Suy thoái kinh tế do ảnh hưởng của COVID-19 sẽ theo mô hình nào?


Với tựa đề trên, Peter Hoskins, phóng viên phụ trách lĩnh vực kinh tế của BBC nhận định, mặc dù các nước hiện đang tiến tới nới lỏng các hạn chế phong tỏa, đại dịch COVID-19 đã tấn công mạnh vào nền kinh tế toàn cầu. Hàng triệu người không có việc làm, thị trường tài chính đã bị rúng động và chuỗi cung ứng đã phải đối mặt với thực trạng gián đoạn lớn khi các nhà máy trên khắp thế giới phải đóng cửa.

Thế giới đang đối diện với suy thoái ngay cả sau khi chính phủ và các ngân hàng trung ương đã bơm hàng nghìn tỷ USD vào nền kinh tế của họ và cắt giảm lãi suất.

“Tình hình sẽ tệ đến mức nào?” và “Bao lâu chúng ta sẽ phục hồi?” là 2 câu hỏi mà người ta sẽ được nghe rất nhiều trong những tuần và tháng tới. Câu trả lời cho cả 2 câu hỏi này thường sẽ liên quan đến việc sử dụng một trong 4 chữ cái: V, U, W và L. Đó là vì đây là cách các nhà kinh tế thường dùng để mô phỏng cho suy thoái.

Các mô hình này đến từ hình dạng của các biểu đồ thường thấy trong các giai đoạn này, theo đó rà soát các hoạt động kinh tế như việc làm, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) – hoặc tăng trưởng kinh tế và sản lượng công nghiệp.

Ở đây, chúng ta xem xét 4 chữ cái đó và ý nghĩa của chúng đối với hy vọng phục hồi kinh tế.

Hình chữ V

Đây được coi là kịch bản tốt nhất vì kiểu suy thoái này bắt đầu bằng sự sụt giảm mạnh, nhưng  sau đó chạm đáy và rồi nhanh chóng có sự phục hồi kinh tế.

Điều đó có nghĩa là cuộc suy thoái sẽ chỉ kéo dài một vài quý trước khi tăng trưởng nhanh chóng trở lại, đưa nền kinh tế trở lại mốc trước khi xảy ra đại dịch COVID-19.

Một ví dụ kinh điển về suy thoái hình chữ V đã xảy ra ở Mỹ vào năm 1953, khi nền kinh tế bùng nổ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai được vực dậy nhờ lãi suất cao. Sau sự suy giảm, tăng trưởng mạnh mẽ đã trở lại chỉ hơn một năm trước đó.

Hình chữ U

Trường hợp này tương tự như suy thoái hình chữ V nhưng kéo dài lâu hơn. Trong kịch bản này, GDP thường thu hẹp trong vài quý liên tiếp và chỉ từ từ khôi phục trở lại mức tăng trưởng có được trước suy thoái.

Hình chữ W

Đây là khi cuộc suy thoái bắt đầu bằng cách trông giống như nó sẽ là một suy thoái hình chữ V, nhưng sau đó lại rớt xuống sau khi những gì hóa ra là một dấu hiệu sai về phục hồi. Nó còn được gọi là suy thoái kép, vì nền kinh tế suy giảm hai lần trước khi phục hồi trở lại tốc độ tăng trưởng trước đó.

Suy thoái của Mỹ đầu những năm 1980 trên thực tế là hai cuộc suy thoái với nền kinh tế bị tăng trưởng âm từ tháng 1/1980 đến tháng 7/1980. Tiếp theo đó là thời kỳ tăng trưởng dương mạnh mẽ trước khi nền kinh tế rơi vào suy thoái một năm sau, và chỉ hồi phục vào cuối năm 1982.

Hình chữ L

Đây là kịch bản xấu nhất. Nó cũng có một tên khác: “Suy thoái lớn”. Đó là khi một nền kinh tế trải qua một cuộc suy thoái nghiêm trọng và trong vài năm không phục hồi được tốc độ tăng trưởng trước đó.

Cái gọi là “thập niên mất mát” của Nhật Bản những năm 1990 là một ví dụ kinh điển về suy thoái hình chữ L.

Đất nước này đã chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế vững chắc từ những năm ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai cho đến cuối những năm 1980. Điều đó dẫn đến những gì mà sau này bị coi là sự định giá quá lớn của tài  sản hoặc “bong bóng”.

Kể từ khi “bong bóng” đó bị nổ vào đầu những năm 1990, Nhật Bản đã tiếp tục có sự tăng trưởng yếu và vẫn chưa trở lại với tốc độ tăng trưởng dương được thấy từ năm 1950 – 1990.

Nguồn: TKNB – 12/05/2020.

Tác động của COVID-19 đối với các nền kinh tế ASEAN+3 – Phần I


Giới thiệu

Gần đây, dịch viêm đường hô hấp do chủng mới của virus corona (COVID-19) bùng phát ở Vũ Hán, Trung Quốc và sau đó lây lan ra bên ngoài nước này đã làm gia tăng rủi ro đối với tăng trưởng của Trung Quốc và khu vực. Ngày 31/12/2019, các nhà chức trách Trung Quốc thông báo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về một vài trường hợp mắc bệnh viêm phổi ở Vũ Hán, và đã thực hiện những hành động chính sách chưa từng có để khống chế virus này, nhưng dịch bệnh bắt đầu lây lan sang các nền kinh tế khác trong khu vực. Ngày 30/01/2020, WHO tuyên bố dịch COVID-19 là tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu. Giờ đây, cuộc tranh luận xoay quanh mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh này và tác động có khả năng của nó đối với nền kinh tế trong nước và các nước khác.

Dịch bệnh tác động đến hoạt động kinh tế trên nhiều mặt trận khác nhau:

+ Ở Trung Quốc, dịch bệnh này tạo ra sức ép lớn đối với hệ thống y tế, khiến tiền lương sụt giảm và năng suất thấp hơn do người lao động nghỉ ốm và nghỉ làm. Nỗi lo sợ bị lây bệnh và nỗ lực hạn chế tình trạng lây lan có thể dẫn đến những gián đoạn về giao thông vận tải, chuỗi cung ứng trong ngành chế tạo, việc cung cấp hầu hết các dịch vụ, đóng cửa các trường học và doanh nghiệp. Do đó, việc chống lại dịch bệnh có thể có tác động đáng kể đến kinh tế.

+ Bên ngoài Trung Quốc, khả năng lây lan đã gia tăng đáng kể do sự hội nhập và kết nối trong khu vực tăng cao. Ngoài việc lây lan bệnh do lưu lượng di chuyển quốc tế khổng lồ, ngành công nghiệp hàng không, lĩnh vực du lịch và dịch vụ khách hàng, cũng như thương mại, trong đó có các chuỗi cung ứng toàn cầu là những ngành tiêu biểu cảm nhận được tác động của nó.

+ Hành vi tránh lây nhiễm của người dân và các biện pháp nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan có thể gây ra thêm sức ép lớn đối với các nền kinh tế khu vực. Ngoài ra, cảm giác bất trắc và nỗi sợ hãi tràn ngập khắp nơi sẽ làm giảm niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng, và gia tăng tâm lý sợ rủi ro trong các thị trường tài chính và hàng hóa tiêu dùng.

Dịch bệnh bùng phát ở Trung Quốc – nền kinh tế lớn nhất khu vực ASEAN+3 (gồm các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và 3 nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới – khiến tăng trưởng giảm tốc rõ rệt, có khả năng sẽ ảnh hưởng lan rộng khắp khu vực và toàn thế giới. Những ước tính về tác động của dịch bệnh này sẽ phụ thuộc vào thời gian kéo dài, tính độc hại và khả năng lây nhiễm. Các dịch bệnh do virus trước đây, đáng chú ý là Hội chứng suy hô hấp cấp tính (SARS) vào năm 2003, có thể đưa ra gợi ý về những thiệt hại kinh tế tiềm tàng đối với Trung Quốc, mà sau đó có thể được sử dụng để ước tính tác động đối với các nền kinh tế khác trong khu vực:

+ Tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong năm 2020 sẽ giảm nhiều nhất là 0,5%, xét tới các biện pháp hỗ trợ của chính phủ.

+ Sự giảm tốc của Trung Quốc sẽ khiến tăng trưởng của các nước ASEAN+3 giảm 0,2%. Các kênh tác động chính đối với khu vực này sẽ là thông qua (1) lưu lượng đi lại và du lịch ra nước ngoài của Trung Quốc giảm mạnh; (2) sự sụt giảm trong hoạt động đi lại và du lịch của khu vực phản ánh nỗi lo sợ lây lan dịch bệnh; (3) sụt giảm hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc qua chuỗi cung ứng khi hoạt động chế tạo bị gián đoạn và nhu cầu trong nước bị ảnh hưởng: và (4) tình trạng lây lan dịch bệnh sang các nền kinh tế khu vực.

Tác động đối với nền kinh tế Trung Quốc

Trong số các dịch bệnh lớn trong 2 thập kỷ qua, dịch SARS có thể đưa ra chỉ dẫn nào đó về tác động tiềm tàng của COVID-19. Dịch SARS bùng phát vào quý IV/2002, nhưng hầu hết các ca nhiễm bệnh được ghi nhận vào quý I và quý II/2003. Hơn 8000 người nhiễm SARS, chủ yếu ở Trung Quốc, ngoài ra còn ở các nơi khác trong khu vực – tương tự như COVID-19 tính đến nay. Tại thời điểm này, số lượng người nhiễm COVID-19 đã vượt xa tổng số người nhiễm SARS, và con số này dự kiến còn tăng cao hơn nữa. Tỷ lệ tử vong trung bình do SARS là gần 10% so với mức chỉ 2% của COVID-19 cho đến nay. Tuy nhiên, những ước tính ban đầu cho thấy SARS có tỷ lệ lây nhiễm thấp hơn nhiều, có khả năng là vì virus này không lây trong thời gian ủ bệnh. Một kịch bản có khả năng xảy ra là COVID-19 sẽ lây lan trong khoảng 4 tháng, tương tự như SARS; có tỷ lệ tử vong thấp hơn SARS; lây lan rộng hơn SARS, các vùng lây nhiễm chính là những trung tâm kinh tế chính của Trung Quốc.

Tác động của dịch bệnh này đối với Trung Quốc dự kiến sẽ lớn nhưng không kéo dài. Tăng trưởng trong quý I/2020 dự kiến sẽ giảm mạnh, ở cả lĩnh vực chế tạo lẫn dịch vụ. Trong ngắn hạn, những hạn chế đối với hoạt động đi lại của người dân gây tổn hại đến hoạt động sản xuất và nhu cầu tiêu dùng. Hầu hết các địa phương tuyên bố kéo dài kỳ nghỉ Tết Âm lịch thêm khoảng 7 ngày, điều này đồng nghĩa rằng các nhà máy và doanh nghiệp sẽ phải trì hoãn hoạt động sản xuất.

AMRO dự báo COVID-19  sẽ khiến GDP trong năm 2020 của Trung Quốc giảm 0,5%. Các kịch bản sau đây giả định rằng:

+ Trong lĩnh vực chế tạo, chuỗi cung ứng toàn cầu tập trung ở các khu vực chịu ảnh hưởng sẽ bị gián đoạn đáng kể. Tuy nhiên, sau đó, các công ty có khả năng sẽ tìm ra cách để bù đắp hầu hết (dù không phải toàn bộ) hoạt động sản xuất mất đi để đáp ứng nhu cầu, do lĩnh vực chế tạo tương đối ít bị hạn chế bởi năng lực sản xuất hơn. Do đó, lĩnh vực chế tạo có khả năng sẽ phục hồi mạnh mẽ.

+ Trong lĩnh vực dịch vụ, các công ty có khả năng hạn chế trong việc bù đắp lại những ngày nghỉ. Nhu cầu đối với một vài loại hình dịch vụ như du lịch sẽ không phục hồi đáng kể, và việc cung cấp dịch vụ không thể tăng mạnh trong giai đoạn ngắn. Do đó, quá trình phục hồi về mức trước khi xảy ra dịch bệnh sẽ chậm hơn.

Tác động ước tính bao gồm: (1) lĩnh vực chế tạo khiến tăng trưởng giảm 0,15%; và (2) lĩnh vực dịch vụ khiến tăng trưởng giảm 0,35%, cao hơn một chút so với dịch SARS. Những ước tính này đã tính đến giả định của AMRO về sự hỗ trợ của chính quyền đối với nền kinh tế.

Tác động đối với Trung Quốc sẽ diễn ra trên nhiều lĩnh vực, đến việc làm và có khả năng cả sự ổn định tài chính. Với hơn 200 triệu người lao động di cư trên toàn quốc trở về quê nhà nghỉ ết Âm lịch, và nhiều thành phố (gồm khoảng 50 triệu dân) bị cách ly, hầu hết các lao động này không thể quay trở về thành phố nơi họ làm việc như họ thường làm sau khi nghỉ Tết – đặc biệt là những người ở khu vực miền Trung, khu vực chịu nhiều tác động nhất. Khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sẽ chịu tác động nhiều nhất, điều có thể khiến nợ xấu của ngân hàng gia tăng. Ngoài ra, vụ bùng phát dịch bệnh này có thể khiến giá cả hàng hóa ở địa phương gia tăng trong tương lai gần.

Tác động đối với khu vực ASEAN+3

Hầu hết các nước trong khu vực ASEAN đã bị lây nhiễm do dịch bệnh lây lan, và tăng trưởng của họ cũng có thể bị ảnh hưởng như đang diễn ra ở Trung Quốc. Kênh tác động chính là thông qua vận chuyển hành khách, du lịch và các ngành công nghiệp phụ trợ, cũng như hoạt động sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm trung gian có liên quan đến sản xuất thành phẩm tiêu dùng trong các khu vực chịu nhiều ảnh hưởng ở Trung Quốc. Ngoài ra, các biện pháp trong nước nhằm khống chế dịch bệnh có thể làm gián đoạn sản xuất cũng như đầu tư và tác động đến tiêu dùng. Tác động này có quy mô và cường độ lớn đến mức nào có khả năng sẽ phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm của dịch này. Tuy nhiên, nếu trong năm 2020 nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc hơn so với dự kiến, thì những tác động đối với các nền kinh tế khu vực có thể là khốc liệt.

(còn tiếp) 

Nguồn: Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) – 12/02/2020

TLTKĐB – 18/02/2020

Tính khoa học của việc xây dựng mô hình kinh tế – Phần III


Hãy xem vấn đề nhập cư, một chủ đề chính sách được quan tâm nhiều ở Mỹ và các nền kinh tế phát triển khác. Chẳng hạn, lượng người nhập cư gia tăng ở Florida ảnh hưởng thế nào tới thị trường lao động trong bang? Trực giác thông thường của chúng ta sẽ dựa trên cung và cầu: cung lao động tăng sẽ làm giảm mức lương. Tác động của hoạt động di cư này có vẻ như đã kết thúc câu chuyện nếu không xuất hiện các hiệu ứng vòng hai hoặc ba.

Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu người lao động địa phương phản ứng bằng cách di chuyển khỏi bang để tìm việc ở những nơi khác của đất nước? Hoặc nếu lượng lao động nhiều hơn dẫn tới sự đầu tư vật chất trong bang tăng lên, do các doanh nghiệp chuyển sang xây dựng các nhà máy? Hay nếu nhiều lao động có kỹ năng kém làm chậm đi quá trình phổ biến công nghệ mới? Hoặc nếu lao động nhập cư là kích cầu với các mặt hàng do người nhập cư sản xuất? Mỗi một khả năng sẽ có xu hướng cân bằng tác động ban đầu của việc nhập cư. Một số thực tế về những chuyện này đã xảy ra vào năm 1980, khi Miami tiếp nhận một lượng lớn người nhập cư từ Cuba – chiếm khoảng 7% lực lượng lao động tại Miami trong cuộc di tản bằng thuyền từ cảng Mariel. Nhà kinh tế David Card của Đại học Berkely, California thấy rằng dòng nhập cư này hầu như không ảnh hưởng gì đến tiền lương hoặc tỉ lệ thất nghiệp ở Miami, kể cả với những lao động có tay nghề thấp, những người trực tiếp bị ảnh hưởng nhiều nhất. Mặc dù nguyên nhân chính xác của việc này vẫn đang được tranh luận. Khả năng là đã có sự kết hợp của một số hiệu ứng cân bằng tổng thể.

Tiếp theo là một ví dụ khác cho thấy tầm quan trọng của việc tư duy theo cân bằng tổng thể. Giả sử bạn là một nhân viên có tay nghề cao – một kỹ sư, một kế toán, hoặc một thợ máy có kinh nghiệm – đang làm việc trong ngành dệt may của Mỹ. Liệu việc mở rộng thương mại với các nước thu nhập thấp như Việt Nam hay Bangladesh ảnh hưởng tốt hay xấu đối với bạn? Nếu bạn chỉ nghĩ về những gì xảy ra trong ngành dệt may (cân bằng từng phần), bạn sẽ kết luận rằng tình hình sẽ tệ đi. Các nước này dường như sẽ là một mối đe dọa cạnh tranh khốc liệt đối với các công ty dệt may của Mỹ. Nhưng bây giờ hãy nhìn ở khía cạnh xuất khẩu. Khi nền kinh tế Mỹ mở rộng xuất khẩu tới các thị trường mới, sẽ xuất hiện cơ hội việc làm mới trong những ngành có định hướng xuất khẩu tăng trưởng. Vì các ngành mở rộng sẽ thiên về kỹ năng, họ sẽ muốn thuê nhiều kỹ sư, kế toán, và các thợ máy có kinh nghiệm. Khi các tương tác đa thị trường này diễn ra trên toàn bộ nền kinh tế, bạn sẽ thấy thu nhập của mình cao hơn trước, bởi cầu với nguồn nhân lực có kỹ năng đã tăng cho dù bạn có nhảy việc hay không.

Các kết quả bất ngờ cũng được sinh ra từ kinh tế học về “tối ưu cấp hai”. Lý thuyết Tổng quát về Tối ưu Cấp hai (the General Theory of Second Best) là một trong những bộ công cụ hữu ích nhất của các nhà kinh tế ứng dụng, và có lẽ ít trực quan nhất với những người ngoài ngành. Nó được phát triển lần đầu tiên bởi James Meade áp dụng với chính sách thương mại, và sau đó được tổng quát hóa bởi Richard Lipsey và Kelvin Lancaster. Điểm cốt lõi của lý thuyết này nói rằng khi nâng cấp một số thị trường, hoặc mở ra những thị trường mới, thì không phải lúc nào cũng có lợi khi các thị trường liên quan khác vẫn còn bị hạn chế.

Ban đầu, lý thuyết này được áp dụng cho các hiệp định thương mại giữa một số nước, như Thị trường chung châu Âu. Trong những hiệp định này, các nước tham gia sẽ tự do hóa thương mại với các thành viên khác, giảm bớt hoặc gỡ bỏ hàng rào thương mại. Trực giác từ Nguyên tắc Lợi thế So sánh cho rằng tất cả các nước sẽ gặt hái lợi ích từ thương mại. Nhưng điều đó không phải lúc nào cũng đúng. Do tính chất ưu đãi của các hàng rào thương mại, Pháp và Đức sẽ giao dịch nhiều hơn với nhau, điều này tốt. Hiện tượng này được gọi là “hiệu ứng tạo lập thương mại”. Nhưng với lý do tương tự, Đức và Pháp lại nhập khẩu ít hơn từ các nguồn có chi phí rẻ hơn ở châu Á hay Mỹ, điều này lại không tốt. Thuật ngữ gọi đây là “hiệu ứng chuyển hướng thương mại”.

Để thấy chuyển hướng thương mại làm tổn hại nền kinh tế như thế nào, hãy tưởng tượng thịt bò do Mỹ bán sang Đức với giá $100. Giả sử Đức áp thuế 20%, làm tăng giá tiêu dùng thịt bò Mỹ ở thị trường Đức lên $120. Trong khi đó, Pháp có thể cung cấp thịt bò với chất lượng tương đương nhưng với giá $119. Trước khi có hiệp định ưu đãi giữa Pháp và Đức, các nhà cung cấp ở Pháp không thể cạnh tranh với nguồn cung từ Mỹ. Bây giờ thử nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra khi Đức gỡ bỏ hàng rào thuế quan nhập khẩu thịt bò từ Pháp nhưng vẫn giữ nguyên thuế đối với Mỹ. Thịt bò Pháp đột nhiên rẻ hơn ở Đức ($119 so với $120) và nhập khẩu từ Mỹ sẽ sụt giảm. Người tiêu dùng Đức sẽ được lợi $1, nhưng chính phủ Đức mất $20 tiền thuế từ thịt bò Mỹ (số tiền có thể được sử dụng để giảm những loại thuế khác ở Đức). Nhìn chung, Đức đang tham gia một hiệp định có hại cho chính mình.

Lập luận “tối ưu cấp hai” áp dụng cho nhiều vấn đề khác nhau. Một trong những trường hợp nổi tiếng nhất là “căn bệnh Hà Lan”, được đặt tên theo những hệ quả khi phát hiện ra khí tự nhiên ở Hà Lan vào cuối thập niên 50. Nhiều nhà quan sát sau đó đã cho rằng các nhà sản xuất Hà Lan đã phải đương đầu với cạnh tranh trong thập niên 60, khi đồng Hà Lan mạnh hơn trước sự tăng trưởng của khí tự nhiên và các nhà máy Hà Lan đánh mất thị phần của mình. Lý thuyết Tổng quát về Tối ưu Cấp hai làm rõ những trường hợp mà sự bùng nổ tài nguyên có thể là tin xấu (về mặt kinh tế). Sự bùng nổ sẽ chèn ép một số hoạt động kinh tế – chẳng hạn như sản xuất – bởi sự tăng giá của đồng tiền. Bản thân điều này không phải là vấn đề: thay đổi cấu trúc là một phần của tiến bộ kinh tế. Nhưng nếu các hoạt động kinh tế bị chèn ép này không được quan tâm từ đầu – có thể bởi vì chính phủ ban hành lệnh cấm hoặc bởi vì chúng là nguồn gốc rò rỉ công nghệ tới những khu vực khác của nền kinh tế – thì lại là việc hoàn toàn khác. Những tổn thất kinh tế do thu hẹp các hoạt động quan trọng thậm chí có thể làm tăng lợi ích trực tiếp từ bùng nổ tài nguyên. Điều này không phải là mối lo lắng thuần lý thuyết. Các chính phủ ở những quốc gia giàu tài nguyên ở khu vực châu Phi cận Sahara đối mặt với vấn đề này hàng ngày, do áp lực tiền lương phát sinh từ các hoạt động khai khoáng đã làm hao hụt năng lực cạnh tranh trong hoạt động sản xuất.

Tương tác tối ưu cấp hai không phải lúc nào cũng đi ngược lại các kết luận tiêu chuẩn; đôi khi còn tạo ra những kết quả mạnh hơn trong trường hợp tự do hóa thị trường. Trong ví dụ về “căn bệnh Hà Lan”, ảnh hưởng bất lợi đối với sản xuất sẽ là tin tốt nếu các ngành công nghiệp “bẩn” gây thiệt hại cho môi trường suy giảm. Nhưng ảnh hưởng này thường làm đảo lộn các trực giác thông thường, với động thái dường như giúp chúng ta tới đúng mục tiêu hơn là rời xa chúng. Hai cái sai có thể tạo ra một cái đúng. Vì thị trường không bao giờ hoàn hảo như trong các cuốn giáo trình, nên các vấn đề tối ưu cấp hai rất phổ biến trong cuộc sống thường ngày. Như nhà kinh tế thuộc Đại học Princeton Avinash Dixit đã nói: “Thế giới cùng lắm chỉ có thể đạt tới trạng thái tối ưu thứ hai”. Điều này có nghĩa là chúng ta phải cảnh giác với các mô hình chuẩn của các nhà kinh tế, thường giả định các thị trường hoạt động rất tốt. Thường thì, chúng sẽ cần được điều chỉnh bằng cách chỉ ra một số khiếm khuyết thị trường nổi bật. Lựa chọn mô hình thích hợp để áp dụng mới là mấu chốt của vấn đề.

Các tương tác và hành vi chiến lược là một nguồn thứ ba tạo nên các kết quả phản trực giác. Chúng ta đã thấy một ví dụ về điều này với thế lưỡng nan của người tù. Hành vi cơ hội trong trường hợp này sẽ dẫn đến một kết quả mà mỗi người chơi sẽ muốn từ chối. Suy rộng ra, như Thomas Schelling đã quan sát cách đây rất lâu, nhận thức được sự hiện diện của các tương tác chiến lược – điều tôi làm sẽ ảnh hưởng tới điều bạn làm, và ngược lại – có thể tạo ra các hành động dường như khó hiểu. Lời đe dọa đánh bom nếu bạn không đáp ứng yêu cầu của tôi không hề đáng tin, chừng nào bạn còn khả năng trả thù; vì thế lời đe dọa này không có tác dụng. Nhưng nếu tôi hành động “điên rồ”, gieo rắc nghi hoặc trong đầu bạn rằng tôi có ý định từ những giây phút đầu tiên thì sao?

Những nước đi chiến lược, được thiết kế để biến những tương tác thành một lợi thế nhất định, diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Để thuyết phục bạn rằng tôi sẽ không thương lượng để giảm giá trước thời hạn nhằm đạt được thỏa thuận, tôi có thể tự động cắt liên lạc – một chiến thuật “đốt cầu”. Để ngăn cản bạn cạnh tranh với tôi, tôi có thể hành xử như sau, khi bạn tham gia vào ngành của tôi, tôi sẽ có động lực để tích cực giảm giá và cuối cùng khiến cả hai bị phá sản. Để tăng độ tin cậy với tư các là người đi vay, tôi có thể ký hợp đồng với một bên thứ ba (một băng nhóm xã hội đen chẳng hạn?) để rồi phải trả một khoản phí lớn (tự đánh vào chân mình?) khi tôi không thể trả lại số tiền bạn cho mượn. Trong tất cả các trường hợp này, những hành động vô nghĩa không thuộc bối cảnh chiến lược bỗng trở nên hợp lý với mục tiêu thay đổi cách tính toán chi phí – lợi ích của đối thủ cạnh tranh hoặc đối tác.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dani Rodrik – Các quy tắc trong kinh tế học – NXB ĐHQGHN 2019.

Sự thất bại của các thị trường – Phần IV


Chức Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang được chuyển giao từ Alan Greenspan sang Ben Bernanke vào tháng 2 năm 2006, ngay khi tai họa bong bóng nhà ở bắt đầu lộ diện. Bernanke phải giải quyết vấn đề giảm phát mà Greenspan để lại, sự sụp đổ của thị trường trong năm 2007 đã phá hủy giá trị cầm cố hơn một nghìn tỷ USD trong tài sản thế chấp dưới chuẩn và các tài sản thế chấp chất lượng thấp khác, thêm vào đó là nghìn tỷ USD trong chứng khoán phái sinh trên cơ sở những tài sản này cũng bốc hơi. Cuộc Khủng hoảng năm 2008 buộc các công ty tài chính và các nhà đầu cơ phải cơ bản bán tống bán tháo tài sản để trả nợ. Những tài sản khác được rao bán trên thị trường vì vỡ nợ như Bear Stearns, Lehman Brothers và AIG. Cuộc khủng hoảng tài chính lan rộng sang cả nền kinh tế thực khi thị trường nhà ở bắt đầu chững lại và việc làm trong ngành xây dựng ít dần. Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, góp phần đưa tình trạng giảm phát trở lại. Tỷ lệ lạm phát giảm còn 1,6% trong năm 2010, đúng bằng mức lạm phát đã làm Greenspan mất ăn mất ngủ năm 2001. Trước tình hình này, Bernanke phản ứng thậm chí còn quyết liệt hơn người tiền nhiệm đã làm trước đó gần một thập kỷ. Ông hạ lãi suất thực của Quỹ FED xuống gần bằng 0 trong năm 2008. Từ đó đến nay, con số này vẫn giữ nguyên.

Thế giới đang chứng kiến một cuộc chiến gay go chưa từng có giữa giảm phát và lạm phát. Giảm phát bắt nguồn từ bên trong, từ năng suất của các thị trường đang phát triển, sự thay đổi về nhân khẩu học và tình trạng thoái nợ. Lạm phát đến từ bên ngoài, từ chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương và chính sách in tiền. Các chỉ số giá theo thời gian không đơn thuần là điểm dữ liệu, nói đúng hơn, chúng giống một máy đo địa chấn đo lường lực tác động lẫn nhau của các mảng kiến tạo trên một đường đứt gãy. Phần lớn thời gian, đường đứt gãy tĩnh lặng, gần như im lìm. Nhưng có những lúc nó hoạt động mạnh, khi sức ép gia tăng và một mảng kiến tạo đẩy mạng phía trên nó. Tỷ lệ lạm phát biến động tương đối mạnh trong năm 2011, khi mức tăng so với cùng kỳ năm trước đó lên đến 3,2%. Cuối năm 2012, tình trạng giảm phát chiếm ưu thế từ 9 đến tháng 12 năm 2012 khiến chỉ số giá tiêu dùng mỗi lúc một thấp. Nền kinh tế không ở trong tình trạng lạm phát, cũng không ở trong tình trạng giảm phát. Nó ở cả hai trạng thái cùng một lúc vì những nguyên nhân khác nhau và cơ chế hoạt động có thể được xác định thông qua các chỉ số giá.

Điều này tiềm ẩn nhiều ý nghĩa sâu sắc đối với hoạt động hoạch định chính sách. FED không thể dừng chính sách nới lỏng tiền tệ quá lâu vì những yếu tố nền tảng thúc đẩy giảm phát đã hiện hữu. Nếu FED chùn tay trong việc in tiền, giảm phát sẽ nhanh chóng bao trùm nền kinh tế, kéo theo đó là nhiều hậu quả khủng khiếp cho nợ công, doanh thu của Chính phủ và hệ thống ngân hàng. Nhưng dù thế nào thì những nguyên nhân gốc rẽ của giảm phát cũng sẽ không mất đi. Trong vài thập kỷ tới, sẽ có thêm hàng tỷ người gia nhập lực lượng lao động ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh, gia tăng áp lực khiến chi phí và giá cả phải giảm xuống. Cùng lúc đó, hiện tượng tan rã về mặt nhân khẩu ở các quốc gia phát triển sẽ gây áp lực khiến tổng cầu ở những nền kinh tế này giảm xuống. Cuối cùng, những tiến bộ công nghệ vượt bậc đang không ngừng xuất hiện và hứa hẹn khiến năng suất cao hơn với hàng hóa và dịch vụ rẻ hơn. Cuộc cách mạng năng lượng trong khí gas tự nhiên, dầu đá phiến và công nghệ fracking cũng là một yếu tố thúc đẩy lạm phát.

Nói gắn gọn, thế giới muốn giảm phát trong khi các chính phủ muốn lạm phát. Cả giảm phát và lạm phát đều không chịu lùi bước, vì thế sức ép giữa hai bên sẽ tiếp tục gia tăng. Không sớm thì muộn, nền kinh tế cũng sẽ phải hứng chịu không chỉ các “bong bóng” mà cả một “trận động đất” dưới hình thức suy thoái sâu hơn hoặc lạm phát cao hơn khi một “thế lực” nhanh chóng và bất ngờ áp đảo “thế lực” còn lại.

Những chấn động

Những trận động đất được dự báo trước, có cường độ mạnh và gần các thành phố lớn đông dân thường được gọi là “những trận động đất lớn”. Nhưng trước khi chúng xảy ra, người ta có thể thấy những cơn địa chấn nhỏ, gây ra nhiều thiệt hại ở những vùng dọc theo đường đứt gãy các xa các thành phố lớn. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra đối với những chính sách của FED nhằm can thiệp vào thị trường. Trong những nỗ lực tuyệt vọng để đối phó với giảm phát. FED đang gây ra những đợt ran rã quy mô nhỏ trong các thị trường cách xa “đấu trường trung tâm” của lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ. Những hậu quả ngoài dự tính và không lường trước được của các chính sách nới lỏng tiền tệ mà FED áp dụng đang ngày một rõ nét hơn, tốn kém hơn và rắc rối hơn theo nhiều cách. Việc xem xét một cách toàn diện những chính sách độc hại này sẽ cho thấy cuộc rượt đuổi viển vông của FED đối với con rồng giảm phát tất yếu sẽ thất bại như thế nào.

Từ năm 2008 đến năm 2013, mặc dù tỷ lệ lạm phát khá thấp nhưng không phải bằng 0, trong khi thu nhập của các cá nhân của họ gia đình thì gần như bằng 0. Điều này có nghĩa là thu nhập thực tế đã giảm ngay cả trong môi trường lạm phát thấp. Nếu FED chấp nhận giảm phát thì thu nhập thực tế sẽ tăng ngay cả khi không có thu nhập danh nghĩa, vì giá hàng hóa tiêu dùng sẽ thấp hơn. Theo cách này, giảm phát chính là một khoản thưởng thêm cho người lao động vì nó cho phép họ nâng mức sống của mình lên ngay cả khi tiền lương không đổi. Nhà kinh tế học Lacy Hunt đã khái quát hiệu ứng này một cách súc tích như sau:

Vì tiền lương không thay đổi bao nhiêu nên thu nhập thực tế của đại đa số các hộ gia đình Mỹ giảm xuống. Nếu FED không có những quyết định lạ thường như vậy, đáng lẽ lãi suất và lạm phát sẽ thấp hơn so với thực tế hiện nay, và chúng ta có thể tránh được những rủi ro khó nhận biết trong bảng cân đối kế toán nhìn thì có vẻ hoàn hảo của FED. Về bản chất, FED đã cản trở quá trình hồi phục, trì hoãn nền kinh tế tăng trưởng bình thường trở lại, khiến khoảng cách về thu nhập/tài sản trở nên tồi tệ hơn, đồng thời tạo ra một vấn đề mới – làm sao để “thoát khỏi” những chính sách thất bại của FED.

Một hệ quả không mong muốn khác từ chính sách của FED là ảnh hưởng của nó đối với người gửi tiết kiệm. Chính sách lãi suất 0% của Cục Dự trữ Liên bang khiến cho khối tài sản trị giá 400 tỷ USD/năm bị chuyển từ túi của người dân Mỹ sang các ngân hàng lớn. Nguyên nhân là do môi trường lãi suất bình thường ở mức 2% sẽ trả 400 tỷ USD cho những người gửi tiết kiệm trong ngân hàng. Thế nhưng trên thực tế, họ không nhận được gì hết cả, toàn bộ 400 tỷ USD chảy vào các ngân hàng và được xem như tiền nhàn rỗi để cho khách hàng khác vay kiếm lợi nhuận “khủng”. Một phần mục đích của FED khi áp dụng chính sách này là để trừng phạt người gửi tiết kiệm, khuyến khích họ không để tiền ở ngân hàng nữa mà đầu tư vào tài sản rủi ro như cổ phiếu và bất động sản, nhờ đó chống đỡ cho giá trị cầm cố trong những thị trường này.

Tuy nhiên, nhiều người gửi tiết kiệm rất bảo thủ và họ có lý do để như vậy. Một bà cụ hưu trí 82 tuổi không muốn đầu tư vào cổ phiếu vì bà có thể dễ dàng mất 30% tiền tiết kiệm lương hưu khi bong bóng tiếp theo nổ tung. Một nhân viên 22 tuổi dành dụm để mua căn hộ đầu tiên trong đời cũng có thể không mua cổ phiếu vì cùng lý do. Cả hai người đều hy vọng sẽ nhận được một khoản lợi suất hợp lý từ tiền gửi tiết kiệm của mình trong ngân hàng, nhưng FED lại dùng chính sách lãi suất để đảm bảo rằng họ không nhận được gì hết. Vì thế, một chính sách được thiết kế để người dân không tiết kiệm được nữa thực chất lại làm thúc đẩy họ tiết kiệm nhiều hơn, với tâm lý đề phòng, để bù đắp cho phần tiền lãi không được hưởng. Đây chính là phản ứng hành vi không dược dạy trong các giáo trình hay đưa vào các mô hình mà FED sử dụng.

Chính sách của Cục Dự trữ Liên bang cũng gây tổn hại đến hoạt động cho vay với khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). Điều này không ảnh hưởng gì đến FED, vì nó có lợi cho lãi suất của các ngân hàng lớn. Mới đây, Giáo sư Steve Hanke của Viện Đại học John Hopkins đã chỉ ra nguyên nhân của tổn hại mà hoạt động cho SME vay phải gánh chịu. Các ngân hàng cho SME vay thông qua hệ thống cho vay liên ngân hàng. Tức là, Ngân hàng A cho Ngân hàng B vay tiền trên thị trường liên ngân hàng để Ngân hàng B có thể cho một doanh nghiệp nhỏ vay. Nhưng này nay, hình thức cho vay như vậy không còn hấp dẫn đối với các ngân hàng vì lãi suất cho vay liên ngân hàng bằng 0% do sự can thiệp của FED. Vì không thể kiếm lợi nhuận thị trường từ hình thức cho vay liên ngân hàng nên các ngân hàng không tham gia vào thị trường đó. Kết quả là, tính thanh khoản trong thị trường cho vay liên ngân hàng rất thấp, và các ngân hàng có thể không còn tự tin rằng mình có thể huy động tiền khi cần. Do đó, họ tất yếu sẽ ngần ngại không muốn mở rộng danh mục cho vay đối với khu vực SME.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Tính khoa học của việc xây dựng mô hình kinh tế – Phần II


Định lý cơ bản đầu tiên mô tả một thế giới giả định hoàn toàn: không giống với bất cứ thị trường thực tế nào. Để áp dụng định lý này vào thế giới thực đòi hỏi nhiều suy luận và chứng cứ, cũng như các lý thuyết sâu hơn nữa. Cách một người giải thích sự liên quan của định lý này với chính sách kinh tế cũng tương tự như trắc nghiệm Rorschach. Với các nhà kinh tế tự do và những người bảo thủ chính trị, định lý thiết lập ưu thế của một xã hội dựa trên thị trường. Với những người thuộc cánh tả, danh sách dài các giả định đã cho thấy tính phi thực tế của nó. Bản thân định lý không hướng tới những tranh luận chính sách trong thế giới thực. Nhưng không ai có thể chối bỏ rằng, nhờ nó và các tài liệu liên quan, chúng ta có thể hiểu hơn nhiều về những trường hợp mà Thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith hoạt động và không hoạt động.

Bây giờ hãy chuyển sang một ví dụ quan trọng khác về việc xây dựng các mô hình kinh tế giúp làm rõ các lập luận có phần phản trực giác. Vào năm 1938, Paul Samuelson, khi ấy còn rất trẻ, bị thách thức bởi nhà toán học người Mỹ gốc Ba Lan, Stanislaw Ulan, đã đưa ra một tuyên bố về khoa học xã hội vừa chính xác vừa đặc biệt. Câu trả lời của Samuelson là Nguyên tắc Lợi thế So sánh của David Ricardo: “Sử dụng bốn con số, như thể bằng phép thuật, chúng cho thấy thực sự có một bữa trưa miễn phí – đến từ thương mại quốc tế”. Chứng minh của Ricardo vào năm 1817 rằng sự chuyên môn hóa dựa theo lợi thế so sánh tạo ra lợi ích kinh tế cho tất cả các quốc gia bằng cách rất đơn giản và hiệu quả. Bản chất đặc biệt của nguyên tắc này là hiển nhiên bởi nó rất hay bị hiểu sai, ngay cả đối với các nhà bình luận tinh tế. Quan điểm bài thương mại của Abraham Lincoln – “khi chúng ta mua hàng hóa sản xuất ở nước ngoài, chúng ta có hàng hóa và ngoại quốc có tiền; khi chúng ta mua hàng hóa sản xuất trong nước, chúng ta có hàng hóa mà vẫn giữ lại số tiền ấy” – có thể đáng ngờ, nhưng không nhiều người dễ dàng nhìn ra được sự phi logic của nó.

Việc nhập khẩu giá rẻ từ quốc gia khác từ lâu trước thời của Ricardo đã được hiểu như là một cách cho các quốc gia sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên trong nước như lao động và vốn để dùng vào các mục đích khác. Nhưng cách mà thương mại có thể tạo ra lợi ích cho cả hai bên vẫn còn chưa rõ ràng. Đặc biệt, nếu một quốc gia có hiệu quả hơn về nhiều lĩnh vực, sản xuất tất cả các mặt hàng trong khi sử dụng ít tài nguyên hơn các quốc gia khác, thì có thực sự có lợi khi tham gia vào thương mại hay không? Ricardo trả lời câu hỏi này đầy quả quyết. Ông đưa ra ví dụ với những con số, về một trong những trường hợp sử dụng mô hình đầu tiên (và thành công nhất) trong kinh tế học. Đó là thứ mà các nhà kinh tế gọi là mô hình thương mại 2×2: hai quốc gia (Anh và Bồ Đào Nha) và hai mặt hàng (vải và rượu).

Ricardo giả sử rằng phải mất 80 lao động để sản xuất một lượng rượu nhất định và 90 lao động để sản xuất một lượng vải nhất định ở Bồ Đào Nha. Ở Anh, lần lượt là 120 và 100 lao động, để sản xuất cùng số lượng của hai hàng hóa. Lưu ý rằng Bồ Đào Nha sản xuất hiệu quả hơn Anh cả vải và rượu. Tuy nhiên, Ricardo cho thấy Bồ Đào Nha vẫn có thể “có nhiều vải từ Anh hơn so với tự mình sản xuất bằng cách chuyển một phần lao động từ trồng nho sang sản xuất vải”. Thứ tạo ra lợi ích thương mại là lợi thế so sánh, chứ không phải là lợi thế tuyệt đối. Một quốc gia được lợi bằng cách xuất khẩu những gì nó sản xuất tương đối tốt hơn và nhập khẩu những gì nó sản xuất tương đối kém hơn.

Nếu vẫn còn chưa hiểu, bạn hãy nhớ đến lời của Samuelson: nguyên tắc này không hề hiển nhiên. Bạn cần phải suy nghĩ và thực hiện một vài phép tính trước khi hiểu rõ nó.

Mô hình đơn giản của Ricardo đã cho thấy những yếu tố không ảnh hưởng tới lợi ích có được từ thương mại. Một quốc gia không cần sản xuất hiệu quả hơn đối tác thương mại mới có thể xuất khẩu thành công. Quốc gia đó cũng không cần phải sản xuất kém hơn mới được lợi khi nhập khẩu. Sự hoàn thiện sau này của mô hình bởi nhiều thế hệ các nhà lý thuyết đã làm rõ những yếu tố khác mà nguyên tắc này không chịu ảnh hưởng. Không quan trọng là có bao nhiêu hàng hóa, hoặc bao nhiêu quốc gia tham gia vào thương mại; hoặc có những hàng hóa và dịch vụ không được trao đổi bên cạnh những hành hóa được phép giao dịch khác; hoặc liệu thương mại có cân bằng trong bất kỳ thời điểm nào hay không; hay liệu vốn (hoặc các nguồn lực khác) có dễ dàng chuyển từ một ngành công nghiệp này sang ngành công nghiệp khác không. Kết quả cho thấy rằng không điều nào trong số trên là quan trọng cả, miễn là chúng ta quan tâm đến Nguyên tắc Lợi thế So sánh và lợi ích từ thương mại.

Những nghiên cứu sâu hơn cũng đã chỉ ra những hạn chế của nguyên tắc này. Ví dụ, một số điều kiện không nằm trong Định lý Cơ bản Đầu tiên có thể dẫn tới tổn thất khi tham gia thương mại. Ví dụ một số quốc gia đã thua lỗ khi tham gia thương mại do xuất hiện các yếu tố ngoại sinh hoặc lợi ích kinh tế theo quy mô. Các quốc gia đang phát triển trong thập niên 50 và 60 đã quan ngại về điều này và phản ứng lại bằng cách dựng nên hàng rào nhập khẩu với hi vọng phát triển các ngành công nghiệp trong nước. Ngay cả khi có lợi ích tham gia thương mại, thì cũng không có ý nghĩa rằng tất cả mọi người đều được lợi từ nó. Trên thực tế, hầu hết các mô hình hiện hành đều kết luận rằng tình trạng của một số nhóm lại đi xuống – nhân viên của các ngành công nghiệp cạnh tranh với nhập khẩu, hoặc người lao động không có kỹ năng trong một quốc gia có lượng nhân công lành nghề tương đối dồi dào. Một số người ủng hộ tự do thương mại bởi nó sẽ làm lợi cho mọi người có lẽ cũng không thực sự hiểu cách thức hoạt động của nguyên tắc lợi thế so sánh.

Nguyên tắc Lợi thế So sánh và Định lý Cơ bản Đầu tiên của Kinh tế học Phúc lợi là hai ví dụ rõ ràng và quan trọng nhất cho thấy các mô hình đã làm rõ bản chất của các giả thuyết kinh tế – chính xác thì chúng truyền đạt điều gì, tại sao chúng lại vận hành như vậy, và những trường hợp chúng ta có thể áp dụng chúng. Nhưng chúng chỉ đại diện cho một kiểu câu hỏi chung chung. Đầu cơ tài chính là tốt hay xấu trong việc ổn định nền kinh tế Chúng ta nên giúp các gia đình khó khăn bằng trợ cấp tiền bạc hay giáo dục? Chính sách tiền tệ nên tùy ý hay tuân thủ các quy tắc chặt chẽ? Cách tiếp cận của các nhà kinh tế trong mỗi trường hợp là lấy ra một mô hình và kiểm tra xem điều kiện nào dẫn tới những kết quả lý tưởng hơn.

Chứng cứ trực tiếp hiếm khi thay thế được tư duy chặt chẽ của cách tiếp cận này. Lấy một trường hợp đặc biệt và giả sử chúng ta có chứng cứ quyết định để giải quyết một trong các câu hỏi này. Bằng chứng như vậy thay đổi tùy theo bối cảnh địa lý và thời đại cụ thể: đầu cơ tài chính đã ổn định được thị trường ngô của Ủy ban Thương mại Chicago vào giai đoạn 1995 và 2014, hoặc trợ cấp trực tiếp bằng tiền mặt đã hiệu quả hơn so với hỗ trợ giáo dục tiểu học ở Tanzania trong khoảng 2010 và 2012. Những bằng chứng hữu ích này cho thấy chúng ta cần phải đặt các mô hình kinh tế vào nhiều hoàn cảnh trước khi có thể diễn giải một cách phù hợp. Ví dụ, liệu các khoản trợ cấp tiền mặt có hiệu quả hơn các hình thức hỗ trợ khác bởi chúng cung cấp động cơ tốt hơn hay bởi vì chúng giảm khối lượng công việc của các quan chức quản lý chương trình? Việc dùng phép ngoại suy những bằng chứng này vào các hệ thống (hoặc viễn cảnh) khác đòi hỏi phải có các mô hình. Liệu đầu cơ tài chính trên thị trường ngô có ổn định được thị trường trong vòng 2 năm tới không? Để trả lời các câu hỏi này cần có các mô hình – mà chúng thì thường mơ hồ và đầy ẩn ý. Các mô hình càng rõ ràng, thì các giả định càng minh bạch, từ đó giúp chúng ta diễn giải và ngoại suy các bằng chứng.

Khi trực giác khiến chúng ta sai lầm

Một trong nhiều lời bông đùa về chính bản thân các nhà kinh tế là “nhà kinh tế là người thấy một thứ hoạt động trong thực tế, và thắc mắc nó có vậy trong lý thuyết không”. Điều này có vẻ vô lý, cho đến khi chúng ta nhận ra trực giác có thể dễ dàng khiến chúng ta lạc lối và đôi khi cuộc sống lại mang tới những kết quả đầy bất ngờ. Các mô hình kinh tế có thể rèn luyện trực giác của ta với những khả năng bất ngờ như vậy. Những bất ngờ này diễn ra dưới nhiều vỏ bọc khác nhau.

Đầu tiên có thể kể tới là “tương tác cân bằng tổng thể”. Để phân biệt với “cân bằng từng phần” hoặc phân tích thị trường đơn, thuật ngữ này là một cách diễn tả màu mè về việc chúng ta theo dõi phản hồi ở các thị trường khác nhau. Chẳng hạn như diễn biến ở thị trường lao động ảnh hưởng tới thị trường hàng hóa, sẽ lần lượt ảnh hưởng tới thị trường vốn, và nhiều thị trường khác. Chuỗi phản ứng này thường là đủ – đôi khi không đủ – để đưa ra kết luận về các mô hình cung – cầu đơn giản trong một thị trường tại một thời điểm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dani Rodrik – Các quy tắc trong kinh tế học – NXB ĐHQGHN 2019.

Sự thất bại của các thị trường – Phần III


Thông thường, hiệu ứng tài sản được thể hiện như số phần trăm tăng thêm trong chi tiêu tiêu dùng cho mỗi dollar tăng thêm trong tài sản. Ví dụ, một khoản tăng thêm trị giá 100 tỷ USD trong thị trường cổ phiếu và giá nhà ở có hiệu ứng tài sản ở mức 2% sẽ tạ ra một khoản tăng thêm trị giá 2 tỷ USD trong chi tiêu tiêu dùng. Theo Văn phòng Ngân sách Quốc hội, các nghiên cứu khác nhau đánh giá hiệu ứng tài sản từ giá nhà ở năm trong khoảng từ 1,7% đến 21%. Khoảng dao động quá lớn như vậy khá buồn cười, khiến người ta nghi ngờ về những nghiên cứu tương tự, đồng thời nêu bật những khó khăn về phương pháp luận trong lĩnh vực này.

Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York đã thực hiện một nghiên cứu tiên phong về hiệu ứng tài sản từ giá cổ phiếu, trong đó đưa ra những kết luận về cơ bản là phá vỡ niềm tin của Cục Dự trữ Liên bang vào hiệu ứng tài sản. Nghiên cứu có đoạn:

Chúng tôi nhận thấy… một mối liên hệ tích cực giữa sự thay đổi tài sản tích lũy và chi tiêu tích lũy… nhưng hiệu ứng không ổn định và khó xác định. Phản ứng của mức độ tăng trưởng tiêu dùng đối với một sự thay đổi bất ngờ trong tài sản là không chắc chắn và có vẻ như chỉ tồn tại trogn thời gian rất ngắn… Chúng tôi thấy rằng… hiệu ứng tài sản… đang nhỏ dần trong những năm gần đây… Khi chúng ta ép tiêu dùng phải phản ứng lại với độ trễ một giai đoạn,, một… cú sốc đối với sự tăng trưởng của tài sản hầu như không có ảnh hưởng gì đến sựu tăng trưởng tiêu dùng.

Một nghiên cứu khác cho thấy rằng hiệu ứng tài sản, trong phạm vi mà nó tồn tại, tập trung chủ yếu vào giới nhà giàu và không ảnh hưởng gì đến chi tiêu của người dân bình thuờng. Davdi K. Backus, Chủ nhiệm khoa Kinh tế của trường Đại học New York, ủng hộ quan điểm này:

Ý tưởng về một hiệu ứng tài sản không thể đứng vững trước các dữ liệu kinh tế. Theo David Backus, sự bùng nổ của thị trường cổ phiếu vào cuối thập niên 1990 đã góp phần tăng tài sản của người dân Mỹ, nhưng nó không tạo ra một thay đổi đáng kể nào trong tiêu dùng… Trước khi thị trường cổ phiếu tự đảo chiều, “anh không hề thấy tiêu dùng tăng vọt”, Backus nói, “và khi tự nó đảo chiều, anh cũng chẳng hề thấy tiêu dùng giảm mạnh”.

Tuy nhiên, có một vấn đề khác còn gây nhiễu loạn hơn cả sự nghi ngờ đối với quy mô và thời điểm của hiệu ứng tài sản. Đó là việc các nhà kinh tế học thậm chí không chắc chắn về hướng của hiệu ứng. Trong khi đa số cho rằng giá cổ phiếu tăng khiến tiêu dùng tăng thì các nhà kinh tế lại đề xuất rằng chuyện có thể xảy ra theo hướng ngược lại rằng có thể tiêu dùng tăng làm giá cổ phiếu tăng. Nhà kinh tế tiền tệ lỗi lạc Lacy H. Hunt tóm tắt nghiên cứu nói trên về hiệu ứng tài sản như sau:

Vấn đề ở đây không phải là việc các chính sách của FED có khiến tài sản tích lũy tăng hoặc giảm hay không. Vấn đề là những thay đổi trong tài sản có làm chi tiêu tiêu dùng thay đổi ở một mức độ đáng kể nào hay không. Những bằng chứng thuyết phục nhất cho rằng sự tăng giảm thất thường của tài sản có rất ít hoặc hầu như không có tác động đến chi tiêu tiêu dùng. Do đó, khi thị trường cổ phiếu tăng do FED đẩy mạnh tính thanh khoản, nền kinh tế nói chung không bị tác động gì.

Bây giờ hãy xem xét đến việc một số nghiên cứu đi đầu về hiệu ứng tài sản được xuất bản trong năm 1999 hoặc trong năm 2007, đỉnh điểm của hai bong bóng cổ phiếu gần đây nhất. Không có gì đáng ngạc nhiên khi người ta đặc biệt quan tâm đến các nghiên cứu học thuật về hiệu ứng tài sản trong những giai đoạn xảy ra bong bóng cổ phiếu, khi mà hiệu ứng tài sản được cho là mạnh mẽ nhất, nhưng nghiên cứu này lại ngụ ý rằng hiệu ứng tài sản trên thực tế rất yếu ớt và không chắc chắn.

Tất cả những điều trên đều cho thấy rằng, mặc dù Cục Dự trữ Liên bang Mỹ in hàng nghìn tỷ USD hòng theo đuổi hiệu ứng tài sản nhưng trên thực tế, có lẽ cái mà họ đang theo đuổi chỉ là một ảo vọng mà thôi.

Bong bóng tài sản

Nước Mỹ ngày nay đang chứng kiến bong bóng cổ phiếu thứ ba và bong bóng nhà ở thứ hai trong vòng 50 năm qua. Những bong bóng này không giúp ích được gì cho nền kinh tế thực mà chỉ làm giàu cho các công ty môi giới và ngân hàng. Khi chúng phát nổ, nền kinh tế sẽ đối mặt với cơn khủng hoảng tồi tệ từng xuất hiện vào năm 2008, và chẳng bao lâu sau các ngân hàng sẽ cầu xin cứu trợ. Đóng góp không hề nhỏ vào viễn cảnh ảm đạm đó chính là thói ngạo mạn của các ngân hàng trung ương, những người từng không tin vào thị trường nhưng lại luôn tìm cách kiểm soát chúng.

Sự hình thành bong bóng tài sản là một trong những mối hiểm họa dễ thấy nhất mà chính sách in tiền của Cục Dự trữ Liên bang gây ra. Ngoài ra, còn nhiều hiểm họa khác. Một tác động hiển nhiên nhất là việc “xuất khẩu” tình trạng lạm phát từ Mỹ sang các đối tác thương mại của mình thông qua cơ chế tỷ giá hối đoái. Từ năm 2008 đến nay, người ta vẫn luôn thắc mắc về việc tại sao giá cả tiêu dùng ở Mỹ không bị lạm phát. Trong giai đoạn 2008 – 2012, mỗi năm chỉ số giá tiêu dùng ở Mỹ chỉ tăng bình quân 1,8% so với cùng kỳ năm trước đó, tỷ lệ thấp nhất trong tất cả các giai đoạn 5 năm kể từ 1965. Suốt nhiều năm qua, phe chỉ trích FED đã hy vọng rằng lạm phát trong nước sẽ tăng mạnh do hậu quả của việc in tiền, mặc dù có thể chậm đôi chút, nhưgn thực tế là không hề có lạm phát mà ngược lại, những dấu hiệu giảm phát đã bắt đầu xuất hiện trong năm 2013.

Một lý do căn bản giải thích cho việc không có lạm phát ở Mỹ là vì lạm phát đã được xuất khẩu ra nước ngoài thông qua cơ chế tỷ giá hối đoái. Các đối tác thương mại của Mỹ, như Trung Quốc và Brazil, muốn thúc đẩy xuất khẩu của mình bằng cách ngăn không để đồng tiền nước mình tăng giá so với đồng USD. Khi FED in thêm tiền, những đối tác thương mại này phải mở rộng nguồn cung tiền của mình để chặn đứng cơn lũ USD ập vào nền kinh tế nội địa dưới hình thức thặng dư thương mại hoặc đầu tư. Những chính sách in tiền của các quốc gia này gây ra lạm phát trong nền kinh tế của các đối tác thương mại. Ở Mỹ không hề có lạm phát vì Mỹ nhập khẩu hàng hóa giá rẻ từ phía đối tác.

Kể từ khi bắt đầu thiên niên kỷ mới, thế giới nói chung và nước Mỹ nói riêng có một khuynh hướng giảm phát tự nhiên. Ban đầu, Mỹ nhập khẩu giảm phát từ Trung Quốc dưới hình thức hàng hóa giá rẻ được sản xuất bởi nhân công thừa mứa, cộng thêm đồng tiền bị định giá thấp khiến giá hàng hóa Trung Quốc tính theo đồng USD thấp hơn mức mà các nguyên tắc cơ bản của kinh tế quy định. Khuynh hướng giảm phát này được đề cập vào năm 2001, khi tỷ lệ lạm phát hàng năm giảm xuống còn 1,6% – rất gần với ranh giới giảm phát.

Chính nỗi sợ hãi giảm phát đã buộc Chủ tịch của FED – Alan Greenspan giảm mạnh lãi suất. Năm 2002, lãi suất thực bình quân của Quỹ Liên bang là 1,67% – thấp nhất trong 44 năm. Năm 2003, lãi suất bình quân của Quỹ Liên bang thậm chí còn thấp hơn – 1,13% và duy trì ở mức thấp đến hết năm 2004 với lãi suất bình quân là 1,35%. Chính lãi suất thấp bất thuờng kéo dài suốt ba năm này nhằm ngăn chặn giảm phát, và nó đã phát huy hiệu quả. Sau khoảng trễ thường gặp, chỉ số tiêu dùng tăng 2,7% trong năm 2004 và 3,4% trong năm 2005. Greenspan như hoa tiêu của một chiếc máy bay gặp nạn, người đã kéo nó lên vừa đúng lúc nó chuẩn bị đâm xuống mặt đất, ổn định khí động lực và trở lại không trung. Đến năm 2007, tỷ lệ lạm phát quay lại mức 4% và lãi suất của Quỹ Liên bang là hơn 5%.

Greenspan đã chặn đứng con rồng giảm phát, nhưng đồng thời lại tạo nên một con quái vật còn kinh khủng hơn. Chính sách lãi suất thấp của ông trực tiếp dẫn đến bong bóng tài sản nhà ở phát nổ với sức tàn phá nặng nề vào cuối năm 2007, đánh dấu sự khởi đầu của một thời kỳ suy thoái mới. Trong vòng một năm, giá trị tài sản giảm, khả năng thanh khoản mất dần và lòng tin suy yếu đã hình thành giai đoạn Khủng hoảng năm 2008, trong đó hàng chục nghìn tỷ USD tài sản trên giấy tờ bốc hơi chỉ sau một đêm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Chìa khóa khôi phục kinh tế Mỹ hậu COVID-19


Sven Steinmo & Mark Blyth

Sau nhiều năm rao giảng với thế giới về những mối nguy hiểm của chi tiêu của chính phủ, Chính phủ Mỹ đột ngột đi theo học thuyết kinh tế Keynes. Giờ đây, hỗ trợ dưới dạng chi phiếu cho các hộ gia đình, các đợt bơm thanh khoản trên quy mô lớn của Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ, và các gói cứu trợ doanh nghiệp trở thành điều bình thường – cho đến nay tất cả đều đang diễn ra với cấp độ không ngờ và đều được biện hộ là do mối đe dọa bất thường của cuộc khủng hoảng COVID-19 gây ra.

Chính phủ Mỹ thường không chi tiêu tùy tiện. Thay vào đó, họ có xu hướng thích nghi với các cú sốc kinh tế bằng việc chấp nhận tình trạng thất nghiệp và sử dụng chính sách thắt lưng buộc bụng – đặc biệt là ở cấp bang, theo quy định của pháp luật, các thống đốc phải duy trì ngân sách cân đối. Ngay khi dịch COVID-19 hạ nhiệt, những lời kêu gọi cắt giảm chi tiêu và cân đối ngân sách quen thuộc sẽ quay trở lại. Nợ liên bang sẽ tăng lên mức chưa từng thấy kể từ những năm 1940 – và để ứng phó, những người đề xuất chính sách thắt lưng buộc bụng sẽ yêu cầu khởi động lại thị trường tự do bằng cách cắt giảm cả thuế lẫn chi tiêu.

Người Mỹ sẵn sàng bác bỏ những yêu cầu này. Ngay cả những người quan ngại về tình hình nợ cũng không cần phải tìm kiếm một lựa chọn thay thế đâu xa ngoài đường hướng mà các nhà lãnh đạo Mỹ đã lựa chọn trong hia cuộc khủng hoảng lớn vào giữa thế kỷ 20: Đại khủng hoảng và Chiến tranh thế giới thứ hai. Để ứng phó với những cú sốc này, Chính phủ Mỹ đã gạt bỏ chính sách thắt lưng buộc bụng và tăng thuế để cấp vốn cho Đạo luật hỗ trợ quân nhân giải ngũ (G.I) và chương trình cơ sở hạ tầng lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Lúc này, Mỹ áp dụng lại chính sách đó, lần này dùng tiền để tái thiết hệ thống y tế quốc gia.

Kế hoạch hành động

Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đắc cử vào năm 1932, lúc đỉnh điểm của cuộc Đại khủng hoảng, một phần vì người Mỹ tìm kiếm một nhà lãnh đạo sẽ gạt bỏ chính sách thắt lưng buộc bụng và mang đến niềm hy vọng. Roosevelt đã làm được điều đó. Trong bài diễn văn nhậm chức đầu tiên của mình ông tuyên bố: “Nhiệm vụ chính lớn nhất của chúng tôi là tạo công ăn việc làm cho người dân. Không có vấn đề này là không thể giải quyết nếu chúng ta đối mặt với chúng một cách khôn ngoan và dũng cảm. Có thể hoàn thành nhiệm vụ này một phần nhờ việc chính phủ trực tiếp tuyển dụng người lao động, xem đây là một nhiệm vụ khẩn cấp như một cuộc chiến tranh, nhưng đồng thời qua việc tuyển dụng này để hoàn thành các dự án hết sức cần thiết nhằm kích thích và tái tổ chức việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên”.

Trong 100 ngày đầu tiên cầm quyền, Roosevelt đã ký 15 đạo luật, mở rộng đáng kể vai trò của chính phủ đối với đời sống của hàng triệu người Mỹ. Cơ quan quản lý tiến độ công trình (WPA) có lẽ là chương trình tiêu biểu nhất trong nhiệm kỳ đầu tiên của Roosevelt, tạo việc làm cho gần 8 triệu lao động trong các công trình xây dựng cầu đường, trường học, bưu điện, bảo tàng, bể bơi, công viên, trung tâm công cộng, sở thú, vườn bách thảo, phòng tập thể hình, trường đại học… Hầu như mọi cộng đồng ở đất nước này đều được hưởng những lợi ích rõ ràng và ngay tức thì từ quyết sách hành động của chính phủ. Năm 1938, Mỹ chi tiêu cho phúc lợi xã hội nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, kể cả Anh hay thậm chí là Thụy Điển. Chính phủ đã trả tiền cho các chương trình này bằng cách nào? Bằng cách tăng thuế và vay tiền. Trở lại  năm 1931, mức thuế cao nhất (đánh vào các mức thu nhập cao hơn 100.000 USD) không cách biệt so với mức 25% hiện nay. Nhưng ngay khi nhậm chức, Roosevelt đã nâng mức thuế đối với người có thu nhập trên 1 triệu USD lên 63%. Năm 1932, ông đã nâng tỷ lệ đó lên 79%.

Khi Mỹ tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu như không ai ủng hộ việc cắt giảm thuế hoặc hạn chế quyền hạn của chính phủ. Trái lại, số tiền chi tiêu thâm hụt đã tăng vọt, đạt mức đỉnh điểm là hơn 26% GDP vào năm 1943 và nợ công tăng lên hơn 100% GDP. Để tài trợ cho tất cả những chi tiêu này, thuế lại một lần nữa bị tăng lên. M4y đã bắt tay vào chiến dịch nổi tiếng “Thuế đánh bại phe Trục” và giới thiệu hệ thống thuế làm đâu trả đó PAYG (khoản thuế nhà tuyển dụng giữ lại trích từ lương của người lao động). Để giành chiến thắng, tất cả mọi người đều phải đóng góp.

Đến năm 1944, ngay cả những người có thu nhập thấp nhất ở Mỹ cũng phải đóng mức thuế 23% và những người có thu nhập cao nhất phải đóng mức thuế đáng kinh ngạc là 94%. Charles Wilson, khi đó là người đứng đầu tập đoàn lớn nhất thế giới General Motors, đã nói một câu rất nổi tiếng: “Nhiều năm qua, tôi đã nghĩ rằng những gì tốt đẹp cho đất nước chúng ta cũng là tốt đẹp đối với General Motors và ngược lại”. Wilson cũng cảm thấy đóng thuế là nghĩa vụ của mình. Năm 1949, Wilson kiếm được 586.100 USD từ tiền lương, tiền thưởng và cổ phiếu. Trong đó, ông đã trả 430.350 USD tiền thuế.

Tư duy kinh tế thời đó là Mỹ sẽ chìm vào một cuộc suy thoái nghiêm trọng khi chiến tranh kết thúc. Nhà kinh tế học Paul Samuelson dự đoán rằng hàng triệu người sẽ phải cạnh tranh để có chỗ đứng trên thị trường lao động. Samuelson cảnh báo nếu không có kế hoạch và sự quản lý kinh tế liên tục của chính phủ, thì Mỹ sẽ rơi vào thời kỳ thất nghiệp và rối loạn công nghiệp lớn nhất mà bất kỳ nền kinh tế nào từng phải đối mặt.

Bốn năm sau, Mỹ đã bầu Tổng thống thuộc đảng Cộng hòa đầu tiên kể từ thời Herbert Hoover, Dwight Eisenhower. Nhiều người Mỹ tin rằng các chương trình mở rộng của chính phủ trong kỷ nguyên Roosevelt và Truman cuối cùng sẽ chấm hết. Tuy nhiên, Eisenhower  không làm điều đó. Ông viết: “Nếu bất kỳ chính đảng nào nỗ lực xóa bỏ chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm  thất nghiệp cùng với các luật lao động và các chương trình nông nghiệp, thì đảng đó sẽ không còn xuất hiện một lần nào nữa trong lịch sử chính trị của chúng ta. Dĩ nhiên, có một nhóm nỏ tin rằng họ có thể làm được điều này… Số này không đáng kể, và họ thật ngu ngốc”. Do đó, thay vì hạn chế sức ảnh hưởng của chính phủ, Eisenhower đã mở rộng chính sách An sinh xã hội, bắt tay vào thực hiện chương trình chi tiêu công thời bình lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ – Chương trình cao tốc liên bang – và từ chối cắt giảm thuế cho người giàu. Thuế ở mức cao nhất là 91% trong suốt 8 năm ông cầm quyền và nền kinh tế Mỹ tiếp tục bùng nổ.

Hậu cuộc chiến COVID-19

Điều trớ trêu là việc giãn cách xã hội giúp mọi người nhận ra họ cần nhau nhiều như thế nào. Trên khắp thế giới, mọi người đang hy sinh vì lợi ích của người khác. Ngay cả ở Mỹ, một quốc gia vốn đề cao chủ nghĩa cá nhân và các thị trường tự do hơn bất kỳ nước nào khác, thì hầu hết mọi người đều hiểu rằng tất cả đều đang cùng nhau đối mặt với nghịch cảnh. Bằng cách nào Mỹ có thể tái tạo cơ hội thoát khỏi cuộc khủng hoảng này?

Giải pháp thứ nhất là tăng thuế. Mỹ không cần quay trở lại áp đặt mức thuế của những năm Eisenhower cầm quyền. Tuy nhiên, kể cả việc quay trở lại mức thuế của những năm 1980 cũng đồng nghĩa với một sự tiến bộ to lớn. Những người chưa phải đóng thuế đủ sẽ lập luận rằng với khoản nợ công ngày càng tăng, quốc gia này không thể tăng thuế mà thay vào đó nên cắt giảm thuế. Tuy nhiên, kể từ năm 1981, Mỹ đã 10 lần cắt giảm thuế thu nhập, và tất cả những lần cắt giảm thuế đó mang lại điều gì? Chúng là nguyên nhân gốc rễ khiến nợ công tăng đáng kể, kéo theo đó là thâm hụt gia tăng. Năm 1980, nợ công ở mức 930 tỷ USD, tương đương 23% GDP. Sau 10 đợt cắt giảm thuế được cho là để cấp vốn cho chính phủ, nợ công đã tăng lên 22.300 tỷ USD, tương đương 106% GDP – đơn giản bởi vì trong 40 năm qua, Mỹ đã thu ít thuế hơn mức chi tiêu mỗi năm ngoại trừ một khoảng thời gian ngắn từ năm 1998 đến năm 2000.

Tất cả mọi người đều nên đóng nhiều thuế hơn, đặc biệt là người giàu. Mức thuế cao nhất áp dụng đối với các triệu phí giàu có nhất lên tới 94%. Đến năm 1980, mức thuế này giảm còn 70%. Hiện nay, mức thuế trên thực tế mà 400 người giàu nhất nước Mỹ phải đóng chỉ là 23%, trong khi những người có thu nhập trung bình phải đóng hơn 25% tiền thuế. Chỉ cần tăng 5% mức thuế trung bình đối với nhóm người giàu có nhất sẽ tạo ra hơn 140 tỷ USD/năm. Làm tương tự như vậy đối với nhóm những người có thu nhập trung bình (55.000 đến 88.000 USD) sẽ tạo ra hơn 115 tỷ USD. Chỉ cần tăng 5% thuế đối với tất cả các hạng thu nhập sẽ mang lại ít nhất 820 tỷ USD.

Chính phủ có thể làm được rất nhiều điều với số tiền đó. Cuộc khủng hoảng hiện nay cho thấy rõ rằng hệ thống y tế của Mỹ là một thảm họa. Dường như một bệnh nhân tiểu đường 93 tuổi có thể được phẫu thuật thay khớp háng dễ dàng hơn so với việc một nhân viên cửa hàng tạp hóa 23 tuổi được làm xét nghiệm COVID-19. Việc cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cho tất cả mọi người không vượt quá khả năng hay là quá tốn kém đối với một trong những nước giàu nhất thế giới

Viện nghiên cứu Đô thị có khuynh hướng thiên tả đã tính toán rằng một hệ thống y tế một người (chính phủ) chi trả sẽ tiêu tốn 34.000 tỷ USD trong 10 năm. Tuy nhiên, những dự đoán này giả định một hệ thống như vậy sẽ không tạo ra doanh thu mới. Trái lại, chỉ riêng việc loại bỏ khoản khấu trừ bảo hiểm y tế do chủ sử dụng lao động chi trả sẽ tạo ra hơn 2.786 tỷ USD trong 10 năm và chủ sử dụng lao động sẽ được giảm số thuế tương đương đáng kể bằng việc không phải đóng thêm gần 1/3 số tiền lương chi trả cho nhân viên vào quỹ phúc lợi như hiện nay. Do hệ thống y tế của Mỹ quá cồng kềnh với nhiều bên chi trả, nên 30% chi tiêu y tế là dành cho chi phí hành chính. Do đó, trung bình hiện nay một gia đình ở Mỹ chi hơn 5.700 USD/năm chỉ riêng chi phí cho bộ máy hành chính của hệ thống y tế, chưa kể chi phí thêm cho các dịch vụ y tế thực tế. Những chi phí này cộng lại thành một con số đáng kể. Hiện nay, chi phí y tế cho mỗi người mà Mỹ chi trả nhiều hơn gấp đôi so với mức trung bình của các nước thành viên Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) – tuy nhiên, theo hầu hết mọi cách đánh giá, người Mỹ được hưởng dịch vụ y tế với chất lượng kém hơn.

Giờ đây, một hệ thống y tế cho tất cả mọi người là điều khả thi hơn. Chính quyền đương nhiệm đã làm nợ quốc gia tăng thêm 1500 tỷ USD do quyết định cắt giảm thuế vào năm 2017, và nếu Tổng thống Donald Trump tái cử vào tháng 11, ông sẽ cần phải trả lại tiền cho những người ủng hộ mình, vốn nằm trong số những người bị dịch COVID-19 ảnh hưởng nhiều hơn và tình trạng suy thoái kinh tế mà nó gây ra. Giống như việc chỉ có Tổng thống Richard Nixon có thể đến Trung Quốc, có lẽ Trump là người duy nhất có thể đưa ra quyết định không thể thay đổi liên quan đến vấn đề thuế. Ông rất muốn tìm phương án thay thế chương trình Obamacare, và xét tới thiệt hại mà dịch COVID-19 gây ra đối với hệ thống y tế hiện tại, tái thiết tổng thể là điều cần phải làm bất luận ông có thích hay không. Trong khi đó, ứng cử viên đảng Dân chủ, Joe Biden, chỉ có thể giành chiến thắng nếu huy động được nền tảng cử tri của cựu ứng cử viên Thượng nghị sĩ Bernie Sanders – và việc cam kết xây dựng hệ thống y tế quốc gia sẽ chính là cách để giành chiến thắng. Người dân cũng đứng về phía Biden: Đa số người Mỹ đều ủng hộ một kiểu hệ thống bảo hiểm y tế quốc gia nào đó kể từ khi Truman đưa ra ý tưởng này vào năm 1947. Và ngày nay, 75% người Mỹ cũng ủng hộ việc tăng thuế đối với người giàu.

Dù bằng cách nào, Mỹ cũng chỉ có một sự lựa chọn. Khi đại dịch này kết thúc, họ có thể quay trở về chính trường chia rẽ và chính sách thắt lưng buộc bụng và tuyên bố rằng họ không thể chi trả cho bất cứ điều gì khác, cho dù nếu không thì cũng đã được chứng minh một cách rõ ràng qua cách đối phó với cuộc khủng hoảng COVID-19. Mỹ có thể bước vào những cuộc tranh cãi quen thuộc về việc ai sẽ trả tiền, được che đậy bằng những quan ngại về thâm hụt, và điều này làm suy yếu kết cấu xã hội và các thể chế kinh tế đến mức có thể phá vỡ chúng. Hoặc Mỹ có thể làm tăng thuế và cấp vốn cho hệ thống y tế phục vụ cho tất cả mọi người, điều mà nước này đang rất cần. Tất cả các nền kinh tế phát triển khác đều đã lựa chọn cách thứ hai và giờ đến lượt Mỹ.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/2020-04-22/can-pandemic-defeat-politics-austerity

TLTKĐB – 07/05/2020