Báo cáo công tác Chính phủ Trung Quốc năm 2019 – Phần IV


Chính sách tiền tệ thận trọng cần phải được nới lỏng và thắt chặt vừa phải. Mức tăng chỉ số M2 và quy mô huy động vốn xã hội phải đồng bộ với mức tăng GDP để đáp ứng tốt hơn yêu cầu duy trì kinh tế vận hành trong phạm vi hợp lý. Trong thực hiện thực tế cần phải nắm chặt van điều tiết cung ứng tiền tệ, không tiến hành cái gọi là “nước nhiều tưới chậm”, nhưng phải vận dụng linh hoạt nhiều công cụ chính sách tiền tệ, khơi thông kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ, duy trì tính thanh khoản hợp lý và dồi dào, làm dịu hiệu quả vấn đề huy động vốn khó và huy động vốn đắt của nền kinh tế thực, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, phòng ngừa và hóa giải rủi ro tài chính. Thúc đẩy cuộc cải cách thị trường hóa về lãi suất, hạ thấp mức lãi suất thực tế. Hoàn thiện cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái, duy trì tỷ giá hối đoái của đồng NDT cơ bản ổn định ở mức cân bằng và hợp lý.

Thúc đẩy toàn diện chính sách ưu tiên tạo việc làm. Việc làm là gốc của dân sinh, ngọn nguồn của cải. Năm nay lần đầu tiên đặt chính sách ưu tiên việc làm lên cấp độ chính sách vĩ mô, nhằm tăng cường định hướng cho các mặt chú trọng tạo việc làm, ủng hộ tạo việc làm. Trước mắt và trong trung hạn, sức ép về tổng lượng việc làm của Trung Quốc sẽ không giảm, mâu thuẫn mang tính kết cấu nổi cộm, sự tác động của các nhân tố mới tiếp tục gia tăng, cần phải đặt công tác tạo việc làm lên vị trí nổi bật hơn. Ổn định tăng trưởng trước hết phải bảo đảm cho tạo việc làm. Việc tạo thêm việc làm mới ở thành thị năm nay phải phấn đấu đạt quy mô thực tế của mấy năm gần đây trên cơ sở thực hiện mục tiêu dự báo, tức vừa phải bảo đảm việc làm cho lao động ở thành thị, cũng phải dành ra không gian việc làm cho lao động dôi dư chuyển dịch từ nông nghiệp. Miễn là việc làm ổn định, thu nhập tăng, chúng ta sẽ càng tự tin hơn.

Cần phải dốc sức thực hiện theo 8 chữ là “củng cố, tăng cường, nâng cấp, thông suốt” trong khi tiếp tục kiên trì lấy cải cách cơ cấu theo hướng trọng cung làm sợi chỉ xuyên suốt. Áp dụng nhiều biện pháp cải cách hơn, vận dụng biện pháp thị trường và pháp trị nhiều hơn, củng cố thành quả “ba loại bỏ, một giảm, một trợ cấp” (giải quyết ổn thỏa tình trạng dư thừa năng lực sản xuất, hỗ trợ doanh nghiệp hạ giá thành, giảm lượng tồn đọng bất động sản, tháo gỡ đòn bẩy tài chính, bù đắp thiếu hụt để nâng cao hiệu quả đầu tư), tăng cường sức sống của các chủ thể vi mô, nâng cấp trình độ của chuỗi ngành nghề, làm thông suốt vòng tuần hoàn kinh tế quốc dân, thúc đẩy kinh tế phát triển chất lượng cao.

Cần phải tiếp tục thực hiện tốt ba “cuộc chiến” lớn, đột phá chính xác, chú trọng hiệu quả thực tế. Muốn phòng ngừa và hóa giải rủi ro quan trọng cần phải tăng cường tư duy về giới hạn đỏ, kiên trì loại bỏ đòn bẩy mang tính kết cấu, đề phòng thị trường tài chính xuất hiện bấp bênh bất thường, xử lý thỏa đáng rủi ro nợ công của chính quyền đại phương, phòng chống rủi ro từ bên ngoài lan truyền vào. Thoát nghèo chính xác cần phải kiên trì tiêu chuẩn hiện hành, tập trung vào khu vực rất nghèo và nhóm người nghèo đặc thù, tăng thêm cường độ giải quyết, nâng cao chất lượng thoát nghèo. Việc phòng chống ô nhiễm cần phải tập trung và các nhiệm vụ trọng điểm như bảo vệ được bầu trời trong xanh, quy hoạch tổng thể, trị cả gốc lẫn ngọn, cải thiện một cách bền vững chất lượng môi trường sinh thái.

Muốn làm tốt công tác chính phủ năm nay cần phải chú trọng nắm bắt tốt các mối quan hệ dưới đây.

Một là, phải tính toán một cách ổn thỏa mối quan hệ giữa trong nước với quốc tế, tập trung tinh thần và sức lực làm tốt công việc của mình. Trung Quốc đã và sẽ tiếp tục ở trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội, vẫn là nước đang phát triển lớn nhất trên thế giới. Phát triển là nền tảng và mấu chốt cho việc giải quyết mọi vấn đề của Trung Quốc, cần phải nắm chắc trọng tâm xây dựng kinh tế, kiên trì tư tưởng chiến lược phát triển là chân lý, đó là phát triển một cách khoa học và phát triển chất lượng cao, không ngừng giải phóng và phát triển sức sản xuất xã hội. Trong bối cảnh tình hình quốc tế phức tạp, khó lường, chúng ta phải duy trì động lực phát triển, thúc đẩy các công việc theo mục tiêu và quy hoạch đã định, tận dụng tốt hai thị trường và hai nguồn lực trong nước, quốc tế, dám đương đầu với thách thức, giỏi chuyển hóa nguy cơ thành cơ hội, nắm chắc quyền chủ động phát triển.

Hai là, phải cân bằng tốt mối quan hệ giữa ổn định tăng trưởng với phòng ngừa rủi ro, bảo đảm kinh tế phát triển lành mạnh và bền vững. Cần phải hóa giải các hiểm họa rủi ro tích tụ lâu nay, nhưng phải tuân thủ quy luật, chú trọng cách thức và phương pháp, từng bước hóa giải trong phát triển theo yêu cầu kiên định, có thể kiểm soát, có trật tự và vừa phải, kiên quyết tránh xảy ra rủi ro mang tính hệ thống và khu vực. Trong tình hình sức ép kinh tế đi xuống hiện nay, việc ban hành các chính sách và biện pháp công tác cần phải có lợi cho ổn định dự báo, ổn định tăng trưởng, điều chỉnh kết cấu, việc phòng ngừa rủi ro cần phải nắm bắt tốt nhịp độ và cường độ, phòng ngừ hiệu ứng thiểu phát chồng chéo và mở rộng, quyết không để vận hành kinh tế đi chệch khỏi phạm vi hợp lý. Bên cạnh đó cũng không được chỉ chú trọng trước mắt, áp dụng chính sách kích thích ngắn hạn gây tổn hại sự phát triển lâu dài, làm nảy sinh các rủi ro và hiểm họa mới.

Ba là, phải xử lý tốt mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường, khơi dậy sức sống thị trường dựa trên cải cách và mở cửa. Chỉ cần chủ thể thị trường có sức sống sẽ có thể tăng cường động lực phát triển nội tại, trụ vững trước sức ép kinh tế đi xuống. Cần ra sức thúc đẩy cải cách và mở cửa, đẩy nhanh xây dựng hệ thống thị trường hiện đại cởi mở, cạnh tranh có trật tự, nới lỏng cho phép thâm nhập thị trường, tăng cường giám sát và quản lý công bằng, tạo dựng môi trường kinh doanh pháp trị hóa, quốc tế hóa, thuận lợi hóa, để các chủ thể thị trường càng thêm năng động. Xét về căn bản, sức sống thị trường và sức sáng tạo xã hội bắt nguồn từ việc phát huy tính tích cực của quần chúng nhân dân. Cần phải kiên trì tư tưởng phát triển lấy nhân dân làm trung tâm, làm theo khả năng, lượng sức mà làm, bảo đảm thiết thực vấn đề dân sinh cơ bản, thúc đẩy giải quyết các vấn đề dân sinh trọng điểm, thúc đẩy công bằng, chính nghĩa xã hội, để nhân dân có cuộc sống tốt hơn. Nhân dân Trung Quốc cần cù và thông minh, có tiềm năng sáng tạo đổi mới vô hạn, miễn là được giải phóng đầy đủ, sự phát triển của Trung Quốc nhất định sẽ có không gian rộng mở hơn.

III/ Nhiệm vụ cônh tác của chính phủ năm 2019

Sự phát triển kinh tế – xã hội năm nay có nhiệm vụ nặng nề, thách thức nhiều và yêu cầu cao. Chúng ta cần nêu bật trọng điểm, nắm vững nhiệm vụ then chốt và làm tốt công tác.

1/ Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện sự điều tiết vĩ mô, đảm bảo kinh tế vận hành trong phạm vi hợp lý. Kiên trì giải quyết các vấn đề nan giải trong phát triển bằng tư duy và biện pháp cải cách thị trường hóa, phát huy tốt vai trò điều tiết ngược chu kỳ của chính sách vĩ mô, làm phong phú và vận dụng linh hoạt các công cụ chính sách tài chính, tiền tệ và tạo việc làm, tăng cường tính đi trước đón đầu, tính đối tượng và tính hiệu quả của công tác điều tiết, tạo điều kiện cho kinh tế vận hành bình ổn.

Thực hiện cắt giảm thuế quy mô lớn hơn. Áp dụng song song biện pháp giảm thuế mang lại ưu đãi cho toàn xã hội và mang tính kết cấu, trọng điểm là giảm gánh nặng thuế cho ngành sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Đi sâu cải cách thuế giá trị gia tăng, sẽ giảm thuế của ngành sản xuất từ 16% hiện nay xuống 13%, giảm thuế của ngành giao thông – vận tải, xây dựng… từ 10% hiện nay xuống 9%, bảo đảm giảm đáng kể gánh nặng thuế của các ngành nghề trọng yếu; duy trì không thay đổi mức thuế suất bậc 1 là 6%, song thông qua áp dụng các biện pháp đồng bộ như tăng khấu trừ thuế cho các ngành sản xuất dịch vụ đời sống để đảm bảo mức thuế của tất cả các ngành chỉ giảm chứ không tăng, tiếp tục hướng tới thúc đẩy hợp nhất ba bậc thuế thành hai bậc, đơn giản hóa cơ chế thuế. Làm tốt việc thực hiện các chính sách giảm thuế mang tính ưu đãi phổ quát dành cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đã ban hành đầu năm nay. Việc giảm thuế lần này là biện pháp quan trọng để giảm gánh nặng cho doanh nghiệp, khơi dậy sức sống thị trường, theo đó tập trung “dẫn nước nuôi cá”, tăng cường nội lực phát triển và cân nhắc tới tài chính bền vững, là cuộc cải cách quan trọng nhằm hoàn thiện chế độ thuế, tối ưu hóa bố cục phân phối thu nhập, đồng thời cũng là lựa chọn quan trọng của chính sách vĩ mô nhằm hỗ trợ tăng trưởng ổn định, bảo đảm việc làm và điều chỉnh cơ cấu.

(còn tiếp)

Nguồn: Mạng Tân Hoa (TQ) – 05/03/2019

TLTKĐB – 07, 08 & 09/03/2019

Advertisements

Hiểu hơn về các cuộc biểu tình ở Hong Kong – Phần cuối


Kevin Lin: Các cường quốc nước ngoài thường bị cáo buộc xúi giục các phong trào xã hội ở Hong Kong, dù đó là “Phong trào Ô dù” hay các cuộc biểu tình hiện nay. Ông có suy nghĩ như thế nào về điều này?

Au Loong Yu: Theo tuyên bố của Chính quyền Bắc Kinh và Hong Kong, các cuộc biểu tình được Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ Mỹ (NED) tài trợ. Quả thực là hầu hết cac đảng ủng hộ dân chủ đã nhận được sự tài trợ của NED, nhưng cũng không thể phủ nhận rằng các cuộc biểu tình và đụng độ lớn vào ngày 9 và 12/6 vừa qua không phải do các đảng này kích động. Mặt trận nhân quyền dân sự Hong Kong là một liên minh gồm hơn 50 tổ chức, trong đó phần lớn là các hiệp hội dân sự và các nghiệp đoàn, các đảng ủng hộ dân chủ chỉ chiếm thiểu số.

Kevin Lin: Nhiều người so sánh các cuộc biểu tình hiện nay với “Phong trào Ô dù”, trong đó hàng chục nghìn người đã xuống đường biểu tình để phản đối việc Chính phủ Trung Quốc từ chối phương thức bầu cử phổ thông đầu phiếu đối với vị trí lãnh đạo cao cấp của Hong Kong. 5 năm sau, ông có đánh giá như thế nào về “Phong trào Ô dù”?

Au Loong Yu: “Thế hệ Ô dù” đại diện cho một sự đoạn tuyệt với thế hệ cũ về khía cạnh bản sắc văn hóa: Giờ đây, họ thừa nhận mình là người Hong Kong, chứ không phải người Trung Quốc. Điều này ẩn chứa tình cảm với Hong Kong vốn thiếu hụt ở thế hệ trước đây. “Thế hệ Ô dù trở nên đặc biệt bởi họ đã bị chính trị hóa khi Chính phủ Trung Quốc từ chối yêu cầu của họ đòi quyền bầu cử phổ thông đầu phiếu. Năm nay, dự luật dẫn độ lại chính trị hóa một thế hệ trẻ hơn. Tôi còn nhớ, vào ngày cuối cùng của Phong trào Ô dù, những người biểu tình đã treo một biểu ngữ lớn với nội dung: “Chúng tôi sẽ trở lại”, và điều này đã trở thành sự thật.

Kevin Lin: Kể từ “Phong trào Ô dù”, ở Hong Kong đã xuất hiện một thế hệ các nhà  hoạt động và lãnh đạo trẻ. Họ là ai?

Au Loong Yu: Các đảng ủng hộ dân chủ đã mất uy tín vì thái độ rụt rè của họ trong “Phong trào Ô dù”. Khoảng trống chính trị nhanh chóng được lấp đầy bởi 2 lực lượng mới, đó là những người ủng hộ quyền tự quyết và những người ủng hộ độc lập. Những lực lượng này chủ yếu gồm những người trẻ tuổi.

Cuộc bầu cử Hội đồng Lập pháp Hong Kong năm 2016 đã chứng kiến sự thắng cử của 5 nhân vật chính trị mới thuộc 2 lực lượng nói trên. Điều này cho thấy nhiều cử tri, đặc biệt là thế hệ mới, không còn chấp nhận chính sách quá ôn hòa của những người ủng hộ dân chủ trong mối quan hệ với Bắc Kinh.

Kevin Lin: Các nhà hoạt động xã hội ở Hong Kong đã trợ giúp đắc lực các nhà hoạt động xã hội ở Trung Quốc đại lục trong những thập kỷ gần đây, một phần vì họ cho rằng tương lai nền dân chủ ở Hong Kong sẽ phụ thuộc vào sự phát triển dân chủ ở Trung Quốc đại lục. Ông có thể nói rõ hơn về sự trợ giúp này, và liệu sự phát triển chính trị ở Hong Kong có ảnh hưởng tiêu cực tới sự trợ giúp này hay không?

Lam Chi Leung: Từ những năm 1990, các nhà hoạt động xã hội ở Hong Kong đã luôn đứng về phía những người lao động, ủng hộ nhân quyền, quyền phụ nữ, quyền của những người đồng tính, và đã góp phần vào sự phát triển của các phong trào xã hội và xã hội dân sự Trung Quốc.

Quyền tự do dân sự ở Hong Kong đã cho phép công dân đăng tải các thông tin và những phân tích về các phong trào xã hội ở Trung Quốc, thúc đẩy các hoạt động giao lưu trí tuệ giữa các nhà hoạt động ở Hong Kong và Trung Quốc đại lục. Nhiều cuốn sách trước đây chỉ có thể được xuất bản ở Hong Kong nay đã được phát hành tại Trung Quốc đại lục, bao gồm các bài viết của các tác giả Trung Quốc.

Nhưng với sự kiểm soát chính trị ngày càng tăng của Chính phủ Trung Quốc đối với Hong Kong, các hoạt động giao lưu này có thể bị thu hẹp. Khi những mâu thuẫn xã hội của Trung Quốc gia tăng, Chính phủ sẽ cảnh giác hơn nữa về ảnh hưởng của Hong Kong đối với các phong trào xã hội ở Trung Quốc.

Kevin Lin: Ông nghĩ thế nào về việc Trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong Lâm Trịnh Nguyệt Nga quyết định hoãn thảo luận về dự luật dẫn độ? Trong chừng mực nào thì đó được coi là một chiến thắng?

Au Loong Yu: Bà Lâm chỉ tạm hoãn, chứ không hủy bỏ dự luật theo như yêu cầu của những người biểu tình. Đó không phải là một chiến thắng hoàn toàn, mà chỉ là chiến thắng một phần. Việc tãm hoãn dự luật dẫn độ là một thất bại lớn đối với bà Lâm. Điều này cũng mang lại cho phe đối lập nhiều thời gian hơn để củng cố phong trào.

Dự kiến việc tạm hoãn dự luật này sẽ kéo dài. Năm nay và năm sau đều diễn ra các cuộc bầu cử, do vậy trong khoảng thời gian này Lâm Trịnh Nguyệt Nga sẽ không cho phép các đảng thân Bắc Kinh đề xuất lại dự luật dẫn độ để chuốc lấy nguy cơ thua cuộc trong bầu cử. Và năm thứ ba cũng không phải là năm lý tưởng đề xuất lại dự luật dẫn độ bởi đó là năm cuối cùng trong nhiệm kỳ của bà. Việc đề xuất lại này, nếu có, có lẽ là nhiệm vụ của trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong nhiệm kỳ tiếp theo.

Kevin Lin: Tương lai của Hong Kong và của các phong trào đấu tranh vì dân chủ và công bằng kinh tế sẽ như thế nào?

Au Loong Yu: Ở Hong Kong, một thế hệ mới đang hình thành. Việc huy động lực lượng biểu tình chống dự luật dẫn độ sang Trung Quốc chủ yếu là kết quả nỗ lực của họ. Nếu thế hệ này không phát triển được chính sách của họ theo đường lối dân chủ cánh tả và khắc phục được sự chia rẽ, thì họ khó có thể trở thành một lực lượng tiến bộ mạnh mẽ. Tuy nhiên, quỹ đạo lịch sử đã khiến Hong Kong trở thành một thành phố thù địch với các giá trị đoàn kết, bác ái và bình đẳng của cánh tả, khiến cho các lực lượng cánh tả khó có thể phát triển ở Hong Kong.

Lam Chi Leung: Bối cảnh chính trị ở Hong Kong dường như sẽ ngày càng trở nên khó khăn hơn. Thời kỳ tương đối tự do 1997 đến 2008 đã kết thúc. Chính quyền Hong Kong sẽ xử lý nghiêm khắc hơn đối với các phong trào dân chủ và xã hội.

Chính quyền Hong Kong sẽ đứng về phía giai cấp tư bản và lực lượng bảo thủ, vốn luôn phải đối các quyền của người lao động, quyền của phụ nữ, quyền của người đồng tính, và phản đối việc phân phối của cải một cách công bằng. Người dân Hong Kong phải chịu sự áp bức kép của tư bản quan liêu Trung Quốc và tư bản độc quyền Hong Kong. Bất cứ cải cách xã hội và kinh tế nào cũng đều phải đối mặt với thực tế của chủ nghĩa tư bản độc đoán này.

Chúng ta cũng cần tăng cường trao đổi với các phong trào xã hội và các nhà hoạt động cánh tả ở Trung Quốc đại lục. Chỉ bằng cách hợp tác nhiều hơn với xã hội dân sự và các phong trào xã hội Trung Quốc vốn phản đối chủ nghĩa tư bản độc tài của Trung Quốc, người dân Hong Kong mới có thể đảm bảo công bằng xã hội và một nền dân chủ thực sự.

Nguồn: www.alencontre.org – 20/06/2019

TLTKĐB – 28/06/2019

Tháng bọ cạp, năm rắn đỏ – Phần II


2/ Tử số và mẫu số

Chúng ta hãy đánh giá Cách mạng Tháng Mười theo cách phân nhỏ ra: kết quả thu được và cái giá của nó. CNXH nhà nước ở Nga đã đạt được điều gì? Trước hết là nó đã giữ được tính toàn vẹn của Nhà nước Nga. Đó là một thành tích rất to lớn vì tất cả các đế chế lớn trong thế kỷ XX đều đã sụp đổ.

Thành tích thứ hai gắn liền với cái thứ nhất. Đã bảo vệ được đất nước nhờ đã đưa ra được một giải pháp mới về vấn đề dân tộc cho loài người. Đã tách ra được không phải là một, mà cả một nhóm các dân tộc đi đầu.

Thành tích thứ ba của CNXH nhà nước là trong nước đã tạo ra được một tiềm lực công nghiệp độc lập về mặt quốc phòng.

Nhưng cũng đã phải trả giá cho tất cả những thành quả đó. Cái giá thứ nhất và cũng là quan trọng nhất – đó là số sinh mạng con người lớn khủng khiếp. Hàng chục triệu người đã chết. Trong nội chiến. Trong công cuộc tập thể hóa. Trong đàn áp thanh trừng. Chết vì việc chế tạo tên lửa và bom nguyên tử. Và đơn giản là chết để “làm trong sạch” nhân dân và chuẩn bị cho nó đi tới một tương lai tươi sáng. Các nhân vật trong cuốn “Lũ quỷ” của Dostoevsky: “…cho dù người có chữa trị thế giới này thế nào đi nữa cũng không chữa được, rồi sau khi đã chặt phăng hàng trăm triệu cái đầu để trấn an bản thân trước khi nhảy qua một con mương nhỏ… có gì mà phải sợ nếu như với những ước mơ hão huyền chậm chạp, chế độ chuyên chế trong trăm năm xơi không phải một trăm, năm trăm triệu cái thủ cấp?

Cái giá đắt thứ hai là đã xóa bỏ tầng lớp ưu tú của xã hội – cả của người Nga lẫn của các dân tộc khác. Đồng thời cũng đã phá tan tành các nền văn hóa dân tộc mà trước hết là văn hóa Nga. Kết quả là các phong tục tập quán đạo lý, tư tưởng trật tự pháp luật, tinh thần ý thức của người làm chủ và sở hữu đều tiêu tán.

Cái giá thứ ba là sự mất mát cực kỳ to lớn các nguồn lực không chỉ con người mà là cả tài nguyên thiên nhiên. Người ta đã phung phí không hề xóa xa từ dầu mỏ, rừng cho đến đất đai phì nhiêu.

Cái giá thứ tư là đã phá hủy nghiêm trọng thế cân bằng sinh thái trong nước, gây ra những thảm họa sinh thái.

Kết quả của những phương án phát triển theo con đường CNXH đã chọn là hệ thống đàn áp các quyền tự do công dân trong chính trị và phân phối cào bằng trong kinh tế. Và cái giá thứ năm là tính ỳ củ đại bộ phận người dân.

Đã có mấy thế hệ những kẻ ăn bám sinh ra và lớn lên.

Tiềm lực công nghiệp – quân sự đã độc quyền nền kinh tế, làm méo mó cả cấu trúc của nó, khiến cho các ngành sản xuất phục vụ tiêu dùng chỉ còn có cái xác ngoài. Còn ở nông thôn, nơi trở thành khu vực chu cấp tiền của cho công cuộc công nghiệp hóa, thì lâm vào cơn khủng hoảng triền miên và không cách gì nuôi nổi đất nước nếu không nhập khẩu lương thực “của CNTB”.

Nhưng có lẽ nguy hại nhất là lĩnh vực tiến bộ KHKT. Về thực chất, tất cả các thành tựu KHKT của chúng ta đều là những thứ vay mượn của những nước mà chúng ta vẫn gọi là “thối nát”.

Sự tụt hậu về KHKT có nghĩa là: cả tư tưởng CNXH với tính cách là một chế độ tiến bộ hơn, lẫn tư tưởng bảo vệ nước Nga với tính cách là một nước lớn – đều đang trong tình trạng hết sức nguy ngập. Vấn đề không chỉ là ở những khoản chi phí quá sức cho cuộc thực nghiệm. Vấn đề là ở chỗ nó đã không đạt được mục đích của mình. Chế độ Xô viết, xét cho cùng, đã không giải quyết được một cuộc khủng hoảng nào sinh ra nó. Đó là kết quả mà Cách mạng Tháng Mười đưa lại cho nước Nga. Còn đối với thế giới thì sao?

Có một chuyện tiếu lâm nổi tiếng về mục đích của việc chúng ta sống ở Liên Xô: chúng ta sống ở đó là để phương Tây dễ dàng hơn và có sức thuyết phục hơn trong việc hù dọa công dân các nước bên ấy – trông đấy, chớ dại mà làm như nước Nga.

Nhưng phản ứng đầu tiêncủa phương Tây trước cuộc thực nghiệm XHCN ở nước Nga… cũng lại là một thứ CNXH, có điều không phải là CNXH quốc tế, mà là CNXH dân tộc, cái mâu thuẫn với chủ nghĩa phát xít.

Nếu những người Bolsevich vẫn thường nói rằng CNXH là cái cần cho toàn thể loài người, thì CNXH dân tộc xác nhận rằng cNXH đó là cái chỉ dành riêng cho các dân tộc, chính xác hơn là chủng tộc được tuyển chọn. Còn như ý tưởng về một xã hội được tổ chức theo kiểu tổng tài thì đó là ý tưởng chủ yếu trong cả hai cuộc thực nghiệm.

CNXH dân tộc động viên được nhanh hơn, đạt được thành quả nhanh hơn – cả trong nước lẫn khi bành trướng ra ngoài. Và trong CNXH dân tộc cũng có nhiều mâu thuẫn hơn cũng như nhiều mặt yếu kém hơn. Vì thế nó cũng bị loại khỏi vũ đài lịch sử trước tiên: CNXH Xô viết, rốt cuộc cũng đá phá sản hoàn toàn.

Vậy ai thắgn? Chế độ mới – chế độ hậu công nghiệp. Ra đời cũng với “đường lối mới cả Roosevelt ở Mỹ. Được làm phong phú hơn bằng những biện pháp của Kế hoạch Marshall. Bằng các cải cách dân chủ – xã hội.

Trong kinh tế – chế độ đa nguyên các hình thức sở hữu: 1/4 của nhà nước và cộng đồng, 1/2 – tập thể cổ đông, hợp và 1/4 – sở hữu tư nhân cổ điển. Trong chính trị – các khoản bảo trợ. Đã có lúc trong phút lóe sáng thiên tài, Charles Phurie đã láng máng biết đến chế độ này và đặt tên cho nó là chế độ bảo trợ xã hội.

Thực tế của Liên Xô đã buộ côcng dân các nước phương Tây phải coi trọng tự do và dân chủ. Cũng giống như biết quý nước ăn khi nước mỗi ngày một trở nên khan hiếm hơn.

Các nước phương Tây đã buộc phải – do có sự tác động của Liên Xô – có những cách tân. Tổ hợp các biện pháp xã hội, thực hiện các nguyên tắc chăm sóc sức khỏe và giáo dục không mất tiền.

Sự tác động của CNXH Xô viết tới vai trò của nhà nước, tới lĩnh vực hoạt động và các phương pháp hoạt động của nó cũng rõ nét không kém. Sau nhiều năm nhạo báng các kế hoạch 5 năm của Liên Xô, hết nước này đến nước khác ở phương Tây lần lượt lập ra các ủy ban về kế hoạch hóa.

CNXH đã tô đậm thêm, cho mọi nhược điểm và chỗ tồi tệ CNTB, làm cho chúng càng trở nên gay gắt hơn và vì vậy đã đặt ra một lưỡng đề khắc nghiệt: hoặc là phải đầu hàng CNXH, hoặc là phải tìm cho ra giải pháp cho các vấn đề ấy, những giải pháp vẫn giữ được mặt tích cực của CNXH khi đã phủ định chính thực chất của XHCN nhà nước.

CNXH Xô viết đã có đóng góp rất quan trọng vào việc tổng kết và vượt qua CNTB bằng phương án CNXH dân tộc.

Liên Xô đã là một trong những nhân tố góp phần đẩy nhanh bước quá độ CNTB tiến lên xã hội hậu công nghiệp. Bằng sự tác động trực tiếp và gián tiếp. Tích cực và tiêu cực. Bằng cách làm cho sự cần thiết phải có những giải pháp cấp thời trở nên gay gắt hơn. Bằng cách làm cho các đối án XHCN trở nên mất uy tín trước chủ nghĩa hậu công nghiệp.

Có thể lưu ý ba thành quả chủ yếu của Cách mạng Tháng Mười. Một là, nó đã giúp loài người phủ nhận phương án vượt qua CNTB bằng CNXH dân tộc. Hai là, trên con đường của Cách mạng Tháng Mười đã thử nghiệm và xác nhận thất bại của CNXH nhà nước. Ba là đã góp phần đẩy nhanh bước quá độ của các chế độ không phải cộng sản sang chế độ hậu công nghiệp và ghìm chậm lại nhiều thập niên bước quá độ đó của các nước XHCN.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TĐB 97 – 21

Cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc – Phần III


Đoạn mở đầu lá thư mà nhà du hành người Ba Tư “Rica” gửi cho người bạn “Ibben” của ông từ Paris năm “1712” sẽ cung cấp cho chúng ta một sự tương phản đáng chú ý.

Giáo hoàng là nhà lãnh đạo tối cao của tín đồ Thiên chúa; ngài là thần tượng từ thời cổ đại mà ngày nay người ta vẫn quen tôn thờ. Ngài từng là nỗi sợ hãi với ngay cả các thái tử, bởi ngài thường phế truất họ dễ dàng, giống như các Quốc vương Hồi giáo (sultan) vĩ đại của chúng ta từng phế truất vua của Iremetia hoặc Georgia. Nhưng giờ đây không ai còn sợ ngài nữa. Ngài xưng ngài là người nối nghiệp một rtong những tín đồ Thiên chúa đầu tiên, thánh Peter, và đó dĩ nhiên là sự kế thừa giàu có, bởi người được sở hữu của cải vô tận và cai quản một đất nước vĩ đại.

Những bịa tạo có chủ ý và phức tạp của tín đồ Công giáo thế kỷ XVIII này [Montesquieu – ND] phản ánh chủ nghĩa hiện thực chất phác của vị tiền bối thế kỷ XIII của ông, nhưng giờ đây quá trình “tương đối hóa” và “lãnh thổ hóa” lại hoàn toàn tự giác và có chủ đích chính trị. Khi Ayatollah Ruhollah Khomeini đồng nhất Đại Sa tăng không phải với một dị giáo, cũng không phải với một nhân vật bị quỷ ám (Carter mờ nhạt nhỏ bé không phù hợp với vai diễn này), mà là với một dân tộc, liệu ta có thể coi đây là một phát triển nghịch lý truyền thống đang diễn tiến này?

Thứ hai là sự suy tàn dần của bản thân các ngôn ngữ thiêng. Viết về Tây Âu thời Trung cổ, Bloch nhận thấy “tiếng Latin không chỉ là ngôn ngữ để dạy học, nó còn là ngôn ngữ duy nhất được truyền dạy”. (Chữ “duy nhất” cho thấy rõ tính thiêng liêng của tiếng Latin – không một ngôn ngữ nào khác được coi là đáng truyền dạy). Nhưng vào thế kỷ XVI tất cả điều này đã thay đổi một cách nhanh chóng. Ở đây chúng ta chưa cần phải giải thích chi tiết lý do dẫn tới sự thay đổi này: vai trò trung tâm của chủ nghĩa tư bản in ấn sẽ được thảo luận dưới đây. Chúng ta chỉ cần nhớ đến quy mô và tốc độ của nó. Theo ước tính của Febvre và Martin, 77% số sách được in ra trước năm 1500 vẫn bằng tiếng Latin (nghĩa là chỉ 23% được in bằng phương ngữ). Nếu như trong 88 đầu sách xuất bản ở Paris năm 1501 có tới 80 cuốn in bằng tiếng Latin, thì sau 1575 phần lớn sách được in bằng tiếng Pháp. Tuy có sự khôi phục tạm thời trong thời kỳ Chống Cải cách, song vị thế bá chủ của tiếng Latin đã mất. Chúng ta cũng không chỉ nói đến một sự phổ biến chung chung. Có phần muộn hơn, nhưng với tốc độ không kém chóng mặt, tiếng Latin đã đánh mất vị thế ngôn ngữ của tầng lớp trí thức thượng lưu trên toàn châu Âu. Trong thế kỷ XVII Hobbes (1588 – 1678) là một nhân vật danh tiếng của châu Âu đại lục bởi ông đã viết bằng thứ ngôn ngữ chân lý này. Còn Shakespeare (1564 – 1616), sáng tác bằng phương ngữ, lại hầu như không được biết đến ở bên kia eo biển Anh. Hai trăm năm sau, nếu tiếng Anh không trở thành một ngôn ngữ đế chế vượt trội của thế giới thì có lẽ ông vẫn vô danh trên hòn đảo quê hương mình. Trong khi Descartes (1596 – 1650) và Pascal (1623 – 1662), hai người ở bên kia eo biển Anh gần nhưc ùng thời với những nhân vật này, đã thư từ chủ yếu bằng tiếng Latin thì hầu như toàn bộ thư từ của Voltaire (1694 – 1778) lại viết bằng phương ngữ. “Sau năm 1640, khi sách in bằng tiếng Latin ngày càng ít đi, sách in bằng phương ngữ ngày một nhiều hơn, thì xuất bản không còn là một ngành kinh doanh mang tính quốc tế [nguyên văn] nữa”. Tóm lại, sự suy tàn của tiếng Latin tiêu biểu cho một tiến trình lớn hơn, trong đó các cộng đồng thiêng được gắn kết bằng những ngôn ngữ cổ linh thiêng dần dần bị phân mảnh, đa nguyên hóa và lãnh thổ hóa.

Ta cũng cần nhớ rằng những nhà nước quân chủ cổ xưa này đã mở rộng không chỉ bằng chiến tranh mà còn bằng chính trị tình dục – một kiểu chính trị khác hẳn với ngày nay. Nhờ nguyên lý thẳng đứng phổ biến này, những cuộc hôn nhân của vương quyền đã gắn kết các cư dân phồn tạp dưới những đỉnh chóp mới. Ở khía cạnh này Nhà Habsburg là một trường hợp điển hình, đúng như một phát ngôn về nó, Hãy để kẻ khác gây chiến, còn ngươi, nước Áo hạnh phúc, hãy cưới nhau đi! (Bella gerant alii, tu felix Austria, nube). Trong một hình thức có phần vắn tắt, đây chính là tước vị của những ông vua Nhà Habsburg sau này.

Hoàng đế Áo; Vua Hungary, Bohemia, Dalmatia, Croatia, Slavonia, Galicia, Lodomeria và Illyria; Vua Jerusalem… Thái tử Áo [nguyên văn]; Đại công tước Tuscany và Cracow; công tước Lotharingia, Slazburg, Styria, Carinthia, Carniola và Bukovina; Đại công tước Transylvania, Bá tước Moravia, công tước vùng Thượng và Hạ Silesia, công tước Modena, Parma, Placenza và Guastella, Auschwitz và Sator, Teschen, Friaull, Raguas và Zara; bá tước Harburg và Tyrol, Hyburg, Gӧrz và Gradiska; công tước Trient và Brizen; bá tước vùng Thượng và Hạ Lausitz, bá tước Istria; bá tước Hohenembs, Feldkirch, Bregenz, Sonnenberg…; huân tước Trieste, huân tước Cattaro và Windisch Mark; đại thống lĩnh của Voyvodina, Servia…

Như Jászi đã chỉ ra một cách chính xác, các tước vị “không phải không có một khía cạnh khôi hài nào đó… chúng là chứng tích của vô số những cuộc hôn nhân, những vụ mặc cả và tước đoạt của Nhà Habsburg”.

Trong những vương quốc chấp nhận về mặt tôn giáo tình trạng đa thê, các hệ thống thê thiếp thứ bậc và phức tạp có vai trò rất quan trọng đối với sự thống nhất của vương quốc. Trên thực tế, phải chăng uy thế của huyết thống hoàng tộc, ngoài nguồn gốc thần thánh, còn thường bắt nguồn từ hôn nhân dị tộc (miscegenation)? Bởi lẽ những cuộc hôn phối này là dấu hiệu cho thấy địa vị chí tôn. Việc không có một vương triều “Anh” nào thống trị ở London thế kỷ XI (giả sử trước đó từng có) chính là một ví dụ tiêu biểu cho điều này; vậy thì đâu là “dân tộc” (nationality) mà chúng ta quy cho Nhà Bourbons?

Tuy nhiên trong thế kỷ XVII – vì những lý do mà chúng ta không cần nêu ra ở đây – tính hợp thức mặc nhiên của chế độ quân chủ linh thiêng bắt đầu suy tàn dần ở Tây Âu. Năm 1649, Charles Stuart bị chém đầu trong cuộc cách mạng đầu tiên của thế giới hiện đại; trong những năm 1650, một trong những nhà nước châu Âu quan trọng được cai trị bởi một vị quan Bảo hộ xuất thân bình dân, không phải bởi một ông vua. Song ngay trong thời đại của Pope và Addison, Anne Stuart vẫn chữa bệnh bằng cách đặt tay hoàng tộc lên bệnh nhân; cách chữa này cũng được Louis XV và Louis XVI của Nhà Bourbon tiến hành ở nước Pháp Khai sáng cho đến cuối thời quân chủ (ancien régime). Nhưng sau năm 1789, nguyên lý Hợp thức cần phải được bảo vệ một cách nhiệt thành và tự giác, và trong quá trình này, “chế độ quân chủ” trở thành một mô hình bán chuẩn. Thiên hoàng và Thiên tử trở thành những “hoàng đế”. Ở nước Xiêm xa xôi, Rama V (Chulalongkorn) đã gửi con cháu của mình sang triều đình St. Petersburg, London và Berlin nhằm học hỏi cơ chế phức tạp của mô hình thế giới này. Năm 1887, ngài thiết lập nguyên tắc con trai trưởng thừa kế về mặt pháp lý, nhờ đó đưa nước Xiêm “ngang hàng với các nền quân chủ “văn minh” của châu Âu”. Năm 1910 hệ thống mới này đã đem đến cho ngai vàng một ông vua đồng tính dị thường, người chắc chắn sẽ bị gạt đi trong thời đại trước đó. Tuy nhiên các nước quân chủ vẫn chấp nhận ông lên ngôi trở thành vua Rama VI, thể hiện qua sự tham dự của các thái tử Anh, Nga, Hy Lạp, Thụy Điển, Đan Mạch, thậm chí cả Nhật Bản vào lễ tấn phong của ông.

Đến tận năm 1914, các nhà nước vương triều vẫn chiếm phần đa trong hệ thống chính trị thế giới, nhưng như chúng tôi sẽ chỉ ra cụ thể dưới đây, ở một số thời điểm nhiều vị vua đã có được dấu ấn “dân tộc” ngay khi nguyên lý Hợp thức cũ đang âm thần suy tàn. Trong khi quân đội của Frederick Đại đế (trị vì từ 1740 đến 1786) vẫn còn tràn ngập những “người ngoại quốc” thì quân đội người cháu vĩ đại của ông, Frederick Wilhelm III (trị vì từ 1797 đến 1840), nhờ những cải cách ngoạn mục của Scharnhorst, Gnei-senau và Clausewitz, lại chỉ toàn “quốc dân Phổ”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng – LHNB 2019.

Báo cáo công tác Chính phủ Trung Quốc năm 2019 – Phần III


Nghiêm chỉnh quán triệt sự bố trí chiến lược quản lý của Đảng nghiêm minh toàn diện của Trung ương Đảng, tăng cường xây dựng tác phong Đảng và là trong sạch bộ máy chính trị. Thúc đẩy việc bình thường hóa và cơ chế hóa việc học tập và giáo dục “Hai học, một làm”. Nghiêm khắc thực hiện 8 quy định của Trung ương cũng như tinh thần hướng dẫn thực thi, kiên định uốn nắn “”4 tác phong”. Điều tra xử lý nghiêm hành vi phạm pháp, phạm tội các loại, trừng trị các phần tử tham nhũng, cuộc đấu tranh chống tham nhũng giành được thắng lợi mang tính áp đảo.

Trong một năm qua, nền ngoại giao nước lớn đặc sắc Trung Quốc đã đạt được những thành tựu mới. Trung Quốc đã tổ chức thành công các hoạt động ngoại giao quan trọng của nước chủ nhà như Hội nghị thường niên Diễn đàn châu Á Bác Ngao, Hội nghị Thượng đỉnh Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) tại Thanh Đảo, Hội nghị Cấp cao Diễn đàn Hợp tác Trung Quốc – châu Phi ở Bắc Kinh… Chủ tịch Tập Cận Bình và các nhà lãnh đạo quốc gia đã đi thăm nhiều nước, tham dự các hoạt động quan trọng như Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị cấp cao Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20), Hội nghị thượng đỉnh Nhóm BRICS, Hội nghị cấp cao Á – Âu, Hội nghị cấp cao Đông Á và các hội nghị liên quan. Quan hệ với các nước lớn chủ yếu nhìn chung ổn định, quan hệ với các nước láng giềng phát triển toàn diện, hợp tác với các nước đang phát triển ngày càng được củng cố. Thúc đẩy xây dựng quan hệ quốc tế kiểu mới, thúc đẩy xây dựng cộng đồng chung vận mệnh của nhân loại. Kiên định bảo vệ chủ quyền, an ninh và lợi ích phát triển quốc gia. Ngoại giao kinh tế, giao lưu nhân dân thu được thành quả phong phú. Trung Quốc dốc sức thúc đẩy hòa bình và phát triển của thế giới, đã có đóng góp quan trọng được thế giới ghi nhận.

Thưa các quý vị đại biểu!

Những thành tích giành được trong một năm qua là kết quả của sự lãnh đạo kiên cường của Trung ương Đảng với đồng chí Tập Cận Bình làm hạt nhân, là kết quả từ sự dẫn dắt khoa học của Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới, là kết quả đoàn kết, phấn đấu của toàn Đảng, toàn quân và nhân dân các dân tộc trong cả nước. Tôi xin thay mặt Quốc vụ viện, xin gửi tới nhân dân các dân tộc trong cả nước, các đảng phái dân chủ, các đoàn thể nhân dân và nhân sĩ các giới lời cảm ơn chân thành! Xin gửi tới đồng bào Đặc khu Hành chính Hong Kong, Macau, đồng bào Đài Loan và kiều bào ở nước ngoài lời cám ơn chân thành. Xin gửi tới chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và bạn bè các nước quan tâm và ủng hộ công cuộc xây dựng hiện đại hóa của Trung Quốc lời cảm ơn chân thành.

“Phòng xa mới có thể an cư”. Trong khi khẳng định đầy đủ những thành tích, cũng cần phải tỉnh táo nhận thấy những vấn đề và thách thức đặt ra cho sự phát triển của nước ta. Mức tăng trưởng kinh tế thế giới chậm lại, chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa đơn phương gia tăng, giá cả của các mặt hàng chủ lực quốc tế có nhiều bấp bênh, các nhân tố không ổn định, không xác định gia tăng rõ rệt, rủi ro truyền từ bên ngoài vào ngày càng gia tăng. Sức ép kinh tế đi xuống trong nước giă tăng, mức tăng tiêu dùng chậm lại, hiệu quả tăng trưởng từ đầu tư đã yếu. Kinh tế thực gặp khá nhiều khó khăn, vấn đề huy động vốn khó và đắt của các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ vẫn chưa giảm, môi trường kinh doanh vẫn còn khoảng cách so với mong đợi của các chủ thể thị trường. Năng lực sáng tạo tự chủ không mạnh, mảng yếu về công nghệ then chốt nổi cộm. Mâu thuẫn về thu chi tài chính của một số địa phương khá lớn. Vẫn còn không ít hiểm họa rủi ro trong các lĩnh vực như tài chính. Cuộc chiến thoát nghèo của các khu vực nghèo khó gặp khá nhiều khó khăn. Nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái và phòng chống ô nhiễm vẫn rất nặng nề. Quần chúng còn nhiều chỗ không hài lòng trong các mặt giáo dục, y tế, dưỡng lão, nhà ở, an toàn vệ sinh thực phẩm và dược phẩm, phân phối thu nhập… Năm ngoái, còn xảy ra nhiều vụ việc an toàn công cộng và sự cố an toàn lao động nghiêm trọng, cần rút ra nhiều bài học cực kỳ sâu sắc. Công tác của chính phủ còn khiếm khuyết, một số biện pháp cải cách, phát triển không được thực hiện đến nơi đến chốn, chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa quan liêu vẫn nổi cộm, công tác giám sát, đôn đốc và sát hạch quá nhiều, tần suất quá cao, coi trọng khiếm khuyết, coi nhẹ thành tích, đã tăng thêm gánh nặng cho cơ sở. Không ít cán bộ biếng nhác, lơ là công việc. Vấn đề tham nhũng trong một số lĩnh vực vẫn thường xuyên xảy ra. Chúng ta nhất định cần phải nhìn thẳng vào vấn đề và thách thức, dám gánh vác, tuân thủ nghiêm khắc, dốc hết sức mình làm tốt công tác, quyết không phụ lòng mong đợi của nhân dân.

II/ Yêu cầu chung và định hướng chính sách trong phát triển kinh tế – xã hội năm 2019

Năm nay là năm kỷ niệm 70 năm nước Trung Quốc ới thành lập, là năm bản lề hoàn thành xây dựng xã hội khá giả toàn diện, thực hiện mục tiêu phấn đấu “100 năm” thứ nhất. Muốn làm tốt các công tác của chính phủ thì cần phải đặt dưới sự lãnh địao kiên cường của Trung ương Đảng do đồng chí Tập Cận Bình làm hạt nhân, lấy Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới làm chỉ đạo, quán triệt toàn diện tinh thần Đại hội XIX của Đảng, tinh thần Hội nghị Trung ương 2, Trung ương 3 khóa XIX, tính toán tổng thể thúc đẩy bố cụng chung “5 trong 1” (xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và văn minh sinh thái), thúc đẩy nhịp nhàng bố cục chiến lược “Bốn toàn diện (hoàn thành việc xây dựng xã hội khá giả toàn diện, cải cách sâu sắc toàn diện, quản lý đất nước bằng pháp luật toàn diện, quản lý Đảng nghiêm minh toàn diện), kiên trì định hướng chung công tác tiến lên trong ổn định, kiên trì quan điểm phát triển mới, kiên trì thúc đẩy phát triển chất lượng cao, kiên trì lấy cải cách cơ cấu theo hướng trọng cung làm tuyến chính, kiên trì thúc đẩy cải cách thị trường hóa, mở rộng mở cửa ở mức độ cao, đẩy nhanh xây dựng hệ thống kinh tế hiện đại, tiếp tục đẩy mạnh ba cuộc khó khăn, tập trung khơi dậy sức sống của các chủ thể vi mô, sáng tạo và hoàn hiện kiểm soát vĩ mô, tính toán tổng thể thúc đẩy các công tác ổn định tăng trưởng, thúc đẩy cải cách, điều chỉnh cơ cấu, mang lại lợi ích dân sinh, phòng chống rủi ro, bảo đảm kinh tế vận hành trong phạm vi hợp lý, tiếp tục ổn định tạo việc làm, ổn định tài chính, ổn định ngoại thương, ổn định vốn đầu tư nước ngoài, ổn định đầu tư, ổn định dự báo, vực dậy niềm tin thị trường, tăng cường cảm giác được hưởng lợi, hạnh phúc, an toàn của quần chúng nhân dân, duy trì kinh tế tiếp tục phát triển lành mạnh, bền vững và đại cục xã hội ổn định, đặt nền móng mang tính quyết định cho việc hoàn thành xây dựng xã hội khá giả toàn diện, lập thành tích xuất sắc chào mừng 70 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Phân tích tổng hợp tình hình trong và ngoài nước, sự phát triển của Trung Quốc năm nay đối diện với môi trường phức tạp và cam go hơn, rủi ro và thách thức có thể dự đoán và khó dự đoán sẽ nhiều hơn và lớn hơn, cần phải chuẩn bị sẵn sàng và đầy đủ cho cuộc chiến cam go. Không được đánh giá thấp khó khăn, không được dao động lòng tin, không được hời hợt tinh thần hăng hái làm việc. Sự phát triển của Trung Quốc vẫn đang ở trong thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, có đủ độ dẻo dai, có tiềm lực to lớn và có sức sống sáng tạo mãnh liệt, ước muốn có cuộc sống tốt đẹp của quần chúng nhân dân vô cùng mãnh liệt. Chúng ta có ý chí kiên định và năng lực chiến thắng mọi khó khăn và thách thức, do đó xu hướng kinh tế phát triển theo chiều hướng tốt đã và sẽ không thay đổi.

Các mục tiêu chính trong phát triển kinh tế – xã hội năm nay là: GDP tăng 6% – 6,5%; tạo thêm trên 11 triệu việc làm mới ở thành thị, tỷ lệ thất nghiệp khảo sát ở thành thị khoảng 5,5%, tỷ lệ đăng ký thất nghiệp ở thành thị dưới 4,5%; chỉ số giá tiêu dùng tăng khoảng 3%; thu chi quốc tế cơ bản cân bằng, nâng cao chất lượng xuất nhập khẩu; tỷ lệ đòn bẩy vĩ mô cơ bản ổn định, rủi ro tài chính – tiền tệ được kiểm soát hiệu quả; giảm thiểu trên 10 triệu dân số nghèo khó ở nông thôn, mức tăng thu nhập của dân cư cơ bản đồng bộ với mức tăng kinh tế, môi trường sinh thái tiếp tục được cải thiện, tiêu thụ năng lượng trên một đơn vị GDP giảm khoảng 3%, lượng phát thải các chất gây ô nhiễm chính tiếp tục giảm. Các mục tiêu dự báo chính nói trên đã thể hiện yêu cầu thúc đẩy phát triển chất lượng cao, phù hợp thực tế phát triển của Trung Quốc, kết nối với mục tiêu hoàn thành xây dựng xã hội khá giả toàn diện là tích cực và ổn thỏa. Việc thực hiện những mục tiêu này đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn.

Cần nắm bắt đúng đắn định hướng chính sách vĩ mô, tiếp tục thực thi chính sách tài chính tích cực và chính sách tiền tệ vững chắc, thực thi chính sách ưu tiên tạo việc làm, tăng cường điều phối và phối hợp chính sách, đảm bảo kinh tế vận hành trong phạm vi hợp lý, thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển lành mạnh, bền vững.

Cần phải đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả của chính sách tài chính tích cực. Năm nay dự định kiểm soát tỷ lệ bội chi ngân sách là 2,8%, cao hơn 0,2% so với năm 2018; mức bội chi ngân sách cụ thể là 2.760 tỷ NDT, trong đó bội chi ngân sách Trung ương là 1830 tỷ NDT, bội chi ngân sách địa phương là 930 tỷ NDT. Việc nâng cao vừa phải tỷ lệ bội chi như vậy dựa trên cơ sở đã xem xét tổng hợp các nhân tố như thu chi ngân sách, phát hành trái phiếu riêng, đồng thời cân nhắc dành ra không gian chính sách cho việc đối phó với rủi ro có thể xuất hiện trong tương lai. Chi ngân năm nay vượt quá 23.000 tỷ NDT, tăng 6,5%. Phân bổ ngân sách mang tính cân bằng của Trung ương đối với địa phương tăng 10,9%. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm tiềm lực tài chính cơ bản của cấp huyện, làm dịu sức ép tài chính cơ bản của các khu vực khó khăn, quyết không để xuất hiện vấn đề trong việc bảo đảm an sinh xã hội cơ bản.

(còn tiếp) 

Nguồn: Mạng Tân Hoa (TQ) – 05/03/2019

TLTKĐB – 07, 08 & 09/03/2019

Hiểu hơn về các cuộc biểu tình ở Hong Kong – Phần đầu


Ngày 9/6/2019, Chính quyền Hong Kong đã bị chao đảo bởi 1 triệu người biểu tình phản đối việc sửa đổi luật dẫn độ, theo đó các tội phạm bị tình nghi sẽ bị dẫn độ từ Hong Kong sang Trung Quốc đại lục, thậm chí sang các nước khác. Cho dù trưởng Đặc khu Hành chính Hong Kong Lâm Trịnh Nguyệt Nga đã nhấn mạnh rằng các nhân vật bất đồng chính trị và các nhà hoạt động xã hội ở Hong Kong sẽ không bị tác động bởi việc sửa đổi luật dẫn độ, nhưng việc đưa ra thảo luận dự luật nói trên đã gây ra một “cơn bão lửa”, thổi bùng cơn giận dữ của người dân.

Ngày 14/6, sau nhiều cuộc đụng độ giữa những người biểu tình với cảnh sát, trước những lời kêu gọi đình công chính trị, bà Lâm đã trì hoãn việc sửa đổi luật dẫn độ. Ngày 15/6, vài giờ sau khi bắt đầu một cuộc biểu tình lớn khác (hơn 2 triệu trên tổng số 7 triệu người dân tham gia biểu tình yêu cầu chính quyền hủy bỏ hoàn toàn dự luật này và kêu gọi bà Lâm từ chức), Chính quyền Hong Kong đã đưa ra những lời xin lỗi.

Tại sao việc sửa đổi luật dẫn độ lại gây ra sự phẫn nộ như vậy? Những định hướng chính trị của người biểu tình là gì? Và đâu là những triển vọng của các phong trào dân chủ ở Hong Kong và Trung Quốc?

Để làm sáng tỏ những câu hỏi này và nhiều câu hỏi khác, nhà nghiên cứu về Trung Quốc Kevin Lin đã có cuộc phỏng vấn các nhà hoạt động xã hội – chính trị tại Hong Kong, gồm nhà xã hội học Chris Chan, nhà hoạt động xã hội Lam Chi Leung, nhà hoạt động xã hội Chun-Wing Lee, nhà hoạt động chính trị Au Loong Yu, và nhà hoạt động chính trị Alexa. Nội dung cuộc phỏng vấn như sau:

Kevin Lin: Việc sửa đổi luật dẫn độ có tầm quan trọng như thế nào? Tại sao nó lại gây ra nhiều sự phản đối ở Hong Kong như vậy?

Au Loong Yu: Hong Kong đã ký kết thỏa thuận dẫn độ với 20 nước, trong đó có Anh và Mỹ, nhưng không phải với Trung Quốc đại lục. Phe thân Bắc Kinh, ở Hong Kong và nước ngoài, lập luận rằng Hong Kong đã ký các thỏa thuận dẫn độ với phương Tây, tại sao lại không thể ký một thỏa thuận với Trung Quốc đại lục?

Theo mô hình “Một quốc gia, hai chế độ”, Điều 8 của Luật cơ bản Hong Kong quy định rằng “những đạo luật trước đây có hiệu lực ở Hong Kong phải được duy trì”, có nghĩa là Hong Kong được  bảo vệ để không bị ảnh hưởng bởi hệ thống luật pháp Trung Quốc. Hong Kong, một đặc khu của Trung Quốc, không có quyền lực và sức mạnh cần thiết để chống lại sự đàn áp pháp lý của chính quyền trung ương Trung Quốc. Một thỏa thuận dẫn độ giữa Trung Quốc và Hong Kong chắc chắn sẽ làm suy yếu những nền tảng của “Một quốc gia, hai chế độ”.

Lam Chi Leung: Việc sửa đổi luật về dẫn độ tác động tới hầu hết các công dân Hong Kong. Dưới sự cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), các vụ án không được xét xử theo trình tự tố tụng hợp pháp, dẫn đến nhiều trường hợp bị kết án oan sai.

Những người chỉ trích ĐCSTQ, những người tổ chức buổi lễ tưởng niệm sự kiện Thiên An Môn hàng năm ở Hong Kong, những người trợ giúp những người bất đồng chính kiến ở Trung Quốc, hay thậm chí những nhà hoạt động xã hội ở Hong Kong ủng hộ các tổ chức nghiệp đoàn và các tổ chức bảo vệ các quyền công dân ở Trung Quốc có thể bị xem như là những nhân vật “gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia” và bị dẫn độ về Trung Quốc đại lục. Người dân Hong Kong lo sợ Hong Kong cũng giống như bất cứ thành phố nào của Trung Quốc đại lục, nơi quyền tự do công dân bị đe dọa. Nếu hệ thống pháp lý của Trung Quốc được cải thiện rõ rệt, thì có thể thảo luận về một thỏa thuận dẫn độ với Trung Quốc. Nhưng trên thực tế, tình hình chỉ càng tồi tệ hơn.

Chun-Wing Lee: Tỷ lệ người tham gia biểu tình rất cao, bởi ngay cả những người được coi là đồng minh của Chính quyền Hong Kong cũng không ủng hộ dự luật sửa đổi luật dẫn độ. Kể từ năm 1997, khi Hong Kong được trao trả cho Bắc Kinh, Chính phủ Trung Quốc đã cai trị Hong Kong bằng cách củng cố mối liên minh với các nhà tư bản lớn và tầng lớp trung lưu ở Hong Kong.

Nhưng trong suốt 22 năm qua, tầng lớp trung lưu trẻ, đặc biệt là những người làm các ngành nghề tự do, ngày càng thể hiện sự bất mãn đối với Chính phủ Trung Quốc. Họ lo ngại lối sống tương đối tự do của người Hong Kong bị đe dọa, chi phí sinh hoạt, đặc biệt là chi phí về nhà ở, ngày càng tăng.

Từ năm 2003, Chính phủ Trung Quốc đã cố gắng ổn định liên minh này bằng cách tăng giá trị tài sản ở Hong Kong. Nguồn vốn từ Trung Quốc đại lục đã góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng của thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán ở Hong Kong. Nhưng chiến lược này của Chính phủ Trung Quốc đã trở thành “gậy ông đập lưng ông” bởi nó khiến cho những người trẻ tuổi Hong Kong ngày càng gặp khó khăn khi mua nhà riêng, và do vậy, tầng lớp trung lưu trẻ và sinh viên đã trở thành lực lượng chống đối chủ đạo ở Hong Kong.

Kevin Lin: Ông đã có mặt tại các cuộc biểu tình lớn. Ông có thể miêu tả lại những gì đã chứng kiến? Những người tham gia biểu tình là ai, và các cuộc biểu tình được tổ chứ như thế nào?

Alexa: Những người tham gia biểu tình không chỉ là những sinh viên trẻ, mà là những người thuộc mọi tầng lớp xã hội, tràn đầy nhiệt huyết và hi vọng. Dù không có người lãnh đạo chính thức trong các cuộc biểu tình, những người tham gia đã tự tổ chức, chủ yếu thông qua các mạng xã hội như Facebook, Telegram… Họ tổ chức các sự kiện trên Facebook, kêu gọi mọi người tụ tập tại Công viên Tamar. Tôi nghĩ rằng tất cả những điều này đã được họ học từ “Phong trào Ô dù” năm 2014. Tỷ lệ người tham gia biểu tình, những lo lắng về sự phát triển của Hong Kong, về vấn đề nhân quyền và sự thượng tôn pháp luật đang ở mức cao nhất kể từ năm 1997.

Kevin Lin: Trong khi cuộc biểu tình ngày 9/6 do Mặt trận nhân quyền dân sự Hong Kong (một liên minh của các tổ chức xã hội dân sự) tổ chức, thì phong trào biểu tình hiện tại dường như không có người lãnh đạo. Ông nghĩ gì về điều này?

Au Loong Yu: Mặt trận nhân quyền dân sự Hong Kong đóng vai trò quyết định trong việc tổ chức các hoạt động biểu tình ngày 9/6, nhưng lại không có khả năng tổ chức một cuộc biểu tình dân sự lớn. Giờ đây, bất cứ ai cũng có thể là một nhà lãnh đạo tạm thời và kêu gọi những hành động cực đoan mà không cân nhắc tới ưu và nhược điểm. Chẳng hạn, vào ngày 11/6, một số người đã kêu gọi cần có “hành động bạo lực chống chính quyền”. Ngày 12/6, hàng trăm thanh niên đã đột nhập vào tòa nhà nghị viện Hong Kong, cho dù hôm đó không có cuộc họp nào diễn ra. Và tại thời điểm này, cảnh sát đã bắt đầu bắn đạn cao su, gây thương tích cho những người biểu tình. Những cuộc đấu tranh không có người lãnh đạo, thì dù lớn đến đâu, thường ít có khả năng đưa ra những cân nhắc sâu sắc trước khi thực hiện những hành động quyết liệt.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.alencontre.org – 20/06/2019

TLTKĐB – 28/06/2019

Cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc – Phần II


Tuy nhiên các cộng đồng lâu đời được gắn kết nhau nhờ những ngôn ngữ thiêng như vậy đều có một đặc trưng phân biệt với cộng đồng tưởng tượng của các quốc gia hiện đại. Một khác biệt chính yếu đó là sự tin tưởng mạnh mẽ của các cộng đồng cổ xưa này vào tính thiêng liêng độc nhất của ngôn ngữ mà chúng sở hữu. Niềm tin này đã tạo nên những quan niệm của chúng trong việc chấp nhận tư cách thành viên. Quan lại Trung Hoa coi trọng những người man di ra sức học viết các kí tự Trung Quốc. Những người man di này đã được tiếp thu [văn minh] một cách vừa phải. Tình trạng bán khai vẫn hơn hẳn dã man. Một thái độ như vậy chắc chắn không riêng gì người Trung Hoa cũng không chỉ giới hạn ở thời cổ. Chẳng hạn hãy xem “chính sách về người man di” được nhà khai phóng người Colombia đầu thế kỷ XIX Pedro Fermin de Vargas phát biểu dưới đây:

“Để mở rộng nền nông nghiệp cần phải Tây Ban Nha hóa những người Anh-điêng của chúng ta. Sự lười biếng, ngu dốt và thái độ thờ ơ trước những nỗ lực bình thường khiến ta nghĩ rằng họ đến từ một chủng tộc sa sút, đã thoái hóa rất nhiều so với nguồn gốc của mình… Mong rằng những người Anh-điêng sẽ bị diệt trừ bằng cách cho hôn phối với người da trắng, tuyên bố họ không phải cống nạp, không phải chịu những nghĩa vụ khác và trao họ quyền tư hữu đất đai”.

Điều đáng chú ý là nhà khai phóng này vẫn đề nghị “diệt trừ” một bộ phận người Anh-điêng của ông bằng cách “tuyên bố họ không phải cống nạp” và “trao họ quyền tư hữu đất đai” hơn là hủy diệt họ bằng súng và vi trùng như những người kế thừa ông đã làm tại Brazil, Argentina và Mỹ sau đó không lâu. Ta cũng nhận thấy cùng với sự tàn nhẫn chiếu cố là một chủ nghĩa lạc quan phổ quát: rốt cuộc ngời Anh-điêng có thể được cứu chuộc, bằng cách cho thụ tinh bằng tinh dịch “văn minh” của người da trắng và chiếm dụng tài sản riêng, giống như tất cả những người khác. (Thái độ của Fermin thật khác với các nhà đế quốc châu Âu sau này: ưu ái người Malay, Gurkha và Hausa “thuần gốc” hơn “người lai”, “dân bản xứ bán khai”, “nhà Âu hóa và những khái niệm tương tự).

Tuy nhiên, nếu những ngôn ngữ thiêng trầm mặc là phương tiện để tưởng tượng nên các cộng đồng lớn của thế giới trong quá  khứ, thì thực tế cả những tưởng tượng như vậy lại phụ thuộc vào một quan niệm chủ yếu xa lạ với tư duy phương Tây hiện đại: tính phi võ đoán của các ký hiệu. Những ký tự trong tiếng Hán, tiếng Latin hay Arab là những sản phẩm bắt nguồn từ thực tế, không phải là những biểu trưng của hiện thực được bịa tạo một cách ngẫu nhiên. Chúng ta đều biết rõ cuộc tranh luận lâu dài nhằm xác định ngôn ngữ phù hợp (tiếng Latin hoặc phương ngữ) với quần chúng. Trong truyền thống Hồi giáo, mãi đến gần đây kinh Koran vẫn không thể trực dịch (và do đó không được dịch), bởi lẽ chân lý của Allah chỉ có thể tiếp cận thông qua những ký hiệu đích thực không thể thay thế của tiếng Arab văn bản. Ở đây không hề có ý niệm về một thế giới tách biệt khỏi ngôn ngữ đến mức tất cả các ngôn ngữ đều là những ký hiệu tương đương (và vì vậy có thể thay thế nhau) của nó. Trong thực tế, thực tiễn bản thể luận chỉ có thể lĩnh hội thông qua một hệ thống biểu trưng đơn nhất được trao đặcq uyền: ngôn ngữ chân lý của tiếng Latin nhà thờ, của tiếng Arab trong kinh Koran hoặc của tiếng Hán dùng trong khoa cử. Là các ngôn ngữ chân lý, chúng mang một xung lực chủ yếu xa lạ với chủ nghĩa dân tộc, xung lực dẫn tới sự cải đạo. Tôi dùng khái niệm cải đạo không phải để chỉ việc chấp nhận những nguyên lý tôn giáo đặc thù mà là việc hấp thu mang tính giả kim. Man di thành “Trung Hoa”, người Rif thành người Hồi giáo, người Ilongo thành tín đồ Thiên chúa giáo. Dễ biến đổi theo những nghi lễ linh thiêng là bản chất tồn tại của con người. (Bởi vậy hãy thử đối sánh uy thế của những ngôn ngữ cổ có tính thế giới này – thành thứ tiếng có địa vị cao hơn hẳn tất cả các phương ngữ – với tiếng Esperanto hoặc tiếng Volapük bị bỏ quên giữa chúng). Rốt cuộc, chính khả năng cải đạo thông qua những ngôn ngữ thiêng này đã tạo điều kiện cho một “người Anh” trở thành Giáo hoàng và “người Mãn Châu” trở thành Thiên tử.

Thế nhưng dù các ngôn ngữ thiêng có thể khiến cho những cộng đồng như Thiên chúa giáo được tưởng tượng nên, thì phạm vi thực tế và tính hữu lý của những cộng đồng này lại không thể giải thích chỉ bằng các văn tự thiêng: rốt cuộc người đọc của chúng chỉ là thiểu số những người có học vượt lên trên biển người mù chữ. Một giải thích trọn vẹn hơn đòi hỏi phải xem xét qua mối quan hệ giữa giới trí thức và các xã hội của họ. Sẽ sai lầm nếu nhìn trí thức như một kiểu kĩ trị thần học. Những ngôn ngữ mà họ duy trì tuy khó hiểu song lại không hề có sự khó hiểu đóng kín, hầu như nằm ngoài những quan niệm của xã hội về thực tiễn như thuật ngữ của luật gia hay các nhà kinh tế học. Đúng hơn giới trí thức là đội ngũ tài năng, là tầng lớp chiến lược trong một trật tự vũ trụ mà đỉnh chóp là thần thánh. Những khái niệm căn bản về “nhóm xã hội” mang tính hướng tâm và tôn ty hơn là hướng biên hoặc nằm ngang. Quyền uy lạ thường của chức Giáo hoàng khi đạt đến đỉnh điểm chỉ có thể hiểu được trong quan hệ với một đội ngũ trí thức viết chữ Latin xuyên châu Âu một quan niệm về thế giới mà mọi người hầu như đều chia sẻ, rằng giới trí thức song ngữ, thông qua việc thương thỏa giữa phương ngữ và tiếng Latin, đã làm trung gian giữa mặt đất và thiên đường (nỗi sợ bị rút phép thông công phản ánh vũ trụ luận này).

Tuy nhiên, bất chấp uy thế và sức mạnh của những cộng đồng tưởng tượng lớn có tính tôn giáo này, sự gắn kết không tự giác của chúng lại suy yếu dần sau giai đoạn Trung cổ hậu kỳ. Có nhiều lý do dẫn tới sự suy tàn này, song ở đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh hai lý do liên quan trực tiếp đến tính linh thiêng độc nhất của những cộng đồng này.

Trước hết là tác động của những cuộc thám hiểm khám phá thế giới ngoài châu Âu. Tác động này – tuy không chỉ giới hạn ở châu Âu nhưng chủ yếu vẫn diễn ra ở châu Âu – “đã đột ngột mở rộng các chân trời văn hóa và địa lý, từ đó mở rộng quan niệm của con người về các dạng thức khả dĩ của đời sống nhân loại”. Quá trình này đã được thể hiện rõ trong các cuốn du ký vĩ đại nhất của người châu Âu. Hãy xem mô tả đầy kính sợ sau về Hốt Tất Liệt của Marco Polo, một người Thiên chúa xuất sắc ở Venice cuối thế kỷ XIII:

“Đại Hãn, sau khi giành được thắng lợi vang dội này, đã ca khúc khải hoàn trở về kinh thành Kanbalu. Sự kiện này diễn ra vào tháng mười một, ngài tiếp tục ở đó trong suốt tháng hai và tháng ba, mà tháng ba chính là lễ Phục sinh của chúng ta. Biết đây là một trong những nghi lễ trọng đại của chúng ta, ngài đã lệnh cho tất cả Ki-tô hữu đến trình diện ngài và mang theo Thánh thư của họ, cuốn sách chứa đựng bốn Tin mừng của các tác giả Phúc âm. Sau khi liên tục xức hương trầm lên Thánh thư bằng một cung cách kính trọng, Đại Hãn cung kính hôn nó rồi lệnh cho tất cả các quý tộc của ngài đang có mặt cũng làm tương tự. Đây là một nghi thức thường thấy ở ngài vào những dịp lễ lớn của người Thiên chúa, chẳng hạn Lễ phục sinh và Giáng sinh; và ngài cũng làm như thế trong những lễ tiết của người Arab, người Do Thái và các tín đồ Phật giáo. Khi được hỏi về động cơ của hành động này, ngài nói: “Có bốn nhà Tiên tri vĩ đại được những tầng lớp khác nhau của loài người sùng kính và thờ phụng. Người Thiên chúa coi Jesus Christ là đấng tối cao; người Arab là Mohamet; người Do Thái là Moses, còn các tín đồ Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni, người xuất chúng nhất trong số những thần tượng của họ. Ta tôn trọng và kính phục cả bốn vị, và đều nguyện cầu được phù trợ cho bất cứ ai trong họ thực sự có được địa vị tối cao trên thượng giới”. Song nhìn từ cung cách kính cẩn của ngài dành cho họ, ta thấy rõ rằng ngài coi đức tin của các Ki-tô hữu là đúng đắn và tốt đẹp nhất…”

Điều đáng chú ý ở đoạn văn này không phải là thuyết tương đối tôn giáo điềm tĩnh của vị đại đế Mông Cổ (nó vẫn là một thuyết tương đối tôn giáo) mà là thái độ và ngôn ngữ của Marco Polo. Dù đang viết cho các tín hữu Ki-tô châu Âu, nhưng Marco Polo không hề nghĩ đến chuyện gọi Hốt Tất Liệt là một nhà đạo đức giả hay một kẻ sùng tín. (Rõ ràng một phần nguyên do là bởi “xét về số lượng thần dân, phạm vi lãnh thổ, tổng lượng lợi tức, ngài đã vượt qua tất cả các vị quân vương từ trước tới nay trên thế giới”). Hơn nữa, qua việc sử dụng một cách vô thức cụm từ “của chúng ta” (sau đó chuyển thành “của họ”) và mô tả đức tin của người Thiên chúa là “đúng đắn nhất” chứ không chỉ “đúng đắn”, chúng ta có thể nhận thấy những mầm mống của một quá trình lãnh thổ hóa các đức tin, báo hiệu ngôn ngữ của nhiều nhà dân tộc chủ nghĩa (dân tộc “chúng ta” là “tốt đẹp nhất” – trong một lĩnh vực cạnh tranh và có thể đối sánh nào đó).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng – LHNB 2019.