Gamble (P&G), Chrysler, American Electric Power; tiểu bang California có Apple, Walt Disney, những bang này đều phê phán chính sách thương mại cấp tiến của Donald Trump. Ngày 19/7/2018, thống đốc của 22 bang tham dự Hội nghị hàng năm Hiệp hội thống đốc các bang Mỹ, căn cứ theo cuộc điều tra của Tổng hội thương mại chung Trung Quốc tại Mỹ (CGCC), doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Mỹ đã tạo ra 200.000 việc làm ở các bang như Ohio, Indiana, Pennsylvania, Michigan, California, các thống đốc bang đã thảo luận tích cực về việc làm thế nào để đối phó với cuộc chiến thương mại, tăng cường quan hệ kinh tế thương mại với Trung Quốc. Theo cơ chế thu nhập từ thuế hiện nay của Mỹ, so với chính quyền liên bang, chính quyền bang thực chất tương đối độc lập, không cần phải chịu trách nhiệm với tổng thống và có quyền quản lý tự chủ rất lớn, cũng như có trách nhiệm thúc đẩy việc làm của người dân trong bang của mình. Chính quyền bang có ảnh hưởng tương đối lớn đối với quyết sách của Thượng viện và Hạ viện. Điều này cũng có nghĩa là nếu chinh phục được chính quyền các bang này, thì sẽ nắm được quyền bỏ phiếu của lưỡng viện ở mức độ rất lớn, và sẽ có cơ hội kiềm chế Donald Trump.

Các công ty đa quốc gia của Mỹ là nạn nhân của cuộc chiến thương mại

Các hội đoàn kinh tế thương mại phê phán biện pháp của cuộc chiến thương mại

Hội đoàn kinh tế thương mại lớn nhất của Mỹ là Phòng thương mại Mỹ (USCC) gần đây công khai phê phán cách làm của Donald Trump gây ra cuộc chiến thương mại, chỉ trích biện pháp đe dọa áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc của Nhà Trắng sẽ làm tổn hại lợi ích của người tiêu dùng Mỹ, làm suy yếu lợi ích đầu tư của Mỹ ở nước ngoài, đồng thời có thể bóp méo thực sự mối liên hệ kinh tế thương mại giữa Mỹ và các nền kinh tế quan trọng khác trên thế giới. Chủ tịch Phòng thương mại Mỹ Thomas J. Donohue liệt kê những tổn thất do cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ gây ra cho kinh tế các bang của Mỹ. Chủ tịch Hội đồng kinh doanh Mỹ – Trung John Frisbie công khai công rằng “Đã đủ rồi. Chúng ta cần phải ngừng cuộc chiến áp thuế leo thang không cần thiết và bắt đầu tìm phương án giải quyết vấn đề mà doanh nghiệp Mỹ quan tâm thực sự, áp thuế không giải quyết vấn đề”. Tổ chức này đã đưa ra các kiến nghị như kháng án lên WTO, đàm phán hiệp định đầu tư song phương… Năm 2016, Trung Quốc đã khẩu các bộ phim của Mỹ với tổng giá trị là 16 tỷ USD. Năm 2018, Bản ghi nhớ Trung – Mỹ về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến phim trong WTO với thời hạn 5 năm được ký vào năm 2012 sẽ được tái đàm phán, số lượng các bộ phim của Mỹ mà ngành sản xuất phim Mỹ vốn dự tính được phê chuẩn sẽ tăng lên. Tuy nhiên, từ tình hình hiện nay cho thấy Hollywood có thể trở thành vật hy sinh của cuộc chiến thương mại, thậm chí có thể trở thành mục tiêu của áp thuế trả đũa. Các nhà sản xuất phim của Mỹ cũng đang nỗ lực và tích cực thuyết phục Chính quyền Washington.

Lợi ích của các công ty đầu tư vào Trung Quốc bị tổn hại nghiêm trọng

Cựu Thứ trưởng thương mại Trung Quốc Ngụy Kiến Quốc viết bài cho rằng vài giờ sau khi Chính phủ Mỹ công bố áp thêm thuế đối với hàng hóa của Trung Quốc trị giá 34 tỷ USD vào ngày 6/7, không chờ đợi thông báo của Văn phòng đại diện thương mại, các bên liên quan có thể làm đơn xin miễn thuế theo điều khoản 301 cho một sản phẩm nào đó cho Mỹ trước ngày 9/10, với thời hạn miễn 1 năm. Trong danh sách áp thuế đợt đầu tiên, 59% sản phẩm do các công ty đa quốc gia sản xuất tại Trung Quốc, trong đó trên 70% sản phẩm do doanh nghiệp Mỹ gia công thương mại ở Trung Quốc, không thể thiếu trong dây chuyền ngành nghề toàn cầu. Để tránh làm tổn thương các doanh nghiệp trong nước, Chính phủ Mỹ đã nhanh chóng ném “vòng cứu sinh” miễn thuế. Theo thống kê, trong danh sách áp thuế của Mỹ, có một phần là các sản phẩm du lịch như xe đẩy, ví, ba lô và giày du lịch. Đây là một thị trường của Mỹ trị giá 31 tỷ USD, trong đó 87% sản phẩm đến từ Trung Quốc. Vì vậy, Phó chủ tịch liên đoàn bán lẻ Mỹ đã đứng lên phản đối cuộc chiến thương mại, lý do đơn giản rằng ông không thể tìm được nhiều lựa chọn thay thế cho các sản phẩm này ở các nước khác. Phòng Thương mại Mỹ ở Thượng Hải khẩn cấp công bố một khảo sát cho thấy 69% doanh nghiệp Mỹ ở Trung Quốc phản đối việc chính phủ coi việc áp thêm thuế như con bài thương lượng, càng không muốn các công ty trở thành mục tiêu nhắm tới được chính phủ miễn giảm thuế hàng năm.

Làm suy yếu nghiêm trọng khả năng cạnh tranh của công ty Mỹ tại các thị trường mới nổi

Năm 2016, người tiêu dùng Trung Quốc mua 44,9 triệu chiếc điện thoại di động của Apple, 5,1 triệu xe của 3 thương hiệu lớn là GM, Ford, Chrysler, lần lượt chiếm 21% và 33% doanh thu toàn cầu của Apple và 3 thương hiệu xe ô tô nói trên. Doanh thu của GM Buick ở Trung Quốc là 42 tỷ USD, vượt qua 39 tỷ USD ở Mỹ và doanh thu của Apple là 46 tỷ USD, chỉ đứng sau ở Mỹ. Boeing có 41.000 máy bay mới, hơn 7000 chiếc được bán cho Trung Quốc. Từ năm 2017 Tập đoàn viễn thông ZTE đã mua linh kiện trị giá khoảng 2,3 tỷ USD từ 211 công ty của Mỹ, Chính phủ Mỹ đã xử phạt ZTE nặng nề, tuy nhiên, Trung Quốc cũng phụ thuộc vào con chip của Mỹ. Năm 2017, tổng giá trị sản lượng chip của thế giới là 440 tỷ USD, Trung Quốc chiếm 260 tỷ USD, trong đó 70% chip cao cấp của Mỹ đã được bán cho Trung Quốc. Trung Quốc chiếm hơn 65% doanh thu cảu Qualcom, 50% doanh thu của Micron, 50% của Broadcom và 23% của Intel (chỉ riêng kim ngạch tiêu thụ của 4 công ty trên sang Trung Quốc đã lên đến 50 tỷ USD). Mạch tích hợp và chất bán dẫn là các ngành đòi hỏi nhiều nghiên cứu và vốn, nếu bị mất thị trường Trung Quốc, khả năng cạnh tranh ngành nghề của Mỹ cũng sẽ chịu tác động nặng nề. Việc phong tỏa công nghệ của Mỹ có thể khiến các công ty công nghệ có động lực tới thành lập các nhà máy ở Trung Quốc để thúc đẩy doanh số bán hàng tại thị trường Trung Quốc.

Một trong những hãng sản xuất ô tô lớn nhất của Mỹ là GM đã công khai bày tỏ sự không hài lòng trước việc Trump phát động cuộc chiến thương mại, lo ngại điều này sẽ làm suy yếu khả năng cạnh tranh kinh tế của Mỹ và không có lợi cho triển vọng của nền kinh tế Mỹ. Theo Financial Times, giám đốc điều hành của công ty Boeing thường xuyên gặp các quan chức cấp cao của Chính quyền Trump, chủ tịch kiêm CEO của Boeing nói: “Tiếng nói của chúng tôi đang được lắng nghe. Chúng tôi được tiếp xúc với chính phủ Mỹ và Trung Quốc, tôi hy vọng chúng ta có thể đạt được một giải pháp tốt”. Thị trường Trung Quốc là thị trường có tốc độ tiêu thụ nhanh nhất của Telsa Motor, nhưng trong danh sách trả đũa thuế ngày 6/7 có cả xe ô tô nhập khẩu của Trung Quốc, Telsa Motor nâng giá tại Trung Quốc, phiên bản cấu hình tối thiểu tăng giá 140.000 NDT, cấu hình cao nhất 250.000 NDT. Ngày 11/7, Telsa Motor tuyên bố thành lập công ty ở Trung Quốc và thành lập một siêu nhà máy ở Thượng Hải. Lợi ích của các công ty đa quốc gia cũng có thể gây áp lực đối với Trump theo hình thức Chỉ số trurng bình công nghiệp Dow Jones, tạp chí “Foreign policy” có bài bình rằng Trump coi Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones là mũi tên chỉ hướng gió của chính cá nhân mình, đặc biệt Boeing nằm trong số khách hàng lớn nhất đặc biệt của Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones, vì vậy khi chỉ số chứng khoán Dow Jones giảm, Chính quyền Trump cảm thấy cần phải đàm phán để giải quyết tranh chấp thương mại nhằm xoa dịu thị trường.

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Advertisements

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần III


Quan hệ cạnh tranh – hợp tác trong thời kỳ mới dẫn đến sự chuyển hướng trọng tâm được chú ý

Những năm 1990, đóng góp của MỸ đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu là 29,1%, tổng lượng của các nền kinh tế phát triển phương Tây với G7 làm đại diện là 76%, khi so sánh, đóng góp cảu Trung Quốc là 9% và của những nền kinh tế mới nổi và phát triển là 36,3%. Từ năm 2008 đến 2016, đóng góp của Mỹ và các nước phát triển đối với kinh tế thế giới giảm xuống mức 7,4% và 23,9%, còn đóng góp của Trung Quốc là 35,6% và các nền kinh tế mới nổi, đang phát triển là 77,7%, thể hiện rõ xu thế phương Đông tiến lên, phương Tây thụt lùi. Năm 2005, tổng lượng GDP của Trung Quốc đã vượt qua Anh, năm 2007 vượt qua Đức, năm 2010 đã thay thế Nhạt Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Năm 2012, tổng lượng kinh tế Trung Quốc đạt đến một nửa của Mỹ, năm 2017 đã lên tới mức 2/3 tổng lượng kinh tế của Mỹ. Ngay từ năm 2011, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã công bố một dự báo tính toán GDP trên cơ sở thuyết sức mua tương đương (PPP) cho rằng GDP của Trung Quốc có thể ngang bằng, thậm chí vượt qua Mỹ sau năm 2020. Báo cáo mới nhất của Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc và thế giới thuộc Đại học Thanh Hoa dự báo Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới sau năm 2025.

Tuy xem xét về mặt mức thu nhập bình quân đầu người của một nước, giữa Trung Quốc và Mỹ còn có khoảng cách khá lớn, tổng lượng kinh tế giữa hai nước xích lại gần nhau, sự phát triển công nghệ của Trung Quốc đang trong quá trình rượt đuổi Mỹ và ảnh hưởng của Trung Quốc không ngừng gia tăng trên vũ đài quốc tế đều có dấu ấn cạnh tranh quyết liệt về tâm lý của giới tinh hoa, dân chúng Mỹ và quan hệ Trung – Mỹ. Chắc chắn, Trung Quốc đã bị Mỹ coi là đối thủ cạnh tranh chủ yếu, từ “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia” công bố vào ngày 18/12/2017, “Báo cáo chiến lược quốc phòng” được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố vào ngày 19/1/2018 đến “Chương trình chính sách thương mại năm 2918 và Báo cáo hàng năm năm 2017” do Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ công bố tháng 2/2018 đều nâng vấn đề thương mại với Trung Quốc lên tầm cao của an ninh quốc gia Mỹ. Trong báo cáo điều tra liên quan đến Mục 301 của Đạo luật thương mại Mỹ năm 1974 dài 184 trang, từ “nhập siêu” chỉ xuất hiện một lần, mục tiêu liên quan đến Mục 301 mà Đại diện thương mại Mỹ công khai tuyên bố chính là chĩa mũi nhọn vào chiến lược “Made in China 2025”. Ngày 8/11/2017, Thượng viện và Hạ viện Mỹ đã lần lượt đề xuất một dự thảo “Luật hiện đại hóa đánh giá rủi ro từ đầu tư của nước ngoài”, một trong những người khởi xướng đạo luật này là hạ nghị sĩ đảng Cộng hòa Robert Pittenger cho biết bộ luật sẽ đảm bảo khoa học công nghệ Mỹ duy trì vị trí đứng đầu.

Thái độ của Chính phủ Mỹ đối với chiến tranh thương mại thể hiện rất đa dạng

Nghị sỹ hai đảng của Mỹ đưa ra tiếng nói phản đối tại Quốc hội

Ngày 11/7/2018, với 88 phiếu thuận/11 phiếu chống, Thượng viện Mỹ đã thông qua nghị quyết hạn chế quyền áp thuế của Tổng thống Donald Trump. Đây là lần hiếm hoi hai đảng thể hiện lập trường đồng nhất. Tuy là nghị quyết không mang tính ràng buộc, nhưng việc hai đảng có tư tưởng thống nhất và cùng hành động trong cơ chế lập pháp chung lần này, đã truyền đi tín hiệu rằng thể chế chính trị của Mỹ bắt đầu quan ngại đối với chính sách thương mại cấp tiến của Chính quyền Donald Trump. Ngày 18/7/2018, tiếp tục có 140 nghị sĩ cùng lên tiếng phản đối việc chính phủ áp thuế ô tô, cho rằng việc áp thuế đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, thực hiện hạn ngạch thương mại hoặc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại khác sẽ làm tổn hại sự phát triển của ngành ô tô Mỹ. Việc Donald Trump gây sức ép với Trung Quốc là có cơ sở quần chúng, ví dụ như cuộc thăm dò dư luận do Trung tâm nghiên cứu Pew công bố ngày 19/7 cho thấy 49% người Mỹ được hỏi cho rằng việc áp thuế đối với các đối tác thương mại không có lợi cho Mỹ, trái lại 40% số người được hỏi cho rằng hành động này có lợi cho Mỹ, chỉ có 11% số người được hỏi không biết Mỹ sẽ phải chịu những ảnh hưởng nào. Nếu sự ủng hộ đối với chính sách thương mại của Donald Trump được duy trì ổn định, thì vì sao người của đảng Cộng hòa lại không đoàn kết xung quanh Donald Trump, trái lại còn gây khó khăn cho tổng thống?

Nội bộ đội ngũ của Donald Trump cũng có bất đồng

Đầu tháng 5/2018, Nhà Trắng cử phái đoàn thương mại Mỹ gồm 7 người đến Bắc Kinh đàm phán. Học giả của Đại học Phúc Đán Trung Quốc phân tích, từ góc độ thực dụng cho thấy đội ngũ đàm phán là “tổ hợp của phe diều hâu và phe bồ câu”. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross được xem là người của phe bồ câu, vì ông – một người am hiểu tình hình Trung Quốc – từng đầu tư xưởng lắp ráp linh kiện ô tô ở Quảng Đông vào những năm 1990, năm 2005 tập đoàn may mặc quốc tế của ông đầu tư 100 triệu USD vào thành phố Gia Hưng thuộc tỉnh Chiết Giang. Ông cũng là nạn nhân trong cuộc chiến thương mại gang thép của Mỹ, nhưng vì những kinh nghiệm nàyên ông từng bị Donald Trump công khai phê phán là mềm yếu trong chính sách đối với Trung Quốc, sau này thái độ của ông đối với Trung Quốc cũng dần trở nên cứng rắn. Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Terry Branstad được coi là người thuộc phe bồ câu thân Trung Quốc chủ yếu là vì ông đến từ bang xuất khẩu nông nghiệp sang Trung Quốc luôn có quan hệ hữu nghị với giới kinh doanh và giới chính trị Trung Quốc. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin từng làm việc cho ngân hàng Goldman Sachs là người ủng hộ dự luật cải cách thuế và kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng, từng phản đối việc đưa Trung Quốc vào danh sách các nước thao túng tỷ giá hối đoái, đượ ccho là người thuộc phe trung gian. Điều thú vị là trong tuyên bố được đưa ra sau đàm phán, Nhà Trắng đã nhấn mạnh chủ trương của Mỹ là nhận thức chung của đội ngũ đàm phán, điều này đã làm cho bên ngoài suy đoán về những bất đồng trong đàm phán. Theo quan sát của học giả Derek Scissors thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), sở dĩ hiện nay Donald Trump chưa có chiến lược trong chính sách thương mại đối với Trung Quốc là vì nội bộ chính phủ có những ý kiến khác nhau.

Các giới kinh tế, ngành nghề của Mỹ đưa ra lời cảnh báo

Trước khi cuộc chiến thương mại diễn ra, có phương tiện truyền thông đưa tin 1140 nhà kinh tế học của Mỹ, trong đó có 14 người từng đoạt giải Nobel, cùng gửi thư cho Donald Trump, khẩn cầu tổng thống không nên phạm sai lầm dẫn tới cuộc đại suy thoái của Mỹ. Không lâu trước đó, 25 nhà bán lẻ nổi tiếng của Mỹ gồm Walmart, Macy’s, Best Buy… cùng gửi thư cho Donald Trump, kêu gọi Chính phủ Mỹ không nên áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc để tránh làm tổn hại người tiêu dùng, đặc biệt là lợi ích của người làm công ăn lương, gia tăng khoảng cách giàu nghèo. 45 hiệp hội ngành nghề đại diện cho lợi ích của ngành bán lẻ, khoa học kỹ thuật, nông nghiệp và hàng tiêu dùng khác cũng bày tỏ áp thuế sẽ làm cho chi phí của ngành sản xuất Mỹ tăng lên, làm rối loạn chuỗi cung ứng hiện có, và làm giảm năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành sản xuất, từ đó ảnh hưởng đến việc làm của Mỹ. Tháng 5/2018, khi Bộ Thương mại Mỹ khởi động cuộc điều tra theo điều 232 của Luật Thương mại Mỹ đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, có phương tiện truyền thông cho rằng “những người chỉ trích đang xếp hàng” để kêu gọi chính phủ từ bỏ áp thuế tại phiên điều trần. Hàng nghìn công nhân Mỹ được các nhà sản xuất ô tô nước ngoài thuê cũng biểu tình ở Capitol Hill, khoảng 150 nghị sĩ của hai đảng cũng lên tiếng phản đối việc áp thuế ô tô, phiên điều trần đã trở thành “cuộc bao vây tấn công” để các bên cùng lên tiếng phê phán. Hội đồng kinh doanh Mỹ – Trung Quốc (USCBC) đưa ra công văn cho rằng USCBC đồng ý với Chính quyền Donald Trump – hiện trạng chuyển giao công nghệ của Trung Quốc và sự bảo vệ đối với quyền sở hữu trí tuệ quả thực cần được chú trọng, nhưng doanh nghiệp Mỹ vẫn hy vọng nhìn thấy phương án giải quyết những vấn đề này, chứ không chỉ là đơn phương áp thuế trừng phạt cuối cùng có thể gây ra tổn thất lớn hơn. Chủ tịch Hiệp hội thương mại Mỹ tại Trung Quốc William Zarit cho biết các đoàn thể thương mại tỏ ra rất quan ngại trước sự đáp trả do các biện pháp áp thuế của Chính quyền Donald Trump và hạn chế Trung Quốc đầu tư ở Mỹ có thể gây ra cũng như những tổn thương có thể gây ra đối với kinh tế Mỹ và thế giới.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần II


Doanh nghiệp Mỹ đã giành được phần lớn lợi nhuận trong thương mại Trung – Mỹ

Báo cáo của Bộ Thương mại Trung Quốc nêu rõ 59% xuất siêu của Trung Quốc năm 2017 đến từ thương mại gia công, 57% đến từ doanh nghiệp nước ngoài. Doanh nghiệp ở Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ có thể nói chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài. Kết quả nghiên cứu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) năm 2010 cho biết trong số các hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc như dệt may, da giày…, lợi nhuận mà thương nhân nhập khẩu và thương nhân bán lẻ ở Mỹ được hưởng chiếm tới 90% tổng lợi nhuận. Doanh nghiệp xuất khẩu nhiều nhất của Trung Quốc năm 2017 là Công ty Foxconn Trịnh Châu đã sản xuất điện thoại cho Công ty Apple của Mỹ với số tiền là 104 triệu USD [số liệu không kiểm tra bản gốc được nên không chính xác – NTH], dường như đã chiếm một nửa lượng tiêu thụ điện thoại của Apple trên toàn thế giới, kim ngạch lên tới 28,1 triệu USD [số liệu không kiểm tra bản gốc được nên không chính xác – NTH]. Điện thoại iPhone được thiết kế, nghiên cứu và phát triển ở Mỹ, nhưng trên 80% linh kiện lắp ráp được sản xuất tại Trung Quốc. Một bài viết trên tờ Foreign Affairs ước tính khi bán một chiếc điện thoại iPhoneX với giá 999 USD, chi phí chế tạo ở Trung Quốc chỉ từ 3 đến 6% tổng chi phí 370 USD, công ty Apple đã giành được phần lớn lợi nhuận. Công ty Apple có tài sản bao gồm tiền mặt và cổ phiếu lên tới 250 tỷ USD ở nước ngoài, sau khi quốc hội Mỹ thông qua dự thảo luật cải cách thuế, công ty này tuyên bố sẽ thanh toán một lần khoản thuế đánh vào lợi nhuận ở nước ngoài với số tiền là 38 tỷ USD, rút số tiền 245,1 tỷ USD ở nước ngoài về Mỹ, đồng thời có kế hoạch đầu tư hơn 350 tỷ USD tại Mỹ trong 5 năm tới, tăng thêm 20.000 việc làm, điều này tương đương với việc đem số tiền kiếm được ở Trung Quốc trở về Mỹ. Tập đoàn Foxconn sản xuất điện thoại iPhone cho Apple đã quyết định xây dựng nhà máy ở Mỹ, tổng đầu tư lên tới 10 tỷ USD, sẽ cung cấp 13000 việc làm tại bang Wisconsin. Có thể nói, trong chuỗi giá trị toàn cầu, xuất siêu phản ánh ở Trung Quốc, nhưng xuất siêu lợi ích lại phản ánh ở Mỹ.

Tốc độ tăng trưởng xuất siêu thương mại dịch vụ nhanh chóng với kim ngạch rất to lớn

Cách tính toán của Mỹ lấy kim ngạch nhập khẩu trừ đi kim ngạch xuất khẩu thấy tình trạng nhập siêu đã không xem xét đến tăng trưởng thương mại dịch Mỹ – Trung. Trong 10 năm qua, tăng trưởng xuất khẩu của ngành dịch vụ Mỹ sang Trung Quốc đã tăng gấp 5 lần. Năm 2017, kim ngạch thương mại dịch vụ giữa Trung Quốc và Mỹ là 118,2 tỷ USD, trong đó giá trị dịch vụ của Mỹ được Trung Quốc mua lên tới 90 tỷ USD, mà kim ngạch 90 tỷ USD đó không được thể hiện trong tính toán thương mại Trung – Mỹ. Hội đồng thương mại Mỹ – Trung nêu rõ Trung Quốc là điểm lớn thứ hai của ngành xuất khẩu dịch vụ của Mỹ, tổng số tiền xuất siêu dịch vụ của Mỹ sang Trung Quốc là 53 tỷ USD (Trung Quốc thống kê là 54,7 tỷ USD). Phần xuất sei6u dịch vụ sang Trung Quốc của Mỹ đã bị bỏ qua mà không tính đến.

Thay đổi môi trường kinh tế chính trị trong nước và quốc tế là nhân tố quan trọng gây ra va chạm thương mại

Sự thay đổi môi trường chính trị bên trong nước Mỹ là động lực quan trọng

Va chạm thương mại có liên quan đến nền tảng chính trị của quan hệ thương mại Trung – Mỹ có sự thay đổi. Chuyên gia nổi tiếng về kinh tế chính trị học của Đại học Harvard (Mỹ) Dani Rodrik cho rằng chính sách thương mại có ảnh hưởng sâu rộng đến việc tái phân phối trong chính sách đối nội của một quốc gia. Toàn cầu hóa kinh tế đã tạo ra kẻ thắng và người thua ở Mỹ, sự chia rẽ giữa giới tinh hoa của Mỹ và giới bảo thủ truyền thống ở Mỹ do tích tụ vấn đề trong nhiều năm đã giúp Trump đắc cử tổng thống, do đó hiện tượng Trump là sự phản ánh ở mức độ nhất định nguyện vọng của nhân dân.

Có học giả Mỹ cho rằng: “Trump thiếu kiên nhẫn hơn các tổng thống tiền nhiệm, nguyên nhân là sự mỏng yếu của ông về chính trị, 2018 cũng là năm diễn ra cuộc bầu cử quốc hội giữa nhiệm kỳ ở Mỹ, Trump phải giành được thắng lợi to lớn về ngoại giao để sánh ngang với những việc làm vĩ đại của Nixon năm 1972”. Để làm hài lòng cư tri thuộc tầng lớp hạ lưu bị tác động ở những bang có nền công nghiệp “sắt gỉ” (ngành công nghiệp cũ bị suy thoái) trong tiến trình xóa bỏ công nghiệp hóa ở Mỹ, Trump mong muốn thông qua phương thức chiến tranh thương mại quyết liệt để thể hiện mình là người thực hiện cam kết khi tranh cử, là người anh hùng giúp người Mỹ nguôi giận, gia tăng khả năng chiến thắng của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử quốc hội lần này, động cơ rõ ràng đó đã được sự đồng thuận của đông đảo mọi người. Ngoài ra, nội bộ Nhà Trắng từ hơn một năm rưỡi cầm quyền của Trump có sự biến động liên tục về nhân sự, sau hàng loạt hành động “tẩy rửa biển hiệu”, bao gồm hàng loạt người thuộc phái ôn hoa như Gary Cohn đến từ Wall Street bị sa thải, hạt nhân của nhóm giúp việc cho Trump về kinh tế hiện nay thể hiện sự cứng rắn rõ ràng đối với Trung Quốc, những người đại diện tiêu biểu nhất là Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer và Cố vấn thương mại Nhà Trắng Peter Navarro (Cuốn sách “Chết bởi Trung Quốc” của Navarro trở thành cương lĩnh để Mỹ tấn công thương mại đối với Trung Quốc). Tháng 3/2018, Trump cũng đã bổ nhiệm John Bolton làm Cố vấn an ninh quốc gia, Mike Pompeo làm ngoại trưởng, tạo thành một nội cách mà phe diều hâu mạnh nhất trong lịch sử Mỹ.

Sự thúc đẩy trực tiếp từ chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế Trung Quốc và Mỹ

Cải cách mở cửa được 40 năm, thành công trong phát triển kinh tế Trung Quốc đã thể hiện sự chuyển biến từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường. Mô hình phát triển tăng trưởng cao dựa vào lực lượng lao động đông đảo và định hướng xuất khẩu được các chuyên gia kinh tế gọi là mô hình phát triển công xưởng của thế giới, làm cho kinh tế Trung Quốc nhanh chóng vươn lên, nhảy vọt trở thành quốc gia có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, mô hình phát triển công xưởng của thế giới dựa vào tiêu hao tài nguyên nhiều, lợi thế dân số, trả giá về môi trường và bán nhiều lãi ít đã đi đến hồi kết. Xem xét từ cấp độ vĩ mô, có thể xuất siêu lớn mà xuất khẩu giành được có nhân tố nhất định từ tình trạng quá dư thừa tính lưu động, xem xét về vi mô, có thể thấy sự thay đổi cơ cấu lao động làm cho ưu thế về giá thành trong ngành chế tạo tập trung nhiều lao động không còn nữa, ngành chế tạo với công nghệ lạc hậu đã mất khả năng cạnh tranh trên thế giới. Trung Quốc cũng như cộng đồng quốc tế không thể tiếp tục thực hiện mô hình tăng trưởng theo chiều rộng như tiêu hao nhiều tài nguyên, lượng khí thải cao, môi trường ô nhiễm nặng… Kinh tế Trung Quốc đang trải qua sự chuyển đổi mô hình sâu sắc, mô hình tăng trưởng lấy đầu tư làm động lực chuyển sang lấy tiêu dùng làm động lực cần thông qua không ngừng ưu việt hóa cơ cấu sản xuất, thông qua đổi mới công nghệ để thực hiện nâng cấp ngành sản xuất, nâng lên vị trí cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đây chính là nội dung cốt lõi của kinh tế Trung Quốc từ tăng trưởng với tốc độ cao chuyển sang giai đoạn phát triển chất lượng cao trong bối cảnh thời đại mới.

Nước Mỹ ở bên kia Thái Bình Dương, cũng đang gặp rắc rối khi kinh tế suy thoái, từ số liệu thống kê của Cơ quan phân tích kinh tế M4y (BEA), có thể thấy sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tăng trưởng kinh tế của Mỹ đã trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên được gọi là “thời kỳ 4%”, thời kỳ đó là giai đoạn tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân từ năm 1950 đến 1960 là 4,2%; giai đoạn từ năm 1970 đến 1990 tăng trưởng chậm lại xuống còn 3,3%, giai đoạn hai gọi là “thời kỳ 3%”; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 10 năm đầu thế kỷ 21 thuộc “thời kỳ 2%”, tốc độ tăng bình quân trong 10 năm đầu thế kỷ 21 là 2,7% từ năm 2007 đến 2017 đã giảm xuống còn 2,3%. Giáo sư Lư Phong ở Đại học Bắc Kinh phân tích rằng xu thế kinh tế tăng trưởng chậm lại đã tạo ra tình trạng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào chính sách kích thích nới lỏng tiền tệ. Với mô hình phân công quốc tế toàn cầu hóa, ngành công nghiệp Mỹ đã xuất hiện xu hướng lưỡng cực hóa – một cực là ngành sản xuất chất lượng cao tập trung nhiều tri thức và công nghệ, một cực khác là nông nghiệp, kết quả là làm suy yếu ngành chế tạo của Mỹ. Cựu chủ tịch Ngân hàng dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Alan Greenspan cho rằng ảnh hưởng dự trữ ngoại tệ của Mỹ đối với đầu tư trước năm 1980 rất rõ ràng, tăng trưởng kinh tế sau năm 1980 đã tìm được một động lực khác là tín dụng, các khoản vay của Mỹ trên toàn thế giới đã nhanh chóng tăng lên 8000 tỷ USD, nhanh chóng chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội tiêu dùng. Do đó, theo quan điểm của nhiều người, vấn đề mà Trump khởi xướng không phù hợp với “chấn hưng ngành chế tạo”  theo đặc trưng kinh tế Mỹ, là một điều chỉnh mà ông cho rằng do toàn cầu hóa trước đây đã đưa lộ trình phát triển kinh tế Mỹ vào con đường sai lầm. Đối với việc tấn công về thuế nhằm vào Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Canada, Mexico…, kết hợp với nhóm biện pháp kinh tế giảm thuế với quy mô lớn và hạn chế tăng lãi suất, theo quan điểm của nhóm giúp việc cho Trump, sẽ đẩy nhanh sự lưu động của đầu tư toàn cầu về Mỹ, thúc đẩy ngành chế tạo “trở về” Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần I


Căn cứ vào số liệu thống kê thương mại mới nhất do Bộ Thương mại Mỹ công bố, nhập siêu của Mỹ năm 2017 cao kỷ lục trong 9 năm gần đây, lên tới 566 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu trong năm 2017 giữa Mỹ và Trung Quốc là 635,9 tỷ USD, trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc của Mỹ chỉ là 130,3 tỷ USD. Mỹ đã nhập khẩu 505,6 tỷ USD từ Trung Quốc, nhập siêu là 375,2 tỷ USD. Nhập siêu lớn mà Mỹ tính toán có phải do thương mại bất bình đẳng với Trung Quốc hay không? Xem xét từ nguyên lý thương mại và thực tế của quan hệ thương mại Trung – Mỹ, sự mất cân bằng thương mại song phương được hình thành từ những phương diện sau:

Vấn đề mang tính cơ cấu do sự phát triển kinh tế thế giới nhanh chóng

Nhập siêu là kết quả tất yếu từ vị thế vượt trội của đồng USD trong hệ thống tiền tệ quốc tế

Về nguyên lý kinh tế, mất cân bằng thương mại của Mỹ trước hết là do dự trữ tiền tiết kiệm quốc dân của nước này. Nghiên cứu của chuyên gia kinh tế nổi tiếng Martin Feldstein cho thấy: Xuất khẩu ròng = (dự trữ cá nhân – đầu tư) + (thuế thu được – chi ngân sách chính phủ). Quan điểm chung là sự mất cân bằng thương mại của một quốc gia về căn bản không phải chứng tỏ quốc gia đó căn cứ vào số liệu về nguồn thu để xác định nguyên tắc chi ngân sách, mà là trạng thái thu không bù được chi. Nếu kim ngạch đầu tư của Mỹ vượt trên số lương dự trữ của cả đất nước thì phải thu hút nguồn tiền từ các khu vực khác trên thế giới để bù đắp vào sự thiếu hụt giữa hai bên, cũng đã tạo ra nhập siêu hiện nay. Ngoài ra, sử dụng hệ thống dự trữ tiền tệ quốc tế với trụ cột là nguồn vay cảu chính phủ Mỹ, một mặt in nhiều đồng USD mà Mỹ không sợ lạm phát để duy trì mức độ tiêu dùng vượt quá năng lực sản xuất của họ, mặt khác sự lưu động của đồng USD trở thành sản phẩm công cộng của hệ thống thương mại quốc tế. Chuyên gia kinh tế nổi tiếng Triffin Dilemma cho rằng một khi đồng tiền của một quốc gia trở thành đồng tiền dự trữ quốc tế có tầm ảnh hưởng thế giới, nhất định sẽ nhập siêu về thương mại, đồng thời nếu Mỹ không duy trì nhập siêu, tính lưu động của đồng USD sẽ giảm đi, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại toàn cầu.

Tiết kiệm của hộ gia đình liên tục giảm đi và trái phiếu của Mỹ tăng vọt làm gia tăng sự chênh lệch về thương mại

Gần 20 năm qua, tỷ lệ tiết kiệm của hộ gia đình tại Mỹ liên tục giảm, tỷ lệ này đã giảm từ 8% vào những năm 1990 xuống còn 1,75% năm 2006, giảm xuống mức âm vào 6 tháng đầu năm 2007. Tỷ lệ nợ của Mỹ giảm từ 49% năm 1994, xuống còn 34% năm 2000, nhưng lại tăng lên 70% vào năm 2006. Tỷ lệ tiết kiệm hộ gia đình năm 2017 giảm xuống mức 3,6% mà tỷ lệ nợ của nhà nước đã lên tới hơn 100%.

Hệ thống phân công quốc tế hiện tại đã quyết định cục diện thương mại Trung – Mỹ

Lợi thế so sánh tương đối của Mỹ là ngành tập trung nhiều vốn, lợi thế so sánh cảu Trung Quốc là ngành sản xuất tập trung nhiều lao động. Tỷ lệ ngành sản xuất sơ cấp chiếm 8% trong GDP của Trung Quốc, tỷ lệ này chỉ chiếm 1% ở Mỹ; tỷ lệ ngành sản xuất công nghiệp (ngành sản xuất thứ hai) chiếm 20% GDP của Trung Quốc, chỉ chiếm 12% GDP của Mỹ; 53% GDP của Trung Quốc đến từ ngành dịch vụ (ngành sản xuất thứ ba) cò tỷ lệ này chiếm 79% ở Mỹ, cơ cấu kinh tế của Trung Quốc có vai trò chủ đạo của nông nghiệp cơ sở và ngành chế tạo, cơ cấu kinh tế của Mỹ là ngành dịch vụ nắm vai trò chủ đạo. Xuất siêu ngành dịch vụ của Mỹ năm 2016 lên tới 249,4 tỷ USD, mà nhập siêu ngành dịch vụ của Trung Quốc cùng giai đoạn đó là 240,9 tỷ USD. Thương mại song phương giữa Trung Quốc và Mỹ có sự hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nước về lợi thế so sánh và cơ cấu kinh tế. Trong thương mại hàng hóa, Mỹ nhập siêu, trong thương mại dịch vụ, Trung Quốc nhập siêu. Từ năm 2006 đến 2014, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dịch vụ của Mỹ đối với Trung Quốc hàng năm là 16,7%, lên tới 33 tỷ USD vào năm 2015, trong đó bao gồm du lịch và giáo dục (57,2%), tiền thuế bản quyền (12,3%), giao thông (10,1%), dịch vụ thương mại (7,7%) và dịch vụ tài chính (6,3%).

Việc quản lý xuất khẩu của Mỹ làm gia tăng chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước

Có thể nói, một nguyên nhân gây mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ hoàn toàn do việc Mỹ hạn chế xuất khẩu công nghệ cao sang Trung Quốc, luôn không thay đổi màu sắc của Chiến tranh Lạnh. Năm 2001, tỷ trọng sản phẩm công nghệ của Mỹ trong tổng lượng hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc là 16,7%, tỷ lệ này gảim xuống còn 8,2% năm 2016. Việc làm này không tương xứng với địa vị cường quốc công nghệ của Mỹ và hiện trạng của đối tác quan trọng thuơng mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Theo báo cáo của Quỹ Hòa bình Quốc tế Carnegie được công bố vào tháng 4/2017, nếu mức độ hạn chế xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc giảm xuống bằng mức mà Mỹ dành cho Brazil, nhập siêu của Mỹ từ Trung Quốc có thể giảm tối đa ở mức 24%; nếu Mỹ giảm bằng mức hạn chế đối với Pháp, nhập siêu có thể giảm tối đa 34%.

Phương pháp thống kê truyền thống có sự đánh giá sai lầm nghiêm trọng về chênh lệch cán cân thương mại Trung – Mỹ

Đã hình thành cục diện đan xen, phụ thuộc lẫn nhau trong hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu

Theo báo cáo nghiên cứu công bố vào tháng 3/2018 của quốc hội Mỹ, trong chuỗi giá trị toàn cầu, sản phẩm giữa Trung Quốc và Mỹ dường như đã đạt đến bước đi “có linh kiện Mỹ trong sản phẩm của Trung Quốc, có linh kiện Trung Quốc trong sản phẩm Mỹ”. Ví dụ như sản phẩm điện tử, cả thế giới có hơn 900 nhà máy nhận thầu chế tạo vỏ ngoài cho các sản phẩm của công ty Apple, trong đó, số nhà máy ở Trung Quốc là 358. Trong số 10 nhà máy sản xuất chip của Intel của Apple, có 3 nhà máy đặt ở Mỹ, 2 nhà máy đặt ở Trung Quốc. Trung Quốc và Mỹ triển khai hợp tác thương mại là kết quả tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, phân công sản xuất quốc tế, sắp đặt ưu hóa nguồn lực. Mỹ đứng ở vị trí cao và trung bình trong chuỗi giá trị toàn cầu, Trung Quốc ở vị trí trung bình thấp. Cùng với sự điều chỉnh trong chuỗi sản xuất và sự phát triển xuyên quốc gia của chuỗi cung ứng, việc thiết kế và hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm giá trị gia tăng cao có quan hệ ngày càng chặt chẽ với sản xuất và khâu lắp ráp chi phí thấp, doanh nghiệp Mỹ đã nắm chắc được các khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế sản phẩm, chế tạo linh kiện cốt lõi, vận chuyển lưu kho và kinh doanh tiêu thụ…, từ đó giành được phần lớn lợi nhuận. Xem xét từ góc độ giá trị gia tăng, căn cứ vào báo cáo “Giá trị thương mại gia tăng” do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) công bố năm 2011, giá trị gia tăng trong nước của hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ chỉ chiếm 46%. Số liệu thống kê năm 2016 cho thấy 77% xuất khẩu giá trị gia tăng cao của Trung Quốc là do doanh nghiệp nước ngoài sản xuất. Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs của Mỹ ước tính chỉ có 30% xuất siêu của Trung Quốc sang Mỹ là hàng hóa xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, còn 46% là do doanh nghiệp nước ngoài sản xuất.

Phương pháp thống kê của Mỹ quá đơn giản và xa rời tình hình thực tế

Chính quyền Trump lâu nay lấy tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc vào Mỹ là 375,2 tỷ USD làm lý do chính đáng để phát động chiến tranh thương mại, thực tế cho thấy đó là điều cần phải xem xét lại. Thứ nhất, cách tính chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước có sự khác biệt, chênh lệch giữa các con số lại khá lớn. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Trung Quốc về thương mại Trung – Mỹ năm 2017, chênh lệch cán cân thương mại là 275,8 tỷ USD, trong đó số liệu vênh nhau là 99,4 tỷ USD. Thứ hai căn cứ theo “nguyên tắc xuất xứ hàng hóa” của Mỹ thì Mỹ xuất siêu vào Hong Kong lên tới 32 tỷ USD và xuất siêu gián tiếp sang Đại lục, Trung Quốc với hình thức tái xuất từ Hong Kong, Ma Cao lên tới 100 tỷ USD, đều không được tính vào kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Theo quan điểm của giáo sư Kim Xán Vinh của Đại học nhân dân Turng Quốc, chênh lệch thực sự về thương mại giữa hai nước chỉ là 220 tỷ USD. Cuối cùng, tính toán theo giá trị gia tăng, xuất siêu của Trung Quốc đã thu hẹp đi nhiều. Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu kinh tế Oxford nêu rõ có 44% sản phẩm của Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ là “sản phẩm trung gian”, nếu cắt giảm phần giá trị này đi, nhập siêu của Mỹ từ Trung Quốc sẽ giảm 50% cũng là mức nhập siêu của Mỹ từ Liên minh châu Âu (EU). Căn cứ vào tính toán của Ngân hàng Deutch, nếu xem xét nhân tố giá trị gia tăng, với giả thiết là cơ cấu xuất khẩu hông có sự thay đổi rõ rệt, nhập siêu từ Trung Quốc vào Mỹ trên thực tế năm 2017 chỉ khoảng 31 tỷ USD.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Bản chất kinh tế thị trường hiện đại – Phần cuối


Trong việc chế tạo ra các tạo phẩm thông minh làm cơ sở thì việc thu hút những khả năng từ bên ngoài vào là cần thiết, nhưng điều đó không dễ dàng, và nhất là việc thu hút các tập đoàn lớn làm các công việc nghiên cứu và phát triển ngay tại Việt Nam.

Trong giai đoạn này chúng ta phải giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ của mình và nhận thức lại rất nhiều điều về sức mạnh xã hội, trong đó có vấn đề ổn định chính trị là một tài sản quý báu của đất nước. Cần phải tìm được các cách thức mà các thị trường và công chúng hỗ trợ cho sự phát triển của những doanh nghiệp có triển vọng. Chúng ta có cái nhìn nhiều chiều hơn về thế giới, và từ đó nhìn về chính bản thân mình về khả năng và tiềm lực của cả một dân tộc, những người Việt Nam sống trong nước và ngoài nước, và thấy rằng đất nước là điểm đến của những nhà đầu tư bên ngoài. Trong giai đoạn này, có rất nhiều sức mạnh được khai phá, có rất nhiều cách phát triển được mở ra và có những cách thức mà chưa từng được biết đến, và kèm theo đó là sự nhận biết những hậu quả tiêu cực lẫn tích cực và có cách thức ứng xử thích đáng, đặc biệt trong việc quyết định khi có những tình huống mâu thuẫn mới.

b/ Giai đoạn tập trung khai phá các nguồn lực tự nhiên và xã hội

Việc khai thác tiềm năng tài nguyên và con người ở nước ta có những bước phát triển nhanh chóng cùng với sự gia tăng tiềm lực vật chất và khoa học công nghệ. Khi chưa phát triển các loại thị trường ở một mức độ nào đó, các nhà đầu tư trong nước không có đủ tự tin và khả năng triển khai một dự án dài hơi. Có thể nói việc phát triển nhanh chóng các thị trường, như thị trường thông tin là một cách thức để nhanh chóng hiểu được sự phức tạp của thế giới, biết được những gì thế giới đang triển khai, và quá trình hội nhập của đất nước vào thế giới đang ở đâu, các luật chơi của thế giới, và người ta có thể tham gia được vào các công việc thị trường là như thế nào, để từ đó có thể biết được chiều hướng phát triển và các công nghệ cần phải có ra sao. Nhưng thông tin tốt thôi cũng chưa đủ, phải có cách làm “bao bì” cho thông tin thế nào thì mới có thể bán được.

Một khi thị trường được hình thành thì người ta mới thấy được những sức mạnh và hạn chế của chúng, thấy được sự nghiệt ngã của chúng, và từ đó mới có khả năng phát hiện ra được cách thức tồn tại và phát triển trong thị trường. Thị trường nội địa là hậu phương để thực hiện được những bước tiến phát triển ra bên ngoài.

Thu hút chất xám của thế giới vào Việt Nam, để làm cho chất xám Việt Nam thăng hoa là điều cần thiết để phát triển bền vững nền kinh tế, trước hết là của kiều bào ta ở nước ngoài. Thu hút chất xám Việt Nam, kết hợp với chất xám từ bên ngoài nhằm giải quyết được các vấn đề thế giới, tìm ra được các phân khúc thị trường. Về mặt công nghệ có thể thâm nhập được, nhưng việc sáng tạo thì đòi hỏi phải có môi trường và môi trường sáng tạo nhất là môi trường ở chính các nước đang phát triển nhất, và hiệu quả nhất là chính các doanh nghiệp Việt Nam, các doanh nhân Việt Nam hoạt động ở đấy.

Trong trường hợp này, việc tìm ra được những cách thức để khai thác sức mạnh của những cách thức kết hợp bí ẩn của những vật phẩm thông minh mà những người sáng tạo ra chúng chưa nhận thấy hết, chưa khai thác hết, còn đem lại hy vọng nào đó về thành công, nhưng như thế đòi hỏi cách suy  nghĩ và tiếp cận hoàn toàn mới về việc tạo ra được một kết hợp mới. Vậy Việt Nam đã có thể tham gia được vào những lĩnh vực nào của quá trình phân công đó. Hoặc là thu hút đầu tư nước ngoài vào và làm cho các nhà đầu tư yên tâm làm ăn lâu dài và phát triển cơ sở của họ ở Việt Nam, chuyển ngày càng nhiều công việc nghiên cứu và phát triển sang Việt Nam, làm cho các công ty nước ngoài gắn bó tương lai lâu dài của họ ở chính Việt Nam, thu hút được sự hỗ trợ của công chúng Việt Nam cho sự phát triển tương lai của chúng.

Việc phát huy nội lực không chỉ là chủ động phát triển trong nước mà phải vươn được ra bên ngoài hoạt động đầu tư ngay ở chính thị trường lớn nhất, ở những nước phát triển nhất. Điều mà chính phủ có thể chủ động được là phát huy nội lực của đất nước, để các doanh nghiệp Việt Nam có tiềm lực kinh tế mạnh lên. Nhà nước lo việc phát triển hạ tầng giao thông vận tải, phát triển các trung tâm đào tạo chất lượng cao, chuẩn bị nguồn nhân lực có trình độ cao và phát triển các thị trường để xã hội thấy được các thị trường vận hành như thế nào, đem lại sức mạnh mới và các cách nhìn mới với thế giới. Không có thị trường vốn, không có một doanh nghiệp Việt Nam nào nhanh chóng có một sức mạnh để hoạt động có hiệu quả trên trường quốc tế, không thể có được việc làm chủ được các lĩnh vực thuộc ngành công nghệ cao, tiên tiến của nhân loại. Như vậy phải thực hiện việc gom góp từ nhiều nguồn để thâm nhập vào nhiều nước tiên tiến nhất, đầu tư vào chính các nước tiên tiến nhất.

Để có thể tạo nên được một ngành công nghiệp tạo ra các tạo phẩm phi vật thể thực sự đứng vững trên đôi chân của mình thì cần phải có thể tạo nên được các kết hợp mới về nguyên tắc thì bước đi thích hợp từng bước với hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam, việc có những đột biến trong ngành công nghiệp phải có những quyết sách để có thể tạo nên được các tiềm lực nội sinh của nền kinh tế để có thể đảm đương được các bước phát triển khác. Trong nền kinh tế thị trường còn sơ khai ở Việt Nam hiện nay, việc thu hút vốn xã hội để tạo nên được cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành công nghiệp tạo ra các tạo phẩm phi vật để tạo nên được các cách kết hợp mới về nguyên tắc là điều hết sức khó khăn. Muốn hay không, nhà nước phải có một vai trò chủ đạo trong việc tạo cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành công nghệ phần mềm bằng nhiều cách thức khác nhau, như chế độ chính sách, cấp tín dụng ưu đãi, hay đóng vai trò phối hợp nhiều tổ chức, doanh nghiệp cùng tham gia vào một dự án đặc biệt.

Mọi nỗ lực, trăn trở bỏ ra đều rất quý nhưng nếu muốn những công sức bỏ ra là có hiệu quả thì chúng phải được đặt đúng chỗ, đúng thời điểm. Quan trọng hơn hết là lối suy nghĩ để sáng tạo ra những nguyên tắc kết hợp mới về những thứ gì đó trong những người hoạt động trong ngành công nghiệp tạo ra các tạo phẩm phi vật thể.

Rõ ràng rằng thị trường ngành công nghiệp tạo ra các tạo phẩm phi vật thể ở Việt Nam hiện nay phản ánh tình trạng của trình độ phát triển nền kinh tế. Trình độ thấp của nền kinh tế khiến cho ngành công nghiệp tạo ra các tạo phẩm phi vật thể trong nước không tiếp cận được rất nhiều nhánh của ngành công nghiệp tạo ra các tạo phẩm phi vật thể hiện nay, không có thực tiễn để nhận định, đánh giá, để có thể hình dung ra được các vấn đề đương đại để tìm ra được các cách giải quyết. Trong khi đó thế giới đã tiến rất nhanh trên việc tạo ra các kết hợp mới chưa từng có, mà làm cho chúng ta có niềm tin rằng chỉ một vài năm sau chúng ta có những vật phẩm, tạo phẩm mới mà hiện nay chưa hình dung được.

Có rất nhiều nhánh của thị trường ngành công nghiệp tạo ra các tạo phẩm phi vật thể mà ngành công nghiệp còn sơ khai ở Việt Nam chưa vươn tới, nên việc nhìn nhận về nó còn hạn hẹp, chẳng hạn trong ngành công nghệ thông tin ở nước ta, mấy năm trước người ta đã đưa ra con số doanh thu xuất khẩu phần mềm sẽ đạt 500 triệu USD vào năm 2005. Cho đến nay, con số này hoàn toàn là ảo tưởng mà việc đạt được một phần mười trong năm 2005 đã là một cố gắng lớn. Ngay cả ở đây cũng có cái gì đó không ổn trong cách nhìn nhận vấn đề. Chắc hẳn các doanh nghiệp trong nước chưa tính tới việc hợp sức lại để đầu tư ra bên ngoài, hoạt động tại các thị trường ở những nước tiên tiến nhất để từ đó qua thực tiễn trưởng thành.

Muốn đuổi kịp thế giới thì cần phải trải qua thực tiễn biết những gì đang diễn ra trên thế giới, biết được những sức mạnh xã hội nào đã, đang và sẽ chi phối thế giới, và các sức mạnh đó có cách thức thu hút những nguồn lực xã hội như thế nào, cách thức chúng biến đổi, tương tác lẫn nhau, các triển vọng trong tương lai là gì. Để đuổi kịp thế giới trong khi thế giới sẽ tiến rất nhanh chóng trong thời gian đó đòi hỏi phải có quan niệm mới về sự phát triển. Chẳng hạn muốn phát triển trong nước thì phải tập trung được tiền bạc mau được cổ phần của các công ty hàng đầu ở nước ngoài, làm giàu bằng công nghệ cao ở chính các nước phát triển nhất. Chỉ khi biết được toàn cảnh những vấn đề lớn đang diễn ra trên con đường phát triển, va vấp với thực tế, và tìm ra được con đường triển vọng, thì người Việt Nam mới có thể tập trung sức mạnh của mình vào các lĩnh vực nào có triển vọng được. Chúng ta đã thấy rằng những gì mà có thể kiếm được tiền thì người Việt Nam tập trung nỗ lực ngay, thậm chí thành phong trào đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Song những lĩnh vực đòi hỏi trình độ cao thì không thể phát triển theo phong trào được mà phải có sự sáng tạo.

c/ Giai đoạn tạo được thế mạnh riêng trong việc tạo ra các tạo phẩm phi vật thể

Sự phồn thịnh bền vững của cả một dân tộc là có những doanh nghiệp đứng hàng đầu thế giới sử dụng con người Việt Nam vào những công việc quan trọng nhất của chúng, đặc biệt là những công việc đòi hỏi những tiềm năng chất xám lớn phục vụ nghiên cứu và phát triển, và các cương vị quản lý cao cấp.

Sự linh hoạt trong suy nghĩ là một điểm quý để dân tộc ta có khả năng biến đổi để thích nghi với những tình hình mới đòi hỏi, thấy được thực chất của mỗi điều kiện và có cách thức tìm kiếm hững gì cần thiết để phát triển. Điều mà làm được là phát triển môi trường, với sự ổn định nhất định, với độ lành mạnh minh bạch để thị trường phát triển bền vững, tỏ ra được điểm mạnh, điểm yếu của chúng, thể hiện được nguồn tạo nên các sức mạnh xã hội và những lộ trình phù hợp với truyền thống, cách suy nghĩ và hành động của người Việt qua cách thức huy động và đưa các nguồn lực vào hoạt động.

Việc lựa chọn được công việc tạo nên các tạo phẩm phi vật thể nào phù hợp với mình là yếu tố quan trọng bậc nhất làm cho nền kinh tế Việt Nam có sự ổn định và phát triển về lâu dài. Chỉ khi nào có thể tạo nên được khả năng nghiên cứu và phát triển trên chính Việt Nam thì các hãng kinh doanh lớn mới tiến hành làm ăn lâu dài ở Việt Nam, không chuyển cơ sở của mình đi sang các nước khác, chỉ khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam mới mạnh bước tiến ra bên ngoài, tổ chức các hoạt động kinh doanh và đầu tư ở chính bên ngoài, thiết đặt cơ sở nghiên cứu và phát triển ở chính bên ngoài, ở chính những nước tiên tiến nhất.

Đạt được giai đoạn này sẽ cho thấy những khả năng nào mà nền kinh tế Việt Nam đuổi kịp được các nước tiên tiến hơn, thậm chí các nớc phát triển nhất về nhiều mặt.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2007.

Bản chất kinh tế thị trường hiện đại – Phần IX


Năng lực lãnh đạo của Đảng thể hiện ở chỗ làm cho xã hội có khả năng dung nạp được những tiến triển nhanh chóng, có những đối sách thích hợp vạch ra con đường mang tính chiến lược và sách lược của các sức mạnh xã hội hiện đại để thu hút nguồn lực từ bên ngoài và tăng cường nội lực bên trong, phát triển sức mạnh kinh tế tổng hợp của đất nước ra bên ngoài. Đó là sự nhạy bén với các sức mạnh xã hội mới, tiến hành những thử nghiệm để tìm ra được sự dung nạp nhất định, trong trường hợp cần thiết tiến hành những thử nghiệm xã hội về sự phát triển và nhan chóng đúc kết, lý giải và đưa vào đại trà những thành quả.

Phong cách của người Việt Nam rất thận trọng trong việc dò tìm đường hướng phát triển của riêng mình, và thông thường phải trải qua thực tiễn mới có thể tìm ra được giải pháp thích hợp, mới có thể hoạch định được tương lai. Việc đào luyện chuyên gia các ngành nghề là phải qua thực tiễn. Thực tiễn đến đâu, phát triển đến đó.

Hiển nhiên rằng một nước nghèo nàn và lạc hậu muốn tiến kịp các nước đã phát triển hơn thì không có cách nào khác là phải tạo nên những tạo phẩm phi vật thể trên mọi lĩnh vực để đáp ứng được các phát triển của thế giới. Một dân tộc phải có các khả năng tạo nên được các dạng phi vật thể nhất định mới có cách tạo nên những nhu cầu tiêu dùng mới cho xã hội. Vấn đề trước mắt là phát triển khả năng tạo nên được các dạng phi vật thể trong xã hội để có thể có khả năng tiếp nhận các dạng phi vật thể khác.

Không phải ngẫu nhiên các vấn đề truyền thống lại được khơi dậy nhiều như hiện nay, bởi vì đó là những thành quả phi vật thể mà các thế hệ đi trước đã tạo nên để gắn kết cộng đồng, gắn kết xã hội phù hợp với người Việt Nam, những thứ có sẵn mà bây giờ con người thấy được một ý nghĩa mới, thấy được tầm vóc lớn lao chúng khi trong những hoàn cảnh phát triển, chúng luôn luôn bộc lộ tác động chỉ đạo các hành động.

Sự phát triển song song của xã hội, xây dựng cơ sở vật chất và phát triển công nghệ cao, quá trình làm quen và đánh thức khả năng của dân tộc, nhận định lại truyền thống dân tộc, cách suy nghĩ và hành động của truyền thống ảnh hưởng đến hiện tại, và tìm ra được cách thức phù hợp về con đường riêng biệt để phát triển các tạo phẩm phi vật thể phục vụ cho chính mình và đem lại một sự độc đáo mới cho thế giới, lựa chọn được các tầng mức mà mình có thể can thiệp vào được, khuyến khích sự kết hợp chặt chẽ giữa người trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài. Truyền thống hướng về cội nguồn của người Việt Nam là điều cần phải khai thác để người trong nước biết được những điều gì đang diễn ra ở nước ngoài mà đáp ứng được các nhu cầu đó.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, năng lực điều hành của nhà nước tập trung các sức mạnh xã hội, khai thông định hướng và tạo được sự đột biến. Phải thấy rằng không người Việt Nam nào ở nước ngoài, dù bằng cấp và trình độ khoa học cao đến đâu, có được kinh nghiệm thực tiễn điều hành kinh tế vĩ mô của cả một quốc gia nên quá trình này là quá trình tự khai phá và hoàn thiện, có tham khảo những thành công và thất bại bên ngoài. Chỉ có tạo ra thực tiễn, kinh qua thực tiễn của mình, đảng cầm quyền có được kinh nghiệm lãnh đạo một tiến trình luôn luôn có sức mạnh kinh tế xã hội mới nảy sinh, mới thấy được các cách thức trực tiếp hay gián tiếp điều hành sự phát triển kinh tế xã hội rút ngắn, tạo nên thế và lực để có thể tạo ra các sức mạnh xã hội mới, tiếp nhận các sức mạnh từ bên ngoài và hình thành nên cách thức xử lý mới đưa đất nước đuổi kịp các nước phát triển hàng đầu trong tương lai.

4a2/ Các giai đoạn trong tiến trình phát triển đuổi kịp

Sự phát triển các vấn đề kinh tế xã hội ở Việt Nam buộc phải giải quyết những vấn đề của một xã hội còn nghèo về các tạo phẩm vật thể đồng thời tăng tốc quá trình tạo nên các tạo phẩm phi vật thể.

Việc phát triển các tạo phẩm vật thể có thể thực hiện bằng nhiều con đường, từ thu hút đầu tư nước ngoài đến phát huy nội lực và đòi hỏi phải có các cách thức thích hợp và chuẩn bị lâu dài, đặc biệt về các nguồn nhân lực có trình độ cao, chất lượng tốt. Đây là công việc cảu những người Việt Nam, từ việc giải quyết các vấn đề xã hội của đất nước tới những vấn đề thúc đẩy quá trình phát triển đất nước. Chỉ có thể tìm ra được cách thức mang tính đột biến mới có thể đưa Việt Nam đuổi kịp các nước tiên tiến hơn.

Việc phát triển đuổi kịp thế giới đòi hỏi phải có cách thức đưa xã hội Việt Nam đạt được trạng thái sẵn sàng với những bước phát triển mới của các sức mạnh khoa học công nghệ và các sức mạnh xã hội ngang tầm mức với thế giới. Điều này là cần thiết và buộc phải thực hiện với một dân tộc có dân số ổn định là 110 triệu người trong tương lai. Với quy mô dân số như vậy, dân tộc ta sẽ bắt gặp và đương đầu với hầu hết những vấn đề xảy ra trên thế giới ngay trong chính mình.

a/ Giai đoạn hòa nhập nền kinh tế thế giới

Việc phát triển kinh tế của Việt Nam phải đặt vào trong bối cảnh toàn cầu hóa, và quá trình hội nhập đang phát triển nhanh chóng và sự phân công lao động mới trên quy mô toàn cầu đang diễn ra. Phát triển thị trường sẽ tạo nên sự phân rã mới và sắp xếp lại lực lượng, các doanh nhân sẽ tìm cách thức liên kết lại với nhau, tạo nên được những sức mạnh tổng hợp, cả về nguồn vốn lẫn nhân lực, lách qua các kẽ hở thị trường để tìm được khả năng mới làm được điều gì đó. Lịch sử đã chứng tỏ người Việt Nam bao giờ cũng tự tìm ra con đường của riêng mình để phát triển và làm được một cái gì đó mang dấu ấn của riêng mình trên tiến trình giải quyết các công việc khó khăn. Kinh nghiệm của các nước đi trước thật đáng quý, nhưng phải tìm được cách vận dụng phù hợp với truyền thống và suy nghĩ của người Việt Nam thì mới đi vào cuộc sống được. Tiến nhanh về kinh tế mà dẫn tới sự đổ vỡ xã hội, dẫn tới sự đổ vỡ chính nền kinh tế, rốt cuộc phải làm lại từ đầu, là điều trái với phong cách suy nghĩ và hành động của người Việt Nam. Người Việt Nam rất nhạy cảm rằng cần phải thận trọng trong những bước đi ban đầu trong việc khai thác tiềm năng của mình. Giá bất động sản ở Việt Nam đang tăng nhanh lên nhanh chóng trong thời gian qua cho thấy doanh nghiệp Việt Nam bị thiệt thòi rất lớn với phần đóng góp của mình trong những dự án góp đất liên doanh với nước ngoài ở các thành phố lớn. Một khi tìm được con đường riêng của mình với hiệu quả cao thì sẽ có tốc độ phát triển đáng kể nhanh chóng khai thác hết tiềm năng đã được mở ra.

Chúng ta dừng lại một chút xem xét về ngành công nghệ thông tin, một ngành đang được đặt hy vọng rất nhiều để có thể đưa Việt Nam tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa đất nước, để có một góc nhìn thấy được thực trạng việc tạo ra các tạo phẩm phi vật thể ở nước ta đang ở mức nào. Có mấy công ty phần mềm ở Việt Nam đã thực hiện các dự án phần mềm lên tới hàng trăm ngàn dòng mã lệnh với những kết nối nhiều tằng, nhiều mức và nhiều nhánh khác nhau? Còn các phần mềm liên quan tới cơ sở phần cứng hiện đại thì hầu như là không có, hoặc có thể đã tham gia vào dự án nào đó, nhưng không được biết thực chất dự án đó là gì, khi hoàn thành cho các đối tác nước ngoài những module đáp ứng các yêu cầu và đặc tả nào đó. Dòng chủ lưu về thị trường phần mềm ở Việt Nam hiện nay là phát triển các phần mềm nhằm giải quyết các công việc mang tính chuyên môn nghiệp vụ của các tổ chức đặc thù như các doanh nghiệp đủ lại, cơ quan nhà nước… Hầu hết là những phần mềm ở nước ta hiện nay liên quan đến các loại máy tính cá nhân, máy chủ, thuộc dòng máy tính thương mại, những loại máy vi tính khác nằm trong các vật phẩm khác thì hẳn là khả năng đáp ứng phần mềm còn khiêm tốn. Trên thực tế, thị trường sản phẩm phần mềm ở Việt Nam hiện nay còn bị bóp méo vì những đơn vị cần nhiều phần mềm, ngoài việc mua các phần mềm chuyên dụng từ bên ngoài, thường tự tổ chức một đội ngũ làm phần mềm để phục vụ cho chính mình, như các đơn vị trong ngành ngân hàng và bưu điện vẫn làm. Điều này đã bóp méo toàn cảnh thị trường công nghệ thông tin ở nước ta. Hiện nay, và trong những năm trước mắt sắp tới, chúng ta chỉ làm được những phần mềm để tạo nên được các kết hợp mà người ta đã vạch ra, việc tạo nên các kết hợp mới về nguyên tắc thì chúng ta không đủ, chưa có khả năng làm được. Chúng ta có thể nhận được các hợp đồng từ bên ngoài với những gì người ta đã vạch sẵn, nhưng đó không phải là con đường xây dựng từ gốc ngành công nghiệp tạo ra các tạo phẩm phi vật thể của chúng tế để đến một mức độ nào đó, ngành này sẽ đứng được trên đôi chân của mình. Như vậy phần mềm Việt Nam hiện nay chỉ tập trung được vào các phần mềm tạo nên mối quan hệ trong nội bộ một tổ chức và giữa các tổ chức với nhau ở mức sơ đẳng nhất. Bản thân các ngân hàng Việt Nam hiện nay nếu tham gia vào các giao dịch ngân hàng hiện đại hay tham gia thị trường chứng khoán đòi hỏi rất nhiều phần mềm mới nảy sinh, từ quản lý các tài sản thế chấp tới những hình thức nghiệp vụ mới, đòi hỏi phải thay đổi cách quản lý mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Việc vượt ra khỏi trạng thái rất sơ khai của ngành công nghiệp tạo ra các tạo phẩm phi vật thể Việt Nam, tạo ra các tạo phẩm phi vật thể phản ánh được tính phức tạp của cuộc sống hiện đại và tương lai à điều trăn trở của rất nhiều bộ óc tâm huyết với sự phát triển của đất nước. Thực tế đã cho thấy rằng việc học cách khai thác những nguyên tắc tạo nên các vật phẩm và tạo phẩm công nghệ thông tin mà các tổ chức, các công ty bên ngoài đã vạch ra thì rất khó khăn để có được thị trường, nhất là các thị trường bên ngoài. Những gì người ngoài không làm, chưa làm, là vì hiệu quả kinh tế không cao nữa, và họ tìm nguồn nhân công rẻ hơn để đáp ứng nhu cầu của họ. Vì thế điều dễ hiểu khi muốn vươn ra bên ngoài, người ta phải bỏ ra rất nhiều tiền để biết được làm thế nào chắc chắn thất bại, còn làm thế nào để thành công vẫn còn là vấn đề xa vời nếu một doanh nghiệp có quy mô vốn, dù mạnh nhất Việt Nam, nhưng vẫn còn nhỏ bé so với thế giới bên ngoài, vẫn phải tự mình phát triển mà không có sự hỗ trợ của thể chế hay công chúng trong đất nước.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2007.

Bản chất kinh tế thị trường hiện đại – Phần VIII


3a3/ Thích ứng với tiến trình phát triển mới

Quá trình toàn cầu hóa đem lại sự hình thành ngày càng nhiều sức mạnh xã hội mang tính quốc tế, từ khu vực tới toàn cầu. Với các nước đang phát triển, các sức mạnh này tác động không thấy ngay, thường là ở một lúc nào đó mới phát huy tác dụng.

Việc tạo nên các tạo phẩm phi vật thể trở thành một điều phổ biến trong xã hội dẫn đến sự phân hóa mới của xã hội, làm cho số lượng công việc mới xuất hiện tăng lên không ngừng và đánh giá lại những công việc còn tồn tại. Các công việc mang tính quyền lực xã hội có những bộc lộ mới về mặt nguyên tắc. Đặc biệt, những quyết định của các cơ quan công quyền đã có những ý nghĩa kinh tế to lớn, tham gia trực tiếp vào sự hình thành của các tạo phẩm phi vật thể trong xã hội, nên chúng có tác động rất nhanh chóng và rộng khắp đối với xã hội. Chúng tạo nên cơ sở kinh tế của hiện tượng tham nhũng đang phổ biến hết sức rộng khắp trên thế giới mà không dễ dàng bị loại trừ, dù Liên hợp quốc đã có công ước để phòng chống. Việc tạo ra các tạo phẩm phi vật thể ở các tầng mức vi mô và vĩ mô cần phải có những nguồn lực to lớn đem lại những lợi ích to lớn cho nhân loại, nhưng cũng đem lại nhiều nguy cơ cho chính sự sinh tồn của nhân loại. Những quyết định chính trị quyết định những sức mạnh nào được phát triển hay bị hạn chế, và chúng được tiến hành như thế nào. Việc thành lập các khối kinh tế khu vực, quốc tế và toàn cầu, đã làm thay đổi tập quán bó hẹp trước đây, thực hiện công khai hóa những thông tin nhạy cảm trước những tai họa như khủng bố, dịch bệnh và thực hiện hợp tác chặt chẽ nhằm ngăn ngừa nhiều nguy cơ.

Xã hội cần có những biện pháp mạnh để thúc đẩy lợi ích và kiềm chế nguy cơ và nhà nước đã nắm lấy những sức mạnh đó. Nhà nước cho phép tiến hành đến đâu sự thâm nhập vào các tầng mức vi mô và vĩ mô, chẳng hạn cho đến nay không nhà nước nào công khai cho phép thực hiên nhân bản con người.

Trong thời đại ngày nay, trong tiến trình toàn cầu hóa, nhiều nước sẵn lòng giảm đi nhiều chủ quyền quốc gia, nhưng bù lại, sức mạnh quốc gia và sự giàu có quốc gia đã tăng lên. Trong khi các nhà nước liên minh với nhau theo nhiều kiểu khác nhau, và chưa bao giờ các khối liên minh đó có được một hình thái như một nhà nước quốc gia dân tộc thì người ta thấy sự gia tăng ảnh hưởng của các tổ chức phi chính phủ từ sự phản biện các chính sách của nhà nước tới việc giải quyết những vấn đề nảy sinh giữa các quốc gia.

Trở thành văn phòng thế giới, công xưởng thế giới, phòng thí nghiệm của thế giới đều không phản ánh được tính chất mới của nền kinh tế hiện đại với việc luôn tạo ra được những tạo phẩm phi vật thể mới làm nền tảng và các tạo phẩm phi vật thể này không ngừng mở ra các cách thức mới mẻ nhìn nhận thế giới và xã hội, không ngừng tạo ra những sức mạnh xã hội mới và những tạo phẩm mà hiện giờ con người không thể hình dung được. Vấn đề là phải đưa toàn thể xã hội vào trào lưu hội nhập, cùng tạo nên các sức mạnh xã hội mới, các dịch vụ xã hội mới, từ đó tạo nên được môi trường thuận lợi hơn với sự phát triển của mình.

Việc tạo nên những gì liên quan tới các sức mạnh xã hội mới tác động đến con người đang được nhận thức lại và có những tác động không lường trước được. Tiền là một ví dụ điển hình về một quyền lực xã hội vượt ra khỏi ranh giới quốc gia trong quá trình toàn cầu hóa. Các nước rất giàu có luôn luôn tìm ra cách thức tận dụng ưu thế đồng tiền của mình để làm cho các nước khác trở thành những người phục vụ cho các quyền lợi của họ một cách tự nguyện. Trung Quốc trở thành công xưởng của thế giới đồng nghĩa rằng các nước phát triển đã xuất khẩu thành công sang Trung Quốc những công việc nặng nhọc mà công dân của họ không muốn làm, và đồng thời xuất khẩu luôn ô nhiễm và những hậu quả xã hội của những lĩnh vực công nghiệp có công nghệ không cao. Khó có khả năng các nước tư bản phát triển uất khẩu sang Trung Quốc các lĩnh vực công nghiệp có trình độ thực sự cao với các sản phẩm có giá trị lớn. Khó có khả năng Trung Quốc trở thành nhà máy dược phẩm của thế giới, nhà máy chế tạo các bộ phận cơ thể nhân tạo của thế giới, là nơi cung cấp các dịch vụ xã hội mới của một xã hội có nền sản xuất các tạo phẩm phi vật thể mới đạt trình độ cao.

Việc tạo ra các tạo phẩm phi vật thể cần có một môi trường để có thể phát sinh ra những nhu cầu mới đồng thời đưa lại các giải pháp công nghệ mới. Điều này đòi hỏi phải biến toàn bộ xã hội trở thành những người sáng tạo ra nhu cầu mới, những người sáng tạo ra cách thức đáp ưng nhu cầu mới, đồng thời đòi hỏi xã hội có những bước phát triển mới. Đó là nơi chế tạo ra những luật chơi mới trên thế giới, là nơi mà tạo ra các tạo phẩm phi vật thể làm thay đổi cách sống, cách làm việc và lối suy nghĩ của nhân loại. Mười năm trước đây, máy vi tính còn là một thứ xa lạ thì ngày nay hàng trăm triệu người hông làm việc được nếu thiếu máy vi tính, và đời sống xã hội không hoạt động được bình thường nếu thiếu máy tính. Có rất nhiều vật thể mà mang trong nó các tạo phẩm phi vật thể đang làm thay đổi đời sống xã hội, mà với người dân ở một nước có nền kinh tế với trình độ phát triển cao đang không ngừng vươn tới, trở thành nhu cầu không thể thiếu. Chẳng hạn khắc phục óc suy xét đang ngày càng thiếu, trong xã hội, người ta choáng ngợp trước thông tin nên không có nhiều suy xét.

Sự phát triển làm gia tăng các mối liên kết mới giữa người với người và đòi hỏi nhiều chủng loại tạo phẩm vật thể và phi vật thể mới trợ giúp con người thực hiện công việc khó khăn này. Về mặt khoa học công nghệ, có rất nhiều dự án cách đây không lâu còn mang tính viễn tưởng, thậm chí không tưởng đã mang tính hiện thực. Còn trong đời sống xã hội có rất nhiều sức mạnh xã hội mới xuất hiện để đáp ứng nhu cầu mới của xã hội. Với sự hình thành các khu vực tự do thương mại, thậm chí với quy mô là cả châu lục, thực tiễn đòi hỏi thường xuyên có những quan niệm mới về luật pháp, quyền lợi quốc gia, an ninh tập thể, quyền riêng tư, đạo đức sinh học, đạo đức công vụ…

Khi luôn luôn có những sức mạnh mới xuất hiện trong xã hội, và khoa học công nghệ, không thể có một sự định tính rõ ràng về các mục đích mà xã hội đạt được trong tương lai. Một xã hội cần tìm cách phát triển trong chính mình những yếu tố để có thể thường xuyên nhận biết được các chiều hướng phát triển mới, tìm được cách thức dung nạp được các sức mạnh mới, và chuẩn bị cho xã hội ở trong trạng thái sẵn sàng có thể thích ứng được với những vấn đề mới về nguyên tắc, tận dụng được tính ưu việt của các sức mạnh xã hội mới, khắc phục được những hạn chế của chúng.

4A/ Con đường phát triển rút ngắn ở Việt Nam

4a1/ Vai trò hàng đầu của đảng cầm quyền

Với tư cách là nguồn tạo nên các sức mạnh xã hội, định hướng và tập trung các sức mạnh xã hội để tạo nên những phát triển mang tính đột biến, ứng phó chủ động các sức mạnh xã hội từ bên ngoài vào phù hợp với văn hóa và truyền thống dân tộc, sử dụng khéo léo các sức mạnh xã hội tùy theo những biến chuyển của thời thế, điều quan trọng hàng đầu để một xã hội có thể tiến hành phát triển rút ngắn là nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng cầm quyền, khai thác hết sức mạnh của Đảng cầm quyền, và sự áp chế của quyền lực đối với các sức mạnh xã hội khác, đặc biệt là cần thấy được những sức mạnh gián tiếp tiềm ẩn để hoạch định được những nét lớn trong tương lai, thấy được những sức mạnh khác và có cách tận dụng chúng nhằm phục vụ mục đích phát triển kinh tế xã hội. Đảng là nhân tố quan trọng bậc nhất cho sự gắn kết xã hội. Sự lãnh đạo chính trị tìm ra được sự gắn kết xã hội mới, từng bước phát triển những suy nghĩ và hành vi ngang tầm với thế và lực của đất nước để tạo ra được cách kết hợp xã hội mới thể hiện bản lĩnh của người Việt Nam muốn vươn ra thế giới bên ngoài một cách mạnh mẽ.

Truyền thống dân tộc Việt Nam là mọi sự phát triển đều phải tôn trọng phục vụ lợi ích của cộng đồng để giải quyết đồng bộ phát triển kinh tế và phát triển xã hội, thành quả phát triển phải được san xẻ trong cộng đồng và trong bất cứ hoàn cảnh nào, truyền thống này cũng có tiếng nói đầy uy lực của nó nên việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của cả dân tộc.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2007.