Bán đảo Triều Tiên có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với Mỹ? – Phần I


Vai trò lãnh đạo của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương được thiết lập từ đống tro tàn của Hiroshima và Nagasaki, và dựa trên vị thế của Mỹ là cường quốc nguyên tử đầu tiên. Sau đó vũ khí hạt nhân đã định hình rõ địa chính trị châu Á. Ngày nay, trên bán đảo Triều Tiên, công nghệ hạt nhân một lần nữa được cho là điểm đặc trưng của một sự chuyển dịch mạnh mẽ trên cán cân quyền lực của châu Á. Một cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tổng thống Trump và lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un có thể diễn ra trong tương lai, các sử gia tương lai đi đến nhìn nhận tên lửa đạn đạo được trang bị hạt nhân của Triều Tiên là ngòi nổ mà sẽ phá bỏ vai trò lãnh đạo chiến lược của Mỹ ở châu Á.

Để giải thích tại sao, chúng ta cần kết nối chặt chẽ 2 phần của câu chuyện về châu Á hiện đại. Thứ nhất là sự phát triển vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, nhất là thực tế rằng nếu Bình Nhưỡng chưa triển khai tên lửa đạn đạo liên lục địa, hay ICBM, thì nước này cũng đã đến ngưỡng làm vậy. ICBM của Triều Tiên là một vấn đề vô cùng khó đối với Mỹ bởi nó có tiềm năng chia rẽ Mỹ với các đồng minh của nước này. Phần thứ hai của câu chuyện này là Trung Quốc và việc nước này vươn lên vị thế siêu cường khu vực. Trung Quốc là thủy quái trong câu chuyện này và là lý do cốt lõi đằng sau vị trí ngày càng hiểm nghèo của Mỹ ở châu Á. ICBM của Triều Tiên chỉ làm trầm trọng thêm sự thay đổi này và đe dọa khởi xướng một sự sụp đổ vị trí của Mỹ.

Triều Tiên và ICBM của nước này

Các chuyên gia vẫn bất đồng về việc liệu Bình Nhưỡng hiện có thể phóng được một tên lửa gắn đầu đạn hạt nhân có tầm bắn tới các thành phố ở lục địa Mỹ hay không. Triều Tiên mới chỉ tiến hành 3 vụ thử ICBM, và chúng ta không thể chắc chắn rằng nước này có khả năng thu nhỏ đầu đạn hạt nhân cho vừa với phần mũi nhọn của một tên lửa như vậy, hoặc đầu đạn này có thể quay trở lại bầu khí quyển hay không. Nhưng Triều Tiên đang gần đạt được điều đó, nó không còn là vấn đề đối với họ. Vấn đề duy nhất là khả năng của ICBM của Triều Tiên giờ đây lớn đến mức Mỹ phải hành xử như thể đó là một thực tế mà ai cũng biết. Và Mỹ đang đáp trả. ICBM là vũ khí đã khiến Tổng thống Trump phải đe dọa Triều Tiên bằng vũ lực và hiện buộc ông phải chấp nhận đề nghị tham gia một cuộc gặp thượng đỉnh.

Chính quyền Trump nói họ chưa sẵn sàng để chấp nhận rằng Triều Tiên có khả năng tấn công Washington, New York hay Los Angeles bằng vũ khí hạt nhân. Mỹ lo sợ rằng lãnh đạo Triều Tiên “mất trí” đến mức ông ta có thể lựa chọn tấn công Mỹ bất cứ lúc nào. Nhưng đương nhiên điều đó sẽ gây ra một sự đáp trả hủy diệt từ Mỹ và có nhiều bằng chứng cho thấy Kim Jong-un đủ sáng suốt để tránh làm bất kỳ điều gì dẫn đến sự diệt vong chắc chắn xảy ra với mình.

Ý nghĩa thực sự của ICBM của Triều Tiên là nó tạo ra một hiện tượng giữa các đồng minh châu Á của Mỹ mà các nhà chiến lược gọi là “sự chia tách”. Khi việc Triều Tiên đe dọa giết hàng trăm triệu người Mỹ ngay tức khắc trở nên đáng tin, thì các đồng minh của Mỹ bắt đầu lo lắng rằng việc Mỹ cam đoan bảo vệ họ trong trường hợp Triều Tiên gây hấn đột nhiên có vẻ ít đáng tin hơn. Đó chính là lý do đặt các lực lượng vũ trang của Mỹ trong tình trạng nguy hiểm bằng việc đặt căn cứ ở Nhật Bản, Hàn Quốc và những nơi khác nằm trong phạm vi của các vũ khí có tầm bắn ngắn hơn của Triều Tiên. Nhưng liệu Mỹ có thật sự sẵn lòng đặt Los Angeles vào tình trạng nguy hiểm để cứu Seoul?

Đúng là Mỹ đã phải đối mặt với vấn đề chia tách trước đây và đã vượt qua nó. Vào những năm 1960, sau khi Liên Xô có được phương tiện để tấn công các thành phố của Mỹ, Washington đã phải thuyết phục các đồng minh NATO của mình rằng họ vẫn cam kết bảo vệ châu Âu. Washington đã giải quyết nỗi sợ hãi này bằng việc đặt các vũ khí hạt nhân nhỏ hơn trên đất của châu Âu và đưa các thành viên NATO vào trong cấu trúc chỉ huy đối với các lực lượng hạt nhân, do vậy liên kết các đồng minh lại gần nhau hơn.

Mỹ có làm được điều tương tự vào thời điểm này hay không? Các rào cản thực tế đối với việc Mỹ đưa vũ khí hạt nhân trở lại bán đảo Triều Tiên là khó vượt qua, nhưng có thể thực hiện. Tuy nhiên, đó không phải là vấn đề thực tiễn, mà là chính trị. Triều Tiên không phải là Liên Xô. Triều Tiên không phải là mối đe dọa sống còn mang tính toàn cầu đối với lợi ích và các giá trị của Mỹ. Chẳng những không phải là lãnh đạo của một phong trào ý thức hệ với các tham vọng toàn cầu mang tính thù địch với những lý tưởng chính trị của Mỹ, Triều Tiên còn là nhà nước ẩn dật và đẩy lùi đi xa, một dấu tích của Chiến tranh Lạnh bị lịch sử bỏ lại phía sau. Triều Tiên có một nền kinh tế với quy mô xấp xỉ Lào, và khả năng quân sự thông thường của Triều Tiên – đó là các lực lượng hải quân, bộ binh và không quân phi hạt nhân – chỉ xếp hạng hai.

Không có Chiến tranh Lạnh để đem lại cho Triều Tiên một bối cảnh lớn hơn, Bình Nhưỡng, bằng tất cả những thước đo khách quan, lại chẳng quá quan trọng, và các đồng minh châu Á của Mỹ – chủ yếu là Hàn Quốc và Nhật Bản cũng như Australia – đều biết điều đó. Đó là lý do giải thích tại sao ICBM của Triều Tiên lại là một diễn biến quan trọng đến vậy: nó cho thấy thực tế rằng lợi ích của Mỹ trên bán đảo Triều Tiên không quan trọng như những gì các đồng min có thể đã hy vọng, và nó không còn gắn kết Mỹ với khu vực như trước nữa.

Hiện nay, đòi hỏi dựa vào hiểu biết khá hẹp về lợi ích của Mỹ, hẹp hơn nhiều so với những gì các tổng thống Mỹ gần đây có, và trong các tuyên bố chính sách mà khẳng định rằng Mỹ có lợi ích sống còn ở châu Á – Thái Bình Dương và nước này phải duy trì được vị thế chiến lược ưu việt của mình. Người ta nói rằng vai trò lãnh đạo của Mỹ khiến cho khu vực trở nên an toàn hơn và hùng mạnh hơn. Mạng lưới liên minh châu Á của Mỹ là một nền tảng của vai trò lãnh đạo đó, vì vậy việc làm suy yếu một trong các liên minh này vì có sự nhúng ta của Triều Tiên sẽ là một đòn đánh vào Mỹ và trật tự quốc tế dựa trên quy tác mà Mỹ bảo vệ.

Nhưng đòn đánh đó lớn cỡ nào?

Sự trỗi dậy của Trung Quốc

Trong Chiến tranh Lạnh, câu hỏi này dễ trả lời hơn vì Mỹ tham gia cuộc đấu tranh toàn cầu nhằm đánh bại chủ nghĩa cộng sản. Đây là mục tiêu thôi thúc đằng sau mạng lưới liên minh và các căn cứ quân sự toàn cầu của Mỹ bao gồm các liên minh và căn cứ quân sự ở châu Á. Sau đó chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu sụp đổ, và Mỹ chỉ tìm thấy một mục tiêu mang tính thôi thúc mới trên trường quốc tế sau cuộc tấn công vào ngày 11/9. Nhưng cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo chưa bao giờ là một động lực mạnh mẽ đằng sau những cam kết liên minh của Mỹ ở châu Á. Thay vào đó, cấu trúc liên minh này đã tồn tại sau Chiến tranh Lạnh phần lớn là bởi chẳng có gì thách thức nó.

Nhưng hiện Mỹ đang đối mặt với một đối thủ ngang hàng thực sự ở châu Á. Theo Sách Trắng về chính sách đối ngoại của Australia năm 2017, đến năm 2030 nền kinh tế Trung Quốc có thể đạt 42.400 tỷ USD so với 24.000 tỷ USD của nền kinh tế Mỹ. Và Trung Quốc sẽ muốn nâng vị thế chiến lược của mình cho tương xứng với vị thế kinh tế. Trung Quốc dường như trước mắt không có tham vọng thách thức vị thế quân sự toàn cầu ưu việt của Mỹ, nhưng Chủ tịch Tập Cận Bình đã nói rõ rằng ông coi Trung Quốc là một mô hình quản trị và phát triển toàn cầu để cạnh tranh với mô hình của Mỹ. Ít nhất, thì điều thận trọng là giả định rằng Trung Quốc sẽ không còn chấp nhận ở vị trí số 2 sau Mỹ trong chính khu vực của mình nữa. Cũng như Washington đã từ chối cho phép các cường quốc nước ngoài thống trị môi trường ngay sát sườn mình khi nước này đã vươn lên vị thế nước lớn, Trung Quốc sẽ muốn điều tương tự ở châu Á – Thái Bình Dương.

(còn tiếp) 

Nguồn: Australian Financial Review – 29/03/2018

TLTKĐB – 17/04/2018

Advertisements

Mỹ hời hợt trong việc trấn an các nước ở Biển Đông


Washington không biến những gì đã nói thành hành động, sau khi Bắc Kinh ép Hà Nội từ bỏ dự án khoan dầu trên biển Hoa Nam (Biển Đông). Hàm ý của động thái này rất nghiêm trọng và làm suy yếu những nỗ lực của Mỹ và các đối tác dân chủ đang muốn xây dựng một khu vực “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở”.

Hồi tháng 7/2017, các giám đốc điều hành của tập đoàn Repsol cho biết Trung Quốc đe dọa xung đột quân sự với Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, nếu tập đoàn Tây Ban Nha xúc tiến các hoạt động khoan thăm dò theo kế hoạch ở lô khoan dầu riêng biệt. Tháng 3 năm nay, Trung Quốc cũng làm tương tự với quyết định của tập đoàn Repsol.

Đến nay, vài tuần sau quyết định của Việt Nam, Trung Quốc dường như hoàn toàn thành công trong việc dọa nạt một nước ven biển Hoa Nam tránh xa việc tiếp cận nguồn tài nguyên ở Biển Đông. Diễn biến này cho thấy rõ rằng những lời trấn an mà Mỹ có thể đưa ra đối với các nước trong khu vực nhìn chung là hời hợt.

Dưới thời Tổng thống Donald Trump, Mỹ tăng tiến độ hoạt động tự do hàng hải ở gần các thực thể tranh chấp trên biển Hoa Nam. Nói chung, cứ hai tháng lại diễn ra một hoạt động tự do hàng hải, thay vì khoảng mỗi quý một lần như dưới thời chính quyền Obama.

Trong khi đó, Hải quân Mỹ cũng mở rộng đáng kể sự hiện diện trên biển Hoa Nam và gửi thông điệp đến Trung Quốc rằng Mỹ là một cường quốc Thái Bình Dương.

Những tuần gần đây, đội tàu tấn công gồm tàu sân bay USS Theodore Roosevelt tiến hành tập trận để thể hiện với Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc rằng kinh nghiệm và khả năng của Mỹ vượt trội Trung Quốc.

Tuy nhiên, dù có hành động quân sự như vậy, cũng như việc Washington và các nước châu Á dân chủ khác những tháng gần đây đưa ra những cam kết hỗ trợ bằng lời nói, thì chưa một nước nào trong số này lên tiếng khi Việt Nam bị đe dọa bằng vũ lực và bị tước quyền tiếp cận tài nguyên trên biển Hoa Nam.

Ngay cả khi cử đội tấn công gồm tàu sân bay USS Carl Vinson tiến hành chuyến thăm lịch sử tới Đà Nẵng hồi tháng 3 vừa qua, Washington vẫn ở ngoài cuộc khi Trung Quốc ép Việt Nam.

Trong 5 năm qua, quan hệ giữa Việt Nam và Washington đã cải thiện đáng kể. Đỉnh điểm là trong năm cầm quyền cuối cùng của chính quyền Obama, Mỹ đã dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí kéo dàng hàng thập kỷ đối với Việt Nam. Tuy nhiên, là một trong những nước tranh chấp lãnh thổ trên biển Hoa Nam quyết liệt  nhất, hiện Việt Nam có vẻ như bị bỏ mặc.

Thay vì dựa vào luật pháp quốc tế, gồm phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế La Haye hồi tháng 7/2016 trong vụ kiện Trung Quốc của Philippines, Hà Nội đã phải chấp nhận thực tế là mình ở thế yếu khi xảy ra xung đột quân sự với Trung Quốc.

Năm 2017, khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm Washington để gặp ông Trump, hai nhà lãnh đạo nhất trí với tuyên bố “quan ngại trước những tác động gây mất ổn định mà việc hạn chế bất hợp pháp quyền tự do trên biển gây ra đối với hòa bình và thịnh vượng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương”.

Gần đây, Đô đốc Harry Harris, Chỉ huy Tư lệnh Thái Bình Dương sắp mãn nhiệm, mô tả Việt Nam là “đối tác táo bạo nhất của Mỹ trong khu vực chống lại hành vi khiêu khích của Trung Quốc trên biển Hoa Nam”.

Không “thể hiện sức mạnh” khi Việt Nam bị dồn vào chân tường, Washington đã thất bại trong việc thúc đẩy các giá trị mà nước này tuyên bố ủng hộ, liên quan đến tương lai của kiến trúc an ninh khu vực ở châu Á.

“Không có công ty nước ngoài nào muốn đầu tư vào dự án ngoài khơi Việt Nam”

Theo đài VOA, sau 2 lần Repsol bị Việt Nam yêu cầu ngừng các dự án khoan dầu trên vùng biển có tranh chấp với Trung Quốc, các chuyên gia cảnh báo sẽ không có công ty nước ngoài nào còn muốn đầu tư vào các dự án ngoài khơi của Việt Nam.

Đây là nhận định của hai chuyên gia Mỹ về Biển Đông: Gregory Poling, Giám đốc chương trình Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS), và Alexander Vuving của Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á – Thái Bình Dương, Daniel K. Inouye. Họ cho rằng Việt Nam “không biết phải tiến lên phía trước như thế nào”.

Theo ông Gregory Poling, việc Việt Nam 2 lần yêu cầu Repsol ngừng các dự án khoan dầu cho thấy: “Việt Nam thừa nhận họ không có vùng đặc quyền kinh tế”. Ông nói: “Repsol đã phải 2 lần ngừng dự án và mất hàng trăm triệu USD đầu tư vào việc thăm dò mà không được báo trước chỉ vì áp lực của Trung Quốc. Điều này có thể làm hỏng nhiều kế hoạch thăm dò ngoài khơi của Việt Nam. Không giống bất cứ nước nào khác trên thế giới, Việt Nam không thể dễ dàng và có quyền khai thác các nguồn dầu khí trên biển một cách độc lập”.

Theo báo cáo tài chính năm 2017 của Repsol, hãng này đã chi khoảng 41 triệu USD cho hoạt động thăm dò dầu khí ở Việt Nam trong năm 2017. Nguồn tin của BBC cho biết Repsol mất khoảng 200 triệu USD cho dự án Cá Rồng Đỏ vừa bị ngừng lại trong tháng 3 vừa qua. Ông Poling nhận định: “Tôi không biết (Việt Nam) sẽ tiếp tục thế nào với các dự án thăm dò ngoài khơi, vì không có công ty nước ngoài nào sẽ muốn đầu tư vào bất kỳ một dự án ngoài khơi nào của Việt Nam trên Biển Đông nữa”.

Chuyên gia Vuving có cùng quan điểm với ông Poling khi cho rằng “việc ngưng dự án Cá Rồng Đỏ rõ ràng đã gửi đi một thông điệp ớn lạnh tới các công ty dầu khí muốn đầu tư vào các dự án ngoài khơi Việt Nam”. Ông nghĩ rằng Việt Nam đang lúng túng trong việc “làm thế nào để tiến lên phía trước”.

Trong lịch sử, Trung Quốc đã nhiều lần dùng sức ép để ngăn cản việc khai thác dầu khí trên các vùng biển có tranh chấp chủ quyền với Việt Nam và nhiều nước khác. Việt Nam chưa bao giờ công khai thừa nhận đã phải dừng các dự án thăm dò dầu khí với Repsol vì sức ép của Trung Quốc. Tuy nhiên, tập đoàn dầu khí quốc gia Petro Vietnam đầu tháng này đã lên tiếng thừa nhận tình hình căng thẳng trên Biển Đông sẽ ảnh hưởng đến hoạt động dầu khí của họ trong năm nay.

Theo Công ty Cổ phần CNG Việt Nam, hiện Việt Nam đang xem xét rút lại một dự án hợp đồng thăm dò khí đốt trị giá 4,6 tỷ USD với tập đoàn ExxonMobil của Mỹ ở ngoài khơi bờ biển miền Trung.

Giáo sư Vuving cho biết Trung Quốc cũng đã gây áp lực buộc Việt Nam trì hoãn dự án khí đốt nhiều tỷ USD với tập đoàn ExxonMobil của Mỹ.

Nguồn: The South China Morning Post – 16/04/2018

TKNB – 17/04/2018

Liệu Trung Quốc và Triều Tiên có kết thành trục mới? – Phần cuối


Mặt khác, di sản của Chính quyền Hồ Cẩm Đào – Ôn Gia Bảo làm cho chiến lược kép coi trọng cả vũ khí hạt nhân lẫn thị trường của Kim Jong-un có thể trở thành hiện thực. Năm 2005, chuyến thăm Triều Tiên của Hồ Cẩm Đào nhận được sự đón tiếp trọng thể, sua khi về nước lập tức xây dựng Triều Tiên thành kiểu mẫu ý thức hệ trong nước, bổ sung cho sự thiếu hụt về tính hợp pháp ý thức hệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 2008, Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã chọn Triều Tiên trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên chính là dựa trên nhu cầu về ý thức hệ như vậy. Năm 2009, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đến thăm Triều Tiên, đã ký một loạt dự án viện trợ và hợp tác kinh tế trị giá khoảng 1 tỷ NDT, kỳ vọng vừa có thể duy trì chính quyền vừa giúp đỡ Triều Tiên mạnh dạn tiến hành cải cách thị trường hóa. Tuy mọi việc không được hoàn toàn thực hiện, sau khi cầu hữu nghị Trung – Triều được xây dựng, do Triều Tiên không làm đồng bộ đường giao thông nên không thể sử dụng, nhưng vẫn là tài sản quý giá mà Kim Jong-il để lại. Ví dụ các kiến trúc tương đối mới ở ven bờ sông Áp Lục dường như đều được Triều Tiên tận dụng xây dựng từ nguồn vốn và vật liệu giành được trong dự án của Ôn Gia Bảo; Triều Tiên cử các nhà quản lý doanh nghiệp sang Trung Quốc học tập kinh tế thị trường giống như Trung Quốc cửa cán bộ sang Đại học Harvard và Singapore học tập. Sau khi lên cầm quyền, Kim Jong-un có thể đã sửa đổi chiến lược tiên quân của cha mình, áp dụng chiến lược kép coi trọng cả vũ khí hạt nhân và thị trường, từ đó bên cạnh việc củng cố quyền lực vẫn có thể duy trì ổn định xã hội và kinh tế, và giành được sự ủng hộ của tầng lớp tinh hoa chính trị Triều Tiên.

Nhưng quan sát của tác giả tại Triều Tiên cũng cho thấy mức độ thị trường hóa của nền kinh tế nước này tương đối cao, đã gây dựng được tầng lớp trung lưu mới nổi thế tục, rất giống “vương quốc ẩn dật” như học giả Ralph Hassig và Kongdan Oh thuộc Viện Brookings từng mô tả. Đằng sau nó là một nền kinh tế xám khổng lồ, theo tính toán của giáo sư Kim Byung-Yeon thuộc Đại học Quốc gia Seoul, chiếm khoảng 70% GDP, gần như hoàn toàn thay thế hệ thống phân phối công cộng truyền thống, chiếm trên một nửa thu nhập quốc dân Triều Tiên. Năm 2015, GDP của Triều Tiên vào khoảng 16 tỷ USD, kim ngạch thương mại với Trung Quốc là 5,4 tỷ USD, ngoại thương với Trung Quốc chiếm tỷ lệ gần 70% kim ngạch ngoại thương của Triều Tiên, có thể nhận thấy kinh tế Triều Tiên phụ thuộc gần 50% vào bên ngoài. 70% là một con số lớn bí ẩn của nền kinh tế Triều Tiên, ví dụ như dưới thời Kim Nhật Thành, vì các cơ sở điện kém chất lượng nên tổn thất điện năng lên đến 70% tổng công suất phát điện, và ngay nay 70% lại đại diện cho mức độ thị trường hóa của nền kinh tế: như Triều Tiên dùng 3% đất đai để cung cấp gần 70% các sản phẩm nông nghiệp, và hơn 70% lực lượng lao động Triều Tiên đang làm việc cho một nền kinh tế thị trường.

Trong 6 năm qua, mặc dù nội bộ Triều Tiên có sự thay đổi quyền lực, các công ty Triều Tiên tham gia ngoại thương và xuất khẩu lao động cũng đã trải qua nhiều thay đổi, tuy hiên, trong các điểm mù chiến lược của Tập Cận Bình, dưới chiến lược mơ hồ của Tập Cận Bình đối với Triều Tiên, các công ty và người dân Triều Tiên dường như đã đầu tư vào toàn cầu hóa lấy Trung Quốc làm trung gian theo kiểu sùng bái họ Kim. Trong các nhà hàng nhỏ ở Đan Đông, chủ nhà hàng hàng ngày xử lý các đơn hàng đến từ Nghĩa Ô, sau đó chuyển giao cho thương nhân Triều Tiên và chịu trách nhiệm vận chuyển; trong các khu kinh tế, hàng chục nghìn công nhân và nông dân Triều Tiên làm việc miệt mài trong nhà máy sản xuất quần áo và phần mềm, khách hàng của họ đến từ khắp nơi trên thế giới. Đầu tháng 3/2017, lệnh cấm vận nghiêm ngặt được thực thi đã làm gián đoạn việc buôn bán than và xuất khẩu lao động đến từ Triều Tiên, nhưng các chuyến xe hàng qua lại như con thoi ở cảng Đan Đông không giảm đáng kể. Mặc dù phải đối mặt với áp lực rất lớn của cộng đồng quốc tế, nhưng chiến lược mơ hồ của Trung Quốc lại khiến các quan chức và người dân Triều Tiên dần dần thích ứng với sự chuyển đổi mô hình của thị trường, không chỉ để nuôi quốc gia, mà còn hỗ trợ các chương trình hạt nhân và cho phép Kim Jong-un thử hạt nhân, cũng giành được thời gian quý báu để chính thức thúc đẩy cải cách toàn diện theo định hướng thị trường.

Thứ hai, từ lập trường và cách sắp đặt của Trung Quốc trong mối quan hệ với Triều Tiên cho thấy quan hệ Trung – Triều vẫn còn giới hạn ở mối quan hệ liên đảng truyền thống, mà không phải mối quan hệ giữa các quốc gia bình thường. Về mặt truyền thống, Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn coi Triều Tiên như một chính đảng anh em của phong trào cộng sản quốc tế và không phân biệt giữa đảng và nhà nước. Cho dù là thời kỳ liên quân kháng Nhật Đông Bắc hay là cuộc nội chiến sau năm 1946 cũng như trong mối quan hệ ba bên Xô – Trung – Triều sau năm 1949, dù liên quan đến vấn đề phân chia biên giới hay vấn đề chủ quyền vùng Đông Bắc, hoặc vấn đề quân nhân Triều Tiên và vấn đề kiều dân quay trở lại, hay các vấn đề ngoại giao thì quan hệ song phương luôn lấy mối quan hệ đặc biệt giữa hai đảng làm chủ đạo, mà không phải là chủ nghĩa quốc gia, vượt qua mối quan hệ bình thường giữa hai nước. Mối quan hệ đặc biệt này độc đáo ngay cả khi so sánh quan hệ giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước khác. Trên thực tế, trong hầu hết cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un lần này đều có sự tham gia của ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị phụ trách ngoại giao liên đảng Vương Hộ Ninh, đồng thời nhân vật này còn tiễn Kim Jong-un ở ga tàu Bắc Kinh; thành viên phái đoàn Trung Quốc tại cuộc gặp cũng ưu tiên nêu trước chức danh trong đảng. Trong thái độ đó với Triều Tiên, Tập Cận Bình kế thừa nguyên tắc quan hệ liên đảng, và không có ý định thay đổi việc này, điều này giống với đường lối nhấn mạnh sự lãnh đạo của đảng đối với đất nước của Tập Cận Bình kể từ Đại hội XIX tới nay.

Tuy nhiên, thái độ của Triều Tiên lại hoàn toàn khác, nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc trong quan hệ song phương. Ví dụ, sau khi Chiến tranh Triều Tiên bùng phát năm 1950, Triều Tiên luôn giữ sắc thái quốc gia dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ trong việc xử lý vấn đề thay đổi đảng tịch và quân tịch của quân nhân Triều Tiên quốc tịch Trung Quốc, nhấn mạnh sự thừa nhận dân tộc và khác biệt quốc tịch đối với quân nhân Triều Tiên có quốc tịch Trung Quốc, chứ không phải là mối quan hệ chính đảng anh em, hạn chế nghiêm ngặt việc họ trở về nước. Về vấn đề lãnh thổ và biên giới, trong khi tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế, Triều Tiên tương tự lợi dụng lập trường liên đảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự khác biệt tế nhị về lập trường quốc gia dân tộc của Triều Tiên để giành được lợi ích tối đa, đặc biệt là lợi dụng các cuộc tranh luận về ý thức hệ giữa chính đảng Trung – Xô để họ viện trợ cho Triều Tiên. Sau khi lên nắm quyền, Đặng Tiểu Bình ngừng xuất khẩu cách mạng, làm phai nhạt ý thức hệ, làm nhạt mối quan hệ liên đảng, quan hệ Trung – Triều cũng rơi vào lạnh nhạt trong thời gian dài. Sau Đại hội 6 năm 1980, Đảng Lao Động Triều Tiên không tổ chức đại hội trong 36 năm, chủ nghĩa Marx bị loại bỏ, Triều Tiên diễn biến thành đất nước do một người cai trị, và cuối cùng rơi vào nạn đói sau Chiến tranh Lạnh. Xét theo nghĩa này, mối quan hệ giữa Trung Quốc và Triều Tiên không phải là bình thường từ đầu đến cuối, và nó không phải là mối quan hệ giữa hai quốc gia bình thường.

Trục mới

Nếu thế giới bên ngoài coi mối quan hệ Trung – Triều trong tương lai là một “trục mới” vượt trên mối quan hệ quốc gia bình thường thì không có gì đáng ngạc nhiên, sự tiếp nối của mối quan hệ chính đảng Trung – Triều truyền thống cũng là sự liên tưởng tự nhiên tới việc Tập Cận Bình, Kim Jong-un có thể cầm quyền suốt đời. Ngoài ra, mong muốn đối thoại trực tiếp giữa Triều Tiên và Mỹ quá mạnh, gần như có thể được xem như Triều Tiên hoặc Kim Jong-un muốn sớm thoát khỏi mối quan hệ nhà nước không bình thường này dù phải đợi hơn 30 năm sau Chiến tranh Lạnh mới có cơ hội.

Ngay cả khi nhìn lại lịch sử cũng không thấy có gì lạ. Sau binh biến Nhâm Ngọ năm 1882, (tương đương với các cuộc khủng hoảng hạt nhân hiện nay), vua Cao Tông của Triều Tiên năm 1887 đã cử Bak Jeongyang làm công sứ đầu tiên tại Mỹ, và sau đó còn xảy ra tranh chấp ngoại giao với Nhà Thanh xung quanh việc Nhà Thanh là thuộc quốc hay là chủ thể tự do hoàn toàn, cuối cùng đã diễn biến thành Chiến tranh Giáp Ngọ giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Kết cục như vậy là điều nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày nay không mong muốn nhìn thấy, cũng chưa có sự chuẩn bị sẵn sàng, bao gồm sẵn sàng chấp nhận Triều Tiên là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân để làm sự kiềm chế đối với bên thứ ba – đây là sự đảo lộn cơ bản hệ thống Yalta và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Bắc Kinh đang chịu mối đe dọa của cuộc chiến thương mại của Trump, nhưng không ai dám thách thức trật tự quốc tế lấy WTO và toàn cầu hóa theo chủ nghĩa tự do làm cơ sở. Điều này về cơ bản cũng đã phủ nhận khả năng Trung Quốc và Triều Tiên sẽ hình thành một “trục mới” trên cơ sở là “các nước sở hữu hạt nhân”. Sau cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un, Trung Quốc đã nhanh chóng thông báo tình hình cho Mỹ và Hàn Quốc.

Đối với Triều Tiên, tất nhiên một mặt họ đang cố gắng thoát khỏi ảnh hưởng của nước mẹ hàng nghìn năm này, tìm kiếm tính chủ thể mới trên vũ đài thế giới; mặt khác, nếu Triều Tiên vượt qua cuộc khủng hoảng hạt nhân thuận lợi, tìm được giải pháp, thì cũng sẽ thu hoạch được lợi ích kinh tế từ trong chiến lược “tống tiền hạt nhân”. Sau tất cả, trong tương lai liệu Triều Tiên có thực sự từ bỏ chương trình hạt nhân, bàn về thời gian biểu cho việc từ bỏ hạt nhân hay không thì còn nhiều tính khó lường. Kim Jong-un có thể tận dụng tính khó lường của chủ nghĩa cơ hội để biến “khoản hoa hồng từ sự tống tiền hạt nhân” thành hiện thực, sử dụng chính sách song phương giành được lợi ích tối đa từ Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, giống như Trung Quốc thực hiện cải cách và mở cửa và giành được “lợi ích từ Chiến tranh Lạnh” theo đường lối chủ nghĩa thực dụng.

Tuy nhiên, về mặt dài hạn, sự mơ hồ chiến lược của Triều Tiên, Trung Quốc và chủ nghĩa cơ hội lại có thể kiềm chế sự bình thường hóa quan hệ Triều – Mỹ trong thời gian dài, cản trở Triều Tiên gạt Trung Quốc sang một bên, ôm lấy toàn cầu hóa và trật tự quốc tế. Chu dù là trục cũ hay mới, có tồn tại hay không, sự kiên trì đối với mối quan hệ liên đảng đặc biệt giữa Trung Quốc và Triều Tiên đều đã cản trở Trung Quốc từ bỏ gánh nặng Triều Tiên, hoặc cắt đứt “mối quan hệ máu thịt” thậm chí “quan hệ nuôi dưỡng” với hệ tư tưởng của Triều Tiên, về cơ bản cản trở việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, cũng cản trở tiến trình Trung Quốc và Triều Tiên là quan hệ bình thường trong con mắt của cộng đồng quốc tế.

Có lẽ giải pháp duy nhất để cắt đứt “mối quan hệ máu thịt” giữa Trung Quốc và Triều Tiên, giúp Trung Quốc loại bỏ sự mơ hồ chiến lược, đạt được bình thường hóa hoàn toàn quan hệ song phương, chính là thống nhất bán đảo Triều Tiên. Ví dụ, trong khi Trung Quốc thực hiện sự phục hưng quốc gia, giúp người dân ở Bắc – Nam bán đảo Triều Tiên đạt được sự thống nhất và hòa giải dân tộc. Đây mới là ý nghĩa thực tế nhất của cái được gọi là “cộng đồng chung vận mệnh của con người”.

Nguồn: bbcchinese.com – 29/03/2018

TLTKĐB – 11/04/2018

Di sản của Đế chế Ottoman đối với trật tự Trung Đông


Carl Bildt

Nguồn gốc sâu xa của rất nhiều xung đột tại Trung Đông nằm ở sự tan rã của Đế chế Ottoman vào đầu thế kỷ 20, cùng với đó là sự thất bại trong việc xây dựng một trật tự ổn định cho khu vực kể từ thời điểm nói trên. Trong quá trình hướng tới mục tiêu đảm bảo nền hòa bình bền vững cho toàn vùng, các nhà lãnh đạo của cộng đồng quốc tế cần ghi nhớ bài học lịch sử từ Đế chế Ottoman.

Ottoman – một đế chế từng trải dài từ thành phố Bihac của Bosnia ngày nay đến tận Basra, Iraq – là bức tranh đầy màu sắc bởi sự pha trộn văn hóa, truyền thống và ngôn ngữ dưới quyền cai quản tối cao của vị Sultan[1] ở Istanbul. Đây từng là nơi đặc biệt ổn định, tạo ra nền tảng hòa bình cho toàn khu vực suốt hàng trăm năm. Tuy nhiên, khi sự tan rã bắt đầu nhen nhóm, nó đã khiến tình hình trở nên vô cùng bạo lực.

Vùng Balkan là nơi khởi đầu của quá trình tan rã của Đế chế Ottoman thành các quốc gia – dân tộc. Đó cũng đồng thời là tiến trình mở màn cho những cuộc chiến khốc liệt – lần đầu tiên diễn ra vào đầu thế kỷ 20, lần thứ hai là vào thập niên 1990.

Trong khi đó, ở vùng Lưỡng Hà và Levant (Đông Địa Trung Hải), một loạt các quốc gia mới nổi lên khi các cường quốc bên ngoài vẽ lại bản đồ Ottoman. Syria và Iraq là kết quả của các cuộc đàm phán tranh giành lợi ích giữa Pháp và Anh. Người Hy Lạp đã thực hiện một nỗ lực thất bại nhằm xâm chiếm miền tây Anatolia – rốt cuộc làm nổ ra cuộc cách mạng dẫn tới sự ra đời của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Đồng thời, Tuyên bố Balfour năm 1917 – một cam kết của nước Anh về việc thành lập nhà nước Do Thái trên vùng lãnh thổ Palestine – đã trở thành cơ sở cho sự ra đời của Israel vào năm 1948, kéo theo hàng chục năm xung đột và thương lượng triền miên.

Việc xác định tỉnh Mosul của Đế chế Ottoman sẽ thuộc về nước nào cho thấy là một vấn đề khó khăn, bởi tỉnh này cùng lúc được cả chính quyền mới của Thổ Nhĩ Kỳ lẫn Iraq tuyên bố chủ quyền. Một hội đồng được thành lập bởi Hội Quốc Liên và do một nhà ngoại giao Thụy Điển dẫn đầu đã đi khắp khu vực nhằm tìm kiếm một giải pháp phù hợp nhưng sau cùng đành thất bại trong việc vẽ ra được đường ranh giới thỏa mãn các bên. Rốt cuộc, hội đồng này đề xuất sáp nhập Mosul vào Iraq, nhưng quyết định này được đưa ra là do nước này được cho là sẽ nằm dưới sự ủy trị kéo dài hàng thập niên của Hội Quốc Liên.

Kể từ đó, trải qua các cuộc chiến tranh và cách mạng triền miên, có một chân lý vẫn giữ nguyên giá trị: không một ranh giới nào ở Ottoman đủ rõ ràng để có thể sắp đặt êm thấm một trật tự mới giữa các nhà nước hay thực thể chính trị mà vẫn đảm bảo được sự thuần nhất về sắc tộc, dân tộc cũng như tôn giáo. Thừa nhận thực tế đó quả thực là một nghịch lý, bởi trật tự khu vực được tạo ra sau Thế chiến I có thể là một sự sắp đặt tùy tiện, nhưng bất kỳ nỗ lực nào nhằm thay đổi trật tự đó lại có thể dẫn đến những hậu quả thậm chí còn đẫm máu hơn.

Một ví dụ điển hình là nếu tách Iraq thành 2 nhà nước theo giáo phái Sunni và Shia sẽ dễ dàng tạo ra phiên bản ở vùng Lưỡng Hà của thảm kịch 1947 tại Nam Á khi hàng triệu người bỏ mạng trong lúc cố gắng trốn chạy sang Pakistan hoặc Ấn Độ sau sự kiện đất nước này tách làm hai. Thực vậy, cuộc xung đột giữa người Ả-rập và người Kurd vốn sẽ nảy sinh nếu Iraq bị chia cắt có lẽ sẽ vô cùng đẫm máu và dai dẳng, đồng thời tạo ra những hệ lụy sâu sắc đối với Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, những nơi có số lượng người Kurd đông đảo. Cuộc chiến giành quyền kiểm soát Baghdad rất có thể cũng sẽ khốc liệt tương tự.

Để tìm ra một giải pháp cho xung đột tại Syria cũng không phải là điều đơn giản. Nhà nước của tộc Alawite (do Assad lãnh đạo) được Nga bảo trợ dọc vùng ven biển có thể sẽ đứng vững, nhưng quyền lực tại Damascus vẫn là một cuộc tranh giành không hồi kết. Nhóm thiểu số đạo Cơ Đốc tại Syria sẽ trở thành nạn nhân của những nỗ lực tranh đoạt nói trên. Quốc gia này vốn là cội nguồn của một vài những cộng đồng Cơ Đốc giáo cổ xưa nhất trên thế giới, những cộng đồng dù quy mô đã bị thu hẹp đi đáng kể so với trước đây nhưng vẫn tiếp tục nắm giữ những quyền lịch sử không thể chối cãi đối với toàn khu vực. Họ là một phần của mảnh ghép nhỏ trong bức tranh về một Ottoman đa dạng được giữ gìn ở Syria ngày nay; và họ sẽ diệt vong nếu bức tranh đa sắc này biến mất hoàn toàn.

Có một điều chắc chắn là bức tranh đa dạng của Ottoman đã bị hủy hoại nghiêm trọng và hiện đang trong tiến trình tan rã. Nhưng dù những thành phố thương nghiệp đa văn hóa cổ xưa như Aleppo và Mosul có thể không bao giờ phục hồi và phồn vinh trở lại, đó cũng không phải là cái cớ để cắt xẻ lãnh thổ khu vực này theo các ranh giới mới, nếu không muốn trả giá bằng một biển máu.

Trong quá trình nỗ lực để chấm dứt sự hỗn loạn và xung đột đang xé nát Trung Đông, đồng thời thiết lập một trật tự khu vực có thể giúp duy trì hòa bình và ổn định dài lâu, các nhà lãnh đạo của cộng đồng quốc tế nên cố gắng làm việc trong các khuôn khổ hiện hữu. Những chiến lược gia ngồi phòng lạnh ở các đất nước xa xôi sẽ chỉ đang tự huyễn hoặc bản thân nếu họ nghĩ rằng các nỗ lực áp đặt các biên giới mới rõ ràng hơn lên vùng đất cổ xưa này sẽ không thất bại trong bối cạnh hiện nay.

Biên dịch: Nguyễn Lương Sỹ | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Carl Bildt, “Preserving the Ottoman Mosaic”, Project Syndicate, 30/11/2015.

Carl Bildt là ngoại trưởng Thụy Điển từ năm 2006 đến tháng 10 năm 2014, và là Thủ tướng trong giai đoạn 1991-1994, khi ông đàm phán cho việc Thụy Điển gia nhập EU. Là nhà ngoại giao quốc tế nổi tiếng, ông từng đảm trách chức vụ Đặc sứ của EU ở Nam Tư cũ, Đại diện cấp cao về vấn đề Bosnia và Herzegovina, Đặc sứ của Liên Hiệp Quốc ở khu vực Balkan, và là Đồng Chủ tịch của Hội nghị Hòa bình Dayton.

Liệu Trung Quốc và Triều Tiên có kết thành trục mới? – Phần đầu


Vào thời điểm tình hình Đông Bắc và Tây Thái Bình Dương phức tạp, căng thẳng chưa từng có, liệu việc hai nhà lãnh đạo Trung Quốc và Triều Tiên tuy ở rất gần nhưng chưa từng gặp nhau lại tiến hành cuộc gặp không chính thức dưới sự sắp đặt hết sức bí mật có thể làm ấm lại mối quan hệ giữa hai nước đã lạnh nhạt trong nhiều năm hay không. Ngoài ra, tại cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un lần này, các phát ngôn như “đi thăm người thân” và “di nguyện”…, Trung Quốc và Triều Tiên sẽ khôi phục tình hữu nghị truyền thống, tiếp đến kết thành trục mới ở Đông Bắc Á, thay đổi cục diện an ninh Tây Thái Bình Dương cũng đều là những điều có giá trị nghiên cứu.

Điều thú vị có lẽ rằng đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Kim Jong-un từ khi lên làm nhà lãnh đạo Triều Tiên. Tuy chỉ là chuyến thăm không chính thức, nhưng Trung Quốc lại dành cho Kim Jong-un các biện pháp đảm bảo an ninh nghiêm ngặt chưa từng có. Đoàn tàu chở nhà lãnh đạo Kim Jong-un vừa đi qua cầu hữu nghị Trung – Triều nối giữa hai thành phố Đan Đông – Trung Quốc và Sinuiju – Triều Tiên một đoạn thì rào chắn thép được dựng lên để ngăn không cho các phóng viên dòm ngó từ khách sạn gần cầu. Từ đêm ngày 25/3 đến gần tối ngày 26/3, đoàn tàu chở Kim Jong-un đi lại rất thuận lợi trong lãnh thổ Trung Quốc. Hành trình đến Bắc Kinh của Kim Jong-un đã được kiểm soát, đến camera giám sát ở các đường giao nhau cũng bị bịt kín. Tuy nhiên, chuyến thăm Bắc Kinh ngắn ngủi của Kim Jong-un lại không phải là chuyến thăm “không chính thức”, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tiếp đóng Kim Jong-un bằng nghi lễ quốc gia long trọng, sau Kim Jong-un về nước, Đài truyền hình trung ương Trung Quốc và các phương tiện truyền thông chính thức mới đưa tin rầm rộ về cuộc gặp thân mật giữa hai nhà lãnh đạo này.

Vì vậy, vào thời điểm cục diện chính trị Đông Bắc Á có bước chuyển ngoặt thông qua hành trình bí mật trong chuyến thăm của Kim Jong-un và khói mù bao phủ trên bầu trời Bắc Kinh, cuộc gặp được tiến hành vội vã này và nội dung cuộc hội đàm mà các phương tiện truyền thông chính thức của Trung Quốc tiết lộ, đã cung cấp những thông tin vô cùng hiếm hoi để bên ngoài có thể dựa vào đó phân tích toàn diện sự phát triển của quan hệ Trung – Triều, làm sáng tỏ rất nhiều dự đoán của cộng đồng quốc tế, ví dụ như liệu Trung Quốc có vì cuộc gặp thượng đỉnh Triều – Mỹ mà bị gạt sang một bên, liệu Trung Quốc có chuẩn bị chấp nhận Triều Tiên là quốc gia sở hữu hạt nhân…, để từ đó nắm bắt hơn nữa ý đồ chiến lược của Trung Quốc. Điều đặc biệt là cộc gặp thượng đỉnh lần này diễn ra trước cuộc gặp thượng đỉnh liên Triều vào tháng 4 và cuộc gặp thượng đỉnh Triều – Mỹ vào tháng 5. Cuộc gặp đầy kịch tính này dường như diễn ra trong tiến trình khó khăn của quan hệ Trung – Triều sau khi cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên ngày càng trầm trọng, bao hàm hiện trạng, bước chuyển ngoặt trong 5 năm qua và tương lai.

Nhìn lại bối cảnh

Từ khi Kim Jong-un lên cầm quyền năm 2011, Tập Cận Bình lên cầm quyền năm 2012 đến nay, hai nhà lãnh đạo 6 năm chưa gặp mặt, và 6 năm qua cũng là khoảng thời gian cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên có những diễn biến xấu nhất. Qua việc hai nguyên thủ chưa từng tới thăm nhau, gọi điện cho nhau, không thể không nói rằng quan hệ song phương rất lạnh nhạt, ở thời kỳ kém phát triển nhất kể từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992. Trong 6 năm qua, năm 2012 Lý Kiến Quốc và năm 2017 Tống Đào lần lượt đến Triều Tiên thông báo tình hình Đại hội XVIII và XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc với tư cách đặc phái viên, năm 2013 Phó Chủ tịch nước Lý Nguyên Triều và năm 2015 Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Vân Sơn đến thăm Triều Tiên, tham dự lễ kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng Lao động Triều Tiên. Về phía Triều Tiên, từ sau chuyến thăm Trung Quốc không chính thức của Kim Jong-il năm 2011, thời kỳ Kim Jong-un cầm quyền chỉ có trợ lý thân cận là Choe Ryong-hae đến thăm Bắc Kinh vào các năm 2015, 2016 và 2017. Những chuyến thăm ít ỏi này về cơ bản không có lợi cho việc hai bên loại bỏ những cản trở của các sự việc đan xen như nhân vật số 2 của Triều Tiên thân Trung Quốc, chú rể của Kim Jong-un là Jang Song-thaek bị xử tội chết, Kim Jong-nam bị ám sát…, trái lại còn rơi vào khủng hoảng trong các cuộc thử hạt nhân và phóng tên lửa liên tiếp của Triều Tiên.

Có 4 trong 6 vụ thử hạt nhân mà Triều Tiên đã tiến hành cho đến nay được thực hiện trong 6 năm qua, đây cũng là 6 năm quan hệ Trung – Triều rơi vào lạnh nhạt, chương trình vũ khí hạt nhân của Triều Tiên đã hoàn thành cuộc nhảy vọt từ bom nguyên tử đến bom H, từ thử nghiệm đến đưa vào thực tế chiến đấu, từ tên lửa đạn đạo tầm trung chưa hoàn thiện đến tên lửa đạn đạo liên lục địa, lần đầu tiên có năng lực đe dọa lãnh thổ Mỹ, khiến cho Liên hợp quốc thực hiện lệnh cấm vận nghiêm khắc chưa từng có. Trung Quốc cũng đứng vào hàng ngũ các nước lên án và cấm vận Triều Tiên. Năm 2017 quan hệ Trung – Triều ở vào thời kỳ kém phát triển nhất.

Trong bối cảnh này, kể từ Olympic Pyeongchang diễn ra hồi tháng 2 đến nay, Chính quyền Kim Jong-un đã chủ động thực hiện ngoại giao mềm dẻo qua việc cử em gái là Kim Yo-jong mở ra cánh cửa đối thoại liên Triều. Trong thời gian này, bên ngoài dường như bị mê hoặc bởi tư thế ngoại giao của Triều Tiên, ngoài cuộc đối thoại thượng đỉnh liên Triều, thượng đỉnh Triều – Mỹ đã được xác định, cuộc gặp mặt thượng đỉnh Triều – Nhật cũng đang được xem xét. Trong cuộc đối thoại Triều – Trung lần này, như thông tin mà hai bên đã chứng thực sau chuyến thăm, việc Kim Jong-un đưa ra kiến nghị đến thăm Trung Quốc, sau đó nhận được lời mời của Trung Quốc, đều được tiến hành rất vội vàng, làm theo mô hình chuyến thăm không chính thức năm 2011 của Kim Jong-il, chủ yếu là trao đổi, tiếp tục nhấn mạnh sự hữu nghị truyền thống giữa hai nước và sự trao đổi “đi thăm người thân” do cố lãnh đạo Hồ Diệu Bang từng đưa ra, không đưa ra thông cáo, cũng không có họp báo, đã để lại không gian làm ấm quan hệ song phương.

Bầu không khí thoải mái trong cuộc gặp dường như cũng cho thấy quan hệ Trung – Triều đã tìm lại được nền tảng của nhận thức chung, tức là chủ trương kiên trì phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên mà phương tiện truyền thông chính thức Trung Quốc đưa tin và Kim Jong-un thừa nhận đây là di nguyện của ông cha. Quay lại phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên có khả năng mới là nguyên nhân chính khiến Kim Jong-un thực hiện chuyến thăm lần này: Không phải sự yết kiến của nước được bảo hộ với nước bá chủ, mà là với nỗ lực ngoại giao chủ động, linh hoạt, Kim Jong-un đã phá vỡ được sự cô lập về ngoại giao.

Đây có lẽ là xuất phát điểm cơ bản để hiểu về cuộc gặp giữa Kim Jong-un và Tập Cận Bình lần này, cũng là chìa khóa để nhận định chính sách của Trung Quốc đối với Triều Tiên trong 6 năm qua thậm chí là lâu hơn thành công hay thất bại: Sau khi hoàn thành cơ bản chương trình thử nghiệm hạt nghân và có đủ các con bài, Kim Jong-un thực hiện ngoại giao song phương tích cực, không những đã thực hiện được mục tiêu đối thoại trực tiếp Triều – Mỹ mà Triều Tiên lâu nay luôn cố gắng tìm kiếm, mà còn làm tan rã mô hình ngoại giao đa phương do Trung Quốc lập ra với Đàm phán 6 bên làm trung tâm, có thể nói là đã phá vỡ sự ràng buộc và giành được sự chủ động. Đương nhiên, sự ràng buộc này cũng mất rất nhiều công sức, trên thực tế nó đã che chở cho sự nghiệp phát triển hạt nhân của Triều Tiên, giành lấy thời gian cho nước này, sau đó từ bỏ những thứ mà mình cảm thấy không còn giá trị.

Tuy nhiên, chuyến thăm chủ động với tư thế khiêm tốn của Kim Jong-un, trong đó ngày thứ 2 sau khi đến Bắc Kinh, Kim Jong-un đến tham quan triển lãm trưng bày những thành quả của Viện Khoa học Trung Quốc, xem những tiến triển vật lý hạt nhân, kính viễn vọng vô tuyến khẩu độ 500m và công nghệ tương tác thực tế (VR) của Trung Quốc, chắc chắn sẽ gây cho bên ngoài ảo giác Trung Quốc đang phát huy ảnh hưởng tích cực trong thời kỳ then chốt như lời của học giả người Mỹ Gordon G. Chang, đồng thời không bị gạt sang bên lề, nếu Trung Quốc không tích cực điều chỉnh, e rằng sẽ khó có thể đối phó với những thách thức của tình hình hoàn toàn mới ở Đông Bắc Á trong thời gian tới. Ở đây có hai vấn đề cần phải nghiên cứu:

Một là chương trình hạt nhân của Triều Tiên, trong đó có chương trình tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM), mặc dù vẫn còn cần thời gian để đưa vào thực tế chiến đấu nhưng điều không thể phủ nhận là những tiến triển mang tính đột phá mà Triều Tiên đạt được trong 6 năm qua có liên quan đến điểm mù chiến lược sau khi trung tâm chiến lược của Trung Quốc chuyển dịch sang phía Nam tạo ra, điều này cũng có nghĩa là sự mơ hồ chiến lược của Trung Quốc đối với Triều Tiên trong thời gian dài qua trên thực tế đã dung túng cho sự phát triển hạt nhân của Triều Tiên. Một mặt kể từ cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan từ giữa những năm 1990 đến nay, trung tâm chiến lược của Trung Quốc bắt đầu chuyển dịch sang phía Nam, mối quan tâm chủ yếu đặt ở Đông Hải (biển Hoa Đông), eo biển Đài Loan, biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Trong 20 năm qua, Trung Quốc lần lượt xảy ra đối đầu căng thẳng với Nhật Bản, nhiều nước xung quanh Nam Hải như Philippines cũng như Đài Loan xoay quanh các vấn đề như khai thác dầu khí ở Đông Hải, chủ quyền quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, các đảo/đá ở Nam Hải cũng như sự thay đổi chính quyền và khuynh hướng độc lập của Đài Loan. 6 năm qua, cùng với việc Trung Quốc chủ động đưa ra và thúc đẩy chiến lược “Vành đai và Con đường”, đồng thời nhanh chóng xây dựng chiến trường ở các đảo và đá thuộc Nam Hải, cộng đồng quốc tế bắt đầu lo ngại toàn bộ Tây Thái Bình Dương đối diện với rủi ro “Phần Lan hóa”, nên mới đưa ra các biện pháp đối phó như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)…, cho đến cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ có thể sắp bùng phát.

(còn tiếp) 

Nguồn: bbcchinese.com – 29/03/2018

TLTKĐB – 11/04/2018

Cuộc chiến chống tham nhũng ở Việt Nam đạt “bước tiến tốt, tích cực”


Đài BBC dẫn lời Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu từ Viện ISEA (Singapore), cho rằng công cuộc chống tham nhũng và tội phạm trong nội bộ Đảng, nhà nước và chính quyền của Việt Nam đang có “bước tiến tốt, tích cực”.

Việc chống tham nhũng, lãng phí, sai phạm trong quản lý mà ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đang thực hiện vài năm qua đã đạt được những “kết quả cụ thể”. Đồng thời, việc tái cơ cấu, sắp xếp bộ máy chính quyền đã và đang được điều chỉnh, với việc Bộ Công an “đi đầu” trong việc tái sắp xếp bộ máy.

Bình luận về vụ án đang khởi tố, điều tra với nhiều cán bộ, sĩ quan trung và cao cấp của ngành Công an Việt Nam được cho là có liên quan, Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp nói: “Đây là vụ án được điều tra từ lâu, ít nhất là 11 tháng, với sự phối kết hợp của công an nhiều địa phương. Ngoài việc phát hiện mức độ thiệt hại lớn về tài chính, tính nghiêm trọng của vụ việc ở chỗ chính những cảnh sát chống tội phạm đó lại dính vào loại tội phạm mà họ chống. Gần 100 người, trong đó có 2 cấp tướng, đặc biệt là Phan Văn Vĩnh, cựu Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, anh hùng lực lượng vũ trang đã bị bắt tạm giam và khởi tố. Đây là bước tiến tích cực của cả một quá trình chống tham nhũng và chống loại tội phạm khác”.

Bình luận về quy mô của đợt điều tra, truy tố này, Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp nói: “Đây là vụ án rất cụ thể, kèm theo mấy vụ liên quan đã bị khởi tố như vụ Vũ “nhôm” và có thể mở rộng tiếp. Bộ Công an đi đầu trong việc sắp xếp lại bộ máy, siết chặt lại kỷ luật, kỷ cương để làm tăng tính hiệu lực, hiệu quả, đồng thời làm tăng quyền lực, cũng như niềm tin của các giới đối với công tác của ngành công an”.

Nhận định về cuộ chiến chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam thời gian qua, Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp nêu rõ: “Quá trình chống tham nhũng, lãng phí, chống những sai lầm trong công tác quản lý đã và đang làm trong mấy năm nay đã thu được một số kết quả rất cụ thể. Cuộc họp ngày 10/4 của Ban Bí thư để xem lại việc thực hiện Nghị quyết 04 của Bộ Chính trị về việc chỉnh đốn Đảng là một dịp để lãnh đạo Đảng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam điểm lại, có những chỉ thị và những nhận thức tiếp tục.

Tôi cũng đọc bài báo nói nếu ai sợ hoặc nhụt chí thì đứng sang một bên để người khác làm. Cũng có thể là có những người đang suy nghĩ khác về công cuộc chống tham nhũng, lãng phí hay sai lầm trong quản lý. Hoàn toàn có thể có”.

Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp cũng đặt ra một câu hỏi về chủ trương của ban lãnh đạo Đảng, nhà nước Việt Nam trong công cuộc chống tham nhũng và chỉnh đốn Đảng: “Theo quy định mới, người chết rồi vẫn xét kỷ luật. Theo Bộ Luật Hình sự, những người đã chết, trước khi chết họ bị xác định là có phạm lỗi, đã bị truy tố, khởi tố, cũng đành phải đình chỉ vụ án vì họ chết rồi, không thể đem họ ra tòa được. Bây giờ chuyện này là chuyện của Đảng, không biết xử lý thế để làm gì, có thể nhằm răn đe hay nhắc nhở những người đang sống”.

Chống tham nhũng cần công bằng và khách quan

Theo đài BBC, nhận định về chiến dịch chống tham nhũng, Tiến sĩ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS), bình luận: “Tôi nghĩ nếu có chống thì phải chống từ từ chứ không thể cùng một lúc dàn mặt trận ra quá rộng. Có thể đó là một kế hoạch chưa triển khai. Trong thời gian qua, chúng ta có quá nhiều bất ngờ về những vụ việc, về những người bị đưa ra xử lý mà trước đó không ai nghĩ sẽ bị xử lý.

Vậy liệu nhà nước Việt Nam, trong đó có Đảng Cộng sản, có nên mở rộng, trao quyền cho người dân để họ kiểm soát quyền lực của Đảng, giám sát nhà nước và chống tham nhũng để được hiệu quả hơn? Về vấn đề này, luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Quốc hội Viẹt Nam cho rằng: “Đó là điều lý tưởng… Cuộc đấu tranh chống tham nhũng là cuộc đấu tranh một mất một còn. Cuộc đấu tranh này rõ ràng không có điểm dừng bởi vì dừng lại thì nhiều người hiểu lầm.

Cho nên bây giờ, quyết định 1000 cán bộ cao cấp phải kê khai tài sản và công khai tài sản. Và trong công khai đó, có điều quy định là phải truy nguồn gốc tài sản. Đó là điều người dân trông đợi có làm hay không. Vì vậy, luật sửa đổi Phòng chống tham nhũng đặt vấn đề đó là quan trọng. Những nếu làm cái đó thì rõ ràng là một cuộc sinh tử. Nếu Đảng đưa ra mà không làm thì làm sao người dân tìm được?”…

Tiến sĩ Khuất Thu Hồng nhận định: “Tôi tin rằng cuộc đấu tranh chống tham nhũng chưa dừng lại. Việc những người tham nhũng bị đưa ra xử lý trong thời gian qua nhóm lên niềm tin của người dân rằng những điều sai trái phải được xử lý và mong đợi sự trong sạch của Đảng sẽ giúp cho đất nước phát triển hơn vì Đảng là đảng cầm quyền…

Vấn đề tiếp theo nữa là việc thu hồi, xử lý khoản tiền thu được từ những vụ tham nhũng nghìn tỉ như mấy vụ đánh bạc vừa rồi hoặc xử lý những vụ tham nhũng lớn hơn trước đây. Cần có sự minh bạch để người dân thấy chống tham nhũng mang lại kết quả cụ thể, những khoản tiền thu lại đó được dùng vào việc xây dựng cầu bè hay trả nợ?”.

Nguồn: TKNB – 17/04/2018

Tại sao Tập Cận Bình muốn phục hồi Khổng Tử? – Phần cuối


Nguyễn Hải Hoành

….

Phản ứng của dư luận

Người Trung Quốc có truyền thống “sùng thánh”, bởi vậy khi CT Tập muốn phục hồi Khổng Tử thì truyền thông chính thống cả nước liền nhiệt liệt hưởng ứng. Cơn sốt Khổng Tử nóng trở lại. Cán bộ Đảng và chính quyền thi nhau phát biểu ý kiến giải thích và chứng minh quan điểm của CT Tập là hợp lý nhất. Các đài truyền hình làm chương trình Giảng đường trăm nhà để các học giả giảng giải đạo Khổng. Bà Vu Đan (tháng 11/2012 bị sinh viên ĐH Bắc Kinh la hét phải rời diễn đàn) ngày 8/12/2015 lại ra mắt công chúng để quảng bá Khổng Tử. Chính phủ bỏ tiền tỷ đẩy mạnh xây dựng các Học viện Khổng Tử trên toàn cầu…

Giới học giả hăng hái nói về các ưu điểm của Nho giáo. Dương Triều Minh, Giám đốc Viện Nghiên cứu Khổng Tử, nói: 2000 năm qua trên thế giới chưa ai được quan tâm và bị đánh giá mâu thuẫn nhiều như Khổng Tử. Thời cận đại, người Trung Quốc cho rằng muốn thoát khổ thì phải vứt bỏ văn hóa truyền thống với hạt nhân là Nho giáo. Mới đây, sau 30 năm nghiên cứu, giới học giả Trung Quốc phát hiện Nho giáo ban đầu (thời Tiên Tần) có “sắc thái tính đạo đức” rõ rệt, còn Nho giáo sau đời Hán thì có “sắc thái quyền uy” rõ rệt. Nho giáo ban đầu với đại diện là Khổng Tử nhấn mạnh “chính danh”, chủ trương “Tu dĩ an nhân” và “nhân chính”, “đức trị” – là các giá trị quan cốt lõi của Khổng Tử thật. Nho giáo sau đời Hán thì thích ứng nhu cầu chế độ chuyên chế phong kiến, phiến diện nhấn mạnh quân quyền, phụ quyền, phu quyền. Nho giáo suy thoái dần, có đặc điểm “thiếu ý thức bình đẳng và ý tưởng tự do”, không thích hợp với xã hội hiện đại. Đó là giá trị quan của Khổng Tử giả. Nay mọi người nên nhận thức được tinh thần chân chính của Nho giáo nguyên thủy, nên phục hồi các giá trị quan của Khổng Tử thật.

GS Vương Kiệt ở Trường Đảng Trung ương nhấn mạnh: kể từ phong trào Dương Vụ đời Thanh, cách mạng tư sản của Tôn Trung Sơn cho tới việc ĐCSTQ thời kỳ đầu đi theo chủ nghĩa Mác, Trung Quốc đã du nhập không ít học thuyết của phương Tây nhưng thực tế chứng minh đều không thành công. ĐCSTQ dần dần nhận ra giá trị to lớn của văn hóa truyền thống Trung Quốc, hiểu rằng chỉ có kiên trì chủ nghĩa Mác, kế thừa có phê phán nền văn hóa truyền thống Trung Quốc, kiên trì nguyên tắc “cổ vi kim dụng”, “dương vi trung dụng” thì mới có thể vứt bỏ cái vỏ bọc cũ rích của truyền thống Trung Quốc, kế thừa nội hàm tinh thần và linh hồn sống động của văn hóa truyền thống ưu tú, qua đó thực hiện sự phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa. CT Tập đã tổng kết sơ bộ tác dụng của việc kế thừa Văn hóa truyền thống ưu tú của Trung Quốc đối với sự phục hưng đó, thống nhất được hai mặt phát triển cá nhân và quốc gia giàu mạnh. Sức mạnh cứng rất quan trọng, nhưng sức mạnh mềm, như văn hóa, đạo đức, tín ngưỡng, tinh thần, giá trị quan… cũng rất quan trọng.

GS Diêu Trung Thu nói: Việc kỷ niệm Khổng Tử với sự có mặt của lãnh đạo tối cao cho thấy Trung Quốc phải dựa vào tư tưởng Khổng Tử để đạt được sự đồng thuận. Tư tưởng này không giải quyết được mọi vấn đề nhưng có lợi cho việc giải quyết vấn đề cơ bản nhất là lòng người, là giá trị quan của quốc dân, là cơ sở tinh thần của đất nước. Ở tầng nấc đời sống cá nhân, Khổng Tử đề xuất phải “tu thân”, ở tầng nấc quản trị nhà nước, Khổng Tử đề xuất phải “Chính giả chính dã政者正也” (người làm chính trị phải chính trực công bằng), rất coi trọng xã hội tự trị. Ý tưởng Giấc mơ Trung Quốc thể hiện hình ảnh của tư tưởng Nho giáo. Hội nghị TƯ 3 khóa 18 ĐCSTQ nêu ra “đẩy mạnh hiện đại hóa hệ thống trị lý nhà nước và năng lực trị lý”, trong đó trị lý (cai trị, quản lý) là một khái niệm kiểu Nho giáo. Nho giáo coi trọng việc đào tạo người lãnh đạo xã hội, tức đào tạo sĩ quân tử 士君子.

Sử gia Chương Lập Phàm cho rằng phục hưng Nho giáo bắt nguồn từ một vấn đề vô cùng quan trọng là xã hội Trung Quốc hiện nay chịu ảnh hưởng nặng của tư tưởng chủ nghĩa vật chất, cần phải lấp đầy khoảng trống về ý thức hệ.

Triết gia Lê Minh nói toàn bộ văn nhân Khổng-Nho đều là lũ ngốc; sau hơn 2000 năm ngụp đầu trong cái hũ tương văn hóa Khổng-Nho người Trung Quốc đã đánh mất toàn bộ cái “tôi”, vì thế không thể xây dựng được triết học của Trung Quốc; tội ác hơn 2000 năm qua đều tập trung ở một chữ Lễ, tức chế độ mọi người mãi mãi không bình đẳng (Lễ chế).

Nhà Trung Quốc học người Đức Michael Schuman nói ĐCSTQ cần tới sự ủng hộ của Nho giáo, nhưng đề cao Nho giáo cũng có rủi ro, vì Khổng Tử bảo vệ chế độ đẳng cấp xã hội, chủ trương xã hội hài hòa và phản đối nổi loạn nhưng cũng yêu cầu chính quyền phải công bằng chính trực, minh bạch, suốt đời Khổng Tử phê phán quyền lực.

Báo Le Figaro (Pháp) phân tích: với việc khôi phục Khổng Tử, Nho giáo sẽ trở thành một công cụ hữu ích để Tập Cận Bình kiểm soát chặt xã hội và bóp nghẹt nguyện vọng dân chủ. Nhưng có thể lợi bất cập hại: chưa chắc sẽ làm nhụt được nguyện vọng dân chủ của dân mà ngược lại CT Tập có thể sẽ lấy làm tiếc là đã khôi phục đức Khổng, nếu người dân đòi hỏi ĐCSTQ phải trung thực và làm gương như Khổng Tử đã dạy.

Roderick MacFarquhar, GS ĐH Harvard và là nhà Trung Quốc học nổi tiếng nhận xét: Từ thời Mao đến nay, chưa một lãnh đạo Trung Quốc nào đẩy mạnh một chương trình trọn vẹn phục hồi các giá trị cũ và sức mạnh thô bạo của ĐCSTQ như Tập Cận Bình đang làm.

Rõ ràng việc CT Tập cố phục hồi Nho giáo dưới chiêu bài phục hồi Văn hóa truyền thống cho thấy ông đang muốn sử dụng Nho giáo để siết chặt quyền lực của mình, trấn áp mọi sự phản kháng từ những người đòi dân chủ, các phái đối lập, làn sóng phản kháng này đang dâng lên.

Đầu năm 2016, Trung Quốc ra luật mới về xuất bản. Sau đó blog của Nhiệm Chí Cường, một tiếng nói đòi dân chủ được gọi là Nhiệm đại pháo, bị cấm. Mới đây La Vũ, con của cố Đại tướng La Thụy Khanh viết thư cho bạn cũ là Tập Cận Bình, yêu cầu chấm dứt chế độ độc tài, chuyển Trung Quốc thành quốc gia dân chủ. Trước đó La Vũ còn công khai đòi giải tán ĐCSTQ.

Vài nhận xét bước đầu

Có thể thấy chiến dịch phục hồi Khổng Tử của CT Tập chưa đạt hiệu quả mong muốn. Tuy bộ máy Đảng và chính quyền ra sức hưởng ứng nhưng dân vẫn thờ ơ. Nguyên nhân sâu xa là do họ đã quá chán ngán với học thuyết của Khổng Tử và văn hóa truyền thống Trung Quốc. Dù có được tô son điểm phấn thế nào, Nho giáo vẫn bị coi là hệ tư tưởng của chế độ phong kiến độc tài chuyên chế và việc CT Tập viện đến Nho giáo để củng cố sự lãnh đạo của ĐCSTQ chỉ có thể gây phản cảm. Dư luận nước ngoài cho rằng việc lợi dụng chiến dịch chống tham nhũng để thanh trừng một loạt cán bộ tay chân của lãnh đạo tiền nhiệm đã làm tê liệt bộ máy ĐCSTQ, chiến dịch đàn áp làn sóng đòi dân chủ đã làm tăng sự bất đồng trong Đảng.

Trung Quốc hiện đã lớn mạnh nhiều về kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự, sức mạnh cứng rất lớn, nhưng sức mạnh mềm thì vẫn còn quá yếu. Hơn 100 năm nay Khổng Tử bị chính người Trung Quốc vùi dập tới mức khó có thể sống lại. Văn hóa truyền thống Trung Quốc chẳng có gì để quá tự hào. Mao Trạch Đông nhận định văn hóa truyền thống Trung Quốc có tính chất phong kiến và phản động, cần loại bỏ. Suốt mấy chục năm qua, giới học giả Trung Quốc vẫn chưa phản bác được nhận định của bà Thatcher “100 năm nữa người Trung Quốc cũng không có tư tưởng mới nào”. Một nhà văn Trung Quốc nhận xét câu này điểm trúng huyệt của Trung Quốc, một triết gia Trung Quốc cảm ơn bà Thatcher đã nói như vậy. Lưu Á Châu nói Trung Quốc chưa hề có nhà tư tưởng. Cũng thế, giới nhà văn Trung Quốc chưa phản bác được ý kiến “Văn học đương đại Trung Quốc là rác rưởi” do một nhà Hán học người Đức nêu ra năm 2006.

Năm 2013, nhà văn nổi tiếng Trương Hiền Lượng nói hiện nay người Trung Quốc thiếu nơi quy y (ý nói thiếu niềm tin): chủ nghĩa cộng sản chỉ là lý tưởng chứ không phải là niềm tin; Trung Quốc  cần xây dựng tín ngưỡng và giá trị quan của mình, nếu không thì chẳng thể trở thành nước lớn, điều mà CT Tập mong ước hơn ai hết.

Xã hội Trung Quốc đang khủng hoảng đức tin, đời sống tinh thần và tâm linh trống rỗng, cần chấn chỉnh. Nhưng dựng dậy cái thây ma Khổng Tử sẽ chẳng giúp gì cho việc ấy, ngược lại có lẽ Tập Cận Bình sẽ chỉ càng ngày càng lúng túng hơn./.