Tầm quan trọng của giải quyết tranh chấp Biển Đông đối với hòa bình thế giới


Rajaram Panda

Biển Đông đã nổi lên như một điểm nóng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hầu như toàn bộ không gian Biển Đông và thậm chí đã bác bỏ phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế ở La Hay (Hà Lan) vào tháng 7/2016, trong đó khẳng định các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh không có bất cứ cơ sở pháp lý lịch sử nào. Trung Quốc tuyên bố Biển Đông là một trong những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, cùng với Tây Tạng và Đài Loan. Trong những năm qua, Trung Quốc gia tăng các hoạt động như xây dựng đảo, tạo ra khu vực đánh bắt cá mới ở Biển Đông nhằm kiểm soát không gian đại dương này và loại bỏ các bên yêu sách khác.

Trung Quốc đã tức giận khi Tòa Trọng tài quốc tế bác bỏ hầu hết các tuyên bố chủ quyền của nước này ở Biển Đông. Tuy nhiên, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, người nhậm chức một tháng trước khi có phán quyết, đã hạ thấp phán quyết của tòa trọng tài nhằm cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Bất chấp những nỗ lực của ông Duterte để xoa dịu mối quan hệ với Bắc Kinh, Trung Quốc đã phản đối khi các nhà lãnh đạo quân đội Philippines viếng thăm một hòn đảo đang tranh chấp ở Biển Đông. Chính phủ Philippines cho rằng họ sở hữu lãnh thổ nơi mà quân đội và người dân Philippines đã sống trong nhiều thập kỷ.

Để đạt được các mục tiêu của mình, Trung Quốc đã cố gắng tạo ra sự mất đoàn kết giữa các quốc gia ASEAN. Mặt khác, Trung Quốc đã sử dụng ngoại giao kinh tế để có được một số quốc gia thành viên nhất định của ASEAN vào nhóm của Trung Quốc. Chẳng hạn như, Trung Quốc đã tận dụng tối đa lợi thế của Philippines khi Tổng thống Duterte lên nắm quyền và cố gắng tiếp cận Bắc Kinh. Theo một báo cáo gần đây, Trung Quốc thậm chí đã lắp đặt các thiết bị phóng tên lửa trên Đá Chữ Thập ở Biển Đông, mặc dù Bắc Kinh tuyên bố các cơ sở này sẽ bị giới hạn trong các yêu cầu quốc phòng.

Hành động quân sự hóa của Trung Quốc

Giải quyết các tranh chấp về yêu sách chủ quyền lãnh thổ của một số quốc gia đối với Biển Đông là vô cùng quan trọng vì lợi ích của việc đảm bảo hòa bình và ổn định ở khu vực. Nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục đơn phương quân sự hóa vùng lãnh thổ đang tranh chấp mà không để ý đến sự nhạy cảm của các quốc gia nhỏ hơn có những yêu sách chính đáng của họ. Có bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã hoàn thành gần hết các công trình nhằm mục đích trang bị các hệ thống tên lửa đất đối không trên 3 tiền đồn lớn nhất của mình trong các khu vực tranh chấp ở Biển Đông như là một phần của mô hình quân sự hóa ổn định. Các cấu trúc như vậy đã xuất hiện ở các đảo đá nhân tạo được nạo vét bởi Trung Quốc như Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn và Đá Xu Bi và nơi đây cũng đã có các sân bay quân sự. Trung Quốc bắt đầu xây dựng những cấu trúc này vào tháng 9/2016 và đến nay đã xây dựng 8 công trình trên 3 tiền đồn của mình.

Các hành động của Trung Quốc có phải là để đối phó với những nỗ lực của Mỹ trong việc kiềm chế các hành động quyết đoán của Bắc Kinh ở Biển Đông hay không là điều không quan trọng. Vấn đề đáng quan tâm hơn là các hành động trên là một phần chiến lược quân sự hóa có hệ thống được xác định rõ ràng bởi Trung Quốc để tăng cường vị thế vững chắc của nó trong không gian đại dương này. Trung Quốc đã đưa tên lửa HQ-9 SAM với tầm bắt lên đến 200km tới tiền đồn trên quần đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Việc triển khai các tên lửa là nhằm mở rộng khả năng phòng thủ của Trung Quốc trong cái gọi là tuyên bố “đường 9 đoạn”. Năm 2015, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cam kết không “quân sự hóa” các đảo, nhưng Bắc Kinh đã đi trước một bước để bổ sung các hệ thống tên lửa phòng không trên các hòn đảo nhân tạo. Bắc Kinh tuyên bố những biện pháp này là phù hợp với yêu cầu an ninh quốc gia và là quyền hợp pháp của một quốc gia có chủ quyền.

Như dự đoán, các hoạt động của Trung Quốc gây ra sự báo động ở các thủ đô khác ở châu Á, những nước này có tuyên bố tương tự trên các vùng lãnh thổ đang tranh chấp. Trong khi không có bên tuyên bố yêu sách nào ở trong tình trạng đối đầu quân sự của Trung Quốc, họ lại nhìn Washington và các bên khác không liên quan trực tiếp đến tranh chấp, nhưng tôn trọng các nguyên tắc toàn cầu để đối phó với cách tiếp cận hung hăng của Bắc Kinh. Trong bất kỳ trường hợp nào, không thể có thay thế nào tốt hơn bằng việc theo đuổi các cuộc đối thoại và được coi là lựa chọn duy nhất để giải quyết vấn đề. Cho dù vậy, sự sẵn sàng của quân đội để đối đầu với Trung Quốc cũng không thể bỏ qua Một Bộ quy tắc ứng xử (COC) phải là chìa khóa để giải quyết tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế.

Mỹ phản ứng bằng việc tiến hành các hoạt động quân sự của mình để gửi thông điệp rõ ràng tới Trung Quốc. Mỹ đã cử nhóm tàu chiến gồm tàu sân bay lớp Nimitz USS Carl Vinson tới Biển Đông tham gia “hoạt động thường lệ” trên biển đầu tiên dưới thời chính quyền Tổng thống D. Trump. Mặc dù không đề cập đến hoạt động tuần tra “tự do hàng hải” ở Biển Đông nhưng việc cử các tàu chiến tới khu vực là minh chứng cho ý định của Mỹ nhằm hạn chế các tuyên bố chủ quyền biển quá mức của Bắc Kinh. Bắc Kinh cho thấy động thái của Mỹ là mối đe dọa quân sự lớn hơn đối với hòa bình trên biển. Trung Quốc nhận thức việc triển khai của Mỹ như một mối đe dọa quân sự trực tiếp.

Trong khi Washington nhận thức được rằng cần phải thể hiện cam kết của mình với các đồng minh trong những tình huống nguy kịch. Bắc Kinh luôn hoang tưởng với sự hiện của quân sự của Mỹ và cho rằng các hành động đó chỉ làm gia tăng căng thẳng khu vực. Chính quyền của Tổng thống Trump dường như không thể nới lỏng sự quản lý của nó khi Trung Quốc tiếp tục xây dựng các khu phức hợp quân sự lớn ở giữa Biển Đông. Đáng chú ý, trong động thái mới nhất hồi tháng 5 vừa qua, 2 máy bay chiến đấu J-10 của Trung Quốc đã ngăn chặn hoạt động của một máy bay P-3 của hải quân Mỹ trong khu vực không phận quốc tế ở Biển Đông. Tình huống tương tự đã xảy ra với một tàu khu trục của Mỹ trong hoạt động tự do hàng hải đầu tiên dưới thời Tổng thống D. Trump ở khu vực Biển Đông, gần đảo nhân tạo được Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Lập trường của Việt Nam

Việt Nam không muốn chiến tranh với Trung Quốc và ủng hộ một giải pháp hòa bình cho giải quyết tranh chấp Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhưng sẽ không ngần ngại phản công nếu Bắc Kinh áp dụng các biện pháp đơn phương nhằm chống lại các lợi ích an ninh quốc gia của Việt Nam. Trong lịch sử, Việt Nam đã đứng vững và đánh bại người Pháp à sau đó là Mỹ. Nhưng Việt Nam không muốn bị ảnh hưởng bởi cái bóng của lịch sử vì họ muốn hòa bình, đó là lý do tại sao chính quyền Obama quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí cho Việt Nam đã được thực hiện trong một thời gian dài. Việt Nam phản đối khi Bắc Kinh tìm cách thay đổi hiện trạng ở Biển Đông.

Thật không may, không có sáng kiến của bất kỳ nước láng giềng nào của Trung Quốc cho đến nay đã thành công trong việc thuyết phục Bắc Kinh thay đổi vấn đề. Điều này khiến Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tăng cường năng lực quốc phòng, thông qua việc thúc đẩy quan hệ quốc phòng với các nước thân thiện như Nhật Bản và Ấn Độ. Trong khi tìm kiếm một giải pháp cho các tranh chấp Biển Đông theo luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, Việt Nam gắn liền chính sách xây dựng liên minh với các nước nhưng không phải để chống lại bất kỳ quốc gia nào. Việt Nam đã phải chịu đựng rất nhiều trong cuộc Chiến tranh Lạnh và không muốn lặp lại một điều tương tự. Đó là điều dễ hiểu.

Sự cần thiết của COC

Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có ý nghĩa chiến lược rất lớn đối với nhiều quốc gia. Bên cạnh những khu vực đánh bắt cá phong phú và tiềm năng giàu có về dầu, khí đốt và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác dưới đáy đại dương, ước tính khoảng 5 nghìn tỷ USD thương mại toàn cầu hàng năm đi qua Biển Đông. Các vấn đề liên quan đến tranh chấp gồm tự do và an ninh hàng hải, các quy tắc của luật pháp, các tiêu chuẩn toàn cầu về thương mại quốc tế và COC. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đã đồng ý một dự thảo khung về COC nhằm tránh xung đột trong các khu vực tranh chấp Biển Đông. 15 năm trước, Trung Quốc và ASEAN đã cam kết soạn thảo COC, nhưng không thể có kết quả vì những khác biệt.

Tuy nhiên, sau khi dự thảo COC được thông qua có những mối quan ngại trong khối ASEAN về việc liệu Trung Quốc có thành thật hay liệu ASEAN có đủ đòn bẩy để buộc Bắc Kinh cam kết với loạt quy tắc hay không. Dự kiến, khuôn khổ dự thảo sẽ được đệ trình lên cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Manila vào tháng 8 tới để xem xét. Philippines tổ chức các cuộc họp của ASEAN vào năm nay và bắt đầu tham vấn lần đầu tiên với Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Philippines đã chọn một lập trường chủ động sau khi bắt đầu quan hệ nồng ấm với Bắc Kinh. Tuy nhiên, các nhà phân tích bày tỏ sự thất vọng khi cho rằng các quốc gia ASEAN đã khá mềm yếu đối với các hoạt động hiếu chiến của Trung Quốc trên biển. Họ lo ngại rằng Bắc Kinh có thể sẽ đẩy mạnh cuộc tấn công vào khu vực và điều này có thể làm suy yếu trung tâm của ASEAN. Việc không đưa ra được tuyên bố chung trong cuộc họp giữa các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc tại Côn Minh tháng 6/2016 được trích dân như là kết quả của một áp lực mà Trung Quốc áp dụng đối với các nhà lãnh đạo ASEAN.

Kể từ thời điểm La Hay ra phán quyết, nhóm ASEAN đã khôi phục lại các cuộc đối thoại và tham vấn với Trung Quốc với sự tự tin, nhưng không phải là “mở ra trang mới” về giải quyết vấn đề Biển Đông. Việc ngư dân Philippines được tiếp cận bãi cạn Scarborough sau nhiều năm bị các tàu Trung Quốc ngăn chặn phần nào đã làm giảm căng thẳng quan hệ song phương. Nhưng sự thiếu tin tưởng đã không biến mất. Phải mất 15 năm để đạt được một dự thảo, tuy nhiên, COC vẫn chưa được hoàn thiện, dẫn đến sự mở rộng những khác biệt khi Trung Quốc cứng rắn hơn. Trong khi đó, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đóng vai trò là một điểm tham chiếu khi xuất hiện vấn đề và căng thẳng và là cơ sở để đàm phán một COC chính thức.

Philippines sẽ tổ chức cuộc họp cấp cao lãnh đạo lần thứ hai vào tháng 11 tới cùng với các đối tác đối thoại ASEAN như Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Nga và Mỹ. Nó được kỳ vọng sẽ đạt được sự nhất trí và tìm thấy hướng mới cho giải quyết vấn đề Biển Đông. Mặc dù bản dự thảo COC đến nay vẫn được giữ kín, nhưng COC sẽ không hoàn chỉnh nếu không có cơ chế giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông, thiếu tính hợp pháp và cam kết của Trung Quốc về phi quân sự hóa các đảo tranh chấp. COC chính thức và có tính ràng buộc nên được thảo luận và hoàn tất khi Manila tổ chức cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN vào tháng 8 tới.

Nguồn: Eurasia Review (Ấn Độ) – 31/5/2017

TKNB – 02/06/2017

Phá tan Liên Xô – Phần XI


Tranh luận. Vài người tranh luận về con đường phát triển tiếp theo của đất nước. Với ý kiến cho rằng thị trường tự do, cạnh tranh lành mạnh – đó là quay lại thế kỷ trước, lập tức có câu trả lời : « Ừ thì sao, chúng ta sẵn sàng. Chúng ta còn chưa thể vươn lên hàng đầu được. Nếu cần chúng ta sẽ quay lại thế kỷ 18, nhưng sau 100 hay 150 năm chúng ta từ tình trạng chệch hướng hiện nay sẽ trở lại con đường đúng ». Nhà hùng biện này là một chuyên gia chuyên cần và có khả năng. Nhưng anh ta lại tiết lộ với người khác về các mặt tiêu cực trong đời sống của ông sếp trực tiếp, và thế là đời anh ta nhiều cái không được ổn. Khi nói về « sẵn sàng », ánh mắt anh ta cháy lên. Mọi nỗi khổ đều do chế độ. Anh ta như mới hồi sinh.

Gặp gỡ. « Chào ! Tôi thấy ai thế này. Anh vẫn chưa sang phương Tây à ? » – « Tôi không định đi”. – “Có thể làm gì được ở cái nước này. Còn anh với trình độ của mình thì người ta nhận ngay”. Đó là cháu của một trong những đồng chí của Lenin nói. Anh ta làm việc nhiều, đã 35 năm nghiên cứu tác phẩm của các lãnh tụ, nhưng là nhà khoa học chẳng có thành quả gì. Cuộc sống chẳng sung sướng gì. Lỗi lại là do chế độ.

Viếng thăm. Một người trong áo may ô lưới ngồi trước tivi. Người ta đang chiếu phim tài liệu từ những năm 30 – người đi trên đường phố, biểu tình, trên mặt họ sáng niềm vui. Anh ta chỉ vào màn hình, thậm chí không nói được lời nào, cười phá lên trước những thằng ngốc của Stalin.

Tìm lại chính mình. Một con người sáng tạo, sẵn sàng kiếm tiền. Vào thời Xô Viết đã khôn khéo xin mượn thiết bị để dùng cho việc riêng. Khi bị điều tra đã né sang một bên và đẩy ông sếp trực tiếp vào. Giờ đã tìm được chỗ trong cuộc sống mới, đứng đầu tổ chức những người dân chủ trong viện.

Xã hội sinh thái học. Cuộc gặp với đoàn đại biểu Mỹ. Có vài chiếc bàn. Sau mỗi bàn có một người Mỹ, nói được tiếng Nga. Thành viên phong trào sinh thái dường như xưng tội trước đại diện của thế giới văn minh. Toàn những lời về thảm họa sinh thái đang lan tràn ở Liên Xô. Trên nét mặt của những người Mỹ thể hiện sự khinh miệt và buồn chán.

Trong một phần dân chúng thành thị, thái độ đối với kẻ thù của « các nhà dân chủ » đã đi tới mức căm ghét cùng cực. Sau sự kiện Ủy ban Nhà nước về tình trạng khẩn cấp, phổ biến câu nói « đùa » : « tôi bắn phát đạn vào Pugo ». Còn trong sự kiện 1993, khi xe tăng bắn vào cửa sổ Tòa nhà Quốc hội, trong đám đông người tuổi từ 30 – 35 đứng trước Nhà Trắng có tiếng nói : « Chúng bị nướng khá kỹ ». Trong khi đó cũng có một số đông người sẵn sàng đấu tranh bảo vệ chế độ Xô Viết. Nhưng họ đã bị nhóm Gorbachev vô hiệu hóa.

Chiến dịch « Bầu cử »

Bước ngoặt xảy ra trong ý thức xã hội cần phải được củng cố. Muốn làm vậy phải thay đổi chính quyền ở tất cả các cấp. Trong điều kiện toàn dân mất phương hướng và chuyển sang một đức tin mới, có thể sử dụng các cuộc bầu cử. Trước đây, các đại biểu nhân dân được bầu trên cơ sở không có lựa chọn. Mặc dù có đại diện của đủ các nhóm xã hội, của mọi sắc tộc, có cả phụ nữ và thanh niên, nó không chỉ xưa cũ, mà còn tiêu cực, gây sự chống đối nội tâm ở phần đông dân chúng.

Mùa xuân năm 1988, lúc này sau vụ Nina Andreeva nhóm Gorbachev đã thống trị hoàn toàn BCH TW, chỉ trong một tháng đã đưa ra luật bầu cử mới, dù trên thực tế chưa được thảo luận trong quần chúng. Khi bắt đầu chiến dịch bầu cử, thì Đảng Cộng sản Liên Xô thực tế đã bị loại ra khỏi việc tham gia vào việc đấu tranh chính trị. Tại bất cứ nước nào, trong những điều kiện như vậy sẽ có một sự gia tăng tích cực hoạt động của Đảng. Còn ở đây mọi việc diễn ra ngược lại. Mà chính trong giai đoạn đấu tranh trước bầu cử sẽ quyết định vấn đề về chính quyền trong nước, bởi vì tất cả các chức năng điều hành sẽ được trao cho ủy ban. Chúng ta hãy xem xét các sự kiện được mô tả trong cuốn Cảnh báo của E.K. Ligachôp – Sự thật International, 1998 :

« Từ BCH TW liên tục có các chỉ thị xuống địa phương : không can thiệp, không can thiệp ! Phải giữ khoảng cách ! Trong nhiều Đảng bộ rất bối rối. Họ thấy rằng trong số ứng cử viên có nhiều kẻ không xứng đáng, thậm chí có tội phạm cũ, đã nhận án tù về những tội nghiêm trọng, kể cả giết người. Còn đám hùng biện và mỵ dân, xây dựng chương trình bầu cử của mình dựa hoàn toàn vào chủ nghĩa chống cộng, chống Xô Viết, thì quá là nhiều. Đáng ra, như trong điều kiện ấy thì cần phải triển khai tuyên truyền cho Đảng rộng rãi, cổ động cho các ứng cử viên của mình, vạch trần tính thiếu thực tế, thiếu cơ sở của những lời hứa chính trị.

Nhưng BCH TW không đưa ra các định hướng chính trị, tổ chức Đảng ở địa phương như bị tước vũ khí. Đó là một tình thế mới : lần đầu tiên từ trung ương không đưa ra những chỉ dẫn cụ thể, cần phải hành động như thế nào. Cái « lần đầu tiên » ấy lại rơi vào giai đoạn đấu tranh trước bầu cử, khi quyết định vấn đề về chính quyền ! Các Xô Viết là nền tảng chính trị của chế độ chúng ta. Vấn đề là phải kiên quyết củng cố vai trò của nó, trao toàn bộ chức năng điều hành cho nó. Thế mà Đảng lại giảm một cách đột ngột sự tích cực của mình.

Hơn nựa, sự không can thiệp của Đảng vào các cuộc bầu cử được một số người ca tụng như là biểu hiện của dân chủ. Ý tưởng đấu tranh với chủ nghĩa hình thức được đưa lên hàng đầu, nhưng cùng với nước người ta hắt đi cả em bé : Đảng thực tế đã bị loại không cho tham dự vào cuộc đấu tranh trước bầu cử.

Sự việc nghiêm trọng tới mức mà các ứng cử viên Cộng sản đấu lẫn nhau, giúp cho kẻ thù lý tưởng có thêm khả năng giành phần thắng. Không bị đánh lại, nên trong làn sóng mít tinh tự phát, các lực lượng gọi là dân chủ đã tung ra các khẩu hiệu chống cộng, bôi nhọ toàn bộ lịch sử, như là « chiến thuật trước bầu cử » của mình.

Hơn nữa, khi kết thúc việc đăng ký danh sách ứng cử viên, mới thấy là có quá ít đại diện của nông dân và công nhân.

Trong các cuộc họp của Bộ Chính trị vấn đề này được nói tới nhiều hơn. Chính Gorbachev cũng vài lần nói về chủ đề này. Nhưng chẳng có gì hơn ngoài câu than phiền… Có lần Gorbachev bay tới Leningrad, trong một cuộc gặp ngay tại xưởng, công nhân đã đặt thẳng vấn đề với ông ta về việc bầu cử không chỉ tiến hành theo địa phương, mà còn phải theo khu vực sản xuất, để đảm bảo tính đại diện của công nhân trong các Xô Viết. Mikhail Sergeevich ủng hộ tư tưởng đó của Lenin, và việc này đã được viết trong thông báo về chuyến thăm của Tổng Bí thư tới Leningrad.

Nhưng sau đó vài ngày, cái gọi là báo chí cấp tiến như theo hiệu lệnh đã đồng loạt chĩa mũi dùi vào « nguyên tắc bầu cử theo sản xuất ». Nổi lên một trận lốc phản đối trên báo chí và tivi, đòi phải tiến hành bầu cử chỉ theo địa phương, và lên án những người Leningrad là cố « kéo » vào Xô Viết những quan chức Đảng. Sự điên cuồng tiếp diễn ở nhiều nhà xuất bản.

Gorbachev không một lần nào công khai ủng hộ đề xuất ở Leningrad thêm nữa.

Thế là một khởi đầu lành mạnh đã bị thất bại. Kẻ thù của nguyên tắc bầu cử Xô Viết theo sản xuất, sử dụng báo chí cấp tiến, đã chôn vùi đề xuất quan trọng này. Quan điểm không can thiệp vào cuộc đấu tranh trước bầu cử đã thắng ».

Như vậy, ta có thể chỉ ra ba điểm quyết định.

1/ Tập đoàn Gorbachev đã loại Đảng ra khỏi cuộc đấu tranh trước bầu cử, nhân danh Đảng Cộng sản Liên Xô ra lệnh không can thiệp.

2/ Các kẻ thù của CNXH và Liên Xô đã được hoàn toàn tự do hành động, phương tiện thông tin đại chúng thực tế làm việc cho chúng.

3/ Bản thân Gorbachev không phát biểu trên phương tiện thông tin đại chúng một lời kiên quyết nào (khác với Bộ Chính trị). Hơn nữa, ông ta trên lời nói thường ủng hộ CNXH và những đề xuất cụ thể theo hướng như vậy (như đã nói ở trên), nhưng chẳng làm gì để thực hiện chúng, làm như quên mất.

Nói cách khác, trong chiến dịch bầu cử này không thể nói về các khả năng ngang bằng – trận đấu chỉ về một phía cầu môn. Đảng Cộng sản Liên Xô từng bước bị loại khỏi đời sống chính trị. Các hành động tiếp theo của Gorbachev theo hướng tiếp tục phá vỡ cơ cấu quyền lực. Vai trò của các Xô Viết bị giảm sút nghiêm trọng, đưa vào chức vụ Tổng thống Liên Xô, và năm 1991 bắt đầu chuẩn bị cái gọi là Hiệp ước Liên bang và sẵn sàng cho sự phân chia Liên bang Xô viết.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC II – 1999.

Phá tan Liên Xô – Phần X


3/ Cuộc đảo chính chậm chạp

Làm mất định hướng quần chúng và thiết lập thần tượng mới

Thỉnh thoảng, hành động tiêu diệt Liên Xô cùng cuộc tấn công vào giờ « X » được so sánh với hành động của đại tướng phát xít Đức Hains Vilhem Guderian, người vào đầu cuộc chiến tranh chống Liên Xô đã nổi tiếng với các cuộc đột phá bằng xe tăng của mình, kẹp các đội quân Xô Viết trong gọng kìm và bao vây họ. Tiếp theo là đánh bồi phá tan nhóm quân bị bao vây. Tương tự các xe tăng của Guderian, các nhà tư tưởng và đám bất đồng chính kiến cũng xông vào khoảng trống tác chiến, kết hợp với nhau (chỉ giả vời đối chọi), kẹp nhận thức người dân trong gọng kìm. Gọng kìm đã khép lại, bẫy đã sập xuống, và bắt đầu đánh bồi thêm. Sau một thời gian diễn ra sự kết hợp giữa các « kẻ thù » cũ, lấy một cái tên chung là « những người dân chủ ». Nhưng vai trò chủ đạo của các nhà tư tưởng của ĐCS Liên Xô vẫn còn. Mọi chức vụ quan trọng lại nằm trong tay họ, mà thực họ cũng không từ bỏ chúng : chỉ làm cuộc quay ngoắt 180 độ – từ những người Cộng sản nhiệt thành trở nên kẻ chống Cộng nhiệt thành.

Sự so sánh các chiến dịch của chiến tranh thông tin với chiến thuật của Guderian đúng là phản ánh một sự thật. Nhưng bản chất của giờ « X » là một cuộc đảo chính trong ý thức xã hội. Năm 1988 có thể gọi là « năm bước ngoặt vĩ đại » trong ý thức xã hội. Lúc này, phương tiện thông tin đại chúng chuyển sang một cuộc tấn công thông tin – tâm lý. Một đợt sóng tuyên truyền lớn, với sự « bóc trần » quá khứ ngày càng mạnh. Trong xã hội xuấ thiện sự bất ổn. Số lượng ấn bản và sự tích cực của các nhà xuất bản nói lên tình trạng ý thức xã hội : báo « Luận chứng và sự kiện » năm 1991 – 24 triệu bản, « Ngọn lửa nhỏ » năm 1988 – 1,8 triệu, 1989 – 3,5 triệu, 1990 – 7,6 triệu bản.

« Bước ngoặt vĩ đại » tức là một cuộc chuyển hướng rộng lớn sang một thế giới quan mới, dựa trên hệ thống các huyền thoại. Điều chủ yếu là thay đổi niềm tin. Trước đây có một niềm tin là Liên Xô sẽ mở con đường tới tương lai tươi sáng, CNXH, một chế độ xã hội tốt hơn, cơ sở khoa học của cuộc sống là Chủ nghĩa Marx. Bây giờ mọi thứ thay đổi đột ngột. Cơ sở của niềm tin mới là lậun điểm : Liên Xô đi chệch con đường phát triển của văn minh, « các nước văn minh » là mẫu mực của xã hội và cần phải đi theo họ, cơ sở khoa học – đó là thuyết của Milton Friedman người sáng lập ra trường phái Chicago. Cái thế giới quan này chứa ba quả bom nổ chậm.

1/ Lần đầu tiên trong hơn nghìn năm lịch sử, nước Nga từ bỏ biểu tượng niềm tin, nền tảng của nó. Thay cho tính cộng đồng, chủ nghĩa tập thể, vượt lên trước là chủ nghĩa cá nhân.

2/ Trong thế giới quan mới có chứa đựng sự thừa nhận sự kém giá trị của một dân tộc, mà gần trăm năm đi theo con đường thiếu văn minh kinh khủng. Chỉ một điều duy nhất cần phải làm là bắt chước các dân tộc văn minh.

3/ Học thuyết Friedman nằm trong nền tảng phát triển đất nước, như đã nói ở trên, không mang tính khoa học, mà mang tính chính trị. Học thuyết Friedman (chủ nghĩa tiền tệ, kinh điển mới) với các luận điểm của nó về thị trường tự do cuối thế kỷ XX, về việc nó tự tổ chức, về việc không chấp nhận sự can thiệp của nhà nước, về phương cách điều chỉnh duy nhất là thay đổi khối lượng tiền tệ chung, đều mâu thuẫn với toàn bộ thông tin có được về nền kinh tế hiện đại. Việc áp dụng thực tế nó ở nhiều nước đang phát triển đã đưa tới việc phá hoại kinh tế trong nước, tới sự cắt giảm đột ngột các chương trình xã hội, tới một sự phân rã xã hội hoang dại (không thể tìm được từ nào khác). Nhưng nhà sáng lập trường phái Chicago thực tế đã trở thành Chúa trời, thần tượng mà nước Nga bái phục, mặc dù tên tuổi của ông ta không được quảng cáo nhiều. Môn đồ của nó là những « cậu bé Chicago », hay nói cách khác là « các nhà cải tổ » dân chủ, những người vào thập niên 90 đã dần dần đưa giáo lý niềm tin mới vào cuộc sống.

Nhưng vào năm 1988, niềm tin mới chỉ bắt đầu con đường chiến thắng của mình dưới sức ép của tác động thông tin. Cội nguồn quan điểm thời ấy có trong đoạn trích từ báo « Ngọn lửa nhỏ ».

« Sau đó tôi nghe phát biểu của các đại biểu Đại hội Đảng XVIII, và hiểu rẳng : Egor Kuzmin không đơn độc trong suy nghĩ, ông ta có những người đồng chí hướng. Họ không ngại ai cả, thậm chí cả Tổng Bí thư, nói thẳng sự thật, dũng cảm đứng lên bảo vệ CNXH. Cả Đại hội nhiệt liệt vỗ tay. Còn tôi nghe tất cả những điều ấy và tự hỏi : « Điều gì xảy ra vậy ? Không lẽ một Đảng ủng hộ những khẩu hiệu thô thiển đến như vậy, lại có thể suy nghĩ một cách nghiêm túc các vấn đề đặt ra trước đất nước, và đưa ra quyết định sáng suốt vào sự nghiệp phát triển thế giới, đang chuyển qua hình thái mới của văn minh thông tin ? » Cứ như trong giấc mơ vậy ! Ở đâu đó trẻ con chơi với máy tính, ô tô chạy trên những con đường tuyệt đẹp, mọi người ngồi dưới dù che và uống nước cam. Còn ở đây đám đông con người mệt mỏi đứng xếp hàng, thành phố sặc sụa khói bụi. Còn những kẻ mà 70 năm trước đứng ra dẫn dắt đất nước tới « đỉnh cao chói lọi », vẫn tiếp tục lún sâu vào vũng lầy, lặp lại câu : « Tôi không rời bỏ nguyên tắc ! ».

Kỳ lạ, những con người thật kỳ lạ. Đúng ra phải đi theo cách suy nghĩ lành mạnh như các dân tộc, `thì họ cứ mỗi bước nhỏ con con lại tiếp tục thỉnh giáo cuốn « Giáo trình giản yếu ». Thật tốt nếu như chỉ những cán bộ Đảng và Nhà nước làm như vậy. Nhưng không, không ít người trong dân chúng sẵn sàng bỏ đồng tiền cuối cùng mua hoa để tung hô những người bảo vệ chế độ XHCN ».

Như đã thấy, từ XHCN gây sự tức cười và thương hại đối với tác giả, còn tập hợp « Egor Kuzmin » và « tôi không thể từ bỏ nguyên tắc » gây sự khinh bỉ. Thật ra Tổng Bí thư là người có uy tín, và không được phép mâu thuẫn với ông ta. Một sự so sánh thật tuyệt : ở đây trong hàng dài người ta sặc sụa khói bụi, còn ở « đó » người ta đi xe trên xa lộ rộng rãi và ngồi dưới dù uống nước cam.

Chủ đề ở « đó » được sử dụng rộng rãi. Gần như mỗi kẻ hùng biện đều sử dụng từ « các nước văn mih », tất nhiên là vẽ ra vạch phân cách giữa những người văn minh và kẻ hoang dã (tức là dân chúng Nga). Vài bài báo mang tính nhạo báng.

Đặc trưng về mặt này là cuộc đối thoại của A.R. và N.M, đăng trên một tờ báo Moskva tháng 3 năm 1991.

« A.R : Đã đến lúc phải trả lời câu hỏi : « Làm gì ? »

N.M : Chuyện làm gì thì đã rõ ! Cả thế giới đều biết. Cũng chẳng phải ngày hôm qua mới biết – từ thời Adam Smith cơ. Tại sao ta cứ phải ngoan cố trong nỗi hổ thẹn của mình ? Đã nói nghìn lần là phải làm gì. Ruộng đất ngay lập tức, từ mùa xuân này phải trao cho nông dân, giúp họ mua mọi thứ cần thiết. Tư nhân hóa tất cả những gì hiện nay có thể tư nhân hóa ».

Qua lời của A.R về hành động của những người định cư đầu tiên ở Mỹ : bắt đầu xây dựng đời sống của mình, và một xã hội giàu có.

N.M : Trên hết thảy mọi thứ là quyền con người – cả quyền chính trị và kinh tế, đó là nền tảng của dân chủ.

Như đã thấy, hàng triệu người da đỏ đã bị tiêu diệt và dồn vào khu bảo tồn, chắc là nhân danh dân chủ. Còn chế độ nô lệ ở Mỹ được thiết lập nhân danh quyền con người. Bài học về Adam Smith người đã chết cách đây hai thế kỷ, cũng thật ấn tượng. Nhưng phần đông độc giả không nhận thấy tính hài hước ẩn ý. Để cho thấy tình trạng trí tuệ của người dân bình thường thời điểm ấy, chúng ta lấy vài ví dụ (ở đây mỗi người có thể chọn ví dụ của mình).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC II – 1999.

Những người ủng hộ cho Lưu Hiểu Ba đoạt giải Nobel có thực sự biết ông ta bênh vực cho cái gì không?


Trong những tuần vừa qua, câu chuyện chính trị của người đoạt giải Nobel đã được chuyển thành câu chuyện về một cá nhân anh hùng, người đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ. Quan điểm của ông ta hầu như đã bị bỏ qua để tránh một sự tranh luận về chúng, dẫn đến sự tranh luận một chiều. Trong ba tuần qua, tại Hong Kong, chẳng hạn, hơn 500 bài báo được xuất bản nói đến Lưu, nhưng chỉ có 10 bài có tính phê phán về con người hay giải Nobel hòa bình.

Ở Trung Quốc, trước khi được trao giải, phần lớn không ai biết đến Lưu, trong khi, theo Andrew Jacobs, viết cho tờ International Herald Tribune, một “cuộc khảo sát chính thức các sinh viên đại học được thực hiện từ khi trao giải cho thấy rằng 85% nói rằng họ không biết gì về ông Lưu và “Hiến chương 08”. Một nhà Trung Quốc học người Na Uy đã đưa ra ý kiến nhận xét từ người dân Trung Quốc và chỉ ra rằng những người Trung Quốc trẻ tuổi thậm chí còn không biết đến Lưu. Những trí thức Trung Quốc lớn tuổi quan tâm bàn luận về giải thưởng, nhưng họ đa phần không cho rằng Lưu là người nhận giải thích hợp.

Việc bắt giam Lưu là hoàn toàn không cần thiết. Nếu câu chuyện chính trị của Lưu trở nên nổi tiếng, phần lớn người ta sẽ không ủng hộ ông nhận giải, bởi vì ông ta là một nhà vô địch của chiến tranh, chứ không phải hòa bình. Ông ta đã tán thành việc xâm lược Iraq và Afghanistan, và ông ta hoan nghênh các cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Triều Tiên được hồi tưởng trong một bài viết vào năm 2001.  Tất cả những xung đột này đã gây ra nhiều vụ vi phạm nhân quyền. Nhưng trong bài viết Những bài học từ Chiến tranh Lạnh, Lưu chỉ ra rằng “Thế giới tự do do Mỹ lãnh đạo đã chiến đấu với hầu hết các chế độ chà đạp nhân quyền… Những cuộc chiến tranh chủ chốt mà Mỹ trở thành bên liên quan thì hầu hết được biện hộ bởi lý do đạo đức”. Trong suốt cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2004, Lưu đã nỗ lực ca ngợi George Bush về những nỗ lực của ông chống lại Iraq và lên án ứng cử viên đảng Dân chủ John Kerry vì đã không ủng hộ tích cực cho các cuộc chiến của Hoa Kỳ:

Những thành tựu nổi bật của Bush trong cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố hoàn toàn không thể bị phủ nhận bởi sự vu khống của Kerry… Cho dù nhiều rủi ro xuất hiện trong quá trình loại bỏ Saddam Hussein, nhưng không hành động nào dẫn đến rủi ro lớn hơn. Điều này đã được chứng minh bởi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và sự kiện 11 tháng Chín! Cuộc chiến chống lại Saddam Hussein chẳng có vấn đề gì cả! Quyết định của Tổng thống Bush là đúng đắn!

Lưu cũng đã từng ca ngợi thái độ của Israel trong cuộc xung đột Trung Đông. Ông ta đổ lỗi cuộc xung đột Israel/Palestine cho những người Palestine, những người được coi như “thường là những kẻ khiêu khích”.

Lưu cũng ủng hộ sự Tây phương hóa hoàn toàn Trung Quốc. Trong một phỏng vấn năm 1988 ông ta đã nói rằng “chọn lựa Tây phương hóa là chọn lựa nhân bản”. Ông ta cũng đổ lỗi cho một bộ phim tài liệu, He Shang, hay River Elegy, vì đã không chỉ trích văn hóa Trung Hoa mà không ủng hộ cho Tây phương hóa một cách nhiệt thành: “Nếu tôi được thực hiện bộ phim này tôi sẽ chỉ ra người Trung Hoa thực sự lắt léo, nhu nhược và mất trật tự [weisuo, ruanruo, caodan] như thế nào”. Lưu cho rằng sự không may mắn lớn nhất là chủ nghĩa đơn phương của ông đã buộc ông phải đối thoại với một cái gì đó “rất dốt nát [yumei] và thù địch [yongsu]”, của không gian văn hóa Trung Hoa. Nhà nghiên cứu Lin Tongqi của Harvard đã chỉ ra rằng trong cuốn sách đầu những năm 1990 của Lưu chứa đựng “những sự tấn công cay độc đối với đặc tính dân tộc Trung Hoa”. Trong một tuyên bố nổi tiếng năm 1988, Lưu nói:

Tôi cho rằng 100 năm qua Hong Kong trở thành như bây giờ. Thậm chí với quy mô như của Trung Quốc chắc chắn chỉ cần 300 năm thực dân thì nó cũng sẽ như Hong Kong ngày hôm nay. Tôi thậm chí còn không cho rằng cần đến 300 năm.

Khẳng định tình cảm này trong tạp chí Open năm 2006, ông ta đã bổ sung thêm rằng những tiến bộ tại Trung Quốc phụ thuộc vào sự Tây phương hóa và càng Tây phương hóa, càng tiến bộ hơn. Trong khi những người ủng hộ ông ta bỏ qua việc chủ nghĩa hậu thực dân như là một sự khiêu khích, và đi cùng với logic đó là sự ủng hộ của ông ta với sự Tây phương hóa hoàn toàn và những cuộc chiến tranh thay đổi chế độ được lãnh đạo bởi Hoa Kỳ.

Lưu, trong “Hiến chương 08”, kêu gọi một hệ thống chính trị theo cách thức của phương Tây tại Trung Quốc và tư nhân hóa tất cả các xí nghiệp và đất nông nghiệp. Không có gì ngạc nhiên, các tổ chức mà ông đứng đầu nhận được sự ủng hộ tài chính từ National Endowment for Democracy của chính phủ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những nghiên cứu cho thấy, ở những nơi chuyển sang bầu cử dân chủ tại các nước có sự phát triển trung bình hoặc thấp, luật pháp thường không theo kịp, nhưng mức độ bất ổn và mức độ phát triển thấp lại diễn ra. Chế độ bầu cử dân chủ không đem đến sự quản trị tốt, thậm chí cũng không thể duy trì trong điều kiện như vậy.

Không ở đâu trong thế giới hậu cộng sản hay đang phát triển có được sự tư nhân hóa công bằng như Lưu tuyên bố tìm kiếm. Tư nhân hóa tại Đông Âu thường dẫn đến một sự ăn cắp ở quy mô lớn những tài sản công bởi các đầu sỏ chính trị và trở nên rất không được lòng quần chúng, với một số lớn người dân tại tất cả các quốc gia hậu Cộng sản muốn thay đổi nói. Tư nhân hóa cũng không được mong đợi tại Ấn Độ, châu Mỹ Latinh và chính tại Trung Quốc, khi mà các nghiên cứu về tư nhân hóa tại nhiều nơi của thế giới chỉ ra rằng nó có thể có những ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển. Tư nhân hóa đất đai tại Trung Quốc có thể đẩy nhanh sự tích tụ ruộng đất và tình trạng nông dân không có đất.

Bốn mươi năm trước, ủy ban giải thưởng Nobel đã ủng hộ cho nhà văn bị bỏ tù Alexander Solzhenitsyn trước đây như một biểu tượng của tự do chống lại chế độ Xô Viết. Cũng như Lưu, cũng đã có một sự không biết đến hay chọn cách tảng lờ quan điểm phản động kinh điển của Solzhenitsyn: phiên bản độc đoán của chính ông, một động thái chống người Do Thái, tố cáo Hoa Kỳ không theo đuổi chiến tranh tại Việt Nam mạnh mẽ hơn, lên án Tổ chức Ân xá Quốc tế cũng như tự do, và ủng hộ cho nhà độc tài phát xít Tây Ban Nha Francisco Franco.

Giải Nobel hòa bình là một giải thưởng chính trị của một số loại nhất định. Giám đốc Viện Nobel Na Uy đã chỉ ra rằng Ủy ban Nobel đã thường chọn lựa “nhưng người đã phát ngôn… chống lại các nhà độc tài cộng sản tại Moscow và những nhà độc tài tại Bắc Kinh”. Nhà triết học Pháp Jean-Paul Sartre đã nhìn nhận vai trò của giải thưởng Nobel trong Chiến tranh Lạnh và từ chối nhận giải năm 1964. Ông ta cho rằng: “Trong bối cảnh hiện tại, Giải Nobel đang là một sự phân biệt đối xử giữa một bên là các nhà văn phương Tây và những phiến quân phương Đông”. Vai trò đó đã được tiếp tục với giản thưởng của Lưu.

Người dịch: T.Giang – SCDRC

Nguồn: https://www.theguardian.com/commentisfree/2010/dec/15/nobel-winner-liu-xiaobo-chinese-dissident?CMP=share_btn_fb

Sự sụp đổ của chế độ cực quyền ở nước Nga – Phần cuối


Homo Sovieticus (Mẫu người Xô Viết)

Daniel Lindenberg: Ông có tin rằng có lẽ còn hai yếu tố nữa có vai trò trong sự sụp đổ mà còn ít nói đến? Yếu tố thứ nhất, đó là sự chấm dứt hiện tượng đóng cửa. Tức là Liên Xô không còn có thể là một hệ thống đóng kín nữa: người ta không thể khóa chặt cửa toàn bộ một đất nước khi ở vào trình độ thông tin, giao thông liên lạc, trao đổi… như hiện nay. Yếu tố thứ hai mà ông ít nói đến là những vấn đề dân tộc. Ông có đề cập đến chúng khi miêu tả quá trình sụp đổ những năm 1989 – 1991, nhưng dường như ông lại nói nhiều hơn về Mẫu người Xô Viết (L’Homo Sovieticus), xuất phát từ ý tưởng rằng dần dần đã hình thành một mẫu người Xô Viết trong đó bản sắc dân tộc không hề còn quan trọng nữa. Có phải đó thực sự là điều ông quan niệm? Ông có nghĩ rằng đã có một Homo Sovieticus?

Martin Malia: Đúng về đại thể. Ngay cả khi anh ta nói tiếng Gruzia thì con người thuộc chủng loại Xô Viết ấy cũng phản ứng – tôi không nói là y hệt – nhưng là phản ứng giống như của một người Nga. Tôi đã biết có những Con người Xô Viết thuộc các dân tộc thiểu số như thế! Còn về những dân tộc thiểu số thì khi xem lại cuốn sách lần cuối cùng, tôi đã bổ sung thêm một vài điều về các dân tộc từ năm 1921, và tôi đã phác thảo sự hình thành của Liên bang Xô Viết, cũng như những diễn biến chính của chế độ Xô Viết ở Ukraine, và đó là vấn đề lớn giữa các dân tộc. Nhưng đơn giản là đứng về kết cấu bố cục của cuốn sách, nếu bàn về mọi vấn đề của Liên bang Xô Viết thì người ta sẽ mất đi sợi chỉ lớn xuyên suốt. Sợ chỉ đó chính là – có thể dùng nhan đề cuốn sách tuyệt vời của Heller và Nekrich để gọi tên nó – khi chính thể không tưởng nắm chính quyền… Và cái cơ sở dân tộc của chính thể không tưởng ấy chính là nước Nga: nếu nắm giữ được nước Nga thì người ta nắm được tất cả các nước còn lại chừng nào người tta còn đủ ý chí cưỡng bức. Breznhev đã bắt giữ những người dân tộc chủ nghĩa ở Ukraine, ở các nước Baltic và ở Gruzia: đó là những người Gamsakhurdia, Tchornovil, và tất cả những người khác.

Daniel Lindenberg: Đã có một hậu quả gậy ông đập lưng ông khoảng 15 hoặc 20 năm sau.

Martin Malia: Đúng vậy, nhưng nếu như Gorbachev vẫn giữ được ý chí cưỡng bức, thì ông ta đã có thể cho bắt giữ những người kế vị và đã có thể bình yên vô sự. Chừng nào họ còn có một lòng tin đủ vững chắc, một niềm tin đủ để đối xử với những đối thủ chính trị như kẻ thù giai cấp, thì họ có thể giữ vững chính quyền.

Daniel Linderberg: Tuy nhiên, có một vấn đề khi dùng thuật ngữ mẫu người Xô Viết đó là vấn đề là nó chưa bao giờ được xác định. Có thể nói rằng đã có một mẫu người Xô Viết ở trình độ giới thương lưu, một cách hoàn toàn, và cả đến bây giờ vẫn có. Vấn đề dân tộc, đó không chỉ là vấn đề của cái ông gọi là những dân tộc thiểu số, mà chính là vấn đề Nhà nước. Theo cách tiếp cận của ông – đối với mô hình cực quyền ở nước Nga, thì đó là một Nhà nước cực kỳ hùng mạnh, tập trung cao độ. Vấn đề đặt ra là, vào thời kỳ Breznhev, bây giờ người ta hiểu rõ điều đó hơn, Nhà nước Liên Xô đã không vững chắc như thế, không tập trung cao như thế. Chính ở đây hiện tượng dân tộc, theo tôi làm cho chúng ta quan tâm hơn trong khuôn khổ cuộc tranh luận của chúng ta. Cũng không phải là như thế nếu với tư cách vấn đề bản sắc dân tộc; mà đây chính là vấn đề Nhà nước. Đó là một Nhà nước được xây dựng vào những năm 1920, dưới một hình thức giả – liên bang, với việc xây dựng một hiến pháp, những văn bản, trái ngược với mọi mong đợi, đã đem lại hình thức cho những thực thể cộng hòa. Giới thượng lưu cộng sản, ở mỗi nước cộng hòa của Liên bang Xô Viết và ở các khu tự trị, bắt đầu tự trị, tức là bắt đầu phát triển những lợi ích riêng và, người ta đã cảm thấy rõ điều đó trong lịch sử những năm 1960 – 1990, đã góp phần vào việc sử dụng một khoảng trống nhất định được tạo ra do một Nhà nước ngày càng kém tập trung hơn trên thực tế, và chiếm lấy khoảng trống đó do giới thượng lưu ở Moskva để lại, một giới thượng lưu mà ông miêu tả như đã suy sụp. Vậy, phải chăng thực ra ông đã tin rằng Nhà nước Xô Viết đã kém hùng mạnh, kém tập trung từ những năm 1950 – 1960 với việc giới thượng lưu ở các nước cộng hòa và các khu tự trị thiết lập một mối quan hệ dọa dẫm với trung ương?

Martin Malia: Về đại thể tôi tán thành bức tranh mà ông vừa phác ra. Và tôi tin rằng thực ra tôi đã nói về những giới thượng lưu địa phương đã đứng tự trị bằng một “quan hệ dọa dẫm” – một công thức tuyệt vời của ông. Nhưng hãy trở lại vấn đề cơ bản: “Nhà nước bá quyền”, tôi tin rằng tôi đã định nghĩa hệ thống cực quyền một các khá rõ ràng trong cuốn sách của tôi: tôi đã không nói rằng chế độ Xô Viết là bá quyền, mà nó “có thẩm quyền ở mọi nơi” trong cấu trúc của nó, nếu không phải là trong công việc hàng ngày. Và cấu trúc đó là như sau: Nhà nước Xô Viết không phải là một Nhà nước thông thường, mà một Nhà nước – đảng, trong đó chính quyền “xô viết” cấu thành một loại dây chuyền cho một hội kín, đó là đảng; và đảng lại còn tập trung hơn cả Nhà nước. Hơn nữa, không có nền kinh tế trong hệ thống này, bởi vì không có thị trường; chỉ có một hệ thống sản xuất theo sự chỉ huy hành chính. Thứ ba, có cổ động tuyên truyền ở khắp nơi. Chỉ có một đường lối tư tưởng duy nhất, tất cả đảng viên, tổ chức thành chi bộ, đều bắt buộc phải học thuộc lòng nó, trong tất cả các nước cộng hòa, và nó có mặt trên tất cả các báo. Cuối cùng là có một hệ thống cảnh sát chính trị ở khắp nơi. Đó chính là kết cấu cơ sở của hệ thống cực quyền. Tất nhiên là hệ thống này không bao giờ có thể kiểm soát toàn bộ mọi mặt đời sống của đất nước. Điều đó đơn giản là không thể làm được. Ví dụ như, cho đến năm 1930, giai cấp nông dân về cơ bản vẫn thoát ra khỏi sự kiểm soát của Nhà nước. Chính sách tập thể hóa, cùng với những chính sách khác, là sự chinh phục nông thôn của Nhà nước – Đảng. Tất nhiên là người nông dân đã đi đến chỗ giành lấy những mảnh đất cho riêng họ từ tay Stalin. Và sức ép của những tù nhân các trại tập trung, sau khi Stalin qua đời, đã buộc đảng phải giải thể hệ thống trại lao động cải tạo. Đó là hai ví dụ lớn về thay đổi do áp lực từ bên dưới. Về sau này, việc dân chúng bất bình đã buộc Khrushev và Breznhev phải đầu tư những món tiền lớn, song lại với kết quả rất nghèo nàn, vào việc cải tiến nông nghiệp.

Vậy, khái niệm “chế độ cực quyền” của tôi không có nghĩa là một Nhà nước bá quyền về thực tế, mà là một hệ thống bao quát về mặt cơ cấu tất cả mọi chức năng của xã hội. Như vậy khái niệm “chế độ cực quyền” của tôi là một kiểu “loại hình lý tưởng”, chưa được thực hiện hoàn hảo trong thực tế kinh nghiệm.

Và cái mô hình chế độ cực quyền đa năng, với tư cách một loại hình lý tưởng, là rất cần thiết để hiểu chế độ xô viết và sự sụp đổ của nó. Bởi vì người ta không thể sửa đổi một hệ thống “tổng thể” vượt ra ngoài một số ranh giới nhất định mà không làm nó sụp đổ hoàn toàn. Nhưng khía cạnh không được phép đụng đến của hệ thống là: vai trò lãnh đạo của Đảng, nói cách khác là bá quyền của Nhà nước – Đảng, kế hoạch hóa kinh tế độc quyền, cảnh sát chính trị và ý thức hệ bắt buộc. Đó là bốn trụ cột thiết yếu của hệ thống. Người ta có thể không cần đến những người dẫn đường cỡ lớn không cần đến Lenin và Stalin, đến hiện thực XHCN, và đến ngay cả trại lao động cải tạo mà hệ thống Nhà nước vẫn tồn tại. Nhưng nay khi người ta đụng đến một trong bốn cây trụ cột kia, thì ba trụ cột còn lại cũng sụp đổ theo.

Daniel Lindenberg: Những điều mà ông lý giải rất hay trong cuốn sách là đã có một bước ngoặt lớn vào thời điểm mà mọi người không còn bị khủng bố nữa. So với điều đó thì mô hình bốn cột trụ mà ông miêu tả trở nên tầm thường. Ngược lại, ông đã gán một tầm quan trọng lớn cho quan niệm về một chỉnh thể không tưởng, về một lý tưởng vẫn tồn tại sau Stalin…

Martin Malia: Đúng vậy, và điều đó rất quan trọng. Chính cái chỉnh thể không tưởng đã tạo ra được một sự cưỡng bức ở quy mô chưa từng thấy. Chính đó là cái phân biệt Liên Xô với một tướng Stroessner ở Paraguay, hoặc một Idé Amin Dada chẳng hạn. Do không có cái chính thể không tưởng ấy, các nhà độc tài kiểu cổ điển này không thể làm được những điều mà Lenin và Stalin đã làm, cũng không thể đứng vững được ba phần tư thế kỷ. Bởi vì một KGB theo nếp cũ đã thay thế cho hệ thống trại lao động cải tạo.

Daniel Lindenberg: Liệu ông có tán thành nói rằng giờ đây chúng ta nhìn thấy thắng lợi gần như ở khắp nơi của tầng lớp thượng lưu cũ không? Phải chăng là tất cả đã thật sự sụp đổ vào năm 1991, phải chăng đó là cuộc cách mạng đã nổ ra trong vài ngày của tháng 8/1991, khi một vài người, chứ không phải là một phong trào quần chúng, cúo cùng đã làm thất bại cú đảo chính của những kẻ thiếu kinh nghiệm mà ông đã miêu tả rất hay trong cuốn sách của ông?

Martin Malia: Họ xử sự như những kẻ không chuyên bởi vì họ không còn dũng khí nữa, vì họ thiếu một chính thể không tưởng đáng tin cậy. Còn về câu hỏi chính của ông, mặc dầu lớp cán bộ cũ vẫn có mặt ở khắp nơi, song không thể nói tới một sự phục hồi của hệ thống cũ.

Daniel Lindenberg: Chắc chắn là không. Nhưng liệu có phải tất cả đã sụp đổ không?

Martin Malia: Có và không. Cái bản chất cốt yếu của hệ thống cũ đã sụp đổ: Đã không còn nữa một đảng có tổ chức, cũng không còn nữa một Nhà nước – Đảng. Những người cộng sản có mặt ở khắp nơi, nhưng không còn CNCS nữa. Không còn ý thức hệ bắt buộc nữa, cũng không còn nữa một chính thể không tưởng để biện minh và một đội quân cảnh sát chính trị ở khắp nơi nữa. Trái với một số báo chí phương Tây gây lo sợ trong khi trích dẫn các nhà báo Nga bị kích động, đã không có sự phục hồi của KGB. Cơ quan KGB mới rút cục đã có quyền kinh doanh. Và có thể nói chính xác rằng trật tự mới ở nước Nga có thể gọi là một CNTB thực danh, một xã hội thực danh có thị trường và sở hữu tư nhân. Giới thượng lưu cao cấp cũ vẫn nắm chính quyền, nhưng việc họ biến các bộ ngành thành những khối liên kết xung quanh một ngân hàng, và việc thủ tướng Tchernomyrdin giờ đây là một cổ đông chủ chốt trong ngành công nghiệp dầu khí cũ của ông, đã làm biến đổi vai trò và công việc của ông ta. Giờ đây chúng ta có một xã hội xô viết thị trường với một quyền tự do ngôn luận rất rộng rãi ở trong nước.

Daniel Lindenberg: Cũng có một tự do hỗn loạn rất rộng rãi nữa.

Martin Malia: Đúng vậy, hầu như ta có thể nói rằng không có Nhà nước. Nói rằng Elsin là tổng thống một Nhà nước đang cai trọ một cách có hiệu lực lãnh thổ của ông ta là không đúng. Có một chính quyền có một đồng rúp, có một hệ thống đường sắt trong cả nước, có giấy hộ chiếu, nhưng không có một quyền lực Nhà nước thật sự đứng vững. Hơn nữa, đây là một sự hỗn loạn pha trộn những yếu tố xô viết cũ với một CNTB hoang sơ. Hệ thống hiện nay ở nước Nga còn hoang sơ hơn nhiều so với hệ thống đã thấy ở phương Tây, ngay cả ở thời đại kinh tế tự do của thế kỷ 19.

Người dịch: Đỗ Tiến Đạt

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Martin Malia – L’écroulement du totalitarism en Russie, « L’Express » No 4, 1996, p40 – 53.

TĐB 96 – 18

Phá tan Liên Xô – Phần IX


Tột đỉnh tư tưởng – bức thư của N. Andreeva

Trên báo « Nước Nga Xô Viết » có đăng bài « Tôi không thể từ bỏ nguyên tắc » của Nina Andreeva. Bức thể thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả, và nhằm chống lại việc bôi nhọ toàn bộ lịch sử Xô Viết trên phương tiện thông tin đại chúng. Phản ứng của Andreeva đối với dòng thác các bài chống Xô Viết, phản lịch sử trên báo chí đã được nhiều người đồng tình. Tưởng như là một ý kiến cá nhân, đăng trên báo, trái ngược với rất nhiều bài báo khác, trong điều kiện đa nguyên ý kiến đang được cổ vũ, sẽ chẳng làm ai bực mình.

Tuy nhiên ngày 5 tháng 4 trên báo « Sự thật » có đăng bài của ban biên tập, trong đó bức thư của Andreeva bị gọi là Tuyên ngôn các lực lượng chống cải tổ.

Ngày 14 tháng 4 báo « Sự thật » viết :

« Kẻ thù của cải tổ không chỉ chờ đợi thời điểm khi nó gặp khó khăn… Bây giờ chúng đã ngóc đầu dậy ».

Ngày 18 tháng 4 :

« Một chương trình được triển khai của những kẻ thù công khai cũng như giấu mặt của cải tổ, kêu gọi tổng động viên các lực lượng bảo thủ ».

Bộ Chính trị đã triệu tập phiên họp kéo dài hai ngày, mỗi ngày 6 – 7 tiếng liên tục, chỉ liên quan tới bức thư của Nina Andreeva. Theo Ligachev, những người lên án bức thư có Iakovlev, Medvedev, Gorbachev. Một đoàn kiểm tra lập tức tới báo « Nước Nga Xô Viết », xem xét bức thư gốc của Andreeva. Người ta cấm « Nước Nga Xô Viết » đăng tải các bức thư ủng hộ Andreeva, thu hồi chúng. Một cuộc phát ngôn nhân vụ Andreeva, được thực hiện trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, và các phương tiện thông tin đại chúng được sử dụng rộng rãi. Để minh họa cho chiến dịch được triển khai, ta trích dẫn hai đoạn trong các bài báo trên « Ngọn lửa nhỏ ».

Trong số 19 năm 1988 đăng bài của Kariakin, trong đó viết :

« Trong số tháng Hai của tạp chí « Thế giới mới » Andrei Nuikin đã cảnh báo – một cuộc phản công đang được chuẩn bị, và nó đã đúng : ngày 13 tháng 3 xuất hiện bức thư của Nina Andreeva. Một nhà hóa học vô danh, bất ngờ đã trở thành nhà tư tưởng được mọi người biết tới. Một sự chuyển biến phải nói là đáng ngờ. Có gì đằng sau điều đó hay không ?

…Tôi tin tưởng là : toàn bộ chi tiết sự kiện xung quanh bản tuyên ngôn của các vị, toàn bộ chi tiết về ý đó, viết lách, đăng tải và tổ chức sự ủng hộ sẽ được tái tạo lại, từng ngày một. Việc lựa chọn ngày công bố xuất phát từ đâu ? Với chiến lược gì ? Chiến thuật nào ? Tại sao bản tuyên ngôn không xuất hiện vào 10 tháng 3 hay 21 chẳng hạn ?

Sẽ đặc biệt thú vị là chi tiết sự kiện từ ngày 13 tháng 3 tới 5 tháng 4.

Có bao nhiêu báo địa phương đã đăng lại bản tuyên ngôn ? Có thể có bao nhiêu bản photo từ đó ? Có bao nhiêu cuộc thảo luận ủng hộ được tổ chức ? Theo chỉ thị của ai ? Các sáng kiến địa phương bùng phát thế nào ? Do ai ? Tại sao trong ba tuần trên báo chí chẳng có bài nào phản đối lại, ngoại trừ « Tin tức Moskva » và « Sự thật Tambov » ? Tại sao Nina Andreeva chỉ muốn được gọi là đồng tác giả, mà không phải là chính ? Thế ai là tác giả chính ? Một hay nhiều người ? Tại sao ý kiến cá nhân của con người, rõ ràng là chống lại đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, lại thống trị hoàn toàn trên báo chí trong ba tuần liền (đúng hơn là 24 ngày) ? Tại sao nó thực tế bó buộc toàn Đảng, toàn dân cả nước ? Nó có phù hợp với khẩu hiệu « Dân chủ hơn, XHCN hơn » ? Có phù hợp công khai, với Điều lệ và Cương lĩnh của Đảng, với Hiến pháp không ? Nina Andreeva là ai mà có được quyền lực to lớn chưa từng thấy và khó hiểu như vậy ? Mà nếu thật ra không phải là bà ta thì là ai ? Còn nếu cái ai đó không phải là một người, thì tức là có một tổ chức nào đó ? Vậy tại sao những người sáng lập thực sự tới giờ vẫn nấp sau lưng nhà hóa học tội nghiệp đó ? Câu hỏi cuối cùng : nếu có thể có chuyện như vậy, thì sao lại không có chuyện còn tệ hơn ? »

Trong số 38 năm 1988 của « Ngọn lửa nhỏ », chủ đề này được đưa ra với kiểu hơi khác :

« Câu trả lời rất công khai của Andreeva đã tự nói cho mình. Một Cương lĩnh tối thiểu được tuyên bố : « Trong khi những phương pháp khác chưa cho phép chúng ta thể hiện ý kiến của mình ». (bạn có thích từ « trong khi » ấy không ?) – hãy viết, viết, và viết tới các báo, tới BCH TW, « không thể bỏ qua một sự tấn công nào chống Stalin ». « Dù cho họ không đăng, nhưng sẽ buộc phải tính tới… ».

Đúng là cần phải tính đến. Cần phải biết kẻ thù của cải tổ, quan điểm, hy vọng, mối đe dọa của họ. Ngày hôm nay họ vẫn còn viết. Nhưng chúng ta sẽ không lầm lẫn về khả năng của họ. Chẳng nghi ngờ gì là đám mồ côi của Stalin sẽ cố gắng lợi dụng bất kỳ những khó khăn nào của cải tổ – từ xếp hàng dài ở cửa hàng cho tới các cuộc đình công quá khích, hay ly khai sắc tộc. Bất kỳ vấn đề nào của chúng ta đều là món quà đối với họ. Điều đó sẽ cho họ lý do để khích bác cay nghiệt : đó dân chủ của các anh đó, cải tổ của các anh đó ! Mà tất cả là vì không có Người, dưới thời Người có trật tự…

Còn về các khuyến cáo thiết lập trật tự, thì đám mồ côi của Stalin có rất nhiều kinh nghiệm. Những kẻ khoác lác câu nói « hữu khuynh », cố gắng lợi dụng làn sóng công khai và dân chủ để lắc thuyền, sẽ thích thú chuyện này. Những kẻ khoái mít tinh hơn làm việc, hò hét thay cho việc làm, kích động cảm xúc thay cho các ý kiến xây dựng, sẽ thích thú chuyện này. Điều này có lợi cho ai ? Phục vụ cho ai ? Có phải cho hội chứng Stalin không ? »

Có bao nhiêu lời lẽ và sự kích động quanh bức thư gửi báo trong mục « tranh luận ». Hơn thế nữa, phương tiện thông tin đại chúng thảo luận cả những chi tiết đời sống riêng tư của Nina Andreeva, trong đó có lẫn cả sự bịa đặt. Cuốn sách chứng tỏ :

« Có một lần trong buổi họp các lãnh đạo phương tiện thông tin đại chúng, nhà văn Karpov ra câu hỏi đối với Mikhain Sergeevich : « Bao giờ sẽ chấm dứt sự nhục mạ đối với Nina Andreeva ?  Chẳng nhẽ bà ta không có quyền có ý kiến riêng sao ? Hãy hiểu, bà ta còn là một phụ nữ nữa ». Câu hỏi không có câu trả lời ».

Nhưng thực chất không phải ở Nina Andreeva. Bà ta đơn giản được chọn làm cái cớ để nhóm Gorbachev thực hiện cuộc đảo chính tư tưởng. Sau đó, những ai ủng hộ CNXH, những ai chống lại sự bôi đen quá khứ Xô Viết – biến thành « kẻ thù của cải tổ », đại diện của « lực hãm ». Thế là, các lời đồn đại, bóng gió, các bài trong phương tiện thông tin đại chúng đổ lên đầu Ligachev, người bắt đầu thỉnh thoảng phản đối lại Gorbachev trong Bộ Chính trị. Bây giờ mỗi người đều hiểu là nếu ông ta bắt đầu lên tiếng chống lại đường lối của Gorbachev, thì người ta sẽ đánh ông ta cả từ phía trên (từ BCH TW) và từ bên dưới (phương tiện thông tin đại chúng). Đây cũng là thời điểm của chiến dịch phá hoại nền kinh tế. Khi mà dưới ngọn cờ thị trường, đơn đặt hàng Nhà nước từ 95% chỉ còn có 30%, hệ thống các mối quan hệ trước đây bị phá vỡ, một khối lượng tiền khổng lồ mất giá, mọi thứ biến mất khỏi cửa hàng. Đó là hai chiến dịch sáng chói, kiểu như vụ đốt nhà Quốc hội của Hitler, nhưng về trình độ thực hiện thì cao hơn nhiều. Cũng như bọn Hitler, đám Gorbachev đổ tội lỗi của mình cho những người Cộng sản (những người quốc gia). Chiến dịch này của Gorbachev với lời buộc tội chống chế độ Xô Viết đã kích động các cuộc nổi dậy của quần chúng chống chính quyền, trong đó có thợ mỏ được phương tiện thông tin đại chúng sử dụng rộng rãi để bôi nhọ Nhà nước. Đất nước bị phá vỡ, mọi người bị mất phương hướng. Giờ « X » đã điểm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC II – 1999.

Đánh giá nguy cơ thay đổi chế độ ở Triều Tiên – Phần cuối


III/ Các hậu quả có thể của sự thay đổi chế độ là gì?

Tiến trình thay đỏi chế độ ở Triều Tiên trên lý thuyết có thể diễn ra theo nhiều cách (tương đối hòa bình hay bằng vũ lực) trong một khoảng thời gian được rút ngắn hay kéo dài (nhiều ngày hay nhiều tuần so với nhiều tháng hay thậm chí nhiều năm) và có hay không sự can thiệp của các thế lực bên ngoài. Nó có thể mang lại các kết quả rất khác nhau (sự cai trị độc tài hơn nữa với việc Triều Tiên vẫn là một nước độc lập, hay một kiểu chính quyền quá độ nào đó mà dẫn đến sự tái thống nhất). Việc đánh giá khả năng của bất kỳ sự kết hợp nào những thứ trên đều bị phức tạp hóa bởi cái có thể coi là những yếu tố nguy cơ đặc biệt:

+ Người dân Triều Tiên phần lớn bị cách ly khỏi phần còn lại của thế giới suốt gần 70 năm trong khi cũng bị buộc phải ghi nhớ là luôn kính trọng và bảo vệ dòng họ Kim. Các chế độ độc tài cá nhân hóa cao tương tự đã tồn tại ở các nước khác, đáng chú ý là Albania và Romania, mà sau đó đã trải qua sự thay đổi chính trị nhanh chóng, nhưng Triều Tiên có thể được cho là rất riêng. Vì thế, điều rất không rõ ràng là người dân Triều Tiên sẽ phản ứng như thế nào trước triển vọng về sự thay đổi chính trị căn bản.

+ Triều Tiên cũng là một phần của một quốc gia bị chia cắt mà vẫn đang trong một cuộc đối đầu rất căng thẳng và được trang bị nhiều vũ khí với nửa kia của mình. Chính vì vậy, có một triển vọng mạnh mẽ cho sự leo thang quân sự và sự tái diễn chiến sự mở rộng. Nước Đức bị chia cắt trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh là một tiền lệ gần nhất, nhưng quyền tự do hành động quân sự của Đông Đức và Tây Đức bị kiềm chế hơn nhiều so với trường hợp Hàn Quốc và Triều Tiên hiện nay. Nói cách khác, nguy cơ leo thang là cao hơn.

+ Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, Triều Tiên sở hữu các vũ khí hạt nhân và các vũ khí hủy diệt hàng loạt khác, mà số phận của chúng sẽ là mối quan ngại tức thì trong các giai đoạn bất ổn sâu sắc và thay đổi chế độ. Những nước sở hữu cá vũ khí hạt nhân khác đã trải qua sự hỗn loạn về chính trị và thay đổi căn bản mà không phân tán hay sử dụng chúng, điều có thể mang lại một chút an ủi. Liên Xô đã trải qua một cuộc đảo chính vào tháng 8/1991 mà đẩy nhanh sự kết thúc về mặt chính trị của nước này vào cuối năm đó. Nam Phi dưới chế độ Apartheid cũng đã sở hữu một kho dự trữ hạt nhân nhỏ trong những năm 1980 khi nước này chịu áp lực gia tăng là phải cải cách. Gần đây hơn, Pakistan đã trải qua biến động chính trị lớn với tư cách là một nước được trang bị hạt nhân. Tuy nhiên, sự bảo đảm nhiều đến mức độ nào có thể có được từ những trường hợp này là điều còn phải tranh cãi. Không có lúc nào trong bất kỳ trường hợp nào ở trên nhà nước nằm dưới sự đe dọa can thiệp quân sự từ bên ngoài – tình huống bất ngờ có thể xảy ra mà chúng được phát triển để ngăn chặn – là điều có thể hiểu được trong trường hợp Triều Tiên.

Mặc dù Triều Tiên là một trường hợp đặc biệt vì những lý do này, nhưng vẫn có ích khi xem xét lại toàn bộ kinh nghiệm của các chế độ độc tài đã trải qua thay đổi chính trị lớn. Theo phân tích so sánh trên phạm vi rộng của các nhà khoa học chính trị Barbara Geddes, Joseph Wright và Erica Frantz, “trong gần 75 năm kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ có khoảng 45% những sự thay đổi lãnh đạo (ở các chế độ độc tài) dẫn đến sự thay đổi chế độ, và hơn một nửa sự sụp đổ chế độ là những sự quá độ từ chế độ độc tài này sang chế độ độc tài khác. Nói cách khác, chưa đến 1/4 những sự thay đổi lãnh đạo dẫn đến sự dân chủ hóa”. Hơn nữa, sự thay đổi chế độ ở các chế độ độc tài theo kiểu chủ nghĩa nhân vị có xu hướng xảy ra một cách mạnh mẽ; quả thực, đó là quy tắc. Gần như mọi sự quá độ từ sự cai trị theo chủ nghĩa nhân vị sang chế độ độc tài khác đều là bị ép buộc. Những kết quả này ít nhiều được ủng hộ bởi phân tích so sánh tương tự của Andrea Kendall-Taylor và Erica Frantz. Nghiên cứu của họ chỉ ra rằng chỉ có 20% sự ra đi của các nhà lãnh đạo độc tài từ năm 1950 đến năm 2012 là dẫn đến chế độ dân chủ “nhấn mạnh sự bền bỉ của sự cai trị độc tài”. Phần lớn dường như phụ thuộc vào cái cách mà các nhà lãnh đạo độc tài bị hất cẳng: “Khi các nhà lãnh đạo bị hạ bệ trong cuộc nổi loạn… chế độ dân chủ theo sau đó trong 45% các trường hợp. Ngược lại, các cuộc đảo chính thành công chỉ dẫn đến chế độ dân chủ trong 10% các trường hợp”. Những nhận xét chung này gợi ý rằng chúng ta không nên cho rằng một sự thay đổi trong giới lãnh đạo Triều Tiên sẽ diễn ra một cách hòa bình hay rằng điều đó hiển nhiên sẽ dẫn đến một kết quả dân chủ và, cũng hiển nhiên, một Triều Tiên tái thống nhất. Trong trường hợp bất ổn chính trị nghiêm trọng, cho dù bị thúc đẩy bởi sự rối loạn trong dân chúng hay một thách thức giới lãnh đạo ở cấp cao nhất, khả năng về một phản ứng ngược lại mạnh mẽ của các lực lượng trung thành với chế độ có vẻ là cao. Dĩ nhiên, trường hợp ngoại lệ sẽ là liệu quân đội Triều Tiên và các lực lượng an ninh khác có quyết định chất dứt sự ủng hộ của họ đối với chế độ này hay không. Một sự đàn áp dữ dội một cuộc nổi dậy của dân chúng hay thách thức của một phe chống đối ở Triều Tiên có thể dẫn đến những yêu cầu trợ giúp từ bên ngoài, đặc biệt nếu người ta cảm thấy rằng những hành động của họ đã được khuyến khích hay có khả năng nhận được sự ủng hộ. Điều này đã xảy ra ở một vài trường hợp – chẳng hạn như trong các cuộc nổi dậy ở Tây Tạng (1959), Hungary (1956), miền Nam Iraq (1991), Libya (2011) và Syria (2011) – nhưng chỉ trong trường hợp Libya các yêu cầu này được đáp ứng với sự can thiệp từ bên ngoài. Theo sau đó trong tất cả các trường hợp khác là sự đàn áp đẫm máu của chế độ cầm quyền. Một sự đàn áp dữ dội, đặc biệt nếu kèm theo đó là các hành động tàn bạo hàng loạt, cũng sẽ gia tăng áp lực buộc các thế lực bên ngoài – đặc biệt là Hàn Quốc – phải can thiệp. Phần lớn rõ ràng là sẽ phụ thuộc vào độ chính xác và tính kịp thời của các báo cáo được gửi đi từ Triều Tiên cũng như vào việc liệu chế độ này có thể áp đặt trật tự ngay sau đó hay không. Sự rối loạn kéo dài sẽ gia tăng các cơ hội những dòng người tị nạn rời khỏi nước này, cho dù bất kỳ sự đánh giá nào về nguy cơ này cần phải lưu ý đến tình trạng thiếu hụt tương đối giao thông vận tải cá nhân và tình trạng canh phòng nghiêm ngặt các vùng biên giới của Triều Tiên. Lại phụ thuộc làn nữa vào khởi nguồn của sự bất ổn, có thể cũng có cả những cuộc đào ngũ và thậm chí là có thể hình dung được những khiêu khích quân sự nhằm xúi giục sự can thiệp của đại diện các phần tử chống chế độ. Nếu các thế lực bên ngoài thực sự can thiệp, thì không nên giả định rằng toàn bộ dân chúng sẽ chấp nhận một cách hòa bình sự thống trị “ngoại bang”, cho dù điều này được tuyên bố chỉ là tạm thời. Điều này có vẻ đúng đối với Hàn Quốc và đặc biệt đúng với các thế lực khác, thậm chí là đồng minh lâu năm Trung Quốc. Như một nhà phân tích người Nga về Triều Tiên đã nói:

“Thật ngây thơ khi hy vong rằng toàn bộ dân chúng Triều Tiên sẽ chào đón “sự giải phóng khỏi chế độ độc tài” mà sự thống nhất mang lại; một sự hy vọng như vậy đơn giản là không dựa trên phân tích nghiêm túc về cái mà các tầng lớp xã hội của Triều Tiên sẽ nhận được hay bị mất đi khi Hàn Quốc bắt đầu cai quản. Giới tinh hoa và tầng lớp trung lưu – có lẽ khoảng 1 triệu người hoặc khoảng 5% dân số, bao gồm các thành viên của đảng, bộ máy an ninh, quân đội và một phần đáng kể những người ủng hộ và gia đình đã bị tẩy não của họ – sẽ không có chiến lược lối thoát nào và không có địa vị nào trên bán đảo Triều Tiên do Hàn Quốc kiểm soát. Hơn nữa, họ có thể khá là chắc chắn về các hậu quả sẽ phải chịu bởi vai trò của họ trong chế độ trước. Nếu ngay cả một phần của nhóm này (bao gồm những nhân viên được đào tạo) sử dụng đến kháng cự có vũ trang, thì các kết quả có thể sẽ thảm khốc. Đây không phải là sự suy đoán: chế độ này đã dành hàng thập niên chuẩn bị cho cuộc chiến tranh du kích, và nó có thể còn có một mạng lưới các cơ sở được trang bị đầy đủ được che giấu khắp lãnh thổ nước này để những chiến binh tận tụy sử dụng”.

Kinh nghiệm gần đây của Mỹ ở Afghanistan và Iraq chắc chắn ủng hộ cho lập luận này.

IV/ Những nhận xét mang tính kết luận

Việc đánh giá nguy cơ sơ bộ các triển vọng và hệ quả có thể có của sự thay đổi chế độ ở Triều Tiên nà khiến chúng ta phải đặt câu hỏi về các giả định và kỳ vọng của mình về việc những sự kiện như vậy có thể xảy ra khi nào và như thế nào và điều gì có thể xảy ra sau đó. Cụ thể hơn, như tục ngữ có câu, “chúng ta cần cẩn trọng với những gì mà chúng ta mong muốn”. Sự bất ổn và thay đổi chế độ có thể, vì nhiều lý do, kéo theo đó tình trạng bạo lực đáng kể và thậm chí là nội chiến. Nó cũng có thể khởi động một loạt tình huống bất ngờ nguy hiểm khác, bao gồm một cuộc xung đột rộng hơn lôi kéo các thế lực bên ngoài. Tiến trình thay đổi được mong đợi ở Triều Tiên – về bản chất là một sự sụp đổ nhanh chóng và tương đối hòa bình của chế độ hiện thời theo sau đó là một sự quá độ khá suôn sẻ sang sự tái thống nhất – không nên được giả định trước. Tiền lệ nước Đức ở nhiều khía cạnh là một ví dụ gây hiểu lầm của cái hợp lý để mong chờ. Tất cả điều này có nghĩa là điều mà có vẻ là những lựa chọn tương đối an toàn để thúc đẩy sự thay đổi chế độ ở Triều Tiên cần được xem xét kỹ lưỡng với sự cẩn trọng tối đa. Nếu những trải nghiệm của Mỹ gần đầy ở Afghanistan, Iraq và Libya đã dạy cho chúng ta điều gì đó, thì đó là cần phải hết sức cẩn trọng khi phỏng đoán về cái mà “ngày sau đó” ở Triều Tiên sẽ mang lại.

Nguồn: Viện Mỹ – Triều tại SAIS – tháng 12/2016

TLTKĐB – 09/01/2017