Nợ, thâm hụt ngân sách và đồng dollar – Phần III


Thương vụ mua lại của Buffett có thể hiểu là cách thoát khỏi tiền giấy và đầu tư vào tài sản hữu hình, đồng thời bảo vệ những tài sản đó khỏi mọi tác động của việc đóng cửa thị trường cổ phiếu. Nó có thể là một “cuộc đặt cược vào đất nước” – nhưng nó cũng là một rào chắn chống lại lạm phát và khủng hoảng tài chính. Nhà đầu tư nhỏ không thể mua lại toàn bộ tuyến đường sắt có thể đặt cược tương tự bằng cách mua vàng. Buffett nổi tiếng là coi thường vàng, nhưng ông là vua đầu tư tài sản hữu hình, và khi nói đến giới siêu giàu, tốt hơn là nên nhìn vào việc họ làm thay vì lời họ nói. Tiền giấy là một hợp đồng được thế chấp bằng vàng, mà vàng là một tài sản hữu hình không gì so sánh được.

Nợ, thâm hụt ngân sách, và sự bền vững

Cục Dự trữ Liên bang không phải là con nợ duy nhất có liên hệ với Chính phủ trong hệ thống tiền của Hoa Kỳ. Trên thực tế, quy mô con nợ lớn hơn rất nhiều. Kho bạc Hoa Kỳ đã phát hành hơn 17.000 tỷ USD nợ dưới hình thức trái phiếu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, so với khoảng 4 nghìn tỷ USD giấy nợ dưới dạng tiền mà FED phát hành.

Không giống như giấy nợ của Cục Dự trữ Liên bang, tín phiếu Kho bạc không phải là tiền, mặc dù những công cụ thanh khoản nhất thường được gọi là “tương đương tiền mặt” trên bản cân đối kế toán doanh nghiệp. Một điểm khác biệt nữa giữa giấy nợ của Cục Dự trữ Liên bang và tín phiếu Kho bạc là tín phiếu Kho bạc có kỳ hạn và có trả lãi. Giấy nợ của FED có thể được phát hành với số lượng vô hạn và có giá trị lưu hành mãi mãi, nhưng tín phiếu Kho bạc phải tuân thủ kỷ luật của thị trường trái phiếu, nơi các nhà đầu tư giao dịch hơn 500 tỷ USD chứng khoán Kho bạc mỗi ngày.

Kỷ luật thị trường bao gồm việc các nhà đầu tư liên tục đánh giá xem liệu gánh nặng nợ của Kho bạc có bền vững hay không. Sự đánh giá này đặt ra câu hỏi liệu Kho bạc có thể thanh toán các khoản nợ tồn đọng theo thỏa thuận hay không. Nếu câu trả lời là có, thị trường sẽ vui vẻ chấp nhận thêm nợ Kho bạc với nợ lãi suất hợp lý. Nếu câu trả lời là không, thị trường sẽ từ chối khoản nợ Kho bạc, và lãi suất sẽ tăng vọt. Trong trường hợp cực kỳ không chắc chắn do thiếu vốn hoặc không sẵn sàng trả nợ, nợ Chính phủ có thể trở nên gần như vô giá trị, như việc đã xảy ra ở Hoa Kỳ sau cách mạng và rất nhiều lần ở các nước khác từ trước đến nay.

Việc phân tích nợ Chính phủ nhiều thách thức hơn cả khi câu trả lời không phải là có hay không, mà là có thể. Chính tại những điểm bùng phát này (mà những người ủng hộ lý thuyết về sự phức hợp gọi là giai đoạn chuyển tiếp), thị trường trái phiếu đứng giữa sự tự tin và cơn hoảng loạn, và có vẻ như khả năng vỡ nợ rất cao. Các thị trường trái phiếu nhà nước ở châu Âu đến rất gần điểm này vào cuối năm 2011 và vẫn mấp mé bờ vực cho tới tháng 9 năm 2012, khi Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu – ông Mario Draghi đưa ra tuyên bố nổi tiếng:”làm bất cứ điều gì cần thiết”. Ý của Mario là ECB sẽ thay thế khoản nợ tiền của mình bằng nợ nhà nước với số lượng cần thiết để trấn an các chủ nợ nhà nước. Biện pháp trấn an này đã có hiệu quả, và các thị trường nợ nhà nước châu Âu được kéo xa khỏi mép vực.

Trong những năm gần đây, các vụ mua chứng khoán Chính phủ bằng tiền do Cục Dự trữ Liên bang in ra chiếm một tỷ lệ cao trong nợ ròng mới do Kho bạc phát hành. FED nhấn mạnh rằng, việc mua chứng khoán của họ là một công cụ chính sách nhằm nới lỏng các điều kiện tiền tệ, chứ không nhằm mục đích kiếm tiền từ nợ quốc gia. Cùng lúc đó, Kho bạc lại khẳng định rằng họ là con nợ tốt nhất thế giới và hoàn toàn không gặp khó khăn gì trong việc đáp ứng những yêu cầu tài trợ cho Chính phủ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, một người quan sát bình thường có lý do để tin rằng FED đang kiếm tiền từ khoản nợ bằng cách làm giảm giá trị của tiền – một bước đi hướng đến kết cục sụp đổ cho các hệ thống chính trị và kinh tế mà người ta đã thấy rất nhiều trong lịch sử, từ Rome cổ đại đến Argentina ngày nay. Trò chơi vĩ đại của FED là hoán đổi các giấy nợ không lãi suất của mình lấy giấy nợ có lãi suất của Kho bạc, sau đó trả lãi ít hơn cho Kho bạc. Thách thức đối với thị trường trái phiếu, và với nhà đầu tư nói chung, là phải quyết định xem Kho bạc phát hành bao nhiêu tín phiếu thì bền vững và thay thế tín phiếu Kho bạc bằng bao nhiêu giấy nợ FED thì chấp nhận được, trước khi giai đoạn chuyển tiếp xuất hiện và sự sụp đổ bắt đầu.

Động năng của nợ Chính phủ và thâm hụt ngân sách phức tạp hơn nhiều so với quan điểm thông thường. Tranh cãi xảy ra xung quanh vấn đề nợ nần và thâm hụt ngân sách thường xuyên thoái trào thành những lựa chọn “nhị phân”: Nợ vay tốt hay xấu cho nền kinh tế? Thâm hụt ngân sách của Mỹ quá cao hay chấp nhận được? Phe bảo thủ ở Đảng Trà (Tea Party) cho rằng về bản chất thì việc chi tiêu thâm hụt ngân sách gây ra tác động tiêu cực, rằng một ngân sách cân bằng là khao khát của chính họ, và rằng Hoa Kỳ đang trên con đường trở thành một Hy Lạp thứ hai. Những người theo chủ nghĩa tự do kiểu Krugman lại cho rằng nợ là yếu tố cần thiết để tài trợ những chương trình “trong mơ” nhất định, và rằng trước đây, Hoa Kỳ đã ở vào tình trạng này nếu xét về tỷ lệ nợ/GDP. Sau Thế chiến II, tỷ lệ nợ/GDP của Hoa Kỳ là 100% – xấp xỉ mức hiện nay. Trong suốt thập niên 1950 và 1960, Hoa Kỳ dần gảim tỷ lệ này xuống, và phe tự do nói rằng Mỹ có thể tái hiện thành tích đó bằng việc tăng thuế đôi chút.

Quan điểm của cả hai bên đều có những điểm hợp lý, nhưng cũng có thể dễ dàng bị bác bỏ. Vấn đề chính sách ở đây là một cuộc tranh luận được đóng khung theo cách này tạo ra những sự lưỡng phân giả tạo, chỉ lo cho hùng biện chứ không giúp tìm ra giải pháp. Về bản chất, nợ không tích cực cũng không tiêu cực. Tính hữu dụng của nợ được quyết định bởi việc người đi vay làm gì với số tiền vay được. Các mức nợ tự nó không quá cao hoặc quá thấp, điều quan trọng đối với chủ nợ là xu hướng hướng đến sự bền vững.

Nợ có thể tiêu cực nếu nó được sử dụng để bù đắp các khoản thâm hụt ngân sách tài chính mà không hề có kế hoạch trả nợ nào khác ngoài cách đi vay thêm. Nợ có thể tích cực nếu nó tài trợ cho những dự án đem lại hiệu quả cao hơn chi phí bỏ ra, và tự nó có thể trả hết nợ qua thời gian. Tỷ lệ nợ/GDP có thể tương đối thấp nhưng vẫn gây phiền hà nếu chúng đang ngày một tăng lên. Tỷ lệ nợ/GDP có thể tương đối cao nhưng không đáng lo ngại nếu chúng đang  ngày một giảm xuống.

Tranh cãi về nợ

Việc đóng khung các cuộc tranh cãi về nợ và thâm hụt ngân sách trong những điều kiện này làm dấy lên nhiều câu hỏi khác. Đâu là hướng dẫn thỏa đáng để xác định xem nợ có đang được sử dụng đúng mục đích mong muốn hay không, và xu hướng của tỷ lệ nợ/GDP có đang đi đúng hướng? May thay, cả hai câu hỏi đều có thể được trả lời một cách chính xác và không phản ánh sự chia rẽ trong ý thức hệ chính trị mà không cần nhờ đến tài hùng biện của phe bảo thủ hay phe tự do.

Nó được sử dụng để tài trợ chi tiêu Chính phủ có thể chấp nhận được khi nó đáp ứng ba điều kiện: lợi ích của việc chi tiêu phải lớn hơn chi phí, chi tiêu của Chính phủ phải hướng vào các dự án mà khu vực tư nhân không thể thực hiện, và mức tổng nợ phải bền vững. Những bài kiểm tra này phải được áp dụng độc lập, cả ba điều kiện đều phải được thỏa mãn. Ngay cả khi chỉ tiêu của Chính phủ có thể chứng minh được lợi ích ròng, thì nó vẫn không hợp lý nếu khu vực tư nhân có thể làm tốt hơn. Khi chi tiêu Chính phủ tạo ra chi phí ròng, nó sẽ hủy hoại khối tài sản trong xã hội và không bao giờ có thể chấp nhận được trừ khi xảy ra một cuộc khủng hoảng hiện sinh như chiến tranh.

Khó khăn nảy sinh khi chi phí và lợi ích không được định nghĩa rõ ràng, và khi ý thức hệ thay thế cho kết quả phân tích trong quá trình ra quyết định. Hai trường hợp minh họa những vấn đề này là Internet và gói kích thích của Obama năm 2009.

Những người ủng hộ chi tiêu Chính phủ chỉ ra rằng, Chính phủ đã tài trợ cho sự phát triển ban đầu của Internet. Quả thực, Chính phủ đã tài trợ cho ARPANET, một hệ thống lưu lượng tin nhắn cực mạnh trong số các máy tính Đại học quy mô lớn được thiết kế để tạo điều kiện cho hoạt động hợp tác nghiên cứu suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, sự phát triển của ARPANET thành Internet ngày nay được thúc đẩy bởi khu vực tư nhân thông qua việc phát minh ra World Wide Web, trình duyệt web và nhiều dự án cách tân khác. Lịch sử này cho thấy rằng, một số khoản chi tiêu của Chính phủ có thể mang lại lợi ích cao khi nó kích thích năng lực sáng tạo, cách tân của khu vực tư nhân. ARPANET có tham vọng khá khiêm tốn nếu xét theo các tiêu chuẩn hiện nay, và nó đã thành công. Không phải lúc nào Chính phủ cũng đóng băng ARPANET. Thay vào đó, họ đã tạo ra những giao thức có sẵn cho các nhà phát triển tư nhân rồi tránh đường để khối tư nhân làm việc. Internet là một ví dụ của việc Chính phủ giao lại công việc cho khu vực tư nhân.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Mô hình kinh tế tuần hoàn, chiến lược của Nhật Bản và bài học – Phần IV


Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường của các ngành công nghiệp cơ bản, Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng một số biện pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, thực hiện sản xuất sạch hơn. Theo nguyên tắc “3R” (sửa chữa, tái sử dụng, tái chế) của nền kinh tế tuần hoàn mà Chính phủ Nhật Bản tuân thủ thì tiết kiệm tài nguyên là quy tắc ưu tiên hàng đầu. Do đó, việc thực hiện sản xuất sạch hơn, giảm tiêu dùng lãng phí tài nguyên thiên nhiên là nhiệm vụ chính đặt ra đối với các ngành công nghiệp cơ bản tại Nhật Bản. Nhiệm vụ này bao gồm nhiều hoạt động đa dạng như áp dụng quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm các nguồn năng lượng thông thường, phát triển các nguồn năng lượng mới, tái sử dụng chất thải, giảm các bước quy trình sản xuất không cần thiết, tiêu chuẩn hóa sản xuất và thiết kế bao bì xanh.

Thứ hai, làm rõ trách nhiệm của nhà sản xuất. Luật cơ bản thúc đẩy xây dựng xã hội định hướng tái chế của Nhật Bản, chỉ rõ doanh nghiệp phải thực hiện hoạt động tái chế và tái sử dụng nguyên vật liệu và sản phẩm cũ trong phạm vi chịu trách nhiệm của mình. Cụ thể là nhà sản xuất cần phải chịu trách nhiệm về các tác động môi trường trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất và thậm chí có nghĩa vụ tái sử dụng các sản phẩm tái chế. Ví dụ như nhiều doanh nghiệp sản xuất thiết bị gia dụng lớn và chế tạo ô tô phải tuân thủ yêu cầu xây dựng các trung tâm xử lý rác thải và tái chế sản phẩm.

Thứ ba, kiến tạo những khu công nghiệp sinh thái. Trong mô hình kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản, đi đôi với với xây dựng doanh nghiệp sạch, Nhật Bản cũng chú trọng xây dựng một hệ thống sản xuất tuần hoàn giữa các ngành công nghiệp cơ bản thông qua việc thiết lập những khu công nghiệp sinh thái. Việc liên kết các quy trình sản xuất và chia sẻ tài nguyên giữa các doanh nghiệp trong khu công nghê sinh thái có thể gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực, giảm bớt lượng chất xả thải và thực hiện tái chế tối đa nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất.

Tại Nhật Bản, hầu hết các ngành công nghiệp cơ bản hàng đầu đều có ngành công nghiệp hỗ trợ đi kèm. Ví dụ ngành công nghiệp tái chế thiết bị gia dụng được phát triển dựa trên ngành công nghiệp sản xuất điều hòa không khí, tủ lạnh, tivi và máy giặt. Nhật Bản đã xây dựng 26 khu công nghiệp sinh thái cho các ngành công nghiệp hỗ trợ. Những khu công nghiệp sinh thái này không chỉ ưu tiên phục vụ chiến lược xây dựng kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản, mà còn đóng một vai trò quan trọng trong phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong khu vực. Có thể nói, đi đôi với các ngành công nghiệp cơ bản thì Chính phủ Nhật Bản cũng ban hành các quy luật và quy định nhằm phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung và đặc biệt là hoạt động của các khu công nghiệp sinh thái được xây dựng giành riêng cho các ngành công nghiệp hỗ trợ này. Cụ thể như sau:

Một là, thiết lập một hệ thống tái chế chất thải và năng lượng. Chính phủ Nhật Bản căn cứ vào đặc điểm của các ngành công nghiệp địa phương, các hình thức và số lượng chất thải để xây dựng các khu công nghiệp sinh thái tái chế tương ứng. Nguyên tắc chung đối với hoạt động của các khu công nghiệp này là toàn bộ quá trình tái chế đều do các doanh nghiệp trong khu công nghiệp thực hiện với mục tiêu thực hiện hoạt động tái chế trên quy mô lớn.

Hai là, tập hợp các tổ chức nghiên cứu để tiến hành hợp tác nghiên cứu chuyên sâu. Cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ cũng như nhu cầu cấp bách cảu thị trường, các tổ chức nghiên cứu của Nhật Bản đã tiến hành hàng loạt các nghiên cứu cơ bản về nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất nhằm giảm bớt chất thải công nghiệp, phát triển công nghiệp tái chế tài nguyên, công nghệ tái chế chất thải và các công nghệ khác làm cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản.

Ba là, thực hiện tuyên truyền và giáo dục thường xuyên. Hoạt động này do nhiều cấp chính quyền và các tổ chức đoàn thể có liên quan thực hiện cho nhiều đối tượng khác nhau. Ví dụ thành phố Kitakyushu có thể coi như một ví dụ tiêu biểu về hoạt động giáo dục về ý thức bảo vệ môi trường cho người dân. Chính quyền thành phố thường xuyên tổ chức các bài giảng về môi trường, tuyên truyền và các công nghệ và sản phẩm tái chế và là địa phương đầu tiên trong khu vực áp dụng chu trình tái chế rác thải tuần hoàn thực sự.

c/ Hợp tác chặt chẽ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất

Trong nền kinh tế tuần hoàn, sự hợp tác toàn diện giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất có ý nghĩa quan trọng. Người tiêu dùng hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế tuần hoàn thông qua các hoạt động cụ thể như tự động phân chia rác thải hay sản phẩm cũ theo đúng quy định về tái chế hay trả phí tái chế trực tiếp khi mua và sử dụng sản phẩm. Các nhà sản xuất thể hiện vai trò của mình thông qua việc gia tăng vòng đời sản phẩm, sử dụng vật liệu tái chế nhiều hơn, hoặc sản xuất những sản phẩm có thể dễ dàng sửa chữa tái sử dụng và tái chế. Mối quan hệ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất thể hiện qua một số hình thức cụ thể như sau:

+ Xây dựng hệ thống thu gom sản phẩm tái chế tiện dụng: Tại Nhật Bản hệ thống thu gom các thiết bị cũ để tái chế rất toàn diện và dễ sử dụng cho nên phần lớn người tiêu dùng Nhật Bản thường xuyên áp dụng. Các thiết bị cũ được các nhà bán lẻ thu nhận lại tại cửa hàng hoặc khi cung cấp thiết bị mới. Đối với thiết bị CNTT cũ thì tùy theo quy định của chính quyền địa phương mà khách hàng có thể yêu cầu nhà sản xuất tới nhà để thu lại hoặc gửi trả qua bưu điện. Hệ thống này phổ biến và được sử dụng rộng rãi trên khắp đất nước Nhật Bản.

+ Người tiêu dùng trả phí trước: Đối với một số sản phẩm gia dụng như thiết bị điện tử, chi phí vận chuyển và thu hồi sản phẩm cũ đã được người tiêu dùng thanh toán tại thời điểm mua hàng, hờ vậy, đã giảm bớt sự miễn cưỡng của khác hàng khi thực hiện các quy định về thu gom sản phẩm cũ. Thêm vào đó là mức xử phạt cao cho việc không tuân thủ các quy định về xả rác cũng làm cho người tiêu dùng có động cơ thực hiện đúng các quy trình về thu gom và xử lý sản phẩm cũ.

+ Cơ sở hạ tầng tái chế là đồng sở hữu: Tại Nhật Bản, luật pháp quy định rõ các doanh nghiệp sản xấut lớn, đồng thời phải đầu tư dài hạn để xây dựng các nhà máy tái chế, đảm bảo họ có thể được hưởng lợi trực tiếp từ việc thu hồi các nguyên liệu hay các bộ phận trong các sản phẩm cũ. Khi doanh nghiệp đồng thời sở hữu cả nhà máy sản xuất và nhà máy tái chế sẽ khiến cho họ hiểu rõ những khó khăn khi phải tháo gỡ để tái chế các sản phẩm có thiết kế kém. Do đó, khi thiết kể sản phẩm mới, một số công ty thậm chí còn đưa hàng mẫu tới nhà máy tái chế để kiểm tra nhằm đảm bảo những sản phẩm này có thể dễ dàng tháo gỡ và tái chế.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng  số 14 – 7/2018.

Nợ, thâm hụt ngân sách và đồng dollar – Phần II


Một cách tiếp cận khác là lý thuyết nhà nước tiền tệ (state theory of money), với quan điểm rằng tiền giấy không được bảo lãnh vẫn có giá trị vì nhà nước có thể yêu cầu trả thuế bằng tiền đó. Nhà nước có thể ép buộc người dân đến chết để thu thuế. Do đó, người dân làm việc vì tiền và đánh giá cao đồng tiền vì nó có thể đáp ứng được yêu cầu từ nhà nước. Mối quan hệ giữa tiền và nhà nước này có nghĩa là tiền giấy có giá trị ngoại lai vượt quá giá trị nội tại do quyền lực nhà nước. Loại tiền này được gọi là chartal chartalism (tạm dịch: chủ nghĩa duy chính) là một tên khác của lý thuyết nhà nước tiền tệ. Trong những năm 1920, John Maynard Keynes đã sử dụng chartalism trong những lần ông kêu gọi bãi bỏ bản vị vàng. Những thành viên mới hơn của lý thuyết tiền tệ này từng giữ những vai trò đắc lực trong hệ thống quyền lực nhà nước là Paul McCulley, cựu Giám đốc Điều hành của Quỹ trái phiếu khổng lồ PIMCO và Stephanie Kelton, nhà kinh tế học tại Đại học Missouri, người luôn trung thành với lý thuyết tiền tệ hiện đại.

Một lý thuyết mới gia nhập cuộc chiến lý thuyết tiền tệ là lý thuyết lượng tín dụng (quantity theory of credit). Lý thuyết này được phát triển bởi Richard Duncan, là một biến thể của lý thuyết lượng tiền. Duncan đề xuất rằng việc tạo lập tín dụng đã trở nên phổ biến và tràn lan đến mức ý niệm về tiền bây giờ đã được gộp chung vào ý niệm về tín dụng, và việc tạo lập tín dụng là trọng tâm của hoạt động nghiên cứu và chính sách tiền tệ. Duncan đưa nhiều phân tích thống kê và pháp lý ấn tượng về dữ liệu của Chính phủ vào công trình nghiên cứu sự mở rộng tín dụng. Có thể gọi công trình này của ông là chủ nghĩa tín dụng (creditism), mặc dù thực ra nó là một phiên bản của thế kỷ XXI của Trường phái Ngân hàng Anh quốc (British Banking School) – quan điểm về tiền tệ trong thế kỷ XIX.

Chủ nghĩa tiền tệ, chủ nghĩa duy chính và chủ nghĩa tín dụng đều có chung một ý tưởng: niềm tin vào đồng tiền pháp định (fiat). Từ fiat có nguồn gốc từ tiếng Latin, có nghĩa là “để cho nó được thực hiện”. Khi áp dụng cho tiền tệ, fiat đề cập đến trường hợp trong đó nhà nước ra lệnh rằng một dạng tiền tệ cụ thể sẽ đóng vai trò như tiền tệ và được xem như đồng tiền hợp pháp. Cả ba lý thuyết đều đồng ý rằng tiền không bắt buộc phải có giá trị nội tại, miễn sao nó nắm giữ giá trị bên ngoài mà nhà nước đặt cho. Khi phe phản đối đồng tiền pháp định nói tiền “không được đảm bảo bởi bất cứ thứ gì”, những người ủng hộ ba lý thuyết trên sẽ đáp trả, “Thì sao?” Theo họ, tiền có giá trị vì nhà nước ra lệnh rằng nó có giá trị như vậy, và không có gì khác là cần thiết để cho tiền giá trị của nó.

Một lý thuyết chỉ hữu dụng khi nó hài hòa với hiện tượng trong thế giới thực, đồng thời giúp các nhà quan sát hiểu và dự đoán các sự kiện trong thế giới đó. Các lý thuyết về tiền dựa vào quyền lực của nhà nước rất mong manh vì việc áp dụng quyền lực nhà nước có thể thay đổi. Theo nghĩa đó, có thể nói những lý thuyết cạnh tranh về tiền kể trên còn tùy thuộc vào tình hình thực tiễn.

Trở lại nơi chúng ta bắt đầu, lý thuyết hợp đồng tiền tập trung vào giá trị nội tại của tiền. Tiền có thể là giấy, nhưng giấy có văn bản trên đó, và văn bản này là một hợp đồng hợp pháp. Một công dân có thể xem hợp đồng này là đáng giá vì những lý do riêng, không phụ thuộc vào các sắc lệnh của nhà nước. Anh ta có thể đánh giá hiệu quả thực hiện hợp đồng cao hơn là tính chất pháp định. Lý thuyết này là hữu ích để hiểu không chỉ đồng USD mà cả việc liệu rằng hợp đồng dollar có đang được tôn trọng hay không, cả bây giờ và trong tương lai.

Mặc dù đồng USD là khoản nợ không lãi suất và không kỳ hạn nhưng nó vẫn liên quan đến nghĩa vụ thực hiện của cả FED và Ngân khố, hai bên có tên trong hợp đồng. Việc thực hiện này được thể hiện rõ trong nền kinh tế. Nếu nền kinh tế hoạt động tốt, đồng USD hữu dụng, và hiệu quả thực hiện hợp đồng là thỏa đáng hoặcó giá trị. Nếu nền kinh tế không hiệu quả, người ta có thể nghĩ rằng hiệu quả thực hiện kém đến mức vi phạm vỡ nợ theo quy định của hợp đồng.

Bản vị vàng là một cách để thi hành hợp đồng tiền. Phe ủng hộ vàng khẳng định rằng tất cả tiền giấy đều không có giá trị nội tại, giá trị vốn dĩ chỉ có thể được cung cấp bằng kim loại quý hữu hình dưới dạng vàng, hoặc có thể là bạc. Quan điểm này hiểu sai vai trò của vàng trong một bản vị vàng, nhưng một số ít người khăng khăng rằng tiền đồng hoặc vàng thỏi phải là phương tiện trao đổi duy nhất – một tình trạng hoàn toàn phi thực tiễn. Tất cả các bản vị vàng đều liên quan đến mối quan hệ giữa vàng vật chất và các hình thức đại diện của vàng trên giấy tờ, cho dù những đại diện này được gọi là giấy nợ, cổ phần hay hóa đơn. Một khi mối quan hệ này được chấp nhận, người ta nhanh chóng trở lại với thế giới của hợp đồng.

Theo quan điểm này, vàng là tài sản thế chấp hoặc trái phiếu được niêm yết để đảm bảo việc thực hiện thỏa đáng hợp đồng tiền. Nếu nhà nước in quá nhiều tiền thì người dân có thể tự do tuyên bố kê khai hợp đồng bị vi phạm và đổi tiền lấy vàng theo tỷ giá trao đổi trên thị trường. Trên thực tế, người đó nhận tài sản thế chấp của mình.

Những người ủng hộ vàng cho rằng nên duy trì và ấn định một tỷ giá trao đổi giữa tiền giấy và vàng. Quan điểm này cũng có ý đúng, nhưng một tỷ giá trao đổi cố định không phải là yếu tố thiết yếu đối với vai trò của vàng trong một hệ thống hợp đồng tiền. Chỉ cần người dân được tự do mau hoặc bán vàng bất cứ lúc nào. Mọi công dân đều sẽ có thể sử dụng một bản vị vàng cá nhân bằng cách mua vàng bằng tiền giấy, còn người nào không mua vàng tức là đang tạm thời thoải mái với hợp đồng tiền giấy.

Do đó, giá tiền của vàng là một thước đo hiệu quả thực hiện hợp đồng của FED và Ngân khố. Nếu hiệu quả thỏa đáng, giá vàng sẽ ổn định, vì người dân yên tâm khi giao dịch bằng tiền. Nếu hoạt động yếu kém, giá vàng sẽ tăng, vì người dân chấm dứt hợp đồng nợ-tiền và đòi lại khoản thế chấp của họ thông qua việc mua vàng trên thị trường mở. Giống như bất kỳ con nợ nào, FED muốn các chủ nợ-người dân không biết gì về quyền đòi bồi thường của họ. FED đang đánh cược rằng người dân sẽ không đồng loạt yêu cầu khoản thế chấp bằng vàng. Việc đặt cược này phụ thuộc vào mức độ hài lòng cao của người dân đối với bản chất của hợp đồng tiền, bản chất của vàng, và quyền được đòi lại tài sản thế chấp khi hợp đồng không được thực hiện thỏa đáng.

Đây là một lý do khiến FED và các chuyên gia kinh tế tiền pháp định sử dụng những cụm từ như “di tích man rợ” và “truyền thống” để mô tả vàng và khẳng định rằng vàng không có vai trò gì trong một hệ thống tiền tệ hiện đại. Quan điểm của FED rất vô lý, nó giống như việc nói rằng đất đai và nhà cửa không có vai trò gì trong một hợp đồng thế chấp vậy. Tiền là một khoản nợ bằng giấy lấy vàng làm tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp có thể được đòi lại bằng cách trực tiếp mua hàng.

FED muốn rằng các nhà đầu tư không thiết lập mối liên kết này, nhưng có một nhà đầu tư đã làm, đó là Warren Buffett. Ông không chuyển sang vàng nhưng chuyển sang tài sản hữu hình, và câu chuyện của ông đang được tiết lộ.

Vào tháng 11 năm 2009, không lâu sau khi thị trường bắt đầu bán tống bán tháo vì hệ quả của cuộc Khủng hoảng năm 2008, Buffett đã thông báo mua lại 100% công ty Burlington Northern Santa Fe Railway. Buffett mô tả thương vụ này như một “cuộc đặt cược vào đất nước”.

Có thể. Một tuyến đường sắt là tài sản hữu hình tuyệt đối. Đường sắt bao gồm một số tài sản hữu hình, chẳng hạn như quyền sử dụng tuyến đường, quyền khai thác liền kề, đường ray, công tắc, tín hiệu, sân bãi và xe kéo. Đường sắt kiếm tiền bằng cách vận chuyển các tài sản hữu hình khác như lúa mì, thép, quặng và gia súc. Đường sắt là tài sản hữu hình vận chuyển tài sản hữu hình.

Bằng cách mua lại 100% cổ phiếu, Buffett đã chuyển đổi thành công tuyến đường sắt từ một công ty vốn cổ phần được giao dịch công khai thành một công ty vốn cổ phần tư nhân. Điều này có nghĩa là nếu các thị trường cổ phiếu bị đóng cửa trong một cuộc khủng hoảng tài chính thì cổ phần của Buffett sẽ không bị ảnh hưởng vì ông không tìm kiếm khả năng thanh khoản. Trong khi những người khác có thể bị sốc bởi cổ phần của họ đột ngột mất tính thanh khoản, Buffett chỉ việc án binh bất động.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Mô hình kinh tế tuần hoàn, chiến lược của Nhật Bản và bài học – Phần III


Đứng trước thực trạng nền kinh tế Nhật Bản rơi vào quá trình giảm phát, Chính phủ Nhật Bản buộc phải tìm kiếm để chuyển đổi sang một mô hình mới là kinh tế tuần hoàn, đặt trọng tâm vào duy trì sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển bền vững hệ thống xã hội và hệ sinh thái tự nhiên Nói cách khác, đối với Nhật Bản thì nền kinh tế tuần hoàn là một giải pháp tích hợp nền kinh tế, công nghệ và xã hội, theo đó phát triển kinh tế là một yếu tố chi phối nhưng không tách rời khỏi sự hỗ trợ và bảo vệ của hệ thống các cơ quan nhà nước, các quy định pháp luật, các tiến bộ kỹ thuật và các yếu tố xã hội khác.

Thứ hai, do đặc điểm địa hình của Nhật Bản.

Nhật Bản có mật độ dân số cao và không gian bãi rác hạn chế, một phần là do địa hình đảo và núi lửa của quốc gia này. Điều này đã buộc Chính phủ Nhật Bản, vào đầu những năm 1950, phải tìm kiếm các giải pháp thay thế việc chôn lấp chất thải vào lòng đất. Tiếp theo vào những năm 1990, Chính phủ Nhật Bản gần như không thực hiện đốt cháy chất thải do những lo ngại về chất dioxin phát sinh có thể gây tác hại cho con người như phá hủy hệ miễn dịch, gây ra các vấn đề sinh sản và bệnh tật. Vậy nên hoạt động tái sử dụng nguyên liệu và sản phẩm cũ thay vì vất bỏ ra môi trường trong nền kinh tế tuần hoàn trở thành một biện pháp khả thi để giải quyết vấn đề đặc điểm địa hình của Nhật Bản.

Thứ ba, do sự thiếu hụt nguồn tài nguyên thiên nhiên của Nhật Bản.

Nhật Bản là quốc gia sản xuất công nghiệp lớn nhưng có nguồn tài nguyên khoáng sản trong nước rất hạn chế dẫn tới hầu hết các nguồn lực và nguyên liệu công nghiệp phải dựa vào nhập khẩu. Bởi vậy, việc chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn, trong đó, hoạt động tái chế và tái sử dụng được đặc biệt chú trọng trở thành nhu cầu cấp bách của quốc gia này. Việc phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn hỗ trợ cho Nhật Bản vượt qua được những hạn chế về nguồn lực, cải thiện việc sử dụng tài nguyên, giảm chi phí sản xuất để tiếp tục duy trì vị trí và tính cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước và quốc tế.

Cuối cùng, do bản thân văn hóa doanh nghiệp của Nhật Bản nhấn mạnh tới sự hợp tác giữa các thực thể trong nền kinh tế và dẫn tới kết quả là sự thống nhất cao trong các cấp chính quyền, doanh nghiệp và người dân trong việc xây dựng và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn cả về khung pháp lý cũng như các hoạt động cụ thể.

3.2/ Hệ thống pháp lý hỗ trợ chuyển đổi mô hình kinh tế tuần hoàn

Mô hình kinh tế tuần hoàn giảm bớt những vấn đề giữa môi trường và phát triển kinh tế đảm bảo sự thích ứng giữa các yêu cầu sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động kinh tế khác với những yêu cầu về bảo vệ môi trường và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật cơ bản thúc đẩy xây dựng xã hội định hướng tái chế và Bản kế hoạch cơ bản để thúc đẩy một xã hội định hướng tái chế làm cơ sở pháp lý cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn. Hai văn bản này và một số luật chuyên ngành quy định rõ các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và công dân,…cần thực hiện vai trò theo trách nhiệm và nghĩa vụ tương ứng của họ, phải hợp tác và thực hiện có hiệu quả các biện pháp khác nhau dựa trên nguyên tắc hợp lý và chia sẻ gánh nặng chi phí một cách công bằng trong chiến lược xây dựng nền kinh tế tuần hoàn.

Trách nhiệm của chính quyền trung ương Nhật Bản là hợp tác chặt chẽ với chính quyền địa phương, doanh nghiệp, các tổ chức và công dân để xây dựng các luật và quy định hoàn chỉnh và áp dụng các biện pháp hiệu quả và toàn diện để thúc đẩy việc thực hiện chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn. Đi đôi với những hoạt động này thì chính quyền trung ương cũng trực tiếp hỗ trợ các hoạt động để hình thành một xã hội định hướng tái chế và tái sử dụng thông qua tài trợ từ các nguồn quỹ do chính phủ quản lý, cung cấp các dịch vụ hành chính, dẫn đầu thực hiện các khoản mua sắm xanh và các hành động cụ thể khác để khuyến khích sự phát triển nền kinh tế tuần hoàn.

Các quy định của pháp luật đòi hỏi doanh nghiệp phải đóng một vai trò tích cực và quan trọng để thúc đẩy xây dựng nền kinh tế tuần hoàn. Doanh nghiệp cần xem xét đầy đủ các yếu tố  môi trường trong khi thiết kế và sản xuất sản phẩm, thực hiện các sáng kiến sinh thái trong quy trình sản xuất, sử dụng vật liệu tái tạo và tái chế, tập trung nỗ lực giảm nguồn gây ô nhiễm và kiểm soát chất gây ô nhiễm để cung cấp cho thị trường những sản phẩm có chất lượng cao và ít gây tác động tiêu cực tới môi trường. Đồng thời, doanh nghiệp cũng tận dụng những lợi thế về năng lực và công nghệ của mình để tái sử dụng tối đa nguồn rác thải công nghiệp nhằm tham gia vào quá trình xây dựng nền kinh tế tuần hoàn.

Các tổ chức xã hội cũng góp phần không nhỏ thúc đẩy quá trình xây dựng nền kinh tế tuần hoàn Các tổ chức này thực hiện vai trò cầu nối giữa chính quyền các cấp, doanh nghiệp và công chúng, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin tư vấn, hướng dẫn và đào tạo kỹ thuật… Cụ thể như các tổ chức này phối hợp với các doanh nghiệp trong việc phát triển công nghệ tái chế, thực hiện tư vấn thông tin và điều tra cho chính quyền các cấp, tiến hành các khóa đào tạo kỹ thuật cho doanh nghiệp, thực hiện các chiến dịch tuyên truyền công khai về quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn.

Người dân Nhật Bản cũng phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường. Những nỗ lực tuyên truyền, vận động cũng như các chính sách của Chính phủ đã góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân trong việc nỗ lực tham gia xây dựng một nền kinh tế tuần hoàn.

3.3/ Một số đặc điểm của mô hình kinh tế tuần hoàn tại Nhật Bản

a/ Xây dựng các chỉ số đo lường trong nền kinh tế tuần hoàn

Để đánh giá các nỗ lực của xã hội trong xây dựng và phát triển nền kinh tế tuần hoàn, Nhật Bản xây dựng ba chỉ số đo lường cấp quốc gia cơ bản. Cụ thể là chỉ số về tỷ lệ sử dụng hiệu quả tài nguyên tính trên GDP, chỉ số về tỷ lệ tái sử dụng vật liệu trên tổng số vật liệu được sử dụng trong nền kinh tế, và chỉ số đo lường số lượng rác thải cuối cùng được chôn lấp vào môi trường.

Bên cạnh các chỉ số quốc gia này, Nhật Bản còn bổ sung một loạt các chỉ số cụ thể theo từng ngành và đôi khi theo các mục tiêu cụ thể để sử dụng nhằm đánh giá các hoạt động kinh tế cơ bản trong nền kinh tế tuần hoàn. Ví dụ như các chỉ số về quy mô thị trường cho thuê và số lượng hàng hóa cho thuê, số lượng bao bì tái sử dụng được bán ra trên thị trường, mức phí thu gom rác thải ở các địa phương…

b/ Kết hợp hài hòa hoạt động của các ngành công nghiệp cơ bản và hỗ trợ

Tương tự như ý tưởng của Stahel và Reday-Mulvey (1981), một số học giả Nhật phân chia mô hình kinh tế tuần hoàn của quốc gia này thành hai nhóm ngành chính có tên gọi là “ngành công nghiệp cơ bản” và “ngành công nghiệp hỗ trợ”. Theo đó, nhóm thứ nhất bao gồm các ngành công nghiệp tham gia vào quá trình khai thác nguyên liệu thô để sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản phẩm và xả thải ra môi trường. Nhóm hành thứ hai, là nhóm ngành thực hiện thu gom, vận chuyển, phân hủy, tái chế và xử lý an toàn chất thải.

Như vậy, đối với ngành công nghiệp cơ bản thì nhiệm vụ đặt ra là xử lý vấn đề môi trường của ngành, cụ thể là tập trung giảm thiểu việc xả thải chất gây ô nhiễm ra môi trường thông qua phát triển các quy trình sản xuất sạch hơn nhằm cung cấp các sản phẩm thân thiện với môi trường hơn. Đối với ngành công nghiệp hỗ trợ thì nhiệm vụ trọng tâm là tập trung vào phát triển hoạt động xử lý chất thải và các doanh nghiệp chuyên tái chế và tái sử dụng. Việc kết hợp thực hiện cả hai nhiệm vụ chính của hia nhóm ngành nói trên sẽ tạo thành một giải pháp toàn diện cho Nhật Bản để có thể sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm bớt các vấn đề môi trường là hậu quả trực tiếp của quá trình khai thác, sản xuất, tiêu thụ và xả thải của nền kinh tế Nhật Bản.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng  số 14 – 7/2018.

Nợ, thâm hụt ngân sách và đồng dollar – Phần I


Định hướng chính sách… nên cam kết rằng chính sách tiền tệ sẽ không hất đổ chén rượu mà cho phép bữa tiệc kéo dài đến tận khuya nhằm đảm bảo rằng ai cũng vui vẻ.

Charles I. Plosser

Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang Philadelphia

Ngày 12 tháng 2 năm 2013

Việc áp dụng một mức thu nhập danh nghĩa… mục tiêu mà chỉ những ai xa lạ với cuộc tranh cãi về thiết kế của chính sách tiền tệ trong vài thập kỷ qua mới đánh giá là cách tân, mới mẻ. Chưa có ai nghĩ ra cách để ý tưởng này hiệu quả… Nói đúng hơn, một… mục tiêu sẽ được nhìn nhận như một cách hời hợt để che giấu mục đích thật là tăng lạm phát.

Charles Goodhart

Ngày 18 tháng 03 năm 2013

Ý nghĩa của tiền

Một dollar là gì? Câu hỏi này không dễ trả lời. Hầu hết mọi người sẽ trả lời rằng một dollar là tiền, thứ họ làm ra, chi tiêu hoặc tiết kiệm. Điều này lại đặt ra câu hỏi khác: Tiền là gì? Các chuyên gia trích dẫn lại định nghĩa của tiền gồm ba phần: một phương tiện trao đổi, một phương tiện tích trữ giá trị, và một đơn vị tính toán. Phần “đơn vị tính toán” (unit of account) trong định nghĩa rất hữu ích nhưng hầu như không quan trọng. Nắp chai có thể là một đơn vị tính toán, tương tự với những nút thắt trên một sợi dây. Một đơn vị tính toán chỉ đơn thuần là cách để thêm hoặc bớt giá trị nhận thức. Phương tiện trao đổi (medium of exchange) cũng đề cập gián tiếp đến giá trị vì mỗi bên tham gia vào cuộc trao đổi phải nhận thức được giá trị trong một đơn vị đang được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ. Hai trong ba phần của định nghĩa đều ám chỉ giá trị. Do đó, toàn bộ định nghĩa chuẩn có thể được quy về phần còn lại: phương tiện tích trữ giá trị (store of value).

Vậy nếu tiền là giá trị thì giá trị là gì? Tại điểm này, phân tích trở thành vấn đề triết học và đạo đức. Các giá trị có thể được nắm giữ bởi các cá nhân mà không chia sẻ trong phạm vi một nền văn hóa hoặc cộng đồng. Các giá trị có thể mang tính chủ quan (như các vấn đề đạo đức) hoặc tuyệt đối (như vấn đề tôn giáo). Các giá trị có thể xung đột khi các nhóm đối kháng hoặc gần gũi nhau có những giá trị khác xa nhau.

Mặc dù ý nghĩa của giá trị rất rộng nhưng vẫn có hai khía cạnh nổi bật. Thứ nhất là ý tưởng về một phép đo: rằng có một cách để do lường sự hiện diện, vắng mặt, hoặc mức độ của giá trị. Thứ hai là ý tưởng về lòng tin: rằng khi một người gán các giá trị cho một cá nhân hoặc một nhóm, anh ta tin tưởng rằng cá nhân hoặc nhóm đó sẽ hành động phù hợp với những giá trị đó. Lòng tin thể hiện hành vi nhất quán dưới dạng các hành động bao dung hoặc có đi có lại.

Một dollar là tiền, tiền là giá trị, và giá trị là lòng tin được trân trọng một cách kiên định. Khi một người mua một chai nước của Coca-Cola ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, anh ta tin tưởng rằng chai nước đó đang sử dụng công thức nguyên bản, và rằng chất nước bên trong không phải hàng giả; ở khía cạnh này, Coca-Cola không làm anh ta thất vọng. Đây là lòng tin được trân trọng một cách kiên định, có nghĩa là một chai Coca-Cola có giá trị.

Khi một khách hàng mua một chai Coca-Cola, anh ta đưa cho người bán một dollar. Đây không đơn thuần là hành động đổi chác, mà là một sự trao đổi giá trị. Nguồn gốc giá trị của đồng dollar ấy là gì? Làm thế nào mà nó được nâng tầm thành ví dụ của lòng tin được trân trọng một cách kiên định?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần đào sâu hơn. Đồng dollar, dù là ở dạng giấy hay dạng kỹ thuật số, cũng là một vật thể mang tính đại diện. Đồng dollar đại diện cho điều gì? Lòng tin đó dành cho ai? Khi lòng tin được yêu cầu, ta có thể áp dụng khẩu hiệu của Ronald Reagan: Cứ tin tưởng, nhưng hãy xác minh (Trust, but verify). Hệ thống Dự trữ Liên bang, thuộc sở hữu của các ngân hàng tư nhân, là tổ chức phát hành đồng dollar. FED đòi hỏi sự tin tưởng của chúng ta, nhưng làm thế nào để chúng ta có thể xác minh xem niềm tin đó có đang được trân trọng?

Trong một xã hội pháp quyền, cách thông thường để xác minh lòng tin là hợp đồng được thể hiện dưới dạng văn bản. Một sinh viên Luật năm thứ nhất trong lớp học về hợp đồng học ngay lập tức được cách để “giành được nó bằng câu chữ”. Các bên tham gia ký kết một hợp đồng sẽ viết ra rồi đọc rõ những niềm tin và sự kỳ vọng của mình. Giả sử cả hai bên đồng ý, hợp đồng được ký kết, và từ đó, hợp đồng này thể hiện lòng tin. Đôi khi, tranh cãi phát sinh về ý nghĩa của từ ngữ trong hợp đồng hoặc việc thực hiện các điều khoản của nó. Các quốc gia có tòa án để giải quyết những tranh chấp đó. Hệ thống hợp đồng, tòa án và các phán quyết được dẫn dắt bởi hiến pháp chính là cách thức vận hành của một xã hội pháp quyền.

Cục Dự trữ Liên bang làm thế nào để thích nghi với hệ thống này? Ở một mức độ nào đó, FED tuân thủ mô hình hợp đồng văn bản. Một người có thể bắt đầu bằng cách đọc không sót chữ nào trên tờ tiền dollar. Đó là nơi mà người ta tìm thấy hợp đồng tiền tệ bằng văn bản. Các bên tham gia hợp đồng này được hgi rõ là “Cục Dự trữ Liên bang” và “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ” thay mặt cho người dân.

Các hợp đồng một dollar có sự tham gia của từng ngân hàng trong số 12 ngân hàng dự trữ khu vực của FED. Một số những hợp đồng văn bản có sự tham gia của FED ở Dallas, một số khác do FED ở Philadelphia… Những mệnh giá lớn hơn như hợp đồng 20 USD thì có sự tham gia của “Hệ thống”. Tất cả những hợp đồng này được ký kết bởi một đại diện là Bộ trưởng Ngân khố Hoa Kỳ, thay mặt cho người dân.

Điều khoản quan trọng nhất trong hợp đồng dollar bằng văn bản xuất hiện trên góc trên cùng ở mặt trước của mỗi tờ tiền. Đó là cụm từ “Giấy nợ của Cục Dự trữ Liên bang” (Federal Reserve Note). Một tờ giấy nợ nghĩa là một nghĩa vụ, một hình thức vay nợ. Quả thực, đây chính là cách FED báo cáo lượng tiền phát hành ra thị trường trên bảng cân đối kế toán của mình. Các bảng cân đối kế toán thể hiện tài sản ở phía bên tay trái, nợ phải trả ở phía bên tay phải, và vốn, bằng tài sản trừ nợ phải trả, ở dưới cùng. Giấy nợ do FED phát hành được ghi nhận ở phía bên phải của bảng cân đối kế toán, như một khoản nợ phải trả, chính xác ở nơi mà người ta ghi nhận một khoản vay nợ.

Giấy nợ của FED là một hình thức vay nợ bất thường vì không chịu lãi suất và không có kỳ hạn. Có thể sử dụng lý thuyết hợp đồng để mô tả một dollar như một giấy nợ vĩnh viễn, không chịu lãi suất FED phát hành. Bất kỳ người đi vay nào cũng xác nhận rằng một khoản nợ không kỳ hạn và không lãi suất là khoản nợ lý tưởng nhất, vì người ta không bao giờ trả nợ, và cũng không phải chịu bất cứ chi phí gì. Tuy nhiên, nó vẫn là một món nợ.

Vì vậy, đồng dollar là tiền, tiền là giá trị, giá trị là lòng tin, lòng itn là một hợp đồng, và hợp đồng là nợ. Bằng cách áp dụng tính chất bắc cầu trong số học, đồng dollar là món nợ mà FED nợ người dân dưới hình thức hợp đồng. Có thể gọi cách nhìn này là lý thuyết hợp đồng về tiền bạc, hay chủ nghĩa hợp đồng (contractism). Khi áp dụng cho đồng dollar, một cách để hiểu được lý thuyết này là thay thế tất cả từ tiền (money) thành từ nợ (debt). Và thế giới trông sẽ rất khác, một thế giới ngập trong nợ nần.

Cách tiếp cận khái niệm tiền thông qua lăng kính của hợp đồng là một trong nhiều lý thuyết tiền tệ. Có sức ảnh hưởng lớn nhất trong số đó là lý thuyết lượng tiền (quantity theory of money), hay chủ nghĩa tiền tệ (monetarism), được Irving Fisher và Milton Friedman ủng hộ trong thế kỷ XX. Chủ nghĩa tiền tệ là một trong những cẩm nang mà FED áp dụng để tạo ra tiền, mặc dù công thức ban đầu mà Friedman ủng hộ không còn hợp thời nữa.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Mô hình kinh tế tuần hoàn, chiến lược của Nhật Bản và bài học – Phần II


2.2/ Các nguyên tắc cơ bản của kinh tế tuần hoàn

+ Nguyên tắc thứ nhất là thiết kế để tái sử dụng. Theo nguyên tắc này thì sẽ không tồn tại rác thải do các thành phần sinh học và hóa học trong sản phẩm được thiết kế theo cách thức có thể tái sử dụng trong một chu trình mới. Nói cách khác, có thể phân tách và/hoặc tái sử dụng các thành phần này. Trong mô hình kinh tế tuần hòa, chất thải từ các hệ thống sản xuất và tiêu thụ đều được tái sinh và sử dụng cho các mục đích khác. Các công ty có thể phục hồi các sản phẩm đã tới giai đoạn cuối của chu kỳ sử dụng để lấy hoặc tái sử dụng các nguyên liệu, năng lượng và hợp phần còn giá trị trong sản phẩm, hoặc họ cũng có thể tái chế rác thải và sử dụng các sản phẩm này vào trong quá trình sản xuất.

+ Nguyên tắc thứ hai là linh động nhờ đa dạng. Khả năng linh hoạt trong nền kinh tế tuần hoàn có được là nhờ sự đa dạng về các loại hình doanh nghiệp, các mô hình kinh doanh và các hệ thống sản xuất. Hơn nữa, bản thân các mạng lưới kinh doanh cũng có những mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau cũng như với nhiều nhà cung cấp và khách hàng khác nhau. Ví dụ như mối quan hệ giữa công ty với khách hàng cần thay đổi từ mối quan hệ đơn lẻ giữa các lần trao đổi/mua bán sang mối quan hệ dài lâu, trong đó, các công ty có thể thực hiện nâng cấp và thay đổi sản phẩm cũ dựa trên yêu cầu cụ thể của từng khách hàng. Về phần mình thì các hệ thống sản xuất cũng có sự kết nối nội bộ đa dạng với sức chịu đựng cao và linh động trước những tác động bất ngờ từ ngoại cảnh.

+ Nguyên tắc thứ ba là sử dụng năng lượng từ các nguồn vô tận. Với mục tiêu giảm bớt sự tiêu tốn tài nguyên thiên nhiên, nền kinh tế tuần hoàn chú trọng tới việc sử dụng những nguồn năng lượng mới luôn sẵn có như năng lượng tái chế hay sức lao động. Thường xuyên nghiên cứu để phát hiện những nguồn năng lượng mới thay thế cho nguồn năng lượng hóa thạch truyền thống là một trong những mục đích trong các hoạt động của nền kinh tế tuần hoàn.

+ Nguyên tắc thứ tư là tuần hoàn và chia sẻ. Nguyên tắc tuần hoàn cho rằng đối với các hệ thống sản xuất trong nền kinh tế tuần hoàn thì đầu ra ở một mắt xích trong cấu trúc này sẽ có tác động lên đầu vào tại chính mắt xích đó. Do đó, để tối ưu hóa hệ thống sản xuất, cần phải cân nhắc đến những mối quan hệ giữa những mắt xích trong hệ thống, hay nói cách khác đường đi của các nguyên liệu trong chu trình sản xuất. Tại nhiều cấp độ và quy mô khác nhau trong nền kinh tế tuần hoàn, các hệ thống sản xuất có tác động lẫn nhau làm phát sinh mối quan hệ phụ thuộc và tạo nên những vòng lặp phản hồi gia tăng tính linh động của nền kinh tế. Nguyên tắc chia sẻ trong nền kinh tế tuần hoàn có được nhờ sự hỗ trợ ngày càng hiệu quả của các công nghệ, kỹ thuật mới ra đời, kiến tạo nên các mối quan hệ và cơ hội kinh doanh mới cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô nhỏ) để họ có thể cho thuê, chia sẻ, trao đổi hay cho mượn những đồ dùng họ sở hữu nhưng ít sử dụng. Với nguyên tắc này thì việc sản xuất các sản phẩm thường dùng sẽ tốn ít nguồn lực hơn và người tiêu dùng lại có thêm cơ hội kiếm thêm thu nhập và tiết kiệm tiền.

+ Nguyên tắc thứ năm là nền tảng sinh học. Trong nền kinh tế tuần hoàn, có nhiều hàng hóa tiêu dùng được tạo nên từ các nguyên liệu sinh học và các thành phần sinh học này được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Đặc biệt đối với những công ty sử dụng các nguồn nguyên liệu hiếm hoặc gây hại cho môi trường, thường phải trả tiền nhiều hơn để mua những nguyên liệu này hay phải tìm các nguồn nguyên liệu thay thế có thể tái chế, tái sử dụng hoặc được phân hủy bằng con đường sinh học. Việc sử dụng các nguyên liệu này trong các chu kỳ tiếp nối nhau không ngừng sẽ hỗ trợ làm giảm chi phí, củng cố khả năng kiểm soát nguồn nguyên liệu cho các doanh nghiệp, đồng thời giảm bớt những tác động bất lợi cho môi trường. Ví dụ một công ty sản xuất sinh chất tái chế sử dụng cây lanh và gai dầu để tạo ra sợi có chất lượng tốt tương đương sợi bông mà không gây tác động tới môi trường.

2.3/ Nguyên nhân chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn

Các quốc gia trên thế giới thực hiện chuyển đổi mô hình sang kinh tế tuần hoàn do nhiều nguyên nhân cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, có ba nguyên nhân liên quan tới môi trường hỗ trợ lý giải sự cần thiết phải xây dựng và chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn.

Thứ nhất, sự thiếu hiệu quả của hệ thống tái chế hiện hành. Ví dụ trong lĩnh vực sản xuất điện thoại di động hiện nay, mới chỉ có 17 trong số 40 chi tiết có thể tái sử dụng toàn bộ, số chi tiết còn lại không thể tái sử dụng, ngay cả khi được đưa vào xử lý trong các máy tái chế tốt nhất (Scott, 2014).

Thứ hai, gánh nặng của những vấn đề môi trường đang chuyển dần từ phía người sử dụng sang nhà sản xuất. Ví dụ như khoảng 75% lượng khí thải carbon từ máy tính xách tay, máy tính bảng và điện thoại thông minh phát sinh trong quá trình sản xuất, chứ không phải khi sử dụng. Điều này có nghĩa là lượng khí thải đã bị đưa ra môi trường trước khi những sản phẩm được bán ra thị trường. Một ví dụ khác là lượng khí thải carbon để sản xuất ra xe điện gần như lớn gấp đôi so với sản xuất xe thường mặc dù lượng phát thải toàn phần của xe điện là ít hơn (Hawkins và cộng sự, 2013). Điều này có nghĩa là việc kéo dài vòng đời của sản phẩm hoặc phục hồi hay tái sử dụng sản phẩm là cách thức tốt nhất để giảm các tác động tiêu cực của quá trình sản xuất tới môi trường.

Thứ ba, việc giảm bớt sử dụng nguyên liệu thô có thể làm giảm đáng kể lượng khí thải và tác động tiêu cực tới môi trường của hoạt động khai thác mỏ và tinh luyện. Ngoài ra, lượng khí phát thải của quá trình tinh luyện cũng ít hơn là quá trình khai thác, ví dụ lượng khí thải carbon thải ra môi trường khi tinh luyện nhôm chỉ tương đương 1/10 khi khai thác quặng nhôm. Như vậy, tái sử dụng hoặc tái chế sẽ góp phần giảm bớt các thảm họa môi trường có thể phát sinh do úa trình khai thác nguyên liệu thô. Ví dụ như trường hợp hồ chứa chất thải của khu mỏ khai thác nhôm ở Hungary bị vỡ đã gây úng lụt cho các khu dân cư gần đó cũng như phá hủy nghiêm trọng hệ sinh thái của dòng sông Marcal gần đó (BBC News Europe, 2010).

Mặc dù nền kinh tế tuần hoàn đem lại nhiều lợi thế đặc biệt trong dài hạn, tuy nhiên, những quốc gia theo đuổi mô hình này vẫn vấp phải một loạt các khó khăn. Do đó, việc phân tích kinh nghiệm của Nhật Bản khi chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn có thể là một minh họa hữu ích cho những quốc gia có chiến lược phát triển mô hình kinh tế này.

3/ Chiến lược phát triển mô hình kinh tế tuần hòa tại Nhật Bản

3.1/ Nguyên nhân chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn

Nhật Bản bắt đầu xây dựng mô hình kinh tế tuần hòa từ những năm 80 của thế kỷ trước và là một trong những quốc gia đầu tiên theo đuổi mô hình kinh tế này. Trong quá trình kiến tạo nền kinh tế tuần hoàn, Nhật Bản đã đạt được những kết quả khả quan, ngay cả khi so sánh các nước OECD khác. Cụ thể như tỷ lệ tái chế sản phẩm của Nhật Bản là cao trong số các quốc gia OECD, ví dụ như Nhật Bản tái chế 98% kim loại (Bộ Môi trường, 2010) và chỉ có 5% chất thải của Nhật Bản là bị chôn xuống đất trong khi tỷ lệ này là 48% ở Anh. Các luật liên quan tới hoạt động tái chế của Nhật Bản đảm bảo rằng phần lớn các sản phẩm điện và điện tử được tái chế trong khi tỷ lệ này chỉ là 30 – 40% ở châu Âu (WEEE Forum, 2012). Hơn nữa, đối với các sản phẩm điện và điện tử này của Nhật Bản thì có tới 74 – 89% nguyên liệu được thu hồi và được tái sử dụng để sản xuất cùng loại sản phẩm (Panasonic, 2015). Quy trình sản xuất mà Nhật Bản áp dụng đã tạo nên một vòng tròn khép kín là cơ sở của một nền kinh tế tuần hoàn thực sự. Ngoài những nguyên nhân chung đã phân tích ở phần trên thì có một số nguyên nhân đặc thù lý giải cho chiến lược chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản cụ thể như sau:

Thứ nhất, do Nhật Bản phải khắc phục hậu quả của chiến lược tăng trưởng tối đa.

Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, để nhanh chóng khôi phục nền kinh tế bị tàn phá do chiến tranh và bắt kịp với các quốc gia phương Tây, Nhật Bản đã áp dụng mô hình kinh tế mà tất cả mọi hoạt động đều hướng tới hỗ trợ và phục vụ mục tiêu tăng trưởng tối đa của nền kinh tế. Nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp hàng đầu của đất nước, đều áp dụng chính sách “ưu tiên hàng đầu cho sản xuất” để thực hiện chiến lược sản xuất đại trà và tiêu thụ sản phẩm hàng loạt nhằm giảm tối đa chi phí sản xuất tính trên một đơn vị sản phẩm. Chính sách này đã giúp Nhật Bản nhanh chóng hoàn thành quá trình hiện đại hóa nền công nghiệp trong nước, đồng thời, cũng chiếm lĩnh được vị trí hàng đầu trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, chiến lược tập trung vào sản xuất và phát triển kinh tế đã làm tăng lượng khí thải, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, làm trầm trọng thêm những vấn đề xã hội cũng như sự mất cân bằng giữa môi trường sinh thái và phát triển kinh tế của Nhật Bản. Hậu quả của quá trình này là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản xuất hiện xu hướng giảm.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng  số 14 – 7/2018.

Mô hình kinh tế tuần hoàn, chiến lược của Nhật Bản và bài học – Phần I


TS. Trần Thị Vân Anh

Mô hình tuần hoàn là mô hình kinh tế, trong đó, các hoạt động thiết kế, sản xuất và dịch vụ luôn đặt ra mục tiêu là kéo dài tuổi thọ của vật chất và loại bỏ tác động tiêu cực đến môi trường. Bài viết trình bày khái quát mô hình kinh tế tuần hoàn, đặc biệt là phân tích những đặc điểm trong chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản; đồng thời đề xuất một số hàm ý cần cân nhắc khi theo đuổi mô hình kinh tế này.

1/ Đặt vấn đề

Trong 17 mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu do 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc thông qua vào năm 2015 thì có đến 2/3 số mục tiêu liên quan đến môi trường, cho thấy vấn đề này đã thực sự trở nên cấp thiết trên toàn thế giới. Lời giải cho bài toán làm thế nào để sự phát triển ngày hôm nay không ảnh hưởng đến thế hệ mai sau đòi hỏi sự chung tay phối hợp của Chính phủ, các tổ chức phát triển, doanh nghiệp và toàn thể cộng đồng.

Những cải tiến công nghệ khiến cuộc sống của con người tiện lợi và gọn nhẹ bao nhiêu thì môi trường thiên nhiên lại bị tàn phá và ô nhiễm bấy nhiêu. Những việc làm tưởng chừng như “bình thường” của con người lại dẫn đến những tác hại khôn lường như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và trực tiếp làm chúng ta phải trả giá khi khắc phục hậu quả của những hiện tượng như nước biển dâng cao gây sạt lở, mất đất, cạn kiệt tài nguyên. Theo Cairns và cộng sự (2018) thì nếu tiếp tục sử dụng mô hình sản xuất và tiêu thụ không bền vững như hiện tại thì tới năm 2050, chúng ta sẽ phải cần tới 400% lượng tài nguyên thiên nhiên vốn có của trái đất. Những tác động bất lợi của nền kinh tế nâu hiện nay sẽ làm tổn hại cho nền kinh tế toàn cầu khoảng 4,5 nghìn tỷ USD vào năm 2030 và khoảng 25 nghìn tỷ USD vào năm 2050. Thực tế cho thấy, nếu các quốc gia tiếp tục theo đuổi mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống mà ở đó, tài nguyên bị khai thác, sử dụng để sản xuất hàng hóa và vứt bỏ sau sử dụng thì thế giới sẽ phải đối mặt với hàng loạt mối nguy về kinh tế, xã hội, môi trường. Bởi vậy, nhiều quốc gia trên thế giới đang thực hiện chuyển đổi sang một mô hình kinh tế mới là kinh tế tuần hoàn.

Vào những năm gần đây, mô hình kinh tế tuần hoàn là chủ đề thảo luận trong chương trình nghị sự của nhiều chính phủ, đặcbiệt là các quốc gia châu Âu do những lợi ích mà mô hình này đem lại. Theo đánh giá của Ủy ban châu Âu (EC, 2014a, b, 2015), áp dụng mô hình kinh tế này dự kiến sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của khu vực do việc thành lập các doanh nghiệp mới sẽ tạo ra những cơ hội việc làm mới, tiết kiệm được chi phí nguyên vật liệu, giảm bớt được biến động giá cả, cải thiện tình hình cung cấp sản phẩm, đồng thời giảm bớt những áp lực và tác động tiêu cực tới môi trường. Theo các nghiên cứu của Ủy ban châu Âu thì việc thiết kế các sản phẩm sinh thái, áp dụng công nghệ giảm bớt chất thải và tái sử dụng nguyên liệu và sản phẩm cũ có thể mang lại cho các doanh nghiệp EU khoản tiết kiệm ròng lên đến 600 tỷ EUR, đồng thời còn có tác động làm giảm lượng phát thải khí nhà kính. Hơn nữa, nếu áp dụng các biện pháp hỗ trợ để tăng thêm tỷ lệ sử dụng hiệu quả tài nguyên lên tới 30% vào năm 2030 thì có thể làm tăng GDP của khu vực lên gần 1% cũng như tạo thêm 2 triệu việc làm mới (EC, 2014a).

Triển khai kinh tế tuần hoàn ở Anh ước tính có thể tạo ra 50.000 việc làm mới và 12 tỷ euro đầu tư (EMF, 2013), trong khi ở Hà Lan thì lợi ích tiềm năng của kinh tế tuần hoàn được ước tính lên tới 7,3 tỷ euro mỗi năm về giá trị thị trường, tạo ra 54.000 việc làm và nhiều ảnh hưởng tích cực khác cho môi trường. Xuất phát từ những lợi ích to lớn của kinh tế tuần hoàn trong những năm vừa qua, Ủy ban châu Âu (EC) và các quốc gia thành viên đã tiến hành hàng loạt các chương trình nghị sự, ban hành nhiều chính sách và chiến lược đầu tư, ví dụ như Kế hoạch hành động thúc đẩy kinh tế tuần hoàn (EC, 2015b) với mục đích chung là hỗ trợ phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn tại khu vực này.

Tại châu Á, Nhật Bản là quốc gia đi tiên phong trong việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn và đã đạt được nhiều thành tựu khả quan. Vậy thế nào là mô hình kinh tế tuần hoàn và kinh nghiệm của Nhật Bản có thể cho chúng ta những hàm ý chính sách hữu ích như thế nào?

2/ Mô hình kinh tế tuần hoàn

2.1/ Khái niệm kinh tế tuần hoàn

Nhà kinh tế học người Mỹ Kenneth Boulding lần đầu tiên đề xuất khái niệm “tuần hoàn” trong học thuyết kinh tế vũ trụ của mình vào năm 1965. Một trong những nghiên cứu sớm nhất liên quan tới khái niệm kinh tế tuần hoàn là báo cáo của (Stahel, W.R., Reday-Mulvey, G., 1981) xuất phát từ thực tiễn là vào đầu thập kỷ 1970, khi giá năng lượng và tỉ lệ thất nghiệp đều tăng cao thì để tân trang các tòa nhà cần nhiều lao động và ít nguồn lực hơn so với việc xây mới. Stahel và Reday-Mulvey cho rằng, nguyên tắc này có thể mở rộng và đúng với bất kỳ hình thức sản phẩm hay dịch vụ nào và do đó, có thể trở thành nguyên tắc chung để xây dựng một mô hình kinh tế mới là kinh tế tuần hoàn.

Kinh tế tuần hoàn có thể hiểu là một mô hình kinh tế, trong đó, các hoạt động thiết kế, sản xuất và dịch vụ luôn đặt ra mục tiêu là kéo dài tuổi thọ của vật chất và loại bỏ tác động tiêu cực đến môi trường. Điều này có thể hiểu là nền kinh tế tuần hoàn sẽ biến những sản phẩm và dịch vụ đang ở cuối vòng đời phục vụ của mình trở thành nguồn lực đầu vào cho những sản phẩm và dịch vụ khác, lấp đầy khoảng trống trong các hệ sinh thái công nghiệp và giảm thiểu lượng rác thải ra môi trường.

Nếu như mô hình kinh tế tuyến tính hay kinh tế nâu truyền thống chỉ quan tâm đến việc khai thác tài nguyên để sử dụng cho quá trình sản xuất và vứt bỏ sản phẩm sau tiêu thụ, dẫn đến việc tạo ra một lượng phế thải khổng lồ thì mô hình kinh tế tuần hoàn chú trọng tới quản lý và tái tạo tài nguyên theo một vòng khép kín nhằm tránh tạo ra phế thải. Việc tận dụng tài nguyên được thực hiện bằng nhiều hình thức như sửa chữa, tái sử dụng, tái chế và thay vì sở hữu vật chất thì hướng đến chia sẻ hoặc cho thuê. Hay nói cách khác, mô hình kinh tế tuần hoàn tái sử dụng những gì có thể, tái chế những gì không thể tái sử dụng, sửa chữa những gì hỏng hóc, tái sản xuất những gì không thể sửa chữa.

Theo Stahel và Reday-Mulvey (1981), trong mô hình kinh tế tuần hoàn, hoạt động kinh doanh được chia thành hai nhóm là (i) nhóm thúc đẩy và tái sử dụng và kéo dài thời gian sử dụng thông qua sửa chữa, tái sản xuất, nâng cấp, cải tiến; và (ii) nhóm biến sản phẩm cũ thành các nguồn lực “như mới” bằng cách tái chế các nguyên vật liệu. Trong mô hình kinh tế tuần hoàn, người chủ sở hữu trở thành người quản lý và người tiêu dùng trở thành người sử dụng và người sáng tạo.

Tiếp theo, Stahel (2010) phân loại nền kinh tế thành ba loại hình là kinh tế tuyến tính, kinh tế tuần hoàn và kinh tế hiệu quả với những đặc trưng cụ thể như sau:

Thứ nhất, nền kinh tế tuyến tính. Nền kinh tế này hoạt động theo nguyên tắc dòng chảy, nghĩa là, biến các nguồn tài nguyên thiên nhiên thành các vận liệu và sản phẩm thông qua các quy trình sản xuất tạo ra giá trị gia tăng. Các vật liệu và sản phẩm này được bán ra thị trường theo nguyên tắc càng bán được nhiều thì càng tốt. Điều này dẫn tới sự hoang phí các nguồn tài nguyên khi nhu cầu trên thị trường bão hòa.

Thứ hai, nền kinh tế tuần hoàn. Khác với nền kinh tế tuyến tính, nền kinh tế tuần hoàn vận hành giống như một chiếc đồng hồ, trong đó việc tái xử lý nguyên vật liệu và sản phẩm cũ sẽ tạo ra công ăn việc làm, tiết kiệm năng lượng, đồng thời làm giảm mức tiêu thụ nguồn lực và lượng rác thải ra môi trường. Ví dụ như làm sạch một chai thủy tinh rồi sử dụng tiếp thị nhanh và rẻ hơn là tái chế thủy tinh hay sản xuất ra một cái chai thủy tinh mới từ quặng. Hoặc thay vì bị bỏ đi thì những đồ đạc cũ có thể được thu gom lại và bán ở mức giá cao nhất cho ai có nhu cầu.

Thứ ba, nền kinh tế hiệu quả. Đây là mô hình kinh tế phát triển hơn nữa do tối đa hóa hiệu quả những hoạt động kinh tế thông thường. Ví dụ việc bán hàng hóa trở thành một loại dịch vụ thông qua các mô hình kinh doanh cho thuê, cho mượn hay sử dụng chung. Trong trường hợp này, nhà sản xuất vẫn giữ quyền sở hữu sản phẩm cùng các nguồn lực tượng trưng của sản phẩm đó và cũng là người chịu trách nhiệm về chi phí liên quan đến những rủi ro khi sử dụng sản phẩm cũng như vứt bỏ sản phẩm khi cần thiết. Thiết kế và tái sử dụng sản phẩm, tìm kiếm và áp dụng giải pháp sử dụng tối ưu sản phẩm và dịch vụ nhằm tối đa hóa lợi nhuận là những mục tiêu cơ bản của nền kinh tế hiệu quả.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng  số 14 – 7/2018.

Lý do đồng bitcoin tăng giá


Nhật báo Pháp La Tribune số ra ngày 22/02/21 đăng bài viết về đồng tiền kỹ thuật số Bitcoin của Yann Le Floch, chuyên gia tư vấn của ngân hàng Maslow Capital Partners – chuyên cung cấp các dịch vụ tư vấn đầu tư choc ác công ty công nghệ và truyền thông. Theo tác giả bài viết, sự xuất hiện của đồng tiền kỹ thuật số Bitcoin và hệ sinh thái tài sản kỹ thuật số liên quan đôi khi có thể được tranh luận trong xã hội, đặc biệt là trong giới kinh tế và tài chính. Về câu hỏi Bitcoin có phải là một loại tiền tệ không, những người ủng hộ hệ sinh thái này khẳng định là “có”, trong hi những người gièm pha trả lời là “không”. Liệu có thể thừa nhận rằng xét trên góc độ phân tích khác nhau, cả hai luồng ý kiến trên đều có lý?

Tiền hay không phải là tiền?

Tiền được định nghĩa một cách truyền thống như một phương tiện trao đổi, một kho lưu trữ giá trị và một đơn vị tài khoản, một định nghĩa thường gắn liền với nhà triết học Aristote.

Bitcoin có phải là phương tiện trao đổi không?

Điều này là chắc chắn khi bạn hoạt động trong hệ sinh thái doanh nghiệp kỹ thuật số. Chẳng hạn, một giám đốc doanh nghiệp trả lương cho đội ngũ các nhân viên phát triển thị trường ở Pakistan bằng Bitcoin, và nhóm các nhân viên này lại do các trưởng dự án ở Argentina quản lý, các trưởng dự án cũng được trả lương bằng Bitcoin xứng đáng với công việc. Tương tự, một Pháp kiều ở Venezuela, Liban hay Mali sẽ đặtmua trực tuyến các mặt hàng hoặc sản phẩm công nghệ khác nhau và thanh toán bằng Bitcoin, thay vì bằng nội tệ hoặc đồng USD, và tiếp nhận hàng hóa thông qua các dịch vụ chuyển phát quốc tế. Đây là một xu hướng đang bắt đầu được củng cố ở một số nền kinh tế. Chưa kể các dịch vụ chuyển tiền trực tuyến toàn cầu, cho phép chuyển tiền cho bạn bè, gia đình ở bất cứ nơi nào có kết nối Internet và với mức chi phí không thể cạnh tranh hơn. Nền kinh tế kỹ thuật số và hơn thế nữa hiện đã hoàn toàn chấp nhận việc sử dụng Bitcoin như một phương tiện thanh toán và như một công cụ để trao đổi hàng hóa và dịch vụ.

Bitcoin có phải là một đồng tiền dự trữ?

Có thể đúng, đặc biệt khi giá trị của nó tăng mạnh và các loại hình dự trữ tài chính truyền thống, như sổ tiết kiệm, bảo hiểm nhân thọ, quỹ tiết kiệm, bị mất giá trị, đặc biệt do lạm phát, phí quản lý và đôi khi là các tình huống tài chính dưới mức tối ưu. Bitcoin là một loại hình dự trữ dễ thay đổi, nhưng trong trung và dài hạn, đồng tiền này đã được chứng minh là một loại hình dự trữ tài chính thực sự.

Bitcoin có phải là một đơn vị tài khoản không?

Không trực tiếp, sự biến động của Bitcoin khá lớn, mặc dù trong những năm qua, có thể giá “vàng kỹ thuật số” ổn định để trở thành “bản vị vàng kỹ thuật số”. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng cùng với việc sử dụng cái gọi là đồng tiền xanh ổn định được gắn với đồng USD (như các loại tiền ảo Tether, DAI, USD Coin, Paxos), việc hạch toán tiền điện tử ngày nay hoàn toàn có thể thực hiện được trong hệ sinh thái tiền tệ kỹ thuật số.

Do vậy, Bitcoin và hệ sinh thái tiền điện tử xuất hiện ngày càng được củng cố, và thể hiện những đặc trưng mạnh mẽ của một loại tiền tệ ngày càng được sử dụng phổ biến mà người ta khó có thể phủ nhận đặc tính hoàn hảo của nó trong trung hạn.

Mô hình của niềm tin…

Trong hơn 10 năm, Bitcoin và hệ sinh thái tài sản kỹ thuật số đã có thể tạo ra một không gian kinh tế và tài chính trị giá khoảng 1000 tỷ USD, tương đưng với sức mạnh tiền tệ của một nước. Vậy điều gì có thể thúc đẩy để tạo ra trogn 10 năm một kiến trúc kinh tế và tài chính như vậy, niềm tin vào một tài sản kinh tế và tài chính, Bitcoin, và rất nhiều loại tiền điện tử khác được tạo ra tiếp theo như Ethereum, Polkadot…

Khái niệm “niềm tin” trong nền kinh tế là một khái niệm cơ bản, đôi khi có phần trừu tượng. Chúng ta thường nghe thấy các phương tiện truyền thông nhắc đến như “niềm tin sẽ trở lại”, “cần bảo vệ niềm tin”, “niềm tin trong nền kinh tế”, “cần phải có niềm tin”.

Tại sao lại nói về niềm tin, và hơn nữa là ai tin vào ai và tin vào cái gì? Từ quan điểm của một công dân, chúng ta nghe thấy theo thuật ngữ niềm tin này có nghĩa là ngày mai sẽ tốt hơn theo một triết lý cổ điển về tăng trưởng kinh tế, về chi tiêu cho các mục đích sử dụng hiện tại và các cam kết tài chính, về việc duy trì một việc làm hay việc trả thù lao cho một hoạt động kinh tế, về việc duy trì hoặc phát triển các hoạt động của một doanh nghiệp hay một người sử dụng lao động. Nói tóm lại, ẩn sau khẩu hiệu “hãy có niềm tin” là khẩu hiệu “đừng sợ”, lời hứa về một nền kinh tế tốt đẹp hơn được gửi đến chúng ta trong cái gọi là “niềm tin”.

Từ quan điểm kinh tế vĩ mô, từ quan điểm mang tính hệ thống, niềm tin có thể được hình dung như thế nào? Chúng ta đang số trong một hành tinh với những của cải thô và của cải được chuyển hóa thông qua lao động của con người, thể chất, trí tuệ và công nghệ. Như vậy, ở cấp độ kinh tế vĩ mô, hiện tồn tại một dạng trung gian giữa của cải thô, cũng như của cải được tạo ra bởi bàn tay và khối óc của con người, và một lượng tiền tệ mà chúng ta sở hữu một phần nhỏ của cải này trên toàn thế giới.

Hệ thống kinh tế vĩ mô có thể được nhìn nhận như một cỗ máy làm ra của cải thô và của cải đã chuyển hóa, đồng thời tạo ra tiền đề quản lý trực tiếp và gián tiếp, thông qua các hợp đồng quản lý tài sản, các phương tiện đảm bảo sự trao đổi, phân chia, chuyển hóa của cải được làm ra.

Như vậy, các ngân hàng trung ương thường xuyên tạo ra tiền, buộc bộ máy kinh tế tạo ra nhiều của cải hơn để đảm bảo rằng đơn vị tiền tệ sẽ được giữ nguyên giá trị của nó, cho phép tạo ra sự cân bằng mà hệ thống kinh tế vĩ mô, mà các ngân hàng trung ương và các ngân hàng là những bên bảo đảm.

Như vậy, niềm tin vào một thế giới tốt đẹp hơn theo nghĩa kinh tế và vật chất xuất hiện, ngày mai chúng ta sẽ có nhiều của cải hơn, chúng ta sẽ sống tốt hơn, giá trị của cải của chúng ta sẽ được đánh giá theo cùng một cách từ quan điểm tài chính, trong đó tài sản được cho là phản ánh của sự giàu có về kinh tế.

Theo truyền thống, niềm tin này, cái mà một số người ngày nay gọi là “thị trường của những lời hứa” được thể hiện bằng niềm tin rằng nền kinh tế sẽ tăng trưởng tốt nhất. Như vậy, công việc sẽ mang lại thu nhập tốt hơn, và người ta sẽ đầu tư đầy đủ cho bản thân, bất động sản sẽ có giá hơn nên họ đầu tư, trong tương lai, những khoản tiết kiệm sẽ cho phép họ có cuộc sống tốt hơn, nên họ tích lũy tiền. Logic này là một trong những bản chất của chủ nghĩa tư bản theo quan điểm kinh tế vĩ mô. Nếu các trò chơi kinh tế và tài chính có thể được quản lý một cách cân bằng, thì logic này sẽ tồn tại trong tâm trí mỗi chúng ta. Người ta làm kinh tế và đầu tư cho bản thân, và đầu tư để có cuộc sống tốt đẹp hơn. Và khái niệm này có thể gọi là niềm tin, niềm tin đối với bản thân họ và các thế hệ sau này.

Những gì chúng ta đang quan sát được thông tin Bitcoin, để quay lại với nó sau lần suy thoái này, là sự nổi lên của một hệ thống tài chính (một phần mang tính kinh tế) đang tìm kiếm niềm tin mới bằng cách tạo ra vốn mới, tiền tiện lợi. Và đó chính là về sự xuất hiện của các công nghệ sổ cái phân tán (DLT) cho phép thực hiện trải nghiệm tiền tệ, tài chính và kinh tế. Các công nghệ này có thể tạo ra vốn, của cải và niềm tin. Và đây có lẽ chỉ là sự khởi đầu của một hiện tượng cơ bản cho lịch sử kinh tế và tài chính.

Trong lịch sử, con người đã khai thác, đô hộ, tiến hành chiến tranh, để sở hữu vàng, thứ đảm bảo sự giàu có về kinh tế và tài chính. Sau đó, một nền kinh tế tiền tệ và tài chính dựa trên đồng tiền giấy đã xuất hiện. Phương Tây trở thành một khu vực giàu có so với các khu vực khác, đặc biệt nhờ khả năng dự trữ vàng, đôi khi một cách thiếu nhân đạo.

Trong những thế kỷ gần đây, chúng ta có thể quan sát thấy sự chuyển đổi dần dần, từ vốn dựa trên tài sản bằng vàng sang vốn dựa trên tài sản bằng tiền giấy, mà thường dựa vào tài sản tự nhiên, công nghiệp, công nghệ và tài chính với những hiệu ứng đòn bẩy mạnh mẽ. Ngày nay, chúng ta có thể quan sát thấy niềm tin vào vốn bằng tiền giấy có viễn cảnh được phục hồi, để từ đó có thể sẽ dẫn đến việc tìm kiếm các hình thức vốn mới, vốn kỹ thuật số.

Lịch sử hậu Chiến tranh thế giới thứ hai gần đây đã chứng kiến xuất hiện thời kỳ củng cố tư bản trong lĩnh vực tài chính, với các hoạt động mua bán và sáp nhập, và trao đổi vốn ở cấp độ quốc tế với các thị trường tài chính. Việc tạo nguồn vốn là một hiện tượng phức tạp nhưng có thể xảy ra, giống như giai đoạn đầu phát triển Bitcoin và các loại tiền điện tử hiện nay, thông qua các yếu tố công nghệ, tiếp thị, đầu tư vào lợi thế thương mại tài chính, vào khả năng tạo ra phản ứng dây chuyền của niềm tin.

Việc tạo nguồn vốn phải tạo dựng được niềm tin, tức một hứa hẹn rằng mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn vào ngày mai dưới góc độ kinh tế và tài chính. Niềm tin vào lợi thế thương mại tài chính của tư bản có thể được xem như là chuỗi Ponzi, mà theo một số người, điều này có lẽ đúng một phần. Thị trường tài chính có chức năng tạo vốn sẽ ra sao khi bị các doanh nghiệp lớn, các ngân hàng thâu tóm và khi các mạng lưới quyền lực cho phép họ làm như vậy?

Nguồn: TLTKĐB – 02/03/2021.

Mục đích đồng tiền kỹ thuật số của Trung Quốc – Phần cuối


Các bản tin trên phương tiện truyền thông nhà nước cũng nhấn mạnh một tính năng giúp đồng NDT kỹ thuật số trở nên linh hoạt như tiền mặt: khả năng thanh toán ngoại tuyến. Khi không có kết nối Internet, người dùng vẫn có thể chuyển tiền giữa hai thiết bị ngoại tuyến bằng cách sử dụng cái mà phương tiện truyền thông nhà nước gọi là “công nghệ ngoại tuyến kép”.

Các nhà phân tích cho biết tính năng này liên quan đến việc sử dụng một công nghệ truyền thông tầm gần tương tự như Bluetooth. Vẫn chưa rõ mức độ tin cậy của các hệ thống như vậy, hay nói chung là đồng NDT kỹ thuật số, nhưng Mục Trường Xuân, Viện trưởng Viện nghiên cứu đồng tiền số của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, cho biết công nghệ ngoại tuyến kép đã tương đối thành công.

Trung Quốc coi hệ thống ngân hàng tập trung của mình là công cụ quan trọng mang lại sức mạnh kinh tế cho đảng và nhà nước. Bất cứ khi nào quyền kiểm soát của họ bị đe dọa, như đã từng xảy ra trước sự phát triển nở rộ của mô hình cho vay ngang hàng tự do năm 2016, các nhà chức trách sẽ quyết liệt ra tay để khẳng định lại uy thế của mình. Hiện chỉ có 29 trong số khoảng 6000 công ty cho vay ngang hàng còn tồn tại sau chiến dịch thanh lọc của Bắc Kinh. Tương tự, một nhóm ngân hàng đầy quyền lực thuộc sở hữu nhà nước của Trung Quốc cũng coi thành công bất thường của Ant Group, trước khi đợt chào bán cổ phiếu của tập đoàn này bị hủy, là một mối đe dọa.

Mặc dù hệ thống thanh toán bằng đồng NDT kỹ thuật số rõ ràng được thiết kế để hoạt động độc lập với Alipay và WeChat Pay nhưng theo các nhà phân tích, hai nền tảng thanh toán tư nhân trên có khả năng cũng sẽ được sử dụng các giao dịch bằng loại tiền tệ này. Do đó, các nền tảng tư nhân vẫn sẽ được tận dụng trong một thời gian để thúc đẩy đồng NDT kỹ thuật số.

Trâu Truyền Vĩ, chuyên gia về tiền kỹ thuật số của tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận Wanxiang Blockchain ở Thượng Hải cho biết: “Việc thị phần của đồng NDT kỹ thuật số tăng lên sẽ gây tổn thất cho WeChat Pay và Alipay”. Ông cho biết thêm: “Chính phủ đang thắt chặt kiểm soát đối với các tập đoàn công nghệ tài chính, và việc đồng tiền số thay thế Alipay và WeChat Pay sẽ gây thiệt hại cho hoạt động cho vay tiêu dùng của các công ty này.

Công cụ kiểm soát

Sau 15 thế kỷ “kể từ khi Trung Quốc phát minh ra tiền giấy, bản chất của tiền tệ cơ bản đã thay đổi. Dưới thời Đường (618 – 907), tiền giấy không khác nhiều so với giấy ghi nợ và được gọi là “đồng tiền bay” bởi không như tiền kim loại, nó dễ bị thổi bay.

Tuy nhiên, sự xuất hiện của đồng NDT kỹ thuật số là một bước thay đổi. Đó không chỉ là một phương tiện trao đổi mà còn được coi là bức tường thành chống lại sự xâm nhập của các đồng tiền số nước ngoài, chẳng hạn như đồng Diem của Facebook, và là công cụ để Chính quyền Bắc Kinh dễ dàng giám sát người dân Trung Quốc.

Giữa năm 2020, Mục Trường Xuân đưa ra lập luận rằng đồng NDT kỹ thuật số sẽ ngăn đồng Libra, tên ban đầu của đồng Diem, xâm nhập hệ thống tiền tệ của Trung Quốc. Suy nghĩ này đã xuất hiện sau khi các nhà nghiên cứu của Ngân hàng nhân dân Trung Quốc đưa ra cảnh báo vào năm 2018 rằng sự ra đời của các đồng tiền số – được gọi là các “đồng xu ổn định” – gắn với đồng USD có thể phá hỏng những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm quốc tế hóa đồng NDT.

Tuy nhiên, ngoài việc đóng vai trò như một bức tường thành chống lại các loại tiền điện tử nước ngoài không mong muốn, các nhà phân tích còn cho rằng tham vọng của Bắc Kinh đối với đồng NDT kỹ thuật số còn bắt nguồn từ mong muốn thầm kín về việc kiểm soát xã hội.

Trong báo cáo tháng 1/2021 cho Trung tâm an ninh Mỹ mới, một tổ chức tư vấn có trụ sở tại Washington, Yaya Fanusie và Emily Jin đã viết: “Đồng NDT kỹ thuật số có thể sẽ có lợi cho Đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc giám sát nền kinh tế và cho chính phủ trong việc can thiệp vào cuộc sống của người dân Trung Quốc”. Họ nói rằng việc triển khai đồng NDT số sẽ mang lại cho ngân hàng trung ương khả năng khai thác một lượng lớn dữ liệu về hoạt động kinh tế của người dân. Điều này khớp với kế hoạch về công nghệ tài chính được chính phủ ban hành cuối năm 2019 nhằm thúc đẩy việc xây dựng trung tâm dữ liệu lớn tích hợp trên toàn quốc “.

Emily Jin nói: “Nếu ngân hàng trung ương có thể triển khai thành công đồng NDT kỹ thuật số, thì đó thực sự sẽ là một công cụ quan trọng để chính phủ kiểm soát tình hình trong nước. Người dân có thể vẫn sẽ cố gắng thoát khỏi sự giám sát (của đồng tiền này), nhưng tôi nghĩ rằng điều đó sẽ vô cùng khó khăn vì hệ thống này sẽ cho phép ngân hàng trung ương theo dõi các giao dịch theo thời gian thực”. Nếu điều này trở thành hiện thực, thì Ngân hàng nhân dân Trung Quốc có thể nắm thêm quyền thực thi kỷ luật và sẽ có khả năng thực hiện các biện pháp trừng phạt như chặn các giao dịch trong tình huống bắt buộc.

Samantha Hoffman cho rằng đồng NDT kỹ thuật số sẽ mở rộng đáng kể khả năng giám sát của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bà nói: “Đảng và nhà nước Trung Quốc sẽ có thể nắm rõ tất cả các giao dịch tài chính thông qua đồng tiền số, và sẽ không có cái gọi là trạng thái ẩn danh thực sự cho người dùng”.

Miễn trừ giám sát?

Trạng thái ẩn danh dành cho các công dân Trung Quốc sử dụng đồng tiền số vẫn là một vùng xám. Phát biểu tại một hội nghị ở Singapore năm 2020, Mục Trường Xuân cho biết một hệ thống ẩn danh có kiểm soát sẽ được triển khai. Ông nói: “Chúng tôi hiểu rằng công chúng muốn ẩn danh bằng cách sử dụng tiền giấy và tiền xu… Chúng tôi sẽ đáip ứng yêu cầu ẩn dạnh của họ trong giao dịch”.

Ông nói thêm: “Chúng tôi sẽ cân bằng giữa việc thực hiện chế độ ẩn danh có kiểm soát và hoạt động chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, vấn đề về thuế, cờ bạc trực tuyến cũng như mọi hành vi tội phạm điện tử khác.

Samantha Hoffman nói rằng trạng thái mơ hồ này làm dấy lên những lo ngại. Bà nói: “Việc chống tài trợ khủng bố hay rửa tiền là yêu cầu bình thường đối với các ngâ nhàng trung ương, nhưng điều khác biệt ở Trung Quốc là ai cũng bị soi xét kỹ lưỡng. Quy định về khủng bố áp dụng cho các đối thủ chính trị của đảng”.

Những lo ngại như vậy có thể cản trở khát vọng lâu nay của Bắc Kinh là thúc đẩy việc sử dụng đồng tiền của họ trên phạm vi quốc tế như một phần trong tham vọng dài hạn của Trung Quốc về việc giải phóng mình khỏi hầu hết các giao dịch thương mại bằng đồng USD.

Một doanh nhân Hong Kong cho biết: “Nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể nắm rõ mọi giao dịch bằng đồng NDT kỹ thuật số của chúng ta, thì tôi nghĩ rằng nhiều người bên ngoài Trung Quốc sẽ không muốn sử dụng nó”.

Tuy nhiên, Trung Quốc đang đẩy mạnh nỗ lực quốc tế hóa của mình. Tháng 1/2021, Trung Quốc đã đồng ý thành lập liên doanh với SWIFT, hệ thống thanh toán xuyên biên giới có trụ sở tại Bỉ, động thái được cho là nhằm thúc đẩy việc sử dụng đồng NDT kỹ thuật số.

Theo những người nắm rõ vấn đề này, liên doanh mới, có tên là Công ty dịch vụ cổng thông tin tài chính, chịu trách nhiệm hợp nhất các hệ thống thông tin nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai đồng tiền số. Các cổ đông khác trong liên doanh bao gồm cả Hệ thống thanh toán liên ngân hàng xuyên biên giới của Trung Quốc (CIPS), đối thủ cạnh tranh của SWIFT và chịu trách nhiệm xử ý các thanh toán thương mại bằng đồng NDT. SWIFT cho biết liên doanh này không liên quan đến đồng NDT kỹ thuật số mà tập trung vào việc tuân thủ các quy định.

Tuy nhiên, ngay cả các lãnh đạo trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước cũng nói rằng sự lạc quan về sức hấp dẫn quốc tế của đồng NDT kỹ thuật số phải được củng cố bằng thực tế. Giám đốc một ngân hàng quốc doanh lớn cho biết: “Mục tiêu lớn hơn của chúng tôi là thách thức sự thống trị của đồng USD trong thanh toán thương mại quốc tế. Tuy nhiên, tiến trình này sẽ diễn ra từ từ”.

Những kỳ vọng về sự tiến triển từng bước như vậy bắt nguồn từ một vấn đề đã có từ lâu. Người nước ngoài không mấy hào hứng với việc nắm giữ đồng NDT khi mà việc tiếp cận thị trường tài chính của Trung Quốc vẫn còn phức tạp và không rõ ràng đối với mọi người, trừ các nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Maximilian Kӓrnfelt, chuyên gia Viện nghiên cứu Trung Quốc Mercator (Meries) có trụ sở tại Berlin, cho biết: “Định dạng số sẽ không giúp giải quyết các vấn đề khiến đồng NDT hông được sử dụng rộng rãi hơn trên toàn cầu. Phần lớn thị trường tài chính của Trung Quốc chưa được mở cửa cho người nước ngoài và quyền sở hữu tài sản vẫn còn mong manh”.

Nguồn: Financial Times – 17/02/2021

TLTKĐB – 22/02/2021

Mục đích đồng tiền kỹ thuật số của Trung Quốc – Phần đầu


Các hoạt động chào mừng năm mới Tân Sửu, bắt đầu từ ngày 12/2, tại Trung Quốc phần nào đã bị lu mờ bởi đại dịch COVID-19. Lượng người đi lại thăm viếng họ hàng năm nay giảm mạnh, làm mất đi niềm vui của các buổi tụ họp gia đình.

Tuy nhiên, không phải mọi thứ đều ảm đạm. Các nhà chức trách ở một số thành phố đã phát hàng chục triệu NDT dưới dạng “bao lì xì” mừng năm mới, mà những bao lì xì này có thể được tải xuống điện thoại thông minh. Riêng Bắc Kinh và Tô Châu đã phát ra 200.000 bao lì xì, mỗi cái trị giá 200 NDT (31 USD), trong một buổi phân phát công khai.

Hoạt động từ thiện như vậy che giấu một chương trình nghị sự khó khăn hơn. Bằng cách phân phát các bao lì xì truyền thống dưới dạng “đồng NDT số”, các nhà chức trách Trung Quốc đang thử nghiệm một công nghệ quan trọng mới mà có thể dẫn đến việc thế giới chấp nhận các đồng tiền số và thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật toàn cầu.

Mặc dù không tuyên bố ngày chính thức phát hành, nhưng Trung Quốc đang hướng tới mục tiêu trở thành nền kinh tế lớn đầu tiên giới thiệu đồng tiền số nhằm chứng tỏ với thế giới vị thế nhà lãnh đạo toàn cầu về công nghệ thanh toán tại Thế vận hội mùa Đông năm 2022.

Người phụ trách khu vực châu Á của một ngân hàng hàng đầu Phố Wall cho biết: “Cho đến nay, các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc là những người có tư duy tiến bộ nhất về đồng tiền số. Họ đang nghiên cứu những điều mà phần còn lại của thế giới chưa từng nghĩ đến”.  Người này nói thêm: “Đồng NDT kỹ thuật số sẽ đưa mọi giao dịch vào tầm ngắm của Ngân hàng nhân dân Trung Quốc”.

Kế hoạch đồng tiền số gắn liền với tham vọng lớn hơn của Trung Quốc là tận dụng công nghệ để thúc đẩy quốc tế hóa đồng NDT và làm suy yếu vị thế thống trị của đồng USD. Mặc dù các lãnh đạo ngân hàng nói rằng trọng tâm ban đầu là sử dụng đồng tiền số này trong phạm vi nền kinh tế nội địa, nhưng nhiều nhà nghiên cứu về Trung Quốc cho rằng trong một vài năm nữa, đồng tiền số này chắc chắn sẽ được sử dụng trong thanh toán thương mại.

Tuy nhiên, các mục tiêu khác đằng sau đồng tiền số của Trung Quốc trái ngược với các thảo luận công khai về vấn đề này ở nhiều nơi khác trên thế giới. Trong khi các đồng tiền điện tử ở Mỹ đắm chìm trong ngôn ngữ của chủ nghĩa tự do, thì dự án đồng tiền số ở Trung Quốc lại gắn với nỗ lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc nhằm duy trì kiểm soát đối với xã hội và nền kinh tế. Công nghệ này được thiết kế nhằm góp phần củng cố vai trò giám sát của nhà nước.

Đồng NDT kỹ thuật số của Trung Quốc là đồng tiền số của ngân hàng trung ương, và điều này khiến nó, xét ở một góc độ nào đó, đối lập với các loại tiền điện tử khác như bitcoin. Các đồng tiền điện tử thường được phân cấp và phi tập trung hóa. Chúng không được chính phủ phát hành hay bảo lãnh. Trong khi đó, đồng NDT kỹ thuật số là một phần trong kế hoạch từ trên xuống của Trung Quốc. Đồng tiền này do ngân hàng trung ương phát hành và quản lý, và vị thế pháp định của nó được nhà nước Trung Quốc bảo đảm.

Định dạng số của đồng NDT cho phép ngân hàng trung ương Trung Quốc theo dõi tất cả các giao dịch ở từng cấp độ theo thời gian thực. Bắc Kinh chú ý sử dụng tính năng này để chống lại tình trạng rửa tiền, tham nhũng và tài trợ cho khủng bố trong nước bằng cách tăng cường vai trò giám sát vốn đã rất lớn của đảng cộng sản cầm quyền.

Các nhà phân tích cho biết Bắc Kinh cũng hy vọng sử dụng đồng NDT kỹ thuật số như một phương tiện để khẳng định lại quyền kiểm soát của nhà nước đối với ngành công nghệ tài chính và phi thị trường thanh toán điện tử rộng lớn do hai công ty tư nhân khổng lồ Ant Group và Tencent chi phối. Trên thực tế, công nghệ này có thể trở thành đối thủ của nền tảng thanh toán không dùng tiền mặt của những công ty này.

Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện một nỗ lực đa chiều nhằm kiềm chế ảnh hưởng của các công ty thanh toán mới này, dẫn đến việc Ant Group hủy bỏ kế hoạch chào bán lần đầu ra công chúng trị giá 37 tỷ USD cuối năm 2020.

Nhà phân tích cấp cao Samatha Hoffman thuộc Viện chính sách chiến lược Australia cho rằng kiểm soát xã hội là ưu tiên của Bắc Kinh. Bà nói: “Đồng NDT kỹ thuật số chủ yếu lên quan đến khả năng thực thi quyền kiểm soát của đảng”.

Nắm quyền kiểm soát công nghệ tài chính

Theo các quan chức, chiến lược của Trung Quốc là phổ biến đồng tiền số bằng cách tiến hành thử nghiệm ở cấp thành phố trong năm 2021 và 2022, chuẩn bị sẵn sàng cho việc sử dụng đồng tiền này vào thời điểm tổ chức Thế vận hội mùa Đông cuối năm 2022. Thời gian biểu này đưa Bắc Kinh vượt xa chính phủ những nước đang bắt đầu thử nghiệm ý tưởng này.

Khoảng 60% trong số hơn 60 ngân hàng trung ương được Ngân hàng thanh toán quốc tế khảo sát vào năm 2020 cho biết họ đang thử nghiệm hoặc nghiên cứu tính khả thi của đồng tiền số (tăng so với mức 42% trong năm 2019). Cũng theo khảo sát, 14% các ngân hàng đang hướng tới các chương trình thử nghiệm.

Ở Trung Quốc, cũng như ở nhiều nơi khác, những bất đồng về đồng tiền số là rất lớn. Đồng NDT kỹ thuật số không chỉ thay thế tiền mặt mà còn báo trước sự phát triển của một hệ thống thanh toán mới đe dọa vị thế thị trường của Alipay và WeChat Pay, hai nền tảng phổ biến nhất và thuộc sở hữu tư nhân của Ant Group và Tencent.

Lý do chính cho điều này là đồng NDT kỹ thuật số được các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước phân phối trực tiếp đến ví điện tử của người tiêu dùng, dẫn đến việc thiết lập các kênh thanh toán vượt qua Alipay và WeChat Pay.

Trong các thử nghiệm cho đến nay, người dùng có thể rút đồng NDT số qua máy rút tiền tự động (ATM) và chuyển vào ví điện tử trên điện thoại thông minh. Sau đó, họ có thể thanh toán bằng cách để ứng dụng trên điện thoại thông minh của mình gần thiết bị bán hàng bằng đồng NDT kỹ thuật số. Một hệ thống như vậy là giải pháp thay thế rõ ràng cho Alipay và WeChat Pay, những hệ thống ước tính đã được khoảng 1,9 tỷ người dân trên toàn thế giới sử dụng.

Cựu Phó Chủ tịch Vương Vĩnh Lợi của Ngân hàng Trung Quốc, một trong những ngân hàng quốc doanh lớn nhất Trung Quốc, cho biết: “Việc sử dụng rộng rãi đồng NDT kỹ thuật số sẽ ảnh hưởng đến vị thế thị trường và mô hình lợi nhuận của các nền tảng thanh toán bên thứ ba như Alipay và WeChat Pay”.

Đây là vấn đề lớn. Bên cạnh việc Alipay và WeChat Pay tạo nên xương sống cho hệ thống thanh toán của Trung Quốc trong một nền kinh tế phần lớn không dùng tiền mặt, hoạt động kinh doanh của các công ty còn hỗ trợ giá cổ phiếu của Tencent, một trong 10 công ty lớn nhất thế giới với giá trị vốn hóa trên 920 tỷ USD, và Alibaba, công ty nắm giữ cổ phần tại Ant Group.

Một chương trình chào năm mới của đài truyền hình CCTV đã phát đi thông điệp của Bắc Kinh rằng việc sử dụng đồng NDT kỹ thuật số tiện lợi hơn so với các hệ thống thanh toán khác. Thông điệp này làm gia tăng cảm giác rằng việc phổ biến loại tiền tệ này có thể gây tổn hại cho Alipay và WeChat Pay.

Giám đốc một ngân hàng quốc doanh lớn cho biết: “Đồng tiền kỹ thuật số này sẽ giáng một đòn mạnh vào Alipay và WeChat Pay vì nó có thể thay thế chúng. Có khả năng chính phủ sẽ sử dụng quyền lực hành chính để thúc đẩy đồng NDT kỹ thuật số nhằm phá bỏ thế độc quyền về dữ liệu người tiêu dùng mà các công ty công nghệ đang nắm giữ”.

Trên thực tế, quyền lực hành chính này là đặc tính cố hữu của đồng NDT kỹ thuật số. Bởi đây là đồng tiền pháp định, nên không một người bán hàng nào có thể từ chối chấp nhận nó và do đó có nghĩa vụ phải cài đặt thiết bị đầu cuối và hệ thống thanh toán bằng đồng NDT số sua khi đồng tiền này chính thức được phát hành. Điều này không xảy ra đối với Alipay và WeChat Pay, bởi người bán hàng trong trường hợp này có quyền từ chối.

(còn tiếp)

Nguồn: Financial Times – 17/02/2021

TLTKĐB – 22/02/2021