Mỹ tăng cường hợp tác với ASEAN


Theo tạp chí Eurasia Review ngày 01/6, nhiều thay đổi đã diễn ra kể từ cuộc gặp đầu tiên giữa các quan chức Mỹ và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 1977. Tuy nhiên, sau 45 năm gắn bó, mối quan hệ giữa Mỹ và ASEAN vẫn không ổn định.

Cuộc chiến ở Ukraine đã tạo động lực mới để khởi động lại quan hệ Mỹ – ASEAN theo những cách thực tế. Các nhà lãnh đạo của Mỹ và ASEAN đã gặp nhau tại Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt ở thủ đô Washington vào tháng 5/2022. Tại sự kiện này, quan điểm luôn thay đổi của Mỹ với khu vực Đông Nam Á kể từ sau Chiến tranh Việt Nam là chủ đề tiếp tục được tranh luận, đặc biệt là về sự nhất quán và độ tin cậy của Mỹ.

Một thực tế đã nổi lên đó là khu vực này cần sự hiện diện của Mỹ, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh và kih tế. Các nhà lãnh đạo ASEAN đã hoan nghênh lời mời của Tổng thống Joe Biden khi nó được đưa ra lần đầu tiên vào tháng 10/2021.

Mối quan hệ Mỹ – ASEAN đã được định hướng bởi các lợi ích kinh tế và an ninh chung lâu đời giữa hai bên. Nhưng sự trỗi dậy của các cường quốc mới như Trung Quốc, Nga và Ấn Độ đã khiến đối thoại cấp cao nhất giữa Mỹ và ASEAN trở nên cấp thiết hơn.

Niềm tin của các nhà lãnh đạo ASEAN đối với vai trò của Mỹ trong khu vực đã tăng lên dưới thời chính quyền Biden vì ông Biden cam kết sớm họp với các đồng nghiệp ASEAN. Tại hội nghị thượng đỉnh ở Washington, ông Biden đã bổ nhiệm một trong những cố vấn thân cận của mình, ông Yahannes Abraham, làm đặc phái viên mới của Mỹ tại Ban Thư ký ASEAN sau 6 năm bỏ trống. ASEAN đã hoan nghênh quyết định này của ông Biden.

Điều quan trọng cần lưu ý là Trung Quốc đã không bỏ lỡ hơn hai chục hội nghị cấp cao liên quan đến ASEAN kể từ khi Bắc Kinh trở thành đối tác đối thoại với ASEAN vào năm 1992. Các cuộc họp cấp cao thường xuyên đã củng cố quan hệ ASEAN – Trung Quốc và biến nó thành quan hệ đối thoại năng động nhất của khối. Quan hệ Trung Quốc – ASEAN đã được nâng cấp lên quan hệ đối tác toàn diện vào năm 2021. Trong bối cảnh đó, Mỹ cũng đã nhân cơ hội Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt ở Washington để nâng cấp quan hệ với ASEAN thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Australia cũng đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với ASEAN vào năm ngoái.

Với cuộc chiến Nga – Ukraine đang diễn ra, Mỹ đang cố gắng tăng cường sự ủng hộ của ASEAN đối với lệnh trừng phạt Nga, một vấn đề mà Mỹ và ASEAN đang có quan điểm khác nhau. Hai bên đã rất khó khăn trong việc xác lập lập trường chung về tình hình Ukraine trong Tuyên bố Tầm nhìn chung Mỹ – ASEAN. Tuyên bố chung, nhắc lại lời kêu gọi của ASEAN về việc “chấm dứt ngay lập tức các hành động thù địch”. Nhưng chính quyền Biden muốn có thêm một sự đảm bảo từ ASEAN rằng họ sẽ không đi ngược lại các cơ chế trừng phạt đang được áp dụng khi cuộc chiến ở Ukraine vẫn tiếp diễn.

ASEAN cũng có các ưu tiên khác trong các vấn đề khu vực – bao gồm khủng hoảng Myanmar, xung đột Biển Đông, Bán đảo Triều Tiên và khai thác tài nguyên xuyên biên giới ở tiểu vùng sông Mekong. VIệc Mỹ gây quá nhiều áp lực với ASEAN để buộc ASEAN ngả về phương Tây có thể sẽ phản tác dụng. Các bài học kinh nghiệm từ phản ứng của Ấn Độ trước sức ép chung của Mỹ và châu Âu rất hữu ích. Không thành viên ASEAN nào muốn làm tổn hại đến mối quan hệ lâu đời của họ với Nga và Trung Quốc. Singapore có thể khác biệt nhưng nước này sẽ đứng một mình.

Từ đầu năm 2021, chính quyền Biden đã nhận ra rằng để giành được sự ủng hộ và hợp tác từ ASEAN thì cần phải thực dụng và linh hoạt hơn. Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPEF) mới được công bố, một phần của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, dược thiết kế để đáp ứng lợi ích của cả Mỹ và các nước khu vực. 7 trong số 10 thành viên của ASEAN nằm trong số 13 nước tham gia thể hiện mong muốn thúc đẩy hợp tác kinh tế chặt chẽ hơn với Mỹ và các đồng minh. IPEF vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và các cuộc thảo luận và đàm phán về nội dung IPEF sẽ mất thời gian do sự khác nhau về các quan điểm và thực tiễn kinh tế.

Để tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mới, Mỹ nên tập trung vào các cách thức để tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh với ASEAN, từ đó sẽ thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN. Phải mất gần một thập kỷ nước Mỹ dưới thời chính quyền Obama mới chấp nhận vai trò lãnh đạo của ASEAN trong các vấn đề khu vực. Kể từ bây giờ, Washington phải thể hiện sự sẵn sàng hợp tác trong khuôn khổ chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương theo các đường hướng do ASEAN khởi xướng.

ASEAN đã ưu tiên bốn lĩnh vực hợp tác trong khuôn khổ Triển vọng ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – hợp tác hàng hải, kết nối, phát triển bền vững và hợp tác kinh tế. Mỹ phải cởi mở khi hợp tác với ASEAN vì các khuôn khổ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương khác đã cam kết làm như vậy. Bất kỳ dấu hiệu nào của sự thiếu khoan dung sẽ làm tổn hại đến uy tín của nước Mỹ.

Điều này sẽ xoa dịu sự lo lắng của ASEAN về nhóm không chính thức được gọi là Bộ Tứ, bao gồm Mỹ, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ. Hợp tác chung trên các khuôn khổ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương giữa Mỹ và ASEAN sẽ tăng cường vai trò trung tâm của ASEAN và giải quyết các thách thức trong khu vực. Một lĩnh vực thử nghiệm là Đối tác vaccine Bộ Tứ, có kế hoạch cung cấp một tỷ liệu vaccine COVID-19. Theo thời gian, cả hai bên có thể mở rộng hợp tác từ dịch COVID-19 và an ninh y tế toàn cầu cho đến khí hậu, cơ sở hạ tầng bền vững, các vấn đề hàng hải, giáo dục, giao lưu nhân dân và can dự kinh tế.

Chính quyền Biden đã khôn ngoan khi không lợi dụng hội nghị thượng đỉnh để đưa ASEAN ra chống lại Trung Quốc và Nga. Nếu không, Mỹ sẽ làm tổn hại thêm quan hệ với ASEAN và cán cân quyền lực ở Đông Nam Á. Để nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mới, cả hai bên bây giờ nên tập trung vào việc thúc đẩy chương trình nghị sự song phương và tận dụng sức mạnh tổng hợp của mình trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Thổ Nhĩ Kỳ là trọng tâm địa chiến lược mới của thế giới?


Theo thehill.com, Mỹ và Trung Quốc hiện là hai nền kinh tế lớn nhất nhì thế giới, trong khi Mỹ và Nga là siêu cường hạt nhân duy nhất trên toàn cầu. Thế nhưng, Thổ Nhĩ Kỳ, vối vị trí địa lý của mình cùng cú hat-trick gồm 3 quyết định vô cùng thảm họa của Tổng thống Nga Vladimir Putin, có thể còn có sức ảnh hưởng hơn cả ba nước kia tại thời điểm này.

Cuộc tấn công của Putin vào Ukraine đã phơi bày sự yếu kém của quân đội Nga; kéo theo điều có thể coi là một sự mở rộng của NATO – điều mà Putin không muốn nhất; và đẩy nhanh một cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu cho khoảng 1 tỷ dân. Tuy nhiên, Thổ Nhĩ Kỳ cần phải chấp nhận để Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO, điều kiện cần thiết theo quy định về sự đồng thuận tuyệt đối trong Hiệp ước Washington. Tuy nhiên, cho đến nay, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đưa ra những phản đối mạnh mẽ đối với cả hai nước này với lý do Phần Lan, Thụy Điển bị cho là ủng hộ hoặc công nhận Đảng Công nhân người Kurd (PKK) – vốn bị Thổ Nhĩ Kỳ ấn định là một tổ chức khủng bố.

Công ước Montreux 1936 quy định hạn chế các tàu không thuộc các nhà nước nằm ở xung quanh Biển Đen tiếp cận vùng biển này về cả mặt thời gian, trọng tải và vũ trang. Nếu một chuyến tàu nhân đạo thông qua Eo biển Dardanelles được lập ra để vận chuyển các nông sản thiết yếu tại Odessa để phân phối ra toàn cầu, qua đó dập tắt nạn đói tiềm tàng và đòi hỏi sự hỗ trợ của tàu hộ tống hải quân, thì Thổ Nhĩ Kỳ là nước duy nhất có thể cho phép hoặc từ chối các tàu chiến quá cảnh.

Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan là người rất nóng tính và sự thất bại trong việc nhất trí kết nạp thêm các thành viên mới sẽ là một đòn giáng mạnh vào NATO, còn hơn cả việc Pháp không tham gia khía cạnh quân sự của liên minh này vào năm 1966 dưới thời Charles de Gaulle. Putin hẳn nhận thức rõ được tình huống này. Chắc chắn là ông sẽ làm mọi thứ để có thể thuyết phục Erdogan từ chối sự kết nạp này.

Về các hình thức vận tải trên biển để chở lúa mì và các sản phẩm nông nghiệp khác từ Odessa, nhưng trở ngại là rất lớn. Nga sẽ chỉ đồng ý với một điều kiện thuận lợi cho họ, chẳng hạn như dỡ bỏ các lệnh trừng phạt. Các phương pháp tiếp cận Odessa đang được khai thác. Ukraine sẽ phải đồng ý đảm bảo một tuyến đường an toàn ra vào cảng. Và một nghị quyết của Liên hợp quốc nhất thiết phải đến từ Đại hội đồng vì Nga sẽ phủ quyết mọi đề xuất tại Hội đồng Bảo an.

Các bên khác thì lập luận rằng tàu chiến của NATO là cần thiết nếu như buộc phải đi vào vùng biển này. Tuy nhiên, các tàu đó có thể sẽ phải đối đầu với các lực lượng hải quân, không quân và tên lửa của Nga và có thể dẫn đến một sự leo thang căng thẳng, thậm chí là một cuộc chiến tranh trên biển. Hầu hết hạm đội trên Biển Đen của Nga đều đã già nua. Tuy nhiên, các tàu ngầm chạy bằng diesel lớp Kilo của nước này vẫn rất dữ dội. Với tính chất ồn ào của Biển Đen, việc phát hiện các lực lượng này là rất khó. Và tên lửa Kalibr cùng các loại tên lửa khác của Nga cũng đã được chứng tỏ là rất hiệu quả. NATO cũng cần sự hỗ trợ mạnh mẽ ở trên không.

Nếu Thổ Nhĩ Kỳ vẫn duy trì lập trường cứng rắn đối với sự gia nhập của Phần Lan và Thụy Điển và việc cho phép các tàu chiến của NATO hay các bên thứ ba đi vào Biển Đen, sẽ còn rất ít lựa chọn tích cực. Vậy liệu một phiếu trắng, cũng có tác dụng như một phiếu chống, đối với sự mở rộng của NATO, có thể được tận dụng để cho phép một tỷ lệ bỏ phiếu 29-0 đủ được coi là nhất trí hay không? Khả năng là không, bởi Thổ Nhĩ Kỳ vẫn phải thông qua các thay đổi theo quy định trong công ước.

Công ước Montreux là một công ước mang tính lịch sử lâu đời. Điều thú vị là trong số 4 nước đầu tiên ký kết công ước, gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgaria, Romania và Liên Xô, thì Liên Xô hiện đã không còn tồn tại. Và các thành viên mới hơn như Gruzia và Ukraine theo đó cũng không tồn tại nữa. Tuy nhiên, công ước này vẫn có hiệu lực. Việc thay thế nó dường như là bất khả thi bởi Thổ Nhĩ Kỳ có một vai trò chủ đạo nhờ vị trí địa lý của mình và có các Eo biển Bosporus và Dardanelles nằm giữa đất nước.

Về vấn đề thiếu lương thực, đây là một công cụ ngoại giao mạnh mẽ có thể được sử dụng để chống lại Nga. Việc cản trở chuyển hàng cứu trợ cho hàng trăm triệu người đang bị thiếu ăn thực sự là một tội ác chiến tranh. Tuy nhiên, Nga sẽ đổi lỗi cho Ukraine và phương Tây đã gây ra tình trạng thiếu lương thực này và thoái thác mọi trách nhiệm. Mặc dù vậy, vẫn còn phải chờ xem lời cáo buộc dù có hơi thái quá nói trên có được chấp nhận bởi những khu vực và cộng đồng người dân bị ảnh hưởng hay không. Nhìn chung, chính sách ngoại giao và các thông điệp truyền tải của Mỹ và NATO sẽ là cần thiết để gây sức ép buộc Nga chấm dứt chiến tranh.

Một kết luận quan trọng khác có lẽ đã bị bỏ quên. Thế giới vẫn là một tổng thể phụ thuộc lẫn nhau, không thể tách rời và vì vậy rất dễ bị tổn thương trước những cuộc tấn công ồ ạt mới gây rối loạn trên toàn cầu. Trớ trêu thay, chiến tranh tại Ukraine càng làm trầm trọng thêm tính chất dễ bị tổn thương này.

Ngoài những thiệt hại không thể bù đắp về người, sự tàn phá đất nước và hàng nghìn sinh mạng mà cuộc chiến Ukraine gây ra, sự đoàn kết của NATO cũng đang lâm nguy. Tồi tệ hơn, nạn đói có thể bao trùm một phần lớn dân số thế giới. Những kịch bản này không phải là mới. Điều mới ở đây là số lượng chúng nhiều hơn và mang tính tàn phá hơn trong kỷ nguyên này. Và với đại dịch COVID-19 đang hoành hành hiện nay mà thế giới chưa kịp chuẩn bị trước, mọi thứ còn tồi tệ hơn nữa.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Tái thiết chính phủ và nền dân chủ – Phần cuối


Hãy bắt đầu bằng việc giải quyết các mâu thuẫn trong các tranh chấp với giá trị nhỏ và việc giải quyết các vấn đề trong các tổ chức toàn cầu thông qua đường dây pháp lý, như các mạng xã hội. Hội đồng Công ty Dân sự của Anh gần đây đã xem xét các mô hình trực tuyến trên toàn thế giới để đề xuất thực hiện giải quyết tranh chấp trực tuyến. Hầu hết các mô hình ban đầu đều phụ thuộc vào việc sử dụng thẩm phán hoặc các chuyên gia xét xử khác ở một số giai đoạn trong quy trình xét xử trực tuyến. Ở một vài nơi, các quy trình dựa vào những người tham gia trực tuyến để kêu gọi và giải quyết trực tuyến các hành vi không phù hợp như vụ phản hồi về hành động phỉ báng (như công ty con Marktplaats của eBay ở Hà Lan trong bản Đánh giá Phản hồi Độc lập) hay gian lận trong các trò chơi trực tuyến (như sản phẩm Overwatch của Valve thành viên trong cộng đồng sẽ xem xét báo cáo về hành vi gây rối và áp dụng lệnh cấm tạm thời, nếu cần).

Đây là sự khác biệt lớn từ mô hình công lý theo số đông. Rõ ràng, lý thuyết “trí tuệ của đám đông” áp dụng cho các quy trình tư pháp có thể đem về nhiều kết quả khả quan.

Sự tham gia của người dân để giải quyết những vấn đề lớn

Hầu hết những ai tin vào khoa học đều hiểu rằng lượng khí thải carbon do con người tạo ra đang làm nóng bầu khí quyển. Sự thay đổi khí hậu này rất nguy hiểm với chúng ta và nhiều thực thể sống khác trên hành tinh này. Các chính phủ, các công ty và các tổ chức phi chính phủ, những người đang cố gắng làm giảm lượng carbon đều có xu hướng đồng ý với hoạt động mua bán phát thải carbon – cách tiếp cận hợp lý về kinh tế và hiệu quả về mặt môi trường để giảm phát thải.

Có một chính sách với tên gọi là hạn-chế-và-bán-lại (cap and trade). Một cơ quan quản lý thiết lập một “hạn chế” hay giới hạn phát thải carbon và giảm dần theo thời gian để giảm lượng khí ô nhiễm thải vào bầu khí quyển. “Bán lại” đại diện cho thị trường với lượng carbon được phép xả thải, giúp các công ty và các tổ chức khác tuân thủ giới hạn được chỉ định. Theo Quỹ Bảo vệ Môi trường, “Họ càng ít xả thải thì càng đỡ phải trả tiền, vì vậy xét về mặt kinh tế, đó là động lực để đỡ gây ô nhiễm hơn”.

Ngày nay, những nước phát triển nhất Liên minh châu Âu đã thực hiện các giao dịch hạn chế-và-bán lại. California, Ontario, và Quebec là những nơi đã tham gia Nghị định thư Montreal vận động một cuộc giao dịch diễn ra trên toàn cầu. Quan chức ở các cấp quốc gia, tiểu bang, thành phố và doanh nghiệp có thể phân bổ các khoản tín dụng hạn chế-và-bán lại để cân đối giới hạn cho phép. Đồng thời, hệ thống uy tín dựa trên blockchain có thể ước tính số KW/giờ của các nhà cung cấp cấp cho lưới điện theo các tiêu chuẩn bền vững nhằm giảm tải khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Ví dụ, hệ thống có thể gắn năng lượng có nguồn gốc từ than đá với số nợ cao hơn và tăng tín dụng đối với năng lượng có thể tái tạo như năng lượng mặt trời. Blockchain có thể giúp tự động hóa hệ thống hạn chế-và-bán lại trên quy mô ngành công nghiệp. Các thuật toán định giá hiệu quả sẽ tính toán các tín chỉ và ghi nợ theo thời gian thực, sau đó các tổ chức về môi trường có thể nắm bắt và theo dõi các khoản tín dụng carbon của họ trên sổ cái và đưa ra thị trường trao đổi.

Nếu chúng ta tạo ra một hệ thống hạn chế-và-bán lại cho mọi người thì sao? Chắc chắn một điều chúng ta cần nhiều hơn sự tham gia của các tổ chức để thay đổi hành vi của mọi người! Giao dịch carbon cá nhân sẽ hoạt động thông qua IoT. Các cảm biến, máy dò và thiết bị đo sẽ đo máy đun nước, máy rửa chén và máy điều hòa gia đình trong thời gian thực sau đó thông báo cho bạn về sự cân bằng của tín dụng carbon. Đồng thời, bạn có thể kiếm thêm nhiều điểm tín dụng bằng các hành động thực tế theo hướng bền vững. Nếu bạn gắn một loạt các tấm pin mặt trời lên mái nhà, bạn sẽ kiếm được tín dụng bằng cách đưa năng lượng dư thừa vào lưới điện.

Liệu điều này có tạo ra nguồn thu nhập hằng năm cho người dân không? Xét cho cùng, những người nghèo và những người vô gia cư ít thải ra carbon. Bằng cách đạp xe đến nơi làm việc, bạn có thể tiết kiệm tín dụng cho phần sử dụng của máy đun nước: “Này, máy rửa chén – đồng hồ đo mức hạn chế-và-bán lại của tôi cho thấy chúng ta có thể chạy chế độ rửa bát đầy đủ và bật chế độ làm khô trong 30 phút”. Bộ cảm biến nước trong máy giặt có thể quản lý việc sử dụng nước dựa trên mật độ ở mức chấp nhận được, cảm biến độ ẩm trong máy sấy có thể làm tắt máy khi quần áo đạt tới độ khô cho phép, từ đó hệ thống HVAC của các tòa nhà có thể khai thác được lượng nhiệt dư thừa.

Khai thác những công cụ của nền dân chủ thế kỷ 21

Được biết tới như một cuốn sổ cái toàn cầu, phân bố phi tập trung, có thể lập trình, với mục đích bảo vệ sự riêng tư và làm giàu cho mọi người nhờ có hệ thống khuyến khích, công nghệ blockchain sẽ giúp cho việc phát triển các công cụ của nền dân chủ mới như:

Brainstorm số: Giúp các quan chức chính phủ và công dân có thể thảo luận với nhau trực tuyến theo thời gian thực để giải quyết các vấn đề liên quan tới chính sách mới hoặc liên quan tới nhu cầu. Sự đồng thuận sẽ đạt được thông qua hệ thống mỗi token ứng với một phiếu bầu, tạo ra một cuộc thảo luận thấu đáo và gây khó khăn cho những kẻ phá hoại.

Thách thức: Các cuộc thi trực tuyến với một hội đồng giám khảo. Hãy nghĩ đến các mô hình đã xuất hiện trước blockchain như Goldcorp Challenge (đã đề cập trước đó). X Prize hay những mô hình thách thức đổi mới được thực hiện bởi nhiều chính phủ phương Tây. Mục tiêu của những thách thức là thu hút công dân tham gia vào sự đổi mới và tạo ra giá trị cộng đồng.

Bồi thẩm đoàn và Hội đồng Nhân dân Trực tuyến: Người dân được chọn ngẫu nhiên để phục vụ trong các bồi thẩm đoàn hoặc làm cố vấn về một chủ đề nào đó. Hội đồng sử dụng Internet để chia sẻ thông tin, đặt câu hỏi, thảo luận các vấn đề và tiếp thu bằng chứng. Hệ thống uy tín của blockchain giúp người hỏi biết được bối cảnh tổng quát và uy tín của thành viên trong hội đồng. Các quyết định và hồ sơ được ghi lại trên blockchain.

Bầu cử mang tính tranh luận: Đây là nguồn lực cho phép người dân được tìm hiểu và phản ánh các vấn đề trong trường hợp hợp tác và có tính tranh luận. Nó đồng thời cũng kết hợp việc thảo luận của nhiều nhóm nhỏ trên Internet với việc lấy mẫu ngẫu nhiên một cách khoa học để góp phần đưa ý kiến của công chúng vào quá trình hoạch định chính sách hơn là quy trình bỏ phiếu ngay lập tức.

Hoạch định theo kịch bản: Xây dựng kịch bản bằng phần mềm mô phỏng và mô hình hóa để dự đoán nhu cầu chính sách trong tương lai và để hiểu những hậu quả dài hạn của các quyết định. Các chính trị gia, quan chức và người dân có thể xem xét về các tác động tiềm ẩn với một loạt các yếu tố từ sức khỏe, môi trường, đến nền kinh tế.

Thị trường mua bán các hợp đồng dự đoán: Nhu chúng tôi đã giải thích trong trường hợp của Augur, có vô số cơ hội để sử dụng các thị trường dự đoán cho việc mua bán kết quả của các sự kiện. Các chính phủ có thể sử dụng chúng để có cái nhìn sâu hơn về những vấn đề thực tế: Khi nào cây cầu sẽ được xây dựng? Mức độ người thất nghiệp trong 12 tháng sẽ là bao nhiêu? Liệu sẽ có một tổng thống đến từ đảng Quốc gia sau kỳ bẩu cử tiếp theo không – đây là một câu hỏi thực tế từ thị trường iPredict ở New Zealand.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Don Tapscott & Alex Tapscott – Cuộc cách mạng blockchain – NXB ĐHKTQD 2018

Tại sao Ấn Độ “chơi thân” với Nga nhưng vẫn làm “bạn” với Mỹ? – Phần cuối


Chính sách ngoại giao khôn khéo

Chuyên gia tại Viện nghiên cứu Takshashila Manoj Kewalramani cho rằng những điểm tương đồng này chỉ là bề nổi. Thực ra, phản ứng của Trung Quốc và Ấn Độ có nhiều khác biệt.

Nếu như Trung Quốc lên tiếng chỉ trích các biện pháp trừng phạt, đổ lỗi cho Mỹ và NATO gây ra cuộc khủng hoảng. Truyền thông của Bắc Kinh đưa thông tin sai lệch, ủng hộ các luận điểm của Moskva thì Ấn Độ tránh đề cập đến vai trò của NATO và muốn giảm thiểu tạo sự khác biệt lập trường với Mỹ. Thủ tướng Modi đã nói chuyện với tổng thống Ukraine Zelensky trong khi lãnh đạo Trung Quốc thì không.

Ấn Độ cũng tỏ ra gay gắt hơn với những cáo buộc tội ác chiến tranh của Nga. Đại sứ Ấn Độ tại Liên hợp quốc cho rằng thảm sát ở Bucha “đáng lo ngại” và kêu gọi mở điều tra. Đại sứ Trung Quốc thì lại kêu gọi các bên tránh đổ lỗi vô căn cứ.

Quan hệ Mỹ – Ấn phức tạp

Theo CNN, Mỹ nhận thấy rằng quan hệ giữa Nga và Ấn Độ đi theo một chiều hướng khác phương Tây. Ngoại trưởng Mỹ Blinken lưu ý rằng quan hệ này “đã phát triển trong nhiều thập kỷ vào thời điểm mà Mỹ không thể là đối tác của Ấn Độ”. Blinken  ám chỉ thời kỳ Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô, dù Ấn Độ không chính thức tham gia.

Vào những năm 1970, Ấn Độ bắt đầu ngả về Liên Xô khi Mỹ bắt đầu hỗ trợ quân sự và tài chính cho láng giềng Pakistan. Đây cũng chính là thời điểm Liên Xô bắt đầu cung cấp vũ khí cho Ấn Độ. Cho đến nay, quốc gia Nam Á này vẫn phụ thuộc rất nhiều vào Nga về thiết bị quân sự (50% vũ khí nhập khẩu từ Nga). Mặc dù Mỹ đã tăng cường hợp tác với Ấn Độ về an ninh và quân sự trong khuôn khổ nhóm “Bộ tứ” Quad (Nhật Bản – Mỹ – Australia – Ấn Độ), nhưng lại thua Nga khi Ấn Độ dùng vũ khí của Nga trong xung đột với Trung Quốc ở Himalaya.

Năm 2018, Ấn Độ đã ký một thỏa thuận vũ khí trị giá 5 tỷ USD với Nga, mua một hệ thống tên lửa phòng không, bất chấp thỏa thuận này có thể hiến New Delhi lãnh trừng phạt của Washington (theo một đạo luật trừng phạt đối thủ mà Mỹ đã áp dụng đối với Iran, Nga và Triều Tiên).

Do phụ thuộc vào vũ khí của Nga, Ấn Độ không dám lên tiếng tố cáo hành động xâm lược của Tổng thống Nga Vladimir Putin, mà thủ tướng Modi nhận là người bạn thân “đáng mến” (trong chuyến thăm của Putin tại Ấn Độ vào tháng 12/2021). Ngày 23/4, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ấn Độ không ngần ngại nói rằng, Ấn Độ muốn xây dựng tình hữu nghị với các nước phương Tây, nhưng cần một đối tác mạnh như Nga để bảo vệ đường biên giới và 1,3 tỷ dân của mình.

Theo tạp chí Foreign Policy, trong bối cảnh căng thẳng vẫn cao với Trung Quốc, Ấn Độ nhận thấy tầm quan trọng của Nga, không chỉ việc sẵn sàng cung cấp vũ khí mà mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc có thể giúp New Delhi kiềm chế Bắc Kinh hoặc Moskva có thể đứng ra làm trung gian hòa giải.

Thế trung lập của Ấn Độ

Tất cả những hành xử của Ấn Độ khiến quốc gia này nhận được ủng hộ từ tất cả các phe. Moskva vẫn muốn chơi với New Delhi và vẫn muốn bán dầu giá thấp cho Ấn Độ. Ngày 01/4/2022, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov đã gặp người đồng cấp ở New Delhi và hoan nghênh Ấn Độ không nhìn cuộc chiến Ukraine “một cách phiến diện”.

Mối quan hệ của chúng ta vẫn bền vững dù trải qua nhiều thời kỳ khó khăn trong quá khứ. Tôi không nghi ngờ về việc hai bên tôn trọng lẫn nhau và tìm kiếm sự cân bằng lợi ích, sẽ chiếm ưu thế trong quan hệ của hai nước trong tương lai.

Đối với phương Tây, quan hệ giữa hai bên ngày càng khăng khít từ khi Modi đắc cử năm 2014. Giao thương giữa Ấn Độ và Mỹ hằng năm đạt 110 tỷ USD, trong khi đó với Nga chỉ đạt 8 tỷ USD. Trong những năm gần đây, Ấn Độ cũng trở thành khách hàng lớn mua các thiết bị quân sự của Mỹ.

Ấn Độ cũng không muốn bị coi là đối tác nhỏ bé của phương Tây và tin rằng phương Tây cần mình hơn. Chính quyền New Delhi luôn nhắc nhở phương Tây rằng nước này dù sao thì cũng có Nga là đồng minh. Ấn Độ cho rằng dù nghiêng về phía nào cũng có được bảo đảm của phương Tây theo một mức độ nào đó. Ví dụ như, dưới thời chính quyền George W. Bush, Washington sẵn sàng chi mạnh tay cho một thỏa thuận hạt nhân để đáp ứng lợi ích của New Delhi, trong khi Ấn Độ đáp lại không đáng kể.

Qua cuộc chiến Ukraine, Ấn Độ nhận ra rằng phương Tây có thể thực hiện các cam kết đưa ra để giúp Kiev. Do vậy, sự ủng hộ của phương Tây rất quan trọng nếu xung đột Trung – Ấn xảy ra. Foreign Policy kết luận rằng canh bạc trung lập, bắt cá hai tay của Ấn Độ chỉ có thể mang lại lợi ích cho nước này trong ngắn hạn. Nếu tiếp tục nghiêng về phía Nga, đồng thời giữ quan hệ với phương Tây, Ấn Độ sẽ không nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ cả hai trong tình thế khó khăn.

Nguồn: TKNB – 29/04/2022

Tại sao Ấn Độ “chơi thân” với Nga nhưng vẫn làm “bạn” với Mỹ? – Phần đầu


Theo đài RFI, bất chấp việc các nước phương Tây ve vãn kêu gọi nhập phe, trừng phạt Nga, Ấn Độ lại tăng gấp đôi lượng dầu thô mua từ Nga kể từ khi Nga xâm lược Ukraine, do giá thành rẻ. Là đồng minh với Liên Xô từ thời Chiến tranh Lạnh, Ấn Độ chơi quân bài “trung lập”, muốn duy trì quan hệ tốt với cả Nga và phương Tây, để đối phó với mối nguy Trung Quốc.

Ấn Độ là nước tiêu thụ dầu lớn thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Trung Quốc, 80% trong số đó là nhập khẩu. Hãng Reuters cho biết, các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ đã đặt hàng ít nhất 40 triệu thùng dầu của Nga kể từ ngày 24/2, khai nào chiến tranh Ukraine, trong khi đó, tổng lượng dầu mà Ấn Độ thu mua từ Nga vào năm 2021 chỉ đạt 16 triệu thùng. Truyền thông nước này cho biết Nga đã giảm giá mua dầu cho Ấn Độ, thấp hơn 20% so với giá chuẩn toàn cầu. Chính quyền New Delhi không chỉ bỏ ngoài tai các lệnh trừng phạt từ phương Tây đánh vào nền kinh tế của Nga, mà còn từ chối lên án hành động xâm lược của Moskva.

Phương Tây đổ xô “thăm” Ấn Độ

Lập trường trung lập của quốc gia đông dân thứ hai châu Á làm vừa lòng điện Kremlin nhưng ngay lập tức htu hút sự chú ý của phương Tây. CNN nhận định Nhà Trắng gây áp lực, chỉ trích New Delhi “run sợ” và có thể tính đến việc trừng phạt Ấn Độ vì gần đây đã mua vũ khí từ Nga. Thế nhưng, ngay lập tức, Mỹ lại đổi giọng.

Trong cuộc gọi trực tuyến giữa Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Tổng thống Mỹ Joe Biden ngày 11/4, Biden tán dương quan hệ hợp tác song phương và ca ngợi những giá trị chung của hai nước. Ngay sau đó, các nước châu Âu dồn dập đến thăm Ấn Độ. Đầu tiên là chuyến thăm của Thủ tướng Anh Boris Johnson nhằm tăng cường hợp tác thương mại với Ấn Độ ngày 22/4, tiếp đến là chuyến thăm của Chủ tịch Hội đồng châu Âu Ursula von der Leyen ngày 25/4, rồi đến Ngoại trưởng Ba Lan ngày 26/4.

Và chiến tranh Ukraine là phần không thể thiếu trong bài phát biểu của các vị lãnh đạo, vừa ve vãn lôi kéo, vừa gây áp lực cho New Delhi. Nguyên thủ Mỹ kêu gọi Ấn Độ chọn phe:

“Tôi rất hoan nghênh việc Ấn Độ viện trợ nhân đạo cho Ukraine – quốc gia đang phải hứng chịu những đợt tấn công kinh hoàng, bao gồm cả vụ đánh bom tại nhà ga vào tuần trước, đã khiến hàng chục phụ nữ và trẻ em và thường dân vô tội thiệt mạng, khi đang cố chạy lánh nạn. Mỹ và Ấn Độ tiếp tục hợp tác chặt chẽ và tham vấn về cách kiểm soát những tác động gây bất ổn từ cuộc chiến giữa Nga và Ukraine. Điều này bảo đảm mối quan hệ tiếp tục phát triển sâu rộng hơn giữa hai bên, mang lại lợi ích cho người dân của hai nước và toàn cầu. Tất cả chúng ta đều cố gắng kiểm soát (khủng hoảng) và vai trò của Ấn Độ rất quan trọng đối với thế giới”.

Về phần mình, Ấn Độ cho biết tình hình ở Ukraine “đáng lo ngại” và kêu gọi cả hai bên đàm phán hòa bình. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn chọn giữ im lặng, bỏ phiếu trắng tại Đại hội đồng Liên hợp quốc để loại Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền, từ chối suy giảm quan hệ song phương với Nga.

CNN nhận định “Ấn Độ đã dạy cho phương Tây một bài học về ngoại giao”. Vị trí của nước này ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế khi Mỹ coi Ấn Độ là một “đối tác” cần săn sóc để chống lại Trung Quốc – mối đe dọa tiềm tàng với hòa bình thế giới, thậm chí còn l1o7n hơn cả Nga.

Cùng chung một kẻ thù Bắc Kinh

Cả Washington và New Delhi đều “khó chịu” trước sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc (về hải quân, vũ khí chiến đấu công nghệ cao, vũ khí hạt nhân) hay mạng lưới ảnh hưởng đối với kinh tế toàn cầu mà Bắc Kinh đang xây dựng.

Điều này thể hiện rõ trong cuộc họp Mỹ – Ấn ngày 11/4, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin cảnh báo Trung Quốc đang tìm cách “thiết lập lại khu vực và hệ thống quốc tế” và cho biết Mỹ và Ấn Độ cùng nhau mở rộng phạm vi hoạt động quân sự chung.

Ấn Độ cũng có mối lo riêng với Trung Quốc khi cả hai có chung 3488 km đường biên giới. Cuộc xung đột quân sự dọc theo biên giới chung trên dãy Himalaya đã cướp đi sinh mạng của không ít người trong vài năm qua, đặc biệt là vào năm 2020, gần 100 binh sĩ Ấn Độ bỏ mạng tại thung lũng Galwan – có diện tích rộng bằng nước Thụy Sỹ, nơi mà Trung Quốc chiếm đóng từ 1962.

Phương Tây chỉ trích Trung Quốc nhưng im lặng với Ấn Độ

Mối lo Trung Quốc giải thích tại sao phương Tây mạnh mẽ chỉ trích sự im lặng của Bắc Kinh đối với hành động xâm lược của Nga nhưng lại không to tiếng với New Delhi. Trong khi đó, Ấn Độ và Trung Quốc dường như có chung quan điểm về cuộc chiến ở Ukraine.

Cả hai đều tự nhận là trung lập và chọn thế “tọa sơn quan hổ đấu”. Cả hai đều kêu gọi hòa bình và từ chối lên án cuộc xâm lược. Hơn nữa, cả hai có mối quan hệ chiến lược với Nga và không muốn gặp rủi ro tạo hiềm khích với Nga.

(còn tiếp)

Nguồn: TKNB – 29/04/2022

Việt Nam vẫn duy trì án tử hình


Theo đài BBC, trong báo cáo năm 2021 của Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International – AI), Việt Nam, Trung Quốc và Triều Tiên là những quốc gia luôn che giấu thông tin thật về số trường hợp bị kết án tử hình. AI cho biết họ chỉ có “một phần” số liệu, do chính quyền Việt Nam không công bố số liệu đầy đủ. Tổ chức này nói rằng hàng trăm người tiếp tục bị kết án tử hình mỗi năm tại Việt Nam trong khi xu thế chung trên thế giới là xóa bỏ án tử hình.

Theo báo cáo “Tử hình 2021: Sự thật và Số liệu” do AI thực hiện, khoảng 1200 tù nhân bị kết án tử hình tại Việt Nam tính đến cuối năm 2021. AI dẫn nguồn từ Cổng thông tin Điện tử Chính phủ Việt Nam ngày 11/9/2021 cho biết, chỉ trong khoảng 9 tháng (từ 01/10/2020 đến 31/07/2021), số trường hợp bị kết án tử hình ở Việt Nam tăng 30%.

Trả lời BBC News Tiếng Việt, bà Chiara Sangiorgio, chuyên gia về vấn đề kết án tử hình từ AI cho rằng việc thiếu khả năng tiếp cận thông tin đã khiến tổ chức này gặp rất nhiều thách thức trong việc giám sát quá trình kết án và thực thi án tử hình tại Việt Nam. Bà Chiara Sangiorgio cho biết: “Chúng tôi đang có những quan ngại về tính công bằng trong thủ tục tố tụng đối với một số vụ xử án ở Việt Nam. Những gì chúng tôi biết thật sự mang tính báo động. Chính quyền Việt Nam cho biết có việc tăng mức án tử hình trong khoảng thời gian từ 01/10/2020 đến 31/07/2021, số lượng người tử tăng cũng là vấn đề. Có hơn 1200 chỗ giam người bị kết án tử hình và có 11 nhà thi hành án tử hình bằng thuốc độc tại Việt Nam”.

Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức theo dõi nhân quyền – Human Rights Watch (HRW) cho rằng: “Việt Nam tiếp tục là một trong những quốc gia kết án tử hình cao trên thế giới, vượt qua các quốc gia trong khối ASEAN, xét về số lượng người bị kết án tử hình. Tuy nhiên, tương đối ít người ý thức được điều này vì chính phủ Việt Nam giữ bí mật thông tin và che giấu cộng đồng quốc tế”.

Nhiều nước xóa bỏ án tử hình

Theo AI, không thể biện minh việc tử hình như một hình thức răn đe tội phạm, nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tử hình không có khả năng răn đe độc nhất. Năm 2017, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Guterres từng nói rằng: “Tử hình không có chỗ trong thế kỷ 21”.

Bà Chiara Sangiorgio cho biết: “2/3 số quốc gia trên thế giới đều đã xóa bỏ hình thức tử hình hoặc không còn sử dụng nữa…”.

Theo bà Chiara Sangiorgio, vụ án Hồ Duy Hải bị y án tử hình mà AI đang theo dõi là điển hình trong nhiều vụ án xét xử oan sai tại Việt Nam: “Những hình phạt tử hình ở Việt Nam liên quan đến ma túy hay phạm tội kinh tế đều không phải là các loại tội đặc biệt nghiêm trọng. Theo những gì chúng tôi có thể giám sát thì có nhiều trường hợp tử hình trong năm ngoái liên quan đến ma túy”.

Theo AI, hiện có 108 quốc gia đã xóa bỏ hoàn toàn án tử hình cho tất cả các loại tội phạm; 55 nước vẫn còn duy trì án tử hình.

Theo Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc ngày 25/4, việc bãi bỏ hình phạt tử hình là “cần thiết để nâng cao phẩm giá con người và cho tiến trình phát triển”.

Xu thế nào cho Việt Nam?

Theo Liên hợp quốc, Việt Nam thuộc số ít các quốc gia vẫn duy trì án tử hình, phần lớn từ niềm tin rằng hình thức này có thể giúp ngăn chặn được tội phạm.

Vấn đề duy trì hay xóa bỏ án tử hình đã được tranh luận tại Việt Nam trong nhiều năm qua và có một số nghiên cứu được thực hiện. Nghiên cứu do Phó Giáo sư Vũ Công Giao và Tiến sĩ Nguyễn Quang Đức, từ Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện vào năm 2021 chỉ ra rằng: “Việt Nam còn duy trì án tử hình nhưng chỉ áp dụng đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng. Dù vẫn là quốc gia duy trì hình phạt tử hình trong pháp luật, nhưng số lượng tội danh bị kết án tử hình trong Bộ luật Hình sự Việt Nam đã giảm liên tục từ năm 1999. Điều đó cho thấy, Việt Nam đang đi theo xu hướng chung của thế giới là giảm bớt hình phạt này”.

Phó Giáo sư Vũ Công Giao và Tiến sĩ Nguyễn Quang Đức cho biết những yếu tố gây trở ngại cho việc xóa bỏ hình phạt tử hình ở Việt Nam là do hiểu biết thiếu chính xác về tác dụng của hình phạt tử hình và tâm lý báo thù: “Giống như nhiều dân tộc khác, người Việt Nam thường biện minh cho việc áp dụng án tử hình trên cơ sở “chủ nghĩa trừng phạt”, thể hiện qua quan điểm “lấy mạng đền mạng”, vốn ăn sâu cả vào văn học dân gian của Việt Nam. Dấu ấn của tâm lý báo thù trong văn hóa hiện nay vẫn còn thể hiện qua nhận thức của người dân Việt Nam về hình phạt tử hình”.

Nghiên cứu cũng đề cập khả năng: “Việt Nam vẫn sẽ theo xu hướng giảm hình phạt tử hình trong pháp luật và việc giảm áp dụng hình phạt này trong thực tế. Mặc dù vậy, đây sẽ không phải là một sự thay đổi nhanh chóng trong thời gian ngắn do vẫn còn thiếu động lực về duy trì hình phạt này”.

Theo ông Phil Robertson, các nhà ngoại giao của Liên hợp quốc nên gây sức ép để Hà Nội ngay lập tức cải tiến Bộ luật Hình sự, nhằm loại trừ tất cả các điều luật dẫn đến tử hình và thay đổi mức án tử hình cho những người đã bị kết tội.

Bà Chiara Sangiorgio cho biết: “Chúng tôi khuyến khích chính quyền Việt Nam ngay lập tức thay đổi lộ trình và bỏ ngay hình phạt tàn bạo này mãi mãi; cùng với các nước trong khu vực bãi bỏ hình thức xử tử hoặc cân nhắc cải cách”.

Luật sư Đặng Đình Mạnh không tán thành hình phạt tử hình, cho rằng: “Hình phạt được tuyên bởi những thẩm phán, họ là ocn người nên hoàn toàn có thể phạm sai lầm. Nếu phạm sai lầm dẫn đến tử hình oan thì điều đó không thể sửa chữa, khắc phục được. Cho nên, tôi vẫn mong Nhà nước Việt Nam sớm xem xét tu chỉnh luật hình sự Việt Nam, theo đó, cho bãi bỏ hình phạt tử hình. Điều này, cũng phù hợp với quan điểm xét xử hình sự chung mà thế giới đang đeo đuổi”.

Trong khi đó, Phó Giáo sư Đặng Minh Tuấn, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: “Việt Nam cần công khai dữ liệu tử hình sớm nhất có thể để cung cấp sự minh bạch cho công chúng. Việc bãi bỏ án tử hình ở Việt Nam chỉ diễn ra khi nhận thức của người dân về hình phạt này thay đổi. Song song với đó thì giới học thuật và các nhà làm luật cần phải nghiên cứu sâu hơn về những hình phạt thay thế có thể áp dụng trong tương lai. Những hình phạt này phải thỏa mãn những yêu cầu về kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội của Việt Nam, đồng thời đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa của luật hình sự”.

Án tử hình ở các nước ASEAN

Bà Chiara Sangiorgio cho rằng trong nội bộ ASEAN đã có những tiến bộ đáng kể trong những năm gần đây: “Malaysia đã đình chỉ tạm thời việc áp dụng và thi hành án tử hình. Chính phủ nước này cũng đã công bố các cải cách hợp lý. Thái Lan cũng đã giảm số người chịu án tử hình từ 551 xuống còn 158 trường hợp vào năm 2021. Tuy nhiên, cũng còn 2 quốc gia trong ASEAN vẫn có án tử hình. Singapore vào những năm gần đây vẫn giới hạn số lượng không lớn mỗi năm, dựa theo số liệu chính thức, trong khi Việt Nam thì vẫn không thể biết con số chính thức được”.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Tái thiết chính phủ và nền dân chủ – Phần VIII


Cử tri có thể ủy nhiệm quyền bầu cử của mình cho nhiều đại diện theo các chủ đề cụ thể. Cuộc trưng cầu dân ý khi ấy sẽ được tổ chức thường xuyên và phân loại theo chủ đề, cho biết đại diện nào (nếu có) cần phải bỏ phiếu tương ứng với vấn đề được đưa ra. Điều này sẽ tạo ra một hệ thống trong đó cử tri có thể lựa chọn nhiều chuyên gia hoặc cố vấn tin cậy để bỏ phiếu thay cho họ. Nền tảng của ý tưởng này là niềm tin cho rằng không một người nào (hoặc đảng phái nào) có câu trả lời đúng và đầy đủ trong mọi câu hỏi. Trong các nền dân chủ đại diện, ý tưởng này thường được cho là giả dối và bị bỏ qua.

Robles Elvira đang làm việc với các chính phủ để xây dựng “một hồ sơ ghi lại các sự kiện phi tập trung và độc nhất, rất hữu ích trong việc giải quyết các cuộc tấn công từ chối dịch vụ (DDOS)”. Công nghệ blockchain có thể đáp ứng được những điều trên. Ông nói, “Rất khó để tạo ra một hệ thống an toàn, phi tập trung nhưng blockchain sẽ cho phép chúng ta làm được… nó không chỉ phi tập trung mà còn phi tập trung một cách an toàn. Điều này thực sự quan trọng và có thể hữu ích đối với rất nhiều ứng dụng; bỏ phiếu điện tử chỉ là một trong số đó”. Công ty của ông, Agora Voting, cung cấp cơ sở hạ tầng công nghệ cần thiết cho phép tiến hành các cuộc bầu cử điện tử có khả năng kiểm tra, minh bạch và đáng tin cậy. “Với công nghệ mật mã hàng đầu này, con người lại trở thành mắt xích yếu nhất trong chuỗi an ninh”.

Đảng Podemos (dịch ra là: “Chúng ta có thể”) của Tây Ban Nha được biết đến với chính sách chống lại việc thắt lưng buộc bụng đang sử dụng hệ thống Agora Voting để tổ chức bầu cử sơ bộ trong đảng. Với sự cam kết của đảng đi theo mô hình dân chủ tham gia kèm với lời hứa về sự minh bạch, về sự thay đổi hệ tư tưởng ở Tây Ban Nha và những nơi khác phù hợp với nền tảng công nghệ phi tập trung.

Robles Elvira cũng đã thấy một số hạn chế. Để tối đa hóa tính an ninh và tính ẩn danh, người dùng hiện tại cần truy cập vào toàn bộ blockchain, một khối lượng tập tin khổng lồ. Kích thước làm cho việc truy cập (đặc biệt là trên thiết bị di động) rất khó khăn và không thân thiện với người dùng. Tuy nhiên, công nghệ luôn luôn phát triển và thiết kế hiện nay đang ngày càng được cải thiện. “Chúng ta đang ở thời kỳ đầu của thời đại bỏ phiếu điện tử”, Roble Elvira nói. Đây là một công nghệ có tính mềm dẻo. Chắc chắn, đây chưa phải là ứng dụng tốt nhất của blockchain.

Giải quyết tranh chấp

Một số vụ tranh chấp pháp lý tốt nhất không nên có sự tham gia của tòa án. Chúng tôi đã nhìn thấy cách hợp đồng thông minh có thể cho phép phân bố đều quyền lực, không phụ thuộc và tự vận hành trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại. Các hợp đồng thông minh không quan tâm đến khái niệm về sự công bằng hay công lý, tuy nhiên, nó không thể thống nhất những mâu thuẫn có trong các sự kiện. Thậm chí phương pháp mới này còn cách mạng hóa việc xét xử hơn hẳn kể cả khi đã nắm trong tya bằng chứng, do vậy blockchain có thể là nền tảng để giải quyết các tranh chấp ngang hàng. Trong mô hình này, một bồi thẩm đoàn gồm hàng trăm hoặc hàng nghìn người ngang hàng với nhau có thể dễ dàng đánh giá một cách hiệu quả các vấn đề, như Pamela Morgan của Empowered Law đã nhận định, “công lý của cộng đồng”.

Bầu cử lấy mẫu ngẫu nhiên

Mô hình bầu cử lấy mẫu ngẫu nhiên là mô hình dân chủ được mở ra bởi phương pháp quản lý dựa vào blockchain. Các cử tri được lựa chọn ngẫu nhiên sẽ nhận được một phiếu bầu trong thư, sau đó được dẫn tới các trang web hiển thị thông tin về ứng viên và phát biểu từ các bên liên quan. Bất cứ ai cũng có thể yêu cầu một lá phiếu nhưng lá phiếu đó không được tính, và sẽ xuất hiện không khác gì những lá phiếu hợp lệ khác chỉ trừ lá phiếu của những người được chọn. Những lá phiếu có thể được bán cho người khác, nhưng họ sẽ không bao giờ biết được liệu lá phiếu đó có được tính không. Vì những phiếu được mua chưa chắc được chọn, nên việc cưỡng ép kết quả bầu cử thực sự tốn kém và không khả thi. David Chaum, người phát minh ra khái niệm này cho biết các cuộc thăm dò lấy mẫu ngẫu nhiên sẽ khiến kết quả trở nên tiêu biểu và đáng tin hơn so với kết quả các cuộc bầu cử ngày nay.

Thị trường dự đoán

Công ty Augur đang sử dụng blockchain để tổng hợp các vụ đánh cược nhỏ về sự kiện xảy ra trong tương lai thành mô hình dự đoán mạnh mẽ. Với sự ứng dụng phù hợp mô hình trên có thể đóng góp vào việc tạo ra nền dân chủ hợp tác. Các chính phủ có thể sử dụng thị trường dự đoán nhằm thu hút người dân dự đoán về cách kịch bản thực tế có thể xảy ra ở tương lai, giúp các chính phủ có thể đưa ra quyết định tốt nhất.

Vitalik Buterin, người đứng đầu nền tảng Ethereum đang thảo luận về một mô hình khác của đời sống chính trị được gọi là “futarchy”. Nhà kinh tế học Robin Hanson nhận định rằng nguyên lý của mô hình trên tóm tắt là “bỏ phiếu cho các giá trị, nhưng đặt cược vào niềm tin”. Công dân chọn đại diện của mình trong quá trình gồm hai giai đoạn: Đầu tiên, chọn một số chỉ số để xác định mục tiêu họ muốn đất nước đạt được (như trình độ học vấn hoặc tỷ lệ thất nghiệp). Sau đó, sử dụng các thị trường dự đoán để lựa chọn các chính sách của chính phủ nhằm tối ưu hóa các chỉ số đã chọn.

Cách thức dự đoán của Augur có thể sẽ thu hút công dân tham gia, đóng góp lựa chọn nhỏ của mình vào việc thảo luận chính sách của quốc gia, từ đó hình thành tương lai cho nền dân chủ của chính họ.

Hệ thống tư pháp ứng dụng blockchain

Blockchain cũng có thể khiến ngành tư pháp thay đổi. Là sự kết hợp của các khái niệm về minh bạch, đóng góp của cộng đồng, sự tham gia trực tuyến của người dân thông qua blockchain, chúng ta có thể hình dung việc đưa khái niệm dân chủ của Athen thời cổ đại trở lại thế kỷ 21. Mô hình CrowdJury có thể sẽ thay đổi hệ thống tư pháp khi đưa quá trình tư pháp lên trực tuyến, sử dụng cả mô hình đóng góp cộng đồng và công nghệ blockchain để giải quyết những việc như nộp đơn kiện hoặc khiếu nại, thu thập và xem xét các bằng chứng, thu hút người dân tham gia các phiên xử trực tuyến với vai trò là bồi thẩm và đưa ra phán quyết. Hãy nghĩ tới việc các quy trình sẽ đảm bảo minh bạch với sự khám phá, phân tích, quyết định đến từ cộng đồng và bạn sẽ có được kết quả chính xác trong một khoảng thời gian ngắn hơn trước và chi phí cũng sẽ giảm đáng kể.

Quá trình bắt đầu bằng một bản báo cáo trực tuyến về việc nghi ngờ vi phạm dân sự hoặc vi phạm hình sự (như quan chức chính phủ bị nghi ngờ nhận hối lộ), mời các nhân chứng tiềm năng cung cấp bằng chứng và kết hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Đơn khiếu nại hoặc đơn yêu cầu bồi thường gốc sẽ được lưu trữ mã hóa thông qua blockchain để đảm bảo luôn được lưu giữ và không thể làm giả, như những bằng chứng khác.

Sau khi đơn được nộp, một nhóm tình nguyện nhỏ (từ 9 đến 12 người) tự đăng ký dựa trên yêu cầu chuyên môn cần thiết sẽ phân tích các sự kiện và xác định liệu vấn đề có đủ điều kiện để đưa ra xét xử hay không. Tại phiên xét xử, có hai tình huống có thể xảy ra. Thứ nhất, “người có hành động sai trái” nhận tội và đề nghị sửa lỗi (có thể được chấp nhận hoặc không được chấp nhận bởi bồi thẩm đoàn) hoặc khiếu nại được chuyển tới xét xử ở một bồi thẩm đoàn lớn hơn. Cũng như ở Athens, bất  kỳ công dân nào trên 30 tuổi có thể nộp đơn tham gia bồi thẩm đoàn mỗi khi có dịp (chỉ trừ trường hợp đặc biệt), sau đó công dân ứng cử vào bồi thẩm đoàn được lựa chọn ngẫu nhiên bằng một thiết bị, giống như bồi thẩm đoàn Athens được chọn ngẫu nhiên bởi công cụ bằng đá kleroterion vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên. Như một kết quả tất yếu, không hề có ý kiến trái chiều trong việc phân chia bồi thẩm đoàn cho các trường hợp đặc biệt. Phiên tòa và tất cả các bằng chứng được phát trực tiếp rộng rãi trong mô hình có thể được coi là một tòa án mở. Bất cứ ai cũng có thể “tham dự” và đặt câu hỏi về bị đơn, nhưng chỉ có bồi thẩm đoàn mới có quyền biểu quyết thông qua một cuộc bình chọn trực tuyến.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Don Tapscott & Alex Tapscott – Cuộc cách mạng blockchain – NXB ĐHKTQD 2018

Sự không tương xứng trong quan hệ Mỹ – ASEAN – Phần cuối


Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa và là người ủng hộ thương mại tự do John Cornyn cho rằng IPEF (hiện đang được Quốc hội xem xét) là “sự thay thế yếu kém cho thực tế”. Tại cuộc hội thảo của CSIS, Cornyn nói rằng “IPEF được đưa ra như một giải pháp thay thế. Nhưng nó không phải là những gì tôi kỳ vọng khi nói đến việc đạt được các thỏa thuận thương mại mới”.

Các thượng nghị sĩ có mặt tại phiên điều trần ngày 31/3 của Ủy ban Tài chính Thượng viện Mỹ cũng chỉ trích việc IPEF thiếu khả năng tiếp cận thị trường, cho rằng khuôn khổ này đã “bỏ lỡ” các dấu ấn đối với những gì mà chính phủ các nước ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mong muốn. Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Bob Menendez của bang New Jersey nói rằng đại sứ của các nước có ý định tham gia IPEF đã nói với ông rằng khuôn khổ này không đủ tham vọng. Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa Mike Crapo của bang Idaho nói: “Hiện đang có nhiều quốc gia ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương kêu gọi các cuộc đàm phán thương mại tự do với chúng ta để họ có thể tăng cường mối quan hệ giữa hai bên về kinh tế, thay vì bị ràng buộc với Trung Quốc”.

Chuyên gia nghiên cứu Đông Nam Á và Thái Bình Dương thuộc Viện Hudson có trụ sở tại Washington Riley Walters cho rằng IPEF đòi hỏi chính phủ các nước ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương phải thực hiện tiêu chuẩn cao hơn trong các quy tắc và quy định, nhưng lại không đưa ra những động lực khuyến khích họ làm như vậy. Nó giống như việc yêu cầu ký kết một thỏa thuận thương mại có tất cả các biện pháp thực thi nhưng không có quyền tiếp cận thị trường. Tất cả đều là cây gậy và hoàn toàn không có củ cà rốt nào.

Trong lĩnh vực an ninh, động lực ngược lại là đúng – Mỹ muốn hợp tác an ninh nhiều hơn để chống lại Trung Quốc, nhưng đây lại là điều mà ASEAN nhìn chung ít quan tâm hơn. Thay vào đó, các chuyên gia nhận thấy Mỹ lại đang có cùng quan điểm với các thành viên khác của nhóm Bộ tứ và liên minh AUKUS và đang đẩy nhanh sự hợp tác trong hai cơ chế này. Tại cuộc hội thảo của CSIS, Cooper nói rằng “Nếu ai đó đòi hỏi nhà lãnh đạo của các nước thuộc nhóm Bộ tứ về mục tiêu của nhóm này là gì, thì thường họ sẽ trả lời rằng đó thực sự không phải là để chống lại Trung Quốc mà là vì tất cả các hàng hóa công cộng khác. Nhưng ở cấp cơ sở, Ấn Độ, Mỹ, Australia và Nhật Bản có điểm điểm gì chung mà các nước khác không có? Câu trả lời sẽ là chúng tôi sẵn sàng chống lại Trung Quốc”.

Theo Cooper, điểm chung lớn nhất của 4 nước thuộc nhóm Bộ tứ là sẵn sàng thực hiện một số nỗ lực để cân bằng những khó khăn về an ninh. Đó là lý do tại sao trong nhiều thời điểm Mỹ khó trao đổi với ASEAN – hiệp hội này về cơ bản là không sẵn sàng thực hiện các nỗ lực để cân bằng những khó khăn về an ninh. Điều này đã làm nổi bật sự căng thẳng của Mỹ khi can dự sâu hơn vào khu vực này. Mỹ có thể và nên có nhiều hành động thực tế hơn với ASEAN.

Những ngụ ý

Trong khi đó, vai trò chủ đạo về kinh tế của Trung Quốc trong khu vực đang tăng lên, điều mà sẽ khiến Washington lo lắng nếu sự trao đổi của nước này với ASEAN tiếp tục chậm lại. Thương mại song phương giữa Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á đã tăng 6,7%, đặt 685 tỷ USD trong năm 2020, gần gấp đôi kim ngạch thương mại giữa Mỹ và ASEAN trong năm 2020 với 362 tỷ USD.

Trung Quốc cũng đang đầu tư mạnh mẽ vào khu vực này và đã nộp đơn xin gia nhập Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Mỹ sẽ bị “bỏ lại phía sau” xa hơn nếu nước này không đầu tư nhiều hơn vào việc xây dựng các mối quan hệ về kinh tế bên cạnh các mối quan hệ về an ninh ở khu vực này.

Theo Cornyn, điều rất quan trọng đối với Mỹ là phải tiếp tục xây dựng những mối quan hệ đó trong khu vực, không chỉ từ khía cạnh an ninh mà cả từ khía cạnh kinh tế. Đó là cách tốt nhất để kiểm soát bước tiến của Trung Quốc trong việc củng cố sức mạnh cả về kinh tế và quân sự của nước này trong khu vực.

Điều đó cho thấy có những lĩnh vực hợp tác khác với ASEAN mà Mỹ đang thực hiện tốt, ngoài các mối quan hệ về an ninh và kinh tế. Mỹ có lợi thế đặc biệt về quyền lực mềm, như bà Elina Noor thuộc Viện chính sách xã hội châu Á đã nêu lên trong cuộc hội thảo của CSIS. Theo bà Elina, Sáng kiến thủ lĩnh trẻ Đông Nam Á, chương trình trao đổi văn hóa do Mỹ tài trợ, vẫn được đánh giá cao và rất phổ biến trong giới trẻ Đông Nam Á. Mỹ cũng đã tham gia nhiều chủ đề và khía cạnh mà thế hệ trẻ trong khu vực quan tâm như vấn đề biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, sự tham gia của Mỹ về kinh tế vẫn còn thiếu và việc nước này đẩy mạnh “mặt trận này” là một cách để họ có thể trấn an ASEAN rằng Mỹ không chỉ “chót lưỡi đầu môi” đối với vai trò trung tâm của ASEAN, mà còn thực sự quan tâm đến việc tăng cường các cam kết của mình với khu vực này. Ngược lại, nếu Mỹ tiếp tục đầu tư quá ít vào ASEAN, thì cả hai bên sẽ trở nên “đáng thương hơn” vì điều đó.

Nguồn: TLTKĐB – 29/04/2022

Sự không tương xứng trong quan hệ Mỹ – ASEAN – Phần đầu


Tờ The Straits Times ngày 11/04/2022 đăng bài bình luận của tác giả Charissa Yong về những điều không phù hợp trong cách tiếp cận của Mỹ nhằm tăng cường quan hệ với ASEAN, nội dung cụ thể như sau:

So với khoảng thời gian dành cho công tác sắp xếp và tổ chức Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt Mỹ – ASEAN, mối quan hệ hợp tác an ninh giữa Mỹ với các đồng minh trong Đối thoại an ninh Bộ tứ (gồm Mỹ, Australia, Ấn Độ và Nhật Bản) dường như lại tiến triển nhanh hơn nhiều.

Các nhà lãnh đạo của nhóm Bộ tứ đã tổ chức nhiều cuộc họp trực tuyến kể từ khi Tổng thống Mỹ Joe Biden lên cầm quyền vào tháng 01/2021 và tổ chức hội nghị thượng đỉnh trực tiếp đầu tiên tại Washington vào tháng 9/2021.

Trong khi đó, công tác chuẩn bị cho cuộc gặp trực tiếp giữa các nhà lãnh đạo của ASEAN với Biden đã kéo dài gần một năm rưỡi, và đến nay vẫn đang trong quá trình chuẩn bị.

Một cuộc họp được lên kế hoạch diễn ra vào cuối tháng 3 vừa qua đã bị hoãn lại do các vấn đề liên quan đến lịch trình. Hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN bị đình trệ là một điều đáng lo ngại vì những cuộc gặp như vậy thường là cơ hội để Mỹ thể hiện cam kết của mình với khu vực Đông Nam Á. Các cuộc gặp này cũng có xu hướng là sự bắt đầu cho một quá trình hợp tác sâu rộng hơn, là nơi đưa ra các thông báo quan trọng. Kurt Campbell, điều phối viên của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cho rằng Hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN có ý nghĩa nhằm phục vụ một mục đích như vậy.

Tại một cuộc hội thảo do Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) tổ chức ngày 5/4, Kurt Campbell nói rằng: “Tôi tin rằng một khi chúng ta có thể thực hiện điều này thì về cơ bản sẽ giúp thúc đẩy mối quan hệ của chúng ta với ASEAN trong tương lai ngày càng phát triển”. Cũng tại cuộc hội thảo này, Thứ trưởng Thương mại Mỹ Panela Phan đã gọi Hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN là một phần quan trọng để thúc đẩy mối quan hệ hai bên. Bà Pamela Phan nói thêm rằng Chính quyền Biden đang coi Hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN là một diễn đàn tiềm năng để khởi động Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPEF) được mong đợi từ lâu cho chiến lược kinh tế của Mỹ trong khu vực này.

Cùng ngày, Mỹ tuyên bố sẽ hợp tác với Australia và Anh liên quan đến tên lửa siêu thanh theo Hiệp ước an ninh AUKUS – đây là kết quả hoàn toàn trái ngược với tình trạng rất nhiều lần “nếu và có thể” trong quan hệ với ASEAN.

Sự trái ngược này làm nổi bật sự thụt lùi của quan hệ Mỹ – ASEAN và sẽ khiến Mỹ lo ngại bởi vì điều này sẽ mang lại cho Trung Quốc – đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng trong khu vực – không gian để lôi kéo ASEAN.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc gần đây đã miêu tả công tác chuẩn bị lịch trình cho Hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN là sự phản ánh cho “phong cách hách dịch” của Mỹ và là một ví dụ về việc ASEAN đã nhiều lần bị xếp sau chương trình nghị sự khác. Tờ báo này viết: “Ngay cả khi Hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN được tổ chức vào cuối năm nay, vẫn còn đó những hoài nghi về việc liệu nó có thể thực sự giúp thúc đẩy quan hệ hai bên hay không. Mỹ sẽ chỉ tập trung sự quan tâm vào những chủ đề liên quan đến lợi ích của nước này, chứ hoàn toàn không quan tâm đến lo ngại và nhu cầu của ASEAN”.

Sự trái ngược này cũng khiến ASEAN lo ngại, hiệp hội này cảm thấy không thoải mái khi bị nhóm Bộ tứ đẩy ra bên lề cuộc chơi – không còn là trung tâm của cấu trúc an ninh khu vực, ngay cả khi hai tổ chức này là rất khác nhau về bản chất. Nghiên cứu viên cấp cao của Viện doanh nghiệp Mỹ Zack Cooper cho biết: “Chúng ta có thể nói nhiều về cách Bộ tứ tôn trọng vai trò trung tâm của ASEAN. Nhưng nếu nhìn lại những gì đã xảy ra ở Mỹ trong 5 năm qua, thì bạn sẽ nhận thấy Mỹ đã nỗ lực như thế nào? Mỹ đã đầu tư vào những cơ chế như nhóm Bộ tứ và AUKUS”. Mỹ nên nhận thức được sự không phù hợp giữa lời nói và hành động thực tế này, và ủng hộ “những tuyên bố” của mình về vai trò trung tâm của ASEAN bằng những hành động thực tế. Điều quan trọng nhất cần theo dõi trong tương lai gần là IPEF và mức độ mà khuôn khổ này có thể đáp ứng những mong muốn của khu vực liên quan đến vấn đề kinh tế.

Lý do khiến sự trao đổi giữa Mỹ và ASEAN diễn ra chậm hơn?

Những khó khăn về logistics và thời điểm không tốt có thể phần nào lý giải cho sự trao đổi giữa Mỹ và ASEAN diễn ra ở tốc độ chậm hơn mong muốn. ASEAN gồm có 10 nước thành viên, lớn hơn nhiều so với nhóm Bộ tứ chỉ có 4 nước. Hơn nữa, do ASEAN có các hệ thống chính trị và nền kinh tế rất khác biệt nên thường rất khó để đạt được một thỏa thuận. Chiến tranh Ukraine chắc chắn cũng đã gây ra nhiều tác động và khó khăn cho các kế hoạch và sự “sẵn sàng” của Mỹ – ngay cả cuộc họp các nhà lãnh đạo nhóm Bộ tứ tại Nhật Bản ban đầu được đề xuất diễn ra vào cuối tháng 4 này, cũng được cho là sẽ hoãn lại đến tháng 5. Tuy nhiên, có một lý do sâu xa hơn – có sự không phù hợp cơ bản trong những gì mà Mỹ và ASEAN mong muốn nhất ở mỗi bên. Nhìn chung, đứng đầu danh sách những điều mà ASEAN “mong muốn” là được tiếp cận thị trường nhiều hơn và tự do hóa thương mại lớn hơn. Nhưng đây lại là sự khó khăn về mặt chính trị đối với Washington và Chính quyền Biden đã phát đi tín hiệu họ khó có thể làm được như vậy.

Mỹ đã sẵn sàng triển khai IPEF của mình, khuôn khổ vốn sẽ thúc đẩy thương mại công bằng và linh hoạt hơn, thúc đẩy khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng, cơ sở hạ tầng, năng lượng sạch và giảm thiểu khí thải carbon… Tháng 10/2021, tại Hội nghị cấp cao Đông Á, Biden lần đầu tiên công bố các kế hoạch của Mỹ đối với IPEF, và sau đó Nhà Trắng cho biết IPEF sẽ được đưa ra vào đầu năm nay. Cho đến nay, chưa có thông tin chi tiết, cụ thể nào về những quốc gia nào có thể được đưa vào khuôn khổ này. Nhưng gần đây, Bộ Thương mại Mỹ và Văn phòng đại diện thương mại Mỹ đã kêu gọi đóng góp ý kiến công khai về những gì mà IPEF nên đưa vào.

Họ đã dừng việc lấy ý kiến công khai, và trong cuộc hội thảo của CSIS ngày 5/4, bà Pamela Phan cho biết Mỹ có thể triển khai trong tháng 5. Tuy nhiên, khuôn khổ này cũng sẽ không đạt được tiêu chuẩn của một thỏa thuận tự do khi tham gia các thỏa thuận thương mại mới, cũng như mở rộng hơn nữa tiêu chuẩn tiếp cận thị trường.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 29/04/2022

Quan hệ với Việt Nam đã là một chiến thắng thầm lặng của Mỹ


Nhân chuyến công du của Thủ tướng Phạm Minh Chính đến Washington tham dự Hội nghị cấp cao đặc biẹt Mỹ – ASEAN, trang Foreign Policy ngày 9/5 đăng bài phân tích của Brian Eyler, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Stimson (Mỹ), trong đó phân tích những nỗ lực cho thấy “sự kiên trì” và “tin tưởng” là những yếu tố cần thiết để hai cựu thù có thể trở thành đối tác.

Theo bài viết, Việt Nam hiện là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Washington trong khu vực và Mỹ đã đầu tư hàng tỷ USD để khắc phục hậu quả của chất độc da cam và các vấn đề di sản chiến tranh. Các quan chức Mỹ, gồm cả Đại sứ Mỹ tại Việt Nam đương nhiệm là Marc Knapper, đang kêu gọi nâng cấp quan hệ Mỹ – Việt từ “đối tác toàn diện” lên “đối tác chiến lược” để ghi nhận bước tiến đáng kể của mối quan hệ này. Đối với Hà Nội, cách gọi cho một mối quan hệ đối tác xác định số lượng nguồn lực và ngân sách cũng như tần suất trao đổi chính thức. Việc nâng cấp lên quan hệ “đối tác chiến lược” sẽ tăng cường nguồn lực dành riêng cho nỗ lực này và có khả năng kéo theo nhiều hoạt động liên quan đến quốc phòng hơn, gồm cả việc Việt Nam mua thiết bị quốc phòng của Mỹ sau khi lệnh cấm vận vũ khí được dỡ bỏ.

Việc nâng cấp quan hệ có thể và nên diễn ra vào thời điểm thích hợp. Trên thực tế, mối quan hệ hợp tác hiện nay trong các lĩnh vực an ninh hàng hải cho thấy quan hệ Mỹ – Việt thực chất đã là quan hệ chiến lược. Tuy nhiên, việc vội vã nâng cấp quan hệ trong chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính có thể phản tác dụng.

Thay vào đó, bằng cách đi thẳng vào thực chất, Tổng thống Mỹ Joe Biden và Thủ tướng Phạm Minh Chính có thể tập trung vào các lĩnh vực đã thỏa thuận và cùng vì lợi ích chung. Hai bên cũng có thể thảo luận về các cuộc xung đột gần đây, gồm cả cuộc tấn công của Nga vào Ukraine, trong khi chứng minh rằng mối quan hệ hiện tại đã đủ an toàn để những bất đồng xung quanh vấn đề này không đe dọa làm mất động lực phát triển quan hệ.

Còn nhiều công việc quan trọng hơn phải được thực hiện. Nền kinh tế Việt Nam đang công nghiệp hóa nhanh chóng và trong một hoặc hai thập kỷ nữa, Việt Nam có thể có vị thế như Hàn Quốc trong mối quan hệ kinh tế với thế giới, đặc biệt là Mỹ. Tương lai là các công ty của Việt Nam được kết nối chặt chẽ vào chuỗi cung ứng của Mỹ và các thương hiệu của Việt Nam được công nhận trên toàn cầu.

Với tâm lý chủ đạo hiện tại ở Mỹ, việc hai bên đề xuất một hiệp định thương mại tự do song phương không phải là động thái thực tế về mặt chính trị. Tuy nhiên, khi hai phái đoàn gặp nhau ở Washington, hai bên có thể hướng tới những bước tiến khiêm tốn thông qua Hiệp định khung về thương mại và đầu tư hiện tại, trong khi nắm bắt các khía cạnh của Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ sắp tới, với trọng tâm là chuỗi cung ứng an toàn và hợp tác kỹ thuật số. Những nỗ lực này sẽ đặt nền tảng cho một quá trình nhiều bước mà cuối cùng có thể mang lại một hiệp định thương mại tự do song phương.

Trong chuyến thăm Mỹ năm 2015, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh rằng sự hợp tác giải quyết các vấn đề liên quan đến di sản chiến tranh là nền tảng của mối quan hệ song phương Việt – Mỹ. Mỹ tiếp tục có các động thái đáp ứng các nhu cầu liên quan đến vấn đề di sản chiến tranh, như việc phân bổ kinh phí hàng năm cho các nỗ lực khắc phục chất độc da cam và cung cấp các dịch vụ cho thế hệ trẻ và già phải chịu ảnh hưởng của chất độc da cam. Đặc biệt, Thượng nghị sĩ Mỹ Patrick Leahy đã có những nỗ lực không mệt mỏi trong suốt nhiều năm cho vấn đề này.

Khi gặp Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Đồi Capitol, điều quan trọng là các nhà lãnh đạo Thượng viện Mỹ sẽ nỗ lực kề vai sát cánh để thể hiện cam kết bền vững của Mỹ trong việc giải quyết vấn đề di sản chiến tranh. Về cơ bản, nên chuyển hướng sang việc cung cấp hỗ trợ trực tiếp cho các nạn nhân chất độc da cam và hợp tác tìm kiếm hài cốt của hàng trăm nghìn người Việt Nam, bên cạnh quân nhân Mỹ, thiệt mạng trong chiến tranh. Việt Nam cũng có thể hỗ trợ Mỹ tăng cường nỗ lực giải quyết những vấn đề này ở các nước láng giềng Lào và Campuchia, góp phần xây dựng lòng tin ở các quốc gia gần gũi với Việt Nam nhưng có quan hệ khó khăn với Mỹ.

Hợp tác về giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu là lĩnh vực mới và có nhiều triển vọng cho quan hệ Việt – Mỹ. Tại Hội nghị về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (COP26) năm 2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đưa ra những cam kết đầy tham vọng bằng cách tránh xây dựng các nhà máy điện than mới và chuyển đổi sang năng lượng sạch. Những mục tiêu này không thể đạt được nếu không có những cải cách trong nước, tạo điều kiện thông thoáng hơn cho đầu tư nước ngoài vào năng lượng sạch.

Việc Phòng Thương mại Mỹ và Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ hỗ trợ xây dựng năng lực hướng tới cải cách đầu tư có thể mở ra con đường đầu tư thông thoáng hơn cho Mỹ, dù Mỹ nên thận trọng với sức mạnh của ngành than do nhà nước Việt Nam quản lý và tránh tạo ra những xích mích không cần thiết.

Các mối đe dọa đối với an ninh khí hậu của Đồng bằng sông Cửu Long cũng là mối quan tâm chung của Campuchia và Lào, do vậy, sự hợp tác sâu sắc về an ninh khí hậu giữa Mỹ và Việt Nam có thể mở rộng để tăng cường khả năng phục hồi và thích ứng ở các quốc gia láng giềng này, đồng thời củng cố vị thế của Việt Nam với tư cách là nước dẫn đầu khu vực.

Tập trung vào tăng trưởng trong các lĩnh vực mà hai bên cùng quan tâm và liên kết chung, chẳng hạn như thương mại và đầu tư, di sản chiến tranh và biến đổi khí hậu, sẽ làm sâu sắc và mở rộng mối quan hệ Việt – Mỹ, đưa mối quan hệ này tiến gần hơn đến việc nâng cấp chính thức. Điều này cũng sẽ mang lại những lợi ích kinh tế và địa chính trị mạnh mẽ cho cả Việt Nam và Mỹ. Tuy nhiên, hiện tại, hãy tránh những căng thẳng không cần thiết và thực hiện nâng cấp quan hệ khi thời điểm thích hợp.

Nguồn: TKNB – 11/05/2022