Khâu thực thi trong quản lý kiểu Trung Quốc – Phần cuối


“Cương nhu kết hợp, đối xử chân thành”

Theo chủ trương quản lý kiểu Trung Quốc, một người lãnh đạo thực sự có uy tín phải biết giữ khoảng cách nhất định với cấp dưới, không nên quá xa cách, nhưng cũng không quá dễ dãi. Nếu bạn là một nhà lãnh đạo thì bạn phải vừa chú ý có được tình cảm của cấp dưới, đồng thời có lúc cần phải nghiêm khắc, cứng rắn, không được mềm lòng mà nương tay. Trong quá trình làm việc cần kết hợp ân và uy, cư xử bằng tình cảm chân thành, đó là bí quyết kỳ diệu của quản lý.

Niên hiệu Vĩnh Lạc (1403 – 1424) thời nhà Minh, bá quan văn võ đều rất cần mẫn làm việc, vì vậy trong thời đại vua Minh Thành Tổ biết cách dùng ngườiv à hiểu người này có rất nhiều các bề tôi nổi tiếng có tài. Minh Thành Tổ (Chu Đệ) thưởng phạt rất phân minh, đánh giá đúng tài năng, không câu nệ phẩm cấp, hơn thế ông rất chân thành đối đãi với người khác. Ông cổ vũ các bề tôi nói thẳng, nhưng những việc đại sự lại do chính bản thân mình quyết định. Đây chính là một trong những nhân tố cực kỳ quan trọng giúp ông giành được thành công trong sự nghiệp.

Minh Thành Tổ rất nghiêm túc khi hành pháp, đối với những người vì vô trách nhiệm mà gây hậu quả, nhẹ thì giáng cấp hoặc bãi chức, nặng thì giam vào ngục hoặc xử tội chết. Ví dụ quan ngự sử Ngọc Dữ và người của bộ Hình cùng cẩm y vệ đã quyết tội nhầm, dẫn đến giết chết bốn người vô tội. Sauk hi Minh Thành Tổ biết chuyện đó, ông lệnh lập tức bắt giữ bốn người trong đó có Ngọc Dữ, và ngay trong ngày hôm đó “bốn người lập tức ra khỏi thành”. Sở Tam Pháp là cơ quan hành pháp, Minh Thành Tổ căn dặn cơ quan này phải trong sạch và thương yêu bách tính, khi hành pháp phải công bằng, kh6ong được nhận hối lộ. Nếu không, “phạm tội là xử theo luật”.

Minh Thành Tổ một mình nắm quyền trị vì đất nước, các quan đại thần luôn luôn giữ lòng kính phục đối với ông, khi còn đương chức họ đều không dám lơi là công việc, thậm chí có người còn mang tâm lý nơm nớp lo sợ. Ví dụ, vào mùa đông năm Vĩnh Lạc 19 (1421), Minh Thành Tổ chuẩn bị thân chinh Ngoại Mông lần thứ ba, Thượng thư bộ Hộ Hạ Nguyên Cát và Thượng thư bộ Binh Phương Binh đều có ý phản đối, rốt cuộc Hạ Nguyên Cát bị tống giam, còn Phương Binh thì tự sát. Minh Thành Tổ lại lệnh cho Thượng thư bộ Lễ là Lữ Chấn kiêm luôn chức Thượng thư bộ Hộ và bộ Binh. Lữ Chấn vô cùng lo sợ. Minh Thành Tổ thấy thế liền lệnh cho 10 viên quan giám sát Lữ Chấn như hình với bóng, nói với họ rằng: “Nếu Lữ Chấn tự sát thì khép cả 10 người bọn ngươi vào tội chết”. Một viên quan Thượng thư bộ Lễ mà còn vậy thì khỏi cần nói đến các viên quan khác.

Minh Thành Tổ đối với bề tôi không chỉ úy quyền mà còn có tình cảm, đó chính là “uy và ân kết hợp”. Ví dụ, Giải Tự và Hồ Quảng là đồng hương, đồng môn, trong triều lại là Nội Các Học sĩ, đương nhiên Minh Thành Tổ làm mối cho con cái nhà họ thành duyên. Về sau, tuy Giải Tự bị bắt giam đến chết nhưng con trai của ông vẫn lấy được con gái của Hồ Quảng.

Tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ bảy (1409), Minh Thành Tổ hạ lệnh cho nghỉ mười ngày từ ngày 11 cho đến ngày 20, để thần dân đón tết Nguyên tiêu. Trong mười ngày ấy, “bách quan trong triều không phải tham gia việc tấu sự, lấy việc xem thần dân thắp đèn mở tiệc rượu làm niềm vui, bãi bỏ lệnh cấm đoán hoạt động về đêm”. Tục lệ nghỉ tết Nguyên tiêu vào thời Minh Thanh là bắt nguồn từ đấy, đó cũng là hành động thể hiện sự quan tâm của Minh Thành Tổ đến những việc nhỏ nhặt trong đời sống của thần dân.

Tháng Mười năm ấy, do Bắc Kinh rất lạnh nên Minh Thành Tổ sợ buổi sáng các quan vào thiết triều đứng lâu bên ngoài sẽ cảm lạnh, ông bèn cho thiết triều ngoài trời thành vào trong điện, quan lại có việc bẩm báo lần lượt vào tấu, không có việc gì thì có thể quay về làm việc.

Thời kỳ đầu khi Minh Thành Tổ mới lên ngôi, ông đã xử lý rất nghiêm những người được coi là có tư tưởng thay đổi chế độ cũ. Quan Thiếu khanh tự Ngự Khiêm tự thuật lại rằng, theo luật cũ, đối với tăng đạo trong thiên hạ, mỗi người chỉ được phép có năm mẫu ruộng, phần thừa ra nộp cho quan, còn nếu không đủ ruộng thì quan phủ sẽ bán lại. Ông tấu trình rằng: “Luật này nên thay đổi, còn tội của thần thì xin hãy trị theo luật”. Minh Thành Tổ cười nói: “Vị tú tài này từ bi như đức Phật” và không hề trị tội Ngự Khiêm. Từ đó có thể thấy, đối với những người muốn cải cách chế độ cũ, Minh Thành Tổ vẫn còn có những cách đối xử riêng biệt.

Thưởng phạt phân minh là sự đảm bảo quan trọng trong lịch sử thống trị của nhà Minh, chính vì vậy Minh Thành Tổ rất coi trọng vấn đề này. Minh Thành Tổ hành pháp vô cùng nghiêm khắc, đặc biệt là đối với những công thần đã cùng ông nằm gai nếm mật, cũng không vì họ có công mà cho qua, khi có tội vẫn xử theo luật hình. Trước đây, công thần của các triều đại trong lịch sử đều kiêu ngạo không tuân thủ pháp luật, trong những năm Vĩnh Lạc hầu như không thấy những việc như thế, điều này có liên quan đến nghệ thuật quản lý các quan lại của Minh Thành Tổ. Có một lần, khi bộ Hình đang định tội một số công thần đã cùng Minh Thành Tổ đồng cam cộng khổ, họ đã thỉnh cầu ông hãy nghĩ đến công lao trước đây của họ mà giảm nhẹ mức án, nhưng họ nhận lại được những lời răn dạy của Minh Thành Tổ và ông vẫn kiên quyết xử tội theo đúng luật. Minh Thành Tổ nói rằng: “Trong triều đình phải lấy việc công làm chính, có công ắt sẽ có thưởng, có tội ắt sẽ bị xử. Người thưởng phạt dựa theo pháp luật trị vì thiên hạ, không vì có công mà cho qua, không vì việc tư mà làm hỏng việc công. Công lao cả đời nhưng đã được ban thưởng không ít bổng lộc, nay có tội lại không trị tội, đấy là tiếp tay cho cái xấu. Nếu đã dung túng cho cái xấu thì sao có thể trị thiên hạ? Nên cứ theo luật mà làm”. Đoạn trích trên thể hiện rất rõ quan điểm của Minh Thành Tổ về việc thưởng phạt, đây cũng là một nguyên nhân quan trọng giúp cho sự nghiệp của ông giành được thành công lớn.

Đối với những người có công, Minh Thành Tổ không tiếc ban thưởng Ví dụ, ngay những người lập công khi còn nằm gai nếm mật, cho dù đã chết nhưng vẫn được truy phong theo công trạng. Trương Ngọc đã hy sinh trong trận chiến Đông Xương, Minh Thành Tổ vẫn truy phong cho ông làm công thần danh dự của đất nước. Ông còn lo lắng việc thưởng cho những công thần không được thỏa đáng nên lệnh cho các quan đưa đề nghị để phong thưởng cho những vị công thần còn bị sót lại.

Đối với các cựu thần thời Kiến Văn chỉ cần họ không giữ thái độ thù địch thì sau khi quy hàng đều được tín nhiệm, hơn thế còn tùy công mà luận thưởng. Vào thời Vĩnh Lạc nhiều vị trí quốc danh thần đều là cựu thần thời kỳ Kiến Văn quy hàng như Dương Sĩ Kỳ, Dương Vĩnh, Sài Nghị, Hạ Nguyên Cát… Các vị quan này đều để lại công trạng và nhiều lần được Minh Thành Tổ ban thưởng. Riêng Dương Vinh là người có nhiều thành tích về mặt quân sự, nên khi ông về quê, Minh Thành Tổ đã đặc cách ra lệnh cho một vị thái giám theo hầu, coi đó như một vinh hạnh và sủng ái cho Dương Vinh. “Nội thần theo hầu chỉ có duy nhất Dương Vinh thời Vĩnh Lạc”. Vì quan thái giám là người chỉ theo hầu Hoàng đế, nhưng Minh Thành Tổ lại cho họ theo hầu một vị cựu thần thời Kiến Văn, điều đó duy nhất chỉ xuất hiện ở thời Minh. Sự đãi ngộ đầy ân nghĩa này khiến cho toàn bộ quan lại trong triều không khỏi ngạc nhiên.

Tháng Hai năm Vĩnh Lạc thứ mười (1412), Minh Thành Tổ đã phong quan cho Dương Sĩ Kỳ, Dương Vinh, Sài Nghi, Hạ Nguyên Cát và còn thưởng hậu cho cụ cố, bố mẹ và vợ của bốn người kể trên. Đây là việc thưởng công báo đáp lại việc họ đã tận tụy với triều đại mới và khích lệ họ tiếp tục đóng góp công lao. Cũng chính vào tết Nguyên tiêu năm đó, Hạ Nguyên Cát dẫn mẹ của mình đi xem hoa đăng. Minh Thành Tổ sau khi biết được tin đó liền lập tức ra lệnh cho thái giám mang hai trăm ngân lượng biếu cho mẹ của Hạ Nguyên Cát. Đây chỉ là một việc nhỏ nhưng nó phản ánh mối quan hệ vô cùng mật thiết giữa Minh Thành Tổ với những quan lại có công lớn với đất nước.

Đối với việc thăng quan hay giáng chức của quan lại, Minh Thành Tổ rất cẩn thận. Ông từng nói với các đại thần bên cạnh mình rằng: “”Vua dùng một người hay bỏ một người kkho6ng được tùy tiện, nhất định phải khiến choo người khác tâm phục. Nếu như tiến cử một người mà cả thiên hạ đều biết đó là kẻ có tài thì ai mà chẳng muốn theo họ thành tài, nếu cách hức một người mà thiên hạ đều biết đó là kẻ ác thì ai còn dám theo hắn làm điều ác nữa đây? Không có tài mà vẫn được tiến cử thì đó là do ưu ái cá nhân, nếu không gây ra điều ác mà vẫn bị cách chức thì đó là do tư thù. Cứ theo tình riêng thì làm sao có thể khiến cho thiên hạ phục được đây?

Những lời nói trên của Minh Thành Tổ không phải là những câu nói mang hàm ý sâu sắc, nhưng những người có thể làm được điều này không nhiều. Cho dù chúng ta nhìn vào hiện tại, những câu nói đó của ông vẫn tỏa sáng một chân lý không bao giờ tắt, Minh Thành Tổ hiểu được điều này và làm đúng như thế, chính điều đó đã giúp ông trở thành một trong những vị vua thành công trong lịch sử Trung Quốc.

Minh Thành Tổ một tay điều hành đất nước, kết hợp được ân và uy đối với các đại thần, vì vậy cuối triều đại của ông, các đại thần đều người nào việc nấy, cân nhắc kỹ lưỡng khi làm việc, không ai dám vượt mặt. Đối với những nhà lãnh đạo hiện nay, đó là một tấm gương rất đáng để chúng ta học tập. Khi đối xử với cấp dưới phải biết kết hợp cả ân và uy, đối với những điểm không đúng của cấp dưới cố nhiên phải có thái độ trách cứ rõ rang; ngược lại, với những điểm thể hiện rõ tài năng nổi trội của họ càng không thể gạt đi mà phải có những khen thưởng thích hợp, như vậy mới khiến cho tâm lý của cấp dưới cân bằng.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.

Advertisements

Khâu thực thi trong quản lý kiểu Trung Quốc – Phần VI


Sau khi đến phủ đường chào hỏi, chủ khách lần lượt ngồi theo ngôi thứ bầy tiệc khoản đãi. Trong khi uống rượu, Lưu Bị chỉ nói chuyện phiếm không hề đề cập đến chuyện Tây Xuyên. Trương Tùng mượn lời để thăm dò ý Lưu Bị: “Lưu Hoàng Thúc hiện đang giữ Kinh Châu, xin hỏi hiện còn có bao nhiêu quân?” Gia Cát Lượng liền đáp: “Kinh Châu vẫn đang mượn tạm của Đông Ngô, nhiều lần muốn lấy lại. Nay chủ công tôi vì là con rể Đông Ngô, nhờ vậy mới có được chỗ này để lưu thân”. Trương Tùng nói: “Đông Ngô dựa vào quận Vân có tất cả tám mươi mốt châu, dân giàu nước mạnh lẽ nào vẫn chưa đủ hay sao?” Bàng Thống nói: “Chủ tôi vẫn là Hoàng Thúc, nhà Hán thì đều ỷ mạnh xâm chiếm đất đai, phàm là người đều oán trách không công bằng”. Lưu Bị nói: “Hai vị tiên sinh đừng bàn đến vấn đề đó nữa. Lưu Bị ta có tài có đức gì đâu mà dám mơ ước nhiều như vậy?” Trương Tùng liền nói: “Ngài không nên nói thế. Hoàng Thúc vẫn mang trong mình dòng dõi hoàng tộc nhà Hán, tiếng nhân nghĩa đã vang xa khắp thiên hạ. Thống nhất thiên hạ lên ngôi hoàng đế cũng là chuyện lẽ thường”. Lưu Bị liền chắp tay cảm tạ, nói: “Ngài khen quá lời rồi, tại hạ quả thật không dám nhận!”.

Từ hôm đó, Lưu Bị giữ Trương Tùng ở lại khoản đãi ba ngày ba đêm và không hề đề cập đến việc Tây Xuyên. Khi Trương Tùng cáo từ, Lưu Bị bày yến tiệc để tiễn đưa. Lưu Bị nâng cốc mời Trương Tùng rồi nói: “Đại phu không đi mà lưu lại chỗ tại hạ ba hôm, hôm nay từ biệt, không biết đến khi nào mới có được cơ hội để thỉnh giáo”. Ông vừa nói xong, mắt đã rớm lệ. Trương Tùng nghĩ thầm: “Lưu Bị quả là người khoan dung nhân đức lại rất có lòng với binh sĩ, một minh chủ như thế mà lại bỏ đi thì quả là không sáng suốt! Chẳng bằng nói cho ông ấy biết, để ông ấy giành lấy Tây Xuyên”. Chính vì vậy, Trương Tùng mới khuyên Lưu Bị đánh chiếm Tây Xuyên và dâng cho Lưu Bị tấm bản đồ quan trọng.

Trong ví dụ về câu chuyện kể trên có thể thấy rằng, Lưu Bị đã lĩnh hội được tất cả dụng ý của Gia Cát Lượng. Trong quá trình thực hiện, Lưu Bị đã suy nghĩ thấu đáo đến mọi phương diện, làm sao để thể hiện cho Trương Tùng thấy mình là người rất coi trọng nhân tài và nắm được tâm lý của Trương Tùng, chỉ lấy cái lễ khoản đãi khiến cho Trương Tùng cảm động, đến khi Trương Tùng can tâm tình nguyện thu phục mới dừng lại, nhờ đó đạt được mục đích của mình.

Chúng ta hãy cùng nhau phân tích xem những người như Lưu Bị và Gia Cát Lượng đã phối hợp với nhau như thế nào để thực hiện kế hoạch “thu phục Trương Tùng giành lấy bản đồ” thành công.

Đầu tiên, Gia Cát Lượng đã nghiên cứu tâm lý của Trương Tùng: đối đãi với người vừa có tài vừa kiêu ngạo thì phải tôn trọng; với những người thích nói những lời to tát, rõ ràng họ mang nặng tư tưởng chuộng hư vinh và tâm lý chỉ chăm chăm làm điều gì có lợi cho bản thân mình thì đặc biệt phải biết cách tâng bốc họ lên. Về điểm này, Gia Cát Lượng và Lưu Bị đã làm rất tốt.

Tiếp đó, Trương Tùng vốn không quen biết Lưu Bị, vì vậy những gì mắt thấy sẽ có hiệu quả hơn là chỉ có tai nghe. Chính vì vậy, bắt đầu từ việc Triệu Vân đích thân đi nghênh đón, Quan Vũ thiết đãi yến tiệc cho đến việc Lưu Bị rơi lệ trong lúc chia tay, tất cả đã tạo ra ấn tượng ban đầu vô cùng cảm động. Quả thực trong việc này, Gia Cát Lượng đã sắp xếp mọi chuyện vô cùng khéo léo.

Thêm nữa, trong bữa tiệc rượu, Lưu Bị đã có ý tránh không đề cập đến chuyện Tây Xuyên, cũng không hề nói đến tham vọng phát triển sau này của mình, chỉ đơn thuần là một bữa tiệc rượu khoản đãi Trương Tùng. Điều này đã khéo léo thể hiện cho Trương Tùng thấy mình là người tuyệt đối không hề có mưu đồ gì khác, chẳng qua chỉ là ngưỡng mộ người tài mà thôi. Hình tượng một vị minh chủ cố tỏ vẻ khiêm tốn thu nạp hiền tài của Lưu Bị được thể hiện rõ ràng như được viết trên một tờ giấy trắng.

Tiếp theo, hai vị quân sư Gia Cát Lượng và Bàng Thống chọn thời điểm và cách làm thích hợp “kẻ tung người hứng” để truyền đạt đến Trương Tùng thông tin rằng: thứ nhất, Lưu Bị không có lấy một mảnh đất cắm dùi, Kinh Châu chỉ là mượn tạm mà thôi; thứ hai, Lưu Bị thân là Hoàng Thúc, nên ông thích hợp nhất để chiếm đất; thứ ba, ỷ thế mạnh để xâm chiếm đất đai, còn Lưu Bị là một vị minh chủ hoàng thân quốc thích hết sức anh minh, lại không có một tấc đất để nương thân, phàm là người hiểu biết “đều thấy điều đó là không công bằng”, vậy Trương Tùng ngài có phải là một người hiểu biết không? Cứ như thế, từng chiêu, từng chiêu đánh vào tâm lý của Trương Tùng, cho đế khi thu phục được Trương Tùng mới dừng lại.

Người Trung Quốc thích thể diện nên luôn hy vọng người khác, đặc biệt là lãnh đạo tôn trọng họ, do đó, người lãnh đạo phải tìm cách thu phục nhân tâm của nhân viên và nhân tài: điều đầu tiên là, đừng bỏ qua cơ hội để người khác biệt được tấm lòng của bạn, thẳng thắn và thành khẩn, quang minh lỗi lạc, từ đó giúp bạn có thể giành được tình cảm của nhân viên, thu phục được họ; bước tiếp theo là khiến cho nhân viên cảm động vì thành ý của bạn, có như thế họ mới hết lòng vì công việc.

Ngoài ra, làm một người quản lý, trong khi sử dụng quyền lực đối với người bị quản lý, sự ảnh hưởng và cảm hóa không chỉ đơn thuần dựa vào sức mạnh của quyền lực, quan trọng hơn là phải dựa vào những ảnh hưởng của phẩm hạnh, năng lực, đối nhân, xử thế, thành tích và tố chất chính trị cá nhân. Sự nảy sinh của những ảnh hưởng này là tự nhiên, không hề mang tính ép buộc. Sự ảnh hưởng sẽ chuyển hóa ngầm từ tư tưởng khuất phục quyền lực sang tư tưởng sùng bái của người bị quản lý, từ đó làm cho cấp dưới thật lòng phục tùng và vui vẻ làm việc. Để làm được điều đó, yêu cầu đặt ra cho những nhà quản lý phải là trang bị cho mình trí tuệ vượt trội, khí phách và hoài bão.

“Dựa vào cách sống để trị người”

Bản tính con người thường thiên về những hành vi có lợi cho bản thân, vì vậy sẵn sàng làm những việc có hại cho người khác. Tuy nhiên, để có lợi cho bản thân mà hãm hại người khác, cố giành cho mình lợi ích lớn nhất, rốt cuộc dẫn đến lợi chuyển thành hại, mưu cầu lợi bản thân ngược lại trở thành “người bị tổn thất”, đây là phép biện chứng của lịch sử.

Bất kỳ người nào có lý trí đều không mong muốn kết quả vừa hại mình vừa hại người, nhưng lòng tham, sự ngu xuẩn của con người luôn khiến họ tự đẩy bản thân mình đi đến kết cục như thế. Hại người lợi mình là sự ích kỷ mà cả thế giới này đều căm ghét, nó lợi dụng sự khôn khéo và địa vị để hy sinh người khác, thậm chí là làm tổn hại đến hạnh phúc của đại bộ phận thành viên trong xã hội để tạo ra lợi ích cho mình, đó là một kiểu tội ác đơn thuần.

Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện, người quản lý nên đưa vào sử dụng các biện pháp khiến cho công nhân hiểu rõ ràng rằng hành vi hại người lợi mình luôn khiến cho “cả hai bên đều bị thiệt hại”. Biện pháp hiệu quả nhất chính là “dùng cái đạo của họ để trị lại chính họ”, khi bản thân bạn đã đặt mình vào vị trí đó, nếu bị tổn thất thì cả hai sẽ cùng tổn thất, còn nếu như hưởng vinh hoa thì cả hai sẽ cùng hưởng.

Thời kỳ Xuân Thu, nước Sở lệnh cho Doãn Tôn Thúc Ngao tu bổ con kênh Nam Bắc kéo dài cả một dải của huyện Cầu Bì. Con kênh này vừa dài vừa rộng, đủ cung cấp nước tưới cho hàng vẹn hécta ruộng. Nhưng cứ đến buổi sáng, nông dân sống ven đê lại đi ra trồng hoa mầu bên bờ đê ngay lối thoát nước của con kênh, thậm chí có người trồng các loại cây nông nghiệp ngay chính giữa. Đến khi mưa nhiều, nước kênh dâng lên, những người nông dân này lại lén đào các lỗ thoát nước trên đê để bảo vệ hoa màu và ruộng canh tác nhà mình. Tình trạng đó diễn ra ngày càng trầm trọng, con kênh mất bao công sức tạo thành đến giờ bị biến dạng nham nhở, mặt đê hỏng hết, đê vỡ và lụt lội thường xuyên, khiến cho thủy lợi trở thành thủy hại.

Đối mặt với tình hình đó, các quan lại của huyện Cầu Bì đều bó tay bất lực. Mỗi khi dòng nước của con kênh dâng lên biến thành lũ lụt, quan huyện liền điều động binh lính đi sửa lại để điều, đắp lại các lỗ hổng. Về sau, khi Lý Nhược Cốc đảm nhiệm chức quan tri huyện cũng phải đối mặt với vấn đề nhức nhối là đào đê và sửa đê. Ông liền dán cáo thị nói rõ, từ nay về sau phàm là đê điều bị vỡ thì không điều động binh lính đi sửa đê nữa, mà điều động dân sống dọc con kênh, để họ tự sửa những chỗ đê bị vỡ. Sau khi bố cáo đó được dán, không còn có nông dân nào dám lén lút đào lỗ thoát nước trên đê nữa.

Đây là một câu chuyện khá thú vị, nhưng ý nghĩa đằng sau câu chuyện lại đáng để những nhà quản lý phải đào sâu suy nghĩ. Trước khi thực hiện một chính sách nào đó, nhà quản lý phải nói cho người thực hiện biết rõ những cái lợi cái hại trong đó, họ có thể không dám vì lợi ích cá nhân mà làm những việc có hại đến lợi ích của tập thể, tất nhiên chỉ là đối với những tập thể có tố chất cao.

Các doanh nghiệp có thể vì nhiều lý do khác nhau nên tố chất của nhân viên tương đối thấp. Khi gặp phải trường hợp như trên, dù bạn có nói rõ cho họ biết những cái lợi, cái hại trong chính sách đó thì họ vẫn vì những cái lợi của bản thân mà lén lút làm những việc lợi mình hại tập thể, vậy phải làm thế nào? Khi đó, bất kể dùng phương pháp nào, việc thiết định nên một chế độ khống chế nội bộ sao cho an toàn và hiệu quả là điều vô cùng cần thiết. Chế độ có thể đem lại những hiệu quả mà con người vốn không thể tự mình tạo ra được. Khi chế độ không phát huy được tác dụng của nó, chỉ còn cách lợi dụng biện pháp của Lý Nhược Cốc là “gậy ông đập lưng ông”. Khi người ta phát hiện ra rằng những cái thu được từ việc làm của họ không bằng những gì họ sẽ mất đi, tự khắc, họ sẽ không làm những việc kiểu như thế nữa.

Tìm hiểu hành vi của một số người và cách suy nghĩ của họ, tóm được khối u đang tồn tại trong vấn đề thì việc quản lý sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.

Khâu thực thi trong quản lý kiểu Trung Quốc – Phần V


Châu Á Phu lúc đó mới tiếp kiến sứ giả, truyền lệnh cho mở cổng doanh trại. Sau khi lính canh nhận được lệnh của Châu Á Phu, họ mới mở cổng doanh trại, cho xe vào. Khi vào trong, quan quân gác bên ngoài doanh trại còn truyền đạt quân lệnh cho tùy tùng của Hán Văn Đế rằng: “Tướng quân có lệnh, không được chạy lung tung trong doanh trại”.

Hán Văn Đế nghe thấy vậy cũng đành phải ghìm cương ngựa đi chậm lại. Qua cổng doanh trại, mới thấy Châu Á Phu mặc giáp trụ, đeo kiếm, ung dung bước ra nghênh tiếp. Châu Á Phu vái chào và nói: “Thần mang giáo không tiện bái lạy, thần xin phép chào đúng theo kiểu trong quân. Mong bệ hạ xá tội!” Hán Văn Đế nghe xong, vô cùng kinh ngạc, ngồi trên xe đáp lễ lại một cách rất nghiêm trang, và choo người tuyên chiếu rằng: “Hoàng thượng cảm ơn công lao vất vả của tướng quân”. Châu Á Phu dẫn theo các tướng sĩ, đứng hai bên, cảm tạ ân đức của nhà vua.

Sau khi ân cần hỏi han, Hán Văn Đế liền rời khỏi doanh trại. Hán Văn Đế vừa đi khỏi Châu Á Phu liền cho đóng ngay cửa doanh trại, lính canh lại đứng nghiêm túc như cũ. Các quan tùy tùng cảm thấy cực kỳ kinh ngạc, cho rằng Châu Á Phu coi thường vua, thật là to gan. Nhưng Hán Văn Đế lại khen ngợi rằng: “Đó mới là một tướng quân đích thực! Còn các tướng sĩ tại Đế Thượng và Cức Môn chẳng khác gì trò trẻ con, nếu bị giặc đột kích, e rằng ngay cả chủ tướng cũng bị chúng giết sạch, không thể sánh được với sự nghiêm ngặt không có một sơ hở nào của Châu Á Phu!” Một tháng sau đó, Hán Văn Đế phong cho Châu Á Phu chức Trung Vệ.

Năm 157 TCN, Hán Văn Đế lâm trọng bệnh, ông cho truyền thái tử Lưu Khôi đến bên giường dặn dò: “Nếu như quốc gia lâm nguy thì Châu Á Phu là người có thể tín nhiệm được, vì vậy hãy phong cho ông ấy giữ chức tướng quân”. Sau khi Hán Văn Đế mất, Châu Á Phu được giữ chức Xa kị tướng quân. Ba năm sau khi Lưu Khởi lên ngôi, xưng là Hán Cảnh Đế, tức năm 154 TCN, các nước chư hầu dẫn đầu là Ngô Vương Lưu Tị dẫn binh tạo phản nhà Hán, gây ra cuộc bạo loạn giữa bảy nước, tình thế vô cùng nguy cấp. Hi đó, nhớ đến những lời dặn dò của Hán Văn Đế trước lúc lâm chung, Hán Cảnh Đế phong cho Châu Á Phu chức Thái úy, tiến đánh vua Ngô là Lưu Tị và vua Sở là Lưu Mậu ở phía Đông.

Châu Á Phu dẫn đầu đoàn quân tinh nhuệ đánh tan đội quân của hai nước Ngô, Sở, giết chết vua Ngô là Lưu Tị, còn vua Sở là Lưu Mậu thì tự sát. Sau đó, Châu Á Phu lại tiếp tục dẫn quân đi cứu viện, đánh tan đội quân các nước phản lại nhà Hán khác. Chỉ trong vòng ba tháng, ông đã dẹp yên được cuộc phản loạn của bảy nước chư hầu.

Trong cuộc chiến dẹp yên cuộc phản loạn của bảy nước chư hầu, Châu Á Phu đã tạo ra được chiến công hiển hách. Khi đi thăm doanh trại ở Hương Đô Hán Văn Đế đã nhận ra “vị tướng quân đích thực”, sau đó đã trọng dụng tài năng của Châu Á Phu. Ngoài ra còn phải nói đến bản thân Châu Á Phu đã áp dụng kỷ luật nghiêm minh, thi hành triệt để, một khi lệnh đã đưa ra thì nhất định phải thực hiện.

Trong quản lý doanh nghiệp hiện đại, sự thành công của một doanh nghiệp bao gồm: 30% là chiến lược, 40% là việc thực hiện. Rõ ràng, việc thực hiện quan trọng hơn sách lược (hoặc chiến lược) hay. Bạn có thể không cần bỏ ra nhiều công sức để tiến hành cải tạo quy trình, làm mới phương thức, chỉ cần bắt chước chiến lược giống như đại bộ phận các doanh nghiệp khác đang áp dụng, nhưng bạn không được thiếu năng lực thực hiện. Cho dù bạn có dựa vào một mô hình kinh doanh sáng tạo riêng biệt nào đó nhằm mở rộng khoảng cách với đối thủ cạnh tranh nhưng nếu năng lực thực hiện không đủ thì nhất định sẽ bị những kẻ mô phỏng đuổi kịp.

Đó chính là điều Bill Gates, người giàu nhất thế giới, đã thẳng thắn bày tỏ: “Thử thách mà những công ty sản xuất phần mềm trên thế giới phải đối diện trong vòng 10 năm tới chính là năng lực thực hiện”. CEO của Tập đoàn IBM là ông Louis V. Gerstner cũng cho rằng: “Một nhà quản lý thành công và một doanh nghiệp thành công nên có ba đặc trưng cơ bản: xác định trọng tâm công việc, khả năng thực hiện vượt trội và năng lực lãnh đạo ưu tú”. Có thể thấy, có chiến lược hông có nghĩa là đưa doanh nghiệp thoát ra khỏi môi trường cạnh tranh khắc nghiệt; chỉ có khả năng thực hiện mới có thể giúp cho doanh nghiệp sáng tạo ra được những giá trị đích thực. Mất đi năng lực thực hiện tức là mất đi sự sinh tồn lâu dài và điều kiện cần có để tạo nên thành công của doanh nghiệp. Không có năng lực thực hiện thì đồng nghĩa với việc không có hạt nhân chính để tạo ra năng lực cạnh tranh.

Suy tính mọi vấn đề, chú ý đến mọi phương diện

Có một kế hoạch hoặc quyết sách hay nhưng không thực hiện thì vẫn không đạt được hiệu quả và mục tiêu theo dự định. Chỉ có kết hợp cả hai, như thế mới có thể thành công. Chúng ta hãy xem Lưu Bị đã suy tính kỹ lưỡng và thực hiện kế hoạch của Khổng Minh như thế nào để thu phục nhân tâm, khiến cho Trương Tùng tự nguyện giao nộp bản đồ vẽ 41 châu của tỉnh Tây Xuyên cho mình một cách dễ dàng, thuận lợi.

Thời Tam Quốc, Trương Lỗ ở Hán Trung dấy bính đánh Lưu Chương ở Ích Châu. Bộ hạ của Lưu Chương là Trương Tùng hiến kế cho Lưu Chương, nói rằng có thể cầu cứu Tào Tháo đưa binh sang cứu viện. Lưu Chương liền cử Trương Tùng làm sứ giả. Trương Tung ngầm vẽ bản đồ địa lý Tây Xuyên giấu trong người, dẫn theo rất nhiều tùy tùng đi sang Hứa Xương. (Có thể thấy Trương Tùng không muốn phò tá cho một người bạc nhược, bất tài như Lưu Chương, sớm đã có ý hai lòng). Tất cả những việc đó từ lâu đã có người báo về Kinh Châu. Do vậy Gia Cát Lượng bèn cho người trà trộn vào Hứa Đô để dò la tin tức.

Tào Tháo là một kẻ cao ngạo, bộ hạ của Tào Tháo cũng ngông cuồng không kém. Trương Tùng tuy tướng người ngũ đoản nhưng không chịu nhún nhường. Cuối cùng, Trương Tùng bị sỉ nhục và bị đánh đuổi ra ngoài. Trương Tùng không còn mặt mũi nào để trở về gặp Lưu Chương, nghe nói Lưu Bị là một người nổi tiếng nhân nghĩa, liền nảy ý định đi xem thực hư thế nào, sau đó sẽ quyết định. Vì vậy, Trương Tùng lên ngựa dẫn theo thủ hạ tiến đến Kinh Châu, vừa đến hạt Quý Châu đã thấy một đoàn hơn năm trăm người ngựa do đại tướng Triệu Vân dẫn đầu ra nghênh đón và khoản đãi. Trương Tùng trong lòng thầm nghĩ: “Mọi người đều nói Lưu Bị là một người khoan dung đức độ và hiếu khacách, hôm nay được nhìn tận mắt quả nhiên danh bất hư truyền”.

Sau khi đến Kinh Châu, trời đã tối, do vậy họ vào nghỉ tạm trong một quán trọ. Trương Tùng thấy trước cửa quán trọ có khoảng hơn trăm người đứng đợi sẵn, đánh trống nghênh đón. Một vị đại tướng mặt đỏ bước ra phía trước thi lễ, nói: “Phụng mệnh huynh trưởng, vì đại phu đường sá xa xôi đến đây nên lệnh cho Quan mỗ quét dọn quán trọ, để ngài nghỉ ngơi”. Trương Tùng không ngờ một người tiếng tăm lừng lẫy như Quan Vũ lại đích thân chờ mình, nên vội vàng xuống ngựa, cùng Quan Vũ và Triệu Vân đi vào trong quán cùng ngồi đàm đạo. Sau khi bày xong tiệc rượu, hai người Triệu Vân và Quan Vũ uống rất nhiệt tình đến tận đêm khuya mới dọn dẹp và nghỉ ngơi. Ngày hôm sau, ăn sáng xong, lên ngựa đi chưa đến năm dặm, Trương Tùng thấy một đoàn người cưỡi ngựa tiến đến, thì ra là Lưu Bị cùng với hai quân sư Gia Cát Lượng, Bàng Thống thân chinh ra đón. Thấy vậy, Trương Tùng vội vàng xuống ngựa tiếp kiến. Lưu Bị nói: “Từ lâu đã nghe danh của đại phu như sấm dội bên tai, hận một nỗi núi sông xa cách, không được thỉnh giáo đại phu. Hôm nay đến đây là để đón tiếp ngài, nếu đã gặp mà không có việc phải đi, xin hãy nghỉ ngơi một lát để tại hạ thỏa lòng ngưỡng mộ, thì thật là một niềm vinh hạnh lớn”. Trương Tùng vô cùng phấn khởi, lên ngựa cùng Lưu Bị đi vào trong thành.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.

Khâu thực thi trong quản lý kiểu Trung Quốc – Phần IV


Tôn Vũ không cần nói nhiều lời, chỉ xuất phát từ việc thiết lập hai chữ tín nhiệm trong quân mà làm, từ đó khiên cho quân luật được thực hiện một cách nghiêm ngặt, lệnh trên đã được đưa ra cấp dưới ắt phải phục tùng theo răm rắp. Đã có câu rằng: “Kẻ từ bi thì không thể cấm quân”, các kế sách được vạch ra khi tham chiến thì phải được thực hiện ngay lập tức, khi đã quyết định cho quân xuất phát ra trận thì binh sĩ ngay lập tức phải lên ngựa bắt đầu hành động, tướng soái dụng binh không được nghi ngờ kế hoạch, còn các binh sĩ thì càng không được phép suy nghĩ lung tung nảy sinh ra tâm trạng nghi ngờ lệnh của cấp trên.

Nhà quản lý, đặc biệt là những cán bộ bậc trung đảm nhận các chức vụ quản lý, sẽ luôn gặp phải những vấn đề tương tự như vấn đề Tôn Vũ đã từng phải đối diện. Ví dụ, sau khi họ đã vạch ra được một số chính sách thì sẽ đến quá trình đề cử việc áp dụng các chính sách đã được vạch ra đó, trong quá trình đề cử thực hiện chính sách có thể do đụng chạm đến lợi ích của một số cá nhân nên không có cách nào áp dụng chính sách đó vào thực tế. Những người bị đụng chạm về mặt lợi ích vốn đề cập đến ở trên có thể còn giữ các chức vụ cao hơn chức vụ của người vạch ra chính sách, hoặc gặp phải những trường hợp mà ngay chính bản thân người lập ra chính sách cũng không thể đắc tội với một số cá nhân nào đó, khi ấy chính những người đó sẽ trở thành vật cản trở khiến cho bạn lâm vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan. Vậy, bạn phải giải quyết như thế nào?

Quản lý theo kiểu Trung Quốc nhấn mạnh: “Dạy bằng hành động cụ thể sẽ hiệu quả hơn dạy bằng lời nói”, chính vì vậy nên mới có câu nói rằng, khi gặp phải trường hợp có người cố tình vi phạm lệnh không muốn nghe lời khiến cho việc thực hiện mệnh lệnh gặp phải trở ngại thì khi đó, với vai trò là nhà lãnh đạo, bạn không nên e ngại cường quyền, cần nắm bắt ngay kiểu làm cũ, giết một người để dọa trăm người, thiết lập nên quyền uy cho chính bản thân mình, khiến cho cấp dưới phải thực sự kính trọng và nể sợ bạn, đồng thời tự xem xét lại hành vi của chính mình cho phải phép.

Nếu bạn nằm giữ vai trò của một nhà quản lý nghiệp vụ thì bạn nên tuân thủ theo đúng những nguyên tắc chuẩn đã được thiết lập ra, mặc dù kết quả khi đề nghị áp dụng chính sách có thể sẽ đắc tội với một số vị “bô lão cấp cao”, dẫn đến việc có thể bạn sẽ bị mất chức, nhưng nếu như chính sách bạn đưa ra lại không được áp dụng trong thực tế thì tiền đồ của bạn cũng theo đó mà tiêu tan. Điều đó chính là giá trị cơ bản của cơ hội mà chúng ta vẫn hay đề cập đến, ý nghĩa vận dụng của điều đó vào thực tế cuộc sống đã được đúc kết ngay trong chính lý luận thường được các nhà kinh tế học đề cập đến, đó là “Lý thuyết trò chơi”. Kỳ thực chỉ cần bạn thực thi chính sách một cách công bằng và khách quan, chứ không chỉ bo bo ôm lấy lợi ích của cá nhân, thì cơ hội thành công của bạn sẽ tương đối lớn.

Mọi người đều được áp dụng chế độ bình đẳng

Suốt thời kỳ phong kiến, tất cả những người chiếm địa vị thống trị đều nhấn mạnh hai chữ “đặc quyền”. Một kiểu đặc quyền vượt lên cả pháp luật, các quy tắc luật lệ và tất cả các cơ chế vốn đã được thiết lập sẵn; giống như một câu tục ngữ đã từng thể hiện rất rõ nhận thức về khái niệm đế quyền rằng: “Chỉ quan tỉnh trưởng mới được quyền đốt lửa, còn dân đen không được phép thắp đèn”; cứ như thế sẽ dẫn đến một hậu quả rất dễ xảy ra là điều đó trực tiếp khiến lòng dân dao động, lệnh được đưa ra chưa chắc đã khiến họ làm theo, làm suy giảm đi rất nhiều hiệu quả khi tiến hành các chính sách. Nhưng nếu như bạn có thể dùng lời nói và hành động thực tế của mình để khuyên răn họ, bản thân sống theo đúng chuẩn mực, không cố tạo cho mình đặc quyền riêng, luôn nghĩ rằng trước pháp luật mọi người đều có quyền bình đẳng như nhau, thì sẽ khiến cho hiệu quả thực hiện không ngừng được nâng cao.

Khi tiến hành các biện pháp quản lý, nhà quản lý nhất định phải dựa vào các quy định chung để thực hiện nghiêm minh các hiệu lệnh, dựa theo đúng các quy tắc để giải quyết tất cả các công việc, nhấn mạnh việc trước pháp luật mọi người đều có quyền bình đẳng như nhau, không làm bất kỳ việc nào thể hiện đặc quyền riêng của cá nhân hoặc không nhẹ tay với các trường hợp ngoại lệ; chỉ khi bản thân nhà quản lý có thể làm tốt những điều kể trên thì mới khiến cho cả một tập thể do anh ta lãnh đạo trên dưới đồng lòng, thưởng phạt phân mình. Đồng thời cũng phải chú ý không nên tiến hành các biện pháp quản lý vượt quyền hạn, nên áp dụng quyền lực theo từng cấp bậc khác nhau, tất cả đều dựa vào các chế độ và quy định cụ thể để áp dụng.

Vào mùa đông thời kỳ Hậu Hán Văn Đế (năm 158 TCN), đội quân kị binh của Hung Nô phân làm hai ngả tiến đánh vào biên giới nhà Hán, một ngả tiến theo đường Thượng Quân, một ngả khác theo đường Vân Trung. Quân Hung Nô có hơn sáu vạn kị binh thiện chiến, thế tiến quân mạnh như bão táp, đi đến đâu bắt người cướp của đến đấy. Binh sĩ và tướng lĩnh trấn giữ biên giới từ lâu bỏ bê tập luyện, cũng chưa từng tham chiến, mà đột ngột nghe tin quân Hung Nô tiến đánh, quân chính chưa hề chuẩn bị sẵn tinh thần đối phó, chốc lát tay chân đều hoảng loạn, vội vàng bắn pháo hiệu, phát tín hiệu cầu cứu đi khắp mọi nơi xa gần. Cứ như thế, một nơi bắn phát pháo hiệu, đồng loạt tất cả các khu vực khác cũng phát đi tín hiệu cấp báo, khói lửa cháy ngút trời, chẳng mấy chốc tin quân Hung Nô xâm lược được truyền thẳng tới kinh thành.

Hán Văn Đế nghe tin cấp báo, vội vàng tập trung điều động quân đội, đồng thời cử người thống lĩnh đại quân, cho dựng trại cố thủ xung quanh khu vực thành Trường An, chuẩn bị đầy đủ mọi thứ nhằm dùng binh tướng khỏe để đối phó với đội quân vốn đi đường xa mỏi mệt của bên Hung Nô, đón đánh đội kị binh Hung Nô đang ùn ùn kéo đến. Thái thú Hà Nội lúc đó là Châu Á Phu chịu trách nhiệm thống lĩnh đại quân, ông cho đại quân đóng đồn tại Hướng Đô thuộc thành Trường An, còn Lưu Lễ dẫn đầu một đội quân khác đóng doanh trại tại Đế Thượng – một khu vực cách thành Trường An 30 dặm về phía Bắc; Chúc Tư Hầu Dư Lịch dẫn đầu một đội quân đóng tại Cức Môn nằm phía Bắc thành Trường An. Ba Đội quân này tạo thành thế chân vạc, cố thủ và bảo vệ thành Trường An.

Nhằm khích lệ, cổ vũ tinh thần tướng sĩ, mấy hôm sau, Hán Văn Đế đánh xe đích thân đến thăm từng doanh trại để hỏi thăm tướng sĩ. Ông đến doanh trại quân đóng tại Đế Thượng trước, sau đó đến thăm doanh trại tại Cức Môn. Tại các doanh trại này, ông đều đi thẳng vào các trại. Hai tướng Lưu Lễ và Dư Lịch đều ở hết trong trướng, đến tận khi đội vệ binh hộ tống Hán Văn Đế xuất hành dọn đường và ngăn không cho người đi đường qua lại tiến thẳng vào trong doanh trại thì hai người bọn họ lúc đó mới vội vàng ra tiếp đón. Chính vì thế, trên hai mặt người đều lộ vẻ kinh ngạc, điệu bộ lo lắng, bất an. Hán Văn Đế biết điều đó, nhưng không trách mắng họ, chỉ hỏi han mấy câu rồi đi. Hai vị tướng quân tiễn Hán Văn Đế ra khỏi doanh trại, đợi xe đi khuất hẳn mới quay về doanh trại.

Nhưng Văn Đế đến doanh trại của Châu Á Phu thì tình hình lại khác. Khi xe ngựa của Hán Văn Đế vào đến doanh trại ở Hướng Đô, từ xã đã thấy phía ngoài doanh trại các binh sĩ mặc áo giáp đứng xếp hành, kẻ cầm đao, kẻ cầm kích, người giương cung lắp tên chờ quân giặc đến, cả đội quân khí thế hừng hực, quả thực việc phòng vệ cực kỳ nghiêm ngặt. Hán Văn Đế chưa bao giờ thấy một đội quân chỉnh tề, ý chí chiến đấu như thế nên trong lòng không khỏi kinh ngạc, bèn ra lệnh cho tùy tùng chịu trách nhiệm tiền trạm đi thông báo trước.

Không ngờ lính canh giữ doanh trại lại đứng nghiêm ra lệnh dừng xe lại, và từ chối thẳng rằng: “Tôi chỉ đợi nghe lệnh của tướng quân, không nghe theo chiếu của Thiên tử!” Những tùy tùng tiền trạm đành quay trở về báo cáo lại với Hán Văn Đế, Hán Văn Đế bèn đích thân đánh xe đến trước cổng doanh trại, kết quả ông cũng bị lính canh doanh trại chặn lại, không hco vào. Hán Văn Đế không còn cách nào khác, đành phải lôi phù tiết ra, lệnh cho tùy tùng cầm vào trong doanh trại thông báo: “Trẫm muốn vào doanh trại thăm hỏi tướng sĩ!”

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.

Khâu thực thi trong quản lý kiểu Trung Quốc – Phần III


Ngoài ra, nhà quản lý còn cần phải thiết lập uy quyền cho chính bản thân mình, đồng thời phải trừng phạt nghiêm khắc những cấp dưới không coi trọng cấp trên. Những tướng lĩnh thời cổ đại là những người rất biết cách thiết lập nên uy quyền cho bản thân bằng cách vận dụng các biện pháp trừng trị nghiêm khắc kẻ dưới quyền theo một chiến lược cụ thể. Trong cuốn Sáu phép dùng binh (Lục thao) đã chỉ ra rằng: “Làm tướng thì phải lấy chém phạt mạnh tay để lấy uy, lấy việc thưởng ít để làm minh”. Nếu giải thích một cách rõ ràng hơn thì câu nói đó có nghĩa là: “Giết một người để làm gương cho ba quân, thì giết; thưởng một người khiến cho vạn người vui mừng, thì tưởng. Giết phải lấy nhiều làm uy, còn thưởng phải lấy ít làm trọng”. Phạt mạnh tay, thưởng nhẹ tay sẽ khiến cho nhân viên dưới quyền thấy được sự uy nghiêm của các quy định đã đề ra và thấy được sự chí công vô tư cùng sự kiên quyết trong khi hành pháp của các nhà lãnh đạo, đồng thời cũng khiến cho họ thấy được lòng thành rất rõ ràng và rạch ròi của lãnh đạo.

Các nhà lãnh đạo nổi tiếng trong lịch sử đều là những người rất biết cách lợi dụng biện pháp “phạt lớn thưởng nhỏ”: Tôn Vũ giết chết hai ái thiếp của vua Ngô, chẳng mấy chốc đã khiến các phi tần trong cung phải đi vào khuôn khổ; Tư Mã Nhương Thư giết chết Trang Giả là kẻ thân tín bên cạnh Tề Cảnh Công khiến những kẻ xâm chiếm thấy thế làm bài học mà rút lui ra khỏi biên giới nước Tề; còn Ngụy Văn Hầu đã bày yến tiệc tiếp đãi phụ thân của các tướng sĩ khiến cho hàng vạn binh sĩ răm rắp nghe theo chỉ lệnh, hơn thế còn hăng hái anh dũng trong khi giết giặc. Từ đó có thể thấy được rằng, phạt phải phạt nặng, thưởng nên thưởng ít sẽ khiến uy quyền nhờ đó được thiết lập, lệnh đã được đưa ra nhất định sẽ thành, có như vậy mới có thể điều khiển cấp dưới một cách dễ dàng.

Năm 512 TCN, Tôn Vũ đến đất Ngô, Hạp Lư đích thân ra đón tiếp, đồng thời hỏi ý kiến của ông về binh pháp. Tôn Vũ đối đáp rất trôi chảy, còn lấy quyển Binh pháp mười ba chương do chính mình biên soạn dâng lên cho vua Ngô. Hạp Lư đã đọc đi đọc lại rất nhiều lần quyển sách đó, mỗi một lần đọc kỹ hết một chương, ông đều không ngớt lời ca ngợi. Sau khi đọc xong quyển sách, ông đã ca ngợi cuốn sách đó với các quần thần rằng: “Trẫm thấy quyển sách binh pháp này không thể đem ra so sánh với những quyển sách tầm thường khác, con người viết ra quyển sách này quả là một kỳ tài trong thiên hạ”.

Nhưng vua Ngô không hề vì điều đó mà tin tưởng ngay vào năng lực của Tôn Vũ, ông muốn thử chứng thực tài năng của Tôn Vũ vì vậy ông mời Tôn Vũ đến và nói rằng: “Binh pháp của ngài có mười ba chương, ta đều đã xem hết, nhưng ta không biết khi đem nó áp dụng vào thực tế sẽ đem lại hiệu quả như thế nào?” Tôn Vũ nghe xong liền đáp: “Chỉ cần đàn bà con gái, nếu họ nghe theo quân lệnh của hạ thần thì không lo binh pháp của thần không có uy lực”. Vua Ngô nghe xong liền nói: “Có thể dùng các thị nữ trong cung làm đối tượng để cho người áp dụng hay không?” Tôn Vũ nghe xong không ngần ngại đáp: “Có thể, thần sẽ tuân theo lệnh của nhà vua mà làm”.

Vua Ngô tuyển chọn một trăm người đẹp nhất trong số cung tần mỹ nữ, sau đó ra lệnh cho Tôn Vũ đến để cai quản họ. Vua Ngô còn cho truyền hai ái thiếp của mình là Tả Cơ và Hữu Cơ thuộc cung Minh Nhật đến và nói với Tôn Vũ rằng: “Đây là hai mỹ nữ mà quả nhân sủng ái nhất, có thể để cho hai người bọn họ làm người đứng đầu quản lý các tì thiếp trong đoàn không?” Tôn Vũ nghe xong liền đồng ý, rồi nói: “Việc trong quân, trước phải tuân theo đúng hiệu lệnh, sau phải chú trọng việc tiến hành thưởng phạt nghiêm minh, cho dù đó là lỗi nhỏ nhưng cũng không thể xem nhẹ mà bỏ qua không xuy xét. Thần muốn cử ra một người chịu trách nhiệm coi sóc việc thi thành các quy định, còn hai người khác thì chịu trách nhiệm lo liệu các việc chung trong quân, ba người này sẽ chuyên phụ trách việc truyền đạt mệnh lệnh xuống dưới; cử thêm hai người chuyên phụ trách việc khích lệ tinh thần quân sĩ; phó tướng chuyên phụ trách kiểm tra số lượng quân sĩ, trạm đặt binh khí dùng đối kháng với quân địch sẽ được bố trí nằm trên đài hiệu lệnh nhằm nâng cao khí thế nhà binh”.

Ngô Vương ra lệnh cho ông chọn ra những người phù hợp với vị trí cần dùng. Tôn Vũ liền phân đám thị nữ thành hai đội quân tả và hữu, cho Hữu Cơ đứng đầu đội quân phía Hữu, còn Tả Cơ thì đứng đầu đội quân phía bên Tả, mỗi người phân nhau kiểm soát một bên, chỉ rõ quân lệnh bao gồm các nội dung như sau: Một không cho phép làm rối lạon đội ngũ; hai, không cho phép loan tin buôn chuyện lung tung; ba, không cho phép cố ý vi phạm kỷ luật. Đồng thời yêu cầu họ canh năm ngày thứ hai phải tập trung tất cả tại thao trường để tập luyện.

Ngày hôm đó, sau khi năm hồi trống đã đánh lên, các cung nữ trong cung đã xếp ngay ngắn chỉnh tề thành hai đội, tất cả đều tập hợp tại thao trường, ai ai cũng mặc áo giáp, đầu đội nón lính, tay phải cầm kiếm, còn tay trái cầm khiên. Hai ái phi được vua sủng ái thì đứng phân nhau ra mỗi người một bên, chờ lệnh của Tôn Vũ.

Tôn Vũ lệnh cho hai đội quân quỳ xuống nghe lệnh, nói: “Khi nghe thấy hồi trống đầu tiên được, hai đội phải cùng tiến lên phía trước; khi nghe thấy hồi trống thứ hai, đội quân đứng phía bên trái xoay sang phía bên phải, còn đội quân đứng phía bên phải xoay sang phía bên trái; khi nghe thấy hồi trống thứ ba, tất cả phải giương kiếm lên, sẵn sàng trong thế tấn công. Sau khi nghe thấy tiếng vũ khí va vào nhau thì đội kiếm bước lùi lại phía sau”. Các thị nữ trong cung nghe xong đều cười nói xôn xao, không coi quân lệnh của ông ra gì. Tôn Vũ thấy vậy liền nói: “Nếu như không nghe theo hiệu lệnh thì sẽ phải chịu phạt”. Sau ba hiệu lệnh và năm giáp thì bắt đầu truyền lệnh cho đánh trống hiệu triệu. Các cung nữ khi nghe trống lệnh chỉ cười đùa với nhau, không hề phục tùng theo mệnh lệnh của chỉ huy, người thì đứng, người thì ngồi tán chuyện, đội ngũ lố nhố không quy củ.

Tôn Vũ vô cùng tức giận. Lệnh cho một viên quan lại trong quân truyền đạt lại đúng lệnh lúc trước, các cung nữ vẫn cười đùa vui vẻ như cố ý chọc tức Tôn Vũ. Tôn Vũ không hài lòng và đích thân gióng trống ra hiệu lệnh, nhưng hai ái phi được sủng ái của vua Ngô và những thị nữ khác trong cung vẫn nói cười không thôi. Tôn Vũ vô cùng phẫn nộ, nói: “Người chịu trách nhiệm thi hành lệnh đang ở đâu rồi?” Viên quan chịu trách nhiệm thi hành lệnh bước lên phía trước chờ lệnh. Tôn Vũ nói với ông ta: “Quân lệnh không nghiêm, hiệu lệnh không nắm rõ, đó là cái sai của tướng. Tính đến lúc này quân lệnh đã được đưa ra đến lần thứ ba, hiệu lệnh đã rất rõ ràng, rõ ràng họ cố ý muốn phản lại quân lệnh, cố tình phạm lỗi. Nếu dựa theo quân pháp thì nên xử như thế nào”. Viên quan chịu trách nhiệm thi hành lệnh liền đáp: “Bẩm thưa, đáng tội chém ạ!” Tôn Vũ liền nói: “Sĩ binh không thể chém, tội là ở người dẫn đầu quân. Có thể lôi hai người dẫn đầu hai đội quân ra chém đầu để thị uy cho quân chúng”.

Hai đoàn quân Tả Hữu thấy Tôn Vũ nổi nóng, cũng không dám trái lệnh, bèn giao nộp hai ái thiếp của vua Ngô ra xử lý. Vua Ngô đứng trên đài cao quan sát Tôn Vũ hướng dẫn tại thao trường, thấy ông có ý muốn chém đầu hai ái thiếp được minh vô cùng sủng ái để lập lại uy thế trong quân, thì vô cùng kinh ngạc, liền cử người đi xin tha mạng cho hai ái phi nọ. Tôn Vũ không đổi ý, đáp lại rằng: “Trong quân kỵ nhất nói hai lời, thần đã nhận lệnh làm tướng, tướng khi đang quản quân đội có lúc không thể tuân theo lệnh của vua. Nếu thân làm tướng mà thuận theo tình cảm tha cho kẻ có tội thì khó có thể khiến cho người khác phục tùng”. Sau đó truyền lệnh cho hai bên Tả Hữu: “Mau đem hai ái cơ ra chém!” Sau khi xử trảm xong hai ái phi của vua Ngô, Tôn Vũ lệnh cho các tướng đem thủ cấp của hai vị phi tần nọ ra đặt trước mặt cho đội quân nữ binh trong cung nhìn thấy để thị uy, các cung nữ nhìn thấy thủ cấp của hai ái phi nọ thì đều thoảng thốt, cả thao trường trong phút chốt chết lặng.

Do hai vị ái phi đã bị xử trảm nên Tôn Vũ đã cho chọn ra hai người thay thế, họ đảm nhiệm truyền lệnh xuất kích, bài binh bố trận trên thao trường. Các cung nữ đều răm rắp nghe theo quay sang trái quay sang phải, bước lên trước lùi ra sau, quỳ xuống đứng lên không một lần trái lệnh, từ đầu đến cuối, tất cả bọn họ không ai dám cười đùa cợt nhả như lúc trước nữa.

Sau khi Tôn Vũ đã hoàn thành xong đợt huấn luyện các cung nữ trên thao trường liền phái người đến báo cáo tình hình cho vua Ngô rằng: “Cuộc thao luyện đã kết thúc xong, nhà vua có thể đến kiểm tra kết quả vào bất cứ lúc nào. Cho dù có bắt các cung nữ trong cung lao vào nước sôi lửa bỏng, họ cũng không dám thoái thác”. Mặc dù vua Ngô trong lòng vô cùng hận việc Tôn Vũ đã cho giết chết hai ái phi của mình nhưng từ chuyện đó cũng mới biết được rằng Tôn Vũ là một người rất biết cách dụng binh, chính vì vậy đã phong cho Tôn Vũ giữ chức tướng quân. Tôn Vũ dẫn binh rong ruổi khắp nơi, đánh về phía Tây dẹp lui quân Sở, còn phía Bắc thì uy hiếp quân Tề, tin chiến thắng liên tiếp từ các nơi được báo về, tên tuổi vang dội khắp các nước chư hầu, giúp cho vua Ngô là Hạp Lư tranh hùng một phương.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.

Khâu thực thi trong quản lý kiểu Trung Quốc – Phần II


Muốn nâng cao năng lực thực hiện, cần phải xem xét tới một số nhân tố sau:

1/ Người lãnh đạo phải thực hiện tốt các nguyên tắc đề ra, đây là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả thực hiện

Trong quá trình quản lý, lãnh đạo, người lãnh đạo phải có được năng lực thực hiện, phải kiên trì lấy mình làm gương, ngăn chặn sự xuất hiện của tư tưởng phân nhóm và chủ nghĩa bè phái, nếu không người quản lý sẽ không hình thành được sự đồng tâm hợp lực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình tượng của người lãnh đạo trong con mắt của các nhân viên, đồng thời ảnh hưởng đến việc phát huy năng lực thực hiện.

Các thành viên trong ban lãnh đạo của doanh nghiệp phải động viên tính tích cực của mỗi thành viên trong êkip, để sức mạnh của toàn bộ êkip nhân viên vượt xa so với năng lực của mỗi thành viên, không nên theo kiểu “một mình làm chủ, những người khác làm nên” mà phải làm nền móng cho cả đoàn thể, điều này có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng ảnh hưởng của lãnh đạo. Chỉ khi phát huy một cách hiệu quả vai trò của mỗi cá nhân mới có thể bồi dưỡng khả năng thực hiện việc quản lý có hiệu quả, mới có thể hình thành bầu không khí tốt đẹp trong doanh nghiệp; thực hiện được “3 trong 1” là: tính trách nhiệm của nhân viên bình thường, khát vọng vươn lên của nhân viên bậc trung và khát khao sự nghiệp của nhân viên bậc cao, đạt đến mức độ kết hợp “cả ba” cao nhất.

2/ Một đoàn thể được quản lý tốt là nền tảng quan trọng để nâng cao khả năng thực hiện

Một doanh nghiệp muốn phát triển cần phải dựa vào nguồn vốn, kỹ thuật và nhân tài; quan trọng hơn là phải có những điểm tựa cho sự phát triển. Điểm tựa không phải là một con người nào đó, mà dựa vào người nào đó làm hạt nhân cho đoàn thể; còn nhân tố tiếp theo quyết định giá trị của đoàn thể là do tố chất tổng thể và phương hướng.

Làm thế nào để bồi dưỡng đoàn thể, phát huy được ưu thế của toàn bộ đoàn thể, gây dựng nên khả năng thực hành quản lý một cách có hiệu quả? Muốn vậy phải cố gắng trên cả hai phương diện khách quan và chủ quan. Trên phương diện khách quan, cần nỗ lực tạo ra một bầu không khí “hợp tác trong đoàn thể” một cách có trình tự, làm việc theo chế độ, làm việc theo quy luật khách quan. Khi bàn về vấn đề này, nhân vật trung tâm của đoàn thể đóng vai trò quan trọng nhất. Người quản lý không nên phá bỏ những trình tự và quy tắc đã được thiết lập, càng không thể đi ngược lại những quy luật khách quan, từ đó thực hiện việc quản lý theo trình tự. Đồng thời, nhà lãnh đạo không nên bị cuốn theo động thái phát triển của sự việc, cần tuân thủ các quy trình nghiệp vụ, nâng cao hiệu suất quản lý. Các thành viên của đoàn thể đều phải tăng cường nhận thức của mình về tổng thể cũng như các quan niệm về đại cục, không nên nhấn mạnh việc “lấy mình ra làm trung tâm”, mà “lấy lợi ích chung của tập thể làm chủ đạo”. Khi nảy sinh mâu thuẫn, nên “theo đuổi những điểm chung và chấp nhận sự tồn tại của những điểm khác biệt nhỏ”, và tìm ra nhiều điểm chung hơn nữa.

3/ Minh bạch lợi ích, quyền hàn và trách nhiệm của các cấp quản lý là nhân tố quan trọng để nâng cao năng lực thi hành quản lý

Lợi ích, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp quản lý rõ ràng hay không có ảnh hưởng khá lớn đến khả năng thực hiện. Người quản lý ở các cấp khác nhau sẽ có những lợi ích và quyền khác nhau, những quyền lợi và lợi ích này phải gắn liền với trách nhiệm mà họ đảm nhận. Lợi ích, quyền hạn và trách nhiệm không rõ ràng sẽ khiến cho người quản lý có hành vi vượt quyền. Nếu quản lý của các bộ phận chỉ biết hùa theo cá nhân lãnh đạo và quan niệm giám sát cho đúng với ý của cấp trên, không toàn tâm toàn ý đối với công việc, thậm chí không tiếc thời gian và công sức bới móc những vấn đề còn thiếu sót của cấp trên quản lý trực tiếp mình để nhằm lấy lòng của các cấp lãnh đạo và thể hiện cho họ biết sự trung thành của mình. Nếu lãnh đạo không tăng cường điều tra và phân tích thì sẽ khó phân biệt được đúng sai. Kiểu báo cáo vượt cấp, phản ánh vượt cấp không trung thực của người giám sát khiến người lãnh đạo không thể yên tâm làm việc, khả năng thực thi sẽ bị giảm sút, càng tăng hiểu nhầm càng nhiều, công việc không thể triển khai theo tiến độ bình thường.

Lãnh đạo doanh nghiệp phải giới hạn trách nhiệm của tất cả người quản lý dưới quyền, cũng cần phải nhắc nhở những người quản lý ở các cấp khác nhau phải làm tốt công việc của chính mình, kịp thời phát hiện các cá nhân có năng lực để đề bạt, răn đe những người hay vượt quyền làm chuyện thị phi, giữ thái độ bình thường khi tiếp xúc với tập thể, phân công công việc rõ ràng, cùng gánh vác trách nhiệm và rủi ro, hình thành nên một đoàn thể vững vàng không dễ dàng bị lay chuyển.

4/ Cơ chế quản lý khoa học là sự đảm bảo quan trọng cho việc nâng cao năng lực thi hành

Cùng với sự mở rộng không ngừng của quy mô và tốc độ phát triển doanh nghiệp, nếu lãnh đạo doanh nghiệp vẫn dùng phương pháp quản lý tương tự theo kiểu quản đốc các phân xưởng để quản lý một doanh nghiệp thì không thể làm được. Lãnh đạo doanh nghiệp nên dành thời gian và công sức cho nền tảng chế độ quản lý vững chắc. Trong giai đoạn duy trì sự phát triển của doanh nghiệp, nếu thiếu “quản lý nhân bản” thì không đáng lo nhưng thiếu chế độ quản lý quán triệt, bình đẳng, chú trọng hiệu quả công việc thì mới đáng lo ngại vì nó sẽ dẫn đến các quy trình quản lý bị rối loạn. Vì vậy, một doanh nghiệp chỉ có thông qua chế độ quản lý nghiêm ngặt, phá bỏ khuôn mẫu “người quản lý người”  cũ rích theo “chế độ quản lý con người” thì mới có thể chức năng hóa và chế độ hóa quản lý, phân định rõ ràng lợi ích, quyền lực và trách nhiệm của người quản lý; trách kiểu nhiều người cùng “lãnh đạo”, nâng cao hiệu suất quản lý và năng lực thi hành quản lý.

Một chế độ đã được thiết lập xong thì điều quan trọng nhất là việc thi hành chế độ đó như thế nào. Một chế độ có tốt mấy đi chăng nữa nhưng không có ai đi thi thành hoặc năng lực thi hành lại không đạt theo đúng như yêu cầu đặt ra thì chế độ đó cũng vô dụng mà thôi. Điều cấm kị nhất trong quản lý đó là chỉ hô hào khẩu hiệu mà chẳng làm được điều gì cụ thể. Khi thiết lập xong một chế độ quản lý, điều đó không có nghĩa là sẽ đạt đến mục đích quản lý mà bạn đặt ra, điều quan trọng là thông qua chế độ quản lý được tiến hành một cách có trình tự, khiến cho việc quản lý có luật định để dựa vào, đồng thời trong quá trình quản lý không ngừng hoàn thiện các chế độ liên quan. Nếu làm tốt các vấn đề đã nêu ra ở trên, nhân viên sẽ coi chế độ là một thước đo chuẩn cho việc hoàn thành mục tiêu công việc đề ra, đảm bảo đúng đủ chất lượng và số lượng, nhằm đẩy mạnh hơn nữa năng lực của nhân viên quản lý ở tất cả các cấp bậc khác nhau, đạt đến hiệu quả tiến bộ thực sự theo từng ngày.

Nếu một doanh nghiệp có mô hình và cơ chế quản lý tốt, người đứng đầu doanh nghiệp có năng lực, có mối quan hệ rõ ràng giữa trách nhiệm – quyền lực và lợi ích; công nhận tích cực, chủ động, sáng tạo thì sức mạnh và ưu thế của doanh nghiệp đó sẽ được phát huy một cách cao độ, hiệu quả áp dụng của phương thức quản lý sẽ được đẩy mạnh lên, đồng thời sẽ tạo ra được bước đột phá lớn trong “mặt bằng” quản lý. Đó chính là một thủ thuật quan trọng nâng cao hiệu quả quản lý, tạo nên được sự tồn tại lâu bền cho toàn bộ doanh nghiệp.

Trước tiên phải cưỡng chế, đã ra lệnh là phải chấp hành

Uy quyền mà khiến cho người Trung Quốc phải phục tùng, nếu bạn khiến cho họ “tâm phục khẩu phục” và áp dụng các biện pháp cứng rắn theo kiểu mệnh lệnh, như vậy họ mới có thể lao tâm khổ tứ để hoàn thành tốt công việc được giao. Do vậy, nếu như bạn muốn mình trở thành một nhà lãnh đạo thành công thì đầu tiên bạn phải thiết lập nên uy quyền cho chính bản thân bạn, lệnh đưa ra bắt buộc phải hoàn thành, khiến cho nhân viên của bạn hoàn toàn kính nể bạn. Có thể nói, uy quyền là điểm thể hiện rõ nhất năng lực lãnh đạo của một cá nhân.

Nếu muốn mệnh lệnh đã đưa ra được thực thi thì những nhà quản lý phải nhấn mạnh quan điểm “cứng rắn từ đầu”. Nhưng điều đó không có nghĩa là yêu cầu các nhà quản lý phải có thái độ hà khắc trong quá trình áp dụng các biện pháp quản ý, hay bắt buộc các biện pháp và phương thức áp dụng phải thể hiện rõ thái độ thô bạo. Ở đây vấn đề đặt ra đầu tiên vẫn là làm việc theo luật, áp dụng theo đúng những gì đã được quy định, coi trọng đến nghệ thuật áp dụng, đạt được đến độ tùy nơi, tùy lúc, tùy người mà có biện pháp quản lý thích hợp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.

Khâu thực thi trong quản lý kiểu Trung Quốc – Phần I


Thuận theo tự nhiên

Tư tưởng “vô vi” trong Đạo đức kinh của Lão tử đặc biệt thu hút sự chú ý của mọi người. Lão Tử cho rằng “vi bất vi, tắc vô bất trị hi” [Hãy sống theo vô vi, việc nước có gì mà không trị được]. Ông đề ra thuyết “vô vi”, thực ra là “vô bất vi”. “Vô vi” là dựa theo quy luật biến hóa của sự vật và trình tự của tự nhiên để tiến hành quản lý, như vậy mới có thể đạt được thành quả.

Bậc thầy về quản lý Tăng Sĩ Cường khi phân tích tư tưởng “vô vi” của Lão Tử đã từng nói: “vô vi” đương nhiên không phải là “bất vi” mà là “vô bất vi” [không làm nhưng không có điều gì là không làm]. Nhưng chỉ có đứng trên lập trường của “vô vi” để “vô bất vi” [không (cố ý) làm (vì tư lợi) nhưng không có điều gì là không làm] mới có thể “không cầu cũng thành, cầu lại không qua”. Không tranh công cũng không đùn đẩy, tự nhiên tất cả sẽ được xử lý công bằng.

Hiệu quả quản lý thể hiện trên “hữu vi” [nghĩa là đầy hứa hẹn, có triển vọng], về căn bản không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng nếu mọi người đều yêu cầu “hữu vi” sẽ buộc phải coi trọng đến biểu hiện của mỗi cá nhân. Kết quả của việc tranh công lẫn nhau dẫn đến nhiều hành động không trong sạch nhằm tranh giành, cấu xé nhau, điều đó tăng thêm khó khăn cho quá trình thực hiện, ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thực hiện.

Lão Tử cho rằng dục vọng và lòng tham chỉ dẫn đến sự tranh giành, trong khi dân tranh giành lẫn nhau là điều đại kỵ trong việc trị quốc. Do đó, muốn trị quốc, cần phải làm cho dân tránh xa việc tranh giành, có nghĩa là phải khiến họ tránh xa khỏi dục vọng và lòng tham. Muốn tranh xa khỏi dục vọng và lòng tham, phải tránh xa các sự vật khơi gợi nên lòng tham và dục vọng. Nếu kẻ thống trị chỉ chăm chăm chú trọng những người hiền đức, cho họ thấy rằng người hiền đức có rất nhiều ưu thế, như quyền thế và địa vị đặc biệt thì những người không được họ đánh giá là có tài sẽ vì “nóng gáy” mà sinh lòng đố kỵ, và để được người thống trị yêu quý, họ sẽ cố sức giành giật lẫn nhau, đây gọi là “tranh sủng”. Kết quả như thế sẽ dẫn đến hoặc là mưu tính loại trừ nhau, hoặc là kéo bè kết phái, giở trò bịp bợm, vì việc riêng mà phạm pháp.

Do vậy, Lão Tử chủ trương trị quốc “không trọng hiền”. Nhà Hán có viên quan ngự sử là Công Tôn Hoằng hiểu khá rõ tư tưởng này của Lão Tử. Trước khi làm quan, ông đã dâng sớ lên Hán Vũ Đế rằng: “Thần nghe nói rằng thời vua Nghiêu Thuấn, không hề chú trọng đến quan hàm và tặng phẩm mà bách tính đều khuyên răn lẫn nhau cùng hướng thiện; không chú trọng hình phạt mà dân không hề phạm tội vì người ở trên là người chính trực, coi trọng trữ tín. Sau này chức cao vọng trọng, tặng phẩm hậu hĩnh, thì ngược lại dân không chăm chỉ, hình phạt nghiêm khắc, nhưng phạm pháp lại không suy giảm vì người ở trên không ngay thẳng, không coi trọng chữ tín…”.

Năm nghìn câu của Lão Tử ứng dụng trong Đạo đức kinh, tưởng như xa lạ nhưng thực chất rất gần gũi. “Vô vi” được nói đến ở đây không phải là “vô vi” tiêu cực, yêu cầu mọi người hầu như không làm gì, chỉ nghe theo sự sắp đặt của số phận, mà là trong quá trình tiến hành phương thức quản lý, vận dụng thủ pháp nghệ thuật nắm bắt tâm lý của người để quản lý, nhấn mạnh dựa vào lý để thuyết phục người lấy cái tình để cảm hóa người khiến từng biện pháp quản lý đều hợp đạo lý, lại kích thích tình cảm của người dân, bên ngoài trị bằng lý bên trong cảm hóa bằng tình, động viên tính tích cực của nhân viên, sau cùng để đạt đến giới hạn vô vi mà hữu vi. Để nhân viên trong doanh nghiệp cảm nhận được địa vị thực sự của một ông chủ, như thế mới là sự tài tình trong quản lý!

Học thuyết “vô vi” của Lão Tử trong quá trình thực hiện phương thức quản lý hiện đại chính là “kiểm soát vô hình”. Theo phân tích của ông Tăng Sĩ Cường, gia tăng sự kiểm soát vô hình toàn diện chủ yếu lấy con người làm đối tượng chính, nắm bắt những thay đổi có thể xảy ra, chưa đạt được đích thị chưa dừng lại. Kiểm soát hữu hình rất dễ bị phá bỏ. Tại sao chế độ nghiêm ngặt, áp dụng hình phạt một cách nghiêm khắc thì vẫn có những người vi phạm và tìm cách thoát ra khỏi những quy tắc đã được quy định sẵn? Chính là vì những cái gì vốn thành hình, mọi người đều có thể nhận biết một cách rõ ràng, vì vậy nhanh chóng nghĩ ngay ra cách để đối phó và thoát ra khỏi sự quản lý hữu hình. Cái hay của kiểm soát vô hình nằm ở chỗ thay đổi tùy theo từng thời điểm, khi mọi thứ vẫn còn chưa rõ ràng thì đã có sự thay đổi, nên không thể thoát ra, cũng không thể phá vỡ được.

Chính vì vậy, để đối phó với một số người không vi phạm pháp luật nhưng luôn tìm được những khe hở của pháp luật thì cách tốt nhất chính là trong luật lại có những quy định nằm ngoài quy định, tạo ra hàng loạt cửa ải, không có văn bản rõ ràng, không có quy định rõ ràng. Nhìn tưởng có chế độ, nhưng thực tế lại thu gọn cả những cái nằm ngoài quy định vào trong sự khống chế. Nói vô hình, nhưng khi vi phạm thì lại biến thành hữu hình. Nhờ đó, nhà quản lý mới có thể đạt được hiệu quả cao khi áp dụng.

“Người thợ muốn giỏi thì trước tiên phải khiến công cụ của mình sắc bén”

Ở Trung Quốc thời cổ đại, tại nước Tề có một người rất thích săn bắt, dành rất nhiều thời gian vào việc đi săn, nhưng cuối cùng không thu được gì. Sau khi về nhà, anh ta cảm thấy hổ thẹn với mọi người trong gia đình, ra ngoài đường lại cảm thấy có lỗi với hàng xóm. Anh ta tự dày vò mình tại sao không săn được con thú nào, cuối cùng anh ta mới biết nguyên nhân là do con chó săn không tốt. Nhưng vì nhà nghèo, không có cách nào để mua được một con chó săn giỏi, chính vì vậy anh ta bỏ nghề đi săn, quay về mảnh ruộng của mình chỉ gieo trồng, sau khi thu hoạch xong thì đủ tiền mua một con chó. Khi đã có con chó săn tốt, việc đi săn thú hoang trở nên dễ dàng, vậy là anh ta đã thực hiện được tâm nguyện trở thành một người thợ săn giỏi.

Có nhiều công ty, mỗi ngày các nhân viên đều bận rộn tới tận tối mịt, lãnh đạo ngày nào cũng bắt làm thêm ca thêm giờ, nhưng đáng tiếc lại không hiệu quả. Nguyên nhân là do cơ sở hạ tầng chế độ quản lý vẫn chưa xây dựng hoàn chỉnh, trình độ tay nghề kỹ thuật của công nhân thấp.

Những nhà doanh nghiệp dốc toàn tâm toàn lực vào kinh doanh đều có chung một trăn trở duy nhất: nâng cao sức cạnh tranh của tất cả nhân viên trong doanh nghiệp, không nhất thiết phải dùng đến chiến thuật đông nhân công và làm việc cật lực, như thế mới thành công. Để đạt được mục đích, phải làm tốt các công việc phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu, đây mới là sự thể hiện trí tuệ quản lý của người lãnh đạo.

Nếu muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp thì phải nâng cao chất lượng tăng trưởng, mở rộng quy mô tăng trưởng, thời gian của sự tồn tại và phát triển phải được kéo dài. Ngoài quyết sách của doanh nghiệp không ngừng nắm bắt cơ hội phát triển, còn phải có một chiến lược tốt, êkip tốt, thương hiệu tốt, quản lý tốt, nguồn vốn dồi dào và tay nghề kỹ thuật cao. Quan trọng hơn là phải có năng lực để thực hiện chiến lược này, bởi vì sự phát triển của doanh nghiệp có 20% là dựa vào kế hoạch và sách lược, còn 60% dựa vào khả năng thực hiện của những người quản lý trong doanh nghiệp.

Khả năng thực hiện có triệt để hay không sẽ phản ánh được tốt chất của toàn bộ doanh nghiệp, đồng thời còn phải phản ánh quan niệm, tâm trạng và tố chất lãnh đạo của những người quản lý. Vì vậy, việc bồi dưỡng năng lực thực hiện của một doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở bề mặt kỹ năng kiến thức của người quản lý mà còn phải coi trọng việc đúc kết quan niệm, tâm trạng và tố chất của người quản lý. Một doanh nghiệp phải cải thiện được năng lực thực hiện của các phòng ban thi hành, nên đặt trọng điểm của công tác đó lên người quản lý của bộ phận đó. Một bộ phận thi hành tốt có thể bù đắp những thiếu hụt của “bộ phận hoạch định chiến lược”, trong khi bộ phận chiến lược sẽ chết trong tay “bộ phận thi hành” nếu kế hoạch đề ra không được thực hiện hiệu quả. Do vậy, khả năng thực hiện là một mắt xích ảnh hưởng đến sự thành bại trong công tác quản lý của doanh nghiệp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.