John Kenneth Galbraith, người phê phán mạnh mẽ các nhà kinh tế học và kinh tế học


Gilles Dostaler

Là người bài báng truyền thống, người khiêu khích và là nhà báo viết nhiều, John Kenneth Galbraith công kích kịch liệt những huyền thoại của chủ nghĩa tư bản và nghiên cứu những thực tế của các nền kinh tế hiện đại. Phân tích của ông đã cập nhật quyền lực của các cấu trúc kĩ trị và biến Nhà nước thành một công cụ bảo vệ cần thiết.

Đối với John Kenneth Galbraith, kinh tế học chính thống không được trang bị để hiểu được chủ nghĩa tư bản hiện đại.

John Kenneth Galbraith được Paul Samuelson, một người bạn và là một người phản biện ông, mệnh danh là “nhà kinh tế học của những người ngoài ngành“. Ngoại trừ Paul Samuelson, tác giả của một cuốn sách giáo khoa đã được bán hàng triệu bản trên toàn thế giới, các đồng nghiệp tân cổ điển của Galbraith có lẽ phải ghen tị với những thành công văn học của tác giả viết nhiều này, mà hầu hết các cuốn sách của ông đều có một phong cách hành văn gọn gàng và dễ đọc thường thiếu trong kinh tế học. Do hạn chế về không gian, trong thư mục về tiểu sử (xem mục John Kenneth Galbraith qua vài năm tháng), chúng tôi chỉ ghi lại khoảng một chục trong số ba mươi cuốn sách của ông đã được xuất bản, cuốn sau cùng lúc ông đã hơn 95 tuổi. Galbraith viết thoải mái trong mọi thể loại, kể cả tiểu thuyết, tự truyện hay phê bình nghệ thuật. Ông cũng là tác giả của nhiều bài viết trên các tờ báo và tạp chí, và thường sử dụng rộng rãi đài phát thanh và truyền hình để truyền bá ý tưởng của mình. Ông không chỉ nói về kinh tế và chính trị, mà còn nói về nhiều vấn đề xã hội khác, trong đó có vấn đề thân phận phụ nữ, các quyền dân sự, quy hoạch đô thị, các vấn đề về môi trường.

Người bài báng truyền thống và khiêu khích

Bị giới kinh tế học chính thống phê bình hay phớt lờ và cố ý coi thường ông, Galbraith còn là mục tiêu công kích của các nhà kinh tế học cấp tiến hay mác-xít, những người xem ông như là một người bảo vệ đặc biệt tinh tế, nếu không muốn nói là ngoan cố, cho chủ nghĩa tư bản. Danh tiếng của ông cũng không kém danh tiếng của Keynes, một nhà kinh tế học mà ông tự xem là môn đồ. Là những người bài báng truyền thống và khiêu khích, hai tác giả này hoan hỉ với việc làm dậy sóng lúc thì ở cánh hữu và lúc thì ở cánh tả.

Trên vũ đài chính trị Mỹ, Galbraith là người theo trường phái “tự do” (“liberal”) theo nghĩa của Mỹ, có nghĩa là một người theo cánh tả. Sau khi làm cố vấn và là người soạn thảo diễn văn cho ứng cử viên Adlai Stevenson của Đảng Dân chủ vào năm 1952 và 1956, ông cũng làm nhiệm vụ tương tự với John F. Kennedy, một người bạn của ông và là người đã bổ nhiệm ông làm đại sứ tại Ấn Độ. Ông khuyên John F. Kennedy không tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam, mà ông là một trong những người chống đối quyết liệt nhất. Ông ủng hộ chiến dịch đề cử ứng cử viên Eugene McCathy của đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1968 và tham gia chiến dịch tranh cử của George McGovern năm 1972. Các quan điểm của ông càng triệt để hơn với sự nổi lên của chủ nghĩa tân tự do, giống như những người theo trường phái keynesian ôn hòa hơn. Galbraith và Samuelson gặp lại nhau trong cuộc chiến chống lại Milton Friedman và bạn bè của tác giả này. Năm 1960, Galbraith cũng đã gợi ý tổng thống Kennedy bổ nhiệm Samuelson làm Chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế, một đề nghị mà tổng thống đã từ chối.

Huyền thoại và thực tế của chủ nghĩa tư bản

Galbraith nhìn nhận ông có ba người truyền cảm hứng: Thorstein Veblen, người sáng lập thuyết thể chế của Mỹ, Keynes và Marx. Ông chia sẻ, với những người đàn anh của mình, niềm tin rằng kinh tế học chính thống không được trang bị để hiểu được bản chất và sự vận hành của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Những lý thuyết được giảng dạy trong các sách giáo khoa, ngày càng được hình thức hóa và toán hóa, mô tả một thế giới mê hoặc và phi thực tế, khi chúng không đơn giản là những lời biện hộ cho thuyết tự do kinh doanh.

Trong số những huyền thoại trên, một trong những huyền thoại gây ấn tượng mạnh nhất cho rằng giá cả được xác lập bởi sự gặp nhau giữa cung và cầu trên thị trường cạnh tranh. Người tiêu dùng, có chủ quyền, duy lý, có những thị hiếu và sở thích được cho là ngoại sinh, độc lập với sự vận hành của hệ thống kinh tế. Từ những bài viết đầu tiên, lấy cảm hứng từ Veblen và từ các tác phẩm của Edward Chamberlin vàJoan Robinson về sự cạnh tranh không hoàn hảo, Galbraith đưa ra ý tưởng cho rằng có hai khu vực trong các nền kinh tế hiện đại. Trong khu vực thứ nhất, bao gồm các ngành nghề được hình thành từ số đông các doanh nghiệp nhỏ, giá cả được xác định một cách hiệu quả theo cách nhích lại gần với điều được giảng dạy trong các sách giáo khoa. Đó là khu vực cạnh tranh, mà ông còn gọi là khu vực thị trường.

Nhưng điều đó không đúng ở khu vực thứ hai, từ lâu là khu vực quan trọng nhất trong các nền kinh tế hiện đại, về mặt sản xuất, thu nhập, việc làm và hiệu ứng lôi cuốn. Trong khu vực này, chính những doanh nghiệp lớn và rất lớn nắm quyền. Và họ có đủ khả năng để thiết lập giá cả của họ. Đó là những mức giá được quản lý. Hơn nữa, họ có thể trả mức lương cao hơn cho nhân viên của họ, bởi vì mức lương đó sẽ được phản ánh lại trong các mức giá của họ, để rồi cuối cùng chính những người tiêu dùng là những người phải thanh toán hóa đơn. Và người tiêu dùng phải thanh toán hóa đơn, chính xác mà nói là bởi vì chủ quyền của họ là một huyền thoại. Họ không có thị hiếu và sở thích bẩm sinh. Chính doanh nghiệp là những người hình thành nên sở thích của người mua, bằng sự thổi phồng quảng cáo. Cầu không hề độc lập với cung. Sản xuất tạo ra nhu cầu hơn là thỏa mãn nhu cầu.

Theo một huyền thoại khác của kinh tế học tân cổ điển, cùng với cách thức mà người tiêu dùng tối đa hóa một cách duy lý sự hài lòng của họ, thì nhà sản xuất cũng tối đa hóa lợi nhuận của họ. Nhà sản xuất được mô tả trong sách giáo khoa là nhà doanh nghiệp nhỏ giao dịch trong một thị trường cạnh tranh. Từ nay các doanh nghiệp lớn được điều hành bởi một đội ngũ các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý và các chuyên gia mà Galbraith gọi là “cấu trúc kĩ trị“. Cấu trúc kĩ trị này quan tâm đến sự tồn tại và tái sản sinh bản thân họ, đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp, đến sự giảm thiểu rủi ro và đến sự hài lòng của các cổ đông, hơn là sự tối đa hóa tỷ suất lợi nhuận. Cấu trúc kĩ trị hoạch định các hoạt động và sự phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy Galbraith còn gọi khu vực thứ hai này là “khu vực được hoạch định“.

Phân tích vừa được trình bày chủ yếu được phát triển trong bốn tác phẩm chính của ông:American Capitalism (Chủ nghĩa tư bản Mỹ),The Affluent Society (Kỷ nguyên của sự giàu có), The New Industrial State (Nhà nước công nghiệp mới), và Economics and the Public Purpose (Khoa học kinh tế và mục tiêu công). Người ta ghi nhận, từ giữa năm 1952 đến 1967 và cả sau đó nữa, cho đến cuốn sách cuối cùng của ông, một sự bi quan lớn dần về khả năng cải cách một hệ thống mà các khuyết tật và sự trục trặc vận hành đã trầm trọng thêm.

Phân giới cấu trúc kĩ trị

Galbraith thừa nhận rằng hệ thống hiện đại của các doanh nghiệp lớn hoạt động rất hiệu quả trong việc sản xuất ra hàng hóa. Nhưng những hàng hóa này rất thường là những hàng hóa không cần thiết. Và, bên cạnh một nền sản xuất tư nhân đại trà này, là một tình trạng xuống cấp trong lãnh vực công cộng: trường học, bệnh viện, hệ thống giao thông. Năm 1958, trong cuốn The Affluent Society (Kỷ nguyên của sự giàu có), Galbraith đã thu hút sự chú ý đến tình trạng suy thoái môi trường đi kèm với sự tăng trưởng giàu có và, với sự gia tăng bất bình đẳng và sự nhân bội các cuộc xung đột vũ trang, tạo nên một trong những mối đe dọa lớn nhất cho tương lai của nhân loại.

Ông không đề xuất loại bỏ các doanh nghiệp lớn và khôi phục lại sự cạnh tranh. Sự tăng trưởng không thể tránh khỏi của chúng là một tất yếu công nghệ. Ông viết rằng, khi người ta muốn khách nước ngoài tham quan các doanh nghiệp thành đạt nhất, thìngười ta dẫn họ tham quan chính những nơi tương tự với những nơi bị các thanh tra của luật chống độc quyền giám sát chặt chẽ. Phải bãi bỏ pháp chế lỗi thời này. Về điểm này, Galbraith nối lại các ý tưởng ​​của Joseph Schumpeter, một đồng nghiệp của ông ở Đại học Harvard.

Nhưng không phải vì thế mà để cấu trúc kĩ trị tự do hành động. Đối lại với khu vực quy hoạch của nền kinh tế phải là những thế lực mà Galbraith gọi là các “thế lực bù trừ“. Bên cạnh thế lực của nghiệp đoàn, chính Nhà nước là thế lực tốt nhất có thể đối kháng với quyền lực của các doanh nghiệp lớn. Ngoài các chính sách tài khóa và tiền tệ theo kiểu keynesian, ngoài việc kiểm soát giá cả và tiền lương để kiềm chế lạm phát, Galbraith chủ trương một sự can thiệp tích cực hơn nữa của Nhà nước trong nền kinh tế. Sự can thiệp đó có thể đi đến việc quốc hữu hóa, ví dụ như trong ngành giao thông, nhà ở hay chăm sóc y tế. Ông cũng đề xuất việc quốc hữu hóa ngành công nghiệp quân sự.

Trong cuốn Economics and the Public Purpose (Khoa học kinh tế và mục tiêu công), ông sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa xã hội để mô tả đề xuất cải cách của ông về các mối liên kết giữa Nhà nước, khu vực thị trường và khu vực các doanh nghiệp lớn. Chủ nghĩa xã hội này cho phép trả một mức lương tối thiểu cao hơn, một sự phân phối lại thu nhập từ người giàu cho người nghèo, một sự kiểm soát tốt hơn về môi trường và một sự bảo vệ công dân tốt hơn trước mọi rủi ro, rủi ro kinh tế và các rủi ro khác. Để nói một cách nhẹ nhàng, Hoa Kỳ của năm 2012 còn xa mới đạt mong ước trên. Trong cuốn sách cuối cùng của ông, được xuất bản năm 2004, hai năm trước khi ông qua đời, Galbraith chỉ có thể lưu ý rằng quyền lực của các doanh nghiệp lớn và của các nhà lãnh đạo của họ càng lớn hơn bao giờ hết, trong khi các nhà kinh tế học tiếp tục lan truyền huyền thoại của họ, điều mà ông gọi là “sự gian lận ngây ngô“.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: “John Kenneth Galbraith, pourfendeur des économistes et de l’économie” của G. Dostaler trong Alternatives Economiques Poche no.057, tháng 10 năm 2012

Advertisements

NAFTA chấm dứt có thể là một thảm họa địa chính trị đối với Mỹ – Phần cuối


Kết quả chắc chắn sẽ mang đến nhiều xáo trộn mới về kinh tế và lao động ở Mexico, và nếu kết hợp với một tổng thống Mexico mới vốn đã chỉ trích Mỹ, thì quan hệ song phương có khả năng sẽ gặp nhiều rắc rối hơn bất kỳ thời điểm nào trong những thập kỷ gần đây. Nó sẽ đi ngược lại bố cảnh gần 2 thế kỷ biên giới yên ổn, vốn từ lâu đã được Mỹ coi là một điều kiện gần như vĩnh cửu. Trong bối cảnh đó, bất kỳ sự thay đổi nào về tình trạng biên giới đó cũng được xem như là một mục tiêu cơ hội rất hấp dẫn cho các đối thủ của Mỹ, trong đó có Tổng thống Nga Vladimir Putin. Đúng như ông đã mô tả sự sụp đổ của Liên Xô như là “thảm họa địa chính trị lớn nhất thế kỷ”, ông chắc chắn coi một vùng biên giới phía Nam của Mỹ bất ngờ rơi vào tình trạng hỗn loạn như là một món quà bất ngờ đối với Moskva. Lý do cốt lõi xuất phát từ hiểu biết của ban lãnh đạo Nga rằng trong mối quan hệ cạnh tranh của họ với Mỹ, Nga không thể đọ được với Mỹ trong bất kỹ lĩnh vực nào khác ngoài quân sự. Kết quả là một nguyên lý cơ bản của chính sách đối ngoại Nga, như trong thời đại Xô viết, là thu hẹp và giảm đến mức thấp nhất mọi biểu hiện cho thấy sức mạnh và tầm ảnh hưởng của Mỹ – nhằm “hạ thấp tầm quan trọng của Mỹ”.

Trong những năm trước, mục tiêu đó được phản ánh trong các nỗ lực của Liên Xô nhằm mục đích nhấn mạnh và lợi dụng những khuyết điểm và nỗi đau trong xã hội và nền chính trị Mỹ, nổi bật nhất là bằng việc nhấn mạnh các điều luật Jim Crow (gồm các quy định hà khắc đối với người da đen – ND) và hoàn cảnh khó khăn của người Mỹ da đen. Trong hoàn cảnh đã thay đổi và khác biệt hiện nay, Moskva chú trọng vào việc làm suy yếu sự ủng hộ của người dân Mỹ đối với hệ thống chính trị của nước này, chẳng hạn như thúc đẩy quan điểm cho rằng các cuộc bầu cử của Mỹ là “gian lận”. Yếu tố phổ biến và trung tâm trong cách tiếp cận này là để Nga khẳng định sự tương đương về mặt đạo đức với Mỹ, cụ thể là đưa ra ý kiến cho các rằng các giá trị và thông lệ của Mỹ và phương Tây không tốt đẹp hơn các giá trị và thông lệ của Nga. Với những người Nga vốn có giao thiệp với phương Tây thì đ1o là một chiến thuật phổ biến, như John F. Kennedy đã hoang mang khi nhận thấy trong cuộc gặp đầu tiên của ông với Khrushev. Chính Putin cũng đã thể hiện một cách chính xác phương pháp này vào năm 2013 khi được một phóng viên Anh hỏi về cảm nhận của mình về Stalin và những tội ác của ông ta. Như Nikita Petrov gần đây đã viết trên tờ Foreign Affairs, “Putin đáp lại: ‘Cromwell thì có gì tốt đẹp hơn?’”.

Cách đối đáp đầy kinh nghiệm đó phản ánh một sự hiểu biết rõ về lịch sử của Mỹ và phương Tây, điều hữu ích hơn hẳn các chiến thuật tranh luận của Nga. Nó phản ánh nhận thức rằng trong bối cảnh mối quan hệ Mỹ – Mexico vốn đã bị tổn hại bởi các vấn đề thương mại và biên giới, sự sụp đổ của NAFTA sẽ tạo ra trong chính sách đối ngoại của Mỹ một điểm yếu mà một lần nữa sẽ dễ bị lợi dụng. Tính dễ bị tổn thương mới có này sẽ đại diện cho một sự thay đổi về tình trạng: từ một vùng biên giới phía Nam trước đó vốn yên ổn trong nhiều thập kỷ thành một khu vực mà sẽ đòi hỏi tối thiểu một sự chuyển hướng và tái phân phối các nguồn lực an ninh quốc gia của Mỹ, và nhiều hơn thế nếu các mối quan hệ trở nên tồi tệ thêm.

Dĩ nhiên, khu vực biên giới phía Bắc của Mỹ với Canada chưa bị hỗn loạn ở mức độ gần như tương tự với khu vực phía Nam, và có một lịch sử rất khác và thuận lợi hơn. Nhưng vấn đề NAFTA thật sự đã khiến cho mối quan hệ Mỹ – Canada bị xáo trộn hơn bao giờ hết trong những năm gần đây, và trong một trường hợp gần đây, Canada đã lựa chọn một chính sách chủ yếu được biện minh bởi sự cần thiết phải tránh làm cho mối quan hệ với Washington trở nên tồi tệ thêm nữa. Điều đó xảy ra vào tháng 12/2017, khi nhiều người biết rằng Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bỏ phiếu với kết quả 128 phiếu thuận và 9 phiếu chống nhằm chỉ trích quyết định của Washington công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Điều rất bất ngờ là Canada không gia nhập đa số gồm 128 nước – bao gồm hầu hết các đồng minh của Mỹ trong Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) – đã bỏ phiếu chống lại Mỹ. Thay vào đó, Canada đã bỏ phiếu trắng, và lời giải thích được đưa ra công khai là với những mối quan hệ vốn đã quá căng thẳng do vấn đề NAFTA, Thủ tướng Trudeau muốn né tránh bất kỳ điều gì mà sẽ làm cho Tổng thống Trump thất vọng hơn nữa. Ngay dù vậy, Ngoại trưởng Canada Chrystia Freeland dường như bị thuyết phục rằng các cuộc đàm phán NAFTA hiện nay sẽ thất bại, và Trump sẽ rút khỏi thỏa thuận này. Khi đó, Canada sẽ đẩy nhanh các bước để mở rộng các thị trường xuất khẩu của họ vượt ra ngoài Mỹ, nới lỏng các mối quan hệ mà trong 1/4 thế kỷ qua đã trở nên thân thiết hơn bao giờ hết.

Ít nhất có 1 vấn đề khác có tiềm năng làm cho mối quan hệ Mỹ – Canada trở nên tồi tệ thêm và do đó được coi là một mục tiêu cơ hội có lợi cho đối thủ của Mỹ. Nó xuất phát từ sự kết hợp giữa chế độ liên bang đôi khi hỗn loạn của Canada và lịch sử phong trào độc lập Quebec của nước này. Đây là một chủ đề đặc biệt có liên quan trong kỷ nguyên của chủ nghĩa ly khai mang màu sắc dân túy và chủ nghĩa dân tộc được khôi phục hiện nay, thường bắt nguồn từ những sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa (như ở Quebec). Vấn đề này bắt đầu được chú ý vào cuối những năm 1960, khi Quebec ngày càng trở thành nơi diễn ra phong trào ly khai sôi động. Khi Tổng thống Pháp Charles de Gaulle đến thăm Montreal vào năm 1967 và được nhiều người biết đến là đã hô to “Quebec tự do muôn năm”, đám đông đã reo hò tán thành và phong trào độc lập của Quebec được phục hưng. Tuy nhiên, phản ứng của Chính phủ Canada là ngay lập tức phủ nhận, vì một Quebec độc lập, tỉnh lớn nhất Canada về diện tích và đứng thứ hai về dân số, làm dấy lên nỗi ám ảnh về một đất nước bị chia rẽ hoàn toàn. Không ngạc nhiên, chuyến thăm của De Gaulle đã nhanh chóng bị rút ngắn và quan hệ với Pháp đã bị tổn hại trong một vài năm.

Hiện nay, phong trào ly khai của Quebec đã yên ắng, nhưng tro tàn của nó thì chưa biến mất; như gần đây đối với Chính quyền Clinton vào giữa những năm 1990, chúng là nguyên nhân dẫn đến những quan ngại về chính sách đối ngoại của Mỹ. Như trong trường hợp biên giới của Mỹ với Mexico, và trong bối cảnh quan hệ căng thẳng hiện nay của Canada với Mỹ liên quan đến NAFTA, những ký ức đó là một điểm yếu tiềm tàng trong chính sách đối ngoại của Mỹ mà dễ bị lợi dụng. Nếu điều đó dường như không có khả năng xảy ra, thì hãy nhắc lại việc Nga gần đây đã – và trong một số trường hợp là đang – tiến hành đưa thông tin sai lệch và các hoạt động có liên quan đến tình hình nội chính của Pháp, Anh và Đức, mà không đề cập đến Phần Lan, Estonia, Gruzia và Ukraine. Những hành động đó của Nga là đề tài của một báo cáo của Ủy ban đối ngoại Thượng viện dài 200 trang vừa được công bố, có tựa đề “Cuộc tấn công bất cân xứng của Putin vào nền dân chủ ở Nga và châu Âu”.

19 quốc gia mà báo cáo này bao trùm không mở rộng sang bán cầu Tây, nhưng nếu các hành động chính thức của Mỹ khiến NAFTA sụp đổ, như nhiều người lo sợ, thì các tàn tích đau thương ở những vùng biên giới phía Nam và phía Bắc của Mỹ hiện đang âm ỉ sẽ lại bùng cháy do các phương pháp tương tự của Nga. Gần 2 thế kỷ biên giới yên ổn vốn được coi là điều đương nhiên sẽ trở thành các vùng biên giới một lần nữa dễ có khả năng phải chịu sự phá hoại khéo léo của một đối thủ được chứng minh là có năng lực và cam kết làm suy yếu Mỹ. Hậu quả đối với an ninh quốc gia đó hoàn toàn chưa tính đến những tổn thất lớn về kinh tế mà nó sẽ đem lại cho người nông dân và người lao động trong ngành công nghiệp ô tô của Mỹ, cũng như thiệt hại nó có thể mang đến cho chính đảng của tổng thống. Từ quan điểm hoàn toàn mang tính phe phái đó, như Karl Rove gần đây đã viết, “việc hủy bỏ NAFTA sẽ gây tổn hại cho các thành viên đảng Cộng hòa ở các bang nông nghiệp, sản xuất ô tô và gần biên giới… Ngài Tổng thống, điều này là không đáng”.

Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/how-the-death-nafta-could-be-geopolitical-disaster-america-24366

TLTKĐB – 25/02/2018

NAFTA chấm dứt có thể là một thảm họa địa chính trị đối với Mỹ – Phần đầu


Bernard K. Gordon

Sự sụp đổ của Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) sẽ tạo ra trong chính sách đối ngoại của Mỹ một điểm yếu một lần nữa dễ bị khai thác.

Tháng 4/2005, Vladimir Putin được nhiều người biết đến là mô tả sự tan rã của Liên Xô vừ là “thảm họa địa chính trị lớn nhất thế kỷ”, vừa là một “bi kịch” đối với Nga. Đối với người Mỹ trong thế kỷ này, một thảm họa có quy mô thậm chí còn lớn hơn đang hình thành: sự chấm dứt vị thế độc tôn của Mỹ là nước lớn duy nhất có biên giới yên ổn. Không một nước lớn nào khác ở bất kỳ đâu được hưởng hay đã được hưởng sự xa xỉ đó. Ở châu Âu, Pháp, Đức, Nga, Anh và các nước khác đều đã phải sống chung với các nước thù địch ở biên giới của họ, đôi khi nổ ra xung đột công khai. Điều tương tự đang diễn ra ở Nam Á hiện nay, nơi người ta biết rõ về thái độ thù địch lẫn nhau giữa Ấn Độ và Pakistan, thêm vào đó là sự kình địch ngày càng gia tăng của Ấn Độ với nước láng giềng Trung Quốc. Và điều đó đương nhiên cũng diễn ra ở Đông Á, nơi sự thù địch lâu dài và sâu sắc giữa Trung Quốc và Nhật Bản chỉ là một trong nhiều ví dụ về những khu vực biên giới đáng lo ngại mà hai nước này phải đối mặt. Đối với Nhật Bản, biên giới phía Bắc với Nga từ lâu đã là một vấn đề gây bất đồng hiện vẫn tiếp diễn, và Trung Quốc có hơn một chục khu vực biên giới, bao gồm một vài nơi mà trong những năm gần đây đã dẫn tới xung đột vũ trang.

Trải nghiệm của Mỹ thì hoàn toàn khác biệt. Nằm ở trung tâm lục địa Bắc Mỹ, vớ đại dương ở cả hai phía, Mỹ đã truyền đi một hình ảnh cũng như một thực tế rất đáng thèm muốn. Với một Canada dân cư thưa thớt ở phía Bắc và một nền kinh tế Mexico thường phải vật lộn ở phía Nam, sự kết hợp giữa diện tích rộng bằng cả lục địa, dân số lớn và một nền kinh tế sôi động của Mỹ đồng nghĩa với việc hầu như không có mối lo ngại nào ở những vùng biên giới. Điều này đã làm gia tăng đáng kể sức mạnh địa chính trị của nước này, và trong ngữ cảnh là bài viết về “cường quốc đang trỗi dậy”, so sánh cường quốc lâu đời là Mỹ với cường quốc đang trỗi dậy là Trung Quốc, Joseph Nye thuộc Đại học Harvard gần đây đã viết rằng vị trí địa lý có lợi cho Mỹ vì nước này có các nước láng giềng “có khả năng vẫn thân thiện”.

Nhưng giờ đây tình thế đã thay đổi. Khả năng NAFTA sụp đổ đã làm thay đổi tình trạng biên giới yên ổn lâu dài đó. Không có thay đổi đột ngột nào sắp diễn ra, nhưng đồng thời, điều mà Mỹ từ lâu đã coi là đương nhiên không còn có thể được thừa nhận một cách chắc chắn như trước nữa. Lý do là quan hệ của cả Mexico lẫn Canada với Mỹ đã trở nên rất bất ổn, đáng chú ý là vì một lập trường mới và chính thức của Mỹ về thương mại đối với cả 2 nước láng giềng này. Theo quan điểm mới này, cả Mexcio lẫn Canada hầu như đều không có ảnh hưởng đòn bẩy trong thương lượng và Washington về cơ bản có thể định hình mối quan hệ. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross là rõ nhất về điều này. Vào tháng 12/2017, ông nói rằng sự sụp đổ của NAFTA sẽ “gây tổn hại đến nền kinh tế Mexico” và là một “vấn đề lớn đối với Canada”. Điều đó là đúng: Cả 2 nước này đều phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ nhiều hơn là theo chiều ngược lại, điều đã khiến Ross dự đoán rằng 2 nước sẽ “bắt đầu suy nghĩ thấu đáo và đưa ra một thỏa thuận hợp lý”.

Tình hình khó mà được như vậy. 5 vòng đàm phán NAFTA trong năm 2017 phản ánh cả một thực tế thương mại khác biệt lẫn một môi trường chính trị đã thay đổi. Về các vấn đề thương mại, Canada và Mexico đã nhanh chóng hành động để mở rộng các mối quan hệ của họ vượt ra ngoài Mỹ, cụ thể là tới châu Âu và Trung Quốc, nhưng hậu quả rõ ràng nhất là ở thực tế chính trị đã thay đổi rõ rệt của Mexico. Mexico sẽ tổ chức tổng tuyển cử và bầu cử tổng thống vào tháng 7/2018, và, lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ, một ứng cử viên bài Mỹ công khai là ông López Obrador có khả năng chiến thắng. Là cựu Thị trưởng Mexico City, ông từng ra ứng cử 2 lần và thua với kết quả rất suýt soát trong lần thứ 2. López Obrador nổi tiếng là một nhà cải cách chống tham nhũng cũng như một người chỉ trích mạnh mẽ nước Mỹ, và các cuộc thăm dò gần đây cho thấy ông dẫn trước các đối thủ của mình từ 5% – 20%.

Nhiều điểm yếu của ban lãnh đạo hiện tại của Mexico đã giúp ông trở thành ứng cử viên, nhưng có 2 thành tố chính liên quan đến Mỹ giải thích cho sự vươn lên vững chắc của ông. Một mặt là lập trường cứng rắn của Đại diện thương mại Mỹ Lighthizer và Bộ trưởng Thương mại Mỹ Ross trong các cuộc đàm phán NAFTA; mặt khác là những sự chỉ trích gay gắt đối với Mexico và người dân Mexico thường được bày tỏ trong chiến dịch tranh cử tổng thống của Donald Trump. Việc ông mô tả người Mexico là những kẻ cưỡng hiếp và buôn bán ma túy đã làm sống lại tư tưởng bài Mỹ vốn âm ỉ nhưng đã có từ lâu ở Mexico. Tư tưởng đó đã giảm bớt trong những năm kể từ khi có NAFTA, và những sự cải thiện mà nó đã giúp mang lại cho nền kinh tế Mexico, nhưng tư tưởng đó vốn ăn sâu bám rễ và bắt nguồn từ thất bại của Mexico trong cuộc chiến tranh 1847 – 1848 với Mỹ. Cuộc chiến đó đã khiến Mexico phải nhượng cho Mỹ một nửa lãnh thổ của mình, một vùng rộng lớn mà giờ đây là Utah, Nevada và California, toàn bộ New Mexico và nhiều vùng ở Arizona, Colorado và Wyoming. Những ký ức về thất bại đó khó có thể mất đi, như Hạ nghị sĩ bang Texas Henry Cuellar gần đây đã nhắc lại trước cử tọa ở Washington, và trong khi hầu như không có người Mỹ nào nhớ được nhiều đều về James K. Polk, tổng thống Mỹ khi đó, thì chỉ có Donald Trump mới cạnh tranh được với Polk về mức độ bị phản đối ở Mexico hiện nay.

Đó là điều đặc biệt không may vì khả năng chiến thắng của López Obrador vào tháng 7 cần được nhìn nhận trong bối cảnh ảnh hưởng của việc NAFTA sụp đổ đối với chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Mỹ – ngoài thiệt hại mà nó gây ra cho nền kinh tế Mỹ. Đó không phải là trọng tâm chính ở đây, nhưng có một vài con số đang gợi lại. Chỉ trong ngành nông nghiệp, Canada và Mexico đã chiếm 1/3 giá trị nông sản xuất khẩu của Mỹ (18 tỷ USD sang Mexcio và 23 tỷ USD sang Canada), và các nhà lãnh đạo ngành ô tô Mỹ thường xuyên cảnh báo rằng sự sụp đổ của NAFTA sẽ làm mất đi công ăn việc làm được tạo ra nhờ các chuỗi cung ứng mà họ đã xây dựng giữa 3 nước thành viên NAFTA này. Các quan chức Canada cho biết rằng thêm 9 triệu việc làm của Mỹ phụ thuộc vào thương mại và đầu tư ở Canada, và rằng hơn 2/3 số tiểu bang của Mỹ coi Canada là thị trường hàng đầu của họ. Tháng 1/2018, các nhà lãnh đạo ngành nông nghiệp, chế tạo và kinh doanh của Mỹ (bao gồm cả một số người đến từ Canada và các tiểu bang của Mỹ chịu ảnh hưởng nặng nề) đã trực tiếp đưa phần lớn những bằng chứng này ra để cá nhân tổng thống xem xét. Kết quả là có một số dấu hiệu cho thấy ông đã làm dịu bớt cam kết chấm dứt NAFTA của mình, nhưng cũng có các báo cáo cho rằng ông đơn giản có thể trì hoãn việc rút khỏi NAFTA cho tới sau các cuộc bầu cử vào tháng 7 của Mexico. Điều không thay đổi là các tuyên bố công khai đã có từ lâu của một số người trong chính quyền của ông rằng việc chấm dứt NAFTA không chỉ là chấp nhận được mà còn là đáng mong muốn, điều đã khiến các nhân vật trong giới ngân hàng và tài chính ở cả Canada và Mexico kết luận rằng các quan điểm của chính tổng thống là không thay đổi, và rằng phải chấp nhận sự sụp đổ của NAFTA.

(còn tiếp) 

Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/how-the-death-nafta-could-be-geopolitical-disaster-america-24366

TLTKĐB – 25/02/2018

Tranh cãi về các mô hình trong kinh tế học


Dani Rodrik

Kể từ cuối thế kỷ 19, khi ngành kinh tế học ngày càng sử dụng nhiều toán học và thống kê hơn, đưa ra những tuyên bố rằng nó là một ngành khoa học, thì những người làm nghề đã bị cáo buộc hàng loạt tội danh. Các cáo buộc, bao gồm sự kiêu căng, thờ ơ với những mục tiêu xã hội ngoài thu nhập, quan tâm quá mức tới những kỹ thuật chính thống, và thiếu khả năng dự đoán những diễn biến kinh tế lớn như các cuộc khủng hoảng tài chính – thường đến từ những người ngoại đạo, hoặc từ những nhóm không chính thống bên lề. Nhưng gần đây dường như đến cả những cây đa cây đề của ngành này cũng không cảm thấy hài lòng.

Paul Krugman, một người được giải thưởng Nobel đồng thời phụ trách một mục báo (trên New York Times), đã hình thành thói quen đả kích gay gắt sự ra đời của các mô hình kinh tế vĩ mô mới nhất vì bỏ qua những sự thật lâu nay dựa trên quan điểm của Keynes. Paul Romer, một trong những nhà khởi lập thuyết tăng trưởng mới, đã buộc tội một số tên tuổi hàng đầu, bao gồm người đoạt giải Nobel Robert Lucas, về những điều mà ông gọi là “toán học hóa điên rồ” (“mathiness”) – sử dụng toán học để làm rắc rối thêm thay vì làm sáng tỏ vấn đề.

Richard Thaler, một nhà kinh tế học hành vi đáng kính tại trường Đại học Chicago, đã chỉ trích nghề này vì làm ngơ những hành vi trong thế giới thực tế để sử dụng các mô hình vốn giả định rằng con người là những kẻ tối đa hóa lợi ích có lý trí. Và giáo sư tài chính Luigi Zingales, cũng đến từ Đại học Chicago, đã buộc tội những chuyên gia tài chính đồng môn của ông là đã dẫn dắt xã hội đi lạc đường bằng việc phóng đại những lợi ích được tạo ra bởi ngành tài chính.

Hình thức phê phán bởi những tên tuổi lớn trong ngành là hoàn toàn lành mạnh và được chào đón – đặc biệt là trong một lĩnh vực mà vẫn thường thiếu nhiều sự tự nhìn nhận. Tôi cũng thường xuyên chỉ trích những quan niệm lâu đời trong bộ môn này – như thị trường tự do và tự do thương mại.

Nhưng có một ẩn ý không thống nhất trong vòng phê phán mới này cần phải được làm rõ – và phải được bác bỏ. Kinh tế học không phải bộ môn khoa học mà trong đó chỉ có một mô hình đúng duy nhất có thể áp dụng tốt nhất trong tất cả các hoàn cảnh. Vấn đề ở đây không phải là “đạt được sự đồng thuận về việc mô hình nào đúng,” như Romer đã nói, mà là để tìm ra mô hình nào áp dụng tốt nhất trong một tình huống cụ thể. Và thực hiện được điều này sẽ luôn là một nghệ thuật, chứ không phải khoa học, đặc biệt khi lựa chọn phải được đưa ra theo thời gian thực.

Thế giới xã hội khác với thế giới vật chất vì nó là thế giới nhân tạo và vì thế nó gần như có thể được uốn nắn không giới hạn. Vì thế, không giống khoa học tự nhiên, kinh tế học tiến lên về mặt khoa học không phải bằng cách thay thế những mô hình cũ bằng những mô hình tốt hơn, mà bằng cách mở rộng thư viện các mô hình, trong đó mỗi mô hình sẽ giải thích cho một sự kiện xã hội khác nhau.

Ví dụ, chúng ta giờ đây có rất nhiều mô hình thị trường cạnh tranh không hoàn hảo hoặc thông tin bất đối xứng. Những mô hình này không làm cho những mô hình tiền bối vốn dựa trên cạnh tranh hoàn hảo trở nên lạc hậu hoặc không phù hợp. Chúng chỉ cho chúng ta ý thức cao hơn về việc những hoàn cảnh khác nhau đòi hỏi những mô hình khác nhau.

Tương tự như vậy, các mô hình hành vi nhấn mạnh việc ra quyết định dựa trên trải nghiệm giúp chúng ta thành những nhà phân tích giỏi hơn trong những môi trường mà những sự suy xét, cân nhắc như vậy có thể là rất quan trong. Chúng không thay thế những mô hình lựa chọn lý tính – vẫn tiếp tục là công cụ cần sử dụng đến trong một số hoàn cảnh khác. Một mô hình tăng trưởng mà áp dụng vào các nước tiên tiến có thể là một chỉ dẫn tồi cho các nước đang phát triển. Các mô hình nhấn mạnh sự kỳ vọng đôi khi là tốt nhất cho việc phân tích các mức lạm phát và thất nghiệp; nhưng trong một số thời điểm khác, các mô hình với yếu tố Keynesian lại có hiệu quả áp dụng vượt trội hơn.

Jorge Luis Borges, một nhà văn người Argentina, đã từng viết một truyện ngắn – một đoạn văn – mà có lẽ là hướng dẫn tốt nhất cho phương pháp khoa học. Trong đó, ông mô tả một vùng đất xa xôi nơi bộ môn bản đồ học – môn khoa học về vẽ bản đồ – được đẩy đến những thái cực nực cười. Một bản đồ tỉnh chi tiết đến mức có kích cỡ bằng cả một thành phố. Bản đồ một đế chế thì rộng bằng cả một tỉnh.

Dần dần, các nhà đo đạc bản đồ trở nên tham vọng hơn: họ vẽ một bản đồ như chính mô hình, thể hiện chính xác với tỷ lệ 1:1 của cả đế chế. Như Borges hài hước viết, những thế hệ sau chẳng thấy lợi ích thực tế nào của một tấm bản đồ rộng đến mức không thể cầm được như vậy. Vì thế tấm bản đồ này đã bị để tới mục ra ở sa mạc, cùng với môn khoa học địa lý mà nó đại diện.

Nhiều nhà khoa học xã hội ngày nay vẫn chưa nắm bắt được quan điểm của Borges: sự thấu hiểu đòi hỏi sự đơn giản hóa. Cách tốt nhất để đáp lại sự phức tạp của đời sống xã hội không phải là thiết kế ra những mô hình còn nhiều chi tiết hơn, mà là tìm hiểu xem những cơ chế hệ quả khác nhau hoạt động như thế nào, một cơ chế tại từng thời điểm một, và sau đó tìm ra những mô hình nào là phù hợp nhất trong một tình huống cụ thể.

Chúng ta sử dụng một bản đồ này nếu chúng ta đang lái xe từ nhà đến chỗ làm, một bản đồ khác nếu chúng ta du lịch đến một thành phố khác. Nhưng những loại bản đồ khác nhau sẽ cần được dùng nếu chúng ta đi xe máy, đi bộ, hoặc lên kế hoạch dùng phương tiện công cộng.

Xem xét giữa các mô hình kinh tế – lựa chọn mô hình nào hoạt động hiệu quả hơn – khó hơn rất nhiều so với việc chọn bản đồ đúng. Những người làm nghề sử dụng hàng loạt các phương pháp thực nghiệm chính thức và phi chính thức với nhiều kỹ thuật khác nhau. Và, trong cuốn sách tới đây của tôi tựa đề Các quy luật kinh tế (Economic Rules), tôi chỉ trích việc đào tạo bộ môn kinh tế vì không trang bị một cách thích đáng cho sinh viên những chẩn đoán thực nghiệm mà bộ môn này đòi hỏi.

Nhưng những nhà phê bình nội bộ trong nghề sẽ sai lầm khi cho rằng bộ môn này đã đi sai đường vì các nhà kinh tế học chưa thể đưa ra đồng thuận về những mô hình “đúng” (dĩ nhiên đó là những mô hình họ yêu thích hơn). Hãy để chúng ta tận hưởng bộ môn kinh tế học theo mọi khía cạnh đa dạng của nó – lý trí và hành vi, Keynesian và Cổ điển, tốt nhất và tốt thứ hai, chính thống và không chính thống – và dồn toàn bộ năng lượng của chúng ta vào việc trở nên khôn ngoan hơn trong lựa chọn mô hình nào để áp dụng vào lúc nào.

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Dani Rodrik, “Economists vs. Economics”, Project Syndicate, 10/09/2015.

Dani Rodrik là Giáo sư ngành Kinh tế Chính trị Thế giới tại Trường Quản trị Nhà nước John F. Kennedy thuộc ĐH Harvard. Ông là tác giả của các cuốn sách One Economics, Many Recipes: Globalization, Institutions, and Economic Growth (Princeton University Press, 2009) và, gần đây nhất, là The Globalization Paradox: Democracy and the Future of the World Economy (W. W. Norton & Company, 2012).

1000 năm tới: “Năm động lực lớn” tăng trưởng kinh tế – Phần cuối


Một chất bột ngọt tổng hợp có độ ngọt gấp 50.000 lần so với loại đường thông thường. Về mặt lý thuyết, một vài cơ sở sản xuất loại chất bột ngọt này có thể thay thế hàng triệu hecta và người lao động được sử dụng để sản xuất các chất bột ngọt có hương vị tự nhiên. Điều quan trọng nhất là các chất bột ngọt có nồng độ cao có tiềm năng lớn trong việc làm giảm quá trình hấp thụ calo, hạn chế béo phì, tăng cường sinh lực và nâng cao tuổi thọ.

Công nghệ vi tiểu dùng để chế tạo các loại máy móc và công cụ cỡ phân tử trở thành loại công nghệ tiên phong có kích cỡ nhỏ li ti mới chỉ bắt đầu được khám phá. Công nghệ vi tiểu sẽ sử dụng ít nguyên liệu hơn, tốn ít năng lượng hơn, và giảm thiểu được chất thải. Các ống nghiệm với đường kính trong lòng là 10 phần tỉ mét được chế tạo để sử dụng các ống carbon siêu nhỏ. Các động cơ tĩnh điện nhỏ tương đương 70 trắc vị kế (đường kính tương đương 0,003 inch) có thể đạt vận tốc trung bình 240.000 vòng quay/phút và vận tốc tối đa là 600.000 vòng/phút. Nhiều khả năng kỳ diệu hơn bao gồm xe “giao” thuốc, các thiết bị giải phẫu hiển vi có thể khai thông mạch, và các thiết bị tự nhân bản sử dụng các bản vẽ giống AND để tự liên kết. Các tiểu robot thì chưa thể có.

Khoa học siêu vật chất sẽ khám phá những công nghệ tiên phong thậm chí còn nhỏ hơn cả công nghệ vi tiểu: từng bước và từng phần, các tia hạt hoạt động và/hoặc các dạng hình sóng hình thành cấu trúc nguyên tử sẽ tiếp tục được khám phá. Các nhà khoa học đang bóc đi các lớp vỏ bên ngoài của các hạt nhân của một nguyên tử giống như lớp vỏ bên ngoài của một củ hành và xác định được rất nhiều các thành tố dưới nguyên tử. Còn lại những lớp và vỏ sâu tận cùng của chất dưới nguyên tử vẫn chưa được khám phá.

Hơn 300 hạt hạ nguyên tử đã được khám phá, nhưng kết quả cho đến nay vẫn nằm ngoài nhãn tiền. Tại Trung tâm Nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN), máy phân tích hạt điện tử Pozitron phóng đại có thể cho phép nhìn thấy các phân tử nhỏ tới 10 phần tỉ mét. Khả năng đo được phân tử ở mức này cho phép nhìn thấy những thành tố đầu tiên của vật chất và năng lượng. Đây chính là những thành tố giúp toàn bộ vũ trụ phát triển. Máy phân tích hạt điện tử Hadron phóng đại tại CERN sẽ giúp phát triển hơn nữa những công nghệ tiên phong. Kết quả phân tích sẽ được đưa lên mạng vào năm 2005. Lĩnh vực vi phân này đem lại kỳ vọng lớn lao về một nền văn minh tiên tiến của chúng ta.

Việc kiểm soát nguyên tử phụ thuộc vào khả năng “nhìn” hoặc tạo ra hình ảnh quá trình và cấu trúc nguyên tử và dưới nguyên tử. Các máy siêu âm sử dụng tia X có thể tạo ra hình ảnh cấu trúc các phân tử, protein, và các chất hóa hữu cơ (enzime). Những kính hiển vi mới sử dụng năng lượng nguyên tử có thể phân tích từng nguyên tử. Một khi bản chất thực sự của vật chất được thấu hiểu, thì khoa học sẽ có thể kiểm soát được nó một cách dễ dàng. Thời điểm đó không còn bao xa nữa.

NGUYÊN TỬ MỚI

Thời đại nguyên tử mới: thống trị trong giai đoạn các năm 2100 – 2500

Năng lượng nhiệt hạch sẽ mở ra một thời đại nguyên tử mới. Năng lượng này sử dụng hoàn toàn khí hydro làm nhiên liệu, và vì thế nó có tiềm năng làm thỏa mãn nhu cầu về nguồn năng lượng vô hạn. Khi chúng ta biết cách nhân đôi nguồn năng lượng khí hydro, nguồn cung cấp chất đốt cho mặt trời, thì con người sẽ khai thác năng lượng từ chính những “lò tinh tú” của họ.

Nhu cầu năng lượng nhiệt hạch sẽ trở nên cấp thiết vào khoảng các năm 2050 – 2100 khi các nguồn dầu khí cạn kiệt. (Viện Dầu khí Hoa Kỳ ước tính hiện trên trái đất không còn quá 2 nghìn tỷ thùng dầu thô, tức là sẽ không còn đủ dùng cho hơn 95 năm nữa). Trước năm 2050, các nền kinh tế sẽ ngày càng phụ thuộc vào than. Tiếp đó, khoảng 2250 – 2500, khi trữ lượng than cũng đã cạn kiệt, thì nguồn cung cấp các nhiên liệu hóa thạch sẽ bị cạn kiệt và nhu cầu về năng lượng thay thế sẽ trở nên cấp bách.

Nguồn năng lượng khí hydro có thể cung cấp năng lượng thoải mái trong vòng 50 triệu năm! 10 feet lớp bề mặt của đại dương chứa đủ chất deuteri (một chất đồng vị với khí hydro) làm nhiên liệu đốt cho các lò phản ứng nhiệt hạch trong khoảng thời gian lâu như vậy. Khí hydro tự nhiên trong lớp vỏ bề mặt của trái đất có thể cung cấp trữ lượng bổ sung khổng lồ. Các nguồn ngoài tầng khí quyển có thể trở thành nguồn cung cấp bổ sung khi cần thiết. Chi phí để chuyển chất deuteri thành chất triti, một chất đồng vị mạnh hơn có tiềm năng cung cấp năng lượng gấp 4 lần, là không quá đắt. Các chất đồng vị heli có thể cung cấp thậm chí nhiều năng lượng hơn.

Để năng lượng nhiệt hạch có tính thương mại, sẽ cần một số đột phá khẩu, đặc biệt trong lĩnh vực vật lý, hóa huyết tương, phát triển các lĩnh vực phòng ngừa tốt, thiết bị gia tốc trao đổi phân tử, kỹ thuật giảm quán tính, các thiết bị kích thích (chẳng hạn như laze), và tinh chế nguyên liệu thô. Tuy nhiên những trở ngại này có thể xử lý được. Cần phải có thời gian cần thiết cho các quá trình điều tiết, xây dựng, và các biện pháp khởi động khác. Việc thành lập các cơ sở sản xuất năng lượng nhiệt hạch có thể bắt đầu sớm nhất là vào năm 2025, và kết quả sẽ được đưa lên mạng vào năm có một con số ý nghĩa là năm 2050.

Các nguồn thay thế khác có thể cung cấp năng lượng, nhưng không nhiều. Các tấm điện quang có thể chuyển ánh sáng mặt trời thành dòng điện nhưng vẫn còn rất tốn kém. Năm 1997, ở Mỹ, sức gió góp 7.630 MW điện (tăng từ 10 MW năm 1980), nhưng vẫn còn ở mức tương đối nhỏ trong tổng số lượng cung cấp năng lượng. Các tế bào nhiên liệu của một loại đã được cải tiến dự kiến sẽ được đưa vào sử dụng thương mại vào năm 2025.

Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự phân hạch hạt nhân đã được khai thác, không chỉ nhằm tạo ra những kho vũ khí khổng lồ, mà còn được sử dụng vào những mục đích hòa bình. Con số các quốc gia phụ thuộc hoàn toàn vào việc phân hạch hạt nhân để đáp ứng nhu cầu năng lượng của họ ngày càng tăng. Sự phụ thuộc đó sẽ còn tiếp tục tăng. Chúng ta cũng có thể trông đợi vào sự phát triển ổn định trong lĩnh vực này.

VŨ TRỤ MỚI

Thời đại vũ trụ mới: thống trị trong giai đoạn 2500 – 3000

Đến năm 3000 và có lẽ sớm nhất là năm 2500, thương mại trong vũ trụ sẽ trở thành động lực chính của hoạt động kinh tế. Trong nhiều thế kỷ qua, nhiều kính viễn vọng và thiết bị quan sát ngày càng tinh vi đã và đang tìm kiếm, nghiên cứu các điểm cực xa trong khoảng không vũ trụ. Vật lý học thiên thể và nhiều lĩnh vực nghiên cứu mới đã vén dần, tuy chậm nhưng chắc, những bí ẩn của vũ trụ bao la. Nhiều con tàu vũ trụ có người điều khiển hoặc không có người điều khiển đã bắt đầu nhiệm vụ khám phá khoảng không vũ trụ ngoài trái đất. Vũ trụ ngày càng trở nên gần với chúng ta hơn bao giờ hết.

Vũ trụ thật mênh mông bao la, vì thế thật khó mà hiểu hết được nó. Dải ngân hà “Milky Way” mà trái đất của chúng ta nằm trong đó có 200 đến 400 tỉ tinh tú và rất nhiều hành tinh khác. Theo ước tính, vũ trụ có hơn 125 tỉ dải thiên hà khác.

Bất chấp những con số gây thất vọng như vậy, nhiều chuyên gia có tầm nhìn xa đã thiết lập những doanh nghiệp tổ chức du lịch trong vũ trụ cho những người ưa mạo hiểm và dịch vụ “mai táng” những hài cốt đã hỏa táng trong vũ trụ. Nhiều người dự đoán các thuộc địa vũ trụ sẽ là nơi để khai thác các tài nguyên từ sự phong phú của hệ thống mặt trời này, thiên hà này, và xa hơn. Sự khám phá vũ trụ của con người là vô tận. Nhiều công nghệ cần thiết cho Thời đại Vũ trụ mới đã được ứng dụng. GIờ đây, những công nghệ này cần được phát triển tiếp tục.

Những triển vọng tiến bộ

Các kỷ nguyên kinh tế lớn không bỗng nhiên xuất hiện như là một “dấu ấn gây kinh ngạc”. Phải mất hơn 100 năm để phát triển những công nghệ phục vụ cuộc cách mạng công nghiệp. Vạch ra những tác động về mặt chính trị và xã hội phải mất lâu hơn. Cần ít nhất 250 năm mới thấy được những tác động phụ, có biện pháp cải thiện những tác động hệ quả, và chú trọng mặt tích cực.

Lối sống tốc độ nhanh và những lo toan trước mắt của ngày hôm nay đã hạn chế tầm nhìn dài hạn. Chúng ta hiểu lịch sử một cách lờ mờ. Tuy nhiên, sự kiểm chứng chi tiết quá khứ và hiện tại là cần thiết để dự báo những triển vọng có thể có, khả dĩ sẽ có trong tương lai. Đường thời gian kinh tế được trình bày ở đây đưa ra một tầm nhìn xa như vậy, cho phép các cá nhân tận dụng những cơ hội kinh tế trong tương lai, nắm bắt được những cơ hội của xu thế phát triển và bỏ qua những cơ hội trong xu thế tụt hậu.

Cuối cùng, nghiên cứu quá khứ và hiện tại cho thấy rằng điều kiện của con người đã được cải thiện một cách ổn định và tăng dần. Chúng ta còn có thể trông đợi sự cải thiện tiếp tục trong những năm tới.

Người dịch: Nguyễn Hồng Hải

Nguồn: G. Molitor – The next 1000 years: The “Big Five” engines of economic growth – The Futurist, 2000, No. 10, Vol. 33, p13 – 20.

TN 2000 – 54

1000 năm tới: “Năm động lực lớn” tăng trưởng kinh tế – Phần II


KHOA HỌC VỀ SỰ SỐNG

Kỷ nguyên khoa học về sự sống: thống trị vào năm 2100

Đến năm 2100, khoa học về sự sống sẽ thống trị thay thế cho hoạt động kinh tế và sẽ tiếp tục phát triển trong thế kỷ tiếp theo. Việc họa đồ hệ thống gen của con người và các cấu trúc khác sẽ mở ra những tiềm năng mang dấu ấn mới trong lịch sử nhân loại. Bí mật của sự sống, một trong những điều thần bí luôn là mục tiêu để khám phá, đang dần dần được vén mở. Nắm bắt được các “bản họa đồ” cho sự sống sẽ cho phép các chuyên gia về gen kiểm soát được sự tiến hóa của thực vật, động vật và con người.

Sớm nhất là năm 2020, khả năng đó sẽ tạo ra khó khăn có tính chất chia rẽ sâu sắc trong sự lựa chọn giữa chuẩn mực và đạo đức. Thuyết ưu sinh – tức là con người có khả năng kiểm soát sự tiến hóa của họ – chắc chắn trở thành một trong những vấn đề gây tranh cãi nhất. Các tổ chức tôn giáo, cùng với nhiều nhà phê bình và những người tham gia chiến dịch vận động sẽ phát huy những ảnh hưởng mạnh mẽ của họ để phản đối những công nghệ gen làm biến đổi sự sống.

Những tiến bộ lớn nhất trong sinh học cũng đã gặp phải sự phản kháng tương tự. Cách đây không bao năm, nhiều lãnh tụ nhà thờ đã có những lời lẽ gay gắt phỉ báng việc lai tạo giống thực vật của Lurther Burbank. Nhiều thế kỷ trước đây, các lãnh tụ tôn giáo đã ngăn cản việc giải phẫu trên người với lý do rằng điều đó là phi đạo đức và bẩn thỉu. Việc thay đổi cấu trúc gen sẽ vượt qu những trở ngại đó, và cũng sẽ không thể phủ nhận những lợi ích còn chưa chắc chắn của nó như xóa bỏ những căn bệnh về gen, kéo dài tuổi thọ, tăng sản xuất thực phẩm và cải thiện dược phẩm.

Việc xóa bỏ những căn bệnh về gen thực sự nằm trong khả năng của chúng ta. Hơn 4000 gen được phát hiện là có liên quan tới những bệnh di truyền. Nhiều ca chuẩn đoán được thực nghiệm trên một mẫu AND trong phòng thí nghiệm để phát hiện những bệnh về gen. Các bộ phận phôi của con người được đưa lên màn hình để chuẩn đoán bệnh xơ nang và thiếu máu do huyết cầu có hình lưỡi liềm gây ra. Nhìn từ góc độ tiêu cực, những người bị dị tật gen sẽ chịu sự phân biệt, mất tự do, hạn chế chăm sóc y tế, dị dạng, và được chết để tránh đau đớn.

“Nhà thiết kế trẻ em”, đó là phương pháp tốn kém đối với mọi người, nhưng với người giàu thì lại không, và phương pháp này sẽ dần dần trở thành chuẩn mực. Việc phẫu thuật buồng trứng và thay thế tinh trùng sẽ được chọn lựa một cách cẩn thận, sau đó sẽ được ghép lại với nhau trong phòng thí nghiệm để tạo ra một hợp tử hoàn hảo. Khi hợp tử phát triển thành phôi, người ta sẽ cấu nó vào trong mẹ đẻ hoặc một người mẹ thay thế khác. Tình dục rồi sẽ trở nên có tính giải trí hơn là để sinh đẻ con cái. Biện pháp hạn chế sẽ được áp dụng rộng rãi. Việc sinh sản thông qua quan hệ tình dục “thông thường” giờ đây sẽ được xem là ngớ ngẩn cũng gống như việc chăm sóc chu sinh.

Tuổi thọ con người kéo dài từ 125 đến 160 tuổi sẽ đặt ra những khó khăn mới liên quan đến những căn bệnh của tuổi già. Con người sẽ duy trì thể chất như thế nào trong thời gian nghỉ hưu là 100 năm? Xã hội sẽ phải có quyết định về bệnh thiếu máu. Những thay đổi chính sách về việc ủng hộ phương pháp sinh đẻ hợp pháp trên đây của Jack Kevorkian ở Oregon và Australia là những dấu hiệu sớm cho thấy một cuộc tranh cãi sẽ xảy ra.

Công nghệ sinh học sẽ làm tăng sản lượng nông nghiệp. Người ta sẽ thiết kế những vụ mùa sử dụng phương pháp biến đổi cấu trúc sinh học để phát triển trong những môi trường khó khăn, tăng hàm lượng chất dinh dưỡng, giảm thiểu nhu cầu sử dụng phân bón… Nhiều loại cà chua được biến đổi gen đã được ứng dụng để chống bị hư hỏng và bảo quản trong điều kiện không tốt. Liệu pháp tăng hóoc môn đã được sử dụng thành công để tăng sản lượng sữa ở bò. Nhiều loại “dược phẩm” được biến đổi cấu trúc gen đã được thử nghiệm để tiêm chủng phòng bệnh. Các vụ mùa có thể được thiết kế lại để thu chỉ những thành phần mong muốn – thí dụ các túi nước cam -, sẽ không còn rễ, mầm, nhánh, lá, vỏ hoặc hạt. Monsanto có loại cây bông được biến đổi cấu trúc sinh học để cho những trái bông ra màu sắc ngay từ ở trên cây.

Cuối cùng, những nguyên tắc về gen sẽ được ứng dụng để tạo ra những cơ quan vô tính của con người dùng cho việc cấy ghép và khám phá những bộ máy vận hành do quá trình lão hóa. Khả năng “bất tử” là thấy rõ.

SIÊU VẬT CHẤT

Kỷ nguyên siêu vật chất: thống trị trong giai đoạn các năm 2200 – 2300

Công nghệ siêu vật chất, bao gồm khả năng tách và kết cấu lại vật chất ở mức nguyên tử và hạ nguyên tử, sẽ làm thay đổi căn bản ngành khoa học tự nhiên, nhưng cũng sẽ phải mất một thời gian đáng kể nhằm đạt được điều đó. Những công nghệ này có thể sẽ thống trị trong giai đoạn các năm 2200 – 2300. Khoa học siêu vật chất vén mở dần dần những thần bí của những trạng thái bao la và hình thù của vật chất.

Áp suất có ảnh hưởng sâu sắc tới hình thù của vật chất, và những thí nghiệm bằng áp suất trong phòng gần đây đã cho những kết quả đầy hứa hẹn. Các chất đồng vị carbon ở thể “rắn trong suốt” chịu áp suất không khí 200.000 atmosphere, sẽ tạo thành những hạt kim cương tổng hợp. Khí hydro dưới áp suất không khí 2,5 triệu atmosphere sẽ tạo thành kim loại. Ở dạng này, khí hydro sản sinh ra một lực đẩy lớn gấp hàng trăm lần so với bất kỳ một loại nhiên liệu nào khác, kết quả này cho thấy khả năng mới về lực đẩy.

Nhiệt độ chuyển từ cực nóng sang cực lạnh cũng làm thay đổi mạnh mẽ hình thái của vật chất. Ở nhiệt độ cực thấp – xấp xỉ mức 0 – nhiều chất được tạo thành chất siêu dẫn; tức là khi cho dòng điện chạy qua chất này sẽ không bị giảm do điện trở. Các thí nghiệm trong phòng nâng dần nhiệt độ ở mức mà các chất siêu dẫn có thể hoạt động. Một ngày nào đó, người ta có thể tạo ra các chất siêu dẫn hoạt động ở nhiệt độ trong phòng bằng việc pha trộn tổng hợp những nguyên tố cần thiết trong môi trường thích hợp. Tiềm năng tiết kiệm năng lượng của chất siêu dẫn là rõ ràng. Kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này cũng có thể tạo ra giao thông đệm từ, tĩnh và êm như lụa.

Ở nhiệt độ 1.870.000 độ F, hầu hết các chất đều được tạo thành thạch anh lục và có thể tạo ra hợp chất hỗn hợp. Điều này dễ dàng đạt được nhờ các tia laze mạnh. Kể từ thập kỷ 50, nhiều loại laze đã được phát minh, bao gồm một loại laze nguyên tử sản sinh ra các nguyên tử hoạt động tạo thành các sóng ánh sáng. Loại laze mạnh nhất, một loại laze phi điện tử (free-electron) được hoạt động nhờ một hoạt chất xúc tác có thể chuyển năng lượng điện tử thành một tia laze. Ứng dụng thực tế các loại laze, từ giao thông đến giải phẫu, đã làm chuyển hóa tất cả các ngành công nghiệp.

Nhiều loại chất tổng hợp tiếp tục được chế tạo với số lượng nhiều đến chóng mặt. Các loại nhựa, chẳng hạn như nhựa cứng và nhựa tổng hợp được chế tạo năm 1828 đã hình thành những ngành công nghiệp quan trọng trong thế kỷ XX. Các loại nhựa dẫn điện, nhựa kết dính, và nhựa Teflon dùng để chế tạo các dụng cụ nấu ăn “không dính (non-stick)” là những thí dụ về những loại chất tổng hợp làm cho cuộc sống trở nên dễ dàng hơn đôi chút. Hàng ngày, nhiều chất mới được tạo ra. Mỗi năm, hơn 10 triệu hợp chất hóa học được xác định, và thêm 400.000 hợp chất khác được phát hiện.

“Nhà thiết kế vật chất” không hạn chế đối với chất vô cơ: Chất hữu cơ tổng hợp cũng nhiều vô kể. Thí dụ, hãy xem một chất thông thường được tìm thấy trong hầu hết các chạn đựng thức ăn: bột ngọt. Các nhà khoa học đã phát hiện ra các chất bột ngọt hóa học tổng hợp trong thời gian khoảng cuối những năm 1880, và nhiều chất bột ngọt được biến đổi gen vào những năm 1990. Được biết, hiện có khoảng 1000 chất bột ngọt cả tự nhiên lẫn nhân tạo trong chiếc chạn đựng thức ăn toàn cầu của chúng ta.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Hồng Hải

Nguồn: G. Molitor – The next 1000 years: The “Big Five” engines of economic growth – The Futurist, 2000, No. 10, Vol. 33, p13 – 20.

TN 2000 – 54

1000 năm tới: “Năm động lực lớn” tăng trưởng kinh tế – Phần I


G. Molitor

Chỉ còn vài tháng nữa là kết thúc năm 2000, năm cuối cùng của thế kỷ XX, nhân loại sẽ bước sang một thiên niên kỷ mới, thiên niên kỷ thứ ba – 1000 năm tới. Nhìn vào thế kỷ XX – 100 năm và rộng ra là 1000 năm qua, chúng ta quả là không thể tin vào sự phát triển một cách kỳ diệu trên hầu khắp mọi lĩnh vực, trong đó phải kể đến sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ đã cứu triệu triệu con người khỏi đói nghèo, đưa lịch sử phát triển của nhân loại vào thời đại có thể nói là văn minh, nhờ có những phát minh vĩ đại trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.

Trong khoảng thời gian chuyển tiếp còn lại này, chúng ta hãy thử nhìn lại quá trình phát triển kinh tế, xem những động lực nào và sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật đến mức nào đã giúp thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế trong suốt 1000 năm qua, và cùng dự đoán xem con tàu khoa học – công nghệ, động lực mạnh mẽ của tăng trưởng kinh tế, sẽ tiếp tục đi đến đâu trong 1000 năm tới khi người ta giờ đây đang nói nhiều đến nền kinh tế tri thức (Knowledge-based economy).

MỞ ĐẦU

Một nhà tương lai học nổi tiếng tiên đoán rằng trong 1000 năm tới, nền kinh tế thế giới sẽ trải qua năm đợt sóng lớn.

Trong suốt lịch sử nhân lạoi cho đến nay, đã có bốn đợt sóng kế tiếp nhau làm thay đổi kinh tế mà động lực chính là nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, dịch vụ và thông tin. Trong 1000 năm tới, nhân loại sẽ chứng kiến ít nhất năm đợt sóng tương tự như vậy nổi lên, đó là giải trí, khoa học về sự sống, siêu vật chất, kỷ nguyên nguyên tử mới và một kỷ nguyên vũ trụ mới. Mỗi lực lượng mang tính thương mại này tạo dựng động lực cho hàng trăm năm và không còn khiến cho những người có thông tin phải ngỡ ngàng.

Thời đại nông nghiệp phát triển dựa trên sự thu hoạch các nhu phẩm từ đất đai, và nghề nông ở Mỹ phát triển nhất trong suốt thập kỷ những năm 1880. Kỷ nguyên công nghiệp mà ở Mỹ việc làm được tạo ra nhiều nhất trong suốt những năm 1920 chủ yếu tập trung vào sản xuất các sản phẩm đại trà. Đợt sóng thứ ba được bàn luận nhiều – kỷ nguyên dịch vụ – đã qua lâu rồi: ngành dịch vụ phát triển nhất trong thời kỳ giữa thập kỷ những năm 1950.

Kỷ nguyên thông tin hiện nay được tạo dựng nhờ có sự phát triển về công nghệ truyền thông và máy tính đang ở giai đoạn phát triển nhất, nhưng cũng chỉ ở vị trí độc tôn một số năm, cùng lắm là 20 năm nữa. Hai thập kỷ không phải là một khoảng thời gian quá ngắn ngủi để bắt đầu suy nghĩ một cách nghiêm túc về điều gì sẽ diễn ra tiếp theo.

Điều gì rồi sẽ diễn ra tiếp theo? Sự tấn công của loại hình doanh nghiệp mới dẫn đến những thay đổi chưa rõ ràng sẽ thúc đẩy cũng như làm tiêu hủy công ăn việc làm và thu nhập, hình thành lại các nền kinh tế và gây ảnh hưởng tới toàn bộ thế giới. Những lĩnh vực ngày càng suy yếu được thay thế bởi công nghệ mới sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Cần thiết phải lên kế hoạch về phương cách giải quyết sự thay đổi to lớn diễn ra đồng hành với những dịch chuyển như vậy để giảm thiểu những xáo động bất thường. Sự sống còn của toàn bộ các ngành và sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai nói chung sẽ phải phụ thuộc vào tính tiên phong của các công nghệ mới.

Mỗi đợt sóng mới trong số “năm đợt sóng lớn” sẽ chiếm vị trí độc tôn trong một thời gian ngắn ngủi, tương tự như “bốn đợt sóng lớn” trước đó. Trước tiên, nó sẽ trở thành người tạo công ăn việc làm lớn nhất và ngay sau đó, sẽ chiếm cổ phần lớn nhất trong tổng sản phẩm nội địa.

Những nghiên cứu kỹ lưỡng cho thấy rằng các lực lượng đứng đằng sau sự thay đổi kinh tế căn bản bắt đầu tích tụ từ nhiều thập kỷ, thậm chí hàng thế kỷ trước khi đợt sóng dâng cao. Dấu hiệu của từng đợt sóng kinh tế mới đã thực sự hình thành.

GIẢI TRÍ

Kỷ nguyên thời gian giải trí: thống trị vào năm 2015

Các ngành kinh doanh hướng vào giải trí – mọi thứ, từ quán bar đến các cửa hàng video, nhà hát kịch – sẽ chiếm 50% tổng sản phẩm quốc dân ở Mỹ ngay sau năm 2015.

Các công ty tổng hợp “Giải trí lớn” bao gồm phim, truyền hình, xuất bản, âm nhạc, khách sạn, và công viên giải trí – chẳng hạn như Viacom – Paramount – Simon & Schuster, Disney’s ABC, và Time – Warner – Turner – luôn đi đầu trong lĩnh vực mới này. Một thực tế không mấy người quan tâm liên quan đến địa điểm mà người dân nước này thường đến thăm đó là 15 triệu người Mỹ đã đến thăm lãnh địa Disney ở Anaheim năm 1996, trong khi đó chỉ có 10,8 triệu người (không kể các du khách là doanh gia) đến thăm thủ đô của nước này. Các nhà đầu tư có đầu óc đã bắt đầu chuyển tiền của họ vào các doanh nghiệp trong ngành giải trí.

Cùng với sự tiến triển của xã hội qua từng kỷ nguyên trước đó, thời gian dành cho giải trí tăng lên. Khi nông nghiệp phát triển khoảng 10.000 năm trước đây, thì người ta đã không phải dành nhiều thời gian cho săn bắn và hái lượm mà có thể đã dành khoảng 10% thời gian của cuộc sống cho hoạt động giải trí. Trong khoảng thời gian từ năm 6000 trước công nguyên (B.C) đến năm 1500 sau công nguyên (A.D), những người thợ thủ công và nghệ nhân đã tạo điều kiện cho những người khác không phải làm những công việc lãng phí thời gian, giải phóng và dành cho giải trí tới 17% thời gian. Vào khoảng những năm 1770, mọi việc được thực hiện nhanh hơn nhờ có máy móc, bao gồm cả động cơ hơi nước còn thô sơ, và điều này đã làm tăng thời lượng giải trí lên đến 23%. Đến thập kỷ 1990, máy móc chạy bằng sức điện đã đẩy nhanh tốc độ mọi thứ từ chuẩn bị thức ăn đến giao thông, và đã tạo điều kiện cho con người hưởng thụ 41% cuộc sống của họ dành cho giải trí. Từ nay đến trước năm 2015, công nghệ mới và một số trào lưu khác sẽ cho phép con người dành hơn 50% thời gian cuộc sống của họ cho giải trí.

Tuần làm việc đã giảm đều: từ 72 giờ trong suốt cuối những năm 1700 xuống còn 69,8 giờ năm 1859, dưới 40 giờ trong những năm 1990; ở châu Âu chưa áp dụng tuần làm việc 30 giờ. Hiện nay, người ta, đặc biệt là các công đảng chính trị ở châu Âu, đang tranh luận về tuần làm việc 20 giờ.

Càng ngày càng có nhiều ngày nghỉ hơn. Trong năm 1998, ở Mỹ có 10 ngày nghỉ được công nhận cho toàn liên bang. Các cơ quan hành pháp Nhà nước và địa phương thường ít có ngày nghỉ hơn. Các quốc gia khác mỗi năm có tới 18 ngày nghỉ, gợi ý rằng người Mỹ sau rốt cũng nên có nhiều ngày nghỉ hơn. Nhiều lợi ích chủng tộc, dân tộc và tôn giáo sẽ khích lệ xu hướng này.

Các kỳ nghỉ cũng sẽ kéo dài hơn. Người Mỹ, hiện bình quân được hưởng 12 ngày nghỉ, đang hướng tới 40 ngày vào năm 3000. Người lao động Phần Lan năm 1993 được hưởng 37,5 ngày nghỉ. Số ngày nghỉ của người Tây Âu dài gấp từ hai đến ba lần số ngày nghỉ của người Mỹ: 32,5 ngày ở Hà Lan 32 ngày ở Italy, và 30 ngày ở Đức. Nghỉ phép hoặc nghỉ không lương cũng tiếp tục trở nên thông thoáng hơn.

Chưa bao giờ người dân nghỉ hưu sớm đến thế. Tuổi nghỉ hưu ở Mỹ bình quân là 67 thời kỳ 1950 – 1955, và giảm xuống còn 63 thời kỳ 1985 – 1990; năm 1994, tuổi nghỉ hưu phổ biến nhất là 60. Tuy nhiên, tuổi nghỉ hưu sẽ trở lại như xưa. Đến năm 2022, độ tuổi thích hợp được hưởng an sinh dự tính tăng từ 65 lên 67; và đến năm 2025, tuổi nghỉ hưu có thể tăng lên 70 do cuộc sống lành mạnh hơn và tuổi thọ cao hơn. Ngay bây giờ, hãy thử giả thiết rằng ngày càng có nhiều người tuổi thọ cao và nhiều cá nhân sống đến 160 tuổi; nếu người ta 60 tuổi đã phải nghỉ hưu, thì 100 năm còn lại sẽ làm gì?

Nền kinh tế giải trí sẽ đánh dấu một loạt thái độ, triển vọng và hoạt động mới. Người ta sẽ bỏ tiền để đổi lấy trải nghiệm thay vì vật chất: riêng các ngành kinh doanh chào mời những cuộc thám hiểm và những chuyến đi gây cảm giác kỳ thú sẽ bùng nổ. Trước tiên, người ta sẽ muốn đi thăm những nơi khác trên thế giới. Trung Quốc sẽ trở thành điểm du lịch được xếp hàng đầu trên thế giới vào năm 2020.

Đối với một số người, thời gian giải trí sẽ dành để phát huy tối đa giá trị bản thân và phát triển tiềm năng nội tại. Những người khác sẽ dành nhiều thời gian hơn cho các vấn đề tinh thần; tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống của tuổi già sẽ đem lại động lực mới. Tuy nhiên, phần lớn mọi người sẽ dành thời gian giải trí cho thể thao và các hoạt động giải trí khác.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Hồng Hải

Nguồn: G. Molitor – The next 1000 years: The “Big Five” engines of economic growth – The Futurist, 2000, No. 10, Vol. 33, p13 – 20.

TN 2000 – 54