Quá trình thương mại hóa đại học ở Mỹ – Phần cuối


Một phần gây nên thái độ trên là cảm giác mất mát tương đối. Mặc dù ít có giảng viên đại học nào trải qua cảnh an bần lạc đạo của các thời kỳ trước đây, nhưng sự kỳ vọng của họ lớn nhanh hơn thu nhập. Không giống những bậc tiền bối, các vị hàn lâm ngày nay có những bằng cấp giáo dục mở rộng, thường đi kèm với những khoản nợ giáo dục nhiều không kém. Họ cảm thấy mình có quyền được tưởng thưởng tương đương với những nhà chuyên môn có bằng cấp tương tự khác, và đặc biệt bị xúc phạm trước những bất quân bình trong trường hoặc bộ môn của họ. Giảng viên khoa học cơ bản không hài lòng với thang lương của họ so với những giảng viên ở những khoa chuyên ngành. Tuy nhiên những gảing viên của các khoa này lại cũng xem là mình chưa được tưởng thưởng xứng đáng: và nhóm so sánh của họ là những người hành nghề chuyên môn. Để trả lời cho khiếu nại của một giáo sư văn học, một đồng nghiệp ngành luật của tôi gay gắt đề nghị: “nếu ông ta nghĩ mình xứng đáng nhiều như tôi, hãy cho ông ta ra ngoài xã hội mà thực hành tiếng Anh”. Phụ nữ cũng nêu ra những ưu tư về bình đẳng lương bổng. Những giảng viên nữ có mặt đa số trong những vị trí giảng dạy và điều hành ít bổng lộc nhất, và chiếm thiểu số trong nhóm những “ngôi sao” được giữ chức trọn đời. Những bậc lương cao nhất được dành cho, một cách bất quân bình, những nam giáo sư lâu năm, những người ít bị ràng buộc gia đình hơn những nữ đồng nghiệp và có nhiều cơ hội chuyển chỗ làm, hoặc đe dọa chuyển chỗ hơn, để đáp lại những lời mời hấp dẫn hơn. Việc bồi dưỡng cho những giảng viên làm việc bán thời gian cũng là một vấn đề đang dần trở nên đáng chú ý, nhất là khi xét tới thế mạnh thương lượng hạn hẹp và số lượng ngày càng tăng của họ.

Trớ trêu thay, những người ít than phiền nhất lại là những người hứng chịu sự bất bình lớn nhất: những nhân viên văn phòng và bảo dưỡng không có công đoàn riêng, những người thường được trả lương dưới mức sống này là nỗi xấu hổ cho những tháp ngà mà họ phục vụ. Những nhà phê bình xã hội như Barbara Ehrenreich đã ghi nhận, nếu các đại học quá chú trọng giảng dạy về các giá trị nhân văn và công bằng xã hội như thế, nhiều trường nên nhìn kỹ hơn vào những mối quan hệ lao động của họ. Ehrenreich đề nghị mọi người đi tham quan thực tế những tòa nhà dành cho hiệu trưởng, nơi được trang bị phòng tắm hơi, quầy pha rượu, và phòng tập thể hình, kèm với chuyến đi thăm những khu đậu xe kéo làm nhà cho những nhân viên lau dọn và bảo dưỡng.

Những người nắm giữ cổ phần kẹt giữa những yêu cầu trái ngược nhau cũng cảm thấy bị bao vây. Người ta mong muốn những người điều hành các đại học làm được nhiều viêc hơn với ít nguồn lực hơn. Hầu hết đối mặt với ngân sách cố định hoặc ngày càng thu hẹp và chi phí ngày càng tăng, đặc biệt trong những lĩnh vực như công nghệ, trang thiết bị khoa học, và chăm sóc sức khỏe. Các chuyên gia đồng ý với nhau ở điểm là tình hình khó hy vọng cải thiện. Các nhà lập pháp cũng bị kẹt giữa các làn đạn của họ, và những nhu cầu của giáo dục đại học thường không khẩn thiết như của quốc phòng, thực thi luật pháp, y tế, an ninh xã hội, và những chương trình trợ giúp xã hội khác. Và nhiều chính khách cũng không thể hiểu vì sao trợ giúp học phí rộng rãi hơn lại là ưu tiên cho phần lớn sinh viên không thiếu thốn tài chính đáng kể. Gần 40% con em các gia đình có thu nhập hơn 200.000 USD hàng năm lại học các viện đại học công lập và hưởng lợi từ trợ cấp giảm thuế.

Nhiều chính trị gia thậm chí còn miễn cưỡng hơn trong việc tài trợ những cuộc cạnh tranh mời chào giảng viên nổi tiếng trong cuộc theo đuổi danh tiếng của học viện. Những giáo sư này nâng cao thứ hạng danh tiếng của học viện, nhưng sự hiện diện thực sự của họ ở trường và những đóng góp cho cộng đồng trường thường rất nhỏ bé. Một nghề nghiệp thường tự xưng mình là “thuộc thế giới tinh thần” đã ngày càng lộ liễu trong việc theo đuổi những phụ cấp và danh tiếng kèm theo đó. Trong một mô tả chân dung lừng danh của nhà văn Anh David Lodge, giáo sư siêu sao người Mỹ Morris Zapp trơ tráo thừa nhận với một người hâm mộ trẻ rằng, “Trước khi nghỉ hưu, tôi muốn là giáo sư tiếng Anh được trả lương cao nhất trên thế giới”. Ước muốn đó, ở một cấp độ vi mô hơn, thúc đẩy những cuộc thương lượng tranh giành những ngôi sao đại học đắt giá có thể bao gồm mọi thứ từ nhà ở xa hoa, giảm giờ dạy, và vé xem bóng rổ cả mùa cho đến làm việc toàn thời gian cho tất cả tùy tùng, bao gồm cả đồng nghiệp, vợ chồng, và những nghiên cứu sinh tiến sĩ. Một nhà quản lý tức khí quá cuối cùng đã mất kiên nhẫn khi những yêu sách không ngừng tăng lên này đạt đỉnh điểm bằng việc giảng viên yêu cầu con mình phải có chỗ trong những trường tư danh giá: “Nếu ngôi sao này vào trường, cô ta có thể gọi mình vào giữa khuya để nhờ gọi giùm sâm banh Pháp và cho đánh bóng đôi giày Prada không?” Nếu ngôi sao cần cơ sở vật chất cho thí nghiệm, thì mức giá hiện thời có thể lên đến 20 triệu USD. Ngay cả với những nhà cổ điển học được trả lương khiêm tốn hơn nhiều, thì bảng giá của họ sau cùng hóa ra lại rất đáng kể. Nó không chỉ bao gồm khoản bù đắp cho giảng viên chính và đoàn cộng sự, nó còn phản ánh nhu cầu cần có sự điều chỉnh từ phía đội ngũ giảng viên hiện tại, những người sẽ gánh vác việc giảng dạy, họp hành, và những trách nhiệm liên quan tầm thường mà vị đồng nghiệp thường xuyên vắng mặt kia của họ né tránh.

Cuộc cạnh tranh giành lấy những sinh viên tài năng cũng có những hậu quả đáng lo ngại không kém. Những khách hàng của giáo dục đại học vừa chỉ trích mức học phí quá cao, vừa đòi hỏi phải có những dịch vụ đắt giá hơn: sự liên hệ giảng viên – sinh viên chặt chẽ hơn và nhiều tiện nghi cơ sở vật chất hiện đại nhất. Một bức biếm họa trên tờ New Yorker đã minh họa mong mỏi đó. Nó vẽ hình một nữ sinh phổ thông giải thích với giáo viên hướng nghiệp của cô ta: “Đại học nguyện vọng của em phải có nhiều ngăn tủ để đồ”. Trong một thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, nơi mà việc xếp hạng phần nào dựa trên sự lựa chọn đầu vào, các trường đua nhau giành những sinh viên giỏi nhất và thông minh nhất bằng cách mời chào đủ thứ từ những bữa ăn sành điệu đến huấn luyện viên riêng. “Đây không phải là sự nuông chiều”, một hội trưởng hội sinh viên cố gắng giải thích với gương mặt nghiêm trang: “Đây là chuyện xây dựng cộng đồng”.

Đây cũng là chuyện tiền bạc. Để thu hút những sinh viên điểm cao nhất, các đại học đang ngày càng nhờ vào những học bổng xét điểm. Theo những đánh giá gần đây, chỉ có khoảng mười lăm đến hai mươi học viện tư có trợ giúp tài chính dành riêng theo nhu cầu, và khoảng một phần tư khoản trợ giúp ở trường công là được cấp phát mà không xét đến hoàn cảnh kinh tế. Hệ quả là giảm bớt giúp đỡ cho những ai cần đến nó nhất, và ngăn cản những người có thu nhập thấp. Trong thập kỷ vừa qua, Mỹ đã rơi từ vị trí đứng đầu xuống hạng mười ba về sự tham gia đại học so với những nước phát triển. Sự bất bình đẳng giáo dục do thu nhập gia đình được thông báo là giống như cách đây ba mươi năm, và sự bất bình đẳng diễn ra nhiều nhất ở những học viện chọn lọc vốn có thể sẵn sàng giải quyết việc đó nhất.

Đứng trước sự tiếp cận bất cập, những đòi hỏi tài chính ngày càng lớn, và những nguồn lực hoặc cố định hoặc ngày càng giảm, nhiều đại học đối mặt với những lựa chọn không vui. Cắt giảm chi phí thường là lựa chọn đau đớn điển hình nhất. Từ quan điểm của giảng viên, tiền lương và việc làm cố định là chiến lược cuối cùng. Những chương trình cắt giảm có chọn lọc tương tự cũng không thích hợp vì các cộng đồng hàn lâm hiếm khi nhất trí về cái gì là có thể hy sinh được, hoặc thậm chí về những tiêu chuẩn để quyết định những chuyện đó. Một khi được thiết lập, hầu hết các chương trình này dựng nên những quan hệ khách hàng khó cắt bỏ; ở nhiều trường “xế chiều là khoảnh khắc hầu như không bao giờ đến”. Lựa chọn được ưa chuộng một cách dễ hiểu là tìm thêm các nguồn thu. Nhưng hậu quả của quá trình thương mại hóa có cái giá của nó, và thường là bào mòn những giá trị hàn lâm mà lẽ ra nó phải phục vụ.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Deborah L. Rhode – Theo đuổi tri thức – NXB TĐ 2012.

Advertisements

Quá trình thương mại hóa đại học ở Mỹ – Phần đầu


Trong khi “chủ nghĩa tư bản hàn lâm” khó được coi là một hiện tượng mới, thì quy mô và tầm ảnh hưởng của nó là chưa từng có. Nhiều chuyên gia giáo dục đại học đã tập hợp tài liệu sâu rộng về “quyền lực thô bạo” mà tiền bạc hiện nắm giữ trong đời sống hàn lâm. Qua một phần tư thế kỷ vừa rồi, vì giá trị thương mại của tài sản trí tuệ mà các trường mang lại ngày càng rõ rệt và những nhu cầu tài chính cho giáo dục đại học cũng tăng lên, nên ranh giới giữa dân thường và giới hàn lâm từ từ bị xóa nhòa. Mặc dù không ai nghi ngờ những tiến bộ mà cạnh tranh thị trường và những hoạt động sinh lợi có thể mang lại, nhưng những ưu tiên hàng đầu đó cũng có cái giá của chúng.

Những ảnh hưởng bất lợi rõ ràng nhất là sự chệch hướng của nỗ lực hàn lâm và sự méo mó trong những ưu tiên hàn lâm. Với một chút phá cách, Hutchins đã từng cảnh báo: “Khi một học viện [hàn lâm] làm gì đó để có tiền, nó hẳn phải đáh mất linh hồn của nó”. Dĩ nhiên, theo tiêu chuẩn đó, được áp dụng chặt chẽ, thì chỉ còn vài người để than khóc. Nhưng khi càng khăng khăng chạy theo lợi nhuận, thì càng có nhiều nguy cơ là điều đó sẽ phá tan mục tiêu mà nó muốn phục vụ.

Trong một thế giới lý tưởng, những ưu tiên nghiên cứu thường được xác định bằng những yếu tố có thể thúc đẩy việc theo đuổi tri thức nhất. Trong thế giới mà ta biết, người ta thường chăm chăm vào những yếu tố thu hút nhất đối với chính phủ, cơ quan tài trợ, doanh nghiệp, hoặc cá nhân gây quỹ. Và khi các học viện hoặc các giảng viên có thể kiếm một khoản lợi tức thông qua bằng sáng chế hay một phần quyền sở hữu, hoặc khi những nhà tài trợ khăng khăng giữ bí mật hoặc kiểm soát việc công bố để bảo vệ khoản đầu tư của họ, thì những khả năng băng hoại còn lớn hơn nữa. Tại sao lại tập trung quá nhiều công sức vào nghiên cứu cơ bản “khi mà tất cả tiền đều dùng để cải tiến quần bó vận động thoải mái?” Một sự cám dỗ mơ hồ, nhưng cũng gây hại không kém là việc xây dựng những trung tâm, chương trình, hội đồng, và cơ sở vật chất phục vụ cho lợi ích của những ân nhân gây quỹ hơn là những ưu tiên của học viện. Nhưng trong một nền văn hóa vốn lấy tăng trưởng làm thước đo cho uy tín, có một thứ gì đó thì tốt hơn là không có gì. Nên chừng nào những mục tiêu tri thức có vẻ hợp lý còn tồn tại, thì những nhà tài trợ còn hưởng lợi từ đồng tiền họ bỏ ra.

Những thế lực đó cũng tác động đến những hoạt động sinh lợi của học viện, chẳng hạn những môn thể thao tốn kém, những thỏa thuận tư vấn, hoặc những chương trình giáo dục thường xuyên vốn thiếu nội dung hàn lâm quan trọng. Những vấn đề gắn liền với những dự án kiểu này đã được thu thập tài liệu quá đủ, bị than phiền từ lâu, nhưng chưa được xử lý thích đáng. Ví dụ, phần lớn giảng viên kiếm được thu nhập là từ những dịch vụ ngoài trường. Nhưng mặc dù hầu hết các học viện đều có quy định hạn chế việc tư vấn của giảng viên trong biên chế, nhưng không trường nào cố gắng kiểm tra bản tường trình do chính tay các giáo sư viết. Và không phải tất cả mọi người trong hệ thống đánh giá đó cảm thấy đức hạnh đã đủ là phần thưởng. Nếu, như trong trường của tôi, các giáo sư bị giới hạn chỉ được làm việc cho bên ngoài một ngày mỗi tuần, thì nhiều người sẽ thấy ngày đó là “rất quan trọng so với các ngày còn lại [của họ]”. Những vụ tai tiếng thể thao đến rồi qua đi, với quá nhiều những cái bắt tay nhưng quá ít những chế tài có ý nghĩa. Khoảng hai phần ba dân Mỹ nghĩ rằng các viện đại học quá coi trọng thể thao, một nhận định được nhiều giảng viên đồng tình nhưng hầu hết các nhà quản lý trung ương bỏ qua. Mâu thuẫn về lợi ích xuất hiện từ những giao dịch giữa đại học và doanh nghiệp làm nảy sinh vô vàn tuyên bố đáng ưu tư nhưng lại rất ít hành động thiết thực. Điều tốt nhất mà một hội nghị viện đại học hàng đầu có thể làm là nhất trí rằng không có sự nhất trí nào về một chính sách “đúng” ngoài việc mỗi học viện “nên kiên quyết xử lý vấn đề”.

Một phần khó khăn là ở chỗ lợi ích từ những dự án sinh lợi thì có ngay trước mắt và định lượng được, trong khi rủi ro thì tản mát và tích tụ từ từ. Cuối cùng, cái đang bị đe dọa là uy tín về nghiên cứu vô vị lợi của học viện. Trong chừng mực đáng kể, thì uy tín đó là công lợi. Với bất kỳ giáo sư hay người lãnh đạo nào, điều cám dỗ là việc cho rằng những hoạt động thương mại của mình không đặt ra đe dọa lớn lao gì cả. Nhưng khi mọi người đều nghĩ như vậy, thì hậu quả rất băng hoại. Giáo dục đại học càng trở nên tích cực kinh doanh, nó càng phá đi những điều nó đã cam kết với lòng tin của công chúng và những công quỹ.

Vấn đề dường như trở nên trầm trọng hơn, khi những học viện phi lợi nhuận đối mặt với sự cạnh trnah ngày càng gay gắt từ những đối thủ vì lợi nhuận. Những trường tư thục như vậy là bộ phận phát triển nhanh nhất trong khu vực giáo dục đại học; chúng phát đạt nhờ đưa ra những khóa học ít tốn tiền, tiện lợi được phụ trách bởi những giảng viên được trả lương thấp, không được đảm bảo việc làm và rất ít, nếu có, thời gian hay sự trợ giúp cho việc nghiên cứu. Một số đánh giá gợi ý rằng hiện nay số lượng giảng viên trong khu vực vị lợi nhuận ngang bằng số lượng giảng viên trong khu vực giáo dục đại học truyền thống. Viện Đại học Phoenix là học viện hàn lâm lớn nhất nước Mỹ. Những học viện vị lợi nhuận nhìn chung hoạt động với rất ít quản lý chất lượng, nếu có, và nhiều trường mở ra những khóa học cũng nghèo nàn hoặc không chút nội dung hàn lâm, chẳng hạn xoa bóp chữa bệnh, sửa xe hơi, và viết báo cáo y tế (có nhấn mạnh vào “kỹ năng đánh máy” và thuật ngữ kỹ thuật).

“Những nhà máy chứng chỉ số hóa” khai thác công nghiệp đào tạo từ xa còn khiến nảy sinh những ưu tư lớn hơn. Một số học viện hoạt động gần như lừa đảo; họ khiến người theo học lầm tưởng về chuyện những tín chỉ sẽ được chuyển tiếp tới những học viện đáng tin cậy hay không và tuyên bố đảm bảo về những chứng chỉ, kỹ năng, và chỗ làm vốn được thổi phồng quá đáng. Một trong nhiều lời chào mời nhồi nhét vào hộp thư điện tử của tôi hứa hẹn “Lấy bằng đại học của một trường dnah tiếng trong vài tuần. Đây là một số điểm nổi bật: Lấy bằng trong 2 tuần, Không cần học, Bằng đã qua thẩm tra 100%, Nhiều mức lương 5 chữ số cao… tới 6 chữ số”. Những hứa hẹn khác thì: “Đạt được một tương lai thịnh vượng: tiền bạc, khả năng gặt hái, và danh tiếng gắn với tấm bằng mà bạn hằng ao ước. Bằng đại học không chính thức tùy theo trình độ và kinh nghiệm hiện nay của bạn. Nếu bạn đủ tiêu chuẩn, thì không kiểm tra, học hành, sách vở. Chúng tôi có sẵn bằng Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ trong lĩnh vực của bạn. Cam đoan được bảo mật”. Vậy thì sao lại bận tâm đến những trường tiếng tăm, với những đòi hỏi khó khăn và học phí đắt đỏ của họ, trong khi có sẵn giải pháp thay thế này?

Một trong những nỗ lực hiếm hoi để buộc những trường như vậy chịu trách nhiệm, một sinh viên đã bỏ ra mười một năm vô ích để tìm kiếm một cuộc sống hoàn hảo mà Viện Đại học Quốc tế Maharishi quảng cáo cuối cùng đã kiện trường vì tội lừa đảo. Mặc dù trường này cho là nguyên đơn lẽ ra phải học cách bay, thì anh ta chỉ học cách nhảy với đôi chân xếp lại trong tư thế kiết già. Và trái với cam kết của trường, việc ngân nga theo phương pháp được đề xuất không đảo ngược được quá trình lão hóa hay cho phép anh ta tự bay lên.

Các nhà hàn lâm phản ứng với quá trình thương mại hóa tiệm tiến theo nhiều cách khác nhau. Các phổ biến nhất là hoài nghi thế tục hoặc thờ ơ cam chịu. Việc than vãn cho những lý tưởng đã mất thì có ích gì? Như khoa trưởng khoa luật Richard Matasar khuyên, “Hãy vượt qua nó. Quá trình thương mại hóa đang ở đây, ngay lúc này, và nó sẽ không biến mất… Chúng ta là một doanh nghiệp, hãy đối phó với điều đó. Trong chừng mực đang có một vấn đề, các nhà hàn lâm thường xem đó là vấn đề của ai khác. Chỉ khi nào quyền lợi của chính họ bị đe dọa trực tiếp, bởi sự cắt giảm rõ rệt các nguồn tài trợ hoặc gia tăng nghĩa vụ nhà trường, thì các giáo sư mới quan tâm nhiều. Ngay cả lúc đó, sự phản ứng thường chỉ đơn giản là tập hợp dưới ngọn cờ tự do hàn lâm và lên án bất kỳ nỗ lực nào nhằm giới hạn quyền giữ chức vụ hoặc thu hẹp các chức danh và nguồn trợ giúp cho giảng viên.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Deborah L. Rhode – Theo đuổi tri thức – NXB TĐ 2012.

Quan chức tốt nghiệp Đại học Thanh Hoa được trọng dụng


Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh (Bắc Đại) là hai trường đại học nổi tiếng và có sức ảnh hưởng nhất Trung Quốc. Từ lâu nay, hai trường đại học này luôn trong tình trạng « trời đã sinh ra Du, sao còn sinh ra Lượng » (Chu Du và Gia Cát Lượng trong « Tam Quốc Diễn Nghĩa »). Thế nhưng, trong thời đại chống tham nhũng và cải cách cùng đồng hành hiện nay, tình cảnh của hai trường đại học Thanh Hoa và Bắc Đại lại có sự khác biệt rất lớn. Những quan chức tốt nghiệp trường Đại học Thanh Hoa đang như mặt trời giữa trưa, có thể hô phong hoán vũ trên chính trường. Còn quan chức tốt nghiệp trường Đại học Bắc Kinh trái lại đang giống như mặt trời lúc chiều tà, không làm nên trò trống gì.

Trong đợt điều chỉnh nhân sự cấp cao mới nhất của Trung Quốc trước Đại hội XIX dự kiến diễn ra vào cuối năm nay, các quan chức xuất thân và tốt nghiệp từ Đại học Thanh Hoa được trọng dụng và đi lên mạnh mẽ. Ví dụ như nguyên Hiệu trưởng Đại học Thanh Hoa Trần Cát Ninh (Chen Jining) được bổ nhiệm đảm nhận chức vụ cực kỳ quan trọng là Thị trưởng Bắc Kinh, trở thành một trong những lựa chọn kế nhiệm tầng lãnh đạo tối cao Trung Quốc. Hai người bạn cùng trường của Trần Cát Ninh là Lý Cán Kiệt (Li Ganjie) và Vương Mông Huy (Wang Menghui) cũng lần lượt giữ chức Bí thư Tổ đảng Bộ Bảo vệ môi trường và Bộ Xây dựng nhà nở thành phố và sẽ rất nhanh tiếp quản chức Bộ trưởng của hai bộ này. Còn Tỉnh trưởng Hắc Long Giang, Lục Hạo (Lu Hao), xuất thân từ trường Đại học Bắc Kinh, từng được nhìn nhận là ngôi sao chính trị đã bị gạt ra bên lề triệt để, mất đi địa vị tiếp quản chức Bí thư Tỉnh ủy Hắc Long Giang.

Giới phân tích chính trị Trung Quốc cho biết sự vươn lên mạnh mẽ của quan chức tốt nghiệp Đại học Thanh Hoa có nguyên nhân chủ quan và khách quan. Về khách quan, đương kim Tổng Bí thư Tập Cận Bình tốt nghiệp Đại học Thanh Hoa, « đại tổng quản nhân sự » của Tập Cận Bình là Trần Hi từng giữ chức Bí thư Đảng ủy Đại học Thanh Hoa, dưới thể chế dùng người đã quen biết, các quan chức đến từ Đại học Thanh Hoa luôn được đánh giá cao hơn, cũng là điều dễ lý giải. Ngay từ khi Tập Cận Bình còn giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Chiết Giang đã cùng với Bí thư Đảng ủy Đại học Thanh Hoa lúc đó là Trần Hi vạch kế hoạch xây dựng Viện nghiên cứu châu thổ Trường Giang (sông Trường) Chiết Giang – Thanh Hoa, đặt trụ sở chính tại Gia Hưng, Chiết Giang. Đảm nhận chức Phó Tổng Thư ký Đại học Thanh Hoa kiêm Bí thư Đảng ủy Viện nghiên cứu châu thổ Trường Giang lúc đó là con trai Hồ Cẩm Đào, Hồ Hải Phong, còn Tổng thư ký Đại học Thanh Hoa lúc đó là do Hiệu phó Trần Cát Ninh kiêm nhiệm.

Trên thực tế, xét về số quan chức cấp cao, Đại học Thanh Hoa luôn được mệnh danh là « cái nôi » lớn số một trong các trường đại học của Trung Quốc. Tổng cộng từ khi thành lập đến nay, Đại học Thanh Hoa đã sản sinh ra 9 vị ủy viên thường vụ Bộ Chính trị gồm Tập Cận Bình, Hồ Cẩm Đào, Chu Dung Cơ, Tống Bình, Diêu Y Lâm, Ngô Bang Quốc, Hoàng Cúc, Ngô Quan Chính và Hồ Khởi Lập, còn quan chức cấp tỉnh, bộ thì không kể xiết.

So với Đại học Thanh Hoa “nước lên, thuyền nổi », Đại học Bắc Kinh đang chìm trong cơn bão chống tham nhũng và tin xấu luôn vây quanh. Tập đoàn Phương Chính thuộc Đại học Bắc Kinh đã bị cuốn vào vụ án tham nhũng của Lệnh Kế Hoạch với một loạt hành vi tham nhũng giao dịch quyền – tiền. Cựu Hiệu trưởng Vương Ân Ca (Wang Enge), Cựu Bí thư Đảng ủy Mẫn Duy Phương (Min Weifang) và Chu Thiện Lộ (Zhou Shanlu) của Đại học Bắc Kinh dường như cũng bị vướng vào lời nguyền, vận quan gặp hạn. Lấy Lục Hào làm ví dụ, một thời là người trẻ nhất trong hàng ngũ quan chức cấp tỉnh, bộ, là ứng cử viên cạnh tranh có sức nặng cho thế hệ lãnh đạo thứ sáu của Trung Quốc sau Tập Cận Bình, thế nhưng, điều không ai ngờ, khi Lục Hạo còn chưa lên được chức Bí thư Tỉnh ủy Hắc Long Giang đã bị đưa sang Bộ Văn hóa, một cơ quan ngoài phạm vi quyền lực.

Theo các chuyên gia phân tích chính trị Trung Quốc, nguyên nhân khiến Đại học Thanh Hoa mạnh hơn Đại học Bắc Kinh là sinh viên khoa tự nhiên của Đại học Thanh Hoa phần đông là thực tế, dám làm, mọi việc đều giải quyết từng bước một, năng lực chuyển ngành nổi trội, sức đoàn kết cũng khá tốt. Còn sinh viên Đại học Bắc Kinh thờ phụng tự do dân chủ, phần đông đều là những người nói nhiều làm ít, những người thích nổi tiếng nhiều, ý thức đoàn kết kém. Sinh viên Đại học Thanh Hoa khi phát triển trên chính trường, thời kỳ đầu chưa hẳn đã nổi bằng sinh viên Đại học Bắc Kinh, nhưng càng về sau càng vững chắc và tiềm lực lớn. Còn sinh viên Đại học Bắc Kinh thời gian đầu có thể nổi như cồn, nhưng càng về sau càng hụt hơi.

Thế nhưng, giới phân tích chính trị Trung Quốc cũng cảnh báo, « hoa không thể tươi mãi không tàn », cạnh tranh giữa Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh, mặc dù hiện nay Thanh Hoa chiếm ưu thế, nhưng lên cao dễ ngã, giống như phái « Thượng Hải » hay phái « Đoàn Thanh niên » năm xưa, từng « hô phong hoán vũ » trên chính trường Trung Quốc, nhưng ngày nay cơ bản đều đã bị gạt ra ngoài lề phạm vi quyền lực. Chính vì vậy, có thể đưa ra kết luận, bất kể phe phái nào, nếu như làm quan không vì dân, đều sẽ bị lịch sử đào thải.

Nguồn : Báo Đông Phương (Hong Kong) – 18/07/2017

TKNB – 20/07/2017

Vì sao phải xuất khẩu cử nhân, tiến sĩ?


Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội vừa trình đề án với nội dung đưa hơn 200.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 2017 – 2020.

Rất nhiều ý kiến, tranh luận về vấn đề này. Có người cho rằng, đề án này làm cho Việt Nam tiếp tục chảy máu chất xám. Có người lại nhận định rằng thất nghiệp là do quy trình giáo dục trong nước không đáp ứng được nhu cầu thực tế của phát triển kinh tế xã hội.

Bằng cấp không đi cùng chất lượng

Theo ông Doãn Mậu Diệp, Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, con số hơn 200.000 cử nhân mới ra trường và thạc sĩ thất nghiệp được đề cập là của năm 2016. Bên cạnh đó, một thống kê khác do báo VnExpress đưa ra, vào tháng 9/2016, cả nước có hơn 200.000 người thất nghiệp thuộc nhóm trình độ đại học. Thống kê này còn cho biết thêm, đây chính là nhóm có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất.

Nhận định về tình trạng những người tốt nghiệp đại học nhưng không tìm được việc làm trong nước, ông Chu Tiến Dũng, Giám đốc Công ty phần mềm Quang Trung đưa ra ý kiến của ông trên vai trò của một nhà tuyển dụng lao động: “Phần lớn các công ty họ tuyển chọn không đặt ra tiêu chuẩn là cử nhân, thạc sĩ, hay các bằng cấp. Quan trọng nhất là họ có khả năng và kỹ năng làm việc, đáp ứng yêu cầu của công việc”.

Như thế, có thể thấy 4 năm học đại học và thêm 2 năm để có tấm bằng thạc sĩ thì hơn 200.000 cử nhân, thạc sĩ đã vượt qua được cửa ải đầu tiên của các công ty tuyển dụng, đó là bằng cấp. Tuy nhiên, theo phân tích của ông Chu Tiến Dũng, có thể hiểu, số người này chưa tìm được việc làm vì chưa đáp ứng được yêu cầu công việc do các công ty trong nước đưa ra. Đó là kỹ năng và khả năng. Ngoại trừ điều kiện tuyển dụng có những yêu cầu cụ thể khác như ông Chu Tiến Dũng nói là “mỗi công ty có tiêu chuẩn khác nhau”, “khuynh hướng tư nhân những năm gần đây phát triển rất mạnh, một năm tăng trưởng khoảng 30% nên nhu cầu về công việc ngày càng nhiều. Nhưng để đảm bảo điều kiện làm việc trong các công ty phần mềm thì mỗi công ty có các tiêu chuẩn khác nhau, trong khi có người học ra thì đáp ứng được những nhu cầu đó, nhưng có người chưa đáp ứng được”.

Hệ thống giáo dục bất cập

Một trong những nguyên nhân dẫn đến người có bằng cấp cử nhân tiến sĩ nhưng vẫn “chưa đáp ứng được yêu cầu”, theo thầy giáo Đỗ Việt Khoa, đó là vấn đề “muôn thuở mấy chục năm: hệ thống giáo dục không phù hợp với phát triển kinh tế hiện đại”. Ông Khoa nói: “Chúng tôi biết rất rõ hệ thống các trường học từ phổ thông đến cao đẳng, đại học Việt Nam không làm được nhiệm vụ đào tạo con người về mặt chuyên môn tốt nhất. Những lý thuyết dạy trong trường học không có ý nghĩa thực tiễn, trình độ thực hành của sinh viên, học sinh rất kém”.

Không những cử nhân, mà cả bằng cấp tiến sĩ, thạc sĩ cũng vậy. Giữa năm 2016, Phó Giáo sư Hoàng Văn Cường, Hiệu phó Đại học Kinh tế Quốc dân chia sẻ với VnExpress: “Nhiều người coi bản luận án là sản phẩm chính của đào tạo tiến sĩ, trong khi giá trị của quá trình đào tạo không nằm ở bản luận án mà phải ở tri thức và năng lực của người nhận học vị tiến sĩ”.

Chia sẻ này của ông Hoàng Văn Cường được nêu ra cùng thời điểm với những thông tin về “lò sản xuất tiến sĩ”, một ngày 3 giờ 55 phút cho ra đời một tiến sĩ. “Tiến sĩ giấy” là một cách gọi khác do báo chí trong nước dùng để nói về những người mang bằng cấp như thế.

Họ sẽ làm công việc gì?

Đề án xuất khẩu lao động do ông Doãn Mậu Diệp dự tính trình lên Chính phủ lần này tập trung vào “lao động có trình độ kỹ thuật”.

Ngô Minh Uyên, cựu du học sinh Nhật Bản, hiện đang làm công việc phiên dịch và quản lý nhóm thực tập sinh ở đảo Shikoku (Nhật Bản) cho biết thực tế về công việc của nhóm người này, được gọi là thực tập sinh kỹ năng, một tên gọi khác Nhật Bản dùng để nói về người xuất khẩu lao động phổ thông. Nói về đối tượng này, cô cho biết: “Các bạn đó tốt nghiệp đại học, có bạn sắp lấy bằng thạc sĩ, những người học rất cao nhưng không có công việc ổn định ở Việt Nam cho nên họ chọn con đường đi tu nghiệp”.

Tuy nhiên, theo Ngô Minh Uyên, bên Nhật Bản hiện đang cần IT, cần kỹ thuật rất cao. Tiếng Nhật ít nhất cũng phải là giao tiếp hàng ngày. Và bắt buộc họ phải trải qua những bài kiểm tra gắt gao của công ty tuyển chọn.

Mức lương cao hơn thì dĩ nhiên yêu cầu của họ sẽ cao hơn. Nói thật là những người tốt nghiệp đại học mà không có việc làm ở Việt Nam chưa chắc họ có đủ trình độ để đáp ứng nhu cầu của người ta”.

Chất lượng đầu ra của đại học Việt Nam tạo thành những người có bằng cấp cao, nhưng rất khó khăn trong quãng đường kế tiếp là thuyết phục nhà tuyển dụng.

Từ đó, con đường tu nghiệp sinh, hoặc xuất khẩu lao động là con đường những người này phải nghĩ đến. Và hiện nay là đề án mà nhà nước đang tạo ra cho họ. Không thiếu những ý kiến phản hồi về đề án này vì họ cho rằng, chất xám Việt Nam đang tiếp tục tuôn chảy ra nước ngoài một cách không thương tiếc.

Nguồn: RFA

TKNB – 24/02/2017

Việt Nam gặp thách thức trong đào tạo công dân toàn cầu


Mới đây, Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang đã thúc giục ngành giáo dục tập trung đào tạo những “công dân toàn cầu”. Tuy nhiên, một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng cho rằng nỗ lực này sẽ gặp khó khăn lớn do “tư duy phản biện” và “ý kiến trái chiều” không được khuyến khích ở Việt Nam.

Ngày 4/2, khi đến thăm Bộ Giáo dục và Đào tạo ở Hà Nội, Chủ tịch Trần Đại Quang nêu rõ giáo dục và đào tạo “đang trở thành yếu tố quyết định và lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển của mỗi quốc gia”.

Riêng đối với ngành giáo dục Việt Nam, Chủ tịch Trần Đại Quang đề nghị ngành cần tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm những “công dân toàn cầu” trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là một thuật ngữ nói về sự thay đổi mạnh mẽ trong đời sống bao gồm một loạt công nghệ tự động hóa hiện đại, trao đổi dữ liệu, chế tạo, thực hiện dịch vụ trên nền tảng Internet và các hệ thống không gian ảo.

Trao đổi với VOA từ Việt Nam, Tiến sĩ người Áo gốc Việt Đặng Hoàng Giang cho rằng “không có lời giải nhất định” về thế nào là “công dân toàn cầu”. Ông nêu ra cách nhìn riêng về khái niệm này: “Một công dân toàn cầu là công dân không chỉ quan tâm đến những việc xảy ra ở riêng nước mình mà ở tất cả những nước trên thế giới để tìm hiểu xem những thay đổi đó có tác động tới bản thân cuộc sống của mình thế nào. Công dân toàn cầu có một khái niệm về công bằng, công lý, có trăn trở tới các bất công, những đề xảy ra với những người dân ở nước khác, tức là không chỉ chăm chú đến miếng cơm manh áo của mình mà còn lưu ý đến số phận của những con người ở các khu vực khác nữa”. Là nhà hoạt động xã hội nổi tiếng đã xuất bản nhiều cuốn sách, Tiến sĩ Giang nói điều quan trọng hơn đối với một công dân toàn cầu là thái độ sống chứ không phải là kỹ năng cụ thể như thành thạo ngoại ngữ, máy tính, phân tích…, dù các kỹ năng đó cũng cần thiết. Đó là người ý thức được rằng không phải bản thân lúc nào cũng biết hết, lúc nào cũng đúng. Người đó cũng hiểu được có thể sống trong cuộc sống bằng nhiều cách khác nhau, hiểu sự đa dạng trên thế giới, có sự khoan dung, tôn trọng sự khác biệt và không phán xét những cái khác với bản thân. Nhận định về nỗ lực của Việt Nam nhằm đào tạo các công dân toàn cầu, Tiến sĩ Giang chỉ ra một cản trở to lớn: “Thách thức lớn nhất ở Việt Nam là chúng ta có một hệ thống giáo dục và chính trị không khuyến khích sự đa dạng, không khuyến khích tư duy phản biện, không khuyến khích những ý kiến khác chiều mà chúng ta đòi hỏi mọi người đều suy nghĩ giống nhau và phải, trái, trắng, đen rất là rõ ràng, không ai được quyền chất vấn, được quyền phản biện những chân lý đó. Cái triết lý đó trong giáo dục, trong nhà trường, trong gia đình cản trở việc hình thành thái độ của công dân toàn cầu”. Mặc dù các điều kiện hiện nay về chính trị, xã hội của Việt Nam gây khó khăn cho việc đào tạo công dân toàn cầu, song Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang cũng nêu ra những yếu tố tác động từ bên ngoài giúp thúc đẩy tiến trình này: “Vì những cái yêu cầu của nền kinh tế, chúng ta không sớm thì muộn bắt buộc phải đi theo hướng khoan dung hơn và hiểu biết hơn. Ví dụ, các công ty đa quốc gia sẽ tìm đến những nhân viên, những cán bộ có thể làm việc được với nhiều người ở các nước khác nhau trên thế giới và cũng có sự khoan dung với các quốc gia khác. Trở thành công dân toàn cầu sẽ là một nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế. Đây cũng sẽ là đòn bẩy giúp chúng ta thoát khỏi tư duy địa phương chủ nghĩa”. Chỉ mới hơn một tháng trước đây, Chủ tịch Trần Đại Quang cũng đã có những phát ngôn về đào tạo công dân toàn cầu. Ngày 21/12/2016, tại Hà Nội, ông Trần Đại Quang đã tiếp giáo sư Carlos Alberto Torres, Giám đốc Chương trình Giáo dục công dân toàn cầu của UNESCO và Đại học California, Los Angeles của Mỹ. Ông Quang đã đề nghị giáo sư Carlos Alberto Torres nghiên cứu khả năng triển khai Chương trình Giáo dục công dân toàn cầu của UNESCO tại Việt Nam, kết hợp với giao lưu, trao đổi kiến thức để mang lại tinh hoa văn hóa của Việt Nam giới thiệu ra thế giới.

Nguồn: VOA

TKNB – 08/02/2017

Xã hội tri thức: Giáo dục là hàng hóa?


Bùi Văn Nam Sơn

Các “chiến lược quản trị” hiện đại (thuật ngữ của Michel Foucault) ăn sâu bám rễ vào trong hệ thống giáo dục của xã hội tri thức ở các nước phát triển – đang và sẽ ảnh hưởng không tránh khỏi đối với nước ta. Xin thử tiếp tục tìm hiểu những quan niệm nhất định về chủ thể vốn ẩn chứa trong cuộc nghị luận về giáo dục dưới sự tác động ngày càng mạnh mẽ của tư tưởng “tân tự do”.

“TỰ DO” VÀ “TÂN TỰ DO”

Trước hết là sự khác biệt giữa tư tưởng hay học thuyết tự do cổ điển và tân tự do, ảnh hưởng đến sự chuyển đổi của các chiến lược giáo dục. Với hình thức nhà nước, chủ nghĩa tự do cổ điển tạo điều kiện cho những cá nhân được “tự do”, theo nghĩa “tạo ra” sự tự do. Tất nhiên, sự tự do theo nghĩa này không phải và không thể là vô giới hạn, do đó cần được điều tiết bằng bài toán an toàn. Và đây chính là chỗ khác biệt với chủ trương tân tự do: khác với “lý tính” tự do cổ điển, nhà nước tân tự do không kiểm soát và điều tiết sự tự do của thị trường, trái lại, bản thân thị trường sẽ trở thành nguyên tắc tổ chức và điều tiết nhà nước. Nói cách khác, nguyên tắc duy lý điều khiển hành động của nhà nước không còn là quyền tự do tự nhiêncần phải tôn trọng, mà ở trong sự tự do được sắp đặt một cách nhân tạo. Nói cụ thể, nhà nước cổ điển giới hạn sự tự do nhằm bảo vệ nhà nước phúc lợi, ngược lại, nhà nước tân-tự do trong xã hội tri thức sử dụng sự giới hạn này để phục vụ cho sự tự do của thị trường và thu hẹp dần nhà nước phúc lợi. Tự do thị trường, trong cách hiểu mới, sẽ bảo đảm tốt nhất cho sự sống còn của xã hội tri thức. Tiến trình chuyển đổi ấy cần đến những “chiến lược quản trị” kiểu mới, nhằm tạo ra những “công nghệ tự quản”, gắn liền với các mục tiêu của nhà nước. “Trong khuôn khổ sự quản trị tân-tự do, sự tự quyết, trách nhiệm và sự tự do lựa chọn không nói lên những ranh giới của hoạt động nhà nước nữa, mà bản thân chúng trở thành công cụ để thay đổi mối quan hệ của chủ thể với chính mình và với người khác” (L.Pongratz, Giáo dục người lớn. Phân tích, phê phán và gợi ý, 2010).

“NHỮNG CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC”

Tiến trình chuyển hóa ấy ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống giáo dục và quan niệm sư phạm. Những người tham gia “thị trường giáo dục” được tái định nghĩa thành những nhà tự-quản lý tri thức, sẽ hứa hẹn đạt được thành công nếu thỏa ứng những phẩm chất quản trị hiện đại. Những phẩm chất ấy là: “học cách học” (chiếm lĩnh phương tiện sản xuất của nền sản xuất tri thức), “quản lý động cơ” (tự buộc mình thường xuyên kiểm tra và tối ưu hóa chất lượng); “tự quản lý” (vừa như là khách hàng, vừa như là kẻ chào hàng) và “tự tối ưu hóa” (sẵn sàng để được kiểm định và “ngã giá”). Như đã thấy trước đây, là “trung tâm dịch vụ”, “trung tâm kỹ năng”, con người phải không ngừng sở đắc kỹ năng mới, tự học và học suốt đời mới có thể tìm được chỗ đứng trong khu từng rậm của nền thị trường toàn cầu hóa. Sự kết nối giữa những “công nghệ tự quản” và những “chiến lược quản trị kỷ luật hóa” sẽ hình thành sự “tự kiểm soát tự nguyện” của từng cá nhân trong xã hội tri thức. Không lạ gì khi giáo dục ắt sẽ được tổ chức theo hình mẫu của việc thực thi đề án kinh tế-thương mãi, còn tri thức thì hành xử và được đối xử như là hàng hóa. Là một món hàng, người tốt nghiệp có một “thương hiệu”, và luôn phải đối diện với “tòa án chất lượng”, được nhìn nhận như là điều tự nhiên và không thể tránh được. Ta thấy ở đây sự phối hợp tinh vichưa từng có giữa sự tự trị và ngoại trị, giữa quyền tự quyết và sự tuân phục không có khe hở và lối thoát!

“CHỦ THỂ HÓA” TRONG XÃ HỘI TRI THỨC “TÂN TỰ DO”

Foucault gọi việc hình thành định chế mới ấy cho chủ thể hiện đại là những “công nghệ của cái Tôi”, thông qua những nghi thức và thói quen thực hành ngày càng thuần thục. Vừa là “khách hàng”, vừa là kẻ “chào hàng”, cá nhân xuất hiện dưới hai danh nghĩa: “nhà kinh doanh sức lao động” và “nhà kinh doanh một thành viên”. Một tác giả khác định nghĩa không kém… ấn tượng: đó là “kinh tế hóa chủ thể” và “chủ thể hóa kinh tế”. Nói dễ hiểu, cá nhân, trong xã hội tri thức, với tư cách “nhà kinh doanh sức lao động”, không chỉ làm vai trò của kẻ thực thi hợp đồng, mà còn tự chịu trách nhiệm về quy trình lao động, đề nghị những cải tiến, trao đổi trong nhóm, phát huy năng lực đến cực độ, truyền thông đa dạng, xóa nhòa trật tự thứ bậc. Người lao động truyền thống (làm công ăn lương, có chỗ làm lâu dài, ổn định) được thay thế bằng người làm việc luôn phải năng động và sẵn sàng… cơ động.

Trong thực tế, ai cũng biết số“nhân công tri thức” thực sự thỏa ứng được những yêu cầu rất cao về chuyên môn và điều kiện sinh hoạt (di chuyển và thay đổi thường xuyên chỗ ở, với mối đe dọa thất nghiệp thường trực…) bao giờ cũng chiếm tỉ lệ nhỏ trong xã hội, nhất là ở các nước đang phát triển. Và ngay cả hệ thống nghề nghiệp kiểu cũ với đủ loại bằng cấp tốt nghiệp cũng không còn là chỗ dựa vững chắc nữa.

Rồi với tư cách là “nhà kinh doanh một thành viên”, lấy chính mình làm vốn liếng, người sản xuất lẫn nguồn thu nhập (Foucault), cá nhân trở thành pháp nhân như một “giả tưởng có thật”, luôn lo sợ trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trước khả năng bị loại trừ và loại bỏ trong cơ chế thị trường.

Nếu lao động chuyên sâu đến mức vụn vặt trong trường hợp trước khó đồng nghĩa với việc phát huy một cách tự do tính chủ thể cá nhân, thì, trong trường hợp sau, sự tự chủ, tự trị có khi chỉ là một vẻ ngoài ảo tưởng. Ảo tưởng còn ở chỗ: làm lợi cho đại công ty, đại tập đoàn và các cổ đông, trong khi vẫn tưởng rằng vì lợi ích và sở thích của chính mình!

NHIỀU CHỦ ĐỀ CÒN NGẦM ẨN

Năng lực tự tổ chức là yếu tố cơ bản cho sự tồn tại của xã hội tri thức. Nếu trước đây việc thành bại đặt trên vai doanh nghiệp, thì ngày nay trách nhiệm ấy chuyển dần sang cho việc đào tạo của cá nhân. Nhưng, sự tự định hướng ngày nay chỉ nhắm đến một phân mảnh của điều trước đây được hiểu là sự tự quyết: đó chỉ còn là cách hành xử hiệu quả đúng theo chức năng trong hệ thống. Trong bối cảnh ấy, liệu khái niệm giáo dục có đánh mất yêu cầu và lý tưởng khai minh của mình? Nếu mục tiêu của giáo dục trước đây là nỗ lực đưa con người thoát ra khỏi sự “không trưởng thành” (Kant), thì sự chuyển hóa tinh vi của những “công nghệ quản trị” hiện đại có nguy cơ đưa con người về lại tình trạng ấy?

Sau khi đã lược qua vấn đề “tính chủ thể” trong viễn tượng hiện đại, hậu hiện đại và xã hội tri thức, bài cuối – tạm khép lại chuyên mục “Câu chuyện giáo dục” lâu nay – sẽ đi vào câu hỏi: liệu con người trong xã hội tri thức (đang ló dạng ở nước ta) có thể trở thành chủ thể tự do được không? Câu hỏi cốt lõi và là cứu cánh (mục đích tối hậu) của triết học giáo dục!

Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 53, 29.09.2016. 

Phiên bản điện tử do tác giả gửi http://triethoc.edu.vn

Chấm hết cho mô hình đại học kiểu cũ – Phần cuối


Dạy – học trực tuyến cũng giống như việc sử dụng các trang mạng hẹn hò. Mười lăm năm trước, chúng bị coi viển vông, thậm chí là kỳ cục, nhưng bây giờ những trang mạng ấy mọc lên như nấm. Người ta thường có định kiến không tốt về giáo dục trực tuyến, rằng nó không nghiêm túc và kém hiệu quả. Nhưng cuối cùng các trường đại học vì lợi nhuận và các trường công lập cũng đi đầu trong việc đưa giáo dục trực tuyến thành chương trình chính thống vì nó nó chẳng tổn hại gì đến thanh danh của họ cả. Hiện nay, ngoài các khóa học truyền thống, thì việc những trường công lập đưa ra hàng loạt khóa học trực tuyến cũng trở nên rất phổ biến. Sinh viên có thể đăng ký học đồng thời cả hai hình thức. Thậm chí, có trường hợp đăng ký học trên lớp truyền thống ở một trường và học trực tuyến ở một trường khác.

Thị trường khóa học mở hứa hẹn cho phép sinh viên có thêm lựa chọn trên con đường sở hữu tấm bằng của mình. Các trường đã có hàng loạt quy định về hạn chế số tín chỉ mà sinh viên được chuyển đổi từ các trường khác. Trong nhiều trường hợp, những hạn chế này chỉ có lợi cho một vài trường chứ không bảo hộ cho các trường ở tốp dưới. Mặc dù vẫn tuân thủ theo quy trình cấp văn bằng theo chuyên ngành nhưng mô hình mở sẽ linh hoạt hơn nhiều. Nếu sinh viên không hứng thú theo học chương trình 4 năm đại học như thông lệ hoặc không theo một chuyên ngành cụ thể nào thì có thể học các khóa có cấp văn bằng riêng biệt.

Trước đây, mượn ý tưởng của nền giáo công nghiệp âm nhạc, các trường đại học đã kinh doanh giáo dục dưới dạng gói “album”. Nghìa là bằng cử nhân 4 năm về một chuyên ngành nào đó thường được gắn với một chương trình khung. Xu thế trong tương la sẽ gọn nhẹ hơn, tập trung vào các chứng chỉ và tín chỉ mà sinh viên có thể chọn lựa để tự hoàn thiện học bạ của bản thân. Tham dự một lớp toán của MIT, một lớp kỹ thuật của trường Purdue và có thể là một lớp luật môi trường của Đại học Yale sẽ tạo nên học vấn liên ngành đáp ứng sở thích và mục tiêu nghề nhgiệp của sinh viên. Dựa vào thành tích trong những môn học cụ thể, các nhà tuyển dụng có thể xác định được các ứng viên họ cần. Khi người ta nộp hồ sơ cho nhà tuyển dụng, họ có thể liệt kê những khóa học đơn lẻ đã tham gia và thành tích đạt được hơn là chỉ đưa ra vỏn vẹn một mảnh bằng với điểm trung bình chung học tập. Lúc đó, hiệu lực pháp lý của các khóa học MOOC trong mắt của các nhà tuyển dụng sẽ ngày càng cao vì các trường đại học khả kính đã đi đầu trong việc cung cấp những khóa học mở và cấp văn bằng có giá trị.

Các khóa MOOC cũng sẽ là một giải pháp tuyệt vời giúp đáp ứng nhu cầu của ngành giáo dục thường xuyên. Cần lưu ý rằng, nhiều người trong chúng ta vẫn còn hình dung “đại học” là những gì diễn ra trong bốn năm học tập tại trường nhưng nay chỉ có rất ít sinh viên cảm nhận được điều này. Đại đa số sinh viên đại học giờ là người lớn. Đối tượng sinh viên phi truyền thống chiếm 40% tổng số sinh viên của các trường đại học. Cùng với những sinh viên ngoại trú hoặc những người học trực tuyến, sinh viên phi truyền thống cho biết nhiều người không đủ tiền hoặc không mốn học theo mô hình đào tạo tại trường như trước đây. Những trường đại học vì lợi nhuận thường có các chương trình học buổi tối và vào ngày nghỉ cuối tuần hoặc các khóa học trực tuyến cho sinh viên đang đi làm. Các trường này đã đáp ứng nhu cầu rất lớn về đào tạo theo yêu cầu và có tính thực tiễn cao. Đó là dấu hiệu cho những gì sẽ xảy ra trong tương lai.

Vậy những thay đổi này sẽ gây ra những hậu quả gì? Quay trở lại với nền công nghiệp âm nhạc. Giờ đây, khi bạn lái xe xuống khu phố âm nhạc ở Nashville, thay vì trông thấy văn phòng của các hãng thu âm, các công ty sản xuất âm nhạc, bạn chỉ thấy hàng loạt các tòa nhà bỏ trống đang gắn biển cho thuê. Kể từ khi Mp3 và iPod xuất hiện, nền công nghiệp âm nhạc lâm vào tình trạng xuống dốc không phanh. Không phải chỉ vì hiện tại người ta dễ vi phạm bản quyền hơn mà còn vì ngay từ khi ra mắt album, khách hàng đã có thể tách album thành các ca khúc riêng lẻ. Thay vì mua hết, học có thể mua 1 hoặcn 2 bài hát yêu thích. Giáo dục đại học cũng sắp như vậy.

Gấn một nghìn năm nay, hệ thống giáo dục vẫn không có gì thay đổi, từ hình ảnh của các giáo sư, lớp học cho đến sinh viên. Các bài giảng và thư viện vẫn là đối tượng trung tâm của giáo dục đại học. Trong điều kiện lý tưởng, một giờ học truyền thống sẽ tạo cơ hội cho những sinh viên hăng hái và thông minh lần lượt được đối thoại và tranh luận với giáo sư và các bạn bè mình. Nhưng một trường đại học thông thường ở Mỹ hiếm khi có được điều kiện lý tưởng này. Dù thế nào đi nữa thì việc nghiên cứu kỹ văn bản và hăng say học tập cũng không phải là đặc điểm thường thấy ở hầu hết các lớp học bậc đại học ngày ngay. Tình trạng ngày càng phổ biến: “lạm phát điểm số”, ý thức kỷ luật của sinh viên yếu kém và giảng viên thì thờ ơ, thiếu nghiêm khắc với người học chỉ cố giữ chân sinh viên, để họ trả tiền học phí cho kỳ học tiếp theo.

Nếu bạn hỏi sinh viên xem họ trân trọng điều gì nhất khi theo học tại trường thì họ thường nhắc đến những trải nghiệm xã hội độc đáo như: cơ hội được sống cùng bạn bè, tập sống tự lập trong môi trường tập thể, nơi phải tính đến những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống như nấu ăn và dọn dẹp phòng ốc. Nó cũng giống như bọn trẻ đi trại hè vậy. Với một số sinh viên, trường đại học tạo cơ hội để hình thành những tình bạn chân chính và tham gia các hoạt động ngoại khóa hấp dẫn. Và tất nhiên còn có cả những buổi tiệc tùng kèm theo thuyết minh trực tiếp có thu phí tham dự. Khi thực hiện nghiên cứu để viết cuốn Đại học du ký (Academically Adrift), Richard Arum và Josipa Roksa phát hiện rằng 45% sinh viên được hỏi đều nói lượng kiến thức họ tiếp thu được sau 2 năm đại học là không đáng kể. Cũng phải tính đến khả năng là đối với một sinh viên bình thường, nếu việc học trên lớp kiểu truyền thống thì không có hiệu quả thì học trong môi trường trực tuyến cũng chẳng tồi tệ hơn là bao. Để nhận thức được điều này thì đòi hỏi chúng ta cần phải có một cái nhìn thẳng thắn đối với tình trạng hiện tại. Mà điều đó rất khó thực hiện, nhất là với lãnh đạo các trường đại học hiện nay.

Thị trường giáo dục mở sẽ đem đến cho tất cả mọi người cơ hội tiếp cận với những trường đại học tốt nhất thế giới. Điều này chắc chắn sẽ là thảm họa đối với các trường cao đẳng, đại học chậm chân. Tương tự như vậy, những giáo sư nổi tiếng nhất sẽ có tầm ảnh hưởng rộng lớn khi họ được dạy những khóa học quy mô toàn cầu với lượng học viên lên tới hàng trăm nghìn người (mặc dù “nổi tiếng”). Trong khi đó, những giáo sư ít nổi tiếng hơn, dù giỏi hơn nhưng có đòi hỏi cao đối với sinh viên thì cũng sẽ bị đào thải. Dù có công bằng hay không thì kết quả vẫn là số lượng giảng viên cần thiết để giảng cho sinh viên trên toàn thế giới sẽ giảm đi. Do đó, theo đuổi học vị tiến sỹ các ngành khoa học xã hội ở thời điểm này là một việc làm có rủi ro cao nhất. Vì nhiều hoạt động giảng dạy có thể được tinh giản, thực hiện tự động hay thậm chí được nhân bản bằng cách ghi âm và phát đi phát lại một bài giảng trên video, cho nên nhu cầu cần có giáo viên hướng dẫn cũng giảm đi.

Lúc đó, nếu trường sở và hàng loạt giảng viên cơ hữu biến mất thì lấy ai để thực hiện những nghiên cứu như chúng ta đang trông cậy vào các trường đại học? Và những nghiên cứu quan trọng sẽ được tài trợ như thế nào? Những thông tin dưới đây cũng không hẳn là xấu: Hàng loạt học giả tài năng và được đào tạo bài bản có thể bị sa thải khỏi vị trí giảng dạy sẽ tham gia nghiên cứu và viết lách nhiều hơn. Rồi những nhà nghiên cứu, nhà toán học hàng đầu cũng sẽ là những giảng viên tồi. Chính các nhà tài trợ và các trường đại học với nguồn lực lớn sẽ đảm nhiệm vai trò đặc biệt đảm bảo cho các nghiên cứu khoa học quan trọng được tiếp tục, chứ không phải môi trường mới trong giáo dục đại học giúp họ thực hiện điều đó. Rõ ràng là đối với một số loại hình dạy – học, như là đào tạo bác sĩ phẫu thuật tim chẳng hạn, sẽ vẫn cần có một khối lượng đáng kể các giờ dạy trực tiếp của giảng viên.

Những thay đổi lớn sắp diễn ra. Những quan điểm và mô hình cũ chắc chắn sẽ sụp đổ khi cái mới xuất hiện. Nhưng vẫn còn có quá ít người nhận thức được bản chất của những thay đổi sắp diễn ra. Giáo dục đại học đang trên đà khủng hoảng tài chính nghiêm trọng và nhiều trường đại học sẽ phải trải qua thời kỳ khó khăn cả về tài chính và nhân sự. Nhưng nếu mục tiêu của chúng ta là đào tạo được càng nhiều người càng tốt, càng có chất lượng càng tốt, chi phí càng thấp càng tốt thì chấm hết cho mô hình đại học kiểu cũ cũng chẳng có gì đáng sợ. Mà ngược lại, đó lại là điều đáng mừng.

Người dịch: Tôn Kiều Trang

Nguồn: Nathan Harden, The End of the University as We Know It – The American Interest, Jan/Feb 2013.

TN – 2013 – 97& 98