Về thế trận ngoại giao của Trung Quốc hiện nay – Phần cuối


Dự kiến bố trí nhân sự ngoại giao thời gian tới

Tờ Minh báo của Hong Kong phân tích, nhìn về độ tuổi, Dương Khiết Trì và Vương Nghị đã lần lượt 67 tuổi và 64 tuổi, chỉ có thể giữ chức một khóa. Bí thư Đảng ủy Bộ Ngoại giao Trương Nghiệp Toại đã gần 65 tuổi, hơn thế đã được bầu là ủy viên chủ nhiệm Ủy ban Ngoại sự Nhân đại toàn quốc. Cho nên, Trương Nghiệp Toại giữ chức ở Bộ Ngoại giao chỉ là quá độ, sẽ rất nhanh rút về tuyến hai. Trong tương lai người có thể kế thừa Dương Khiết Trì và vương Nghị, nhân vật “nóng” đầu tiên chính là đương kim Trưởng Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Tống Đào (Song Tao).

Tống Đào từng làm việc ở trường đại học, cơ quan nghiên cứu khoa học, huyện ủy, doanh nghiệp ngoại thương và từng lưu học tại Australia, hiện được đánh giá là cán bộ có năng lực chuyên môn, trình độ học vấn cao và được rèn luyện qua nhiều cương vị công tác. Năm 2000, Tống Đào được tuyển chọn và sau đó được bổ nhiệm làm Đại sứ Trung Quốc tại Philippines. Sau năm 2008, Tống Đào được đưa lên giữ chức Bí thư Ban Kỷ luật, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Năm 2013, Tống Đào được điều động giữ chức Phó Chủ nhiệm Văn phòng Tiểu Ban Lãnh đạo Trung ương về công tác ngoại sự, năm 2014, được đưa lên cấp bộ trưởng với chức phó Chủ nhiệm thường trực Văn phòng Tiểu Ban Lãnh đạo Trung ương về công tác ngoại sự và năm 2015 được điều động sang Ban Liên lạc đối ngoại trung ương. Tống Đào năm nay 63 tuổi, theo nhu cầu công việc, độ tuổi của các chức vụ cơ quan đảng vụ được mở rộng thích hợp, đến Đại hội XX sẽ là 67 tuổi, có thể được đưa lên giữ chức vụ cao hơn và nhiều khả năng sẽ thay Dương Khiết Trì giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban công tác Ngoại sự Trung ương.

Nhân vật thứ hai là Lạc Ngọc Thành, 54 tuổi. Lạc Ngọc Thành giữ chức vụ cấp thứ trưởng gần 4 năm, đã qua mặt nhiều vị thứ trưởng lão luyện, giữ chức thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao. Sự sắp xếp này của Tập Cận Bình chính là để Lạc Ngọc Thành thay Vương Nghị giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao khóa sau. Hơn thế, tại Đại hội XIX, Lạc Ngọc Thành được bầu là ủy viên Trung ương dự khuyết. Tuy nhiên, vẫn còn một quan chức khác có thể thay thế Vương Nghị. Đó chính là cựu Trợ lý ngoại trưởng đã chuyển chiến tuyến sang hệ thống kiểm tra kỷ luật là Lưu Kiến Siêu (Liu Jianchao). Mới đây, Lưu Kiến Siêu đang giữ chức Bí thư Ban kỷ luật Tỉnh ủy Chiết Giang đã được đưa về Bắc Kinh giữ chức phó Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban Ngoại sự Trung ương, trực tiếp phục vụ lãnh đạo cấp cao. Đây chính là sự sắp xếp của Tập Cận Bình để bồi dưỡng Lưu Kiến Siêu. Giống như Lạc Ngọc Thành, trong tương lai Lưu Kiến Siêu sẽ là nhân vật quan trọng trong hệ thống ngoại giao và cũng là ứng cử viên thay Vương Nghị giữ chức Ngoại trưởng khóa tới.

Ngoại giao – mặt trận thứ hai sau chống tham nhũng của Tập Cận Bình

Trong nhiệm kỳ thứ hai, Tập Cận Bình đặc biệt coi trọng lĩnh vực ngoại giao. Đây có thể là mặt trận thứ hai của Tập Cận Bình sau chiến dịch chống tham nhũng được triển khai ngay từ khi Tập Cận Bình mới lên nắm quyền.

Nguyệt san Ngoại tham bản tiếng Trung phát hành tại Hong Kong, nhận định, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị được đưa lên giữ chức Ủy viên Quốc vụ (chức vụ riêng có của Trung Quốc, trên bộ trưởng dưới Phó thủ tướng) chính là Tập Cận Bình đã khôi phục lại mô hình của Tiền Kỳ Tham 25 năm trước. Điều này không chỉ là nổi bật địa vị của Bộ Ngoại giao trong hệ thống Quốc Vụ viện (Chính phủ), mà còn tạo thành tổ hợp Dương Khiết Trì – Vương Nghị cùng phụ trách lĩnh vực ngoại giao ở hai hệ thống Đảng và Chính phủ. Đây là minh chứng cho thấy Tập Cận Bình bắt đầu coi trọng lĩnh vực ngoại giao trong công tác toàn cục.

Chuyên gia vấn đề Trung Quốc thuộc trường Đại học George Washington, giáo sư David Shambaugh (tên tiếng Trung là Thẩm Đại Vĩ) phân tích, Trung Quốc hiện nay tập trung cho phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa, điều này không chỉ đồng nghĩa với việc phải nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, mà một khẩu ngữ đặc biệt quan trọng là nâng tầm sức ảnh hưởng quốc tế. Bố trí nhân sự và cải cách mở rộng thể chế ngoại giao của Trung Quốc hiện nay cũng là để thích ứng với nhu cầu này. Theo giáo sư David Shambaugh, bằng chứng cụ thể nhất cho thấy Tập Cận Bình bắt đầu coi trọng công tác ngoại giao là trong cải cách Đảng, chính quyền, quân đội, đã thành lập Văn phòng Hợp tác quân sự quốc tế Quân ủy Trung ương. Cải cách cơ cấu Quốc Vụ viện đã thành lập Cục phát triển hợp tác quốc tế, ngoài nghiệp vụ thường nhật, còn đảm nhận viện trợ quân sự và viện trợ tài chính. Đáng chú ý hơn là trong cải cách cơ quan Đảng lần này, Tiểu ban Lãnh đạo Trung ương về công tác đối ngoại đã được nâng cấp thành Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương. Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương phụ trách ngoại giao của Đảng đã thiết lập thêm cơ quan mới là Cục điều phối ngoại sự các đảng.

Tại hệ thống Quốc Vụ viện trong cải cách cơ cấu đợt này cũng đã làm nổi bật vai trò và vị thế của công tác đối ngoại, nhất là công tác ngoại giao kinh tế. Ví như, ngoài Bộ Thương mại phụ trách ngoại thương ra, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, đều thiết lập thêm cơ cấu mở rộng công tác đối ngoại, lần lượt là Vụ Kinh tế quốc tế Bộ Ngoại giao, Vụ Quan hệ kinh tế quốc tế và Vụ Hợp tác tài chính quốc tế Bộ Tài chính. Những cơ quan này phụ trách xử lý công việc của các sân chơi như G20, APEC, BRICS. Theo giáo sư David Shambaugh, trong công tác ngoại giao kinh tế, Phó Thủ tướng Lưu Hạc đóng vai trò mấu chốt, trực tiếp triển khai thực hiện quyết sách liên quan và báo cáo với Tập Cận Bình. Hiển nhiên, phía sau Lưu Lạc còn có Vương Kỳ Sơn, có kinh nghiệm phong phú trong lĩnh vực kinh tế quốc tế hỗ trợ.

Liên quan đến vấn đề này, tờ Minh báo (Hong Kong) cho biết, trong 5 năm cầm quyền tiếp theo, Tập Cận Bình sẽ cùng với Vương Kỳ Sơn coi lĩnh vực ngoại giao là mặt trận thứ hai sau chiến dịch chống tham nhũng. Như vậy, lãnh đạo tối cao của Đảng và Nhà nước là Tập Cận Bình, cùng với lãnh đạo tối cao cảu Quốc Vụ viện (Chính phủ) là Lý Khắc Cường đều trở thành lãnh đạo thượng tầng của Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương. Điều này không chỉ thể hiện Trung Quốc đặc biệt coi trọng ngoại giao chính trị, mà còn chú trọng ngoại giao kinh tế. Hơn thế, Lý Khắc Cường thay vị trí vốn có của Phó Chủ tịch nước giữ chức phó Chủ nhiệm Ủy ban ngoại sự Trung ương chính là Tập Cận Bình muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác ngoại giao và Quốc Vụ viện không thể đứng ngoài cuộc chơi.

Theo Minh báo, bố trí Lý Khắc Cường mà không phải là Vương Kỳ Sơn thay Lý Nguyên Triều, giữ chức phó Chủ nhiệm Ủy ban ngoại sự Trung ương đã phản ánh tư duy của Tập Cận Bình trong lĩnh vực ngoại giao là Trung ương tăng cường thiết kế đỉnh cao đối với công tác ngoại sự. Tờ Thời báo học tập của trường Đảng trung ương mới đây đăng bài viết thừa nhận, so với Tiểu ban Lãnh đạo Trung ương về công tác ngoại sự, chức năng của Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương nhiều hơn, bố trí cơ cấu quy phạm hơn, thành viên tham dự đa nguyên, điều phối thống nhất có hiệu lực hơn, quyền uy quyết sách nghị sự cao hơn. Đây chính là bước đi đáp ứng yêu cầu công tác ngoại giao thời đại mới của Trung Quốc hiện nay, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc tập trung triển khai sáng kiến “Vành đai và Con đường”.

Liên quan đến bố trí nhân sự và cải cách cơ cấu trong hệ thống ngoại giao của Trung ương hiện nay, nguồn thạo tin Trung Quốc cho biết, Vương Kỳ Sơn ngoài chức phó Chủ tịch, còn giữ chức ủy viên Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương. Điều này cho thấy Vương Kỳ Sơn đã thực sự trở thành một trong những người xây dựng các quyết sách quan trọng của nền ngoại giao Trung Quốc hiện nay. Theo đó, Vương Kỳ Sơn có toàn quyền kiểm soát ngành ngoại giao cũng như chịu trách nhiệm về chiến lược ngoại giao trước Tập Cận Bình. Ví dụ điển hình là Ủy viên Quốc vụ, Ngoại trưởng Trung Quốc mới đây thăm Nhật Bản chính là thực hiện theo yêu cầu của Vương Kỳ Sơn, mục đích nhằm cải thiện quan hệ Trung – Nhật.

Theo nguồn thạo tin Trung Quốc, Lý Khắc Cường giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương là sự bố trí khéo léo, hợp lý, đảm bảo bộ máy ngoại giao của Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo luôn kiên cố và ổn định. Thứ nhất, Tập Cận Bình tránh được sự công kích của những người bất đồng chính kiến về việc làm “trống rỗng” quyền lực của Thủ tướng Lý Khắc Cường do Lý Khắc Cường là người của phái “Đoàn Thanh niên”. Thứ hai, ngoại giao là lĩnh vực liên quan đến bên ngoài, thành bại luôn tồn tại rủi ro lớn, Lý Khắc Cường đứng trong tầng quyết sách ngoại giao đồng nghĩa với gánh vác một phần trách nhiệm thất bại trong hoạt động đối ngoại. Thứ ba, Tập Cận Bình muốn đưa thông điệp ngoại giao kinh tế không kém phần quan trọng so với ngoại giao chính trị, là người đứng đầu Quốc Vụ viện, Lý Khắc Cường không thể đứng ngàoi cuộc. Ngoài ra, để tăng cường công tác ngoại sự, Tập Cận Bình sẽ tận dụng mọi nguồn lực trong hệ thống Quốc Vụ viện.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Advertisements

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần IV


Hoa Kỳ cũng có thể hoàn tất những cam kết liên minh của mình bằng cách chuyển giao ưu thế thông tin chứ không cần thiết phải triển khai quân đội. Đặc biệt là cách viện trợ này có thể nới lỏng việc hợp nhất các quốc gia mới gia nhập các liên minh của Hoa Kỳ. Thật vậy, Hoa Kỳ đã nhấn mạnh sẽ cung cấp cho các quốc gia là “đối tác vì Hòa Bình” các hệ thống dựa trên cơ sở tình báo, coi đó là một bước nhằm tiến tới nhất thể hóa hàon toàn. Khác với việc quan hệ với các thành viên của liên minh, viện trợ thông tin có thể được cung cấp theo mức độ khác nhau cho từng nước cụ thể, tùy theo sự sẵn sàng của nước đó tiến tới thiết lập các mối quan hệ chặt chẽ hơn (thí dụ Cộng hòa Czech so với Tajikistan có thể được giúp đỡ tốt hơn). Những dữ liệu thu lượm từ xa (mỗi năm một thêm đáng giá) có thể thay thế công việc tuần tiễu biên giới vốn tốn kém và mạo hiểm. Được trang bị như vậy, các đồng minh có thể không cần phải xâm phạm qua bên kia biên giới mà vẫn có thể bảo vệ biên giới của mình chống lại mọi sự xâm nhập (chẳng hạn như cuộc truy quét năm 1995 của Thổ Nhĩ Kỳ đối với phiến loạn PKK người Kurd và Iraq).

Tương tự như trên, chuyển giao ưu thế thông tin có thể giúp phát triển an ninh khu vực. Các quốc gia cũng chỉ vì nghi kị các nước láng giềng, nên thường chuyển sang tích trữ quân bị, rồi chuyển thành xúc tiến chạy đua vũ trang. Nay nếu mọi nước đều có thể thấy rõ ý đồ của nước láng giềng muốn làm gì (nhờ có “dòng bits” do Hoa Kỳ cung cấp) và nếu mỗi nước cũng hiểu rằng việc tiếp cận với thông tin của Hoa Kỳ sẽ tùy thuộc vào việc quốc gia đó từ bỏ vũ khí tiến công và giữ vững một tư thế tốt, thì mọi việc khích lệ tìm kiếm vũ khí cũng sẽ được giảm đi. Thí dụ tại châu Á, nơi có các nước tuy về mặt chính thức thì liên kết với Hoa Kỳ (Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia) nhưng lại vẫn nhìn nhau với con mắt nghi kị, thì việc viện trợ được tiến hành như trên có thể làm dịu đi các mối lo sợ cũ, đồng thời không gây thêm những mối lo âu mới.

Gìn giữ Hòa Bình có thể là một ứng dụng khác nữa. Hiệp nghị Sinai giữa Israel và Ai Cập được tăng cường bởi các hệ thống cảm ứng của Hoa Kỳ, cho phép mỗi bên theo dõi những cuộc chuyển quân có thể là dấu hiệu về một cuộc tiến công của phía bên kia. Các hệ thống thông tin đến một lúc nào đó trong tương lai sẽ được người ta triển khai trên khu vực cao nguyên Golan, có thể cung cấp các thông tin không những chỉ rõ các cuộc tấn công sắp xảy ra, mà còn cả thông tin phát hiện mục tiên – khiến bất kỳ người xâm phạm khu phi quân sự đều là nguy hiểm. Hai thí dụ về an ninh khu vực và gìn giữ hòa bình trên đây đủ minh họa việc Hoa Kỳ không cần phải cung cấp một “con người cầm một khẩu súng đứng trên mặt đất” mà vẫn có thể có tác động ảnh hưởng đến các vùng xa xôi, vì lợi ích ổn định và hòa bình.

Để phát triển và duy trì một năng lực như thế cần có một số đổi mới về trang bị lực lượng. Trong danh mục khí tài của Hoa Kỳ vốn sẵn có các hệ thống cảm ứng có năng lực nhất (như tuần dương hạm Aegis và máy bay AWACS và JSTARS) như mọi người đều thấy rõ. Năng lực đó cần được phân bổ cho các mục tiêu, làm sao có thêm nhiều đối tượng được cung cấp, bao gồm những đối tượng ít có giá trị. Cần thiết nữa là những kỹ thuật tích hợp “dòng bits” với các hệ thống tác chiến đạn dược và chỉ huy xạ kích của các nước khác và với hệ thống cảm ứng của bản thân các nước đó. Bởi lẽ các đồn gminh ngày mai có thể bao gồm cả những nước thoạt đầu còn có ý nghi ngại (như Kuwait năm 1990) hoặc những nước vốn ở bên ngoài trách nhiệm phòng vệ của Hoa Kỳ (như Hàn Quốc năm 1950), việc tích hợp cần thực hiện sao cho đạt thời gian gần thực.

Nếu chuyển giao ưu thế thông tin trở thành phương thức có ích giúp đỡ được các nước khác, thì nó có thể tác động tương đối trực tiếp đến địa chiến lược. Thí dụ, cho một “dòng bits” phải đi qua không gian, nên việc nhận “dòng bits” ở bất kỳ nơi nào trên thế giới cũng phải chi phí tốn kém như nhau. Vì vậy trên thực tế, người ta không cần thiết phải đến tận nước Mỹ mới nhận được viện trợ.

Tuy nói như thế nhưng nhân tố địa lý vẫn là quan trọng đối với việc thu thập thông tin. Không gian tác chiến càng gần đất bạn, hoặc ít ra gần lãnh hải quốc tế, sẽ càng thuận tiện cho việc sử dụng khí cụ cảm ứng không vận hoặc đặt ở biển xanh. Xây dựng và thử nghiệm các phần mềm mô phỏng nếu không có kiến thức dựa trên quan sát trực tiếp chiến trường, sẽ trở thành một công việc khó khăn. Cũng như người ta từng ghi nhận rằng một biện pháp thuần túy chỉ dựa vào “dòng bits” thường là không thực tế. Công việc chuyển giao khoản mục cùng với việc cử nhân viên liên lạc – đó đúng là những việc có tính liên kết cụ thể. Do vậy khái niệm cho rằng viện trợ có thể được thực hiện, bất chấp địa lý, là lời nói thái quá và mỗi năm qua đi người ta càng ít nói những lời lẽ như thế.

Điều khiển học không gian xúc tiến ổn định như thế nào

Trao ưu thế thông tin cho đồng minh khiến các cường quốc lớn có thể tác động ảnh hưởng đến các sự kiện mà không mấy quan tâm đến địa lý. Và trên thực tế, kể từ năm 1945, Hoa Kỳ đã tỏ rõ năng lực sử dụng lực lượng vũ trang tại những nơi xa xôi nhất và thực hiện việc chỉ huy lực lượng với thời gian thực. Nhưng đạt tới việc chỉ đạo lực lượng của các quốc gia khác với thời gian thực – đó mới thật sự là một chiến tích. Nhưng bản thân việc đó vẫn không làm thay đổi tính toán cơ bản của một quốc gia dân tộc về an ninh quân sự.

Cái có khả năng làm thay đổi những tính toán này – đó chính là năng lực điều khiển học không gian tạo điều kiện để có thêm nhiều vai mới tham dự trò chơi an ninh, bao gồm cả những quốc gia dân tộc kém sung túc cũng như các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xuyên quốc gia, thậm chí cả các cá nhân hữu quan.

Cơ chế cơ bản của nó rất đơn giản: chỉ riêng các quốc gia dân tộc mới có quyền hợp pháp về sử dụng lực lượng vũ trang và chỉ những quốc gia giàu có mới đủ khả năng chi phí cho các hệ thống phức tạp phục vụ việc sử dụng lực lượng. Những thông tin quan trọng nhất – cơ sở của mọi tác chiến quân sự tương lai được toàn cầu hóa một cách nhanh chóng. Mọi việc trở nên minh bạch rõ ràng khiến tiến công là công việc khó khăn hơn so với việc phòng ngự và cũng khiến thách thức đối với hiện trạng là khó khăn hơn so với duy trì nó. Như vậy cũng có nghĩa là thông tin toàn cầu hóa đã bắt đầu chi phối việc sử dụng thuần túy lực lượng quân sự.

Dễ hiểu nguyên nhân vì sao lại như thế, chúng ta hãy xem xét “Mạng thế giới” (World Wide Web), sự vụ Rodney King, cuộc tiến công của Croatia vào Krajina và tàu vũ trụ Clementine là những báo hiệu về các nhân tố tác động ảnh hưởng đến an ninh toàn cầu trong thế kỷ XXI.

a/ Mạng Web giờ đây đã là yếu tố quen thuộc trong đời sống văn hóa đại chúng Mỹ, nó trở thành một khí cụ để bất kỳ ai cũng có thể dùng nó nhắn tin vào vũ trụ. Người ta không cần biết phải chăng nó có thể trở thành thư viện lớn nhất, hoặc là tấm biển quảng cáo lớn nhất của thế giới về lĩnh vực thông tin, nhưng rõ ràng ngày càng có thêm nhiều người nhận thức rằng người ta có thể dễ dàng có được điện tín toàn cầu, đi đôi với sự xuất hiện phần mềm có khả năng dạo quanh khắp nơi để thu lượm những “sợi nhung – điện toán” đủ để may nên một bộ đồ thời trang. Trường hợp một sự thật bất kỳ, nếu có thể trình bày được, thì sẽ có thể đưa được vào mạng. Và một khi sự thật đã có mặt mà bất kỳ ai thấy hứng thú và chăm chú theo dõi thì rốt cuộc cũng đều có thể tìm thấy được.

b/ Sự vụ Rodney King chứng tỏ rõ là người ta có thể dễ dàng biến đổi đời sống đường phố trở thành một khu hành chính, ở đó khắp mọi nơi đều có mặt sự giám sát tư nhân. Trong một thành phố lớn với số dân hàng triệu của châu Á ngày mai phải chăng rồi cũng có cơ may có một sự giám sát tương tự như thế? Sự kết hợp giữa giao thông trên đường phố tấp nập với chi phí gia tăng của mọi người mua các mặt hàng tiêu phí như máy quay camera video và các hệ thống điện thoại số, chứng tỏ người ta chỉ còn trải qua một vài bước nhảy cóc nữa thôi là có thể tiến tới bước tiến vọt từ sự kiện đến hình ảnh, “dòng bits” và điện tín toàn cầu. Đương nhiên hầu hết những gì người ta thu lượn được có thể còn vụt vặt. Nhưng sau khi có đủ số lượng, chọn mẫu một cách rộng rãi, sàng lọc kỹ lưỡng, tổng hợp một cách thông minh, sẽ đủ bảo đảm rằng không một điều có ý nghĩa nào lại không được đưa vào quan sát.

Những gì con người “tài tử” bỏ qua, thì các nhà báo chuyên nghiệp sẽ nắm bắt được. Những ỹ thuật như vệ tinh truyền phát trực tiếp (đi đôi với nén ép mã số để nén tín hiệu nhiều gấp bốn đến mười lần trên mỗi kênh), cộng với cạnh tranh toàn cầu làm sao tranh thủ được nhiều hơn nữa các nhà báo đi tới nhiều vũ đài khác nhau, đều nhằm bảo đảm phổ cập thông tin rộng khắp hơn nữa. Tại một hội nghị mùa hè năm 1995 do Hội đồng chiến lược quốc gia tài trợ nhóm họp ở ngoại ô Chicago, người ta đã rõ được rằng các nhà quân sự Hoa Kỳ thừa nhận sự có mặt phổ biến của báo chí trong các cuộc xung đột ngày mai. Và người ta cũng kết luận không thể có cách gì che mắt báo chí, không cho họ biết các công việc được tiến hành.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Bước đại nhảy vọt lùi của Trung Quốc – Phần đầu


Jonathan Tepperman

Trong suốt hàng thập kỷ, Trung Quốc đã tìm cách tránh khỏi hầu hết các vấn đề mà những chế độ độc tài gặp phải. Giờ đây, cuộc chơi quyền lực cá nhân của Tập Cận Bình có nguy cơ làm suy yếu tất cả những gì từng giúp Trung Quốc trở thành một trường hợp ngoại lệ.

Trong 40 năm qua, Trung Quốc đã tích lũy được một danh sách dài những thành tựu nổi bật của mình. Trong giai đoạn 1978 – 2013, nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ trung bình là 10%/năm, khiến thu nhập trung bình của người trưởng thành tăng gấp 10 lần. Sự tăng trưởng như vậy đã giúp khoảng 800 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo đói; đồng thời, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh của Trung Quốc cũng giảm 85% và tuổi thọ trung bình của nước này tăng thêm 11 năm.

Điều khiến cho tất cả những thành tựu này trở nên nổi bật hơn là việc Chính phủ Trung Quốc đã đạt được chúng trong khi vẫn duy trì nền chính trị đàn áp – điều được cho là rất khó xét theo tiền lệ lịch sử và lý thuyết chính trị. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi học giả về Trung Quốc Orville Schell mô tả bảng thành tích này là “một trong những phép lạ gây sửng sốt nhất về phát triển kinh tế trong lịch sử thế giới”.

Sự phi thường trong những thành tựu của Trung Quốc khiến cho những gì đang diễn ra ở đất nước này hiện nay đặc biệt bi thảm và đáng báo động. Với vỏ bọc chống tham nhũng, Chủ tịch Tập Cận Bình đang xóa bỏ một cách có hệ thống gần như mọi cải cách đã giúp Trung Quốc tăng trưởng ngoạn mục như vậy trong 4 thập kỷ qua. Nhằm thay thế một hệ thống còn thiếu sót nhưng rất thành công, ông đang gây dựng sự sùng bái cá nhân với quy mô rất lớn chỉ xoay quanh mình ông, tập trung trong tay quyền lực nhiều hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào kể từ thời Mao Trạch Đông.

Trong ngắn hạn, những nỗ lực của Tập Cận Bình có thể khiến Trung Quốc dường như bớt tham nhũng và trở nên ổn định hơn. Nhưng bằng việc phá hủy nhiều cơ chế từng khiến phép màu Trung Quốc có thể trở thành hiện thực, Tập Cận Bình có nguy cơ đảo ngược những thành quả đó và biến Trung Quốc thành một nhà nước khác theo “chế độ dùi cui” (hãy nghĩ tới một Triều Tiên phiên bản lớn và cởi mở hơn): yếu kém, thiếu hiệu quả, dễ vỡ và hiếu chiến. Và điều đó không chỉ khiến 1,4 tỷ công dân Trung Quốc mà còn cả những người khác phải lo ngại.

Để hiểu được điều gì khiến cho chiến dịch xây dựng đế chế cá nhân của Tập Cận Bình trở nên nguy hiểm đến thế, trước hết nên hiểu điều gì đã khiến cho Trung Quốc trở thành một trường hợp ngoại lệ trong thời gian dài đến vậy. Trong suốt lịch sử hiện đại, hầu hết các nhà độc tài và các nước độc đảng đều có chung một vài đặc điểm cơ bản. Quyền lực do một số rất nhỏ các cá nhân nắm giữ. Để duy trì quyền lực của mình, những cá nhân này đàn áp sự bất đồng quan điểm và cai trị bằng sự đe dọa. Vì cả quan chức lẫn người dân đều sống trong sợ hãi, nên họ cạnh tranh lẫn nhau để tâng bốc ông chủ của mình. Không ai nói ra sự thật, đặc biệt khi điều đó có thể làm xấu đi hình ảnh của họ hoặc các nhà lãnh đạo của họ. Kết quả là những bạo chúa ẩn dật – cái tôi của họ được những lời khen ngợi xum xoe không ngớt thổi phồng – nhận thấy mình ngày càng rời xa thực tế và phần còn lại của thế giới (hãy nghĩ tới Kim Jong-un, Bashar al-Assad hay Robert Mugabe) và cuối cùng cai trị bằng ý nghĩ nhất thời và bản năng, mà hầu như không có chút cảm giác nào về những gì đang thực sự diễn ra ở đất nước họ. Sự thiếu hiểu biết này có tác động tai hại đối với chính sách đối nội và đối ngoại.

Trong khoảng 35 năm – từ khi Mao Trạch Đông qua đời và Đặng Tiểu Bình phát động các cải cách của mình vào cuối những năm 1970 cho tới khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012 – Trung Quốc đã tránh khỏi rất nhiều cạm bẫy trong số này và thách thức quy luật về tính trung bình trong chính trị bằng cách xây dựng cái mà các học giả gọi là chế độ “chuyên quyền thích ứng”. Trong khi vẫn đi theo chủ nghĩa cộng sản trên danh nghĩa, quốc gia này đã đón nhận chủ nghĩa tư bản thị trường dưới nhiều hình thức và một số cải cách tự do hóa khác. Đương nhiên, hệ thống cũ vẫn rất hà khắc (hãy nhớ đến quảng trường Thiên An Môn) và còn lâu mới đạt đến sự hoàn hảo trên nhiều phương diện khác. Tuy nhiên, nó quả thực đã cho phép Chính phủ Trung Quốc hoạt động hiệu quả khác thường và tránh khỏi nhiều biểu hiện lệch lạc thường thấy ở các chế độ chuyên chế. Chẳng hạn, quyền kiểm duyệt chưa bao giờ biến mất, nhưng các đảng viên có thể không đồng tình và tranh luận về các ý tưởng, và những báo cáo nội bộ có thể thẳng thắn đến mức đáng ngạc nhiên.

Điều đó giờ đây không còn nữa. Ngày nay, Tập Cận Bình đang làm suy yếu một cách có hệ thống hầu hết những đặc tính từng khiến Trung Quốc trở nên khác biệt và từng giúp nước này vận hành tốt đến như vậy trong quá khứ. Những nỗ lực của ông có thể thúc đẩy quyền lực và uy tín của chính ông trong ngắn hạn và giảm bớt tình trạng tham nhũng dưới một số hình thức. Tuy nhiên, nhìn chung, chiến dịch của Tập Cận Bình sẽ gây ra những hậu quả tai hại về lâu dài đối với đất nước của ông và với thế giới.

Có lẽ đặc tính khác thường nhất của hệ thống do Đặng Tiểu Bình tạo dựng là cách nó phân bổ quyền lực giữa các nhà lãnh đạo khác nhau. Thay vì để cho một người thực thi quyền lực tối cao giống như hầu hết các chế độ độc tài, Đặng Tiểu Bình phân chia quyền lực cho Tổng bí thư Đảng Cộng sản (người đồng thời giữ chức Chủ tịch nước), Thủ tướng và Bộ Chính trị.

Đặng Tiểu Bình hy vọng hệ thống này sẽ bảo đảm rằng không một cá nhân nào có thể một lần nữa thực thi quyền kiểm soát theo kiểu Mao Trạch Đông – vì quyền lực không được kiểm soát của ông đã dẫn tới những sự lạm dụng và những sai lầm lớn, chẳng hạn như Đại nhảy vọt (ước tính đã có 45 triệu người thiệt mạng trong giai đoạn này) và Cách mạng Văn hóa (trong giai đoạn này, chính Đặng Tiểu Bình cũng bị thanh trừng và con trai ông bị tra tấn nặng nề dẫn tới tàn tật). Theo cách lý giải của Bùi Mẫn Hân, một chuyên gia về Trung Quốc thuộc Đại học Claremont McKenna, mô hình lãnh đạo tập thể mà Đặng Tiểu Bình đã thiết kế giúp loại bỏ những ý tưởng tồi tệ và thúc đẩy những ý tưởng tốt bằng cách nhấn mạnh sự suy tính thận trọng và ngăn chặn sự mạo hiểm.

Từ khi nắm quyền vào năm 2012, Tập Cận Bình đã có những hành động nhằm dỡ bỏ hệ thống lãnh đạo tập thể của Trung Quốc theo nhiều cách. Thứ nhất, trên danh nghĩa chống tham nhũng – một mục tiêu quan trọng mà Trung Quốc rất cần theo đuổi – ông đã thanh trừng với số lượng lớn các quan chức mà tội ác thực sự của họ, theo quan điểm của Tập Cận Bình, là không thể hiện đầy đủ sự trung thành đối với nhà lãnh đạo tối cao. Mạnh Hoành Vĩ, người đứng đầu Interpol bị Trung Quốc đột ngột bắt giữ gần đây, chỉ là trường hợp đáng chú ý diễn ra gần đây nhất: câu chuyện của ông hầu như chẳng có gì khác thường.

Trong 6 năm qua, đã có 1,34 triệu quan chức – một con số đáng kinh ngạc – trở thành mục tiêu của chiến dịch này, và hơn 170 lãnh đạo cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng đã bị cách chức (và phần lớn bị cầm tù). Cảnh ngộ của Mạnh Hoành Vĩ, giống như tình cảnh của Bạc Hy Lai – bí thư thành ủy Trùng Khánh đầy quyền lực bị hạ bệ vào năm 2012 – cho thấy cuộc thanh trừng của Tập Cận Bình không chừa một ai. Quả thật, số lượng ủy viên Ban chấp hành Trung ương đầy quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc bị xử lý kỷ luật từ năm 2012 đến nay còn nhiều hơn trong toàn bộ giai đoạn tính từ đó trở về Cách mạng Cộng sản.

Không hài lòng với việc chỉ loại bỏ mọi sự cạnh tranh, Tập Cận Bình còn củng cố quyền lực của mình bằng việc loại bỏ giới hạn về nhiệm kỳ đối với chức vụ của ông và từ chối chỉ định người kế nhiệm như những người tiền nhiệm đã làm vào giữa nhiệm kỳ của họ. Ông cũng đã đưa “Tư tưởng Tập Cận Bình” vào Hiến pháp Trung Quốc (một vinh dự mà ngoài ông ra chỉ có Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình có được); nắm quyền kiểm soát trực tiếp các lực lượng vũ trang; và biến mình thành “chủ tịch của mọi thứ” bằng cách thành lập nhiều nhóm công tác về các chính sách từ tài chính, vấn đề Đài Loan cho tới an ninh mạng – tất cả đều chịu trách nhiệm trực tiếp trước ông.

Đặc tính quan trọng thứ hai của hệ thống cũ là các quan chức ở mọi cấp đều có thể trông đợi được tưởng thưởng nếu đạt thành tích tốt. Đây không hẳn là chế độ nhân tài, và trong hệ thống này vẫn tồn tại tình trạng tham nhũng và bảo trợ ở mức độ khá lớn. Nhưng cả hai đặc tính này thực sự phục vụ cho điều tốt đẹp chung theo một cách chính: Nếu một quan chức đạt thành tích tốt, thì người đó có thể trông đợi nhận được một phần tiền thu được và được đề bạt đều đặn. Trái lại, Tập Cận Bình đã “thay thế hệ thống dựa trên sự khích lệ này bằng hệ thống dựa trên sự sợ hãi, theo cách nói của Bùi Mẫn Hân. Và sự thay đổi này có 2 vấn đề lớn. Thứ nhất, nó bóp méo ưu tiên của các quan chức, từ việc cho thấy thành quả sang việc thể hiện lòng trung thành. Vấn đề thứ hai, theo Alexander Gabuev, một chuyên gia về Trung Quốc thuộc Trung tâm Carnegie Moskva, là “khi chẳng còn gì khác ngoài nỗi sợ hãi, các quan chức sẽ hoảng sợ đến mức không làm bất kỳ việc gì nếu không có chỉ thị rõ ràng từ cấp trên. Vậy là cả bộ máy quan liêu trở nên bị động. Họ chẳng làm được bất ỳ việc gì”.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://foreignpolicy.com/2018/10/15/chinas-great-leap-backward-xi-jinping/

TLTKĐB – 24/10/2018

Về thế trận ngoại giao của Trung Quốc hiện nay – Phần đầu


Sau Đại hội XIX (tháng 10/2017) và nhất là sau kỳ họp “Lưỡng hội” (tháng 3/2018), dựa vào bố trí nhân sự và cải cách cơ quan Đảng và Nhà nước, Tập Cận Bình đã hình thành thế trận ngoại giao hoàn toàn mới. Trong đó, không chỉ bộc lộ phương hướng chiến lược ngoại giao của Trung Quốc, mà còn cho thấy Tập Cận Bình bắt đầu tập trung cho lĩnh vực ngoại giao, coi ngoại giao là “mặt trận thứ hai” của Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn sau chiến dịch chống tham nhũng.

Thế trận tổng thể ngoại giao của Trung Quốc hiện nay

Dư luận và truyền thông Hong Kong cho rằng, điểm nổi bật trong thế trận ngoại giao của Trung Quốc hiện nay là thể hiện sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng trong công tác ngoại giao, đồng thời xác lập thể chế Đảng quản ngoại giao, còn Chính phủ, Nhân đại (Quốc hội) chỉ là cơ quan phối hợp chấp hành.

Từ góc độ cơ chế và tổ chức, tờ Đông phương, nhật báo có quan điểm trung lập của Hong Kong, phân tích: Tiểu ban Lãnh đạo Trung ương về công tác đối ngoại thay đổi thành Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương, bản chất là trở thành cơ cấu tầng cao thống lĩnh công tác ngoại giao. Văn phòng Ủy ban Ngoại sự Trung ương trở thành khu vận hành trung ương, đứng trên chỉ đạo các đơn vị liên quan đến ngoại giao như Bộ Ngoại giao, Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương, Hiệp hội hữu nghị đối ngoại, Nhà sử học, chuyên gia về vấn đề chính trị Trung Quốc, Chương Lập Phàm nêu rõ, từ Tiểu ban lãnh đạo Trung ương về công tác bảo vệ quyền lợi biển đã không còn là cơ quan riêng rẽ, mà sáp nhập với Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương, mọi chức trách liên quan của Tiểu ban này do Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương và văn phòng ủy ban này đảm nhận. Trong Văn phòng Ủy ban ngoại sự Trung ương thiết lập văn phòng công tác bảo vệ quyền lợi biển. Đây là bước đi của Trung ương Đảng nhằm tập trung thống nhất hơn nữa tài nguyên và nguồn lực ngoại giao, đồng thời mở rộng quyền lực của Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương. Theo đó, mọi công tác liên quan bảo vệ quyền lợi biển đều do Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương thống nhất vạch kế hoạch và đưa ra bố trí tổng thể, các cơ quan liên quan trong hệ thống Quốc Vụ viện và Nhân đại chịu trách nhiệm thực thi.

Từ góc độ bố trí nhân sự, nguyệt san Minh kính, có trụ sở tại New York (Mỹ), bản tiếng Trung phát hành tại Hong Kong, dẫn lời chuyên gia về vấn đề chính trị Trung Quốc sống ở Mỹ, Hà Tần phân tích, trong 5 năm qua, thể chế lãnh đạo ngoại giao của Trung Quốc là 2 cấp. Tức phía dưới lãnh đạo tối cao Tập Cận Bình là ủy viên Quốc vụ phụ trách ngoại giao Dương Khiết Trì. Khi đó, Dương Khiết Trì cùng với Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Lật Chiến Thư và Chủ nhiệm Phòng nghiên cứu chính sách Trung ương Vương Hộ Ninh tạo thành “cỗ xe tam mã” hộ tống lãnh đạo tối cao Tập Cận Bình trong các trường hợp ngoại giao quốc tế. Tuy nhiên, từ sau Đại hội XIX đến tháng 3/2018, cục diện này đã có sự thay đổi lớn, Dương Khiết Trì được đưa vào Bộ Chính trị, trở thành quan chức ngoại giao đầu tiên vào Bộ Chính trị trong 15 năm qua. Ngoại trưởng Vương Nghị kế nhiệm chức Ủy viên Quốc vụ, Vương Kỳ Sơn là Phó Chủ tịch nước, hỗ trợ lãnh đạo tối cao xử lý công việc ngoại giao. Vì thế, thế trận ngoại giao hình thành cơ chế 4 cấp Tập – Vương – Dương – Vương (Tập Cận Bình – Vương Kỳ Sơn – Dương Khiết Trì – Vương Nghị). Như vậy, là trong các trường hợp ngoại giao lớn như lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un thăm Trung Quốc, chính là 4 cấp cùng tham gia.

Theo chuyên gia Hà Tần, điểm đáng chú ý là Dương Khiết Trì, với vị thế ủy viên Bộ Chính trị giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương, chứng tỏ Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương chính thức trở thành tầng quyết sách ngoại giao tối cao của Trung Quốc. Còn Vương Nghị sau khi được đưa lên chức Ủy viên Quốc vụ, kết cấu 2 thủ trưởng, tức “thể chế nhị nguyên” gồm Bộ trưởng Ngoại giao và Bí thư Đảng ủy Bộ Ngoại giao riêng rẽ, cùng ngang hàng đến nay đã bị phá vỡ. Bộ trưởng do lãnh đạo cấp nhà nước (Ủy viên Quốc vụ) kiêm nhiệm, tự nhiên cao hơn Bí thư Đảng ủy. Thế nhưng, để cân bằng quyền lực này, Tập Cận Bình đã nhanh chóng điều động Phó Chủ nhiệm văn phòng Ủy ban Ngoại sự Trung ương, Lạc Ngọc Thành giữ chức thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao. Như vậy, Lạc Ngọc Thành cùng với Bí thư Đảng ủy Bộ Ngoại giao Trương Nghiệp Toại đều là quan chức cấp hàm bộ trưởng. Sự bố trí nhân sự này đã hình thành thể chế mới “một chính” là Vương Nghị và “hai phụ” là Trương Nghiệp Toại và Lạc Ngọc Thành của Bộ Ngoại giao Trung Quốc hiện nay.

Tuy nhiên, chuyên gia Hà Tần cho rằng, phía sau bố cục này vẫn còn một vai trò quan trọng hơn, đó chính là Phó Chủ tịch Vương Kỳ Sơn. Có thể khẳng định, Vương Kỳ Sơn được giao phụ trách lĩnh vực ngoại giao và nội chính, trong đó ngoại giao là chủ yếu. Theo uy tín công tác, địa vị chính trị, ảnh hưởng quốc tế, Vương Kỳ Sơn là khâu quyết sách mấu chốt ở tầng quyết sách, Dương Khiết Trì và Vương Nghị ở vị trí bổ trợ quan trọng và tầng nấc thực thi. Như vậy, bố trí thế trận ngoại giao của Trung Quốc hiện nay là rất rõ ràng: Tập Cận Bình là lãnh đạo tối cao đưa ra chủ trương, sự chỉ đạo thống nhất và đưa ra quyết sách cuối cùng. Vương Kỳ Sơn là cố vấn cấp cao, cùng Tập Cận Bình đưa ra quyết sách ngoại giao cụ thể. Dương Khiết Trì tổ chức thực hiện các quyết sách ngoại giao của Tập Cận Bình. Vương Nghị có vai trò chấp hành và triển khai từng nhiệm vụ ngoại giao cụ thể.

Tờ Minh báo, nhật báo có quan điểm trung lập của Hong Kong, cho rằng, theo bố trí nhân sự ngoại giao hiện nay, Tập Cận Bình đứng trên thống lĩnh toàn cục, Vương Kỳ Sơn có kinh nghiệm trong xử lý quan hệ với Mỹ tham gia quyết sách, Dương Khiết Trì từng là Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ tổ chức thực hiện, Vương Nghị từng là Đại sứ Trung Quốc tại Nhật triển khai nhiệm vụ cụ thể, còn Lạc Ngọc Thành xuất thân với chuyên môn là tiếng Nga, trong mấy chục năm công tác đều liên quan đến xử lý công việc trong quan hệ Trung – Nga đã phản ánh phươong hướng chiến lược ngoại giao của Trung Quốc trong những năm tới. Đó chính là ưu tiên xử lý quan hệ với Mỹ, tập trung giải quyết quan hệ với Nhật Bản và duy trì củng cố quan hệ với Nga, hình thành thế trận ngoại giao “cận giao viễn công”.

(còn tiếp) 

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần III


Một đối thủ tiềm tàng làm thế nào có thể chống lại một hệ thống các hệ thống như thế? Hiển nhiên nó cần phải kiềm chân các lực lượng can thiệp ở cách xa chiến trường, xa chừng nào tốt chừng nấy. Sử dụng vũ khí giết người hàng loạt cũng có thể là một biện pháp, và cách sử dụng tốt nhất là không nhằm đe dọa quân can thiệp mà nhằm vào các quốc gia chủ nhà có thể sẽ chứa chấp quân can thiệp. Nhưng dù sao đi nữa, ở vào kỷ nguyên phổ cập kỹ thuật thông tin và phát triển mạnh mẽ các thị trường vũ khí, thì một đối tượng cạnh tranh tuy không có những vũ khí như thế (cũng như mối nguy hiểm do các loại vũ khí đó gây nên) vẫn có khả năng kiềm chế không cho Hòa Kỳ tiếp cận. Bởi vì người ta có thể tổ hợp một hệ thống các hệ thống với giá thành tương đối thấp và không tốn mấy công sức bằng cách sử dụng kỹ thuật của nước (hoặc các bên) thứ ba về ảnh vệ tinh, khí cụ hàng không không người lái, máy ảnh số, hệ thống liên lạc tế bào và kỹ thuật ảnh địa   hình chi tiết trên CD-ROM. Dựa vào những phương tiện đó, các nước chưa phải là giàu có vẫn có thể phát hiện, trông thấy được tài sản của Mỹ và do đó uy hiếp số tài sản đó ở ngay bên trong hoặc ở gần các chiến trường xung đột.

Buộc Hoa Kỳ phải hoạt động ở ngoài xa không đến nỗi làm cho tài sản của đối phương khó bị phát hiện, song nó tăng thêm tầm xa cần thiết và do vậy tăng giá chi phí đánh phá những tài sản đó – vấn đề chính là ở đó. Chống lại một kẻ địch đã phân bố thành công lực lượng quân sự của nó trong nhiều đơn vị, thì một đòn đánh từ cự ly xa là tốn kém, buộc phải tốn phí những tên lửa hành trình trị giá hàng triệu USD để tiến công một quân đội bao gồm những “kỹ thuật” quân sự (những xe tải nhẹ với vũ khí tự động). Có như thế mới đủ làm kiệt quệ một cuộc can thiệp.

Như vậy Colin đúng hay sai khi ông nói: yếu tố quyết định cuối cùng trong chiến tranh là “con người cầm súng” trên chiến trường? Câu trả lời là đúng và cũng không đúng. Đối với Hoa Kỳ, người ta có thể nói rằng trong bối cảnh thường quy của tương lai, Hoa Kỳ có thể giải giáp vũ khí hạng nặng của đối phương. Nhờ vậy, các đồng minh sở tại của Hoa Kỳ lúc ấy vẫn tiếp tục duy trì được lực lượng hạng nặng của mình, dựa vào đó sẽ có thể chi phối chiến trường, mặc dù lúc đầu họ ở vào thế yếu. Còn trong trường hợp thay vào một sự lựa chọn khác, cả hai đều không có lực lượng hạng nặng, thì vẫn cái kiến trúc đã tạo nên “dòng bits” thắp sáng chiến trường, lại được sử dụng để giúp các đồng minh. Thực hiện được như vậy, đối với Hoa Kỳ, có nghĩa là vai trò của vũ lực và địa lý càng thêm được biến đổi.

Trang bị thông tin cho đồng minh

Trong thế kỷ này Hoa Kỳ đã năm lần tiến hành các cuộc chiến tranh lớn ở ngoài nước, nhằm bảo vệ một hoặc nhiều nước đồng minh: Pháp và Anh trong chiến tranh thế giới I, Anh trong chiến tranh thế giới II và sau đó là Triều Tiên, Nam Việt Nam và Saudi Arabia. Một cách dàn xếp như thế trong điều kiện vắng mặt một đối thủ cạnh tranh tương xứng, thậm chí vẫn là một đặc điểm trong 20 năm sắp đến. Và mục đích chính hàng đầu của cuộc chiến tranh can thiệp bằng quân sự của Hoa Kỳ, sẽ nhằm che chở, bảo vệ các quốc gia khác. Khi cuộc chiến đấu kết thúc thì an ninh tương đối của các đồng minh của Hoa Kỳ sẽ là điều kiện quyết định các mục tiêu trước mắt của cuộc can thiệp.

Thông tin có thể giúp cho một cuộc can thiệp như thế được thực hiện một cách dễ dàng hơn và làm giảm đi các trở ngại về mặt địa lý vốn tồn tại rất lớn đối với những hoạt động viện trợ thông thường. Nếu cuộc chiến đấu diễn biến trở thành cuộc “trốn-và-tìm” và cùng lúc các hệ thống săn tìm có thể tách rời các lực lượng mà chúng phục vụ, thì Hoa Kỳ có thể thực hiện công việc viện trợ không những đầy đủ như bây giờ họ vẫn đang làm về trợ giúp vũ khí và nhân viên thường quy, mà sự giúp đỡ sẽ được thực hiện thường xuyên hơn, thời gian kéo dài hơn và bằng viện trợ gián tiếp chứ không phải là trực tiếp. Bằng cách cung cấp ưu thế thông tin cho đồng minh, Hoa Kỳ có thể không bộc lộ mình mà vẫn nhân gấp bội sức mạnh của đồng minh trên một số mặt tăng gấp 10, hoặc gấp 100 lần. Hoa Kỳ sẽ thực hiện như vậy bằng cách gửi cho đồng minh của mình những “dòng bits”: chủ yếu là thông tin thời gian thực về không gian tác chiến, gồm cả hồ sơ bối cảnh (thí dụ như tư liệu bản đồ) và phần mềm tích hợp, mô phỏng và bảo trì các hệ thống. Người ta cho rằng để sử dụng được những viện trợ đó, trường hợp tốt nhất đó sẽ là một đồng minh có vũ khí chính xác, yêu cầu định vị mục tiêu được đưa vào chương trình vi tính. Tuy nhiên, nếu là trường hợp đồng minh có trang bị kém hơn, thì họ vẫn có được cái lợi lớn là nắm bắt được xác thực tài sản của đối phương trong thời gian thực.

Xét trên một số mặt thì việc chuyển giao ưu thế thông tin là một biến thể của việc cung cấp vũ khí truyền thống. Nhưng so với tiếp tế vũ hí thì cung cấp “dòng bits” không để lại dấu tay như vũ khí. Hai là “dòng bits” nhân lực lượng lên gấp bội, còn vũ khí chỉ cộng thêm vào. Ba là “dòng bits” dễ dàng được chuyển giao và cũng dễ dàng được cắt bỏ (nào có ai dám chắc rằng tên lửa Stinger tiếp tế cho quân phiến loạn Afghanistan cuối cùng không rơi vào tay bọn khủng bố). Bốn là một khi “dòng bits” được sinh ra, thì một bản sao thứ hai sẽ rẻ tiền hơn, còn chiếc xe tank gửi ra nước ngoài cũng là chiếc xe tank mà không bao giờ người ta còn có nữa. Và sau hết, cung cấp cho đồng minh một hình ảnh được rọi sáng về không gian tác chiến so với sự tiếp tế về vật chất, thì chúng ta đạt được hiệu quả lớn hơn trong việc làm cho họ hiểu cách nhìn nhận của chúng ta đối với cuộc xung đột. Vả chăng trong thực tế không phải Hoa Kỳ chỉ giúp đồng minh có được các “dòng bits” chứ không giúp sức người và vật chất. Bởi vì ngay cả các đồng minh có vũ khí tinh vi, họ vẫn cần đến những đầu đạn PGM (khí tài điều khiển chính xác) thông minh và các bộ cảm ứng mặt đất. Sĩ quan liên lạc và tác chiến đặc biệt sẽ phải giúp các đồng minh về phần tích hợp ấy.

Cũng nên ghi nhận thêm một kiểu thị trường nữa tương tự thị trường vũ khí: tuy Hoa Kỳ có thể sẽ là nước đầu tiên có khả năng cung cấp viện trợ thật sự mà không bộc lộ mình trên thực tế, song phần lớn những thứ có thể tạo nên ưu thế về thông tin đều xuất xứ từ thị trường thương mại, rất ít thứ chịu sự kiểm soát chặt chẽ về công nghệ. Những năng lực này vì vậy cũng nằm trong tầm tay của nhiều cường quốc lớn tiềm tàng khác.

Để minh họa thêm về khả năng ứng dụng ưu thế thông tin được chuyển giao, ta hãy nhìn qua “Chiến dịch chiến sĩ cảnh giác”. Tháng 10/1994, Hoa Kỳ đã tiến hành cuộc tập trận công khai cùng với Kuwait, nhằm phản ứng đối với Iraq dường như chuyển quân về phía Nam. Cuộc tập trận này biểu thị khả năng của Hoa Kỳ sẵn sàn ngăn chặn một cuộc xâm lược có thể có. Cuộc tập trận tốn phí tới 1 tỷ USD (chống lại một việc mới chỉ là giả thiết của phía Iraq với chi phí ít tốn kém hơn nhiều). Và bây giờ ta lại xem thử cũng với 1 tỷ USD được dùng theo cách khác. Kuwait sẽ mua vài nghìn tên lửa chống thiết giáp và đem chôn rải rác trong hầm với số lượng nhiều hơn gấp 10 lần số tên lửa. Nếu thiết giáp vượt qua biên giới, các ký hiệu mục tiêu bổ sung ứng với thời gian thực do một hệ thống các hệ thống của Hoa Kỳ thực hiện, sẽ thay thế các ký hiệu mục tiêu giả trong những tên lửa đó, nhờ vậy một phần lớn lực lượng tiến công có thể bị phá hủy và bị loại bỏ khỏi vòng chiến. Việc chống thiết giáp trên đây có lẽ là thí dụ thích hợp nhất biểu hiện năng lực này, nhưng tư tưởng cơ bản của nó còn có thể được ứng dụng bằng cách sử dụng kỹ thuật để chống lại một cuộc uy hiếp đến từ trên không, hoặc chống lại các hoạt động lật đổ có thể được tiến hành một cách bí mật hơn tại các khu vực đồi núi. Với cách làm gửi “dòng bits” cho các lực lượng phòng ngự được chuẩn bị chu đáo, Hoa Kỳ sẽ không phải mạo hiểm đưa lực lượng vào mà vẫn đạt được mục đích đề ra và còn có thể hành động tự do hơn nhiều. Chưa kể như vậy Hoa Kỳ còn mở rộng hơn không gian hữu ích giữa tiếp xúc với quan sát thụ động.

Vũ trang thông tin cho đồng minh còn có những ứng dụng khác nữa. Chẳng hạn Hoa Kỳ muốn ủng hộ một phía trong cuộc xung đột không rõ rệt – như những người Hồi giáo Bosnia – mà không cần mạo hiểm đưa quân vào, hoặc không khiến các cường quốc khác phải can thiệp. Trong trường hợp này cung cấp “dòng bits” một cách bí mật có thể nhân hiệu quả tác chiến và vũ khí của phía được Hoa Kỳ giúp đỡ. Dù cho các cường quốc lớn thân hữu với phía bên kia trong cuộc xung đột có thể nghi Hoa Kỳ đang thực hiện sự viện trợ đó, song do tính chất của viện trợ là bí mật nên nó cũng ít gây phản ứng so với phản ứng do một sự viện trợ công khai gây ra.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Lý do Việt Nam hủy bỏ các cam kết quốc phòng với Mỹ


Ngày 11/12, Viện Yusof Ishak thuộc ISEAS (Singapore) đăng bài viết của Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp đánh giá về những động thái liên quan đến việc Việt Nam chủ động giảm dần hợp tác quốc phòng với Mỹ trong thời gian gần đây.

Theo bài viết, vào giữa tháng 10/2018, Giáo sư Carl A. Thayer, chuyên gia về Việt Nam thuộc Đại học New South Wales (Học viện Quốc phòng Australia), cho biết Việt Nam đã lặng lẽ hủy bỏ 15 hoạt động quốc phòng với Mỹ, dự kiến diễn ra vào năm 2019, liên quan đến các cuộc trao đổi song phương giữa các lực lượng hải, lục và không quân. Với việc tái lập quan hệ hợp tác chiến lược mạnh mẽ giữa 2 nước trong những năm gần đây, bất chấp sự không chắc chắn do Chính quyền Tổng thống Donald Trump tạo ra, quyết định của Việt Nam đã đặt ra câu hỏi: Điều gì giải thích cho sự thay đổi đột ngột này trong thái độ của Việt Nam?

Quyết định này có thể liên quan đến những nỗ lực của Mỹ vận động Việt Nam mua trang thiết bị quân sự của nước này với chi phí ngang với Nga. Việt Nam có thể đã xem động thái này là một sự can thiệp vào công việc nội bộ của mình. Điều này là hoàn toàn có thể xảy ra với thực tế là Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật trừng phạt các đối thủ của Mỹ (CAATSA) để trừng phạt các quốc gia mua sắm vũ khí và thiết bị quân sự từ Nga. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã tìm kiếm sự miễn trừ từ Quốc hội Mỹ cho Việt Nam, quốc gia với 90% vũ khí và thiết bị quân sự có nguồn gốc từ Nga, nhưng không có quyết định cuối cùng nào được đưa ra. Do đó, Việt Nam có thể đã hủy bỏ các cam kết quốc phòng với Mỹ như một chiến thuật thương lượng để đảm bảo rằng Washington sẽ đưa ra sự miễn trừ cho nước này.

Đồng thời, quyết định này cũng có thể là một trong những phản ứng của Hà Nội đối với cuộc cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng giữa Mỹ và Trung Quốc. Khi cuộc đối đầu giữa hai gã khổng lồ này trở nên rõ ràng hơn, Hà Nội có thể thấy ngày càng khó khăn hơn trong việc củng cố mối quan hệ phòng thủ chặt chẽ hơn với một cường quốc mà không làm mếch lòng nước kia. Đối mặt với rủi ro này, Hà Nội có thể đã lựa chọn duy trì một mức độ thấp trong hợp tác chiến lược với Mỹ, ít nhất là tạm thời, để không kích động Bắc Kinh.

Cuối cùng, tình hình lắng dịu hơn ở Biển Đông trong những tháng gần đây và các thỏa thuận ngạoi giao của Bắc Kinh, như mục tiêu đã tuyên bố công khai là đạt được thỏa thuận với các nước ASEAN về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trong vòng 3 năm tới, có thể là một yếu tố khuyến khích Hà Nội làm chậm lại mối quan hệ chiến lược với Mỹ. Cuối cùng, Hà Nội sẽ không từ bỏ chính sách truyền thống là duy trì sự cân bằng giữa Bắc Kinh và Washington, miễn là lợi ích quốc gia của Việt Nam ở Biển Đông được bảo vệ tốt. Hiện vẫn phải chờ xem quyết định của Hà Nội sẽ ảnh hưởng như thế nào đến triển vọng hợp tác chiến lược Việt – Mỹ. Việc Việt Nam sẽ đảo ngược quyết định của mình và tiếp tục đẩy mạnh quan hệ với Mỹ hay không sẽ phụ thuộc vào chính các yếu tố có thể làm chậm lại tiến trình này: a) liệu Mỹ có miễn trừ CAATSA cho Việt Nam hay không; b) định hướng tương lai của cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung và c) liệu Trung Quốc có có những động thái quyết đoán mới ở Biển Đông hay không.

Trong khi vấn đề đầu tiên là một câu hỏi ngắn hạn có thể được trả lời sớm, thì có nhiều sự không chắc chắn hơn về hai câu hỏi còn lại. Trong trường hợp Washington đồng ý miễn trừ cho Hà Nội khỏi các lệnh trừng phạt của CAATSA nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục hủy bỏ hoặc trì hoãn các cam kết quân sự có ý nghĩa với Mỹ, chúng ta có thể giả thiết rằng nỗi e sợ của Hà Nội trong việc đối nghịch với Bắc Kinh là lý do chính khiến họ không muốn tăng cường hợp tác quốc phòng với Washington. Trong trường hợp đó, do sự đối địch chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc rất có thể sẽ tiếp diễn trong tương lai, các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông có thể trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định quỹ đạo tương lai của quan hệ chiến lược Việt – Mỹ.

Nguồn: TKNB – 13/12/2018

Mục tiêu cuối cùng của Donald Trump


Nhiều người trong giới quan chức và trí thức Trung Quốc đã tỏ ra kinh ngạc trước những kỹ năng chiến lược và chiến thuật của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Theo Mark Leonard, Giám đốc Hội đồng châu Âu về Quan hệ quốc tế, chỉ có một ít người trong giới quan chức và trí thức Trung Quốc mà ông đã trao đổi có ý nghĩa rằng mối quan tâm hàng đầu của Donald Trump là làm cân bằng thâm hụt thương mại song phương giữa Mỹ và Trung Quốc. Viết trên tờ Financial Times ngày 24/7, ông Leonard cho biết những người Trung Quốc mà ông đã nói chuyện đều cho rằng nếu vì vấn đề thâm hụt thương mại thì ông Trump đã liên kết với EU, Nhật Bản và Canada, chứ không phải đưa các đồng minh của mình vào chung rọ áp thuế mà ông đã đặt ra.

Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc He Yafei bày tỏ lo ngại cạnh tranh chiến lược đã trở thành một cách thức mới và cho rằng chiến tranh thương mịa chỉ là “một phần rất nhỏ của tảng băng mà thôi”.

Theo những người này, mục đích của Tổng thống Trump không gì ngoài việc muốn lập lại trật tự thế giới. Ông Trump cho rằng mình cần phải dẫn dắt nước Mỹ chống lại sự sụt giảm vị thế của nước Mỹ. Không phải là trật tự thế giới hiện nay không đem lại lợi ích cho nước Mỹ. Vấn đề ở chỗ là trật tự thế giới hiện nay mang lại lợi ích cho một số nước khác nhiều hơn là cho Mỹ. Một vấn đề nữa là hiện nay, Mỹ đang rót hàng tỷ USD vào để hỗ trợ hàng loạt thể chế quốc tế mà ông Trump cho rằng các thể chế này làm kìm hãm nước Mỹ và tạo cơ hội để Trung Quốc lớn mạnh nhanh chóng.

Trong mắt của những người Trung Quốc, họ coi những biện pháp trả đũa của ông Trump là hình thức “hủy diệt một cách đầy sáng tạo”. Tổng thống Trump đang hủy diệt một cách có hệ thống các thể chế quốc tế hiện nay – từ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) cho đến Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và vấn đề Thỏa thuận hạt nhân Iran, là những bước đi đầu tiên để tiến tới đàm phán lại trật tự thế giới, xóa bỏ những điều khoản để có lợi hơn cho Mỹ tại các thể chế quốc tế. Một khi trật tự này bị xóa bỏ, giới tinh hoa Trung Quốc tin rằng ông Trump sẽ tiếp bước sang giai đoạn 2: đàm phán lại mối quan hệ của nước Mỹ với các nước lớn khác trên thế giới. Bởi vì, nước Mỹ hiện nay vẫn là nước mạnh nhất trên thế giới, họ sẽ có thể đàm phán với từng nước lớn khác trên vị thế của nước mạnh hơn. Điều này sẽ thuận lợi hơn là thông qua các thể chế đa phương thường sẽ giúp các nước yếu hơn trong khi đàm phán và buộc các nước mạnh phải chấp nhận sự mặc cả nào đó từ các nước yếu hơn.

Một số trong giới tinh hoa Trung Quốc khi trao đổi với Giám đốc Mark Leonard đã nói Donald Trump là vị tổng thống Mỹ đầu tiên trong 40 năm qua đã tấn công Trung Quốc đồng thời trên cả 3 lĩnh vực: kinh tế, quân sự và tư tưởng. Những người này đã mô tả Trump là bậc thầy về mặt chiến thuật, tập trung đánh vào từng vấn đề một, và cố gắng bắt đối phương nhượng bộ nhiều nhất có thể. Giới quan chức Trung Quốc cũng nói về cách thức tài tình mà ông Trump đã ứng xử với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Những người này đã đưa ra ví dụ như cách thức ông Trump xử lý vấn đề Triều Tiên. Ông đã thuyết phục được Tập Cận Bình đồng ý với những lệnh trừng phạt của Liên hiệp quốc đối với Triều Tiên, tạo ra sức mạnh siết chặt kinh tế nước này. Họ cũng đánh giá Trump như một nhà chiến lược, sẵn sàng tuyên bố đình chiến trên từng lĩnh vực khi thấy không thể đòi hỏi nhượng bộ thêm được nữa, và sau đó chuyển sang tấn công ở một mặt trận mới.

Đối với người Trung Quốc, việc Trump tán dương cuộc họp báo với Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Helsinki vừa qua là hoàn toàn có mục đích chiến lược. Họ nhìn nhận giống như những gì Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đã làm hồi năm 1972. Đó là tách Trung Quốc ra khỏi trục của Liên bang Xô viết để tạo ra sức ép đối thủ thực sự của Mỹ lúc đó là Liên Xô. Ngày nay, Trump lại hướng tới Nga để nhằm cô lập Trung Quốc.

Trước mắt, Trung Quốc đang thể hiện sự cứng rắn đáp trả lại cuộc tấn công thương mại của Trump. Đồng thời, họ đang nỗ lực triển khai mặt trận lớp lang để chống lại Trump bằng cách xích lại gần với EU, Nhật Bản và Hàn Quốc. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia Trung Quốc đang âm thầm kêu gọi việc cần nghĩ lại một chiến lược dài hạn. Họ muốn chuẩn bị cơ sở cho những mặc cả to lớn mới với Mỹ dựa trên những vị trí quân sự mà Trung Quốc nắm giữ kiểm soát. Nhiều người có cảm giác Tập Cận Bình đã phản ứng hơi mạnh và lo ngại cho rằng đó là một sai lầm khi phản háng Mỹ trên phương diện kinh tế và quân sự tại biển Hoa Nam (Biển Đông). Trên thực tế, Trung Quốc đã có chủ trương nhượng bộ về mặt kinh tế và giảm bớt chiến thuật lấn lướt mà chính sách ngoại giao của Trung Quốc gần đây theo đuổi. Trung Quốc đã kêu gọi sự thay đổi đó là dựa vào sự tăng trưởng của thị trường nội địa hơn là gây ảnh hưởng đến kinh tế của các nước do xuất khẩu dư thừa sản phẩm công nghiệp sang các nước khác.

Vậy Donald Trump thực sự là người như thế nào? Một người liều lĩnh hủy diệt những mối quan hệ đồng minh quan trọng hay là một “thiên tài vững chãi” – người đang gây sức ép đối với Trung Quốc? Câu trả lời dường như phụ thuộc vào việc bạn đưa ra câu hỏi này ở đâu. Mọi nhìn nhận, đánh giá về Trump sẽ rất khác giữa cái nhìn từ Bắc Kinh hay EU.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018