Thay đổi chính sách cộng đồng – một bài toán khó cho nước Anh?


Ba vụ tấn công khủng bố trong vòng 3 tháng, đặt nước Anh trước một thách thức lớn: Làm sao chống và ngăn ngừa khủng bố? Bởi vì, theo nhận định của ủy ban đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp, những kẻ sát nhân không phải là thành viên của một mạng lưới rõ ràng, mà chỉ là những cá nhân riêng lẻ đi theo con đường Hồi giáo cực đoan. Nghiêm trọng hơn là ngày càng có nhiều phần tử Hồi giáo cực đoan sinh ra và lớn lên ở ngay tại nước Anh, cho dù hưởng thụ nền giáo dục dân chủ của Anh quốc, nhưng vẫn dễ dàng trở thành kẻ khủng bố ngay trên chính đất nước này.

Nước Anh vốn có truyền thống lạnh lùng và không thể hiện cảm xúc ra bên ngoài, đặc biệt là vẫn lạc quan vui vẻ khi bị tấn công khủng bố. Nhưng lần này, sau liên tục 3 vụ thảm sát chỉ tron vòng 3 tháng, Thủ tướng Anh Theresa May tuyên bố đã đến lúc cần phải có những cuộc trao đổi đáng xấu hổ để ngăn chặn khủng bố leo thang, và nước Anh đã quá dung thứ cho các hệ phái tư tưởng cực đoan. Bà nói: “Chúng ta không thể và không được giả đò như là sự việc cứ thế tiếp tục như vậy. Nhiều điều cần phải thay đổi, và phải thay đổi theo 4 hướng quan trọng: Trước hết, bởi vì các vụ tấn công không liên kết với nhau qua các mạng lưới hoạt động thường gặp, mà kết nối với nhau qua một điều quan trọng, là cùng chí hướng với nhau theo duy nhất một tư tưởng ác quỷ Hồi giáo cực đoan, đã truyền bá sự chia rẽ và cổ xúy chủ nghĩa giáo phái. Đó là tư tưởng cho rằng các giá trị phương Tây của chúng ta về tự do, dân chủ và nhân quyền không phù hợp với đạo Hồi.

Đó là tư tưởng muốn đem đạo Hồi đi theo chiều hướng xấu xa, và bẻ cong sự thật. Đánh bại tư tưởng này là một trong số những thách thức vĩ đại nhất cho thời đại của chúng ta. Nhưng không thể đánh bại chỉ bằng can thiệp quân sự mà thôi. Cũng sẽ không thể đánh bại được chúng bằng việc tiếp tục duy trì một chiến dịch vĩnh viễn để chống khủng bố, bất kể giới chuyên gia và chỉ huy giỏi đến mức nào. Chỉ có thể đánh bại hệ tư tưởng đó bằng cách đưa suy nghĩ của con người rời xa xu hướng bạo lực này và khiến họ hiểu rằng giá trị của chúng ta, giá trị đặc trưng của nước Anh là cao cả hơn bất kỳ điều gì mà những kẻ truyền bá và ủng hộ cho lòng thù hận rao giảng”.

Người tị nạn – một bài toán khó

Những lời rao giảng thù hận và chia rẽ sắc tộc đã khiến cho rất nhiều thiếu nữ Anh sinh ra và lớn lên ở đây sẵn sàng lên đường sang Trung Đông để làm vợ cho các chiến binh Daech, hay thanh niên sang tham gia vào lực lượng vũ trang, chống lại chính những người đồng bào Anh của mình.

Những lời rao giảng đó thậm chí không chỉ ảnh hưởng riêng trong các cộng đồng có nguồn gốc từ nền văn hóa Hồi giáo, mà mới gần đây trên thế giới từng ồn ào về trường hợp của một người gốc Việt Nam, cũng tham gia hoạt động tài chính và truyền thông cho khủng bố, bị cảnh sát bắt và tước quốc tịch rồi dẫn độ sang Mỹ để ra tòa và chịu án tù vì có liên quan tới âm mưu khủng bố quốc tế.

Sau khi những vùng căn cứ địa và trại huấn luyện ở Trung Đông bị liên quân xóa bỏ, nhiều thành viên của hệ tư tưởng quá khích đã quay trở về nước Anh và bắt đầu thực hiện những vụ tấn công khủng bố bằng những phương tiện thô sơ nhất.

Ban đầu là vụ đâm chết một thanh niên Anh mặc quân phục đi trên đường, rồi bây giờ là dùng xe hơi và dao kiếm tấn công vào khách du lịch hay người dân đang vui chơi ngoài đường. Thủ tướng Anh nói đã đến lúc nước Anh phải chấm dứt việc dung thứ quá mức cho tư tưởng cực đoan.

Nước Anh nổi tiếng là một đất nước tự do dân chủ, chủ trương mô hình xã hội cộng đồng, tức cho phép nhiều tôn giáo khác nhau cùng rao giảng, và nhiều hệ tư tưởng khác nhau cùng được tự do phát triển. Vấn đề đặt ra là với mô hình xã hội của Anh hiện nay, sẽ khó mà phân biệt được đâu là tư tưởng cực đoan không được phép, và đâu là sự phản đối chính nghĩa để bảo vệ cho tự do tư tưởng? Đây sẽ là một thách thức lớn cho anh, một đất nước với bề dày lịch sử phức tạp. Ngày xưa, nơi đây từng nổi tiếng với việc đàn áp người theo đạo Công giáo La Mã, giết hại linh mục và nhiều giáo dân phải lén lút hành đạo. Đó cũng chính là lý do khiến cho người Anh hôm nay cảm thấy cần phải trả nợ với quá khứ, và chấp nhận rất nhiều hồ sơ tị nạn theo diện tôn giáo. Thế nhưng, với một bộ máy hoạt động quá tải, và thái độ lơ là của nhân viên, thì việc để lọt lưới những người giả mạo hay thậm chí những kẻ quá khích là chuyện dễ hiểu. Từng có một số kẻ quá khích từ Iraq lọt lưới thanh lọc và được chính phủ Anh cho phép tị nạn, rồi lại hoạt động chống phá ngay trên mảnh đất này.

Ví dụ trong cộng đồng người Việt cũng có rất nhiều người dù là ở miền Bắc nhưng vẫn khai là theo đạo Hòa Hảo để xin tị nạn, mà trong đời chưa bao giờ biết địa danh đó nằm ở An Giang hay Đồng Tháp. Rồi cũng có nhiều trường hợp khai là trẻ em, mà theo luật thì cho đến khi kết luận người này không phải là trẻ em, thì vẫn được đi học trong trường Trung học cơ sở hay thậm chí là Trung học phổ thông cùng với trẻ em người Ah. Đó là chưa kể có đến trên dưới 1 triệu người không có giấy tờ vượt biên vào Anh. Đây cũng chính là vấn đề chung của những nước châu Âu đang bị khủng bố tấn công như Pháp và Đức, khiến cho một số nước mạnh tay như Hungary tuyệt đối không nhận người tị nạn.

Brexit – một giải pháp khả thi để chống khủng bố?

Đâu là giải pháp cho vấn đề nan giải này? Một ý kiến trong cuộc vận động Brexit vừa qua cho rằng sau ngày nước Anh rút khỏi cam kết phải tuân thủ tòa án châu Âu thì sẽ giảm bớt được gánh nặng về việc phải cho những người mà nước Anh không muốn nhận được tạm thời cư trú, và như vậy sẽ yên ổn phần nào về an ninh?

Dẫu sao đây cũng chỉ là một ý kiến tranh cãi, vì bản chất của vấn đề là làn sóng người di tản từ các quốc gia đang bất ổn vì Hồi giáo cực đoan vẫn đang tiếp diễn. Thuyền nhân tràn ngập ở vùng Địa Trung Hải tràn vào Hy Lạp, rồi ngược lên Pháp, tìm mọi cách trốn qua phà biển Manche vào Anh, mà có đủ loại mọi máy móc thiết bị thì vẫn có người lọt lưới.

Thủ tướng Anh của đảng Bảo thủ đương quyền nói không thể nào chiến thắng Hồi giáo cực đoan chỉ bằng vũ khí, còn Chủ tịch Công đảng bên kia phía đối lập thì nói bà Theresa May lẽ ra phải từ chức vì cắt giảm chi tiêu cho cảnh sát khiến bạo lực gia tăng thành khủng bố.

Một số ý kiến cũng chỉ trích cả hai chính phủ đã cắt giảm ngân sách dành cho ngành giáo dục, bỏ bê việc chăm sóc trẻ em từ khi còn nhỏ, hay các cộng đồng sắc tộc, khiến thanh niên dễ dàng nghe theo tuyên truyền của kẻ xấu. Có ý kiến thậm chí còn lần ngược trở lại quyết định của nước Anh cùng Hoa Kỳ tham chiến, tấn công Taliban sau vụ khủng bố 11/9. Thực sự, đó chính là những điều, mà như Thủ tướng Anh đã nói, là một cuộc trao đổi không hề dễ dàng và rất xấu hổ. Nước Anh từng ý thức được về chuyện này sau vụ London bỗng nhiên bị đốt phá ở khắp nơi, nhưng thực sự cho tới thời điểm này, chưa có chính sách hay hành động cụ thể nào để đối phó với một nguy cơ tấn công hoàn toàn mới, và không dễ gì giải quyết trong xã hội.

Đã vậy, nước Anh lại còn đang trong giai đoạn bầu cử để chọn ra một chính phủ mới, vừa lèo lái quá trình Brexit, lại vừa đối phó với tình hình kinh tế không mấy khả quan, và giờ đây lại thêm các vấn đề mới về văn hóa và cộng đồng, thực ra khó có câu trả lời nào cụ thể cho một giải pháp ổn định lâu dài.

Nguồn: RFI

TKNB – 09/06/2017

Advertisements

Mỹ có thể bắt đầu với Việt Nam chưa?


Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam có thể ít phức tạp hơn như Washington mong muốn, bất chấp mối đe dọa sử dụng vũ lực chống lại Hà Nội gần đây của Bắc Kinh nhằm ngăn chặn việc khoan dầu ở Biển Đông.

Điều thú vị là chẳng có gì trong tuyên bố chung ngày 31/5 của Tổng thống Donald Trump và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói là Mỹ sẽ cam kết hỗ trợ Hà Nội trong việc đối phó với các mối đe dọa của Trung Quốc.

Những người ở Washington xem Việt Nam như một đồng minh tiềm năng chống lại Trung Quốc có thể là đã hoàn toàn bỏ qua ảnh hưởng mạnh mẽ của nền thương mại qua biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Trong khi tham dự IMDEX tại Singapore vào tháng 5/2017, một nguồn tin công nghiệp quốc phòng cấp cao của Mỹ nói rằng một cuộc họp gần đây tại Hà Nội đã kết thúc đột ngột sau khi các quan chức Bộ Quốc phòng thông báo cho phái đoàn Mỹ rằng sẽ đòi “25% hoa hồng”. Một nguồn tin thứ cấp tại Singapore cũng cho biết các quan chức Chính phủ Việt Nam đã rửa tiền tại Singapore thông qua các bà vợ của họ.

Mỹ đã cấm hoạt động kinh doanh theo cách này bằng Đạo luật Chống tham nhũng nước ngoài 1977, theo đó hối lộ sẽ là một tội hình sự liên bang. Điều này có thể giải thích tại sao Việt Nam sẽ tiếp tục dựa vào vũ khí của Nga và do đó từ chối mọi hợp tác quân sự giữa Mỹ và Việt Nam.

Thời gian gần đây đã khẳng định việc Việt Nam sẽ mua 64 xe tăng T-90S/SK từ Moskva, và Nga đang cung cấp cho Việt Nam hệ thống tên lửa phòng không S-400 và máy bay chiến đấu MiG-35 để thay thế phi đội MiG-21 về hưu của Việt Nam. Nếu Việt Nam chọn MiG-35 sẽ kết thúc mọi hy vọng, sau Indonesia, Việt nam sẽ mua F-16A/B từ Mỹ. Carl Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales (Australia) nói: “Sự hợp tác quân sự Mỹ – Việt Nam còn phải đối mặt với những vấn đề khác. Một là chính sách quốc phòng của Việt Nam “Ba không”: không có liên minh quân sự, không có căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam và không phụ thuộc vào bất cứ nước nào để chống lại nước khác. Điều này “cùng với sự nghi ngờ sâu sắc của Mỹ đối với một số sĩ quan quân đội cao cấp đã về hưu và còn đương nhiệm đã làm giảm đi mọi bước tiến trong quan hệ quốc phòng”.

Tong khi đó, ông Ralph Cossa, Chủ tịch của Pacific Forum CSIS tại Honolulu nói: “Nếu chúng ta đã học được bất cứ điều gì về Việt Nam trong nửa thế kỷ qua, thì đó là không có ai thúc đẩy được Hà Nội đến bất cứ nơi nào họ không muốn đi. Không có sự mất lòng nhau giữa Hà Nội và Bắc Kinh, nhưng người Việt Nam sẽ phải cẩn thận để không công khai đứng về phía nào với bất cứ ai. Điều đó nói rằng đã có và vẫn còn là một cơ hội tuyệt vời cho Washington và Hà Nội để làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác và Trung Quốc cung cấp thêm sự khuyến khích cho cả hai để làm như vậy”.

Mỹ và Việt Nam đã ký một biên bản ghi nhớ (MOU) vào năm 2011 đề ra 5 lĩnh vực ưu tiên hợp tác: an ninh, hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai, trao đổi giữa các trường đại học quốc phòng, các viện nghiên cứu, và các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc.

Tuy  nhiên, theo ông Thayer, biên bản ghi nhớ năm 2011 đã làm Mỹ thất vọng. Ví dụ, Việt Nam đã từ chối lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter cho sĩ quan quân đội Việt Nam bay và uan sát trên P8 Poseidon tuần tra hàng hải trên Biển Đông.

Từng bước có sự liên kết chặt chẽ hơn nhưng không có liên minh, ông Patrick Cronin, cố vấn cao cấp kiêm giám đốc cấp cao của Chương trình An ninh châu Á – Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh mới của Mỹ nói: “Việt Nam bảo vệ một sự cân bằng lợi ích và Mỹ sẽ nhiệt tình củng cố quốc phòng của Việt Nam hơn là cung cấp một sự bảo đảm an ninh. Điều đó nói rằng, việc này có thể chỉ phụ thuộc vào cách Trung Quốc sẽ trở thành kiên định như thế nào nếu Việt Nam không chống nổi hải quân Trung Quốc”.

Tuy nhiên, đã có hoạt động về các vấn đề bảo vệ bờ biển. Trong tháng 5/2017, Cảnh sát biển Việt Nam đã được cung cấp 6 tầu tuần tra kim loại Shark và vào tháng 4/2017, nhận bàn giao một tàu lớp Hamilton đã ngừng hoạt động của Cảnh sát biển Mỹ.

Cho đến nay, Hà Nội dường như quan tâm chủ yếu tới việc nâng cao hiệu quả răn đe qua hợp tác quốc phòng khiêm tốn với Mỹ. Ông Richard Fisher, thành viên cao cấp tại Trung tâm Chiến lược và Đánh giá quốc tế nói:

Mặc dù Việt Nam đã đa dạng hóa các nguồn vũ khí của họ trong thập kỷ qua, họ đã cẩn thận để tránh phụ thuộc vào sự bảo vệ của một cường quốc nước ngoài”.

Cuộc xâm lược Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc, dù được thể hiện rất kém, đã chứng minh cho lãnh đạo Hà Nội rằng một người bạn nước ngoài sẽ không bảo vệ họ khi có nguy cơ chiến tranh với Bắc Kinh. Fisher nói:

Trung Quốc không đẩy Việt Nam vào vòng tay người Mỹ. Còn hơn thế, nó đang đẩy Hà Nội vào việc mua sắm vũ khí hạt nhân – là thứ sẽ đe dọa Bắc Kinh nhiều hơn so với một liên minh với Washington”.

Nguồn: Shephard.com

TKNB – 01/08/2017

Các nhóm lợi ích ở Mỹ – Phần IV


Truman và các học giả theo trường phái đa nguyên khác cũng nhấn mạnh rằng hệ thống chính trị Mỹ là đặc biệt có ích đối với nền chính trị đa nguyên. Cơ cấu phi tập trung hóa của nó mang lại vô số điểm tiếp cận – các đảng phái chính trị, các ủy ban và tiểu ban của quốc hội và tòa án, vô số các cơ quan chính quyền của liên bang, bang và địa phương – tại đó các nhóm có thể cạnh tranh để có được chính sách có lợi. Nó cũng tạo ra một tập hợp các tác nhân chính trị – những quan chức được bầu – mà mục tiêu của họ có thể được đáp ứng bởi những liên minh được xây dựng vững chắc trên diện rộng và những giá trị chung được bảo vệ rộng rãi. Trong khái niệm lý tưởng này, nền chính trị đa nguyên tạo ra một sự cân bằng chính sách phản ánh cả sự phân phối lợi ích trong xã hội và cường độ mạnh mẽ của việc theo đuổi lợi ích. Những lợi ích chung rộng rãi có sức nặng bởi các cuộc bầu cử khiến cho số đông trở thành vấn đề quan trọng; cường độ là yếu tố cần tính tới bởi những người quan tâm tới vấn đề nhất chính là những người có khả năng tham gia vào tổ chức và hành động nhất.

Như vậy, rõ ràng là quan điểm này của chủ nghĩa đa nguyên Mỹ không bao hàm sự khinh miệt đối với “các nhóm lợi ích cụ thể” hoặc “các nhóm gây áp lực” theo như quan niệm thông thường. Thay vào đó, các nhóm lợi ích được xem là những người tham gia rất quan trọng và quý báu trong nền chính trị dân chủ của xã hội công nghiệp hiện đại. Nếu không có sự tham gia của chúng, chính sách có thể được tạo ra mà không hề quan tâm tới những mong muốn thực tế của công dân đối với chính phủ.

Với ý nghĩa là sự mô tả thực tế, khái niệm chủ nghĩa đa nguyên tích cực hiển nhiên đã bị một số người chỉ trích. Không ai nghi ngờ rằng các nhóm có tổ chức thường là những người chơi rất quan trọng trong lĩnh vực chính trị; điều này không phải là vấn đề. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng các nhóm hoạt động nổi bật nhất trong nền chính trị không đại diện một cách cân bằng cho các nhóm lợi ích kinh tế và xã hội. Một số nhóm lợi ích, ví dụ như nhóm của các tập đoàn công nghiệp lớn, dường như chiếm tỷ lệ đại diện quá lớn; trong khi các nhóm khác, chẳng hạn nhóm lao động nhập cư và người thất nghiệp, không hề được đại diện. Như nhà khoa học chính trị E.E. Schattschneider đã nói: “Khiếm khuyết trong thiên đường của những người đa nguyên chủ nghĩa là ở chỗ dàn đồng ca của thiên đường hát lên với âm giọng chi phối của tầng lớp trên”. Lời giải thích rõ ràng nhất cho sự lệch này là các nguồn lực của tổ chức – tiền bạc, thông tin, tiếp cận quyền lực, kỹ năng, khả năng thương lượng – được phân phối rất bất bình đẳng giữa các nhóm lợi ích chính trị. Do vậy, khi các tổ chức đầu tư vào chính trị, kết quả sẽ bị thiên lệch theo hướng có lợi cho các nhóm được sự ủng hộ của những người giàu có, có nhiều thông tin và quyền lực.

Vấn đề của hành động tập thể

Một cách giải thích tế nhị hơn nhưng cũng không kém phần quan trọng cho sự thiên lệch rõ rệt trong tỷ lệ đại diện của các nhóm xuất phát từ sự khác biệt trong động cơ của hành động tập thể và những trở ngại đối với tổ chức giữa các loại nhóm khác nhau. Lời giải thích này, được nhà kinh tế học Mancur Olson đưa ra trong cuốn Logic của hành động tập thể (The Logic of Collective Action) (1965), bắt đầu bằng việc chỉ ra rằng những nhà đa nguyên chủ nghĩa kinh điển như Truman đã sai lầm khi cho rằng mọi người sẽ hình thành các nhóm lợi ích một cách tự phát để thúc đẩy hoặc bảo vệ những lợi ích chung. Một số người buộc phải đảm nhiệm việc tổ chức nhóm và tìm kiếm các nguồn lực để duy trì chúng. Và để thành công, những nhà tổ chức phải vượt qua một vấn đề kinh điển của hành động tập thể: đa số các nhóm lợi ích chính trị đều theo đuổi những lợi ích tập thể mà các thành viên của nhóm được hưởng lợi từ đó, bất chấp việc họ có giúp đạt được chúng hay không. Tính tư lợi có lý trí dẫn tới tình trạng ngồi không hưởng lợi rất phổ biến, làm suy yếu tổ chức và các nỗ lực của nó trừ phi nó tìm ra một cách thức nào đó cho vấn đề khó khăn này.

Một số nhóm giải quyết vấn đề này dễ dàng hơn nhiều so với các nhóm khác. Các nhóm nhỏ dễ tổ chức hơn các nhóm lớn bởi chi phí giao dịch thấp hơn và tình trạng ngồi không hưởng lợi ít nghiêm trọng hơn, do những kẻ ngồi không hưởng lợi dễ bị phát hiện hơn, dễ bị khinh miệt và trừng phạt về mặt xã hội hơn. Thêm vào đó, các nhóm có quyền lợi bị ảnh hưởng nhiều hơn trong một lĩnh vực chính sách sẽ sẵn sàng hành động hơn so với những người không bị ảnh hưởng (xem hộp “Quy tắc thiểu số”). Khi chi phí hoặc lợi ích tiềm năng là lớn, động cơ để đầu tư vào hành động chính trị cũng sẽ lớn.

Quy tắc thiểu số

“Các nhóm lợi ích đặc biệt” mang tai tiếng không thể cứu vãn trong nền chính trị Mỹ ngay từ những ngày đầu của nền Cộng hòa, khi James Madison cảnh báo về “bạo lực của bè phái” trong bài Người liên bang số 10. Theo quan điểm phổ biến, khi các lợi ích đặc biệt ảnh hưởng tới chính sách công, thì nền dân chủ sẽ bị thiệt hại. Điều này không nhất thiết đúng như vậy. Ngay cả khi các chính trị gia tập trung vào việc tối đa hóa số phiếu bầu của mình trong cuộc bầu cử kế tiếp và do vậy sẵn sàng đáp ứng quy tắc đa số, các nhóm lợi ích đặc biệt vẫn có rất nhiều cơ hội thành công trong việc vận động cho những chính sách mang lại lợi ích cho họ.

Để hiểu tại sao lại như vậy, chúng ta đơn giản chỉ cần thừa nhận rằng thông tin là rất đắt đỏ. Các cử tri sẽ giám sát hành động của những người đại diện cho mình trên những vấn đề quan trọng đối với họ và chỉ khi nào các thông tin như vậy có thể thay đổi sự ủng hộ của họ đối với ứng cử viên A hoặc ứng cử viên B trong cuộc bầu cử kế tiếp. Một đạo luật trợ cấp cho sản phẩm sữa đang được xem xét tại Quốc hội, nếu được thông qua, sẽ làm tăng thêm một hoặc hai xu đối với người tiêu dùng. Tuy nhiên, đa số các cử tri sẽ bỏ qua vấn đề này bởi chi phí để biết về việc này và nghiên cứu cách thức bỏ phiếu của những người đại diện cho họ sẽ vượt qua những lợi ích có được từ việc biết được thông tin này.

Mặc dù phần lớn cử tri sẽ bỏ qua các đạo luật trợ cấp sản phẩm sữa, song những người nông dân cung cấp sữ chắc chắn không làm như vậy. Một khoản phụ thu nhỏ từ sản phẩm sữa có thể giúp cải thiện đáng kể thu nhập của họ. Bởi vậy, những người nông dân này sẽ trả chi phí cao hơn để biết từng chi tiết của chính sách cũng như theo dõi hành động của các đại diện của mình. Thường thường, chi phí này sẽ bao gồm cả chi phí thuê các nhà vận động hành lang.

Giống với việc sử dụng thông tin, việc truyền bá thông tin cũng rất tốn kém. Hầu như không người tiêu dùng nào tình cơ nghe được thông tin về dự thảo luật trợ cập sữa chịu bỏ công sức để chứng tỏ sự phản đối của họ, trong khi những người nông dân cung cấp sữa sẽ dành đáng kể thời gian và tiền bạc để tuyên truyền về sự ủng hộ của họ.

Các chính trị gia sẽ nhận thấy rằng đa số công dân không quan tâm nhiều lắm tới việc trợ cấp và ít khả năng họ sẽ bỏ phiếu dựa trên vấn đề này. Đồng thời, họ cũng nhận ra rằng một số ít người khác – những nông dân cung cấp sữa – hết sức quan tâm tới vấn đề và có thể dành lá phiếu của họ cũng như các khoản đóng góp cho chiến dịch vận động tranh cử trên cơ sở hành động của các đại diện của họ trên vấn đề này. Bởi vậy, ngay cả các chính trị gia luôn cố gắng đạt được càng nhiều phiếu càng tốt đôi khi cũng sẽ đặt những ưu tiên của một nhóm lợi ích đặc biệt lên trên lợi ích của đông đảo các công dân bình thường khác.

 

Quy mô của nhóm và phần đóng góp của các thành viên thường có quan hệ tỷ lệ nghịch, khiến cho tình trạng thiên lệch càng tồi tệ thêm. Đối với một số ít nhóm may mắn, một thành viên riêng rẽ có thể có lợi ích đủ mạnh để sẵn sàng chi trả toàn bộ chi phí cho việc theo đuổi lợi ích chung của cả nhóm. Chẳng hạn như Exxon có thể nhận thấy nó vẫn có lợi khi đầu tư vào việc vận động nhằm bãi bỏ việc kiểm soát giá xăng dầu ngay cả khi nó phải chi trả toàn bộ chi phí để tạo ra một lợi ích mà toàn bộ các nhà sản xuất xăng dầu sẽ cùng được hưởng. Ngược lại, có rất nhiều lợi ích tập thể phổ biến, được chia sẻ bởi quá nhiều người sẽ có tỷ lệ đại diện rất kém nếu những người chia sẻ chúng hành động một cách lý trí và duy trì vị thế người ngồi không hưởng lợi.

Phân tích này có thể giải thích tại sao các nhóm vận động hành lang đại diện cho những lợi ích kinh tế hạn hẹp có xu hướng chi phối tại Washington, nhưng nó cũng đặt ra một câu hỏi mới: tại sao vẫn có rất nhiều nhóm vận động hành lang mạnh lên tiếng đề đạt nguyện vọng cho các lợi ích phổ biến và rộng rãi? Thực tế, một trong những thay đổi đáng kinh ngạc nhất đố với các nhóm lợi ích trong ba thập niên vừa qua chính là sự phổ biến của các tổ chức tuyên bố đại diện cho hàng triệu công dân tập trung vào một số loại hình lợi ích công. Sự phổ biến này bắt nguồn một phần từ thực tế rằng rất nhiều người sẵn sàng góp sức cho các nhóm ủng hộ những vấn đề họ quan tâm mà không hề lo lắng về việc liệu những đóng góp của họ có tạo nên sự khác biệt đáng kể này hay không. Những động cơ đạo đức, sự hài lòng của cá nhân về việc được chứng tỏ bản thân, đã thắng thế khái niệm về sự suy xét lý trí của các nhà kinh tế học trong trường hợp của vô số công dân quan tâm – những người đã gửi tiền đóng góp cho các nhóm vận động, cho việc bảo vệ môi trường, cải cách chính trị, cấm nạo phá thai, quyền của động vật, và hàng loạt vấn đề xã hội khác. Những nhóm này không ra đời một cách tự phát thông qua hành động của những công dân quan tâm; phần lớn được hình thành bởi những nhà hoạt động mạnh dạn được hỗ trợ bởi các tổ chức từ thiện, những cá nhân giàu có hoặc bản thân chính quyền. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều nhóm được duy trì nhờ phí hội viên và các khoản đóng góp nhỏ của đông đảo công dân.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Thời loạn lạc, chiến tranh nối tiếp chiến tranh – Phần I


1/ Hỗn loạn

Nước Nga gặp đại họa, phương Tây hoan hỉ

Năm 1991, vì chiến tranh thông tin – tâm lý mà Liên Xô – một quốc gia hùng mạnh, một trong hai siêu cường của thế giới đã tan rã và chấm dứt tồn tại, bị chia thành 15 nước do Mỹ và phương Tây cai quản. Nhưng, điều cốt yếu nhất có lẽ là sự thay đổi căn bản ý thức của người dân Nga, chuyện chưa từng xảy ra trong suốt bề dày lịch sử nước Nga. Các sự kiện năm 1917 và 1991 có sự khác nhau căn bản. Năm 1917 và tiếp đó, tâm trạng dân Nga giữ nguyên không thay đổi, kể cả ý thức của họ, điều có quan hệ chặt chẽ với chính thống giáo từ ngày lập nước. CNCS Nga là người kế thừa các giá trị đó xét về mặt cộng đồng, tính tập thể của các chuẩn mực đạo đức. Năm 1991 đúc kết sự cải cách triệt để ý thức xã hội từ chủ nghĩa tập thể sang chủ nghĩa cá nhân, sang lý tưởng xã hội tiêu dùng, nơi đồng tiền là Chúa trời duy nhất và cái tôi là tất cả.

Kết quả sự cải cách ý thức xã hội là mất phương hướng, đào ngũ, mất khả năng đối kháng. Từng người chết trong cô đơn: tuyệt thực, tự tử, chết vì bần cùng, tuyệt vọng. R. Kocolapov nhận xét sự việc như sau:

Thảm họa lớn nhất của nước Nga hiện nay không phải chỉ là khủng hoảng mọi mặt kéo dài – từ chính trị đến kinh tế, từ xã hội đến đạo đức, mà cả ở chỗ, nước Nga không còn sống, hay đúng hơn, bị ép sống không bằng cái đầu cảu mình. 13 người Mỹ sang Nga sau chính biến tháng Tám 1991 là các chuyên gia nước ngoài đạo diễn sự kiện tháng Mười Đen năm 1993: 6 người Mỹ thay chúng ta chọn cho ta Tổng thống từ 16 tháng 6 đến 3 tháng 7; IMF áp đặt chuyên chế có hệ thống cho chúng ta – đó là dấu hiệu mất chủ quyền của ta trong cái chủ yếu và cơ bản nhất – khả năng tự sắp xếp công việc theo ý mình”.

Nói cách khác, chính quyền bị lệ thuộc vào phương Tây, tuy người cầm lái vẫn là những kẻ từng cầm lái dưới chính quyền Xô Viết: các nhà tư tưởng Đảng Cộng sản Liên Xô và bộ sậu Đảng dị dạng. Có điều giờ đây họ biến chính quyền thành của riêng và dựa vào ngoại bang. Nga trở thành kẻ được phương Tây bảo hộ. Mọi quyết định quan trọng đều phải báo cáo trước hết cho Mỹ. Giống như thời phong kiến loạn lạc, khi các quý tộc Nga phải đi cầu cạnh ngoại bang, giờ đây, các Tổng thống và ứng cử viên Tổng thống các nước cộng hòa cũ sang cầu cạnh Mỹ.

Nhưng té ra chiến tranh thông tin – tâm lý chưa đến hồi kết, tuy sắc lệnh 20/1 của HĐANQG Mỹ “Mục tiêu của Mỹ đối với Nga” ký ngày 18 tháng 8 năm 1948 đã được hoàn thành trọn vẹn. Tạp chí “Tri thức – Quyền lực” đăng những lời “hay” của các lãnh đạo phương Tây đúc kết chiến tranh tâm lý chống Liên Xô;

Thông điệp của Tổng thống Mỹ Clinton “Tình hình quốc gia” ngày 7 tháng 2 năm 1997 viết:

Để chuẩn bị cho Mỹ bước vào thế kỷ XXI, chúng ta phải học được cách điều khiển các thế lực quyết định sự thay đổi của thế giới, đảm bảo cho nước Mỹ lãnh đạo thế giới lâu dài, bền vững. 50 năm trước, Mỹ có tầm nhìn xa khi thành lập các Viện giúp Mỹ thắng cuộc chiến tranh lạnh, vượt qua nhiều trở ngại chia cắt thế giới mà tổ tiên chúng ta từng sinh sống…”.

Ngoại trưởng Baker:

Chúng ta đã bỏ ra hàng ngàn tỷ USD trong vòng 40 năm để giành chiến thắng trong chiến tranh lạnh với nước Nga”.

Giám đốc Trung tâm chính trị và an ninh Gafney:

Thắng lợi của Mỹ trong chiến tranh lạnh là kết quả của chiến lược được hoạch định trước, đa dạng nhằm tiêu diệt Liên Xô. Các sự kiện lịch sử đã được định trước bởi chiến lược của Reagan. Cuối cùng, chiến tranh ngầm chống Liên Xô đã tạo điều kiện đánh bại Liên Xô”.

Thư ký của Ủy ban ba bên Brzezinzski:

Nga là cường quốc bại trận. Nga đã thua cuộc chiến toàn cục. Nếu nói “không phải Nga mà là Liên Xô” chỉ là trốn tránh sự thật. Đó là nước Nga được gọi bằng Liên Xô. Nga đã thách thức Mỹ. Nga đã thua cuộc. Giờ đây không cần ảo tưởng về nước Nga cường quốc. Cần từ bỏ cách tư duy đó… Nga sẽ bị chặt nhỏ và bị đô hộ”.

Tổng thống Nixon:

Phương Tây phải làm hết sức mình,… nếu không Mỹ và phương Tây dễ bỏ tuột chiến thắng trong chiến tranh lạnh, sẽ bị đánh bại… Nga là chìa khóa của thắng lợi. Chính tại Nga cuộc chiến cuối cùng của chiến tranh lạnh sẽ thắng hay thua. Đó là trận cuối”.

Thành viên Ủy ban ba bên, lãnh đạo “Knight Bright” Kissinger:

Rõ ràng, Liên Xô tan rã là sự kiện trọng đại nhất của thời đại và chính quyền Bush thể hiện tài nghệ tuyệt vời trong vụ này… Tôi thích một nước Nga hỗn loạn, chìm trong nội chiến hơn là nhìn thấy nước Nga tái thống nhất thành một quốc gia trung ương vững chắc”.

Thủ tướng Anh John Major:

Nhiệm vụ của Nga sau khi thua chiến tranh lạnh là cung cấp nguyên liệu cho các nước phát triển. Nhưng chỉ cần năm, sáu chục triệu người để làm việc đó”.

Không cần lời bàn. Qua đó thấy rõ, hiểm họa Cộng sản chỉ là sự lừa bịp và Nga đang đứng trước hiểm họa chết người bị đe dọa chia nhỏ, gây hỗn loạn, hút hết tài nguyên, bị phương Tây bảo hộ và số người thừa sẽ bị diệt. Hơn nữa, nhiều kẻ ở phương Tây cho rằng, tinh thần Nga đã bị phát nát, người Nga chỉ là đám nộ lệ sẵn sàng thờ phụng đồng USD.

Thời kỳ loạn lạc

Sự tương đồng giữa các sự kiện cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 với “Thời loạn lạc” cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII thật đáng kinh ngạc. Nếu chỉ dựa vào những nét tổng thể thì sẽ không hiểu đang nói về thời nào: 400 năm về trước, sự kiện xảy ra sau thời kỳ tập trung hóa quá mức. Mâu thuẫn các tầng lớp dân cư đạt đỉnh điểm. Các địa phương đứng lên chống lại chính quyền trung ương làm suy yếu hẳn chính quyền và đất nước hầu như bị tan rã. Nhiều thành phố, tỉnh giành quyền tự quyết. Tội phạm và hiện tượng vô chính phủ nở rộ.

Ngoại bang nắm các thành phố, còn người Nga ở Moskva và khắp cả nước cảm thấy mình là công dân hạng hai”.

Giai đoạn đầu tầng lớp chóp bu đóng vai trò quyết định. Chỉ khi xét đến các tiểu tiết mới thấy sự khác biệt giữa hai thời đại.

Giới quý tộc, từng giúp Dmitri Donski và Ivan III củng cố Nhà nước Nga, dần dà đánh mất lòng yêu nước. Họ lấy làm trọng lợi ích cá nhân và hướng sang phương Tây. S.F. Platonov là người hiểu biết rất tốt “Thời loạn lạc” có viết:

Để chuẩn bị xây dựng các trường học phương Tây tại Moskva, Boris Godunov gửi thanh niên Nga ra nước ngoài học tập (có điều chẳng ai muốn trở về)”.

Đối với tầng lớp chóp bu xã hội, được sinh ra trong quá trình tiến hóa Đảng Cộng sản Liên Xô, lý tưởng là tư lợi, là khả năng sang phương Tây. Giai đoạn 1601 – 1603 mất mùa đói kém, bánh mì trở thành món đầu cơ, còn thời nay, lượng lớn hàng hóa, gồm cả lương thực thực phẩm bị bán rẻ sang phương Tây. Giới chóp bu còn có đặc điểm nữa là vô nguyên tắc. Các cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, các nhà tư tưởng của Đảng đều chối bỏ những gì họ đã quảng bá, kêu gọi, ép buộc người khác làm, nhiều người trong số họ trở thành đám chống cộng điên cuồng. Một số sẵn sàng quay ngoắt 180o thời chính biến tháng 8 năm 1991. Trong quá khứ cũng đã từng như vậy, Platonov viết về hai phe: phe Vor ở Tusino và phe Suixki ở Moskva như sau:

Nhiều nhà buôn và quan chức về Tusino, một số vì căm ghét Suixki, số khác vì hám danh lợi. Cũng có hoặc người thích phiêu lưu chạy đi chạy lại giữa Moskva và Tusino. Mỗi lần đến, họ lại xin xỏ vị vua ở đó thăng chức tước vì có công “đến” và vì họ đã nhận ra vị vua “chân chính” nên đến hầu hạ. Dân Moskva gọi bọn vô lại đó bằng cái tên “di trú””.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý – TCII 1999.

Quân đội Việt Nam cần cải cách


Việt Nam cần phải bắt đầu hiện đại hóa và cải cách cơ cấu đối với quân đội một cách nghiêm túc nếu muốn chống lại sự kiểm soát ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Công bằng mà nói, các nguồn tin cho biết kể từ năm 1975, quân đội Việt Nam đã được hiện đại hóa liên tục, ngay cả khi lâm vào tình trạng thiếu thốn. Tuy nhiên, trong 10 năm qua, quân đội đã tập trung vào xây dựng năng lực; xác định lại đặc điểm của các mối quan hệ chiến lược; cải thiện cách thức theo đó các quân chủng xác định nhu cầu và lên kế hoạch mua sắm; giáo dục và huấn luyện; cũng như cấu trúc và chức năng của các doanh nghiệp quân đội khác nhau. Ví dụ điển hình nhất cho sự thành công là Viettel, nhà khai thác mạng di động lớn nhất của Việt Nam do Bộ Quốc phòng sở hữu và điều hành. Viettel đã vượt qua những trở ngại to lớn để trở thành một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông hiện đại ngang tầm với các tập đoàn viễn thông trên thế giới. Bất chấp một số thành công trong trong các quân chủng vũ trang, nhiều ý kiến cho rằng việc tiếp tục cải thiện là điều khẩn thiết. Điều này đặc biệt đúng nếu xem xét cấu trúc lãnh đạo của quân đội. Paul Giarra, Chủ tịch công ty tư vấn quốc phòng Global Strategies & Transformation đóng tại Washington nhận định ban lãnh đạo quân đội Việt Nam “hoàn toàn chưa được tái cơ cấu”.

Công tác đào tạo và huấn luyện cho sĩ quan từ cấp cơ sở cho đến cấp cao cũng là một ưu tiên, Carl Thayer, Giáo sư thuộc Học viện Quốc phòng Australia cho rằng để thực hiện việc này cần cử thêm nhiều sĩ quan, các hạ sĩ quan hải quân, đến những nước tiên tiến để tham gia các khóa học quân sự, đặc biệt là về các chiến dịch mang tính kết hợp. Zachary Abuza, một chuyên gia về Đông Nam Á tại Đại học Chiến tranh Quốc gia ở Washington, đánh giá lực lượng trên bộ của Việt Nam vẫn được huấn luyện tốt. Tuy nhiên, một loạt vụ rơi máy bay trong 2 năm qua cho thấy họ chỉ đơn giản là không có đủ máy bay hoặc có thời gian huấn luyện chưa đủ. Lực lượng hải quân, vốn có nhiều năng lực hơn bất kỳ quân chủng nào khác, cũng chưa được huấn luyện một cách đầy đủ. Nhà phân tích Carl Thayer nói thêm rằng Việt Nam nên bắt đầu một chương trình diễn tập quân sự song phương và đa phương rộng rãi với các đối tác nước ngoài để kiểm tra khả năng chiến đấu của Việt Nam trong các lĩnh vực ưu tiên như phòng không và an ninh hàng hải. Ông Thayer khuyến nghị cần phải “xây dựng một chiến lược an ninh quốc phòng toàn diện của chính phủ để hướng dẫn việc phát triển các học thuyết, chiến lược, chiến thuật và khả năng tương tác của các quân chủng. Chuyên gia Abuza nhận định một phần của vấn đề đào tạo có liên quan đến các đơn hàng mua vũ khí từ Nga, vốn thường thiếu các gói bảo trì đồng thời những chi phí bảo dưỡng tiếp theo thường không được tính trong kết hoạch ngân sách quốc phòng dài hạn của Việt Nam, “đặc biệt là việc mua 6 tàu ngầm tấn công lớp Kilo của Nga mới đây”. Collin Koh, nhà nghiên cứu thuộc Trường Nghiên cứu Quốc tế Rajaratnam của Singapore, cho rằng mặc dù sự hiện đại hóa quân sự của Việt Nam chủ yếu tập trung vào mối quan hệ với Nga, nhưng về lâu dài, các quan chức quốc phòng Việt Nam ngày càng quan ngại đến hai khía cạnh của mối quan hệ này.

Thứ nhất, Nga không chỉ cung cấp vũ khí cho Việt Nam mà còn cho Trung Quốc. Cuộc khủng hoảng ở Ukraine và lệnh cấm vận của phương Tây chỉ đẩy Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau hơn trong lĩnh vực hợp tác quân sự. Hiện Nga vẫn là nhà cung cấp vũ khí chủ chốt cho Việt Nam, và Hà Nội cảm thấy không thoải mái trong vấn đề này. Ông Koh chỉ ra rằng “ít nhất thì lực lượng lục quan và không quân của Việt Nam đang dần chuyển theo hướng tìm kiếm các nguồn vũ khí không phải của Nga, nhưng quân đội nước này tiếp tục phụ thuộc nhiều vào Moskva về các hạng mục đắt tiền”.

Thứ hai, Nga cũng đã chứng tỏ là một “đại lý vũ khí thất thường”. Ví dụ, họ chỉ có thể hứa hẹn chuyển giao công nghệ các tàu khu trục lớp Gepard cho Việt Nam nếu Việt Nam mua ít nhất 6 tàu này. Nhưng đồng thời, Việt Nam cũng đã không hài lòng với tốc độ chế tạo các tàu Gepard.

Cũng theo ông Koh, về lâu dài, Việt Nam có thể làm tốt để dựa vào hai nguồn thay thế khác. Thứ nhất, là nguồn không phải từ Nga, đặc biệt là Hà Lan do Bộ Quốc phòng Việt Nam có quan hệ gần gũi với tập đoàn quốc phòng Damen. Thứ hai, là nguồn bản địa, dựa trên các chuyển giao kỹ thuật hiện có được thực hiện với Nga nhưng được sử dụng để mở rộng khả năng đóng tàu trong nước. Nhà phân tích Abuza cũng nhất trí với quan điểm này, nói rằng Việt Nam đang thực hiện tốt việc cấp phép và sản xuất vũ khí ở trong nước, tốt hơn bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào, và điều này thực sự đã giúp họ cắt giảm chi phí.

Một điểm yếu khác cần được điều chỉnh chính là hệ thống chỉ huy, kiểm soát, thông tin liên lạc, máy tính, tình báo, giám sát và trinh sát (C4ISR). Nhà phân tích Carl Thayer cho rằng Việt Nam nên tăng cường cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự bằng cách đảm bảo khả năng tương tác của không quân và hải quân về C4ISR tông qua chuyển giao công nghệ, đồng sản xuất và một ngành công nghiệp quốc phòng mạnh. Chuyên gia Koh đã đồng tình với ý kiến của nhà phân tích Carl Thayer và lưu ý Việt Nam cho đến nay có những vấn đề khiến họ phải cải thiện năng lực “tình báo, giám sát và trinh sát” (ISR) trên biển mạnh mẽ hơn, đặc biệt là trong đối phó với các vấn đề liên quan đến Trung Quốc ở Biển Đông. Năng lực ISR trên biển được mở rộng đòi hỏi về lâu dài phải có máy bay tuần tra và do thám trên biển tốt hơn. Sáu chiếc thủy phi cơ Viking DHC-6 Twin-Otter do Canada sản xuất hiện tại là khá hiện đại, nhưng lại có tải trọng thấp và tầm hoạt động chưa được xa để có thể bao phủ được cả khu vực Biển Đông có diện tích rộng lớn. Ông Koh khuyến nghị Việt Nam nên cân nhắc một loạt các lựa chọn, trong đó có loại máy bay của Mỹ như Orion P-3C được tân trang, máy bay Airbus C-295 được cải tiến, hoặc CASA CN235 kèm theo một gói ISR. “Lý tưởng nhất là có một hệ thống tích hợp bao gồm cả các hệ thống ISR có người lái và không người lái cũng như cảm biến từ xa để bảo vệ tốt hơn Biển Đông”. Nhà phân tích Abuza cho rằng quân đội Việt Nam dường như đang thiếu một học thuyết thực sự. “Họ chắc chắn không có học thuyết nào cho lực lượng hải quân và không quân, và hiện đã bị trễ 2 năm trong việc công bố Sách Trắng”.

Còn theo chuyên gia Koh, Việt Nam nên tiến tới một sự thay đổi về học thuyết nhằm phân cấp hơn nữa trong vấn đề chỉ huy và kiểm soát (C2), đồng thời trao quyền cho các nhà lãnh đạo cấp dưới. Không giốnng trong quá khứ, khi Hà Nội có thể dựa vào một đội quân nông dân khá lớn để thực hiện các chiến dịch du kích. Trong bối cảnh hiện tại và tương lai, họ sẽ phải dự kiến trước một chiến công nghệ cao, diễn ra nhanh chóng và mãnh liệt với những kẻ thù có thể lường trước – mà không ai khác chính là Trung Quốc. Nếu Trung Quốc đang hướng tới điều đó, không có lý do gì để Việt Nam không làm theo. Cần phải cạnh tranh ngay lập tức với Trung Quốc trong lĩnh vực này: để bù đắp cho sự thiếu hụt nhân lực và vật chất của Việt Nam so với đối tác Trung Quốc, Việt Nam cần phải cải cách mạnh mẽ hệ thống C2 của mình. Điều này có nghĩa phải tạo ra sự thỏa hiệp xét bối cảnh hệ thống chính trị hiện nay, khi quyền kiểm soát quân đội được chính trị hóa và tập trung hóa theo kiểu cộng ản. Nhưng nếu Việt Nam lựa chọn sự nguyên trạng, họ có thể đánh mất cơ hội để có sự phi đối xứng với Trung Quốc (Chiến lược chiến tranh phi đối xứng là một chiến lược trong nghệ thuật quân sự, nó là chiến lược sử dụng các trang bị, vũ khí, phương tiện và các phương pháp quân sự một cách có hiệu quả nhằm chống lại, phòng thủ, làm giảm hiệu quả các thiết bị, trang bị, phương pháp tổ chức, chiến lược quân sự của đối phương trong trường hợp đố với có trang bị, vũ khí, phương tiện, kỹ thuật, số lượng quân sự vượt trội hơn – ND). Chuyên gia Koh kết luận: “Không có cách nào để Hà Nội có thể thu hẹp khoảng cách này bằng số lượng nhân lực và vật lực của mình, nhưng ít ra họ có thể làm tốt hơn Trung Quốc trong việc phân quyền hệ thống chỉ huy và kiểm soát (C2) và trao quyền nhiều hơn cho các nhà lãnh đạo quân sự cấp thấp”.

Nguồn: https://www.shephardmedia.com/news/defence-notes/reforms-are-needed-vietnams-military/

TKNB – 11/08/2017

Các nhóm lợi ích ở Mỹ – Phần III


Nhưng mẹ của họ vẫn yêu họ

1841. Sử gia James Silk Buckingham định nghĩa những người vận động hành lang là “các đại diện, được lựa chọn bởi kỹ năng của họ trong nghệ thuật lừa dối, thuyết phục và hối lộ các thành viên của cơ quan lập pháp”.

1856. Nhà thơ Walt Whitman đã miêu tả “những kẻ vận động hành lang” như “những con người nham hiểm khiến người ta sởn gai ốc, những kẻ buôn bán tự do bẩm sinh và tệ hại trên trái đất”.

1873. Một phóng viên của tờ The Nation đã mô tả những người vận động hành lang chuyên nghiệp “là người mà ai cũng ngờ vực; người mà nhìn chung trong nửa năm không có một phương kế sinh nhai lương thiện; và là người mà nghề nghiệp của họ chỉ được những người có các dự luật đưa ra trước cơ quan lập pháp viện đến như một biện pháp cần thiết dễ gây bất đồng”.

1875. Tiểu thuyết gia John William de Forest trong cuốn tiểu thuyết của ông nhan đề Honest John Vane (John Vane trung thực) đã mô tả tất cả những điều sau: “Những người có làn da nhợt nhạt, trang phục bóng mượt, tính cách tàn bạo, đầu óc bẩn thỉu, và các nói chuyện khiến người ta phát ốm; những người sặc sụa mùi thuốc lá henbane và rượu wisky cockatrine tới mức một người hút thuốc và uống rượu ở mức điều độ phải tránh xa họ như tránh xa hầm tiêu; những người mà lời lẽ khoe khoang xuẩn ngốc và vô sỉ về các hành động hối lộ của họ đủ để tất cả mọi người phải tránh xa, chỉ trừ đoàn quân của quỷ Satan và… các chính khách đồi bại, những người mà hiện giờ trên thực tế chẳng khác gì những tử thi đang thối rữa, đang bốc mùi chướng khí và sản sinh ra các loại giòi bọ”.

1888. Everit Brown và Albert Strauss, trong cuốn Dictionary of American Politics (Từ điển chính trị Mỹ), đã nêu định nghĩa như sau: “Vận động hành lang là một thuật ngữ được áp dụng chung cho những người tiến hành việc gây ảnh hưởng tới các nhà lập pháp bằng những biện pháp sai trái. Người làm việc này được gọi là người vận động hành lang. Họ thường đạt tới các mục tiêu của mình thông qua việc trả tiền cho các thành viên cơ quan lập pháp, tuy nhiên bất kỳ biện pháp khả thi nào khác cũng có thể được áp dụng”.

Các công dân phẫn nộ trước sự mục nát chính trị đã hình thành những tổ chức mới để thúc đẩy cải cách. Theo thời gian, những nhóm này đã thành công trong việc viết lại các quy tắc của nền chính trị đảng phái và bầu cử, cũng như việc tái tổ chức chính quyền ở mọi cấp. Những thay đổi này là một bộ phận của tập hợp những sáng kiến rộng lớn hơn – luật về lao động trẻ em và mức lương và giờ làm việc, quy định đối với ngành đường sắt và các doanh nghiệp quy mô lớn khác, quyền bỏ phiếu của phụ nữ, thuế thu nhập – được thông qua vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thời kỳ mà các sử gia hiện nay gọi là kỷ nguyên tiến bộ. Động lực thúc đẩy những sáng tạo này, cũng như phần lớn sự phản kháng đối với chúng, đến từ những nhóm lợi ích thuộc đủ loại. Một trong những thành công đáng lưu ý nhất, tính tới hiện nay, là của Hiệp hội chống bán rượu (Anti-Saloon League), kiến trúc sư của Tu chính án thứ mười tám. Tu chính án này cấm bán đồ uống có cồn tại Hoa Kỳ từ năm 1919 tới 1933, khi nó bị bãi bỏ (xem hộp “Trừng phạt những kẻ say xỉn tại hòm phiếu: Hiệp hội chống bán rượu”).

Trừng phạt những kẻ say xỉn tại hòm phiếu

Thành công của Hiệp hội chống bán rượu

Hiệp hội chống bán rượu, nhóm vận động hành lang cho một vấn đề riêng rẽ thành công nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, là lực lượng đi đầu trong việc thông qua Tu chính án thứ mười tám cấm việc buôn bán và vận chuyển “chất lỏng gây say xỉn” (bao gồm cả rượu và bia) ở Hoa Kỳ từ năm 1919 cho tới khi nó bị bãi bỏ vào năm 1933.

Trong nhiều thập niên trước khi Hiệp hội chống bán rượu được thành lập năm 1896, rất nhiều nhóm đã vận động cho việc cai rượu và phản đối buôn bán rượu, nhưng tất cả đều đến rồi đi. Ngay cả một đảng chính trị – Đảng Cấm – cũng đang vận động cho việc hạn chế uống rượu, song thành tích chính trị của đảng này hết sức hạn chế cho tới tận thời điểm Hiệp hội chống bán rượu ra đời.

Các nhà lãnh đạo hiệp hội, Purley Baker và Wayne Wheeler, thuộc vào loại những chính trị gia xuất sắc nhất của thời kỳ đó. Họ đã tạo nên một tổ chức do những người chuyên nghiệp được trả lương lãnh đạo, và được hỗ trợ bởi những phí hội viên hàng tháng cùng các khoản biếu tặng lớn từ các nhà hảo tâm giàu có. Làm việc thông qua các tổ chức đã tồn tại từ trước – chủ yếu là nhà thờ, song cũng có cả các nhóm vận động hạn chế rượu ở địa phương – hiệp hội đã vận hành với vai trò người điều phối trung tâm rất nhiều bộ phận của phong trào.

Hiệp hội tập trung một cách chiến lược vào một vấn đề duy nhất – ngừng buôn bán rượu, và không có quan điểm chính trị về bất kỳ vấn đề nào khác. Về mặt chiến thuật, hiệp hội tập trung vào nền chính trị bầu cử với mục tiêu đơn giản là đánh bại “những kẻ say xỉn” và bầu cho “những người không uống rượu”. Tổ chức này giám sát các lá phiếu của cơ quan lập pháp và yêu cầu sự cam kết bằng văn bản của các ứng cử viên khao khát chiến thắng, những người muốn có sự ủng hộ của của hiệp hội và không có vết tích trong quá khứ về vấn đề này. Hiệp hội không quan tâm tới việc bản thân ứng cử viên có uống rượu hay không, mà chỉ quan tâm tới cách thức họ sẽ bỏ phiếu cho đạo luật hạn chế bán rượu mà thôi. Nó xây dựng giá trị của sự ủng hộ của mình bằng cách huy động các cử tri đồng cảm (chủ yếu thông qua nhà thờ Tin Lành) và thuyết phục họ bỏ phiếu hoàn toàn dựa trên vấn đề rượu: những kẻ say xỉn phải bị trừng phạt tại hòm phiếu. Khi phong trào cấm bán rượu lên tới tầm quốc gia, hiệp hội đã tập hợp các nhóm cử tri để gửi thư và kiến nghị tới Quốc hội yêu cầu hành động và thậm chí đã tổ chức một cuộc diễu hành ở Washington, với bốn nghìn người ủng hộ cấm bán rượu tham gia, để vận động cho một tu chính án Hiến pháp hợp thức hóa lệnh cấm.

Tuy nhiên, thành công chính là yếu tố khiến tổ chức diệt vong. Bởi lệnh cấm không được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng ở nhiều nơi, đặc biệt tại những thành phố lớn, nên việc cưỡng chế thực thi chỉ có thể thực hiện với chi phí rất lớn. Song chính việc cưỡng chế mang tính ép buộc khiến cho đạo luật ngày càng trở nên mất lòng dân hơn. Cuối cùng, nó đã phải chào thua trước sự ủng hộ ngày càng yếu ớt của công chúng và cuộc Đại khủng hoảng, yếu tố đang thúc đẩy cầu về việc làm và các khoản thuế mà ngành sản xuất rượu có thể mang lại. Lệnh cấm đã bị bãi bỏ vào ngày 5 tháng Mười hai 1933, đưa những người buôn lậu rượu ra ngoài phạm vi quan tâm.

Những nhóm gây ấn tượng mạnh cho de Tocqueville vào thập niên 1830 chủ yếu là các tổ chức địa phương và chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX, một tập hợp đông đảo các tổ chức quy mô lớn, được nuôi dưỡng bởi nền công nghiệp mới nổi, đã xuất hiện tràn lan trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp. Việc mở rộng thị trường quốc gia và quốc tế đã tạo điều kiện cho sự ra đời các tập đoàn lớn, các tờ rớt, các thể chế tài chính phức tạp khác cũng như vô số tổ chức lao động và nông nghiệp. Thành viên của các nhóm này chủ yếu bị thu hút bởi các ngành nghề chuyên biệt và vị thế được tăng cường mà chúng mang lại, nhưng khi đã được tổ chức và sắp xếp nhân viên, với thu nhập ổn định từ phí hội viên, các nhóm này đã hình thành nên cơ sở thiết chế bền vững để tham gia vào những lợi ích chính trị của các thành viên.

Sự biện hộ đa nguyên cho các nhóm lợi ích

Với sự xuất hiện của các hiệp hội chính trị ổn định như những người chơi chủ chốt trong nền chính trị quốc gia, các học giả bắt đầu nghiên cứu nhóm lợi ích. Một kết quả của việc này là sự biện hộ có tính hệ thống đầu tiên về vai trò hợp pháp của các nhóm lợi ích trong nền dân chủ hiện đại. Trường hợp này được minh chứng đầy đủ nhất bởi nhà khoa học chính trị David Truman trong cuốn sách rất có ảnh hưởng của ông nhan đề The governmental Process (Quy trình của chính phủ), xuất bản năm 1951. Truman coi việc phổ biến các nhóm lợi ích chính trị là hậu quả tất nhiên và phần nhiều là vô hại của sự phát triển kinh tế. Những nhóm này được hình thành tự phát bất cứ khi nào lợi ích chung của một nhóm bị đe dọa hoặc có thẻ được thúc đẩy bởi hành động chính trị. Xã hội công nghiệp hiện đại, đặc trưng bởi sự phân công lao động tinh vi hơn, trở nên bị chi phối bởi các lợi ích và bởi vậy cả các nhóm lợi ích. Do xã hội ngày càng trở nên phân mảng và đa dạng hơn, hệ thống các hiệp hội cũng trở nên đa dạng và tách biệt hơn.

Bởi các nhóm được tự do tổ chức và tham gia vào một hệ thống chính trị mở, quy trình chính trị đã cân bằng các nhóm lợi ích cạnh tranh nhau, như James Madison đã hứa hẹn. Nếu các nhóm đã được thiết lập vận động cho các chính sách đe dọa lợi ích của các công dân khác, những người bị đe dọa sẽ tổ chức lại để tự bảo vệ cho mình. Nhu cầu sẽ thúc đẩy nhu cầu đó kháng, do vậy các chính sách bao hàm rất nhiều những thỏa hiệp và nhượng bộ lẫn nhau cần thiết để xây dựng các liên minh thắng lợi ở trong và giữa các thiết chế chính trị. Nhận thức được rằng việc vươn cao quá mức có thể khích động sự phản đối, các nhóm được thiết lập đã thận trọng điều hòa nhu cầu của mình. Như vậy, những nhóm lợi ích chưa được tổ chức đã hạn chế các nhóm tích cực ngay cả khi chúng không được đại diện bởi những nhà vận động hành lang của riêng mình.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Sự trở lại của các thành bang – Phần cuối


Thành phố tự trị (thành bang)/city-state dường như đang gia tăng trở lại thành một đối thủ đáng gờm. Đó là những thành phố với quyền tự trị như một quốc gia, những nơi kiểu như Singapore hay Monaco. Thành bang gần đây đã được đề cập nhiều hơn bởi các tạp chí quốc tế như Forbes (“Kỉ nguyên mới cho thành phố tự trị” 2010), Quartz (“Các quốc gia sẽ không còn dẫn dắt quá trình toàn cầu hóa mà là các thành phố”, 2013), The Boston Globe (“Sự trở lại của các thành phố tự trị”,2015) và How we get to next/Làm thế nào chúng ta đi đến bước kế tiếp do Quỹ Gates tài trợ (“Sự tái sinh của các thành bang”, 2016).

Những xu hướng gây tổn thương cho quốc gia tự trị thì lại đang giúp mở rộng mô hình thành phố tự trị. Trong một thế giới kết nối cao độ và hầu như phi biên giới, các thành phố là trung tâm của thương mại, tăng trưởng, sáng tạo, công nghệ và tài chính. Theo như Bruce Katz, Học giả trăm năm/Centennial Scholar của viện nghiên cứu Brookings ở Washington, DC và đồng tác giả (với Jemery Nowark) trong cuốn sách sắp xuất bản “Chủ nghĩa địa phương hóa mới/Localism: Làm thế nào để thành phố có thể vươn lên trong kỉ nguyên của chủ nghĩa dân túy/populism”. Một kiểu tập hợp các thành phố lớn theo mô hình hub/tập trung thì đặc biệt có giá trị cho nền kinh tế hiện đại:” Sự sáng tạo diễn ra liên tục bởi sự hợp tác và nó cần có sự gần gũi về không gian thời gian/proximity. Bạn cần một hệ thống kinh tế cô đặc và sự kết nối cao độ thì đang củng cố sự tập trung này.” Các thành phố cũng có sức nặng về nhân khẩu học ở phía của nó: lần đầu tiên trong lịch sử, năm 2014, đa số nhân loại đã tập trung đến sống ở các thành phố.

Điều này đã khiến cho các thành phố đóng vai trò chính trị quan trọng (political muscle) hơn bao giờ hết, có nhiều yếu tố đã củng cố điều đó. Ở khía cạnh biến đổi khí hậu, lấy ví dụ – thứ mà dường như các nhà nước tự trị thất bại thảm hại – thì các thành phố sẽ dẫn dắt việc này. Kể từ năm 2006, sáng kiến C40 đã đưa 60 thành phố đến gần nhau hơn để tăng cường hợp tác và phát triển công nghệ giảm thiểu phát thải khí ô nhiễm, và những thành tựu đạt được thường vượt xa các thỏa thuận quốc tế. Ở Hoa Kỳ, nơi mà chính quyền liên bang dường như bó tay trước việc biến đổi khí hậu, việc lãnh đạo và dẫn dắt đã được chuyển xuống cho các thành phố.

Sự chuyển dịch quyền lực thì hiển hiện theo cách thị trưởng của các thành phố chính yếu đã ngày càng đặt nặng quyền lợi chính trị của họ: hãy nghĩ đến Bill de Blasio của New York, Sadiq Khan ở London, Virginia Raggi ở Rome, Ada Colau ở Barcelona. Những thành phố đa dạng như Indianapolis và Copenhagen đang thử nghiệm cách thức sử dụng các tài sản vật chất, kinh tế và xã hội có sẵn để có thể tự chi trả cho các khoản đầu tư ở mức độ thành phố của mình.

Theo như Katz, thế giới đang chuyển động vượt xa khỏi mô hình quốc gia tự trị: “Chúng ta đang ở trong một thời kì nơi các thành phố đã có một kiểu quyền lực mới. Nó có một cơ hội lớn để thúc đẩy các lợi thế về kinh tế và tài chính để làm tăng thêm vị thế và tác động tạo ra thay đổi.” Tôi đã từng suy nghĩ về quyền lực ở khía cạnh nhị nguyên: bạn sẽ đạt được nó hoặc là không có gì cả. Nhưng theo Katz, chúng ta cần phải tái tư duy bởi có một cái gì đó ở giữa chúng, nơi các thành phố thì không hoàn toàn độc lập khỏi mô hình quốc gia tự trị, nhưng cũng không cần xin ân huệ hay hỗ trợ từ chính quyền quốc gia đó.”Các thành phố không phụ thuộc vào quốc gia, đó là một mạng lưới quyền lực của các định chế và các nhân tố thúc đẩy tạo nên nền kinh tế. Quyền lực trong thế kỉ 21 phụ thuộc vào những người giải quyết vấn đề. Chính quyền quốc gia suốt ngày tranh cãi và dần trở nên lung lay. Các thành phố hành động, các thành phố làm việc. Sức mạnh sẽ gia tăng dần từ các thành phố lên, chứ không phải được chuyển xuống từ quốc gia.”

Thực ra trong suốt một thời gian dài, quyền lực hầu như luôn được tìm thấy ở mức độ thành phố. Sau hàng ngàn năm, việc hình thành các đô thị và chính quyền tự trị cùng các bức tường thành phố đã cung cấp sự bảo vệ và các dịch vụ cho cư dân nhằm đổi lấy một phần thuế (tithes and taxes) từ họ đồng thời các quy tắc/luật được tạo ra cho cư dân nhằm quy định cách họ sống và trao đổi thương mại.

Các thành phố thuộc liên minh Hanse là một ví dụ – với quân đội và luật lệ riêng – họ kết hợp với nhau để gia tăng khả năng kinh tế nhằm cải thiện sức mạnh đàm phán với các quốc gia khác trong đầu thế kỉ 19, và trở thành một định chế/powerhouse kinh tế quyền lực ở con đường thương mại biển Baltic. Những thành phố này – bao gồm Bremen và Hamburg – nhận ra rằng họ có thể chia sẻ nhiều điểm chung với nhau, và những lợi ích chung sẽ được phục vụ tốt nhất nếu họ làm việc chung với nhau. Ngày nay đây là các trung tâm đô thị tư bản hóa toàn cầu, các thành phố lớn thì có nhiều điểm tương tự nhau hơn là các khu vực và tỉnh thành khác nằm trong các quốc gia tự trị. Điển hình tất cả đều là nơi tập trung/hub của tài chính, sáng tạo công nghệ, văn hóa và mang tính đa dạng cao độ cùng làn sóng nhập cư vào từ bên ngoài. Khi Liên hiệp Anh bầu để rời khỏi Liên minh châu Âu EU với tỷ lệ 52/48, những người ở thành phố London lại bầu để ở lại với tỷ lệ 60/40. (Có thể căn cứ theo tỷ lệ này, đã có một làn sóng ngắn hạn ở London tuyên bố độc lập khỏi quan điểm của phần còn lại của nước Anh). London, trong mắt nhiều du khách không có gì giống như phần còn lại của nước Anh. Cũng có thể đưa ra kết luận tương tự cho sự khác biệt to lớn giữa phần bờ đông và bờ tây của Hoa Kỳ.

Chúng ta sẽ thử đi một vòng các thành phố, nơi cho chúng ta cảm giác thuộc về liên minh Hanse hơn là Liên đoàn các Quốc gia (League of Nation): một hệ thống các thành phố thương mại, quyền lực, giàu kết nối. Bản thân liên minh Hanse cũng là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt. Trước đó nữa, chúng ta có thể tham khảo thành phố Venice, gần như đây là thành phố nổi tiếng nhất trong nhiều thành phố độc lập tự trị điểm chấm xuyên suốt chiều dài nước Ý ngày nay từ thế kỉ thứ 10 tới thế kỉ 16 bao gồm Florence, Bologna và Turin. Trong suốt chiều dài lịch sử của các thành bang, ta còn có thể hồi tưởng về nhiều thành phố khác như Jerusalem, trước đó nữa là Athen, trước nữa là Babylon thậm chí quay về đến Ur. Chỉ một vài thành bang chính thức còn tồn tại đến ngày hôm nay (Monaco, Singapore và Vatican là những thành phố tự trị hoàn toàn, những thành phố khác như Hongkong cũng có vẻ như vậy nhưng thực ra lại không có hoàn toàn quyền tự trị). Ngày nay thật là đặc biệt và dị thường khi chúng ta sống trong một thành bang như vậy.

Rõ ràng là các quốc gia tự trị sẽ không sụp đổ một cách buồn tẻ. Để đưa ra được một hình thức mới của chủ quyền lãnh thổ từ hiện trạng hiện tại là việc cực kỳ khó và sẽ khiến cho UN không hài lòng. Cũng có những lý do mang tính thế tục nhiều hơn. Vào năm 2015, có 2,1 triệu cư dân sống ở Venice của Ý (có 89% dân số đi bầu cử) bầu cho việc độc lập tự trị trong một cuộc trưng cầu dân ý không ràng buộc. Các cư dân rất giận dữ vì thành phố phải chi trả gần 20 tỷ $ tiền thuế nhiều hơn những giá trị tương đương mà họ thu nhận về được và dĩ nhiên nước Ý chắc chắn không để 20 tỷ thu thuế từ Venice có thể mất đi dễ dàng.

Đây là lý do tại sao có rất nhiều nỗ lực nhằm tạo ra một thành phố hoàn toàn mới. Paul Romer, kinh tế trưởng của ngân hàng thế giới World Bank đã tham gia từ rất lâu vào các đề xuất nhằm tạo ra những thành phố với nhiều đặc quyền hơn, đặc biệt là các khu vực hành chính ở cấp thành phố mà hoạt động ở quy mô nào đó, hoàn toàn độc lập. Ông tranh luận, các thành phố phải ở quy mô hợp lý, đủ lớn để có khả năng thử nghiệm một điều gì đó mới nhưng không quá lớn để không bỏ tất cả trứng vào một rổ. “Một luật lệ nhằm tạo nhiều luật mới.” Romer chia sẻ trong một bài nói chuyện tại TED vào năm 2009. Một thành phố đặc quyền, xây dựng trong một khu vực chưa có dân cư sẽ cho phép những thử nghiệm những luật lệ và hệ thống mới nhằm thu hút các khoản đầu tư và cư dân. Ý tưởng cụ thể của ông là các quốc gia cần phải làm việc cùng với nhau như cách Trung Quốc và Liên hiệp Anh làm việc với nhau về vấn đề Hongkong. (Các đặc khu kinh tế, đã tồn tại một vài năm qua, cũng tương tự như vậy: các vùng địa lý quan trọng mang tính đảm bảo về mặt cơ cấu vật lý, hoạt động với những luật chơi kinh tế khác với các quốc gia mẹ, thường là nhằm khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài).

Nhưng cho dù nó không hề dễ chút nào, vì nó đòi hỏi các quốc gia phải thuê thêm đất bên ngoài, mà điều này lại khiến cho việc tự trị khó đạt được. Có một vài mô hình thực ra không cần đến điều đó.

Ở phía ngoài khu vực biên giới đầm lầy của Croatia và Serbia là một vùng trải dài 7 cây số vuông tên là Gornja Siga. Mặc dù đang nằm dưới quyền kiểm soát của Croatia, vùng đất nhỏ này về mặt kĩ thuật lại vô thừa nhận vì cả Croatia và Serbia đều tin rằng nó thuộc về nước kia. Theo như một trạng thái pháp lý dị thường – terra nullius – đây là nơi mà Vit Jedlicka, một người theo chủ nghĩa tự do của Cộng hòa Czech đã cố gắng tạo ra một thiên đường chủ nghĩa tự do ở tầm vóc một thành phố/city-sized của tự do, thương mại và thịnh vượng mang tên “Liberland”.

Liberland, một nơi không có người ở nhưng đã có hơn 100000 công dân đăng kí trực tuyến sẵn sàng đến nếu chính phủ Croatia không ngăn chặn đường vào, có những yếu tố/trappings hình thành nên một thành phố tự trị: Tiền tệ, hiến pháp, tổng thống và thậm chí một đội bóng. Tất cả được thiết kế nhằm tối đa hóa quyền tự do cá nhân. Lúc đầu, mọi người có thể tự do tham gia và rời khỏi nếu họ muốn. Đó có thể là một nhà nước tự trị đầu tiên trên thế giới nơi không có cái gì hoàn toàn bắt buộc, nơi bạn có thể làm bất cứ cái gì mà bạn muốn miễn là nó không gây hại tới cơ thể người khác. “Đây là một thiên đường thuế thực sự/tax heaven, chứ không phải là nơi trú ẩn về thuế/tax haven.” Jedlicka đã chia sẻ với tôi gần đây khi nói về quyển sách mới của ông mang tên “Những người cấp tiến/Radicals theo đuổi một xã hội không tưởng/Utopia” (2017). Trường học, bệnh viện, hưu trí, đường xá, công trình xử lý chất thải, thu thập rác đô thị và nhiều dịch vụ khác nữa sẽ được cung cấp bởi thị trường, nếu mọi cư dân đều cho rằng đây là thứ mà họ muốn và sẵn sàng chi trả tiền cho nó/stump up.

Như đa số những người theo chủ nghĩa tự do, Jedlicka yêu thích công nghệ số hiện đại, và xem nó thực sự hữu ích trong việc đấu tranh cho tự do, làm suy yếu các quốc gia tự trị và giúp mở ra cơ hội cho các mô hình mới như cái ông đang triển khai. Nó có vẻ như là một điều viển vông/pipe-dream – không có một quốc gia nào công nhận mảnh nhỏ của vùng đất sình lầy ấy – nhưng đây không phải là điều quan trọng, một vài nhà đầu tư có ảnh hưởng ở thung lũng Sillicon đã chia sẻ cùng tầm nhìn tự do với Jedlicka đồng thời gửi cho ông các khoản tiền hỗ trợ cho dự án. “Một trường hợp mang tính tiểu thuyết (hoang đường) cao độ”. Tờ Luật pháp Quốc Tế của Tuần báo Chicago đã viết như vậy trong một bài báo về Liberland trong năm 2016, và cho rằng Liberland đã gây chú ý ở vị thế một nước mới/statehood.

Vấn đề của Liberland là cảnh sát Croatia có thể đến bất cứ lúc nào mà họ muốn, đây chính xác là những gì mà họ làm khi tôi tìm cách tiếp cận vùng đất này để viết bài. Đây là lý do tại sao mà, nhà hoạt động theo chủ nghĩa tự do của Hoa Kỳ Patri Friedman chia sẻ khi chúng tôi gặp nhau ở Thung lũng Silicon, những thành phố mới sẽ không còn được xây ở trên đất liền nữa. Chúng sẽ được đưa đến các hải phận quốc tế vượt xa khỏi biên giới của quốc gia tự trị và quân đội của họ.

Vào năm 2008, Patri sáng lập viện Seasteading Institute, với sự hỗ trợ nửa triệu $ từ Peter Thiel, một tỷ phú công nghệ theo trường phái tự do người đã đồng sáng lập nên Paypal, và một kế hoạch nhằm xây dựng thành phố “đảo” nổi giữa đại dương mênh mông/các seastead như là một thử nghiệm sống còn cho nhân loại. “Seasteading sẽ tạo ra một thị trường nơi ở mới cho cư dân ở các quốc gia khác. Bạn chỉ có thể đi xa hơn bằng cách ráp nối và phá hủy các hệ thống cũ.”, Patri nói. Và trên tinh thần của người ông nổi tiếng của mình Milton Friedman, Patri chia sẻ: “Khi quốc gia nơi bạn sống không có khu vực dành cho những sáng kiến khởi nghiệp, sự tồn tại của họ thực sự rất bấp bênh… các quốc gia kiển như vậy chỉ cung cấp cho bạn những dịch vụ tệ hại và ít có sự thay đổi. Bạn cần có những khu vực dành cho sự sáng tạo để trở thành một mối đe dọa cho họ.” Trong thế giới của “Seasteads”, nếu bạn không ưa thích chính quyền hiện tại, thì thật dễ dàng để bạn di chuyển đến một nơi khác mà bạn thích. Nó dễ dàng như việc chuyển kênh trên Netflix, đặt xe Uber và gặp một ai đó mới trên Tinder.

Patri nghĩ rằng mỗi seastead sẽ rất khác nhau và nó sẽ tạo ra một thị trường các hệ thống/môi trường sinh sống khác biệt nhau khiến mọi người có nhiều lựa chọn nơi phù hợp để sinh sống và qua đó nâng cao hiệu suất của mình. Đặc biệt là khi các quốc gia tự trị bắt đầu suy tàn (trong khi đó chúng ta không cần phải lo lắng về mực nước biển gia tăng ở các seastead).

Một lần nữa, công nghệ chính là chìa khóa: Patri đã đem tư duy của thung lũng Silicon và ứng dụng nó vào việc khắc phục bất cập của hình thái quốc gia tự trị. Có rất nhiều thứ bạn đang làm bây giờ không hề tồn tại khi mà hệ thống nhà nước hiện tại ra đời như hệ thống bầu cử trực tiếp trực tuyến, xây dựng thành phố thông minh, sử dụng tiền tệ được mã hóa. Và tất nhiên chúng ta vẫn đang phải sống trong những mô hình được sử dụng từ thế kỉ 19.

Hãy lên Google và gõ từ khóa “Seastead” và bạn sẽ tìm thấy những bản thiết kế phi thường của các đô thị nổi trong một thế giới giả tưởng được vẽ ra bằng máy tính đồ họa. Đó có lẽ là một giấc mơ hoang đường/pipe dream. Thậm chí khi mục tiêu khiêm tốn của viện Seasteading là sẽ có 150 seasteaders vào năm 2015 đã không hoàn thành.

Không bỏ cuộc. Trong năm nay, Patri cùng với giám đốc truyền thông của viện Joe Quirk đã phát hành một quyển sách khá toàn diện về seasteading nhằm phổ biến kiến thức và ký một thỏa thuận ghi nhớ tăng cường hiểu biết với khu vực Polynésie thuộc Pháp nhằm tạo ra một vùng bán tự trị ở vị trí nước nông gần bờ biển của họ để nhằm xây dựng một thành phố hình mẫu/prototype đầu tiên trên biển. Patri chia sẻ với tôi rằng họ sẽ tiến hành việc xây dựng sớm nhất có thể và chỉ trong vòng một vài năm, họ mong đợi sẽ có vài trăm người sẽ chuyển đến sinh sống khu đô thị nổi phía ngoài bờ biển của Tahili. Tôi đã hỏi Patri rằng đây có phải là một viễn cảnh thực tế. Anh đáp:”Dĩ nhiên”. Hãy nhìn vào giá bất động sản ở San Francisco, nếu có thể sống ở một đất nước khác có chuẩn mực tương tự với mức chi phí ít hơn rất nhiều, nhiều người sẽ chọn lựa điều đó. Patri đã có một danh sách hàng ngàn người xếp hàng chờ và nhiều người hỗ trợ cho dự án – đa số là các doanh nhân công nghệ – những người nhìn nhận điều này như một cơ hội đầu tư. “Đây là những người nhìn vào hệ thống vụn vỡ hiện tại và tự hỏi liệu chúng ta có thể thiết kế lên một thứ gì đó tốt hơn hay không.”

Quốc gia tự trị thì không thể sụp đổ chỉ sau một đêm. Không có kẻ man rợ nào đang rình rập ở cổng (There are no barbarians at the gate). Thậm chỉ thành Rome huy hoàng cũng không sụp đổ trong một ngày. Mô hình quốc gia tự trị trước đây đã bùng phát trong suốt thời kì công nghiệp hóa và qua hệ thống hành chính quan liêu giúp tập trung hóa các mệnh lệnh, khả năng kiểm soát cùng với sự trung thành quốc gia thì nay công nghệ hiện đại lại đi theo xu hướng đối nghịch: nó được phân phối, phi tập trung hóa và không thể kiểm soát. Nếu sự sắp đặt các yếu tố chính trị của chúng ta là tấm gương phản chiếu các giai đoạn của quá trình sản xuất và theo giả định về thời gian, thì tương lai sẽ không ủ rủ như những phế tích/relic còn lại của thế kỉ 19. Tương lai thì cực kỳ tươi sáng và nó hướng đến những thành phố hiện đại, giàu tính kết nối và linh hoạt cho dù nó ở trên đất liền, ở biên giới hay ở ngoài khơi xa xôi.

Người dịch: Nguyễn Hà Quân

Nguồn: https://dichthuattudo.wordpress.com/2017/09/11/su-tro-lai-cua-cac-thanh-bang/