Kế “hoãn binh” đe dọa nền dân chủ Malaysia


Trong bài bình luận gần đây đăng trên tờ Malaysiakini, tác giả Steve Oh cho rằng Malaysia đang trong tình trạng khẩn cấp nhưng không phải vì lý do như chính phủ đưa ra là chống COVID-19 mà chỉ là cái cớ “hoãn binh” cho Thủ tướng Muhyiddin Yassin, đồng thời đẩy nền dân chủ Malaysia vào tình trạng “hôn mê”.

Theo bài viết, tình trạng khẩn cấp có thể mang những ý nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau, song điều chắc chắn là một quốc gia trong tình trạng khẩn cấp cần được sự quan tâm khẩn cấp, giống như một người bệnh hoặc bị thương cần được hỗ trợ y tế khẩn cấp. Giới quan sát khẳng định rằng việc ban bố tình trạng khẩn cấp chỉ là cái cớ bởi Thủ tướng Muhyiddin Yassin sợ gặp phải Waterloo (một địa danh của Bỉ nơi xảy ra trận chiến vào năm 1815, đánh dấu sự kết thúc những trận chiến của Napoleon) nếu các cuộc bầu cử đột xuất diễn ra tại thời điểm này.

Rốt cuộc, không có quốc gia nào khác trên thế giới có nhiều ca nhiễm COVID-19 đình chỉ hoạt động quốc hội của họ. Hậu quả là đưa nền dân chủ vào trạng thái “hôn mê”. Vào thời điểm này, một quốc gia cần tất cả những nghị sĩ được bầu, dù có năng lực tốt hay không tốt, để nỗ lực giải quyết cuộc khủng hoảng quốc gia và toàn cầu này, chứ không phải để cho nhiều thành viên của chính phủ và phe đối lập rơi vào tình trạng bất khả kháng vì quốc hội ngừng hoạt động.

Việc ban bố tình trạng khẩn cấp không giúp ích gì mà còn gây trở ngại vì điều này làm gia tăng nguy cơ bất trắc đối với tình hình dịch bệnh vốn đang gây không ít hoang mang cho cộng đồng. Chính phủ có tất cả quyền lực cần thiết để chiến đấu với COVID-19 mà không cần sử dụng sức mạnh của việc ban bố tình trạng khẩn cấp. Malaysia đã từng ban bố sắc lệnh này trước đây. Công tác điều hành và sống trong tình trạng khẩn cấp chỉ gây khó khăn hơn cho cuộc sống của mọi người. Cho dù cái cớ nói trên bị chỉ trích nhiều như thế nào, người ta không thể bỏ qua tình trạng khẩn cấp thực sự để không bị lây nhiễm COVID-19 và không bị hủy hoại bởi chủng virus này. Một quốc gia thất bại trong cuộc chiến chống COVID-19 còn biểu hiện những thực trạng gây ảnh hưởng hơn rất nhiều so với chủng virus có thể đánh bại được này. Các “virus” vô hình và cứng đầu đang lây nhiễm vào Malaysia gây ra một mối đe dọa lâu dài hơn cho đất nước. Vì vậy, tác giả bài viết cho rằng việc ban bố tình trạng khẩn cấp thực sự không chỉ nhằm đối phó với đại dịch COVID-19 và sự quản lý yếu kém như một chính trị gia đã viết. Thay vào đó, tình trạng khẩn cấp ở đây nhằm đối phó với công tác quản lý yếu kém của toàn thể đất nước nói chung. Ngày nay, mạng xã hội không thiếu những bài báo phẫn nộ, chủ yếu do người Mã Lai viết, những người đã chán ngấy các nhân vật chính trị gia mà họ từng ủng hộ bởi họ đã trở thành những kẻ tham nhũng, phản bội và xấu hổ về chủng tộc và tôn giáo của họ kèm theo đó là lừa dối quốc gia.

Thiếu năng lực

Dịch bệnh, thậm chí là một đại dịch, không phải là lý do để vô hiệu hóa nền dân chủ của một quốc gia, trừ khi có sự hỗn loạn hoàn toàn và nguy cơ gây bất ổn dân sự. Việc ban bố tình trạng khẩn cấp là một cách đánh lạc hướng vô ích và không hiệu quả khi nó vi phạm Lệnh kiểm soát dịch chuyển (MCO) vẫn đang được áp dụng ở nhiều nơi tại Malaysia.

Đại dịch COVID-19 ập đến không báo trước. Các vấn đề khác đang lây nhiễm trong nền chính trị Malaysia mang tính chất mãn tính, một số vấn đề mang tính hệ thống, trong khi một số vấn đề khác mang tính hệ tư tưởng, khiến một quốc gia phải đối mặt với nhiều vấn đề khác nhau và một tương lai không được đảm bảo.

Các vấn đề vẫn tồn tại không được giải quyết không phải vì chính phủ thiếu năng lực mà vì sự chủ tâm và do thiếu một chính quyền trong sạch, hoạt động hiệu quả, đáng tin cậy, công bằng và công tâm. Đơn giản là không có cơ chế an toàn cho người dân khi những người nắm quyền phải sử dụng chính trị như một công cụ bất công, vi hiến và thậm chí bẩn thỉu. Đại dịch xảy ra và sẽ kết thúc. Tuy nhiên, nếu không có cải cách triệt để thì Malaysia sẽ phải hứng chịu những hậu quả tồi tệ kéo dài mà một hệ thống tham nhũng gây ra, một hệ thống do giới lãnh đạo không phải do dân bầu ra, không đáng tin cậy và vô kỷ luật vận hành.

COVID-19 có thể không phải do con người tạo ra nhưng “những virus hủy diệt quốc gia” lại do con người tạo ra và những loại “virus” này là sản phẩm của hệ thống chính trị và nguy hiểm hơn nhiều, lan rộng hơn và gây ra nhiều hệ quả hơn. Làm thế nào để có thể tiêm phòng chống lại “virus” lạm dụng, tham nhũng và đồi bại về đạo đức trong một chính phủ rạn nứt nghiêm trọng do các chính trị gia không đáng tin cậy lãnh đạo? Người dân từng hy vọng cuộc tổng tuyển cử năm 2018 (GE14) sẽ đem lại “phương thuốc” chưa bệnh cho tìnht rạng trên, song chỉ để nhận ra đó là một trò ngu ngốc. Tuy nhiên, nếu bạn không thành công, hãy thử lại nhiều lần cho đến khi đạt được nguyện vọng của người dân về chính phủ quản trị tốt. Đừng bao giờ bỏ cuộc.

Cách điều trị là loại bỏ

Thay đổi chính trị không phải là trò chơi dành cho những trái tim yếu ớt. Đó là một thách thức cho những người tuyệt vọng bị đè nén bởi nạn tham nhũng của các chính trị gia. Nếu bạn từ bỏ sự phấn đấu để có được quản trị tốt thì hãy từ chức để sống trong tình trạng thất bại. Và hãy chuẩn bị chịu đựng.

Đã đến lúc những người Malaysia có cùng chí hướng từ mọi tầng lớp xã hội đoàn kết lại tại thời điểm quan trọng và thuận lợi nhất trong lịch sử để loại bỏ những kẻ phản bội chính, những kẻ cướp bóc, những kẻ cuồng tín tôn giáo, những kẻ cùng tín và những kẻ thù thực sự của Malaysia đãđược chứng minh. Nguy cơ xảy ra tình trạng phân tán số phiếu trong cuộc tổng tuyển cử lần thứ 15 (GE15) là có thật. Những người thúc đẩy cải cách muốn thay thế các chính trị gia đương nhiệm ở Putrajaya phải vượt lên trên tham vọng cá nhân và chính trị để áp dụng một chiến lược thành công chung. Nếu có một ý chí, sẽ có một con đường. Các cử tri không được để những virus độc hại mang màu sắc chính trị của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, tôn giáo cực đoan và tham nhũng lây nhiễm vào hệ thống chính trị và đánh lừa họ. Hãy tăng cường khả năng kiểm tra chéo giữa các cơ quan ban ngành. Do đó, điều quan trọng là tăng cường vai trò của một nền dân chủ hoạt động hiệu quả. Và nếu hệ thống bị “nhiễm bệnh”, hãy điều trị bằng cách loại bỏ “virus” gây bệnh. Kêu gọi bầu cử và loại bỏ những chính trị gia làm lây lan “virus”. Không bỏ phiếu cho các chính trị gia tham nhũng và bỏ phiếu miễn nhiệm khi họ bị phát hiện là tham nhũng. Chỉ các cử tri mới có thể sử dụng “vaccine bầu cử” quan trọng trước khi cuộc tổng tuyển cử lần thứ 15 (GE15) diễn ra vì chính phủ đương nhiệm sẽ không để các chính trị gia khác kêu gọi tiến hành một cuộc bầu cử bất ngờ. Ban bố tình trạng khẩn cấp là đòn phủ đầu ngăn chặn mà mọi người đã tiên liệu được.

Trước khi xảy cuộc bạo luận chính trị tại khách sạn Sheraton ở thủ đô Kuala Lumpur, chính phủ đã ở trong tình trạng bất ổn. Niềm tin của công chúng vào chính phủ hiện đang ở mức thấp nhất trong thời gian gần đây. Mặc dù đại dịch COVID-19 giống như một “cơn giông tố” đang càn quét, để lại một làn sóng virus vô hình kéo dài, nạn phân biệt chủng tộc, tôn giáo quá khích, tham nhũng, bỏ bê nhu cầu cốt yếu đang gây ra những cơn gió độc mãn tính mang theo dịch bệnh.

Malaysia cần được điều trị khẩn cấp. Liệu Thủ tướng Muhyiddin Yassin có đủ khả năng thực hiện những thay đổi triệt để hay không là một vấn đề cần bàn. Nếu không cải cách, Malaysia sẽ chìm nghỉm. Muhyiddin cần phải suy nghĩ thấu đáo, song câu hỏi là phải làm như thế nào trong bối cảnh ông ta đang rơi vào vực thẳm chính trị? Ông bị “trói tay, trói chân” về mặt chính trị. Việc ban bố tình trạng khẩn cấp chỉ là kế “hoãn binh” cho ông ta và những người khác.

Những tội phạm chính trị vẫn đang hoạt động và là mối đe dọa đối với nhà nước pháp quyền. Họ không chỉ sở hữu hàng đống tiền mà còn liều lĩnh điều hành chính phủ. Malaysia phải đối mặt với một tương lai ảm đạm nếu không sửa chữa những cách làm sai và loại bỏ những chính trị gia bị kết án.

Vaccine chống lại sự quản lý tồi mang tên “DVIKON” – viết tắt của cụm từ “Don’t Vote In, Kick Out Now” (tạm dịch: Đừng bỏ phiếu, hãy loại bỏ) những phần tử “con sâu làm rầu nồi canh” trong chính trị. Và những chính trị gia này sẽ phải đối mặt với phản ứng dữ dội còn kinh hoàng hơn cả việc mất chức.

Nguồn: TKNB – 03/02/2021.

Bác lại sự bôi xấu Mao Trạch Đông trong cuốn Chu Ân Lai cuối đời – Phần I


Li Jie

Năm 2003, Nhà xuất bản Tấm gương (Mirror Books) ở New York Mỹ đã xuất bản cuốn Chu Ân Lai cuối đời của Cao Văn Khiêm (Gao Wenqian), một người Trung Quốc cư trú tại Mỹ. Trên cơ sở số lượng lớn tài liệu hồ sơ mà phía Trung Quốc chưa chính thức công bố, cuốn sách đã trình bày lại kỹ càng quan hệ giữa Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai trước và sau cách mạng văn hóa, trong đó đề cập đến nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc như Lâm Bưu (Lin Piao), Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping), Giang Thanh (Jiang Qing)… Nội dung mà cuốn sách này làm rõ trái ngược hẳn với hệ tư tưởng mà phía quan phương Trung Quốc chú tâm tạo dựng nên. Theo các phương tiện truyền thông nước ngoài, đây được coi là tác phẩm “phi Mao hóa” tiêu biểu mà tuy phía quan phương Trung Quốc ra sức ngăn chặn nhưng nó vẫn được lưu truyền rộng rãi, thậm chí trở thành món quà quý để tặng các nhân vật trong quan trường, được gọi là “cuốn sách của cán bộ cấp bộ”.

Năm 2004 Tư Mã Công (Zima Gong) công bố tài liệu viết trên tạp chí Kính góc rộng (Guangjiao jing), phê phán Chu Ân Lai cuối đời. Gần đây, ngày 14 tháng 10 năm 2013, phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc Lý Tiệp (Li Jie) lại công bố trên báo Khoa học xã hội Trung Quốc bài viết “Bác lại sự bôi xấu Mao Trạch Đông trong cuốn Chu Ân Lai cuối đời”. Các website lớn và các cơ quan truyền thông Trung Quốc đều đăng lại bài viết, các phương tiện truyền thông bằng Trung văn quan trọng ở hải ngoại đều đưa tin về việc này; tìm kiếm qua Google tiêu đề bài viết này, có trên 50 nghìn kết quả.

Từ bên kia đại dương, Cao Văn Khiêm đã viết bài đăng trên tạp chí ra hai tuần một kỳ Quyền con người ởTrung Quốc (Zhongguo renquan shuangzhukan) phản bác lại bài viết của Lý Tiệp.

Cao Văn Khiêm cho rằng bối cảnh của việc nhắc lại chuyện cũ này là Tập Cận Bình (Ji Jinping) muốn lấy việc giương ngọn cờ Mao Trạch Đông (Mao Zedong) để nắm lại quyền diễn ngôn tư tưởng hệ, cũng là dọn sạch sân cho việc kỷ niệm 120 năm ngày sinh Mao vào năm nay.

Hơn 20 năm trước Cao Văn Khiêm và Lý Tiệp cùng là đồng nghiệp tại Trung tâm Nghiên cứu Văn kiện Đảng thuộc Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ngày 18 tháng 5 năm 1989, trong đội ngũ diễu hành của hàng triệu người thuộc các giới ở Bắc Kinh ủng hộ sinh viên tuyệt thực tại Thiên An Môn, Cao Văn Khiêm là một trong đội ngũ đi đầu diễu hành của Trung tâm Văn kiện, còn Lý Tiệp là người tham gia. Sau cuộc trấn áp ngày 4 tháng 6, họ đều bị đơn vị tra xét thanh lọc, Lý qua được cửa ải kiểm tra, được lãnh đạo tín nhiệm lại, Cao thì cảm thấy “duyện phận với Đảng Cộng sản đã hết”, chuồn ra hải ngoại, hai người phân biệt đi theo hai con đường hoàn toàn khác nhau, một bên là phò Mao, một bên là bài Mao.

Dưới đây là bài viết của Lý Tiệp và của Cao Văn Khiêm.

BÁC LẠI SỰ BÔI XẤU MAO TRẠCH ĐÔNG TRONG CUỐN CHU ÂN LAI CUỐI ĐỜI

Lý Tiệp

Mấy năm gần đây có người nhân danh “suy xét lại” để tùy tiện bóp méo “cách mạng văn hóa”, thực sự không nên. Cuốn Chu Ân Lai cuối đời của ông Cao Văn Khiêm (Gao Wenqian) nhiều chỗ phớt lờ thực tế lịch sử, thay thế miêu tả khách quan bằng tưởng tượng cá nhân, thay thế phân tích lý tính bằng trích dẫn cắt xén, thay thế kết luận công tâm bằng cách nhìn thành kiếm cảm tính. Việc “suy xét lại” như vậy rốt cuộc có giá trị và ý nghĩa gì? Ở đây chúng tôi chỉ xin phân tích một số vấn đề liên quan đến Mao Trạch Đông trong cuốn sách này, tin rằng qua đó bạn đọc có thể thấy rõ vấn đề, làm rõ đúng sai.

Cuốn sách này bắt đầu bằng một “câu chuyện” nhỏ về việc Mao Trạch Đông đốt pháo. Chuyện xảy ra vào đêm trừ tịch 3 tuần sau khi Chu Ân Lai tạ thế, Mao Trạch Đông cho người đốt một trận pháo tại chỗ ở Trung Nam Hải. Đốt pháo đêm trừ tịch là phong tục của người Trung Quốc, việc làm này của Mao Trạch Đông làm sao lại có “ngụ ý” được? Nhưng tác giả lại cho rằng đây là sự “bất kính lớn” của Mao đối với Chu Ân Lai vừa qua đời. Nhưng thực tế là, là người chứng kiến tại chỗ lúc bấy giờ, Trương Ngọc Phượng (Zhang Yufeng) trong “Vài mẩu chuyện về Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai cuối đời” đã nhớ lại như sau: Đêm trừ tịch năm 1975, thân thể cực kỳ suy yếu, Mao Trạch Đông nghe thấy “tiếng pháo phía xa xa khiến Người nghĩ đến cảnh tượng đốt pháo năm trước. Người nói với tôi bằng giọng khàn khàn: “Đốt ít pháo đi. Những người trẻ tuổi các bạn cũng phải ăn tết chứ”. Thế là tôi báo cho mấy nhân viên khác đang trực ban. Họ sửa soạn mấy bánh pháo và đốt một lúc ngoài phòng. Mao Chủ tịch lúc này nghe thấy tiếng pháo, trên nét mặt gầy yếu, mềm nhão của Người lộ một nét cười. Trong lòng chúng tôi đều hiểu, nét cười này của Chủ tịch là đang an ủi chúng tôi, những nhân viên công tác tháp tùng Người”. Đọc đến chỗ này tôi vỡ nhẽ, “sự kiện đốt pháo” chẳng qua là như vậy, không hề liên quan gì đến việc Chu Ân Lai qua đời.

Tác giả tóm lấy việc đốt pháo để viết văn, đó tuy chỉ là một cách “mở đầu” giàu tính văn học nhưng nó đã đặt ý chính cho cả cuốn sách, tức là những năm tháng cuối đời của Chu Ân Lai mây mù lớp lớp, đầy bí ẩn. Để bồi lấp vào cái khuôn khổ tự sự đặt trước này, giống như một vị quan tòa lịch sử bất chấp luật pháp vì tư lợi, tác giả dùng mọi thủ đoạn làm cho “hồ sơ” có vẻ càng đáng tin cậy. Thủ pháp của Chu Ân Lai cuối đời trong việc treo đầu dê bán thịt chó, lập lờ đánh lận con đen vô cùng điêu luyện. Thí dụ, trong sách nói rằng Mao Trạch Đông phát động “cách mạng văn hóa” là “xuất phát từ sự thúc đẩy của nỗi sợ hãi sâu trong lòng, chỉ sợ mình rơi vào kết cục bị người ta quất vào thây sau khi chết giống như Stalin, từ đó có hành vi tiên phát chế nhân đối với Lưu Thiếu Kỳ, một “Khrushov của Trung Quốc””. Tác giả tùy tiện tưởng tượng cuộc “cách mạng văn hóa” do Mao Trạch Đông phát động là một thứ quyền mưu. Ông còn nói: “Trước cái chết của Stalin, Mao Trạch Đông vừa mừng vừa lo”. “Vừa mừng vừa lo” đích xác từ miệng Mao Trạch Đông nói ra, nhưng ý nghĩa đích thực của nó cũng không phải như trong sách nói Nói theo lời của chính Mao Trạch Đông, mừng là mừng đã gỡ bỏ được cái ô thần thánh hóa Stalin, xóa bỏ mê tín, giải phóng tư tưởng, khiến mọi người dám nói lời thực, dám nghĩ vấn đề; lo là cái kiểu phủ định toàn diện đối với Stalin, một gậy đập chết, từ đó sẽ sớm đem lại một loạt hậu quả nghiêm trọng. Do vậy Mao Trạch Đông cũng lo ngại Trung Quốc xuất hiện Khrushov, và dần dần coi Lưu Thiếu Kỳ – một người nhiều lần không nhất trí với mình về đường hướng công tác – là Khrushov của Trung Quốc, đây là lối tư duy của một thời đại cụ thể, có thể hiểu được. Nhưng cuốn Chu Ân Lai cuối đời lại đánh lộn giới hạn thời gian, khái quát cái đơn lẻ thành cái toàn bộ để gây hiểu lầm cho nhữg bạn đọc không am hiểu giai đoạn lịch sử này.

Để chứng minh cho cái gọi là “lão luyện trong quyền mưu” của Mao Trạch Đông. Chu Ân Lai cuối đời bám riết lấy “sự kiện Ngũ Hào” để làm nên chuyện. “Sự kiện Ngũ Hào” xẩy ra năm 1967 mà cuốn sách nói tới thực ra vốn rất rõ ràng, là sự việc do Giang Thanh và một số người cố ý tạo ra nhằm vu khống Chu Ân Lai là “kẻ phản bội”. Đối mặt với “sự kiện Ngũ Hào”, Chu Ân Lai ra sức làm rõ chân tướng vụ việc và trình lên Mao Trạch Đông. Sau khi Mao Trạch Đông nghiêm khắc ngăn chặn, nhóm Giang Thanh tạm thời thôi. Trong vụ việc này, mỗi lần họ Chu vượt qua được cửa ải gian nan nguy hiểm đều có quan hệ rất lớn với sự ủng hộ, tín nhiệm trước sau như một của Mao Trạch Đông đối với ông. Phát động “cách mạng văn hóa”, thúc đẩy “cách mạng văn hóa”, duy trì “cách mạng văn hóa”, Mao Trạch Đông không thể rời nhóm Giang Thanh, càng không thể rời Chu Ân Lai Đây là sự thực lịch sử lúc bấy giờ.

(còn tiếp)

Người dịch: Viễn Phố Nguồn:

TN 2014 – 64 & 65

Các nước Balkans Âu – Á – Phần III


Là một nước hết thời đế chế và vẫn đang trong quá trình xác định lại bản sắc của mình, Thổ Nhĩ Kỳ bị kéo căng ra ba hướng. Phái hiện đại muốn nước này trở thành một nhà nước châu Âu và do vậy họ hướng về phía Tây; phái Hồi giáo ngả về Trung Đông và một cộng đồng Hồi giáo, do vậy họ hướng về phía Nam; còn phái chủ nghĩa dân tộc suy nghĩ về lịch sử thấy các dân tộc Thổ của vùng lòng chảo biển Caspian và Trung Á có một nhiệm vụ mới là xây dựng một nước Thổ Nhĩ Kỳ thống soái trong khu vực và do vậy hướng về phía Đông. Mỗi góc nhìn này đều định ra một trục chiến lược khác nhau, và sự va chạm giữa chúng, lần đầu tiên kể từ sau cuộc cách mạng của người Keman sẽ tạo ra sự bất ổn ở mức độ nào đó đối với vai trò của Thổ Nhĩ Kỳ trong khu vực.

Hơn nữa, bản thân Thổ Nhĩ Kỳ có thể trở thành nạn nhân của các cuộc xung sắc tộc trong khu vực. Tuy dân số vào khoảng 65 triệu mà chủ yếu là người Thổ Nhĩ Kỳ (khoảng 80%), còn lại là các sắc tộc như Circassia, Albani, Bosnia, Bulgaria và Arab và khoảng 20% là người Kurd. Sống tập trung ở các khu vực phía Đông đất nước, người Kurd ở đây ngày càng bị lôi kéo vào cuộc đấu tranh độc lập dân tộc mà người Kurd ở Iran và Iraq đã khơi dậy. Những mối căng thẳng trong nội bộ Thổ Nhĩ Kỳ liên quan đến hướng đi chung của đất nước rõ ràng sẽ khuyến khích người Kurd gây sức ép mạnh mẽ hơn đòi vị thế dân tộc riêng.

Định hướng tương lai của Iran cũng còn nhiều vấn đề. Cuộc cách mạng của phái Shiite theo trào lưu chính thống từng chiến thắng vào cuối thập kỷ 70 vừa qua có thể đang bước vào giai đoạn lụi tàn, và điều đó làm tăng sự bất ổn cho vai trò địa chính trị của Iran. Một mặt, sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vô thần đã mở cửa các nước láng giềng phương Bắc mới độc lập của Iran để tôn giáo hóa họ; mặt khác, sự thù địch của Iran đối với Mỹ đã đưa Iran đến chỗ đi theo hướng thân Nga. Điều này cũng vì Iran lo ngại về tác động mà nền độc lập mới của Azerbaijan có thể gây ra đối với sự liên kết của chính họ.

Mối lo ngại đó phát sinh từ việc Iran không có khả năng giải quyết những căng thẳng về sắc tộc. Trong số 65 triệu dân của Iran thì chỉ có trên một nửa là người Ba Tư. Khoảng gần 1/4 người Azeri, số còn lại bao gồm cả người Kurd, Baluchi, Turkmen, Arab… Ngoài người Kurd và người Azeri, các tộc người khác hiện nay không có khả năng đe dọa sự toàn vẹn quốc gia của Iran, nhất là khi dân Ba Tư luôn có ý thức cao về quốc gia và đế chế. Những tình thế này có thể thay đổi nhanh chóng nếu có một cuộc khủng hoảng chính trị mới trên chính trường Iran.

Hơn nữa, việc tồn tại một số “công xã” Stanr mới độc lập trong khu vực và ngay cả 1 triệu dân Chechen cũng có thể khẳng định khát vọng chính trị của họ sẽ lan sang người Kurd cũng như sang cả những sắc tộc thiểu số khác của Iran. Nếu Azerbaijan thành công trong công cuộc phát triển kinh tế và chính trị ổn định thì người Azeri gốc Iran có thể sẽ ngày càng đi theo ý tưởng một nước Azerbaijan lớn hơn. Do đó, sự bất ổn chính trị và chia rẽ ở Iran có thể phát triển lên thành yếu tố thách thức sự thống nhất của nhà nước này.

2/ Cuộc đấu đa phương

Các nước Balkans cổ truyền ở châu Âu đã cuốn hút cuộc cạnh tranh trực diện giữa ba đế chế địch thủ là đế chế Ottoman, đế chế Áo – Hung và đế chế Nga. Còn ba thành viên nữa gián tiếp tham gia trận đấu, đó là Đức, Pháp và Anh. Đức sợ thế lực của Nga, Pháp chống Áo – Hung và Anh muốn một đế chế Ottoman kiểm soát vùng eo biển Dardanelles. Trong suốt thế kỷ XIX, những cường quốc này tìm cách kiềm chế các cuộc xung đột ở vùng Balkans, nhưng họ đã không làm được điều đó, mà chỉ gây hậu quả tai hại cho tất cả.

Ngày nay, cuộc cạnh tranh trong các nước Balkans Âu – Á cũng lôi kéo trực tiếp ba nước láng giềng: Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, mặc dù Trung Quốc cũng có thể trở nên một nước chủ đạo quan trọng. Tham gia vào cuộc cạnh tranh ở tầm xa còn có Ukraine, Pakistan, Ấn Độ và Mỹ.

Ba đối thủ chính tham dự vào cuộc đấu không chỉ vì tham vọng những món lợi kinh tế và địa chính trị mà còn vì những xung đột lịch sử mãnh liệt. Những nước này đã từng giữ địa vị thống soái về chính trị hoặc văn hóa trong vùng. Mỗi nước đều nhìn các nước khác bằng con mắt nghi ngờ. Tuy khó xảy ra chiến tranh trực diện giữa họ, nhưng tác động của những kình địch giữa họ có thể góp phần gây rối loạn khu vực.

Thái độ thù địch của Nga đối với Thổ gần như một nỗi ám ảnh. Báo chí Nga mô tả người Thổ có xu hướng kiểm soát khu vực, và là những kẻ xúi giục người địa phương chống Nga (vụ Chechnya cũng phần nào chứng minh điều đó), và đe dọa nền an ninh chung của Nga. Sự mô tả này vượt quá sự thật.

Người Thổ cũng có một thái độ như vậy Nga. Họ coi mình có vai trò giải phóng những cho những người anh em khỏi sự đàn áp đã kéo quá dài của Nga. Người Thổ và Iran (ba Tư) trong lịch sử đã là những đối thủ trong khu vực. Sự kình địch đó trong những năm gần đây đã sống lại.

Có thể nói, mỗi nước trong ba nước đều tìm kiếm một khu vực ảnh hưởng. Tham vọng của Nga có tầm quan trọng hơn, vì họ vẫn còn những hồi ức tương đối mới về quyền kiểm soát đế chế, sự hiện diện của hàng triệu người Nga và ý muốn đưa Nga trở lại vị trí một đại cường toàn cầu. Những tuyên bố trong chính sách đối ngoại của Nga đã chứng minh việc họ nhìn toàn bộ không gian Liên Xô cũ là khu vực lợi ích địa chiến lược đặc biệt của họ, và do đó cần phải loại trừ ảnh hưởng chính trị, và thậm chí lợi ích kinh tế của bên ngoài.

Trái lại, khát vọng của Thổ Nhĩ Kỳ muốn giành ảnh hưởng khu vực vẫn mang dấu ấn của một quá khứ đế chế xa xưa. Song, những khát vọng đó có cội nguồn từ nhận thức về một sự đồng nhất sắc tộc và ngôn ngữ với các dân tộc Thổ trong khu vực. Do sức mạnh quân sự và chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ có hạn nên họ không thể đạt được một khu vực ảnh hưởng chính trị đặc quyền. Trái lại, Thổ Nhĩ Kỳ tự coi mình như một lãnh tụ tiềm tàng của một cộng đồng lỏng lẻo những người nói tiếng Thổ, và tận dụng trình độ tương đối hiện đại, tính tương đồng về ngôn ngữ và các biện pháp kinh tế của mình để đưa nước này lên địa vị có ảnh hưởng nhất trong quá trình xây dựng quốc gia đang diễn ra trong vùng.

Tuy khát vọng của Iran vẫn chưa rõ ràng, nhưng về âu dài cũng chẳng kém phần nguy hiểm hơnt ham vọng của Nga. Đế chế Ba Tư là một ký ức xa xôi hơn. Vào lúc hoàng kim nhất, khoảng 500 trước Công nguyên, đế chế này bao gồm lãnh thổ hiện tại của ba nước vùng Kavkaz (Turkmenistan, Uzbekistan, Tajikistan). Tuy những khát vọng địa chính trị hiện tại của Iran ở mức độ thấp hơn Thổ Nhĩ Kỳ, tức là chủ yếu nhằm vào Azerbaijan và Afghanistan, nhưng toàn bộ dân Hồi giáo (kể cả trên lãnh thổ Nga) là mục tiêu trong mối quan tâm tôn giáo của Iran. Thực ra sự hồi sinh của đạo Hồi ở Trung Á đã trở thành một bộ phận hữu cơ của những khát vọng trong giới lãnh đạo hiện tại của Iran…

Ở giai đoạn này, vai trò của Trung Quốc bị hạn chế và mục tiêu của họ không rõ ràng, vì Trung Quốc chú ý đến một tập hợp những nước tương đối độc lập ở phía Tây hơn là một đế chế Nga. Trung Quốc lo rằng, dân thiểu số Thổ Nhĩ Kỳ ở Tân Cương có thể tìm thấy ở các nước Trung Á mới độc lập những ví dụ đầy hấp dẫn đối với họ, và vì vậyTrung Quốc đã tìm cách tranh thủ sự bảo đảm của Kazakhstan rằng họ sẽ trấn áp hoạt động vượt biên của dân thiểu số. Về lâu dài, những nguồn năng lượng của khu vực sẽ là điều mà Trung Quốc đặc biệt quan tâm với mục tiêu là trực tiếp tiếp xúc các nguồn năng lượng đó mà không phụ thuộc vào sự kiểm soát của Nga. Do vậy, lợi ích địa chính trị chung của Trung QUốc có xu hướng va chạm với lợi ích đại chính trị chung của Nga.

Đối với Ukraine, các vấn đề Trung tâm là đặc điểm tương lai của cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) và khả năng tiếp cận tự do hơn với các nguồn năng lượng, như vậy sẽ làm giảm sự phụ thuộc củ Ukraine vào Nga. Ở khía cạnh này, những mối quan hệ thân thiết hơn với Azerbaijan, Turkmenistan, Uzbekistan đã trở nên quan trọng đối với Ukraine và việc Ukraines ủng hộ các nước này độc lập với Nga. Do đó, Ukraine cũng đã ủng hộ cố gắng của Gruzia vươn lên địa vị làm chủ một tuyến đường chạy theo hướng Tây phục vụ cho xuất khẩu dầu Azeri. Ukraine còn hợop tác với Thổ Nhĩ Kỳ để làm suy yếu ảnh hưởng của Nga ở Biển Đen và đã ủng hộ những cố gắng của Thổ Nhĩ Kỳ nhằm chuyển lưu lượng dầu từ Trung Á tới các trạm cuối của Thổ.

Hiện nay cả Pakistan và Ấn Độ đều đang quan tâm tới các nước Balkans Âu – Á mới này. Đối với Pakistan, lợi ích chính của họ là đạt chiều sâu địa chiến lược thông qua ảnh hưởng địa chính trị ở Afghanistan và không để Iran có ảnh hưởng như vậy ở Afghanistan cũng như ở Tajikistan và cuối cùng thu lợi từ việc xây dựng đường dẫn dầu nối Trung Á với biển Arab. Nhằm chống lại Pakistan và ảnh hưởng lâu dài của Trung Quốc ở khu vực này, Ấn Độ xem xét ảnh hưởng của Iran và Afghanistan là sự hiện diện lớn hơn của Nga trong không gian Liên Xô cũ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Sự thăng trầm của bá quyền Mỹ từ Wilson cho tới Trump – Phần cuối


Một thách thức khác từ trong nước đối với việc duy trì trật tự mở liên quan đến vấn đề can thiệp. Trong thời đại khủng bố xuyên quốc gia, một số mức độ can thiệp là không thể tránh khỏi, và Trung Đông có thể gặp phải bất ổn chính trị trong nhiều thập kỷ, giống như Đức trong thế kỷ XVII. Những khủng hoảng này sẽ tạo ra những cám dỗ để can thiệp; nhưng trong thời đại của chủ nghĩa dân tộc và dân số được xã hội huy động, sự chiếm đóng của nước ngoài gây ra sự phẫn nộ, và các giai đoạn vượt lố theo chủ nghĩa tối đa gây nhiều thiệt hại hơn là chính sách thu hẹp đối với sự đồng thuận trong nước cần thiết để ủng hộ một trật tự quốc tế mở. Sự leo thang của cuộc chiến tranh Việt Nam thời kỳ Kennedy và Johnson đã tạo ra một thập kỷ hướng nội vào những năm 1970; cuộc xâm lược của Tổng thống Bush vào năm 2003 cũng có kết quả tương tự trong những năm tiếp theo.

Sự phân cực chính trị có thể sẽ tiếp tục, và xu hướng sử dụng các chiến thuật mị dân liên quan đến các vấn đề chính sách đối ngoại để hạn chế khả năng của Mỹ trong việc củng cố các thể chế, tạo ra các mạng lưới và thiết lập các chính sách để đối phó với môi trường xuyên quốc gia mới. Chủ nghĩa dân túy bài ngoại làm suy giảm cả vốn quý của nước Mỹ với vai trò trung tâm của mạng lưới và sức mạnh mềm của Mỹ. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy sự suy giảm sức hấp dẫn của Hoa Kỳ kể từ năm 2017. Bế tắc chính trị trong nước thường chặn lại các quan điểm dài hạn về lợi ích quốc gia. Ngya trước thời kỳ của Trump, Thượng viện Hoa Kỳ đã thất bại trong việc phê chuẩn Công ướng về Luật Biển mặc dù có sự chứng thực của Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Quốc phòng rằng cần phải tăng cường tự do hàng hải. Và Nixon, chứ không phải Trump, là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tìm cách giành được các lá phiếu trong nước bằng cách đơn phương áp thuế đối với các đồng minh và phá vỡ các quy tắc của hệ thống Bretton Woods. Về vấn đề dẫn tới biến đổi khí hậu, vốn đã có sự phản kháng mạnh mẽ với việc đặt giá khí thải carbon từ rất lâu trước khi Trump bước vào Nhà Trắng.

Ngoài những xu hướng xã hội ảnh hưởng đến khả năng chuyển đổi quyền lực nói trên, sự không chắc chắn về vị trí của nước Mỹ hiện nay trên thế giới còn tăng lên do tính cách độc nhất khác thường của vị Tổng thống thứ 45. Các nhà khoa học xã hội có xu hướng giải thích sự thay đổi trong nền chính trị thế giới về khía cạnh các lực lượng xã hội hoặc cấu trúc rộng; nhưng, như tôi đã chỉ ra trong một nghiên cứu trước đó, mỗi thành tố riêng lẻ cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự trỗi dậy của nước Mỹ như một cường quốc thế giới. Gautam Makunda đã chỉ ra rằng một số nhà lãnh đạo được sang lọc qua quá trình hoạt động chính trị, và họ thường dễ đoán hơn. Những người khác thì không được sàng lọc như vậy và phạm vi             hoạt động của họ rộng hơn nhiều. Chẳng hạn, Abraham Lincoln là một lựa chọn tương đối không được sàng lọc và thường được coi là một trong những tổng thống tốt nhất của Mỹ. Donald Trump tham gia chính trị với nền tảng từ một nhà đầu tư bất động sản ở New York và nhân vật truyền hình thực tế, và vị trí “tổng thống” là công việc đầu tiên của ông trong chính phủ. Ông đã chứng tỏ là có kỹ năng phi thường trong việc làm chủ phương tiện truyền thông hiện đại và thách thức hiểu biết thông thường, và được trao cho sự đổi mới đột phá. Mặc dù một số người tin rằng điều này có thể tạo ra kết quả tích cực đáng ngạc nhiên, những người khác (bao gồm cả tác giả bài viết này) vẫn còn hoài nghi. Trong mọi trường hợp, nhiệm kỳ của ông vẫn chưa kết thúc.

Vào giữa nhiệm kỳ năm 2018, trong số bốn thành phần chính của cái gọi là trật tự tự do được xác định ở trên – an ninh, kinh tế, dân chúng toàn cầu, nhân quyền và các giá trị tự do – thành tích được trộn lẫn vào nhau. Cho đến nay, mặc dù chính quyền Trump đã làm suy yếu các liên minh của nước Mỹ, nhưng nó đã không phá hủy chúng. Và các chế độ an ninh để kiềm chế sự phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt bị thách thức nhưng vẫn được duy trì. Thiệt hại cho các tổ chức kinh tế, đặc biệt là các tổ chức liên quan đến thương mại, dường như lớn hơn so với trật tự tiền tệ (nơi đồng USD vẫn chiếm ưu thế). Về các vấn đề chung toàn cầu, chính quyền Trump đã rút Hoa Kỳ ra khỏi Hiệp định khí hậu Paris, nhưng việc căn cứ vào thị trường thay thế khí đốt tự nhiên cho than đá vẫn tiếp tục. Về giá trị, trái ngược với những người tiền nhiệm, Trump tỏ ra ít quan tâm đến nhân quyền và sẵn sàng đi theo các nhà lãnh đạo độc đoán, nhưng ít bị can thiệp hơn. Một số người bảo vệ chính quyền này cho rằng phong cách không chính thống và sẵn sàng thoát ra khỏi các quy tắc của ông sẽ tạo ra lợi ích lớn cho các vấn đề như vũ khí hạt nhân của Triều Tiên hoặc thay đổi hành vi của Trung Quốc liên quan đến chuyển giao sở hữu trí tuệ. Nhưng ngay cả như vậy, như tờ The Economistlập luận, chi phí bộ máy khi sử dụng cách tiếp cận có tính phá hủy có thể làm giảm sức mạnh của Mỹ trong việc đối phó với các vấn đề xuyên quốc gia mới như biến đổi khí hậu. Nếu điều đó đúng, nó sẽ là sự minh chứng tốn kém cho vị trí của nước Mỹ trên thế giới.

Kết luận

Hoa Kỳ sẽ vẫn là cường quốc quân sự hàng đầu thế giới trong những thập kỷ tới và lực lượng quân sự sẽ vẫn là một thành phần quyền lực quan trọng trong nền chính trị toàn cầu. Như Stephen Brooks và Williams Wohlforth lập luận, “sự phân phối khả năng giữa các quốc gia không thay đổi nhiều hay nhanh như người ta vẫn thường tin”. Nhưng họ cũng chỉ ra rằng hiểu biết uyên thâm thông thường về những gì Hoa Kỳ nên làm với sức mạnh của mình đã trải qua sự thay đổi to lớn ngay trong nước Mỹ. Tính phổ biến mới đây của cách tiếp cận chiến lược tổng thể được gọi là cân bằng ngoài khơi, thu hẹp, rút lui hoặc kiềm chế đã có sự thay đổi trong dư luận Mỹ sau Chiến tranh Lạnh. Ngay cả trước khi chính quyền Trump bắt đầu năm 2017, đã có phản ứng chống lại chủ nghĩa can thiệp của Wilson và một số người hoài nghi đã đặt câu hỏi về trật tự hậu 1945. Những người theo chủ nghĩa hiện thực như John Mearsheimer lập luận rằng mặc dù nền dân chủ tự do là hệ thống chính trị tốt nhất ở trong nước, thì trong lĩnh vực chính trị quốc tế, chủ nghĩa tựdo lại là nguồn gốc của những rắc rối vô tận… Các quốc gia hùng mạnh đi theo bá quyền tự do luôn gặp rắc rối nghiêm trọng cả trong và ngoài nước… Nguồn gốc của vấn đề là chủ nghĩa tự do có một tinh thần năng động được đan cài vào cốt lõi của nó. Niềm tin rằng tất cả mọi người đều có một tập hợp các quyền không thể xâm phạm hay bác bỏ và việc bảo vệ các quyền này quan trọng hơn các mối quan tâm khác, tạo ra động cơ mạnh mẽ để các quốc gia tự do hành động can thiệp.

Những cuộc thập tự chinh và bá quyền tự do đã lỗi thời

Đồng thời, một Trung Quốc đang trỗi dậy và một nước Nga đang suy tàn khiến các nước láng giềng sợ hãi, và các đảm bảo an ninh của Mỹ ở châu Á và châu Âu mang lại sự bảo đảm then chốt để củng cố sự ổn định làm nền tảng cho thịnh vượng. Tuy nhiên, lực lượng quân sự là một công cụ cùn. Việc cố gắng thâm nhập và kiểm soát nền chính trị của những dân tộc theo chủ nghĩa quốc gia trong các cuộc cách mạng ở Trung Đông là một công thức cho sự thất bại mà sẽ cho thấy sự phản tác dụng. Và đối với nhiều vấn đề xuyên quốc gia, bao gồm biến đổi khí hậu, ổn định tài chính hoặc các chuẩn mực để kiểm soát Internet, lực lượng quân sự không phải là câu trả lời. Sức mạnh hải quân không tạo ra sức mạnh trong không gian mạng. Duy trì mạng lưới, làm việc với các tổ chức, tạo ra các chuẩn mực cho các lĩnh vực mới như không gian mạng  và biến đổi khí hậu tạo ra sức mạnh mềm cần thiết để bổ sung cho các nguồn lực cứng của Mỹ. Tuy nhiên, đây là loại quyền lực bị thách thức bởi các chính sách đơn phương của Trump.

Các thuật ngữ “trật tự quốc tế tự do” hay “hòa bình của Mỹ” đã trở nên lỗi thời như những mô tả về vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới, nhưng nhu cầu đối với các nước lớn cung cấp hàng hóa công cộng thì vẫn còn. Một trật tự quốc tế mở bao gồm các vấn đề quân sự-chính trị; quan hệ kinh tế; quan hệ sinh thái; và quyền con người, dù trực tiếp hay gián tiếp. Vẫn còn phải xem xét về mức độ phụ thuộc lẫn nhau của những vấn đề này và những gì sẽ còn lại khi khối trật tự quốc gia năm 1945 được tháo dỡ. Còn di sản của Wilson – 1918 thì đã mất từ lâu. Thúc đẩy dân chủ có thể là một nguồn sức mạnh mềm, nhưng chỉ khi tiềm lực còn khiêm tốn. Sự can thiệp thái quá để thúc đẩy dân chủ trong quá khứ đã gây ra một phản ứng phản tác dụng. Bộ phận tân bảo thủ của chủ nghĩa Wilson không có khả năng thành công. Các cuộc thập tự chinh vì các giá trị tự do sẽ không được ủng hộ từ cả trong hay ngoài nước.

Mặt khác, di sản của Wilson về phát triển các tổ chức quốc tế tiếp tục có ý nghĩa. Sự lãnh đạo không giống như sự thống trị, và nó sẽ cần phải được chia sẻ. Trong suốt bảy thập kỷ đứng ở vị trí vượt trội sau năm 1945, Mỹ luôn ở vai trò lãnh đạo và có ảnh hưởng. Hiện nay, với sự vượt trội ít hơn và trong một thế giới phức tạp hơn, chủ nghĩa biệt lệ của Mỹ nên tập trung vào việc chia sẻ cung cấp hàng hóa công cộng toàn cầu, đặc biệt là những lĩnh vực đòi hỏi phải thực thi “quyền lực” với những quốc gia khác Những hiểu biết từ thế kỷ cũ của Wilson về các thể chế quốc tế và một trật tự dựa trên các quy tắc sẽ vẫn rất quan trọng; nhưng vị trí của Mỹ trong thế giới đó có thể bị đe dọa nhiều hơn bởi sự trỗi dậy của quan điểm chính trị dân túy ở chính trong nước hơn là sự trỗi dậy của các cường quốc khác ở bên ngoài.

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Hiệu đính: Lê Nguyễn

Nguồn: Joseph S. Nye, JR. – The Rise and fall of American hegemony from Wilson to Trump – International Affairs, 95: I (2019), p63-80.

TN 2019 – 1, 2, 3, 4.

Các nước Balkans Âu – Á – Phần II


Trong năm nước mới độc lập ở Trung Á, Kazakhstan và Uzbekistan có vị trí quan trọng nhất. Trong khu vực này, Kazakhstan là lá chắn còn Uzbekistan là linh hồn thúc đẩy mức độ thức tỉnh dân tộc khác nhau. Tầm cỡ và vị trí địa lý của Kazakhstan che chở cho các nước khác khỏi bị sức ép tự nhiên trực tiếp của Nga, vì chỉ có Kazakhstan là giáp giới với Nga. Tuy nhiên, trong số 18 triệu dân của nước này có khoảng 36% là người Nga (dân số Nga trong toàn khu vực đang giảm dần) và thêm 20% nữa cũng không phải là dân Kozak. Thực tế này khiến các nhà cai trị Kozak mới gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng quốc gia trên cơ sở sắc tộc và ngôn ngữ. Những người Nga sinh sống ở đây cũng căm ghét tập đoàn lãnh đạo người Kozak. Đa phần trong số họ thuộc tàng lớp thực dân thống trị trước đây, có trình độ văn hóa và cương vị bởi vậy họ sợ mất đặc quyền đặc lợi. Những người này nhìn chủ nghĩa dân tộc Kozak mới với sự miệt thị lộ liễu. Do cả hai vùng Kozak Tây Bắc và Đông Bắc Kazakhstan đều bị đế chế Nga khống chế nặng nề, nên nước này đứng trước nguy cơ ly khai về lãnh thổ nếu quan hệ Kozak – Nga xấu đi. Đồng thời có nhiều người Kozak sống ở nước Nga nằm bên kia đường biên giới quốc gia và ở nước Uzbekistan về phía Đông Bắc, mà người Kozak coi là đối thủ chính tranh quyền lãnh đạo vùng Trung Á với họ.

Trong thực tế, Uzbekistan là ứng cử viên hàng đầu vào địa vị lãnh đạo khu vực ở Trung Á. Là nước nhỏ hơn, ít tài nguyên thiên nhiên hơn Kazakhstan, nhưng dân số nước này lại đông hơn (gần 25 triệu) và một điều quan trọng hơn hẳn là nước này có sự đồng nhất về sắc tộc hơn. Do tỷ lệ sinh của người bản xứ cao hơn và sự ra đi dần dần của người Nga, nên không bao lâu nữa, 75% dân số sẽ là người Uzbek và chỉ còn một thiểu số người Nga chủ yếu ở thủ đô Tashken.

Giới lãnh đạo chính trị của Uzbekistan tự cho rằng mình là hậu duệ trực tiếp của đế chế Tamerlane rộng lớn thời Trung cổ (1336 – 1404) với thủ đô Samakhan vốn là một trung tâm nổi tiếng trong khu vực về phục vụ nghiên cứu tôn giáo, chiêm tinh học và nghệ thuật. Mối liên hệ này làm cho nước Uzbekistan hiện đại có ý thức sâu sắc về tính kế thừa lịch sử và về nhiệm vụ của họ đối với khu vực hơn là các nước láng giềng. Ngay cả dân thường cũng ngày càng có ý thức tham gia vào những hoạt động xây dựng một nhà nước dân tộc hiện đại, quyết tâm không bao giờ trở lại địa vị thuộc địa bất chấp mọi khó khăn trong nước. Tinh thần này cao hơn ở bất kỳ nước Trung Á nào.

Điều kiện này làm cho Uzbekistan vừa trở thành người đi đầu trong việc nuôi dưỡng một thứ chủ nghĩa dân tộc hiện đại sau những chia rẽ sắc tộc và cũng vừa là đối tượng rất đáng lo ngại cho các nước láng giềng. Dù cho các lãnh tụ Uzbek bắt đầu khởi sắc trong xây dựng quốc gia và trong chủ trương tự lực khu vực, nhưng việc nước này có sự đồng nhất dân tộc và giác ngộ dân tộc sâu sắc lại khơi lên nỗi lo sợ trong các nhà lãnh đạo Turkmenistan, Tajikistan và Kazakhstan. Họ lo sợ rằng, sự lãnh đạo trong khu vực của người Uzbek sẽ phát triển lên thành sự thống trị khu vực. Nỗi lo ngại này cản trở hợp tác khu vực trong các nước mới có chủ quyền và kéo dài điểm yếu của khu vực.

Thực chất không phải Uzbekistan đã hoàn toàn thoát khỏi những căng thẳng sắc tộc. Nhiều nơi ở phía Nam Uzbekistan, nhất là quanh các trung tâm quan trọng về lịch sử và văn hóa như Samakhan và Bukhara có nhiều dân Tajik vẫn mang hận thù với các đường biên giới do Nga vẽ nên. Một yếu tố nữa làm cho vấn đề càng thêm phức tạp là sự hiện diện của người Uzbek ở phía Tây Tajikistan, sự hiện diện của người Uzbek tẫn Tajik ở thung lũng Fegana quan trọng về kinh tế (ở nơi này trong những năm gần đây đã xảy ra bạo lực sắc tộc đẫm máu). Đó là chưa kể đến sự hiện diện của người Uzbek ở Bắc Afghanistan.

Trong ba nước Trung Á vừa thoát khỏi ách thống trị của Nga (Kyrgystan, Tajikistan, Turkmenistan), chỉ có nước thứ ba là tương đối liên kết về sắc tộc. Khoảng 75% trong số 4,5 triệu dân là người Thổ còn người Uzbek và người Nga chỉ chiếm dưới 20% dân số. Được che chắn bởi Turkmenistan nên tương đối cách xa Nga, trong khi đó về mặt địa lý, Uzbekistan và Iran lại có liên quan lớn hơn đến tương lai của nước này. Một khi đường ống dẫn dầu đến vùng này được xây dựng thì các trữ lượng khí đốt thực sự khổng lồ của Turkmenistan báo hiệu một tương lai phồn vinh của nhân dân nước này.

Với con số 5 triệu dân, Kyrgystan đa dạng hơn nhiều. Chính dân Kyrgystan chỉ chiếm 55% tổng số, và dân Uzbek chiếm 13%, còn số dân Nga thì gần đây giảm từ 20% xuống trên 15%. Trước khi nước này độc lập, đa số trong thành phần trí thức kỹ thuật của nước này là dân Nga và sự ra đi ồ ạt của họ đã gây tổn thất cho nền kinh tế. Tuy giàu về khoáng sản và có cảnh quan thiên nhiên khiến một số người ví nước này là Thụy Sĩ của Trung Á, và do vậy có thể sẽ trở thành một miền đất mới cho khách du lịch. Do vị trí địa chính trị của Kyrgystan, nằm giữa Trung Quốc và Kazakhstan, khiến nước này hầu như bị phụ thuộc vào việc Kazakhstan có thành công hay không trong việc duy trì nền độc lập.

Tajikistan có phần đồng nhất hơn về sắc tộc. Trong số 6,5 triệu dân, có chưa đầy 2/3 là dân Tajik, hơn 25% là người Uzbek, trong khi đó số người Nga chỉ còn lại 3%. Nhưng cũng như ở nơi khác, ngay cả cộng đồng sắc tộc thống trị cũng chia rẽ rất rõ rệt theo bộ lạc, và chủ nghĩa dân tộc hiện đại chủ yếu chỉ giới hạn trong giới lãnh đạo chính trị ở thành phố. Do vậy, nền độc lập không chỉ tạo ra nội chiến mà còn tạo cớ cho Nga tiếp tục triển khai quân đến nước này. Tình hình sắc tộc càng phức tạp hơn do ở ngay bên kia biên giới trên vùng Đông Bắc Afghanistan nơi có một số đông người Tajik sinh sống. Thực ra, ở cả hai nước Afghanistan và Tajikistan số dân thuộc sắc tộc Tajik ngang nhau. Đây cũng là một nhân tố góp phần làm mất ổn định khu vực.

Tình trạng lộn xộn hiện tại của Afghanistan cũng là một di sản của Liên Xô cũ, tuy nước này không phải là một nước cộng hòa trong Liên bang Xô viết. Sự chiếm đóng của Liên Xô và cuộc chiến tranh du kích kéo dài chống lại họ đã khiến Afghanistan chỉ là một nhà nước dân tộc trên danh nghĩa. Hai mươi hai triệu dân của nước này chia rẽ gay gắt theo bộ lạc, trong đó sự bất đồng lớn giữa các sắc tộc Pashtun, Tajik và Hazara ngày càng lớn. Đồng thời, phong trào Thánh chiến (jihat) chống quân Nga chiếm đóng đã làm cho tôn giáo trở nên một khía cạnh bao trùm trong đời sống chính trị của đất nước, làm cho những mối bất đồng vốn đã gay gắt càng thêm gay gắt. Do vậy, phải nhìn nhận Afghanistan không chỉ là bộ phận trong vấn đề sắc tộc hóc búa ở Trung Á, mà còn là bộ phận quan trọng về chính trị của các nước Balkans Âu – Á.

Tuy các nước Trung Á thuộc Liên Xô cũ cũng như Azerbaijan có đa số dân là Hồi giáo, nhưng tầng lớp tinh hoa chính trị của họ (chủ yếu vẫn là sản phẩm của Liên Xô cũ), đều mang quan điểm phi tôn giáo. Có thể nói, các nước này về hình thức là vô thần. Tuy nhiên, khi người dân chuyển từ bản sắc thị tộc hoặc bộ lạc truyền thống sang nhận thức dân tộc hiện đại hơn thì có thể họ sẽ ngày càng giác ngộ thêm về đạo Hồi. Trong thực tế, một sự hồi sinh của đạo Hồi có thể trở thành xung lực thúc đẩy những thứ chủ nghĩa dân tộc mới ngày càng lan tràn, quyết tâm chống lại việc một lần nữa đưa họ vào vòng kiểm soát của Nga, và cũng là một sự kiểm soát vô thần.

Thực ra, quá trình Hồi giáo hóa có thể lây lan sang cả dân Hồi giáo vẫn tiếp tục sinh sống ở đất Nga. Số dân này là 20 triệu – gấp hơn hai lần số người Nga bất mãn (khoảng 9,5 triệu) vẫn tiếp tụcsinh sống dưới chế độ thống trị ngoại quốc ở các nước Trung Á độc lập. Người Hồi giáo Nga chiếm khoảng 13% dân số Nga và đều muốn đòi được quyền mang bản sắc chính trị và tôn giáo rõ rệt. Dù cho yêu sách này không mang hình thức một cuộc tìm kiếm độc lập hoàn toàn như ở Chechnya thì nó cũng phải đối mặt với những bế tắc ở Trung Á vì hành động dính líu kiểu đế quốc gần đây của họ.

Có một thực tế đã làm tăng sự bất ổn ở các nước Balkans Âu – Á và làm cho tình hình sẽ có thể dễ bùng nổ hơn, đó là việc hai nhà nước sát nhau là Thổ Nhĩ Kỳ và Iran đều rất dễ thay đổi về xu hướng địa chính trị. Nếu hai nước này mất ổn định thì rất có thể toàn bộ khu vực sẽ bị đẩy vào rối loạn lớn và khi đó những cuộc xung đột sắc tộc và lãnh thổ đang tiếp diễn sẽ tuột ra khỏi tầm kiểm soát và thế cân bằng lực lượng trong vùng vốn đã mỏng manh lại càng bị phá hoại nặng. Do đó, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran không những là những nhân tố quan trọng về địa chiến lược, mà còn là những trung tâm địa chính trị. Điều kiện nội bộ của chính họ lại có tầm cực kỳ quan trọng đối với số phận của khu vực. Tuy hai nước đều ở tầm cỡ trung bình, nhưng khát vọng khu vực lại rất mãnh liệt và luôn tự ý thức về tầm quan trọng lịch sử của họ. Tuy nhiên vẫn chưa có gì chắc chắn về định hướng địa chính trị tương lai cũng như về sự liên kết quốc gia của cả hai nước.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Hệ lụy từ việc trì hoãn ngân sách đối với Lầu Năm Góc


Hãy coi đề xuất ngân sách của Tổng thống Mỹ là “phát súng lệnh” cho quy trình ngân sách liên bang. Một khi tổng thống đề xuất, Quốc hội có thể tiếp tục “định đoạt”.

Khi tổng thống chậm công bố đề xuất ngân sách, điều này sẽ khiến Quốc hội rơi vào tình trạng khó khăn về mặt thời gian và cũng không có lợi cho việc đưa ra quyết định sáng suốt. Nếu Quốc hội sau đó không đáp ứng được thời hạn chót phê chuẩn dự luật ngân sách của chính họ. Quốc hội có thể đặt các cơ quan liên bang vào tình trạng bế tắc cho năm tài chính mới. Điều này đặc biệt gây vấn đề nghiêm trọng cho Lầu Năm Góc và đối với an ninh quốc gia của Mỹ.

Theo luật, tổng thống phải đệ trình đềxuất ngân sách lên Quốc hội “vào hoặc sau ngày thứ Hai đầu tiên của tháng Một,nhưng không muộn hơn ngày thứ Hai đầu tiên của tháng 2 hàng năm”. Năm nay, việc chuyển giao chiếc ghế tổng thống khiến việc không kịp thời hạn cuối để đưa ra đề xuất ngân sách là điều không thể tránh khỏi. Câu hỏi giờ đây là: Khi nào sẽ đệ trình đề xuất ngân sách.. và thiệt hại do sự chậm trễ này sẽ lên tới mức độ như thế nào?

Một phân tích mới đây của Viện Nghiên cứu Lập pháp Quốc hội cho thấy trong 4 lần chuyển giao tổng thống gần đây nhất, thời gian chậm nộp ngân sách trung bình là 65 ngày. Trong số đó, chính quyền Donald Trump là nhanh nhất, chỉ nộp đề xuất ngân sách muộn 38nga2y. Chính quyền Obama là chậm nhất, khi quá hạn tới hơn 3 tháng (94 ngày).

Đồng hồ bắt đầu điểm đối với chính quyền Biden từ ngày 1/2 vừa qua. Giả sử thời gian chậm trình đề xuất ngân sách ở mức trung bình, Tổng thống Biden sẽ công bố dự thảo ngân sách của ông vào ngày 7/4 tới. Rõ ràng, đây là mức tối ưu. Mỗi ngày đề xuất ngân sách bị trì hoãn càng hạn chế thời gian Quốc hội thảo luận, một quá trình mà bản thân nó đã ngày càng trở nên chậm chạp. Theo luật, Quốc hội có khoảng 8 tháng, kể từ thời điểm dự kiến trình dự thảo ngân sách của tổng thống vào đầu tháng 2 đến ngày 1/10, để điều chỉnh các nguồn lực cho phù hợp cho tài khóa mới.

Quốc hội không thể bắt đầu tiến trình thảo luận sớm, vì ngay cả các nhà lập pháp dày dạn kinh nghiệm cũng không thể dự đoán những gì được đề cập trong đề xuất ngân sách của tổng thống. Sự giám sát của Quốc hội chủ yếu tập trung vào những thay đổi nào được đề xuất so với ngân sách năm ngoái, điều này chỉ được biết rõ khi Quốc hội có trong tay bản đề xuất.

Vậy, khi nào chính quyền Biden sẽ phân bổ ngân sách của mình?

Trong phiên điều trần bổ nhiệm, tân Thứ trưởng Quốc phòng Kathleen Hicks đã báo hiệu rằng điều này có thể xảy ra muộn hơn. Theo bà, việc đệ trình ngân sách sẽ là một thách thức đối với chính quyền mới, cần có sự hỗ trợ và thông cảm.

Tuy nhiên, dù thách thức ở mức độ nào, đó cũng là một trong những thách thức mà Bộ Quốc phòng phải đối mặt. Một số quan chức Lầu Năm Góc đã lên tiếng về những thiệt hại do việc phân bổ ngân sách không được đưa ra đúng thời hạn.

Phân bổ ngân sách nhiều đợt khiến quân đội mất nhiều thời gian quý báu. Nhiều quỹ do Lầu Năm Góc kiểm soát chỉ có thể được chi tiêu trong năm tài chính mà chúng được phân bổ. Do đó, nếu việc giải ngân không diễn ra trước tháng 4 của tài khóa thì chỉ còn 8 tháng để phân bổ các nguồn lực đó. Điều này làm giảm thời gian đưa ra các quyết định chi tiêu.

Hơn nữa, do Lầu Năm Góc không thể bắt đầu các hoạt động mới theo các quyết định phân bổ ngân sách liên tục, các hoạt động mới được lên kế hoạch cho tài khóa sẽ bị trì hoãn cho đến khi có đủ các khoản dự phòng cho cả năm. Do đó, bất kỳ chương trình mới nào mà việc thực thi phụ thuộc vào thời gian đều sẽ bị ảnh hưởng.

Đây là một phần lý do tại sao các nhà lãnh đạo quân đội nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có phân bổ ngân sách trước khi bắt đầu tài khóa Họ đã học được bài học này từ kinh nghiệm cay đắng trong quá khứ.

Từ năm 2010 – 2018, ngay cả những năm không có chuyển giao tổng thống hay sự chậm trễ trong việc đệ trình ngân sách, Lầu Năm Góc đều bước vào tài khóa mới với ngân sách hoạt động tạm thời chứ không có dự luật phân bổ ngân sách quốc phòng cuối cùng. Rõ ràng, việc tổng thống đệ trình ngân sách kịp thời không đảm bảo rằng Quốc hội sẽ đápứng các nghĩa vụ ngân sách của họ, nhưng việc đệ trình muộn sẽ khiến các nhà lập pháp càng khó đáp ứng đúng thời hạn.

Vì những lý do này, chính quyền Biden nên đặt mục tiêu phá kỷ lục do chính quyền Trump thiết lập trong việc đệ trình ngân sách cho tài khóa đầu tiên sau khi lên nắm quyền. Bằng cách công bố đề suất ngân sách vào hoặc trước ngày 11/3, chính quyền Biden sẽ loại bỏ phần lớn bất kỳ lý do nào mà Quốc hội có thể viện dẫn để không thông qua ngân sách quốc phòng trước đầu tài khóa 2022.

Chính quyền hiện đang xem xét dự thảo ngân sách quốc phòng đã được các cơ quan và Bộ Quốc phòng soạn thảotrong hơn một năm rưỡi qua. Tất nhiên, chính quyền mới phải cân nhắc kỹ nội dung của dự thảo này, đồng thời cũng cần nhận thức rõ rằng sự chậm trễ phát sinh không phải là không bị phạt.

Dự thảo ngân sách tốt được trình lên Quốc hội vào tháng 3 hoặc tháng 4 sẽ tốt hơn là một dự thảo hoàn hảo được đưa ra vào tháng 5.

Nguồn: TKNB – 03/03/2021.

Sự thăng trầm của bá quyền Mỹ từ Wilson cho tới Trump – Phần V


Khi Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế khác phát triển, thị phần của Mỹ trong nền kinh tế thế giới sẽ ít hơn so với đầu thế kỷ này và sự trỗi dậy của các quốc gia khác sẽ khiến Mỹ gặp khó khăn hơn trong việc triển khai hành động. Nhưng không có quốc gia nào khác, kể cả Trung Quốc, sắp sửa thay thế vị trí của Mỹ trên thế giới về sức mạnh tổng thể. Nước Nga đang suy giảm nhân khẩu học và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu năng lượng; Ấn Độ và Brazil (mỗi nước có nền kinh tế trị giá 2 nghìn tỷ USD) vẫn là các nước đang phát triển. Cũng không phải là một liên minh thực sự tin cậy của những nền độc tài, với sự ngờ vực tiềm ẩn giữa Nga và Trung Quốc. Sự tăng trưởng kinh tế nhanh của châu Á cũng có nghĩa là một sự thay đổi quyền lực trong khu vực, nhưng tại châu Á, sức mạnh của Trung Quốc được cân bằng bởi Nhật Bản, Ấn Độ và Australia, trong số những quốc gia khác. Hoa Kỳ sẽ vẫn rất quan trọng đối với cán cân sức mạnh châu Á này. Nếu Hoa Kỳ duy trì các liên minh trong khu vực, có rất ít triển vọng để Trung Quốc có thể dồn đẩy Mỹ từ phía tây Thái Bình Dương và ít triển vọng hơn nữa trong việc thống trị thế giới.

Vị trí của Hoa Kỳ và hàng hóa công cộng toàn cầu

Quy mô kinh tế và quân sự là một nguồn giải thích khác cho chủ nghĩa biệt lệ kiểu Mỹ và nếu Hoa Kỳ vẫn là cường quốc mạnh nhất, có một trường hợp cho quốc gia lớn nhất dẫn đầu trong việc tổ chức sản xuất hàng hóa chung toàn cầu. Tuy nhiên, vai trò đó đòi hỏi một định nghĩa rộng về lợi ích quốc gia thay vì tập trung hẹp vào việc hưởng thụ miễn phí (free-riding). Trong một số lĩnh vực về hàng hóa quân sự và kinh tế, vai trò lãnh đạo của Mỹ đã cung cấp khá nhiều. Chẳng hạn, Hải quân Hoa Kỳ rất quan trọng trong việc kiểm soát Luật Biển và bảo vệ tự do hàng hải, và trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008 – 2009, Cục Dự trữ Liên bang đem đến sự tự tin từ việc có người cho vay cho phương sách cuối cùng.

Về các vấn đề xuyên quốc gia mới, mặc dù vai trò lãnh đạo của Mỹ vẫn quan trọng, nhưng để thành công sẽ cần sự hợp tác của nhiều quốc gia khác. Theo nghĩa này, quyền lực trở thành một trò chơi có tổng lợi ích là số dương. Sẽ là không đủ khi nghĩ về quyền lực Mỹ áp đặt lên những quốc gia khác. Người ta cũng phải suy nghĩ về quyền lực để hoàn thành các mục tiêu chung liên quan đến việc thực thi quyền lực cùng với nhau. Đối với nhiều vấn đề xuyên quốc gia, việc trao quyền cho nước khác có thể giúp Hoa Kỳ hoàn thành các mục tiêu của riêng mình. Nước Mỹ sẽ được hưởng lợi nếu Trung Quốc cải thiện hiệu quả năng lượng và thải ra lượng carbon dioxide ít hơn. Trong thế giới ngày nay và tương lai dự đoán được, mạng lưới và kết nối là nguồn sức mạnh quan trọng. Trong một thế giới ngày càng phức tạp, các quốc gia kết nối nhiều nhất là mạnh nhất. May mắn thay, Hoa Kỳ đứng đầu trong bảng xếp hạng các quốc gia của Viện Lowy của Australia dựa theo số lượng đại sứ quán, lãnh sự quán và phái bộ. Washington cũng có khoảng 60 đồng minh hiệp ước; trong khi Trung Quốc có ít hơn.

Trong quá khứ, sự cởi mở của Hoa Kỳ đã tăng cường năng lực xây dựng mạng lưới, duy trì các thể chế và các liên minh. Liệu sự cởi mở và sẵn sàng tham gia với phần còn lại của thế giới sẽ chứng minh sự bền vững trogn nền chính trị nội tại của nước Mỹ, hay chúng ta sẽ thấy một thế kỷ XXI tương tự với những năm 1930? Ngay cả khi Hoa Kỳ sở hữu nhiều tài nguyên về quân sự, kinh tế và quyền lực mềm hơn bất kỳ quốc gia nào khác, họ có thể không chọn cách chuyển đổi các tài nguyên đó thành hành vi quyền lực hiệu quả trong bối cảnh toàn cầu – như họ đã không làm trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, với phản ứng theo chủ nghĩa biệt lập trước sự vượt quá của người theo chũ nghĩa Wilson. Cựu Ngoại trưởng Medeleine Albright gần đây đã chú ý tới mối nguy hiểm: “Tôi lo sợ sự trở lại với bầu không khí quốc tế mà đã tồn tại trong những năm 1920 và 1930 đó”.

Nếu chìa khóa cho vị trí tương lai của nước Mỹ trên thế giới là sự tiến triển thái độ hợp tác và học hỏi tầm quan trọng của “quyền lực cùng với” cũng như “quyền lực áp đặt”, thì nó không được cổ vũ trong những năm đầu của chính quyền Trump. “Nước Mỹ trên hết” ở một cấp độ chỉ là một khẩu hiệu mà mọi quốc gia đều đặt lợi ích của mình lên hàng đầu: câu hỏi quan trọng là những lợi ích đó được định nghĩa rộng hay hẹp như thế nào. Nhưng Trump đã cho thấy một xu hướng nghiêng về các giải thích theo nghĩa hẹp, tổng bằng không. Có lẽ mối đe dọa lớn đối với vị trí của nước Mỹ trên thế giới trong tương lai không phải từ bên ngoài mà từ bên trong?

Chuyển đổi quyền lực và các mối đe dọa từ bên trong

Cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 được ghi dấu bằng những phản ứng dân túy từ cả hai đảng đối với toàn cầu hóa và các hiệp định thương mại. “Chủ nghĩa dân túy” là một thuật ngữ khá mơ hồ có thể liên quan tới ý thức hệ của cả cánh tả và cánh hữu. Nó thường biểu thị sự phản kháng đối với giới tinh hoa bao gồm cả các kiểu thể chế và các nhà bình luận đã ủng hộ trật tự quốc tế tự do trong bảy thập kỷ qua. Chủ nghĩa dân túy không phải là mới, và nó rất Mỹ cũng giống như bánh bí ngô vậy. Một số phản ứng dân túy có lợi cho dân chủ (liên hệ tới Andrew Jackson hoặc William Jenning Bryant); các cá nhân và phong trào dân túy khác, chẳng hạn như phong trào KnowNothing chống người nhập cư vào thế kỷ XIX, hay Thượng nghị sĩ Joe McCarthy và Thống đốc George Wallace trong thế kỷ XX, nhấn mạnh đến tính bài ngoại và tính thiển cận. Hiện tượng Trump phần nhiều rơi vào nhóm những người theo chủ nghĩa địa phương (ưu đãi dân bản xứ hơn dân nhập cư).

Các phản ứng dân túy bắt nguồn cả từ kinh tế và văn hóa, và là chủ đề của những nghiên cứu khoa học xã hội quant rọng. Những cử tri bị mất việc do sự cạnh tranh từ nước ngoài có xu hướng ủng hộ Trump, nhưng cũng có cả các nhóm như nam giới da trắng lớn tuỏi, những người bị mất địa vị trong cuộc chiến văn hóa bắt nguồn từ những năm 1970 và liên quan đến sự thay đổi các giá trị liên quan đến chủng tộc, giới tính và khuynh hướng tình dục. Abramowitz chỉ ra rằng, “nỗi oán giận về chủng tộc là yếu tố dự báo mạnh nhất đối với hiện tượng Trump trong số các cử tri chính của đảng Cộng hòa”, nhưng các giải thích về kinh tế và văn hóa không loại trừ lẫn nhau và Trump “rõ ràng kết nối các vấn đề này bằng cách cho rằng những người nhập cư bất hợp pháp đang cướp việc làm của công dân Mỹ”.

Ngay cả khi không có toàn cầu hóa kinh tế, thì những thay đổi văn hóa và nhân khẩu học này sẽ tạo ra chủ nghĩa dân túy ở một mức độ nào đó. Chủ nghĩa dân túy có thể sẽ tiếp tục khi công việc bị mất vào tay người máy cũng như đối với thương mại, và sự thay đổi văn hóa đang tiếp tục gây chia rẽ. Sự phân cực chính trị ở Hoa Kỳ đã bắt đầu từ trước thời kỳ của Trump và cuộc bầu cử thắng lợi của ông là một triệu chứng cũng như là nguyên nhân của nó. Bài học cho giới tinh hoa làm chính sách – những người ủng hộ toàn cầu hóa và nền kinh tế mở là họ sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề bất bình đẳng kinh tế cũng như điều chỉnh sự hỗ trợ cho những người bị suy sụp bởi thay đổi kinh tế. Thái độ đối với vấn đề nhập cư được cải thiện khi nền kinh tế được cải thiện, nhưng nhập cư vẫn là một vấn đề mang tính cảm xúc đối với một số người. Trong một cuộc khảo sát năm 2015 của Pew, 51% người Mỹ trưởng thành cho biết người nhập cư đã tăng cường cho đất nước trong khi 41% tin rằng họ là một gánh nặng; so sánh con số này với tỷ lệ 50% nhìn nhận họ như một gánh nặng vào giữa năm 2010, khi những ảnh hưởng của cuộc Đại suy thoái đang ở đỉnh điểm. Các nhà lãnh đạo sẽ phải chứng minh rằng họ có thể quản lý được đường biên giới quốc gia nếu họ muốn chống lại các cuộc tấn công từ phe dân túy, đặc biệt là trong những thời điểm và đại điểm căng thẳng về kinh tế.

Đồng thời, sẽ là một sai lầm khi nghiên cứu quá nhiều về các xu hướng dài hạn trong dư luận Mỹ từ cuộc bầu cử năm 2016 hoặc cách Trump sử dụng phương tiện truyền thông một cách thông minh để kiểm soát tin tức. Dù Trump giành chiến thắng trong cuộc bầu cử, nhưng đã không giành được đa số phiếu phổ thông, và cuộc thăm dò tháng 9 năm 2016 của Hội đồng các vấn đề toàn cầu Chicago cho thấy 65% người Mỹ nói rằng toàn cầu hóa hầu hết là tốt cho Hoa Kỳ, bất chấp lo ngại về việc làm. Mặc dù các cuộc thăm dò ý kiến luôn dễ bị đóng khung bằng cách thay đổi các câu hỏi, nhãn “biệt lập” không phải là sự mô tả chính xác về thái độ hiện tại của người Mỹ.

Một số người Mỹ nghi ngờ về việc Hoa Kỳ có đủ khả năng để duy trì một trật tự quốc tế mở. Trên thực tế, nước này hiện dành khoảng 3,5% GDP cho quốc phòng và đối ngoại, tính theo tỷ lệ GDP, chưa bằng một nửa so với những gì họ đã làm vào thời kỳ đỉnh điểm của những năm Chiến tranh Lạnh. Các liên minh không quá tốn kém như vậy. Vấn đề không phải là súng đối chọi với bơ, mà là súng đối chọi với bơ và với thuế. Trừ khi ngân sách được mở rộng bằng cách sẵn sàng tăng thuế, chi tiêu quốc phòng bị phong tỏa trong một cuộcc đánh đổi có tổng số bằng zero với các lĩnh vực đầu tư quan trọng như cải tạo hệ thống giáo dục trong nước và cơ sở hạ tầng khác, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển. Hoa Kỳ vẫn là một trong những quốc gia phát triển bị đánh thuế nhẹ nhất, với mức thuế thu nhập năm 2012 thấp hơn 10 điểm phần trăm so với mức trung bình của các nước OECD.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Hiệu đính: Lê Nguyễn

Nguồn: Joseph S. Nye, JR. – The Rise and fall of American hegemony from Wilson to Trump – International Affairs, 95: I (2019), p63-80.

TN 2019 – 1, 2, 3, 4.

Dư luận về sở hữu đất đai toàn dân


Theo đài RFA, cổng thông tin điện tử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới đây đăng bài cho rằng, những ý kiến kêu gọi nên thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai hoặc thừa nhận chế độ đa sở hữu đất đai giống như nhiều nước là “sai lầm”.

Trong khi một số chuyên giaphe6 phán chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là “mù mờ về mặt pháp lý” vì không xác định được ai là chủ sở hữu trong quan hệ đất đai, nhất là khi xảy ra tranh chấp, cơ quan này cho rằng nếu tư hữu về đất đai sẽ có nhiều điều kiện bất lợi cho Việt Nam ngay cả khi chưa xét đến yêu cầu định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư hữu cũng sẽ làm xáo trộn quan hệ sở hữu, sử dụng đất đai hiện tại mà không đem lại lợi ích cho người sử dụng đất cũng như quốc gia.

Ngày 31/3, TS kinh tế Nguyễn Huy Vũ từ Na Uy bày tỏ không đồng tình với giải thích của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: “Về vấn đề sở hữu đất đai và tài sản trên đất, chính quyền nên cho phép đa dạng các hình thức sở hữu. Làm như vậy sẽ giúp dễ dàng thực hiện giao dịch trên thị trường bất động sản, giúp thị trường phát triển dễ dàng. Việc có các sự đa dạng trong sở hữu và nhà nước bảo vệ bằng pháp luật còn giúp các nhà đầu tư yên tâm bỏ tiền phát triển thị trường địa ốc. Sự phát triển của thị trường địa ốc lúc này sẽ có sự tham gia của nhiều nhà đầu tư khác nhau và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế”.

Ngược lại, TS Nguyễn Huy Vũ cho rằng, việc duy trì hình thức sở hữu toàn dân, tức nhà nước nắm quyền sở hữu như hiện nay, đất đai nghiễm nhiên trở thành tài sản của nhà nước. Nhà nước có quyền tiếp tục cấp phép, duy trì quyền sử dụng cho nhiều người đáng lẽ là chủ đất và tải sản trên đất. Điều này chỉ khiến cho giới đầu tư bất an rằng iệc đầu tư vào đất đai có một rủi ro về mặt hành chính. Khi có rủi ro thì sẽ dẫn đến chi phí để xử lý, bảo hộ khỏi rủi ro và những chi phí đó rơi vào chỗ tham nhũng: “Nhà nước nắm quyền sở hữu đất đai, nhưng nhà nước là một thực thể rất lớn và khi quá lớn thì lại mất kiểm soát. Sự mất kiểm soát dẫn đến quá trình quản lý đất đai trở thành cơ hội kiếm chác của giới quan chức địa phương, từ đó dẫn đến vô số vụ chiếm đất, cưỡng đoạt đất đai, xử lý đất đai không đúng với pháp luật, nhưng người bị hại không thể kêu oan vì họ phải đối chọi lại giới quan chức địa phương.

Nói như vậy để thấy rằng, việc tiếp tục chính sách sở hữu toàn dân chỉ làm thiệt hại cho chính nhà nước và hình ảnh của Đảng. Các cấp dưới ở địa phương họ muốn duy trì, vì đây là cơ hội “kiếm chác” của họ, trong khi chính quyền trung ương trong một thời gian dài ngó lơ vì muốn nhận được sự ủng hộ của địa phương”.

Theo TS Nguyễn Huy Vũ, đã đến lúc chính quyền trung ương phải cải tổ lại chính sách này nếu muốn vực dậy nền kinh tế đem lại nhiều thâm dụng lao động, cung cấp một sức bật cho sự phát triển quốc gia.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai không phủ nhận quyền sử dụng đất của các pháp nhân, chỉ yêu cầu các pháp nhân này sử dụng đất đúng mục đích được giao, cũng như bảo hộ lợi ích của chủ sử dụng đối với tài sản của họ là quyền sử dụng đất.

Ngày 31/3, GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, cho rằng cần phải quy định rõ hơn về vấn đề này: “Sở hữu đất đai là đặc biệt, không bao giờ tư nhân hay công hữu một cách đầy đủ nhằm phát triển… đó là nói trong hoàn cảnh chấp nhận kinh tế thị trường và có đầu tư phát triển, như Triều Tiên thì không bàn tới. Đối với những nước có nhu cầu phát triển, ngay cả những nước chấp nhận sở hữu tư nhân thì người nắm giữ đất cũng không có quyền toàn bộ. Hiện nay, Việt Nam cứ loay hoay với việc nên chấp nhận chế độ sở hữu nào, dưới góc độ sở hữu đồ vật cụ thể. Chính vì vậy, nó cứ quẩn quanh chuyện này”.

Theo GS Đặng Hùng Võ, chấp nhận chế độ sở hữu đất đai toàn dân hay cho tư nhân sở hữu đất đai cũng đều được, vì đó chỉ là một thuật ngữ. Tuy nhiên: “Điều quan trọng là luật phải quy định rõ, Nhà nước quyền đến đâu, được làm gì, người giữ đất được có những quyền nào và được làm gì. Câu chuyện nằm ở đó. Đó là sở hữu đất đai đích thực phù hợp với cơ chế thị trường. Việt Nam có thể đi từ chế độ công hữu mở rộng đi lại từ bên phải… hoặc chấp nhận chế độ sở hữu tư nhân hạn chế đi từ bên trái. Còn thuật ngữ sở hữu gì chỉ mang tính biểu tượng, không phải là nội dung cụ thể. Luật đất đai lần này phải làm rõ được nhà nước quyền đến đâu, tư nhân quyền đến đâu… trong tất cả các trường hợp khác nhau về người sử dụng, người nắm giữ, cũng như thể loại đất. Đừng lấy cái lý sở hữu đồ vật để nói về sở hữu đất đai”.

Không chỉ phê phán ý kiến nên thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn cho rằng sở hữu tư nhân về đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường là điều bất lợi, vì sẽ dẫn đến tình trạng phân hóa giàu nghèo, khiến có người sở hữu quá nhiều đất, trong khi có người không có tấc đấc cắm dùi, nhất là tình trạng đầu cơ đất nông nghiệp của người giàu.

Theo GS Đặng Hùng Võ: “Muốn hay không muốn thì đất đai có yếu tố được thụ hưởng toàn dân. Vậy thì nó nằm ở sắc thuế như thế nào để toàn bộ người dân được thụ hưởng về đất đai. Tôi cho rằng người càng có nhiều đất mà sử dụng hiệu quả thì càng nên khuyến khích. Đừng nhìn vào đó để tị nạnh, có những người không có đất nông nghiệp thì sao? Phải có hệ thống kiểm soát hiệu quả sử dụng đất như thế nào? Sử dụng tốt có thể động viên nhận chuyển nhượng thêm, có thêm đất để phát triển. Nếu sắc thuế phù hợp thì người sử dụng đất không hiệu quả sẽ tự tìm cách chuyển nhượng đi”.

Luật Đất đai nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định rõ đất đai là sở hữu toàn dân. Tuy nhiên, người dân thực chất không có quyền sở hữu, mà khi mua đất hay đất do ông bà cha mẹ để lại thì sẽ được nhà nước cấp cho giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Khắc Mai cho rằng, Luật Đất đai phải sửa để công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai. Nếu xử lý vấn đề này một cách có văn hóa, có đạo lý thì xã hội sẽ ổn định và sẽ không có những vụ việc tranh chấp đất đai giữa chính quyền và người dân như Đồng Tâm, Thủ Thiêm hay Lộc Hưng, gieo rắc nỗi đau đớn cho con người. Vì vậy, Quốc hội mới tại Việt Nam cần nghiên cứu để có những bước tiến mới nhằm xử lý tốt vấn đề đất đai.

Nguồn: TKNB – 02/04/2021.

Các nước Balkans Âu – Á – Phần I


Ở châu Âu, ngôn từ “các nước Balkans” thường gợi lên những hình ảnh xung đột sắc tộc và những cuộc kình địch khu vực giữa các nước lớn. Khu vực lục địa Âu – Á cũng có “các nước Balkans”, nhưng đó là những nước lớn hơn, đông dân hơn, thậm chí còn hỗn tạp xét về mặt tôn giáo và sắc tộc. Những nước này nằm trong một khu vực hình thuôn rộng lớn, là trung tâm của những bất ổn trên thế giới. Hình thuôn này cũng trùm lên nhiều bộ phận thuộc Đông Nam Âu, Trung Á cũng như nhiều phần thuộc Nam Á, khu vực vịnh Ba Tư và Trung Đông.

Các nước Balkans Âu – Á nằm gọn bên trong của hình thuôn rộng đó. Các nước này khác với khu vực ngoài ở một điểm đặc biệt quan trọng: là một khoảng trống quyền lực. Tuy đa số các nước nằm ở vịnh Ba Tư và Trung Đông cũng mất ổn định, song ở đó lại có sự hiện diện của Mỹ với tư cách như một trọng tài. Do vậy, khu vực bất ổn ở vòng ngoài là một khu vực chỉ có một nước bá quyền và quyền lực của nó đã làm tình hình dịu đi. Trái lại, các nước Balkans Âu – Á lại gợi nhớ tới các nước Balkans cổ xưa hơn và quen thuộc hơn của Đông Nam Âu: Không chỉ những thực thể chính trị của vùng này bất ổn mà chúng còn như một miếng mồi hấp dẫn với ý đồ xâm lược của các nước láng giềng hùng mạnh. Mỗi nước láng giềng này đều quyết tâm chống nước khác đô hộ khu vực. Chính sự kết hợp của hai yếu tố khoảng trống và sức hút quyền lực đã làm cho “các nước Balkans Âu – Á” xứng với tên gọi này.

Trong cuộc đấu tranh giành địa vị thống trị châu Âu, các nước Balkans cổ truyền là một phần thưởng địa chính trị tiềm tàng. Do vị trí nằm án ngữ trên hệ thống đường vận tải hai cực Tây – Đông giàu nhất và cần cù nhất của lục địa Âu – Á nên các nước Balkan Âu – Á còn có tầm quan trọng về địa chính trị. Hơn nữa, ở khía cạnh an ninh và tham vọng lịch sử thì những nước này có tầm quan trọng đối với ít nhất ba trong số các nước láng giềng gần cận nhất và hùng mạnh nhất, đó là Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Trung Quốc cũng ngày càng thể hiện sự quan tâm chính trị đối với khu vực này.

Tuy nhiên, có thể nhận thấy các nước Balkans Âu – Á còn có tầm quan trọng hơn nhiều. Trong khu vực này tập trung nhiều khoáng sản quan trọng, nhiều dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên, kể cả vàng. Trong hai hoặc ba thập kỷ tới, mức tiêu thụ năng lượng của thế giới sẽ tăng rất nhiều. Bộ Năng lượng Mỹ dự báo nhu cầu của thế giới sẽ tăng thêm hơn 50% trong khoảng từ năm 1993 đến năm 2015, và những nước tiêu thụ năng lượng sẽ tăng nhiều là ở Viễn Đông. Động lực phát triển kinh tế của châu Á hiện đang tạo ra nhiều sức ép lớn đòi thăm dò và khai thác những nguồn năng lượng mới. Trữ lượng dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên của khu vực Trung Á và lòng chảo biển Caspian có khả năng vượt xa trữ lượng của Kuwait, vịnh Mexico hoặc Biển Bắc. Có được nguồn tài nguyên đó và chai sẻ sự giàu có tiềm tàng ở khu vực này là những mục tiêu và tham vọng của nhiều nước, làm sống lại những tham vọng đế quốc và thổi bùng lên những mối kình địch quốc tế. Tình hình này càng thêm biến động vì vùng này không chỉ là một khoảng trống quyền lực mà còn có bất ổn nội bộ. Mỗi nước ở đây đều phải chịu những khó khăn nội bộ nghiêm trọng. Tất cả các nước trên đều bị các nước láng giềng bá chủ hoặc đang có hận thù sắc tộc, chỉ có một số ít nước là đồng nhất về dân tộc. Một số nước đang chìm đắm trong xung đột lãnh thổ, sắc tộc hoặc tôn giáo.

1/ Lò nung sắc tộc

Vùng Balkans Âu – Á có 9 nước ít nhiều đang ở trong tình trạng trên. Chín nước đó là Kazakhstan, Kirgistan, Tajikistan, Uzbekistan, Turkmenistan, Azerbaijan, Armenia, Gruzia (tất cả đều là một phần của Liên Xô cũ) và Afghanistan. Bổ sung vào danh sách này trong tương lai có thể là Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Cả hai nước này đều có sức sống chính trị và kinh tế, đều tích cực tranh giành ảnh hưởng khu vực trong số các nước Balkans, và do vậy, đều là những đấu thủ địa chính trị quan trọng trong khu vực. Bởi, cả hai nước đều dễ bị tổn thương vì những cuộc xung đột sắc tộc nội bộ, và nếu hai nước này mất ổn định thì những vấn đề nội bộ của khu vực sẽ trở nên rối ren. Đồng thời, từ đó những cố gắng nhằm hạn chế Nga chiếm địa vị bá chủ trong vùng có thể trở nên vô tác dụng.

Có thể nói ba nước vùng Kavkaz là Armenia, Gruzia và Azerbaijan dựa trên cơ sở dân tộc thực sự trong lịch sử. Do vậy, chủ nghĩa dân tộc của họ vừa lan tỏa, vừa sâu sắc và những xung đột bên ngoài là thách thức chủ yếu đối với sự thịnh vượng của họ. Trái lại, có thể nói năm nước Trung Á mới thành lập đang trong giai đoạn xây dựng đất nước với đặc tính bộ lạc và sắc tộc còn mạnh, nên khó khăn lớn nhất của họ là sự bất đồng nội bộ. Cả hai kiểu nhà nước ấy đều có những điểm yếu để các láng giềng mạnh hơn và có tư tưởng đế quốc khai thác.

Các nước Balkans Âu – Á như một bức tranh đan xen các sắc tộc. Những nhà vẽ bản đồ độc đoán của Liên Xô những năm 1920 và 1930 đã vẽ đường biên giới của các nước thuộc khu vực này khi từng nước cộng hòa Xô viết được chính thức thành lập. (Afghanisatn là trường hợp ngoại lệ vì họ chưa bao giờ nằm trong Liên bang Xô viết). Các đường biên giới của họ chủ yếu được vạch ra theo nguyên tắc sắc tộc, nhưng cũng phản ánh ý đồ của Kremlin, nhằm làm cho khu vực Nam đế chế Nga trong tình trạng chia rẽ nội bộ để thuận lợi hơn cho việc thống trị.

Với mưu đồ đó, Nga bác bỏ đề nghị của các nhà dân tộc chủ nghĩa Trung Á hòa nhập nhiều dân tộc Trung Á thành một đơn vị chính trị đơn nhất mang tên “Turkestan” hơn là tạo nên 5 “nước cộng hòa” riêng biệt. Có thể do một tính toán tương tự, Nga đã từ bỏ các kế hoạch thành lập một liên bang các nước Kavkaz. Vì thế, không có gì là ngạc nhiên sau sự sụp đổ của Liên Xô, cả 3 nước vùng Kavkaz và 5 nước Trung Á đều không thật sẵn sàng cho vị thế độc lập mới cũng như chưa sẵn sàng thực hiện sự hợp tác khu vực cần thiết.

Ở vùng Kavkaz, chưa đầy 4 triệu dân Armenia và trên 8 triệu dân Azerbaijan đã nhanh chóng bị cuốn vào một cuộc chiến tranh công khai đòi vị thế cho vùng Nagorny-Karabakh, một vùng lõm với đa số dân Armenia trong lòng Azerbaijan. Cuộc xung đột gây ra những vụ tàn sát sắc tộc quy mô lớn, trong đó hàng trăm, hàng nghìn dân tha hương tháo chạy theo cả hai hướng. Do Armenia theo đạo Thiên chúa, còn Azerbaijan theo đạo Hồi, nên cuộc chiến tranh mang màu sắc của một cuộc xung đột tôn giáo. Cuộc chiến tranh gây ra sự tàn phá về kinh tế, và việc xây dựng địa vị độc lập ổn định của cả hai nước đều rất khó. Armenia bị xô đẩy đến chỗ dựa nhiều hơn vào Nga, trong khi đó, Azerbaijan phải hi sinh vùng Nagorny-Karabakh để đổi lấy nền độc lập và ổn định nội bộ.

Vị trí của Azerbaijan đã khiến nước này trở thành một điểm then chốt địa chính trị. Có thể mô tả nó là chiếc “nút chai” có tầm quan trọng sinh tử, vì nó khống chế đường vào “chiếc chai” có chứa những tài nguyên giàu có của vùng lòng chảo biển Caspian và Trung Á. Một nước Azerbaijan độc lập nói tiếng Thổ, có đường ống dẫn dầu chạy đến Thổ Nhĩ Kỳ, có quan hệ sắc tộc và ủng hộ về chính trị sẽ ngăn cản Nga độc quyền vào khu vực và do vậy khiến họ mất đi ảnh hưởng chính trị có tính quyết định đối với các chính sách của các nước Trung Á mới. Tuy vậy, Azerbaijan rất dễ bị tổn thương trước áp lực của nước Nga hùng mạnh ở phương Bắc và của Iran ở phương Nam. Ở Tây Bắc Iran có tới 20 triệu dân Azerbaijan, gấp đôi số sắc tộc này sống trên lãnh thổ Azerbaijan. Thực tế đó khiến Iran lo sợ về một chủ nghĩa ly khai tiềm tàng trong dân tộc Azerbaijan ở ngay Iran và do đó khiến họ lập lờ nước đôi đối với vị thế chủ quyền của Azerbaijan, mặc dù hai nước cùng theo đạo Hồi. Do vậy, Azerbaijan đã trở thành đối tượng để cả Nga và Iran cùng gây áp lực nhằm hạn chế họ làm ăn với phương Tây.

Khác với Armenia và Azerbaijan, 30% trong 6 triệu dân Gruzia là dân thiểu số. Hơn nữa những cộng đồng bé nhỏ này lâu nay vẫn căm ghét sự đô hộ của Gruzia. Do vậy, khi Liên Xô giải thể, các sắc tộc Osetia và Abkhazia đã lợi dụng sự ẩu đả chính trị nội bộ của Gruzia mưu toan ly khai chấp nhận sức ép của Nga buộc họ yên phận trong cộng đồng các quốc gia độc lập (lúc đầu Gruzia muốn hoàn toàn tách khỏi cộng đồng này), buộc phải chấp nhận các căn cứ quân sự Nga trên lãnh thổ của họ, tránh sự nhòm ngó của Thổ Nhĩ Kỳ.

Về văn hóa và ngôn ngữ, bốn trong năm nước mới độc lập ở Trung Á là một phần của thế giới người Thổ. Tajikistan có ngôn ngữ và văn hóa thuộc vùng Ba Tư, còn Afghanistan (nằm ngoài Liên Xô cũ) thì có nhiều sắc tộc đan xen như Patha, Tajik, Pashtun và Ba Tư. Tất cả sáu nước này đều theo đạo Hồi và đã nhiều năm chịu ảnh hưởng của các đế quốc Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga. Tuy vậy, trải nghiệm đó không có tác dụng gắn kết họ cùng chung mối quan tâm khu vực. Trái lại, thành phần sắc tộc đa dạng đã khiến họ dễ bị tổn thất trước những cuộc xung đột bên trong và bên ngoài. Các yếu tố này đã tạo ra sức hấp dẫn các nước láng giềng hùng mạnh hơn xâm lược.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Thiên sứ của lịch sử – Phần cuối


Chủ nghĩa dân tộc cũng gần như tương tự. Chủ nghĩa dân tộc hiện đại là sự kế thừa hai thế kỷ chuyển biến lịch sử. Do tất cả những nguyên nhân mà tôi đã thử vạch ra, những di sản này thực chất có tính hai mặt. Sở dĩ như thế là vì người để lại di sản không chỉ có San Martín và Garibaldi mà còn cả Uvarov và Macaulay. Như chúng ta đã thấy, “chủ nghĩa dân tộc chính thức” ngay từ đầu đã là một chính sách có chủ ý và mang tính tự vệ, có liên hệ mật thiết với việc duy trì các lợi ích của đế chế và vương triều. Nhưng một khi “đã ở đó để tất cả đều thấy” thì nó có thể được sao lặp tương tự những cải cách quân sự đầu thế kỷ XIX của Phổ và được mô phỏng bởi nhiều hệ thống chính trị và xã hội tương đồng. Một đặc trưng không thay đổi trong quá khứ cũng như hiện tại của kiểu chủ nghĩa dân tộc này là tính chính thức của nó – một đặc tính xuất phát từ nhà nước và phục vụ trước hết cho các lợi ích của nhà nước.

Bởi vậy mô hình chủ nghĩa dân tộc chính thức sẽ trở thành một mô hình đặc biệt tương thích khi các nhà cách mạng kiểm soát thành công nhà nước và lần đầu tiên có thể sử dụng quyền lực nhà nước để theo đuổi các viễn kiến của họ. Chủ nghĩa dân tộc chính thức càng trở nên tương thích ngay cả khi các nhà cách mạng cấp tiến kiên quyết nhất, ở một mức độ nào đó, cũng thường xuyên kế thừa nhà nước của các chế độ đã sụp đổ. Trong số này có những di sản chỉ mang tính biểu tượng, song không phải vì thế mà vai trò của chúng kém phần quan trọng. Bất chấp sự lo ngại của Trotsky, thủ đô của Liên Xô vẫn chuyển về Moscow, kinh đô cũ của Nga hoàng; và trải qua 65 năm các lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô vẫn ra các quyết sách ở Kremlin, thành trì cổ xưa của quyền lực Nga hoàng – mà không phải ở các vị trí đóng đô khả dĩ khác trong lãnh thổ rộng lớn của nhà nước xã hội chủ nghĩa này. Tương tự, thủ đô của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là kinh đô của nhà Thanh (mặc dù Tưởng Giới Thạch từng dời đô về Nam Kinh), và các lãnh tụ của Đảng cộng sản Trung Quốc vẫn nhóm họp trong Tử cấm thành của các thiên tử. Trên thực tế, hầu như không một tầng lớp lãnh đạo nào của chế độ xã hội chủ nghĩa lại không leo lên những vị trí lỗi thời nhưng còn ấm cúng đó. Ở mức độ ít nổi bật hơn, các nhà cách mạng thành công cũng kế thừa mạng lưới của những nhà nước cũ: có lúc kế thừa đội ngũ công chức và thông tin viên, nhưng thường là hệ thống tài liệu, hồ sơ, văn khố, luật lệ, sổ sách tài chính, điều tra nhân khẩu, bản đồ, hiệp ước, thư từ, bản ghi nhớ… Giống như hệ thống điện năng phức hợp trong bất cứ một tòa nhà lớn nào mà chủ nhân đã bỏ trốn, nhà nước chờ đợi bàn tay của ông chủ mới bật lại công tắc điện, khôi phục ánh sáng rực rỡ trong quá khứ của nó.

Bởi vậy ta không nên quá ngạc nhiên khi tầng lớp lãnh đạo cách mạng, một cách có ý thức hoặc vô thức, bắt đầu đóng vai trò chúa tể của thái ấp trang viên. Ở đây, chúng ta không chỉ nghĩ đến sự tự đồng nhất của Djugashvili với Ivan Grozny, sự ngưỡng mộ công khai của Mao đối với bạo chúa Tần Thủy Hoàng hay việc Josip Broz phục sinh lại nghi thức và sự hoa lệ của Ruritania. “Chủ nghĩa dân tộc chính thức” gia nhập vào phong cách lãnh đạo hậu cách mạng trong một cách tế vi hơn nhiều. Tức là theo tôi những tầng lớp lãnh đạo như vậy dễ dàng chấp nhận được coi là thuộc tính dân tộc (nationalnost) của vua chúa quá khứ các nhà nước vương triều. Thông qua một phong trào hồi cố đáng chú ý, họ đã biến các hoàng đế không hề biết đến “Trung Hoa”, “Nam Tư”, “Việt Nam” hay “Campuchia” trở thành đồng bào của một nước (dù không phải lúc nào họ cũng “xứng đáng” trở thành đồng bào). Từ trong sự điều chỉnh này bao giờ cũng xuất hiện chủ nghĩa Machiavelli “nhà nước”, một đặc trưng nổi bật của các chính quyền hậu cách mạng, trái ngược với các phong trào dân tộc chủ nghĩa cách mạng. Các nhà nước vương triều cổ xưa càng được quy về dân tộc thì quá khứ vàng son của chúng càng được phủ trên vai các nhà cách mạng. Hình ảnh Angkor Vat của Suryavarman II, được trang trí trên quốc kỳ của chính quyền Campuchia Dân chủ theo Marxist (tương tự trên quốc kỳ của nước cộng hòa bù nhìn Lon Nol và chính quyền Campuchia quân chủ của Sihanouk), là một biểu trưng không phải cho lòng trung thành mà là cho quyền lực.

Tôi nhấn mạnh đến tầng lớp lãnh đạo, bởi chính lãnh đạo chứ không phải dân chúng mới kế thừa hạng mục và những cung điện cổ xưa. Theo tôi, không ai nghĩ đến chuyện đông đảo nhân dân Trung Quốc lại mảy may quan tâm tới những gì xảy ra dọc biên giới thuộc địa giữa Campuchia và Việt Nam. Cũng không thể có chuyện nông dân Khmer và Việt Nam mong muốn chiến tranh nổ ra giữa nhân dân hai nước hay từng được hỏi ý kiến về vấn đề này. Trong một ý nghĩa rất thực, đây đều là những “cuộc chiến giữa các nguyên thủ” mà hầu như phải sau khi chúng diễn ra, chủ nghĩa dân tộc bình dân mới được huy động, và thường được huy động bằng một ngôn ngữ tự vệ. (Điều này giải thích vì sao tại Trung Quốc, nơi ngôn ngữ này hầu như không có sức thuyết phục, người dân lại không hề quan tâm tới những chiến sự xảy ra, ngay cả khi được tuyên truyền về “chủ nghĩa bá quyền Liên Xô”).

Trong tất cả những thực tế này, Trung Quốc, Việt Nam và Campuchia không phải là những trường hợp duy nhất. Điều này giải thích tại sao chúng ta rất khó có sơ sở để hy vọng rằng những tiền lệ mà chúng tạo ra cho các cuộc chiến tranh giữa các nước xã hội chủ nghĩa sẽ không được theo đuổi hay cộng đồng tưởng tượng của các quốc gia xã hội chủ nghĩa sẽ nhanh chóng bị hạ giá. Tuy nhiên sẽ không có một biện pháp hữu hiệu nào có thể hạn chế hoặc ngăn chặn những cuộc chiến như thế trừ phi chúng ta từ bỏ những kiểu hư cấu kiểu như “các nhà Marxist không phải là cá nhà dân tộc chủ nghĩa” hay “chủ nghĩa dân tộc là thứ bệnh lý của lịch sử phát triển thời hại đại”; thay vào đó từng bước nỗ lực học hỏi những kinh nghiệm thực sự và được tưởng tượng về quá khứ.

Về Thiên sứ của Lịch sử, Walter Benjamin từng viết.

Khuôn mặt của ngài hướng vào quá khứ. Nơi chúng ta nhận ra một chuỗi sự kiện, ngài lại nhìn thấy một thảm họa chất chồng những mảnh vỡ. Ngài ném đống đổ nát đó trước chân mình. Thiên sứ muốn được ở lại, muốn đánh thức những người đã chết và khôi phục những gì bị đập vỡ. Nhưng một cơ bão đang ập đến từ Thiên đường; nó bắt kịp đôi cánh của ngài với một sức mạnh khủng khiếp khiến ngài không thể khép nổi cánh được nữa. Cơn bão không tránh khỏi đẩy thiên sứ vào một tương lai ở phía sau lưng ngày, trong khi đống đổ nát trước mặt ngài thì vươn cao lên trời. Đây là cơn bão mà chúng ta gọi là tiến bộ.

Nhưng Thiên sứ thì bất tử, còn những khuôn mặt của chúng ta vẫn hướng về phía trước tối tăm.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng – LHNB 2018.