Trường đại học của Mỹ ở nước ngoài: Thực tiễn xây dựng và phát triển – Phần cuối


Các trường đại học Mỹ ở Armenia và Bulgaria là những trường đại học đầu tiên được xây dựng ở Đông Âu vào năm 1991. Các chương trình thuộc lĩnh vực quản trị kinh doanh và Anh ngữ là những chương trình phổ biến nhất trong trường đại học Mỹ tại Armenia. Các giáo sư đến từ Đại học California là những người có đóng góp lớn cho sự phát triển của trường đại học này. Đại học Mỹ ở Bulgaria được thành lập theo thỏa thuận giữa Quỹ Soros, chính phủ Bulgaria và Đại học Maine ở Hoa Kỳ. Chính Đại học Maine nhận kinh phí từ Cơ quan Phát triển Quốc tế và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước chính phủ Hoa Kỳ về thành công của dự án Bulgaria. Trường này nổi tiếng trong giới trẻ Bulgaria, những người gắn sự nghiệp thành công của mình với việc nhận tấm bằng thạc sĩ của đại học Mỹ. Ngoài ra, trường cũng tiến hành đào tạo lại quân nhân Bulgaria sau khi nước này gia nhập NATO.

Trung Á đã trở thành hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Mỹ từ giữa những năm 1990. Nhiệm vụ mở rộng ảnh hưởng kinh tế, chính trị và quân sự của Hoa Kỳ được thực hiện nhờ việc xây dựng các chương trình viện trợ quy mô lớn trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Năm 1993 chính phủ Hoa Kỳ đề nghị Kyrgyzstan xây dựng trường đại học Mỹ ở nước này. Khi đó Kyrgyzstan chỉ đồng ý xây dựng trường phổ thông, nhưng đến năm 1997 tổng thống A. Akayev đã ký sắc lệnh xây dựng trường đại học Mỹ ở Kyrgyzstan (The American University in Kyrgyzstan) trên cơ sở trường phổ thông này. Chính phủ Hoa Kỳ đã xây dựng được quy chế trường đại học độc lập với Bộ Giáo dục Kyrgyzstan và thành lập hội đồng quản trị Mỹ. Tuy nhiên Kyrgyzstan đã can thiệp vào công việc của trường đại học khi nêu vấn đề về các kỳ thi tốt nghiệp và văn bằng được trao. Sau các cuộc đàm phán kéo dài, trường đại học Mỹ đã đồng ý cấp cho sinh viên hai bằng – bằng theo mẫu của nhà nước Kyrgyzstan và bằng tú tài của trường Mỹ. Một sinh viên phải qua hai kỳ thi quốc gia: lịch sử Kyrgyzstan và tiếng Anh dưới dạng trắc nghiệm TOEFL. Đến năm 2002, trường đã đạt quy chế trường đại học quốc tế và tên gọi của trường đã thay đổi. Ngày nay, trường được gọi là Trường đại học Mỹ – Trung Á và thực hiện sứ mệnh “đào tạo thế hệ elite có khả năng thực hiện sự chuyển hóa dân chủ ở Trung Á”.

Xúc tiến dân chủ và thị trường tự do là những nhiệm vụ cơ bản đặt ra cho các trường đại học mới của Mỹ. Ngoài trường đại học ở Kyrgyzstan, các trường đại học Mỹ ở Kosovo, Afghanistan và Palestine cũng đang thực hiện một loạt nhiệm vụ chính trị. Năm 2003, một trường đại học Mỹ đã được thành lập trên lãnh thổ quốc gia tương lai Kosovo (American University in Kosovo). Theo các tài liệu của chính phủ Hoa Kỳ, trường đại học này góp phần dân chủ hóa quốc gia mới thông qua việc phổ biến mẫu trường đại học kinh điển của Mỹ. Giống như trường hợp trường đại học Mỹ ở Bulgaria, trường đại học ở Kosovo nổi tiếng trong giới trẻ. Khẩu hiệu “Trường đại học Mỹ mở cửa để sinh viên bước ra thế giới” được quảng bá tích cực trên thị trường giáo dục Kosovo và tất cả các nước Balkan khác.

Trường đại học Mỹ ở Afghanistan (The American University of Afghanistan) là ví dụ có một không hai về việc xây dựng và vận hành trường đại học trong thời gian xảy ra chiến sự. Trường được thành lập vào năm 2006 như là cơ sở giáo dục tư nhân dưới sự tài trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế và đại diện của trường ở Kabul kiểm soát toàn bộ quá trình giáo dục trong trường. Những nhiệm vụ đặt ra cho trường là: trở thành mô hình để mở rộng các chương trình đào tạo thạc sĩ sang các trường đại học khác của Afghanistan và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học cho phụ nữ. Theo báo cáo, trường đang dần thực hiện các nhiệm vụ đã đặt ra. Các chương trình đào tạo cử nhân và thạc sĩ thuộc lĩnh vực các khoa học nhân văn, chính sách nhà nước, quản lý và công nghệ thông tin đã được xây dựng. Để mở rộng cơ hội học tập cho phụ nữ, các công ty quảng cáo đã đi vào hoạt động và ký túc xác mới dành cho sinh viên cũng được xây dựng.

Tuy nhiên, các nhà cải cách Mỹ phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng trong quá trình củng cố trường đại học này ở Kabul. Hàng ngày phải đảm bảo an ninh cho nữ sinh viên bởi họ có thể trở thành nạn nhân của phiến quân; trình độ tiếng Anh của sinh viên còn ém và không có thành phần giảng viên địa phương – những điều này làm giảm hiệu quả hoạt động của trường. Để giải quyết vấn đề đầu tiên, các đơn vị đóng chốt đã được sử dụng nhằm bảo vệ trường đại học trong giờ học. Đối với những ai không biết tiếng Anh thì mở các khóa đào tạo trong trường đại học. Còn về vấn đề cán bộ thì được giải quyết bằng cách gửi khoảng 100 giảng viên người Afghanistan sang Hoa Kỳ để đào tạo trình độ thạc sĩ. Kết quả là, trường đại học mới ở Kabul nhanh chóng có được những đặc trưng của cơ sở giáo dục Mỹ mà các trường đại học khác của Afghanistan cũng noi theo.

Nhiệm vụ tăng cường lợi ích của Mỹ ở vùng Vịnh Ba Tư và quảng bá thương hiệu tốt của Hoa Kỳ đã được đặt ra trước một trường đại học khác của Mỹ được mở tại UAE. Lần đầu tiên từ những năm 1920, khi các công ty dầu mỏ Mỹ bước chân vào bán đảo Arab, còn các nhà ngoại giao thì bắt đầu tiến hành các cuộc đàm phán không hồi kết và không có kết quả với các chính phủ Arab Saudia, Oman, Bahrain và các quốc gia vùng Vịnh Ba Tư khác về việc mở các trường đại học của Mỹ, chính phủ Hoa Kỳ đã xây dựng được trường đại học Mỹ ở Sharjah (American University of Sharjah) vào đầu những năm 2000. Việc xây dựng trường đại học Mỹ đầu tiên trên bán đảo Arab là thắng lợi của ngoại giao Mỹ. Trường đại học Mỹ ở Sharjah được xây dựng theo mô hình của Mỹ nhưng mang những nét đặc trưng của văn hóa Arab – đó là thông tin chính thức về trường đại học này. Tuy nhiên, những nét đặc trưng Mỹ đã lấn át những nét đặc trưng Arab. Các chương trình giáo dục được xây dựng theo tiêu chuẩn Mỹ: các khoa nghệ thuật tự do, khoa học chính xác, quản trị kinh doanh và… Việc giảng dạy được thực hiện bằng tiếng Anh, còn các chức vụ chủ chốt trong ban giám đốc thì do các giáo sư đến từ Hoa Kỳ nắm giữ.

Phức tạp nhất là dự án của Mỹ liên quan đến hoạt động của một trường đại học Mỹ trên lãnh thổ Palestine. Việc thành lập và phát triển sau đó của một trường đại học có tên là Đại học Mỹ – Arab ở Jenin (Arab American University – Jenin) đã diễn ra trong bối cảnh chiến tranh liên miên giữa người Palestine và người Israel. Việc giảng dạy bằng tiếng Anh xem ra là vấn đề không đơn giản: người Palestine không nhận thấy cần thiết phải giảng dạy và quản lý trường đại học bằng tiếng nước ngoài. Hiện nay việc quản lý trường đại học cũng như giao tiếp giữa giảng viên và sinh viên ngoài giờ học được thực hiện bằng tiếng Arab, còn việc dạy học thì bằng tiếng Anh. Nhưng vấn đề nghiêm trọng nhất là chiến tranh không kết thúc. Các tài liệu của Mỹ chứng minh rằng, vào thời điểm các cuộc xung đột lên đến đỉnh điểm, trường đại học rơi vào tình trạng không có thức ăn, nước uống và sinh viên. Tuy nhiên, chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố rằng, hiện nay có hơn một nghìn sinh viên đến từ Dải Gaza, Jordan, Arab Saudi và Israel đang học tập tại Trường Đại học Mỹ – Arab ở Jenin.

Cuối cùng, các trường đại học truyền thống của Mỹ ở Lebanon và Ai Cập đã nhận được cú hích mới để phát triển vào thập niên đầu của thế kỷ XXI khi Washington thực hiện một chương trình quy mô lớn về truyền bá dân chủ tại các nước vùng Cận Đông Các trường đại học của Mỹ ở Lebanon được sử dụng để đào tạo những thanh niên tích cực, các nhà chính trị, đại diện các cơ quan truyền thông đại chúng, các quan sát viên tại các cuộc bầu cử và… Có một giai đoạn trường đại học của Mỹ ở Beirut đã trở thành nơi quy tụ đại diện các phong trào đối lập khác nhau từ nhiều nước vùng Cận Đông. Việc tiếp nhận sinh viên đã tăng mạnh nhờ các khoản trợ cấp của chính phủ Hoa Kỳ, và chúng được dành cho các sinh viên đến từ các gia đình nghèo khó chứ không phải là cho đại diện của giai cấp trung lưu và giới elite chính trị.

Trường đại học Mỹ ở Cairo đã trở thành trung tâm dân chủ hóa của Ai Cập. Trường thực hiện chương trình đào tạo quy mô lớn cho công chức Ai Cập trong lĩnh vực tiếng Anh, quyền con người… Chỉ trong vòng một năm, gần 60 thành viên chính phủ Mubarak đã được học tiếng Anh. Năm 2004 Hoa Kỳ đã thuyết phục được chính phủ Mubarak thông qua luật về khóa học bắt buộc các bài giảng về quyền con người ở từng khoa của các trường đại học Ai Cập. Kết quả là, năm 2005 – 2006 chính phủ Hoa Kỳ đã thực chương trình đào tạo quy mô lớn về quyền con người cho giảng viên các trường đại học. Khoảng 500 giảng viên các trường đại học đã được đào tạo lại và tiếp nhận kinh nghiệm phát triển các tổ chức phi chính phủ bên ngoài trường đại học. Trong “Mùa xuân Arab”, trường đại học Mỹ trở thành nơi truyền tải kiến thức và kỹ năng sử dụng các mạng xã hội để vận động nhân dân. Chính phủ Hoa Kỳ đã cử các chuyên gia Mỹ tới tiến hành các cuộc hội thảo trong lĩnh vực này cho sinh viên và công chúng Ai Cập dưới mái trường đại học. Nói cách khác, vào những năm 2000, hai trường đại học của Mỹ – ở Beirut và Cairo – đã trở thành các trung tâm đào tạo cán bộ cốt cán, các nhà lãnh đạo và đào tạo lại các thành viên chính phủ.

Có thể rút ra những đặc điểm sau đây trong chính sách xây dựng và phát triển các trường đại học quốc gia của Mỹ ở nước ngoài:

Thứ nhất, các trường đại học của Mỹ ở nước ngoài tuân thủ các truyền thống giáo dục của Mỹ. Ở tất cả các trường đại học đều có hội đồng quản trị, các khoa nghệ thuật tự do và quản trị kinh doanh, tất cả chúng đều có quyền tự chủ, việc giảng dạy và giao tiếp của sinh viên với các giáo sư được thực hiện bằng tiếng Anh. Các trường đại học của Mỹ ở nước ngoài duy trì được những đặc trưng dân tộc của mình và thể hiện tính linh hoạt đối với những yêu cầu của quốc gia và khu vực mà chúng hoạt động.

Thứ hai, Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ, với tính cách là cơ quan chính phủ, cấp kinh phí cho các trường đại học Mỹ ở nước ngoài nếu chúng góp phần vào việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị đối ngoại của Hoa Kỳ và phổ biến các mô hình giáo dục của Mỹ tại các trường địa phương. Các khoản trợ cấp được giao cho các tổ chức trung gian của Mỹ nhằm đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chính trị.

Thứ ba, Hoa Kỳ sử dụng hiệu quả các trường đại học Mỹ ở nước ngoài như là công cụ của chính sách đối ngoại. Ví dụ, như dự án cuối cùng về dân chủ hóa các nước vùng Cận Đông đã biến một số trường đại học của Mỹ ở nước ngoài thành các trung tâm đào tạo chính trị gia, cán bộ cốt cán, quan sát viên bầu cử và nhà báo.

Cuối cùng, chính sách giáo dục này của Hoa Kỳ để lại dấu ấn đặc biệt ở cả những quốc gia cấm Hoa Kỳ xây dựng các trường đại học Mỹ. Iran có thể là một ví dụ, nước này loại bỏ sự hiện diện của Hoa Kỳ tại các cơ sở giáo dục của mình. Tuy nhiên, các trường đại học được thành lập vẫn hoạt động, duy trì những nét đặc trưng của mô hình giáo dục Mỹ.

Người dịch: Đoàn Tâm

Hiệu đính: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TN 2014 – 27 & 28

Advertisements

Trường đại học của Mỹ ở nước ngoài: Thực tiễn xây dựng và phát triển – Phần II


Lợi ích của Hoa Kỳ ở các nước và các khu vực riêng rẽ ảnh hưởng đến cách tiếp cận của chính phủ đối với việc phát triển mô hình giáo dục Mỹ. Ví dụ, trong không gian hậu Xô viết và ở các nước Đông Âu, nhiệm vụ đào tạo nhóm doanh nhân chuyên nghiệp mới và các nhà chính trị dân chủ được ưu tiên và các chương trình giáo dục thuộc lĩnh vực này được mở rộng tại các trường đại học Mỹ ở Trung Á, Bulgaria và Armenia. Nhiệm vụ đặt ra tại các nước vùng Cận Đông là thay đổi hình ảnh của Hoa Kỳ và dân chủ hóa khu vực. Chính vì vậy, các chương trình trong lĩnh vực nghệ thuật tự do được ưu tiên trong các trường đại học Mỹ ở Ai Cập, Lebanon và UAE.

Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ và chi nhánh của nó – các cơ sở giáo dục và bệnh viện của Mỹ ở nước ngoài – là những người đỡ đầu và quản lý chủ yếu các trường đại học Mỹ ở nước ngoài. Cơ quan Phát triển Quốc tế trực thuộc Bộ Ngoại giao và được Quốc hội Hoa Kỳ tài trợ. Nó chịu trách nhiệm trước hai cơ quan này về tăng cường lợi ích chính trị đối ngoại của Washington thông qua hoạt động của các trường đại học Mỹ ở nước ngoài. Cơ quan Phát triển Quốc tế không cấp kinh phí trực tiếp cho các trường đại học Mỹ ở nước ngoài mà thông qua các trung gian Mỹ, những người lập ra các trường đại học này, hoặc thông qua các hội đồng bảo trợ của Mỹ đối với các cơ sở giáo dục tương tự. Cơ quan Phát triển Quốc tế ký hợp đồng với từng trung gian về cấp kinh phí và thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt mà chính phủ Hoa Kỳ chỉ rõ trong văn bản hợp đồng. Dựa trên các tài liệu nghiên cứu, có thể rút ra kết luận rằng, Cơ quan Phát triển Quốc tế kiểm soát hai thành tố quan trọng nhất trong các hoạt động của các trường đại học của Mỹ ở nước ngoài: thứ nhất, thực hiện các nhiệm vụ chính trị đối ngoại đã đề ra; thứ hai, mở rộng mô hình trường đại học Mỹ trong khu vực.

Tất cả các trường đại học Mỹ ở nước ngoài nhận kinh phí từ Cơ quan Phát triển Quốc tế đều có nghĩa vụ phát triển các chương trình giáo dục thuộc lĩnh vực các bộ môn nghệ thuật tự do, quản lý việc kinh doanh, y học, các khoa học chính xác và nông nghiệp; tiến hành giảng dạy bằng tiếng Anh; xây dựng hội đồng quản trị bao gồm các công dân Mỹ và tuân thủ các nguyên tắc tự do học thuật. Cần lưu ý rằng, trong phần lớn trường hợp, các trường đại học này đã tuân thủ đúng các nghĩa vụ.

Ngoài ra, Cơ quan Phát triển Quốc tế còn tiến hành đánh giá hiệu quả hoạt động của các trường đại học của Mỹ ở nước ngoài. Hoạt động của các trường đại học này được công nhận là thành công nếu trường đại học: 1) “bồi dưỡng” được các chuyên gia có khả năng truyền bá và vận dụng những tư tưởng Mỹ trong lĩnh vực kinh doanh, quản lý nhà nước và khoa học vào thực tiễn; 2) tuân thủ mô hình giáo dục Mỹ và mở rộng nó sang các cơ sở giáo dục khác trong khu vực; và 3) xúc tiến hình ảnh tích cực của Hoa Kỳ.

Những đặc thù trong chính sách của Hoa Kỳ

Có thể chia chính sách của chính phủ Hoa Kỳ trong lĩnh vực xây dựng các trường đại học Mỹ ở nước ngoài làm hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất – năm 1959 – 1990, khi sự đối lập về hệ tư tưởng với Liên Xô dẫn đến sự hình thành chính sách có quy mô lớn về xây dựng các trường đại học để đào tạo giới elite hướng đến các giá trị Mỹ. Giai đoạn thứ hai – những năm 1990 – 2013, khi các nhiệm vụ đối ngoại mới của Hoa Kỳ ở các nước thuộc khu vực Á – Âu và Cận Đông tạo điều kiện chính trị hóa mạnh mẽ các cơ sở giáo dục này.

Trong thời kỳ “Chiến tranh Lạnh”, sự đối lập về hệ tư tưởng với Liên Xô đã tạo điều kiện mở các trường đại học mới để đào tạo giới elite trung thành với Mỹ. Các trường đại học mới đã được thành lập ở khu vực APAC, các nước Mỹ Latinh và vùng Cận Đông.

Nơi chủ yếu tiếp nhận mô hình giáo dục Mỹ là vùng Cận Đông. Đây chính là nơi đã diễn ra sự đối đầu chủ yếu giữa các siêu cường để tranh giành đồng minh mới. Nổi tiếng nhất – trường đại học Mỹ ở Beirut (The American University in Beirut) đã trở thành bàn đạp để mở rộng mô hình giáo dục Mỹ tại các nước trong vùng Cận Đông. Việc thành lập Khoa các bộ môn Nghệ thuật Tự do và Khoa học Quản lý, việc giảng dạy bằng tiếng Anh, sự tự quản của sinh viên đã lần đầu tiên được áp dụng chính ở Lebanon. Trường đại học Mỹ đã trở thành trung tâm khu vực chuyên đào tạo các thành viên chính phủ và giới elite cho 118 quốc gia vùng vịnh Ba Tư, châu Phi, vùng Cận Đông, cũng như khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Nó đã trở thành trường đại học lớn nhất của Hoa Kỳ trên thế giới: nếu ở các trường đại học khác của Mỹ giảng dạy tối đa 2,5 nghìn sinh viên, thì ở Beirut – khoảng 7,5 nghìn sinh viên. Đại diện Cơ quan Phát triển Quốc tế ở Lebanon đã tham gia lựa chọn sinh viên, xây dựng các kế hoạch học tập cũng như nghiên cứu vấn đề tuyển thêm sinh viên các nước khác trong khu vực. Phần lớn tốt nghiệp sinh đều giữ các chức vụ cao trong chính phủ nước mình, điều này tác động đến hình ảnh của trường đại học với tính cách là lò rèn giới elite. Ngoài ra, vị thế của Đại học toàn Arab, nơi những tư tưởng của chủ nghĩa dân tộc phát triển mạnh mẽ dưới sự trợ lực của Mỹ, cũng góp phần làm cho nó được phổ biến rộng rãi trong giới trẻ. Điều này cho phép chính phủ Hoa Kỳ sử dụng nó như một công cụ tuyên truyền. Sinh viên mang phim Mỹ đến các nước khác của vùng Cận Đông và tổ chức các lớp học mùa hè đặc biệt cho quân nhân Mỹ nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Arab. Chỉ vào những năm 1980, do xung đột quân sự ở Lebanon, trường đại học mới bắt đầu trải qua thời kỳ gay go. Số lượng sinh viên giảm: năm 1978 có khoảng 300 sinh viên đến Beirut, nhưng năm 1988 chỉ có 7 sinh viên.

Đại học Mỹ ở Cairo (The American University in Cairo) cũng là một cơ sở giáo dục độc nhất vô nhị. Đây là trung tâm giáo dục của Mỹ ở khu vực Bắc Phi và vịnh Ba Tư. Cho đến cuối những năm 1940, trường đại học Mỹ ở Cairo được các quốc gia Arab đánh giá tích cực – sinh viên từ các quốc gia vùng Cận Đông đều tập trung về đây. Việc chính phủ xã hội chủ nghĩa của Nasser lên cầm quyền trong những năm 1950 đã làm cho sự tồn tại của trường đại học trở thành vấn đề. Tất cả các trường học của nước ngoài đều bị chính phủ Ai Cập đóng cửa. Nhưng hoạt độn ngoại giao khôn khéo của Hoa Kỳ và mong muốn được học tập ở đại học Mỹ của con gái tổng thống Ai Cập là những nhân tố duy trì trường đại học. Trường đại học ở Cairo nhanh chóng trở thành nơi học tập cho giới elite Ai Cập. Phu nhân của tổng thống Ai Cập tương lai Mubarak, con cái của các thành viên chính phủ đều được nhận bằng thuộc lĩnh vực quản trị kinh doanh, tiếng Anh và các bộ môn nghệ thuật tự do. Nhờ sự nổi tiếng của trường đại học trong giới elite, chính phủ Hoa Kỳ vẫn duy trì được thành phần người Mỹ trong ban quản trị trường đại học để qua đó kinh phí của trường đại học được chuyển tới.

Iran đã trở thành một trung tâm khác thu hút chính sách giáo dục Mỹ thời kỳ đó. Ngay sau cuộc đảo chính năm 1953, Hoa Kỳ đã đề nghị Quốc vương mới và trung thành Pahlavi mở trường đại học Mỹ. Tuy nhiên, Iran không vội hợp tác với Hoa Kỳ trong lĩnh vực giáo dục. Mãi đến năm 1960 quốc vương Iran mới cho phép chính phủ Hoa Kỳ và trường đại học ở bang Pennsylvania bắt đầu các cải cách ở một trong số các trường trung cấp kỹ thuật. Các chương trình học tập của Mỹ thuộc lĩnh vực các bộ môn nghệ thuật tự do đã được triển khai. Năm 1966, trên cơ sở trường trung cấp, Hoa Kỳ đã xây dựng một trường đại học mới mang tên Quốc vương Iran – Pahlavi University. Trường đại học này có nhiệm vụ đào tạo giới elite chính trị thân Mỹ. Chính phủ Hoa Kỳ tổ chức một hệ thống cử giảng viên Mỹ sang thuyết trình các bài giảng, nhiều nhà chính trị Iran đã được nhận học vị tại Hoa Kỳ. Ngoài ra, theo đuổi mục tiêu dân chủ hóa Iran, năm 1968 chính phủ Hoa Kỳ đã xây dựng trường đại học dành cho nữ giới ở Iran với tên gọi Damavand College. Trường đại học này thực hiện chức năng chính trị và xã hội quan trọng nhất – đào tạo giáo viên tiếng Anh chuyên nghiệp và góp phần phát triển tính tích cực chính trị của phụ nữ Iran hiện đại.

Sau cách mạng Hồi giáo, các chuyên gia Mỹ đã rời khỏi các trường đại học và các hội đồng quản trị đã bị giải tán. Tuy nhiên, ngày nay mô hình giáo dục Mỹ vẫn được duy trì ở trường đại học Pahlavi cũ, giờ được gọi là Đại học Shiraz. Nhiều môn học được giảng dạy bằng tiếng Anh. Mặc dù có nhiều thay đổi trong quan hệ chính trị giữa Hoa Kỳ và Iran, song Đại học Damavand vẫn tiếp tục đào tạo giảng viên tiếng Anh ở Iran. Kinh nghiệm của Iran cho thấy rằng, mặc dù quan hệ chính trị giữa các nước có thể xấu đi nhưng những đặc điểm của nền giáo dục và chương trình giáo dục Mỹ gần như không thay đổi.

Sự kết thúc đối đầu về hệ tư tưởng giữa Hoa Kỳ và Liên Xô vào đầu những năm 1990 đã tạo điều kiện cho chính phủ Hoa Kỳ mở rộng số lượng các trường đại học Mỹ tại các nước Đông Âu và các nước cộng hòa Xô viết cũ. Các trường đại học của Mỹ ở Bulgaria, Armenia, Kosovo và Kyrgyzstan giữ vai trò đặc biệt trong việc mở rộng ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Chúng trở thành các trung tâm giáo dục của khu vực, thu hút sinh viên từ các quốc gia láng giềng, trở thành các mô hình để cải cách các trường đại học địa phương.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đoàn Tâm

Hiệu đính: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TN 2014 – 27 & 28

Trường đại học của Mỹ ở nước ngoài: Thực tiễn xây dựng và phát triển – Phần I


N.A. Cvetkova

Tóm tắt

Tác giả phân tích chính sách giáo dục của Mỹ trong lĩnh vực xúc tiến các trường đại học Mỹ ở nước ngoài. Chính phủ đỡ đầu và kiểm soát 47 trường đại học ở tất cả các khu vực trên thế giới. Bài viết cũng xem xét các phương pháp đầu tư và đánh giá hiệu quả của các trường đại học, hoạt động của Cơ quan Phát triển Quốc tế với tính cách là cơ quan phụ trách chính sách của Hoa Kỳ trong lĩnh vực này.

Việc xây dựng các trường đại học quốc gia ở nước ngoài ngày càng phổ biến trong giới cầm quyền nhiều quốc gia. Trung Quốc, Iran, Arab Saudia, Đức cũng đang phát triển các dự án thành lập các trường học ở nước ngoài. Hoa Kỳ vẫn là nước dẫn đầu về số lượng các trường loại này. Từ giữa thế kỷ XIX, các quỹ tư nhân của Mỹ đã mở các trường đại học và trường phổ thông ở nước ngoài. Vào năm 1959, chính phủ Mỹ đã đề ra chương trình tài trợ bằng ngân sách cho các trường đại học Mỹ hiện có và bắt đầu xây dựng các trường đại học mới ở nước ngoài. Các trường đại học Mỹ ở nước ngoài trước đây thường được sử dụng làm cơ sở đào tạo lại các chính trị gia và thành viên các tổ chức phi chính phủ. Chẳng hạn trong thời kỳ “Chiến tranh Lạnh” hay “Mùa xuân Arab” là như vậy. Trong thời kỳ thực hiện chính sách mở rộng các trường đại học Mỹ ở nước ngoài, chính phủ Mỹ đã đề ra cơ chế hiệu quả để duy trì hoạt động và gìn giữ nét đặc trưng kiểu Mỹ của các trường đại học của mình ở nước ngoài, mặc dù có những vấn đề chính trị khác nhau xuất hiện tại các nước đặt trường. Nhiều cách tiếp cận và phương pháp được Hoa Kỳ sử dụng trong xây dựng và phát triển các trường đại học quốc gia ở nước ngoài có thể được vận dụng vào chính sách đối ngạoi và ngoại giao công của Nga.

Vấn đề Hoa Kỳ xây dựng và phát triển các trường đại họ của Mỹ ở nước ngoài như thế nào vẫn ít được nghiên cứu. Các dự án của chính phủ Hoa Kỳ như trường đại học Mỹ ở Lebanon, Ai Cập, Bulgaria đã được nghiên cứu trong khoa học hiện đại. Đề tài phát triển các trường đại học dành cho phụ nữ ở Armenia, Hy Lạp và các nước khác cũng được khai thác. Một số vấn đề riêng lẻ về hoạt động giáo dục của các quỹ của Mỹ ở Iran và Arab Saudia thời kỳ “Chiến tranh Lạnh” cũng được nghiên cứu. Tuy nhiên, chính sách xây dựng trường đại học của Mỹ ở nước ngoài giai đoạn hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ, mặc dù hiện nay chính phủ Hoa Kỳ đang thực hiện những bước đi mới quy mô lớn nhằm xây dựng và cải cách các trường đại học ở các nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương (APAC), vùng Cận Đông, cũng như sử dụng các cơ sở giáo dục của Mỹ ở nước ngoài vào các dự án chính trị.

Do vậy, mục đích của nghiên cứu này là làm rõ nét những đặc trưng trong chính sách xây dựng và phát triển các trường đại học của Hoa Kỳ ở nước ngoài. Chúng tôi chỉ xem xét các trường đại học của Mỹ nhận tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ và thực hiện các mục tiêu do chính phủ đề ra.

Phần đầu bài viết phân tích cơ chế của chính phủ, những ưu tiên về chính trị và khu vực trong chính sách giáo dục của Mỹ về xây dựng các trường đại học của Mỹ ở nước ngoài. Phần này cũng trình bày các phương thức cấp kinh phí và phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục Mỹ. Phần thứ hai của bài viết làm rõ những đặc điểm trong chính sách của chính phủ Hoa Kỳ về xây dựng và phát triển các cơ sở giáo dục của Mỹ ở nước ngoài từ năm 1959 đến hết năm 2013.

Trường đại học Mỹ ở nước ngoài: cách thức xây dựng và giám sát hoạt động

Chính phủ Hoa Kỳ, theo số liệu năm 2013, đỡ đầu 47 trường đại học Mỹ ở nước ngoài. Khoảng một nửa trong số này trong tên gọi của mình không có tính ngữ “Mỹ”. Tuy nhiên, tất cả các cơ sở giáo dục đều do các tổ chức của Mỹ mở và nhận tài trợ từ chính phủ Hoa Kỳ. Các trường đại học như vậy hiện nay được xây dựng ở khắp các khu vực trên thế giới và phần lớn chúng hoạt động ở các nước châu Phi và vùng Cận Đông (bảng 1).

Bảng 1: Số lượng cơ sở giáo dục Mỹ ở nước ngoài do chính phủ Hoa Kỳ đỡ đầu, năm 2013

Khu vực Tổng số cơ sở giáo dục Trong đó
Trường đại học Trường phổ thông
 Châu Phi 18 13 5
Vùng Cận Đông 17 13 4
Khu vực Á – Âu 12 10 2
Mỹ Latinh 8 4 4
APAC 7 7 0
Tổng số 62 47 15

American Schools and Hospitals Aborad, Regions, USAID (www.usaid.com)

Trong suốt lịch sử tồn tại của chính sách giáo dục của chính phủ Hoa Kỳ trong lĩnh vực này (1995 – 2012), khối lượng tiền bạc lớn nhất được chi cho các nước vùng Cận Đông và khu vực Á – Âu (bảng 2).

Bảng 2: Kinh phí chính phủ Hoa Kỳ cấp cho các cơ sở giáo dục ở nước ngoài, 1959 – 2012

Khu vực Triệu USD
Vùng Cận Đông 471
Châu Âu và khu vực Á – Âu 135
APAC 127
Mỹ Latinh 101
Châu Phi 86

Chính phủ bắt đầu tài trợ cho các cơ sở giáo dục Mỹ ở nước ngoài từ năm 1957. Theo quy luật “an ninh tương hỗ”, “các trường đại học của Mỹ được thành lập ở nước ngoài theo sáng kiến riêng của công dân Mỹ là công cụ quan trọng để phát triển tư tưởng và văn hóa Mỹ cũng như để đào tạo chuyên gia cho các nước thuộc thế giới thứ ba”. Các khoản tài trợ đầu tiên được phân phối vào năm 1959. Ngày nay, hoạt động của chính phủ Hoa Kỳ trong lĩnh vực này được điều tiết và tài trợ theo luật viện trợ nước ngoài. Điều 214 của luật nêu rõ, chính phủ Hoa Kỳ bảo đảm trợ giúp các cơ sở giáo dục ở nước ngoài do các tổ chức của Mỹ xây dựng và thể hiện tư tưởng và thực tiễn của nhà nước Mỹ.

Trong suôt lịch sử tồn tại của chính sách này, chính phủ Hoa Kỳ hiếm khi thay đổi các mục tiêu của nó. Trong thời kỳ “Chiến tranh Lạnh”, chính sách này theo đuổi mục tiêu chống lại “sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản ở khu vực Địa Trung Hải (bán đảo Balkan) và ở các quốc gia vùng Cận Đông”. Chính phủ Hoa Kỳ tích cực trợ giúp các dự án phát triển các trường đại học của Mỹ đã được xây dựng ở Ai Cập, Hy Lạp, Lebanon và Thổ Nhĩ KỲ. Mục tiêu hiện nay của việc trợ giúp các trường đại học của Hoa Kỳ đang hoạt động ở nước ngoài là: quảng bá hình ảnh tích cực của Hoa Kỳ, đào tạo các nhà lãnh đạo (giới elite) và mở rộng nhận thức về các thể chế kinh tế và ch1inh trị của Hoa Kỳ thông qua giáo dục.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đoàn Tâm

Hiệu đính: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TN 2014 – 27 & 28

Quá trình thương mại hóa đại học ở Mỹ – Phần cuối


Một phần gây nên thái độ trên là cảm giác mất mát tương đối. Mặc dù ít có giảng viên đại học nào trải qua cảnh an bần lạc đạo của các thời kỳ trước đây, nhưng sự kỳ vọng của họ lớn nhanh hơn thu nhập. Không giống những bậc tiền bối, các vị hàn lâm ngày nay có những bằng cấp giáo dục mở rộng, thường đi kèm với những khoản nợ giáo dục nhiều không kém. Họ cảm thấy mình có quyền được tưởng thưởng tương đương với những nhà chuyên môn có bằng cấp tương tự khác, và đặc biệt bị xúc phạm trước những bất quân bình trong trường hoặc bộ môn của họ. Giảng viên khoa học cơ bản không hài lòng với thang lương của họ so với những giảng viên ở những khoa chuyên ngành. Tuy nhiên những gảing viên của các khoa này lại cũng xem là mình chưa được tưởng thưởng xứng đáng: và nhóm so sánh của họ là những người hành nghề chuyên môn. Để trả lời cho khiếu nại của một giáo sư văn học, một đồng nghiệp ngành luật của tôi gay gắt đề nghị: “nếu ông ta nghĩ mình xứng đáng nhiều như tôi, hãy cho ông ta ra ngoài xã hội mà thực hành tiếng Anh”. Phụ nữ cũng nêu ra những ưu tư về bình đẳng lương bổng. Những giảng viên nữ có mặt đa số trong những vị trí giảng dạy và điều hành ít bổng lộc nhất, và chiếm thiểu số trong nhóm những “ngôi sao” được giữ chức trọn đời. Những bậc lương cao nhất được dành cho, một cách bất quân bình, những nam giáo sư lâu năm, những người ít bị ràng buộc gia đình hơn những nữ đồng nghiệp và có nhiều cơ hội chuyển chỗ làm, hoặc đe dọa chuyển chỗ hơn, để đáp lại những lời mời hấp dẫn hơn. Việc bồi dưỡng cho những giảng viên làm việc bán thời gian cũng là một vấn đề đang dần trở nên đáng chú ý, nhất là khi xét tới thế mạnh thương lượng hạn hẹp và số lượng ngày càng tăng của họ.

Trớ trêu thay, những người ít than phiền nhất lại là những người hứng chịu sự bất bình lớn nhất: những nhân viên văn phòng và bảo dưỡng không có công đoàn riêng, những người thường được trả lương dưới mức sống này là nỗi xấu hổ cho những tháp ngà mà họ phục vụ. Những nhà phê bình xã hội như Barbara Ehrenreich đã ghi nhận, nếu các đại học quá chú trọng giảng dạy về các giá trị nhân văn và công bằng xã hội như thế, nhiều trường nên nhìn kỹ hơn vào những mối quan hệ lao động của họ. Ehrenreich đề nghị mọi người đi tham quan thực tế những tòa nhà dành cho hiệu trưởng, nơi được trang bị phòng tắm hơi, quầy pha rượu, và phòng tập thể hình, kèm với chuyến đi thăm những khu đậu xe kéo làm nhà cho những nhân viên lau dọn và bảo dưỡng.

Những người nắm giữ cổ phần kẹt giữa những yêu cầu trái ngược nhau cũng cảm thấy bị bao vây. Người ta mong muốn những người điều hành các đại học làm được nhiều viêc hơn với ít nguồn lực hơn. Hầu hết đối mặt với ngân sách cố định hoặc ngày càng thu hẹp và chi phí ngày càng tăng, đặc biệt trong những lĩnh vực như công nghệ, trang thiết bị khoa học, và chăm sóc sức khỏe. Các chuyên gia đồng ý với nhau ở điểm là tình hình khó hy vọng cải thiện. Các nhà lập pháp cũng bị kẹt giữa các làn đạn của họ, và những nhu cầu của giáo dục đại học thường không khẩn thiết như của quốc phòng, thực thi luật pháp, y tế, an ninh xã hội, và những chương trình trợ giúp xã hội khác. Và nhiều chính khách cũng không thể hiểu vì sao trợ giúp học phí rộng rãi hơn lại là ưu tiên cho phần lớn sinh viên không thiếu thốn tài chính đáng kể. Gần 40% con em các gia đình có thu nhập hơn 200.000 USD hàng năm lại học các viện đại học công lập và hưởng lợi từ trợ cấp giảm thuế.

Nhiều chính trị gia thậm chí còn miễn cưỡng hơn trong việc tài trợ những cuộc cạnh tranh mời chào giảng viên nổi tiếng trong cuộc theo đuổi danh tiếng của học viện. Những giáo sư này nâng cao thứ hạng danh tiếng của học viện, nhưng sự hiện diện thực sự của họ ở trường và những đóng góp cho cộng đồng trường thường rất nhỏ bé. Một nghề nghiệp thường tự xưng mình là “thuộc thế giới tinh thần” đã ngày càng lộ liễu trong việc theo đuổi những phụ cấp và danh tiếng kèm theo đó. Trong một mô tả chân dung lừng danh của nhà văn Anh David Lodge, giáo sư siêu sao người Mỹ Morris Zapp trơ tráo thừa nhận với một người hâm mộ trẻ rằng, “Trước khi nghỉ hưu, tôi muốn là giáo sư tiếng Anh được trả lương cao nhất trên thế giới”. Ước muốn đó, ở một cấp độ vi mô hơn, thúc đẩy những cuộc thương lượng tranh giành những ngôi sao đại học đắt giá có thể bao gồm mọi thứ từ nhà ở xa hoa, giảm giờ dạy, và vé xem bóng rổ cả mùa cho đến làm việc toàn thời gian cho tất cả tùy tùng, bao gồm cả đồng nghiệp, vợ chồng, và những nghiên cứu sinh tiến sĩ. Một nhà quản lý tức khí quá cuối cùng đã mất kiên nhẫn khi những yêu sách không ngừng tăng lên này đạt đỉnh điểm bằng việc giảng viên yêu cầu con mình phải có chỗ trong những trường tư danh giá: “Nếu ngôi sao này vào trường, cô ta có thể gọi mình vào giữa khuya để nhờ gọi giùm sâm banh Pháp và cho đánh bóng đôi giày Prada không?” Nếu ngôi sao cần cơ sở vật chất cho thí nghiệm, thì mức giá hiện thời có thể lên đến 20 triệu USD. Ngay cả với những nhà cổ điển học được trả lương khiêm tốn hơn nhiều, thì bảng giá của họ sau cùng hóa ra lại rất đáng kể. Nó không chỉ bao gồm khoản bù đắp cho giảng viên chính và đoàn cộng sự, nó còn phản ánh nhu cầu cần có sự điều chỉnh từ phía đội ngũ giảng viên hiện tại, những người sẽ gánh vác việc giảng dạy, họp hành, và những trách nhiệm liên quan tầm thường mà vị đồng nghiệp thường xuyên vắng mặt kia của họ né tránh.

Cuộc cạnh tranh giành lấy những sinh viên tài năng cũng có những hậu quả đáng lo ngại không kém. Những khách hàng của giáo dục đại học vừa chỉ trích mức học phí quá cao, vừa đòi hỏi phải có những dịch vụ đắt giá hơn: sự liên hệ giảng viên – sinh viên chặt chẽ hơn và nhiều tiện nghi cơ sở vật chất hiện đại nhất. Một bức biếm họa trên tờ New Yorker đã minh họa mong mỏi đó. Nó vẽ hình một nữ sinh phổ thông giải thích với giáo viên hướng nghiệp của cô ta: “Đại học nguyện vọng của em phải có nhiều ngăn tủ để đồ”. Trong một thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, nơi mà việc xếp hạng phần nào dựa trên sự lựa chọn đầu vào, các trường đua nhau giành những sinh viên giỏi nhất và thông minh nhất bằng cách mời chào đủ thứ từ những bữa ăn sành điệu đến huấn luyện viên riêng. “Đây không phải là sự nuông chiều”, một hội trưởng hội sinh viên cố gắng giải thích với gương mặt nghiêm trang: “Đây là chuyện xây dựng cộng đồng”.

Đây cũng là chuyện tiền bạc. Để thu hút những sinh viên điểm cao nhất, các đại học đang ngày càng nhờ vào những học bổng xét điểm. Theo những đánh giá gần đây, chỉ có khoảng mười lăm đến hai mươi học viện tư có trợ giúp tài chính dành riêng theo nhu cầu, và khoảng một phần tư khoản trợ giúp ở trường công là được cấp phát mà không xét đến hoàn cảnh kinh tế. Hệ quả là giảm bớt giúp đỡ cho những ai cần đến nó nhất, và ngăn cản những người có thu nhập thấp. Trong thập kỷ vừa qua, Mỹ đã rơi từ vị trí đứng đầu xuống hạng mười ba về sự tham gia đại học so với những nước phát triển. Sự bất bình đẳng giáo dục do thu nhập gia đình được thông báo là giống như cách đây ba mươi năm, và sự bất bình đẳng diễn ra nhiều nhất ở những học viện chọn lọc vốn có thể sẵn sàng giải quyết việc đó nhất.

Đứng trước sự tiếp cận bất cập, những đòi hỏi tài chính ngày càng lớn, và những nguồn lực hoặc cố định hoặc ngày càng giảm, nhiều đại học đối mặt với những lựa chọn không vui. Cắt giảm chi phí thường là lựa chọn đau đớn điển hình nhất. Từ quan điểm của giảng viên, tiền lương và việc làm cố định là chiến lược cuối cùng. Những chương trình cắt giảm có chọn lọc tương tự cũng không thích hợp vì các cộng đồng hàn lâm hiếm khi nhất trí về cái gì là có thể hy sinh được, hoặc thậm chí về những tiêu chuẩn để quyết định những chuyện đó. Một khi được thiết lập, hầu hết các chương trình này dựng nên những quan hệ khách hàng khó cắt bỏ; ở nhiều trường “xế chiều là khoảnh khắc hầu như không bao giờ đến”. Lựa chọn được ưa chuộng một cách dễ hiểu là tìm thêm các nguồn thu. Nhưng hậu quả của quá trình thương mại hóa có cái giá của nó, và thường là bào mòn những giá trị hàn lâm mà lẽ ra nó phải phục vụ.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Deborah L. Rhode – Theo đuổi tri thức – NXB TĐ 2012.

Quá trình thương mại hóa đại học ở Mỹ – Phần đầu


Trong khi “chủ nghĩa tư bản hàn lâm” khó được coi là một hiện tượng mới, thì quy mô và tầm ảnh hưởng của nó là chưa từng có. Nhiều chuyên gia giáo dục đại học đã tập hợp tài liệu sâu rộng về “quyền lực thô bạo” mà tiền bạc hiện nắm giữ trong đời sống hàn lâm. Qua một phần tư thế kỷ vừa rồi, vì giá trị thương mại của tài sản trí tuệ mà các trường mang lại ngày càng rõ rệt và những nhu cầu tài chính cho giáo dục đại học cũng tăng lên, nên ranh giới giữa dân thường và giới hàn lâm từ từ bị xóa nhòa. Mặc dù không ai nghi ngờ những tiến bộ mà cạnh tranh thị trường và những hoạt động sinh lợi có thể mang lại, nhưng những ưu tiên hàng đầu đó cũng có cái giá của chúng.

Những ảnh hưởng bất lợi rõ ràng nhất là sự chệch hướng của nỗ lực hàn lâm và sự méo mó trong những ưu tiên hàn lâm. Với một chút phá cách, Hutchins đã từng cảnh báo: “Khi một học viện [hàn lâm] làm gì đó để có tiền, nó hẳn phải đáh mất linh hồn của nó”. Dĩ nhiên, theo tiêu chuẩn đó, được áp dụng chặt chẽ, thì chỉ còn vài người để than khóc. Nhưng khi càng khăng khăng chạy theo lợi nhuận, thì càng có nhiều nguy cơ là điều đó sẽ phá tan mục tiêu mà nó muốn phục vụ.

Trong một thế giới lý tưởng, những ưu tiên nghiên cứu thường được xác định bằng những yếu tố có thể thúc đẩy việc theo đuổi tri thức nhất. Trong thế giới mà ta biết, người ta thường chăm chăm vào những yếu tố thu hút nhất đối với chính phủ, cơ quan tài trợ, doanh nghiệp, hoặc cá nhân gây quỹ. Và khi các học viện hoặc các giảng viên có thể kiếm một khoản lợi tức thông qua bằng sáng chế hay một phần quyền sở hữu, hoặc khi những nhà tài trợ khăng khăng giữ bí mật hoặc kiểm soát việc công bố để bảo vệ khoản đầu tư của họ, thì những khả năng băng hoại còn lớn hơn nữa. Tại sao lại tập trung quá nhiều công sức vào nghiên cứu cơ bản “khi mà tất cả tiền đều dùng để cải tiến quần bó vận động thoải mái?” Một sự cám dỗ mơ hồ, nhưng cũng gây hại không kém là việc xây dựng những trung tâm, chương trình, hội đồng, và cơ sở vật chất phục vụ cho lợi ích của những ân nhân gây quỹ hơn là những ưu tiên của học viện. Nhưng trong một nền văn hóa vốn lấy tăng trưởng làm thước đo cho uy tín, có một thứ gì đó thì tốt hơn là không có gì. Nên chừng nào những mục tiêu tri thức có vẻ hợp lý còn tồn tại, thì những nhà tài trợ còn hưởng lợi từ đồng tiền họ bỏ ra.

Những thế lực đó cũng tác động đến những hoạt động sinh lợi của học viện, chẳng hạn những môn thể thao tốn kém, những thỏa thuận tư vấn, hoặc những chương trình giáo dục thường xuyên vốn thiếu nội dung hàn lâm quan trọng. Những vấn đề gắn liền với những dự án kiểu này đã được thu thập tài liệu quá đủ, bị than phiền từ lâu, nhưng chưa được xử lý thích đáng. Ví dụ, phần lớn giảng viên kiếm được thu nhập là từ những dịch vụ ngoài trường. Nhưng mặc dù hầu hết các học viện đều có quy định hạn chế việc tư vấn của giảng viên trong biên chế, nhưng không trường nào cố gắng kiểm tra bản tường trình do chính tay các giáo sư viết. Và không phải tất cả mọi người trong hệ thống đánh giá đó cảm thấy đức hạnh đã đủ là phần thưởng. Nếu, như trong trường của tôi, các giáo sư bị giới hạn chỉ được làm việc cho bên ngoài một ngày mỗi tuần, thì nhiều người sẽ thấy ngày đó là “rất quan trọng so với các ngày còn lại [của họ]”. Những vụ tai tiếng thể thao đến rồi qua đi, với quá nhiều những cái bắt tay nhưng quá ít những chế tài có ý nghĩa. Khoảng hai phần ba dân Mỹ nghĩ rằng các viện đại học quá coi trọng thể thao, một nhận định được nhiều giảng viên đồng tình nhưng hầu hết các nhà quản lý trung ương bỏ qua. Mâu thuẫn về lợi ích xuất hiện từ những giao dịch giữa đại học và doanh nghiệp làm nảy sinh vô vàn tuyên bố đáng ưu tư nhưng lại rất ít hành động thiết thực. Điều tốt nhất mà một hội nghị viện đại học hàng đầu có thể làm là nhất trí rằng không có sự nhất trí nào về một chính sách “đúng” ngoài việc mỗi học viện “nên kiên quyết xử lý vấn đề”.

Một phần khó khăn là ở chỗ lợi ích từ những dự án sinh lợi thì có ngay trước mắt và định lượng được, trong khi rủi ro thì tản mát và tích tụ từ từ. Cuối cùng, cái đang bị đe dọa là uy tín về nghiên cứu vô vị lợi của học viện. Trong chừng mực đáng kể, thì uy tín đó là công lợi. Với bất kỳ giáo sư hay người lãnh đạo nào, điều cám dỗ là việc cho rằng những hoạt động thương mại của mình không đặt ra đe dọa lớn lao gì cả. Nhưng khi mọi người đều nghĩ như vậy, thì hậu quả rất băng hoại. Giáo dục đại học càng trở nên tích cực kinh doanh, nó càng phá đi những điều nó đã cam kết với lòng tin của công chúng và những công quỹ.

Vấn đề dường như trở nên trầm trọng hơn, khi những học viện phi lợi nhuận đối mặt với sự cạnh trnah ngày càng gay gắt từ những đối thủ vì lợi nhuận. Những trường tư thục như vậy là bộ phận phát triển nhanh nhất trong khu vực giáo dục đại học; chúng phát đạt nhờ đưa ra những khóa học ít tốn tiền, tiện lợi được phụ trách bởi những giảng viên được trả lương thấp, không được đảm bảo việc làm và rất ít, nếu có, thời gian hay sự trợ giúp cho việc nghiên cứu. Một số đánh giá gợi ý rằng hiện nay số lượng giảng viên trong khu vực vị lợi nhuận ngang bằng số lượng giảng viên trong khu vực giáo dục đại học truyền thống. Viện Đại học Phoenix là học viện hàn lâm lớn nhất nước Mỹ. Những học viện vị lợi nhuận nhìn chung hoạt động với rất ít quản lý chất lượng, nếu có, và nhiều trường mở ra những khóa học cũng nghèo nàn hoặc không chút nội dung hàn lâm, chẳng hạn xoa bóp chữa bệnh, sửa xe hơi, và viết báo cáo y tế (có nhấn mạnh vào “kỹ năng đánh máy” và thuật ngữ kỹ thuật).

“Những nhà máy chứng chỉ số hóa” khai thác công nghiệp đào tạo từ xa còn khiến nảy sinh những ưu tư lớn hơn. Một số học viện hoạt động gần như lừa đảo; họ khiến người theo học lầm tưởng về chuyện những tín chỉ sẽ được chuyển tiếp tới những học viện đáng tin cậy hay không và tuyên bố đảm bảo về những chứng chỉ, kỹ năng, và chỗ làm vốn được thổi phồng quá đáng. Một trong nhiều lời chào mời nhồi nhét vào hộp thư điện tử của tôi hứa hẹn “Lấy bằng đại học của một trường dnah tiếng trong vài tuần. Đây là một số điểm nổi bật: Lấy bằng trong 2 tuần, Không cần học, Bằng đã qua thẩm tra 100%, Nhiều mức lương 5 chữ số cao… tới 6 chữ số”. Những hứa hẹn khác thì: “Đạt được một tương lai thịnh vượng: tiền bạc, khả năng gặt hái, và danh tiếng gắn với tấm bằng mà bạn hằng ao ước. Bằng đại học không chính thức tùy theo trình độ và kinh nghiệm hiện nay của bạn. Nếu bạn đủ tiêu chuẩn, thì không kiểm tra, học hành, sách vở. Chúng tôi có sẵn bằng Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ trong lĩnh vực của bạn. Cam đoan được bảo mật”. Vậy thì sao lại bận tâm đến những trường tiếng tăm, với những đòi hỏi khó khăn và học phí đắt đỏ của họ, trong khi có sẵn giải pháp thay thế này?

Một trong những nỗ lực hiếm hoi để buộc những trường như vậy chịu trách nhiệm, một sinh viên đã bỏ ra mười một năm vô ích để tìm kiếm một cuộc sống hoàn hảo mà Viện Đại học Quốc tế Maharishi quảng cáo cuối cùng đã kiện trường vì tội lừa đảo. Mặc dù trường này cho là nguyên đơn lẽ ra phải học cách bay, thì anh ta chỉ học cách nhảy với đôi chân xếp lại trong tư thế kiết già. Và trái với cam kết của trường, việc ngân nga theo phương pháp được đề xuất không đảo ngược được quá trình lão hóa hay cho phép anh ta tự bay lên.

Các nhà hàn lâm phản ứng với quá trình thương mại hóa tiệm tiến theo nhiều cách khác nhau. Các phổ biến nhất là hoài nghi thế tục hoặc thờ ơ cam chịu. Việc than vãn cho những lý tưởng đã mất thì có ích gì? Như khoa trưởng khoa luật Richard Matasar khuyên, “Hãy vượt qua nó. Quá trình thương mại hóa đang ở đây, ngay lúc này, và nó sẽ không biến mất… Chúng ta là một doanh nghiệp, hãy đối phó với điều đó. Trong chừng mực đang có một vấn đề, các nhà hàn lâm thường xem đó là vấn đề của ai khác. Chỉ khi nào quyền lợi của chính họ bị đe dọa trực tiếp, bởi sự cắt giảm rõ rệt các nguồn tài trợ hoặc gia tăng nghĩa vụ nhà trường, thì các giáo sư mới quan tâm nhiều. Ngay cả lúc đó, sự phản ứng thường chỉ đơn giản là tập hợp dưới ngọn cờ tự do hàn lâm và lên án bất kỳ nỗ lực nào nhằm giới hạn quyền giữ chức vụ hoặc thu hẹp các chức danh và nguồn trợ giúp cho giảng viên.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Deborah L. Rhode – Theo đuổi tri thức – NXB TĐ 2012.

Quan chức tốt nghiệp Đại học Thanh Hoa được trọng dụng


Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh (Bắc Đại) là hai trường đại học nổi tiếng và có sức ảnh hưởng nhất Trung Quốc. Từ lâu nay, hai trường đại học này luôn trong tình trạng « trời đã sinh ra Du, sao còn sinh ra Lượng » (Chu Du và Gia Cát Lượng trong « Tam Quốc Diễn Nghĩa »). Thế nhưng, trong thời đại chống tham nhũng và cải cách cùng đồng hành hiện nay, tình cảnh của hai trường đại học Thanh Hoa và Bắc Đại lại có sự khác biệt rất lớn. Những quan chức tốt nghiệp trường Đại học Thanh Hoa đang như mặt trời giữa trưa, có thể hô phong hoán vũ trên chính trường. Còn quan chức tốt nghiệp trường Đại học Bắc Kinh trái lại đang giống như mặt trời lúc chiều tà, không làm nên trò trống gì.

Trong đợt điều chỉnh nhân sự cấp cao mới nhất của Trung Quốc trước Đại hội XIX dự kiến diễn ra vào cuối năm nay, các quan chức xuất thân và tốt nghiệp từ Đại học Thanh Hoa được trọng dụng và đi lên mạnh mẽ. Ví dụ như nguyên Hiệu trưởng Đại học Thanh Hoa Trần Cát Ninh (Chen Jining) được bổ nhiệm đảm nhận chức vụ cực kỳ quan trọng là Thị trưởng Bắc Kinh, trở thành một trong những lựa chọn kế nhiệm tầng lãnh đạo tối cao Trung Quốc. Hai người bạn cùng trường của Trần Cát Ninh là Lý Cán Kiệt (Li Ganjie) và Vương Mông Huy (Wang Menghui) cũng lần lượt giữ chức Bí thư Tổ đảng Bộ Bảo vệ môi trường và Bộ Xây dựng nhà nở thành phố và sẽ rất nhanh tiếp quản chức Bộ trưởng của hai bộ này. Còn Tỉnh trưởng Hắc Long Giang, Lục Hạo (Lu Hao), xuất thân từ trường Đại học Bắc Kinh, từng được nhìn nhận là ngôi sao chính trị đã bị gạt ra bên lề triệt để, mất đi địa vị tiếp quản chức Bí thư Tỉnh ủy Hắc Long Giang.

Giới phân tích chính trị Trung Quốc cho biết sự vươn lên mạnh mẽ của quan chức tốt nghiệp Đại học Thanh Hoa có nguyên nhân chủ quan và khách quan. Về khách quan, đương kim Tổng Bí thư Tập Cận Bình tốt nghiệp Đại học Thanh Hoa, « đại tổng quản nhân sự » của Tập Cận Bình là Trần Hi từng giữ chức Bí thư Đảng ủy Đại học Thanh Hoa, dưới thể chế dùng người đã quen biết, các quan chức đến từ Đại học Thanh Hoa luôn được đánh giá cao hơn, cũng là điều dễ lý giải. Ngay từ khi Tập Cận Bình còn giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Chiết Giang đã cùng với Bí thư Đảng ủy Đại học Thanh Hoa lúc đó là Trần Hi vạch kế hoạch xây dựng Viện nghiên cứu châu thổ Trường Giang (sông Trường) Chiết Giang – Thanh Hoa, đặt trụ sở chính tại Gia Hưng, Chiết Giang. Đảm nhận chức Phó Tổng Thư ký Đại học Thanh Hoa kiêm Bí thư Đảng ủy Viện nghiên cứu châu thổ Trường Giang lúc đó là con trai Hồ Cẩm Đào, Hồ Hải Phong, còn Tổng thư ký Đại học Thanh Hoa lúc đó là do Hiệu phó Trần Cát Ninh kiêm nhiệm.

Trên thực tế, xét về số quan chức cấp cao, Đại học Thanh Hoa luôn được mệnh danh là « cái nôi » lớn số một trong các trường đại học của Trung Quốc. Tổng cộng từ khi thành lập đến nay, Đại học Thanh Hoa đã sản sinh ra 9 vị ủy viên thường vụ Bộ Chính trị gồm Tập Cận Bình, Hồ Cẩm Đào, Chu Dung Cơ, Tống Bình, Diêu Y Lâm, Ngô Bang Quốc, Hoàng Cúc, Ngô Quan Chính và Hồ Khởi Lập, còn quan chức cấp tỉnh, bộ thì không kể xiết.

So với Đại học Thanh Hoa “nước lên, thuyền nổi », Đại học Bắc Kinh đang chìm trong cơn bão chống tham nhũng và tin xấu luôn vây quanh. Tập đoàn Phương Chính thuộc Đại học Bắc Kinh đã bị cuốn vào vụ án tham nhũng của Lệnh Kế Hoạch với một loạt hành vi tham nhũng giao dịch quyền – tiền. Cựu Hiệu trưởng Vương Ân Ca (Wang Enge), Cựu Bí thư Đảng ủy Mẫn Duy Phương (Min Weifang) và Chu Thiện Lộ (Zhou Shanlu) của Đại học Bắc Kinh dường như cũng bị vướng vào lời nguyền, vận quan gặp hạn. Lấy Lục Hào làm ví dụ, một thời là người trẻ nhất trong hàng ngũ quan chức cấp tỉnh, bộ, là ứng cử viên cạnh tranh có sức nặng cho thế hệ lãnh đạo thứ sáu của Trung Quốc sau Tập Cận Bình, thế nhưng, điều không ai ngờ, khi Lục Hạo còn chưa lên được chức Bí thư Tỉnh ủy Hắc Long Giang đã bị đưa sang Bộ Văn hóa, một cơ quan ngoài phạm vi quyền lực.

Theo các chuyên gia phân tích chính trị Trung Quốc, nguyên nhân khiến Đại học Thanh Hoa mạnh hơn Đại học Bắc Kinh là sinh viên khoa tự nhiên của Đại học Thanh Hoa phần đông là thực tế, dám làm, mọi việc đều giải quyết từng bước một, năng lực chuyển ngành nổi trội, sức đoàn kết cũng khá tốt. Còn sinh viên Đại học Bắc Kinh thờ phụng tự do dân chủ, phần đông đều là những người nói nhiều làm ít, những người thích nổi tiếng nhiều, ý thức đoàn kết kém. Sinh viên Đại học Thanh Hoa khi phát triển trên chính trường, thời kỳ đầu chưa hẳn đã nổi bằng sinh viên Đại học Bắc Kinh, nhưng càng về sau càng vững chắc và tiềm lực lớn. Còn sinh viên Đại học Bắc Kinh thời gian đầu có thể nổi như cồn, nhưng càng về sau càng hụt hơi.

Thế nhưng, giới phân tích chính trị Trung Quốc cũng cảnh báo, « hoa không thể tươi mãi không tàn », cạnh tranh giữa Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh, mặc dù hiện nay Thanh Hoa chiếm ưu thế, nhưng lên cao dễ ngã, giống như phái « Thượng Hải » hay phái « Đoàn Thanh niên » năm xưa, từng « hô phong hoán vũ » trên chính trường Trung Quốc, nhưng ngày nay cơ bản đều đã bị gạt ra ngoài lề phạm vi quyền lực. Chính vì vậy, có thể đưa ra kết luận, bất kể phe phái nào, nếu như làm quan không vì dân, đều sẽ bị lịch sử đào thải.

Nguồn : Báo Đông Phương (Hong Kong) – 18/07/2017

TKNB – 20/07/2017

Vì sao phải xuất khẩu cử nhân, tiến sĩ?


Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội vừa trình đề án với nội dung đưa hơn 200.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 2017 – 2020.

Rất nhiều ý kiến, tranh luận về vấn đề này. Có người cho rằng, đề án này làm cho Việt Nam tiếp tục chảy máu chất xám. Có người lại nhận định rằng thất nghiệp là do quy trình giáo dục trong nước không đáp ứng được nhu cầu thực tế của phát triển kinh tế xã hội.

Bằng cấp không đi cùng chất lượng

Theo ông Doãn Mậu Diệp, Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, con số hơn 200.000 cử nhân mới ra trường và thạc sĩ thất nghiệp được đề cập là của năm 2016. Bên cạnh đó, một thống kê khác do báo VnExpress đưa ra, vào tháng 9/2016, cả nước có hơn 200.000 người thất nghiệp thuộc nhóm trình độ đại học. Thống kê này còn cho biết thêm, đây chính là nhóm có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất.

Nhận định về tình trạng những người tốt nghiệp đại học nhưng không tìm được việc làm trong nước, ông Chu Tiến Dũng, Giám đốc Công ty phần mềm Quang Trung đưa ra ý kiến của ông trên vai trò của một nhà tuyển dụng lao động: “Phần lớn các công ty họ tuyển chọn không đặt ra tiêu chuẩn là cử nhân, thạc sĩ, hay các bằng cấp. Quan trọng nhất là họ có khả năng và kỹ năng làm việc, đáp ứng yêu cầu của công việc”.

Như thế, có thể thấy 4 năm học đại học và thêm 2 năm để có tấm bằng thạc sĩ thì hơn 200.000 cử nhân, thạc sĩ đã vượt qua được cửa ải đầu tiên của các công ty tuyển dụng, đó là bằng cấp. Tuy nhiên, theo phân tích của ông Chu Tiến Dũng, có thể hiểu, số người này chưa tìm được việc làm vì chưa đáp ứng được yêu cầu công việc do các công ty trong nước đưa ra. Đó là kỹ năng và khả năng. Ngoại trừ điều kiện tuyển dụng có những yêu cầu cụ thể khác như ông Chu Tiến Dũng nói là “mỗi công ty có tiêu chuẩn khác nhau”, “khuynh hướng tư nhân những năm gần đây phát triển rất mạnh, một năm tăng trưởng khoảng 30% nên nhu cầu về công việc ngày càng nhiều. Nhưng để đảm bảo điều kiện làm việc trong các công ty phần mềm thì mỗi công ty có các tiêu chuẩn khác nhau, trong khi có người học ra thì đáp ứng được những nhu cầu đó, nhưng có người chưa đáp ứng được”.

Hệ thống giáo dục bất cập

Một trong những nguyên nhân dẫn đến người có bằng cấp cử nhân tiến sĩ nhưng vẫn “chưa đáp ứng được yêu cầu”, theo thầy giáo Đỗ Việt Khoa, đó là vấn đề “muôn thuở mấy chục năm: hệ thống giáo dục không phù hợp với phát triển kinh tế hiện đại”. Ông Khoa nói: “Chúng tôi biết rất rõ hệ thống các trường học từ phổ thông đến cao đẳng, đại học Việt Nam không làm được nhiệm vụ đào tạo con người về mặt chuyên môn tốt nhất. Những lý thuyết dạy trong trường học không có ý nghĩa thực tiễn, trình độ thực hành của sinh viên, học sinh rất kém”.

Không những cử nhân, mà cả bằng cấp tiến sĩ, thạc sĩ cũng vậy. Giữa năm 2016, Phó Giáo sư Hoàng Văn Cường, Hiệu phó Đại học Kinh tế Quốc dân chia sẻ với VnExpress: “Nhiều người coi bản luận án là sản phẩm chính của đào tạo tiến sĩ, trong khi giá trị của quá trình đào tạo không nằm ở bản luận án mà phải ở tri thức và năng lực của người nhận học vị tiến sĩ”.

Chia sẻ này của ông Hoàng Văn Cường được nêu ra cùng thời điểm với những thông tin về “lò sản xuất tiến sĩ”, một ngày 3 giờ 55 phút cho ra đời một tiến sĩ. “Tiến sĩ giấy” là một cách gọi khác do báo chí trong nước dùng để nói về những người mang bằng cấp như thế.

Họ sẽ làm công việc gì?

Đề án xuất khẩu lao động do ông Doãn Mậu Diệp dự tính trình lên Chính phủ lần này tập trung vào “lao động có trình độ kỹ thuật”.

Ngô Minh Uyên, cựu du học sinh Nhật Bản, hiện đang làm công việc phiên dịch và quản lý nhóm thực tập sinh ở đảo Shikoku (Nhật Bản) cho biết thực tế về công việc của nhóm người này, được gọi là thực tập sinh kỹ năng, một tên gọi khác Nhật Bản dùng để nói về người xuất khẩu lao động phổ thông. Nói về đối tượng này, cô cho biết: “Các bạn đó tốt nghiệp đại học, có bạn sắp lấy bằng thạc sĩ, những người học rất cao nhưng không có công việc ổn định ở Việt Nam cho nên họ chọn con đường đi tu nghiệp”.

Tuy nhiên, theo Ngô Minh Uyên, bên Nhật Bản hiện đang cần IT, cần kỹ thuật rất cao. Tiếng Nhật ít nhất cũng phải là giao tiếp hàng ngày. Và bắt buộc họ phải trải qua những bài kiểm tra gắt gao của công ty tuyển chọn.

Mức lương cao hơn thì dĩ nhiên yêu cầu của họ sẽ cao hơn. Nói thật là những người tốt nghiệp đại học mà không có việc làm ở Việt Nam chưa chắc họ có đủ trình độ để đáp ứng nhu cầu của người ta”.

Chất lượng đầu ra của đại học Việt Nam tạo thành những người có bằng cấp cao, nhưng rất khó khăn trong quãng đường kế tiếp là thuyết phục nhà tuyển dụng.

Từ đó, con đường tu nghiệp sinh, hoặc xuất khẩu lao động là con đường những người này phải nghĩ đến. Và hiện nay là đề án mà nhà nước đang tạo ra cho họ. Không thiếu những ý kiến phản hồi về đề án này vì họ cho rằng, chất xám Việt Nam đang tiếp tục tuôn chảy ra nước ngoài một cách không thương tiếc.

Nguồn: RFA

TKNB – 24/02/2017