Đâu là sự thật và chân lý? – Phần cuối


Có thể tóm tắt lại nội dung trên bằng cách trình bày sự ứng dụng trong hai tình huống minh họa là DEC và Cibay-Geigy. DEC có cả sự đồng thuận cao độ rằng sự thật được xác định bởi các tiêu chí thực dụng và tranh luận, lẫn sự chấp nhận cao độ đối với những điều mơ hồ. Khi tư vấn cho DEC, tôi chưa bao giờ được yêu cầu có ý kiến đóng góp. Nếu tôi góp ý, ý kiến của tôi ngay lập tức bị gạt ra ngoài bởi hàng loạt các ý kiến khác từ phía khách hàng, và sau đó họ tranh luận về các ý kiến của họ vừa nêu. Tại Ciba-Geigy, tôi luôn luôn được coi là người được ủy quyền, và tôi được hỏi đã biết những gì sau khi nghiên cứu công ty và sau những trải nghiệm khác của tôi, và họ yêu cầu tôi có ý kiến. Tôi được coi là một nhà khoa học mang đến kiến thức cho tổ chức này, và tôi thường thấy ý kiến của mình được thực thi với thái độ tuân thủ chính xác. Nếu các đề xuất của tôi mâu thuẫn với những yếu tố văn hóa khác, ví dụ tôi đã đề xuất cần giao tiếp ngang cấp nhiều hơn, nó bị gạt bỏ ngay. Ciba-Geigy không chấp nhận sự mơ hồ và công ty này vận hành gần với tính đạo lý nhiều hơn.

Cái gì là “Thông tin”?

Cách thức mà nhóm kiểm tra sự thật và ra quyết định cũng liên quan đến sự đồng thuận về việc cái gì là dữ liệu, là thông tin, là kiến thức. Khi công nghệ thông tin phát triển, vấn đề này trở nên sâu sắc hơn bởi các cuộc tranh luận về vai trò của máy tính trong việc cung cấp “thông tin”. Các “chuyên gia” công nghệ thông tin thường có những giả định chung, rất khác so với giả định của các nhà quản lý cấp cao. Ví dụ, nhiều vị tổng giám đốc công ty sẽ cho rằng những gì bạn thấy trên màn hình máy tính đều là “dữ liệu” và cái gì bạn thực sự cần có mới là thông tin, mang hàm ý về một mức độ phân tích dữ liệu mà thường thì việc phân tích này sẽ không thể trừ khi một hệ thống hỗ trợ ra quyết định tinh vi hay một hệ thống chuyên trách được lập trình (Rockart và DeLong, 1988). Để nhóm có các quyết định mang tính thực tế, phải có sự đồng thuận nhất định về việc đâu là các thông tin phù hợp, có liên quan đến nhiệm vụ cần làm.

Một ví dụ về sự mơ hồ sẵn có của những từ ngữ chung chung dạng như thông tin đã được trình bày trong nghiên cứu của Dougherty (1990) về một nhóm phát triển sản phẩm mới. Cô đã xác định được 5 “thế giới tư duy” tách biệt nhau trong nhóm phát triển sản phẩm này. Cả nhóm đều biết rằng để có quyết định đúng thì phải có nhiều thông tin về khách hàng, và mỗi thành viên trong nhóm cũng đều tin rằng mình đã có đủ thông tin cần thiết. Nhưng mỗi người trong số đó lại biết về những thứ khác nhau, và họ không nhận ra điều này cho đến khi họ cố gắng cùng nhau ra quyết định.

+ Những người làm marketing, xây dựng kế hoạch kinh doanh biết được một cách tổng quát về việc thị trường có tồn tại hay không, dung lượng của thị trường tiềm năng, giá cả và sản lượng bán phù hợp với mức lợi nhuận, các xu hướng của thị trường…

+ Những người bán hàng tại hiện trường lại biết khách hàng tiềm năng sẽ sử dụng sản phẩm cho mục đích gì, các yêu cầu chi tiết của người sử dụng, sản phẩm có tầm quan trọng như thế nào nếu so sánh với các sản phẩm của đối thủ.

+ Những nhà phân phối biết được cần bán sản phẩm ra như thế nào, các kế hoạch trưng bày nên như thế nào, cần có bao nhiêu kênh bán hàng.

+ Các kỹ sư biết được kích thước sản phẩm nên là bao nhiêu, quy cách kỹ thuật nên như thế nào…

+ Những người phụ trách sản xuất biết được sản lượng tiềm năng, cần có bao nhiêu mẫu sản phẩm, và chi phí sản xuất là bao nhiêu.

Mỗi nhóm nhỏ này, dựa trên kiến thức nền tảng và kinh nghiệm chức năng của mình, đều xây dựng nên những khái niệm và ngôn ngữ quen thuộc trong nhóm mình, nhưng không chắc là dễ hiểu và có giá trị đối với các nhóm khác.

Khi các nhóm nhỏ này được kết hợp thành một nhóm lớn phụ trách phát triển sản phẩm, khả năng của nhóm lớn trong việc khám phá ra chân lý của nhóm nhỏ khác là một yếu tố then chốt, quyết định sản phẩm có thể thành công trên thị trường hay không. Để có được cách hiểu chung, các nhóm nhỏ phải vượt xa hơn quy trình hội họp chính thức, sang đến giai đoạn trò chuyện cá nhân nhiều hơn để có cơ hội tìm hiểu về những điểm bất đồng và những điểm đã thống nhất, và nhận ra sự khác biệt giữa các tập hợp thông tin. Các nhóm nhỏ này phải trở thành một hòn đảo văn hóa tạm thời, để cả nhóm hoạt động hiệu quả.

Câu hỏi “cái gì là thông tin” hiện đang là mối quan tâm đặc biệt khi các bộ bách khoa toàn thư đang được thay thế bởi các nguồn trên mạng, như Wikipedia chẳng hạn. Các tiêu chuẩn khoa học thuần túy về chân lý hiện đang được thay thế bởi một quy trình tương tự như quy trình mà DEC đã triển khai để tìm sự thật – thông qua đề xuất, thách thức, tranh luận và giải pháp sau cùng là những gì còn đứng vững được.

Tóm tắt

Một trong những phạm trù quan trọng nhất của văn hóa là giả định về phương pháp xác định sự thật, chân lý và thông tin. Sự thật có thể tồn tại trong các cấp độ tự nhiên, nhóm và cá nhân, và việc kiểm tra đâu là sự thật cũng khác nhau tùy cấp độ – kiểm tra bằng trực quan, sự đồng thuận mang tính xã hội, hay trải nghiệm của cá nhân. Các văn hóa nghề nghiệp và văn hóa vĩ mô khác nhau tại mức độ mà chúng dựa vào các tiêu chí truyền thống mang tính đạo lý về sự thật và tương phản lại là các tiêu chí thực dụng mang tính khoa học. Các nhóm phát triển nên những giả định về thông tin, từ đó giúp họ cảm nhận được khi nào đã có đủ thông tin để ra quyết định, và các giả định này phản ánh các giả định khác, sâu xa hơn về nguồn gốc tối cao của sự thật. Đâu là sự kiện, đâu là thông tin và đâu là chân lý – mỗi vấn đề phụ thuộc không những vào kiến thức chung về ngôn ngữ chính thức, mà còn vào bối cảnh đồng thuận.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edgar H. Schein – Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo – NXB TĐ 2012.

Đâu là sự thật và chân lý? – Phần II


Sự thật của cá nhân là những gì bạn tự mình trải nghiệm được và là chân lý tuyệt đối đối với bạn, tuy nhiên chân lý này không được chia sẻ bởi bất cứ ai khác. Khi chúng ta không đồng thuận được ở cấp độ này thì rất khó để cùng nhau đi xa hơn, cho đến khi nào mọi người đều làm rõ các tải nghiệm thực tế của riêng mình là gì. Chúng ta cũng phải đồng thuận dưới một hình thức nào đó về những trải nghiệm của những người khác mà ta đã tin cậy. Trong một xã hội kiểu truyền thống, dựa trên thứ bậc, nếu một người cao tuổi đưa ra lời phát biểu thì chúng ta vẫn coi nội dung đó là có giá trị và là chân lý khách quan. Trái lại, trong xã hội thực dụng, mang tính cá nhân chủ nghĩa, thái độ sẽ thường là yêu cầu “Chứng minh cho tôi thấy” và chỉ những bằng chứng được chấp nhận mới được phổ biến rộng rãi. Tất nhiên, những gì được định nghĩa là sự thật tự nhiên, xã hội và của cá nhân cũng đều là sản phẩm từ sự học hỏi mang tính xã hội và do đó, theo định nghĩa, cũng là một bộ phận trong một văn hóa nhất định (Van Maanen, 1979b; Michael, 1985).

Đạt đến sự đồng thuận là một quá trình xây dựng nên các sự thật mang tính xã hội được chia sẻ, việc này rất khó khăn khi nhóm là đa văn hóa bởi vì mỗi thành viên trong nhóm đều mang đến những sự thật của cá nhân và nhiều nguyên tắc văn hóa đối với việc điều gì có thể được chia sẻ và điều gì cần giữ lại. Như Bushe đã chỉ ra trong tác phẩm Sự lãnh đạo Minh bạch (Clear Leadership, 2009), các nguyên tắc văn hóa về trật tự xã hội đòi hỏi chúng ta phải có cách giải thích của riêng mình về lý do tại sao người khác lại hành động. Chúng ta tô vẽ nên những câu chuyện nhằm giải thích hành vi của người khác bởi vì sẽ là thô lỗ nếu hỏi thẳng “Tại sao bạn làm điều đó” hoặc “Tôi không hiểu nổi hành vi của bạn”. Để giao tiếp tốt hơn, chúng ta phải đặt mình vào những tình huống khi mà các nguyên tắc đó không được ứng dụng, sao cho các thành viên trong nhóm có thể lý giải được các trải nghiệm của chính họ và học được cách đánh giá những trải nghiệm của người khác. Tôi gọi những tình hống này là “các hòn đảo văn hóa” và sẽ thường xuyên quay lại khái niệm này. Nói tóm lại, khi các thành viên của nhóm đến từ nhiều khái niệm khác nhau về sự thật, sau đó cùng đi đến một nền tảng chung thì họ phải trải qua những tình huống và quá trình đặc biệt.

Bối cảnh tầm cao và tầm thấp

Tác giả Hall (1977) đã mang đến sự phân biệt hữu ích giữa cái mà ông gọi là bối cảnh văn hóa tầm cao và tầm thấp, còn Maruyama (1974) thì cho thấy sự tương phản giữa mô hình văn hóa một chiều duy nhất với mô hình tương hỗ qua lại. Trong văn hóa bối cảnh tầm thấp, một chiều thì các sự việc đều có ý nghĩa rõ ràng; còn trong bối cảnh tầm cao, đa chiều thì sự việc chỉ có thể được hiểu trong hoàn cảnh cụ thể, ý nghĩa của nó cũng sẽ thay đổi, quan hệ nhân quả không thể được thiết lập rõ ràng.

Mặc dù sự phân biệt này mang nhiều ý nghĩa hơn khi so sánh các văn hóa vĩ mô, nó vẫn hữu ích đối với các tổ chức. Ví dụ, DEC mang văn hóa tầm cao theo đó ý nghĩa của ngôn từ và hành động phụ thuộc vào việc ai nói và trong điều kiện nào. Các nhà quản lý đã biết nhau rất rõ và luôn luôn quan tâm đến việc ai đang hành động. Khi người ta chứng kiến một nhà quản lý cấp cao đang công khai trừng phạt thuộc cấp của ông ta vì vi phạm sai lầm ngớ ngẫn, điều đó nhiều khi chỉ đơn giản là người nhân viên kia lẽ ra cần được sự ủng hộ của nhiều người hơn, trước khi anh ta tự ý thực thi. Khi Ken Olsen công khai khiển trách một kỹ sư, những người quan sát thấy việc này điều hiểu rằng Ken chỉ khiển trách những ai mà ông ta đánh giá cao và do đó ông mong đợi sự hoàn thiện ở họ. Ngược lại, tại Ciba-Geigy với văn hóa tầm thấp thì các thông điệp dường như có cùng ý nghĩa, bất chấp chúng xuất phát từ ai. Bị gắn cái nhãn “ngớ ngẩn” trong công ty này cũng có nghĩa là đã nhận được sự đánh giá rất tiêu cực.

Khi nói đến ngôn ngữ, chúng ta thường bỏ qua vai trò của ngữ cảnh. Chúng ta hay giả định rằng khi một cá nhân học ngoại ngữ, anh ta/cô ta sẽ có thể hiểu được điều gì đang diễn ra và sẽ có hành động. Nhưng như chung ta đều biết, nhờ các trải nghiệm khi đi lại, ngôn ngữ được gắn liền với một bối cảnh rộng hơn theo đó những ám hiệu, ngữ điệu, ngôn ngữ hình thể và các dấu hiệu khác cũng quyết định nên ý nghĩa của những gì được nói ra. Một ví dụ sống động là trải nghiệm của tôi khi tham gia hội họp tại British Petroleum như đã viện dẫn, khi tôi nghĩ rằng mình đã quan sát thấy cách dẫn giải rất lịch thiệp của người chủ tịch,nhưng sau đó được giải thích rằng ông này chưa bao giờ lại hành xử theo kiểu “khủng bố” đến vậy.

Chủ nghĩa thực dụng – đạo lý

Một khía cạnh thích hợp trong việc so sánh các nhóm xét từ phương pháp tiếp cận để thậm định thực tế của chúng là việc ứng dụng chủ nghĩa thực dụng – đạo lý của England (1975). Trong nghiên cứu của ông về các giá trị trong quản lý, England đã nhận thấy rằng các nhà quản lý khác nhau đến từ nhiều quốc gia khác nhau đều có xu hướng hoặc mang tính thực dụng (tìm kiếm sự thẩm định bằng các trải nghiệm của chính họ), hoặc theo đạo lý (tìm kiếm sự thẩm định bằng các triết lýchung, hệ thống đạo đức hay truyền thống). Ví dụ, England đã thấy những người Mỹ thường có xu hướng thực dụng nhiều hơn, trong khi người châu Âu lại theo xu hướng đạo lý. Nếu áp dụng khía cạnh này đối với các giả định căn bản mà một nhóm tạo ra, chúng ta có thể chỉ rõ những căn cứ khác biệt nhau để xác định đâu là đúng, là chân lý, như trong Bảng 2.

Bảng 2: Một số tiêu chí có thể áp dụng để xác định chân lý

Các tín điều, dựa trên truyền thống và/hoặc tôn giáo: đó là cách luôn luôn được dùng; đó là ý Chúa; đó là điều được ghi trong Kinh Thánh.
Các niềm tin, sự thông thái được hình thành từ việc tin cậy vào những người thông thái, các nhà lãnh đạo chính thức, các nhà tiên tri hoặc vua chúa: người lãnh đạo muốn chúng ta làm theo cách này; các vị tư vấn đã đề xuất chúng ta phương pháp này; cô ta là người giàu kinh nghiệm nhất, do đó chúng ta nên làm theo những gì cô ta nói.
Chân lý phát xuất bởi một quy trình “lý trí – luật pháp” (như khi chúng ta phạm tội hoặc vô tội sau khi được pháp luật xác định, chúng ta đồng ý với những gì đã được thừa nhận từ đầu rằng không có chân lý tuyệt đối, chỉ có chân lý được phán quyết mang tính xã hội): chúng ta phải đem quyết định này sang ủy ban marketing và thực thi những gì họ yêu cầu; sếp sẽ phải quyết định việc này vì đó là trách nhiệm của sếp; chúng ta phải biểu quyết và làm theo quy tắc đa số; chúng ta đồng ý rằng quyết định này thuộc về trưởng phòng sản xuất.
Chân lý là những gì tồn tại được sau khi trải qua xung đột và tranh luận: chúng ta tranh luận về vấn đề này trước 3 ủy ban khác nhau, kiểm tra với lực lượng bán hàng và ý tưởng vẫn đứng vững, vậy nên chúng ta sẽ thực thi; có ai thấy có vấn đề gì phát sinh không, nếu không thì chúng ta thực hiện.
Chân lý là những gì có hiệu quả, thuần túy là các tiêu chí thực dụng: hãy thử với cách này và đánh giá xem chúng ta làm được đến đâu.
Chân lý được hình thành từ các phương pháp khoa học, một lần nữa lại trở thành tín điều: kết quả nghiên cứu của chúng ta cho thấy đây là cách thức đúng; chúng ta đã khảo sát 3 lần rồi và kết quả thu được là như nhau, vậy hãy thực hiện thôi.

Khía cạnh này không những nêu bật các nền tảng để xác định chân lý, sự thật và còn liên quan đến “việc tránh né những gì không chắc chắn”, một khía cạnh quan trọng được tìm thấy trong nghiên cứu của Hofstede về các văn hóa quốc gia, và liên quan đến “sự chấp nhận những điều mơ hồ”, một khía cạnh quan trọng được tìm thấy trong cuộc nghiên cứu giai đoạn sau Thế chiến thứ II (Hofstede, 2001; Adorno và các cộng sự, 1950). Các nhà quản lý và nhân viên từ nhiều quốc gia khác nhau sẽ có mức độ khác nhau torng việc họ chia sẻ sự hài lòng, cũng như những điều không chắc chắn và không rõ ràng. Khi môi trường bất ổn hơn và lĩnh vực ngành nghề cũng phức tạp hơn xét từ góc độ công nghệ, khả năng của nhà lãnh đạo trong việc chấp nhận những điều không chắc chắn sẽ trở nên quan trọng hơn để tồn tại và học hỏi được. Các văn hóa tổ chức và quốc gia nào chấp nhận một cách dễ dàng hơn những điều không chắc chắn cũng sẽ mang tính thích ứng cao hơn.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edgar H. Schein – Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo – NXB TĐ 2012.

Đâu là sự thật và chân lý? – Phần I


Khi các nhóm và tổ chức phát triển, các giả định đã được xây dựng nên về việc điều chỉnh cho phù hợp với môi trường bên ngoài và sự hội nhập trong nội bộ cũng phản ánh các giả định sâu xa hơn đối với những vấn đề trừu tượng hơn, tổng quát hơn từ đó con người cần sự đồng thuận để có một hình thái xã hội. Nếu chúng ta không thể thống nhất được đâu là sự thật, bằng cách nào để xác định đâu là chân lý và đâu là sai lầm, làm thế nào để đo lường thời gian, để phân bổ không, bản chất con người là gì, làm thế nào để mọi người sống hài hòa với nhau thì không thể xây dựng được xã hội.

Bởi vì các xã hội khác nhau đã phát triển nên những câu trả lời khác nhau cho mỗi câu hỏi nêu trên, chúng ta có nhiều văn hóa trên thế giới, và các văn hóa vĩ mô này ảnh hưởng đến cách thức phát triển của các nhóm và tổ chức trong đó. Các loại văn hóa vĩ mô điển hình nhất mà người ta vẫn hay đề cập đến thời điểm này là: các văn hóa quốc gia, dân tộc, tôn giáo và ngành nghề. Theo đó, hành vi cạnh tranh mang tính cá nhân chủ nghĩa vẫn được coi là điều đương nhiên trong các doanh nghiệp Hoa Kỳ, cũng như tinh thần đồng đội trong các công ty Nhật Bản. Việc ôm hôn nhau nơi công cộng vẫn được chấp nhận tại Hoa Kỳ, nhưng hoàn toàn không thể chấp nhận được tại Saudi Arabia. Việc nói đúng những gì bạn đang nghĩ trong đầu cho sếp nghe là điều được mong đợi trong các công ty Đức, nhưng có thể là không khả thi trong các doanh nghiệp Trung Quốc và Nhật Bản.

Khi chúng ta tìm hiểu sự hình thành của các nhóm với xuất phát điểm mang tính đa quốc gia, chẳng hạn như các tổ chức được sáp nhập như British Petroleum và Amoco hoặc các liên doanh giữa nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều quốc gia khác nhau, chúng ta thấy được sự bất đồng tại mức độ trừu tượng cao hơn này đã gây khó khăn đặc biệt cho sự hình thành và vận hành của nhóm như thế nào. Cách tốt nhất để tư duy về các loại hình mà chúng ta sẽ tìm hiểu là xem chúng về căn bản là những đặc trưng của văn hóa vĩ mô, có ảnh hưởng rộng đến sự hình thành văn hóa tổ chức, văn hóa bộ phận và văn hóa vi mô.

Các khía cạnh được xem xét đều dựa trên những khái niệm do nhà xã hội học Talcott Parsons (1951) đầu tiên xây dựng nên và được phát triển thành một tập hợp các khía cạnh giá trị bởi Kluckhohn và Strodbeck (1961) để họ tiến hành một nghiên cứu so sánh kinh điển về 4 loại hình văn hóa tại khu vực Tây Nam Hoa Kỳ – Anglo, Hispanic, Mormon và Navajo. Tuy nhiên tôi lại làm rõ trên cơ sở là những trải nghiệm của chính mình tại các quốc gia khác nhau, với những loại hình được trình bày trong Bảng 1.

Bảng 1: Các giả định sâu sắc hơn trong các văn hóa vĩ mô

+ Các giả định về bản chất của sự thật và chân lý
+ Các giả định về bản chất của thời gian
+ Các giả định về bản chất của không gian
+ Các giả định về bản chất, hành động và các mối quan hệ của con người

Các giả định chung được chia sẻ về bản chất của sự thật và chân lý

Một phần nền móng của mỗi văn hóa là tập hợp các giả định về việc cái gì là sự thật và làm thế nào để xác định và tìm ra sự thật. Các giả định này cho phép những thành viên trong nhóm biết được cách thức để xác định các thông tin phù hợp, có liên quan, cách lý giải thông tin và cách để xác định khi nào họ đã có đủ thông tin và có thể ra quyết định có hành động hay không, và cần có hành động gì.

Ví dụ, như tôi đã nhiều lần trình bày, sự thật và chân lý tại DEC được xác định bởi những cuộc tranh cãi và các tiêu chí thực dụng đối với tính hiệu quả. Nếu không thể hoặc quá khó để tiến hành việc kiểm tra khách quan, ý tưởng đề xuất sẽ được đưa ra tranh luận để xem nó có thể đứng vững được sau cuộc kiểm tra mức độ phụ thuộc vào những phân tích mang tính phê phán gay gắt hay không. Tại Ciba-Geigy, người ta nhấn mạnh hơn đến các kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm và quan điểm của những người được cho là có kinh nghiệm và thông thái. Cả hai công ty này đều tồn tại trong một văn hóa rộng hơn là văn hóa phương Tây, bị thống trị bởi các khái niệm về khoa học và dựa trên kiến thức từ góc độ trải nghiệm. Nhưng sự khác biệt lớn giữa hai công ty này cho thấy rằng ngay cả khi cùng nằm trong một bối cảnh văn hóa vĩ mô thì vẫn có sự khác biệt giữa các định nghĩa về sự thật, tùy theo các văn hóa vĩ mô của ngành nghề (ở đây là ngành kỹ sư điện tử và hóa học) và văn hóa quốc gia (Đức – Thụy Sĩ và Hoa Kỳ).

Các cấp độ của sự thật

Sự thật tự nhiên biểu hiện ra ngoài là những sự việc có thể được xác định theo phương pháp thực chứng bởi những kiểm tra khách quan, hay theo truyền thống phương Tây vẫn gọi là kiểm tra “mang tính khoa học”. Ví dụ, nếu có hai người đang tranh luận về việc một mảnh kính có thể bị vỡ hay không, họ sẽ đập bằng búa và biết kết quả (Festinger, 1957). Nếu hai nhà quản lý tranh luận với nhau về việc cần tung ra sản phẩm nào, họ có thể thống nhất việc tiến hành một cuộc kiểm tra thị trường và đưa ra các tiêu chí, từ đó giải quyết được vấn đề. Mặt khác, nếu hai nhà quản lý tranh luận về việc nên ủng hộ cho chiến dịch vận động tranh cử nào, họ sẽ đều đồng ý rằng chẳng có tiêu chí cụ thể nào để giải quyết xung đột này cả.

Các văn hóa khác nhau sẽ có những giả định khác nhau về đâu là những bộ phận cấu thành nên sự thật tự nhiên. Chẳng hạn, nhiều người trong số chúng ta sẽ không cho rằng thế giới tâm linh hoặc năng lực ngoại cảm là có căn cứ thực tế, nhưng trong các nền văn hóa khác thì các hiện tượng này lại được coi là có thật.

Sự thật mang tính xã hội liên quan đến những sự vật mà các thành viên trong nhóm đều coi là vấn đề của sự đồng thuận, không thể hiện ra ngoài, không thể kiểm tra bằng trải nghiệm thực tế. Bản chất của con người – cách đúng đắn để con người liên kết với tự nhiên và với người khác, sự phân bổ quyền lực và toàn bộ các quá trình chính trị, các giả định về ý nghĩa của cuộc sống, ý thức hệ, tôn giáo, biên giới của nhóm, và bản thân văn hóa – rõ ràng là những vấn đề về sự đồng thuận và không thể được xác định bằng trực giác. Cách thức để nhóm định nghĩa chính nó và các giá trị nhóm đã chọn rõ ràng là không thể đem ra kiểm tra, xét từ góc độ nhận thức truyền thống về kiểm tra mang tính khoa học, thực nghiệm nhưng vẫn được duy trì bền vững và được nhất trí chia sẻ với nhau. Nếu người ta tin một điều gì đó và xác định nó là có thật, thì điều đó trở thành sự thật đối với nhóm.

Trong bối cảnh quốc tế, không có cách nào để kiểm tra xem ai đúng ai sai trong các xung đột về lãnh thổ hay một hệ thống niềm tin. Cuộc chiến tranh dai dẳng tại Afghanistan là một minh chứng đầy đủ. Việc thương lượng trở nên vô cùng khó khăn khi mỗi bên đều có những giả định rất khác nhau về “sự thật”, dẫn đến việc các quốc gia phải vận dụng sức mạnh kinh tế và quân sự. Câu chuyện dở khóc dở cười về một nhà ngoại giao non nớt đã đề xuất người Arab và người Israel nên cùng nhau giải quyết các bất đồng bằng thái độ của những người Thiên Chúa Giáo cũng là một ví dụ làm rõ luận điểm này.

Một trong những lý do tại sao khó ra các quyết định trong kinh doanh và tại sao việc quản lý về căn bản là điều phức tạp là: thiếu đồng thuận về việc phạm vi ra quyết định đó mang tính tự nhiên hay xã hội. Để một tổ chức có các hành động liền lạc, nó phải có các giả định chung được chia sẻ về việc: quyết định nào là có thể được hình thành từ thực nghiệm, và quyết định nào dựa trên các tiêu chí được đồng thuận, chẳng hạn “Hãy để những người nhiều kinh nghiệm nhất quyết định” hay “Quyết định bởi đa số”. Cần chú ý rằng sự đồng thuận phải có được đối với các tiêu chí và quy trình ra quyết định chứ không nhất thiết đồng thuận về bản thân quyết định sau cùng. Ví dụ, trong truyền thống dân chủ phương Tây, chúng ta đều giả định về nguyên tắc đa số thắng thế, nhưng không có cơ sở thực nghiệm nào cho tiêu chí này. Thực ra, đối với nhiều loại quyết định, nguyên tắc đa số có thể là cách tệ hại nhất để ra quyết định bởi vì nó phân hóa cuộc tranh luận thành hai nhóm “thắng” và “thua”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edgar H. Schein – Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo – NXB TĐ 2012.

Hậu Hắc tùng thoại – Phần cuối


Trong chư tử Chu Tần, Lão Tử như Côn Luân Sơn vậy, mọi Sơn mạch đều xuất phát từ đây; Hàn Phi Tử giống như Đông Hải, là nơi hội tụ tất cả các dòng chảy. Lão Tử nói thể của Hậu Hắc, Hàn Phi nói dụng của Hậu Hắc, các chư tử khác thì là một nhánh Sơn mạch hoặc một nhánh sông, thế là Hậu hắc triết học, đã có phát minh.

Học thuyết của hai nhà Đạo gia và Pháp gia vốn tương thông nhau, ẩn mình là cái thanh tịnh vô vi của Lão Tử, phát ra là sự hung ác thiếu ân của Hàn Phi, trong đó quan trọng là rất nhiều người không nhìn thấy được. Chu Tử là người say mê nghiên cứu, chỉ có ông mới nhìn thấy được điều này. Ông chỉ ra cái đáng sợ của Trương Tử Phòng, chính là nơi phát ra sự ti tiện yếu mềm của ông ta, đây được xem là lời nói thẳng vấn đề. Kẻ thấp hèn mềm yếu, luôn luôn ẩn mình, nên gọi là Hậu; kẻ đáng sợ, luôn luôn bộc lộ, nên gọi là Hắc. Hậu Hắc vốn không thể tách rời nhau.

Đạo gia và Pháp gia vốn là nhất quán, do đó Sử Thiên biên soạn “Sử Ký” đã kết hợp Lão Trang Thân Hàn thành một truyện. Hậu thế chỉ biết có một Khổng Tử, còn về nguồn gốc học thuật thì mù tịt không biết, thậm chí có người gọi Lý Nhĩ và Hàn Phi đồng truyện, chẳng ra gì cả, ra sức chửi mắng thất bại của Sử Thiên, đúng là nói mơ. Cha của Sử Thiên là một học giả của phái Đạo gia, từng chữ trong tác phẩm “Lục Gia Yếu Chi” đều là lời nói của chuyên gia. Sử Thiên luận đại đạo ắt trước hết nói đến Hoàng Lão đạo, Lão Tử là người ông ta sùng bái nhất. Ông ta đưa Lão Tử và Hàn Phi vào cùng một truyện, há là không có đạo lý sao? Ngay cả mối quan hệ giữa Lão Tử và Hàn Phi thế nhân cũng không hiểu rõ, thì sao có thể ngó đến Hậu Hắc Học được? Vì vậy mà gọi Lý Hậu Hắc là Lý điên vậy.

Danh từ Hậu Hắc này, thời cổ đại chưa xuất hiện, nhưng loại học lý này thì trong ngoài xưa nay mọi người đều nhìn thấy. Có người nhìn thấy toàn thể, có người nhìn thấy bộ phận, có người nhìn thấy một cách rõ ràng, có người nhìn thấy mơ hồ, hình thái mà mọi người nhìn thấy cũng muôn hình vạn trạng. Danh từ được đặt ra, cũng muôn hình muôn vẻ. Cái Lão Tử nhìn thấy thì ông gọi là đạo đức, cái Khổng Tử nhìn thấy thì gọi là nhân nghĩa, cái Tôn Tử thì thấy thì gọi là miếu toán, cái Hàn Phi nhìn thấy thì gọi là Pháp thuật, cái Darwin nhìn thấy thì gọi là cạnh tranh, cái Bismarck nhìn thấy thì gọi là thiết huyết, cái Marx nhìn thấy thì gọi là duy vật, tín đồ của ông ta là William nhìn thấy thì gọi là sinh tồn, các nhà triết học khác đều nhìn thấy, mỗi người đặt cho một tên riêng, quả thật là “Lô Sơn nhìn từ chính diện vô cùng hùng vĩ đặc biệt, nhìn từ phía bên lại là đỉnh núi cao vời sừng sững, bất luận là nhìn xa, nhìn gần, nhìn từ trên cao, nhìn từ dưới thấp, thì dáng vẻ của Lô Sơn vẫn khác nhau. Không biết được chân tướng thật sự của Lô Sơn, chỉ vì đứng trên nó nên tầm mắt bị giới hạn mà thôi”.

Có người hỏi tôi: “Chủ trương “liên minh các dân tộc nhỏ yếu để chống lại cường quốc” là chính nghĩa, hà tất anh phải gọi là Hậu Hắc?” Tôi nói: Điều này không cần tranh luận, nếu trên trời có hai vầng trăng, từ Đông trôi sang Tây, từ Tây trôi về Đông, chạy đi chạy lại, ngày đêm không nghỉ. Hai thứ này dân nước tôi gọi là nhật nguyệt, người Anh gọi là Sun và Moon, danh từ tuy khác nhau, nhưng đều cùng chỉ một vật. Chúng ta nhìn thấy hai chữ Sun và Moon trong tiếng Anh, liền dịch thành “nhật nguyệt”. Độc giả nhìn thấy hai chữ Hậu Hắc, liền dịch thành hai chữ “chính nghĩa”, cũng có thể dịch thành “đạo đức” hoặc “nhân nghĩa”.

Các chư tử thời Chu Tần đều không ai nghiên cứu Hậu Hắc học lý, duy chỉ có Lão Tử là nghiên cứu sâu thôi, do đó, lời nói của ông ấy vô cùng huyền diệu. Nếu không có những người say mê nghiên cứu như Chu Tử, thì sẽ không nhìn thấy được học vấn của Lão Tử. Không có những người thân có tiên cốt như Trương Tử Phòng, lại được tiên nhân chỉ điểm, thì cũng không thể sử dụng học vấn của Lão Tử một cách thành thạo như vậy.

Các chư tử Chu Tần ngoài mặt thì tranh nhau đua tiếng, nhưng bên trong lại nghiên cứu triết lý Hậu Hắc, học thuyết này có thích hợp sử dụng hay không, hãy lấy thành phần Hậu Hắc được hàm chứa nhiều hay ít để phán đoán. Hai quyển sách “Lão Tử” và “Hàn Phi” đều nói về Hậu Hắc Học, nên Hán Văn thực hành theo thuật của Hoàng Lão, Vũ Hầu dùng thuật Thân Hàn để trị Thục, tướng nghiệp xưa nay vẫn được ngưỡng mộ. Tôn Ngô Tô Trương đều có nghiên cứu triết lý Hậu Hắc và đạt được thành tựu, do đó, binh sĩ của Tôn Ngô bách chiến bách thắng. Tô Tần, Trương Nghi đi du thuyết, thịnh hành trong thiên hạ. Từ đó có thể thấy: Tất cả các học thuyết đều có chứa triết lý Hậu Hắc, nếu đem thực hiện thì xã hội lập tức sẽ phát sinh ảnh hưởng to lớn. Nho gia lớn tiếng nói nhân nghĩa, nhân gần với Hậu, nghĩa gần với Hắc, cái có được chỉ gần giống mà thôi. Do đó, dùng Nho thuật để trị quốc, không ngứa không đau, xã hội nuôi dưỡng thành căn bệnh sưng phù nặng, Nho gia giải thích rằng: “Vương đạo không vội thành công”. Xin hỏi khi Hán Văn đế tại vị, không quá 23 năm,, Vũ Hầu trị Thục, cũng chỉ 20 năm, trong thời gian ngắn như vậy mà gặt hái được thành công to lớn, vì lẽ gì có thể đạt được như vậy? Lẽ nào Hán Văn đế dùng bá thuật sao? Gia Cát Vũ Hầu há chẳng phải hậu Nho đều gọi là nhân tài bên cạnh hoàng đế sao? Rốt cuộc là đạo lý gì? Hậu Hắc là vật vốn có trong thiên tính, các chư tử Chu Tần đều không nghiên cứu điểm này, tôi cũng không thể nói Nho gia không thể nhận ra, viện cớ là nhìn thấy quá ít, nên “học thức phong phú nhưng không có điểm nhấn, bỏ ra nhiều công sức nhưng thu hoạch chẳng bao nhiêu”. Vì vậy nên “viển vông không thực tế” vậy.

Hoàng Lão Trang Thân Hàn là dòng chính của Hậu Hắc Học. Khổng Mạnh là phái phản đối. Nước tôi hơn hai ngàn năm trở lại đây, ngoài Văn Cảnh đời Hán, Gia Cát Vũ Hầu của nước Thục, Trương Giang Lăng nhà Minh ra, đều là phái phản đối chấp chính, chẳng trách trị quốc thì ít mà làm loạn thì nhiều.

Tôi căm hận những kẻ không hiểu rõ Hậu Hắc, làm cho một đất nước tươi đẹp rối loạn đến vậy, nên hăm hở vùng dậy, lớn tiếng kêu gào, dùng thời gian thức tỉnh thế giới. Viết một vài đoạn Hậu Hắc tùng thoại trên báo chí hàng ngày, giống như mở một lớp giảng dạy Hậu Hắc Học. Trải qua sự cố gắng như vậy của tôi, quả nhiên cũng có kết quả. Rất nhiều người hỏi tôi: “Tôi mang tất cả những đạo lý mà anh nói, chứng minh cho những việc mà bản thân tôi trải qua, quả nhiên không sai”. Lại có một người bạn nói rằng: “Tôi lấy nguyên tắc mà anh phát minh, đi đọc “Tư Trị Thông Giám”, đọc mấy quyển, cảm thấy đều phù hợp”. Tôi nghe những lời này,biết rằng người bình thường đã có Hậu Hắc thường thức, mức độ dần dần tăng lên, học lý mà tôi giảng không thể không thêm một chút sâu sắc, cho nên mới bàn đến các chư tử Chu Tần, nhìn thấy Hậu Hắc Học của tôi, không những chứng minh được bộ Nhị thập Ngũ sử tất cả đều phù hợp, mà còn chứng minh được học thuyết của chu tử Chu Tần cũng không ngoại lệ. Các vị độc giả, những người có chí hãy nghiên cứu thật tỉ mỉ.

Dạy dỗ học trò, cần phải dùng hình thức dẫn gợi, tự học, cách tệ nhất chính là nhồi nhét. Tôi phát biểu Hậu Hắc Học năm Dân quốc thứ nhất, chỉ lấy vài người làm ví dụ như Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền, Lưu Bang, Tư Mã Ý, còn những người khác thì độc giả tự đi tìm hiểu, tôi viết Hậu Hắc Học và Hậu Hắc tập lục, cũng chỉ đưa ra dàn bài đại cương đơn giản, không nói rõ từng ý, e rằng sẽ rơi vào hình thức nhồi nhét, làm giảm khả năng tự nghiên cứu của độc giả. Tôi nói: Học thuyết của các chư tử Chu Tần đều hàm chứa triết lý Hậu Hắc,cũng chỉ có thể nói đại khái, để cho độc giả tự mình nghiên cứu.

Các sách như Thi Kinh, Thư Kinh, Dịch Kinh, Chu Lễ, Nghĩa Lễ… đều là kinh điển của nhà Nho, phàm muốn nghiên cứu Nho học, nhất định phải đọc kỹ những sách này. Sách của chu tử Chu Tần là kinh điển của Hậu Hắc Học, nếu không thể đọc hết được, có thể đọc trước hai quyền “Lão Tử”và “Hàn Phi”, biết được thể dụng của Hậu Hắc, sau đó đọc sách của chu tử, tự nhiên sẽ rõ ràng rành mạch. Phàm là người nghiên cứu học thuyết Nho gia, mở miệng là “thi nói, thư nói”, bỉ nhân nói về triết lý Hậu Hắc, thỉnh thoảng cũng nói vài câu “Lão Tử nói, Hàn Phi nói”.

Tứ thư Ngũ kinh tuy là sách ngoại đạo, giả như có thể dùng cách nhìn chân chính để xem, cũng có thể tìm ra được rất nhiều triết lý Hậu Hắc. Nếu như chương “trẻ con yêu cha mẹ” trong sách của Mạnh Tử, há chẳng phải là nền tảng của học thuyết Nho gia sao? Bỉ nhân tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng hai chương này để làm thành nền tảng triết học của Hậu Hắc Học, đây là bí quyết trị Hậu Hắc Học của bỉ nhân. Các vị có chí, có thể nghiên cứu thêm.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB ĐN 2010.

Hậu Hắc tùng thoại – Phần XXIV


Có người hỏi tôi: Ba chữ Hậu Hắc Học, có thể so sánh với ba chữ nào? Tôi nói: So sánh với ba chữ Đạo Đức Kinh. Đạo Đức Kinh của Lý Lão Tử và Hậu Hắc Học của Lý điên không những có thể so sánh về mặt chữ, mà thực chất, chúng tương thông với nhau, bằng chứng gì? Có lời nói của Chu Tử có thể làm bằng chứng. Trong “Chu Tử toàn tập” có nói: “Học thuyết cảu Lão thị “nhẫn” nhất, “nhẫn” với mình, nên khi nhàn rỗi thì giống như kẻ hư vô hèn mọn yếu mềm; “nhẫn” với người, nên khi nói ra làm anh không thể ủng hộ, giống như Tử Phòng vậy. Như trận Nghiêu Quan, liên minh với Tần, đột nhiên xuất kích. Hòa ước Hồng Câu, giảng hòa với Hạng Vũ, đột nhiên bội ước mang quân đánh úp Hạng Vương. Đây đều là cái ti tiện mềm yếu của ông ấy, đáng sợ thật! Đáng sợ thật! Kế sách của ông ta không cần nhiều, chỉ cần vai ba kế như vậy, thì sự nghiệp của Cao tổ đã thành công rồi”. Theo như Chu Tử nói: Bộ Đạo Đức Kinh của Lão Tử, há chẳng phải rõ ràng là một bộ Hậu Hắc Học sao? Trong phần cuối của “Hậu Hắc tùng thoại” tôi đã nói: “Toàn bộ tác phẩm của “Lưu Hầu Luận” của Tô Đông Pha đều là lấy chữ Hậu làm nền tảng”. Chu Tử vạch rõ chữ Hắc của Tử Phòng, đồng thời tìm rõ căn nguyên, nói rằng có nguồn gốc từ Lão Tử, lý luận này quả thật rất tỉ mỉ chu đáo. Chu Tử cho rằng sự việc Nghiêu Quan, Hồng Câu là nơi xuất phát của thấp hèn yếu kém, đủ biết hai chữ Hậu Hắc vốn là nhất quán với nhau.

Hậu và Hắc là hai mặt của một vật thể, Hậu có thể biến thành Hắc, Hắc cũng có thể biến thành Hậu. Chu Tử nói: “Học thuyết Lão thị “nhẫn”, nhất”. Ông ta đã dùng một chữ “nhẫn” để bao quát hai chữ Hậu Hắc, “nhẫn” với mình gọi là Hậu, “nhẫn” với người gọi là Hắc, “nhẫn” với mình, nên khi nhàn rỗi thì giống như kẻ hư vô hèn mọn yếu mềm, “nhẫn” với người, nên khi nói ra làm anh không thể ủng hộ. Trương Tử Phòng lấy giày cho ông ta, quỳ xuống và mang vào, việc làm đó là nhẫn với mình; Nghiêu Quan Hồng Câu liên minh thất bại và bội ước, đưa người vào chỗ chết, đó là nhẫn với người. Quan sát những việc này có thể biết được Hậu Hắc có chung nguồn gốc, chúng có thể biến hóa thay thế cho nhau. Tôi đặc biệt nói với các vị độc giả rằng, nếu có người trước mặt thì nhún vai cười nịnh, mọi việc đều nghe theo, thì anh phải cẩn trọng đề phòng anh ta sẽ thay đổi và trở nên Hắc. Anh phải chịu thất bại, trước tiên là giậu đổ bìm leo, chính là những loại người này. Lại giả như có người trước mặt anh mặc ý lăng nhục, nhiều người không có cảm tình, anh cũng chớ oán hận, nếu anh cứ một mực đắc chí, anh ta tự nhiên sẽ thay đổi và biến thành Hậu, trước mặt anh, mọi việc đều tốt đẹp. Trong lịch sử những việc như vậy rất nhiều, các vị hãy tự tìm hiểu.

Tôi phát minh Hậu Hắc Học, tiến hành nghiên cứu thêm và rút ra được một định lý như sau: “Tâm lý thay đổi, vận hành theo quy luật chung của lực học”. Có định lý này, Hậu Hắc Học sẽ có căn cứ về mặt triết học. Sự biến đổi của nước, đơn thuần chỉ là sự thay đổi dựa vào quy luật chung của lực học mà thôi. Đôi khi chảy nhẹ chầm chậm, nhưng nếu có vật chắn ngang phía trước, thì luôn tránh đi và chảy dưới đáy, có thể nói là vật ti tiện mềm yếu trên thế gian này không thứ nào có thể so sánh được với nước. Đôi lúc lại phẫn nộ chảy xiết, thoát ra biển lớn, không vật nào có thể ngăn cản nổi, nếu ngăn cản thì lập tức bị đập nát, lại có thể nói những vật hung hãn nhất trên thế gian này không thứ nào có thể so sánh được với nước. Học thuyết của Lão Tử chính là được sinh ra dựa trên nền tảng của loại học lý này. Nói rằng: “Khắp thiên hạ không có gì mềm yếu như nước, những thứ công kiên chế mạnh lại không có gì có thể thắng nổi nước”. Các vị có thể học thuộc đạo lý này, thì biết Đạo Đức Kinh của Lý Lão Tử và Hậu Hắc Học của bỉ nhân là chẳng hề có khác biệt gì.

Nhẫn với mình thì gọi là Hậu, nhẫn với người thì gọi là Hắc, ở người như vậy, ở nước cũng vậy. Nước chảy nhẹ chầm chậm, sẽ tránh vật cản mà chảy, do đó, nói là nhẫn với mình vậy; nước phẫn nộ chảy xiết, nếu có vật cản, lập tức sẽ bị phá tan, do đó nói là nhẫn với người vậy. Hiện tượng tránh vật để chảy đi và phá tan vật cản đường tuy khác biệt, nhưng lại nhất quán, nhân sự và vật lý tương thông, tâm lý và lực học tương thông, sau này có thể đọc Đạo Đức Kinh của Lý Lão Tử và Hậu Hắc Họ của Lý điên sẽ biết rõ điều này.

Học thuyết của Lão Tử đơn thuần chỉ là làm theo thủy, trong Đạo Đức Kinh, nói đến thủy không phải ít, ví như nói: “Thượng thiện giống như nước, thủy thiện ở chỗ có lợi cho vạn vật, không tranh lợi ích, ở nơi mà mọi người đều ghét, do đó dường như giống với đại đạo”. Lại nói: “Sông biển sở dĩ có thể trở thành nơi hội tụ của tất cả các dòng chảy, chính là vì nó nằm ở vị trí hạ du, vì thế mà có thể trở thành nơi hội tụ”. Sự thay đổi của nước, vận hành theo quy luật chung của lực học, Lão Tử rất hòa hợp với nước nên học thuyết của ông lấy quy luật chung của lực học để ràng buộc uốn nắn, tất cả đều nhất nhất ăn khớp nhau. Chính vì như vậy, muôn sự vạn vật trong vũ trụ không thoát khỏi phạm vi của học thuyết Lão Tử.

Lão Tử nói: “Lời của tôi rất dễ hiểu, rất dễ thực hiện, nhưng thiên hạ không ai có thể hiểu được, không ai có thể thực hành”. Mấy câu này quả thật là lời tán thưởng mà cụ ấy làm thay cho Hậu Hắc Học. Mặt dày tâm đen, cái nào không hiểu? Cái nào không thể làm? Gọi là “rất dễ hiểu, rất dễ thực hiện”. Tuy nhiên, ba chữ Hậu Hắc Học hàn toàn không nhìn thấy ghi chép trong các thư tịch, phải đợi Lý điên xuất hiện mới phát minh ra, há chẳng phải là minh chứng của “Thiên hạ không ai có thể hiểu” sao? Nước tôi chịu sự ức hiếp của bọn Nhật Bản và cường quốc, Quản Hậu Hắc, Tô Hậu Hắc đều có nhưng không dám mang ra thực hành, trước đây vốn có Hậu Hắc thánh nhân Câu Tiễn và Lưu Bang đối phó với bọn địch cũng không nghiên cứu đến, há chẳng phải là minh chứng cho “Thiên hạ không ai có thể thực hiện” sao?

Hậu Hắc Học mà tôi phát minh chính là một môn khoa học độc lập, hoàn toàn khác với những loại học thuyết của bách gia chư tử, nhưng nếu hiểu thấu triệt, lại có thể nói, học thuyết của bách gia chư tử không có cái nào không tương thông với Hậu Hắc Học, những đạo lý mà tôi nói đều được người khác nói qua, tôi cũng không hề có phát minh mới. Tôi đứng ở vị trí của giới Hậu Hắc, chỉ đành giống như Khổng Tử Nho gia của các người. Khổng Tử noi giương tiên tổ Nghiêu Thuấn, học theo Văn Vũ, chỉ trình bày lại học thuyết của người xưa chứ bản thân không hề sáng tác, tin yêu các sự vật thời xưa, ông ấy cũng không có phát minh mới gì. Nhưng nghiêm khắc mà nói, học thuyết của Nho gia và bách gia chư tử lại hoàn toàn khác nhau, Hậu Hắc Học của tôi cũng như vậy mà thôi. Khổng Tử nói: “Hiểu tôi, chỉ có Xuân Thu; nỗi khổ của tôi, chỉ có Xuân Thu mà thôi!”, tôi cũng nói: “Hiểu tôi, chỉ có Hậu Hắc Học; nỗi khổ của tôi, chỉ có Hậu Hắc Học mà thôi!

Lão Tử cũng là người “chỉ trình bày lại học thuyết của người xưa chứ bản thân không hề sáng tác, tin yêu các sự vật thời xưa”, những lời nói như “lời người xưa nói rất đúng”, “người dụng binh có cách nói rằng”, “người xưa gọi”… rõ ràng đều là những trích dẫn từ sách cổ. Theo cách nói của Chu Tử, sách “Lão Tử” quả thật là một bộ Hậu Hắc Học, và theo cách nói của Lão Tử, thì lại là của người xưa truyền lại, từ đó có thể thấy, Hậu Hắc Học mà tôi phát minh, quả thật là quán thông xưa nay, có thể hỏi quỷ thần mà không nghi ngờ gì nữa.

Theo khảo chứng của học giả, học thuyết của Chu Tần chư tử, không ai không bắt nguồn từ Lão Tử, do đó, Chu Tần chư tử không ai không mang một chút hương vị của Hậu Hắc. Học thuyết của bách gia chư tử nước tôi, lấy Lão Tử làm đại diện chung. Trước Lão Tử có bọn người như Y Quân, Thái Công, Quản Tử. Trong “Hán Thư – Nghệ Văn Chí” đều liệt họ vào Đạo gia, nên những người trước Lão Tử và sau Lão Tử đều không thoát khỏi phạm vi của Lão Tử. Trong các chư tử Chu Tần, người cuối cùng nhất là Hàn Phi Tử. Cùng thời với ông ta, tuy có quyển “Lữ Lãm”, nhưng sách này là do tân khách của Lã Bất Vi biên soạn, là một quyển loại thư, không tìm ra được tên tác giả, do đó, lấy Hàn Phi là người cuối cùng nhất. Sách của Hàn Phi có hai bộ là “Giải Lão” và “Dụ Lão”, giải thích từng câu nói của Lão Tử, gọi Lão Tử là thánh nhân. Học vấn của ông ta là trực tiếp kế thừa của Lão Tử, nên nói: “Pháp luật có nguồn gốc từ đạo đức”. Do đó biết được rằng, các chư tử Chu Tần hoàn toàn đều đang nghiên cứu loại học lý Hậu Hắc này, nhưng chưa có phát minh ra danh từ Hậu Hắc thôi.

Sách của Hàn Phi Tử đều có phê bình các nhà học thuyết, đủ thấy ông ta đã nghiên cứu kỹ lưỡng từng học thuyết, sau đó mới tự sáng tạo ra một phái học thuyết. Thương Ưởng nói pháp, Thân Tử nói thuật, Hàn Phi tử ắt kết hợp pháp và thuật thành một, là tập đại thành của phái Pháp gia thời Chu Tần. Theo tôi, đó quả thật là một tập đại thành Hậu Hắc Học thời Chu Tần, chẳng qua thời đó chưa có được danh từ Hậu Hắc mà thôi.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB ĐN 2010.

Hậu Hắc tùng thoại – Phần XXIII


Trên phương diện ngoại giao, vốn là cách sử dụng qua lại giữa các cưa mũi tên và hàn nồi, giống như hai bánh xe, hai cánh chim, không thể bỏ đi cái nào. Chính sáh ngoại giao nước tôi thất bại, nguyên nhân là do chỉ dùng cách cưa mũi tên. Từ khi Ngũ Khẩu thông thương đến nay, các giao dịch nước ngoài đều dùng cách cưa mũi tên. Sau 918, càng được thể hiện rõ. Nên thêm vào cách hàn nồi, mới phù hợp với phương thức ngoại giao. Chúng ta tổ chức liên minh các dân tộc nhỏ yếu, tức là đã vận dụng nguyên lý của cách hàn nồi.

Mánh khóe của bọn Nhật Bản xuất hiện liên tục, đánh phá đến nỗi nước tôi không thể chống đỡ. Chúng ta nên đánh trả lại chúng, giương cao ngọn cờ của “liên minh các dân tộc nhỏ yếu”. Anh có thể nói “chủ nghĩa Đại Á Tế Á”, muốn nuốt chửng Trung Quốc, sau đó xâm lược các nước Á Châu, tiến đến ngấm ngầm đợi dịp thông tính toàn thế giới, chúng ta tổ chức “liên minh các dân tộc nhỏ yếu”, lấy Trung Quốc làm chủ yếu, liên minh với các dân tộc như Đài Loan, Lưu Cầu, Cao Ly, An Nam, Miến Điện, Xiêm La, Ấn Độ, Úc Châu, Phi Châu. Nhật Bản khua chiêng đánh trống ầm ĩ chủ nghĩa Đại Á Tế Á, chúng ta cũng quảng bá ầm ĩ liên minh các dân tộc nhỏ yếu, như vậy mới có thể ngang sức ngang tài, mới có thể bù đắp sự thiếu sót của cách hàn nồi.

Năm Dân Quốc thứ 2, tôi đang làm việc tại một cơ quan, sau này cơ quan này bị loại bỏ, tôi mượn người đồng hương Trần Kiện 50 đồng để tìm cách quay về quê hương. Anh ta hồi âm rằng: “Hiện nay tôi không có tiền, may mà số lượng không nhiều, đặc biệt cho anh mượn, tích góp đủ 50 đồng sẽ gửi đến cho anh”. Cuối thư còn kèm theo bài thơ: “Năm mươi đồng không phải là nhiều, mượn hết lần này lại đến lần khác, tôi sẽ sai người mang đến cho anh, đặc biệt gửi đến một bài thơ”. Tôi đọc xong, thi hứng dâng trào, không thể kìm nén, lập tức kính lại một bài: “Cầm đọc tuyệt tác, thi hứng trào dâng, kính lại một bài, xin được họa vần, ngắn gọn mà thôi, không luận hay dở, nếu anh không tin, có thơ làm chứng. Thơ rằng: “Hậu hắc tiên sinh kỹ thuật cao, dẫu cho nồi cơm lăn xuống dốc. Xin ăn chính là kẻ hành khất, chăn trâu ta hát khúc sơn ca”. Bài thơ đã hoàn thành, tôi nêu chưa hết, lại làm thêm một bài: “Gió to thổi hề nồi lăn xuống dốc, gom hành lý hề quay về tổ ấm, sao bắt dũng sĩ hề giữ nồi đất”. Tôi đi ra cửa Đông, đi đến cầu đá bơi thuyền, nhìn thấy sông nước cuồn cuộn, thi hứng lại dâng trào, lại làm một bài thơ:”Gió hiu hiu hề sông nước lạnh, chiếc nồi trôi hề không quay về”. Người xưa nghe thấy lời hát này, nhất định đồng thanh khóc than.

Gần đây, các cơ quan quân chính thường nổi gió to, hàng loạt chiếc nồi lăn xuống triền dốc, rất nhiều bạn bè than với tôi rằng: “Sao bắt dũng sĩ giữ nồi đất”. Tôi nói: Học vấn của tôi, đến nay đã tiến bộ nhiều rồi, không cần phải giữ nồi đất nữa, cũng không cần mời dũng sĩ, chỉ cần anh dùng cây gậy mình có gõ vào chiếc nồi của đối phương, chiếc nồi của họ sẽ vỡ nát, còn chiếc nồi của anh sẽ sừng sững tồn tại. Nếu anh không có bản lĩnh đập vỡ chiếc nồi của đối phương, thì chiếc nồi của anh tuyệt đối không thể bảo tồn.

Bốn tỉnh Đông Bắc bị Nhật Bản xâm chiếm, dân chúng đều có cảm tưởng “chiếc nồi trôi không hề quay về”, nhìn thấy bọn Nhật Bản tích cực tiến hành ở Hoa Bắc Hoa Nam, lại đồng thanh nói: “Sao bắt dũng sĩ giữ nồi đất”. Đây đều là những kiến giải trước kia của tôi, đem cơm trong nồi cất vào trong chiếc nồi của chúng, dân chúng Trung Quốc chỉ biết che chở cho chiếc nồi của mình, thật là một việc làm ngốc nghếch! Dân chúng nước tôi mỗi người cầm một cây đả cẩu bổng, đánh vào chiếc nồi của bọn Nhật Bản, bảo đảm sẽ xảy ra hiệu quả bất ngờ. Hỏi: “Cách đánh đả cẩu bổng như thế nào?”. Đáp: Tổ chức liên minh các dân tộc nhỏ yếu.

Chúng ta nên sử dụng thế tấn công với bọn Nhật Bản, không nên sử dụng thế phòng thủ, đối với bọn cường quốc thì áp dụng thế uy hiếp, không nên dùng thế van xin. Chúng ta tổ chức liên minh các dân tộc nhỏ yếu, tức là sử dụng thế tấn công đối với Nhật Bản, áp dụng thế uy hiếp đối với bọn cường quốc. Nhật Bản xâm lược nước tôi, cường quốc ôm nỗi bất bình, biểu thị đồng tình với nước tôi, lẽ nào là có ý tốt sao? Há thật sự đứng trên lập trường công lý sao? Nhật Bản hy vọng có thể độc chiếm, cường quốc hy vọng có thể cùng nhau quản lý, phương thức tuy khác nhau nhưng mục đích lại giống nhau. Vì tiền đồ của nước tôi, nên tích cực liên hiệp các dân tộc nhỏ yếu, cố gắng thúc đẩy đại chiến thế chiến, người bị áp bức sẽ chiến đấu với kẻ áp bức, tất cả dân tộc nhỏ yếu trên thế giới nhất tề bạo động, đánh bại chủ nghĩa đế quốc của bọn cường quốc, tức là đập vỡ chiếc nồi của bọn cường quốc thì chiếc nồi của các dân tộc nhỏ yếu mới có thể bảo tồn được.

Biện pháp dứt khoát nhất chính là do nước tôi rút khỏi “liên minh quốc tế”, thành lập một “liên minh các dân tộc nhỏ yếu” riêng, tuy nhiên trong điều kiện này của nước tôi thì cách làm này có lẽ sự thực không cho phép, vậy thì, dân chúng và chính phủ có thể phân loại mà giải quyết. Trong liên hiệp quốc tế, chính phủ tuân theo ngoại giao thường quy, đọ sức với cường quốc; còn về dân chúng, tích cực tổ chức liên minh các dân tộc nhỏ yếu. Chính phủ và nhân dân cùng phân công hợp tác, chính phủ dùng cách cưa mũi tên, ứng phó với cường quốc, dân chúng dùng cách hàn nồi, uy hiếp bọn cường quốc, nếu anh không nói chính nghĩa, tôi sẽ dùng búa đập vỡ chiếc nồi, gây ra cuộc đại chiến thế giới thứ hai, nước tôi sẽ thống lĩnh tất cả các dân tộc nhỏ yếu bị áp bức trên toàn thế giới tấn công vào bọn đế quốc chủ nghĩa trên toàn thế giới.

Chiến tranh chia làm ba loại: (1) Chiến tranh vũ lực, (2) Chiến tranh kinh tế, (3) Chiến tranh tâm lý. Chính phủ lãnh đạo bá tánh trong cả nước quyết chiến với bọn Nhật Bản, đảm nhiệm công tác chiến tranh vũ lực. Đoàn thể “liên minh các nước nhỏ yếu” áp dụng chính sách chế tài với bọn Nhật Bản, lên án về mặt đạo đức, đảm nhiệm chiến tranh kinh tế và chiến tranh tâm lý. Wilson gieo xuống hạt giống dân tộc tự quyết, ngày một sinh sôi nảy nở, hiện nay đã sắp trưởng thành, nước tôi xuất hiện một Trần Thiệp, vung tay hô lớn, giương cao ngọn cờ của liên minh các dân tộc nhỏ yếu, tương ứng với chủ trương trước kia của Wilson, tất cả cá dân tộc nhỏ yếu trên thế giới đương nhiên khi nghe tin sẽ lập tức hưởng ứng.

Dân chúng nhìn thấy thế nước ngày càng nguy nan, chủ trương bảo tồn quốc túy, chủ trương đọc kinh, việc làm này được xem như là trị liệu từ căn bản. Bát cổ là thể kết tinh của quốc túy, Hậu Hắc Học của tôi là xuất phát từ Bát cổ, xem như là cái căn bản của cơ bản. Tôi hy vọng các vị sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng.

Bát cổ của Trung Quốc có lịch sử lâu đời, văn nhân bình thường chìm đắm trong đó, như cá dưới nước, cho nên, văn tự ngày nay nếu dùng mũi để ngửi thì đa số đều có mùi vị của Bát cổ, hơi chua chua. Văn tự của Chương Thái Viêm, cũng giống với Bát cổ của Hàn Mộ Lư; văn tự của Nghiêm Hựu Lăng, cũng giống với Bát cổ của Quản Uẩn Sơn; văn tự của Đường Hữu Vi, giống với Bát cổ của “bài thi tham khảo của 18 khoa”; văn tự của Lương Khởi Siêu, giống với Bát cổ của “Giang Hán bính linh”; văn tự của bỉ nhân, giống như dạng giải đề cắt nghĩa trong thi cử; các văn hào đương đại, đều là Giả Phụng Trĩ trong “Liêu Trai”, được tiền nhân chỉ điểm, dẫn đầu cao trung. “Các vị chớ cười Bát cổ chua, Bát cổ càng chua thì càng cách mạng”. Hoàng Hưng, Thái Tùng Pha đậu tú tài; Ngô Trĩ Huy, Du Hữu Nhậm đậu cử nhân; Đàm Diên Viên, Thái Nguyên Bội, tiến sĩ hàn lâm. Những người bạn học và đồng hương mà tôi biết, vài chuyên gia cách mạng, Liêu Tự Sơ đậu cử nhân; Lôi Thiết Nhan, Trương Liệt Ngũ, Tạ Huệ Sinh, đậu tú tài, ôi vui thay! Khá khen thay! Công lao của Bát cổ to lớn thật! Cuối đời Mãn Than, một bọn Bát cổ tiên sinh đứng lên và tràn đầy tinh thần cách mạng, tôi rất mong muốn những chí sĩ ái quốc hãy đem Bát cổ của bọn Tây Dương đốt sạch đi, quay về nghiên cứu Bát cổ của Trung Quốc, như thế mới có thể đấu tranh đến cùng với kẻ thù chúng ta.

Đường Tống bát gia, tôi thích nhất là Tam Tô, vì cha con Tô thị đều hiểu Hậu Hắc Học. Học thuyết của Lão Tuyền xuất phát từ Thân Hàn. Sách của Thân Từ không truyền lại, trong “Gia Hộ tập” của Lão Tuyền, mọi nghị luận đều rất giống Hàn Phi, ngòi bút vô cùng sắc bén. Lão Tuyền thích nói về binh, ông ta cũng có nghiên cứu về Tôn Tử. Học thuyết của Đông Pha, nghiên cứu về nhân tình, hiểu rõ lợi hại, do đó biện luận mạnh lạc, vui cười giận mắng, rõ ràng mạch lạc. Văn của ông ta tự do phóng túng cũng giống như Chiến Quốc Sách. Tử Do có quan hệ gắn bó với Lão Tử, có tác phẩm “Lão Tử giải”. Lý Trác Ngô nhà Minh nói rằng: “Hiểu Lão Tử có nhiều người, nhưng chỉ có Tử Do là hiểu nhất”. Văn của Tử Do ít mênh mông, trong bát gia là bình dị nhất. “Tôn Tử”, “Hàn Phi Tử” và “Chiến Quốc Sách” có thể nói là sách giáo khoa Hậu Hắc Học cổ đại. Quyển “Lão Tử” bao gồm triết lý Hậu Hắc vô cùng phong phú dồi dào. Nếu các vị muốn nghiên cứu học thuyết của Khổng Tử thì nhất định phải đọc kỹ Thi kinh, Thư kinh, Dịch kinh mà Lão tử đã nghiên cứu học tập; vạn nhất muốn nghiên cứu Hậu Hắc Học, chỉ đọc tác phẩm của tôi, chẳng qua cũng giống như đọc “Luận Ngữ” của Khổng Tử thì cần phải đọc các sách như “Lão Tử”, “Tôn Tử”, “Hàn Phi Tử” và “Chiến Quốc Sách”. Giống như phải đọc kỹ các sách như “Thi”, “Thư”, “Dịch” của Nho gia, đi sâu nghiên cứu và dung hòa quán thông bộ Nhị thập Ngũ sử và sự biến Đông Tây ngày nay, như vậy sẽ có được hy vọng thành chuyên gia Hậu Hắc.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB ĐN 2010.

Hậu Hắc tùng thoại – Phần XXII


Muốn nhà nước độc lập, trước tiên phải mưu cầu cho bá tánh độc lập, hàng ngàn hàng vạn tia sức mạnh chĩa thẳng về phía cường quốc, nếu muốn nhà nước không độc lập cũng không được. Hỏi rằng: Hàng ngàn hàng vạn tia sức mạnh thì làm thế nào có thể độc lập? Đáp rằng: Trước tiên phải mưu cầu tư tưởng độc lập, có thể độc lập chính là có thể hợp tác, sở dĩ dân chúng nước tôi không thể hợp tác, chính là vì họ chưa được độc lập. Không độc lập ắt là nô lệ, mà nô lệ thì phải chịu sai khiến, sao có độc lập được! sao có hợp tác được!

Kẻ dã man làm việc, thâu tóm quyền lực, xem mọi người như nô lệ, kẻ bị gọi là kháng Nhật, tức là kẻ dẫn dắt nô lệ chống lại bọn Nhật. Nhật Bản ở Đông Á, thâu tóm quyền lực, xem người Trung Quốc như nô lệ, kẻ bị gọi là kháng Nga, tức là kẻ dẫn dắt nô lệ chống lại bọn Nga. Nếu không có khả năng độc lập thì sao có được khả năng chống cự, cho nên nếu chúng ta muốn kháng Nhật, chống lại cường quốc, gây trồng và nuôi dưỡng tính độc lập của nhân dân thì không nên làm tăng thêm tính chất nô lệ. Tôi viết “Hậu Hắc tùng thoại”, ngàn vạn lời nói, chẳng qua chỉ là dạy người phải có tư tưởng độc lập mà thôi. Do đó, chính sách ngoại giao của nước Hậu Hắc chính là ngoại giao độc lập, chính sách ngoại giao của nước Hậu Hắc chính là chính sách hợp tác. Hậu Hắc gia của các giới quân đội, thương nghiệp, chính trị, học thuật đều đem bản lĩnh thường ngày của mình trực tiếp thi hành với bọn Nhật Bản, đó chính là Hậu Hắc cứu quốc.

Khổng Tử bảo Tử Hạ rằng: “Nhữ vi quân tử nho, vô vi tiểu nhân nho”. Tôi dạy các đệ tử rằng: “Nhữ vi đại Hậu Hắc, vô vi tiểu Hậu Hắc” Xin hỏi làm sao để phân biệt đại Hậu Hắc và tiểu Hậu Hắc? Trương Nghi xúi giục sáu nước đánh nhau là tiểu Hậu Hắc. Tôn Quyền và Lưu Bị cùng tranh đoạt Kinh Châu là tiểu Hậu Hắc. Cách làm của Quản Trọng và Tô Tần mới được xem là đại Hậu Hắc. Nhật Bản chiếm tỉnh Đông Bắc, tiếp theo muốn thôn tính Trung Quốc là tiểu Hậu Hắc. Cường quốc Âu Mỹ tranh giành thuộc địa là tiểu Hậu Hắc. Tôi chủ trương vận động các dân tộc nhỏ yếu trên toàn thế giới phản kháng lại bọn Nhật Bản và chủ nghĩa đế quốc mới được xem là đại Hậu Hắc. Mạnh Tử nói: “Nhỏ vốn không thể địch lại lớn”. Đại Hậu Hắc của chúng ta thành công, tiểu Hậu Hắc của Nhật Bản và cường quốc đương nhiên sẽ thất bại.

Nước tôi chỉ cần đem liên minh các dân tộc nhỏ yếu định rõ là chính sách đối ngoại, chính phủ và nhân dân kết thành một khối, tổng động viên toàn quốc tiến hành công việc này, ánh mắt cả nước đều tập trung chú ý đến nước ngoài, tạo thành đường hợp lực cùng hướng, không những nội chiến kết thúc mà còn có thể kháng Nhật và cường quốc, cũng giàu có dư dả. Tiếc thay Gia Cát Lượng đã chết, ước gì người ở dưới lòng đất này có thể cùng tôi bàn luận kỹ hơn.

Tôi giảng Hậu Hắc Học, chia làm ba bước, các vị độc giả chắc vẫn còn nhớ. Bước thứ nhất: da mặt dày, dày như thành quách; tâm địa đen, đen như than củi. Bước thứ hai: dày mà cứng, đen mà sáng. Bước thứ ba: dày nhưng vô hình, đen nhưng vô sắc. Nhật Bản có lúc dùng phương thức ăn cướp đối với nước tôi, dùng vũ lực để xâm chiếm, có lúc dùng phương thức đĩ điếm, cao giọng nói Trung Nhật thân thiện, đều có sự độc ác của loài lang sói và sự nịnh bợ của loài hồ ly. Cái gọi là dày như thành quách, đen như than củi, bọn chúng đã làm được rồi; còn dày mà cứng, cũng đã làm được, duy chỉ có đen mà sáng là chúng chưa đạt đến. Tào Thào là kẻ nổi tiếng tâm địa đen tối, nhưng dùng chiêu bài sáng nên hào kiệt trong thiên hạ đều chạy đến quy phục, biết rõ ông ta là tên tuyệt thế gian hùng, nhưng mọi mặt đều cảm thấy đáng yêu, làm cho mọi người khâm phục. Nhật Bản có “tâm địa đen tối mà chiêu bài cũng đen tối”, nên trở thành kẻ thù chung của thế giới, giống như rắn rết vậy, bất cứ ai nhìn thấy, cũng đều hét lên “đánh! đánh!”, cho nên Hậu Hắc Học của người Nhật Bản càng nói càng giỏi, sau này thất bại cũng càng thê thảm, sao lại như vậy? Chính là do đen mà không sáng vậy. Chúng chỉ hiểu được cách làm hạ thừa của Hậu Hắc Học mà không biết được cách làm thượng thừa, chúng cũng không hiểu việc đọ sức người của Hậu Hắc Học, đương nhiên sẽ giành thắng lợi mọi mặt, nếu gặp phải danh thủ, đương nhiên sẽ thất bại thảm hại.

Chúng ta tổ chức liên minh các dân tộc nhỏ yếu và tấn công chủ nghĩa đế quốc, vốn là dùng bí quyết chữ Hắc, tuy nhiên cách làm này là sao chép lại từ bốn chữ “dân tộc tự quyết”của Wilson, toàn thế giới đều hoan nghênh, đó chính là đen mà sáng vậy. Người nghe ắt sẽ đứng lên tranh luận rằng: “Chủ nghĩa của Wilson là phúc âm của hòa bình, là cơ sở của chủ nghĩa đại đồng, sao lại do người mặt dày tâm đen làm ra? Nếu thực hành chủ nghĩa này thì còn được gọi là Hậu Hắc không?” Lý điên nghe xong than rằng: “Đúng thay! Đúng thay! Đó gọi là “dày mà vô hình, đen mà vô sắc vậy””.

Tôi giảng Hậu Hắc Học, chẳng phải có cách cưa mũi tên và hàn nồi sao? Chúng ta tiến hành tổ chức liên minh các dân tộc nhỏ yếu xong rồi, liền ứng dụng cách gõ nồi để hàn nồi, tay cầm búa sắt, nói với nước nào đó rằng: “Tin không? Cái búa này của tôi nện xuống là làm cho cái nồi của anh vỡ tan tành ngay đó, nếu muốn vá lại cũng không vá được đâu!” Miệng thì nói vậy nhưng búa sắt trong tay có nện xuống hay không, trong đó có tác dụng kỳ diệu vô cùng. Nếu cường quốc không đáp lại thì gõ nhẹ một vài cái, làm xuất hiện điểm rạn nứt đầu tiên trên chiếc nồi; nếu cứ không ngó ngàng, lại tiếp tục gõ. Nếu Nhật Bản và cường quốc muốn làm ngược lại, xâu xé áp bức các dân tộc nhỏ yếu, đáp ứng cho nguyện vọng của chúng, chúng ta sẽ gõ cho vết nức kéo dài vô tận, tập trung dân chúng bị áp bức trên toàn thế giới, nhất tề đứng lên làm bạo động, hàng ngàn hàng vạn người bị áp bức đứng lên đấu tranh với hàng ngàn hàng vạn kẻ áp bức. Chủ trương của Tôn Trung Sơn thế là đã được thực hiện. Nhưng khi chúng ta bắt tay và thực hiện, phải tổ chức được liên minh các dân tộc nhỏ yếu, sau đó dùng búa sắt trong tay, thao tác thành thạo, thì mới có thể tự do bình đẳng trên thế giới.

Gõ nồi cần phải có kỹ thuật, nhẹ cũng không được, mạnh cũng không xong. Gõ nhẹ thì vết nứt không thể kéo dài, là vô ích; nếu gõ mạnh, thì vết nứt quá dài không thể hàn lại được. Nếu muốn mạnh nhẹ vừa phải thì nhất định phải nghiên cứu kỹ Hậu Hắc Học. Trong kịch có một vở “Vá chậu”, vừa gõ búa xuống, chiếc chậu đã vỡ tan tành. Cách gõ này, phải nói là hết sức tầm thường. Trên thế giới, nếu chúng ta làm như vậy, quả thật là ngoại giao điên rồ, sao đủ tư cách nói Hậu Hắc Học!

Tôi giảng Hậu Hắc Học đã từng nói rằng: “Quản Trọng khuyên Tề Hoàn Công phạt Sở, đem nồi của Sở đánh cho nát rồi vá lại”. Cách gõ này của ông ta rất có kỹ thuật. Nước Sở có hai tội danh: một là khi Chu thiên tử còn sống đã không dám xưng vương; hai là các chư hầu ở Hán Dương đều bị Sở tiêu diệt, đây vốn là hai tội danh lớn rành rành. Sở phái người đi hỏi nguyên do xuất binh, Hoàn Công phái Quản Trọng trả lời rằng: “Bao mao mà các người vốn phải cống nạp đã không mang đến đúng hạn, không dâng vật dụng cúng tế của Chu Vương, không có dụng cụ lọc rượu, quả nhân phải hỏi các người”. Lại nói: “Chiêu Vương nam chinh chưa trở về, quả nhân phải hỏi các người”. Bỏ đi hai tội lớn, mà chỉ trách hỏi những chuyện vặt vãnh, há chẳng phải là chuyện hài hước trong thiên hạ sao? Chiêu Vương qua Hán Thủy, thuyền lật mà chết, có liên quan gì với Sở? Huống hồ sự việc cũng đã vài trăm năm, càng không có lý do. Quản Trọng là nhân tài trong thiên hạ, đây là lời do chính ông đáp lại, lẽ nào chưa được suy xét sao? Ông ấy là nhà Hậu Hắc nổi tiếng, ban đầu ông đã dùng cách hàn nồi, đã chừa cho cách cưa mũi tên một lối thoát. Giả như công bố tội trạng thật sự của nước Sở, bảo ông ta bỏ đi vương hiệu, đem trả đất đai của các nước chư hầu ở Hán Dương, nước Sở chẳng lẽ không liều mình quyết chiến với Tề sao? Anh nghĩ trận đánh Trường Thược, nước Tề ngay cả một nước yếu như Lỗ cũng không thắng nổi, họ có dám đánh với nước Sở không? Đánh phải mượn chiêu bài của Chu Tử, gõ nhè nhẹ vào nước Sở. Sở đường đường là nước lớn, Quản Trọng không dám làm mất mặt họ, trách hỏi chuyện Chiêu Vương không quay về, cố ý làm cho nước Sở có cái mà biện hộ. Sở Vương có thể nói với quần thần rằng: “Ông ta trách hỏi hai việc, có một chuyện, ta chửi ông ta bỏ về, chửi đến nỗi ông ta câm như hến, bao mao là một loại lau sậy ven sông, Chu thiên tử là bề trên lúc xưa của ta, đốn vài bó mang tặng ông ta là được rồi”. Đây cũng chính là tác dụng kỳ diệu của Quản Trọng, miệng chửi vô cớ, dâng bao mao là biểu hiện hiện vật, Tề Hoàn Công vác bao mao đến dâng cho Chu thiên tử, đó là minh chứng nước Sở quy phục. Xưa kia, chuyện đại sự quốc gia chỉ có cúng tế và quân sự, khi Chu thiên tử cúng tế, bày bao mao ra, dán lên một miếng giấy màu đỏ, trên đó có ghi: “Đây là bao mao của nước Sở dâng”. Các chư hầu nhìn thấy, vẻ mặt của Chu thiên tử chẳng phải sẽ rạng rỡ sao? Nước Sở hàng phục, các nước nhỏ dám dị nghị không? Tôi viết “Hậu Hắc truyện tập lục” từng nói: “Trận chiến Triệu Lăng, ban đầu dùng cách hàn nồi, sau cùng dùng cách cưa mũi tên”. Tác dụng kỳ diệu của nó chính là như vậy. Chúng ta tổ chức được liên minh các dân tộc nhỏ yếu, liền dùng cách dùng búa sắt gõ nhẹ lên chiếc nồi của cường quốc, chờ đến khi thời cơ thích hợp thì dùng cách cưa thân mũi tên cho xong chuyện. Đến một lúc nào đó, lại gõ tiếp, thân mũi tên nhô ra một đoạn, lại dùng cưa cắt nó đi. Tiếp tục gõ như vậy, không ngừng cưa như thế, đợi đến chung cuộc, đầu mũi tên sẽ xuất hiện, nhẹ nhàng dùng tay nhặt nó ra, thế là cách cưa mũi tên đã kết thúc, nồi cũng được vá xong.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB ĐN 2010.

Hậu Hắc tùng thoại – Phần XXI


Người bình thường đều cho rằng Hội nghị Paris, Wilso Hậu Hắc thất bại, chẳng biết rằng sự thất bại của Wilson cũng tức là sự thành công của Wilson; ông là tổng thống Mỹ thứ 28, thử hỏi: Các vị tổng thống trước đây, các vị độc giả còn nhớ tên được mấy người? Tôi nghĩ, ngoài Washington và Lincoln danh tiếng lừng lẫy ra, người thứ ba e rằng phải kể đến Wilson. Ai phê bình như thế nào đi chăng nữa, thì ông vẫn được xem là nhân vật nổi tiếng trong lịch sử. Hỏi rằng ông ta rèn luyện thế nào mà có được như vậy, chẳng là dùng cách vá nồi và cưa mũi tên mà thôi, giả sử ông ta không hiểu gì về Hậu Hắc Học, thì chỉ trà trộn giữa 27 vị tổng thống trước kia, danh tính khi mờ khi tỏ, cái tên Wilson sao có thể vang vang bên tai được? Chính là công dụng to lớn của Hậu Hắc đấy! Thành công thì có thể xây dựng sự nghiệp hưng thịnh ngàn năm bất hủ, thất bại thì cũng lưu danh cung vũ trụ, các vị độc giả, hãy nhanh chân bái tôi làm thầy, chỉ cần làm cho mặt trở nên dày, tâm trở nên đen, thì khi bước ra vũ đài thế giới bảo đảm sẽ lưu danh thiên cổ, bảo đảm các vị sẽ đánh cho bọn cường quốc trên thế giới phải bỏ gươm giáo binh sĩ mà tháo chạy.

Hội nghị Paris tập hợp các nhà Hậu Hắc trên thế giới tìm cách hất cẳng nhau, giống như một trận so tài trên vũ đài của quyền thuật gia. Chúng ta ở dưới đài, nhìn thấy rất rõ quyền pháp của họ, nên dùng quyền pháp nào mới có thể đánh bại họ thì người ở dưới đài biết rõ nhất, người trên đài ngược lại thản nhiên không nhận ra. Lúc đầu Wilson đề ra chủ trương “dân tộc tự quyết” đã nhận được sự hoan nghênh của các dân tộc nhỏ yếu, vô cùng căm ghét bọn Anh, Pháp, Nhật, từ đó có thể thấy rằng bốn chữ “dân tộc tự quyết” có thể đánh vào chỗ hiểm của bọn cường quốc. Sau này Nhật Bản đề ra chủ trương “nhân loại bình đẳng”, Wilson liền im phăng phắc, chủ trương “dân tộc tự quyết” bị xóa tan một cách vô hình, từ đó có thể thấy bốn cữ “nhân loại bình đẳng” có thể đánh trúng vào chỗ hiểm của người Âu Mỹ. Nếu nước tôi đề xướng chủ trương “liên minh các dân tộc nhỏ yếu” và kết hợp chủ trương “dân tộc tự quyết” của Wilson với chủ trương “nhân loại bình đẳng” của Nhật Bản, há chẳng phải hoàn toàn có thể đánh trúng vào chỗ hiểm của bọn chúng sao?

Mỹ và Nhật đều đứng trên lập trường của kẻ đàn áp, chủ trương “dân tộc tự quyết” của Wilson và chủ trương “nhân loại bình đẳng” của Nhật Bản, chẳng qua chỉ là nói suông, hoàn toàn không có quyết tâm thực hiện, nhưng đã làm kinh động cả thế gian, hù dọa được bọn cường quốc; nước tôi đứng trên lập trường của người bị áp bức, thực hiện theo con đường này, lời nói như thế nào thì trên thực tế làm như thế đó, đồng thời cố gắng thực hiện, đương nhiên thu được hiệu quả rất lớn.

Chẳng hạn như đánh trận, trước tiên phải thám thính một chút, sau đó dẫn binh đánh thử một chút, mới biết được chỗ nào của địch là hư, chỗ nào là thực, rồi tìm hiểu kỹ lưỡng những cái hư thực đó, sau đó mới tấn công ào ạt vào điểm yếu của chúng. Lục Tốn đánh bại Lưu tiên đế, chính là vì đã sử dụng phương pháp này. Lưu tiên đế liên doanh 700 dặm, Lục Tốn trước tiên tấn công vào một doanh trại yếu, bèn nói với mọi người rằng: “Chỗ hư của chúng, ta đã biết rồi, ta đã có cách phá nó”. Thế là phóng hỏa thiêu rụi, lần lượt toàn quân của Lưu tiên đế thất bại thảm hại. Wilson đề ra chủ trương “dân tộc tự quyết” đã làm chấn động thiên hạ, xem như là các dân tộc nhỏ yếu đã thám thính một chút. Nhật Bản đề ra chủ trương “nhân loại bình đẳng”, liền kẹp lấy Wilson, xem như là dẫn binh đánh thử một chút vào bọn cường địch. Mấy vị Hậu Hắc gia của họ sẽ bộc lộ ra hết những yếu điểm của mình. Chúng ta sẽ tấn công ào ạt vào yếu điểm đó, đế quốc chủ nghĩa của chúng đương nhiên có thể nhất tề bị tiêu diệt.

Sự thất bại của Lưu tiên đế là do liên doanh 700 dặm, chiến tuyến quá rộng. Lục Tốn lệnh cho binh sĩ mỗi người mang theo một bó cỏ, cách một doanh trại thì phóng hỏa đốt một doanh trại, đồng loạt hành động, Lưu tiên đế không còn ngõ chạy, lần lượt toàn quân thất bại thảm hại. Thuộc địa của các cường quốc quá nhiều, giống như Lưu tiên đế liên doanh 700 dặm vậy. Chúng ta tập hợp các dân tộc nhỏ yếu trên toàn thế giới, đồng loạt hành động, giống như Lục Tốn thiêu rụi liên doanh, khắp nơi đỏ rực, các cường quốc không còn lối thoát, chủ nghĩa đế quốc của chúng đương nhiên sẽ thất bại thảm hại. Nước Anh khoe khoang rằng: Phàm là nơi có mặt trời chiếu rọi, đều có cờ của quốc gia Anh. Chúng ta tổ chức xong “Hội liên hiệp các dân tộc nhỏ yếu”, có thể nói: Phàm là nơi có mặt trời chiếu rọi, người Anh quốc đều nên bị đánh.

Lưu tiên đế đã trải qua trăm trận, nên rất tự cao, cho rằng Lục Tốn là thiếu niên, nên rất xem thường. Nào ngờ rằng, Lục Tốn có thể nhẫn nhục để gánh vác việc lớn, là nhân tài mới nổi trong giới Hậu Hắc, bất ngờ nổi lên, xuất kỳ bất ý, đánh cho lão Hậu Hắc thất bại thảm hại. Bọn chủ nghĩa đế quốc khinh thường chúng ta, tự cao tự đại, nước ta chịu sự ức hiếp, mọi việc đều nhượng bộ, nhẫn nhục mà gánh vác việc lớn, đã từ rất lâu, đương nhiên phải học Lục Tốn, bất ngờ nổi dậy, ra sức tấn công.

Tôi là tu nghiệp sinh của trường Bát cổ, Bát cổ của Trung Quốc uyên bác tinh thâm, quả thật là vẻ đẹp của tông miếu, sự giàu có của bá quan. Tôi học hành 10 năm, chỉ có thể gọi là tu nghiệp sinh, không dám nói đã tốt nghiệp. Tôi viết Bát cổ có hai bí quyết: một là sao chép bản cổ, hai là bài văn phiên án. Thầy ra đề bài, tôi tìm một đề văn tương tự, sửa đổi chữ số một chút, rửa tay đề chữ, gọi là sao chép bản cổ. Tôi chủ trương liên minh các dân tộc nhỏ yếu, đây là sao chép bản cổ của Quản Trọng, Tô Tần và Gia Cát Lượng. Mọi người thường nói, bí đao không làm nên cái nồi, tôi nói, bí đao có thể làm nồi, hơn nữa, nồi được làm từ bí đao sẽ tốt hơn bất cứ nồi nào trên thế giới. Sao lại nói như vậy? Nồi trên thế giới chỉ có thể ăn được những thứ nấu bên trong nồi, còn cái nồi thì không ăn được, chỉ có nồi làm từ bí đao thì ngay cả nồi cũng có thể ăn được. Cách nói này, đây gọi là bài văn phiên án. Tôi nói: Hậu Hắc có thể cứu quốc, giống như bí đao có thể làm nồi, cho nên, học thuyết của tôi có tác dụng thiết thực nhất là có thể làm cơm ăn.

Sao chép bản cổ luôn phải tỏ ra cao siêu, Gia Cát Vũ Hầu trị quốc làm theo Thân Hàn, ngoại giao làm theo Tô Tần, rõ ràng là học hỏi khắp nơi, hậu nhân lại nói ông ta có khí chất Nho giả, rõ ràng là nhân tài bên cạnh cường hào, lại nói là nhân tài bên cạnh đế vương. Ông ta có thể xem là bậc kỳ tài về sao chép bản cổ.

Người sao chép văn tự chỉ thích sao chép văn có kiểu Trung Quốc, chẳng biết rằng nên sao chép bài chưa được tuyển chọn, bốn chữ “chủ nghĩa nhiệt huyết” là văn được viết theo kiểu Trung Quốc của Bismarck, chúng ta tuyệt đối không được sao chép, bốn chữ “dân tộc tự quyết” là thứ chưa được tuyển chọn của Wilson, bốn chữ “nhân loại bình đẳng” là thứ chưa được tuyển chọn của Nhật Bản, nếu rửa tay đề bút nhất định sẽ đỗ cao. Những chuyện như biến cố 918, thà nói với liên minh quốc tế, nói với các nước Anh Mỹ, chi bằng hãy nói với những nước man di như Phi Châu, Úc Châu, nói với những vong quốc như Cao Ly, Đài Loan, nhìn từ bên ngoài, giống như là viết bài văn phiên án, nhưng thực ra là sao chép bài chưa được tuyển chọn của Wilson, sao chép bài chưa được tuyển chọn của Nhật Bản.

Trước kia, khi Tứ Xuyên chưa sửa chữa đường sá, mỗi khi đi đường, nhìn thấy xe đẩy, xe nâng, xe ngựa, xe ngựa thồ, gánh nước… đi đi lại lại giống như đàn kiến, chỗ rộng rãi bằng phẳng thì yên ổn đi qua, đến đoạn đường hẹp, liền mắng chửi lẫn nhau ỏm tỏi, anh chửi tôi đi sai đường, tôi chửi anh đi sai đường. Trong lòng tôi thầm nghĩ: Đi sai đường là như thế nào, chẳng qua là vì con đường nhỏ hẹp. Các tổ chức và chính quyền nước tôi tập trung ở phía trên, bất luận anh có hoài bão gì, nếu không nắm được chính quyền thì không thể phát huy được. Thế là, anh nói tôi sai, tôi nói anh sai, thật ra là đúng, trên vũ đài chính trị, địa vị có hạn, nên không thể dung nạp nhiều người, giống như đi đến đoạn đường hẹp vậy. Chẳng trách sao các chí sĩ trong nước cứ cãi nhau không ngừng.

Nói về ngoại giao, chúng ta mở rộng con đường để đi, không được dồn trách nhiệm cho vài nhà lãnh đạo. Đường rộng là như thế nào? Chủ trương đề xướng tổ chức liên minh các dân tộc nhỏ yếu là con đường vô cùng rộng rãi, vũ đài rất lớn, mặc dù có vài người cũng có thể dung nạp được. Đảm nhiệm rất nhiều công việc ở nước ngoài. Mục tiêu của toàn thể nhân dân đều tập trung vào một điểm là liên minh các dân tộc nhỏ yếu, từng tia sức mạnh sẽ không xung đột với nhau, không nói là hợp tác nhưng trong đó đã có hợp tác. Có đại lộ rộng rãi bằng phẳng này thì vũ đài chính trị chỉ là một bộ phận nhỏ, không cần tranh giành chính quyền thì công tác cứu quốc cũng có thể biểu hiện được. Trong các đảng cũng không cần cãi vã ầm ĩ nữa.

Ở nước Dân chủ, nhân dân là hoàng đế, đáng tiếc là bá tánh nước tôi không muốn làm hoàng đế anh minh, mọi người đều tự coi mình là A Đẩu, hy vọng xuất hiện một Gia Cát Lượng, đánh bại bọn Nhật Bản, đánh bại bọn cường quốc, tất cả A Đẩu đều thích ngồi không hưởng thụ. Tôi không kìm được mà thốt lên rằng: Bệ hạ sai lầm ư! A Đẩu là chủ của vong quốc! Có A Đẩu là sẽ có Hoàng Hạo, Gia Cát Lượng ngàn năm không xuất hiện, hơn nữa ắt tam cố sau này sẽ xuất hiện, Hoàng Hạo có mặt khắp mọi nơi, không mời mà đến. Nước tôi sở dĩ cận kề nguy cơ mất nước, chính là vì bá tánh cả nước đều tự xem mình là A Đẩu. Tôi đành phải trích dẫn nguyên văn một câu trong “Xuất Sư Biểu” rằng: “Bệ hạ không nên không biết tự trọng, coi nhẹ giá trị của bản thân”. Chúng sao không xem mình là một Gia Cát Lượng, là một Lưu tiên đế. Hậu Hắc giáo chủ tôi đây, đánh bạo xem mình là Gia Cát Lượng, tôi viết “Hậu Hắc tùng thoại” chính là “Long Trung đối” của tôi. Tôi hy vọng các vị độc giả đều trở thành Gia Cát Lượng, mỗi người đề xướng một chủ trương, bao nhiêu người sẽ có bấy nhiêu bài “Long Trung đối”. Đồng thời, chúng ta cũng hóa thân thành Lưu tiên đế, trở thành hàng ngàn hàng vạn Lưu tiên đế, để thực hiện công tác liên Ngô phạt Ngụy, nghĩ ra nhiều cách liên kết thống nhất các nước chậm tiến như Phi Châu, Úc Châu với các vong quốc như Cao Ly, Ấn Độ, An Nam, Miến Điện, tiến đánh chủ nghĩa đế quốc.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB ĐN 2010.

Hậu Hắc tùng thoại – Phần XX


Có hình thế cục diện của Xuân Thu Chiến Quốc, chính sách của Quản Trọng Tô Tần lần lượt sinh ra gặp thời, có hình thế cục diện ngày nay, chính sách của Wilson cũng là sinh ra đúng dịp, chủ trương liên minh quốc tế của Wilson đại loại cũng giống với chính sách của Quản và Tô, chủ trương của ông tuy đúng, nhưng rốt cuộc không thể thành công, cũng giống như Tô Tần vậy. Tuy nhiên chúng ta hãy suy luận từ góc độ nguyên lý khoa học, nếu muốn toàn thế giới hòa bình vĩnh cửu, thì nhất định phải đi theo con đường của Quản Trọng và Tô Tần, nhất định phải đi theo con đường của Wilson. Liên minh quốc tế hiện nay đã lâu đời không còn thích hợp sử dụng nữa, nên tiêu hủy chúng đi, nước tôi đã phát động thành lập một tổ chức “liên minh các dân tộc nhỏ yếu” riêng.

Wilson đề ra khẩu hiệu “dân tộc tự quyết”, nhận được sự hoan nghênh của các dân tộc nhỏ yếu. Chúng tôi tổ chức liên minh các nước nhỏ yếu, nằm ngoài “dân tộc tự quyết”, lại thêm khẩu hiệu “hỗ trợ các dân tộc nhỏ yếu”, đối nội tự quyết, đối ngoại hỗ trợ, đương nhiên càng được hoan nghênh. Hơn nữa, Wilson chẳng qua chỉ hô khẩu hiệu, còn chúng tôi tổ chức liên minh các dân tộc nhỏ yếu là có cơ quan đặc biệt dẫn dắt, càng dễ dàng thành công.

Chủ trương “dân tộc tự quyết” của Wilson, sở dĩ thất bại là vì bản thân nó có mâu thuẫn. Họ là những dân tộc bị áp bức, Wilson là đại biểu nước Mỹ, mà nước Mỹ là một trong các cường quốc, là đứng trên lập trường của kẻ áp bức. Cá nhân Wilson tuy có chủ trương này, ông ấy làm sao không giống lập trường của nước Mỹ chứ? Nước tôi và các dân tộc nhỏ yếu cùng đứng trên một lập trường, nên đề xướng dân tộc tự quyết và thành lập liên minh các dân tộc nhỏ yếu, cùng nhau tương trợ nên đã quyết định thành công vậy.

Còn về việc sở dĩ Wilson thất bại trong hội nghị hòa bình là do ông ấy xuất thân không thoát khỏi bản sắc thư sinh, chưa từng nghiên cứu Hậu Hắc Học. Thời gian đầu Mỹ tham chiến, đề ra 14 nguyên tắc, chủ trương dân tộc tự quyết. Hội nghị hòa bình Paris sơ khai, các dân tộc nhỏ yếu trên toàn thế giới đều xem Wilson như vị cứu thế, cho rằng những đau khổ của họ có thể giải trừ ở hội nghị hòa bình. Chẳng ngờ Georges – Louis của Anh, Kley Monthir của Pháp là người nghiên cứu rất kỹ Hậu Hắc Học. Kley Monthir có biệt danh là “sâu mẹ lớn” cực kỳ hung hãn, mới nghe Wilson danh tiếng lẫy lừng nhưng sau khi gặp mặt, mới biết là tài hèn sức mọn, luôn luôn nhạo báng, thậm chí nói rằng: “Thượng đế chỉ có 10 điều răn, ông đề ra 14 nguyên tắc, còn nhiều hơn thượng đế 4 điều, chỉ đành đem đi thi hành ở thiên quốc”. Wilson đành phải nhẫn nhịn. Về sau, đại biểu toàn quyền Italy hạ cờ về nước, đại biểu toàn quyền Nhật Bản cũng phải hạ cờ lui về nước, làm cho Wilson vô cùng sợ hãi, cúi đầu nghe theo, tiếp nhận yêu cầu của chúng, còn bốn chữ “dân tộc tự quyết” cũng dần vỡ tan.

Ví như tôi là Wilson, tôi sẽ giả điên giả dại, mặc kệ sự nhạo báng của chúng, ngồi trên ghế hội nghị hòa bình, không nói lời nào, đợi đến khi Italy hạ cờ về nước, Nhật Bản hạ cờ về nước, chúng đã cút ra khỏi bờ cõi, mới bất ngờ đứng dậy, vỗ bàn nói rằng: “Các người muốn làm như thế sao? Ban đầu tôi đề ra 14 nguyên tắc, chủ trương dân tộc tự quyết, các người đã đồng ý rồi, nước Mỹ tôi mới tham chiến, nhưng hôm nay các người làm như vậy, làm tôi thất tín với dân chúng nước Mỹ, thất tín với các dân tộc nhỏ yếu trên toàn thế giới, hôm nay đành phải thống lĩnh toàn bộ các dân tộc nhỏ yếu trên toàn thế giới quyết đấu một trận sống chết với bốn nước Anh, Pháp, Italy, Nhật các người, mới có thể thấy nên thông cảm cho hậu thế thiên hạ. Ông nói 14 nguyên tắc của tôi nên thi hành ở thiên quốc, ông xem chỉ trong một tuần, tôi sẽ nhuộm đỏ máu tươi trên khắp địa cầu này, trong máu tươi này sẽ xuất hiện một thiên quốc và cùng xem với ông!” Nói xong, rút khỏi hội nghị hòa bình, vận dụng cách hàn nồi của tôi, đập vỡ đít nồi rồi nói, trong 30 phút, thông báo cho toàn thế giới, kêu gọi các dân tộc nhỏ yếu nhất tề đứng lên phản kích lại bọn cường quốc, do nước Mỹ chỉ huy chiến đấu. Cứ như vậy, xin hỏi Anh, Pháp dám khai chiến không? Ngày nay sự thật đều hiện diện, chúng ta có thể nghiên cứu một chút, sức chiến đấu của nước Đức hoàn toàn không bị tổn thất, điều đau đớn nhất chính là thức ăn đã bị bọn cường quốc phong tỏa. Đành phải chịu nhận tiếp tế lương thực của chúng, chỉ cần một nước Đức là đủ để đối phó với Anh, Pháp. Thời gian đầu của đại chiến, Anh, Pháp cho thuộc địa rất nhiều quyền lợi, các dân tộc nhỏ yếu vứt bỏ thù hằn ngày trước, cùng nhau tương trợ. Gandhi của Ấn Độ cũng kêu gọi đồng đảng của mình giúp đỡ cho nước Anh, mong muốn sau khi chiến thắng, có thể ngẩng đầu lên, nào ngờ trong hội nghị hòa bình, bọn cường quốc nuốt lời, các dân tộc nhỏ yếu đang ngậm máu phun người. Có chủ trương của Wilson, còn không lập tức quay giáo sao? Hơn nữa, nước Mỹ là quân tăng cường, quốc gia lại giàu có, Anh, Pháp đã sức tàn lực kiệt, nếu tiến hành khai chiến, có thể khẳng định rằng: Trong vòng một tuần, chắc chắn sẽ đánh cho bọn Anh, Pháp tan tác tả tơi. Trận hỏa chiến này, xin hỏi Anh, Pháp có dám đánh không? Nếu muốn nước Mỹ tôi không đánh, trừ phi hãy thi hành từng điều trong 14 nguyên tắc của tôi, đồng thời cần phải cho thêm một chút lợi ích, đặc biệt phải thêm vào hai điều. Tại sao lại như vậy? Vì nước Anh, Pháp các người, vốn không tín nghĩa, điều kiện rõ ràng đã được đồng ý cũng nuốt lời hứa, cho nên, ngoài 14 điều trên, nhất định phải thêm hai điều để bảo đảm hơn. Nếu Wilson quả nhiên làm như vậy, lẽ nào chủ trương dân tộc tự quyết không thể thực hiện sao? Tiếc rằng, Wilson vừa nhìn thấy sứ thần Italy và Nhật Bản hạ cờ rút quân về nước thì chân tay luống cuống, dùng “cách cưa mũi tên” cho xong chuyện, lại làm mất đi cơ hội ngàn năm có một này, tiếc thay! Tiếc thay! Không lâu sau, đầu mũi tên ở bên trong lần lượt phát huy tác dụng, bốn tỉnh đông bắc nước tôi, vô cớ mất đi, Ethiopia vô cớ bị Italy tàn phá. Cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai sắp bùng nổ. Tất cả những điều này, đều do Wilson trong hội nghị hòa bình thiếu đi một cái vỗ bàn. Vì vậy, Hậu Hắc Học không thể không nói!

Cách làm trên, với học thức của Wilson lẽ nào ông ta không nhìn thấy? Nói Wilson là con mọt sác, không hiểu Hậu Hắc Học, những người cùng đi với ông ta đến hội nghị hòa bình có biết bao nhân tài chuyên môn, biết bao nhà ngoại giao, ai ai cũng là người tới lui chốn Hậu Hắc, lẽ nào kỹ thuật Hậu  Hắc thô thiển nông cạn này cũng không hiểu được, còn chờ Lý điên này nói sao? Bọn họ hiểu  thì có hiểu, nhưng không muốn làm như vậy, nguyên nhân chính là các dân tộc nhỏ yếu là những kẻ bị áp bức, nước Mỹ là một trong những kẻ áp bức.

Wilson đề ra bốn chữ “dân tộc tự quyết” đã mâu thuẫn với lập trường của nước ông ta. Nhật Bản là nước nghiên cứu rất kỹ Hậu Hắc Học, nhìn thấy  được Wilson có nhược điểm này, liền đề ra “nhân loại bình đẳng”, đánh thắng vào nhược điểm của ông ta. Nhưng Wilson là người thông minh thiên bẩm, ông ta chưa hề đọc qua bản dịch của Hậu Hắc Học, lại hiểu được triết lý của Hậu Hắc Học, ông ta biết rõ chủ trương dân tộc tự quyết thì các cường quốc sẽ không đồng ý, lại khua chiêng đánh  trống ầm ĩ, đến nỗi làm chấn động cả thế gian, đó chính là “cách hàn nồi” trong “hai cách làm việc khéo léo” của bỉ nhân, gõ vào vết nứt của nồi cho nứt dài ra thêm, nhân đó mà tự đề cao mình,chờ đến khi đại biểu toàn quyền của Italy và Nhật Bản hạ cờ rút lui về nước, ông ta liền qua loa cho xong chuyện. Wilson có thể nói với thế giới rằng: “Chủ trương dân tộc tự quyết, sở dĩ không thể quán triệt được, không phải do tôi không tận sức, mà tiếc hoàn cảnh không cho phép! Tiếc rằng Anh, Pháp, Italy, Nhật đều không đồng ý”. Không khác gì bác sĩ ngoại khoa nói với mọi người: “Tôi chỉ cưa thân mũi tên chứ không lấy đầu mũi tên ra, không phải bác sĩ ngoại khoa không tận lực, mà tiếc rằng bác sĩ nội khoa khoanh tay đứng nhìn”. Ôi, Wilson quả thật là thánh nhân của giới Hậu Hắc ư?

Bát cổ tiên sinh của Trung Quốc có nói: “Đông Hải có thánh nhân. Tây Hải có thánh nhân, nội tâm cảu ông ta giống điều này, đạo lý của ông ta cũng giống như vậy”. Tôi phát minh cách hàn nồi cưa mũi tên, đây chính là thánh nhân phương Đông tiên tri tiên giác vậy. Wilson thực hành cách hàn nồi, cưa mũi tên, không miễn cưỡng xử sự hợp lý với người khác, không cần để tâm suy nghĩ tìm tòi ngôn ngữ hành động thỏa đáng, tuy muốn không gọi là Tây phương thánh nhân cũng không thể được.

Tôi rất hoài nghi ngày ấy: Wilson xuất thân từ sách của Lão giáo, là một con mọt sách, sao có thể hiểu được cách hàn nồi và cưa mũi tên? Về sau, tôi khảo sát rất nhiều, mới biết rằng đứng phía sau ông ấy có một vị quân sư, ông ta là một nhà âm mưu nổi tiếng, là trí óc của Wilson. Wilson làm tổng thống, ông ta ra sức nhiều nhất. Đa số các thành viên nội các đều do ông ta tiến cử. Các vấn đề như nước Mỹ tuyệt giao tham chiến, vấn đề Sơn Đông đều là chủ trương của ông ấy. Ông ta chuyên đứng sau điều khiển, Wilson chẳng qua chỉ là bù nhìn mà thôi. Wilson nghe theo và tin tưởng lời nói của ông ta, giống như Lưu Bang nghe và tin Trương Tử Phòng. Nếu chúng ta thừa nhận Lưu Bang là Hậu Hắc thánh nhân, thì có gọi Wilson là Hậu Hắc thánh nhân, cũng không quá khen.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB ĐN 2010.

Hậu Hắc tùng thoại – Phần XIX


Chính sách “liên minh các nước nhỏ yếu lại để đánh nước mạnh” là do Tô Tần nghiền ngẫm trong suốt một năm mới nghiên cứu ra, đây là chính sách mà Khổng Minh đã cùng các danh sĩ luận bàn được khi ẩn cư ở Nam Dương, trong đó hàm chứa đạo lý vô cùng sâu sắc. Mọi người gọi Khổng Minh là tài năng bên cạnh đế vương, chẳng biết rằng: Khổng Minh không chịu yên ổn, rất gần Đạo gia, những sách mà ông đọc khi còn sống chỉ là hai bộ Hậu Hắc giáo khoa thô thiển nhất, bộ thứ nhất là Hàn Phi Tử, bộ thứ hai là Chiến Quốc Sách, kỹ thuật trị quốc của ông ấy, chỉ học theo Thân Hàn, từng viết Thân Hàn để dạy hậu chúa, sách của Thân Tử không truyền lại, đợi đến khi tôi giảng về Hậu Hắc chính trị sẽ bàn luận sau. Chính sách ngoại giao của ông chỉ làm theo Tô Tần. Trong Chiến Quốc Sách, Tô Tần nói với Hàn Vương rằng: “Thần nghe Bỉ ngạn nói rằng: “Thà làm miệng gà chứ không làm đít trâu”. Nay đại vương đã chắp tay ở phía Tây, dùng đạo bề tôi để phục dịch nước Tần, khác gì với đít trâu chứ?” Hàn Vương tức giận biến sắc, xắn tay vịn kiếm, ngửa lên trời than rằng: “Quả nhân tuy chết, cũng không thể phục tùng nước Tần”. “Tam Quốc Chí” ghi rằng: Khổng Minh nói với Tôn Quyền, bảo ông ta bỏ vũ khí đầu hàng, phía Bắc hàng Tào, Tôn Quyền giận dữ nói rằng: Ta không thể mang toàn bộ lãnh thổ của nước Ngô và mười vạn đại quân cho kẻ khác điều khiển! Chúng ta đối chiếu quan điểm của họ, chính sách của Khổng Minh, há chẳng phải là giống với Tô Hậu Hắc sao?

Chính sách “liên minh các nước yếu lại để đánh nước mạnh”, nếu không quy hoạch chung toàn cục mà xem xét từ góc độ lớn sẽ không thể nhìn thấy được. Chính sách này ở Thục chỉ có một mình Khổng Minh có thể hiểu được, ở Ngô chỉ có một mình Lỗ Túc là có thể hiểu rõ. Lỗ Túc chủ trương thâu tóm Kinh Châu, liên hợp với Lưu Bị, tầm nhìn xa trông rộng của ông ấy, cơ hồ muốn trên cả Khổng Minh. Quan Vũ nước Thục, Chu Du nước Ngô, Lã Mông, Lục Tốn đều xưng là anh hùng hào kiệt, nhưng chỉ nhìn thấy lợi hại nhỏ trước mắt, không hiểu gì về chính sách lớn này cả. Lưu Bị, Tôn Quyền có hiểu chút ít, nhưng đáng tiếc là không hiểu rõ ràng, nên không nắm vững, lúc thì liên kết, lúc thì tan rã, sau khi tan rã, thì lại liên kết. Người hiểu rõ nhất chính là Tào Tháo. Ông ta nghe nói Tôn Quyền đem Kinh Châu cậy nhờ Lưu Bị, hai người liên hợp lại, bút đang cầm trong tay cũng rơi xuống. Thực ra, Tôn Lưu liên kết, chẳng qua là sao chép lại bản cũ của Tô Hậu Hắc, Tào Tháo là kẻ gian hùng thiên cổ, nghe xong cũng kinh hồn bạt vía, cho thấy sự lợi hại của cách làm này.

Từ sự nghiên cứu trên, có được kết luận sau: “Ngày nay, nếu Gia Cát Vũ Hầu phục sinh, chính sách của ông ấy nhất định là: Đẩy lùi liên hợp quốc tế, tổ chức liên minh các dân tộc nhỏ yếu trên thế giới để chống lại các đại cường quốc”.

Khổng Mạnh nói đạo đức, mưu sĩ thời Chiến quốc, ắt nói đến sự lợi hại, người bình thường biết được có lợi hại, nhưng không biết có đạo đức, do đó, suốt đời của Khổng Mạnh vẫn không gặp được cơ may, còn các mưu sĩ ắt sẽ cùng bàn bạc và đạt được sự vẻ vang của khanh tướng. Tô Tần nói sáu nước liên minh, được lập luận từ lợi hại, lời nói dễ nghe, nên vua của sáu nước răm rắp làm theo, Trương Nghi giải phóng liên minh, cũng dựa theo lợi hại mà lập luận, lời lẽ dễ nghe, vua của sáu nước cũng răm rắp làm theo. Xin hỏi, cùng một sự việc, tại sao dùng hai thuyết cực đoan tương phản và có thể rung động lòng người? Rốt cuộc hai thuyết của Nghi và Tần thì cái nào có chân lý hơn? Cái nào không phải là chân lý? Chúng ta nên hiểu rõ vấn đề này, trước tiên nêu hiểu rõ con người trong xã hội đều có một quy luật chung, quy luật chung đó như thế nào? Chính là “lợi hại nhỏ trước mắt và lợi hại lớn sau này, luôn luôn tương phản nhau”. Chẳng hạn như, nhịn thèm khát, lao động gân cốt, chính là cái hại nhỏ trước mắt, nhưng sau này sẽ có vô vàn hạnh phúc, tức là cái lợi lớn vậy. Tham tài sắc, ham mê yên vui, đây chính là cái lợi nhỏ trước mắt, nhưng sau này sẽ có rất nhiều họa tai, tức là cái hại lớn vậy. Tô Tần nói sáu nước liên minh, được lập luận từ cái lợi hại to lớn sau này. Trương Nghi giải phóng liên minh, được lập luận từ cái lợi hại nhỏ trước mắt, người bình thường có cách nhìn thiển cận, tuy xem Quan Vũ, Chu Du, Lã Mông, Lục Tốn là những bậc tài trí, còn khó tránh bị mê hoặc bởi những cái lợi hại nhỏ trước mắt, huống hồ các bậc hôn quân của sáu nước, nên lời nói của Trương Nghi, vừa nói là đã lọt tai.

Chúng tôi đề xướng “liên minh các dân tộc nhỏ yếu”, người nghe ắt rất kinh ngạc, cho rằng thế lực của chủ nghĩa đế quốc lớn mạnh như vậy, chúng ta tổ chức liên minh các dân tộc nhỏ yếu lại, chẳng phải là sẽ trêu tức chúng và chuốc lấy diệt vong sao? Mối lo ngại này, người dân bình thường ai cũng có, các vị vua của sáu nước lúc đó, cũng có nỗi lo ngại này, Trương Nghi biết họ nhát gan, bèn hù dọa rằng: “Nếu các người làm như vậy, nước Tần sẽ đánh các người như thế nào. Tôi khuyên các người nên hướng về phía Tây mà phục dịch nước Tần, sau này sẽ có lợi ích”. Sáu nước nghe theo lời của ông ta, lần lượt từng nước bị Tần tiêu diệt. Các vị hãy thử lấy Chiến Quốc Sách đọc kỹ một lần là biết được những lời mà Trương Nghị nói với sáu nước, hoàn toàn giống với việc hù dọa các dân tộc nhỏ yếu của chủ nghĩa đế quốc hiện nay. Dùng sự thật lịch sử để chứng minh, nếu nghe theo lời của Trương Nghị ắt sẽ diệt vong, có thể thấy rằng, chủ trương của Tô Tần là đúng. Luận giả ngày nay sợ trêu tức chủ nghĩa đế quốc, nên không dám tổ chức liên minh các dân tộc yếu nhỏ, vừa hay lại đi vào con đường của Trương Nghi.

Tô Tần tự cho mình không sánh kịp với bạn học Trương Nghi, sau này trở về nhà, dùng dùi đâm vào đùi, nghiền ngẫm một năm trời, lại thêm một phen khổ công rèn luyện, nên lực học của ông ngày càng vượt xa Trương Nghi, lời ra quả thật có chân lý. Mạnh Tử nói với Tề Tuyên Vương rằng: “Đất đai trong tứ hải, bao la ngàn dặm và được chia thành Cửu Châu (9 khu vực), tập trung lại có 1/9, anh lấy 1/9 để chinh phục 8/9 còn lại, chẳng phải giống với lấy Trâu địch Sở sao?” Cách nói này, dường như là khẩu khí của hợp tung. Mạnh Tử chế nhạo Công Tôn Diễn, Trương Nghi lấy phục tùng làm nguyên tắc, là đạo của người vợ, chỉ chưa nói đến Tô Tần thôi. Chúng tôi nghiên cứu kỹ lưỡng, việc Công Tôn Diễn, Trương Nghi phục tùng nước Tần giống như người vợ phục tùng người chồng, lấy phục tùng làm nguyên tắc, như Tô Tần phản kháng lại nước Tần, chính là bậc đại trượng phu “uy võ không thể khuất phục” mà Mạnh Tử đã nói.

Học thuyết của Mạnh Tử mang nhiều tính độc lập. Chúng ta đọc Mạnh Tử đáp lại câu hỏi “phục tùng Tề hay Sở” của Đằng Văn Công, đáp lại câu hỏi “nước Tề muốn xây dựng thành Tiết”, đáp lại câu hỏi “phục tùng nước lớn ắt không thể tránh khỏi”, tinh thần độc lập, bừng lên sống động trên trang giấy. Giả như Mạnh Tử, sinh ra trong thời đại ngày nay, tuyệt đối không sống nhờ vào người khác, tuyệt đối không chấp nhận điều kiện mất quyền nhục nước.

Chân lý của vũ trụ, chỉ cần có thể nghiên cứu một cách triệt để, thì kết quả thu được, đều giống như nhau, cho nên chính sách “tôn Chu trừ Di” của Quản Trọng có quy tắc phù hợp với Xuân Thu của Khổng Tử; chính sách “tập hợp các nước yếu để chống lại cường quốc” của Tô Tần có quy tắc phù hợp với học thuyết của Mạnh Tử: “Tư Trị Thông Giám” của Tư Mã Quang cũng nói hợp tung là lợi ích của sáu nước, đủ chứng minh chính sách của Tô Tần là đúng đắn. Tôi giảng Hậu Hắc Học có hai câu bí quyết: “Hậu Hắc ở bên trong, nhân nghĩa ở bên ngoài”. Giả như chúng ta công bố rõ ràng với mọi người rằng: “Chúng ta nên bắt chước theo cách liên minh sáu nước của Tô Tần, kết hợp các dân tộc nhỏ yếu trên thế giới”. Mọi người sẽ ngạc nhiên nói rằng: “Tô Tần nói về Hậu Hắc, là nhân vật hàng đầu Lý điên, lời nói của hắn ta có thể tin được không? Tin rồi sẽ mất nước ngay”. Chúng tôi cãi lại rằng: “Đây chính là di ý của Khổng Mạnh, là chính sách của Gia Cát Vũ Hầu, là chủ trương của Tư Mã Ôn Công”. Người nghe ắt sẽ nhiệt liệt đón nhận.

Đại trượng phu thà làm miệng gà chứ không làm đít trâu, thà là ngọc vỡ chứ không làm ngói lành. Chúng tôi chọn ra người tài giỏi nhất để làm thống lĩnh những người cừ nhất nước tôi nhưng vẫn không tìm được, mọi việc đều do các nước mạnh chỉ đâu đánh đó, tai họa mất nước gần ngay trước mắt. Nếu ngồi đó mà chờ chết, chi bằng hãy đứng lên tấn công; nếu nương nhờ người khác, chịu sự thả sức xâu xé của nước mạnh, chi bằng lùi lại và làm minh chủ của các dân tộc nhỏ yếu, sau đó đọ sức ngang nhau với các nước mạnh? Ý nghĩa của Xuân Thu, tuy thất bại những vẫn quang vinh hơn là không ngừng chiến thắng.

Lý Đặc đời Tấn vào đất Ngô, ngắm nhìn hình thế sông núi, than rằng: “Lưu Thiện có sông núi như vậy mà đầu hàng kẻ khác, chẳng phải là kẻ bất tài sao?” Nước tôi có đất đai dân cư như vậy, bị Tam Đảo giáp phía Đông quản chế, sau ngàn năm vạn tuế, người học sử sẽ gọi như thế nào? Ta đâu giỏi nói về Hậu Hắc, ta bất đắc dĩ thôi, phàm là dân chúng nước tôi, hãy mau mau đứng lên, nhất tề đấu tranh với nước ngoài! Các dân tộc bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới, hãy mau đứng lên, tấn công bọn cường quốc!

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB ĐN 2010.