Về khả năng của Mỹ ngừng nhập khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam


Tình hình kinh tế, thương mại Việt – Mỹ 6 tháng cuối năm 2017 nổi lên vấn đề cá tra, cá basa của Việt Nam nhập khẩu vào thị trường Mỹ. Theo kế hoạch, đến tháng 9/2017, Việt Nam phải hoàn tất việc thực thi “Tương đồng về tiêu chuẩn trong hệ thống quản lý sản xuất, chế biến cá da trơn” của Mỹ. Nếu không kịp, phái Mỹ sẽ cho Việt Nam thời gian quá độ thêm 6 tháng. Tuy nhiên, việc này đang rất khó khăn vì theo các tiêu chuẩn do Mỹ đặt ra, Việt Nam rất khó đáp ứng và nguy cơ cá tra, cá basa của Việt Nam bị ngừng nhập khẩu hoàn toàn vào thị trường mỹ từ tháng 3/2018 là rất cao. CQTT tại Washington đã có cuộc trao đổi với Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Mỹ, được biết xung quanh vấn đề này có một số đánh giá sau:

Thứ nhất, những vấn đề nổi cộm khiến mặt hàng cá da trơn gặp nhiều rào cản trong xuất khẩu vào thị trường Mỹ trong thời gian qua nằm ở hệ thống quản lý sản xuất, chế biến cá da trơn của Việt Nam và Mỹ có nhiều khác biệt. Theo đó, bắt đầu từ 1/9 tới, Mỹ sẽ áp dụng quy định tương đồng về tiêu chuẩn trong hệ thống quản lý sản xuất, chế biến cá da trơn giữa các nước nhập khẩu và nước chủ nhà Mỹ. Trong đó bao gồm giám định về chủng loại cá, dư lượng hóa chất có trong các lô hàng, thực tiễn sản xuất tốt (GMP), thực tiễn nông nghiệp tốt (GAP)…

Thứ hai, điểm mấu chốt trong thay đổi quy định của Mỹ mà các doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn của Việt Nam cần lưu ý là phía Mỹ không chỉ dừng lại ở kiểm tra hàng hóa tại cửa khẩu, mà tiến tới kiểm tra hàng tận nơi xuất xứ, tức là kiểm soát cả quy trình. Đây thực chất là sự thay đổi về mô hình quản lý của Mỹ. Theo đó, biên giới không còn là hàng rào bảo vệ đầu tiên, mà là điểm kiểm tra cuối cùng trong chuỗi các biện pháp kiểm tra khác. Từ ngày 1/9, 100% các lô hàng cá da trơn đến cảng Mỹ sẽ bị kiểm tra bởi Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), thay vì kiểm tra xác suất như hiện nay. Sau khi được USDA dán nhãn chất lượng thì mặt hàng cá da trơn mới được nhập khẩu vào Mỹ.

Thứ ba, khi chuyển chương trình giám sát cá da trơn từ Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) sang USDA thì rõ ràng phía Mỹ muốn dựng lên một rào cản với mặt hàng cá tra, cá basa của Việt Nam. Với quy định của USDA thì đến nay hầu như chưa có nước châu Á nào đáp ứng được. Bởi vì USDA chỉ quản lý các mặt hàng như thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm, trứng và muốn xét một mặt hàng nào vào được thị trường Mỹ thường mất khoảng 7 – 10 năm, thậm chí là không bao giờ được. Cụ thể, chưa có nước ASEAN nào xuất khẩu được thịt vào Mỹ. Ngay cả thịt bò Kobe của Nhật Bản với tiêu chuẩn rất cao cũng chỉ xuất khẩu nhỏ giọt vào thị trường Mỹ. Do vậy, việc chuyển chương trình giám sát cá da trơn sang cho USD         A quản lý thực chất là một rào cản về mặt kỹ thuật và phía Mỹ không muốn cho Việt Nam xuất khẩu cá tra, cá basa vào nước này.

Thứ tư, trong Đề xuất Ngân sách năm 2018 của Tổng thống Donald Trump có nêu kiến nghị chuyển hoạt động giám sát cá da trơn từ USDA trở lại FD, vì chương trình này là “trùng lắp, tốn kém”. Về phía Việt Nam, nhiều người cũng dấy lên hy vọng rằng mọi việc sẽ trở lại như ban đầu. Nhưng qua tìm hiểu được biết, đề xuất của Tổng thống Donald Trump có thực hiện được hay không thì phải biến thành luật và muốn vậy, phải được hai ủy ban chuẩn chi của Quốc hội Mỹ thông qua. Tuy nhiên, Chủ tịch Ủy ban Chuẩn chi Thượng viện là Thượng nghị sĩ That Cochran, đại diện cho bang Mississippi, nơi được coi là “vựa cá da trơn” ở miền Nam nước Mỹ. Ông Cochran là người ủng hộ nhiệt tình việc siết chặt nhập khẩu cá da trơn từ Việt Nam để bảo vệ hoạt động nuôi cá da trơn ở vùng châu thổ sông Mississippi và đi đầu trong việc đưa ra các luật áp thuế chống bán phá giá với mặt hàng cá tra, cá basa của Việt Nam. Chắc chắn ông này sẽ không cho thông qua đề xuất trên. Trong khi đó, đứng đầu Ủy ban Chuẩn chi Hạ viện cũng là một Hạ nghị sĩ rất chống Việt Nam là Robert Aderholt, đại diện cho bang Alabama, cũng là một bang có nghề nuôi cá da trơn phát triển. Ông Aderholt rất ủng hộ Chương trình Giám sát cá da trơn được chuyển sang USDA và chắc chắn sẽ phản đối đề xuất trên. Vì vậy, hầu như đề xuất của ông Trump sẽ không có cơ hội biến thành hiện thực và không thể trở thành Luật để thực thi.

Thứ năm, nếu Việt Nam bị ngừng hoàn toàn việc xuất khẩu cá tra, cá basa vào Mỹ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn về mặt kinh tế (khoảng 370 – 380 triệu USD mỗi năm). Tuy nhiên, tổn thất lớn nhất là về mặt ổn định chính trị, an ninh, xã hội khi hàng triệu người nông dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị mất việc làm do Mỹ không tiêu thụ cá tra, cá basa của Việt Nam, gây nên bất ổn xã hội rất lớn.

Theo Tham tán Thương mại Việt Nam tại Mỹ, ông Đào Trần Nhân, cần tránh “ảo tưởng” vào Đề xuất Ngân sách của Tổng thống Trump mà ta sẽ tiếp tục phải đấu tranh với phía Mỹ về chương trình giám sát cá da trơn.

Thứ nhất, hiện đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đang có mặt tại Mỹ để đàm phán về vấn đề này. Trong khi đó, các nhóm công tác về mặt kỹ thuật của hai bên tiếp tục làm việc để hoàn thiện các nội dung chuẩn bị. Phía Mỹ, có giúp Việt Nam, trong đó có hỗ trợ bằng tiền để nâng cao năng lực, đáp ứng các tiêu chuẩn tương đồng do Mỹ đặt ra.

Thứ hai, Việt Nam sẽ kiện Mỹ ra WTO về những sai trái trong chương trình giám sát cá da trơn. Nhà nước Việt Nam sẽ đứng ra kiện, chi phí sẽ do Công ty TNHH Vĩnh Hoàn (Đồng THáp) doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn lớn nhất của Việt Nam, chi trả. Đáng chú ý là ở Việt Nam có một số ý kiến cho rằng quan hệ hai bên đang tốt mà lại kiện Mỹ ra WTO thì có khả năng sẽ ảnh hưởng đến quan hệ song phương. Theo ý kiến của luật sư tư vấn, việc quan hệ tốt nhưng vẫn kiện nhau là chuyện bình thường. Tức là 2 nước có quan hệ tốt nhưng vì những chuyện của doanh nghiệp thì doanh nghiệp vẫn có thể mang ra kiện phía đối tác. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nói rằng việc của doanh nghiệp thì phải để cho doanh nghiệp có quyền quyết định, nếu thấy cần kiện thì nhà nước sẽ hỗ trợ, giúp đỡ cho doanh nghiệp để họ làm, không nên cản.

Thứ ba, một số doanh nghiệp nhập khẩu thủy sản của Hoa kiều tại địa bàn đã gợi ý Việt Nam cần hạn chế nhập thịt bò của Mỹ để trả đũa việc Mỹ hạn chế nhập cá da trơn của Việt Nam. Đây là chiến thuật mà Trung Quốc vẫn làm trong quan hệ thương mại với Mỹ và nếu cần thiết sẽ có “chiến tranh thương mại”. Khi doanh nghiệp Mỹ “bị đánh” sẽ cầu cứu các nghị sĩ Quốc hội và họ sẽ gây áp lực buộc Chính phủ Mỹ phải sửa đổi.

Mỹ đang thi hành chính sách bảo hộ không công bằng đối với các mặt hàng nông sản nhập khẩu, trong đó có cá da trơn của Việt Nam khi dựng lên các hàng rào kỹ thuật, “vừa đá bóng, vừa thổi còi” khi đề ra bộ tiêu chuẩn và tự kiểm định luôn. Chắc hắn rằng đề xuất chuyển trách nhiệm giám sát cá da trơn từ USDA về lại cho FDA sẽ không được dự thảo thành luật và sẽ không được thực hiện. Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần cập nhật, thích ứng với những thay đổi trong chính sách nhập khẩu hàng nông sản của Mỹ. Bên cạnh đó, ngoài việc kiện ra WTO, Việt Nam cần nghiên cứu và sẵn sàng triển khai các biện pháp trả đũa thương mại để đối phó với chính sách bảo hộ không công bằng của Mỹ.

Nguồn: TKNB – 31/07/2017

Advertisements

Dự án nông nghiệp công nghệ cao sẽ tới đâu?


Phát biểu khi khởi động dự án sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nam ngày 2/2, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tuyên bố nâng mức tín dụng lên 100.000 tỷ đồng để phát triển nông nghiệp công nghệ cao cho đất nước. Từ 60.000 tỷ đồng tăng lên 100.000 tỷ đồng để phát triển nông nghiệp công nghệ cao là thông báo được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đưa ra trong ngày làm việc đầu tiên sau Tết Nguyên đán. Ông Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Ngân hàng Nhà nước tiến hành vận động các ngân hàng khác để có gói hỗ trợ 100.000 tỷ đồng như vừa nêu. Theo ông, làm nông kiểu “con trâu đi trước cái cày đi sau” là cách thức thủ công phải được cải thiện bằng công nghệ mới, muốn phát triển thì phải theo hướng nông nghiệp hữu cơ, công nghệ cao, nông nghiệp sạch, thông minh, theo yêu cầu thị trường, hướng vào thị trường nội địa và xuất khẩu, đặc biệt là rau quả và chăn nuôi. Ông Nguyễn Xuân Phúc khẳng định bài toán nông nghiệp Việt Nam chỉ được giải quyết khi có sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã làm nông nghiệp chất lượng cao. Ông Nguyễn Việt Quang, Phó Chủ tịch Tập đoàn Vingroup, đơn vị đầu tư vào dự án sản xuất nông phẩm sạch tại Hà Nam, dự kiến đến cuối năm sẽ hoàn thiện cơ sở hạ tầng và đi vào sản xuất trên diện tích 180 ha đất, rằng đấy là nông trường ứng dụng công nghệ cao với mọi thứ được cơ giới hóa và tự động hóa, sản phẩm rau quả được chăm trồng trong nhà lưới, nhà kính.

Hỗ trợ nông nghiệp là việc cần thiết nhưng để chắc chắn có phải hỗ trợ nông nghiệp công nghệ cao hay không là điều cần bàn cãi. Đó là nhận định khá thận trọng của Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển đã giải thể, nói: “Về việc hỗ trợ 100.000 tỷ tín dụng cho nông nghiệp công nghệ cao mà thực sự tôi nhìn thấy đã có mấy đại gia đứng đằng sau dự án này. Thứ nhất, đây là việc mới thì phải để cho người ta thử nghiệm, và khi thử nghiệm thành công thì nhà nước có thể hỗ trợ một chút để cho những người thành công ấy trên cơ sở thị trường họ lan được ra chứ không phải là bơm tiền cho họ. Tôi không hỏi ông Nguyễn Xuân Phúc lấy đâu ra 100.000 tỷ đồng, đây là chuyện của hệ thống ngân hàng, mà hệ thống ngân hàng phải hoạt động trên cơ sở thị trường. Nếu dùng 100.000 tỷ từ quỹ tín dụng hay phát triển của một ngân hàng phát triển Việt Nam thì tôi e rất có khả năng 100.000 tỷ này sẽ trở thành những khoản nợ xấu khổng lồ trong tương lai, đấy là điều cần phải tránh. Một chuyện khác, nếu nói rằng phát triển nông nghiệp công nghệ cao với mô hình thí nghiệm hay thử nghiệm gì đấy của một hai doanh nghiệp, trong trường hợp này là Vingroup chẳng hạn, họ lao vào nông nghiệp, nhưng họ là tập đoàn thì họ hãy sử dụng vốn của chính họ chứ đừng dựa vào bầu vú ngân sách, vào sự hỗ trợ của nhà nước. Như kinh nghiệm từ trước đến nay, chuyện hỗ trợ cho các đại gia có thể không phải là giải pháp cho nông nghiệp Việt Nam”.

Tóm lại, kích thích, khuyến khích để các tập đoàn kinh doanh tự bỏ tiền đầu tư sao cho sản phẩm nông nghiệp có hiệu quả và bán được và nếu đã có hiệu quả thì chẳng cần nhà nước phải hỗ trợ, Tiến sĩ Nguyễn Quang A góp ý: “Tôi nghĩ rằng nông nghiệp công nghệ cao chỉ là một phần của nông nghiệp mà thôi, cho nên tỷ lệ nông nghiệp nói chung sẽ giảm đi và ngày càng giảm. Vấn đề cốt lõi của nông nghiệp Việt Nam bây giờ là vấn đề chuyển một lượng người lao động khổng lồ đang làm nông nghiệp sang các khu vực khác, đó là công nghiệp, là dịch vụ. Đấy là quá trình chuyển đổi rất đau đớn, vất vả, căng thẳng, chính phủ có lẽ phải lo điều đấy là chính”.

Ai sẽ làm?

Vẫn theo lời Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò cần thiết trong việc giải bài toán nông nghiệp của Việt Nam, nguồn nhân lực từ nông dân trong nông nghiệp công nghệ cao phải được tập trung đầu tư phát triển.

Giáo sư Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp, Hiệu trưởng Đại học Nam Cần Thơ, cho rằng làm nông nghiệp công nghệ cao thì mấu chốt là phải có đầu ra: “Làm nông nghiệp công nghệ cao chỉ có thể áp dụng được ở một số ít công ty hoặc cá nhân có khoa học kỹ thuật, đặc biệt có vốn và có đầu ra. Ở Việt Nam mình, khi nói nông nghiệp công nghệ cao thường là chỉ nói về nhà lưới, nhà kính, trong đó có máy móc tự động điều khiển khí hậu cũng như điều khiển các dưỡng chất để cung cấp cho cây trồng trong nhà lưới. Đây là dịp để một số đại gia có quan hệ đặc biệt với các bộ, ngành muốn lợi dụng chính sách của chính phủ để thực hiện nông nghiệp công nghệ cao. Họ có thể trồng rau, cà chua, dưa hoặc trồng rau trong những nhà lưới, còn những sản phẩm khác tôi thấy khó có thể đưa vào nhà lưới này. Mấu chốt ở đây là phải có đầu ra, có tiền thì có thể trồng được, nhưng doanh nghiệp, hàng nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay cũng đang bí đầu ra. Ngay cả mặt hàng dạo của mình thì giờ cũng bán không được, thành ra nói cho oai, cho kêu nhưng thực ra, công nghệ bình thường còn chưa sử dụng hết”.

Huy động nguồn nhân lực từ nông dân để làm nông nghiệp công nghệ cao, như ông Nguyễn Xuân Phúc đã nói, là rất cần thiết, song cũng có khá nhiều trở ngại. Giáo sư Võ Tòng Xuân phân tích: “Muốn nông dân trồng có kết quả, có lời và có sản phẩm sạch phải đưa họ vào công nghệ cao. Trở ngại của mình là nông dân chưa nhận thức được khoa học cho đúng đắn. Họ thấy hiện tượng trước mắt mà không thấy cách khoa học. Nó xảy ra bên trong cây trồng hoặc bên trong đất và nước nơi cây trồng sinh sống. Nói nông dân có kinh nghiệm nhưng thực tế những kinh nghiệm này gây ra những tác hại rất lớn đối với nông nghiệp, ví dụ như bón phân sai làm cho tiêu chí nhà kính phát thải nhiều hơn, làm mồi khiến sâu bệnh nhiều hơn, từ đó nông dân phải tốn tiền mua thuốc bảo vệ thực vật. Tất cả những điều này đưa tới tình trạng hiện nay là sản phẩm kém chất lượng. Công nghệ cao này cũng không có gì ghê gớm, cũng không cần phải tốn nhiều tiền để sắm nhà lưới, nhà kính. Chỉ cần áp dụng khoa học cho chính xác, áp dụng kỹ thuật gọi là Good Agriculture Practice (GAP) khác với kỹ thuật bình thường nông dân làm trước kia, thì cũng có thể nói là áp dụng công nghệ cao. Kỹ thuật cao này hiện chưa được sử dụng hết, 10 ông nông dân chỉ 1 – 2 ông áp dụng, 8 ông kia vẫn dùng kỹ thuật cũ”.

Thủ tướng đồng hành cùng ai?

Về một trong những phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp làm nông nghiệp công nghệ cao, chuyên gia nông nghiệp Võ Tòng Xuân một lần nữa góp ý: “Thủ tướng nên đồng hành cùng nông dân hay đồng hành cùng doanh nghiệp? Phải nói ông không có đủ thì giờ để đồng hành cùng nông dân vì nông dân quá nhiều. Tuy nhiên, ông sẽ kiểm tra, bảo đảm các ban ngành cung cấp nhu cầu về vốn, về lãi suất, về trang thiết bị cho doanh nghiệp có thể hoạt động được. Không nên coi thường doanh nghiệp ngoài quốc doanh vì họ là số đông, họ làm việc tốt, có lời thì ngân sách nhà nước mới lên được. Trở lại vấn đề từ 60.000 tỷ đồng lên đến 100.000 tỷ đồng nghe rất oai nhưng ngân sách Việt Nam mình có bao nhiều tiền đâu, quá nhiều nợ trong, nợ ngoài. Không phải bây giờ Thủ tướng mới nói, đã có Quyết định 62, Quyết định 63 của Chính phủ tạo điều kiện ưu đãi để doanh nghiệp có thể kết hợp với nông dân. Nhiều năm rồi nhưng số người tiếp cận được vốn ưu đãi đó có thể đếm trên đầu ngón tay. Từ nhà nước xuống các ban, ngành hạnh họe, đòi đủ thứ điều kiện làm doanh nghiệp rất chán nản”.

Báo chí trong nước trích dẫn phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là Việt Nam phải chuyển từ nền nông nghiệp cởi trói sang nền nông nghiệp kiến tạo. Đối với các chuyên gia am hiểu tình hình thì phải chờ xem nông nghiệp kiến tạo có nghĩa như thế nào, khái niệm “từ nông nghiệp cởi trói sang nông nghiệp kiến tạo” có chính xác và có khả thi hay không.

Nguồn: RFA

TKNB – 08/02/2017

Trung Quốc cải cách nông nghiệp để nuôi dân do thiếu đất canh tác


Trung Quốc đang phải đối mặt với tình trạng khủng hoảng lương thực ngày càng lớn, vì vậy, nước này buộc phải cải cách ngành nông nghiệp. Quyết định trên có thể là bước thay đổi lớn nhất kể từ “Bước đại nhảy vọt” do Mao Trạch Đông phát động. Những hộ nông dân nhỏ, có diện tích canh tác trung bình khoảng 0,65 ha, là nguồn đảm bảo lương thực cho toàn Trung Quốc. Tuy nhiên, ở đất nước có hơn 1,3 tỷ dân, chiếm gần 1/5 dân số thế giới, hiện chỉ còn khoảng 7% đất có thể canh tác được. Một mặt là do đất đai ngày càng trở nên cằn cỗi, chiếm hơn 40% diện tích đất nước. Mặt khác, do tình trạng lạm dụng phân hóa học và tăng cường nuôi thả súc vật. Trong khi báo chí Trung Quốc chỉ đề cập hiện tương các nhà máy thải khí gây ô nhiễm, các chuyên gia cho rằng so với ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp còn gây tác động xấu hơn đến môi trường.

Năm 2015, Trung Quốc sản xuất 600 triệu tấn lương thực, đây là năm thứ 12 có sản lượng tăng liên tiếp. Tuy nhiên, trong vòng 3 thập kỷ tới, khoảng 300 triệu người Trung Quốc sẽ phải bỏ nghề nông để kiếm việc tại các đô thị lớn vì đất canh tác sẽ bị các cụm đô thị gặm nhấm. Những trung tâm này cũng tiêu thụ ngày càng nhiều thịt, ngũ cốc và sản phẩm từ sữa. Hiện nay, trung bình mỗi năm, một người Trung Quốc ăn khoảng 63 kg thịt, nhưng số lượng này sẽ tăng thêm khoảng 30 kg mỗi người cho đến năm 2030.

Chính sách cải cách nông nghiệp lớn nhất kể từ “Bước đại nhảy vọt”

Đối mặt với cuộc khủng hoảng ngày càng nghiêm trọng. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có những biện pháp bình ổn lương thực quốc gia. Trước tiên, chính quyền tiến hành nhiều vụ thu mua đất nông nghiệp có quy mô lớn ở nước ngoài, trong đó phải kể đến nhà máy sữa lớn nhất Australia, tiếp theo là hơn 324.000 ha đất nông nghiệp ở Argentina và nhiều nhà máy trồng và chế biến giá đỗ có trị giá nhiều tỷ USD tại Brazil.

Còn tại Trung Quốc, một mặt, chính phủ cho lập lại chính sách thuế đánh vào thuốc trừ sâu và phân bón. Mặt khác, nhiều biện pháp khuyến khích và hỗ trợ được áp dụng cho người nông dân. Đối với những loại cây trồng không có lợi cho sinh thái, ít lợi nhuận và có sản lượng dư thừa, như cây ngô, người nông dân sẽ nhận được trợ giúp từ chính phủ để giảm bớt diện tích trồng trọt. Ngược lại, những loại cây có nguồn cầu cao và bền vững như cây đậu (đỗ), thì sẽ được khuyến khích cải thiện. Đây là một cuộc cách mạng có thể có những rủi ro nghiêm trọng đối với tính chính đáng của ĐCSTQ, vì có thể giá lương thực tăng nhanh, trong khi người nông dân lại không có đủ thu nhập. Ông Erlend Ek, chuyên gia nông nghiệp thuộc phòng nghiên cứu các chính sách của Trung Quốc, nhận định: “Có thể sẽ có những bất ổn xã hội lớn nếu họ là căng ngành công – nông nghiệp. Chưa bao giờ Trung Quốc có bước thay đổi lớn như vậy kể từ ‘Bước đại nhảy vọt’ trước đây”.

Giai đoạn đau thương này, do Mao Trạch Đông khởi xướng vào cuối những năm 1950, là cội nguồn của mọi khó khăn về ổn định lương thực. “Bước đạinhảy vọt” nhằm mục đích hiện đại hóa ngành công nghiệp Trung Quốc với hình thức xóa bỏ sở hữu tư nhân và lập các nhóm lao động chung. Sau khi có hơn 30 triệu người chết, hình thức hợp tác xã bắt buộc đã bị phá sản và mỗi gia định được giao một thửa đất chừng 0,65 ha để canh tác theo mô hình tự cung tự cấp. Ngoài một vài trang trại lớn, thường là bán qunâ sự thuộc sở hữu nhà nước, các thửa ruộng đều được chia nhỏ ở Trung Quốc (trong khi một trang trại ở Mỹ có kích thước trung bình là 179 ha).

Tập đoàn Black Soil do ông Tôn Trường (Sun Chang) là chủ tịch có mục đích hiện đại nông nghiệp Trung Quốc bằng cách gộp các thửa ruộng nhỏ để phục vụ cho sản xuất có quy mô lớn. Ông Tôn Trường nhận định: “Ngành nông nghiệp Trung Quốc vẫn còn là một ngành công nghiệp thủ công. Trung Quốc vẫn còn thua xa Hoa Kỳ, Australia hay châu Âu vì các trang trại có quy mô nhỏ, thiếu tổ chức và không được quản lý một cách khoa học”. Vì sản xuất không có hiệu quả nên nông phẩm của Trung Quốc đắt hơn gấp 2 – 3 lần so với Hoa Kỳ.

Cải cách nông nghiệp theo tiêu chí môi trường và sinh thái

Trung Quốc đặt quyết tâm tự túc lương thực. Tại tỉnh Cam Túc (Ganzu), có linh lăng được trồng với chất lượng cao, có thể được dùng làm thức ăn thay thế các loại cỏ truyền thống. Ở khu vực giữa tỉnh Cam Túc, nhiều bể nuôi côn trùng được xây dựng để cung cấp thêm protein vào thức ăn cho gia súc. Nhờ đó, hệ miễn dịch của gia súc được tăng cường và giảm nhu cầu sử dụng thuốc kháng sinh. Các nhà khoa học còn nuôi loại ong bắp cày nhỏ xíu, có tên là Trichogramma. Loài tò vò này sống nhờ trứng của những loài côn trùng kí sinh phá hoại, nhờ vậy sẽ dần loại bỏ được các loại thuốc trừ sâu độc hại.

Nông dân tỉnh Cát Lâm nuôi lợn trên một lớp nền dày chừng 1 mét gồm trấu và mùn cưa có vi khuẩn. Loại hỗn hợp này giúp biến phân lợn thành loại phân bón hữu cơ. Điều ngạc nhiên nhất là người ta có thể nuôi cá hồi và cá hồi sông ở vùng sa mạc Gobi cằn cỗi nhờ hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS). Có thể nói, công nghệ này được ông Rustan Lindqvist, một nông dân Thụy Điển, phát minh. Năm 2012, hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS) được thực hiện tại tỉnh Tân Cương. Thay vì nuôi trồng trên một dòng sông hay một hồ nước, công nghệ RAS sử dụng giếng sâu để cung cấp nước cho các bể nuôi lớn. Cả ở giai đoạn trưởng thành sẽ được kiểm soát trong những điều kiện vô cùng nghiêm ngặt. Thành công của vụ thu hoạch không còn bị phụ thuộc vào điều kiện khí hậu thất thường nữa. Ông Lindqvist, người trở thành kiến trúc sư của công trình này khẳng định: “Tôi nghĩ, cuối cùng người ta hiểu được tiềm năng của hệ thống RAS. Thật sự là quý vị có thể xây dựng được những bể nuôi ngay giữa hoang mạc”.

Ngoài những công nghệ trên, Trung Quốc sẽ tận dụng hệ thống thủy lợi Đại Vận Hà (Karez) dài hơn 5000 km, một dòng sông nhân tạo có từ cách đây hơn 2000 năm. Nhờ hệ thống này, lưu vực Thổ Lỗ Phiên (Turpan) rộng lớn, vùng khô nóng nhất của Trung Hoa hiện đại, đã được biến thành thảo nguyên xanh rờn. Tái tạo rừng cũng được tiến hành nhờ dự án cải tạo rừng đầu nguồn sông Hoàng Hà cao nguyên hoàng thổ. Được Ngân hàng Thế giới (WB) khởi xướng năm 2004, dự án này đã biến nhiều vùng đất cằn cỗi ở Tây Bắc Trung Quốc trở thành những vùng đất canh tác được cho khoảng 50 triệu dân trong vùng. Sau 3 năm theo dõi và tư vấn, các nhà khoa học hợp tác với chính quyền địa phương đã chấm dứt tình trạng nuôi thả rông. Việc chăn nuôi đã được quy hoạch theo mô hình chuồng trại, được chia khoang và rào chắn. Tình trạng xói mòn đất cũng được hạn chế nhờ xây các bể chứa nước, mở các khu chăn nuôi trên sườn đồi không quá dốc và trồng cây ăn quả trên những mảnh đất khô cằn nhất trên sườn đồi.

Ngoài ra, quyền sở hữu đất cũng được cấp cho các nhà làm nông địa phương, để đảm bảo việc khôi phục đất. Ông Juergen Voegele, cựu quản lý nhóm dự án của WB, cho biết: “Điều này đã làm biến đổi khung cảnh một vùng đất tương đương với diện tích nước Pháp”. Các biện pháp tương tự hiện đang được tiến hành trên khắp Trung Quốc nhằm tăng diện tích “đất nông nghiệp chất lượng cao”. Hiện nay, các trang trại chính rộng khoảng 30,4 triệu ha, nhưng từ nay đến năm 2020, chính phủ muốn tăng số lượng này lên thành 53 triệu đến 67 triệu ha, tương đương với khoảng một nửa tổng diện tích đất canh tác được của đất nước. Để tăng năng suất, chính phủ cũng đang soạn thảo một đạo luật về hợp đồng đất nông nghiệp. Theo đó, lần đầu tiên người nông dân được phép cho một doanh nghiệp lớn hơn, vững chắc hơn thuê lại đất canh tác của họ. Tập đoàn Black Soil của ông Tôn có 2 dự án thí điểm rộng hơn 750 km2 (tương đương với diện tích Singapore) tại tỉnh Hắc Long Giang ở phía Bắc Trung Quốc và hiện tập đoàn vẫn có tham vọng mở rộng. Ông Tôn Trường kết luận: “Người nông dân trở thành người lao động. Họ không còn phải lo quay vòng vốn, đáp ứng mọi tiêu chuẩn, hạt giống, hóa phẩm, mua trang thiết bị và đầu ra cho nông phẩm. Chỉ cần làm được điều này, bạn đã có thể đảm bảo ổn định lương thực – thực phẩm”.

Một người nông dân bày tỏ: “Đa số nông dân địa phương thích kế hoạch này. Nếu như người nông dân có thể được trả 100 NDT (khoảng 15 USD) mỗi ngày, gồm cả bữa trưa và được ở lại trên mảnh đất của mình, tôi nghĩ là họ sẽ đồng ý”.

Nguồn: Times – 17/08/2016

TKNB 25/08/2016

Việt Nam cần thay đổi tư duy về an ninh lương thực


Việt Nam đang đứng trước thách thức phải thay đổi cách tiếp cận về an ninh lương thực vốn phụ thuộc vào cây lúa, trong bối cản vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long lâm vào tình trạng thiếu nước ngọt nghiêm trọng.

Mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực

Hạn hán và xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long đã từng xảy ra trước kia, nhưng tình trạng điêu đứng của mùa khô 2016 khiến các chuyên gia không ngần ngại đặt vấn đề về việc Nhà nước cần thay đổi tư duy nông nghiệp đã hiện hữu trong 40 năm qua.

Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 và tận dụng diện tích trồng lúa ít nhất 3 vụ một năm, và đưa nước này trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Thế nhưng trồng lúa chỉ giúp nông dân có miếng ăn, chứ chưa giúp nông dân làm giàu. Theo một số chuyên gia phân tích, tình trạng này cần phải thay đổi, nhất là trồng lúa cần rất nhiều nước, trong bối cảnh tình trạng thiếu nước ở vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long không còn là nguy cơ mà đã là thực tế.

Đồng bằng sông Cửu Long đã quá tập trung trồng lúa từ 40 năm qua và rất khó thay đổi. TS Dương Văn Ni, một nhà khoa học thuộc Đại học Cần Thơ cho rằng vấn đề bất cập trong sản xuất nông nghiệp chú trọng cây lúa là một câu chuyện phức tạp. Bởi vì lâu nay lúa gạo là một trong những yếu tố đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam. Ông nói: “Đối với Nhà nước, mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực được xem là quan trọng số một. Khi bàn về kế hoạch sử dụng đất bao giờ an ninh lương thực cũng được đưa lên tiêu chí hàng đầu. Đó là lý do Nhà nước phải giữ một diện tích trồng lúa nhất định. Mỗi khi xảy ra sự cố liên quan tới cây lúa thì Nhà nước luôn có những chính sách can thiệp, thậm chí khi giá lúa giảm thì Nhà nước có gói hỗ trợ để mua tạm trữ, nếu có thiên tai lũ lụt hay hạn hán đe dọa tới diện tích trồng lúa thì Nhà nước luôn có chi phí hỗ trợ địa phương và người nông dân, thậm chí giúp họ giãn nợ hay khoanh nợ ngân hàng…”

Dù Nhà nước có chính sách khuyến khích nông dân trồng lúa, ở đồng bằng sông Cửu Long mỗi hộ nông dân trung bình chỉ có dưới 1 ha đất và sản xuất nhỏ lẻ. Đại đa số nông dân trồng lúa vì khó có thể làm gì khác, như ý kiến của một nông dân ở Kiên Giang, nơi chịu xâm nhập mặn vào nội đồng tới 70 km: “Vùng tôi chuyên trồng lúa, trồng rau ít thôi… không trồng lúa thì biết làm nghề gì để sống”.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, người trực tiếp tham gia biên soạn Báo cáo Việt Nam 2035, công trình hợp tác giữa Ngân hàng Thế giới (WB) và Chính phủ Việt Nam, nhận định: “Trong thời gian vừa qua, với chương trình tái cơ cấu nông nghiệp, đã có nhiều chuyên gia lên tiếng đề nghị xem xét lại cách thức làm nông nghiệp. Trong Báo cáo Việt Nam 2035, chúng tôi đã kiến nghị làm nông nghiệp phải theo cách khác, không áp đặt những tiêu chí như sản lượng hay diện tích dành cho lúa gạo. Việt Nam tập trung quá nhiều vào lúa gạo và điều đó đã chứng minh rất rõ là làm Việt gánh hậu quả trong sản xuất nông nghiệp nói chung, kể cả hạn chế khả năng tăng thu nhập của người nông dân. Trong báo cáo đó, chúng tôi đã nói rất rõ là Việt Nam cần phải thu hẹp lại và phát triển nông nghiệp theo cách hiện đại hóa và thương mại hóa tổ chức sản xuất nông nghiệp.

Bài học cho Việt Nam

Theo lời bà Phạm Chi Lan, sản xuất nông nghiệp phải theo cách hiện đại hơn chứ không phải như kiểu canh tác truyền thống trước đây. Còn thương mại hóa hàm nghĩa là phải dựa trên yêu cầu của thị trường, dựa trên những tiêu chí thị trường để quyết định hướng sản xuất. Tình trạng hạn hán ngập mặn lớn ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long vừa rồi càng cho thấy rất rõ những nhận định đúng và rất cần phải xem xét lại cách làm lúa gạo từ trước đến nay.

Bà Phạm Chi Lan nói thêm: “Tập trung quá nhiều cho lúa gạo, chương trình phát triển nông nghiệp gần như chỉ gắn với hoặc phục vụ chương trình phát triển về lương thực. Trong khi đó, thực sự hiệu quả làm lúa gạo của Việt Nam thua kém hẳn so với Thái Lan, thậm chí thua Campuchia. Trong mấy năm gần đây, khi Campuchia bắt đầu làm gạo xuất khẩu, họ làm tốt hơn hẳn Việt Nam, dù quy mô nhỏ hơn nhưng có hiệu quả cao hơn”. Bà Chi Lan cho rằng cần phải xem xét lại toàn diện cách thức làm nông nghiệp ở Việt Nam, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Được biết, trong những năm gần đây xâm nhập mặn đã ảnh hưởng đến 700.000 ha và sẽ có thể tăng lên 1 triệu ha, nhưng việc tái cơ cấu nông nghiệp chuyển đổi từ cây lúa sang cây trồng khác gặp nhiều khó khăn. Giáo sư Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện KHKT Nông nghiệp Miền Nam nhấn mạnh tới điều kiện tiên quyết là cần có thị trường tiêu thụ sản phẩm, thì mới có thể chuyển từ lúa sang cây trồng khác. Ông nói: “Điều này hiện nay chưa làm được là quy hoạch lại sản xuất thay lúa bằng cái gì. Hai năm nay Bộ Nông nghiệp chỉ đạo trồng cây bắp, nhưng bắp tụt giá mạnh, phải đầu tư lớn hơn lúa, giá bán không hơn bao nhiêu, về mặt kinh tế không có lợi. Muốn chuyển cây lúa phải có thời gian nghiên cứu, chứ không thể sốt ruột được”.

Từ nay tới năm 2020, Nhà nước Việt Nam có kế hoạch điều chỉnh đất trồng lúa còn 3,76 triệu ha, tức cắt giảm 270.000 ha. Đồng thời chuyển từ trồng lúa sang cây trồng khác trên diện tích 400.000 ha ở vùng thường bị xâm nhập mặn. Nhưng vẫn có thể trở lại trồng lúa khi cần thiết. Theo các chuyên gia, câu chuyện an ninh lương thực dựa trên lúa gạo kéo dài đã 40 năm, thya đổi tư duy về vấn đề này quả là khó khăn và cần thời gian.

Nguồn: RFA – 21/04/2016

TKT 23/04/2016

Nông nghiệp mã nguồn mở – Kẻ lật đổ những gã khổng lồ trong nông nghiệp?


Dù hơi muộn, nhưng nông nghiệp cuối cùng cũng đã tham gia vào nền kinh tế kết nối. Tất cả những gì chúng ta cần là những dữ liệu cảm biến mã nguồn mở và các chiến lược tăng trưởng năng suất thu hoạch nhằm cung cấp lương thực cho dân cư đô thị trong tương lai.

Nông nghiệp là xương sống của nền văn minh nhân loại, nhưng giờ đây nó đang phải gồng mình gánh sức nặng của toàn thể loài người chúng ta. Thế giới đang bên bờ vực của một cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu, trong đó các mô hình công nghiệp hiện tại của nông nghiệp sẽ không thể hỗ trợ được một dân số toàn cầu đang tăng vọt lên mức 9 tỉ người vào năm 2050. Kỳ vọng tốt đẹp nhất cho nông nghiệp trong tương lại nằm ở những cải tiến công nghệ: các cảm biến, big data, và hạ tầng mạng. Những tiến bộ này sẽ đưa chúng ta tới một cuộc cách mạng nông nghiệp có thể giúp nuôi sống nhiều người hơn, hiệu quả hơn và bền vững hơn.

Trong hệ thống sản xuất lương thực hiện tại của chúng ta, một trái táo mà bạn tìm thấy trong một siêu thị gần nhà có thể đã tồn tại được 6 tháng và trải qua chuyến đi hơn 18,500 km từ một nông trại ở New Zealand tới bàn ăn của bạn. Mặc dù những phương pháp bảo quản có thể giữ cho trái táo khỏi bị hỏng, nó sẽ vẫn có khả năng mất một lượng lớn vitamin và dưỡng chất và dư thừa chất oxi hóa. Chi phí của trái táo phình lên để chi trả cho nhiều mắt xích trong chuỗi cung ứng, và chi phí năng lượng hỗn hợp cần để trồng, bảo quản, đóng gói nó tiêu tốn trong hệ thống lương thực gây ra 1 phần 3 lượng khí nhà kính toàn cầu, theo những nghiên cứu đã được công bố bởi Nhóm tư vấn nghiên cứu Nông nghiệp quốc tế.

Các tiêu chuẩn xử lý lương thực thậm chí còn tồi tệ hơn cả các tiêu chuẩn sản xuất lương thực, vốn chứa hàm lượng caloric cao nhưng rất ít dưỡng chất, mà theo như nghiên cứu của Trung tâm quốc gia về Thông tin công nghệ sinh học Hoa Kỳ, chúng gây ra cả tình trạng béo phì và suy dinh dưỡng. Trung tâm thông tin chăm sóc Sức khỏe và Xã hội Vương quốc Anh báo cáo rằng 20 % trẻ em 6 tuổi bị béo phì.

Vậy làm thế nào chúng ta có thể cung cấp lương thực cho dân số thế giới đang tăng nhanh nhưng đồng thời tạo ra nguồn lương thực tươi mới hơn, nhiều dinh dưỡng hơn? Câu trả lời nằm ở việc coi nông nghiệp như một khoa học mà nó vốn phải là như thế.

Trong hàng thiên niên kỷ, người nông dân đã sử dụng đất đai và cây trồng dưới những điều kiện thời tiết khác nhau nhằm mục đích thu hoạch với sản lượng lớn. Thế giới phụ thuộc vào những nông trại lớn, canh tác 1 loại cây trồng duy nhất, mà ở đó dưới bất kỳ điều kiện thời tiết nào cũng đáp ứng tốt nhất cho 1 loại nông sản nhất định. Thông thường, trường hợp tốt nhất là những nông trại canh tác loại lương thực dễ bán nhất ở chi phí thấp nhất, ít phải quan tâm nhất đến môi trường, đến tính bền vững hay dinh dưỡng.

Gần đây, hệ thống lâu đời và mang tính công nghiệp này đã đang bị đặt câu hỏi và bị thách thức bởi những công nghệ mới. Nhiều nông dân đã bắt đầu sử dụng máy bay không người lái, những ứng dụng và thiết bị được dẫn đường bằng GPS, công cụ phân tích big-data và hạ tầng mạng để cải thiện công việc của họ. Những công nghệ mới này đã cho phép một số nông trại địa phương nhỏ hơn, một lần nữa trỗi dậy và cạnh tranh với những cơ sở công nghiệp to lớn hơn.

Dữ liệu cảm biến đang trở nên đặc biệt hữu dụng trong nông nghiệp hiện đại, bởi khả năng cung cấp những thông tin cụ thể cho người nông dân biết chính xác điều một mảnh ruộng cần vào bất cứ thời điểm nào. Ví dụ, đặt một cảm biến đo độ ẩm đất tại một điểm nào đó trên ruộng có thể cho người nông dân biết chính xác khi nào điểm đó cần được tưới nước. Với hệ thống này, người nông dân sẽ không còn lãng phí nước cũng như gây hại cho cây trồng do không kịp thời phát hiện tình trạng khô hạn.

Xa hơn nữa, những cảm biến này có thể được kết nối với một ứng dụng cảnh báo người nông dân về điều mà cây trồng đang cần, hay thậm chí có thể kết nối trực tiếp tới một hệ thống thủy lợi để quá trình có thể hoàn toàn trở nên tự động mà người nông dân không cần phải thực hiện bất cứ hành động gì.

Loại công nghệ này cho phép người nông dân có thể điều khiển quá trình ở một mức độ nhất định, nhưng cũng tạo điều kiện cho mô hình canh tác trong nhà, cho phép chúng ta đạt đến khả năng quản lý toàn diện các điều kiện canh tác. Nông nghiệp trong nhà sử dụng các hệ thống thủy canh và khí canh để trồng cây dưới ánh đèn LED, mà không cần đến đất, thực ra không phải là mới, tuy nhiên công nghệ này đã đạt đến mức tiết kiệm năng lượng, chi phí thấp và tính bền vững cao. Các mô hình vườn treo đang bùng nổ tại các thành phố trên khắp thế giới khi mà khái niệm “canh tác tại chỗ” đang gia tăng tương ứng với mật độ dân số trở thành một trào lưu mới trong ngành lương thực.

Các cảm biến và phần mềm đang mang đến những tiến bộ trong khoa học về nông nghiệp. Tuy vậy những dữ liệu đo vẫn thường bị độc quyền và ít khi được chia sẻ. Những nông trại đơn lẻ thực hiện việc nghiên cứu, trong khi những tổ chức lớn thực hiện phân tich dữ liệu lớn (big-data), mặc dù chứa rất nhiều kiến thức và hiểu biết, nhưng chỉ được chia sẻ nhằm mục tiêu lợi nhuận và ít khi tới được với các nhà khoa học. Người nông dân thường phụ thuộc vào một nguồn thông tin đơn lẻ không được kiểm chứng, được cung cấp từ các tổ chức lớn, và các nhà sản xuất địa phương không thể tiếp cận được tới nguồn dữ liệu đó, sẽ không thể cạnh tranh được với các trang trại lớn đã được kết nối.

Trong thời đại của nông nghiệp trong nhà, các công ty như PlantLab rõ ràng đã tạo ra những cải tiến lớn. Tuy vậy họ vẫn đang giữ những phương pháp bí mật độc quyền được cho là giúp tăng 40 lần sản lượng, sử dụng ít hơn 90% nước, để sản xuất lương thực với hàm lượng dinh dưỡng nhiều hơn đến 10 lần. Điều mà chúng ta cần là một hướng tiếp cận mở, kết hợp để giải quyết một vấn đề rõ ràng có tính toàn cầu.

Sáng kiến Nông nghiệp mở (OpenAG) ở Phòng thí nghiệm MIT Media, nơi tôi làm việc, đã được thành lập để mở toang những cánh cửa dữ liệu và nghiên cứu trong nông nghiệp để có nhiều hơn những người có thể học cách làm nông và giúp nâng cao khả năng tiếp cận lương thực tại chỗ, tươi và giàu dinh dưỡng. Nhóm OpenAG đang xây dựng những Cỗ máy tính lương thực (Food Computers) — những hệ thống Cảm biến/Chấp hành, Điều khiển môi trường — cung cấp dữ liệu mở dưới dạng các “công thức thời tiết”. Đây là một hệ thống mã nguồn mở — từ phần cứng tới phần mềm cho tới dữ liệu. Những điều kiện đặc biệt trong các Food Computer có thể được cài đặt hay hiệu chỉnh bằng tay, và có thể phỏng theo các điều kiện môi trường tự nhiên, hay tạo ra các điều kiện tổng hợp lý tưởng. Các hệ thống này, với quy mô từ cá nhân cho tới công nghiệp, có thể được khai thác một cách có chủ đích để giúp một lượng lớn người dùng tạo ra những thay đổi và cải thiện cho phù hợp với nhu cầu cụ thể của họ.

Các điều kiện mà ở đó cây trồng được chăm sóc sẽ ảnh hưởng tới mã gene mà chúng mang, đưa đến những âm vị duy nhất của lương thực. Bằng cách sử dụng những điều kiện cụ thể của các “công thức thời tiết”, người nông dân có thể lựa chọn những tính chất mà cây trồng mang — mùi vị, màu sắc, sản lượng, tốc độ tăng trưởng… Nguồn dữ liệu được tạo ra từ Food Computer sẽ được đăng trên một thư viện mở theo kiểu Wikipedia, sẽ tạo ra một “nền dân chủ của điều kiện canh tác” mà ở đó điều kiện canh tác có thể được upload, download, chia sẻ, đánh giá và nâng cấp bởi người dùng trên khắp thế giới.

Liên hiệp quốc ước tính rằng vào năm 2050, số lượng người ở các thành phố có thể đạt 6.5 tỉ người. Với công nghệ phù hợp, nông nghiệp tại thành thị có thể biến các tầng hầm, nhà kho, những bức tường và tòa nhà chọc trời trở thành các nông trại. Lương thực được trồng trong điều kiện thủy canh có thể đi thẳng từ nông trại tới bàn ăn, loại bỏ quy trình vận chuyển và lưu trữ, giảm bớt chi phí và tình trạng hư hỏng, và nuôi sống nhiều người hơn bằng nguồn lương thực tươi, giá rẻ và giàu dinh dưỡng hơn.

Nông nghiệp là một trong những lĩnh vực cuối cùng tiến vào nền kinh tế kết nối. Đã đến lúc phải phân bổ nguồn dữ liệu nông nghiệp, sự sản xuất và lương thực ra một quy mô rộng lớn hơn nhiều. Nếu có nhiều người hơn cùng chia sẻ gánh nặng mà nền nông nghiệp đang phải mang, chúng ta có thể cùng lúc giảm thiểu sức ép lên môi trường của chúng ta, túi tiền của chúng ta và cơ thể của chúng ta. Cuộc cách mạng Nông nghiệp công nghệ cao đang trên bước đường phát triển của nó, và cùng với việc sử dụng những đèn LED trong canh tác, cách chúng ta làm nông nghiệp sẽ trở nên tươi sáng hơn rất rất nhiều.

Nguồn: Will open-source farming topple agribusiness giants?

AEC 2015: Tác động của đầu tư trong nông nghiệp ASEAN


Paul P.S Teng & Jurise Athena Oliveros

Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnarm (RSIS)

Việc thực hiện thành công Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) 2015 cần phải tác động tích cực đến khu vực nông nghiệp của ASEAN, cải thiện khả năng dự trữ lương thực trong khu vực cũng như tăng cường xuất khẩu. Tuy nhiên, các dấu hiệu sơ bộ hiện nay không mấy khả quan và những hạn chế rõ ràng về đầu tư cần phải được giải quyết.

Đầu tư lâu nay luôn là động cơ quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển. Thông qua khung AEC 2015, các nước ASEAN đặt mục tiêu thiết lập một thị trường thống nhất, hài hòa và khởi động dòng đầu tư mới. Tuy nhiên, hầu hết các báo cáo gần đây cho thấy khung AEC chưa đạt được mục tiêu về những biện pháp tự do hóa đầu tư. Xác định những rào cản cụ thể sẽ có ý nghĩa quan trọng để thúc đẩy sự tiến bộ và cải thiện điều kiện an ninh lương thực trong khu vực.

Hiện đóng góp của nông nghiệp trong nền kinh tế mỗi nước thành viên ASEAN là chưa đầy 1% GDP (Singapore, Brunei) đến hơn 30% (Lào, Campuchia, Myanmar). ASEAN hiện là nhà sản xuất nông nsản và thủy sản lớn, với lợi nhuận xuất khẩu đáng kể. Tăng cường đầu tư trong nông sản sẽ hỗ trợ quan trọng, không chỉ tăng sản lượng để định hình xu hướng thu nhập trong khu vực nông nghiệp mà quan trọng hơn, sẽ nâng phúc lợi trong những lĩnh vực thu nhập thấp phụ thuộc vào nông nghiệp của ASEAN.

Tiến triển của AEC trên bốn trụ cột chính được giám sát thông qua cơ chế bảng chỉ số được thực hiện theo giai đoạn hai năm, bắt đầu từ giai đoạn I (2008 – 2009) và kết thúc với giai đoạn IV (2014 – 2015). Các lĩnh vực quan trọng của mỗi trụ cột được tính điểm dựa trên các biện pháp mục tiêu đạt được ở mỗi giai đoạn. Theo bảng chỉ số giai đoạn II năm 2012, trụ cột 1 là thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất, trong đó có các mục tiêu về dòng đầu tư, có tỷ lệ thực thi thấp nhất.

Hiện Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) là thỏa thuận đạt được sử dụng để quản lý đầu tư khu vực. Thỏa thuận này hợp nhất các điều khoản xúc tiến và bảo vệ của Hiệp định bảo vệ đầu tư ASEAN (AIGA) với các yếu tố tự do hóa và thuận lợi trong Hiệp định Đầu tư ASEAN (AIA). Hầu hết các thỏa thuận đầu tư bao hàm những điều khoản hoãn thực thi những biện pháp cụ thể như loại trừ tạm thời (TEL) và danh sách nhạy cảm (SL) ban đầu trong AIA.

Danh sách này gồm những điều kiện và lĩnh vực hạn chế đầu tư nước ngoài. Đa số hạn chế không chỉ nhằm vào lĩnh vực nông nghiệp mà còn cả hoạt động liên quan đến lương thực, dịch vụ thuộc lĩnh vực sản xuất (chế biến thực phẩm). Sự can dự nước ngoài bị hạn chế nghiêm ngặt bằng cách thiết lập tỷ lệ sở hữu nước ngoài, đặt hạn ngạch tuyển dụng và yêu cầu xuất khẩu. Trong khi danh sách hạn chế duy nhất của ACIA đã loại bỏ dần các hạn chế, nhưng vẫn còn khá nhiều điều cần thay đổi trong cam kết đó.

Điều này có nghĩa các nước thành viên có thể linh động rút hoặc thay đổi danh sách hạn chế điều chỉnh. Không mấy ngạc nhiên khi các điều khoản bảo hộ được đưa ra trong đàm phán do tầm quan trọng kinh tế và sự nhạy cảm vốn có của vấn đề nông nghiệp. Tuy nhiên, những hạn chế này đang làm khó cho mục tiêu cơ bản của AEC là thiết lập một thị trường ASEAN thống nhất và cạnh tranh. Điều thiết yếu nhất là các nước ASEAN sẽ phải loại bỏ dần các hạn chế.

Do có ưu tiên lĩnh vực, trở ngại thể chế và nguồn lực tự nhiên khác nhau ở mỗi nước thành viên ASEAN, việc xây dựng và thực thi chính sách nông nghiệp đang được chính trị hóa cao. Mức độ các nước duy trì việc kiểm soát chiến lược đối với đầu tư được phản ánh rõ nét trong khu vực nông nghiệp và phân ngành sản xuất lương thực. Sự khác biệt này làm dấy lên câu hỏi về những lợi ích không bình đẳng có thể có được từ hội nhập. Điều quan trọng là cần đảm bảo những chênh lệch này không làm mở rộng khoảng cách phát triển, thay vào đó củng cố lợi thế so sánh giữa các nước.

Các thỏa thuận đầu tư có ý nghĩa nâng cao tính hấp dẫn của ASEAN với tư cách một điểm đầu tư. Song theo số liệu FDI ASEAN, đầu tư nội khối ASEAN vẫn còn thấp so với đầu tư ngoài ASEAN. Điều đó có nghĩa những lợi thế ưu đãi của AEC 2015 vẫn chưa hoàn toàn được tối ưu hóa. Đầu tư nước ngoài trong nông nghiệp chỉ chiếm một phần ít ỏi của dòng vốn đầu tư. Do nhiều nền kinh tế ASEAN vẫn phụ thuộc vào nông nghiệp, những con số thấp hơn trông đợi cho thấy lĩnh vực nông nghiệp đang ở thế bất lợi. Một phần của thách thức là tính dễ bị tổn thương vốn có trước nhiều hình thức rủi ro khác nhau (như thời tiết thay đổi bất thường), và là nghi ngại chính của giới đầu tư tư nhân.

Vì thế, với ngành nông nghiệp, sẽ cần phải làm nhiều hơn việc chỉ thúc đẩy một môi trường tạo lập đầu tư, đòi hỏi phải quản lý những rủi ro này thông qua đầu tư nhiều hơn nữa vào nghiên cứu nông nghiệp và đổi mới công nghệ, cũng như tập quán canh tác bền vững. Sự tham gia của khu vực tư nhân sẽ có ý nghĩa quan trọng để các mục tiêu này trở thành hiện thực.

Sự tiến bộ chậm chạp trong tự do hóa đầu tư là một nút thắt trong nỗ lực thúc đẩy phát triển nông nghiệp. Cam kết và nỗ lực mạnh mẽ hơn từ mỗi nước thành viên ASEAN trong nới lỏng hạn chế là cần thiết để đẩy nhanh tiến độ. Vai trò của nhà nước là hết sức quan trọng trong việc đạt các mục tiêu này bởi ASEAN chỉ có thẩm quyền hạn chế đối với các nước thành viên. Vai trò bổ sung của khu vực tư nhân trong thúc đẩy đầu tư cũng sẽ là cơ sở để đẩy nhanh tiến độ. Theo các chuyên gia, ưu tiên hóa và thông suốt các vướng mắc đầu tư sẽ thúc đẩy phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp và quan trọng hơn sẽ củng cố an ninh lương thực khu vực.

Nguồn: TKT 15/7/15

Thực trạng chính sách phát triển nông thôn hiện nay


PGS. TS Vũ Trọng Khải

Trong thời gian vừa qua, nhiều cuộc hội thảo khoa học và các phương tiện thông tin đại chúng đều phản ánh thực trạng nông nghiệp nông thôn, nông dân với biết bao vấn đề nảy sinh đang bức xúc đòi hỏi phải giải quyết. Dân số sống bằng nghề nông chiếm 70% dân số cả nước, 57% lực lượng lao động xã hội làm việc trong ngành nông nghiệp, nhưng chỉ tạo ra chưa đầy 20% GDP và do đó, về cơ bản họ cũng chỉ được hưởng lợi trong khuôn khổ con số đó mà thôi; Chênh lệch thu nhập giữa nông dân và thị dân ngày càng cao, với chỉ số Gini khoảng 0,43; Trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, và hội nhập kinh tế quốc tế, nông dân là tầng lớp dễ bị tổn thương nhất; Họ đang đứng bên lề của quá trình đó nên ít được hưởng lợi; Nông dân bị mất đất do phát triển công nghiệp, du lịch và đô thị mà không kiếm được kế sinh nhai mới; Môi trường tự nhiên và nhân văn ở nông thôn bị ô nhiễm nghiêm trọng với sự xuất hiện nhiều làng ung thư, các con sông chết, các giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống ngày càng bị mai một, tệ nạn xã hội nông thôn ngày càng gia tăng… Thế nhưng, theo tôi, còn một thực trạng nữa chưa hay ít được bàn tới là “thực trạng chính sách phát triển nông thôn với những vấn đề nảy sinh cũng rất bức xúc cần được giải quyết”. Bởi vì chúng là nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất, nếu không nói là chủ yếu, gây ra tình trạng và các vấn đề nói trên trong nông nghiệp, nông thôn.

Viện chiến lược và chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn đã sưu tầm và Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia đã ấn hành các văn bản chính sách của Đảng và nhà nước về nông nghiệp, nông thôn trong 10 năm qua (1997 – 2007) với hơn 1000 trang khổ giấy lớn (A4). Cách đây hơn 2 tháng, báo Nông nghiệp Việt Nam đăng loạt bài phản ánh tình trạng các chính sách nông nghiệp, nông thôn của Đảng và nhà nước chưa thực sự đi vào cuộc sống, có khoảng cách lớn giữa văn bản chính sách và thực tế. Nhưng chưa có ai đặt câu hỏi và giải đáp vì sao lại xảy ra tình trạng này. Vậy thực trạng với những vấn đề nảy sinh trong chính sách nông nghiệp, nông thôn hiện nay là gì? Trả lời câu hỏi này sẽ lý giải vì sao có khoảng cách lớn giữa văn bản chính sách và thực thi chính sách trong nông nghiệp và nông thôn hiện nay.

Trong hơn 20 năm đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, Đảng và nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách nông nghiệp, nông thôn. Có thể chia thành 2 loại chính sách dựa theo tiêu chí “cởi trói” và “thúc đẩy” để chuyển từ nền kinh tế nhà nước hóa, bao cấp, kế hoạch hóa tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị trường trong nông nghiệp, nông thôn, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Mọi chính sách của Đảng và Nhà nước đều vì mục tiêu phát triển, nhưng có đạt được mục tiêu này hay không còn tùy thuộc vào sự đúng đắn và kịp thời của chính sách.

1. Những chính sách mang tính “cởi trói” đương nhiên đi vào cuộc sống một cách “tự nhiên” nhất, nhanh nhất, được thực thi đầy đủ nhất, hiệu quả nhất, ngay cả khi mới chỉ là văn bản của Đảng, chưa được nhà nước thể chế hóa thành luật pháp. Điển hình là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ban hành tháng 4/1988 về “đổi mới quản lý nông nghiệp” với nội dung quan trọng nhất là thừa nhận hộ nông dân là đơn vị tự chủ sản xuất trong nông nghiệp, khôi phục lại vị thế vốn có từ bao đời nay của kinh tế hộ nông dân, đã bị xóa bỏ trong suốt 30 năm tập thể hóa nông nghiệp, coi HTX dựa trên chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác, là đơn vị sản xuất và phân phối theo kế hoạch nhà nước. Còn các nội dung khác, rất toàn diện của Nghị quyết này ít khi được nhắc đến (!)

Điển hình quan trọng thứ hai là Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 6 (1986) và các nghị quyết sau đó của Đảng thừa nhận nền kinh tế thị trường như nó đã vốn có bao đời nay, xóa bỏ chính sách “ngăn sông, cấm chợ”, để hàng hóa, trong đó có nông sản, được tự do buôn bán, không phân biệt chủ thể (quốc doanh hay dân doanh), không giới hạn qui mô và địa giới hành chính. Đó là 2 ví dụ điển hình nhất của chính sách “cởi trói”, khôi phục lại bản chất vốn có của hoạt động kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng.

Để ban hành những chính sách cởi trói, người ta chỉ cần lương tâm và lòng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, thừa nhận cái gì vốn có của đời sống kinh tế theo tinh thần “của César hãy trả lại cho César”. Hơn nữa, thực tiễn “xé rào” đã buộc những nhà hoạch định chính sách phải hành động “mở khóa” cho cái “lò xo” bấy lâu bị ép chặt và do đó cái “lò xo” này sẽ tự bật lên hết cỡ để trở về trạng thái vốn có ban đầu của nó, mà không cần bất kỳ một tác động nào khác đối với nền kinh tế. Nhưng cũng vì lập tức “bật trở lại” vị thế ban đầu, nên nền kinh tế không thể tạo ra khả năng phát triển mới về chất.

2. Những chính sách “thúc đẩy” thì hoàn toàn khác hẳn với chính sách “cởi trói”. Với vai trò thúc đẩy sự phát triển, đạt chất lượng mới cao hơn, nó phải được hoạch định có căn cứ khoa học và thực tiễn, đòi hỏi nhà hoạch định chính sách không chỉ có lương tâm và lòng dũng cảm mà điều quan trọng hơn là phải có trí tuệ. Trí tuệ được thể hiện bằng sự hiểu biết thấu đáo lý luận, kinh nghiệm nước ngoài và khả năng vận dụng lý luận, kinh nghiệm quốc tế vào thực tiễn Việt Nam để phân tích thực trạng, phát hiện vấn đề nảy sinh trong nông nghiệp, nông thôn, nguyên nhân của chúng và đề xuất giải pháp khả thi. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các nhà hoạch chính sách còn phải hiểu biết các quy định của WTO và thông lệ quốc tế. Sau nữa là năng lực thực thi chính sách của bộ máy công quyền và đội ngũ công chức. Mặt khác, thực tiễn luôn luôn thay đổi và phát triển, nên chính sách cũng phải thay đổi để thích ứng. Do đó, các nhà hoạch định chính sách còn phải luôn tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao hiểu biết lý luận và kinh nghiệm quốc tế để đổi mới chính sách và bảo đảm tính khả thi, hiệu lực và hiệu quả của chính sách. Lương tâm và lòng dũng cảm của nhà hoạch định chính sách thể hiện ở chỗ không bị các nhóm lợi ích cục bộ vận động hành lang chi phối, dẫn đến việc hy sinh lợi ích của nông dân – người “thấp cổ, bé họng”, trong hoạch định và thực thi chính sách.

Nhìn vào thực trạng hoạch định và thực thi chính sách phát triển nông thôn hiện nay, người ta có thể thấy rất nhiều vấn đề nảy sinh.

2.1. Sau một thời gian ban hành và thực thi một chính sách nào đó, kể cả Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988) về đổi mới quản lý nông nghiệp, chúng ta cũng chưa tổ chức việc đánh giá độc lập do các nhà chuyên gia thực hiện để xác định tác động và hiệu quả của chính sách, mức độ đạt mục tiêu đã đề ra, các tác động tiêu cực và nguyên nhân của nó, sự không còn phù hợp của chính sách so với thực tiễn kinh tế- xã hội đang phát triển, trên cơ sở đó, chỉnh sửa hay ban hành chính sách mới, thay thế chính sách cũ lỗi thời; chấn chỉnh việc thực thi nếu chính sách đúng, phù hợp nhưng không được thi hành nghiêm chỉnh do bộ máy công quyền và công chức thiếu năng lực và trách nhiệm, hay bị các nhóm lợi ích cục bộ chi phối.

2.2. Chưa có một chính sách nào được ban hành dựa trên kết quả nghiên cứu của một đề tài khoa học. Mặc dù trong thời gian qua, rất nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cấp bộ về nông nghiệp, nông thôn, nông dân được thực hiện, nghiệm thu, với kinh phí hàng trăm tỉ đồng. Dường như quá trình ban hành chính sách của bộ máy công quyền và quá trình nghiên cứu khoa học của giới học thuật là “2 đường thẳng song song”. Việc nghiên cứu khoa học về kinh tế- xã hội nông thôn, về nông nghiệp, nông dân chưa được coi là một khâu bắt buộc trong quá trình ban hành chính sách. Chỉ đến khi những vấn đề nông dân, nông nghiệp nông thôn nảy sinh rất bức xúc, các phương tiện thông tin đại chúng lên tiếng gay gắt, các nhà hoạch định chính sách mới vào cuộc và ban hành các chính sách mang nặng tính chất xử lý tình huống và bị động. Nhiều dự báo khoa học đã được công bố trước đây 5, 7 năm, nay do thực tiễn nóng bỏng bức xúc, các nhà hoạch định chính sách mới ngộ ra, nhưng lại tưởng chính mình là người đầu tiên vửa “tìm ra châu Mỹ”.

– Khi nông dân bị mất đất, nhất là đất “thượng đẳng điền, bờ xôi ruộng mật” để làm khu công nghiệp, khu đô thị, sân golf, không có công ăn việc làm, bị bần cùng hóa, tạo ra xung đột xã hội nghiêm trọng, báo, đài phản ánh bằng các phóng sự gây xúc động lòng người, các nhà hoạch định chính sách mới vào cuộc, vội vã ban hành các lệnh “cấm” theo kiểu hành chính, hoặc xử lý trường hợp đặc biệt bằng cơ chế “xin – cho”; “phải được cấp có thẩm quyền, thậm chí là Thủ tướng, phê duyệt”. Cơ chế “xin – cho” là mảnh đất màu mỡ sinh ra “văn minh phong bì” thay cho văn minh lúa nước như là “nét văn hóa ứng xử” trong quan hệ giữa người dân, doanh nghiệp với công chức của bộ máy công quyền.

– Đất lúa bị mất hàng trăm ngàn hecta để làm sân golf, khu công nghiệp, giá lương thực trên thị trường thế giới tăng đột biến, để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, lệnh tạm thời dừng xuất khẩu gạo được ban hành vào đầu năm 2008. Đó cũng là một điển hình của việc xử lý tình huống của các nhà hoạch định chính sách. Nông dân bị thiệt kép, do bán lúa với giá thấp và mua vật tư nhập khẩu như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, xăng dầu với giá cao. Các công ty kinh doanh lương thực đã lỡ mua gạo dự trữ để xuất khẩu nay phải chịu chi phí lưu kho và trả lãi ngân hàng. Thái Lan một mình một chợ trên thị trường lúa gạo thế giới, đã bán được giá quá cao, khoảng 1.200 USD/tấn gạo. Đáng lý ra, Cục Dự trữ Quốc gia xuất tiền ngân sách nhà nước, thuê một số công ty lương thực mua đủ số gạo dự trữ tối đa đủ dùng trong 3 tháng. Sau đó, việc xuất nhập khẩu lúa gạo vẫn diễn ra bình thường. Như thế, nông dân và doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo sẽ không bị thiệt thòi.

– Khi báo chí phát hiện các làng ung thư, các dòng sông chết, gây bàng hoàng cho cả xã hội, thì bộ máy công quyền mới vào cuộc nhưng không thể xử lý triệt để vấn đề đã nảy sinh. Các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nước ngoài thích đầu tư vào Việt Nam vì giá phải trả cho việc bảo vệ môi trường quá rẻ, thậm chí bằng “0”. Họ đã biến nước ta thành bãi thải công nghiệp khổng lồ của thế giới.

– Khi phóng sự “một hạt thóc gánh 40 khoản phí” được đăng tải, giật mình, các nhà hoạch định chính sách đã vội xử lý bằng việc miễn thủy lợi phí cho nông dân. Thế là “lợi bất cập hại”.

Thực tế phổ biến là nông dân vẫn không được miễn khoản thu này, vì các cơ quan chức năng lúng túng trong việc thực hiện. Khó thực hiện vì chính sách này thiếu cơ sở khoa học. Người ta chỉ nên miễn giảm các khoản đóng góp của nông dân từ thu nhập – đầu ra của quá trình sản xuất, để vừa nâng cao mức sống cho họ, vừa bảo đảm sự công bằng giữa cư dân nông thôn và thị dân, như các khoản đóng góp xây dựng trường học, trạm y tế, đường giao thông, hệ thống truyền tải điện đến từng nhà, quỹ bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ đê điều, phòng chống thiên tai… Còn các chi phí thuộc đầu vào của quá trình sản xuất, như tiền mua giống, phân bón, dịch vụ tưới- tiêu nước… người sản xuất phải đầu tư, mới không làm méo mó thị trường theo quy định của WTO. Mặt khác, phải bỏ tiền mua vật tư, dịch vụ đầu vào, người sản xuất mới tiết kiệm sử dụng, người cung ứng mới có trách nhiệm và điều kiện tài chính thực hiện theo yêu cầu của khách hàng, xóa bỏ cơ chế “xin – cho”. Nếu theo logic này, nhà nước phải miễn cho nông dân cả tiền mua giống, phân bón, thuốc bảo vệ cây trồng, vật nuôi (!) thậm chí cả tiền thuê dịch vụ làm đất, thu hoạch nông phẩm theo thứ tự ưu tiên “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” (?). Khi không phải trả thủy lợi phí, nông dân phải xin Công ty thủy nông tưới và tiêu nước. Công ty thủy nông phải xin cơ quan tài chính cấp vốn hoạt động, mà vốn thường cấp vừa thiếu vừa không kịp thời do định mức thấp, bộ máy quan liêu, thiếu trách nhiệm, do cơ chế quản lý tài chính công được thiết kế và vận hành theo “nguyên lý Trạng Quỳnh”. Khi đó, người nông dân phải “biết điều” đưa phong bì cho người có trách nhiệm của Công ty thủy nông, nhất là lúc mùa vụ, ruộng nào cũng cần tưới, lúc úng lụt, ruộng nào cũng cần tiêu nước; còn Công ty thủy nông cũng phải “biết điều” với cơ quan tài chính để nhận được vốn kịp thời. Trong điều kiện luôn mất cân bằng thu-chi và bội chi ngân sách, lạm phát như hiện nay, việc cấp vốn cho Công ty thủy nông lại càng khó khăn. Công ty thủy nông sẽ không có vốn để tu bổ nạo vét kênh mương, sửa chữa máy bơm, trả tiền điện…

Công ty thủy nông đã từ một doanh nghiệp dịch vụ nông nghiệp thành một cơ quan dịch vụ công mà ta thường gọi là đơn vị sự nghiệp công ích. Hậu quả là tưởng giảm bớt gánh nặng cho nông dân, cho hạt lúa, trên thực tế là tăng chi phí, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho tiêu cực phát sinh, không kiểm soát được.

– Luật đất đai chỉ hạn chế qui mô diện tích (hạn điền) đối với hộ nông dân khi giao đất và nhận chuyển quyền sử dụng đất. (2ha đất cây hàng năm/hộ ở các tỉnh phía Bắc và 3 ha cây hàng năm/hộ ở các tỉnh Nam Bộ), nhưng không hạn điền đối với doanh nghiệp. Thời gian sử dụng đất cũng vậy. Hộ nông dân chỉ được sử dụng 20 năm đất trồng cây hàng năm. Với thời hạn sử dụng đất quá ngắn và mức hạn điền quá thấp, nông dân không thể mạnh dạn đầu tư vốn lớn để tạo lập các trang trại sản xuất nông sản hàng hoá, thực hiện cơ giới hoá, áp dụng công nghệ cao để đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao. Do đó, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá nước ta trên thị trường trong và ngoài nước yếu kém là điều dễ hiểu. Trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) ghi rõ thời hạn hết quyền sử dụng đất là 2013 kể từ năm Luật Đất đai có hiệu lực 1993. Thế mà người lãnh đạo cao nhất của Bộ Tài nguyên- môi trường lại lên TV nói là nông dân ngộ nhận!? Trong khi đó các doanh nghiệp cả trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp đều có quyền thuê đất để kinh doanh 50 – 70 năm tùy dự án. Thực ra, nếu người nông dân biết lách luật, hai vợ chồng cũng có thể lập công ty trách nhiệm hữu hạn để có thể tích tụ ruộng đất và kéo dài thời gian sử dụng đất theo luật, với tư cách là một doanh nghiệp. Cùng thực hiện một hành vi là sử dụng đất để kinh doanh sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân bị hạn điền, thời gian sử dụng đất 20 năm, còn doanh nghiệp thì không. Điều đó có nghĩa là các nhà hoạch định chính sách đã vi phạm nguyên tắc: “Luật pháp, chính sách nhà nước không phân biệt đối xử giữa các chủ thể (cá nhân hoặc tổ chức) cùng thực hiện một hành vi”. Điều đó xúi giục người ta nói dối nhau. Người dân, doanh nghiệp dối bộ máy công quyền. Công chức biết họ nói dối nhưng phải chấp nhận vì không trái luật. Thế mà có ý kiến cho là “quyền sử dụng đất” của nông dân nước ta còn rộng hơn quyền sở hữu ruộng đất của các nước tư bản phát triển. Hạn chế mức độ diện tích đất nông nghiệp của hộ nông dân vì sợ tích tụ ruộng đất làm nông dân mất đất, thất nghiệp nhưng chính sách lại không hạn chế tích tụ ruộng đất để làm sân golf, khu công nghiệp, khu đô thị. Có tỉnh xây dựng hàng chục sân golf, sử dụng hàng ngàn ha đất nông nghiệp. Nông dân mất đất, bị bần cùng hóa, tràn ra thành phố bán sức lao động cơ bắp với giá rẻ mạt và gây quá tải cho thành phố cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Lực lượng lao động này chỉ có thể làm những công việc như xây dựng, dệt may, làm da giày… vì thời gian huấn luyện tương đối ngắn với kỹ thuật tương đối giản đơn. Khi đến 35, 40 tuổi, sau khi đã bị vắt kiệt sức, họ sẽ bị các doanh nghiệp sa thải. Quay trở về nông thôn với hai bàn tay trắng, lực lượng lao động này sẽ là một gánh nặng to lớn cho nông thôn vốn đã ít đất, thiếu việc làm, lại đang bị ô nhiễm trầm trọng. Không thể lường trước được hậu quả kinh tế – xã hội sẽ xảy ra như thế nào. Phải chăng các nhà đầu tư nước ngoài đã chi phối được nhà hoạch định chính sách nên lợi ích của nông dân bị hy sinh vì lợi ích của các ông chủ tư bản?

Nói như vậy không có nghĩa là phản đối việc phát triển công nghiệp và đô thị để bảo vệ nền nông nghiệp truyền thống. Vấn đề là ở chỗ, một mặt phải đào tạo nghề cho nông dân để họ có thể có cơ hội kiếm việc làm trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Mặt khác, phải phát triển các khu công nghiệp và đô thị ở vùng nông thôn, tạo thành một hệ thống các đô thị vừa và nhỏ theo cấu trúc “một trung tâm với nhiều vệ tinh”. Không nên phát triển các siêu đô thị như hiện nay. Có như vậy mới đô thị hoá nông thôn nhanh chóng và hiệu quả.

– Không tích tụ ruộng đất, sản xuất nông nghiệp làm sao có hiệu quả? Làm sao có thể cơ giới hóa nông nghiệp, thực hiện sản xuất theo GAP để bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái? Làm sao tạo ra vùng nông nghiệp hàng hóa chuyên canh quy mô lớn đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến và thị trường?… Thực tế đã xuất hiện việc tích tụ ruộng đất “chui” như cách đây hơn 20 năm, người ta đã thực hiện khoán “chui”. Khi tích tụ ruộng đất để lập các trang trại lớn, người nông dân mất đất, đặc biệt là đối với nông dân trung niên, thường có cơ hội kiếm việc làm với thu nhập cao và ổn định ngay trên mảnh đất trước đây của mình, hơn là đến các khu công nghiệp. Khi có các trang trại lớn, các HTX đích thực mới có thể hình thành và phát triển, sản xuất theo hợp đồng giữa nhà nông và nhà doanh nghiệp mới có thể thực hiện phổ biến, mang lại lợi ích cho cả hai bên.

– Theo Luật Đất đai, nông dân chỉ được đền bù giá trị quyền sử dụng đất khi nhà nước chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp thành đất xây dựng đô thị, khu công nghiệp, sân golf. Nông dân không có quyền mặc cả với nhà đầu tư về giá cả chuyển nhượng đất. Nhưng khi đất đã thuộc quyền sử dụng của các chủ doanh nghiệp- nhà tư bản, dù chỉ là thuê đất, nếu nhà nước cần lấy lại để xây dựng kết cấu hạ tầng, hay một ai khác muốn thuê lại, đều phải thương lượng bình đẳng thuận mua vừa bán, theo cơ chế thị trường. Nông dân lại bị luật pháp xếp vào “chiếu dưới” so với các nhà tư bản.

– Giá đất nông nghiệp dù có được xác định trên cơ sở thuận mua vừa bán, cũng rất rẻ, không đủ để “tái định cư” theo đúng nghĩa cho người nông dân mất đất nông nghiệp. Ví dụ giá 500.000đ/m2 đất nông nghiệp nhưng chỉ cần nhà nước ban hành quy hoạch khu dân cư đô thị hay khu công nghiệp, và ra quyết định giao đất cho nhà đầu tư, chưa cần xây dựng bất cứ một công trình hạ tầng nào, giá đất cũng đã tăng lên 4-5 lần, có thể là 2.000.000đ/ m2. Khoản chênh lệch 1,5 triệu đồng này là địa tô cấp sai 2 thuộc sở hữu nhà nước, bởi do nhà nước quyết định quy hoạch, nhưng nhà đầu tư lại được hưởng. Lẽ ra, nhà nước phải dùng khoản thu này, thông qua đấu giá, để “an cư lạc nghiệp” cho nông dân mất đất theo đúng khái niệm “tái định cư” mà cả thế giới quan niệm. Cũng không thể xử lý bằng cách như có chuyên gia kinh tế đề nghị là nhà đầu tư trả một phần tiền mua quyền sử dụng đất của nông dân bằng cổ phiếu công ty của mình, để giải quyết kế sinh nhai cho họ sau khi mất đất. Bởi nông dân không đủ khả năng làm chủ cổ phần hay đồng sở hữu chủ công ty với nhà đầu tư. Rồi thì nông dân cũng phải bán “lúa non” cổ phần của mình như phần lớn công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa mặc dù họ được mua cổ phần với giá ưu đãi. Kinh nghiệm nước Nga hậu Xô-Viết cũng vậy. Nhà nước Nga chia tài sản quốc gia cho mọi công dân bằng coupon, để rồi họ bán rẻ cho các nhà đầu tư, nhanh chóng tạo ra các ông tỉ phú trẻ như Abramovich hay Khodorovski. Nhà nước phải sử dụng khoản địa tô cấp sai 2 do mình tạo ra để đào tạo nghề cho nông dân trẻ và lập quỹ an sinh cho nông dân trung niên, không thể chuyển đổi nghề nghiệp được. Không thể để tình trạng nông dân bán 4.000 m2– 5.000 m2 đất nông nghiệp mà không đủ tiền mua lại 01 nền nhà 80 m2 của chủ đầu tư ngay trên mảnh đất nông nghiệp của mình trước đây.

Không giải quyết rốt ráo, có căn cứ khoa học và thực tiễn vấn đề đất đai, chắc chắn sẽ dẫn đến bần cùng hóa nông dân trên diện rộng, tạo ra xung đột xã hội gay gắt, trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa. Phải chăng chính sách đất đai hiện nay bị chi phối bởi các nhà đầu tư nên đang bảo vệ lợi ích của họ và hy sinh lợi ích của nông dân?

2.3. Các nhà hoạch định chính sách cũng ít khi hỏi ý kiến người dân và doanh nghiệp, những người chịu tác động trực tiếp của các chính sách này, và không tính toán khả năng thực thi chính sách của bộ máy công quyền. Điển hình là chính sách cấm xe ba – bốn bánh tự chế và xe công nông. Trong nông nghiệp, xe công nông cũng như xe Đông Phong (Trung Quốc), Kubota (Nhật Bản) đều là loại máy kéo nhỏ dưới 15CV, rất thích hợp cho nền nông nghiệp có qui mô ruộng đất của mỗi nông hộ và diện tích mỗi thửa ruộng rất nhỏ hẹp như Việt Nam, Nhật, Đài Loan, Trung Quốc. Nó chỉ là máy kéo đa năng, có thể lắp các loại máy nông nghiệp khác nhau, như máy cày-xới, máy gieo hạt, mát bơm nước, máy suốt lúa, và khi lắp rơ-moóc, nó có thể vận chuyển vật tư ra đồng và chở nông sản về nhà, rất thuận tiện. Nếu cấm sử dụng loại máy đa năng này thì làm sao có thể cơ giới hóa nền nông nghiệp Việt Nam? Nhiều nơi, nông dân đã phải khôi phục xe trâu, bò kéo thay thế cho xe công nông.

Mục đích của việc cấm loại xe này hoạt động là để bảo đảm an toàn giao thông và bảo vệ môi trường sinh thái. Tất cả các phương tiện vận tải đều phải tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật do nhà nước ban hành về an toàn giao thông và môi trường mới được hoạt động, chứ đâu phải chỉ có xe ba-bốn bánh tự chế và xe công nông. Biết bao tốn kém tiền bạc, thời gian của nhà nước và người dân, biết bao xáo trộn xã hội do chính sách này gây ra. Phải chăng các nhà sản xuất và nhập khẩu xe ba bánh Trung Quốc đã chi phối được nhà hoạch định chính sách? Bộ máy công quyền các cấp và người dân đang rất lúng túng, hoang mang trong việc thực thi chính sách này. Cần phải lấy ý kiến của người và tổ chức chịu tác động trực tiếp của chính sách, coi đó là một khâu bắt buộc trong quy trình hoạch định chính sách.

3. Giải quyết vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn chính là áp dụng lý luận phát triển nông thôn bền vững vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Theo đó, nâng cao chất lượng sống cả vật chất và tinh thần của nông dân và dân cư nông thôn nói chung vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp phát triển nông thôn. Nội dung của phát triển nông thôn bao gồm 4 quá trình: (i) công nghiệp hóa, hiện đại hóa; (ii) đô thị hóa; (iii) kiểm soát dân số; (iv) bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn, theo những tiêu chuẩn của nền văn minh nhân loại và truyền thống văn hóa Việt Nam. Thực hiện 4 quá trình này, tỉ lệ dân số và sức lao động nông nghiệp trong tổng dân số và lực lượng xã hội phải giảm tương ứng với tỉ lệ GDP nông nghiệp trong GDP của nền kinh tế. Do đó, phát triển nông thôn bền vững đã bao hàm việc phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Không nên theo cách gọi ngắn kiểu Trung Quốc: “tam nông” (do dùng chữ tượng hình, nên người Trung Quốc gọi như vậy cho dễ viết). Sự thành bại của quá trình phát triển nông thôn với 4 nội dung nêu trên quyết định sự thành bại của công cuộc chấn hưng đất nước, biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện đại, văn minh. Chính sách nhà nước, khuôn khổ pháp luật được hoạch định đúng đắn là điều kiện tiên quyết đối với sự nghiệp phát triển nông thôn. Chính sách, luật pháp của nhà nước pháp quyền chỉ phân biệt đối xử giữa các hành vi khác nhau, không phân biệt đối xử đối với các chủ thể (cá nhân, tổ chức) cùng thực hiện một hành vi. Xã hội dân sự phải có các tổ chức phi chính phủ, không hoạt động bằng ngân sách nhà nước, đại diện cho các nhóm lợi ích khác nhau, bình đẳng trước pháp luật trong việc tham gia nghiên cứu đề xuất, phản biện, đánh giá độc lập để hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Cần thiết phải luật hoá quy trình ban hành chính sách, trước tiên là quy trình hoạch định chính sách phát triển nông thôn bền vững.

Nguồn: Bài đăng lần đầu trên Nông nghiệp Việt Nam ngày 9/10.07.2008.