Aung San Suu Kyi vẫn là niềm hi vọng tốt nhất của Myanmar – Phần đầu


Tej Parikh

Kể từ tháng 04/2016, khi biểu tượng nhân quyền quốc tế Aung San Suu Kyi trở thành nhà lãnh đạo dân chủ đầu tiên của Myanmar, các nhà hoạt động, các nhà báo và các nhà hoạch định chính sách khắp thế giới đã bày tỏ sự sửng sốt và thất vọng trước thành tích của bà. Ngoài việc nêu lên những câu hỏi về vai trò lãnh đạo của bà đối với các cải cách kinh tế và chính trị, mà bà phần lớn đã không thể thực hiện được, những người chỉ trích bà đã buộc tội bà vì làm ngơ trước những tội ác chống nhân loại do quân đội nước này thực thực chống lại dân tộc thiểu số Hồi giáo Rohingya. Đại sứ dưới thời cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc, Keith Harper, đã buộc tội Aung San Suu Kyi không thể sử dụng địa vị của mình để lên tiếng chống lại những hành động tàn bạo. Những người khác đã thẳng thắn hơn – một bài báo đăng trên The Intercept vào tháng 4/2017 đã gọi bà là “người biện hộ cho tội diệt chủng chống lại người Hồi giáo”.

Những đánh giá khắc nghiệt như vậy về sự chính trực và năng lực của Aung San Suu Kyi ít liên quan đến vai trò lãnh đạo của bà và liên quan nhiều hơn đến những kỳ vọng thái quá của cộng đồng quốc tế đối với bà. Tương tự như vậy, những người chỉ trích thường quá chú trọng vai trò của những đặc điểm cá nhân của bà Aung San Suu Kyi trong khi giảm đến mức tối thiểu các nhân tố mang tính cấu trúc và tình huống ảnh hưởng đến những quyết định của bà. Đặt trong bối cảnh môi trường chính trị, lịch sử và thể chế của nước này bị hiểu sai, Aung San Suu Kyi không phải là vị cứu tinh như bà từng được cho là vậy, cũng không phải là nhân vật phản diện trong những bức tranh biếm họa hiện nay.

Một công việc khó khăn

Tháng 11/2015, đảng Liên đoàn quốc gia vì dân chủ (NLD) của người đoạt giải Nobel Hòa bình Aung San Suu Kyi bất ngờ lên cầm quyền trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên của Myanmar sau những thập kỷ dưới sự cai trị của quân đội. Quả thật đó là thời khắc đáng chúc mừng. Nhưng truyền thông quốc tế, phớt lờ tiến trình lâu dài xây dựng nhà nước và dân chủ hóa vẫn còn ở phía trước, đã bán rẻ chiến thắng của NLD như hồi kết trong một câu chuyện đơn giản và lạc quan quá mức về sự tiến bộ ở Myanmar. Chẳng hạn, một bài viết đăng trên tạp chí Time vào tháng 1/2016 đã chúc mừng “bình minh của một kỷ nguyên dân chủ mới” ở Myanmar. Một đoạn video của Liên hợp quốc đã tuyên bố một cách đơn giản: “Chế độ dân chủ giành chiến thắng”.

Sau khi lên nắm quyền, Aung San Suu Kyi đã thông qua một cách tiếp cận hòa bình trước tiên. Bà đã ngay lập tức thả hàng chục tù nhân chính trị và bắt đầu theo đuổi các cuộc đàm phán ngừng bắn với vô số nhóm phiến quân sắc tộc của quốc gia này. Nhưng tiến trình hòa bình vẫn thiếu sự đối thoại có ý nghĩa, với một số cuộc xung đột thậm chí còn gay gắt hơn, trong khi những hạn chế quyền tự do ngôn luận trong kỷ nguyên quân đội cai trị vẫn còn đó. Trên mặt trận kinh tế, các biện pháp trừng phạt làm tê liệt của Mỹ đã được dỡ bỏ, và Myanmar đã thông qua một đạo luật mới về đầu tư được tạo ra nhằm mở cửa nền kinh tế của mình. Tuy nhiên, hầu như không có mấy dấu hiệu của sự phát triển thực sự ở mức độ cơ bản. Đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh, tham nhũng vẫn lan tràn khắp nơi, và các kế hoạch cho nền kinh tế của NLD vần còn mơ hồ.

Do đó, thành tích của Aung San Suu Kyi là đáng thất vọng. Nhưng bà sẽ luôn bị cản trở bởi một số thực tế khắc nghiệt. Thứ nhất, Myanmar là một quốc gia có tình trạng bất bình đẳng trầm trọng về kinh tế, một trong các cuộc nội chiến kéo dài nhất thế giới, và những sự chia rẽ thâm căn cố đế về sắc tộc, tín ngưỡng và địa lý, với một chính quyền trung ương từ lâu đã phải chật vật để kiểm soát các khu vực dân tộc thiểu số ở vùng ngoại vi. Hơn nữa, phần lớn những sự chia rẽ trong xã hội này đều theo các đường lối về sắc tộc và tôn giáo, đi ngược lại với sự phát triển dân chủ và xây dựng hòa bình hiệu quả. Tức là ngay cả trong những hoàn cảnh tốt nhất, đất nước này cũng bị chia rẽ và khó quản lý.

Thứ hai, ngoài những chia rẽ trong xã hội, Myanmar còn có các thể chế vận hành kém và một bộ máy quan liêu kỹ năng kém và tham nhũng. Những hạn chế này khiến cho nhà lãnh đạo mới của đất nước này có thể hoạch định chính sách, chưa nói gì đến việc thực hiện những hứa hẹn của bà trong chiến dịch tranh cử là mang lại sự phát triển về mặt kinh tế cho đất nước này, một trong những nước nghèo nhất châu Á. Và để khắc phục tình trạng bất lực của Myanmar trong việc đưa ra quyết định phân quyền, vai trò chính của bà là cố vấn nhà nước – một vai trò được tạo ra xung quanh những hạn chế về hiến pháp ngăn cản bà trở thành tổng thống. Điều này vừa là gánh nặng quá sức đối với bà vừa dẫn đến những cáo buộc về sự độc đoán ngày càng tăng của bà. Sự vận hành bất thường của các thể chế đủ để giải thích cho sự trì trệ trong chính sách của NLD.

Thứ ba và quan trọng không kém, quân đội Myanmar, Tatmadaw, vẫn có quyền lực đáng kể. Hiến pháp, được dự thảo vào năm 2008, trước thời kỳ chuyển tiếp dân chủ, dành 25% số ghế trong Quốc hội cho quân đội và trao cho quân đội quyền kiểm soát các bộ phận quan trọng về nội vụ, biên giới và quốc phòng, nghĩa là các lực lượng vũ trang của Myanmar có thể hành động độc lập với nhà lãnh đạo được bầu của nước này. Trong khi đó, các cải cách về hiến pháp vẫn bị cản trở bởi yêu cầu rằng những sửa đổi được thông qua với đa số phiếu là 75% trong Quốc hội, mang lại quyền phủ quyết hiệu quả cho quân đội. Những hy vọng giảm bớt sự kiểm soát của quân đội đã bị cản trở hơn nữa vào tháng 1/2017, khi vị cố vấn của NLD được giao nhiệm vụ tạo ra một hiến pháp mới, luật sư ưu tú người Hồi giáo U Ko Ni bị bắn chết trong một tình huống đáng ngờ. Các cựu sĩ quan bị chỉ đích danh là những kẻ tình nghi trong cuộc điều tra.

Việc Aung San Suu Kyi nắm quyền – và khả năng bà theo đuổi các ưu tiên chính trị của riêng mình – là rất mong manh. Nó phụ thuộc vào khả năng của bà xoa dịu các nhóm lợi ích có quyền lực lớn ở trong nước, bao gồm quân đội, nhóm dân tộc Barmar theo đạo Phật chiếm đa số của nước này, và giới Phật tử có ảnh hưởng. Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, sợ hãi Hồi giáo  và chống dân tộc thiểu số phổ biến trong cả 3 nhóm này, khiến cho bất cứ nỗ lực nào nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng nhân đạo ở người Rohingya trở thành một nhiệm vụ bất ổn hơn rất nhiều so với những gì mà hầu hết những người ngoài cuộc đánh giá. Trên thực tế, những vụ bạo lực công cộng gây chết người trước đó giữa tín đồ Phật giáo và tín đồ Hồi giáo chính là do những tin đồn và sự kích động của truyền thông xã hội gây ra.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/burma-myanmar/2017-05-19/aung-san-suu-kyi-still-myanmars-best-hope

TLTKĐB – 17/08/2017

Advertisements

“Verum est ipsum factum” – Hiện thực là cái được tạo ra như vậy – Phần III


John Locke và David Hume thể hiện rõ sự tin tưởng vào đấng sáng tạo thiêng liêng và bất diệt (Chúa trời/Thượng đế) và đồng thời họ bày tỏ những nghi ngờ theo thuyết bất khả tri của họ đối với các tôn giáo. Những gì dẫn tới nghi ngờ của Locke được ông viết trong Bài luận của mình như sau:

Chúng ta có thể, tôi nghĩ, ở chừng mực phù hợp, quy những điều vô lý vốn có này ở hầu hết các tôn giáo mà loài người có và chia ra cho việc tán dương niềm tin – đối lập với lý trí – này. Vì mọi người về nguyên tắc cho rằng, họ không phải tham vấn lý trí về các vấn đề tôn giáo, mặc dù rõ ràng là trái ngược với lẽ thường,… dẫn tới những quan điểm xa lạ, và những thông lệ vô lý trong tôn giáo tới mức một người thận trọng không thể không ngạc nhiên về các vở kịch màu mè của chúng, và đánh giá chúng là không thể chấp nhận được trước Chúa trời vĩ đại và thông thái, đến nỗi anh ta không thể tránh khỏi việc cho rằng những thông lệ đó là lố bịch và gây khó chịu đối với một người nghiêm túc, có đức hạnh. Do đó, thực ra mà nói, tôn giáo… là cái mà ở đó mọi người thường hành động hết sức phi lý và vô thức hơn cả chính các con vật”. (Locke 1979 [1689]: 696).

Theo cùng cách giống như Locke, Hume bày tỏ mạnh mẽ những nghi ngờ theo thuyết bất khả tri của ông đối với bản thể học tôn giáo như sau:

Nếu chúng ta có trong tay bất kỳ tác phẩm nào về, chẳng hạn, tính thần thánh hay của trường phái siêu hình học, chúng ta hãy xem nó có chứa đựng bất kỳ lập luận mang tính thực nghiệm nào liên quan tới vấn đề sự thực và sự tồn tại không? Không. Khi đó hãy đốt nó, vì nó có thể chẳng có cái gì ngoài sự ngụy biện và ảo tưởng”. (Hume 1995 [1758]: 173).

Kiến thức tiên nghiệm liên quan tới khái niệm về những ý tưởng thiên bẩm mà chúng ta có thể có hay không có ngay sau khi ra đời. Trẻ em, chẳng hạn, biết rõ – trước khi biết nói – về sự khác nhau giữa các ý niệm về ngọt và đắng, song chúng không biết, ví dụ, sự khác nhau giữa các con số 3 và 4, chúng cũng chẳng có ý niệm bẩm sinh về Chúa trời, thần thánh, hay vị Chúa đó phải được tôn thờ cho đến khi chúng được dạy để biết về những khái niệm và những nguyên tắc này. Vậy đâu là khái niệm về chính Chúa trời? Theo David Hume, đó không thể là một ý niệm hay một nguyên tắc bẩm sinh, bởi bạn phải dạy cho trẻ biết về nội dung của khái niệm đó. Nếu đó là một ý niệm bẩm sinh bạn không phải dạy về nó. Và hơn nữa, tại sao khái niệm về Chúa lại phải là một ý niệm bẩm sinh nếu có nhiều cách giải thích đến vậy. Do đó, “chân lý” mà các tôn giáo trên thế giới dạy cho chúng ta cần phải được học hỏi sau đó và được suy ra từ những cảm thụ và những ý niệm trước đó và, vì vậy, những chân lý này được tạo dựng từ những thực tế thay đổi khác nhau giữa các tôn giáo và giữa các dân tộc.

Nếu con người có nguyên tắc phổ quát hay ý niệm tiên nghiệm bẩm sinh nào đó, nó có thể là động lực hướng tới hạnh phúc và sự yên ổn, nhưng thậm chí đây chỉ là những nguyên tắc mang tính tương đối bởi hạnh phúc và sự yên ổn của ai đó có thể đạt được bằng sự gia tăng tính bất ổn của người (hay dân tộc) khác. Hầu hết những nguyên tắc như đạo đức, pháp luật và công lý, trên thực tế, ít nhiều đều mang tính tương đối, xét về bản chất của chúng, cho dù chúng ta có lẽ mong chúng mang tính chất phổ quát. Chúng được xây dựng trên phương diện xã hội là những nhận thức mang tính liên ngành, và khác hẳn nhau, chẳng hạn như nội dung tôn giáo hay khái niệm về Chúa trời. Không có hai nước có chung các bộ luật luật lệ, và thậm chí công lý và đạo đức cũng được trải nghiệm theo những cách thức khác nhau. Vậy thì câu hỏi hóc búa ở đây là liệu chúng ta có nên trải nghiệm và định nghĩa chúng một cách phổ quát và có thể đồng lòng nhất trí không? Có lẽ nên như vậy, song ai và cái gì có thể có quyền làm việc đó, nếu chúng ta không đồng ý về sự tồn tại của Thần thánh/Chúa, về lòng tốt hay sự xấu xa của vị thần đó, hay thậm chí là về cách mà sự tồn tại của chúng ta được bắt đầu?

Chủ nghĩa kinh nghiệm và Chủ nghĩa duy lý – “Những gì hiện hữu có thể không tồn tại”

Sự khác nhau giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm nằm trong nhận thức luận – nguồn gốc và giới hạn của kiến thức của chúng ta. Sự khác biệt này có thể bị quy định bởi ba câu hỏi chủ chốt: 1) Đâu là bản chất của kiến thức mang tính xác nhận rằng thế giới là có thực? 2) Chúng ta có thể thu nạp kiến thức như thế nào? và 3) Đâu là những hạn chế của kiến thức của chúng ta? Sự bất đồng giữa những người theo chủ nghĩa duy lý và các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa chủ yếu liên quan tới câu hỏi thứ hai. Khi tìm kiếm tri thức (Chúng ta có thể thu nạp kiến thức như thế nào?), chủ nghĩa kinh nghiệm có lẽ hoạt động nhiều hơn ở khía cạnh tính chất đến sau (kiến thức dựa vào sự trải nghiệm giác quan), trong khi chủ nghĩa duy lý lại hoạt động ở khía cạnh mang tính tiên nghiệm (kiến thức có thể đạt được một cách độc lập bằng sự trải nghiệm giác quan qua trực giác và sự suy luận).

Kiến thức mang tính chất có sau có được dựa trên sự quan sát (tức là, kiến thức có được do kinh nghiệm), có nghĩa là điều gì có thể được nói ra cho mọi người biết sau khi bằng chứng được đưa ra. Chủ nghĩa kinh nghiệm cố đạt được tri thức qua các giác quan và kinh nghiệm, trong khi chủ nghĩa duy lý lại khư khư cho rằng các giác quan của chúng ta là chưa đủ để đưa ra bất kỳ bằng chứng nào về thế giới xung quanh chúng ta. Trong truyền thống triết học phương Tây, chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý đều bắt nguồn từ tư tưởng của các nhà triết học Hy Lạp, như Plato và Aristotle. Kể từ thời kỳ Khai sáng (từ cuối thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 18), các đại diện của chủ nghĩa kinh nghiệm (các triết gia người Anh như John Locke và David Hume) và chủ nghĩa duy lý (các triết gia lục địa châu Âu như René Desartes người Pháp và Benedic de Spinoza người Hà Lan) đều có những tranh luận mang tính chất bản thể học và nhận thức luận về, chẳng hạn, sự tồn tại của Chúa và cách thức chúng ta có thể thu nhận được kiến thức nói chung.

Chủ nghĩa kinh nghiệm – kiến thức thông qua sự trải nghiệm

Chủ nghĩa kinh nghiệm có thể được hiểu là “lý thuyết cho rằng mọi kiến thức đều bắt nguồn từ sự trải nghiệm cảm giác” (Pearsall, 2001: 604). Chủ nghĩa kinh nghiệm phát triển vào thế kỷ 17 và 18, đặc biệt qua các tác phẩm của John Locke và David Hume. Theo Locke, tất cả các kiến thức và lý lẽ của chúng ta đều dựa trên sự cảm giác, các ý niệm, sự suy ngẫm, sự so sánh và trải nghiệm khi còn nhỏ. Bạn chỉ phải “đi theo đứa trẻ từ khi nó được sinh ra, và quan sát những thay đổi mà thời gian tạo ra, và bạn sẽ nhận thấy, khi Tâm trí nhờ các giác quan ngày càng được trang bị thêm các ý niệm, nó càng ngày càng nhận thức rõ hơn; càng suy nghĩ lại càng có nhiều vấn đề để nghĩ đến hơn”. (Locke 1979 [1689]: 117).

Cả Locke và Hume đều tập trung vào các giác quan của con người, vào các ý niệm và thói quen của tâm trí khi cố tìm hiểu về sự tồn tại của chúng ta. Cả hai người đều theo chủ nghĩa kinh nghiệm, song chính Thomas Hobbes mới là người đề cập đến triết lý của tâm trí, sự nhận thức và các nguyên tắc theo chủ nghĩa kinh nghiệm, thậm chí còn trước cả Locke và Hume. Về cơ bản, Hobbes được biết đến với quan niệm của ông về tình trạng hỗn loạn/vô chính phủ: “Vì họ thấy bất mãn dưới chế độ quân chủ, họ gọi đó là chính thể chuyên chế; và họ thấy khó chịu với chế độ quý tộc, họ gọi đó là chính thể đầu sỏ; cũng như vậy, họ nhận thấy mình đau khổ dưới nền dân chủ, họ gọi đó là tình trạng vô chính phủ…” (Hobbes 1985 [1651]: 240). Chủ nghĩa kinh nghiệm của Hobbes dựa trên các giác quan và sự hoài nghi như là nguồn gốc cơ bản của kiến thức của chúng ta: “Không thuyết giảng bất cứ điều gì, có thể Kết thúc khi hiểu hết về Thực tế, ban đầu bao giờ cũng là Cảm giác, và mãi sau này là Ký ức. Và… không ai có thể biết qua sự thuyết giảng rằng điều này hay điều kia được, đã, hay sẽ được biết; mà là nhất định sẽ biết” (Hobbes 1985 [1651]: 131).

Điều khiến cho Hobbes khác với Locke và Hume là Hobbes không tập trung vào triết lý của tâm trí như Locke và Hume đã làm, và chính Locke là người bắt đầu truy tìm một cách có hệ thống các ý niệm của chúng ta bắt nguồn từ sự trải kinh chúng [từ kinh nghiệm bên ngoài (cảm giác) tới kinh nghiệm bên trong (phản ánh)]. Hume tiếp tục “theo dõi những bí ẩn của tâm trí” theo cách mà Locke đã làm trong hơn nửa thế kỷ trước. Cả Locke và Hume đều là những người theo thuyết bất khả tri, nhưng có thể không phải là những người theo thuyết vô thần. Cả hai người đều nhấn mạnh đến sự cần thiết của lòng khoan dung (tức là, tự do tôn giáo) và mang âm hưởng về các giá trị tự do trong các bản văn của họ. Điều đó có thể chỉ là, có lẽ, bởi tất cả bọn họ, cả Hobbes, đều là người Anh và nước Anh đã cải đạo theo đức tin đạo Tin Lành vào năm 1603.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thái Hà

Nguồn: Torsti Sirén – “Verum est ipsum factum” – True is what has been made as such – Journal of Military Studies, Vol. 1, No. 1 (2010).

TN 2014 – 12, 13,14, 15 & 16.

Việt Nam: Mục tiêu quan trọng trong chính sách “Hướng nam mới” của Đài Loan – Phần cuối


Không gian nỗ lực của “chính sách hướng Nam mới” ở Việt Nam

Mặc dù các doanh nghiệp Đài Loan kinh doanh ở Việt Nam nhiều năm, đầu tư vào Việt Nam vẫn có không gian tăng trưởng nhất định, nhưng cùng với sự thay đổi môi trường kinh doanh của Việt Nam, các doanh nghiệp Đài Loan đầu tư vào Việt Nam sẽ đối mặt với trở ngại nhiều hơn. Tập đoàn Formosa Đài Loan đầu tư vào Việt Nam gặp thất bại bị Chính phủ Việt Nam phạt nặng, cho thấy các loại trở ngại ẩn giấu mà doanh nghiệp Đài Loan phải đối mặt khi đầu tư ở Việt Nam đã hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp Đài Loan một cách nghiêm trọng. Ngay cả đầu tư của doanh nghiệp lớn như tập đoàn Formosa Đài Loan cũng gặp trắc trở, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Đài Loan nếu muốn đầu tư ở Việt Nam thì mức độ khó khăn lớn như thế nào có thể tưởng tượng được. Ngoài phương diện đầu tư, mục tiêu mà nhà lãnh đạo Thái Anh Văn có ý đồ dựa vào “chính sách hướng Nam mới” để tăng cường quan hệ thực chất với Việt Nam cũng khó có thể thực hiện được.

Tuy những năm gần đây Trung Quốc và Việt Nam tồn tại tranh chấp trong vấn đề Nam Hải (Biển Đông), nhưng xét về tổng thể phát triển tương đối ổn định. Trung – Việt đã đạt được tiến triển quan trọng trong việc hợp tác “Vành đai và Con đường”. Đầu năm nay hai bên đã ký kết “Thông cáo chung Trung Quốc – Việt Nam”, “Việt Nam khẳng định kiên trì chính sách một nước Trung Quốc; ủng hộ quan hệ hai bờ phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc; kiên quyết phản đối hành động chia rẽ “Đài Loan độc lập” dưới mọi hình thức. Việt Nam không phát triển bất kỳ quan hệ chính thức nào với Đài Loan”. Thái độ bày tỏ rõ ràng của Chính phủ Việt Nam đã ngăn chặn khả năng nhà lãnh đạo Thái Anh Văn muốn dựa vào chính sách “hướng Nam mới” để thực hiện sự “đột phá chính trị”. Nhưng xét về xu thế tương lai, “chính sách hướng Nam mới” của nhà cầm quyền Thái Anh Văn vẫn có thể tập trung ở những lĩnh vực sau:

Một là xóa bỏ dần trong tư tưởng của người dân Việt Nam về kết cấu “Một nước Trung Quốc” của Trung Quốc Đại lục. Chuyến thăm Việt Nam lần này, tác giả bài viết đã cảm nhận được rằng Việt Nam chịu ảnh hưởng văn hóa truyền thống Trung Quốc rất sâu sắc. Tác giả bài viết đã nói chuyện với một số doanh nhân Đài Loan, họ nói rằng trong sách giáo khoa lịch sử Việt Nam đã ghi chép rõ ràng rằng Đại lục và Đài Loan cùng thuộc một nước Trung Quốc, khiến cho kết cấu “Một nước Trung Quốc” đặt nền tảng khá vững chắc trong tư tưởng người dân Việt Nam. Tháng 5/2014, khi Việt Nam xảy ra làn sóng bạo động chống Trung Quốc, nhiều người Việt Nam cũng có hành động phá phách cướp bóc đối với các doanh nghiệp Đài Loan, khiến cho các doanh nghiệp Đài Loan bị tổn thất nghiêm trọng. Nhà lãnh đạo Quốc dân đảng Đài Loan xuất phát từ suy nghĩ tự bảo vệ mình, đã đưa ra khẩu hiệu và biểu ngữ không vẻ vang như “doanh nghiệp Đài Loan không phải là doanh nghiệp Trung Quốc”, “Đài Loan và Trung Quốc là hai nước khác nhau”… Theo giới thiệu của người nhà doanh nghiệp Đài Loan ở địa phương, kể từ sau sự kiện đó, ngày càng nhiều người Việt Nam “phân biệt rõ ràng 2 bờ eo biển Đài Loan”, nền tảng dư luận “2 bờ eo biển cùng thuộc về một nước Trung Quốc” ở trong nước Việt Nam có sự dao động. Điều có thể thấy trước là nhà lãnh đạo Thái Anh Văn biết rõ rằng dường như không thể thách thức chính sách “Một nước Trung Quốc” của Chính phủ Việt Nam trong tương lai, rất có thể sẽ tuân theo mô hình này, trên nhiều lĩnh vực xóa bỏ dần nhận thức “Một nước Trung Quốc” của người dân Việt Nam.

Hai là lợi dụng sự liên kết xã hội giữa Đài Loan và Việt Nam để tăng cường giao lưu với người dân Việt Nam. Trải qua hàng chục cuộc giao lưu, sự liên kết văn hóa xã hội giữa Đài Loan và Việt Nam ngày càng mật thiết, đã hình thành “dân tộc Đài – Việt”  với số lượng khả quan. Chẳng hạn như số lượng công nhân Việt Nam ở Đài Loan đã vượt trên 180.000 người, các cô dâu Việt Nam ở Đài Loan cũng vượt trên 100.000 người, những nhóm này đều sẽ trở thành mục tiêu chủ yếu để nhà lãnh đạo Thái Anh Văn tăng cường “chính sách hướng Nam mới”. Đặc biệt là nhà lãnh đạo Thái Anh Văn trong thời gian tới chắc chắn sẽ tăng cường tác động tới “thế hệ thứ hai Đài – Việt” (thế hệ tiếp nối của đàn ông Đài Loan với cô dâu Việt Nam), lợi dụng họ thông thuộc hai thứ tiếng, mạng lưới quan hệ xã hội ở 2 nơi Đài Loan – Việt Nam để tăng cường mối liên hệ văn hóa xã hội Đài Loan – Việt Nam… Điều đáng quan tâm là trong bối cảnh tỷ lệ sinh ở xã hội Đài Loan hạ thấp, tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình mà đàn ông Đài Loan kết hôn với các cô dâu Đông Nam Á lấy Việt Nam làm đại diện lại tương đối cao, khiến cho tỷ lệ cái gọi là “thế hệ Đài Loan mới” trong cơ cấu dân số, đặc biệt là khu vực Trung, Nam bộ có xu thế tiếp tục tăng lên, được dư luận bên ngoài cho là “nhóm dân tộc thứ 5” chỉ xếp sau người Mân Nam, người Khánh Gia, người ngoại tỉnh và người bản địa. Điều này chắc chắn sẽ có ảnh hưởng sâu rộng đến kết cấu xã hội, môi trường chính trị của Đài Loan trong tương lai.

Ba là nhà lãnh đạo Thái Anh Văn có thể thúc đẩy ký kết thỏa thuận kinh tế thương mại mang tính chức năng, tính cục bộ với Việt Nam. Trước tình hình ký kết hiệp định thương mại tự do với Việt Nam về cơ bản vô vọng, Chính quyền Thái Anh Văn xuất phát từ suy nghĩ thúc đẩy doanh nghiệp Đài Loan đầu tư vào Việt Nam, đi sâu hợp tác kinh tế song phương…, thúc đẩy có trọng điểm thỏa thuận kinh tế thương mại mang tính chức năng với Việt Nam. Tuy vào thập niên 90 của thế kỷ 20, Đài Loan và Việt Nam đã ký kết một thỏa thuận mang tính chức năng như đảm bảo đầu tư…, nhưng một số thỏa thuận cần thay đổi nâng cấp, năm 2014 sau khi các doanh nghiệp Đài Loan bị ảnh hưởng bởi “cuộc bạo động chống Trung Quốc”, Chính phủ Việt Nam vẫn chưa có sự đền bù hợp lý cần có, dự kiến trong tương lai việc thúc đẩy ký kết các thỏa thuận như đảm bảo đầu tư phiên bản nâng cấp… sẽ trở thành trụ cột để Chính quyền Thái Anh Văn tăng cường hợp tác kinh tế với Việt Nam.

Xây dựng “Vành đai và Con đường” có sức hút khá mạnh đố với các doanh nghiệp Đài Loan ở Việt Nam

Qua chuyến thăm Việt Nam, tác giả bài viết phát hiện ra rằng các doanh nghiệp Đài Loan ở nơi đó, đặc biệt là các doanh nghiệp Đài Loan chuyển dịch từ Trung Quốc Đại lục sang có tình cảm rất sâu sắc đối với Trung Quốc Đại lục, vẫn có mối liên hệ kinh tế khá mạnh với Đại lục. Nhiều doanh nghiệp Đài Loan sau khi sang Việt Nam đầu tư vẫn thuê một số lượng lớn cán bộ quản lý quốc tịch Đại lục, đồng thời đặt các bộ phận cốt lõi như nghiên cứu phát triển, thiết kế, mua sắm… ở Đại lục. Có thể nói những doanh nghiệp Đài Loan chuyển dịch sang Việt Nam này không phải là các doanh nghiệp Đài Loan đơn thuần, ở mức độ nào đó đã trở thành “hiệp hội doanh nghiệp hai bờ eo biển”. Những doanh nghiệp này kỳ vọng rất lớn đối với việc xây dựng “Vành đai và Con đường”, hy vọng dựa vào việ xây dựng “Vành đai và Con đường” để tiến vào khu công nghiệp mà Đại lục thành lập ở Việt Nam, đồng thời mong muốn có thể được sự bảo hộ lãnh sự và ủng hộ chính sách của Đại lục. Nhiều doanh nghiệp Đài Loan cho rằng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc Đại lục ở Việt Nam rất lớn, “chính sách hướng Nam mới” của Chính quyền Thái Anh Văn và việc xây dựng “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc Đại lục hoàn toàn không phải là cùng cấp độ, triển vọng tương lai của các doanh nghiệp Đài Loan đáng lo ngại.

Xét về tổng thể, trong bối cảnh quan hệ Trung – Việt duy trì ổn định và việc xây dựng “Vành đai và Con đường” tăng cường thúc đẩy, Chính quyền Thái Anh Văn ra sức thúc đẩy “chính sách hướng Nam mới” ở Việt Nam khó có thể đạt được hiệu quả thực chất trên phương diện chính trị và “ngoại giao”. Nhưng cùng với nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà phát triển nhanh chóng, đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam tuy đối mặt với ngày càng nhiều trở ngại, mà khó có thể tái hiện được tình hình phát triển tốc độ cao như trước đây, nhưng vẫn có không gian tăng trưởng khá lớn, quan hệ kinh tế Đài Loan – Việt Nam trong tương lai có hy vọng tiếp tục phát triển sâu sắc. Dựa vào đó, nhà lãnh đạo Thái Anh Văn rất có thể sẽ dựa vào hoạt động của các doanh nghiệp thị trường đầu tư vào Việt Nam để rêu rao thành tích chính trị “chính sách hướng Nam mới” của bà ở Đài Loan nhằm dựa vào đó để đạt được nhiều lợi ích hơn trên các phương diện như bầu cử… Đồng thời, Chính quyền Thái Anh Văn rất có thể dựa vào “chính sách hướng Nam mới” để thúc đẩy hợp tác giao lưu trên một loạt phương diện như văn hóa, giáo dục, y tế…, ở Việt Nam, nhằm từng bước xóa bỏ nhận thức “Một nước Trung Quốc” của người dân Việt Nam. Đối với vấn đề này, phía Đại lục cần phải coi trọng và đề phòng cao độ.

Nguồn: Tạp chí “Tri thức thế giới” (TQ), số 19/2017

TLTKĐB – 04/11/2017

“Verum est ipsum factum” – Hiện thực là cái được tạo ra như vậy – Phần II


Thuyết đa thần – với tính chất là nguồn gốc nguyên thủy của các tôn giáo hiện nay – là cơ sở để Hume phân tích tâm trí con người là “loài người không được chỉ dẫn”. Thử đi theo những tư tưởng của Hume, có thể thấy, có lẽ ông cho rằng ở tất cả những dân tộc đi theo thuyết đa thần, ý niệm tôn giáo không xuất phát từ sự suy ngẫm siêu phàm có thể có về các tác phẩm của tự nhiên, mà từ những sự kiện không thể giải thích được lúc đó của cuộc sống, chẳng hạn như động đất, bình minh, cái chết,… Rõ ràng là, con người ngu dốt khi đó sợ hãi và bối rối khi đối mặt với những hiện tượng không giải thích được. Sự sợ hãi và những hiện tượng không giải thích được (không rõ nguyên nhân) tác động tới tâm trí con người, chẳng hạn như việc thờ phụng “vị thần của các bầu trời”, “Thần của cõi âm”,… Những ảnh hưởng này được xây dựng về mặt xã hội, có nghĩa là các gia đình, các bộ lạc và các thị tộc thờ phụng cùng một các vị thần, các thần lùn giữ cửa và các thần tiên; ít nhiều thì đó là vấn đề tồn tại, dựa trên những nhu cầu cơ bản về mặt vật chất và những ý niệm liên chủ thể về việc làm thế nào để hiểu được “thế giới xung quanh chúng ta” và nói như thế nào về những hiện tượng không thể giải thích được.

Sự ngu dốt có liên quan chặt chẽ với nỗi sợ hãi khi đối mặt với những hiện tượng không thể giải thích được. Mỗi khi con người không biết gì về các nguyên nhân tự nhiên của các sự việc và không thể giải thích chúng thậm chí bằng những sự việc tương tự, họ đều gán cho chúng tính chất riêng của chúng khi, chẳng hạn, người thiếu hiểu biết nói rằng nam châm thích sắt (Pompa (ed.) 1982: 171).

Theo Giambattista Vico, con người bắt đầu tôn giáo bằng ý niệm nào đó về tính thần thánh thiết bị. Song ý niệm này không đúng, theo suy nghĩ của Vico, bởi nó là sản phẩm của trí tưởng tượng hoạt động theo những nguyên tắc phi lý trí. Ý niệm này sau đó tan biến thành ý niệm về tính đa thần. Cuối cùng, khi một cá nhân trở nên đồng nhất bản tính mình với loài người và theo đó trở nên có lý trí, anh/cô ta đi đến chỗ tin vào một vị thần duy nhất, vị thần đó hoàn toàn mang tính tinh thần. Vico cho rằng vị thần duy nhất này là Chúa/Thượng đế của đạo Cơ đốc.

Hầu hết các tôn giáo nhất thần hiện nay đều bao hàm hai yếu tố chính (mang tính tiên nghiệm): 1) yếu tố thông tin phổ biến và công khai, có thể hiển nhiên đối với bất kỳ người nào xem xét thế giới hay những lập luận liên quan (ví dụ: Chúa tạo ra thế giới); và 2) yếu tố thông tin đặc biệt dưới hình thức là những tiết lộ của những người mà lời giáo huấn của họ được đi theo. Song khi phân tích “loài người được chỉ dẫn” bằng những tôn giáo nhất thần hiện nay, chúng ta dễ dàng nhận thấy là hai yếu tố được đề cập ở trên này có cái gì đó mà mọi người không hiểu và không thực sự hiểu, bởi: “Thực ra mà nói, thuyết nhất thần thường được thấy trong thế giới dẫn tới sự hy sinh về mặt con người nhiều hơn bao giờ hết trên thực tế cho Chúa trời – các cuộc chiến tranh tôn giáo và những hỗn loạn, và việc giết những người dị giáo – so với sự hy sinh về mặt con người do đòi hỏi của không nhiều những nghi lễ thờ cúng tôn giáo hết sức cổ xưa dứt khoát yêu cầu sự cúng tế người” (Hume 1993 [1779/1757]:x – xxvi).

Vậy đâu là sự khác biệt giữa tôn giáo và phép thần thông? Giải thích một cách thô thiển, chúng ta có thể nói rằng chúng tượng trưng cho “những mặt đối lập của một đồng xu”. Cả hai ít nhiều đều dựa trên niềm tin bản thể học về cái gì đó, song về mặt nhận thức luận bạn không thể có bằng chứng về sự tồn tại hay không tồn tại của Chúa: “Đó là câu cách ngôn đã được thừa nhận trogn siêu hình học, rằng bất cứ điều gì mà tâm trí nghĩ đến trong đầu bao gồm cả ý niệm về sự tồn tại có thể có, hay nói cách khác là không điều gì chúng ta tưởng tượng ra là hoàn toàn không thể xảy ra” (Hume 1985 [1739 – 40]: 81).

Niềm tin vào phép thần thông chắc chắn là có cơ sở, song chúng không bắt mọi người tin vào chúng cũng giống như tôn giáo vậy. Niềm tin vào phép thần thông cũng chẳng tập hợp mọi người thành một nhóm theo cách mà các tôn giáo làm (trong tình huống này, ví dụ, hệ thống nghi lễ thờ cúng tôn giáo Voodoo vùng Caribbean được coi là một tôn giáo). Các pháp sư hay thuật sỹ có thể tạo nên một cộng đồng xung quanh họ, trong khi đó “Giáo hội không đơn thuần là một hội ái hữu thầy tu; nó là một cộng đồng tinh thần được tạo nên bởi tất cả các tín đồ sùng đạo, cả người thế tục lẫn các thầy tu” (Durkheim 1995: 42).

Tôn giáo không thể tách khỏi ý niệm về Giáo hội, cho dù chúng ta có thể có mối quan hệ riêng của chúng ta với cái gì đó mơ hồ, trừu tượng như Chúa trời. Do đó, chúng ta có thể tự mình xác định Vị Thần riêng của chúng ta, song ngay cả khi đó chúng ta vẫn bị ảnh hưởng bởi những quan điểm giáo điều của Nhà thờ và của tôn giáo mà chúng ta chịu ảnh hưởng về mặt văn hóa (Durkheim, 1995: 42). Tôn giáo cũng là một phần không thể thiếu của các bản sắc và các nền văn hóa; không có tôn giáo, người ta ngờ rằng “các dân tộc và chủ nghĩa dân tộc, như chúng ta biết về chúng, có thể chưa hề tồn tại” (Hastings 2006 [1997]: 4).

Con gái 10 tuổi của tôi (giờ là 13 tuổi) tuyên bố với tôi trong năm 2006 rằng, cháu không tin nổi vào một vị Thần duy nhất, cũng chẳng tin vào chiến thắng bất diệt của khoa học. Điều cháu nói là cháu tin tưởng vào là phép thuật. Ở đây, niềm tin của con gái tôi vào phép thần, về cơ bản, tượng trưng cho cùng một quan điểm như thuyết đa thần ở các bộ lạc và thị tộc cổ xưa. Vì không biết gì đến những nỗ lực khoa học và những mô hình nhằm tìm hiểu và/hay giải thích về thế giới nên con gái tôi – có lẽ như mọi đứa trẻ khác cùng lứa tuổi cháu – sử dụng điều chưa biết thuộc khía cạnh niềm tin. Tôi không nói rằng, những niềm tin này, giả sử, là do ảnh hưởng từ bên ngoài, mà trái lại, một số niềm tin của con trẻ chúng ta phản ánh những câu chuyện và những quan niệm của cha mẹ chúng, được thừa nhận trong quá trình xã hội hóa đầu tiên; một số niềm của con cái chúng ta được chấp nhận trong quá trình xã hội hóa thứ hai từ môi trường bên ngoài, có nghĩa là từ những người bạn của chúng, phương tiện truyền thông… Điểm quan trọng là sự khoan dung và hiểu biết toàn diện rằng chúng ta có thể có nhiều vị Thần “tốt” ở thế giới này.

Khi cố bảo vệ sự tồn tại của Chúa như là một sự thật tiên nghiệm, John Locke, chẳng hạn, đưa ra luận cứ bảo vệ hết sức thuyết phục về sự tồn tại của Người, hay Đấng Toàn năng, khi nói rằng:

Không có sự thật nào hiển nhiên hơn sự thật là phải có cái gì đó từ muôn đời nay. Tôi chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ điều gì hết sức vô lý, hay có thể cho là mâu thuẫn hết sức rõ ràng là, như có lúc, ở khía cạnh nào đó, không có cái gì là tuyệt đối cả. Sự tồn tại của tất cả những điều hết sức vô lý này cho thấy rằng, chắc hẳn chưa bao giờ có điều gì thuần khiết – sự phủ định và thiếu vắng hoàn toàn mọi sự sống – tạo ra bất kỳ sự hiện hữu thực sự nào”. (Locke 1979 [1689]: 622).

Từ đó suy ra rằng, có thể có cái gì đó liên quan đến nhận thức tồn tại từ muôn đời nay, bởi về mặt khoa học, có thể không thể chứng minh được rằng chẳng cái gì tạo ra bất kỳ cái gì (ex nihilo nihil fit/nothing may come from nothing/không có cái gì có thể đến từ hư không). Sự tồn tại mang tính nhận thức đó mà chúng ta quen gọi là Chúa/Thượng đế, Thánh Allah… – những người có khả năng tạo ra vũ trụ, các hành tinh, con người… – nằm ngoài hư không (ex nihilo/out of nothing). Tới đây thế là đủ, tôi có thể chấp nhận lập luận của Locke, cho dù có các khoa học tự nhiên cũng như “lý thuyết Big Bang” – cái có thể còn có sức thuyết phục nhiều hơn khi giải thích về sự tồn tại của chúng ta ở đây trên hành tin này và vào thời điểm này.

Ý niệm về đấng sáng tạo thần thánh và đấng quyền năng tối cao có thể giống nhau, hay có sức mạnh như nhau, cho dù mọi người và các dân tộc không gọi các vị thần của họ bằng cùng tên gọi. Mọi trẻ em đều tò mò bởi bản tính của chúng và ngạc nhiên về điều chưa biết hay không thể giải thích được do thiếu kiến thức và kinh nghiệm. Lần đầu tiên khi gặp phải điều không biết, khái niệm của chúng về điều đó dựa trên các giác quan (cảm giác) của chúng và gắn cảm giác này với những ý niệm đầu tiên. Do đó, khi lần đầu tiên nhìn thấy, chẳng hạn, cầu vồng, trẻ em không thể giải thích hiện tượng này. Nhà thờ có thể dạy, về mặt mô phạm, rằng cầu vồng này là sự kết nối thiêng liêng giữa Chúa và con người (theo cách hiểu của những người Israel cổ đại), mà không đề cập rằng hiện tượng này cũng có thể giải thích được về mặt khoa học, bằng các thí nghiệm và sự kiểm chứng.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thái Hà

Nguồn: Torsti Sirén – “Verum est ipsum factum” – True is what has been made as such – Journal of Military Studies, Vol. 1, No. 1 (2010).

TN 2014 – 12, 13,14, 15 & 16.

Việt Nam: Mục tiêu quan trọng trong chính sách “Hướng nam mới” của Đài Loan – Phần đầu


Việt Nam, nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á, diện tích khoảng 330.000 km2, gấp khoảng 9 lần Đài Loan; dân số gần 100 triệu người, khoảng gấp 4 lần Đài Loan, là quốc gia có ảnh hưởng lớn trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Việt Nam kể từ khi thúc đẩy cải cách mở cửa vào giữa thập niên 80 của thế kỷ 20 đến nay, kinh tế phát triển nhanh chóng, đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế mới nổi thu hút sự chú ý của thế giới.

Kể từ sau thập niên 90 của thế kỷ 20, một số lượng lớn doanh nhân Đài Loan đổ sang Việt Nam, quan hệ kinh tế Đài Loan – Việt Nam ngày càng mật thiết. Dù là vào thời Lý Đăng Huy, Trần Thủy Biển hay Thái Anh Văn hiện đang nắm quyền, Việt Nam đều là mục tiêu chính được xác định trong “chính sách hướng Nam” của nhà cầm quyền Đài Loan. Theo quan điểm của nhà cầm quyền Đài Loan, tiềm lực kinh tế của Việt Nam rất lớn, ưu thế dân số vượt trội, là “thị trường lý tưởng” thúc đẩy các doanh nhân Đài Loan đầu tư, giảm bớt sự phụ thuộc kinh tế vào Đại lục. Cộng thêm các nhân tố như triển vọng kinh tế sáng sủa của Việt Nam kể từ khi cải cách mở cửa đến nay, sự liên kết vững chắc giữa Đài Loan và Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa xã hội… Việt Nam đã trở thành mục tiêu vô cùng quan trọng để nhà lãnh đạo Thái Anh Văn thúc đẩy “chính sách hướng Nam mới”.

Điểm nóng đầu tư của các doanh nhân Đài Loan

Đến các nơi như Hà Nội, TPHCM của Việt Nam, việc xây dựng cơ sở hạ tầng như khu công nghiệp, phát triển đô thị ở khắp nơi cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang nhanh chóng khởi sắc như Trung Quốc Đại lục trong thời kỳ đầu của thế kỷ này. Nhìn ra xa, trong nhiều nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, quy mô đầu tư và tầm ảnh hưởng của các doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản như Samsung, Lotte Mart, Honda… dường như lớn hơn so với các doanh nghiệp Đài Loan, “cảm giác tồn tại” rõ ràng mạnh hơn rất nhiều. Nhưng trên thực tế, kể từ sau giai đoạn giữa thập niên 90 của thế kỷ 20, Việt Nam luôn là điểm nóng đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan. Rõ ràng sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan đối với khối ASEAN vẫn dậm chân tại chỗ, ngày càng nhiều doanh nghiệp Đài Loan chuyển hướng sang Đại lục, nhưng trên thực tế đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam luôn duy trì ở trạng thái tăng trưởng khá nhanh. Chỉ có điều so sánh với tình hình đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Đại lục tăng lên nhanh chóng sau khi 2 bờ eo biển lần lượt gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào đầu thế kỷ này, Việt Nam dường như có phần “ảm đạm”. Nhưng khi điều tra nghiên cứu thực tế ở Việt Nam, tác giả bài viết phát hiện ra rằng trong việc đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào các nước Đông Nam Á, đầu tư vào Việt Nam có thể nói là nổi trội, “bám rễ” rất lâu và rất “âm thầm”.

Theo số liệu thống kê của các cơ quan chính thức ở Việt Nam, tính đến cuối tháng 4/2017, đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam khoảng 2526 dự án với tổng mức đầu tư khoảng 31,84 tỷ USD, Đài Loan là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ tư tại Việt Nam chỉ đứng sau Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore, chiếm khoảng 10% tổng vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Cách đây 10 năm, Đài Loan trong một thời gian dài xếp vị trí thứ nhất về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, tuy nhiên những năm gần đây cùng với sự đổ vào của các doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản, vị trí xếp hạng của Đài Loan có phần sụt giảm. Nhưng do rất nhiều doanh nghiệp Đài Loan thích mượn việc đầu tư ở nước thứ 3 như quần đảo Virgin thuộc Anh, Singapore…, quy mô thực tế của đầu tư Đài Loan vào Việt Nam cao hơn so với thống kê chính thức của Việt Nam. Có cơ quan nghiên cứu thậm chí cho rằng nếu cộng với quy mô đầu tư qua nước thứ 3, quy mô đầu tư thực tế của Đài Loan vẫn xếp vị trí hàng đầu.

Xét từ bố cục ngành nghề, đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam chủ yếu tập trung ở các ngành nghề truyền thống như dệt may thành phẩm, da giày, các sản phẩm nhựa và cao su, đồ dùng gia đình làm từ gỗ…; xét từ bố cục khu vực, đầu tư của doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam chủ yếu tập trung ở khu vực miền Nam lấy thành phố Hồ Chí Minh làm trung tâm, chủ yếu là ngành chế tạo gia công truyền thống. Những năm gần đây, tình hình đầu tư của doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam “tiến ra Bắc” ngày càng rõ rệt, trong đó đầu tư vào khu vực miền Trung Việt Nam chủ yếu lấy ngành công nghiệp nặng như dầu khí, gang thép…, đầu tư vào các ngành khoa học công nghệ cao như IT… ở khu vực miền Bắc lấy Hà Nội làm trung tâm. Đầu tư của doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam đã trực tiếp thúc đẩy thương mại song phương, đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan vào Việt Nam, kim ngạch thương mại song phương năm 2016 tăng lên đến 13,3 tỷ USD.

Thông qua các cuộc thăm dò thực tế phát hiện ra rằng những năm gần đây số lượng các doanh nghiệp Đài Loan chuyển dịch từ Trung Quốc đại lục sang Việt Nam tăng lên rõ rệt. Đặc biệt là sau năm 2005, cùng với giá thành sản xuất như đất đai ở khu vực ven biển Đại lục, chi phí lao động… tăng lên và việc liên tiếp ban hành chính sách phúc lợi xã hội như “5 bảo hiểm và 1 quỹ” (bảo hiểm dưỡng lão, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm thai sản và quỹ tiết kiệm nhà ở)… nhiều doanh nghiệp Đài Loan hoạt động trong lĩnh vực sản xuất truyền thống ở Đại lục cảm thấy sức ép tăng lên gấp bội, do vậy lần lượt lựa chọn chuyển dịch sang Việt Nam đầu tư. Hiệp hội doanh nghiệp Đài Loan ở thành phố Hồ Chí Minh thậm chí dự đoán sau cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế, hơn 60% doanh nghiệp Đài Loan đầu tư ở khu vực miền Nam như thành phố Hồ Chí Minh đều chuyển dịch từ Đại lục sang, chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất gia công như dệt may, da giầy…

Môi trường đầu tư đang thay đổi nhanh chóng

Không còn nghi ngờ, sở dĩ Việt Nam trước đây có thể thu hút một số lượng lớn doanh nghiệp Đài Loan đổ vào, vừa vó liên quan mật thiết đến sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam, vừa có liên quan đến giá thành sản xuất rẻ của Việt Nam. Ưu thế dân số của Việt Nam rất rõ rệt, lực lượng lao động chiếm trên 2/3 tổng dân số. Theo dự đoán của các tổ chức có liên quan của Liên hợp quốc, Việt Nam bước vào năm thứ 7 của giai đoạn dân số “vàng”, và có hơn 20 năm ưu thế dân số. Hiện nay, lương tháng của người lao động nói chung ở các tỉnh miền Nam Việt Nam chưa đầy 1000 NDT, khu vực kinh tế lạc hậu như miền Trung, Bắc chỉ khoảng 600 NDT, thấp hơn nhiều so với mức lương ở Trung Quốc Đại lục. Đồng thời, những năm gần đây Việt Nam tích cực phát triển nền kinh tế theo hướng xuất khẩu, đồng thời tham gia đàm phán “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương” (TPP) và “Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực” (RCEP), đã thu hút không ít doanh nghiệp Đài Loan theo ngành nghề truyền thống như dệt may, da giày… đến đầu tư. Nhưng điều đáng quan tâm là những năm gần đây môi trường kinh doanh ở Việt Nam đang có những thay đổi phức tạp sâu sắc, một số ưu thế mà trước đây Việt Nam dựa vào để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đang dần kém đi, đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam trong thời gian tới chắc chắn sẽ đối mặt với nhiều thách thức hơn. Một là giá thành sản xuất như nhân lực, đất đai ở Việt Nam… tăng lên nhanh chóng. Không còn nghi ngờ gì, đối với các doanh nghiệp Đài Loan, dân số trẻ ở Việt Nam nhiều, nguồn lao động dồi dào và giá cả rẻ là những nguyên nhân chủ yếu thu hút đầu tư của nước này. Khi tham quan thực địa một số doanh nghiệp đóng giày có vốn đầu tư của Đài Loan ở thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam, tác giả bài viết đã phát hiện ra lượng sử dụng công nhân ở những doanh nghiệp này rất lớn, mỗi một nhà xưởng đều có hàng nghìn công nhân lao động trẻ. Tuy nhiên, cùng với việc nhiều doanh nghiệp nước ngoài ồ ạt đầu tư sang Việt Nam những năm gần đây, một số khu vực ở Việt Nam tồn tại vấn đề “thiếu hụt nhân công” ở mức độ khác nhau, đặc biệt là ở khu vực có nước ngoài đầu tư nhiều như thành phố Hồ Chí Minh… Về mặt này đã tạo ra việc tuyển dụng công nhân của các doanh nghiệp rất khó tái hiện cảnh tượng như trước đây, đó là “trước cổng nhà máy dán thông báo tuyển công nhân thì có thể thu hút ồ ạt thanh niên”; mặt khác cũng nâng cao trực tiếp tiền lương của công nhân, gia tăng chi phí sử dụng lao động, đồng thời khiến cho một số công nhân tùy tiện “nhảy việc”, mang lại khó khăn nhất định cho việc kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, những năm gần đây giá cả đất đai ở Việt Nam tăng vọt, vô hình chung cũng nâng cao tiêu chuẩn tiến vào của các doanh nghiệp Đài Loan, đặc biệt là các doanh nghiệp Đài Loan dự định và Việt Nam.

Hai là chi phí ẩn khi đầu tư ở Việt Nam ngày càng tăng cao. Một mặt, đa số công nhân Việt Nam có lòng tự trọng khá cao, các doanh nghiệp Đài Loan về mặt quản lý kinh doanh thường đối mặt với vấn đề không thể thích nghi hoàn cảnh. Đặc biệt là một số doanh nghiệp Đài Loan sau khi đưa biện pháp kinh doanh ở Trung Quốc Đại lục sang Việt Nam thường phát sinh xung đột giữa người lao động và chủ lao động. Những năm gần đây tại Việt Nam liên tiếp phát sinh các sự việc bãi công, các doanh nghiệp Đài Loan phải đứng mũi chịu sào. Mặt khác, vấn đề tham những như vòi vĩnh mời ăn uống, cố ý gây khó dễ để kiếm lợi… ở một số khu vực ở Việt Nam ngày càng nổi rõ, làm nâng cao hơn nữa chi phí của các doanh nghiệp. Đặc biệt là yêu cầu bảo vệ môi trường ở trong nước Việt Nam những năm gần đây nhanh chóng trỗi dậy, khiến cho các doanh nghiệp Đài Loan chủ yếu làm nghề gia công truyền thống phải đối mặt với sức ép dư luận rất lớn. Năm 2016, Tập đoàn nhựa Formosa Đài Loan ở Việt Nam bị dư luận bên ngoài chỉ trích xả thải tùy tiện, khiến cho nguồn cá ven biển Việt Nam gặp tổn thất lớn và bị Chính phủ Việt Nam phạt nặng, trong đó các đoàn thể bảo vệ môi trường trong nước Việt Nam đã đóng vai trò rất quan trọng. Trước bối cảnh này, Chính phủ Việt Nam ngày càng có xu hướng thu hút các doanh nghiệp khoa học kỹ thuật tương đối cao của châu Âu, Mỹ, Nhật Bản…, mức độ coi trọng và chính sách ưu đãi dành cho các doanh nghiệp Đài Loan không còn như trước đây, từ đó khiến cho đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt nam dần dần đối mặt với việc kiểm duyệt gắt gao “lựa chọn kêu gọi đầu tư”, tiêu chuẩn để một số doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc các ngành nghề truyền thống của Đài Loan đầu tư vào Việt Nam ngày càng cao.

Ba là sau khi TPP bị phá vỡ, đã ảnh hưởng tương đối đến mong muốn đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam của các doanh nghiệp nước ngoài. Việt Nam với tư cách là nước thành viên đàm phán TPP và RCEP, vài năm trước ở mức độ tương đối đã được hưởng lợi nhuận kỳ vọng “sắp gia nhập TPP”. Do TPP đã thiết lập quy tắc xuất xứ khắt khe “từ sợi trở đi” trong lĩnh vực dệt may, đã thu hút một số lượng lớn doanh nghiệp dệt may nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Nhưng sau khi Donald Trump lên nắm quyền tuyên bố rút khỏi TPP, chủ nghĩa bảo hộ thương mại của Mỹ có xu hướng ngày càng gia tăng, tuy các nước tham gia TPP như Nhật Bản, Australia… vẫn muốn tiếp tục thúc đẩy thực hiện hiệp định, nhưng không còn nghi ngờ gì, TPP đã trở thành “công trình dở dang”, nền kinh tế phát triển theo loại hình dẫn dắt xuất khẩu của Việt Nam sẽ đối mặt với tính bất ổn nhiều hơn.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí “Tri thức thế giới” (TQ), số 19/2017

TLTKĐB – 04/11/2017

Đối với đồng minh, Donald Trump vẫn luôn là ẩn số


Trong chuyến công du nước ngoài thứ hai của Tổng thống Mỹ Donald Trump, ông đã không tạo ra nhiều tình huống vụng về để khiến các lãnh đạo châu Âu củng cố sự hoài nghi của mình như đối với loạt công du ngoại quốc lần đầu của ông. Các đồng minh của Mỹ đã bớt trách móc ông hơn, bản thân ông cũng không còn xô đẩy để tranh vị trí chính giữa trong khuôn hình các bức ảnh.

Tuy nhiên, hành trang mà ông Trump mang theo đến châu Âu ngày 8/7 vừa qua không hề thay đổi: một sức mạnh khó đoán định trên chính trường thế giới và một người khác biệt so với những đối tác Mỹ lâu đời.

Đối với những người ủng hộ tổng thống, lập trường của ông hiện nay là sự thực thi trọn vẹn lời hứa trong chiến dịch tranh cử: khiến cho chính sách ngoại giao Mỹ trở nên khó đoán hơn và thách thức những thỏa thuận toàn cầu đã có từ lâu, kể cả với các đồng minh thân thiết nhất của nước Mỹ. Trong khi đó, những người phản đối ông cho rằng ông đang tiếp tục mang đến cho thế giới những thông điệp phức tạp đầy nguy hiểm.

Laura Rosenberger, một cựu cố vấn chính sách ngoại giao của bà Hillary Clinton và cũng là chuyên gia kỳ cựu tại Quỹ Marshall Đức, nhận định: “Tất cả các đối tác và đồng minh của chúng ta đang suy đoán về ý nghĩa và ý đồ trong những câu chữ đó và sẽ hiểu nó theo cách họ muốn, dù đó có phải là điều Trump thực sự muốn nói hay không”.

Thông điệp của Trump về Nga vẫn là phức tạp nhất, bất chấp các cố vấn của ông đã nỗ lực dàn xếp ổn thỏa các câu hỏi về quan điểm của ông đối với sự can thiệp của Moskva trong cuộc bầu cử Mỹ năm ngoái. Thái độ của ông đối với ông Putin đã khiến các đồng minh vừa bối rối vừa tức giận, đặc biệt là đối với sự bố trí các cuộc điều tra xem đội ngũ vận động tranh cử của ông có liên hệ gì với Nga trong giai đoạn diễn ra bầu cử năm ngoái hay không. Hơn thế nữa, lập trường của ông về khí hậu và thương mại mới là những vấn đề hàng đầu trong danh sách những mối lo ngại của họ.

Sự chia rẽ trong vấn đề khí hậu đã trở nên rõ ràng khi Hội nghị G20 ở Hamburg kết thúc và Mỹ là nước thành viên duy nhất không ký vào một tuyên bố tái khẳng định sự ủng hộ của nhóm đối với các nỗ lực quốc tế nhằm chống lại sự nóng lên toàn cầu. Tuyên bố này gọi Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu mà ông Trump đã rút khỏi hồi tháng trước là một thỏa thuận toàn cầu “không thể đảo ngược”. Thủ tướng Đức Angela Merkel nói rằng việc ông Trump từ chó ký vào tuyên bố này là điều “đáng tiếc”.

Tân Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, người sẽ tiếp đón ông Trump trong một chuyến công du chớp nhoáng vào tuần này, thì tuyên bố: “Giữa các cường quốc chủ chốt hiện đang có những bất đồng lớn, và cả những bất đồng đang ngày càng lớn. Những chế độ độc tài đang nổi lên và ngay cả trong thế giới phương Tây cũng đã nảy sinh những chia rẽ, nghi ngờ, bất ổn nghiêm trọng, mà chỉ vài năm trước đây chúng chưa từng tồn tại.

Tuy nhiên, Trump và những người ủng hộ ông có vẻ thích thú trước bản tính khó đoán định và sự cá biệt của ông. Nile Gardiner, một chuyên gia phân tích chính sách đối ngoại của Quỹ Heritage có mối quan hệ gần gũi với Nhà Trắng của ông Trump, đã tán dương tổng thống như “một vị tổng thống Mỹ cương trực, độc đáo nhất trong lịch sử hiện đại” và cho rằng ông vẫn xoay xở được để bày tỏ một “tầm nhìn và học thuyết chặt chẽ”.

Thực vậy, những người thuộc phe bảo thủ tại Mỹ đã rất hứng thú với bài phát biểu của ông Trump tại Warsaw, Ba Lan, được coi là một sự thể hiện rõ ràng và trọn vẹn nhất của ông về quan điểm của mình đối với vai trò của Mỹ trên thế giới. Ông ca ngợi sự kiên cường của Ba Lan và kêu gọi các nước phương Tây cùng đoàn kết chống lại các thế lực đang đe dọa “xóa bỏ những mối liên kết và văn hóa, đức tin và truyền thống đã tạo dựng nên chúng ta ngày hôm nay”.

Tuy nhiên, dù bài diễn văn ở Warsaw của ông đã mô tả thế giới một cách sinh động với những lời lẽ thẳng thắn, song ông lại mang đến một thông điệp khó hiểu về Nga. Trong một cuộc họp báo ở Ba Lan, ông đã thừa nhận việc Nga can thiệp vào cuộc bầu cử 2016, nhưng vẫn lập lại lời khẳng định của mình rằng “các nước khác” cũng có thể làm điều tương tự, một lời ám chỉ có vẻ như giúp Putin thoát khỏi trở ngại. Trump lập luận rằng đảng Dân chủ đang cường điệu hóa sự can thiệp của Nga nhằm ngụy biện cho sự thất bại của bà Clinton.

Các cố vấn của ông Trump đã hy vọng sẽ mở ra một trang mới cho vấn đề này sau cuộc gặp đầu tiên của ông với Putin. Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson, quan chức Mỹ duy nhất tháp tùng ông Trump trong cuộc gặp này, cho biết tổng thống đã mở đầu cuộc đó thoại bằng việc “nêu lên những mối quan ngại của người dân Mỹ” về sự can thiệp của Nga trong cuộc bầu cử, gọi đó là “một sự trao đổi thẳng thắn và dài dòng”.

Về phần mình, phản ứng của ông Putin khá khác biệt. Ông nói với báo giới hôm 8/7 rằng ông tin Tổng thống Trump đã chấp nhận lời phủ nhận của ông về sự can thiệp của Nga, nhưng ông cho rằng “tốt nhất vẫn nên hỏi rằng tổng thống Mỹ”.

Nguồn: AP – 11/07/2017

TKNB – 12/07/2017

“Verum est ipsum factum” – Hiện thực là cái được tạo ra như vậy – Phần I


Torsti Sirén

Trong lý thức Quan hệ Quốc tế (IR), các nhà nước được tiếp cận từ quan điểm của người theo chủ nghĩa kinh nghiệm bằng cách sử dụng các phương pháp và các thuật ngữ coi các nhà nước là “các quả bóng bi-a biết nói” đồng nhất, cạnh tranh với nhau về sức mạnh, uy tín,… Bài viết này không cho rằng, các mô hình truyền thống của quan hệ quốc tế (ví dụ: chủ nghĩa hiện thực cổ điển hay chủ nghĩa tân hiện thực) sẽ không còn giá trị nữa, mà ngược lại, song những gì mà bài viết này lập luận là: để có thể hiểu sâu sắc hơn những hiện tượng xã hội mang tính thời sự như chủ nghĩa khủng bố, các cộng đồng chiến lược, phổ biến vũ khí hạt nhân, các chính sách hạt nhân, trật tự thế giới, mở rộng NATO, hợp nhất EU, các kịch bản về mối đe dọa, các quan niệm về kẻ thù,… người ta buộc phải chấp nhận một cách tiếp cận toàn diện hơn – cách tiếp cận lý thuyết xã hội theo thuyết Kiến tạo – so với cách tiếp cận mà lý thuyết quan hệ quốc tế truyền thống đưa ra. Trong tình huống này, thuyết Kiến tạo (Constructivism) cần phải có ít nhất ba điều. Thứ nhất, rõ ràng là người ta cần phải vứt bỏ những khởi điểm bản thể luận hay nhận thức luận của mình mới có thể vận dụng lý thuyết xã hội theo thuyết Kiến tạo. Trong một số trường hợp, có thể, chẳng hạn, cần phải đề cập đến tình trạng bản thể luận và nhận thức luận của Chúa trời và các tôn giáo như là những biểu hiện lợi ích, tức là như là những “nguyên nhân gốc rễ” trong hành vi của nhiều nhóm xã hội, nhiều cộng đồng và nhiều quốc gia. Thứ hai, nhà nước nên được coi là một “chủ thể bị phân quyền” bao gồm các cá nhân, nhiều tiểu nhóm, cấu trúc tổ chức, các thể chế và đặc biệt là cấu trúc bản sắc vốn được xây dựng có mục đích xuyên suốt lịch sử (quan điểm nội sinh), và là cái không ngừng được xây dựng lại qua các mối tương tác hợp lý trong nước và quốc tế (quan điểm tương tác). Thứ ba, cần phải tính đến thực tế là các cộng đồng và xã hội người có xu hướng tự ép mình vào những niềm tin, những giá trị và mô hình hành động nhất định vốn dần thay đổi qua tiến trình lịch sử (quan điểm văn hóa), bất chấp các mối tương tác ngày càng gia tăng.

Từ các niềm tin tới bản thể luận hiện thực và thuyết tương đối nhận thức luận

Một mặt, việc nói rằng “Tôi biết” có vẻ như đơn giản và có ý nghĩa trong một thế giới thông thường, song trên thực tế người ta đang đề cập đến một vấn đề nan giải. Một người nào đó có thể tuyên bố rằng anh/chị ta biết là thế giới đã tồn tại 6000 năm, bởi Kinh Thánh nói vậy; người khác có thể cho rằng điều này là vô lý, bởi khoa học đã chứng minh là thế giới đã tồn tại hàng triệu năm rồi; và người thứ ba có thể tuyên bố rằng các pháp sư chỉ dựa vào phép thuật đã tạo ra thế giới và sự sống. Cả ba quan điểm này đều sai hay đều đúng, hay chỉ một trong số đó chứa đựgn sự thật với chữ “T” viết hoa? Theo các triết học phương Tây cổ điển, kiến thức có thể dựa vào kinh nghiệm (chủ nghĩa kinh nghiệm), sự tư duy (thuyết duy lý) hay niềm tin chung cho rằng điều gì đó chỉ có thể được coi là đúng dựa trên cơ sở nào đó (thuyết thực dụng).

Có lẽ bản thể luận và nhận thức luận không thể tách bạch được hoàn toàn, bởi lẽ người ta luôn có sự hiểu ngầm hay sự ngộ nhận nào đó về thế giới hay về thực tế thế giới. Luôn luôn có thể tuyên bố rằng trải nghiệm cuộc sống mà ai đó có được một cách vô tình hay hữu ý quyết định cách thức mà họ trải nghiệm, hay muốn trải nghiệm thế giới bên ngoài. Vì vậy, chúng ta có thể có được, chẳng hạn, sự hiểu biết mang tính bản thể học dựa vào tôn giáo (thuyết sáng tạo), theo thuyết thực chứng duy lý (thuyết Darwin) hay dựa vào phép thuật về hiện thực, điều đó (sự hiểu biết – ND) ảnh hưởng tới cách thức chúng ta có được thông tin và kiến thức về thế giới. Chúng ta có thể xem xét thế giới theo những cách thức toàn diện hơn, có nghĩa là cùng một lúc có nhiều sự thật, sự ảo tưởng hay niềm tin không đầy đủ về hiện thực.

Theo thuyết duy thực thông thường, thế giới có thể được coi là một nơi khắc nghiệt và tồi tệ để sinh sống. Do đó, chúng ta chẳng thể làm gì khác ngoài việc tự mình thích nghi với tình huống này. Nhưng lý tưởng nhất là chúng ta nên thay đổi những hoàn cảnh phổ biến này nếu chúng không phù hợp với nhu cầu của chúng ta. Suy xét một cách khoa học (chủ nghĩa hiện thực khoa học; thấy mới tin – không phải là biết mới tin) thì hiện thực có thể được coi là một tổng thể không phụ thuộc và những cảm nhận của một người quan sát duy nhất. Do đó, theo chủ nghĩa hiện thực khoa học (bản thể học hiện thực), mọi thứ mà chúng ta coi là hiện thực chỉ dựa trên những nhận thức mang tính chủ quan được xây dựng dựa trên nền tảng văn hóa, đặc trưng vật lý của chúng ta và trên thế giới quan chủ quan của chúng ta. Tuy nhiên, nhiều vấn đề bên ngoài của cái thế giới nhạy bén của chúng ta lại đến với chúng ta như là các tác động và sau đó như là những kinh nghiệm được coi là mang tính khách quan (kinh nghiệm liên chủ thể); Bạn không thể nhìn thấy nhà nước chẳng hạn, song tất cả chúng ta đều đồng ý rằng có tồn tại những thứ như nhà nước với các loại nguyên tắc, tiêu chuẩn và cấu trúc có thể gây ra nhiều loại tác động tới cuộc sống của chúng ta (ví dụ, bạn có thể sẽ bị phạt tiền nếu bạn đỗ xe sai trên đường).

Bản thể học hiện thực (Realist ontology) có nghĩa là thế giới là có thực, song lại mang tính tương đối bởi thế giới thực nằm ngoài sự hiểu biết và nhận thức của chúng ta (Morgan 2005, Patomaki 2005 và Bhaskar 2005). Hơn nữa, chúng ta có thể hiểu “các hiện thực” của thế giới theo nhiều cách, song việc không phân biệt được giữa thực tế và quan niệm của chúng ta về nó là sự sai lầm về mặt nhận thức. Hiện thực được sắp xếp và được sắp theo tầng lớp, điều đó có nghĩa là có nhiều cấp độ hiện thực (chẳng hạn như sự xuất hiện của sự sống, cuộc sống tự nhiên…) và bản thân các sắp xếp này biểu hiện khác nhau vào những thời điểm khác nhau. Hiện thực bao gồm ba lớp khác nhau: do kinh nghiệm (quan sát của con người), có thật (tồn tại trong thời gian và không gian), và thực (xuyên thực/transfactual và lâu bền hơn so với nhận thức của chúng ta về nó). Bởi vậy, các hiện tượng xã hội, chẳng hạn, nảy sinh từ những cấu trúc cơ bản sâu xa, trở thành thực tế và sau đó trở thành kinh nghiệm. Tuy nhiên, hiểu biết của chúng ta về những hiện tượng xã hội này rõ ràng lại diễn ra theo hướng ngược lại (từ kinh nghiệm cho tới thực tế và sau đó là hiện thực), khiến cho việc tìm hiểu về chúng trở thành một việc hết sức khó khăn (Kaboub, December 2001).

Thuyết tương đối nhận thức luận (Epistemological relativism) có nghĩa là tất cả niềm tin và kiến thức đều được xây dựng về mặt xã hội, tùy theo bối cảnh và có thể sai lầm. Vì khoa học xã hội không thể có những thí nghiệm trong trong phòng thí nghiệm giống như các khoa học tự nhiên, nên thông tin và kiến thức thu nhận được từ bằng chứng do kinh nghiệm dễ bị chỉ trích công khai hơn so với thông tin có được từ những thí nghiệm trong phòng thí nghiệm. CR (chủ nghĩa hiện thực cổ điển – ND) cố gắng tìm hiểu các ý nghĩa được sắp theo tầng lớp của kiến thức. Chúng ta có thể nghiên cứu các hiện tượng mới vào những thời điểm khi kiến thức của chúng ta tăng lên. Khoa học trước kia không có được cái khả năng mà chúng ta đang có hiện nay và… (Bhaskar 2005).

Sáng tạo luận và phép thần thông – “Những gì đang diễn ra là đang tồn tại”

Sáng tạo luận có thể được hiểu là “niềm tin cho rằng vũ trụ và các sinh vật sống bắt nguồn từ những hành vi cụ thể của đấng sáng tạo thiêng liêng, như trong mô tả của Kinh thánh, chứ không phải bởi các quá trình tự nhiên như sự tiến hóa” (Pearsall (ed.) 2001: 430). Thuyết sáng tạo và phép thần thông về cơ bản mặc nhiên được thừa nhận trước khi nó được chứng minh. Sáng tạo luận có nguồn gốc triết học lâu đời, đó là thời kỳ Khai sáng (thế kỷ XVIII), khi các nhà triết học, đôi khi chỉ trích mạnh mẽ các tôn giáo nhất thần, bắt đầu được bảo vệ trước “những cuộc săn lùng phù thủy” khi họ bày tỏ những nghi ngờ của mình về sự tồn tại thần thánh. Ví dụ, cuốn Luận về sự hiểu biết của con người (An Essay concerning Human Understanding) của John Locke và Đối thoại và lịch sử tự nhiên của tôn giáo (Dialogues and Natural History of Religion) của David Hume đưa ra sự thảo luận triết học hết sức sáng tỏ về ý nghĩa của các tôn giáo đối với nhân loại và về cách có thể nhận biết về thế giới, có lẽ không thể thiếu Chúa trời, song chí ít là trên phương diện thuyết bất khả tri.

Cốt lõi của cuốn Đối thoại và lịch sử tự nhiên của tôn giáo (Dialogues and Natural History of Religion) của David Hume nằm ở sự thảo luận về sự khác nhau giữa thuyết đa thần, thuyết hữu thần và thuyết thần giáo tự nhiên. Thuyết đa thần – với tính chất là hình thức cổ xưa nhất và tính thần thánh, – có nghĩa là ý niệm về toàn bộ tính thần thánh của tự nhiên và sự hiện tồn cảu con người; ví dụ, mặt trời, trăng, sao – tất cả các vị thần theo thuyết đa thần, trong khi thuyết hữu thần lại cho ằng chỉ có một Đức Chúa toàn năng và vị Chúa này tạo ra vũ trụ, và vị Chúa trời đó vẫn hoạt động và hiện hữu ở khắp mọi nơi. Thuyết thần giáo tự nhiên ít nhiều là một quan điểm triết học về niềm tin tôn giáo thừa nhận rằng chỉ có một Chúa trời và vị Chúa trời đó tạo ra vũ trụ, song không chấp nhận việc Chúa trời đó vẫn hoạt động và có thể hiện diện ở khắp mọi nơi. Có thể coi David Hume là một nhà thần luận, cho dù trong cả cuộc đời của mình ông có lẽ bị coi là người vô thần (chí ít là theo thuyết bất khả tri). Về cơ bản, Hume không nghi ngờ về sự tồn tại của Chúa trời, bởi “toàn bộ hệ thống tự nhiên cho thấy Đấng sáng tạo thông thái…”, song điều khiến ông nghi ngờ về các tôn giáo là tâm trí con người: “Niềm tin vào một sức mạnh trí tuệ vô hình thường hết sức phổ biến ở loài người… và chưa từng có hai dân tộc, và hiếm khi có hai người bất kỳ nào, đồng ý chính xác về cùng một quan điểm”.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thái Hà

Nguồn: Torsti Sirén – “Verum est ipsum factum” – True is what has been made as such – Journal of Military Studies, Vol. 1, No. 1 (2010).

TN 2014 – 12, 13,14, 15 & 16.