Khuôn khổ thể chế thương mại quốc tế nhiều bên – Phần II


Nước ký kết hiệp định không được lập ra hoặc duy trì hạn chế số lượng ở trong nước buộc việc lắp ráp, gia công hoặc sử dụng loại sản phẩm nào đó phải phù hợp với số lượng cụ thể hoặc tỷ lệ nào đó, trực tiếp hoặc gián tiếp đòi hỏi việc cung cấp hàng phải là hàng trong nước với số lượng hoặc tỷ lệ đã quy định trong điều lệ. Khi áp dụng điều lệ hạn chế số lượng trong nước yêu cầu việc lắp ráp, gia công hoặc sử dụng sản phẩm phải phù hợp với số lượng cụ thể hoặc tỷ lệ quy định thì không được phân chia số lượng hoặc tỷ lệ ấy cho các nguồn hàng nhập của nước ngoài.

Nhưng điều này không áp dụng với các pháp lệnh, điều lệ hoặc quy định quản lý các vật phẩm chính phủ mua để sử dụng, vật phẩm tiêu thụ phi thương nghiệp hoặc không dùng để sản xuất rồi cung cấp cho một thương nghiệp tiêu thụ. Đồng thời, điều này cũng không ngăn cản trợ cấp đặc biệt cho người sản xuất trong nước, gồm cả trợ cấp cho ngươi sản xuất trong nước trích từ thu nhập thuế trong nước và bằng biện pháp chính phủ mua sản phẩm trong nước.

Điều 4 là điều quy định riêng về điện ảnh.

Điều 5 nói về tự do quá cảnh. Điều này quy định rằng, hàng hóa (kể cả hành lý), tàu bè và các công cụ vận tải khác đi qua lãnh thổ của một nước thành viên nào đó, dù có chuyển tàu hay không, có kho chứa hay không, có xếp dỡ hàng hay không hoặc có thay đổi phương thức vận chuyển hay không, chỉ cần đoạn đường mà chúng đi qua là một bộ phận của toàn bộ vận trình, mà điểm khởi hành và điểm kết thúc của cả vận trình ấy nằm ngoài lãnh thổ của nước có hàng hóa đi qua ấy, thì được gọi là quá cảnh lãnh thổ của nước thành viên ấy; vận tại như vậy được gọi là “vận tải quá cảnh”.

Vận tải quá cảnh từ nước thành viên khác tới, hoặc đi tới nước thành viên khác theo lộ trình quá cảnh quốc tế tiện lợi nhất đi qua lãnh thổ của các nước thành viên là vận tải quá cảnh tự do. Sự khác nhau của tàu bề về quốc tịch, nơi đến, nơi xuất phát, bến nhập cảng, bến xuất cảng hoặc cảng tới đích, mọi tình hình về quyền sở hữu hàng hóa, tàu bè hoặc các công cụ vận tải khác, không được dùng làm cớ để đãi ngộ khác nhau.

Các nước thành viên có thể yêu cầu việc vận tải quá cảnh qua lãnh thổ của mình làm báo cáo hải quả tích hợp. Trừ trường hợp không tuân thủ pháp lệnh hải quan, còn thì không được gây ra những cậm trễ hoặc hạn chế không cần thiết đối với vận tải quá cảnh, không đánh thuế hải quan, thuế quá cảnh hoặc các phụ phí khác về quá cảnh, nhưng việc thu chi phí vận tải, chi phí hành chính có liên quan tới quá cảnh và chi phí dịch vụ không nằm trong điều cấm này. Những đãi ngộ mà nước thành viên này dành cho vận tải quá cảnh từ các nước thành viên khác tới hoặc đi tới các nước thành viên khác về các mặt chi phí quá cảnh, điều lệ và thủ tục quá cảnh không được ít hơn đã ngộ dành cho vận tải quá cảnh từ bất kỳ nước thứ ba nào tới hoặc đi tới bất kỳ nước thứ ba nào. Đãi ngộ dành cho những sản phẩm quá cảnh ra lãnh thổ nước thành viên khác không ít hơn đãi ngộ dành cho những sản phẩm ấy khi chúng được chuyển thẳng từ nơi sản xuất tới điểm đích mà không quá cảnh lãnh thổ một nước thành viên khác.

Quy định này không áp dụng đối với công cụ hàng không, nhưng vẫn áp dụng đối với hàng hóa (kể cả hành lý) quá cảnh đường không.

Điều 6 là điều về chống bán phá giá và chống trợ cấp. Nó quy định rằng, nếu dùng thủ đoạn bán phá giá để đưa sản phẩm có giá trị thấp hơn bình thường xâm nhập vào thị trường nước khác khiến ngành công nghiệp nào đó đã có sẵn trên lãnh thổ nước thành viên này thật sự bị tổn thất hoặc bị đe dọa thật sự, hoặc gây khó khăn thật sự cho ngành công nghiệp mới của họ, thì việc bán phá giá đó phải bị chỉ trích. Điều này định nghĩa bán phá giá là “giá cả của sản phẩm của nước này xuất khẩu sang nước khác: a) thấp hơn giá sản phẩm cùng loại tiêu dùng trong nước xuất khẩu; hoặc b) Nếu không có giá trong nước, thì thấp hơn giá cao nhất của sản phẩm cùng loại xuất khẩu sang nước thứ ba trong tình hình thương mại bình thường”. Để triệt tiêu hoặc phòng ngừa việc bán phá giá với mức thuế không vượt quá mức phá giá. Về kim ngạch, thuế chống trợ cấp không được vượt quá lượng tiền mà sản phẩm ấy trực tiếp hoặc gián tiếp được thưởng hoặc trợ cấp khi chế tạo, sản xuất hoặc xuất khẩu. Thuế chống trợ cấp được định nghĩa là “một loại thuế nhằm triệt tiêu mọi khoản thưởng hoặc trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho hàng hóa khi chúng được sản xuất, chế tạo hoặc xuất khẩu”.

Khi sản phẩm từ lãnh thổ của một nước thành viên này nhập khẩu vào lãnh thổ nước thành viên khác, không được vì chúng được miễn những sắc thuế mà sản phẩm cùng loại tiêu dùng tại nước sản xuất hoặc tại nước xuất khẩu phải nộp, hoặc do sắc thuế đó đã bị bãi bỏ mà đánh thuế chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cấp. Đồng thời, không được vì để triệt tiêu bán phá giá hoặc trợ cấp xuất khẩu mà vừa đánh thuế chống bán phá giá vừa đánh thuế chống trợ cấp.

Khi sản phẩm của nước thành viên này nhập khẩu vào lãnh thổ của nước thành viên khác, nước nhập khẩu không được đánh thuế chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cấp, ngoại trừ đoán định rằng hậu quả của việc bán phá giá hoặc trợ cấp sẽ gây ra tổn thất thật sự hoặc đe dọa thật sự đối với ngành công nghiệp nào đó đã có sẵn, hoặc sẽ gây khó khăn thật sự cho việc xây dựng mới ngành công nghiệp nào đó của mình.

Điều 7 nói về tính giá hải quan. Điều này quy định rằng, “tính giá hải quan hàng nhập khẩu phải tính theo giá thực tế của hàng nhập khẩu hoặc của hàng cùng loại chứ không được lấy giá hàng trong nước mình, hoặc giá vũ đoán, hoặc giá hư cấu để làm căn cứ tính thuế. Giá cả thực tế là giá bán của hàng hóa nào đó hoặc của hàng hóa cùng loại trong điều kiện thương mại bình thường có cạnh tranh tại thời gian và địa điểm nào đó mà luật pháp của nước nhập khẩu đã quy định”. Tính giá hải quan đối với sản phẩm nhập khẩu không được tính cả mọi sắc thuế mà nước sản xuất hoặc nước xuất khẩu áp dụng đối với sản phẩm sản xuất trong nước nhưng miễn trừ đối với sản phẩm nhập khẩu, hoặc sắc thuế đã được bãi bỏ hoặc sẽ bãi bỏ.

Khi tính giá hải quan mà phải quy giá đồng tiền nước khác thành đồng tiền nước mình thì hối suất quy đổi phù hợp với quy định trong hiệp định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, hoặc căn cứ vào hối suất mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế thừa nhận, hoặc dựa vào quy định trong hiệp định ngoại hội. Nếu không có hối suất đã quy định hoặc được chấp nhận đó thì hối suất quy đổi phải phản ánh đúng giá trị hiện hành của đồng tiền ấy trong giao dịch thương mại.

Nếu lấy giá trị hàng hóa làm căn cứ thu thuế và thu các phụ phí khác hoặc thực hiện hạn chế thì căn cứ vào phương pháp xác định giá trị sản phẩm phải ổn định, và phải công bố rộng rãi để các hãng buôn biết chính xác ước giá tính giá hải quan.

Điều 8 nói về các lệ phí và thủ tục xuất nhập khẩu, trong đó quy định rằng, các nước thành viên không được dùng bất kỳ loại lệ phí, và phụ phí nào ngoài thuế xuất nhập khẩu và có liên quan đến nhập khẩu cũng như thuế nội địa, làm phương tiện bảo hộ gián tiếp, không được biến chúng thành một loại thuế nhập khẩu hoặc thuế xuất khẩu và được thu nhằm mục đích tài chính. Phải giảm lượng và loại lệ phí, phụ phí, phải hạn chế tới mức thấp nhất chi phí và sự phức tạp về thủ tục xuất nhập khẩu; giảm và đơn giản hóa biên lai chứng từ xuất nhập khẩu.

Không phạt quá nặng những vụ việc vi phạm nhẹ quy chế và thủ tục hải quan. Đặc biệt là đối với những chứng từ hải quan có chỗ dễ sửa và không có ý đồ lừa bịp, hoặc có chỗ sai sót, ghi nhầm lớn, không nên khép tội là đã vượt quá mức độ để rồi xử phạt.

Điều quy định này áp dụng với cả các lệ phí, phụ phí, thủ tục và quy định do các nhà đương cục các chính phủ thực hiện có liên quan tới xuất nhập khẩu, bao gồm các công việc: về lãnh sự; hạn chế số lượng; giấy phép; kiểm soát ngoại hối; công việc thống kê; các văn kiện, chứng từ và chứng nhận; phân tích, kiểm tra và kiểm dịch, vệ sinh và tiêu khử độc hại.

Điều 9 nói về nhãn hàng nơi sản xuất. Điều này quy định rằng những đãi ngộ về nhãn hàng mà nước thành viên này dành cho sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của nước thành viên khác không được ít hơn sản phẩm cùng loại của nước thứ ba. Khi áp dụng pháp lệnh và điều lệ về nhãn hàng của nước sản xuất không được gây khó khăn cho thương nghiệp và công nghiệp của nước xuất khẩu. Nhưng phải chú ý đề phòng nhãn giả hoặc dễ gây ra hiểu lầm để bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Advertisements

Australia lên tiếng về vi phạm trong xuất khẩu gia súc sống sang Việt Nam


Ngày 25/6, Đài Truyền hình quốc gia Australia dẫn báo cáo của Bộ Nông nghiệp Australia, cho biết hơn 1500 con bò và 99 con trâu nhập khẩu từ Australia đã biến mất khỏi các trang trại hoặc lò mổ được chấp thuận tại Việt Nam trong 13 tháng qua.

Sau lệnh cấm xuất khẩu gia súc sống và năm 2011, ngành công nghiệp xuất khẩu gia súc sống Australia đã đăng ký Hệ thống đảm bảo chất lượng chuỗi cung ứng xuất khẩu (ESCAS), một hệ thống được thiết lập để đảm bảo phúc lợi động vật cho gia súc xuất khẩu của Australia.

Trong báo cáo mới nhất về việc thực hiện ESCAS, Bộ Nông nghiệp Australia đã chỉ ra hai vi phạm: Vi phạm thứ nhất, được cho là rất nghiêm trọng, đó là việc công ty Purcell Bros, công ty xuất khẩu gia súc lần đầu tiên sang Việt Nam, đã không thể xác minh được 644 con bò và 99 con trâu đang ở đâu sau khi tới Việt Nam.

Vào tháng 11/2018, trâu và bò đã được chuyển từ một trang trại được công ty chấp thuận tới các địa điểm không xác định sau khi công nhân trang trại đã can thiệp vào các camera theo dõi lắp đặt tại trang trại. Tuy nhiên, chủ sở hữu trang trại khẳng định không có gia súc nào bị mất tích, nhưng lại không thể cung cấp bất kỳ bằng chứng nào khi công ty Purcell tiến hành xác minh xem chúng đang ở đâu.

Theo báo cáo trên, chủ sở hữu trang trại dường như hàon toàn không quan tâm đến các yêu cầu của ESCAS. Báo cáo còn lưu ý rằng công ty Purcell không thể cung cấp thông itn nào để phục vụ cho việc truy xuất hoặc tìm hiểu về phúc lợi của gia súc.

Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp Australia kết luận thông tin mà công ty Purcell cung cấp là chưa đủ và sẽ lưu ý tới vụ vi phạm trên trong quá trình xem xét đơn xin nhập khẩu nào từ nhà nhập khẩu hoặc trang trại trên.

Vi phạm thứ hai liên quan đến việc công ty Dịch vụ vận chuyển gia súc (LSS) không thể xác định được “gần 1000 động vật” mà công ty đã vận chuyển đến Việt Nam và không báo cáo cho Bộ Nông nghiệp Australia trong thời hạn theo quy định của ESCAS.

Tuy nhiên, cuối cùng LSS cũng đã xác minh được rằng trong số 872 gia súc, 471 con đã được chuyển đến các lò mổ được chấp thuận và 401 bị chế hoặc bị giết bằng hệ thống gây mê tại các trang trại.

Theo Bộ Nông nghiệp Australia, LSS đã có biện pháp khắc phục vi phạm và đã triển khai các hệ thống để giải quyết các vấn đề có thể phát sinh trong tương lai.

Để xử lý các vụ vi phạm trên, Hội đồng xuất khẩu chăn nuôi Australia (ALEC) đã thuê một công ty độc lập thực hiện “đánh giá thị trường” để báo cáo về chuỗi cung ứng tại Việt Nam.

Giám đốc điều hành ALEC, ông Mark Harvey-Sutton cho rằng gia súc Australia thông thường không bị lọt ra ngoài chuỗi cung ứng tại Việt Nam và khẳng định những trường hợp vi phạm trên không phải là phổ biến. Ông cho biết, ưu tiên cao nhất của ALEC là các nhà xuất khẩu Australia phải duy trì truy xuất gia súc xuất khẩu ở mức cao nhất để đảm bảo phúc lợi động vật, và điều quan trọng là cần có những biện pháp khắc phục các vi phạm bất thường ở các thị trường như Việt Nam. Ngoài ra, ông Harley-Sutton cũng khẳng định rằng sau khi có báo cáo đánh giá của công ty kiểm toán viên độc lập vào tháng 8/2019, ALEC sẽ có những hành đ6ọng cần thiết theo các khuyến nghị mà báo cáo đưa ra.

Được biết, Hiệp hội Phòng chống tàn ác đối với động vật Australia (RSPCA) là một tổ chức luôn phản đối việc xuất khẩu động vật sống để giết mổ. Kể từ năm 2015, RSPCA đã kêu gọi đánh giá độc lập về việc tuân thủ ESCAS ở thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi có báo cáo nói trên của Bộ Nông nghiệp Australia, RSPCA lại lên tiếng yêu cầu Chính phủ và ngành công nghiệp xuất khẩu gia súc của Australia cần xử lý nghiêm khắc các vi phạm.

Người phát ngôn của RSPCA, Jed Goodfellow đưa ra đề xuất cần xem xét áp dụng biện pháp đình chỉ chuỗi cung ứng trong thời gian tiến hành cuộc đánh giá toàn diện và độc lập về các thỏa thuận ESCAS tại Việt Nam. Ông Goodfellow cho rằng những vi phạm nêu trên nằm trong một “chuỗi dài” các sự cố liên quan đến gia súc Australia xuất khẩu sang Việt Nam.

Ông Goodfellow cho biết thêm các báo cáo còn chỉ ra tình trạng các công nhân lò mổ và trang trại gia súc đã nhiều lần can thiệp vào hệ thống camera quan sát và có thái độ thù địch với các nhân viên của công ty xuất khẩu khi họ cố gắng duy trì chuỗi cung ứng. Ông nói: “Trước đây, chúng tôi đã từng thấy việc đưa gia súc ra khỏi chuỗi cung ứng, thậm chí ngay cả khi có sự hiện diện của các nhân viên của công ty xuất khẩu. Thực tế này cho thấy có một “văn hóa” chống đối hệ thống ESCAS ở Việt Nam, đặc biệt ở một vài chuỗi cung ứng tại Việt Nam. Do vậy, cần xem xét một cách có hệ thống đối với toàn bộ thị trường này”.

Theo ông Goodfellow, mặc dù thị trường Việt Nam chỉ bằng 1/3 thị trường Indonesia, nhưng số lượng các vụ vi phạm ở đây cao gấp ba lần trong vài năm qua. Chính phủ Australia cần phải quan tâm nghiêm túc đến tình trạng này.

Trong năm 2013, đã xảy ra việc dùng búa tạ để giết bò Australia tại VIệt Nam, và vào năm 2015 và 2016, các vụ việc này đã được chiếu lên truyền hình quốc gia ở Australia, khiến dư luận rất quan tâm.

Ngoài ra, từ lâu đã xuất hiện những cáo buộc về việc buôn bán gia súc không được kiểm soát giữa Việt Nam và các nước láng giềng như Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 27/06/2019

Khuôn khổ thể chế thương mại quốc tế nhiều bên – Phần I


Từ sau ngày được ký kết vào năm 1947 Hiệp định chung đã được sửa chữa bổ sung nhiều lần. Văn bản hiện nay gồm có lời nói đầu, 38 điều khoản và 9 phụ lục. 38 điều khoản được chia ra làm 4 phần. Phần thứ nhất gồm có điều 1 và điều 2, quy định về quy chế tối huệ quốc vô điều kiện, về thuế và thương mại giữa các nước thành viên, và biểu thuế. Phần thứ hai từ điều 3 đến điều 23, quy định về xóa bỏ hạn chế số lượng, trợ cấp xuất nhập khẩu và việc áp dụng quy chế không phân biệt đối xử trong thương mại cũng như những ngoại lệ của các quy chế ấy. Phần thứ 3 từ điều 24 đến điều 35, quy định việc tiếp nhận hiệp định, hiệu lực của hiệp định, việc đình chỉ hoặc xóa bỏ giảm thuế và các vấn đề gia nhập và rút khỏi hiệp định. Phần thứ tư gồm điều 36, quy định về vấn đề thương mại và phát triển của các nước đang phát triển. Các phụ lục chủ yếu là các quy định ngoại lệ về khu vực ưu đãi thuế quan đặc biệt, về liên minh thuế quan và văn bản giải thích, thuyết minh. Dưới đây giới thiệu bốn vấn đề.

I/ Quy chế tối huệ quốc và biểu thuế

Phần thứ nhất có hai điều, điều 1 là quy chế chung về tối huệ quốc, điều 2 là biểu thuế.

Điều 1 quy định nội dung cụ thể của quy chế tối huệ quốc, đó là “những lợi ích, ưu đãi, đặc quyền, miễn giảm về các mặt thuế quan và phụ phí đối với xuất khẩu hay nhập khẩu, có liên quan với xuất khẩu hoặc nhập khẩu và đối chuyển khoản thu chi xuất nhập khẩu hàng hóa, phương pháp thu thuế và chi phí nói trên, thủ tục xuất khẩu và nhập khẩu và các việc ghi tại khoản 2 và khoản 4 trong điều 3 của hiệp định này, mà nước ký hiệp định dành cho sản phẩm nhập từ nước khác hoặc xuất sang nước khác, phải được áp dụng vô điều kiện không chậm trễ đối với những sản phẩm cùng loại nhập từ các nước thành viên khác hoặc xuất sang các nước thành viên khác”. Đây là điều khoản quy định về quy chế tối huệ quốc nhiều bên, vô điều kiện. Nó là hòn đá tảng của toàn bộ Hiệp định chung.

Các khoản khác trong điều này quy định những ngoại lệ của quy chế chung về tối huệ quốc. Đó là:

1/ Chế độ ưu đãi giữa Liên hiệp Anh và các lãnh thổ phụ thuộc của họ (phụ lục 1); 2) Chế độ ưu đãi giữa Liên hiệp Pháp và các lãnh thổ phụ thuộc của họ (phụ lục 2); 3) Chế độ ưu đãi trong Liên minh thuế quan Bỉ, Luxembourg và Hà Lan (phụ lục 3); 4) Chế độ ưu đãi thuế quan giữa lãnh thổ Mỹ với các lãnh thổ phụ thuộc của họ và với nước Cộng hòa Philippines (phụ lục 4); 5) Chế độ ưu đãi giữa Chile và các nước láng giềng (phụ lục 5); 6) Chế độ ưu đãi giữa Liban, Syria và các nước láng giềng (phụ lục 6).

Điều 2 là biểu thuế, trong đó quy định: “Đãi ngộ của nước thành viên này dành cho thương mại của nước thành viên khác không được ít hơn đãi ngộ mà hiệp định này dành cho nước thành viên ấy được quy định trong biểu thuế”. Nếu sản phẩm của nước thành viên này có danh mục trong phần thứ nhất tại biểu thuế của nước thành viên khác nhập khẩu vào lãnh thổ có áp dụng biểu thuế này thì phải căn cứ vào quy định, điều kiện ghi trong biểu thuế để cho chúng được miễn đánh thuế cao hơn thuế suất ghi trong biểu thuế và miễn thu mọi khoản thuế khác về nhập khẩu hoặc có liên quan đến nhập khẩu.

Nếu sản phẩm tại lãnh thổ nước thành viên này có danh mục tại phần thứ hai trong biểu thuế của nước thành viên khác, khi nhập khẩu vào lãnh thổ có áp dụng biểu thuế ấy mà được hưởng ưu đãi theo điều 1 của hiệp định này, thì được miễn đánh thuế cao hơn mức thuế ghi trong biểu thuế đã miễn thu mọi khoản thuế khác về nhập khẩu hoặc có liên quan đến nhập khẩu.

Song, điều đó không ngăn cản nước thành viên thu các khoản thuế sau đối với mọi sản phẩm nhập khẩu: 1) Phụ phí giống như thuế nội địa đánh vào sản phẩm tương tự ở trong nước hoặc đối với những vật phẩm được chế tạo hoặc sản xuất ra bằng sản phẩm nhập khẩu ấy, theo quy định ở khoản 2 điều 3; 2) Thuế chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp; 3) Chi phí đã quy định hoặc chi phí khác tương đương với giá thành dịch vụ.

Các nước ký hiệp định không được thay đổi giá tính thuế đã được thẩm định hoặc phương pháp quy đổi tiền để gây tổn hại giá trị giảm thuế ghi trong biểu thuế.

Nếu về hình thức hoặc trong thực tế, nước thành viên nào lập ra, duy trì hoặc cho phép độc quyền nhập khẩu loại hàng hóa nào đó có danh mục trong biểu thuế của hiệp định này, thì mức độ bảo hộ bình quân của sự độc quyền đó, ngoại trừ có quy định trong biểu thuế hoặc có thỏa thuận khác ra, không được vượt quá mức bảo hộ ghi trong biểu thuế. Nhưng không hạn chế các nước thành viên dựa vào các quy định khác trong hiệp định này để hỗ trợ cho người sản xuất nước mình dưới bất kỳ hình thức nào khác.

Nếu do quyết định của tòa án hoặc của các nhà đương cục khác của nước mình mà theo luật thuế của nước mình có loại sản phẩm nào đó không thuộc diện được đãi ngộ theo biểu thuế, thì hai nước đương sự kể cả nước thành viên khác có liên quan về quyền lợi, cần hiệp thương ngay để thỏa thuận về biện pháp đền bù.

Nếu nước ký kết Hiệp định chung là thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì thuế tính theo số lượng và phụ phí liệt kê trong biểu thuế của họ và mức chênh lệch về ưu đãi thuế tính theo số lượng và phụ phí mà họ thi hành được thể hiện bằng đồng tiền nước ấy tính theo giá mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế chấp nhận hoặc tạm thời chấp nhận từ ngày ký kết hiệp định này. Nếu giá này thấp hơn 20% so với quy định trong hiệp định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì có thể điều chỉnh lại, nhưng phải được tất cả các nước ký kết hiệp định đồng ý, không gây tổn thất giá trị liệt kê trong biểu thuế có liên quan và trong các phần khác; bởi vậy việc điều chỉnh này phải có mọi yếu tố cần thiết và cấp bách. Những nước không phải là thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì sau khi trở thành thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế hoặc sau khi ký kết hiệp định chế độ hối đoái đặc biệt theo điều 15 tại hiệp định này, phải thực hiện quy định nói trên.

II/ Nội dung cụ thể của luật thực thể

Nội dung phần thứ hai của Hiệp định chung tương đối cụ thể.

Điều 1 nói về chế độ ưu đãi chung về thuế nội địa và các quy định nội địa. Điều này quy định: “Các pháp lệnh, điều lệ, quy định về thuế nội địa và phụ phí nội địa khác có ảnh hưởng tới việc tiêu thụ, vận tải, phân phối hoặc sử dụng sản phẩm ở trong nước, những điều lệ hạn chế số lượng trong nước quy định việc lắp ráp, gia công hoặc sử dụng sản phẩm phải phù hợp với yêu cầu cụ thể về số lượng hoặc tỷ lệ, khi áp dụng đối với sản phẩm nhập khẩu hoặc sản phẩm trong nước thì không được nhằm bảo hộ sản xuất trong nước”.

Khi sản phẩm của nước này nhập khẩu vào nước khác thì không được đánh thuế trực tiếp hoặc thuế gián thu và các phụ phí khác cao hơn sản phẩm cùng loại trong nước mình. Đồng thời, các nước ký kết hiệp định không được áp dụng các biện pháp trái với nguyên tắc trên để thực thi thuế nội địa hoặc các phụ phí nội địa khác.

Khi sản phẩm của nước này nhập khẩu vào nước khác thì những đãi ngộ mà chúng được hưởng theo các pháp lệnh điều lệ và quy định tiêu thụ, vận tải, phân phối hoặc sử dụng sản phẩm trong nước cùng loại. Nhưng không ngăn cản thu chênh lệch về cước phí vận tải trong nước, nếu việc thu chênh lệch đó chỉ nhằm sử dụng một cách kinh tế các công cụ vận tải chứ không phải vì chúng là sản phẩm của nước ngoài.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Quy tắc thương mại quốc tế nhiều bên – Phần cuối


II/ Chế độ ưu đãi chung

Ưu đãi chung là một quy tắc cơ bản trong Hiệp định chung. Điều 3 phần thứ hai của hiệp định này vạch rõ, khi sản phẩm của một nước thành viên này xuất sang một nước thành viên khác thì những đãi ngộ mà chúng được hưởng theo các pháp lệnh và quy định của nước nhập khẩu về tiêu thụ, bán, mua, vận tải, phân phối hoặc sử dụng không nhỏ hơn những đãi ngộ dành cho những sản phẩm cùng loại ở trong nước nhập khẩu. Những đãi ngộ này là đãi ngộ về thuế và các khoản thu khác tại nước nhập khẩu.

Xét từ góc độ luật pháp quốc tế, ưu đãi chung có nghĩa là các nước thành viên của hiệp định cũng bảo đảm cho các thể nhân, pháp nhân và thương thuyền của nước đối phương hoạt động trên lãnh thổ nước mình được đối xử như các thể nhân, pháp nhân và thương thuyền của nước mình.

Theo luật pháp và tập quán quốc tế, chế độ ưu đãi chung giữa các nước ký kết hiệp định là cùng ưu đãi, không làm tổn hại chủ quyền quốc gia, độc lập và an ninh quốc gia, và phạm vi áp dụng bị hạn chế. Nó thường chỉ ưu đãi về các mặt: thuế, vận tải đường sắt, vận tải quá cảnh, bến cảng, về nhãn hiệu hàng hóa, quyền tác giả và bản quyền phát minh. Có một số quyền lợi người nước ngoài thường không được ưu đãi, như vận tải ven biển, vận tải đường sông, đánh bắt cá ở vùng lãnh hải, mua ruộng đất. Nhưng giữa các nước có sự khác nhau rất lớn. Ngày nay, theo các quy định trong các hiệp định quốc tế và theo luật đối nội của các nước, các thể nhân, pháp nhân người nước ngoài nói chung chỉ được ưu đãi chung về cấp cứu khi tàu thuyền gặp nạn, về nhãn hiệu hàng hóa, về đăng ký bản quyền phát minh, quyền tác giả và quyền tố tụng dân sự.

Chế độ ưu đãi chung quy định trong Hiệp định chung được áp dụng trong phạm vi hẹp hơn, chủ yếu áp dụng đối với buôn bán hàng hóa và các hoạt động kinh tế nảy sinh từ việc buôn bán đó, chứ không liên quan tới đầu tư trực tiếp của nước ngoài.

Chế độ ưu đãi chung quy định trong Hiệp định chung cũng có những ngoại lệ. Nó không được áp dụng đối với những sản phẩm do các cơ quan chính phủ mua, những sản phẩm tiêu thụ phi thương nghiệp hoặc không dùng để sản xuất rồi cung cấp cho thương nghiệp tiêu thụ. Đồng thời, thuế quan và các biện pháp mậu dịch biên giới khác cũng nằm ngoài phạm vi những điều khoản này. Nó cũng không ngăn cản việc trợ cấp đặc biệt cho người sản xuất trong nước, gồm cả khoản trợ cấp cho người sản xuất trong nước trích từ thu nhập thuế trong nước theo quy định ở Điều 3 và trợ cấp cho người sản xuất trong nước bằng biện pháp chính phủ thu mua sản phẩm trong nước.

Từ vòng đàm phán Tokyo tới nay, đặc biệt là trong vòng đàm phán Uruguay, phạm vi ưu đãi chung đã phát triển sang các lĩnh vực khác, như mua bán dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ có liên quan tới thương mại và các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại.

III/ Xóa bỏ những hạn chế về số lượng

Điều 11 trong hiệp định cấm hạn chế về số lượng. Mục đích ngăn ngừa người ta dựa vào các biện pháp bảo hộ này. Trong đó quy định rằng ngoài thu thuế và các khoản chi phí khác, không nước thành viên nào được lập ra hoặc duy trì hạn ngạch, giấy phép xuất khẩu hoặc các biện pháp khác để hạn chế hoặc cấm nhập khẩu sản phẩm từ lãnh thổ của các nước thành viên.

Là một quy tắc cơ bản trong Hiệp định chung, điều quy định này chỉ là một điều cấm chung đối với những hạn chế về số lượng, do đó còn nhiều ngoại lệ, chủ yếu là những ngoại lệ đối với những hạn chế sau về số lượng.

1/ Cấm hoặc hạn chế xuất khẩu được thực hiện tạm thời nhằm phòng ngừa hoặc giảm bớt sự thiếu hụt nghiêm trọng về lương thực và các nhu yếu phẩm khác. Sự ngăn cấm xuất nhập khẩu để thực thi các tiêu chuẩn và điều lệ phân loại, phân cấp và tiêu thụ hàng hóa thương mại quốc tế; những hạn chế nhập khẩu cần thực hiện đối với mọi sản phẩm nông, ngư nghiệp.

2/ Hạn chế về số lượng nhằm đảm bảo cân đối thu chi quốc tế. Bất kỳ nước thành viên nào cũng có thể hạn chế số lượng hoặc giá trị hàng nhập khẩu nhằm bảo đảm vị trí đồng tiền và thu chi quốc tế của họ. Điểm này được quy định cụ thể tại điều 12 của hiệp định. Nói cụ thể là, các nước thành viên không được tạo ra, duy trì hoặc tăng thêm hạn chế nhập khẩu vượt quá mức cần thiết để đề phòng hoặc ngăn chặn nguy cơ dự trữ tiền tệ giảm mạnh hoặc vượt quá mức cần thiết tăng dự trữ một cách hớp lý, mà dự trữ tiền tệ của nước thành viên ấy rất mỏng.

3/ Sự hạn chế số lượng dưới hình thức viện trợ của chính phủ mà các nước đang phát triển thực hiện để thúc đẩy kinh tế phát triển; hạn chế để bảo vệ thị trường trong nước và ngành công nghiệp cụ thể. Điểm này có quy định cụ thể rõ ràng ở điều 18. Về mặt kết cấu thuế, chúng có tính co dãn hợp lý, từ đó có thể bảo hộ bằng thuế quan cho việc xây dựng một ngành công nghiệp cụ thể nào đó.

IV/ Không phân biệt đối xử

Nguyên tắc không phân  biệt đối xử yêu cầu các nước ký kết hiệp định khi áp dụng các biện pháp hạn chế hoặc ngăn cản thì không được phân biệt đối xử với nước thành viên. Nhưng nếu họ hạn chế hoặc ngăn cấm với những lý do được hiệp định cho phép (ngoại lệ), mà những hạn chế này cũng được áp dụng với nước thứ ba hoặc với mọi nước thì cũng phù hợp với nguyên tắc không phân biệt đối xử. Khi hạn chế nhập khẩu bất kỳ sản phẩm nào, các nước ký hiệp định phải tận dụng mọi khả năng để sự phân phối thương mại những sản phẩm ấy sát với mức mà các nước thành viên khác dự tính có thể xuất khẩu vào được nếu không có hạn chế đó.

Hiệp định chung cũng có quy định cụ thể, những ngoại lệ về nguyên tắc không phân biệt đối xử. Nói về những ngoại lệ này, điều 14 của hiệp định quy định rằng, khi hạn chế để bảo đảm cân đối thu chi quốc tế và khi chính phủ viện trợ để phát triển kinh tế thì có thể làm khác với điều 13, nhưng ảnh hưởng của nó phải ngang với ảnh hưởng của sự hạn chế chi trả và chuyển nhượng trong giao dịch quốc tế hiện hành mà bấy giờ nước thực hiện hạn chế ấy có thể thực hiện theo quy định tại điều 8 hoặc điều 14 trong hiệp định của Quỹ tiền tệ quốc tế, hoặc theo quy định tương tự tại hiệp định đặc biệt về ngoại hối của Hiệp định chung. Không ngăn cấm những lãnh thổ thuộc Quỹ tiền tệ quốc tế có hạn ngạch chung hạn chế nhập khẩu từ các nước khác. Cũng không cấm các nước thành viên áp dụng các biện pháp phù hợp với các quy định liên quan để chỉ đạo xuất khẩu tăng thu nhập ngoại hối…

V/ Dùng thuế làm phương tiện bảo hộ

Thuế quan là phương tiện bảo hộ hợp pháp duy nhất được Hiệp định chung thừa nhận. So ới biện pháp hạn chế số lượng và các biện pháp thuế quan khác, nó phản ánh rõ ràng mức độ bảo hộ bằng thuế quan, phù hợp với nguyên tắc “minh bạch”.

Một học giả phương Tây nói một cách hình tượng rằng: “Nếu không cho hàng hóa đi qua biên giới thì binh lính sẽ tràn qua”. Chỉ có thực hiện buôn bán tự do hơn thì nền tảng hòa bình thế giới mới được bảo đảm. “Một bảo đảm tin cậy nhất để ngăn ngừa chiến tranh là cho nhân dân tất cả các nước cơ hội buôn bán bình đẳng”.

Điều 28 và phụ lục của điều này trong Hiệp định chung quy định cụ thể phải thông qua đàm phán để giảm nhượng thuế quan và đề ra phạm vi bảo hộ. Nó vạch ra rằng phải thông qua đàm phán trên cơ sở cùng ưu đãi, cùng có lợi để đi tới thỏa thuận cùng nhau nhân nhượng giảm thuế khiến ưu đãi vượt quá mức trước khi đàm phán. Từ ngày ra đời tới nay, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại đã trải qua 7 vòng đàm phán, mức thuế đã giảm nhiều, thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ.

VI/ Cùng ưu đãi

Cùng ưu đãi là một quy tắc cơ bản có vai trò quan trọng trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại. Ngay trong lời nói đầu đã vạch rõ rằng hiệp định này là hiệp định cùng ưu đãi cùng có lợi. Điều 28 của hiệp định nói rằng, trong quá trình tu chỉnh biểu thuế, các nước thành viên phải ra sức duy trì mức giảm thuế cùng ưu đãi cùng có lợi. Phụ lục của điều 28 còn nói rõ hơn là đàm phán trên cơ sở cùng ưu đãi cùng có lợi, giảm mạnh mức thuế và các chi phí xuất nhập khẩu khác, đặc biệt là giảm mức thuế cao đồng thời khi đàm phán cần chú ý thích đáng đến mục đích của hiệp định này và các nhu cầu khác nhau của các nước thành viên.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Quy tắc thương mại quốc tế nhiều bên – Phần đầu


Hiệp định chung được dùng làm quy phạm pháp lý độc lập. Quy tắc cơ bản cấu thành khung pháp lý ấy vừa có quy tắc thực thể, vừa có quy tắc trình tự, lại còn được bổ sung bằng những định ước độc lập. Bài này giới thiệu quy tắc thực thể và những ngoại lệ có liên quan (điều khoản miễn trừ). Cũng cần vạch ra rằng, những “luật lệ giao thông” này được áp dụng có xê dịch, hơn nữa không có quy tắc nào không có ngoại lệ, trong hơn 40 năm tạm thời thực hiện lại có những thay đổi mới. Điều này sẽ nói sau.

I/ Quy chế tối huệ quốc

Điều 1 phần thứ nhất trong Hiệp định chung quy định quy chế chung về tối huệ quốc. Đó là nền tảng của hiệp định này. Điều đó quy định rằng: “Những lợi ích, ưu đãi, đặc quyền hoặc miễn giảm mà nước thành viên này áp dụng cho những sản phẩm nhập khẩu của nước khác hoặc xuất khẩu sang nước khác phải được áp dụng vô điều kiện, không chậm trễ đối với những sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ các nước thành viên khác hoặc xuất khẩu sang các nước thành viên khác”.

Xét từ góc độ luật pháp quốc tế, đãi ngộ tối huệ quốc là sự đãi ngộ đối với nước được hưởng đãi ngộ. Quyền được hưởng chế độ tối huệ quốc được quy định trong một điều khoản của hiệp định, tức là với việc ký kết hiệp định, nước đãi ngộ có nghĩa vụ đãi ngộ nước được ưu đãi trong phạm vi đã ước định. Khi nước đãi ngộ cho bất kỳ nước thứ ba nào hưởng chế độ tối huệ quốc thì nước được hưởng đãi ngộ sẽ được đãi ngộ như nước thứ ba ấy. Do vậy, khi nước được hưởng đãi ngộ có quyền được hưởng ưu đãi đặc biệt hoặc được miễn giảm theo như trong hiệp định thì họ không phải gửi tới nước đãi ngộ bất kỳ đơn đề nghị nào. Còn nước đãi ngộ thì, sau khi ký hiệp định này, phải tự động áp dụng ngay lập tức đối với nước được hưởng đãi ngộ những ưu đãi mà mình đã, đang và sẽ dành cho nước thứ ba.

Phạm vi áp dụng quy chế tối huệ quốc được quy định cụ thể trong hiệp định.

Thực tiễn cho thấy, chế độ tối huệ quốc giữa các nước ký kết các hiệp định thương mại quốc tế có các hình thức sau đây:

1/ Chế độ tối huệ quốc vô điều kiện và có điều kiện.

Chế độ tối huệ quốc vô điều kiện có nghĩa là nước ký kết hiệp định đã hoặc sẽ ưu đãi và miễn giảm cho bất kỳ nước thứ ba nào thì cũng phải áp dụng một cách vô điều kiện (tức là không có bù đắp tương ứng) đối với các nước khác cùng ký hiệp định. Còn chế độ tối huệ quốc có điều kiện là nước ký hiệp định ưu đãi nước thứ ba có điều kiện thì nước cùng ký hiệp định kia phải đáp ứng những điều kiện ấy thì mới được ưu đãi và miễn giảm. Trong lịch sử, để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình, Mỹ thường áp dụng chế độ tối huệ quốc có điều kiện. Do vậy, hình thức này từng được gọi là điều khoản tối huệ quốc kiểu Mỹ. Còn các nước châu Âu thường áp dụng chế độ tối huệ quốc vô điều kiện, vì thế mà được gọi là điều khoản tối huệ quốc kiểu châu Âu.

Chế độ tối huệ quốc quy định trong Hiệp định chung là chế độ tối huệ quốc vô điều kiện.

2/ Chế độ tối huệ quốc đa phương và chế độ tối huệ quốc đơn phương.

Chế độ tối huệ quốc đa phương là các bên ký hiệp định thực hiện chế độ tối huệ quốc ngang nhau. Còn chế độ tối huệ quốc đơn phương là một bên ký hiệp định có nghĩa vụ thực hiện chế độ tối huệ quốc đối với phía bên kia mà không đòi hỏi bên đối phương cho hưởng chế độ tối huệ quốc.

Chế độ tối huệ quốc được quy định trong Hiệp định chung là chế độ tối huệ quốc đa phương.

3/ Chế độ tối huệ quốc không hạn chế và có hạn chế.

Chế độ tối huệ quốc không hạn chế có nghĩa là phạm vi đãi ngộ tối huệ quốc không có bất kỳ hạn chế nào, nó thường bao trùm tất cả các mặt trong quan hệ kinh tế, thương mại. Còn chế độ tối huệ quốc có hạn chế đóng khung trong một số mặt nào đó của quan hệ kinh tế thương mại.

Chế độ tối huệ quốc được quy định trong Hiệp định chung là chế độ tối huệ quốc có hạn chế, phạm vi áp dụng chỉ hạn chế ở lĩnh vực: thuế quan và chi phí xuất nhập khẩu, các khoản chi có liên quan đến xuất nhập khẩu, tới việc chuyển khoản thu chi quốc tế và xuất nhập khẩu hàng hóa, phương pháp thu thuế và chi phí nói trên, quy tắc và thủ tục xuất nhập khẩu.

Trong thực tiễn, các hiệp định thương mại quốc tế còn quy định những ngoại lệ về chế độ tối huệ quốc.

1/ Mậu dịch biên giới

Một số nước có biên giới chung thường cho phép cư dân vùng biên giới tiến hành mậu dịch tiểu ngạch ở khu vực biên giới, thuế và các thủ tục hải quan thường được miễn giảm. Những quyền lợi và ưu đãi mà bất kỳ nước nào ký hiệp định đang hoặc sẽ dành cho mậu dịch biên giới đều không được áp dụng cho chế độ tối huệ quốc.

2/ Liên minh thuế quan

Liên minh thuế quan là hai nước trở lên ký hiệp định tự xóa bỏ các trạm thuế quan riêng, lập ra trạm thuế quan thống nhất, không đánh thuế đối với buôn bán nội địa với nhau, chỉ đánh thuế đối với những nước ngoài liên minh. Những đãi ngộ đặc biệt nói trên về thuế quan giữa các nước trong liên inh thuế quan không áp dụng đối với những nước ký kết điều khoản về quy chế tối huệ quốc.

3/ Ưu đãi khu vực

Ưu đãi khu vực là những ưu đãi và những điều kiện thuận lợi đặc biệt mà một số nước dành cho nhau do những nguyên nhân lịch sử và địa lý. Các nước Hà Lan, Bỉ, Lucxembourg ở châu Âu thuộc về trường hợp này. Trong phụ lục của văn bản chính thức của Hiệp định chung đều ghi rõ những ngoại lệ này: phụ lục 1 liệt kê những ưu đãi riêng hiện hành giữa hai lãnh thổ trở lên; phụ lục 2, 3, 4 liệt kê các ưu đãi riêng hiện hành giữa hai lãnh thổ hoặc hai lãnh thổ trở lên có chung chủ quyền, kết hợp với nhau trong quan hệ bảo hộ hoặc quyền cai trị; phụ lục 5, 6 liệt kê những ưu đãi riêng hiện hành giữa các nước láng giềng với nhau.

4/ Những quy định có liên quan tới các pháp lệnh và lệnh cấm trong nước.

Những quy định về lệnh cấm trong nước để giữ gìn an ninh quốc gia, bảo vệ di tích lịch sử, ngăn ngừa, tiền, vàng, bạc chảy ra nước ngoài, đề phòng dịch bệnh đối với động, thực vật, đều không nằm trong khuôn khổ tối huệ quốc.

5/ Điều khoản về nghĩa vụ.

Điều khoản này trong Hiệp định chung quy định các nước ký kết hiệp định có thể rút bỏ một nghĩa vụ nào đó của một nước thành viên nào đó đối với hiệp định này, nhưng phải được 2 phần 3 số phiếu biểu quyết tán thành, hơn nữa đa số này phải chiếm quá nửa số nước đã ký hiệp định. Việc cho phép một nước thành viên nào đó không phải gánh vác nghĩa vụ nào đó ghi trong hiệp định gồm cả nghĩa vụ đãi ngộ tối huệ quốc.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới


I/ Sự ra đời của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

Hiệp định chung là hiệp định quốc tế nhiều bên về các quy tắc và trình tự điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế, quy định cụ thể quyền lợi và nghĩa vụ giữa các nước thành viên tham gia ký kết hiệp định.

Rút bài học kinh nghiệm lịch sử, đặc biệt là bài học khủng hoảng kinh tế năm 1929, Mỹ tích cực hô hào thành lập tổ chức thương mại quốc tế nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử và những trở ngại trong thương mại, thúc đẩy phục hồi kinh tế, tăng cường vai trò lãnh đạo của Mỹ trong nền kinh tế thế giới. Không bao lâu sau khi thành lập Ủy ban kinh tế – xã hội Liên hợp quốc, Mỹ đề nghị triệu tập hội nghị thương mại và việc làm của Liên hợp quốc nhằm thành lập một tổ chức thương mại quốc tế. Tháng 2/1946, Ủy ban kinh tế – xã hội Liên hợp quốc chấp nhận đề nghị của Mỹ, tiếp đó tại London, New York, họp sơ bộ thẩm định và tu chỉnh “Dự thảo hiến chương tổ chức thương mại quốc tế thuộc Liên hợp quốc” do Mỹ soạn thảo. Tháng 10/1947, hội nghị về thương mại và việc làm do Liên hợp quốc chủ trì họp tại Havanna (nay là La Habana – Cuba) đã thông qua “Tuyên bố Havanna” về tổ chức thương mại quốc tế. Ngày 24/3/1948 có 56 nước ký tuyên bố cuối cùng. Nhưng do Quốc hội Mỹ không phê chuẩn, chính phủ các nước khác cũng không đưa ra lời cam kết nào, thế là “tổ chức thương mại quốc tế” chết yểu. Sự chết yểu của nó để lại một khoảng trống lớn về thể chế quan hệ kinh tế quốc tế sau chiến tranh.

Trong quá trình thảo luận và tu chỉnh “Tuyên bố Havanna”, mùa hè năm 1947, do Mỹ khởi xướng, 23 nước họp tại Geneva đàm phán về việc cùng ký kết “Hiệp định chung”. Lúc đó, do “Tuyên bố Havanna” chưa được phê chuẩn, cho nên người ta lấy chính sách thương mại trong tuyên bố ấy làm nội dung chính của hiệp định này và đưa cả những thỏa thuận đã đạt được khi đàm phán về cùng miễn giảm thuế vào hiệp định. Ngày 1/1/1948 Hiệp định chung bắt đầu có hiệu lực. Bấy giờ có 23 nước ký “văn bản hiệp định tạm thời”, trong đó có 12 nước là các nước phát triển. Do vậy, nhiều nước đang phát triển gọi Hiệp định thương mại quốc tế nhiều bên mà các nước công nghiệp chiếm đa số và chi phối này là “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới”.

Từ đó, Hiệp định chung trở thành hiệp định quốc tế nhiều bên duy nhất trong nền thuơng mại quốc tế, “tạm thời” thay thế vai trò của “Tuyên bố Havanna”. Trải qua hơn 40 năm “tạm thời áp dụng”, nó trở thành hiệp định quốc tế lâu dài trong thực tế.

II/ Tính chất và tôn chỉ của hiệp định chung

Về tính chất, Hiệp định chung là một hiệp định quốc tế nhiều bên quy định những nguyên tắc thuế quan và thương mại. Nó liên quan tới các mặt kinh tế và thương mại giữa các nước ký kết hiệp định. Những quy định trong hiệp định có ý nghĩa chính trị, kinh tế quan trọng. Nó là công cụ quan trọng đối với việc tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại trên thế giới.

Văn bản chính thức của Hiệp định chung ghi rõ tôn chỉ của hiệp định là: “Chính phủ các nước ký kết hiệp định nhận thấy rằng, giải quyết quan hệ thương mại và kinh tế giữa họ với nhau là nhằm mục đích nâng cao mức sống, bảo đảm việc làm, tăng nhanh và liên tục thu nhập thực tế với nhu cầu hữu hiệu, sử dụng đầy đủ nguồn tài nguyên của thế giới, phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa. Nhằm mục đích trên, các nước này mong muốn đi tới thỏa thuận cùng ưu đãi, cùng có lợi, giảm mạnh thuế quan và các trở ngại khác trong thương mại, xóa bỏ sự phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế”. Câu trên của đoạn văn này nói về tôn chỉ của hiệp định, câu dưới nói về phương tiện và phương thức thực hiện mục đích ấy. Xét từ góc độ lý luận kinh tế chung, nó lấy lý luận kinh tế thị trường làm cơ sở, chủ trương tự do hóa kinh tế, phân phối và sử dụng tài nguyên trên bình diện thế giới để phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa. Xét về mặt lý luận thương mại quốc tế, nó chủ trương tự do thương mại quốc tế, tự do lưu động tài nguyên trên thế giới nhằm đạt hiệu quả kinh tế tối ưu, tiết kiệm lao động, tăng mức sống và phúc lợi. Muốn đạt mục tiêu này thì phải dỡ bỏ mọi vật cản gây trở ngại cho sự phát triển thương mại quốc tế. Cùng ưu đãi, cùng có lợi là tiền đề phát triển quan hệ thương mại bình đẳng. Giảm mạnh thuế và các vật cản thương mại khác là phương tiện và phương thức chủ yếu. Tuân thủ các quy tắc cơ bản của hiệp định – quy chế tối huệ quốc, chế độ ưu đãi chung, xóa bỏ những hạn chế về số lượng, lấy thuế làm phương tiện bảo hộ – là bảo đảm cho việc thực hiện hiệp định một cách có hiệu quả, phát triển thương mại quốc tế một cách thuận lợi.

Tuy nhiên, trong đời sống hiện thực của nền kinh tế và thương mại quốc tế, lợi ích chủ quyền quốc gia và chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch thường xuyên thách thức tôn chỉ của hiệp định này.

III/ Vai trò và tác dụng của hiệp định chung

Lâu nay người ta bàn nhiều về vai trò của Hiệp định chung. Về tên gọi thì nó là một hiệp định chứ không phải là một tổ chức. Nhưng thực tế nó có tác dụng của một tổ chức quốc tế, hơn nữa còn có bộ máy thường trực. Nguyên Tổng giám đốc Hiệp định chung, ông Olivier Long, từng khái quát một cách ngắn gọn rằng: “Hiệp định chung gồm hai nội dung: là hiệp định thương mại nhiều bên biểu hiện trên những mặt chữ ấy và là tổ chức giám sát thực hiện hiệp định này. Nói ngắn gọn, Hiệp định chung là cái khung pháp lý điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các nước thành viên của nó, là nơi chuyên để đàm phán thương mại và tu chỉnh cái khung pháp lý ấy, đồng thời còn là tổ chức dàn xếp và giải quyết tranh chấp”. “Ngoài ra, nó còn dần dần phát triển thành diễn đàn quốc tế để các nước thành viên thông qua đàm phán mà giải quyết với thái độ hợp tác những vấn đề quan trọng nảy sinh trong quan hệ thương mại giữa họ với nhau”. Lời khái quát này đã nói lên đầy đủ vai trò và chức năng của hiệp định. Thực tiễn cho thấy, Hiệp định chung thực sự là một tổ chức thương mại quốc tế, phụ trách đàm phán thương mại nhiều bên, tìm cách giảm thuế và các hàng rào phi thuế quan và là diễn đàn dàn xếp tranh chấp thương mại, tìm cơ hội mở rộng thương mại.

Xét từ góc độ luật pháp quốc tế, Hiệp định chung là một bộ phận cấu thành hữu cơ của công pháp quốc tế, nó điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các nước và lấy chính sách thương mại của các bên ký kết hiệp định làm đối tượng quản lý. Hiệp định chung được hình thành từ một loạt các văn kiện pháp lý, do vậy tự nó là một hệ thống luật. Khung cơ bản của nó là: 1) Hiệp định chung, gồm 38 điều khoản và 9 phụ lục; 2) Quy tắc hành vi, gồm 6 quy tắc là: quy tắc về nhà nước thu mua; quy tắc về thủ tục giấy phép; quy tắc về định giá hải quan; quy tắc về hàng rào thương mại có tính chất kỹ thuật; quy tắc chống bán phá giá; quy tắc về trợ giá và chống trợ giá; 3) Những văn bản thỏa thuận về hàng hóa, gồm có ba văn bản: thỏa thuận về các chế phẩm làm từ sữa; thỏa thuận về thịt bò và thỏa thuận về hàng không dân dụng; 4) Các nghị định thư, quyết định văn bản giải thích, gồm có: nghị định thư về tạm thời thực hiện HIệp định chung; nghị định thư của các vòng đàm phán nhiều bên; quyết định về ưu đãi đối với các nước đang phát triển; văn bản giải thích trình tự giải quyết tranh chấp; 5) “Thỏa thuận nhiều bên về hàng dệt” tạm thời chưa áp dụng quy tắc của Hiệp định chung.

Hiệp định chung lúc đầu có 23 nước tham gia, nay đã tăng lên 103 nước và 30 nước quan sát viên (1992). Nó từ chỗ là “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” dần dần thật sự trở thành “Liên hợp quốc kinh tế, thương mại”.

Hiệp định chung có tác dụng quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế thế giới, nền thương mại quốc tế phát triển sau chiến tranh.

Một là, thông qua đàm phán giảm mạnh thuế, ức chế được chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, thúc đẩy tự do hóa thương mại quốc tế. Năm 1947, sau vòng đàm phán nhiều bên lần thứ nhất, thuế suất hàng nhập khẩu giảm bình quân 54%. Năm 1979, sau khi kết thúc vòng đàm phán thứ 7 (vòng Tokyo), thuế suất hàng nhập khẩu của các nước phát triển giảm còn 5%, của các nước đang phát triển giảm còn bình quân khoảng 18%.

Hai là, sáu quy tắc hành vi nói ở trên được áp dụng để hạn chế hàng rào phi thuế quan. Song, đúng như một học giả phương Tây đã vạch ra: “giảm thuế giống như tháo nước đầm lầy, nước rút thì các thân và gốc cây hàng rào phi thuế quan đều lộ ra, những cái đó cần phải phạt bỏ”.. Từ những năm 50 về sau, hàng rào phi thuế quan chỉ giảm chút ít. Sau vòng đàm phán Tokyo, tác dụng của việc hạn chế hàng rào phi thuế quan không bằng giảm thuế.

Ba là, các nước đang phát triển giành được quyền bày tỏ ý kiến tập thể trong khuôn khổ pháp lý của hiệp định, cải thiện được điều kiện thương mại ở mức độ nhất định. Năm 1965, Hiệp định chung bổ sung thêm các điều khoản (điều 36 – 38) riêng về việc giải quyết các vấn đề thương mại và phát triển của các nước đang phát triển, là phần thứ tư của hiệp định này. Phần này quy định rằng: “Khi đàm phán thương mại, các nước ký hiệp định là các nước phát triển cam kết giảm hoặc xóa bỏ thuế và các hàng rào khác trong thương mại với các nước ký hiệp định là các nước đang phát triển thì họ không được yêu sách đòi được ưu đãi trở lại”. Điều này đặt cơ sở pháp lý cho các nước đang phát triển được đối xử khác với nước phát triển và được ưu đãi hơn.

Bốn là, Hiệp định chung là nơi dàn xếp và giải quyết các tranh chấp. Cơ chế đồng bộ của nó trong việc dàn xếp và giải quyết tranh chấp có tác dụng làm dịu mâu thuẫn và cọ sát thương mại giữa các nước ký kết hiệp định. Nó có sức ràng buộc về đạo lý, không nước nào muốn vi phạm để rồi chuốc lấy sự chỉ trích công khai của tất cả các nước ký kết hiệp định.

Năm là, nó có sức hấp dẫn mạnh đối với các nước chưa ký kết, từng bước lôi cuốn đa số các nước trên thế giới vào hệ thống thương mại quốc nhiều bên. Nó cũng mở cửa đối với các nước chưa ký kết.

Sáu là, thúc đẩy trao đổi thông tin về kinh tế, thương mại thế giới, tăng độ “minh bạch” trong việc quản lý thương mại quốc tế. Cái gọi là độ “minh bạch” có hai hàm ý. Một là, đòi hỏi phải quản lý theo quy chế của hiệp định, công khai chính sách và pháp quy thương mại; hai là, các nước ký kết hiệp định quản lý ngoại thương bằng các biện pháp “minh bạch”, tức là ra sức quản lý bằng thuế quan, giảm tới mức tối đa những hạn chế về số lượng và các biện pháp phi thuế quan khác.

Bảy là, trong quá trình phát triển sau này của nền kinh tế thương mại thế giới nó sẽ có tác dụng và ảnh hưởng rộng lớn hơn. Cuộc đàm phán thương mại nhiều bên vòng thứ tám – vòng đàm phán Uruguay, ba đề mục mới có liên quan tới thương mại là vấn đề sở hữu trí tuệ, biện pháp áp dụng đối với đầu tư và buôn bán dịch vụ đã được đưa vào nội dung đàm phán cả gói. Vì vậy có thể thấy rằng, từ nay về sau, chức năng, phạm vi quản lý và tác dụng của hiệp định này đều sẽ được tăng cường hơn.

Song, từ những năm 80, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch ngóc đầu dậy, tác dụng của hiệp định cũng bị hạn chế với mức độ nhất định.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bột các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần cuối


Chính quyền các bang và địa phương của Mỹ bày tỏ quan ngại và tăng cường trao đổi với Trung Quốc

Gần đây, cựu Giám đốc truyền thông Nhà Trắng Anthony Scaramucci đăng bài trên tờ Financial Times, cho rằng cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ đã tác động đến nền chính trị Mỹ. Ví dụ như doanh nghiệp Trung Quốc ngừng hoàn toàn việc mua đậu tương của Mỹ, các bang có ngành nông nghiệp phát triển đã mất đi đơn đặt hàng trị giá 1,2 tỷ USD. Anthony Scaramucci – từng là bạn của Donald Trump – kêu gọi tổng thống phải ngay lập tức thay đổi sách lược, nếu không sẽ gây bất lợi cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Phần lớn các chính trị gia bỏ phiếu tán thành nghị quyết để Thượng viện hạn chế quyền áp thuế của Donald Trump vào ngày 11/7/2018 đều xuất phát từ xem xét ảnh hưởng của việc áp thuế đối với địa phương đang không ngừng tăng lên. Ví dụ như thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Tom Udall lo ngại việc áp thuế này sẽ làm cho các doanh nghiệp của bang New Mexico gặp nhiều khó khăn. Trong buổi điều trần tại Thượng viện gần đây, Bộ trưởng thương mại Wilbur Ross đã vấp phải công kích của Thượng nghị sĩ Chuck Grassley đến từ bang Iowa chuyên trồng đậu tương, Chuck Grassley chỉ trích Donald Trump theo đuổi kinh tế theo chủ nghĩa trọng thương, chứ không phải kinh tế thị trường tự do. Lãnh tụ phe đa số tại thượng viện Mitch McConnell đến từ tiểu bang Kentucky cho rằng Trung Quốc là thị trường lớn nhất của các loại hàng hóa xuất khẩu chủ yếu của bang này – rượu Wihsky. Trong thời gian Donald Trump đến thăm Trung Quốc năm 2017, Tập đoàn năng lượng quốc gia Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ hợp tác với tiểu bang Tây Virginia, cam kết sẽ đầu tư 83,7 tỷ USD để tham gia dự án kiểu mẫu khai thác trong toàn bộ chuỗi ngành nghề khí đá phiến. Do kinh tế của tiểu bang Tây Virginia phụ thuộc nghiêm trọng vào khai thác than đá gặp nhiều khó khăn, nên khi Donald Trump rút khỏi Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, tỷ lệ ủng hộ của ông ở bang này đạt 70%. Khoản đầu tư này sẽ thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế và việc làm của bang này, còn có lợi cho việc bảo vệ môi trường, hiện nay lại bị quan hệ kinh tế thương mại ngày càng căng thẳng gác lại.

Ngày 11/7, cùng ngày Mỹ công bố danh sách áp thuế 200 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc, đoàn đại biểu của thành phố Chicago đến thăm Trung Quốc, không những đã ký Kế hoạch hợp tác 5 năm để bảo đảm các hạng mục đầu tư liên quan sẽ không bị gián đoạn, mà thị trưởng thành phố Chicago còn công khai bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác kinh tế thương mại với Trung Quốc. Tiểu bang Illinois với thành phố Chicago điển hình không những có các công ty đa quốc gia như Boeing, Caterpillar, McDonald’s, Abbott…, mà còn có hơn 50 doanh nghiệp Trung Quốc như tập đoàn lương thực quốc doanh lớn nhất Trung Quốc COFCO, ngân hàng Trung Quốc, hãng hàng không Hải Nam, tập đoàn sản xuất kính Fuyao, tập đoàn Wanxiang… Không ít trong số các bang này bày tỏ sự bất mãn đối với cuộc chiến thương mại mà Donald Trump thực hiện với Trung Quốc. Tiểu bang Michigan là nơi đặt trụ sở chính cảu General Motors, Ford, Daimler AG và Chrysler; tiểu bang Ohio có Procter & Gamble (P&G), Chrysler, American Electric Power; tiểu bang California có Apple, Walt Disney, những bang này đều phê phán chính sách thương mại cấp tiến của Donald Trump. Ngày 19/7/2018, thống đốc của 22 bang tham dự Hội nghị hàng năm Hiệp hội thống đốc các bang Mỹ, căn cứ theo cuộc điều tra của Tổng hội thương mại chung Trung Quốc tại Mỹ (CGCC), doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Mỹ đã tạo ra 200.000 việc làm ở các bang như Ohio, Indiana, Pennsylvania, Michigan, California, các thống đốc bang đã thảo luận tích cực về việc làm thế nào để đối phó với cuộc chiến thương mại, tăng cường quan hệ kinh tế thương mại với Trung Quốc. Theo cơ chế thu nhập từ thuế hiện nay của Mỹ, so với chính quyền liên bang, chính quyền bang thực chất tương đối độc lập, không cần phải chịu trách nhiệm với tổng thống và có quyền quản lý tự chủ rất lớn, cũng như có trách nhiệm thúc đẩy việc làm của người dân trong bang của mình. Chính quyền bang có ảnh hưởng tương đối lớn đối với quyết sách của Thượng viện và Hạ viện. Điều này cũng có nghĩa là nếu chinh phục được chính quyền các bang này, thì sẽ nắm được quyền bỏ phiếu của lưỡng viện ở mức độ rất lớn, và sẽ có cơ hội kiềm chế Donald Trump.

Các công ty đa quốc gia của Mỹ là nạn nhân của cuộc chiến thương mại

Các hội đoàn kinh tế thương mại phê phán biện pháp của cuộc chiến thương mại

Hội đoàn kinh tế thương mại lớn nhất của Mỹ là Phòng thương mại Mỹ (USCC) gần đây công khai phê phán cách làm của Donald Trump gây ra cuộc chiến thương mại, chỉ trích biện pháp đe dọa áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc của Nhà Trắng sẽ làm tổn hại lợi ích của người tiêu dùng Mỹ, làm suy yếu lợi ích đầu tư của Mỹ ở nước ngoài, đồng thời có thể bóp méo thực sự mối liên hệ kinh tế thương mại giữa Mỹ và các nền kinh tế quan trọng khác trên thế giới. Chủ tịch Phòng thương mại Mỹ Thomas J. Donohue liệt kê những tổn thất do cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ gây ra cho kinh tế các bang của Mỹ. Chủ tịch Hội đồng kinh doanh Mỹ – Trung John Frisbie công khai công rằng “Đã đủ rồi. Chúng ta cần phải ngừng cuộc chiến áp thuế leo thang không cần thiết và bắt đầu tìm phương án giải quyết vấn đề mà doanh nghiệp Mỹ quan tâm thực sự, áp thuế không giải quyết vấn đề”. Tổ chức này đã đưa ra các kiến nghị như kháng án lên WTO, đàm phán hiệp định đầu tư song phương… Năm 2016, Trung Quốc đã khẩu các bộ phim của Mỹ với tổng giá trị là 16 tỷ USD. Năm 2018, Bản ghi nhớ Trung – Mỹ về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến phim trong WTO với thời hạn 5 năm được ký vào năm 2012 sẽ được tái đàm phán, số lượng các bộ phim của Mỹ mà ngành sản xuất phim Mỹ vốn dự tính được phê chuẩn sẽ tăng lên. Tuy nhiên, từ tình hình hiện nay cho thấy Hollywood có thể trở thành vật hy sinh của cuộc chiến thương mại, thậm chí có thể trở thành mục tiêu của áp thuế trả đũa. Các nhà sản xuất phim của Mỹ cũng đang nỗ lực và tích cực thuyết phục Chính quyền Washington.

Lợi ích của các công ty đầu tư vào Trung Quốc bị tổn hại nghiêm trọng

Cựu Thứ trưởng thương mại Trung Quốc Ngụy Kiến Quốc viết bài cho rằng vài giờ sau khi Chính phủ Mỹ công bố áp thêm thuế đối với hàng hóa của Trung Quốc trị giá 34 tỷ USD vào ngày 6/7, không chờ đợi thông báo của Văn phòng đại diện thương mại, các bên liên quan có thể làm đơn xin miễn thuế theo điều khoản 301 cho một sản phẩm nào đó cho Mỹ trước ngày 9/10, với thời hạn miễn 1 năm. Trong danh sách áp thuế đợt đầu tiên, 59% sản phẩm do các công ty đa quốc gia sản xuất tại Trung Quốc, trong đó trên 70% sản phẩm do doanh nghiệp Mỹ gia công thương mại ở Trung Quốc, không thể thiếu trong dây chuyền ngành nghề toàn cầu. Để tránh làm tổn thương các doanh nghiệp trong nước, Chính phủ Mỹ đã nhanh chóng ném “vòng cứu sinh” miễn thuế. Theo thống kê, trong danh sách áp thuế của Mỹ, có một phần là các sản phẩm du lịch như xe đẩy, ví, ba lô và giày du lịch. Đây là một thị trường của Mỹ trị giá 31 tỷ USD, trong đó 87% sản phẩm đến từ Trung Quốc. Vì vậy, Phó chủ tịch liên đoàn bán lẻ Mỹ đã đứng lên phản đối cuộc chiến thương mại, lý do đơn giản rằng ông không thể tìm được nhiều lựa chọn thay thế cho các sản phẩm này ở các nước khác. Phòng Thương mại Mỹ ở Thượng Hải khẩn cấp công bố một khảo sát cho thấy 69% doanh nghiệp Mỹ ở Trung Quốc phản đối việc chính phủ coi việc áp thêm thuế như con bài thương lượng, càng không muốn các công ty trở thành mục tiêu nhắm tới được chính phủ miễn giảm thuế hàng năm.

Làm suy yếu nghiêm trọng khả năng cạnh tranh của công ty Mỹ tại các thị trường mới nổi

Năm 2016, người tiêu dùng Trung Quốc mua 44,9 triệu chiếc điện thoại di động của Apple, 5,1 triệu xe của 3 thương hiệu lớn là GM, Ford, Chrysler, lần lượt chiếm 21% và 33% doanh thu toàn cầu của Apple và 3 thương hiệu xe ô tô nói trên. Doanh thu của GM Buick ở Trung Quốc là 42 tỷ USD, vượt qua 39 tỷ USD ở Mỹ và doanh thu của Apple là 46 tỷ USD, chỉ đứng sau ở Mỹ. Boeing có 41.000 máy bay mới, hơn 7000 chiếc được bán cho Trung Quốc. Từ năm 2017 Tập đoàn viễn thông ZTE đã mua linh kiện trị giá khoảng 2,3 tỷ USD từ 211 công ty của Mỹ, Chính phủ Mỹ đã xử phạt ZTE nặng nề, tuy nhiên, Trung Quốc cũng phụ thuộc vào con chip của Mỹ. Năm 2017, tổng giá trị sản lượng chip của thế giới là 440 tỷ USD, Trung Quốc chiếm 260 tỷ USD, trong đó 70% chip cao cấp của Mỹ đã được bán cho Trung Quốc. Trung Quốc chiếm hơn 65% doanh thu cảu Qualcom, 50% doanh thu của Micron, 50% của Broadcom và 23% của Intel (chỉ riêng kim ngạch tiêu thụ của 4 công ty trên sang Trung Quốc đã lên đến 50 tỷ USD). Mạch tích hợp và chất bán dẫn là các ngành đòi hỏi nhiều nghiên cứu và vốn, nếu bị mất thị trường Trung Quốc, khả năng cạnh tranh ngành nghề của Mỹ cũng sẽ chịu tác động nặng nề. Việc phong tỏa công nghệ của Mỹ có thể khiến các công ty công nghệ có động lực tới thành lập các nhà máy ở Trung Quốc để thúc đẩy doanh số bán hàng tại thị trường Trung Quốc.

Một trong những hãng sản xuất ô tô lớn nhất của Mỹ là GM đã công khai bày tỏ sự không hài lòng trước việc Trump phát động cuộc chiến thương mại, lo ngại điều này sẽ làm suy yếu khả năng cạnh tranh kinh tế của Mỹ và không có lợi cho triển vọng của nền kinh tế Mỹ. Theo Financial Times, giám đốc điều hành của công ty Boeing thường xuyên gặp các quan chức cấp cao của Chính quyền Trump, chủ tịch kiêm CEO của Boeing nói: “Tiếng nói của chúng tôi đang được lắng nghe. Chúng tôi được tiếp xúc với chính phủ Mỹ và Trung Quốc, tôi hy vọng chúng ta có thể đạt được một giải pháp tốt”. Thị trường Trung Quốc là thị trường có tốc độ tiêu thụ nhanh nhất của Telsa Motor, nhưng trong danh sách trả đũa thuế ngày 6/7 có cả xe ô tô nhập khẩu của Trung Quốc, Telsa Motor nâng giá tại Trung Quốc, phiên bản cấu hình tối thiểu tăng giá 140.000 NDT, cấu hình cao nhất 250.000 NDT. Ngày 11/7, Telsa Motor tuyên bố thành lập công ty ở Trung Quốc và thành lập một siêu nhà máy ở Thượng Hải. Lợi ích của các công ty đa quốc gia cũng có thể gây áp lực đối với Trump theo hình thức Chỉ số trurng bình công nghiệp Dow Jones, tạp chí “Foreign policy” có bài bình rằng Trump coi Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones là mũi tên chỉ hướng gió của chính cá nhân mình, đặc biệt Boeing nằm trong số khách hàng lớn nhất đặc biệt của Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones, vì vậy khi chỉ số chứng khoán Dow Jones giảm, Chính quyền Trump cảm thấy cần phải đàm phán để giải quyết tranh chấp thương mại nhằm xoa dịu thị trường.

Nguồn: CVĐQT số 10/2018