Tuyên bố của Tổng thống Mỹ về Jerusalem: Động cơ, ý nghĩa và triển vọng


Sau 7 thập kỷ gián đoạn trong chính sách của Mỹ về Jerusalem, ngày 6/12 vừa qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố chính quyền của ông thừa nhận Jerusalem là thủ đô của Israel, đồng thời ông chỉ thị Bộ Ngoại giao Mỹ “triển khai các bước chuẩn bị chuyển Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv đến Jerusalem”. Năm 1995, Quốc hội Mỹ với đa số thành viên của 2 đảng Dân chủ và Cộng hòa đã thông qua “Đạo luật Đại sứ quán Jerusalem”. Đạo luật này quyết định phải chuyển Đại sứ quán Mỹ đến Jerusalem trong thời gian trước ngày 31/5/1999. Nhưng đạo luật này có một điều khoản cho phép Tổng thống Mỹ được quyền ký quyết định hoãn 6 tháng nếu thấy cần thiết để “bảo vệ lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ”. Cho nên kể từ Chính quyền Tổng thống Bill Clinton và các Chính quyền Mỹ kế tiếp đều đã mặc nhiên cứ 6 tháng một lần ký hoãn thực hiện đạo luật này, cho dù khi là các ứng cử viên ra tranh cử tổng thống, họ đều hứa sẽ chuyển Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv đến Jerusalem.

Các yếu tố quan trọng nhất cho quyết định này

Quyết định thừa nhận Jerusalem đang bị chiếm đóng là thủ đô của nhà nước Israel, nước mà đang chiếm đóng vùng này có các điểm chính sau:

1/ Jerusalem là thủ đô của Israel

Theo Trump, việc thừa nhận Jerusalem là thủ đô của Israel là “một việc đúng đắn cần phải làm”. Tuy nhiên, trong bài phát biểu của mình Trump đã muốn khẳng định rằng tuyên bố này của ông, không nhất thiết phải đụng chạm đến tình trạng cuối cùng”. Và theo một bức thư Bộ Ngoại giao Mỹ gửi tới các đại sứ quán của nước này ở châu Âu, ông đã yêu cầu các nhà ngoại giao Mỹ giải thích rõ với các quan chức châu Âu rằng “Jerusalem vẫn là một trong những vấn đề về tình trạng cuối cùng giữa người Israel và người Palestine và rằng trong các cuộc thương lượng của họ, hai bên phải xác định phạm vi chủ quyền của Israel ở Jerusalem. Đây là điều mà Ngoại trưởng Rex W. Tillerson đã một lần nữa khẳng định tổng thống hoàn toàn hiểu rõ tình trạng cuối cùng (đối với Jerusalem), trong đó vấn đề biên giới sẽ được để lại để hai bên thương lượng và quyết định. Trong đó có dấu một dấu hiệu ngầm về việc có thể chia thành phố này thành hai thủ đô nếu hai bên chấp thuận. Israel đã chiếm đóng phía Tây Jerusalem vào năm 1948, và tuyên bố nó là thủ đô của Israel vào năm 1949. Đây là một bước đi bị cộng đồng quốc tế, kể cả Mỹ bác bỏ. Tiếp đó Israel đã chiếm đóng phía Đông Jerusalem vào năm 1967. Các nghị quyết quốc tế quy định những vùng đất linh thiêng của người Do Thái, người Thiên chúa giáo và người Hồi giáo nằm trong đường biên giới của Đông Jerusalem là những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng và nó là phần thành phố mà người Palestine muốn đó là thủ đô của đất nước họ. Israel đã bác bỏ điều này.

Mặc dù Chính phủ Mỹ đã cố làm nhẹ đi mức độ hệ trọng của quyết định này, song cả ông Trump và các quan chức trong chính quyền của ông đều không đề cập một điều, đó là từ năm 1967 Israel đã không thừa nhận quyền của người Palestine ở phía Đông Jerusalem. Đồng thời, ông Trump cũng đã biện minh cho quyết định tuyên bố Jerusalem là thủ đô của Israel rằng quyết định này chấp hành đạo luật đã được Quốc hội ban hành vào năm 1995. Đạo luật này quy định thành phố Jerusalem “phải là một thể thống nhất” và “phải công nhận đây là thủ đô của Israel”. Từ đó người ta thấy là bất kỳ câu chuyện nào nói rằng quyết định của ông Trump không bao gồm việc tước đoạt quyền của người Palestine trong việc bàn thảo, thương thuyết về những vấn đề liên quan đến cơ chế cuối cùng, trong đó có vấn đề Jerusalem như là ném cát vào mắt.

2/ Chuyển Đại sứ quán đến Jerusalem

Mặc dù quyết định của Trump yêu cầu Bộ Ngoại giao phải bắt đầu chuẩn bị chuyển sứ quán Mỹ từ Tel Aviv đến Jerusalem, song Tổng thống Trump đã ký quyết định hoãn chuyển trực tiếp Đại sứ quán thêm 6 tháng nữa với lý lẽ là để có thêm thời gian hoàn thành việc “tuyển các kiến trúc sư, kỹ sư và các nhà hoạch định để xây dựng Đại sứ quán mới sao cho nó đạt mức độ là một biểu tượng tuyệt vời về hòa bình khi được hoàn thành”. Theo ông Tillerson, “có lẽ việc chuyển sứ quán sẽ không diễn ra trong năm nay, cũng không vào năm tới. Nhưng tổng thống muốn chúng tôi triển khai một quy trình cụ thể khi mà chúng tôi có thể làm được điều đó”. Bất luận thời điểm nào sẽ thực sự chuyển Đại sứ quán thực sự được ấn định, việc Tổng thống Trump quyết định công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel và việc ông chỉ thị Bộ Ngoại giao bắt tay triển khai các bước chuẩn bị chuyển Đại sứ quán thực sự đã đặt dấu chấm hết cho chính sách mà 3 người tiền nhiệm của ông đã theo đuổi hơn 20 năm nay về việc trì hoãn đưa ra quyết định chuyển sứ quán cho tới khi đạt được một giải pháp hòa bình thỏa đáng giữa người Palestine và người Israel.

3/ Tuân thủ một nền hòa bình và giải pháp 2 nhà nước theo tiêu chí của Israel

Trong bài phát biểu của mình, ông Trump muốn khẳng định chính quyền ông “cam kết mạnh mẽ tạo thuận lợi cho việc đi đến một thỏa thuận hòa bình lâu dài”. Lần đầu tiên kể từ khi lên làm tổng thống, Trump tuyên bố ủng hộ giải pháp 2 nhà nước. Nhưng sự ủng hộ của ông kèm theo điều kiện phải được cả hai bên tán đồng và tức là Mỹ “sẽ ủng hộ giải pháp 2 nhà nước nếu cả hai bên tán đồng”. Điều này có nghĩa là đưa các cuộc thương lượng trở lại bàn đàm phán 4 bên ban đầu. Điều này cho phép Israel sử dụng quyền phủ  quyết, nước này luôn từ chối thừa nhận Nhà nước Palestine được thiết lập trên cơ sở các nghị quyết của luật pháp quốc tế.

Động cơ và các toan tính của Trump

Quyết định của Trump về Jerusalem không có được sự đồng thuận giữa các cố vấn chính của ông. Cụ thể là trong lúc Ngoại trưởng Tillerson và Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis, Giám đốc cơ quan tình báo trung ương Mỹ (CIA) Mike Pompeo phản đối quyết định này, thì Phó Tổng thống Mike Pence, Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc Nikki Haley, và Đại sứ Mỹ tại Israel David M. Friedman lại ủng hộ quyết định này. Ngoài ra, con rể của của ông, đồng thời là cố vấn của ông, Jared Kushner và đặc phái viên Mỹ về hòa bình ở Trung Đông Jason Greenblatt cũng ủng hộ quyết định này của ông.

Những lý do mà những người phản đối quyết định này đưa ra là quyết định này có thể là mối đe dọa lợi ích của Mỹ trong các khu vực Arab và Hồi giáo, và cũng có thể làm suy yếu sự bảo trợ của Mỹ đối với các cuộc thương lượng giữa người Palestine và người Israel và làm phá sản mọi đề xuất hòa bình mà Mỹ đang ra sức thúc đẩy và hơn nữa còn làm nổ tung các cuộc thương lượng đó bởi các bên bị lôi kéo vào vòng bạo lực mới trên vùng lãnh thổ của Palestine bị chiếm đóng, chưa kể là quyết định này còn có thể làm cho mối quan hệ giữa Mỹ và các đồng minh Arab và Hồi giáo của họ trở nên căng thẳng. Bên cạnh đó, quyết định này còn dẫn đến chiến dịch cô lập Mỹ về mặt ngoại giao, thậm chí giữa các đồng minh của nước này ở châu Âu. Trái lại, bên ủng hộ quyết định lại tranh luận là tuyên bố theo kiểu này sẽ cùng cố niềm tin của người Israel vào ông Trump, và trên cơ sở đó, sẽ tạo điều kiện để ông có thể vận động được chính phủ cánh hữu của Netanyahu trong trường hợp Chính phủ Mỹ đưa ra một khung thỏa thuận cuối cùng với người Palestine.

Nhưng những lý do thực sự nào đã thôi thúc Trump tuyên bố quyết định của ông về Jerusalem, cho dù các cố vấn cấp cao của ông trong Hội đồng an ninh quốc gia phản đối, là gì? Ông Trump cố gắng đặt quyết định của mình trong một khuôn khổ thực hiện cam kết đạo luật mà đã được Quốc hội thông qua vào năm 1995 về việc chuyển Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv đến Jerusalem. Trump đã không ngần ngại chế nhạo 3 tổng thống trước ông, cho rằng họ không có đủ can đảm để kích hoạt đạo luật này. Ngoài ra, vấn đề này đối với Trump có liên quan đến lời hứa mà ông đã cam kết dứt khoát khi tranh cử tổng thống. Do đó, ông phải thực hiện lời hứa. Điều này trái ngược với những tổng thống tiền nhiệm của ông. Cụ thể là “những tổng thống trước đã biến việc này thành lời hứa quan trọng trong chiến dịch tranh cử của họ, nhưng họ đã không thực hiện được nó. Và hôm nay tôi sẽ thực hiện nó”. Ở đây nổi lên mục đích cá nhân trong quyết định của Trump, bởi hầu như ông không thực hiện những lời hứa mà không làm nổi bật hình ảnh của một tổng thống dũng mãnh, dám đưa ra những quyết định mà không một ai khác có bãn lĩnh thực hiện. Và trong vấn đề Palestine, ông đã tìm thấy cơ hội để thực hiện ý đồ này. Nhưng cũng tại đây, ông mong muốn làm hài lòng quần chúng, người ủng hộ mình, cơ sở ủng hộ ông trong cuộc bầu cử tổng thống, đó là:

1/ Làm hài lòng giới vận đồng hành lang Do Thái ở Mỹ

Vào tháng 3/2016, trong phát biểu trước Ủy ban các vấn đề chung Mỹ – Israel (AIPEC), một cánh tay nối dài của giới vận động hành lang Do Thái ở Mỹ, Trump đã cam kết chuyển “Đại sứ quán Mỹ đến thủ đô vĩnh cửu của người dân Do Thái, đó là Jerusalem”. Theo các phóng sự khác nhau, sau bài phát biểu, tỷ phú người Do Thái Sheldon Adelson, chủ chuỗi Casino nổi tiếng (tên của ông được đặt cho một quận ở Đông Jerusalem sau khi Israel trực tiếp chiếm giữ vùng này), một người ủng hộ những người thuộc đảng Cộng hòa, đã nghiêng về ủng hộ chiến dịch tranh cử tổng thống của Trump. Ông này đã hiến 20 triệu USD cho một trong những ủy ban bầu cử ủng hộ cho Trump. Một lần khác, ông đóng góp thêm 1,5 triệu USD để tổ chức hội nghị của đảng Cộng hòa mà tại đây Trump đã tuyên bố chính thức là ứng cử viên tranh cử tổng thống. Kể từ khi Trump được bầu làm tổng thống, Adelson đã không ngừng nhắc nhở ông về lời hứa của mình, và đã không giấu giếm sự trách móc khi ông Trump đã bị khuất phục trước áp lực của các cố vấn vào tháng 6 vừa qua và ông đã ký quyết định ký hoãn việc chuyển Đại sứ quán. Theo các phương tiện truyền thông Mỹ, Trump đã bất ngờ bước vào cuộc họp của các cố vấn cấp cao về vấn đề an ninh quốc gia vòa ngày 27/11/2017 giữa lúc họ đang tranh luận về vấn đề trì hoãn chuyển Đại sứ quán thêm một lần nữa. Họ tỏ ra kiên quyết phải đưa ra cho ông một sự lựa chọn để ông thực hiện lời hứa của mình khi tranh cử. Việc làm đó đã được đưa, mặc dù có những lời cảnh cáo của Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng.

2/ Sự hài lòng của các nhóm Tin Lành

Những người theo đạo Tin Lành chiếm 25% dân số Mỹ, trong đó có gần 80% người da trắng theo đạo Tin Lành đã bỏ phiếu cho Trump trong cuộc bầu cử tổng thống vừa qua. Vấn đề chuyển Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv đến Jerusalem là một trong những ưu tiên của nhóm theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Hơn thế nữa, nhiều người trong các nhóm này còn gây áp lực buộc Trump phải khẩn trương quyết định chuyển Đại sứ quan và tuyên bố Jerusalem là thủ đô của Israel. Đối với những người Tin Lành, vấn đề chuyển Đại sứ quán không liên quan đến vấn đề chính trị.

Kết luận

Quyết định vừa qua của Trump là thể hiện chiến thắng của sự ích kỷ và những cân nhắc chính trị nội bộ của ông về cách tiếp cận duy lý và thực tế trong chính sách đối ngoại. Đây cũng là một chiến thắng của phe quân sự cánh hữu cực đoan trong Chính quyền Trump với ý đồ khiến người Palestine sẽ phải lánh xa bàn thương lượng trong thời gian tới, nhưng họ sẽ lại nhanh chóng trở lại bàn thương lượng với những thực tế mới như họ đã làm trước đây. Điều này có nghĩa đây trên thực tế là một sự đánh cược đối với ý chí kháng chiến của nhân dân và ban lãnh đạo Palestine, cũng như khả năng kháng cự những áp lực của Mỹ và kể cả của các nước Arab, và khả năng kiên quyết bám giữ lập trường của mình là Mỹ đã không còn là một nhà hòa giải trung gian có đủ khả năng để bảo trợ tiến trình hòa bình và tìm kiếm những lựa chọn khác sau khi khẳng định chọn cách thương lượng đã thất bại. Việc này xuất hiện sau khi có những tin tức rò rỉ cho hay việc Thái tử Mohammed bin Salman đã gây sức ép với Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas trong chuyến thăm vừa qua của ông đến Saudi Arabia buộc ông phải chấp thuận đề xuất của Jared Kushner về “việc thiết lập một thực thể Palestine ở Dải Gaza và 3 khu vực hành chính ở khu Bờ Tây ở vùng A và vùng B và 10% ở vùng C bao gồm các khu định cư của người Do Thái”. Tại đây, các khu định cư này vẫn giữ nguyên hiện trạng của nó. Người Palestine mất đi quyền trở về quê hương mình và Israel tiếp tục chịu trách nhiệm về đường biên giới. Với ý nghĩa này, tuyên bố của Trump công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel là sự hoàn thành những nỗ lực nhằm kết liễu nguyện vọng của người Palestine thiết lập một nhà nước Palestine ở vùng đất khu Bờ Tây và Dải Gaza mà Israel đã chiếm đóng vào năm 1967 với thủ đô của họ là ở Đông Jerusalem – một giải pháp lịch sử mà người Palestine đã chấp nhận.

Nguồn: Trung tâm nghiên cứu chính sách Arab (Qatar) – 12/2017

TLTKĐB – 27/12/2017

Advertisements

Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần cuối


+ Tháng Sáu năm 1996, Lầu Năm góc đã đồng ý cung cấp cho Cục Phòng vệ Nhật Bản các dữ liệu cảnh báo đầu tiên từ các vệ tinh do thám, đó là lời cảnh báo đầu tiên về một cuộc tấn công bằng tên lửa điều khiển từ xa.

+ Tháng Bảy năm 1996, Sách trắng quốc phòng hàng năm của Nhật Bản đã công bố những nhận định về các mối đe dọa chiến lược đối với Nhật Bản. Mặc dù lời lẽ mang tính ngoại giao đối với nước ngoài, nhưng những lời đề cập đến Trugn Quốc lại là cứng rắn nhất: “Sự thúc đẩy liên tục (của Trung Quốc) việc hiện đại hóa các lực lượng không quân, hải quân và vũ khí hạt nhân, mở rộng… các hoạt động hải quân; và tình trạng căng thẳng gây ra do các cuộc tập trận quân sự xung quanh Đài Loan, tất cả làm cho chúng tôi thấy cần phải chú ý cẩn thận tới… cách ứng xử của Bắc Kinh”.

+ Tháng Tám năm 1996 các hiệp hội công nghiệp quốc phòng ở Nhật Bản và Mỹ đã đồng ý thành lập một cơ quan phối hợp nhằm thúc đẩy phát triển chung về thiết bị quân sự kỹ thuật cao.

Xu hướng có ý nghĩa nhất nổi lên từ các sự kiện này là có những động lực ngày càng tăng ủng hộ cho việc xây dựng thống phòng thủ tên lửa điều khiển từ xa cho Nhật Bản. THAAD tạo thành một tấm lá chắn chống tên lửa đạn đạo xung quanh Nhật Bản và Hàn Quốc, sẽ được xây dựng vào năm 2005. Hiện nó vẫn đang ở giai đoạn triển khai ở Mỹ, và người ta vẫn chưa quyết định được vấn đề quan trọng là Nhật bản sẽ chịu phần chi phí phát triển như thế nào trong công trình này. Tuy nhiên, nếu THAAD được chấp nhận thì đó sẽ là một bước tiến quan trọng nữa tới một liên minh chiến lược Mỹ – Nhật khăng khít hơn nhằm chủ yếu là vào Trung Quốc. Một lần nữa Bắc Kinh lại nhận ra một thách thức trước sự việ này, và các phương tiện truyền thông Trung Quốc đã tấn công mạnh mẽ cả Mỹ và Nhật Bản, thậm chí cả việc xem xét đến một hệ thống phòng thủ tên lửa. David Lampton, chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Quan hệ Mỹ – Trung, đã nói: “Người Trung Quốc thì lo ngại vì THAAD sẽ vô hiệu hóa sự hiện đại hóa các hệ thống tên lửa và vũ khí hạt nhân của chính họ”.

Ít ra là Trung Quốc cũng không hài lòng, về xu hướng này, và có thể hy vọng tăng cường sức ép của họ đối với Nhật Bản. Chẳng hạn, một quan chức Trung Quốc đã thông báo hồi tháng Sáu năm 1996 rằng các lý do chính trị sẽ có ảnh hưởng đến sự lựa chọn cuối cùng các nhà thầu cho Dự án Ba Thung Lũng khổng lồ của Trung Quốc, một loạt các đập nước và trạm thủy định dự định xây trên sông Trường Giang. Tờ Trung Hoa Nhật báo của Bắc Kinh trích lời ông Qin Zhongyi, phó chủ tịch công ty phát triển Ba Thung Lũng Trường Giang của Trung Quốc, rằng cơ hội cho các tập đoàn Nhật Bản (Tập đoàn công nghiệp nặng Mitsubishi, công ty điện tử Mitsubishi, Toshiba và Hitachi) để thắng thầu các hợp đồng trị giá 4 tỷ USD “có vẻ không chắc chắn, vì người ta không dễ dàng quên được mối liên kết gần gũi của Nhật bản với các chính sách khó chịu của Mỹ”. Qin, người phụ trách cuộc đấu thầu quốc tế cho dự án, đã nói rằng một tập đoàn Đức – Canada đang là người dẫn đầu vì “các mối quan hệ tốt đẹp giữa đất nước họ và Trung Quốc”.

Thật khó nói cán cân lực lượng ở châu Á trong tương lai sẽ phụ thuộc vào sự hợp tác Nhật – Mỹ tới mức độ nào. Như một nhà bình luận người Nhật Bản đã dẫn lời Thomas L. Friedman của tờ New York Times, “một mình Nhật Bản không thể bắt tay Trung Quốc, một mình Nhật Bản không thể bắt tay một Triều Tiên thống nhất, và một mình Nhật Bản không thể bảo vệ đường biển của chính nó – vì tất cả những lý do này, chúng ta cần liên minh với Mỹ”. Tuy nhiên, như thế không có nghĩa là Nhật Bản sẽ liên minh vững chắc với Mỹ. Nhiều yếu tố quyền lợi của các quan chức và các công ty Nhật Bản hẳn sẽ chống lại một liên minh hồi sinh rõ ràng là nhằm làm đối trọng với Trung Quốc, vì liên minh đó đe dọa những khoản lợi nhuận mà Nhật Bản có thể giành được ở Trung Quốc.

Công chúng rộng rãi cũng chống lại, vì họ cũng lo sợ các thảm họa mà chủ nghĩa quân phiệt không bị kiềm chế sẽ mang lại cho Nhật Bản. Sau nửa thế kỷ có thái độ hòa bình, sự tự nhận thức của Nhật Bản có lẽ không đơn giản cho phép đất nước chấp nhận vai trò một cường quốc thật sự, thậm chí chỉ ở khu vực của mình. Như Friedman đã diễn tả, vấn đề là “chính phủ Nhật Bản không muốn nói về từ C hay từ K”.

Nhiều lần trong thế kỷ này, sự suy yếu của Trung Quốc và sức mạnh của Nhật Bản đã phá hủy bất cứ khả năng nào về cán cân lực lượng châu Á ổn định. Do đó, từ Thế chiến II, đã có tiền đề cho rằng một Nhật Bản được tái vũ trang sẽ đe dọa hòa bình và ổn định ở châu Á. Nhưng nếu một lần nữa điều đó là sự thật, thì nay không còn là sự thật nữa. Trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh, chính sự yếu kém của Nhật Bản đe dọa hòa bình và ổn định do chỗ tạo ra một khoảng trống quyền lực mà Mỹ không thể lấp đầy, nhưng Trung Quốc lại có thể. Một Nhật Bản hợp tác chân thành với Mỹ là điều thiết yếu cho một cán cân lực lượng mới ở châu Á. Một Nhật Bản yếu chỉ có lợi cho Trung Quốc, bằng chứng hiển nhiên chỉ ra rằng Trung Quốc không hướng tới một cán cân lực lượng mới mà nhắm tới bá quyền của Trung Quốc, và trong đó, Nhật Bản, nếu chịu nhường bước cho định mệnh đó, thì sẽ phục vụ như là một nước chư hầu hữu ích nhất và giàu có nhất của Trung Quốc.

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19

Mỹ và chính sách “Balkan hóa” khu vực Mỹ Latinh – Phần cuối


Hủy hoại nhà nước – quốc gia

Nhà nghiên cứu chính trị Igor Collazos từng chỉ ra nhiều cách thức để hủy hoại một nhà nước – quốc gia: từ chiến thuật cắm chốt đến can thiệp, chia cắt, kích động chủ nghĩa địa phương, truyền bá tư tưởng thần phục, thâm nhập và làm tha hóa nội bộ, phân hóa kinh tế và kích động xung đột.

Cắm chốt là chiếm giữ và củng cố những điểm chiến lược, nhỏ bé về quy mô nhưng có vị trí then chốt trong việc kiểm soát, đặc biệt là đối với các mạng lưới truyền thông và giao thông; can thiệp là hành động quân sự chống lại một hoặc nhiều nhà nước – quốc gia; chia cắt là ly khai một hay nhiều phần lãnh thổ quốc gia; kích động chủ nghĩa địa phương là tuyên truyền những bản sắc, nhiều khi là giả tạo nhằm đào sâu cách biệt và rạn nứt với những nguyên nhân trên danh nghĩa thuộc về văn hóa.

Thâm nhập và làm tha hóa là gia tăng không kiểm soát các điểm “cắt chốt” bên trong bộ máy nhà nước của một quốc gia; truyền bá tư tưởng thần phục là tập trung hỗ trợ một địa phương cụ thể nhằm tăng cường ảnh hưởng và sự phụ thuộc một phần của đia phương đó vào cường quốc bên ngoài; phân hóa kinh tế là thúc đẩy sự phát triển quá mức của một hoạt động kinh tế chuyên môn hóa cao và riêng lẻ tại một địa phương hoặc thậm chí của cả một quốc gia để làm gia tăng sự phụ thuộc và làm suy yếu khả năng thương lượng của địa phương hay quốc gia đó, chiến lược hiện đang được áp dụng trong các hệ thống toàn cầu; và kích động xung đột là ủng hộ, cả về vật chất lẫn tinh thần, các cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhằm làm sâu sắc thêm các xu hướng ly khai và tạo ra các vết thương không thể hàn gắn.

Ai sẽ là nạn nhân tiếp theo sau Venezuela?

Washington rõ ràng đã triển khai chiến lược “Balkan hóa” tại Venezuela. Đầu tiên, họ âm mưu tạo ra một “vùng giải phóng” tại biên giới phía Nam thuộc bang Táchira, tiếp giáp bang Bắc Santander của Colombia, với hành động vận chuyển “viện trợ nhân đạo” do Mỹ cố tình thực hiện chứ không phải theo yêu cầu của Venezuela, một hình thức ngụy trang cho một cuộc xâm lược cục bộ mà trong đó, những người Colombia đóng vai trò then chốt.

Hiện tại, họ đang tạo dư luận và những “điều kiện khách quan” để biến bang Zulia thành một địa phương không có chính quyền, một vùng đất không có luật pháp và “không của ai cả”, từ đó tạo cớ cho một cuộc can thiệp quân sự đa quốc gia “vì mục đích nhân đạo”, để một khi giành được quyền kiểm soát Zulia sẽ tạo ra một nhà nước Venezuela tự do và lập ra một chính phủ bù nhìn thân Mỹ.

Những ai chỉ đạo mô hình chiến tranh đa hình thái và đa chiều chống lại Venezuela hiện tại từ Washington hẳn phải cho rằng việc chiếm đóng quân sự và chuyển “hàng viện trợ” cho riêng bang Zulia sẽ khả thi hơn nhiều so với việc thực hiện trên toàn lãnh thổ quốc gia Nam Mỹ này. Zulia là một vùng có trữ lượng dầu khí lớn, đồng thời có hoạt động chăn nuôi và tiếp giáp với Colombia, những điều kiện khiến địa phương này mang tính chiến lược về mặt địa chính trị.

Giờ đây Mỹ đang cố gắng chia tách 2 bang biên giới là Táchira và/hoặc Zulia khỏi Venezuela để lập ra một “nền cộng hòa” bù nhìn mới. Tại Mỹ Latinh, người ta không thể quên được việc Panama cũng từng là một phần lãnh thổ Colombia trước khi bị Mỹ chia tách vào năm 1903. Luận thuyết “Balkan hóa”, cho dù dưới bất kỳ danh nghĩa nào, đã, đang và sẽ luôn nằm trong tâm trí của những kẻ thống trị ở Mỹ.

Những tuyên bố vừa qua của Tổng thống Mỹ Donald Trump, về danh nghĩa nhằm vào người đồng cấp Colombia Iván Duque, có thể hiểu là một sự bảo đảm về việc đưa Colombia trở lại thời kỳ nội chiến, tại thời điểm tỷ lệ ủng hộ chính phủ bảo thủ cực đoan đang rơi tự do với những xung đột nội bộ liên miên một cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội ngày càng lan rộng, tình trạng mất niềm tin của dân chúng vào giới cầm quyền và thất bại nặng nề của Nghị viện trong nỗ lực thúc đẩy những nội dung thiết yếu nhất của thỏa thuận hòa bình với nhóm du kích Lực lượng vũ trang cách mạng Colombia (FARC, hiện đang giải giáp và trở thành chính đảng Lực lượng lựa chọn thay thế cách mạng của chung) – đặc biệt là về cơ chế pháp lý trong giai đoạn chuyển giao quyền lực.

Ông Trump “chỉ trích” người đồng nghiệp Colombia về việc không ngăn chặn được dòng ma túy vào Mỹ từ quốc gia Nam Mỹ này khi nói rằng “thật không may là hoạt động buôn bán ma túy đã tăng 50% kể từ khi ông Duque lên cầm quyền”, và lên án Colombia cùng với Guatemala, El Salvador và Honduras là những nước Mỹ Latinh đã gửi những tên tội phạm và băng đẳng” tới Mỹ. Lời đáp trả của Duque khá yếu ớt: “Những nước có tỷ lệ tiêu thụ ma túy cao cần phải đối mặt với hiện tượng đó; trong khi đó chúng tôi đang làm những việc cần thiết tại Colombia để đấu tranh chống lại các băng đảng và nạn trồng cây coca trái phép. Trong khi chúng tôi thực hiện nhiệm vụ này, các nước khác cũng cần phải đối phó với nạn buôn bán các tiền chất”.

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu cho rằng đây là một sự công kích của Trump nhằm vào đồng minh Duque. Trái lại, những tuyên bố này tạo ra công cụ để vị tổng thống hữu khuynh của Colombia gây áp lực lên công luận, các tổ chức chính trị và thể chế trong nước, đặc biệt Tòa án Hiến pháp, tái sử dụng các biện pháp mạnh tay chống lại người nông dân và bác bỏ thỏa thuận hòa bình, vì nếu không có các biện pháp cực đoan này thì Kế hoạch Colombia mà Washington tài trợ cho Bogota không có lý do để tồn tại.

Đó là một kế hoạch nhằm vào hai mục tiêu: một mặt để quốc gia Nam Mỹ này không phải từ bỏ hoạt động khai khoáng cùng kiệt, độc canh cây cọ châu Phi và thậm chí là chính hoạt động trồng cây coca; mặt khác để tiếp tục thu lợi từ chiến tranh, và rõ ràng là tiếp tục “Balkan hóa” hay tạo ra tình trạng vô chính phủ ở nhiều vùng rộng lớn của quốc gia Nam Mỹ này. Mỹ rõ ràng không muốn Colombia thoát khỏi vai trò là nguồn cung cấp cocaine và ma túy tổng hợp rẻ mạt cho tầng lớp thượng lưu, trung lưu và các khu ổ chuột tại các đô thị của Mỹ, vì đây vẫn là một công cụ kiểm soát xã hội hữu hiệu.

Hiện có 2 mô hình đang cạnh tranh nhau trong giới cầm quyền tại Colombia: Một bên là một bộ phận giới tư sản, do cựu Tổng thống Juan Manuel Santos cầm đầu, theo đuổi dự án ổn định kinh tế và đa dạng hóa sản xuất: một bên là phái Uribe, do cựu Tổng thống cực hữu Álvaro Uribe sáng lập, đặt cược vào việc quay trở lại tình trạng nội chiến, từng mang lại cho họ nhiều lợi lộc trong suốt 6 thập kỷ qua.

Phái Uribe, hiện do Duque thừa kế, tìm cách khơi lại xung đột xã hội và tình trạng chiến tranh: Vượt qua được cuộc xung đột nghĩa là xóa bỏ được tình trạng phân cực chính trị – xã hội ở nước này, dẫn tới việc chấm dứt sự tồn tại của phái Uribe luôn theo đuổi tư tưởng hữu khuynh, cực đoan, cũng như những ưu đãi và sự bảo hộ của họ đối với những kẻ buôn lậu ma túy, sĩ quan quân đội tha hóa biến chất và những nhóm bán quân sự cực hữu.

Duque muốn sử dụng trở lại thuốc diệt cỏ glyphosate phun từ máy bay để diệt trừ các cánh đồng coca, cùng các biện pháp cưỡng chế khác, để bỏ qua các sáng kiến đã thỏa thuận với giới nông dân và các dân tộc thiểu số bản địa.

Cựu Tổng thống Juan Manuel Santos từng chỉ ra rằng Colombia đã mất 40 năm cố gắng vô ích trong việc xóa bỏ cây coca “bởi chúng ta chưa bao giờ tiếp cận được với người nông dân để trao cho họ những lựa chọn khả thi khác. Ngày nay với nền hòa bình, chúng ta có thể làm được điều đó, và do vậy tôi hi vọng rằng cách tiếp cận này không bị điều chỉnh”. Ông nói thêm: “Phải trao cho những người dân trồng coca những lựa chọn hợp pháp và khả thi chứ không thể đầu độc (bằng việc sử dụng glyphosate) hay tống họ vào tù”.

Tại Brazil – quốc gia rộng lớn và đông dân nhất Mỹ Latinh, tình trạng cũng đáng buồn không kém với những tuyên bố giật gân và cực đoan của Tổng thống Jair Bolsonaro, người mới đây đã đưa ra giả thuyết về một cuộc xâm lược vào Venezuela, trong đó Brazilia và Washington sẽ làm việc cùng nhau để chia rẽ và gây rạn nứt trong Quân đội Venezuela nhằm lật đổ Chính quyền Nicolás Maduro. Vị tổng thống này phát biểu rằng: “Brazil có thể làm gì? Chúng ta hãy giả sử rằng có một cuộc xâm lược quân sự của Mỹ vào Venezuela… Chúngta sẽ phải lôi kéo Quân đội Venezuela, không còn con đường nào khác, bởi người quyết định liệu đất nước sống trong một nền dân chủ hay một nền độc tài chính là các lực lượng vũ trang… Quyết định đó sẽ là của tôi, nhưng tôi sẽ lắng nghe Hội đồng Quốc phòng và sau đó là Nghị viện Brazil trước khi đưa ra quyết định”. Thế nhưng ngay cả khi giới tướng lĩnh trong chính nội các của ông ngăn cản việc “giao nộp” căn cứ không gian chiến lược Alcántara cho Mỹ, thì vị nguyên thủ cực hữu này vẫn đưa ra cam kết trên trong chuyến công du Washington, chuyến công tác nước ngoài đầu tiên của ông trên cương vị tổng thống, và sắp tới rất có thể tới lượt các tập đoàn nhà nước và khu rừng Amazon khổng lồ cũng sẽ rơi vào vòng kiểm soát bằng lợi ích của Mỹ.

Những kế hoạch và chiến lược theo luận thuyết “Balkan hóa” luôn nằm trong số các lựa chọn của chính sách chiến tranh đa hình thái và đa chiều đang được Mỹ thúc đẩy tại Mỹ Latinh, nhằm biến khu vực này trở lại thành “sân sau” của mình. Trong bối cảnh đó, các cuộc tổng tuyển cử sắp tới tại Uruguay, Argentina và Bolivia có vai trò then chốt không chỉ đối với mỗi quốc gia này, mà còn cả với hướng đi của toàn bộ khu vực.

Nguồn: www.estrategia.la

TLTKĐB – 07/05/2019

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 32: Tự cường và sáng tạo – Phần cuối


Với việc Trung Quốc có thái độ hiếu chiến và quyết đoán, đối mặt với nước này có thể không phải là một lựa chọn tốt hơn là cùng tham gia. Làm thế nào để quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc trở nên ấm áp trong khi vẫn băng giá có thể là một thách thức lớn đối với ông Lý Hiển Long. Trong khi ASEAN nhận được sự ủng hộ của Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và các quốc gia khác tôn trọng luật lệ toàn cầu, ông Lý Hiển Long sẽ phải chịu áp lực đáng kể từ Trung Quốc và Mỹ khi họ tranh giành quyền kiểm soát chính trị tại khu vực. Việc ông Lý Hiển Long có thể thành công hay không trong việc cân bằng và vận động giữa Mỹ và Trung Quốc trong khi vẫn giữ lợi ích của khối ASEAN vừa là ưu tiên hàng đầu vừa có thể là một thử nghiệm quan trọng đối với ông.

Bắc Kinh thích giải quyết với từng quốc gia liên quan vấn đề Biển Đông. Hiện nay Trung Quốc e ngại rằng Singapore có thể cố gắng “quốc tế hóa” vấn đề này. Mỹ, cũng giống như các nước khác, muốn giải quyết vấn đề một cách hòa bình, phù hợp với các quy tắc quốc tế hiện hành và Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS). Một thách thức khác đối với ông Lý Hiển Long có thể là nỗ lực tạo ra sự thống nhất trong khi Trung Quốc đang cố gắng tạo ra các rạn nứt trong ASEAN.

Trong quá khứ Bắc Kinh dường như đã thành công trong việc giành được sự ủng hộ từ Brunei, Campuchia, Lào và Philippines đối với lập trường của mình rằng các tranh chấp Biển đông nên được đàm phán bởi các nước liên quan trực tiếp. Mặc dù Philippines giành chiến thắng và lợi thế trong cuộc chiến pháp lý tại Tòa Trọng tài, nhưng dường như có sự thay đổi sau khi ông Duterte lên nắm quyền. Tuy nhiên, bằng việc ủng hộ Việt Nam phản đối mạnh mẽ Trung Quốc về vấn đề Biển Đông, Mỹ đã góp phần ngăn chặn sự mất đoàn kết của ASEAN. Mặc dù Singapore không phải là một bên tham gia tranh chấp Biển Đông, nhưng nước này thường làm cho Bắc Kinh không hài lòng vì Singapore đứng về phía ASEAN. Với vai trò là chủ tịch ASEAN, trách nhiệm của Singapore bây giờ sẽ lớn hơn trước đây để bảo vệ quyền lợi của ASEAN. Sẽ là thách thức ngoại giao đối với Singapore để tranh luận trước Bắc Kinh rằng Singapore vẫn trung lập giữa Mỹ và Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông.

Mặc dù Singapore không có bất kỳ tuyên bố chủ quyền nào đối với khu vực đang tranh chấp, nhưng nước này ủng hộ một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Quan điểm này tương tự như đa số các quốc gia khác và điều này giúp duy trì hệ thống quốc tế hiện tại. Điều này cũng bao gồm việc thực thi phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế vào tháng 7/2016 chống lại các yêu sách của Trung Quốc mà Trung Quốc đã bác bỏ. Singapore ủng hộ nguyên tắc bảo vệ tự do hàng hải. Đối với Singapore, điều này có nghĩa là tự do thương mại, giúp Mỹ thể hiện vai  trò ngoại giao công cộng như lại làm Bắc Kinh tức giận.

Trong tuyên bố kết thúc hội nghị cấp cao, ông Lý Hiển Long đã công bố ba tài liệu: Tầm nhìn của các nhà lãnh đạo ASEAN về ASEAN tự cường và sáng tạo, Tuyên bố của các nhà lãnh đạo ASEAN về an ninh mạng và Mạng lưới các thành phố thông minh của ASEAN. Ông cũng tuyên bố hoàn thành Hiệp ước dẫn độ mẫu ASEAN, Quỹ thanh niên Singapore – ASEAN mới và thành lập Học viện Luật ASEAN, một chương trình đào tạo hàng năm tại Singapore.

Chủ đề khác nổi bật trong các cuộc thảo luận là những cách thức thúc đẩy hội nhập kinh tế và kết nối để xây dựng cuộc sống thịnh vượng cho các dân tộc ở Đông Nam Á. Ông Lý Hiển Long chú trọng tìm cách quản lý và khai thác công nghệ số và trang bị cho người dân những kỹ năng và khả năng để ASEAN trở thành một tổ chức năng động và sôi động. Trong khi dưới nhiệm kỳ chủ tịch của Philippines, chủ đề của ASEAN là “Đối tác vì thay đổi, tham gia vào thế giới” thì dưới vai trò chủ tịch của Singapore “Tự cường và sáng tạo” sẽ là trọng tâm.

Trước hội nghị cấp cao từ ngày 25 – 28/4, hội nghị tham vấn chung của các quốc gia thành viên ASEAN đã được tổ chức tại Singapore vào ngày 7 và 8/3 để thảo luận chương trình nghị sự. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Quốc Dũng đã dẫn đầu phái đoàn cấp cao Việt Nam (SOM) tham dự sự kiện này. Hội nghị tham vấn khuyến nghị rằng các nhà lãnh đạo ASEAN sẽ xem xét tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN và đưa ra các biện pháp bổ sung cho quá trình này.

Việc xây dựng Cộng đồng ASEAN đòi hỏi sự hợp tác ở mức cao nhất. Điều này bao gồm tăng cường năng lực của Ban thư ký ASEAN, thúc đẩy các liên kết và kết nối trong khu vực bên cạnh việc thực hiện có hiệu quả các nội dung liên ngành và kết nối các trụ cột cũng như định hướng quan hệ với các đối tác. Từ quan điểm này, Việt nam cam kết tích cực, chủ động và có trách nhiệm cùng các nước thành viên khác trong khối để xây dựng Cộng đồng ASEAN. Việt Nam tin tưởng rằng sự đoàn kết của tổ chức này và sự nhất trí về các vấn đề khu vực và toàn cầu có thể góp phần vào hòa bình và ổn định, qua đó phản ánh vai trò trung tâm của khu vực. Các bên liên quan hy vọng Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 32 nhất trí về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông như một văn kiện mở dựa trên các nguyên tắc luật pháp quốc tế. Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 và các văn bản có liên quan khác giữa ASEAN và Trung Quốc.

Việt Nam có vai trò nổi bật tại hội nghị cấp cao. Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu đã tích cực tham gia các cuộc thảo luận và đưa ra ý kiến trong việc dự thảo các văn kiện. Về tình hình khu vực và quốc tế, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các nhà lãnh đạo hoan nghênh kết quả tích cực của Hội nghị thượng đỉnh liên Triều vào ngày 27/4 và cam kết tiếp tục đẩy mạnh các nỗ lực thúc đẩy hợp tác và đối thoại, xây dựng niềm tin trên cơ sở các nguyên tắc và nền tảng hiện có trên Biển Đông và làm việc hướng tới việc hình thành COC có hiệu quả và ràng buộc từ đó thúc đẩy hòa bình, ổn định và hợp tác ở Biển Đông.

Singapore khởi xướng ý tưởng sáng tạo nhằm kết nối các thành phố trong ASEAN, thúc đẩy đô thị hóa thông minh thông qua áp dụng các công nghệ mới và cải thiện kỹ năng quản lý đô thị để nâng cao điều kiện sống cho người dân khu vực. Phát triển đô thị thông minh sẽ thực hiện dựa trên các khía cạnh giao thông, quản lý tài nguyên nước, năng lượng, sức khỏe, giáo dục, dịch vụ công và công nghệ thông tin. Mỗi thành phố tham gia mạng lưới sẽ xây dựng kế hoạch hành động của mình và thúc đẩy các dự án khả khi phù hợp với nhu cầu và lợi ích riêng của mình, trên cơ sở hỗ trợ lẫn nhau. 23 thành phố ở ASEAN, bao gồm 3 thành phố của Việt Nam – Hà Nội, TPHCM và Đà Nẵng – đã đăng ký tham gia mạng lưới. Tóm lại, chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tới Singapore và dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 32 đã thành công ở nhiều khía cạnh khác nhau.

Nhìn chung, hội nghị cấp cao kết thúc vào ngày 28/4 là một thành công trên nhiều góc độ. Các nhà lãnh đạo đã thông qua các văn kiện phù hợp với các ưu tiên của ASEAN vào năm 2018 nhằm tăng cường khả năng tự cường và sáng tạo của tổ chức này. Các cam kết khác của ASEAN đối với khu vực và quốc tế cũng được thảo luận.

Mặc dù là một câu chuyện thành công, trong nhiệm kỳ chủ tịch của mình, Singapore có thể phải đối mặt với tình huống khó khăn và cần phải điều chỉnh lập trường một cách cẩn trọng. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Singapore.

Một số nhân vật có ảnh hưởng ở Singapore cho rằng Singapore có thể phải chịu hậu quả tiêu cực do công khai phản đối lợi ích của Trung Quốc. Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long không bị thuyết phục bởi lý lẽ như vậy. Singapore sẽ thực hiện chính sách của mình khéo léo như thế nào để không những duy trì sự đoàn kết trong ASEAN mà còn tạo ra môi trường thuận lợi bằng các biện pháp chính sách phù hợp để làm cho ASEAN mạnh mẽ?

Nguồn: Eurasia Review – 01/05/2018

TLTKĐB – 06/05/2018

Mỹ và chính sách “Balkan hóa” khu vực Mỹ Latinh – Phần đầu


Aram Aharonian

Chiến lược không đổi của các chính phủ kế tiếp nhau tại Mỹ là chia cắt vĩnh viễn lãnh thổ Mỹ Latinh-Caribe, bao gồm trong đó những nỗ lực hiện đang khá thành công của họ trong việc phá hoại các tiến trình hội nhập tự chủ của khu vực như Thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur), Liên minh các quốc gia Nam Mỹ (Unasur) và Cộng đồng các nước Mỹ Latinh và Caribe (Celac).

Quá trình “Balkan hóa” Mỹ Latinh là một đặc trưng của cuộc tranh giành địa chính trị hiện tại và ngày càng dễ nhận ra tại tất cả các không gian hội nhập. Washington đang tìm cách làm thay đổi logic liên kết khu vực nhằm tạo ra một trật tự địa chính trị mới tại Mỹ Latinh, một bước xoay trục mang tính quyết định trong vài năm tới khi người ta thấy rõ hơn những chuyển biến của khu vực này không chỉ trong nội tại mà còn cả trong quan hệ đối ngoại. Quá trình “Balkan hóa” Mỹ Latinh thể hiện ở việc Mỹ đang sử dụng mọi loại “vũ khí” của hình thái chiến tranh đa hình thái và đa chiều (còn được gọi là chiến tranh thế hệ thứ 5), từ đe dọa can thiệp vũ trang, hay chiến tranh tâm lý thường trực qua các phương tiện thông tin đại chúng đa quốc gia và các mạng xã hội, đến gây sức và đặt điều kiện đối với việc vay mượn tín dụng của các tổ chức đa phương, luôn theo sát những mong muốn chính trị của Washington như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới hay Ngân hàng phát triển liên Mỹ.

Một ví dụ điển hình cho xu hướng này là việc cựu Ngoại trưởng Ecuador Eduardo Patiño mới đây tố cáo rằng đương kim Tổng thống nước này Lenín Moreno đã cam kết tuân thủ các điều kiện mà Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence đặt ra: thứ nhất, đứng vào hàng ngũ các nước tấn công Venezuela; thứ hai, đoạn tuyệt với các chương trình hội nhập nội khối Mỹ Latinh; và thứ ba, giao nộp nhà sáng lập Wikileaks Julian Assange. Tất cả chỉ để “đổi lấy một khoản tín dụng nghèo nàn của IMF”; trong khi đó, bước đi tiếp theo rất có thể là việc tái kích hoạt căn cứ quân sự cũ của Mỹ tại Manta.

Chiến dịch chiến tranh tâm lý trong trường hợp của Venezuela hướng tới việc tạo ra những sắc thái chính trị không chỉ đối lập và phân cực cao độ, mà còn loại trừ lẫn nhau, xét từ cả khía cạnh chính trị lẫn khía cạnh xã hội. Đây cũng là thông lệ đang diễn ra tại một số nước trong khu vực.

Những kế hoạch “Balkan hóa” trong quá khứ

Trong thế kỷ trước, giới phân tích theo thuyết âm mưu từng đề cập nhiều tới kế hoạch Andinia, nhằm chia cắt vùng Patagonia (vùng đất cực Nam châu Mỹ) của Chile và Argentina để lập ra một nhà nước Do Thái. Kế hoạch này bao gồm cả việc bạo hành và quấy rối liên tục cộng đồng thổ dân bản địa Mapuche từ cả 2 phía biên giới, cũng như việc chia cắt Brazil thành nhiều nước để xóa sổ siêu cường duy nhất trong khu vực, trong khi đó Colombia, Venezuela, Ecuador và Bolivia cũng sẽ mất một phần lãnh thổ của mình hoặc bị chia cắt thành những nước nhỏ.

Một số nhà phân tích chỉ ra rằng Mỹ không quan tâm lắm tới dầu thô của Venezuela, và nguồn tài nguyên khổng lồ này chỉ là một trong những phương tiện để Washington đạt được mục tiêu thực sự của mình là chia cắt thế giới thành 2 khối lớn: Một bên là tập hợp của các quốc gia toàn vẹn, trật tự và ngăn nắp, và một bên là thế giới “vô pháp vô thiên” với những quốc gia “què cụt”, nơi các vụ xung đột và tình trạng hỗn loạn diễn ra hàng ngày. Để đạt được điều đó, Mỹ phải phá hủy các thể chế nhà nước – quốc gia và các phong trào vận động củng cố tính tự chủ của các bộ máy này.

Chiến lược chính là “Balkan hóa”, hay chia tách có hệ thống một nhà nước – quốc gia thành những quốc gia nhỏ hơn thù địch lẫn nhau, khái niệm bắt nguồn từ những cuộc chiến tranh trên bán đảo Balkan, nhất là từ cuộc tàn phá hủy diệt Liên bang Nam Tư, kèm theo những cuộc thảm sát kinh hoàng, trong những năm 1990 dưới bàn tay của Mỹ và Liên minh quân sự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Ý tưởng chủ đạo của chiến lược này là “tô đậm những khác biệt ở những nơi đã có chúng và tạo ra những khác biệt ở những nơi chưa có”. Rõ ràng, chỉ có thể khuyến khích tư tưởng ly khai khi có sự can thiệp của các lực lượng ngoại bang, sự đồng lõa của giới cầm quyền mại bản và những thế lực cơ hội gặp thời tại các khu vực này.

Lịch sử đã chứng minh rằng từ những năm 1860, khi Tổng thống Bolivia lúc đó Mariano Malgarejo trục xuất đại sứ Anh, Nữ hoàng Victoria đã ra sắc lệnh “Bolivia không tồn tại” và cho xuất bản bản đồ Nam Mỹ mà trong đó, lãnh thổ Bolivia bị chia cắt và sáp nhập vào các nước láng giềng. Đây không chỉ là một hành động biểu trưng nhất thời vì quốc gia Nam Mỹ này sau đó đã phải gánh chịu tới 3 cuộc chiến tranh và mất tới hơn 50% lãnh thổ của mình vào tay Brazil, Paraguay và Chile.

Việc xóa sổ Bolivia được chính phủ nhắc lại một lần nữa trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Hernán Siles Suazo, khi tạp chí Time của Mỹ đề xuất việc “Ba Lan hóa” hay phân chia lãnh thổ Bolivia cho các nước láng giềng, với lời biện hộ rằng quốc gia này thường xuyên ở trong tình trạng hỗn loạn và nền kinh tế đã bị sụp đổ do việc cải cách nông nghiệp và quốc hữu hóa các mỏ khoáng sản, buộc phải nhận viện trợ quốc tế để tồn tại, và do đó không nên duy trì nước này như một quốc gia độc lập khi điều này “gây nguy hại cho chính người dân Bolivia”.

Luận điểm tương tự cũng từng được nhà độc tài quân sự Chile Augusto Pinochet sử dụng khi khẳng định Bolivia thiếu khả năng để trở thành một quốc gia và giải pháp tốt nhất là phân chia lãnh thổ của họ được Chile, Peru, Brazil, Argentina, giống như Hiệp ước Hitler – Stalin phân chia Ba Lan cho Đức và Liên Xô năm 1940.

Những kế hoạch này được lập lại trong những tình thế khác nhau bởi các chính trị gia theo tư tưởng tự do mới như Tổng thống diệt chủng Gonzalo Sánchez de Lozada, người cũng từng khẳng định Bolivia là một quốc gia không thể tồn tại. Trong những năm chủ nghĩa tự do mới chiếm thế thượng phong và tình trạng chảy máu tài nguyên diễn ra thường nhật, luận điểm dối trá này được các chính trị gia lặp lại nhiều lần tới mức người ta tin rằng việc Bolivia là một quốc gia không thể tồn tại là sự thật.

Năm 2008, một kế hoạch theo định hướng “Balkan hóa” đã dẫn tới cuộc đối đầu giữa chính phủ quốc gia với chủ trương bảo vệ các dân tộc bản địa yếm thế rất được lòng dân của Tổng thống Evo Morales và các nhà cầm quyền thủ cựu tại các địa phương giàu có trong khu vực địa lý được gọi là Trăng Khuyết (gồm các bang Santa Cruz, Tarija, Beni và Pando, cùng một phần Chuquisaca), giữa khu vực rừng núi Andes giàu khoáng sản ở miền Tây và các khu vực miền Đông, nơi tập trung giới địa chủ, doanh nhân lớn và tư sản thủ cựu, nắm giữ phần lớn các mỏ khí đốt và sản lượng nông nghiệp của đất nước. Tuy nhiên, kế hoạch chia rẽ này sau đó đã thất bại.

Trong trường hợp của Colombia, từng có âm mưu lập ra một “liên bang Antioquia”, hay nói nôm na là tách một trong những bang giàu có nhất ra thành một nhà nước tự chủ, độc lập, với Chính quyền Bogota. Nhưng định hướng “Balkan hóa” thực tế đã bắt đầu từ thế kỷ XIX, với việc tách Đại Colombia thành 2 quốc gia kình địch là Colombia và Venezuela, và sau đó vào năm 1903, Mỹ chia cắt Panama khỏi Colombia để nắm giữ kênh đào huyết mạch nối liền Thái Bình Dương với biển Caribe (thuộc Đại Tây Dương).

Về phần mình, Ecuador cũng chiếm mất phần lớn các tỉnh ven biển và Guayaquil – bang giàu có nhất của “đất nước xích đạo” – cũng hơn một lần suýt bị tách thành một quốc gia riêng.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.estrategia.la

TLTKĐB – 07/05/2019

Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần V


Những gì làm cho Nhật Bản cũng như các quốc gia Đông Nam Á phải lo lắng là sự cố tình lừa dối của Trung Quốc (những thông báo của Giang Trạch Dân chỉ là những bảo đảm có thẩm quyền nhất và mới nhất cho ý đồ hòa bình) và dường như quyết tâm của Trung Quốc nắm quyền kiểm soát Biển Nam Trung Hoa bất chấp dư luận trong khu vực không hề thay đổi. Mặc dù các tham vọng của Trung Quốc tập trung vào các đảo nhỏ và các bãi đá ngầm, họ cũng đòi hỏi quyền – mà cho tới bây giờ, họ vẫn nói là họ sẽ không áp dụng – “điều chỉnh” hoạt động của tàu bè qua lại trên vùng biển đó. Tất nhiên, đối với Nhật Bản, việc Trung Quốc áp dụng “quyền” đó buộc Nhật Bản phải có sự điều chỉnh các con đường buôn bán quan trọng nhất của mình. Nhưng viễn cảnh biển Nam Trung Hoa bị biến thành ao nhà của Trung Quốc đã có những ý nghĩa nghiêm trọng đối với đầu tư của Nhật Bản. Một lượng tài sản khổng lồ của Nhật Bản được đầu tư ở các quốc gia Đông Nam Á ở giáp ranh con đường hàng hải mà chẳng bao lâu nữa có thể sẽ bị Trung Quốc kiểm soát. Ngược lại, Nhật Bản thậm chí không có quyền hợp hiến để cử tàu chiến tới Biển Nam Trung Hoa bảo vệ cho đầu tư của họ tại đó. Thay cho điều đó, họ phải phụ thuộc vào ý muốn giúp đỡ của Mỹ, cử các lực lượng quân đội Mỹ tới bảo vệ cho các công ty Sony và NEC. Như một quan sát viên đã nhận xét, trước đây, chưa bao giờ có một quốc gia mạnh và quan trọng nào lại cho phép những lượng tài sản lớn của mình lưu thông ở nước ngoài mà không có khả năng bảo vệ.

Cũng trong năm 1995, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đẩy mạnh các cuộc tập trận ở Triều Tiên, nơi họ đã thể hiện thái độ chống Nhật rất rõ ràng. Trong khi tình cảm chống Nhật đang biến mất khỏi Đông Nam Á, thì nó vẫn dữ dội trong người Triều Tiên. Cảm nhận của họ về cuộc xâm chiếm tàn bạo và kéo dài của Nhật Bản trên đất nước họ, từ 1895 tới 1945, vẫn còn sâu đậm, thậm chí ở cả những người được sinh ra sau Thế chiến II. Trong một cuộc viếng thăm cấp nhà nước có tính lịch sử tới Hàn Quốc tháng 11 năm 1995, cứ có cơ hội là Giang Trạch Dân lại kêu gọi thái độ thù địch của người dân Triều Tiên đối với Nhật Bản. Gợi lại ký ức về chế độ thuộc địa Nhật Bản ở Triều Tiên, Giang Trạch Dân đã cùng Tổng thống Hàn Quốc lên án lịch sử cuộc xâm lược của Nhật Bản, và Giang Trạch Dân còn gợi ý thêm rằng bọn “quân phiệt” Nhật Bản vẫn là một mối đe dọa cho sự tồn tại của cả Trung Quốc lẫn Triều Tiên.

Đối với phương Tây, thái độ của Giang Trạch Dân ở Triều Tiên dường như là biểu hiện lành mạnh thiện ý của Trung Quốc nhằm mở rộng phạm vi các mối quan hệ tốt đẹp của mình. Tuy nhiên, thực ra, thái độ của Trung Quốc ở Triều Tiên, vốn dựa trên giả thiết rằng cuối cùng chế độ Bình Nhưỡng sẽ sụp đổ dần, lại kích thích cơn ác mộng của Nhật Bản: một nước Triều Tiên tái thống nhất, được trang bị vũ khí hạt nhân, nghiêng về Trung Quốc và chống lại Nhật Bản. “Địa chính trị học Nhật Bản đã không thay đổi qua nhiều thế kỷ”, Hisahiko Okazaki, một nhà phân tích chiến lược Nhật Bản, đã nói: “Tầm quan trọng chiến lược của Bán đảo Triều Tiên vẫn tồn tại như nó đã luôn luôn tồn tại”. Nếu Trung Quốc có ảnh hưởng quyết định ở một nước Triều Tiên tái thống nhất và được trang bị vũ khí hạt nhân, nó sẽ có tác động to lớn đối với Nhật Bản, trên thực tế là buộc Nhật Bản phải tìm kiếm sự bảo vệ của Trung Quốc để chống lại Triều Tiên.

Phương án giải quyết của Mỹ cho vấn đề này là đề nghị các cuộc đàm phán bốn bên giữa hai nước Triều Tiên cũng như Mỹ và Trung Quốc. Cho đến nay lời đề nghị này chưa được thực hiện ở bất cứ đâu. Trong lúc này, có những báo cáo liên tục về việc Trung Quốc đang bí mật tạo điều kiện cho các cuộc tiếp xúc giữa Bắc và Nam Triều Tiên, xúc tiến chương trình nghị sự của mình với tư cách là một đấu thủ bên ngoài nhưng có tính quyết định đối với bán đảo. Bất chấp các tài sản quân sự của mình trên bán đảo, dường như Mỹ không có đối sách nào, và điều này đã làm Nhật Bản càng lo ngại hơn bao giờ hết.

Đồng thời, theo nhận định của bất cứ nhà chiến lược nào, mối quan hệ thân thiết đang tăng lên giữa Trung Quốc với Nga (trong khi mối quan hệ đó không nhằm vào Nhật Bản một cách rõ rệt), lại đi ngược lại các lợi ích của Nhật Bản. Nó làm lệch thêm cán cân lực lượng ở Đông Bắc Á có lợi cho Trung Quốc và chống lại các lợi ích của Nhật Bản và Mỹ. Mặc dù phần nào do sự trùng hợp ngẫu nhiên, và không phải do quan hệ nhân quả, mối giao kết thân thiện Nga – Trung dường như đang đi song song gần gũi với mối giao kết thân thiết Nhật – Mỹ. Quả vậy, năm 1996, Tổng thống Nga Boris Yeltsin và Giang Trạch Dân đã tuyên bố một hiệp ước chiến lược Nga – Trung và trong cùng tháng Tư đó, Clinton và Hashimoto đã công bố tuyên bố chung của họ ở Tokyo.

Đối với Nhật Bản, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan được xem như đi ngược lại bối cảnh này, Đài Loan có tầm quan trọng quyết định đối với an ninh Nhật Bản. Thực ra nó đã góp phần bảo vệ sườn phía Nam của Nhật Bản. Từ cuộc chiến tranh Triều Tiên, các mối quan hệ khăng khít với Mỹ và các chính sách ủng hộ buôn bán, ủng hộ phương Tây đã đưa lại cho Đài Loan một chỗ đứng đáng khích lệ. Một điều hầu như bao giờ cũng bị bỏ quên hoàn toàn là Đài Loan còn bảo vệ các cửa ngõ phía Đông và Biển Nam Trung Hoa – Đài Loan chia sẻ với Trung Quốc eo biển Đài Loan, và chia sẻ với Philippines đường lạch Bashi của eo biển Luzon. Sự quan tâm ít ỏi đối với thực tế chiến lược quan trọng này là do cam kết của Đài Loan về thương mại và tự do đi lại trên đường biển – điều đó có nghĩa là sẽ không bao giờ có chuyện Đài Loan phong tỏa các tuyến đường hàng hải đó. Nhưng viễn cảnh về quyền kiểm soát này của Trung Quốc đối với Đài Loan, một viễn cảnh mà chắc chắn người ta phải nghĩ tới do cuộc đụng độ trên eo biển Đài Loan vào năm 1996, đã buộc các nhà chiến lược Nhật Bản phải đánh giá lại từ đầu tầm quan trọng chiến lược vô cùng to lớn của Đài Loan đối với Nhật Bản.

Trong bất cứ trường hợp nào, các bài phát biểu và các sự kiện khác nhau này, diễn ra trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh, đã dẫn tới một số cam kết Nhật – Mỹ. Đặt cạnh nhau, các cam kết đó thể hiện một sự gia tăng đáng quan tâm về hợp tác quân sự giữa hai nước:

+ Tháng Hai năm 1996, Mỹ và Nhật Bản đã ký kết một biên bản ghi nhớ liên quan đến việc chia sẻ các thông tin chi tiết về phòng phủ bằng tên lửa điều khiển từ xa. Tháng Tư năm 1995, Cục phòng vệ Nhật Bản đã thành lập Cơ quan nghiên cứu phòng vệ bằng tên lửa đạn đạo, nhiệm vụ của nó là quyết định có triển khai hay không triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD.

+ Tháng Tư năm 1996 đã có tuyên bố an ninh chung.

+ Tháng Năm năm 1996 chính phủ Nhật Bản đã xem xét việc xây dựng các đường lối chỉ đạo mới cho Nhật Bản “để hành động phối hợp với Washington trong việc giải quyết tất cả các trường hợp khẩn cấp… xảy ra ở trong khu vực xung quanh”. Đây là một bước phát triển của tuyên bố tháng Tư. Một tờ báo đã đưa tin rằng Nhật Bản đang tìm cách nói thích hợp để tìm lý do chính đáng cho việc Nhật Bản đảm nhận vai trò quân sự tích cực hơn nữa bên cạnh Mỹ nếu chiến tranh xảy ra.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 32: Tự cường và sáng tạo – Phần đầu


Rajaram Panda

Hội nghị cấp cao lần thứ 32 những người đứng đầu nhà nước và chính phủ các quốc gia thành viên Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được tổ chức tại Singapore từ ngày 25 đến ngày 28/04/2018 để thảo luận các vấn đề khu vực và quốc tế  đã thành công tốt đẹp. Mặc dù ASEAN bao gồm 10 quốc gia thành viên (AMS) trong một khu vực đa dạng về văn hóa và nguồn gốc, nhưng nó chia sẻ lợi ích chung trong việc thúc đẩy hòa bình, ổn định và an ninh vì lợi ích của các dân tộc trong khu vực. Hội nghị cấp cao ASEAN lần này là một sự kiện đặc biệt được tổ chức tại Istana và khách sạn Shangri-La, nơi mà Singapore giới thiệu với thế giới làm thế nào mà 10 quốc gia thành viên với nền văn hóa đa dạng và các thể chế khác biệt được lại có thể thống nhất với nhau khi đề cập đến các vấn đề khu vực. Singapore chính thức tiếp nhận vị trí chủ tịch luân phiên của ASEAN từ Philippines vào ngày 14/11/2017 khi Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 31 kết thúc. Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte đã tiếp nhận vị trí này từ Thủ tướng Lào Thongoun Sisoulith vào năm trước đó và sẽ trở lại vị trí chủ nhà của hội nghị cấp cao vào năm 2027.

Ngay sau khi đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã khẳng định rằng ASEAN sẽ vẫn là động lực năng động dưới vai trò chủ tịch của Singapore. Ông Lý Hiển Long tiếp tục nhận thấy rằng tự cường và sáng tạo sẽ là trọng tâm trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Ông gọi ASEAN là “phao cứu sinh” của các quốc gia Đông Nam Á. Trong bài phát biểu tại lễ bế mạc hội nghị cấp cao ngày 14/7/2017 ở Manila, ông Lý Hiển Long nhắc lại quyết tâm của ASEAN nhằm “thúc đẩy và duy trì trật tự khu vực dựa trên luật lệ” để “những thách thức an ninh mới nổi như an ninh mạng, tội phạm xuyên quốc gia và khủng bố” được giải quyết tốt hơn. Một trật tự khu vực ổn định có thể tạo ra môi trường thích hợp cho khu vực phát triển kinh tế và mở rộng thị trường. Do đó nắm bắt cơ hội vào thời điểm này là cấp thiết hơn bao giờ hết.

Dưới vai trò chủ tịch của ông Lý Hiển Long, tại Singapore các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua các văn kiện với ưu tiên thúc đẩy tự cường và sáng tạo trong khối.

Sức mạnh và sự quyết đoán của Trung Quốc đối với các vấn đề khu vực đã tạo ra lo ngại ở nhiều quốc gia trong khu vực. Biển Đông đã nổi lên như một điểm nóng chính. Khu vực biển này được cho là có lượng nguyên liệu quý và tài nguyên thiên nhiên khổng lồ. Nửa tá các quốc gia tuyên bố vùng biển này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của mình. Trong khi Việt Nam, Philippines, Brunei, Đài Loan và Malaysia tuyên bố chủ quyền là vùng biển liền kề với lãnh thổ đất liền của họ, Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông. Để củng cố và hợp thức hóa các tuyên bố của mình, Trung Quốc đã bắt đầu các hoạt động xây dựng đảo và từng bước tăng cường quân sự hóa, đe dọa tới các quốc gia nhỏ hơn trong khu vực có không gian biển liên quan.

Biển Đông có vai trò đặc biệt quan trọng đối với thương mại hàng hải. Giá trị hàng hóa đi qua khu vực này hàng năm đạt tới 5000 tỷ USD. Bất kỳ hành động đơn phương bởi một quyền lực nào bỏ qua và không tôn trọng các quy tắc toàn cầu đều là không thể chấp nhận đối với các quốc gia tuân thủ luật pháp. Các quốc gia thành viên ASEAN đang nỗ lực xây dựng một sự đồng thuận về việc thiết kế một Bộ quy tắc ứng xử (COC) của các bên ở Biển Đông. Lý Hiển Long rất nghiêm túc đối với vấn đề này trong nhiệm kỳ nước ông làm chủ tịch ASEAN.

Tuyên bố của Lý Hiển Long trong phát biểu kết thúc hội nghị thượng đỉnh đã đề cập đến các mối quan ngại được thể hiện bởi một số nhà lãnh đạo về tình hình ở Biển Đông, nơi Trung Quốc đã đơn phương xây dựng các căn cứ quân sự. Thuật ngữ “quan ngại” về tình hình Biển Đông đã được hồi sinh sau khi bị loại bỏ trong tuyên bố của chủ tịch ASEAN vào ngày 31/11/2017. Tuyên bố của ông Lý Hiển Long lần này được đánh giá đã nâng cao mối quan tâm đối với các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và việc xây dựng các căn cứ quân sự của nước này trong khu vực biển. Những hoạt động trên của Trung Quốc đã xói mòn lòng tin và sự tin tưởng, làm gia tăng căng thẳng và có thể làm suy yếu hòa bình. Khi xem xét Trung Quốc, tuyên bố cũng đề cập đến quá trình xây dựng “bộ quy tắc ứng xử” với Bắc Kinh để ngăn chặn các tranh chấp trên Biển Đông.

Trong nhiệm kỳ chủ tịch của Philippines, khung COC đã được hoàn thành, Philippines ủng hộ COC không ràng buộc về pháp lý mà chỉ là “thỏa thuận của các quý ông”. Với vai trò là điều phối viên về đối thoại ASEAN – Trung Quốc, Singapore cho rằng trong tình hình ổn định hơn hiện nay chúng ta không thể coi tiến bộ này là điều hiển nhiên. Để không làm Trung Quốc tức giận, ông Lỹ Hiển Long hy vọng sẽ giữ quan hệ ASEAN và Trung Quốc trên quỹ đạo tích cực hiện nay. Trước đó Philippines đã giành được thắng lợi pháp lý tại Tòa Trọng tài ở La Hay với phán quyết tuyên bố của Trung Quốc đối với chủ quyền tại Biển Đông là không có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên Tổng thống Philippines Duterte đã lựa chọn gạt lợi thế này sang một bên dù trong cuộc gặp song phương với Tổng thống Mỹ Donald Trump, hai nhà lãnh đạo đã chỉ trích việc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông.

Bắc Kinh vẫn không chần chừ và tiếp tục khẳng định các quyền của họ đối với Biển Đông, coi đây là chủ quyền lịch sử. Với việc Tập Cận Bình tiếp tục tại nhiệm kỳ 2 và việc giới hạn nhiệm kỳ được dỡ bỏ, ông có triển vọng lãnh đạo Trung Quốc đến khi nào ông muốn. Điều này càng cổ vũ ông củng cố các tuyên bố của Trung Quốc đối với khu vực này. Thị sát hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), ông Tập Cận Bình lưu ý nhu cầu xây dựng một lực lượng hải quân mạnh mẽ chưa bao giờ cấp thiết hơn hiện nay. Việc thể hiện sức mạnh hải quân ở Biển Đông là nhằm hăm dọa các nước nhỏ hơn có tuyên bố chủ quyền tại khu vực này. Trung Quốc đã xây dựng hải quân lớn nhất kể từ khi thành lập nước năm 1949 đến nay trong nỗ lực xây dựng lực lượng hải quân hạng nhất. Trong lần tập trận gần đây, Trung Quốc đã triển khai hơn 10.000 nhân viên, 48 tàu và 76 máy bay, bao gồm tàu sân bay Liêu Ninh và tàu ngầm, tàu biển và máy bay chiến đấu mới nhất. Hơn một nửa trong số 48 tàu trên được đưa vào hoạt động sau Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2012.

(còn tiếp) 

Nguồn: Eurasia Review – 01/05/2018

TLTKĐB – 06/05/2018