Lý do khiến đối thoại thương mại Mỹ – Trung không đạt đột phá


Ngày 19/7, Mỹ và Trung Quốc kết thúc cuộc đối thoại kinh tế thương mại đầu tiên dưới thời Tổng thống Donald Trump nhưng vẫn không đưa ra được một kết quả nào. Thậm chí các cuộc họp báo được dự trù sau cuộc họp đã bị hủy bỏ vào giờ chót, một dấu hiệu cho thấy sự bế tắc trong đàm phán.

Cuộc họp mở ra tại Washington là sự tiếp tục của một cơ chế đã vận hành dưới hai chính quyền Mỹ tiền nhiệm, nhưng đã được chính quyền Donald Trump đổi tên thành “Đối thoại Kinh tế Toàn diện Mỹ – Trung”. Phái đoàn Mỹ do hai Bộ trưởng Tài chính Steven Mnuchin và Thương mại Wilbur Ross dẫn đầu, còn trưởng đoàn phía Trung Quốc là Phó Thủ tướng Uông Dương. Về mặt chính thức, Mỹ tuyên bố cuộc họp đã có kết quả. Trong thông cáo công bố sau cuộc họp, phía Mỹ khẳng định rằng “Trung Quốc công nhận mục tiêu chung là giảm thâm thủng mậu dịch”, hai bên “sẽ cùng hợp tác để đạt được mục tiêu”. Mỹ tiếp tục yêu cầu một quan hệ thương mại Mỹ – Trung “bình đẳng và có lợi cho cả hai bên”.

Theo AFP, tuyên bố này đã không nói gì về thực tế và hai bên đã có những trao đổi “thẳng thừng” khác thường, trong khi tất cả các cuộc họp báo được dự kiến đều bị hủy bỏ. Theo hãng tin Reuters, sau cuộc họp, trưởng đoàn Trung Quốc, Phó Thủ tướng Uông Dương đã bỏ về ngay mà không có bất cứ phát biểu nào với nhà báo. Trước đó, ông Uông Dương từng cảnh báo về hậu quả tai hại từ một cuộc đối đầu thương mại giữa hai nước.

Sáng kiến “Đối thoại Kinh tế Toàn diện Mỹ – Trung Quốc” của chính quyền Trump khởi sự vào cuối chuỗi nỗ lực kéo dài 100 ngày vạch ra kế hoạch kinh tế nhằm giảm thâm hụt thương mại hàng hóa của Mỹ với Trung Quốc. Các chuyên gia về thương mại Trung Quốc trước đó đưa ra nhận định, các cuộc thảo luận ngày 19/7 có thể đưa tới một số thông báo hoặc giao dịch quy mô nhỏ nhưng không giải quyết được những vấn đề lớn hơn như nhữn than phiền của Mỹ về công suất dư thừa của Trung Quốc trong ngành sản xuất thép, nhôm và những trợ cấp đối với các công ty quốc doanh, cũng như những than phiền của Trung Quốc về việc Mỹ nhiều lần từ chối bán cho Bắc Kinh những sản phẩm công nghệ tiên tiến.

Trước cuộc đối thoại thương mại Mỹ – Trung, trang mạng atimes.com đăng bài của ông David Dollar, chuyên gia hàng đầu của Mỹ về quan hệ kinh tế Mỹ – Trung, từng là phái viên kinh tế và tài chính tại Trung Quốc của Bộ Tài chính Mỹ, phân tích những lý do khiến đối thoại thương mại Mỹ – Trung không đạt đột phá:

Thứ nhất, Mỹ sẽ không nhượng bộ trước các ưu tiên của Trung Quốc

Mỹ sẽ không thừa nhận Trung Quốc là một nền kinh tế thị trường và sẽ không đáp ứng các yêu cầu của Bắc Kinh về việc nới lỏng hạn chế xuất khẩu đối với các mặt hàng công nghệ cao để tạo điều kiện cho doanh nghiệp Trung Quốc tăng đầu tư vào Mỹ, trừ khi Trung Quốc có những động thái tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Mỹ hoạt động tại thị trường nội địa của mình.

Mỹ cũng không ưu tiên đàm phán hiệp định đầu tư song phương với Trung Quốc trong bối cảnh họ còn đang phải phân tâm về nhiều vấn đề khác như tái đàm phán Hiệp định Tự do Thương mại Bắc Mỹ (NAFTA) hay Thỏa thuận Thương mại Tự do Mỹ – Hàn.

Thứ hai, Trung Quốc không chịu áp lực buộc phải chấp nhận các yêu cầu của Mỹ

Kế hoạch hành động 100 ngày của Chính quyền Trump chỉ đem lại những kết quả hết sức khiêm tốn, đáng kể nhất chỉ là mở cửa thị trường xuất khẩu thịt bò cho các sản phẩm của Mỹ. Dù vậy, chính quyền Mỹ vẫn rất hoan nghênh những gì đạt được.

Trong khi đó, giới chức chính quyền Washington đã kín đáo đánh tiếng với phía Bắc Kinh rằng họ hoàn toàn hiểu việc giải quyết sự mất cân bằng trong cán cân thương mại hay các thách thức về việc thâm nhập thị trường đều cần có thời gian.

Những tín hiệu, cả công khai và kín đáo, từ phía Washington đã khiến Bắc Kinh không cảm thấy bị áp lực trong việc phải tìm cách có những nhượng bộ về ngắn hạn, và thậm chí còn tạo điều kiện để quốc gia này có thêm cơ hội giải quyết các khúc mắc có từ lâu bằng việc tham gia đối thoại hay các cam kết chính trị…

Thứ ba, năm chính trị nhạy cảm tại Trung Quốc

Cuối năm nay, Trung Quốc sẽ tổ chức Đại hội XIX. Đây là sự kiện quan trọng diễn ra 5 năm 1 lần và chứng kiến sự chuyển giao quyền lực ở cấp cao nhất. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được cho là sẽ tiếp tục cầm quyền, song thông tin về các vị trí khác cùng các cuộc đấu đá quyền lực vẫn diễn ra vô cùng phức tạp.

Trong bối cảnh này, chắc chắn sẽ không một quan chức cấp cao nào của Trung Quốc muốn tỏ ra nhượng bộ trước áp lực của Mỹ, điều có thể làm tổn hại tới sự đánh giá của dư luận và giới lãnh đạo về khả năng đảm nhận trọng trách của họ. “Ổn định” sẽ là tôn chỉ của các chính sách kinh tế vĩ mô và cấu trúc cũng như hoạt động của ch1inh quyền Trung Quốc trong năm nay.

Khả năng công bố chính sách quan trọng, chẳng hạn như việc mở cửa một số lĩnh vực vẫn còn mang nặng tính nội địa của nền kinh tế, trong các cuộc đối thoại Mỹ – Trung gần như là không có. Việc bộ máy chính trị mới có muốn đẩy nhanh tốc độ cải cách hay không vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải tới tận kỳ họp Quốc hội vào tháng 3/2018. Có thể nói, năm 2017 không phải là năm hợp lý để đàm phán về các cải cách với Trung Quốc.

Thứ tư, quyết định đánh thuế mặt hàng thép của Mỹ là một nhân tố tiêu cực

Quyết định đánh thuế mặt hàng thép nhập khẩu từ Trung Quốc của Mỹ sẽ khiến các cuộc thảo luận trở nên khó lường. Quyết định này có thể sẽ không được công bố trước khi đối thoại bắt đầu, song thông tin về nó chắc chắn cũng sẽ ảnh hưởng ít nhiều tới các cuộc gặp. Thực tế Mỹ nhập khẩu không nhiều thép từ Trung Quốc (chỉ chưa đầy 5% nhu cầu tiêu thụ), và các nhà sản xuất thép hàng đầu cho Mỹ là Canada, Mexico, Hàn Quốc cùng nhiều đối tác khác. Tuy nhiên, sản lượng thép dư thừa và nguồn xuất khẩu lớn của Trung Quốc ra các thị trường thế giới là vấn đề cần quan tâm và đáng được đưa vào nội dung thảo luận của hai bên.

Mặc dù vậy, vấn đề này không thể giải quyết chỉ bằng việc Mỹ áp thuế với mặt hàng này. Trái lại, cách làm của Mỹ sẽ gây tổn hại tới hầu hết các đồng minh và doanh nghiệp, cũng như người lao động đang làm việc trong các ngành công nghiệp có sử dụng thép, trong khi tác động đối với Trung Quốc là không hề đáng kể. Thậm chí, việc áp thuế với mặt hàng thép càng phản ánh lập trường bảo hộ của Mỹ, và tác động trực tiếp tới quan điểm của Trung Quốc khiến họ càng tỏ ra cứng rắn hơn với Washington.

Nguồn: TKNB – 24/07/2017

Advertisements

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần cuối


Trên cơ sở vận dụng các lý thuyết phát triển và từ các bài học kinh nghiệm thực tiễn của nhiều nước, Chiến lược đã nêu những định hướng cơ bản trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường ở nước ta: “Nhà nước quản lý điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường. Tăng cường công tác giám sát, nhất là giám sát thị trường tài chính, chủ động điều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, không phó mặc cho thị trường hoặc can thiệp làm sai lệch các quan hệ thị trường”. Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả, thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của mình, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

5/ Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng

Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Phải không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả. Phát triển lực lượng doanh nghiệp trong nước với nhiều thương hiệu mạnh, có sức cạnh tranh cao để làm chủ thị trường trong nước, mở rộng thị trường ngoài nước, góp phần bảo đảm độc lập, tự chủ của nền kinh tế.

Chiến lược cũng nêu mục tiêu tổng quát: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị – xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế  của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”.

Đặc biệt, trên cơ sở tham khảo lý thuyết và mô hình phát triển của nhiều nước trên thế giới, căn cứ vào thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội, nhất là thời kỳ chiến lược 2001 – 2010 của đất nước, Đảng ta đã nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về mô hình phát triển bền vững và sự cần thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế của nước ta. Trong bài phát biểu nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ rõ: Phát triển bền vững được đo bằng nhiều tiêu chí, bảo đảm sự gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường. Để phát triển bền vững, trước hết phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô – yếu tố quan trọng hàng đầu cho tăng trưởng bền vững; đồng thời, tăng trưởng bền vững sẽ tạo điều kiện để ổn định kinh tế vĩ mô vững chắc. Trong thời kỳ chiến lược 2001 – 2010, tăng trưởng kinh tế của nước ta chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư và nguồn lao động giá rẻ, chất lượng thấp. Khuyết điểm của chúng ta là duy trì quá lâu mô hình này… Tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong một thế giới mà toàn cầu hóa và liên kết kinh tế diễn ra rất quyết liệt, các mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu hoặc hướng về xuất khẩu không còn nguyên ý nghĩa kinh điển của nó. Điều đó càng đòi hỏi chúng ta phải có tư duy toàn cầu và hành động quốc gia để có cách làm sáng tạo. Chúng ta phải trên cơ sở những bài học học lịch sử về tiến trình công nghiệp hóa mà các nước đi trước đã trải qua và những đặc điểm kinh tế của thời đại để tìm ra cách đi phù hợp với những điều kiện cụ thể của nước ta. Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế; phát triển kinh tế tri thức. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường phát triển kinh tế xanh”.

Trên cơ sở các quan điểm và mục tiêu tổng quát, đồng thời với chủ trương chuyển đổi mô hình tăng trưởng,t ái cấu trúc nền kinh tế, Chiến lược đã đề ra 12 định hướng phát triển, xác định rõ ba đột phá chiến lược, hình thành đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại như một chỉnh thể thống nhất, bảo đảm phát triển bền vững.

Những quan điểm, mục tiêu, những nguyên tắc chính về phát triển bền vững trong Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam cũng như trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 hợp thành những tư tưởng, quan điểm cốt lõi của lý thuyết phát triển và quản lý phát triển xã hội Việt Nam trong giai đoạn mới, vừa là kết quả của sự vận dụng sáng tạo những lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội và kinh nghiệm phát triển của thế giới vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời cũng là sự tổng kết thực tiễn phát triển đất nước qua quá trình đổi mới dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marx – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa mang tính định hướng cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, thể hiện một tư duy phát triển mới, tầm nhìn mới của Đảng về mô hình phát triển của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhằm hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần XVIII


Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai. Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hóa tốt đẹp cho những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo lại được, gìn giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện mới môi trường; xây dựng lối sống lành mạnh, hài hòa, gẫn gũi và yêu quý thiên nhiên.

Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước. Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất, trước mắt cần được đẩy mạnh sử dụng ở những ngành và lĩnh vực sản xuất có tác dụng lan truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực sản xuất khác.

Thứ sáu, phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân. Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trên quy mô cả nước. Bảo đảm cho nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin và nâng cao vai trò của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt của phụ nữ, thanh niên, đồng bào các dân tộc thiểu số trong việc đóng góp vào quá trình ra quyết định về các dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài của đất nước.

Thứ bẩy, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước. Phát triển các quan hệ song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực; tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ khoa học – công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển bền vững. Chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra.

Thứ tám, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội.

Ngoài ra, việc tiếp thu và vận dụng các lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội phải quán triệt những quan điểm, mục tiêu và các giải pháp lớn trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020.

Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu năm quan điểm phát triển có ý nghĩa chỉ đạo:

1/ Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược.

Tư tưởng chỉ đạo trong Chiến lược là: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nahnh, bền vững; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nước ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết. Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững. Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế – xã hội.

2/ Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng nước ta thành nước xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, coi đây là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển.

3/ Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển.

Chiến lược nhấn mạnh yêu cầu: “Nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước”; coi phát triển nhanh nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết chặt chẽ với phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ là một trong những đột phá chiến lược và là yếu tố quyết định để cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.

4/ Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học – công nghệ ngày càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn phát triển ở nhiều nước cho thấy, thể chế chứ không phải tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý kinh tế là yếu tố quyết định sự phát triển. Một hệ thống thể chế phù hợp, chất lượng cao là điều kiện để huy động mọi nguồn lực cho phát triển nhanh và bền vững. Vì vậy, Chiến lược nhấn mạnh yêu cầu phải hoàn thành thể chế kinh tế thị trường, tháo gỡ mọi cản trở, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Phát triển nhanh, hài hòa các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp. Ở đây đặt ra vấn đề về chức năng, vai trò của bộ máy nhà nước và việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường, vốn là một trong những vấn đề trung tâm của các học thuyết kinh tế.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần XVII


Ngay từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế vừa bùng phát, nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng ở phương Tây đã phải thừa nhận việc áp dụng mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa tự do mới là sai lầm và đã đến lúc phải từ bỏ nó. Chẳng hạn giáo sư Joseph Stiglitz, người được giải Nobel kinh tế năm 2001, đã viết trong bài Cuộc khủng hoảng toàn cầu mang nhãn hiệu “Made in USA” như sau: “Mỹ đã xuất khẩu triết lý kinh tế thị trường tự do ở mức mà ngay cả vị “tu sĩ” cao cấp nhất của trường phái đó là Alan Greenspan giờ cũng phải thừa nhận là sai lầm… Mỹ đã xuất khẩu một thứ văn hóa doanh nghiệp vô trách nhiệm đối với xã hội… Và cuối cùng, Mỹ đã xuất khẩu cả sự suy thoái kinh tế đi bốn phương”. Chính Tổng thống Pháp Nicolas Sarcozy với tư cách là Chủ tịch luân phiên Liên minh châu Âu (EU) cũng phải tuyên bố: “Phải chỉnh đốn lại chủ nghĩa tư bản theo mô hình mới bởi hệ thống thị trường tự điều tiết đã qua rồi, mọi quyền lực của thị trường luôn được cho là đúng đã kết thúc”. Những thí dụ trên cho thấy, không một lý thuyết hay mô hình phát triển nào là hoàn thiện, tối ưu, là vĩnh viễn, không cần phải thay đổi, điều chỉnh, do đó việc đánh giá và áp dụng chúng đòi hỏi phải có quan điểm lịch sử – cụ thể, phải có cái nhìn toàn diện, thấy được cả mặt tích cực cũng như hạn chế của nó. Việc tìm hiểu và áp dụng những lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của phương Tây vào Việt Nam lại càng phải lưu ý điều này. Chẳng hạn, hiện nay chúng ta chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong một thế giới toàn cầu hóa với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, đòi hỏi chúng ta phải tiếp thu một cách có phê phán và vận dụng một cách sáng tạo những lý thuyết về vai trò của thị trường, vai trò của nhà nước, về nền kinh tế hỗn hợp, hay lý thuyết về công nghiệp hóa, về hiện đại hóa… cùng những bài học kinh nghiệm thành công và thất bại của các nước đã và đang áp dụng những lý thuyết trên vào thực tiễn nước ta để tìm ra phương thức tốt nhất thực hiện thành công đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước ta. Việt Nam là nước đang phát triển, có điểm xuất phát thấp. Chúng ta phải kết hợp cả những bước đi vừa mang tính tuần tự, vừa phải đi tắt, đón đầu. Việc vận dụng những lý thuyết và kinh nghiệm thực hiện tăng trưởng kinh tế là cần thiết, nhưng với tư duy mới, sáng tạo, phù hợp với điều kiện Việt Nam và bối cảnh quốc tế hiện nay. Đối với nước ta, muốn phát triển phải thực hiện tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là bắt buộc và cần thiết, nhưng phải gắn với xóa đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát tiền. Tăng trưởng với tốc độ nhanh nhưng phải chú ý chất lượng và tính bền vững, phải bảo vệ môi trường, phải gắn với chuyển dịch và xây dựng cơ cấu kinh tế phù hợp, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Để làm được điều đó, phải có những giải pháp và cách làm phù hợp trong việc tạo lập và phát huy các yếu tố tối cần thiết như: “tư bản nhân lực”, tri thức, “kỹ thuật” và “công nghệ tiên tiến”, tư bản nói chung, đặc biệt là “tư bản quốc tế”, thu hút đầu tư nước ngoài để tạo “cú huých” tăng trưởng, thoát ra khỏi “cái vòng luẩn quẩn” của những nước nghèo, đồng thời, gắn với đó phải có những “điều chỉnh” về thể chế và hệ tư tưởng, văn hóa phù hợp với đòi hỏi của tăng trưởng kinh tế nói riêng và phát triển xã hội, đổi mới đất nước nói chung. Như vậy, tất yếu phải đổi mới tư duy, cải cách thể chế, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, phát triển văn hóa, giáo dục – đào tạo, truyền thông và các yếu tố liên quan…, phù hợp với văn hóa dân tộc, những giá trị, những chuẩn mực chung và xu hướng chung của thời đại.

Bốn là, việc lựa chọn, tiếp thu và vận dụng các lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội phải xuất phát từ định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, phù hợp với quan điểm, đường lối phát triển đất nước của Đảng, phục vụ việc thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020.

Trước hết, việc lựa chọn, tiếp thu và vận dụng các lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội phải xuất phát từ những quan điểm, mục tiêu và nguyên tắc chính để bảo đảm phát triển bền vững ở nước ta đã được nên trong Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) ban hành theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/08/2004 của Thủ tướng Chính phủ.

Quan điểm phát triển được khẳng định trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”; “Phát triển kinh tế – xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”.

Trên cơ sở đó, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam đã xác định mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.

Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau.

Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội là đạt được kết quả cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong một xã hội, duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần.

Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; bảo vệ được các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn sự đa dạng sinh học; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường.

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam đã nêu lên tám nguyên tắc chính cần thực hiện trong quá trình phát triển, cụ thể như sau:

Thứ nhất, con người là trung tâm của phát triển bền vững. Đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển.

Thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền. Từng bước thực hiện nguyên tắc “mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi”.

Thứ ba, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triểnh. Tích cực và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra. Cần áp dụng rộng rãi nguyên tắc “Người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì phải bồi hoàn”. Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác bảo vệ môi trường; chủ động gắn kết và có chế tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế – xã hội, coi yêu cầu về bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần XVI


Hai là, việc xem xét, đánh giá, lựa chọn và vận dụng lý thuyết phát triển và quản lý phát triển xã hội cần dựa trên quan điểm khách quan, khoa học.

Có một thực tế là, những lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội được phổ biến và áp dụng ở nhiều nước hiện nay hầu hết đều là kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm của các nhà khoa học ở các nước tư bản phát triển trên cơ sở khảo sát thực tiễn và tổng kết mô hình phát triển ở một quốc gia hay khu vực, một lĩnh vực phát triển nào đó của nhân loại, ít nhiều đã được thực tiễn kiểm nghiệm ở một mức độ nào đó. Nhiều tác giả của những lý thuyết trên đã được giải thưởng Nobel về các lĩnh vực khoa học và hoạt động xã hội khác nhau. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là những lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội với tư cách là sản phẩm khoa học thì vận dụng vào đâu cũng được, đều cho kết quả tốt. Vấn đề còn tùy thuộc ở cách tiếp cận, quan điểm, động cơ, mục đích và bối cảnh, điều kiện, môi trường của người lựa chọn và sử dụng chúng. Mặt khác, bản thân những lý thuyết trên là đứa con tinh thần, là kết quả lao động nghiêm túc của các nhà khoa học, phần nào phản ánh quan điểm và cách tiếp cận riêng của họ. Do giới hạn của nhận thức, do hạn chế về thông tin hoặc do điều kiện khách quan và chủ quan, có thể những lý thuyết đó chỉ đáp ứng được một khía cạnh nào đó của sự phát triển xã hội tại những thời điểm cụ thể, trên những địa bàn và lĩnh vực cụ thể khác nhau. Vì vậy, cần có thái độ tiếp thu một cách có phê phán trên tinh thần khách quan, khoa học và trân trọng khi tiếp cận những lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội với tư cách là những giá trị chung, phản ánh cố gắng của nhân loại trong quá trình tìm kiếm những con đường, phương thức và mô hình phát triển phù hợp. Cần sáng suốt, thận trọng và khách quan khi phân tích, đánh giá đúng sai, chỉ ra ưu điểm và hạn chế của những lý thuyết trên, tránh lặp lại những thiên kiến sai lệch của quá khứ thời Chiến tranh Lạnh, khi thế giới bị chia thành hai phe “địch – ta”, các sản phẩm khoa học xã hội và các lý thuyết phát triển được nhìn nhận và đánh giá một chiều qua lăng kính chính trị và đấu tranh giai cấp một cách giản đơn, thô thiển. Chẳng hạn, có một thời ở các nước xã hội chủ nghĩa tồn tại quan điểm cho rằng kinh tế thị trường là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, là đối lập với chủ nghĩa xã hội, do đó những gì liên quan tới nó đều là tiêu cực, bóc lột, hoặc quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của nhà nước và kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, gắn với nó là cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, coi đó là mô hình phát triển tối ưu của chủ nghĩa xã hội so với mô hình phát triển thị trường tự do tư bản chủ nghĩa, vì vậy mà không cần đổi mới, không cần học cái hay, cái hợp lý trong những lý thuyết, những mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa… Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, những quan điểm và cách tiếp cận chủ quan, thiên kiến, thiếu khoa học nói trên chỉ là sự biện minh hoặc tự tạo điều kiện nuôi dưỡng cho chủ nghĩa bảo thủ, biệt lập, cục bộ, khép kín, hoặc che đậy sự non kém, ngộ nhận, tự đề cao, đó chính là kẻ thù của đổi mới, cách mạng, tiến bộ, khoa học và phát triển.

Ba là khi nghiên cứu, tiếp cận và vận dụng các lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội cần có quan điểm lịch sử – cụ thể, quan điểm toàn diện.

Không thể phủ nhận một thực tế là các lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội mà chúng ta từng tiếp cận và được du nhập vào nước ta vốn thuộc các trường phái khác nhau, chủ yếu từ các nước phương Tây. Mỗi lý thuyết đều có những hạt nhân hợp lý, những ưu điểm cũng như những hạn chế nhất định, vì chúng đều là những sản phẩm của sự nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và khái quát lý luận ở những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, xuất phát từ những cách tiếp cận, những quan niệm và cách nhìn khác nhau và hướng đến những mục tiêu cụ thể khác nhau. Có những nội dung, tư tưởng và cách làm nào đó được đề cập trong các lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội khi vận dụng vào thực tiễn có thể là phù hợp, không có lợi đối với quốc gia khác trong điều kiện tương tự, hoặc không thể thực hiện được khi hoàn cảnh và điều kiện vận dụng chúng không phù hợp. Những lý thuyết và mô hình trên, theo quy luật phủ định biện chứng, qua thực tiễn với tư cách là tiêu chuẩn của chân lý, sẽ ngày càng được chọn lọc, điều chỉnh bổ sung hoặc bị thay thế bởi những lý thuyết và mô hình phát triển hợp lý và hoàn thiện hơn. Chẳng hạn, lý thuyết bàn tay vô hình, đề cao cơ chế thị trường tự do của Adam Smith đã được các nước tư bản Âu – Mỹ áp dụng suốt mấy trăm năm, được coi là chủ thuyết phát triển của xã hội tư bản từ cuố thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX. Tuy  nhiên, lý thuyết trên chỉ phù hợp và phát huy tác dụng trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, giai đoạn cạnh tranh tự do không cần đến sự can thiệp của nhà nước, hoặc chỉ cần “nhà nước tối thiểu”. Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền, thối nát, mà biểu hiện của nó là những cuộc suy thoái và khủng hoảng chu kỳ, điển hình là cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 gây ra hàng loạt các vấn đề xã hội bức xúc, nạn thất nghiệp tràn lan, chứa đựng nguy cơ bùng nổ xã hội nghiêm trọng, đã chứng tỏ sự bất cập của lý thuyết phát triển của chủ nghĩa tự do cổ điển do A. Smith đại diện. Lúc này, sự ra đời của lý thuyết về vai trò “bàn tay hữu hình” nhà nước của John Maynard Keynes, chuyển từ tư duy kinh tế thị trường tự do sang tư duy kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước chính là cứu cánh cho chủ nghĩa tư bản. Keynes đã chứng minh rằng, muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, nhà nước phải điều tiết nền kinh tế. Ông bác bỏ quan điểm “nhà nước tối thiểu” và đề xuất chủ trương mở rộng những chức năng của nhà nước, xem đó là cách duy nhất để cứu vãn sự sụp đổ của các thể chế kinh tế đương thời. Theo ông, rốt cuộc không có cơ chế tự động an toàn của nền kinh tế thị trường tự do. Nền kinh tế thị trường phải được điều tiết bởi nhà nước nhằm khắc phục hai khuyết tật lớn của xã hội tư bản là “không có việc làm đầy đủ và phân phối của cải một cách bất công”. Từ chỗ bị các môn phái của lý thuyết thị trường tự do của A. Smith cooi là “tà giáo”, lý thuyết của Keynes dần dần chiếm vị trí địa vị chi phối ở các nước tư bản phát triển trong suốt thập niên 40 đến đầu thập niên 70 của thế kỷ XX. Trong thời gian trên, lý thuyết Keynes đã được sử dụng làm nền tảng lý luận cho việc xây dựng các nhà nước phúc lợi xã hội ở hàng loạt nước tư bản phát triển Bắc Âu và một số nước Tây Âu, điển hình là mô hình Nhà nước phúc lợi xã hội của Thụy Điển do Đảng Dân chủ xã hội cầm quyền tồn tại trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, Keynes đã không thành công trong việc xây dựng một lý thuyết phát triển với sự kết hợp thỏa đáng giữa tăng trưởng kinh tế và đáp ứng việc làm của người lao động trong thời gian lâu dài. Sau ba thập kỷ hoạt động suôn sẻ, nền kinh tế của các nước tư bản Âu – Mỹ vận hành theo lý thuyết Keynes lại rơi vào trì trệ, suy thoái, lạm phát và thất nghiệp gia tăng, nhất là từ giữa những năm 1970, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển như vũ bão, làn sóng quốc tế hóa kinh tế diễn ra mạnh mẽ gắn với sự mở rộng hoạt động của các tập đoàn tư bản độc quyền xuyên quốc gia. Lý thuyết Keynes đã dần dần nhường bước cho chủ nghĩa tự do mới (neo-liberalism), mà người đặt nền móng là Friedrich August von Hayek (1899 – 1992). Năm 1944, trong cuốn Con đường dẫn đến sự nô dịch (The Road to Serfdom), Hayek kịch liệt phê phán sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường, đồng thời ca ngợi tư tưởng tự do kinh tế ở các thế kỷ XVIII – XIX và cho rằng việc vận dụng các tư tưởng đó vào điều kiện kinh tế trong thế kỷ XX vẫn là cần thiết và lý tưởng. Những tư tưởng của chủ nghĩa tự do mới đã được Thủ tướng Anh M. Thatcher và Tổng thống Mỹ Ronald Reagan nhiệt thành hưởng ứng và áp dụng trên thực tế từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, sau đó được giới cầm quyền của nhiều nước trong tổ chức OECD và một số nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh làm theo. Những người đại diện của các nước trên đã gặp nhau tại thủ đô Hoa Kỳ và thông qua bản Tuyên bố chung gọi là :Thị trường nhiều hơn, nhà nước ít hơn. Thực hiện phương châm trên, người ta đã thu hẹp khu vực sở hữu nhà nước, đẩy mạnh tư nhân hóa, hạn chế sự can thiệt của nhà nước vào công việc kinh doanh, giảm chi từ ngân sách quốc gia cho các lợi ích công cộng, điều chỉnh phân phối thu nhập theo hướng bất lợi cho người lao động như có lợi cho chủ tư bản nhằm khuyến khích tiết kiệm và đầu tư. Trong lý thuyết phát triển của chủ nghĩa tự do mới thì tăng trưởng kinh tế phải đi trước, công bằng xã hội sẽ theo sau, người nghèo phải chấp nhận và chờ đợi. Thực tế cho thấy những nước áp dụng tích cực nhất lý thuyết trên không những không giải quyết được những vấn đề xã hội nan giải của chủ nghĩa tư bản, mà còn làm cho nó trở nên gay gắt, bùng nổ thành cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, bắt đầu từ cuộc đổ vỡ thị trường tài chính Phố Wall vào cuối năm 2007, đầu năm 2008 và hiện nay đã lan ra nhiều nước thuộc Liên minh châu Âu, mà đỉnh cao là cuộc khủng hoảng nợ công đang diễn ra ở Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Ireland, Tây Ban Nha, Italy và đặc biệt là ở Mỹ – nước có nền kinh tế đứng đầu thế giới. Điều đó đã khiến cho Mỹ bị Cơ quan đánh giá chỉ số tín nhiệm quốc tế Standar&Poor’s (S&P) hạ mức đánh giá tín dụng từ AAA xuống còn AA+, vì cho rằng giới lãnh đạo và hệ thống chính trị nước này đã bất lực trong việc tìm ra giải pháp nhằm ngăn chặn khủng hoảng kinh tế dẫn đến bất ổn xã hội, ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Rõ ràng là, sự khủng hoảng trong lĩnh vực kinh tế, tài chính có nguyên nhân từ khủng hoảng niềm tin vào giới chính trị, vào những lý thuyết và mô hình phát triển mà nó đang áp dụng và truyền bá.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần XV


4 – Trải qua 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010 và gần 30 năm đổi mới theo hướng phát triển nhanh và bền vững, đồng thời với những thành tựu to lớn trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa, trong đời sống vật chất và tinh thần trên lĩnh vực đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và mô hình phát triển đất nước trong thời kỳ mới, đặc biệt là nhận thức về xã hội, phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã có những bước tiến rõ rệt và khá căn bản. Đó là:

+ Trong quan niệm về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, chúng ta không chỉ đề cập đến sự phát triển xã hội nói chung, mà đã có những nhận thức mới về xã hội, phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, đã nhận thức rõ hơn phương diện xã hội trong xã hội tổng thể. Đó là các vấn đề xã hội, các quan hệ xã hội và cơ cấu xã hội trong chỉnh thế cấu thành xã hội, liên quan trực tiếp đến đời sống con người.

+ Việc phát triển xã hội tổng thể sẽ không thể thực hiện được nếu không có nhận thức đúng đắn, quan tâm đúng múc, giải quyết kịp thời và hữu hiệu lĩnh vực (phương diện) xã hội, đặt trong mối liên hệ hữu cơ, không thể tách rời với các lĩnh vực (phương diện) khác như kinh tế, chính trị, văn hóa, môi trường… Phát triển xã hội đòi hỏi phải đồng bộ và thống nhất với các lĩnh vực trên, đặc biệt là thống nhất kinh tế với chính trị, chính sách kinh tế với chính sách xã hội phải gắn kết, đi đôi với nhau; đầu tư cho xã hội, cho việc giải quyết các vấn đề xã hội là đầu tư cho phát triển, là đầu tư theo chiều sâu, nhằm mục tiêu sâu xa là phát triển con người với tư cách là yếu tố cơ bản quyết định, bảo đảm cho phát triển nhanh và bền vững.

+ Phát triển xã hội đòi hỏi phải cấu trúc lại mô hình tăng trưởng kinh tế, phát triển chính trị và phát triển văn hóa với vai trò tạo động lực cho phát triển xã hội, gồm: chuyển mô hình tăng trưởng chủ yếu từ vốn tài chính sang tăng trưởng dựa vào vốn phi tài chính, đặc biệt là vốn con người; thay đổi quan niệm coi đầu tư phát triển xã hội là đầu tư cho phúc lợi xã hội bằng quan niệm coi đầu tư cho phát triển xã hội là đầu tư cho phát triển vốn xã hội, vốn con người; chuyển tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, chú trọng chất lượng, hiệu quả tổng hợp, tính bền vững.

+ Trong điều kiện nước ta, quản lý xã hội đòi hỏi chủ thể lãnh đạo (Đảng) và quản lý (Nhà nước) phải có tầm nhìn chiến lược và chương trình hành động thiết thực, chủ động, sáng tạo cùng các công cụ quản lý đồng bộ, từ thể chế, chính sách, cơ chế đến tổ chức, bộ máy và con người, bảo đảm các nguồn lực và điều kiện cần thiết cho phát triển.

+ Trong điều kiện kinh tế thị trường, phát triển xã hội và quản lý xã hội đòi hỏi phải xây dựng và tăng cường Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, chú trọng việc phát huy và giải quyết tốt mối quan hệ của các thành tố quan trọng đối với phát triển là kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Phải hoàn thiện chức năng xã hội của Nhà nước thông qua việc xây dựng mô hình nhà nước dịch vụ công, vận dụng hợp lý các quy luật của thị trường vào quản lý phát triển xã hội, tạo sự cạnh tranh trong khu vực công và giữa khu vực công với khu vực tư trong cung ứng dịch vụ phát triển xã hội; mở rộng vai trò của các loại hình tổ chức phi lợi nhuận (gồm cả pháp nhân và thể nhân dân sự) trong phát triển xã hội bằng cơ chế, chính sách đặc biệt nhằm khắc phục các giới hạn của nhà nước và thị trường đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Đặc biệt, quản lý phát triển xã hội của nhà nước trong nền kinh tế thị trường càng phải chú trọng đề cao luật pháp và đạo đức, năng lực, trình độ quản lý điều hành, thi hành công vụ của bộ máy và đội ngũ công chức, đồng thời phát huy vai trò của người dân và các tổ chức dân sự trong xã hội.

+ Vì sự ổn định và bền vững của xã hội, phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đòi hỏi Nhà nước, xã hội và mọi người dân phải thường xuyên chăm lo đến sự an toàn của môi trường sống của con người và xã hội, bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội – nhân văn, ngăn chặn và hạn chế những tác động tiêu cực của thảm họa môi trường tạo nên bởi chính hành vi của con người và xã hội. Phát triển kinh tế – xã hội bền vững phải gắn liền với bảo vệ môi trường, là yêu cầu sống còn của phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong bối cảnh hiện nay.

Như vậy, những chuyển biến trong nhận thức về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trên vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của quá trình đổi mới đất nước nói chung và đổi mới tư duy về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội nói riêng, tạo môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho việc chủ động, sáng tạo và vận dụng có hiệu quả các lý thuyết phát triển xã hội ở nước ta hiện nay.

Bối cảnh tình hình đất nước và quốc tế trên có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định chiến lược phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, vừa là cơ hội thuận lợi, vừa đặt ra những yêu cầu mới, những vấn đề mới, đòi hỏi phải tiếp tục suy nghĩ, tìm tòi và vận dụng sáng tạo những lý thuyết và mô hình phát triển của nhân loại, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức để thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ chiến lược tới.

2/ Một số quan điểm định hướng trong vận dụng các lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay

Từ những phân tích ở trên cho thấy việc nhận thức và vận dụng các lý thuyết phát triển xã hội ở nước ta hiện nay cần quán triệt những quan điểm mang tính nguyên tắc và định hướng sau đây:

Một là, cần quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có quan điểm “mở” và quan điểm phát triển, chủ động, sáng tạo khi tiếp cận và vận dụng các lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội vào nước ta.

Karl Marx là nhà bác học vĩ đại của giai cấp vô sản, người đã sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về hình thái kinh tế – xã hội, cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận để nhận thức quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người như một quá trình lịch sử – tự nhiên. Học thuyết Marx là chìa khóa giúp ta nhận thức và cải tạo thế giới theo hướng phát triển bền vững, hài hòa giữa con người với tự nhiên. Tuy nhiên, bản thân K. Marx không bao giờ coi học thuyết, lý luận của mình như một cái gì đã xong xuôi, “bất khả xâm phạm”, tuyệt đối hoàn thiện, không cần phải bổ sung, phát triển, trái lại, đã nhiều lần nhấn mạnh rằng học thuyết của ông không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động. Như vậy, học thuyết Marx, theo tinh thần của chủ nghĩa duy vật biện chứng, không phải là một hệ thống khép kín, bất biến, mà là một hệ thống mở, đòi hỏi luôn phải được bổ sung, phát triển và hoàn thiện. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx – Lenin luôn chỉ ra rằng, chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo. Theo tinh thần đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời luôn căn dặn cán bộ, đảng viên khi học tập chủ nghĩa Marx – Lênin không có nghĩa là phải học thuộc lòng từng câu chữ, mà là: “Phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Marx – Lenin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp củ chủ nghĩa Marx – Lenin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”. Đồng thời, Người cũng yêu cầu phải thường xuyên bổ sung, phát triển lý luận bằng những kết luận mới rút ra từ thực tiễn. Trên một ý nghĩa nào đó cũng có thể và cần thiết phải vận dụng những quan điểm trên của chủ nghĩa Marx – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh khi tiếp cận và vận dụng các lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội hiện đại vào thực tiễn nước ta. Những lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội nói chung, đều là sự tổng kết, khái quát hóa sự vận động của hiện thực xã hội trên những mặt, những lĩnh vực, những khía cạnh nhất định trong không gian và thời gian nhất định. Tuy nhiên, thực tiễn xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng. Do đó, sẽ không bao giờ có một lý thuyết toàn diện nhất, đầy đủ nhất, hoàn thiện nhất bao quát mọi khía cạnh, mọi khả năng và xu hướng vận động và phát triển của xã hội, nếu như vậy thì mọi khoa học nói chung và khoa học xã hội nói riêng sẽ trở nên không cần thiết và không có lý do để tồn tại. Vì vậy, không nên quan niệm các lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội như là những chân lý tuyệt đối, hoàn hảo, có thể vận dụng ngay mà không cần nhắc đến điều kiện, hoàn cảnh và mục đích sử dụng chúng có phù hợp với chúng ta hay không. Nói cách khác, cần có quan điểm “mở”, quan điểm phát triển và sáng tạo, chủ động khi tiếp cận và vận dụng các lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội từ bên ngoài vào thực tiễn nước ta.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần XIV


Thực tiễn đã kiểm nghiệm và cho thấy, những lý thuyết đó đều không thành công hoàn toàn, trọn vẹn, hoặc chỉ thành công hạn chế ở một giai đoạn, một khía cạnh nào đó. Hệ quả là, trong lịch sử đã diễn ra và lan truyền làn sóng khủng hoảng về mô hình phát triển ở mọi khu vực trên thế giới, nhất là từ giữa những năm 80 đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX với sự sụp đổ của mô hình phát triển kinh tế – xã hội theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung phi thị trường ở các nước xã hội chủ nghĩa thuộc Liên Xô và Đông Âu. Sự thất bại của mô hình phát triển nền kinh tế thị trường có sự điều tiết bởi Nhà nước phúc lợi xã hội ở Thụy Điển và một số nước tư bản phát triển Bắc Âu, Tây Âu từ cuối những năm 1970 đến đầu những năm 1990. Hay sự bế tắc của mô hình phát triển theo chủ nghĩa tự do mới mà biểu hiện rõ nhất là cuộc đại suy thoái và khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ Mỹ năm 2008; sự phát triển quá nóng của nền kinh tế Trung Quốc và khủng hoảng nợ công của Mỹ và các nước châu Âu hiện nay là một minh chứng về sự phát triển không bền vững. Điều đó đã cảnh tỉnh mọi người về mặt trái và tác động tiêu cực của những lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội có tính thiên lệch và cực đoan, đồng thời buộc các quốc gia phải cùng nhau xem xét lại mô hình phát triển của mình, phải thận trọng, sáng suốt, nêu cao trách nhiệm hơn khi đề ra lý thuyết phát triển cũng như khi vận dụng, tiếp thu lý thuyết và mô hình phát triển từ nước khác. Chính vì vậy, ngay từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ đang lan ra toàn cầu, tại khóa họp thường niên lần thứ 63 của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 23/9/2008, Tổng thống Pháp lúc đó là Nicolas Sarkozy, Chủ tịch luân phiên của Liên minh châu Âu (EU) đã kêu gọi các nhà lãnh đạo chủ chốt của thế giới tổ chức một cuộc họp thượng đỉnh để rút ra bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, đồng thời “tái xây dựng một chủ nghĩa tư bản điều chỉnh”. Cũng tại Hội nghị thượng đỉnh nhóm 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20) diễn ra ở Pittsburgh (Mỹ) ngày 24/9/2009, Thủ tướng Anh Gordon Brown kêu gọi hình thành một “cơ chế quản lý kinh tế toàn cầu mới”. Vào cuối năm 2009, tại cuộc gặp các đại diện của trên 50 đảng cánh tả ở thủ đô Caracas, Tổng thống Venezuela Hugo Chavez đã kêu gọi thành lập Quốc tế V. Như vậy, thực tiễn phát triển kinh tế, chính trị – xã hội toàn cầu hiện nay đã và đang đặt ra những nhu cầu mới mà nhân loại cần phải quan tâm, đặc biệt là mặt chính trị – xã hội của thể chế kinh tế thế giới trong thời đại toàn cầu hóa, để bảo đảm các yếu tố, các điều kiện phù hợp cho sự phát triển nhanh và bền vững của các nền kinh tế nói riêng và sự phát triển của các quốc gia nói chung. Đây cũng là điều mà Việt Nam phải cân nhắc khi lựa chọn và áp dụng các lý thuyết và mô hình phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội, nhất là khi chúng ta lựa chọn con đường phát triển theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một mô hình chưa có tiền lệ trong lịch sử, ở bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng hiện nay.

2 – Việc tìm kiếm, xây dựng và tiếp thu, vận dụng những lý thuyết phát triển tiên tiến vào phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh trên thế giới đang diễn ra khủng hoảng lý thuyết và mô hình phát triển, đồng thời nhân loại đang tìm lối thoát và kỳ vọng vào Lý thuyết phát triển bền vững được coi là lý thuyết phát triển hợp lý nhất hiện nay. Như đã trình bày ở phần trên, quan niệm phát triển bền vững xuất hiện từ những năm đầu thập niên 80 thế kỷ XX, được phổ biến rộng rãi vào năm 1987, với hàm ý tổng quát là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau, trong đó phải đảm bảo có sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa, hợp lý giữa ba mặt của sự phát triển gồm phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Trong hai thập niên qua, trên bình diện quốc tế đã có không ít hội nghị thượng đỉnh thảo luận về chủ đề này và đưa ra nhiều văn kiện, quyết sách quan trọng. Qua các bản tuyên bố, các văn kiện được thông qua, nội hàm phát triển bền vững ngày càng được bổ sung và phát triển với phương pháp tư duy và cách tiếp cận mới, hệ thống, sâu rộng, bao quát và có tầm nhìn xa hơn. Vấn đề phát triển bền vững ngày càng được đặc biệt quan tâm, trở thành yêu cầu phát triển chung của nhân loại.

Lý thuyết phát triển bền vững đã được Việt Nam tiếp nhận ngay khi nó được phổ biến từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX. Sớm nhận thấy những hạn chế, bất cập trong các lý thuyết phát triển trước đây trên thế giới, Việt Nam đã hưởng ứng mạnh mẽ những tư tưởng, quyết sách và các chương trình phát triển bền vững của Liên hợp quốc, trong đó có Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) về phát triển bền vững toàn cầu, đồng thời xây dựng Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam Phát triển bền vững đã trở thành một trong những tư tưởng chủ đạo trong chính sách và chiến lược phát triển của Việt Nam, được quán triệt và thể hiện từ trong các văn kiện của Đảng và trong các văn bản quản lý, các chương trình hành động của Chính phủ, cũng như cam kết của Việt Nam với quốc tế. Điều đó được phản ánh trong Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển văn hóa, phát triển con người, bảo vệ môi trường. Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam đã nêu lên những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt, đề ra những chủ trương, chính sách, công cụ pháp luật và những lĩnh vực hoạt động ưu tiên cần được thực hiện để phát triển bền vững trong thế kỷ XXI. Đây cũng là một chiến lược khung bao gồm những định hướng lớn, làm cơ sở pháp lý để các ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động, nhằm bảo đảm phát triển bền vững đất nước, đồng thời thể hiện sự quyết tâm và cam kết của Việt Nam với quốc tế. Những sự kiện quốc tế và trong nước nói trên là bối cảnh thuận lợi, là cơ sở pháp lý và định hướng rõ ràng cho việc vận dụng các lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay.

3 – Việc xác định và vận dụng các lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xa hội ở nước ta hiện nay diễn ra trong bối cảnh đất nước trải qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đã giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đặc biệt, trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội (2001 – 2010), nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7,26%/năm, thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực. Năm 2010, tổng sản phầm trong nước bình quân đầu người đạt 1.168 USD. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực; năng lực sản xuất và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 tăng gấp 3,26 lần năm 2000, góp phần đưa nền kinh tế vượt qua tác động nặng nề của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á (1997 – 1998) và khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu (bắt đầu từ năm 2008). Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; hệ thống an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng, công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt được những thành tựu nổi bật, tỉ lệ hộ nghèo giảm 2 – 3%/năm; thu nhập thực tế bình quân theo đầu người tăng hơn 2 lần. Đến năm 2010, nước ta đã hoàn thành phần lớn các mục tiêu thiên niên kỷ mà Liên hợp quốc đề ra cho năm 2015. Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình. Bên cạnh những kết quả nêu trên, dưới góc độ phát triển bền vững cho thấy sự phát triển của nước ta cũng còn nhiều yếu kém, bất cập. Những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng. Chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. “Công tác quy hoạch, kế hoạch và việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn hạn chế, kém hiệu quả, đầu tư còn dàn trải… Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu kém chậm được khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối sống trong một bộ phận xã hội xuống cấp. Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả… Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển”. Nói về nguyên nhân của tình hình trên, trong bài viết về quan điểm xuyên sốt trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ rõ: Những hạn chế, yếu kém trên đây có phần do nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, trong đó nổi lên là: Quan điểm phát triển bền vững chưa được nhận thức sâu sắc và thể hiện một cách cụ thể, nhất quán trong hệ thống chính sách, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết. Trong quản lý, điều hành còn thiên về tốc độ tăng trưởng mà chưa coi trọng đúng mức đến chất lượng tăng trưởng và tính bền vững của sự phát triển; chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc.

Trên bình diện quốc tế, việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của nước ta trong giai đoạn mới diễn ra trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp và khó lường. Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nhận định: Trong thập niên tới, hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc và tôn giáo, tranh giành tài nguyên và lãnh thổ, nạn khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia có thể gia tăng cùng với những vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên… buộc các quốc gia phải có chính sách đối phó và phối hợp hành động… Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp… Sự tùy thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa các nước ngày càng trở thành phổ biến. Kinh tế tri thức phát triển mạnh, do đó con người và tri thức ngày càng trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia… Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bước tiến mới về khoa học, công nghệ và sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên. Mặt khác, khủng hoảng còn để lại hậu quả nặng nề, chủ nghãi bảo hộ trỗi dậy trở thành rào cản lớn cho thương mại quốc tế. Kinh tế thế giới tuy đã bắt đầu phục hồi nhưng còn nhiều khó khăn, bất ổn; sự điều chỉnh chính sách của các nước, nhất là những nước lớn sẽ có tác động đến nước ta.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.