Xu hướng vũ lực mới trong quyết sách của Trung Quốc


Theo đài RFA, Trung Quốc đã có lực lượng hải quân lớn nhất thế giới và đang tích lũy những chiếc tàu chiến hung hãn. Giờ đây, họ sẵn sàng tham chiến.

Trong quá khứ, Trung Quốc từng là nước gây chiến, liệu họ có lặp lại điều này một lần nữa? Dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, năng lực quân sự của Trung Quốc đã được củng cố. Họ gia tăng sức ép quân sự đối với Đài Loan, thường xuyên tổ chức các cuộc tập trận quân sự quy mô lớn trên Biển Hoa Đông và Biển Đông. Ngoài ra, các cuộc đụng độ ở biên giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ đã dẫn đến nhiều thương vong cho cả hai bên.

Giới phân tích quốc tế đang cân nhắc về khả năng hành động quân sự sắp xảy ra. Trung Quốc thừa nhận họ có phương tiện, vấn đề là Bắc Kinh tin tưởng vào sự nghiệp này đến mức độ nào. Tháng 11/2020, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phương Hòa phát biểu với giọng điệu gay gắt: “Chúng tôi sẽ không cho phép bất kỳ ai, bất kỳ lực lựng nào xâm phạm và chia cắt những vùng lãnh thổ thiêng liêng của Trung Quốc”. Rắc rối chính là nhiều phần trong đó cũng là lãnh thổ thiêng liêng mà các nước khác tuyên bố chủ quyền.

Các nhà ngoại giao “chiến lang” của Trung Quốc khẳng định rằng mục đích của họ là hướng tới hòa bình. Họ tuyên bố Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa bao giờ phải viện đến xung đột quân sự. Các nước láng giềng của họ hẳn sẽ phản đối điều này.

Trong một cuộc tranh luận của Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS), Tiến sĩ Oriana Mastro, nhà phân tích thuộc Viện nghiên cứu quốc tế, Đại học Stanford cho rằng sẽ sớm xảy ra một cuộc đụng độ. Dường như Trung Quốc không phải đang chuẩn bị cho hòa bình. Vũ khí của họ không nhằm mục đích phòng thủ. Cho dù họ triển khai sức mạnh với các tàu nổi hay đưa nhiều tàu sân bay vào hoạt động, thì điều đó có thể thấy rõ là nước này đang xây dựng một quân đội có khả năng sử dụng vũ lực để đánh chiếm vùng lãnh thổ mà họ cho là của riêng mình. Ban lãnh đạo nước này không hài lòng với nguyên trạng. Tuy nhiên, khi quân đội Trung Quốc ngày càng trở nên hùng mạnh hơn, họ càng trở nên thoải mái hơn khi sử dụng các công cụ quân sự để đạt được mục tiêu của mình.

Tập Cận Bình gia tăng sự hiếu chiến

Dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, giọng điệu hiếu chiến của Bắc Kinh đã được nâng lên tầm cao mới. Tháng 9/2020, tờ Thời báo Hoàn Cầu tuyên bố: “Người Trung Quốc không muốn chiến tranh, nhưng chúng tôi có những tranh chấp lãnh thổ với một số quốc gia láng giềng đã bị Mỹ xúi giục đối đầu với Trung Quốc”.

Trung Quốc có tranh chấp trên biển với Philippines, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia,Indonesia, Brunei, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan. Họ có tranh chấp trên đất liền với Nga, Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Lào, Mông Cổ và Myanmar. Tuy nhiên, đối tượng mà cơ quan tuyên truyền của Trung Quốc nhắm tới không phải là các nước láng giềng này mà là phần còn lại của thế giới. Họ muốn gieo rắc vào trong tâm trí của cộng đồng quốc tế một lời phủ nhận chính đáng. Hồ Tích Tiến, Tổng biên tập tờ Thời báo Hoàn Cầu, một vị trí do ĐCSTQ bổ nhiệm cho biết, Trung Quốc phải làm rõ một số điều. Thứ nhất, phía bên kia, chứ không phải Trung Quốc, mới là bên phá vỡ nguyên trạng. Thứ hai, phía bên kia mới là kẻ khiêu khích trong một tình huống phức tạp.

Ông tiếp tục lập luận rằng mọi kịch bản hẳn phải được dàn dựng theo cách có thể lý giải cho cách hành xử của Trung Quốc. Bằng cách đó, họ có thể phát động một cuộc chiến tranh chính nghĩa.

Theo Mastro, có thể ta nhận thấy ý định của Bắc Kinh qua hành động của họ. Ông cho rằng dù người ta coi đó là vì uy tín và danh dự hay vì những lý do chính trị trong nước (chủ nghĩa dân tộc dâng cao ở trong nước khiến ban lãnh đạo Trung Quốc cần chuyển hướng sự chú ý của người dân ra bên ngoài), hay dù Trung Quốc có lý (họ đang tính toán giữa phí tổn và lợi ích để tìm cách xây dựng và triển khai sức mạnh của mình) tất cả những yếu tố này đều dẫn đến một khả năng là Trung Quốc sẵn sàng sử dụng vũ lực.

“Hành động đạo đức” của Trung Quốc?

Theo Hồ Tích Tiến, Trung Quốc phải là một quốc gia dám chiến đấu. Điều này cần dựa trên cả sức mạnh và đạo đức. Trung Quốc có sức mạnh trong tay, có lý lẽ và không sợ đứng lên bảo vệ những tài sản quan trọng của mình. Vấn đề là phải làm cho phần còn lại của thế thế giới tin vào điều đó. Đó là lý do giải thích tại sao Bắc Kinh đang đầu tư mạnh tay vào các chiến dịch gây ảnh hưởng và truyền bá thông tin sai lệch.

Một chiến thuật khác là tạo dựng cảm giác “việc đã rồi”: lớn tiếng tuyên bố quyền sở hữu, kiên trì đòi quyền sở hữu, chiếm đóng lãnh thổ tranh chấp, ép buộc các bên không liên quan phải công nhận. Đây là kịch bản đang diễn ra trên dãy Himalaya, Biển Hoa Đông và Biển Đông. Vấn đề là các quốc gia khác cũng nắm quyền kiểm soát đối với những khu vực đó và điều này khiến Bắc Kinh cảm thấy bất mãn. Hồ Tích Tiến cho rằng Trung Quốc là một cường quốc đang trỗi dậy bị Mỹ và phương Tây bác bỏ về mặt ý thức hệ. Các nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc đồng cảm với nhau. Nếu Trung Quốc quyết định gây chiến với một láng giếng, cộng đồng quốc tế sẽ có xu hướng ủng hộ bên yếu hơn. Dù động thái của Trung Quốc có chính đáng hay không thì vẫn có rủi ro lớn về mặt đạo đức.

Tuy nhiên, liệu ban lãnh đạo ĐCSTQ có tin rằng đây là rủi ro đáng để họ chấp nhận? Vẫn chưa nước nào ngăn chặn được Bắc Kinh từng bước củng cố lãnh thổ của mình. Tiến sĩ Mastro cho rằng sẽ ít có khả năng hòa bình. Trung Quốc rất có thể sẽ đụng độ với Mỹ hoặc các đồng minh của nước này. Điều này sẽ dẫn đến những thiệt hại về người và của mà có thể leo thang thành chiến tranh, đặc biệt là trong môi trường chính trị hiện nay.

Sử dụng con bài “chủ nghĩa dân tộc”

Giống như hầu hết các nhà lãnh đạo độc tài, Chủ tịch Tập Cận Bình xây dựng quyền lực của mình dựa trên niềm tự hào dân tộc. Để duy trì quyền lực, ông phải tạo ra được kết quả. Tiến sĩ Mastro nhấn mạnh Tập Cận Bình là người rất có tinh thần dân tộc. Chẳng hạn, ông đã nhiều lần nói rằng việc thống nhất Đài Loan là cần thiết để phục hưng dân tộc Trung Hoa.

Theo Mastro, sự nghiệp phục hưng dân tộc Trung Hoa đã trở thành nguồn gốc mang đến tính hợp pháp cho ĐCSTQ. Mastro lập luận rằng hầu hết các cuộc chiến tranh đều nổ ra khi các nhà lãnh đạo tin rằng lực lượng quân sự sẽ tạo ra các nguồn lực, quyền lực, vinh quang và uy tín. Về bản chất, kết quả sẽ biện minh cho phí tổn. Ban lãnh đạo Trung Quốc rõ ràng tin rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của họ là giành lại quyền kiểm soát đối với những gì họ coi là lãnh thổ của mình. Nếu người dân Trung Quốc tin tưởng vào cách biểu lộ và thể hiện chủ nghĩa dân tộc, họ cũng tin tưởng vào sự nghiệp này.

Mặc dù ĐCSTQ muốn sử dụng các phương tiện kinh tế và ngoại giao, nhưng có những dấu hiệu cho thấy họ đang mất hết kiên nhẫn. Tiến sĩ Mastro cho biết điều phải làm rõ ràng không thể giành lại hoàn toàn các vùng lãnh thổ tranh chấp bằng những công cụ này. Đó là vì các nước ở phe còn lại sẽ không bao giờ hoàn toàn chấp nhận lập trường của Trung Quốc.

Ấn Độ sẽ không sẵn lòng từ bỏ lãnh thổ của mình ở vùng núi cao trên dãy Himalaya. Đài Loan sẽ không dễ dàng từ bỏ nền dân chủ và độc lập của mình. Việt Nam, Nhật Bản và Philippines không thể để mất các ngư trường truyền thống của họ. Mastro nói rằng khi các quốc gia này kiên định với lập trường của mình và bắt đầu đoàn kết lại với nhau, thì nhiều khả năng Bắc Kinh sẽ tiến hành một cuộc phô trương sức mạnh.

Tại thời điểm này, quân đội Trung Quốc tin rằng có một số tình huống bất ngờ mà trong đó Mỹ sẽ không đích thân can dự, như hành động chống lại Việt Nam hoặc Ấn Độ và điều này sẽ làm tổn hại đến vai trò của Mỹ trong khu vực; hoặc những tình huống mà dù Mỹ đích thân can dự thì Trung Quốc cũng sẽ chiếm ưu thế. Điều này đem đến lợi ích to lớn cho Tập Cận Bình. Thông điệp tuyên truyền của Trung Quốc vẽ nên một bức tranh tương tự. Hồ Tích Tiến cho rằng Trung Quốc tự tin sẽ giành chiến thắng trong cuộc xung đột với các nước láng giềng có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Tương tự, nếu chiến sự với Mỹ nổ ra gần khu vực ven biển Trung Quốc, Trung Quốc cũng có nhiều cơ hội chiến thắng.

Theo một báo trình Quốc hội Mỹ gần đây, những tiến bộ trong thời gian qua về trang thiết bị, tổ chức và hậu cần đã cải thiện đáng kể khả năng của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) trong việc triển khai sức mạnh và các lực lượng viễn chinh ở xa bờ biển Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc có những lợi ích khi chiến đấu với các nước nhỏ hơn không phải là đồng minh, chẳng hạn như Việt Nam hoặc Ấn Độ, nhằm trau dồi khả năng quân sự của họ, làm suy yếu vai trò của Mỹ trong khu vực, chuẩn bị (trong vào 7 – 9 năm) cho các cuộc xung đột lớn chống lại Nhật Bản hoặc cho việc giành lại Đài Loan bằng vũ lực. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là sắp xảy ra một cuộc đụng độ giữa các nước lớn.

Nguồn: TKNB – 02/02/2021.

COVID-19 phơi bày những yếu kém của nước Mỹ


Theo tạp chí Foreign Affairs ngày 23/3, phản ứng của Chính phủ Mỹ trước đại dịch viêm đường hô hấp cấp (COVID-19) do chủng mới của virus Corona gây ra là rất bối rối, không nhất quản và phản tác dụng. Kể từ tháng 2 vừa qua, những dữ liệu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Italy đã cho thấy rõ là loại virus này đang lây lan nhanh chóng ở những khu vực mà không thực hiện cách ly xã hội và các biện pháp đơn giản để ngăn cách mọi người có thể giúp làm chậm tốc độ lây nhiễm các ca mới. Tuy nhiên, Chính quyền Tổng thống Trump đã không thực hiện bất kỳ sự cách ly xã hội nào. Thậm chí khi các ca lây nhiễm cấp tính tràn ngập các bệnh viện của Mỹ, Chính quyền Trump vẫn chỉ có một vài nỗ lực để tăng cường hệ thống y tế, tăng số lượng máy thở ở các bệnh viện hay mở rộng xét nghiệm.

Nhiều người đổ lỗi những thất bại này cho ông Trump do ban đầu đã hạ thấp mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng. Tới ngày 4/3, ông Trump vẫn khăng khăng cho rằng dịch COVID-19, vốn bị gây ra bởi một chủng mới của virus Corona, không tồi tệ hơn so với cúm mùa. Một tuần sau đó, ông Trump tuyên bố rằng hệ thống y tế của nước Mỹ đã được chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với sự bùng phát của dịch bệnh. Ông Trump đáng bị chỉ trích, lên án vì đã khuyến khích đất nước mộng du bước vào cuộc khủng hoảng. Đáng trách hơn là sự tấn công của Tổng thống Mỹ và các thể chế nước này, vốn bắt đầu từ rất lâu trước khi virus mới xuất hiện và sẽ được cảm nhận rất lâu sau khi nó biến mất.

Bằng cách không ngừng tấn công các chuẩn mực của sự chuyên nghiệp, độc lập và chuyên môn kỹ thuật và ưu tiên sự trung thành chính trị trên tất cả, ông Trump đã làm suy yếu bộ máy hành chính liên bang đến mức bây giờ nó bắt đầu giống như “Paper Leviathan”, một thuật ngữ mà nhà kinh tế chính trị James Robinson và tác giả bài báo sử dụng để mô tả các quốc gia chuyên quyền vốn dành rất ít không gian cho dân chủ hay sự chỉ trích đối với chính phủ và thể hiện năng lực hoạch định chính sách mỏng như tờ giấy. Các quan chức ở những quốc gia này đã quen với việc ca tụng, gật đầu và nhận chỉ thị từ giới lãnh đạo cấp cao hơn là sử dụng chuyên môn của họ để giải quyết các vấn đề. Càng nhiều quan chức Mỹ giống như những vị quan liêu độc đoán nói trên thì xã hội ngày càng ít tin tưởng họ và họ cũng sẽ hoạt động kém hiệu quả vào những thời khắc khủng hoảng như hiện nay.

Chỉ trong hơn ba năm cầm quyền, ông Trump đã đảo ngược rất nhiều quy tắc chính trị mà trước đây đã giúp hệ thống chính trị của Mỹ vận hành, bao gồm cả những kỳ vọng về việc Tổng thống sẽ không đưa ra những lời nói dối một cách thẳng thừng; sẽ không can thiệp vào các vụ án; sẽ không cản trở các cuộc điều tra thực thi luật pháp; sẽ không tha thứ hay khuyến khích tình trạng bạo lực; sẽ không mang lại lợi ích vật chất về cho gia đình hay cho phép gia đình hưởng lợi từ sự đặc quyền và quyền lực hành pháp; và sẽ không phân biệt đối xử với công dân bất kể sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo của họ là gì. Trên cơ sở làm rõ những chuẩn mực này, có thể thấy ông Trump đã đẩy nhanh sự phân cực hóa nền chính trị Mỹ – một xu hướng ăn mòn có từ trước khi ông lên nắm quyền và đã được tăng cường dưới sự giám sát của ông. Cái giá của sự phân cực không chỉ thể hiện rõ trong các vấn đề chính trị mà còn ở cả sự bất lực của các chính trị gia không thể giải quyết các vấn đề cơ bản như thiếu chăm sóc sức khỏe cho hàng triệu người, tình trạng bấp bênh của cơ sở hạ tầng công cộng đang xuống cấp hay thậm chí ngăn chặn chính phủ khỏi việc đóng cửa theo định kỳ.

Nhiệm kỳ của ông Trump thậm chí còn tai họa hơn đối với một trong những trụ cột thể chế quan trọng nhất mà đã giúp hạn chế quyền hành pháp trong hai thế kỷ qua: đó là nền công vụ. Để chắc chắn, bằng cách trao toàn quyền cho tổng thống trong việc bổ nhiệm các quan chức cấp cao, các thể chế chính trị của Mỹ khiến cho sự chuyên nghiệp phi đảng phái không thể dễ dàng bén rễ trong các cơ quan hành pháp. Thậm chí ngay cả dưới thời các chính quyền với những chương trình nghị sự chính sách và ưu tiên khác nhau, hầu hết các bộ ngành đều cố vận hành một cách hiệu quả  và theo đuổi các chính sách đúng đắn trong các lĩnh vực khác nhau như giáo dục, môi trường, thương mại, hàng không vũ trụ và tất nhiên cả kiểm soát dịch bệnh. Bằng cách duy trì các quy tắc và quy trình phi đảng phái và dựa trên yếu tố chuyên môn kỹ trị, các quan chức chuyên nghiệp phục vụ theo chức năng chính trị được bổ nhiệm như một cách để bảo vệ chính quyền, ngăn chặn việc thực hiện các chính sách cực đoan hơn hay thể hiện xu hướng đảng phái rõ ràng hơn. Một nền công vụ chuyên nghiệp cũng là biện pháp bảo vệ cuối cùng, mạnh mẽ nhất trước các thảm họa thiên nhiên và trường hợp khẩn cấp về y tế.

Chính quyền Trump không chỉ thất bại trong việc duy trì cơ sở hạ tầng y tế thiết yếu để bảo vệ đất nước trước các dịch bệnh truyền nhiễm, ví dụ như ông đã giải tán đơn vị sẵn sàng đối phó với đại dịch trực thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia. Sự “thù hằn” của ông Trump đối với vấn đề chuyên môn vô tư đã khiến rất nhiều quan chức liên bang có kinh nghiệm và chuyên môn nhất phải ra đi và chỉ được thay thế bằng những người trung thành với ông Trump. Các cuộc tấn công liên tiếp của ông Trump nhằm vào những người vạch ra sự không trung thực của ông ta hay các vấn đề về chính sách của chính quyền đã tạo ra một bầu không khí sợ hãi, ngăn cản các quan chức lên tiếng. Điều này đã phần nào phản ánh về phản ứng ban đầu chậm chạp và không hiệu quả của các cơ quan y tế liên bang trước sự bùng phát của dịch bệnh như Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát dịch bệnh (CDC).

Sự tấn công của ông Trump đối với bộ máy cai trị liên bang đang dẫn nước Mỹ đi vào con đường suy đồi về thể chế, theo sau bởi rất nhiều quốc gia đã từng là nước dân chủ nhưng giờ cũng chuyển thành chuyên quyền độc đoán. Từ Argentina dưới thời Juan Peron ở giữa thế kỷ 20 đến Hungary dưới thời Viktor Orban hay Thổ Nhĩ Kỳ dưới thời Erdogan hiện nay, một điểm bước ngoặt trong gần như tất cả các thảm kịch như vậy là việc đánh mất sự độc lập của nền công vụ và tư pháp.

Không quá muộn để đảo ngược những thiệt hại mà ông Trump đã gây ra cho các thể chế và bộ máy quản lý liên bang. Bước đi đầu tiên để làm như vậy là từ bỏ một câu chuyện hoang đường rằng Hiến pháp, được xây dựng bởi những người sáng lập nước Mỹ, có thể bảo vệ nền dân chủ Mỹ trước một vị tổng thống chuyên quyền, phân cực, khó đoán và tự ái. Như James Madison đã tuyên bố rằng: “Mục đích của tất cả các hiến pháp chính trị là trước tiên phải tập hợp cho người lãnh đạo các nhân vật có trí tuệ nhất để nhận thức và đạo đức nhất để theo đuổi lợi ích chung của xã hội và trong giai đoạn tiếp theo thực hiện các biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất để giúp họ duy trì đạo đức khi tiếp tục được sự tín nhiệm của công chúng”.

Nguồn: TKNB – 25/03/2020.

Đối sách của Nhật Bản với COVID-19 – Phần cuối


Để ứng phó với tác động của dịch COVID-19 đối với kinh doanh của doanh nghiệp và phát triển kinh tế trong nước, Chính phủ Nhật Bản đã công bố hàng loạt chính sách, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ về mặt tài chính, việc làm… để cùng vượt qua khủng hoảng.

Thứ nhất, chính phủ đưa ra “Khoản vay đặc biệt ứng phó bệnh truyền nhiễm COVID-19” (Khoản vay đặc biệt) và “Cơ chế hỗ trợ lãi suất đặc biệt” (cơ chế đặc biệt), thông qua kho bạc quốc gia để cung cấp các khoản vay đặc biệt dài hạn không có lãi suất thực tế, không cần đảm bảo, cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh cá thể có tình hình kinh doanh xấu đi do bị ảnh hưởng của dịch bệnh.

Đầu tiên, số tiền trong “Khoản vay đặc biệt” là từ 60 triệu đến 300 triệu Yen, có kỳ hạn vay là dưới 15 năm hoặc dưới 20 năm, lãi suất cơ bản trong 3 năm đầu giảm 0,9% (Lãi suất thực tế là 0,21% đến 0,46%), sau 4 năm vẫn duy trì lãi suất cơ bản.

Thứ hai, trên cơ sở khoản vay đặc biệt, đối tượng được vay nếu đáp ứng điều kiện nhất định thì “cơ chế hỗ trợ” sẽ cung cấp toàn bộ tiền hỗ trợ với lãi suất giống như 3 năm đầu điều kiện cụ thể như sau:

1/ Hộ kinh doanh cá thể: Điều kiện không hạn chế.

2/ Doanh nghiệp siêu nhỏ: Doanh thu bình quân trong 3 tháng gần nhất giảm trên 15%.

3/ Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Doanh thu trong 3 tháng gần nhất giảm trên 20%.

Thứ hai, Chính phủ Nhật Bản cung cấp chính sách ưu đãi với lãi suất 0,9% trong 3 năm với 10 triệu Yen đối với doanh nghiệp siêu nhỏ từng có đơn đề nghị doanh nghiệp siêu nhỏ cải thiện nguồn vốn. Sau khi ưu đãi, lãi suất thực tế của họ từ 1,21% giảm xuống 0,31%.

Thứ ba, các chính sách tín dụng đặc biệt khác như đối với ngành khách sạn có doanh thu gần 1 tháng giảm 10% khoản vay đặc biệt ứng phó với sự thay đổi của môi trường y tế cho ngành thực phẩm, ngành dịch vụ ứng phó với khủng hoảng (chưa công bố nội dung cụ thể) để cung cấp cho doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp ổn định, nghiệp vụ đảm bảo tín dụng cung cấp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ…

Thứ tư là trợ cấp trực tiếp đối với ngành chế tạo, thương mại, dịch vụ. Nội dung trợ cấp chủ yếu là bộ phận đầu tư của doanh nghiệp trên các lĩnh vực như nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ mới, cải thiện quá trình sản xuất… hoặc đầu tư thúc đẩy tiêu thụ khi ứng phó với dịch bệnh như đầu tư vào tiêu thụ trực tuyến, tự động hóa việc tiếp đón…, hoặc vì mục đích đảm bảo tính bền vững và nâng cao hiệu quả công việc mà phải nhập khẩu công nghệ IT… Tổng số tiền trợ cấp là từ 500 nghìn đến 10 triệu Yen.

Thứ năm là thông qua cơ chế của “Quỹ hỗ trợ  điều chỉnh việc làm”, tăng cường  trợ cấp đối với những doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của đình công hoặc quy mô hoạt động kinh doanh giảm, sản xuất đình trệ, trợ cấp tiền lương cho nhân viên… Phạm vi cung cấp hỗ trợ chiếm khoảng từ 1/3 (doanh nghiệp lớn) đến 2/3 (doanh nghiệp vừa và nhỏ) toàn bộ doanh nghiệp, thời gian hỗ trợ khoảng 100 ngày công nhật (trong 3 năm có 150 ngày công nhật). Tổng số tiền trợ cấp lên tới 8.330 Yen/ngày.

Thứ sáu là trợ cấp nghỉ làm vẫn có lương đối với những gia đình buộc phải nghỉ ở nhà để chăm sóc con khi trường học đóng cửa. Khoản trợ cấp này dành cho các gia đình có học sinh (trường tiểu học và trường giáo dục đặc biệt) hoặc trẻ mẫu giáo, nhà trẻ cần được chăm sóc hoặc do trẻ bị nhiễm COVID-19 phải xin nghỉ để chăm sóc, không hạn chế quy mô doanh nghiệp nhận hỗ trợ, khoản tiền hỗ trợ này là toàn bộ tiền lương trong thời gian nghỉ.

Thứ ba là cơ chế hỗ trợ khác. Chẳng  hạn như chính sách hỗ trợ hoạt động việc làm và tuyển dụng, cơ chế hỗ trợ những người làm công việc giáo dục từ xa, cơ chế tạm hoãn nộp tiền bảo hiểm, nghiệp vụ của văn phòng làm việc từ xa, cơ chế tư vấn miễn phí của chuyên gia hỗ trợ phần cứng máy tính, cơ chế hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp xuất khẩu, cơ chế đơn giản hóa kéo dài kỳ hạn của giấy phép về thủ tục xuất nhập khẩu…

Chính phủ Nhật Bản (chủ yếu là Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp) là cơ quan trợ cấp, giúp đỡ những khoản tiền nêu trên, cung cấp ngân sách tài chính bổ sung khoảng 16 nghìn tỷ Yen và thiết lập các văn phòng chuyên xử lý yêu cầu và thủ tục kinh doanh có liên quan tại các chinh nhánh của Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp, Hiệp hội đảm bảo tín dụng, kho bạc  nhà nước, Bộ Lao động… trên khắp cả nước. Xem xét từ tài liệu giới thiệu phức tạp do Bộ kinh tế, thương mại và công nghiệp cung cấp, có thể thấy Chính phủ Nhật Bản đã giảm bớt ảnh hưởng của dịch COVID-19 đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp vừa vả nhỏ), chính sách và cơ chế được công  bố xây dựng trên cơ sở phân tích khoa học và kỹ lưỡng thông tin kinh tế xã hội và từ nhiều doanh nghiệp, khả năng thực thi cao và hiệu lực rất mạnh, hiệu quả chính sách đáng được Trung Quốc quan tâm chú ý, cần xem việc hành động theo học thuyết kinh tế này được Chính phủ Nhật Bản đưa ra hiệu quả đến đâu.

Nguồn: Trang mạng Quốc tế (TQ) – 18/03/2020.

TLTKĐB – 28/03/2020.

Đối sách của Nhật Bản với COVID-19 – Phần đầu


Ngày 26/2, đối mặt với tình hình dịch COVID-19 có thể nhanh chóng lan rộng ở Nhật Bản, Thủ tướng Shinzo Abe đã kêu gọi “tự cách ly”, mong muốn trong vòng 2 tuần, các hoạt động tập thể như cuộc thi thể thao, văn hóa văn nghệ trên phạm vi toàn quốc có thể tạm ngừng tổ chức, nếu buộc phải tổ chức thì cố gắng thu hẹp quy mô nhằm ngăn chặn dịch bệnh lan rộng khi tập trung đông người. Ngày 27/2, nội dung “tự cách ly” lại mở rộng sang các trường trung học và tiểu học, chính phủ kêu gọi bắt đầu từ ngày 2/3, toàn bộ các trường trung học, tiểu học và giáo dục đặc biệt tạm thời nghỉ học, thời gian nghỉ học gắn liền với kỳ nghỉ xuân vào cuối tháng 3, sẽ kéo dài khoảng 1 tháng.

Việc biểu diễn tập trung đông người gây ra dịch bệnh phần lớn rơi vào thời điểm cuối tháng 2, trước khi chính phủ kêu gọi “tự cách ly”, vì vậy rất nhiều người dân chỉ trích chính phủ phòng chống dịch không kịp thời. Nếu khống chế được dịch bệnh ngay từ khi mới xuất hiện trong nước thì sẽ không thể xuất hiện tình trạng lúng túng đó.

Trên thực tế, làm thế nào để thuyết phục hiệu quả dân chúng thực hiện biện pháp bắt buộc, phòng ngừa sự lây nhiễm lan rộng dịch bệnh là lo ngại trực tiếp nhất mà Chính phủ Nhật Bản cần đối mặt. Cho dù là ngừng thi đấu thể thao và hoạt động khác hay đóng cửa trường học thì cũng không thể dựa vào pháp luật, cũng không thể bằng cách ra lệnh hoặc thực hiện biện pháp mang tính cưỡng chế để ngăn cấm hoạt động tập trung đông người khiến dịch bệnh lan rộng. Ngoài ra, nhìn lại việc dịch bệnh tại Nhật Bản đã xuất hiện từ lâu, thái độ và phản ứng của người dân, đặc biệt là những người trẻ tuổi thì cho dù chính phủ đã đưa ra lời kêu gọi sớm cũng chưa chắc đã mang lại hiệu quả.

Đặc điểm tâm lý “chỉ đến khi có bệnh mới biết lo” của người dân làm tăng thêm khó khăn cho công tác dự phòng sớm dịch bệnh của chính phủ. Tuy nhiên, việc sửa chữa sai lầm đã được tiến hành nhanh chóng, sau khi dịch bệnh lan rộng do tập trung đông người, các phương tiện truyền thông như kênh truyền hình đã xuất hiện tiếng nói khuyên thanh niên không nên đi xem ca nhạc, không đi hát karaoke, các cuộc thi đấu thể thao trên phạm vi toàn quốc hoặc lễ hội có quy mô nhỏ ở địa phương liên tục bị hủy bỏ hoặc trì hoãn tổ chức, một số chính quyền địa phương trước kia không hưởng ứng lời kêu gọi nghỉ học của chính phủ cũng ngay lập tức có phương án đóng cửa trường học.

Nhìn chung, mức độ coi trọng của người dân Nhật Bản đối với dịch bệnh vẫn có phần chủ quan, ở một số vùng ít mắc bệnh, tình hình không nghiêm trọng, vẫn có rất nhiều người không đeo khẩu trang đến nơi công cộng, trong thời gian nghỉ học, vẫn có rất nhiều học sinh trung học, tiểu học đi ra ngoài đường để mua sắm hoặc chơi bời.

Ngày 10/3, trước xu thế bệnh dịch có xu hướng lan nhanh, Thủ tướng Abe có bài phát biểu kêu gọi biện pháp “tự cách ly” trên toàn quốc kéo dài 10 ngày. Tiếp đó, dự thảo luật sửa đổi “Luật biện pháp đối sách đặc biệt với các bệnh dịch mới” được chính phủ đệ trình quốc hội, lần lượt được Hạ viện và Thượng viện thông qua, ngày 14/3 chính thức có hiệu lực. Đạo luật này trao quyền cho Chính phủ Nhật Bản tuyên bố tình trạng khẩn cấp về bệnh truyền nhiễm với sự đồng ý của quốc hội. Trước tình hình bệnh dịch ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nhân dân và kinh tế, chính phủ có thể căn cứ vào tình hình, thực hiện các biện pháp hoặc yêu cầu cưỡng chế như cấm đi ra ngoài, nghỉ học, nghỉ làm việc… đồng thời có thể căn cứ vào nhu cầu phòng dịch, trưng dụng đất đai, cơ sở y tế, dược phẩm, thực phẩm…

Trái ngược với việc thuyết phục dân chúng phối hợp ngăn ngừa dịch bệnh lan rộng, chính phủ thông qua tuyên bố tình trạng khẩn cấp để thực hiện các biện pháp như nghỉ làm, nghỉ học…, sẽ có tác động như thế nào đến kinh tế Nhật Bản, là lo ngại lớn nhất của chính phủ nước này. Do chịu ảnh hưởng của các vấn đề như cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ, tăng thuế tiêu dùng, mưa bão, mùa đông ấm áp…, kinh tế Nhật Bản suy thoái trong năm 2019, tốc độ tăng trưởng GDp trong 4 quý giảm 1,8% xu hướng tương lai sẽ vẫn kéo dài tình trạng tồi tệ.

Dịch COVID-19 lan rộng làm gia tăng xu hướng không mấy tốt đẹp của kinh tế Nhật Bản. Theo dự báo của 14 nhóm chuyên gia kinh tế của tờ Nihon Keizai Shimbun (Nikkei), do tiêu dùng cá nhân giảm, đầu tư giảm mạnh và triển vọng phát triển kinh tế mờ mịt, tốc độ tăng trưởng GDP trong quý I/2020 của nước này sẽ tiếp tục giảm. Vào ngày Thượng viện Nhật Bản thông qua “Luật biện pháp đặc biệt”, toàn bộ thị trường chứng khoán Tokyo tụt dốc, giá cổ phiếu Nikkei giảm xuống dưới 17.000 điểm, trong một tuần đã giảm tới mức thấp nhất trong lịch sử.

Ngành du lịch và bán lẻ của Nhật Bản cũng trở thành những nạn nhân trực tiếp và lớn nhất của dịch COVID-19. Ngay từ cuối tháng 1/2020, rất nhiều khách sạn ở các vùng như Hokkaido đã bắt đầu dừng hoạt động, nhiều khách sạn có dịch vụ suối nước nóng đã không thể kinh doanh được do lượng du khách giảm mạnh, các cửa hàng miễn thuế lớn trên khắp Nhật Bản có rất ít khách trong dịp Tết Nguyên đán của Trung Quốc, lượng hàng tiêu thụ quá ít, các đồ lưu niệm từng bán chạy trước đây như “Người yêu màu trắng” đã tuyên bố ngừng sản xuất vì không bán được hàng, rất nhiều thông tin bi quan tương tự như vậy được truyền đi.

Năm 2019, ngành du lịch Nhật Bản đã thu hút được gần 32 triệu lượt du khách nước ngoài, chi tiêu khi đến nước này là gần 5000 tỷ Yen. Theo thống kê của Cơ quan du lịch Nhật Bản, số lượng du khách thăm Nhật Bản tháng 1/2020 đã giảm 1,1%, tháng 2/2020, do nguồn khách du lịch lớn từ Trung Quốc và Hàn Quốc đến Nhật Bản bằng máy bay giảm 80% nên với tình hình này, dự báo của Chính phủ Nhật Bản về số lượng du khách đến quốc gia này lên tới 40 triệu lượt người, với nguồn thu 8000 tỷ Yen khó có thể đạt được.

Tình hình các ngành nghề khác cũng không mấy lạc quan. Một mặt, do chịu ảnh hưởng của các nhân tố như trường học đóng cửa, hoạt động tự do cá nhân giảm, doanh nghiệp làm việc từ xa, công việc giảm…, các ngành cung ứng như nông sản cho nhà ăn trường học, vận chuyển giao thông, xây dựng… đều xuất hiện vấn đề kinh doanh khó khăn ở mức độ khác nhau. Mặt khác, nhu cầu tiêu dùng ở Nhật Bản cũng vì vậy mà giảm đi, lòng tin của người tiêu dùng đã giảm đi nhiều. Thuế tiêu dùng tăng lên 10% vào tháng 10/2019 đã làm giảm mạnh nhu cầu tiêu dùng trong nước và lòng tin của người tiêu dùng Nhật Bản, tính khó lường của dịch COVID-19 bất ngờ gây ra giống như đổ thêm dầu vào lửa, tác động lớn hơn đến thị trường tiêu dùng trong nước.

(còn tiếp) 

Nguồn: Trang mạng Quốc tế (TQ) – 18/03/2020.

TLTKĐB – 28/03/2020.

Châu Âu học được gì từ châu Á? – Phần cuối


Bài học thứ năm: Thông tin đầy đủ cho công chúng

Giáo sư Pangestu nói: “Trừ khi bạn có được sự hợp tác của công chúng, các chính sách của bạn có thể không được tuân thủ và việc thực thi không thể đi xa hơn. Điều quan trọng là chỉ ra rằng các chính sách dựa trên bằng chứng khoa học”.

Trung Quốc đã bị chỉ trích vì chậm thừa nhận sự bùng phát của dịch. Nước này đã cho phép một cuộc họp chính trị lớn diễn ra ở Vũ Hán ngay cả khi mối lo ngại gia tăng. Chính quyền còn trừng phạt các bác sĩ đã cố gắng cảnh báo những người khác về dịch bệnh – điều này gây ra cơn giận dữ sau khi chính một bác sĩ cảnh báo điều đó đã chết vì virus này.

Trung Quốc được ca ngợi vì làm chậm sự lây lan của virus một cách hiệu quả, sau khi áp dụng lệnh phong tỏa quy mô lớn và nâng cao năng lực bệnh viện. Tuy nhiên, các nhà chỉ trích nói rằng các biện pháp cực đoan như vậy được thực hiện do Trung Quốc ban đầu đã phản ứng chậm.

Tại Mỹ, Tổng thống Donald Trump thường mâu thuẫn với các quan chức y tế về mức độ nghiêm trọng của dịch và số lượng bộ dụng cụ xét nghiệm hiện có. Chính phủ cũng không thể cung cấp thông tin về số người đã được xét nghiệm, vì nhiều phòng xét nghiệm tư nhân không cung cấp dữ liệu cho CDC.

Giáo sư Ooi nói: “Phản ứng với dịch bệnh bao gồm việc minh bạch – điều đó ngăn mọi người hoảng loạn và tích trữ mọi thứ”.

Một số chính phủ đã sử dụng công nghệ để cập nhật thông tin chi tiết cho cư dân Hong Kong cung cấp bảng điều khiển trực tuyến về tất cả các trường hợp – bao gồm bản đồ hiển thị các tòa nhà nơi có các ca nhiễm. Hàn Quốc đưa ra cảnh báo di động cho mọi người biết nếu họ ở gần bệnh nhân.

Tại Singapore, chính phủ được ca ngợi vì truyền thông minh bạch về virus corona, bao gồm cả bài phát biểu của thủ tướng khuyến khích người dân ngừng việc lo sợ và tích trữ hàng hóa. Các biện pháp của nhà nước này đã được người dân ủng hộ rộng rãi – điều này là nhờ thực tế Singapore có một lịch sử lâu dài nhấn mạnh trách nhiệm tập thể đối với an ninh quốc gia. Truyền thông Singapore không có xu hướng thách thức tin tức từ nhà nước.

Bài học thứ sáu: Thái độ của từng cá nhân

Thật quá đơn giản để nói, như một số người từng nói, người châu Á có thể tuân thủ các mệnh lệnh của chính phủ hơn. Ở Hong Kong, niềm tin của công chúng vào chính phủ rất thấp – đã có nhiều tháng biểu tình chống chính phủ. Tại một trong những thành phố đông dân nhất thế giới, nhiều người đã tự nguyện cách ly xã hội – một số thậm chí tránh các cuộc tụ tập vào dịp Tết Nguyên đán, giống như việc người châu Âu bỏ qua các sự kiện Giáng sinh.

Giáo sư Pangestu tin rằng trong khi người Hong Kong không tin tưởng vào chính phủ, “họ rất tự hào về Hong Kong và coi dịch bệnh là mối đe dọa đối với bản sắc của lãnh thổ”.

Trong khi đó, Karin Hustler, một y tá ở Seattle, đồng thời là điều phối viên lĩnh vực khẩn cấp cho Tổ chức Bác sĩ không biên giới, đã dành một tháng ở Hong Kong để đào tạo về virus corona. Bà nhận thấy nhiều người có “ý thức trách nhiệm cá nhân” mạnh mẽ bởi họ nhớ dịch SARS hồi năm 2003 đã tấn công lãnh thổ này nặng nề như thế nào. Điều đó cũng được nhận thấy trong việc sử dụng khẩu trang phổ biến ở một số nước châu Á, bà Hustler nói nó được coi là một dấu hiệu của “sự tôn trọng đối với người khác”. Bà nhận thấy thỉnh thoảng mọi người sẽ tránh đi vào thang máy vì bà không đeo khẩu trang. Ở nhiều nước phương Tây, người ta đặc biệt được khuyên không nên đeo khẩu trang và nhiều người châu Á đã bị xúc phạm vì đeo khẩu trang.

Các chuyên gia ở châu Á cho rằng việc đeo khẩu trang kém hiệu quả hơn nhiều so với các biện pháp khác chẳng hạn như rửa tay. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc đeo khẩu trang.

Benjamin Cowlling, giáo sư dịch tễ học tại Đại học Hong Kong, lập luận: “Khẩu trang không phải là viên đạn ma thuật chống lại virus corona, nhưng nếu mọi người đeo khẩu trang, có lẽ nó có thể giúp ích, cùng với tất cả các biện pháp khác như rửa tay và cách ly xã hội, để giảm thiểu sự lây nhiễm. Bằng chứng hiện khá ít, chúng tôi cho chúng có tác dụng đó, bởi đó là sự bảo vệ mà chúng tôi dành cho các nhân viên y tế”.

Khi nói đến việc cách ly xã hội, bà Hustler nói: “Tôi cho rằng ở Mỹ, mọi người rất dân chủ – sẽ khó khăn hơn để chúng tôi hy sinh “sự tự do” của mình”.

Trước đây, bà đã nghiên cứu về dịch Ebola, lúc đó, mọi người cũng được yêu cầu rửa tay thường xuyên hơn và giữ khoảng cách, bà nói rằng thách thức lớn nhất “là khiến mọi người ý thức được sự cần thiết phải thay đổi cách sinh hoạt của họ”.

Tất cả điều này có đủ để ngăn chặn virus?

Các chuyên gia tin rằng các biện pháp tích cực hơn được áp dụng ở các nước phương Tây sẽ thành công trong việc làm chậm tốc độ lây nhiễm theo thời gian. Để hiểu được thách thức tiếp theo sau đó, họ cũng có thể học từ châu Á. Mặc dù đã kiềm chế được virus, nhưng Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Hong Kong hiện đang phải đối mặt với làn sóng lây nhiễm thứ hai, do sự trở về từ nước ngoài.

Sự bùng phát này có thể kéo dài bao lâu?

Giáo sư Ooi rất lạc quan vì số lượng nhiễm bệnh mới bắt đầu giảm trong vòng 2 đến 3 tuần sau khi lệnh phong tỏa được thực hiện ở tỉnh Hồ Bắc. Mặc dù lệnh phong tỏa của Trung Quốc là “quyết liệt”, ông tin các quốc gia có các biện pháp nhẹ nhàng hơn cũng có thể ngăn chặn sự bùng phát trong vài tuần. Ông nói: “Phong tỏa nên đóng vai trò là nguồn cảm hứng đối với các quốc gia khác ngay bây giờ – thật đau đớn nhưng nó có thể được thực hiện”.

Ngược lại, Giáo sư Cowlling lo lắng rằng nếu biện pháp phong tỏa kết thúc quá sớm, việc lây nhiễm cục bộ có thể bắt đầu lại. Ông nói: “Tôi không biết liệu cách ly xã hội có thể được duy trì trong khoảng thời gian nó cần được duy trì hay không. Chúng ta không thể thực sự thư giãn cho đến khi có vaccine – có thể mất khoảng 18 tháng, mọi người ở Hong Kong đã khá mệt mỏi sau hai tháng bị phong tỏa. Phong tỏa kéo dài đang gây tổn hại cho nền kinh tế, trong khi một dịch bệnh gây hại cho sức khỏe cộng đồng lại không có nhiều lựa chọn tốt hơn”.

Nguồn: TKNB – 24/03/2020.

Châu Âu học được gì từ châu Á? – Phần đầu


Số ca nhiễm virus corona ở phương Tây đang tăng vọt và nhiều quốc gia đã công bố các biện pháp quyết liệt, bao gồm đóng cửa trường học và lệnh giới nghiêm.

Dịch bệnh đã tấn công nhiều quốc gia ở châu Á vài tuần trước đó – một số nước và vùng lãnh thổ đã được ca ngợi vì kiềm chế được số ca nhiễm. Ví dụ, Singapore, Hong Kong và Đài Loan đều giữ số ca nhiễm tương đối thấp – mặc dù nằm gần Trung Quốc Đại lục.

Vậy họ đã làm gì khác biệt và có bài học nào cho các quốc gia khác hay không?

Bài học thứ nhất: Xem đó là việc quan trọng và hành động nhanh chóng

Các chuyên gia y tế đồng tình về các biện pháp tương tự để ngăn chặn dịch bệnh – xét nghiệm rộng rãi, cách ly những người bị nhiễm và khuyến khích cách ly xã hội. Các biện pháp như vậy hiện đang được áp dụng ở các mức độ khác nhau ở phương Tây – điểm khác biệt chính là nhiều quốc gia đã không hành động nhanh chóng.

Tikki Pangestu, cựu giám đốc chính sách nghiên cứu của Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho biết:

Vương quốc Anh và Mỹ đã mất một cơ hội. Họ đã có hai tháng kể từ khi dịch xảy ra ở Trung Quốc, có định kiến, Trung Quốc ở rất xa và sẽ không có gì xảy ra”.

Trung Quốc là nước đầu tiên báo cáo với WHO các trường hợp “nhiễm viên phổi kỳ lạ giống SARS” từ ngày 31/12/2019. Vào thời điểm đó chưa có ca lây nhiễm từ người sang người nào được khẳng định, người ta còn biết rất ít về virus này, trong vòng 3 ngày Singapore, Đài Loan và Hong Kong đều triển khai đo thân nhiệt ở các khu vực biên giới – Đài Loan kiểm tra khách trên các chuyến  bay từ Vũ hán trước khi họ xuống máy bay.

Khi các nhà khoa học hiểu hơn về loại virus này, nó đã trở nên rõ ràng những người không có triệu trứng vẫn có khả năng làm lây nhiễm. Vì vậy, việc xét nghiệm là tối quan trọng.

Bài học thứ hai: Làm xét nghiệm trở nên đại trà và giá cả phải chăng

Các ca nhiễm ở Hàn Quốc thoạt đầu tăng vọt. Nước này đã nhanh chóng phát triển bộ xét nghiệm virus – hiện đang xét nghiệm cho hơn 290.000 người. Hàn Quốc thực hiện khoảng 10.000 xét nghiệm miễn phí mỗi ngày.

Ooi Eng Eong, một giáo sư trong lĩnh vực bệnh truyền nhiễm khẩn cấp tại Đại học Quốc gia Singapore cho rằng: “cách họ tăng tốc và sàng lọc người dân quả thật rất đáng chú ý”.

Hàn Quốc có một hệ thống chứng thực nhanh chóng hoạt động, áp dụng cho các xét nghiệm bệnh truyền nhiễm, sau khi bùng phát hội chứng hô hấp Trung Đông bùng lên năm 2015 làm 35 người thiệt mạng.

Việc xét nghiệm ở Mỹ bị trì hoãn – các kit xét nghiệm ban đầu bị lỗi, các phòng xét nghiệm tư khó khăn để chứng thực các xét nghiệm của mình. Nhiều người gặp trở ngại khi muốn được xét nghiệm, chúng thường rất đắt. Thậm chí, xét nghiệm miễn phí cho mọi người đã được thông qua trong luật.

Trong khi đó, nước Anh nói rằng chỉ những người nhập viện mới được xét nghiệm thường xuyên. Điều này khiến Anh khó có thể xác định các ca với triệu chứng nhẹ.

Giáo sư Pangestu thừa nhận một số nước không có đủ các kit xét nghiệm. Tuy nhiên, ông nói rằng việc xét nghiệm đại trà như  “ưu tiên hàng đầu” và nói thêm, “xét nghiệm những người có triệu chứng, không cần phải nhập viện nhưng vẫn có khả năng làm lây nhiễm virus thậm chí còn quan trọng hơn”.

Bài học thứ ba: Truy tìm và cách ly

Chỉ xét nghiệm những người có triệu chứng là không đủ, cần truy tìm những người tiếp xúc với họ – đó mới là chìa khóa.

Singapore đã truy tìm hơn 6000 người có tiếp xúc với người bệnh – định vị họ bằng CCTV, cho họ làm xét nghiệm, yêu cầu họ tự cách ly cho tới khi có kết quả rõ ràng.

Ở Hong Kong, việc truy tìm được thực hiện đối với những người tiếp xúc với người bệnh hai ngày trước khi ai đó có triệu chứng.

Họ cũng thực hiện các biện pháp khác để đảm bảo rằng những người được yêu cầu cách ly thực sự ở nhà.

Ở Hong Kong, những người mới đến từ nước ngoài được yêu cầu đeo một vòng điện tử để theo dõi di chuyển của họ, trong khi ở Singapore, những người tự cách ly được kiểm tra vài lần một ngày, và được yêu cầu gửi ảnh chứng minh nơi họ đang ở.

Singapore có các hình phạt nặng – bao gồm cả án tù – cho bất kỳ ai vi phạm lệnh “ở nhà”. Người vi phạm sẽ bị tước quyền cư trú.

Nhiều quốc gia ở phương Tây sẽ khó áp dụng các biện pháp như vậy do dân số đông hơn và quyền tự do dân sự lớn hơn.

Giáo sư Ooi nói: “Chúng tôi có thể làm những gì chúng tôi đã làm vì đất nước chúng tôi nhỏ. Để sao chép toàn bộ những gì chúng tôi đang làm sẽ không có ý nghĩa gì, nó phải được điều chỉnh cho phù hợp với từng quốc gia”.

Bài học thứ tư: Cách ly xã hội sớm

Cách ly xã hội được coi là cách tốt nhất để kiềm chế dịch.

Các biện pháp được đưa ra càng muộn thì chúng càng cần phải được áp dụng một cách cực đoan hơn. Tại Vũ Hán (Trung Quốc), nơi virus được cho là khởi phát, 5 triệu người đã rời khỏi thành phố trước khi lệnh giới nghiêm bắt đầu. Điều này khiến chính phủ phải thực hiện lệnh phong tỏa lớn nhất trong lịch sử loài người.

Cả Italy và Tây Ban Nha đều buộc phải áp lệnh đóng cửa quốc gia sau khi số ca nhiễm tăng lên hàng nghìn. New York và California đã ra lệnh cho cư dân ở nhà, ngoại trừ khi cần phải đi làm các việc thiết yếu như mua đồ tạp hóa.

Các trường học vẫn đang hoạt động như ở Singapore, mặc dù các cuộc tụ họp đông người nơi công cộng đã bị hủy bỏ. Ở Hong Kong, các trường học đã bị đóng cửa và người lao động được khuyến khích làm việc tại nhà – các nhà hàng và quán bar vẫn mở.

Giáo sư Ooi tin sự khác biệt là do các chính phủ đã nhanh chóng thực hiện việc cách ly xã hội như thế nào.

Ông nói, “vào thời điểm nhiều nước tăng cường các biện pháp kiểm soát, số lượng ca nhiễm quá lớn” đến mức cần có những bước quyết liệt.

Cách ly xã hội bị ảnh hưởng bởi các quyết định của chính phủ về cấm các cuộc tụ họp hoặc đóng cửa trường học, nhưng nó cũng phụ thuộc vào những người sẵn sàng tham gia. Đó là lý do tại sao thông điệp cho cộng đồng – thái độ cá nhân – rất quan trọng.

(còn tiếp) 

Nguồn: TKNB – 24/03/2020.

Việt Nam học được gì từ sai lầm của Trung Quốc trong dịch COVID-19


Trong bối cảnh các quốc gia trên toàn thế giới đang nỗ lực ngăn chặn sự lây lan của đại dịch COVID-19, Việt Nam nhanh chóng nhận ra rằng việc bưng bít thông tin kiểu Trung Quốc sẽ chỉ khiến mọi việc tồi tệ hơn.

Thật khó để đánh giá chế độ độc tài hay dân chủ sẽ ứng phó tốt hơn với dịch bệnh vì có nhiều yếu tố quyết định thành công hay thất bại ngoài hệ thống thể chế. Do đó, bài viết sẽ thảo luận một số khía cạnh ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát sự lây lan của virus để phản ánh ý nghĩa ở thời điểm hiện tại và các cải cách trong tương lai.

Trung Quốc: Kiểm dịch kiểu độc đoán

Trung Quốc sử dụng “bàn tay sắt” để kiểm soát thông tin và nguồn lực theo nguyên tắc “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”, gạt bỏ mọi tiêu chuẩn nhân quyền để xử lý dịch. Đây là hệ quả tất yếu của một chế độ toàn trị. Trong thế “gọng kìm”, người dân Trung Quốc buộc phải im lặng và không thể đối phó với các mối đe dọa ngày càng tăng. Bất chấp những thách thức này, việc thắt chặt kiểm soát thông tin cũng trở thành công cụ mạnh mẽ để ngăn chặn mạng xã hội.

Nếu nhìn vào cách thức ứng phó với dịch bệnh ở các nước khác, các nhà quan sát “hời hợt” có thể ngưỡng mộ “bàn tay sắt” của chế độ độc tài Trung Quốc và ca ngợi hiệu quả của nó mà quên mất rằng chính chế độ độc tài này đã “bưng bít” thông tin về virus và làm trầm trọng thêm sự bùng phát dịch, cướp đi sinh mạng của biết bao người.

Với các quốc gia dân chủ giàu có đang gặp khủng hoảng – như Nhật Bản, Hàn Quốc và Italy – cách ứng phó của Trung Quốc một lần nữa “ghi điểm” khi sự cứng rắn của chế độ độc tài tỏ ra hiệu quả hơn các biện pháp cảnh báo. Người dân ở các quốc gia dân chủ ít bị cách ly và hạn chế đi lại trong khi vẫn được duy trì quyền riêng tư. Trớ trêu thay, chính sự thiếu cảnh giác và quá tự tin vào hệ thống phòng dịch là nguyên nhân gây bùng phát dịch ở các quốc gia này.

Vì vậy, câu hỏi đặt a là hệ thống dân chủ hay độc đoán sẽ phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh tốt hơn, hay nên lựa chọn giữa dân chủ hay độc tài liệu có còn ý nghĩa khi có quá nhiều yếu tố cá nhân khác chi phối?

Trường hợp của Việt Nam có thể minh họa cho mô hình chính trị phù hợp để ứng phó với những thách thức của dịch bệnh.

Việt Nam: Kết hợp nguyên tắc dân chủ và thực hành độc đoán

Là quốc gia có thể chế chính trị khá giống Trung Quốc, Việt Nam từ lâu đã được coi là “cởi mở” hơn rất nhiều so với người hàng xóm phương Bắc về kiểm duyệt truyền thông và kiểm soát thông tin. Người dân Việt Nam có thể sử dụng hầu hết các mạng xã hội trên thế giới. Facebook được sử dụng rộng rãi và phục vụ như một nền tảng khổng lồ để mọi người chia sẻ thông tin cũng như bày tỏ chính kiến về các chính sách của chính phủ. Trong bối cảnh truyền thông Trung Quốc chậm tiết lộ thông tin về bệnh viêm phổi bí ẩn ở Vũ Hán, cộng đồng mạng Việt Nam bắt đầu nghi ngờ về những con số thống kê dịch bệnh, vô hình chung nâng cao ý thức phòng ngừa trong người dân.

Sự phản ứng với virus đã cho chính phủ Việt Nam thấy sức mạnh của mạng xã hội, từ đó xây dựng chiến lược ứng phó.

Chính phủ Việt Nam có lẽ nhận ra rằng việc “bưng bít” thông tin kiểu Trung Quốc chỉ làm tình hình tồi tệ hơn và khiến người dân nghi ngờ về các chiến dịch tuyên truyền về dịch bệnh. Thay vào đó, chính phủ Việt Nam công khai, minh bạch thông tin về dịch, cũng như không ngăn chặn thông tin trên Facebook.

Ban đầu, có một số lo ngại khi Bộ trởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nói rằng việc đóng cửa biên giới với Trung Quốc là không cần thiết và Việt Nam sẽ duy trì quan hệ cởi mở và liên tục với Trung Quốc. Người dân Việt Nam hoang mang rằng chính phủ có thể đặt mối quan hệ chính trị và kinh tế với Trung Quốc lên trên sức khỏe của người dân. Tuy nhiên, chính phủ đã nhanh chóng lấy lại niềm tin bằng cách cam kết kiểm tra và giám sát kỹ lưỡng, và cuối cùng là ngừng cấp thị thực cho khách du lịch Trung Quốc.

Trong cuộc chiến chống dịch, chính phủ Việt Nam đã đặt sinh mạng và cuộc sống của người dân lên trên hết. Theo tinh thần đó, chính phủ đã thực sự minh bạch, nhanh chóng xoa dịu cuộc khủng hoảng tâm lý trong dân. Việt Nam dường như không bị ràng buộc bởi các quy định nghiêm ngặt về quyền riêng tư của người nhiễm bệnh, thậm chí cả việc tiết lộ danh tính của bệnh nhân. Gần đây, ngay cả danh tính và hành trình của một quan chức trong đảng có xét nghiệm dương tính với COVID-19 đã được công khai.

Người dân Việt Nam nói chung cũng hợp tác hơn người dân ở các nước dân chủ khi bị cách ly và cô lập. Những người thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với việc tự cách ly hoặc cách ly sẽ bị chỉ trích gay gắt trên truyền thông xã hội.

Mặt khác, vì không rành các quy định và luật pháp, người dân sẵn sàng từ bỏ quyền riêng tư một cách dễ dàng và hợp tác chặt chẽ với chính quyền trong phòng chống dịch bệnh.

Cho đến nay, chính phủ Việt Nam đã tận dụng tốt các yếu tố tích cực của tinh thần dân chủ, công khai và minh bạch cũng như sự thiếu kinh nghiệm về luật pháp của người dân để chống COVID-19. Chính phủ thể hiện sự quan tâm đến cuộc sống của người dân, đặt sức khỏe của người dân lên hàng đầu và sẵn sàng tạm thời hạ thấp các yếu tố tư tưởng để khôi phục niềm tin và chống lại đại dịch.

Những chiến thuật này đã được chứng minh hiệu quả và cho thấy kết quả tích cực ở Việt Nam. Giờ đây, các nguyên tắc của luật pháp, như minh bạch và trách nhiệm, phải được duy trì mạnh mẽ hơn nhằm giải quyết các vấn đề khác của đất nước, như vấn nạn tham nhũng và gia đình trị. Đồng thời, Việt Nam nên xem xét thể chế hóa các thói quen như công khai danh tính và cách ly bắt buộc trong các hoàn cảnh đặc biệt như chống dịch bệnh.

Thật khó để kết luận thể chế chính trị nào có khả năng chống lại đại dịch tốt hơn, đặc biệt trong bối cảnh có sự chênh lệch về công nghệ y tế, nguồn lực kinh tế và điều kiện khí hậu. Nhìn từ trường hợp của Việt Nam, có thể kết luận: Để ứng phó với đại dịch một cách có hiệu quả, chính phủ các nước đang phát triển cần minh bạch và cởi mở để có được niềm tin của người dân. Và quan trọng nhất, chính phủ phải sẵn sàng đặt hạnh phúc và cuộc sống của người dân lên trên yếu tố chính trị.

Nguồn: The Diplomat – 16/03/2020

TKNB – 18/03/2020

Tầm quan trọng của giới lãnh đạo trong ứng phó với COVID-19


Trong mỗi cuộc khủng hoảng đều có những cơ hội. Những di sản của các lãnh đạo chính trị thường được xác định thông qua cách thức họ đối phó với các cuộc khủng hoảng. Và dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus corona chủng mới (COVID-19) gây ra cũng là một cuộc khủng hoảng như vậy, nó đòi hỏi một sự lãnh đạo để ngăn ngừa sự lây lan thêm những ca nhiễm mới và để xoa dịu những hoang mang của cộng đồng, vốn sẽ làm gia tăng những thiệt hại cho ngành y tế cũng như nền kinh tế.

Phản ứng ban đầu của Trung Quốc đã nêu bật những sai sót của các hệ thống độc tài, vốn kiểm soát sự tự do ngôn luận. Khi bác sĩ Lý Văn Lượng tại Bệnh viện Trung tâm Vũ Hán cố gắng đưa ra cảnh báo, ông đã bị kiểm soát và cảnh cáo. Sự đau buồn và giận dữ đã bùng nổ trên mạng xã hội Trung Quốc vì cái chết của ông sau 5 tuần bị nhiễm virus, và những lời kêu gọi ủng hộ tự do ngôn luận đã nhanh chóng vượt qua sự kiểm duyệt.

Thế nhưng, theo lập luận của Ryal Manuel, Giám đốc viện Nghiên cứu Chính sách, cựu thành viên của Viện Toàn cầu châu Á, điều tồi tệ hơn nữa là “giới chức thành phố Vũ Hán đã không thể chuẩn bị được một hệ thống ứng phó y tế và còn bận rộn với một hội nghị chính trị quan trọng” nên đã bỏ lỡ những tuần lễ then chốt để kiềm chế virus ngay từ tâm dịch. Các quan chức địa phương đã quá chậm trễ trong việc đưa ra cảnh báo. Trong những tháng kể từ khi Trung Quốc kiểm soát một cách đáng kể sự lây lan của COVID-19 tại các vùng biên giới của mình bằng cách phong tỏa toàn bộ các thành phố với một quy mô chưa từng có, việc đi lại và cuộc sống thường ngày của hơn một nửa tỉ dân đã bị ảnh hưởng.

Giới lãnh đạo và các hệ thống y tế ở các nước khác trên khắp khu vực và thế giới hiện đang trải qua một cuộc thử thách, với sự cảnh giác lớn hơn rất nhiều so với những gì giới lãnh đạo Trung Quốc đã trải qua khi đối phó với COVID-19.

Tại Mỹ, chính quyền Trump đang gửi đi những thông điệp lẫn lộn khi tìm cách giảm bớt sự hoang mang và nhấn mạnh rằng mọi hoạt động vẫn diễn ra như bình thường. Điều này khiến công tác chuẩn bị bị chậm trễ, đặc biệt trong việc xét nghiệm các ca bị nghi nhiễm và sự bùng nổ số lượng ca nhiễm ở bang Washington mới đây đã chứng kiến ít nhất 11 ca tử vong. Điều đáng lo ngại hơn là giá xét nghiệm dựa theo các đạo luật của hệ thống y tế Mỹ khá cao, khiến cho những người có nguy cơ lây nhiễm không muốn đi xét nghiệm, bởi đối với một phân khúc dân số lớn không có bảo hiểm y tế đầy đủ thì việc này tiêu tốn của họ một khoản tiền khó mà kham nổi.

Australia đã nhanh chóng hành động khi Thủ tướng Scott Morrison ban bố lệnh cấm nhập cảnh đối với toàn bộ khách du lịch đến từ Trung Quốc, trừ những công dân Australia quay trở về nước. Việc làm này ít nhất cũng có tính quyết đoán hơn so với sự thiếu điều hành trong vụ khủng hoảng cháy rừng của nước này. Australia quả thực đã bị ảnh hưởng bởi tình trạng ế ẩm tại các siêu thị và sự thẳng thừng của lệnh cấm này đã khiến hàng nghìn sinh viên Trung Quốc đã ghi danh thi tuyển vào các trường đại học ở Australia hiện đang tỏ ra lưỡng lự, gây thiệt hạn đến hơn 1 tỷ AUD mỗi tháng cho nền kinh tế Australia.

Những phản ứng tại Đông Nam Á thì không giống nhau. Singapore, mặc dù với tư cách là một trung tâm toàn cầu rất dễ bị tổn thương, song cũng đã thể hiện bằng những hành động nhanh chóng, hiệu quả và kỷ luật. Trong số đó phải kể đến sự giám sát chặt chẽ các ca bị nghi nhiễm, tích cực truy tìm những người đã có tiếp xúc với các cá nhân bị nhiễm bệnh, áp dụng các biện pháp kiểm dịch mạnh mẽ, đồng thời cung ứng một luồng thông tin ổn định và đáng tin cậy cho người dân thông qua các nền tảng kỹ thuật số quan trọng. Ngược lại, tại Indonesia, Bộ trưởng Y tế Terawan Agus Putranto lại tuyên bố đất nước ông miễn nhiễm với COVID-19, cho đến khi có 2 ca được xác nhận dương tính hồi tuần trước, là nhờ sức mạnh của sự cầu nguyện chứ không phải là do họ không tiến hành xét nghiệm.

Tại Nhật Bản, sự lây lan của virus corona chủng mới (SARS-CoV-2) đã khiến Olympic Tokyo 2020 dự kiến khởi tranh vào tháng 7 tới có nguy cơ bị hoãn. Mặc dù Chủ tịch Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) Thomas Bach cho biết ông hy vọng Thế vận hội vẫn diễn ra theo đúng lịch trình, song Bộ trưởng phụ trách Olympic và Paralympic Tokyo Seiko Hashimoto đã bóng gió đến khả năng hoãn sự kiện này khi nói rằng các hợp đồng Olympic chỉ yêu cầu Nhật Bản tổ chức Thế vận hội vào một thời điểm nào đó trong năm 2020.

Nhật Bản đã bị chỉ trích vì quản lý khủng hoảng kém khi xử lý vụ tàu du lịch Diamond Princess. Việc xét nghiệm các hành khách bị chậm trễ, có rất ít biện pháp phòng ngừa sự lây lan các ca nhiễm trong vòng hai tuần tàu bị cô lập và thiếu sự giám sát đối với gần 1000 hành khách người Nhật Bản, dù kết quả xét nghiệm âm tính với virus nhưng vẫn còn nguy cơ mắc bệnh. Ngoài ra, còn có 80 nhân viên y tế đã lên tàu mà sau đó cũng không được xét nghiệm.

Trong một bài báo hồi tuần trước trên eastasiaforum.org, nhà báo Hiromi Murakami nhận định rằng, đặc trưng của sự phản ứng của Nhật Bản với COVID-19 là sự rối ren. Thủ tướng Shinzo Abe đã không giao trách nhiệm cho ai phụ trách cuộc khủng hoảng này. Đã có những chậm trễ trong việc kêu gọi lĩnh vực tư tham gia sản xuất các thiết bị xét nghiệm và còn có những sự trì hoãn rất đáng tiếc việc triển khai favipiravir, loại thuốc ngăn ngừa lây lan do hãng Fujifilm phát triển và được tin là có hiệu quả trong chống COVID-19, chỉ bởi “nó chỉ được phép sử dụng trong điều trị bệnh cúm”.

Nhà báo Murakami kết luận, Nhật Bản đã thất bại trong việc rút ra những bài học về quản lý khủng hoảng từ vụ rò rỉ phóng xạ tại nhà máy Daiichi ở Fukushima vào tháng 3/2011.

Hiện nay, khi ông Abe đang phải hứng chịu sức ép chính trị rất lớn, ông đã đề nghị các trường học đóng cửa cho đến hết năm học này vào tháng 4 và các sự kiện thể thao, văn hóa cũng nên tự động hủy bỏ hoặc hoãn lại. Tuy nhiên, quyết định này vẫn gây hoang mang bởi người ta coi tuyên bố của ông Abe chỉ là một sự đề xuất. Một số trường tư và các chương trình ngoại khóa vẫn tiếp diễn và Abe buộc phải thừa nhận rằng ông đã đưa ra quyết định mà không tham vấn bất cứ chuyên gia vê bệnh dịch nào.

Trong bối cảnh COVID-19 tiếp tục lây lan, các lãnh đạo trên toàn thế giới cần nỗ lực chung tay để giảm thiểu các ca nhiễm mới. Nick Coatsworth, bác sĩ cố vấn chuyên về các bệnh truyền nhiễm tại Bệnh viện Canberra (Australia), kêu gọi có “những cách tiếp cận thực tế” để “đáp ứng những kỳ vọng lớn về vai trò của nhà nước trong việc bảo vệ sức khỏe của chính người dân nước mình”. Cho đến nay, việc “thực thi các biện pháp hạn chế đi lại và sơ tán các công dân của mỗi nước ra khỏi các ổ dịch đang phản ánh hình ảnh “thân ai nấy lo”. Sự liên lạc và hợp tác chặt chẽ hơn giữa các nước là hết sức cần thiết cho đến khi cộng đồng khoa học phát triển được một loại vaccine. Cùng lúc, các chính phủ phải nỗ lực xoa dịu sự hoang mang của công chúng và không để “áp lực trong nước bắt nguồn từ những phản ứng sợ hãi mà rốt cục sẽ chẳng giúp được gì”.

Nguồn: www.eastasiaforum.org

TKNB – 12/03/2020

Dịch Covid-19 đặt Việt Nam trước nhiều bài toán lớn và hóc búa


Đài BBC ngày 23/2 cho rằng Việt Nam đang đứng trước nhiều bài toán lớn và hóc búa khi đương đầu với dịch Covid-19, trong đó có việc “có nên dỡ bỏ hạn chế nhập cảnh đối với người Trung Quốc” và có nên cho học sinh, sinh viên trở lại trường học hay không.

Về bài toán thứ nhất liên quan quan hệ Việt – Trung, ngày 20/2, tại một diễn đàn khu vực về hợp tác ứng phó dịch bệnh tại Vientiane (Lào), Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã hối thúc các nước ở ASEAN, trong đó có Việt Nam, dỡ bỏ các hạn chế nhập cảnh đối với người Trung Quốc qua các cửa khẩu hay biên giới với Trung Quốc. Tiến sĩ, Bác sĩ Trần Tuấn, chuyên gia phản biện độc lập về chính sách xã hội và y tế, sức khỏe, bình luận: “Đứng về phía đề nghị của Trung Quốc, chúng ta thấy xuất phát trên cơ sở để Trung Quốc cố gắng bình thường hóa nỗi lo về tình hình dịch ở Trung Quốc đối với các nước xung quanh, vì nếu tiếp tục các biện pháp có tính chất ngăn chặn giao thương, thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế Trung Quốc và có thể gây nên những hệ lụy rất là nặng nề thêm khác. Cho nên, vấn đề Trung Quốc đề nghị, tôi nghĩ rằng cũng có lý do phù hợp.

Còn về phía Việt Nam chấp nhận hay không, tôi nghĩ trong trường hợp này đúng là một bài toán đòi hỏi phải có sự cân nhắc rất là mềm dẻo giữa vấn đề gọi là tính dịch tễ học và khả năng chống dịch của Việt Nam với tình hình thực tế”.

Tiến sĩ, Bác sĩ Trần Tuấn nêu các lý do: Thứ nhất, Việt Nam hiện còn thiếu thông tin, chưa rõ được số lượng người dân Trung Quốc sang đây là như thế nào. Thứ hai, là hệ thống hoạt động hữu hiệu của bộ phận tại các cửa khẩu, Việt Nam làm tốt đến đâu. Thứ ba, Việt Nam biết rằng là dịch bệnh ở Trung Quốc hiện nay vẫn chưa kiểm soát xong và tính lây của dịch bệnh này là lây cả trong giai đoạn mà chưa có biểu hiện lâm sàng, tức là trong thời gian ủ bệnh.

Ông nói: “Cho nên, việc Việt Nam tổ chức thế nào để giám sát tại các cửa khẩu, đồng thời tiến trình sau đó giám sát được các đối tượng vào ở các vị trí, nếu như cho vào. Nếu như không có triệu chứng lâm sàng mà cho vào, thì sau đó tiến trình giám sát mang tính báo cáo với bên y tế về vấn đề tự giám sát các triệu chứng lâm sàng để phát hiện tiếp những trường hợp có nguy cơ đã nhiễm mà vào Việt Nam, thì tôi cho rằng việc này hoàn toàn trong nội bộ Chính phủ Việt Nam phải cân nhắc.

Nếu như hệ thống thực sự tốt và kiểm soát được chặt chẽ tất cả các đối tượng vào, thì lúc đó có thể đặt bài toán ra trong vấn đề gọi là xét mối quan hệ với bên Trung Quốc, một nước láng giềng mà tôi cho rằng vẫn còn ảnh hưởng đến rất nhiều vấn đề khác.

Còn nếu như hệ thống phòng chống dịch của chúng ta không đảm bảo được các yếu tố đó, thì tôi cho rằng lại trở thành các mối nguy. Tại sao? Bởi vì lúc đó nỗi lo của người dân lại từ trong chính Việt Nam, tức là nỗi lo của xã hội và lại có thể dẫn đến một tình trạng bất lợi khác.

Đặc biệt chúng ta biết rằng dịch bệnh không chỉ có Covid-19, mà trong điều kiện của đất nước hiện nay, mà lại ở gần Trung Quốc, còn có rất nhiều nguy cơ dịch bệnh khác mà có thể xảy ra. Thế mà để cho nỗi lo trong xã hội cứ dấy lên như thế ảnh hưởng những vấn đề khác, thì chúng ta lại càng khó kiểm soát”.

“Sức ép rất lớn”

Ngày 22/2, từ Đại học Quốc gia Hà Nội, Tiến sĩ Nghiêm Thúy Hằng, nhà nghiên cứu Trung Quốc học và quan sát bang giao Việt – Trung, bình luận: “Trong bối cảnh 80 quốc gia đang đóng cửa với công dân Trung Quốc, Nga và Triều Tiên đều phải đóng cửa biên giới, Trung Quốc đang lâm vào thế bị cô lập, thập diện mai phục, khó khăn nhiều bề, không lạ khi Ngoại trưởng Vương Nghị gây sức ép, đề nghị khôi phục hoặc nới rộng tự do đi lại với công dân Trung Quốc, mở đột phá khẩu cho công dân trong nước để giải tỏa bớt áp lực trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, nguy cơ xét nghiệm âm tính giả, nguy cơ virus có trong nước tiểu hay các chất thải, ô nhiễm qua đường nước thải hay các con đường mà y tế hiện vẫn chưa khám phá hết”.

Theo Tiến sĩ Nghiêm Thúy Hằng, việc các bác sĩ Trung Quốc cũng bị lây nhiễm và tỷ lệ tử vong không nhỏ đặt ra những vấn đề toàn cầu nghiêm trọng hơn rất nhiều so với dịch SARS hay thậm chí cả dịch Ebola. Do vậy, mọi động thái thận trọng trong chính sách đều không thừa, sẽ nhận được sự quan tâm rất lớn từ cả cộng đồng trong nước lẫn quốc tế, các quốc gia liên quan phụ thuộc vào nhau rất nhiều. Trung Quốc cũng không thể trách cứ Việt Nam nếu Việt Nam có lựa chọn giống 80 nước còn lại, an toàn của người dân và của nền kinh tế là trên hết sau đó mới tính đến chuyện “đột phá khẩu” hay nghĩa vụ quốc tế.

Mở rộng vấn đề thêm, nhà nghiên cứu này nói thêm: “Đi kèm theo đề nghị này là đề xuất xả nước thủy điện để cứu sông Mekong đang khô hạn nặng ở hạ nguồn, thể hiện hình ảnh nước lớn có trách nhiệm. Tuy nhiên, việc xả nước thủy điện này theo đánh giá của chuyên gia không hề có tác dụng trong việc cứu đồng bằng sông Cửu Long đang bị khô hạn, trong khi nguy cơ của việc nới lỏng tự do đi lại cho công dân Trung Quốc trong bối cảnh hiện nay mang lại mối nguy hại quá lớn.

Sức ép của Trung Quốc đối với Chính phủ Việt Nam sẽ là rất lớn, nhưng theo tôi, chỉ nên nới lỏng về giao thương hàng hóa và vẫn cần áp dụng nghiêm ngặt biện pháp cách ly và hạn chế đối với công dân Trung Quốc vì cơ sở hạ tầng về y tế của Việt Nam vẫn còn rất hạn chế so với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, thời gian vừa rồi khống chế tốt được dịch chủ yếu do chính sách của chính phủ và nỗ lực của toàn dân, hàng triệu gia đình đã phải cho con nghỉ học ở nhà”.

Chọn một trong hai?

Về bài toán thứ hai là liệu Việt Nam có nên cho học sinh, sinh viên trở lại trường học hay không, Tiến sĩ Nghiêm Thúy Hằng, người cũng có nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở Việt Nam, bình luận: “Theo tôi, tháng 3/2020, các trường Đại học và phổ thông chỉ có thể mở cửa trở lại khi vẫn áp dụng các biện pháp hạn chế nghiêm ngặt và cách ly 14 đến 24 ngày với công dân Trung Quốc và công dân Hàn Quốc, Nhật Bản và các quốc gia khác đến từ các tâm dịch.

Nếu nhà nước muốn có các động thái nới lỏng để phục hồi sản xuất, kích cầu các ngành hàng không, du lịch hay có các động thái “hữu nghị” với Trung Quốc thì nên cho các cháu học sinh cấp I, cấp II nghỉ nốt tháng 3 theo đề xuất ở TPHCM để giữ an toàn sức khỏe và tính mạng cho các cháu và đảm bảo sự an tâm cho các gia đình.

Các cháu học sinh lớp 9, học sinh cấp III (Trung học phổ thông) và đại học có thể cân nhắc nhập học torng tháng 3 để kịp chương trình”.

Tiến sĩ Nghiêm Thúy Hằng đề cập đến việc có nên chỉ lựa chọn giữa một trong hai vấn đề hay bài toán trên để xử lý vào thời điểm hiện nay ở Việt Nam, bà nói: “Tôi nghĩ các chính sách ngăn chặn nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng và chính sách mở cửa trường học trở lại liên quan mật thiết đến nhau. Kinh nghiệm tại Hàn Quốc, Nhật Bản cho thấy chỉ cần một, hai cháu lây nhiễm là sẽ có nguy cơ rất lớn cho việc dịch bệnh bùng phát trở lại, không nên mạo hiểm trong lúc này, chỉ có thể chọn một trong hai, mở cửa trường học hoặc nới lỏng tự do đi lại cho công dân Trung Quốc. Theo tôi, không nên cho tất cả trứng vào một giỏ.

Nhiều cuộc thăm dò ý kiến dư luận vẫn cho thấy khoảng 65% phụ huynh vẫn do dự chưa muốn cho con đến trường vào đầu tháng 3.

Để thể hiện tình hữu nghị của Việt Nam, có thể tiếp tục cung cấp khẩu trang, thuốc men, vật tư y tế, kinh nghiệm và phác đồ chữa bệnh, nhưng sức khỏe tính mạng của các cháu và lòng tin, sự ủng hổ đồng lòng của người dân cần đặt cao hơn lợi ích kinh tế và tình hữu nghị quốc tế”.

Nguồn: TKNB – 25/02/2020.

Văn hóa và ra quyết định – Phần cuối


Một nhà quản trị người Brazil hiện đang làm việc cho một công ty Mỹ, chịu trách nhiệm đàm phán mua hàng của một doanh nghiệp Hàn Quốc đã nói “Trong ngày đầu tiên, chúng tôi cùng đồng ý 3 điều khoản. Đến ngày thứ hai, những nhà đàm phán người Mỹ muốn bắt đầu đàm phán về điều khoản thứ 4, nhưng phía Hàn Quốc lại muốn quay lại và bàn luận lại về 3 điều khoản đầu. Sếp của tôi gần như bị sốc”.

Những gì mà các thành viên đàm phán người Mỹ học được từ trường hợp này là phong cách Mỹ không thể đơn giản áp dụng cho các nền văn hóa khác. Ví dụ, những nhà quản trị đến từ nền văn hóa không phải Mỹ thường hạn chế chia sẻ thông tin cho đế khi hiểu toàn bộ dự án. Nhưng họ cũng phải biết rõ mình không thể dễ dàng bỏ qua quá trình ra quyết định nhanh chóng của những đồng nghiệp người Mỹ. Phải làm gì đây? Cách tốt nhất là tự điều chỉnh, cố gắng nhượng bộ khi có thể và nên tỏ thái độ trước những quyết định của đối phương. Ví dụ, các quản trị người Mỹ có thể tìm cách trấn an ông sếp vốn không kiên nhẫn của mình, không nên để ông ta tham dự trực tiếp vào các cuộc họp và gửi báo cáo thường xuyên về tiến trình công việc. Còn các nhà quản trị đến từ nền văn hóa khác có thể chia sẻ thông tin khi cần, và nên nói những câu kiểu như:: “Chúng tôi sẽ xem xét toàn bộ dự án trước khi đi vào chi tiết”.

Hộp 7: Quản trị trong bối cảnh sáp nhập Daimler – Chrysler

Vài tháng 5 năm 1998, Công ty Daimler-Benz và Công ty Chrysler, 2 nhà sản xuất ô tô hàng đầu thế giới đồng ý phối hợp kinh doanh thông qua hình thức “sáp nhập bình đẳng”.

Thương vụ sáp nhập Daimler-Chrysler này mất thời gian khoảng 1 năm. Quá trình đàm phán về khả năng sáp nhập 2 công ty này bắt đầu vào ngày 18/01/1998. Sau khi nhận được sự thông qua của các bên liên quan, ngày 12/12/1998 thương vụ này được hoàn thành. Thương vụ này đã tạo ra nhà sản xuất ô tô đứng thứ 3 thế giới về doanh thu với 115,3 tỷ USD năm 1998, đứng thứ 5 thế giới về số lượng sản phẩm được bán ra với con số 4 triệu xe con và xe tải. Schrempp và Eaton cùng giữ vị trí đồng chủ tịch và đồng giám đốc điều hành.

Công ty Daimler-Chrysler đã tự tin rằng liên doanh này sẽ khai thác hiệu quả những cơ hội kinh doanh trên thị trường ô tô toàn cầu về khái cạnh địa lý và phân khúc sản phẩm. Tuy nhiên, các chuyên gia phân tích cho rằng để phi vụ sáp nhập này thành công, có một số vấn đề chính cần quan tâm. Một trong những vấn đề nổi cộm nhất là văn hóa doanh nghiệp. Phong cách quản trị Đức và Mỹ là khác nhau. Xung đột văn hóa có thể là rào cản chính mà chúng ta cần xác định trước khi thực hiện sáp nhập. Để giảm thiểu xung đột văn hóa, Schrepp quyết định cho phép các bộ phận duy trì văn hóa hiện tại. Công ty Chrysler tiếp tục tự chủ trong phân khúc sản xuất xe ô tô con và xe tải trong khi công ty Daimler tiếp tục phát triển dòng xe cao cấp Mercedes. Theo các chuyên gia phân tích, chiến lược này có thể không duy trì được bao lâu. Vào năm 2007, công ty Chrysler đã hoạt động kém hiệu quả và công ty này đã phải thay thế chủ tịch cũ James Holden người Mỹ bằng Dieter Zetsche người Đức.

Trong một cuộc phỏng vấn với Financial Times đầu năm 1999, Schrempp đã thừa nhận rằng thương vụ sáp nhập Daimler-Chrysler đã không phải là thương vụ sáp nhập bình đẳng mà thực chất là Daimler-Benz đã thâu tóm Chrysler.

Xung đột văn hóa

Daimler-Chrysler thành công phụ thuộc vào việc hợp nhất hai văn hóa doanh nghiệp khác nhau Theo Giáo sư Ulrich Steger của trường kinh doanh Lausanne, “Nếu họ không tạo ra được bầu không khí học tập lẫn nhau, họ có thể tạo ra thảm họa không thể tin nổi”. Daimler-Benz có đặc trưng ra quyết định theo phương pháp, khuôn mẫu trong hi Chrysler lại khuyến khích sự sáng tạo. Chrysler được xem là biểu tượng của sự linh hoạt và sức bật Mỹ trong khi Daimler-Benz lại đề cao các giá trị phân quyền và ra quyết định tập trung. Những sự khác nhau về văn hóa này sớm hiện ra trong các hoạt động hàng ngày của công ty. Ví dụ, cán bộ quản lý của Chrysler nhanh chóng làm cho các bộ phận quản lý cảu Daimler-Benz thất vọng. Cán bộ điều hành của Daimler-Benz  đã bối rối khi thấy Eaton thể hiện tình cảm của mình bằng nước mắt trong bài phát biểu trước các cán bộ điều hành khác. Phong cách và hình thức xe của Chrysler và Daimler-Benz cũng trái ngược nhau. Một vấn đề đối ngược nhau nữa đó là cách trả lương và thưởng cho cán bộ điều hành. Người Đức không thích khoảng cách lương quá chênh lệch và không chấp nhận điều chỉnh lương của đội ngũ quản lý cao cấp. Các CEO người Mỹ thường được trả lương hậu hĩnh. Eaton nhận được tổng lương và thưởng là 10,9 triệu USD năm 1997.

Những nỗ lực vượt qua khoảng cách lớn

Daimler-Chrysler đã thực hiện một số sáng kiến nhằm thu hẹp khoảng cách về văn hóa. Người Đức cũng tham gia các lớp học về thấu cảm văn hóa. Người Mỹ trong liên doanh mới này được khuyến khích chi tiết hơn các kế hoạch trong khi người Đức thì phải thực hành nhiều hơn về sự tự do. Các nhà phân tích đã chỉ ra rằng người Mỹ và người Đức có thể tiến lại gần nhau hơn. Họ học ngôn ngữ và phong cách giao tiếp của nhau. Khi cổ phiếu của liên doanh Daimler-Chrysler giao dịch vào 17 tháng 11 năm 1997, các công nhân người Đức đã tổ chức tiệc theo kiểu Mỹ.

Daimler dành quyền bá chủ

Năm 2000 đã có sự ra đi của lãnh đạo cấp cao tại trụ sở chính của Chrysler ở Detroit. Hai chủ tịch rất thành công của Chrysler là người Mỹ, James Holden và Thomas Stallkamp, đã bị sa thải.

Holden bị sa thải chỉ sau 7 tháng đương nhiệm. Stallkamp thay thế cho Holden cũng đã từ chức sau đó chỉ 12 tháng. Không ai có thể tin nổi trong thời gian 19 tháng lại có 2 CEO phải ra đi. Zatsche, CEO mới được bổ nhiệm tại Chrysler Hoa Kỳ, từng là lãnh đạo của Daimler và là bạn thân của Schrempp. Ông này ngay sau đó đã bổ nhiệm Wolfgang Bernhard, một cán bộ quản lý của Daimler, giữ vị trí giám đốc hoạt động sản xuất (COO). Điều này chưa từng xảy ra đối với thị trường Mỹ và đã làm cho công nhân Mỹ nản chí. Hầu hết công nhân đã phẫn nộ và thất vọng bởi vì họ cảm giác như mình đang bị trừng phạt.

Daimler-Chrysler gặp rắc rối

Các nhà phân tích cho rằng Daimler-Chrysler đã sa thải khoảng 20.000 đến 40.000 việc làm tại Chrysler Bắc Mỹ và đóng cửa vĩnh viễn ít nhất một trong số 13 nhà máy tại Mỹ và Canada bởi vì thiệt hại tài chính năm 2000.

Sau khi quý 3 bị mất hơn một nửa tỷ USD và quý 4 năm 2000 tiếp tục lỗ, Schrempp đã nói với nhân viên rằng Chrysler chỉ chiếm 13,5% thị trường ô tô Mỹ nhưng nhân viên lại chiếm tới 20% trong ngành sản xuất xe hơi. Đầu 2001, Daimler-Chrysler thông báo tiếp tục cắt giảm 26.000 việc làm tại liên doanh này. Zetsche đã nói rằng “Không ai muốn điều này xảy ra, cá nhân tôi không muốn điều này xảy ra”. Ông cho rằng đây là một quyết định khó khăn nhưng nó cần thiết để công ty đối mặt với sự cạnh tranh “tàn khốc” và doanh số bán hàng giảm trên thị trường ô tô Hoa Kỳ. Zetsche nói rằng phần lớn việc làm bị cắt giảm sẽ thông qua các chương trình về hưu sớm, sa thải, và các chương trình khác. Khoảng 3/4 số việc làm bị cắt giảm được thực hiện trong năm 2001.

Tại sao thương vụ sáp nhập này thất bại trong việc tìm ra cách hòa hợp

Các nhà phân tích cho rằng sáp nhập sẽ có lợi cho kinh doanh nhưng sự đối nghịch về văn hóa và phong cách quản lý là minh chứng về những cản trở trong quá trình thực hiện hòa hợp. Daimler-Chrysler đã nỗ lực vận hành Chrysler Hoa Kỳ giống như cách họ vận hành tại Đức. Cách tiếp cận này đã sụp đổ và dẫn đến thất bại. Vào tháng 9/2001, Business Week đã viết “Thương vụ sáp nhập này đã thất bại trong việc đạt được mục tiêu. Sự nghi ngờ giữa Auburn Hills và Stuttgart đã khiến cho những hợp tác đơn giản nhất cũng thành khó khăn”.

Cách mà Daimler-Benz hợp tác cùng Chrysler là không khả thi. Người Đức và người Mỹ đã thiếu sự thống nhất ngay từ đầu. Hai nhóm lãnh đạo người Đức và người Mỹ tại liên doanh này đã làm việc chung với nhau trong sự hồ nghi và không sẵn sàng thỏa hiệp.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hoàng Văn Hải (cb) – Ra quyết định quản trị – NXB ĐHQGHN 2014.