Khúc tam tấu triết học, chính trị và văn hóa – Phần cuối


Tiếp nhận sự nghiệp mà cái gọi là “chế độ nô lệ phổ biến” trong Triết học lịch sử của Hegel để lại, hình thành sự đối chiếu với cái cổ đại cổ điển của Hy Lạp, La Mã, cái cổ đại châu Á từng đóng một thứ vai trò mơ hồ nào đó trong lý luận hình thái xã hội của Marx, nhưng nội hàm chủ nghĩa đặc thù của phương thức sản xuất châu Á tuyệt nhiên không phải chỉ có tác dụng khiến lịch sử hóa thạch. Thí dụ nhà sử học marxist Hầu Ngoại Lư (Hou Wailu) từng tự khoe việc làm của mình là sự “kéo dài” lý luận phương thức sản xuất châu Á của Marx, và lần lượt dùng “khí duy cầu tân, nhân duy cầu tân” (đồ vật cần đổi mới, con người cần đổi mới) và “khí duy cầu tân, nhân duy cầu cựu” (đồ vật cần đổi mới, con người cần giữ nguyên như cũ) trong sách Thượng thư để khắc họa cái cổ điển và cái cổ đại châu Á thành hai con đường tiến hóa song hành của xã hội cổ đại – “loại đầu là thay cũ đổi mới, cái mới xung phá cái cũ, là con đường cách mạng; còn loại sau lại là ràng buộc mới cũ, cái cũ níu kéo cái mới, là con đường duy tân”. Đích xác, ba hình thái phát triển xã hội được trình bày tập trung trong bản thảo Tư bản đã cung cấp không gian khái niệm giàu sức co giãn cho việc dung nạp, điều hòa tính đặc thù và tính đa dạng của các giai đoạn và các hình thái phát triển của xã hội.

Thật là trùng hợp, chúng ta lại có thể từ trong lý luận hiện đại hóa với tính cách một kỳ quan giữa thế kỷ XX và lý luận về tính hiện đại đa nguyên, sản phẩm của sự tự xem xét lại để nhận ra tiếng vọng từ chỗ khác của sự “kéo dài” nói trên, chỉ có điều thời gian và không gian đều đã có sự chuyển đổi, còn nội hàm khái niệm của nó thì cũng sớm đã khác xa xưa rồi. Qua tầm nhìn tính hiện đại văn hóa và tính hiện đại quy phạm nổi lên trong việc xem xét lại này để nhìn xuyên suốt từ cuộc tranh luận Trung – Tây thể – dụng thời kỳ cận đại Trung Quốc tới vòng tranh luận mới cuối thời cận đại về cổ – kim Trung – Tây, địa vị và vai trò của triết học trong cục diện nhị nguyên văn hóa và ch1inh trị đã có sự biến đổi tinh tế. Không giống với cái cổ đại cổ điển, trong đó triết học ở trong mối quan hệ đối lập trực tiếp nào đó với chính trị, giống như sự đối lập trừu tượng của chân lý và ý kiến trong cái bóng lùi xa của “cuộc chiến của người khổng lồ”; cũng khác với tình hình phương Tây cận đại, trong đó triết học và khoa học với tính cách là lực lượng mạnh nhất trong văn hóa cạnh tranh nhau, tranh đoạt không gian, từ trong đó nẩy sinh ra các loại thuyết chân lý kép điều hòa triết học và thần học, khoa học tự nhiên và khoa học tinh thần. Khác với cái cổ đại châu Á, khi mà “triết học” có địa vị “tác chi quân, tác chi sư” (làm vua, làm thầy) khống chế vạn vật; cũng khác với cách dẫn giải chủ đạo của Trung Quốc cận đại, vẫn cứ định dựa vào mô hình thể dụng tinh túy nhất trong triết học Trung Quốc để giải quyết cuộc tranh luận cổ – kim Trung – Tây. Thứ mà triết học hiện nay cần “tranh đoạt” không còn là một không gian “lập luận” nữa, tựa hồ nó đã có một “vùng lập luận” riêng mà các bộ môn khác không thể nhúng tay vào, mà là một “không gian khái niệm”, “không gian” này đặc biệt xuất hiện tại nơi mà các “vùng lập luận” đan xen chồng lấn nhau, vai trò của nó dù không phải là “rút giây động rừng” thì cũng vẫn có công hiệu lan tràn thẩm thấu và xuyên suốt; triết học giờ đây không còn là một “trọng tài” từ trên xuống, mà là một “người giàn xếp” trung gian, không còn là người quan sát bên ngoài sắp đưa ra sự “phán xử” một lần cho mãi mãi, mà giống như một người tham dự bên trong sẵn sàng sửa chữa bộ khung khái niệm của mình; điều then chốt hơn là, đồng thời với việc truy vấn tiêu chuẩn về tính chính đáng của các lĩnh vực khác, nó cần đưa ra sự biện hộ cho tính chính đáng của bản thân mình; chỉ có điều trong ngữ cảnh liên văn hóa, điều này dường như rất rõ ràng thậm chí “tự sáng tỏ”, nhưng cũng chỉ vì trong ngữ cảnh này, điều quan trọng nhất sẽ không phải là một thứ giải thích “thấy cây không thấy rừng”, cũng không phải là sự phán xét “Hội đương lăng tuyệt đỉnh” (Sẽ leo lên đỉnh tột cùng), càng không phải là dùng sự “phân biệt địch bạn” để “bắt cóc” nội hàm chính trị, mà vẫn là sự “siêu việt bên trong” mà sau hơn 2 nghìn năm “đột phá triết học” các triết nhân vẫn miệt mài tìm kiếm, cũng có nghĩa là, trong tầm nhìn “hậu siêu hình học”, sẽ phải đem các quan hệ giữa vô hạn và hữu hạn, cái vô điều kiện và cái có điều kiện, tính thống nhất và tính đa dạng, tự do và tất yếu mà thời đại trục lần đầu tiên tách ra tái thống nhất lại trên cơ sở thừa nhận tầm quan trọng của sự khu biệt khái niệm giữa chúng.

Khi từ góc nhìn “siêu việt bên trong” để bàn về vấn đề “quyền uy lý tưởng có tính hợp lý bao nhiêu?”, Habermas nói: ““Góc nhìn đạo đức” cần xây dựng lại góc nhìn này từ bên trong thế giới, đưa nó vào bên trong phạm vi thế giới mà các chủ thể chúng ta cùng có, nhưng lại không đánh mất đi khả năng giữ khoảng cách với toàn bộ thế giới và tính phổ biến của việc quan sát toàn diện thế giới”. Còn gần 200 năm trước, khi bàn về sự “phê phán bên trong” theo phép biện chứng, Hegel từng nói: “Sự cự tuyệt đích thực phải xuyên thấu lực lượng đối phương và gặp gỡ nó trên cơ sở nó có thực lực; con đường giành thắng lợi tuyệt nhiên không phải là tiến công nó ở một nơi nào khác, đánh bại nó ở chỗ nó không tồn tại”. Đến nay nhìn lại, câu nói này giống như là sự miêu tả chân xác về cảnh ngộ chân thực mà hiện nay chúng ta vẫn đang đối mặt, càng giống như sự cảnh báo trí tuệ đối với cách thức chúng ta sắp đặt cảnh ngộ này.

Người dịch: Viễn Phố

Nguồn: TN 2014 – 54

COVID-19 sẽ làm thay đổi Việt Nam như thế nào?


Trong bài viết trên trang Asia Times ngày 8/5, chuyên gia nghiên cứu về chính trị Đông Nam Á David Hutt cho rằng, Việt Nam đã viết nên một câu chuyện thành công trong việc đối phó với đại dịch COVID-19 nhờ vào các biện pháp phòng chống dịch hiệu quả và minh bạch một cách bất ngờ. Giới phân tích chính trị giờ đây đang tự hỏi liệu xu hướng này sẽ được tiếp tục hay không sau khi Việt Nam dỡ bỏ tình trạng phong tỏa và hướng tới một sự chuyển đổi lãnh đạo.

Cách thức ứng phó với đại dịch COVID-19 lần này trái ngược hoàn toàn với những gì mà Việt Nam đã thực hiện trong thời gian gần đây, nhất là sau vụ việc Formosa năm 2016.

Theo giáo sư Vuving, các biện pháp cách ly xã hội đã mang lại hiệu quả nhờ khả năng Đảng Cộng sản Việt Nam vận động người dân, trong khi đàn áp tự do ngôn luận thông thường với lý do kiểm duyệt “tin giả” có thể ảnh hưởng xấu tới việc xử lý khủng hoảng của chính quyền. COVID-19 có khả năng đã tăng sức mạnh cho ĐCSVN trước khi diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII vào đầu năm 2021, khi các vị trí lãnh đạo và quyết sách lớn cảu quốc gia sẽ được quyết định.

Giáo sư Carl Thayer tại Đại học New South Wales (Australia) cho rằng những gì diễn ra tại Đại hội Đảng toàn quốc thường được quyết định từ trước và phải phù hợp với truyền thống. Điều đáng chú ý là ĐCSVN vẫn nhạy cảm với thái độ của công chúng: “97% dân số Việt Nam không có tiếng nói trực tiếp về việc ai sẽ là người lãnh đạo tiếp theo của họ, nhưng ở một mức độ nào đó, ý kiến công chúng vẫn ảnh hưởng đến 3% dân số là đảng viên”.

Kể từ Đại hội toàn quốc lần thứ XII vào năm 2016, ĐCSVN đã tiến hành các chiến dịch chống tham nhũng và nâng cao phẩm chất đạo đức với mục đích loại bỏ các quan chức ích kỷ, không giữ cam kết và không có lập trường tư tưởng.

Mặt khác, người đứng đầu nhà nước đã tiếp tục chính sách cải cách nền kinh tế của người tiền nhiệm, hạn chế quyền lực của các ngành công nghiệp thuộc sở hữu nhà nước và thắt chặt hơn quan hệ với Hoa Kỳ.

Câu hỏi quan trọng là liệu Đảng có trở lại cơ cấu truyền thống “tứ trụ” vào năm tới hay không. Phần lớn những lời đồn đoán về những gì có thể xảy ra vào tháng 1/2021 tới phụ thuộc vào việc mọi thứ có quay trở lại hệ thống “tứ trụ” hay không.

Theo các nhà phân tích, bất kỳ sự thay đổi nào theo hướng cải cách kỹ trị sẽ không diễn ra trong một sớm một chiều. Ngoài 4 vị trí lãnh đạo hàng đầu, vấn đề quan trọng nhất quyết định sự thay đổi trong dài hạn sẽ là liệu nhân sự mới của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị có phản ánh bất kỳ khuynh hướng cải cách nào hay không.

Theo giáo sư Thayer, hy vọng tốt nhất để đưa các nhà kỹ trị có tinh thần cải cách vào các vị trí quyền lực của đất nước sẽ thuộc về thủ tướng tiếp theo, người có thể thành lập một chính phủ có tư tưởng cải cách.

Giáo sư Vuving cho rằng, bản thân cuộc khủng hoảng COVID-19 chỉ có thể làm gia tăng chút ít động lực để ĐCSVN thực hiện cải cách theo hướng quản trị minh bạch hơn, nhưng phản ứng dây chuyền mà dịch bệnh gây ra mới gây thêm nhiều áp lực cải cách quản trị ở Việt Nam.

Điều mà Giáo sư Vuving muốn nói tới chính là tác động của đại dịch đối với nền kinh tế Việt Nam, dự kiến sẽ chỉ đạt mức tăng trưởng thấp nhất trong vài thập kỷ qua, cũng như đối với vị trí chiến lược của Việt Nam trong bối cảnh gia tăng căng thẳng đại chính trị giữa Mỹ và Trung Quốc trong cuộc khủng hoảng COVID-19.

Tính hợp pháp của ĐCSVN phụ thuộc vào việc duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh, đã đạt khoảng 7% trong thập kỷ qua, nhưng Ngân hàng Thế giới (WB) dự đoán tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ giảm ít nhất xuống dưới 3% trong năm 2020, mặc dù sẽ có khả năng phục hồi nhanh hơn hầu hết các nền kinh tế Đông Nam Á khác.

Hiện Mỹ và Nhật Bản và một số quốc gia châu Âu đã lên tiếng mạnh mẽ hơn về việc “chia tách” các chuỗi cung ứng của họ khỏi Trung Quốc. Các nhà phân tích tin rằng Việt Nam có thể được hưởng lợi chính, khi những nước này chuyển các hoạt động sản xuất ra khỏi Trung Quốc, một điều đã diễn ra trong giai đoạn đầu của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

Việt Nam đã tiến hành tự do hóa nền kinh tế từ năm 1986 với chính sách “Đổi mới” đánh dấu bước chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường tự do. Tuy nhiên, chắc chắn rằng, tự do hóa kinh tế lớn hơn sẽ đòi hỏi tự do hóa chính trị nhiều hơn. Ví dụ như một hiệp định thương mại tự do vừa ký với Liên minh châu Âu (EU) năm 2019, yêu cầu Hà Nội lần đầu tiên cho phép các công đoàn độc lập hoạt động. Giáo sư Vuving nói: “Tất cả điều này sẽ đòi hỏi một phong cách quản trị mới ở Việt Nam. Phong cách mới này sẽ không xuất hiện ngay sau một đêm, nhưng xu hướng dài hạn là chính phủ Việt Nam sẽ phải năng động hơn và minh bạch hơn”.

Nguồn: TKNB – 12/05/2020.

Vấn đề Biển Đông trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc hiện nay


  1. Vũ Cao Phan

Trong các nước Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia có quan hệ sâu rộng nhất với Trung Quốc, trên mọi lĩnh vực. Cùng với Myanmar và Lào, Việt Nam có đường biên giới trên bộ khá dài với Trung Quốc. Việt Nam cùng có biên giới trên biển quan trọng với nước này, không nói về “đường 9 đoạn”. Việt Nam cũng sở hữu hệ thống Mekong – Lan Thương với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á lục địa. Việt Nam cũng là nước có quan hệ kinh tế – thương mại lớn nhất với Trung Quốc.

Để thấy rằng những tính chất bất khả kháng của Việt Nam trong mối quan hệ này và cũng để thấy rằng Việt Nam phải ở tuyến đầu trong cách ứng xử với Trung Quốc. Theo cách mà Jay Batongbacan nói về vai trò của Philippines trong phán quyết của Tòa Trọng tài (đã nêu ở trên), ta cũng có thể bảo: Nếu Việt Nam không quan tâm đến vai trò tuyến đầu của mình thì không một nước nào trong hoặc ngoài khu vực có thẩm quyền (cả về mặt đạo đức lẫn pháp lý) nắm giữ vai trò ấy.

Trong ba mối quan hệ/ràng buộc đang có với Trung Quốc thì Biển Đông nằm ở trung tâm, còn kinh tế và hệ thống sông Mekong-Lan Thương rất có thể trở thành công cụ của một bên thứ ba như đã nói. Không khó để nhìn ra sự “khôn ngoan” của đối phương nhưng chưa thấy Việt Nam có một đối sách thật sự ở tầm chiến lược. Nói “thoát Trung” để bây giờ càng “dính” chặt hơn? Về hệ thống Mekong-Lan Thương cũng vậy. Trung Quốc trữ một lượng nước lớn ở thượng nguồn bằng một loạt con đập nhưng nhiều con đập không để làm thủy điện. Để làm gì? Người ta có quyền đặt câu hỏi về vấn đề này, nhất là từ lâu Trung Quốc đã có ý định tìm cách cung cấp nước cho vùng khô hạn phía đông và phía bắc của mình. Cơ chế hợp tác Lan Thương – Mekong (LMC) không cho thấy mục đích rõ ràng, dù nó nằm dưới ngọn cờ “cộng đồng chung vận mệnh” với rất nhiều tiêu ngữ bóng bẩy. Hầu như Bắc Kinh chưa đưa ra cam kết nào đối với yêu cầu quản lý và ổn định dòng chảy, bảo đảm cung cấp nước và phù sa cho hạ lưu, giữ vững hệ sinh thái. Tóm lại, vấn đề quản lý tài nguyên nước đã hoàn toàn bị bỏ qua; trong khi ở thượng lưu, chỉ với 11 con đập, Trung Quốc trữ tới 50% lượng nước của Mekong – Lan Thương vào mùa khô hạn!

Biển Đông là nơi tập trung những vấn đề chủ yếu liên quan đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đáng tiếc đó lại là những vấn đề tiêu cực, trái với điều Trung Quốc thường rêu rao là tình hình khu vực này ổn định (ngay cả khi xảy ra sự việc ở bãi Tư Chính nửa cuối năm 2019). Không thể hy vọng giải quyết cơ bản hoặc một lần khi các mâu thuẫn diễn ra đã mấy chục năm mà vẫn đang ngày thêm trầm trọng. Nhưng đã đến lúc yêu cầu các bên nhìn thẳng vào vấn đề với tinh thần hợp tác, không lảng tránh.

Thứ nhất, vấn đề Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). Việt Nam cần nắm lấy cơ hội, buộc nước lớn này phải đàm phán thực chất trên cơ sở kiến nghị của tất cả 11 bên, đặc biệt với các nước có tranh chấp Biển Đông.

Thứ hai, vấn đề “đường 9 đoạn”. Gần đây, phía Trung Quốc đã giảm thiểu phát ngôn chính thức từ phía nhà nước về “đường 9 đoạn”. Giáo sư Robert Beckman từ Đại học Quốc gia Singapore ngày 6/1/2020 cho rằng Trung Quốc đang từ bỏ yêu sách “đường 9 đoạn” và thay thế nó bằng yêu sách chủ quyền đối với 4 cụm đảo (Hoàng Sa, Trường Sa, Pratas/Đông Sa và Macclesfield/Tây Sa). Trung Quốc sẽ không bao giờ tìm được cơ sở pháp lý cho “đường 9 đoạn” để giải thích cho chính người Trung Quốc (chưa nói quốc tế) như tuyên bố hùng hồn (rồi bỏ mặc đấy) của ông Ngô Sĩ Tồn nhiều năm về trước.

Thứ ba, vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc chẳng những nói đây là đất của tổ tiên từ đời nhà Hán mà có lúc còn bảo, Trịnh Hòa thời Minh trong các lần xuất dương đã tuyên chiếm các đảo nào. Nhà báo Bertil Lintner trên trang Asia Times ngày 15/11/2019 vạch rõ, Trịnh Hòa thậm chí chưa đi qua Biển Đông. Mà dù chủ quyền thuộc về ai – thuộc về Việt Nam cũng vậy thì như phán quyết của Tòa Trọng tài, “không một cấu trúc nào ở Trường Sa có thể tạo ra các vùng biển mở rộng”.

Thứ tư, phải thừa nhận rằng, mặc dù Trung Quốc là nước lớn có tiềm lực quân sự hùng mạnh, hầu như không có công ty, tập đoàn khai thác dầu khí quốc tế nào vì lợi ích kinh tế chấp nhận lời mời chào của họ vào thăm dò, khai thác dầu khí trong vùng mà Trung Quốc gọi là Vạn An (bãi Tư Chính) cũng như trong phạm vi “đường 9 đoạn”, ngoại trừ tập đoàn năng lượng Crestone (Mỹ) năm 1992. Nhưng trước sự phản đối của Việt Nam, tập đoàn này sau đó đã rút lui và Việt Nam đã xây dựng thêm 3 nhà giàn ở đây để khẳng định chủ quyền. Thất  bại đó có thể là lý do chủ yếu khiến Trung Quốc đã luôn yêu cầu COC phải có điều khoản ràng buộc “không hợp tác khai thác tài nguyên với các nước ngoài khu vực”.

Thứ năm, sự ủng hộ của quốc tế. Sự ủng hộ này gần như tuyệt đối khi các nước khẳng định mọi cách làm của Việt Nam đều dựa trên trật tự và quy tắc quốc tế, trong đó bao gồm Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS), cũng như quyền bảo vệ chủ quyền bằng các biện pháp hòa bình. Tuy nhiên, phản ứng nói chung là tiêu cực từ các quốc gia trong ASEAN/Đông Nam Á là điều đáng chú ý. Vì nguyên tắc đồng thuận, ASEAN đã không ra được tuyên bố chung dù rằng các nước ven Biển Đông, cách này hay cách khác đều từng bị Trung Quốc xâm phạm, gây hấn.

Thứ sáu, thế giới đánh giá ra sao trước những phản ứng của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông? Với cả dư luận chính giới và truyền thông, Việt Nam được đánh giá cao khi phản ứng tích cực trước những lợi ích hợp pháp bị xâm phạm nhiều nhất và liên tục. Tờ Straits Times (Singapore) viết: Hà Nội phản ứng mạnh nhất trong số các quốc gia tuyên bố chủ quyền. Asia Times nhận định Việt Nam hầu như là quốc gia duy nhất trong cuộc chiến chống lại nỗ lực của Bắc Kinh nhằm kiểm soát Biển Đông, với ba mặt liên kết: ngoại giao, thăm dò, khai thác; giảm phụ thuộc kinh tế…

Việt Nam đã trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021 và ch1inh thức tiếp nhận cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2020. Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức, nhất là trong cương vị Chủ tịch ASEAN. Sáu vấn đề vừa nêu trên hy vọng là những dữ kiện, những cơ sở để đề ra đối sách.

Vấn đề đầu tiên và xuyên suốt trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN của Việt Nam là tạo nên sự gắn kết khu vực. Cương vị Chủ tịch sẽ giúp Việt Nam có quan hệ chặt chẽ hơn, “gắn kết” hơn với ASEAN để tìm ra những cách thức “chủ động thích ứng”. Không ồn ào nhưng kiên quyết, Việt Nam phải bắt tya vào trả lời các câu hỏi, các thách thức ngay từ đầu nhiệm kỳ Chủ tịch. Nếu chỉ xử lý mỗi khi có sự cố (như cách làm hiện nay) là bất an, mạo hiểm. Chúng ta giữ quan hệ hữu hảo với Trung Quốc, một quan hệ được dệt nên từ lịch sử nhưng không để “cục to, cục lớn” (đại cục) ghè chân mình.

Bị bắt nạt, chèn lấn quá lâu, đã đến lúc Việt Nam cần chứng tỏ bản lĩnh. Đã đến lúc Việt Nam cần xem việc đưa sự xâm phạm thô bạo của Trung Quốc ra Tòa Trọng tài. Không quan trọng việc Trung Quốc có tham gia hay không. Hiệu ứng chắc chắn sẽ mạnh hơn rất nhiều nếu thêm một lần phán quyết của Tòa Trọng tài được tuyên bố theo luật pháp quốc tế.

Việt Nam là nước nhỏ so với Trung Quốc. Cả về diện tích, dân số cũng như tiềm lực kinh tế, quốc phòng, Việt Nam ở một vị trí cách xa so với láng giềng phương Bắc. Câu chuyện nước nhỏ Việt Nam bắt nạt nước lớn Trung Quốc là một câu chuyện hoang đường. Việt Nam cũng không đòi hỏi nước lớn Trung Quốc phải nhường nhịn nước nhỏ Việt Nam. Việt Nam chỉ muốn Trung Quốc hành xử như một nước lớn đáng kính trọng. Tất nhiên, Việt Nam muốn duy trì tình hữu nghị với Trung Quốc, nhưng để duy trì tình hữu nghị ấy mà phải đánh đổi lợi ích của dân tộc là điều không thể. Cũng không thể nói như một nhà ngoại giao Trung Quốc rằng, để xảy ra tình trạng như vừa qua là vì Trung Quốc coi Biển Đông là câu chuyện nhỏ, còn Việt Nam lại coi là chuyện lớn. Để giải quyết vấn đề Biển Đông hãy chân thành làm việc dựa trên chuẩn luật pháp quốc tế và một sự hiểu biết lẫn nhau.

Xin đề xuất một bước tiến nhỏ: Trong khi bảo lưu quan điểm của mình, hai nước Việt Nam và Trung Quốc cần đàm phán về vấn đề quần đảo Hoàng Sa/Tây Sa. Và trước hết là sự thỏa thuận để ngư dân Việt Nam được tiếp tục truyền thống đánh cá như hàng ngàn năm nay trong quần đảo này.

Nguồn: www.nghiencuuquocte.org

TKNB – 11/03/2020

Khúc tam tấu triết học, chính trị và văn hóa – Phần đầu


Ying Qi

Sau 16 năm tự lưu vong, 8 năm đến lục địa mới, một người được cho là cực kỳ có thiên bẩm triết học nhưng không hề có thiên phận chính trị là Hannah Arendt đã viết thư cho Jaspers, người thầy và người bạn chung thân của mình: “Không có gì thay đổi. Có lúc tôi muốn biết, rót dần ý thức chính trị vào đầu người Đức khó hơn hay là truyền đạt tri thức triết học dù là thô thiển nhất cho người Mỹ khó hơn”. Giống như trận cuồng phong cuồn cuộn trong tư tưởng Heidergger mà bà ca ngợi tuyệt nhiên không khởi nguồn từ thế kỷ XX mà đến từ quá khứ xa xôi, cảm giác “mê đắm văn hóa trong lịch sử nước Đức” cùng ý thức vấn đề trong câu nói này của Arendt cũng vượt xa ngữ cảnh của cái gọi là vấn đề nước Đức, mà tương tự cũng có thể truy nguyên tới tận thời Hy Lạp cổ điển.

Vấn đề quan hệ giữa triết học và chính trị được các nhà triết học chính trị thời đại chúng ta gọi là vấn đề quan trọng hàng đầu thậm chí là duy nhất của triết học chính trị. Bất kể dụng ý của cách nói này là ở đâu, và bất kể nó được sử dụng như thế nào, ở mức độ khá lớn nó đích xác là sự miêu tả chân thực về thời đại Hy Lạp cổ điển. Thông qua cây bút cự phách Plato, mối quan hệ giữa nhà triết học và thành bang – mà do cái chế của Socrates nên bị vấn đề hóa một cách đầy kịch tính – đã được trừu tượng hóa thành vấn đề quan hệ giữa triết học và chính trị. Bộ khung triết học được sự đối lập giữa trầm tư và hành động chống đỡ là lập thể đa chiều cạnh, nhưng toàn bộ bối cảnh văn hóa của sự đối lập triết học chính trị đại thể lại là nhất nguyên đồng chất, chính là theo ý nghĩa này mà các nhà sử học gọi thế giới cổ đại cổ điển là thế giới dị giáo.

Nếu sự tan rã của thành bang là sự chấn động tinh thần lớn nhất của thế giới cổ đại thì sự nổi lên của Kito giáo lại trực tiếp dẫn đến sự cáo chung của tính nhất nguyên văn hóa cổ đại cổ điển; từ mệnh đề “bên ngoài thành bang không phải thần thì là thú” đến mệnh đề “bên ngoài xã hội tuyệt nhiên không có sự cứu rỗi nào”, sự phân chia nhị nguyên giữa thành trì của chúa  và thành trì thế tục là sự diễn tả tốt nhất và cũng là cuối cùng về sự đối lập này. Đến giai đoạn này, quan hệ giữa triết học và chính trị thực ra đã nhường chỗ cho quan hệ giữa triết học và văn hóa, duy có điều tầng diện hạt nhân của văn hóa ở đây là một thứ quan niệm thời gian và lịch sử kiểu tuyến tính và mạt thế luận [eschatology] hoàn toàn khác với thuyết tuần hoàn cổ đại. Mà với sự nổi lên của khoa học ngày càng trở thành một thứ lực lượng có tính kết cấu và tính tạo hình của văn hóa cận đại thì nội hàm cụ thể của quan hệ giữa triết học và văn hóa theo nghĩa rộng lại chuyển biến thành quan hệ giữa triết học và khoa học. Cũng chỉ tới bước này thì điều mà Strauss nói: “Khoa học và lịch sử, hai động lực lớn của thế giới đương đại, đã đạt được thành công trong việc bắt tay nhau lật đổ bộ môn triết học chính trị này” mới thực sự được khẳng định.

Theo ghi chép về sự ra đời của tính hiện đại, bản thân sự đoạn tuyệt với thế giới cổ đại được quan niệm tiến bộ bảo vệ là một thứ dấu hiệu của tính chính đáng. Nhưng trong sự quá độ từ tính hiện đại thời kỳ đầu sang tính hiện đại thời kỳ sau, những tệ nạn của chính tính hiện đại cũng dần dần bộc lộ, còn động lực của nó thì ngày càng suy kiệt, như Robert B. Pippin nói: “Khủng hoảng tính hiện đại vào cuối thế kỷ XIX đã cho thấy xã hội tư bản chủ nghĩa không có năng lực tái sinh bản thân nó, cũng không có năng lực khiến bản thân nó có tính chính đáng”. Ở mức độ nào đó có thể lý giải sự khủng hoảng này là một thứ khủng hoảng văn hóa, hay nói cách khác, là một thứ khủng hoảng về tự giải thích, mà nếu cho rằng vấn đề của tính hiện đại không hoàn toàn là một vấn đề văn hóa, xã hội hay chính trị như Pippin quan niệm, mà là một vấn đề triết học, thì thực chất của sự khủng hoảng này cũng là khủng hoảng xuất hiện trong việc lý giải mối quan hệ giữa triết học và văn hóa, triết học và khoa học. Trong khi đó, khủng hoảng này cũng xuất hiện ở các quốc gia và khu vực mang tính hiện đại hậu phát, chỉ có điều ở đây, nội hàm của cái gọi là văn hóa, ngoài chiều cạnh khoa học cố hữu bên trong tính hiện đại nguyên phát ra thì còn tăng thêm chiều cạnh truyền thống và bản địa. Hay nói cách khác, khủng hoảng văn hóa ở đây vẫn mang hàm nghĩa kép, còn thử nghiệm bước ra khỏi khủng hoảng dường như càng có sức nặng “dồn cả vào một trận đánh” khó bề chịu đựng.

Ở các nước châu Âu cận đại với tính cách là đất phát tích của tính hiện đại, Đức là một quốc gia phát triển sau, nhưng điều khá tình cờ mà lại có ý nghĩa điển hình là, tuy về chính trị và kinh tế Đức thuộc về nước lạc hậu của châu Âu nhưng về triết học nó lại đóng vai trò người diễn tấu vĩ cầm hàng đầu và luôn được hưởng danh dự của xứ sở văn hóa. Chính là từ ý nghĩa này, vấn đề nước Đức đã trở thành “vấn đề nan giải nhất, rối rắm nhất và có tính toàn cục nhất” trong mắt nhà sử học, nước Đức cận đại cũng lại trở thành nơi tốt nhất để chúng ta quan sát mối quan hệ phức tạp giữa triết học, chính trị và văn hóa. Còn nói theo lời Franz Stearn, một sử gia khác thì “Nước Đức phi chính trị vừa là nguyên nhân khiến nó xa rời phương Tây và liên tục thất bại về chính trị, đồng thời cũng là kết quả của điều đó”. Nhưng sau khi trải qua các sự kiện như sự sụp đổ của Cộng hòa Weimar, sự thất bại của đế quốc Nazi, sự chia cắt và tái thống nhất của Đông – Tây Đức, việc xây dựng đất nước Đức lại dần dần đi lên con đường lý tính, tiết chế và lành mạnh. Sau khi kinh qua sự đấu tranh suốt đời với chủ nghĩa tiền hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại nhiều hình nhiều vẻ, đặc biệt là với cái gọi là “quyết đoán luận” và “cơ duyên luận”, Habermas đã dùng chủ nghĩa yêu nước hiến pháp để tổng kết kinh nghiệm từ Cộng hòa Bonn đến Cộng hòa Berlin, cuối cùng ông đem cái mỏ neo nội hàm quy phạm tính hiện đại buông vào chiều cạnh chính trị của nó, và đặc biệt nhấn mạnh vào sự khu biệt giữa văn hóa tương quan với vật chính trị và văn hóa được làm nên bằng phương thức chính trị. Nếu nói rằng trong luận thuật chính trị văn hóa theo truyền thống Đức, “vật chính trị” và “văn hóa” trong “văn hóa tương quan với vật chính trị” mà xem ra là tĩnh đọng đều bị coi nhẹ và hạ thấp thì “văn hóa làm nên bằng phương thức chính trị” lại định dùng một thứ cơ chế năng động hình thành nên văn hóa chính trị để khắc phục sự tách rời và đối lập cố hữu giữa văn hóa và chính trị, từ đó dùng phương thức này để vượt qua và loại bỏ sự tranh chấp giữa quyền lực và văn hóa, giữa văn minh và văn hóa, giữa “nước Đức tốt” và “nước Đức xấu” xuyên suốt trước sau Weimar, cung cấp một con đường ra khỏi văn hóa phi chính trị, đi từ chính trị văn hóa tới văn hóa chính trị.

(còn tiếp) 

Người dịch: Viễn Phố

Nguồn: TN 2014 – 54

Bên trong cuộc cách mạng số – Phần cuối


Các cơ quan an ninh quả quyết rằng công nghệ và truyền thông số đã dẫn đến một số lượng gia tăng rộng lớn những mối nguy cơ, không phải từ phía chủ nghĩa khủng bố quốc tế, mà cả từ hoạt động thăm dò tình báo công nghiệp, quân sự và nhà nước, từ tội phạm có tổ chức và bóc lột tình dục trẻ em. Theresa May, với tư cách là Bộ trưởng Nội vụ, đã tuyên bố thẳng thừng điều đó trong khi biện luận ủng hộ những quyền lực thăm dò tình báo trực tuyến chưa từng có áp dụng đối với công dân: “Đây đơn giản chỉ là một vấn đề sống còn, một vấn đề an ninh quốc gia. Chúng ta cần phải tiếp tục ủng hộ điều này cho đến khi chúng ta có được những thay đổi cần thiết”. Giám sát đám đông và công chúng đã trở thành một câu trả lời của nhà nước cho vấn đề công nghệ số và tội phạm trực tuyến, và những tiết lộ của Snowden cho thấy rằng các cơ quan tình báo đã không đợi một sự ủy quyền dân chủ để sắp đặt những hệ thống giám sát này. Kết quả là người ta đã lo ngại rằng chúng sẽ vận hành ngoài vòng pháp luật.

Ở nước Anh, câu trả lời cuối cùng của chính phủ dành cho Snowden đã dẫn đến việc đưa ra Dự luật về Quyền lực Điều tra, là cái sau đó sẽ hợp pháp hóa những công việc giám sát đám đông hiện thời. Chính phủ Pháp đã thông qua một đạo luật giám sát rộng vào tháng 5/2015. Năm 2016, Tòa án Tối cao của Nhật Bản đã ủng hộ sự giám sát bao trùm của chính phủ đối với cộng đồng người Hồi giáo ở Nhật.

Hiện đang có những dấu hiệu quan ngại cho tương lai của nền dân chủ, bởi vì một xã hội mà cho phép “gia tăng các hạ tầng cơ sở giám sát không kiểm soát được thì không thể hy vọng sẽ vẫn là một nền dân chủ tự do”. Richards đã xác định hai tác hại chủ yếu rút ra từ việc giám sát: Nó làm nhụt nhuệ khí tư tưởng của con người và dẫn đến sự lạm dụng quyền lực. Các nghiên cứu tâm lý cho thấy rằng người dân đành phải cư xử theo lối tuân thủ và phục tùng khi họ nghĩ là họ đang phải chịu sự giám sát. Hai nghiên cứu gần đây đã cung cấp bằng chứng kinh nghiệm về “tác động nhụt chí” của sự giám sát. Elizabeth Stoycheff đã phát hiện ra rằng đa số những người tham gia, khi có ý thức về sự giám sát của chính phủ, đã rất không muốn nói to trong môi trường dư luận thù địch. Jon Penney cũng phát hiện thấy một sự sụt giảm đáng kể và trực tiếp những quan điểm ủng hộ các bài viết mang tính nhạy cảm cá nhân của Wikipedia sau tháng 6/2013 (là thời điểm công bố các bài viết của Snowden), và sự sụt giảm này diễn ra trong một thời gian dài. Nếu người dân bị ngăn cản không được tự mình tìm hiểu hoặc không được điều tra những vấn đề gây tranh cãi, thì chắc chắn họ sẽ trở nên kém hiểu biết và “những quá trình tranh luận dân chủ rộng rãi hơn của chúng ta sẽ bị suy yếu”.

Kết luận

Công nghệ có thể được sử dụng để củng cố các giá trị và các quá trình dân chủ hoặc để làm hại chúng. Tất nhiên, thông tin được số hóa sẽ khó kiểm soát hơn, như đã thấy trong cả ba nghiên cứu trường hợp. Tuy nhiên, người ta hoàn toàn có thể có khả năng bắt công nghệ phục vụ các nhu cầu của bộ máy quan liêu và quyền lực, là điều đã được làm rõ thông qua những tiết lộ của Snowden. “Nếu không có một nỗ lực có ý thức và thận trọng để sử dụng công nghệ viễn thông mới nhân danh dân chủ, thì nó rất có thể sẽ được sử dụng theo những cách làm tổn hại đến nền dân chủ”. Điều quan trọng là ai là người minh bạch – những người công dân hay nhà nước. Hơn bất cứ lúc nào trong lịch sử, nhà nước có thể điều chỉnh ý muốn tìm hiểu của nó cho phù hợp “với các phương tiện thu thập, giám sát và (thậm chí) dự báo những ứng xử của thần dân/công dân của họ”. Liệu cái này có làm cho “chúng ta” an toàn hơn hay không còn phụ thuộc vào việc khái niệm “chúng ta” này dùng để ám chỉ ai và  vào việc chúng ta định nghĩa thế nào là an toàn và tự do.

Một điều cũng quan trọng là phải xem cái gì được làm minh bạch và bối cảnh công  bố nó. Sự minh bạch khi được kết hợp với công nghệ đã tạo ra những rò rỉ ở tầm công nghiệp. Những sự rò rỉ lớn này cho phép công chúng lột bỏ tấm màn che đậy các cơ cấu chop bu của chính phủ. Những gì họ phát hiện ra có thể không đẹp, cũng không có khả năng chịu được sự soi xét của công chúng. Các nghiên cứu trường hợp của chúng tôi cho thấy báo chí là một bộ phận không thể thiếu không chỉ để xác định những thông tin hữu ích cho công dân, như trường hợp chi tiêu của nghị sĩ cho thấy, mà còn để phát huy tối đa lợi ích công từ những thông tin được tiết lộ, trong khi làm giảm đến mức tối thiểu những tác hại của chúng. Các đống dữ liệu không có khả năng làm được điều này. Trong ba nghiên cứu trường hợp nói trên, nội dung và bối cảnh đã có tác động thiết yếu đến dư luận quần chúng về sự rò rỉ. Người dân ủng hộ những thông tin tiết lộ gián tiếp nhiều hơn là đối với các đống dữ liệu thô, và họ ủng hộ những thông tin về việc các quan chức tiêu tiền của công như thế nào hơn là đối với vấn đề an ninh hoặc quốc phòng. Sự trừng phạt chống lại người tiết lộ thông tin đã giảm bớt khi dư luận quần chúng coi những thông tin bị rò rỉ là có tác động mạnh đến lợi ích công.

Minh bạch và công nghệ đã dẫn đến một cuộc cách mạng số, đến lượt mình cách mạng số lại mở ra một hình thức mới của nền dân chủ giám sát. Sự phong phú của truyền thông và sự kết nối toàn cầu có nghĩa là quyền dân chủ có thể phát triển sâu rộng. Khi công nghệ tạo ra những cách thức mới để quyền và lợi ích của công dân được lắng nghe và được đại diện trong cộng đồng, thì điều này sẽ dẫn đến một “cuộc đụng độ giữa những mong đợi với những công nghệ và sự minh bạch của thế kỷ XXI đang thách thức một mô hình dân chủ và tham gia của thế kỷ XIX”. Các thể chế dân chủ của chúng ta cần phải thức tỉnh trước thực tế mới này và cải tổ triệt để theo những mong đợi gia tăng về bình đẳng công dân. Nếu không thành công, các thể chế đó sẽ có nguy cơ làm xói mòn lòng tin của công chúng, và các thể chế dân chủ có thể sẽ không còn được coi là phục vụ lợi ích công mà là lợi ích riêng của một số ít nhân vật chóp bu.

Người dịch: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Heather Brooke – Inside the Digital Revolution – Journal of International Affairs, Winter 2016, Vol 70, No.1, pp.29 – 53.

TN 2017 – 34, 35, 36 & 37.

COVID-19, đòn giáng mạnh vào tham vọng lãnh đạo toàn cầu của Trung Quốc


Mặc dù chính quyền Bắc Kinh đã đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền, nhưng danh tiếng quốc tế của Trung Quốc đã bị ảnh hưởng nặng nề trong đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 này. Liệu dịch COVID-19 sẽ đem lại cho Trung Quốc cơ hội trở thành nhà lãnh đạo toàn cầu hay không? Giống như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây ra tranh cãi về vấn đề phải chăng Mỹ đang rơi vào suy thoái, cuộc khủng hoảng COVID-19 đã đưa đến cuộc thảo luận về mối quan hệ tương lai giữa Trung Quốc và Mỹ.

Quan điểm cho rằng đại dịch đã “đặt dấu chấm hết cho Thế kỷ Mỹ” dường như đang được ưa chuộng ở Trung Quốc. Không thể phủ nhận rằng những cách thức xử lý vụng về ban đầu của Chính quyền Trump đã bộc lộ những yếu kém của hệ thống y tế Mỹ và những sai lầm trong khả năng của Mỹ đối phó một cách hiệu quả trước tình trạng khẩn cấp về chính sách công.

Tuy nhiên, sẽ là quá sớm khi dự đoán rằng cuộc khủng hoảng COVID-19 sẽ đẩy nhanh sự kết thúc vai trò lãnh đạo của Mỹ và đưa Trung Quốc tới vị thế ưu việt toàn cầu. Trên thực tế, khi virus SARS-CoV-2 trở nên hiện hữu, Trung Quốc có thể đã không còn nỗ lực để trở thành một siêu cường toàn cầu.

Các nước trên khắp thế giới đã cảnh giác với sự hối thúc của Đảng Cộng sản Trung Quốc yêu cầu cần có sự phối hợp toàn cầu đối phó với dịch bệnh. Sự hối thúc này có mục đích không chỉ để làm chệch hướng việc đổ lỗi cho Trung Quốc về nguồn gốc và sự lây lan của virus SARS-CoV-2 ở thành phố Vũ Hán, mà còn nhằm tận dụng đại dịch để tăng cường vị thế và ảnh hưởng toàn cầu của Trung Quốc.

Các nhà báo và nhà ngoại giao Trung Quốc tuyên truyền chế độ của Trung Quốc có hiệu quả hơn so với phương Tây trong việc kiềm chế đại dịch và cho rằng Trung Quốc là vị cứu tinh của thế giới. Giả định của Bắc Kinh cho rằng quân đội Mỹ đã tạo ra loại virus này và đưa nó đến Vũ Hán đã bị các nhà khoa học vạch trần. Họ xác nhận rằng cấu trúc của virus SARS-CoV-2 tương tự như cấu trúc của các loại virus được biết đã gây bệnh cho dơi và tê tê, khác với cái mà con người có khả năng tạo ra.

Hơn nữa, ở Mỹ, Anh và các nước khác tồn tại nghi ngờ rằng loại virus này có thể bị lọt ra từ Viện Virus học hoặc Trung tâm kiểm soát bệnh tật Vũ Hán, cả hai cơ sở nằm trong phạm vi 16 km từ chợ động vật nơi được cho là bắt đầu bùng phát dịch bệnh.

Những nỗ lực của Trung  Quốc nhằm biện minh cho những hành động của chính phủ dập tắt thông tin về virus đã không thành công ở trong và ngoài nước.

Những biện pháp kiềm chế khắc nghiệt của Đảng Cộng sản Trung Quốc như tập trung và cách ly những người bị nhiễm bệnh, thực hiện giám sát công dân qua các ứng dụng có cài mã, và thậm chí buộc những người ốm yếu phải ở trong nhà… đã bị một số nhà quan sát chỉ trích là quá đáng và vi phạm nhân quyền.

Vai trò là nguồn cứu tinh toàn cầu mà Bắc Kinh hi vọng có được đã bị cản trở bởi các trang thiết bị y tế dưới chuẩn của Trung Quốc, trong đó có khẩu trang và bộ kit xét nghiệm xuất khẩu sang Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Gruzia, Cộng hòa Czech và Hà Lan. Người ta còn hoài nghi về độ tin cậy của các con số thống kê chính thức mà Trung Quốc đưa ra về số ca nhiễm virus và số ca tử vong, khiến các chính trị gia ở Mỹ và châu Âu đổ lỗi cho Trung Quốc thông tin thiếu chính xác một cách có chủ ý và bởi vậy gây trở ngại cho các kế hoạch đối phó của họ.

Việc Trung Quốc đưa tin thiếu thỏa đáng có thể dẫn đến  hậu quả không chỉ là mất đi danh tiếng. Mỹ và các nước khác có thể kiện Trung Quốc về tôi vi phạm những quy định về y tế của Tổ chức y tế thế giới. Một báo cáo của tổ chức Henry Jackson Society ước tính rằng chỉ riêng nhóm G7 có thể kiện Trung Quốc gây thiệt hại 4000 tỷ USD. Người ta đang kêu gọi Trung Quốc xóa nợ cho các nước coi đó như một cách thể hiện tinh thần trách nhiệm và bồi thường cho những phí tổn liên quan đến virus SARS-CoV-2.

Hậu quả kinh tế

Nhiều nhà kinh tế giờ đây đang dự đoán rằng sự chậm lại trong hoạt động kinh tế do kết quả của việc phong tỏa và hạn chế đi lại sẽ dẫn đến suy thoái toàn cầu trong năm nay sâu như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu xảy ra, Bắc Kinh đã được ca tụng và giành được tiếng tăm khi Trung Quốc tung ra gói kích thích kinh tế trị giá 4000 tỷ NDT để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao ở trong nước và chống đỡ cho nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, hiện nay Chính phủ Trung Quốc đã chi tiêu ít hơn nhiều do mức nợ cao. Nếu Bắc Kinh bơm nhiều nợ hơn vào nền kinh tế để tránh suy thoái, họ sẽ làm cho việc duy trì tăng trưởng trở nên khó khăn hơn.

Cuộc khủng hoảng COVID-19 đã khiến cho các nguồn cung y tế cùng với trang thiết bị viễn thông trở thành các lĩnh vực an ninh quốc gia có ý nghĩa sống còn mà ít nhất một số chính phủ sẽ quyết tâm sản xuất ở trong nước hay hợp tác với các đối tác tin cậy. Các nỗ lực nhằm làm giảm sự dễ bị tổn thương có khả năgn sẽ khiến nhiều chuỗi cung ứng rời khỏi Trung Quốc. Những bước đi như vậy cùng với các nhân tố khác đang làm đảo ngược sự hội nhập kinh tế giữa Trung Quốc và thế giới, đẩy nhanh việc tách rời và phi toàn cầu hóa. Những xu hướng này không có lợi cho nền kinh tế Trung Quốc.

Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI), chính sách đối ngoại quan trọng nhất của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, đang phải đối mặt với khó khăn khi dịch bệnh lan rộng. Sáng kiến này đã mở rộng cơ sở hạ tầng và tăng cường sự kết nối đồng thời triển khai ảnh hưởng của Trung Quốc trên khắp thế giới. Các biện pháp cách ly và cắt giảm vận tải bằng đường biển đã dẫn đến những thiếu hụt lao động và sự gián đoạn khác. Mặc dù công việc đối với nhiều dự án BRI sẽ được nối lại, nhưng những dự án khác sẽ bị hủy bỏ. Phá sản và ngừng dự án sẽ làm giảm mạnh thêm đầu tư của Trung Quốc ra nước ngoài. Khó khăn về tín dụng trong nước có thể sẽ khiến một số doanh nghiệp nhà nước bán hoặc rút khỏi những dự án rủi ro.

Việc Chính phủ Trung Quốc không chia sẻ thông tin chính xác, bưng bít thông tin và nỗ lực thô thiển của Bắc Kinh nhằm giành được thành quả chính trị đã dẫn đến sự thiếu tin tưởng trong cộng đồng quốc tế. Phản ứng cẩu thả của Bắc Kinh trong giai đoạn đầu bùng phát dịhc bệnh đã bộc lộ những yếu kém của hệ thống quản lý trong nước của Trung Quốc và phá vỡ tham vọng của Tập Cận Bình muốn dẫn dắt những cải cách về quản lý toàn cầu.

Thảm họa COVID-19 đem lại cho Mỹ cơ hội để đánh giá lại các chính sách đối nội và chiến lược toàn cầu của mình. Nếu Washington tiến hành các biện pháp để tăng cường tính cạnh tranh của Mỹ, khôi phục các liên minh và chứng minh khả năng lãnh đạo toàn cầu của nước này, Mỹ có thể tự đặt mình vào vị trí cạnh tranh hiệu quả hơn trong tương lai.

Nguồn: The Straits Times – 10/04/2020

TKNB – 14/04/2020

Thế tiến thoái lưỡng nan về năng lực lãnh đạo của Trung Quốc – Phần cuối


Thách thức đối với sự tập trung quyền lực của Tập Cận Bình và năng lực lãnh đạo của ĐCSTQ: Cuộc khủng hoảng COVID-19 là ví dụ mới nhất

Do đó, việc thông qua nghị quyết của Hội nghị trung ương 4 được coi là một thành tựu mới đối với Tập Cận Bình để tập trung quyền lực hơn nữa vào trong tay và tránh ngay cả những bất mãn nhỏ nhất có thể làm suy yếu quyền lực của ông. Điều này không hề bất thường vì ĐCSTQ tin rằng việc tập trung quyền lực trong đảng, trung ương đảng và trong tay nhà lãnh đạo đầy quyền lực của đảng là cách tốt nhất để đối phó với những thách thức và khó khăn hoặc – theo cách nói thời thượng của riêng họ – để củng cố năng lực lãnh đạo của chế độ.

Niềm tin này không hoàn toàn sai lầm, nhất là khi xét tới hai phép màu mà Hội nghị trung ương 4 đã khẳng định, cụ thể là phép màu phát triển (kinh tế) và phép màu ổn định (chính trị) – các phương tiện truyền thông của ĐCSTQ nhắc nhở độc giả rằng đây là lần đầu tiên một văn kiện hội nghị toàn thể của đảng đưa ra câu chuyện về hai “phép màu” như vậy, và những phép màu này ủng hộ mạnh mẽ những khẳng định của ĐCSTQ về sức sống và năng lực lãnh đạo của các thể chế.

Tuy nhiên, logic về phản hồi tích cực như vậy đã bỏ qua thực tế lịch sử rằng chính việc phân quyền, chứ không phải tập trung quyền lực, đã khởi xướng những cải cách hậu Mao Trạch Đông ở Trung Quốc và khiến tính hiệu quả kinh tế của chế độ được cải thiện. Nó cũng bỏ qua cái giá và những phí tổn mà Trung Quốc và thế giới đã phải trả để có được hai phép màu này – những phí tổn khác nhau trên nhiều khía cạnh quan trọng của đời sống con người, trong đó có bình đẳng kinh tế, công bằng xã hội, chất lượng môi trường cũng như những quyền công dân và chính trị của người dân.

Tình trạng thiếu nhận thức về thể chế và chính trị như vậy đã gióng lên hồi chuông cảnh báo khi một loạt dịch bệnh đối với con người và động vật thuần dưỡng đã nổ ra ở Trung Quốc trong năm 2019, trong đó có dịch tả lợn châu Phi vào cuối tháng 4/2019 khiến hơn 1 triệu con lợn bị chết, theo số liệu của Chính phủ Trung Quốc (vốn thường báo cáo số liệu về thiên tai thấp hơn so với thực tế). Đợt bùng nổ dịch bệnh tai hại nhất là vào tháng 12/2019 – dịch COVID-19 do chủng mới của virus corona gây ra, có nguồn gốc từ Vũ Hán, thành phố 11 triệu dân ở miền Trung Trung Quốc. Dịch COVID-19 vẫn đang nhanh chóng lây lan rộng rãi trên khắp thế giới, gây ra một cuộc khủng hoảng y tế công cộng toàn cầu với quy mô rất lớn.

Nguồn gốc của loại virus chết người này vẫn còn là bí ẩn, nhưng một số người đã quy cho những hành động hay sai lầm của con người là nguyên nhân khiến virus lây lan. Mặc dù điều này gây tranh cãi gay gắt, nhưng chắc chắn việc Chính phủ Trung Quốc cố ý trì hoãn đến mức quá muộn việc công bố sự bùng nổ của virus hẳn phải là nguyên nhân khiến virus lây lan tai hại. Trên thực tế, Chính phủ Trung Quốc nổi tiếng vì có thói quen che đậy và cấm giới truyền thông đưa tin về các thảm họa nhân đạo, như được thể hiện trong cuộc khủng hoảng SARS năm 2002 – 2003. Trước khi dịch COVID-19 xuất hiện, trong năm 2019, Chính phủ Trung Quốc đã cấm các tin tức về sự lây lan của dịch tả lợn châu Phi vào tháng 8 bất chấp việc dịch này đã đạt đỉnh sau đó. COVID-19 có khả năng bùng phát v ào ngày 1/12/2019, nhưng Chính phủ Trung Quốc đã trì hoãn việc công bố tình trạng này cho tới tận ngày 23/1/2020. Trong 54 ngày quan trọng này, chế độ đã giam giữ ít nhất 8 nhân viên y tế và kết tội họ “tung tin đồn gây rối trật tự xã hội” vì đã công bố về sự xuất hiện của đại dịch qua nhóm liên lạc WeChat của họ.

Chế độ Trung Quốc có thể đã có nhiều lý do để hành động chậm chạp trong việc công khai ổ dịch, nhưng tất cả bằng chứng đều chỉ ra một nguyên nhân chính: Tất cả các cán bộ đều phải chờ được Tập Cận Bình đích thân chỉ đạo trước khi có bất kỳ hành động nào, vì theo lời của chính Tập Cận Bình, ông đích thân phụ trách vấn đề này (cũng như mọi vấn đề khác). Bên cạnh những tranh cãi liên quan đến trách nhiệm, điều này rõ ràng nêu bật vấn đề do sự tập trung quyền lực cao độ trong tay nhà lãnh đạo tối cao trên khía cạnh năng lực lãnh đạo. Nếu nhà lãnh đạo tối cao không phản ứng, thì chế độ hoàn toàn bất lực trong mọi việc, và chỉ tới khi những hướng dẫn của nhà lãnh đạo tối cao được đưa ra, hệ thống mới có thể được huy động mạnh mẽ.

Trong bối cảnh Trung Quốc, điều này có thể được gọi là thế tiến thoái lưỡng nan về lãnh đạo của Tập Cận Bình. Trước khi Tập Cận Bình tập trung quyền lực cao độ, chế độ đã vận hành nhiều thập kỷ dưới quyền các nhà lãnh đạo đầu sỏ, mà theo những cách hạn chế cho phép bộ máy trung ương đảng-nhà nước, bộ máy hành chính của các bộ, chính quyền địa phương, chính quyền cấp cơ sở và thậm chí là một tổ chức xã hội có sự chủ động nào đó trong việc đối phó với các vấn đề quản lý khác nhau. Đương nhiên, như bài viết đã chỉ ra, một chế độ độc đoán đầu sỏ như vậy cho phép có sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị, nhưng chế độ không có khả năng đối phó với những ảnh hưởng mà sự phát triển và ổn định như vậy gây ra. Giờ đây, những tác động của sự xuất hiện của cả hai thế tiến thoái lưỡng nan – của Tập Cận Bình và ĐCSTQ – đã khiến năng lực lãnh đạo của chế độ nhanh chóng suy giảm thay vì được cải thiện. Dịch COVID-19 bùng phát có thể là do thế tiến thoái lưỡng nan về lãnh đạo của chế độ, và việc chế độ thiếu năng lực đối phó với sự lây lan của dịch bệnh có thể là do thế tiến thoái lưỡng nan về lãnh đạo của Tập Cận Bình.

Kết luận

Năng lực lãnh đạo của chế độ cộng sản Trung Quốc nằm ở khả năng độc quyền thao túng sức mạnh của công chúng, nhưng việc độc quyền thao túng sức mạnh có thể gây ra một loạt thách thức nghiêm trọng, thậm chí mang tính căn bản đối với hoạt động quản lý, nhất là quản lý một xã hội với nền kinh tế thị trường, sự đa nguyên xã hội ở mức độ nhất định và sự can dự toàn cầu. Thế tiến thoái lưỡng nan trong chế độ độc đoán càng trở nên nan giải do ban lãnh đạo dưới quyền Tập Cận Bình sau khi ông lên nắm quyền; và Hội nghị trung ương 4 khóa XIX, tổ chức tháng 10/2019, là điển hình của việc ânng cấp thế tiến thoái lưỡng nan của ĐCSTQ lên thành của chính Tập Cận Bình trong vấn đề năng lực lãnh đạo. Đây là sự nâng cấp về mức độ tập trung quyền lực, vì thẩm quyền và sức mạnh của Tập Cận Bình giờ đây áp đảo so với trung ương đảng, và điều trước đó được tuyên bố là sự lãnh đạo tập thể của Ban thường vụ Bộ Chính trị đã bị thay thế bởi chế độ độc tài cá nhân của Tập Cận Bình. Tuy nhiên, điều này thể hiện sự suy thoái về thể chế, vì ĐCSTQ với tư cách một chính đảng rất lớn với 90 triệu đảng viên cũng như đất nước Trung Quốc rộng lớn không thể chỉ dựa vào một cá nhân, dù người này có tài giỏi đến đâu chăng nữa. Thế tiến thoái lưỡng nan của ĐCSTQ liên quan tới năng lực lãnh đạo có thể dẫn tới sự trỗi dậy của cái được gọi là mô hình Trung Quốc, theo đó sự độc quyền của ĐCSTQ đối với quyền lực có một số lợi thế về quản lý, nhất là trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và duy trì sự ổn định chính trị, nhưng làm phát sinh những phí tổn lớn không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, nếu chế độ của Tập Cận Bình không thể giải quyết được thế tiến thoái lưỡng nan của Tận Cận Bình cho thấy rằng quyền lực càng được tập trung trong tay Tập Cận Bình thì năng lực lãnh đạo của chế độ càng bị suy yếu.

Nguồn: China Leadership Monitor – 01/03/2020

TLTKĐB – 03/04/2020