Phương tiện truyền thông trong chính trị Mỹ – Phần XI


Trò chơi số lượng

Nhân cách và kỹ năng là hết sức quan trọng để giải thích tại sao một số chính trị gia (và phóng viên) thành công hơn những người khác trong việc vun đắp mối quan hệ với phía bên kia. Đồng thời, những tình huống đòi hỏi các tác nhân này phải gắn kết với nhau dường như cũng là nhân tố quyết định khả năng tìm ra một giải pháp mang tính hợp tác cho tình huống tiến thoái lưỡng nan của họ. Với ý nghĩa rất thực tế, cả các chính trị gia và các phóng viên đều nhận thấy họ đang ở trong một trò chơi số lượng trên hai mặt trận. Lúc đầu, các phóng viên cạnh tranh với đồng nghiệp để đưa tin tức ra trước công chúng, và tiếp đó họ hớt tay trên của đồng nghiệp và tránh bị hớt tay trên. Có lẽ càng có nhiều phóng viên và chính trị gia thì cuộc cạnh tranh càng căng thẳng. Và tất nhiên, sự thành công của mỗi bên phụ thuộc vào việc nó có thể tương tác tốt ở mức nào với phía bên kia. Ở đây cũng vậy, số lượng là vấn đề quan trọng. Ở nơi có tương đối ít nguồn tin đảm nhận việc cung cấp số lượng lớn sản phẩm đầu ra cho tin tức, những nguồn này có được lợi thế trong việc xác định thông tin nào sẽ được đưa ra và nó được chuyển tải đến khán giả như thế nào.

Một trường hợp của trò chơi số lượng xuất hiện trong các chiến dịch vận động tranh cử tổng thống, khi đông đảo phóng viên phụ thuộc hoàn toàn vào các ứng cử viên và nhân viên của họ để thu lượm tin tức. Các phóng viên không phải chỉ được cung cấp những thông tin báo chí nhạt nhẽo đầy tinh thần tự chúc mừng của ứng cử viên, mà họ cũng có thể tìm ra những cách thức tiếp cận chiến dịch riêng để có được các cuộc phỏng vấn và những thông tin thú vị hơn nhiều, tùy thuộc vào việc họ đối xử với các ứng cử viên như thế nào trong các bản tin trước đó của mình. “Các chàng trai trên xe buýt” có thái độ hợp tác sẽ được thưởng công bằng quyền tiếp cận và những “bản sao” tốt. Những người mô tả các ứng cử viên và chiến dịch vận động theo khía cạnh bất lợi sẽ nhanh chóng nhận thấy bị “từ chối tiếp cận” và thậm chí có thể bị thay thế ở khu vực săn tìm khi tổ chức của họ tìm cách xây dựng lại đầu mối cho những bản tin.

Tuy nhiên, sự bất cân đối này đôi khi bị đảo ngược, khi có quá nhiều chính trị gia chạy theo một số lượng quá ít các tổ chức đưa tin. Các chính trị gia bị đặt trong tình thế đối nghịch này cũng sẽ cảm thấy không vui vẻ giống như những phóng viên bị nhét vào hàng cuối của chiếc xe buýt dành cho chiến dịch vận động, hoặc giống như phóng viên thường trú của đài CBS không may bị lạc trong sa mạc trong khi tìm kiếm tin tức về cuộc chiến. Trong thời kỳ hoàng kim của các tập đoàn báo chí, trước khi truyền thanh và truyền hình ra đời, các chính trị gia thường phải hạ mình trước các ông chủ đầy quyền uy của ngành công nghiệp báo chí. Trong cuộc cạnh tranh đôi khi điên cuồng để giành độc giả và các nhà quảng cáo, những dây chuyền báo chí toàn quốc này đã chuyển từ tin tức giật gân này sang tin tức giật gân khác, lôi kéo các chính trị gia theo họ. Khi tờ New York World của Joseph Pullitzer và các đối thủ cạnh tranh của nó bị thu hút bởi những sự kiện diễn ra tại Cuba năm 1898 – những sự kiện đã dẫn tới Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha – các nhà lãnh đạo Washington bắt buộc phải có phản ứng. Khoảng 25 năm sau đó, khi Quốc hội tiến hành soạn thảo quy chế điều tiết đói với việc cấp phép hoạt động cho các đài truyền thanh, các thành viên Quốc hội lo ngại trước nguy cơ độc quyền kiểm soát tin tức đã viết nên những quy định hết sức chặt chẽ, nhằm ngăn chặn nỗ lực mở rộng quyền kiểm soát của báo chí đối với loại hình phương tiện truyền thông tin tức mới xuất hiện này.

Mối quan hệ giữa chính trị gia – báo giới từ đó tới nay

Các phóng viên báo chí kỳ cựu đôi khi vẫn luyến tiếc nhớ lại “những ngày xưa tươi đẹp”, khi phóng viên báo in chi phối tin tức và hợp tác chặt chẽ với chính trị gia trên cơ sở sự tin tưởng lẫn nhau và lợi ích cho cả hai bên. “Những ngày xưa tươi đẹp” đó có lẽ không bao giờ quá tươi đẹp như nhận thức sau này, nhưng một nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính trị gia – báo giới trong những năm 1930 và 1940 đã cho thấy một mối quan hệ thoải mái và hài lòng cho cả hai bên hơn rất nhiều so với hiện nay. Đó là kỷ nguyên trong đó tin tức về nền chính trị quốc gia bị chi phối bởi một nhóm nhỏ phóng viên thường trú tại Washington, những người đã phối hợp với nhau trong công việc để giảm bớt sự cạnh tranh khốc liệt. Các phóng viên này đã vun đáp những mối quan hệ gần gũi, thường là thân thiết, với một số ít chính trị gia đang tích cực tìm cách ảnh hưởng tới tin tức.

Khi đó cũng như hiện nay, tổng thống luôn là tâm điểm chú ý của giới truyền thông. Trong những năm ở Nhà trắng, Franklin Roosevelt (1933 – 1945) đã thực hiện 998 cuộc họp báo (hai tuần một lần) với một nhóm các phóng viên thường xuyên có mặt tại Washington. Tổng thống đã sử dụng “những buổi tụ họp trong gia đình” này, như cách ông thường gọi, để đưa ra những thông báo quan trọng. Các phóng viên thích những buổi họp báo bởi chúng tạo ra một sân chơi bình đẳng và hạn chế sự cạnh tranh trong việc thu lượm tin tức. Có một lần, khi Roosevelt phá vỡ những kỳ vọng của họ và dành cuộc phỏng vấn cho một chủ bút lâu năm của tờ New York Times, một trong những đại diện của nhóm phóng viên này đã phê phán ông trong buổi họp báo sau đó. “Đầu tôi thật lú lẫn”, tổng thống thốt lên một cách bỡn cợt, nhưng ông hứng sẽ không bao giờ làm như vậy nữa và đã giữ lời trong suốt tám năm sau đó.

Các phóng viên tới Văn phòng bầu dục với hy vọng thu được những tin tức cứng giúp bảo đảm họ sẽ có chỗ trên trang nhất của tờ báo ngày hôm sau. “[Roosevelt] chưa bao giờ để họ ra về tay không”, một phóng viên kỳ cựu nhớ lại và nói thêm rằng tất cả các phóng viên “đều hết lòng đối với một người có thể mang lại cho họ những tiếng cười và một vài tin tức để đưa lên trang nhất trong một chuyến viếng thăm 20 phút”. Để đáp lại, họ đã dành cho ông và Chính sách mới của ông rất nhiều tin tức và nhìn chung là theo hướng tích cực. Như vậy, cả hai bên đều có được những gì họ cần từ mối quan hệ lâu bền này. Có hai yếu tố then chốt giúp họ thành công trong việc tìm ra một giải pháp cho tình thế nan giải của tù nhân và hợp tác hiệu quả với nhau, đó là tính ổn định của cộng đồng và quy mô nhỏ. Tổng thống đóng vai trò là người cung cấp thông itn có thẩm quyền và có sẵn hàng ngày, và ông biết tên gọi thân mật của tất cả các phóng viên tại Nhà trắng. Mối quan hệ công việc vững chắc này cho phép nhóm phóng viên tại đây cùng nhau phát triển quan hệ qua lại tốt đẹp với tổng thống.

Một số sinh viên báo chí cho rằng quan hệ hạn hẹp giữa chính trị gia và báo giới trong thời hiện đại là do mối nghi ngờ phổ biến trong giới phóng viên rằng các tổng thống sẽ nói dối bất cứ khi nào điều đó có lợi cho họ và họ nghĩ họ có thể thành công với việc đó. Các phóng viên kỳ cựu đã dẫn ra hai sự kiện cụ thể – Việt Nam và Watergate – như những ví dụ điển hình cho việc tạo ra khoảng cách lòng tin rộng khắp và kéo dài. Những lời cáo buộc về sự thao túng của tổng thống xuất hiện hàng ngày trong suốt cuộc chiến tranh ở Việt Nam – cuộc chiến diễn ra chủ yếu trong thời kỳ cầm quyền của Lyndon Johnson. Trước khi khoảng cách lòng tin có cơ hội biến mất, vụ bê bối Watergate bùng nổ, và cuối cùng, thông qua những nỗ lực bền bỉ của các phóng viên, Tổng thống Nixon buộc phải từ chức năm 1974. Cả hai sự kiện đều cho thấy các tổng thống đã che giấu thông tin trước giới truyền thông. Năm 1977, Jimmy Carter vào Nhà trắng và tuyên thệ công khai: “Tôi sẽ không bao giờ nói dối các bạn”, và điều này dường như chỉ làm tăng gấp đôi nỗ lực của các phóng viên nhằm bắt quả tang ông đang nói dối. Mặc dù những sự kiện này chắc chắn góp phần tạo ra khoảng cách lòng tin hiện nay của các chính trị gia đối với báo giới, song khoảng cách lòng tin thuộc loại này gắn với sự căng thẳng giữa những tin tức mà chính trị gia ưa thích. Khi những điều kiện chín muồi, sự nghi ngờ lẫn nhau sẽ bùng nổ.

Nếu mối quan hệ thân thiện của kỷ nguyên trước phản ánh bối cảnh của nó, thì quan hệ thường là gay gắt đặc trưng cho các giao dịch hiện đại giữa những tác nhân này cũng vậy; những lời cáo buộc về việc nói dối, thủ đoạn và thiên kiến nhiều khi trở thành chủ đề các cuộc họp báo của tổng thống. Thương trường tự do ngày nay của các chính trị gia và phóng viên là rất khác so với bối cảnh phối hợp hành động chung đã từng chi phối quan hệ giữa chính trị gia – báo giới trước đây. Washington hiện nay có rất nhiều chính trị gia tham gia các cuộc đàm thoại chính trị nhằm thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Theo một ước tính, chỉ riêng ở Washington mỗi ngày đã có khoảng hơn 10.000 quan chức chính phủ dính líu tới báo giới và các mối quan hệ công chúng, theo cách này hay cách khác. Đồng thời, số lượng các tổ chức nghề nghiệp và các nhóm lợi ích khác tìm cách ảnh hưởng tới công luận còn vượt xa con số này. Đối với rất nhiều nguồn cung cấp thông tin tiềm năng, rào cản lớn nhất tới thành công chính là khối lượng lớn các tin tức đang cạnh tranh nhau để được đưa lên phương tiện truyền thông mỗi ngày.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Lý thuyết gia đứng sau Tập Cận Bình – Phần cuối


Trung Quốc và những kẻ thù

Tuy nhiên, việc phương Tây đạt tới bá quyền toàn cầu đến lượt nó lại tạo ra những thay đổi to lớn hơn. Ông Vương đặc biệt lưu ý tới một hiện tượng kỳ lạ. Đó là tại sao các nước tư bản sau khi thống trị phần còn lại của thế giới lại dần từ bỏ chủ quyền quốc gia phương Tây để tiến đến một tầm nhìn phổ quát về “điều hành toàn cầu”, “nhân quyền” và những thứ tương tự vậy? Ông lý giải chủ đề này trong nghiên cứu của mình, cũng chính là một bài viết đăng vào năm 1985 có tiêu đề “Về những phát triển mới trong Lý thuyết Hiện đại về Chủ quyền”, hay trong cuốn “Chủ quyền Nhà nước” xuất bản năm 1987 và nhiều ấn phẩm khác đầu thập kỷ 1990.

Vương Hộ Ninh cho rằng không phải ngẫu nhiên mà các nước phương Tây phát triển quan điểm bác bỏ chủ quyền nhà nước và chuyển sang ý tưởng toàn cầu ngay chính tại thời điểm họ tìm cách củng cố kiểm soát các đế chế thuộc địa rộng lớn. Sau Chiến tranh thế giới thứ Nhất, khi không còn nhiều vùng đất để xâm chiếm, nhưng lại có quá nhiều lãnh thổ chiếm đoạt cần phải giữ cho được, các quyền lực thực dân thiết lập những thiết chế quốc tế, như Hội Liên quốc, cùng với cách thức mới để bao biện cho việc thực thi kiểm soát thực dân hoặc bán thực dân đối với nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn trên thế giới, trong đó có nhiều vùng thuộc Trung Quốc. Cùng lúc, ý tưởng về tự quyết quốc gia vốn phát triển mạnh trong lý thuyết chủ quyền truyền thống thoái lui nhằm duy trì nguyên trạng quốc tế. Sau Chiến tranh thế giới thứ Hai và Chiến tranh Lạnh, các nước lãnh đạo phương Tây tiếp tục kìm kẹp hay kiểm soát tiến trình phi thực dân hóa, thường hợp tác để đè nén các dân tộc mà theo quan điểm của ông Vương là thực sự đại diện cho ý chí chính trị của Thế giới thứ ba. Việc Mỹ tiếp tục các nỗ lực kiềm chế CCP lúc đó có thể được cắt nghĩa từ khía cạnh này, như là một phần trong các nỗ lực bấy lâu của phương Tây duy trì chủ quyền đối với thế giới phi phương Tây, không cho phép dân tộc ngoài phương Tây có quyền chống lại nền thống trị này.

Vì thế khi nhà khoa học chính trị Samuel Huntington đưa ra thuyết “Xung đột giữa các nền văn minh” vào đầu thập kỷ 1990 với luận điểm xung độ giữa các nhóm văn minh lớn như Đạo Khổng, Đạo Hồi và thế giới phương Tây sẽ quyết định địa chính trị thế kỷ 21, Vương Hộ Ninh đã sẵn sàng tung ra một nghiên cứu về ý tưởng này, có sức nặng và có lợi cho đảng. Theo ông Vương, những giá trị được cho là phổ quát của văn minh phương Tây chính là hình thức của “bành trướng văn hóa” được thúc đẩy để xâm nhập xã hội Trung Quốc. Trung Quốc chỉ có thể chống lại được khi CCP đủ sức khẳng định vững chắc “chủ quyền văn hóa”, một thuật ngữ mà Vương là người đưa ra nhằm chỉ khả năng của Trung Quốc trong duy trì độc quyền tư tưởng và thống nhất chính trị chống lại chỉ trích của thế giới bên ngoài.

Theo quan điểm của ông Vương, những thảm kịch như đụng độ bạo lực sau khi xảy ra các cuộc biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn, là hệ quả tất yếu từ việc cho phép công dân được tiếp cận ảnh hưởng nước ngoài, làm suy yếu quyền lực nhà nước và kết cục là đe dọa đẩy Trung Quốc trở về cảnh chia cắt cát cứ. Vì thế cả chủ quyền bên ngoài của Trung Quốc, hay chính là tự do từ kiểm soát trực tiếp từ phương Tây và chủ quyền bên trong – tức năng lực của nhà nước trong tổ chức xã hội và ngăn chặn xung đột giữa các nhóm và giai tầng lợi ích, phụ thuộc vào khả năng của đảng trong xác định và áp đặt các giá trị chính trị và đạo đức theo ý muốn và được tuân thủ.

Lý luận của Vương Hộ Ninh mang tính tiêu cực, được hình thành trên việc đánh bại những ác quỷ tiềm tàng thay vì đạt tới một tầm nhìn tích cực phía trước. Và dù CCP tự mình tìm cách đề cao lý luận truyền thống Trung Hoa, các nghiên cứu của Vương Hộ Ninh không cho thấy điểm đáng chú ý nào về quan niệm chủ nghĩa vị chủng dân tộc trong vấn đề nhà nước. Trong tư tưởng của Vương, ít có chỗ cho những yếu tố thuộc bản chất Trung Hoa. Thay vào đó ông chú ý nhiều đến năng lực nhà nước và tầng lớp mà nhà nước là người đại diện lợi ích trong trung hòa bất kỳ một thế lực nào có ý định chia rẽ và làm suy yếu họ. Tương tự như vậy, các tác phẩm của Vương thời kỳ tiền Thiên An Môn đôi khi đề cập đến yêu ầu cần cải cách hài hòa, nhưng những ý tưởng đó luôn được đặt dưới việc phụng sự và phục vụ cho mục tiêu lớn hơn – đó là duy trì quyền lực nhà nước. Cuối cùng, phải thấy rằng không một khái niệm trừu tượng nào – dù là tự do, công lý, công bằng, hài hòa xã hội, nhân từ Khổng giáo, khiến Vương Hộ Ninh quan tâm bằng với thực tế chân thực về quyền lực, tuân thủ và trật tự.

Lý thuyết gia của Đảng

Việc Vương Hộ Ninh quá chú trọng vào chủ quyền cùng với những nghi ngờ của ông đối với xâm lấn văn hóa phương Tây vẫn thể hiện thống nhất trong các bài viết, ấn phẩm trong thập kỷ 1980 và 1990. Năm 1995, Tổng Bí thư Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) cùng với Tăng Khánh Hồng (Zeng Quinghong) và Ôn Gia Bảo triệu hồi ông Vương vào Văn phòng nghiên cứu Chính sách Trung ương Đảng, nghiên cứu, xử lý các vấn đề thuộc hệ tư tưởng. Tại đây, Vương Hộ Ninh là người giúp dự thảo thuyết “Ba đại diện”, được xem là đóng góp hệ tư tưởng của Giang Trạch Dân đối với điều lệ đảng. Những năm sau đó, ông Vương chính là người đảm nhận vai trò lãnh đạo trong phát triển lý thuyết của các đời Tổng Bí thư kế nhiệm, nổi bật là “Quan điểm phát triển khoa học” của Hồ Cẩm Đào và “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”. Ông Tập là nhà lãnh đạo đầu tiên sau Mao Trạch Đông có tên được ghi vào Điều lệ Đảng. Chính ở Tập Cận Bình, ông Vương lần đầu tiên nhận ra một “Quân vương” mạnh mẽ, mẫu hình mà Machiavelli từng tìm kiếm (tác phẩm cùng tên, The Prince) người có khả năng hiện thực hóa các ý tưởng của Vương Hộ Ninh về bảo vệ chủ quyền Trung Quốc và chống lại phương Tây.

Ủng hộ của Vương Hộ Ninh với Tập Cận Bình  sẽ ngày một bền chặt hơn, khi Vương đạt tới vị trí hiện tại không phải bởi quyền lực cá nhân ông, mà là do những toan tính của chính trị tinh anh. Đáng chú ý, là người làm việc gần gũi với ba đời lãnh đạo Trung Quốc thời kỳ hậu Đặng Tiểu Bình, Vương Hộ Ninh là Ủy viên Bộ Chính trị duy nhất mà cả Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình đều không có bất kỳ cảm giác bị đe dọa, bất tuân. Những lý thuyết gia của Đảng trước đây – dù leo tới các vị trí quyền lực cao như Trần Bá Đạt hay như những người nghi ngờ cải cách về sau như Hồ Kiều Mộc (Hu Qiaomu), Đặng Lực Quần (Deng Liqun giống nhau ở điểm họ thăng tiến hay ngã ngựa đều là do những thay đổi từ người bảo trợ tinh anh. Ý thức được điều này, Vương Hộ Ninh sẽ lại càng có thêm lý do để bảo đảm những đóng góp tư tưởng của cá nhân ông sẽ tiếp tục nhằm hợp thức quyền lực không thể thách thức của đảng và của Tập Cận Bình. Thực tế, kể từ sau tháng Đại hội 19, ông Vương công khai kêu gọi giới báo chí “kiên định theo đảng” và đưa ra nhiều bình luận đối với giới lãnh đạo công nghệ Trung Quốc và phương Tây về nhu cầu cần bảo vệ “chủ quyền mạng” đối với Trung Quốc.

Hiện chưa có đánh giá thống nhất về ảnh hưởng của Vương Hộ Ninh. Một số xem ông là người thực sự tin theo “chủ nghĩa tân chuyên chế”, số khác nhìn nhận Vương là người có tư tưởng tự do thận trọng, dựa trên những phát biểu của ông về giá trị dân chủ và pháp trị đối với các nhà nước hiện đại. Vậy nhưng sẽ là sai lầm nếu ai đó cố tìm kiếm tầm quan trọng tuyệt đối của cá nhân Vương Hộ Ninh để thu vén lợi ích cá nhân, dù là vai trò đó đã được thừa nhận hay còn “giấu kín”. Ngay cả khi tiến sát tới đỉnh cao quyền lực, Vương vẫn là người một mực quy lụy lợi ích của CCP. Công việc của Vương Hộ Ninh sẽ vẫn là phục vụ đảng. Thực tế, chính những lý thuyết của Vương đã là câu giải thích cho sự lệ thuộc của ông.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/china/2017-12-04/chinas-crown-theorist

TKNB – 11/12/2017

Mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc: Phân tích trên cơ sở các nghiên cứu của các học giả Trung Quốc – Phần III


Các nhà khoa học có ý kiến ngược lại cho rằng lý luận, chế độ và các hệ thống đều là nhằm chống chủ nghĩa Marx – Lenin, không đáp ứng các yêu cầu của chủ nghĩa xã hội khoa học, không theo kịp thời đại. « Dù chúng ta đi sâu bàn về khía cạnh nào chăng nữa thì chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc cũng là sự phủ định hoàn toàn mô hình Stalin. Điều này đã được chứng minh bằng lịch sử cải cách và mở cửa Trung Quốc ». Theo ý kiến của phái theo quan điểm này, quá trình cải cách và mở cửa ở Trung Quốc chính là quá trình từ bỏ hoàn toàn của mô hình Xô Viết. Một số nhà khoa học sau khi phân tích toàn diện những khác biệt căn bản giữa hai mô hình đã chỉ ra rằng mô hình Trung Quốc và mô hình Xô viết là hai mô hình hoàn toàn khác nhau của chủ nghĩa xã hội.

Cần lưu ý rằng cả hai bên đều nhất trí về vấn đề công nhận mô hình của Trung Quốc (tức là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc). Cả hai đều giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, quán triệt bốn nguyên tắc cơ bản và ủng hộ cải cách và cởi mở. Cuộc tranh cãi của họ chỉ đóng khung trong việc nên hiểu về mô hình Xô viết thế nào.

Các nhà khoa học tán đồng loại ý kiến thứ nhất về cơ bản chấp nhận mô hình Xô viết, cho rằng nó tuân thủ đúng các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Với cách tiếp cận này, việc phân tích những mặt khiếm khuyết của mô hình Xô viết và xem xét so sánh hai mô hình – để đi tới kết luận cho rằng các nguyên tắc cơ bản của hai mô hình là giống nhau, và những khác biệt của chúng thể hiện trong các hệ thống cụ thể do điều kiện và thời điểm lịch sử khác nhau. Theo Châu Tân Thành, gốc rễ của sự thay đổi mạnh thái độ của Liên Xô đối với Trung Quốc là do giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đi theo con đường của chủ nghĩa xét lại, phản bội các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Do đó, Trung Quốc cần rút ra bài học và kiên trì quán triệt bốn nguyên tắc cơ bản. Phủ định mô hình Xô viết có nghĩa là phủ định bốn nguyên tắc cơ bản và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Các nhà khoa học khác cho rằng các luận điểm cơ bản của lý luận, nguyên lý của mô hình Xô viết là xa lạ với các luận điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học, không đáp ứng yêu cầu của tình thế của Liên Xô. Mô hình Xô viết là giáo điều, trì trệ, đầy mâu thuẫn gay gắt, lãnh đạo xa rời dân. Ma Long Sơn lưu ý rằng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô viết, tức là mô hình Stalin, không phải là chủ nghĩa xã hội đích thực, chân chính, vì Stalin đã bóp méo chủ nghĩa Marx – Lenin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhóm các học giả này đã rất chú tâm phân tích những điểm khiếm khuyết của mô hình Xô viết. Các nhà khoa học nhấn mạnh rằng Trung Quốc đã phạm sai lầm khi khảo cứu mô hình Xô viết. Cải cách và mở cửa torng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trước hết cần chỉ ra những hạn chế của mô hình Xô viết. Trọng tâm của các học giả này là nhấn mạnh cải cách và mở cửa, đề cao vai trò của đổi mới trong các hệ thống. Chỉ bàn suông về bốn nguyên tắc cơ bản, mà không tập trung chú ý vào những thành tựu to lớn đạt được nhờ cải cách và mở cửa, thì không thể hiểu đúng được thực chất của việc phát huy chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Tiếp tục vận dụng mô hình Xô viết ở Trung Quốc thì chắc chắn không tránh khỏi lặp lại những sai lầm của Liên Xô.

Những tranh cãi này hiện vẫn tiếp diễn. Có thể nói mỗi ý kiến đều có điểm hợp lý và khiếm khuyết riêng của nó. Nhưng điểm chính yếu nhất là cần có những đánh giá mang tính khoa học về mô hình Xô viết.

4/ Mô hình Xô viết qua đánh giá của các nhà khoa học Trung Quốc

Nên đánh giá thế nào về mô hình của Liên Xô – đây là một vấn đề có tính nguyên tắc. Lời giải cho câu hỏi này động chạm đến vấn đề Trung Quốc nên đi theo con đường nào. Bởi vì định hướng tương lai phát triển của Trung Quốc gắn bó chặt chẽ với những bài học cần rút ra từ con đường tiến hóa của Liên Xô.

Giáo sư Châu Tân Thành lưu ý rằng việc đánh giá mô hình Xô viết – đó không chỉ là vấn đề về mặt khoa học, mà còn là một vấn đề chính trị quan trọng liên quan đến vận mệnh của các đảng cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần đứng trên lập trường giai cấp vô sản, sử dụng phương pháp của chủ nghĩa Marx để đánh giá một cách khoa học và tích cực mô hình này. Mô hình Xô viết là sự kết hợp của các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Marx với hoàn cảnh thực tế. Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, chưa có chút kinh nghiệm nào. Vì vậy, việc tìm kiếm thành công hay không thành công con đường của mình là vốn kinh nghiệm quý báu cho phong trào cộng sản quốc tế và giúp ích nhiều cho các dân tộc và quốc gia bước vào con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Chúng ta nên có thái độ cẩn trọng khi tìm hiểu những sai lầm và thiếu sót trong quá trình tìm kiếm. Chớ nên cười nhạo người đi trước, lại càng không nên công kích. Cũng không nên hoàn toàn phủ nhận nó, vì làm như thế không phải là thái độ marxist khi giải quyết vấn đề. Chính vì vậy, ta không nên dùng chữ « thất bại » như đôi khi vẫn nói.

Ma Long Sơn cho rằng không thể không học hỏi kinh nghiệm của Liên Xô, nước xây dựng chủ nghĩa xã hội đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Và cho dù những người đương thời có những ý kiến đánh giá khác nhau về mô hình Xô viết, vẫn phải thừa nhận rằng nó đã giải quyết được hai vấn đề quan trọng – sự ra đời và phát triển của Liên Xô. Liên Xô không chỉ đã đánh thắng phát xít Đức, mà còn đi theo con đường hiện đại hóa đất nước. Shen Tsung – cộng tác viên khoa học Viện Marx – Lenin trực thuộc Viện HLKHXH Trung Quốc, tác giả cuốn « Suy ngẫm lại về mô hình Stalin dưới ánh sáng thời đại ngày nay » (2004) đã khẳng định vị trí lịch sử và những thành tựu của mô hình Xô viết từ góc nhìn hiệu ứng khách quan. Mô hình Xô viết đã đóng một vai trò rất hiệu quả trong việc thực hiện nhanh chóng của hiện đại hóa, tạo dựng cơ sở nền đại công nghiệp, một nền khoa học và văn hóa tiên tiến, trong việc củng cố cơ sở quốc phòng và các lĩnh vực khác. Từ góc nhìn hiện đại hóa, Liên Xô đã nhận trách nhiệm lớn về nền kinh tế và văn hóa lạc hậu, đồng thời nó vẫn trụ vững trước mối đe dọa của kẻ thù bên trong và bên ngoài. Trong hoàn cảnh như vậy, mô hình Xô viết đã giúp Liên Xô hiện đại hóa với nhịp độ nhanh và thoát khỏi tình huống khó khăn.

Còn theo ý kiến của Zheng Yiping và Gun Hailin, mô hình Xô viết không giúp gì cho việc giải quyết các nhiệm vụ cơ bản của chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền dân chủ và luậ pháp xã hội chủ nghĩa, đoàn kết các dân tộc và phát triển mạnh khoa học và văn hóa, (mô hình này) không phù hợp với những tư tưởng của Lenin về xây dựng chủ nghĩa xã hội và kết quả là đã cản trở nhiệm vụ phát triển nhanh nền kinh tế.

Xiao Feng nhấn mạnh rằng mô hình Xô viết là một mô hình quái dị và cứng nhắc của thực tiễn xã hội chủ nghĩa. Mặc dù mô hình này đã đóng một vai trò rất lớn trong lịch sử đất nước và đã cho phép đạt được những thành tích lớn, nhưng trong điều kiện hiện nay nó phải được cải biến lại hoàn toàn. Theo ý kiến tác giả này, mô hình Xô viết là không nhất thiết đối với các nước khác.

Theo Zhang Guangming và Li Zhongyu, sau một nửa thế kỷ cố gắng tìm cách hiện thực hóa mô hình Xô viết, lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy đây là một mô hình không thành công. Nó khép kín và bảo thủ, không có khả năng tự điều chỉnh, hạn chế tính tích cực của quần chúng và kìm hãm sự phát triển của các lực lượng sản xuất xã hội. Zuo Fengrun còn cho rằng mô hình Xô viết không có cơ chế sửa sai lỗi, rằng mô hình không đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện đại.

Mặc dù các nhà khoa học đã đưa ra những đánh giá khác nhau về mô hình Xô viết – cả tích cực lẫn tiêu cực – tất cả đều đã đi tới một ý kiến thống nhất : để đưa ra được những đánh giá khoa học hơn, cần phải kiên định lập trường của chủ nghĩa Marx, sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phân tích một cách công minh và đánh giá công bằng sẽ giúp chúng ta rút ra được những bài học của quá khứ lịch sử và có thêm kinh nghiệm. Và hiển nhiên là tất cả những cái đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc. Sự sụp đổ của Liên Xô là một bài học tốt cho chúng tôi : chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải đáp ứng mệnh lệnh của thời đại và phải được kết hợp với thực tế mỗi nước, không thể sao chép lịch sử, sao chép mô hình của các nước khác, mà phải tự tìm ra mô hình của mình, phù hợp với thực tế và đặc thù của đất nước mình.

(còn tiếp)

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 10 & 11

Lý thuyết gia đứng sau Tập Cận Bình – Phần đầu


Ryan Mitchell

Ngày 25/10/2017, bảy nhân vật trong bộ complet màu đen bước lên bục chính tại Đại lễ đường Nhân dân, trong buổi lễ ra mắt Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong số này, chỉ có một gương mặt gây bất ngờ, đó chính là Vương Hộ Ninh, một nhà tư tưởng lão luyện của đảng, cựu giáo sư chuyên ngành chính trị quốc tế tại Đại học Phúc Đán (Fudan) ở Thượng Hải. Rất ít người nghĩ rằng Vương Hộ Ninh có thể vươn tới một vị trí cao nhất trong Đảng Cộng sản Trung Quốc (CPP). Nhưng giờ thì mọi chuyện đã rõ. Một cựu học giả ẩn dật, nổi tiếng với vẻ điềm đạm, cẩn trọng giờ đã trở thành nhân vật có quyền lực tư tưởng xếp hàng thứ hai trong CCP, chỉ sau Chủ tịch Tập Cận Bình.

Sự xuất hiện của ông Vương trong cơ cấu Thường vụ là điểm khác biệt so với thực tế chính trị tại Trung Quốc trong nhiều thập kỷ trở lại đây. Thông thường, các ủy viên Thường vụ được lựa chọn từ số Ủy viên Bộ Chính trị tiêu biểu, có kinh nghiệm và từng kinh qua cương vị Bí thư tỉnh ủy, Thành ủy. Nhưng ông Vương lại là người xuất thân từ Văn phòng Nghiên cứu Chính sách Trung ương (CPRO), từng làm Giám đốc của một đơn vị tại CPRO phụ trách việc phát triển nền tảng hệ tư tưởng cho CCP. Trường hợp duy nhất một lý thuyết gia tương tự Vương Hộ Ninh có chân trong Thường vụ Bộ Chính trị xảy ra vào năm 1966, thời kỳ đầu Cách mạng Văn hóa, khi Mao Trạch Đông tiến cửu cựu Thư ký Trần Bá Đạt (Chen Boda).

Dĩ nhiên bối cảnh Trung Quốc hiện nay khác xa so với thập niên 1960. Thế nhưng ở một góc độ nào đó vẫn có điểm tương đồng thú vị: Những thay đổi về cục diện quốc gia và quy tắc của chính trị tinh anh dường như một lần nữa lại đưa CCP tới điểm lây nhiễm lịch sử. Với quyền lực tích tụ ngày một lớn, được xem là lãnh đạo hạt nhân của CCP, ông Tập Cận Bình trong nhiệm kỳ hai đã đưa ra lý thuyết cá nhân về “Thời đại mới của chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc”, kết hợp với yêu cầu bảo đảm ổn định xã hội, tăng trưởng kinh tế chất lượng cao, gia tăng sức mạnh quốc gia cho Trung Quốc. Cùng lúc, ông Tập nhắc lại những mối đe dọa hiện hữu từng diễn ra ở Liên Xô mà CCP cần phải nhận ra, nếu như đảng cầm quyền không tìm cách thu phục tin tưởng, tin cậy của người dân Trung Quốc.

Nhiều chính sách của ông Tập Cận Bình, từ “Giấc mộng Trung Quốc” cho tới chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt và “4 Tự tin” mà mỗi đảng viên cần phải thể hiện, đều nhắm tới mục tiêu củng cố, tạo chính danh cho vai trò lãnh đạo của CCP. Khi CCP củng cố quyền lực, sự nổi lên của Vương Hộ Ninh có thể sẽ cho thấy điều gì về con đường của Trung Quốc trong “Kỷ nguyên mới” của Tập Cận Bình.

Tìm kiếm trật tự

Sau khi Mao Trạch Đông qua đời năm 1976 và Cách mạng Văn hóa dần nhường chỗ cho kỷ nguyên cải cách, hàng triệu người Trung Quốc bắt đầu theo đuổi giấc mộng đã từng bị làm thui chột sau một thập kỷ đấu đá chính trị. Ông Vương giành những năm tháng này nghiên cứu văn bản, tài liệu về tính ác trong bản chất con người, nguồn gốc của nhà nước và yêu cầu đối với một người trị vì đầy quyền lực để kiểm soát xung đột xã hội.

Tham gia giảng dạy tại Đại học Phúc Đán năm 1978 sau khi tốt nghiệp cử nhân tiếng Pháp, ông Vương theo học thạc sĩ chuyên ngành chính trị quốc tế năm 1981, với khóa luận tốt nghiệp về chủ đề khái niệm chủ quyền theo quan điểm phương Tây. Tài liệu khảo sát ý tưởng về chủ quyền nhà nước hiện đại, từ thời tiền khởi theo lý luận của nhà tư tưởng người Pháp Jean Bodin trong thế kỷ 16, qua giai đoạn hình thành và cho đến khi bị chối bỏ trong thế kỷ 20. Ông Vương quay lại chủ đề này trong các cuốn sách, bài viết được xuất bản, công bố một thập kỹ rưỡi sau đó, khi ông đạt tới học hàm giáo sư và làm giám đốc chương trình chính trị quốc tế – chuyên ngành mà ông theo học.

Tư tưởng cơ bản của Vương Hộ Ninh về chủ quyền ăn khớp với các lý thuyết gia chủ chốt khác ở phương Tây. Chủ quyền theo quan điểm của ông Vương bao gồm khả năng quyền lực chính trị trong thực thi kiểm soát hành chính thống nhất đối với một vùng lãnh thổ mà không gặp phải đe dọa bên ngoài hay rối loạn bên trong. Bodin là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về chính trị trong đó chỉ có nhà nước mới nắm giữ quyền lực này, loại trừ vai trò của các quyền lực chính trị, tôn giáo hay luật pháp. Điểm mấu chốt của khái niệm chính trị là giả định chủ quyền không thể bị chia cắt; tranh cãi vẫn có thể xuất hiện trong các chính sách hay nguyên tắc nào đó, nhưng vai trò của chủ quyền sẽ không cho phép điều này tồn tại. Trong bộ “Sáu cuốn sách của nền Cộng hòa” (Six Books of the Commonwealth), Bodin khẳng định, “Chủ quyền quốc gia cũng giống như Đức Chúa trời. Không thể có thứ ngang bằng với Chúa, bởi Chúa là tuyệt đối và theo logic thì không thể có hai thực thể tuyệt đối cùng tồn tại. Vì thế chúng ta có thể nói rằng Quân vương, người mà chúng ta cho là mang hình ảnh của Chúa trời, không thể đạt tới chủ thể ngang hàng với Chúa mà không hủy diệt quyền lực của Đức Chúa”.

Đối với Vương Hộ Ninh, phát triển lịch sử của những ý tưởng như vậy là điều đặc biệt quan trọng, vì nó cho thấy ở ngay giai đoạn đầu châu Âu hiện đại – tương tự như xã hội Trung Quốc trong thế kỷ 20, nhà nước hiện đại đã phải chiến đấu để tồn tại giữa những bất ổn của các lực lượng phong kiến chống đối, chia cắt lãnh thổ và đứt gãy xã hội. Những lý thuyết gia vĩ đại nhất châu Âu về chủ quyền, nổi bật là Bodin, Thomas Hobbles và Machiavelli (người mà Vương Hộ Ninh xem là đấu tranh để thống nhất một nước Italy chia rẽ), đã đi trước thời đại khi nhận ra nhu cầu cần một hình thức tổ chứ chính trị có khả năng tạo ra đoàn kết và trật tự để vượt lên yếu kém và hỗn độn. Thời Trung Quốc hiện đại, tương tự như giai đoạn thời kỳ phục hưng Italy, những xu thế bẩm sinh của nhân loại về chiến tranh và cách mạng nói lên rằng chỉ có thể tạo ra nền tảng sức mạnh và độc lập quốc gia nếu như tất cả cùng tuân thủ quyền lực tối cao – tức Nhà nước.

Những ý tưởng như vậy hẳn nhiên từng có ý nghĩa đặc biệt đối với Trung Quốc những năm cuối thập kỷ 1970, sau khi thử nghiệm tệ hại của Cách mạng Văn hóa đã làm suy yếu Nhà nước, khiến nhiều người đặt câu hỏi về nền tảng hệ tư tưởng giúp tạo dựng quyền lực Nhà nước. Nhưng đối với Vương Hộ Ninh, những lý thuyết gia phương Tây thời kỳ đầu về chủ quyền luôn có giá trị bất diệt, bởi họ đã sử dụng quan điểm thực tế để giải thích cho những đam mê hệ tư tưởng của thời đại và hiểu thấu những gì mà xã hội thực sự cần đến: Một người cai trị mạnh mẽ, thống nhất và trung thành với dân tộc, phủ nhận ảnh hưởng của bất kỳ thế lực phong kiến, ngoại bang hay tôn giáo nào. Để rồi chính những nhà cai trị chuyên chính như vậy đã tạo ra nền tảng của nhà nước ổn định và tự trị, đưa phương Tây tiến đến đỉnh cao thống trị toàn cầu.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/china/2017-12-04/chinas-crown-theorist

TKNB – 11/12/2017

Phương tiện truyền thông trong chính trị Mỹ – Phần X


Lựa chọn tin tức. Để đáp ứng năng lực chuyển tải khác nhau của mình, các phương tiện truyền thông phải tính toán thận trọng việc phân bổ thời gian và không gian cho các bản tin. Mỗi phương tiện truyền thông có những tiêu chí khác nhau để quyết định tin tức nào được đưa trên mặt báo và các chương trình của mình. Không giống với các chính trị gia khác, tổng thống luôn được đưa lên trang nhất và trong nhữgn bản tin nổi bật trên trang nhất. Xếp sau tổng thống rất xa là Thượng viện và các thành viên Thượng viện, đối tượng được ưu tiên hơn so với các đồng sự của họ tại Hạ viện. Theo một số nhà quan sát báo chí, một điểm khác cần cân nhắc là số lượng người, điều có thể giải thích tại sao Thượng viện được đánh giá cao hơn Hạ viện. Phần còn lại của Washington thường được giao cho các hãng tin điện tử (Associated Press, Reuteurs, UPI) mà tờ báo đăng ký mua tin; những bản tin này có thể được đăng hoặc không được đăng trên trang ruột của báo chí toàn quốc.

Tiêu chí thứ hai để đăng một bản tin là mức độ tranh cãi của nó: xung đột và bất đồng được chú ý hơn sự đồng thuận. Khi các phóng viên cố gắng bán tin tức của mình cho chủ báo và các tổ chức truyền tin cạnh tranh với nhau, phương tiện truyền thông thường tạo ra sự tranh cãi ở những nơi không có tranh cãi. Đầu năm 1995, Chủ tịch Hạ viện New Gingrich đã lớn tiếng chỉ trích báo giới vì việc đội quân này từ chối đưa tin về cuộc gặp gỡ mang tinh thần lưỡng đảng với Tổng thống Clinton ở khía cạnh tích cực. Sau khi ông tuyên bố rằng Quốc hội mới đắc cử do Đảng Cộng hòa chi phối đang hướng tới sự hợp tác mang tính xây dựng với tổng thống thuộc đảng Dân chủ, một phóng viên đã hỏi ông “Ngài nghĩ rằng nó [sự hợp tác giữa hai đảng] sẽ đổ vỡ vì điều gì?” Gingrich đáp lại: “Anh vừa nghe những lãnh tụ Đảng Cộng hòa nói rằng tổng thống thuộc Đảng Dân chủ hôm nay đã có một cuộc gặp gỡ rất tuyệt vời nhân danh nước Mỹ; chúng tôi đang cố gắng hợp tác cùng nhau. Anh không thể thử, trong 24 tiếng đồng hồ, có một thông điệp tích cực, lạc quan như thể điều đó sẽ thành hiện thực hay sao?”

Một tiêu chí thứ ba có liên quan chặt chẽ tới tiêu chí thứ hai, chính là tính tiêu cực – các tin xấu bao giờ cũng được ưa thích hơn các tin tức tốt lành. Những đợt suy thoái kinh tế được đưa tin nhiều hơn sự thịnh vượng. Tương tự, các phương tiện truyền thông thường nhận thấy nhiều điều để chỉ trích hơn là ca ngợi trong hoạt động củac các chính trị gia. Các tổng thống bị chê trách nhiều nhất, mặc dù Quốc hội cũng không được đánh giá cao hơn là mấy. Năm 1993, khi được hỏi đích danh trong một cuộc họp báo rằng ông nghĩ tại sao uy tín của ông lại bị giảm sút 15 điểm phần trăm chỉ trong vòng hai tháng, Tổng thống Clinton đã ngay lập tức đáp trả: “Tôi đánh cuộc rằng không tới 5% người dân Mỹ biết rằng chúng ta đã thông qua một ngân sách… và nó đã được thông qua với tốc độ nhanh nhất so với bất kỳ ngân sách nào trong vòng 17 năm qua. Tôi đánh cuộc rằng chưa đến một trong số 20 cử tri Mỹ biết điều đó bởi vì… thành công và việc không có bất đồng không đáng chú ý như sự thất bại”. Bằng chứng có tính hệ thống về vấn đề này cho thấy rằng những lời phàn nàn của các tổng thống không quá sai so với thực tế. Một nghiên cứu chấm điểm từng bản tin trên chương trình tin tức buổi tối của kênh truyền hình quốc gia về các tổng thống George H.W. Bush và Clinton trong suốt ba năm đầu nhiệm kỳ đã cho thấy rằng cả hai vị đứng đầu nhà nước này phần lớn bị đưa tin theo hướng tiêu cực. Trong 24 quý, chỉ có bốn quý trong đó bình quân họ được đưa tin trên mạng tin tức quốc gia theo hướng tích cực ngang bằng với hướng tiêu cực.

Trong chừng mực các phóng viên và chủ báo của họ chủ động lọc và diễn giải các thông điệp theo hướng ưu tiên cho sự xung đột hơn là đồng thuận và tin xấu hơn là tin tốt, phương tiện truyền thông không còn đóng vai trò là ống dẫn tuyệt đối trung lập cho dòng chảy thông tin về xã hội dân sự cho khán giả mà nó hướng tới nữa. Một số người chỉ trích giới truyền thông cáo buộc rằng khi lựa chọn các thông điệp truyền tải đi và trình bày nội dung tin tức, các tổ chức truyền tin đã đưa vào đó thiên kiến nguy hại. Những lời buộc tội này nhiều hơn so với bằng chứng thực tế. Tuy nhiên, qua nghiên cứu khảo sát cho thấy những người trả lời thường nói rằng họ phát hiện ra sự thiên lệch của truyền thông. Trên thực tế, những người ủng hộ ở hai phe đối lập của rất nhiều vấn đề tin rằng quan điểm của họ đã không được đăng tải một cách công bằng. Trong những năm gần đây, các tổ chức “theo dõi truyền thông” ra đời rất nhiều để theo dõi gắt gao sự thiên vị của báo giới bất lợi cho quan điểm cụ thể của họ. Họ nhanh chóng lên tiếng báo động, và bằng việc này đã gây áp lực với các tổ chức truyền tin để đưa tin cho phe của họ một cách “cân bằng” hơn (có nghĩa là ủng hộ hơn). Họ thực hiện những hoạt động tốn kém này bởi họ tin rằng tin tức ảnh hưởng tới các cử tri và cuối cùng là tới chính sách quốc gia.

Chắc chắn là việc có quá nhiều thông điệp được gửi tới các phương tiện truyền thông mỗi ngày mang lại cho chúng cơ hội lớn hơn để ủng hộ một số loại tin tức và quan điểm khác. Nhưng thiên hướng này không nhất thiết cho phép các phóng viên đưa những quan điểm chính trị củ mình vào các bản tin hoặc sử dụng tin tức để phục vụ cho lợi ích tài chính của các tập đoàn bảo trợ. Khác với thời kỳ báo giới là công cụ của đảng phái trước đây, báo in và báo hình hiện đại dựa vào độc giả và khán giả để duy trì sinh kế. Bên cạnh việc được trả tiền trực tiếp cho tin tức – ví dụ như tiền trả cho việc đặt mua báo và thuê bao Internet – tất cả phương tiện truyền thông đều thu được tiền từ quảng cáo, và khoản phí họ đòi cho quảng cáo có liên quan trực tiếp tới lượng độc giả. Trong thị trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay, những doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận này sẽ khó có thể thu hút được độc giả theo dõi những sản phẩm (tin tức) đã bị nhiễm thiên kiến của mình. Thực tế, chính thị trường là người thực thi kỷ luật để kiểm soát mọi khuynh hướng của các chủ sở hữu, chủ báo hoặc phóng viên nhằm lợi dụng sự kiểm soát của họ đối với tin tức làm phương tiện thao túng công luận.

Mối quan hệ chiến lược giữa chính trị gia và phóng viên

Xét trên nhiều khía cạnh, những mối quan hệ giữa chính trị gia và phóng viên không thay đổi nhiều lắm kể từ thời kỳ đầu của nền Cộng hòa, khi một nữ phóng viên chộp được Tổng thống John Quincy Adams đang bơi không quần áo giữa dòng Potomac và dọa sẽ hét lên nếu ông lên khỏi mặt nước trước khi cho phép cô ta phỏng vấn về chính sách của mình đối với các ngân hàng nhà nước. (Adams đang trốn trong Nhà trắng, hy vọng tránh phải tuyên bố trước công chúng về vấn đề này). Cảnh tượng khôi hài này giúp nhắc nhở chúng ta về sự căng thẳng cố hữu trong mối quan hệ giữa chính trị gia và phóng viên. Nếu họ có thể, mỗi bên sẽ lợi dụng bên kia bởi mỗi bên đều có một số thứ mà bên kia cần (và không muốn đưa ra). Chính trị gia cần tiếp cận cử tri theo cách thức tạo ra sự ủng hộ, và phóng viên cần thông tin để tạo ra một câu chuyện hay. Ở một ý nghĩa nào đó, cả hai điều này đều đòi hỏi cái giá khá đắt. Không phóng viên nào muốn tỏ ra là một người ủng hộ công khai cho một chính trị gia nào đó. Và thông tin được chuyển tải phục vụ tốt nhất cho mục đích của chính trị gia hầu như không bao giờ đồng nhất với những gì phóng viên mong muốn. Tổng thống Adams rõ ràng đã không nghĩ ra câu chuyện nào có thể phù hợp nhất với các mục đích của ông, nhưng nữ phóng viên dũng cảm này đã chộp được ông vào thời điểm hết sức sơ ý.

Do sự phụ thuộc lẫn nhau chứa đầy nghi kỵ là yếu tố chi phối các mối quan hệ giữa chính trị gia và phóng viên, những tác nhân này nhận thấy họ bị mắc kẹt trong tình thế tiến thoái lưỡng nan kinh điển của tù nhân. Như chúg ta đã nhận thấy, tình thế khó khăn này – vốn hết sức cơ bản trong mọi mối quan hệ chính trị – đã được giải quyết bằng việc tạo ra những thể chế và quy trình để cưỡng chế các cam kết và nuôi dưỡng lòng tin. Nhưng không hành động xây dựng thể chế nào thuộc loại này có thể giải quyết triệt để sự căng thẳng giữa chính trị gia và phóng viên. Kết quả là cả hai phe đều hết sức cảnh giác trước khả năng bị thao túng bởi bên kia. Với vai trò là những khán giả không hài lòng trước các cuộc cãi cọ nội bộ diễn ra thường xuyên giữa hai nhóm, công chúng đã đưa cả chính trị gia lẫn phóng viên xuống các thứ hạng thấp hơn về uy tín nghề nghiệp. Tuy nhiên, trở ngại cho sự hợp tác này chính xác là điều mà các nhà Sáng lập cân nhắc trong đầu khi họ đặt sự bảo vệ báo giới ngay sau quyền tự do ngôn luận trong Tu chính án thứ nhất. Bất kỳ ai nghi ngờ về sự tập trung quyền lực của chính phủ đều sẽ tán thành sự thận trọng mà các bên sử dụng trong giao dịch với bên kia.

Sự căng thẳng cố hữu trong mối quan hệ giữa hai phe không nhất thiết buộc mọi chính trị gia và phóng viên phải tham gia trò chơi lợi dụng lẫn nhau của Machiavelli. Một số người đã tìm ra những cách thức để hạn chế tối thiểu rủi ro và từ đó tối đa hóa lợi ích từ việc hợp tác. Rõ ràng là đối với mọi chính trị gia, “điều khiển báo giới” là một kỹ năng quý báu. Chẳng hạn như John Kennedy – khi còn là thượng nghị sĩ, ông có nhiều bạn bè là phóng viên hơn bất kỳ đồng nghiệp nào trong Thượng viện, và ông đã hướng báo giới theo hướng có lợi cho mình trong chiến dịch vận động tranh cử năm 1960. Ngược lại, Richard Nixon, đối thủ của ông năm đó, đã đi từ sự đối đầu này tới sự đối đầu khác với báo giới. Nixon đã nhận được sự thù ghét của rất nhiều phóng viên trên suốt con đường vận động tranh cử năm 1960, và sau thất bại thứ hai tại cuộc chạy đua vào vị trí thống đốc bang California năm 1962, ông đã trút bỏ cơn giận bị dồn nén của mình với báo giới theo cách mà chưa chính trị gia nào trước đó từng làm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Tranh chấp chủ quyền biển khiến quan hệ Việt – Trung đi xuống


Nguyệt san Ngoại tham có trụ sở tại New York (Mỹ), bản tiếng Trung phát hành tại Hong Kong, số 91 tháng 12/2017 có đăng bài dự báo của giới chuyên gia cho rằng Việt Nam hiện nay sẽ không đối kháng với Trung Quốc nếu Việt Nam không cảm nhận được mối đe dọa cực lớn. Việt Nam thiếu đi sự ủng hộ rõ ràng từ các nước khác như Mỹ và quan hệ đồng minh mới nổi với Ấn Độ chưa được củng cố.

Từ tháng 5/2017 đến nay, Trung Quốc và Việt Nam xảy ra một loạt sự kiện, đem đến cho hai nước láng giềng này nguy cơ một lần nữa bùng nổ tâm lý đối địch trong vấn đề quyền kiểm soát chủ quyền biển Hoa Nam (Biển Đông). Tuy nhiên, Việt Nam trong tương lai gần do thiếu sự ủng hộ rộng rãi nên sẽ kìm nén tức giận.

Chủ nghĩa dân túy dâng cao

Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối Trung Quốc tuyên bố tiến hành diễn tập quân sự tại khu vực Vịnh Bắc Bộ. Trước đó, Trung Quốc đã công khai ép buộc Việt Nam và nhà thầu Tây Ban Nha là công ty Repsol hồi cuối tháng 7 ngừng dự án thăm dò dầu mỏ ở biển Hoa Nam (Biển Đông) trị giá hàng triệu USD.

Tháng 7/2017, các nhà hoạt động thân Trung Quốc ở hải ngoại rõ ràng đã tấn công hệ thống máy tính tại hai sân bay của Việt Nam. Hồi tháng 8 vừa qua, Trung Quốc và Việt Nam đã hủy cuộc gặp cấp bộ trưởng ngoại giao bên lề một hoạt động mang tính khu vực tổ chức tại Manila (Philippines). Trước đó, hồi tháng 6/2017, quan chức quân sự Trung Quốc rút ngắn lịch trình chuyến thăm Việt Nam. Các nhà phân tích cho rằng hành động này của phía Trung Quốc là sự phản đối Việt Nam thăm dò khai thác dầu khí ở biển Hoa Nam (Biển Đông).

Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia, chuyên gia về vấn đề Đông Nam Á cho rằng sau khi trải qua hàng loạt rắc rối với phía Trung Quốc, Việt Nam đang thể hiện rõ sự bực bội của mình. Giáo sư Carl Thayer nói: “Tôi cho rằng tâm lý chống Trung Quốc của người dân Việt Nam mạnh đến mức nếu như trong vấn đề biển Hoa Nam (Biển Đông), dân chúng Việt Nam cho rằng chính phủ không bảo vệ chủ quyền, Chính phủ Việt Nam sẽ gặp phải rắc rối thực sự”.

Giới chuyên gia nêu rõ, hai nước Trung – Việt mặc dù trải qua nhiều năm nỗ lực hợp tác, triển khai nghiệp vụ nghề cá và khoan thăm dò dầu khí trên biển, nhưng quan hệ giữa hai nước liên quan vấn đề chủ quyền biển vẫn đang xấu đi, dẫn đến hai nước có tuyên bố chủ quyền ở khu vực biển Hoa Nam (Biển Đông) này đối lập, bất chấp những nỗ lực trong khu vực từ tháng 7/2016 đến nay nhằm gác lại bất đồng. Trong lịch sử Trung – Việt thập niên 70 của thế kỷ trước từng xảy ra xung đột trên biển. Không chỉ Việt Nam và Trung Quốc, một số nước Đông Nam Á khác như Brunei, Malaysia, Philippines và vùng lãnh thổ Đài Loan cũng tuyên bố có chủ quyền toàn bộ hoặc một phần khu vực biển Hoa Nam (Biển Đông).

Chủ nhiệm trung tâm nghiên cứu biển Hoa Nam có trụ sở tại Đài Bắc (Đài Loan), Jonathan Spangler nêu rõ trên phương diện phản đối Trung Quốc, Việt Nam không nhận được sự ủng hộ từ các nước khác nên cảm nhận rất rõ sự đơn độc. Tuy nhiên, còn một lý do khác, đó là giới chức Việt Nam luôn mong muốn duy trì trao đổi thương mại với Trung Quốc. Trong 4 tháng đầu năm 2017, kim ngạch thương mại hai nước Trung – Việt đạt 25,5 tỷ USD, khiến Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Hơn thế, Trung Quốc vẫn nắm trong tya kiểm soát kinh tế, có thể căn cứ vào động cơ chính trị để điều chỉnh kinh tế, thương mại và đầu tư.

Chuyên gia Jonathan Spangler cho rằng, sau Đại hội XIX, địa vị và quyền lực chính trị của Tập Cận Bình (Xi Jinping) được xác lập, nhiều khả năng Trung Quốc đối với Việt Nam trong vấn đề biển Hoa Nam sẽ cứng rắn hơn. Sau Đại hội XIX, quyền lực của Tập Cận Bình đã được củng cố, hiển nhiên, chính sách của Tập Cận Bình sẽ càng cứng rắn hơn. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng sẽ tránh mọi sự quá đà trong quan hệ với Việt Nam bởi vì, nhìn tổng thể, Việt Nam vẫn coi Trung Quốc là nước láng giềng hợp tác.

Mấy thế kỷ qua, quan hệ Trung – Việt luôn chịu sức ép bởi tranh chấp biên giới. Hai bên hiện đang tranh chấp một vùng đất hẹp nằm ở phía Đông bờ biển Việt Nam. Hai nước đều lấp biển xây đảo tại chuỗi đảo từ quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) đến quần đảo Nam Sa (Trường Sa).

Chuyên gia Jonathan Spangler cho rằng, giống như trước đây, quan hệ Trung – Việt sẽ tiếp tục duy trì trạng thái dao động, nhưng chính phủ hai nước sẽ đều chịu sự ràng buộc bởi lợi ích mấu chốt của họ. Đối với Việt Nam, trao đổi thương mại tự do với Trung Quốc sẽ vẫn là nhiệm vụ hàng đầu, có lẽ chỉ đứng sau ổn định chính trị trong nước. Còn đối với Trung Quốc, duy trì sức ảnh hưởng đối với khu vực, ngăn chặn mọi nhận thức chung khu vực đe dọa lợi ích của Trung Quốc sẽ tiếp tục là xem xét ưu tiên.

Chuyên gia Jonathan Spangler nêu rõ, do Trung Quốc có được lực lựng tuần tra bờ biển mang tính xâm lược và các dự án lấp biển xây đảo có thể đáp ứng yêu cầu của máy bay chiến đấu cất hạ cánh, khiến Trung Quốc được nhìn nhận là bên có địa vị chủ đạo trong 6 bên tranh chấp ở biển Hoa Nam. Trung Quốc có sức mạnh quân sự đứng hàng thứ 3 thế giới. Việt Nam cho rằng Trung Quốc thông qua điều động lực lượng quân đội hùng mạnh của mình để kiểm soát quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) của Việt Nam, khiến Trung Quốc chiếm thế thượng phong trong tình trạng không công bằng. Việt Nam thường xuyên phản đối hoạt động quân sự của Trung Quốc tại khu vực này.

Bạo loạn chống Trung Quốc năm 2014 xảy ra ở Việt Nam đã khiến hơn 20 người chết và bị thương, đồng thời khiến các nhà đầu tư lo sợ mà rút khỏi Việt Nam. Nguyên nhân dẫn đến biểu tình là do Trung Quốc đưa giàn khoan dầu khí vào tác nghiệp tại vùng biển tồn tại tranh cãi. Giới chuyên gia cho rằng lãnh đạo Việt Nam hiện nay dường như là “để dành” phản ứng mạnh mẽ hơn đối với mối đe dọa chủ quyền nghiêm trọng hơn. Thực tế cho thấy, bất kể lãnh đạo nào của Việt Nam cũng đều không thỏa hiệp trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ.

Nguồn: TKNB – 28/12/2017

Thế giới với cuộc chơi quyền lực mới? – Phần cuối


Sức mạnh vẫn là trung tâm, giải pháp tham khảo và sẽ tồn tại lâu dài trong các khu vực mang tính quyết định của thế giới – nhất là trong không gian Thái Bình Dương, tuy nhiên, Mỹ không còn là cường quốc duy nhất có quyền quyết định như họ đã từng là như vậy cách đây 20 năm.

Một quốc gia khác biểu tượng cho sự trở lại đầy nghịch lý của sức mạnh là nước Nga. Đối với Nga, đây là việc thu hồi những quân bài quá yếu trước đây trong thời hoàng kim của phương Tây, và nắm lấy những cơ hội do những yếu kém và sai lầm của đối phương tạo ra, hơn là khẳng định sức mạnh có tính quyết định của họ trên thế giới. Người ta quá biết những điểm yếu của Nga khiến nước này không thể đóng một vai trò trong thế quân bình toàn cầu trong tương lai. Những yếu kém trong nước của Nga: một nền kinh tế không thể thoát khỏi logic trợ cấp (yếu kém về đầu tư và hiện đại hóa); một hệ thống trục trặc buộc phải lợi dụng các biện pháp trừng phạt của phương Tây để khởi động lại các hoạt động sản xuất. Những yếu kém bên ngoài: một môi trường ngoại giao không có những quan hệ đối tác thực sự; một bộ máy quân sự có vẻ hoành tráng như nhiều hạn chế; một nền kinh tế không sánh được với Mỹ, Trung Quốc, châu Âu vốn có khả năng ảnh hưởng thực sự tới tiến trình phát triển hay tái kiến thiết. Nga hiện nay là một cường quốc khu vực, theo tư duy logic toàn cầu – vì duy nhất chỉ có không gian khu vực của nước này là phủ rộng trên 9 múi giờ. Tất nhiên Nga đã giỏi lợi dụng những điểm yếu và những sai sót của phương Tây tại Trung Đông, tuy nhiên, Nga có thể giữ vai trò nào sau này, chẳng hạn để vực dậy các quốc gia?

Những ẩn số ở châu Á và châu Âu

Chúng ta đang chứng kiến một Trung Quốc trong một hình thái hoàn toàn khác: một sự tích lũy các công cụ sức mạnh mà ta vẫn khó xác định mục đích và sự bền vững của chúng. Trung Quốc đã có sự khẳng định rất ấn tượng từ 2 thập kỷ nay: về kinh tế, ngoại giao và cả quân sự – dù rằng Bắc Kinh còn ở cách rất xa sau các cường quốc quân sự lớn trên thế giới, tuy vậy, từ nay quân đội nước này hiện diện ở xa lãnh thổ Trung Quốc, tận rìa châu Phi và Địa Trung Hải. Đặc biệt, kế hoạch khổng lồ mở cửa (và đầu tư) sang phía Tây của Con đường tơ lụa mới đã gây ấn tượng bởi quy mô địa kinh tế và địa chiến lược của nó. Bằng việc thiết kế một con đường giao thương mới, cả trên bộ lẫn trên biển, từ lãnh thổ Trung Quốc tới các cảng của Địa Trung Hải và Bắc Âu, Bắc Kinh khẳng định rõ ràng quyết tâm thoát khỏi tình trạng bị mắc kẹt về chiến lược.

Vì thế, câu hỏi đặt ra không phải về quyết tâm của nước này mà là về tính lâu dài của những công cụ này. Nếu Trung Quốc thực sự triển khai khối lượng tài chính như đã thông báo trong khoảng thời gian ấn định, nước này có thể trở thành một cường quốc thống trị trong một phần có tính quyết định của hệ thống quốc tế (Nga, Trung Đông, Địa Trung Hải, châu Âu) với các điểm tựa lâu đời hơn tại châu Phi. Tuy nhiên, vẫn đầy nỗi băn khoăn: sự gắn kết nội bộ, sự ổn định của chế độ, sự phụ thuộc vào hệ thống thương mại thế giới và những khó khăn của nó, khả năng điều chỉnh hình mẫu tăng trưởng, các vấn đề của ổn định khu vực (quan hệ với Nhật Bản, Đài Loan, vấn đề Triều Tiên, quan hệ với Washington tại Thái Bình Dương). Cần chờ xem Bắc Kinh có sức nặng ra sao trong việc cấu trúc lại hệ thống quốc tế trong thời gian tới.

Ấn Độ đang tích lũy vũ khí, nhưng trong một logic địa chính trị thiên về khu vực hơn là toàn cầu, dù rằng nước này muốn phát triển quan hệ an ninh với Đông Nam Á và củng cố thêm các quan hệ kinh tế với các nước châu Âu. Còn Nhật Bản, vẫn rất phụ thuộc vào lịch sử khu vực và mối quan hệ của họ với Washington: Ít có khả năng rằng sự đầu tư đáng kể – dù kín đáo – của Nhật Bản về quân sự có thể trong ngắn hạn trở thành đối sách hiệu quả ngoài không gian Thái Bình Dương.

Về phần mình, Liên minh châu Âu (EU), bị giằng co giữa một bên là hệ tư tưởng hậu quốc gia, hậu quyền lực và một bên là những đòi hỏi dân tộc hồi sinh, bị suy yếu bởi tình trạng “đa khủng hoảng”, ít có khả năng nhanh chóng vượt qua được vị thế là một tổ chức quyền lực dân sự. Từ đây một câu hỏi kép được đặt ra: Liệu EU có củng cố được sức nặng kinh tế của mình? Liệu các quốc gia lớn trong EU có thể thỏa thuận với nhau để hợp thành nhóm hạt nhân hoặc tiên phong có uy lực về ngoại giao, thậm chí về quân sự, để lôi kéo những quốc gia khác? Câu hỏi kép này vẫn còn để ngỏ.

Một hệ thống đa trung tâm và đa dạng

Trong thực trạng của chính trường quốc tế hiện nay, không một cường quốc nào trong số những cường quốc này có thể tự nhận mình là nhân tố kiến tạo. Như vậy, ý tưởng về sự trở lại của sức mạnh là nghịch lý, khi mà các cường quốc quay trở về với khả năng điều chỉnh đã giảm thiểu. Hơn nữa, những cường quốc mơ tưởng vai trò toàn cầu không thể một mình thực hiện. Khi hệ thống quốc tế càng ít bị chi phối bởi ưu thế của những “nước lớn” thì không gian của các nước hạng trung càng mở rộng trong các khu vực phức tạp. Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Indonesia, Brazil, Nam Phi hoặc Nigeria, khi mà sự ổn định và phát triển của họ mang lại cho họ các phương tiện, sẽ có thể có ảnh hưởng mạnh mẽ – điều chỉnh hoặc làm rối loạn – trong không gian tự nhiên của họ sau này. Sự suy yếu của những logic trung tâm làm tăng giá trị của những nước gây rối, vốn ít bị đe dọa trong các bước tiến của họ, như Hungray, Nga hoặc Iran trong các bối cảnh rất khác nhau.

Một sự chuyển đổi, nhưng hướng tới điều gì?

Bối cảnh quốc tế này, với những động thái liên quốc gia, hành động hỗn loạn của các cường quốc không theo logic tập trung, những sự hợp tác theo từng vụ việc, thậm chí những không gian bị bỏ rơi, tất nhiên chỉ là sự quá độ, nhưng nó mở ra những con đường nào? Câu trả lời phụ thuộc trước tiên vào sức nặng riêng biệt của 3 yếu tố, hoặc giá trị, theo cách thức mà chúng sẽ tương tác hoặc lấn át nhau: Giá trị lưu thông (sự giao thoa của các nền kinh tế và ý chí công dân); giá trị sức mạnh (bị hạn chế do tính chất siêu quyết định của hạt nhân, nhưng có hiệu quả trong những không gian và những mức độ hạn chế như chủ nghĩa khủng bố hay an ninh mạng); và yếu tố hệ tư tưởng: hoạch định những tương lai khả dĩ theo những sơ đồ logic và cụ thể, điều này có thể làm đảo lộn những tương quan sức mạnh thuần túy.

Sự hỗn loạn nghiêm trọng hơn hay sự quản trị tối thiểu

Những kịch bản cực đoan nào cho phép hình dung ra những yếu tố này? Giả thuyết đầu tiên là giả thuyết về một thế giới củ những hỗn loạn nghiêm trọng với vô số những toan tính biệt l65p, đóng cửa: sự tan rã từng mảng của tiến trình toàn cầu hóa thương mại, sự gia tăng kiểm soát của các quốc gia về truyền thông, các xung đột trầm trọng hơn tại các khu vực bị bỏ rơi do tính ích kỷ của các cường quốc… Cũng còn là sự bế tắc của công việc xây dựng các khu vực: khủng hoảng dai dẳng của EU, sự thoái lui của Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), sự lu mờ của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) dưới sức ép của Trung Quốc, sự thất bại của Liên minh kinh tế Á – Âu (EAEU), khủng hoảng của các cuộc đàm phán quốc tế lớn… Sự mất cân bằng về sức mạnh và hơn nữa vấn đề hạt nhân đã khiến cho chính trường quốc tế phụ thuộc vào những logic quyền lực ôn hòa. Như vậy, sự trở lại của bạo lực, về tổng thể được kiểm soát nhưng khó có thể nói rằng sẽ chấm dứt. Ảo ảnh về trật tự do phương Tây điều khiển, một ngày nào đó sẽ không còn.

Một kịch bản khác nêu bật những yếu tố hợp lý. Sự bức bách của thời gian sẽ đưa tới sự hợp lý, với sự kết hợp giữa những sự hợp tác toàn cầu, khu vực và lĩnh vực. Tình trạng vô chính phủ đe dọa các trao đổi truyền thông sẽ thúc đẩy các tác nhân nhà nước và dân sự thỏa hiệp với nhau về một sự quản trị tối thiểu để tránh những mối nguy hiểm lớn hơn; các cấu trúc khu vực được tăng cường theo logic riêng của chúng và sự ổn định của chúng sẽ lan tỏa ra xung quanh; sẽ không có bất cứ hệ tư tưởng nào được áp đặt bằng cách làm đảo lộn không gian của những lý trí chính trị…

Cần phải chờ đợi một thế giới như vậy vì những động thái hiện nay quá mâu thuẫn với nó; tuy nhiên, mơ ước về nó không phải là sự điên rồ. Tại sao không hình dung rằng những người khởi xướng nó có thể xuất hiện từ Lục địa già và từ châu Á? Nói như vậy không phải là phủ nhận siêu cường Mỹ. Tuy nhiên, vì những lý do và với các cách thức khác nhau, Trung Quốc, Nga và Tây Âu cần một thế giới mới nổi lên, không phải là tiền – Mỹ cũng như hậu – Mỹ, mà sẽ là một thế giới không được tổ chức xung quanh những giả định của Mỹ, một thời kỳ không thể lường trước được. Tất nhiên, giấc mơ này giả định rằng Nga hướng tới một chiến lược hòa dịu hơn và phối hợp hơn với các đối tác châu Âu; Bắc Kinh có thể duy trì chiến lược phát triển hợp tác của họ; và EU, với 27 thành viên hoặc sắp xếp lại xung quanh các cường quốc ngoại giao và quân sự, tìm thấy một sự hiệu quả mới.

Nguồn: Viện quan hệ quốc tế Pháp

TLTKĐB – 24/12/2017