Các ví dụ về thành công và thất bại truyền thông trong thảm họa tự nhiên – Phần cuối


2003, San Diego, California, các vụ cháy

Vào ngày 21 tháng 10 năm 2003, quận San Diego, California đã trải qua một vụ cháy rừng lớn nhất trong lịch sử California. Những bụi cây dày, rậm rạp 50 năm tuổi đã bắt lửa một cách nhanh chóng. Thêm vào đó, những con bọ cánh cứng ăn vỏ cây đã giết chết nhiều cây cối trong vùng, đã tạo thêm nhiên liệu cho vụ cháy lịch sử này. Hậu quả cuối cùng là California bị hạn hán. Thống đốc bang California, Gray Davis, công bố tình trạng khẩn cấp và Tổng thống George W. Bush tuyên bố quận San Diego là khu vực thảm họa. Ba trăm ba mươi ngôi nhà bị cháy rụi.

Jeff Bowman, đội trưởng đội cứu hỏa San Diego và là người phát ngôn trong vụ khủng hoảng đã có kinh nghiệm trong khoảng một năm trước vụ cháy. Ông giải thích rằng trong suốt một năm đó, ông đã dành nhiều thời gian cho việc truyền thông rộng rãi về việc thiếu ngân sách cho việc lên kế hoạch đối phó và phòng trừ khủng hoảng. Ông cũng giải thích với công chúng: nếu không có một ngân quỹ đủ lớn, việc chiến đấu với một vụ cháy nghiêm trọng cũng sẽ là rất khó. Một số các vấn đề tiền khủng hoảng đã được ông chỉ ra như sau:

+ “Gần một nửa cây cối ở khu vực hoang dã quận San Diego là trên 50 năm tuổi. 30% còn lại là trên 20 năm tuổi. Điều đó có nghĩa là 80% khu vực rừng ở San Diego sẽ bùng cháy trong những thời kỳ điển hình có nguy cơ cháy rừng cao”.

+ Biện pháp phòng cháy “tụt hậu đáng kể so với các khu vực khác của bang về các sáng kiến, sự phối hợp và trang thiết bị”.

+ Lính cứu hỏa “hưởng mức lương trợ cấp và được tổ chức rất kém”.

+ Lính cứu hỏa chiếm 35% trên 1000 dân, ít hơn so với mức trung bình ở những thành phố lớn trên toàn quốc.

+ “Trong số 7 quận lớn nhất của bang, San Diego là quân duy nhất không có bộ phận phòng cháy chữa cháy hợp nhất trên toàn quận”.

+ “Thành phố Los Angeles chi 107 USD mỗi người dân cho công tác phòng cháy chữa cháy, quận Los Angeles là 141 USD, trong khi tại thành phố San Diego con số này là 85 USD”.

+ Sự chống lại quan điểm cần phải chi nhiều tiền hơn cho công tác phòng cháy chữa cháy tiếp tục dai dẳng, mặc cho những lời cảnh báo lặp đi lặp lại rằng, khu vực này thực sự đang đùa với lửa” (Perry, Pfeifer & Oldham, 2003, trang A1).

Công tác truyền thông trước khủng hoảng của Jeff Bowman tập trung vào tình trạng của tổ chức. Ông giải thích cho công chúng rằng, nếu tổ chức của ông muốn có thể kiểm soát được thảm họa thì đáng lẽ cần phải có những thay đổi. Bowman đã trung thực về mức độ sẵn àng và cũng xác định những khu vực rủi ro chủ yếu để người dân xem xét. Ví dụ, thực tế là các bụi cây trên 50 tuổi và quỹ của San Diego thực sự đi sau các quận khác trong bang California. Việc truyền thông này đóng vai trò quan trọng về vụ cháy vào ngày 21 tháng 10 năm 2003.

Truyền thông trong tình huống không chắc chắn của vụ cháy tại California

Trưởng đội cứu hỏa, Bowman đã giải thích rằng vụ cháy bắt đầu lúc 5 giờ 30 tối thứ Bảy, đã lan rất nhanh và khó dự báo. Thực tế, Bowman cho biết: “Đây là vụ cháy lan nhanh nhất tôi từng thấy trong 30 năm qua” (Perry et. al, 2003, trang A1). Cùng với gió Santa Ana, sức gió 40 – 75 dặm một giờ, ngọn lửa đã lan ra khoảng 12000 ha một giờ. Do gió thổi mạnh và ngọn lửa bùng cháy lúc chạng vạng tối, nên người ta không nhìn thấy dấu hiệu của ngọn lửa trong không khí. Việc theo dấu vết của đám cháy trở nên rất khó khăn. Hướng đi của đám cháy không thể dự báo trước, và có rất ít thông tin giá trị về việc ngọn lửa sẽ bùng lên ở nơi nào tiếp theo.

Jeff Bowman cho rằng, đã có những thử thách tất yếu khi ông thông báo về vụ cháy và trong một thời gian rất ngắn, công chúng và giới truyền thông bắt đầu đặt ra các câu hỏi:

+ Một số thông tin không được thừa nhận và không chính xác.

+ Tất cả các bên liên quan muốn được cập nhật thông tin ngay lập tức về vụ cháy.

Dưới áp lực công chúng và nhu cầu của giới truyền thông về thông tin khủng hoảng, Bowman bị rơi vào tình thế khó khăn khi thiếu các thông tin đáng tin cậy. Kết quả là ông đã sử dụng những chiến lược hàng đầu sau đây để có thể vượt qua một vài thử thách mà vụ cháy gây ra:

+ Bowman đã kết thân với giới truyền thông. Phương tiện truyền thông đại chúng đã chứng tỏ là một nguồn rất có giá trị, thậm chí đã cung cấp cho ông ta những thông tin hữu ích mà ông không thể tự thu thập được. Người ta đã tổ chức 4 đến 5 cuộc họp báo để chắc chắn rằng người dân nắm bắt được thông tin. Một cuộc họp báo chung với sự có mặt của các quan chức thành phố và địa phương được tổ chức để cung cấp hết mức có thể những thông tin chính xác cho công chúng (Bộ Dịch vụ sức khỏe và Con người).

+ Bowman đã hết sức thành thực. Ông đã giải thích rằng, ông sẽ chi sẻ cho người dân tất cả thông tin ông có. Thêm vào đó, ông đảm bảo sẽ giải thích khi cuộc họp báo tiếp theo được tổ chức. Ông cũng theo đuổi triết lý mà các nhà truyền thông khủng hoảng nắm rõ là: “Hãy nói cho họ rằng bạn biết gì và không biết gì” (Bộ Dịch vụ Sức khỏe và Con người). Công tác truyền thông của Bowman trong suốt năm 2003 về vụ cháy ở California tập trung cung cấp thông tin mở và trung thực cho công chúng, thậm chí cả khi có ít hoặc không có thông tin gì cả. Ông đã giải thích rằng do quy luật tự nhiên của vụ cháy, các phóng viên báo chí thường có thông tin tốt hơn về vụ cháy lan đến đâu. Ông lý giải điều đó, nếu không có mối quan hệ tốt trước khủng hoảng với các phương tiện truyền thông đại chúng, sẽ không thể phản ứng hiệu quả. Qua việc truyền thông, Bowman có thể đáp ứng nhu cầu của công dân San Diego và giới truyền thông. Hầu hết những lời chỉ trích về việc đối phó với khủng hoảng liên quan tới sự thiếu chuẩn bị cho khủng hoảng hơn là về sự lãnh đạo và công tác truyền thông khủng hoảng của Bowman.

Các bài học từ việc giải quyết khủng hoảng

Sau vụ cháy tại California năm 2003, Jeff Bowman đã nói chuyện về một số bài học lãnh đạo mà ông rút ra trong suốt cuộc khủng hoảng:

+ Bạn càng thành lập một trung tâm thông tin chung nhanh bao nhiêu thì càng tốt cho công tác phối hợp phản ứng bấy nhiêu.

+ Cần thiết phải đào tạo về truyền thông khủng hoảng.

+ Sự mô phỏng nên được chấp thuận.

+ Sự tín nhiệm và cam đoan là cần thiết. Khởi đầu và kết thúc luôn bằng sự thật (Bộ Dịch vụ và Sức khỏe và Con người – ND).

Các bài học về phương thức lãnh đạo đã mang lại cho Bowman khả năng quản lý sự không chắc chắn của cuộc khủng hoảng và vượt qua nhiều đòi hỏi mà vụ cháy năm 2003 tại California đặt ra.

Bạn là người quyết định

Sau khi nghiên cứu trường hợp này, đã đến lúc xác định liệu Jeff Bowman có thể thực hiện được sự lãnh đạo hiệu quả trong việc kiểm soát khủng hoảng cháy rừng này không. Trước tiên, hãy nhớ lại các bài học về lãnh đạo hiệu quả trong khủng hoảng. Những bài học này sẽ hướng dẫn bạn cách đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của việc đối phó với khủng hỏng của Bowman. Khi bạn trả lời các câu hỏi sau, cân nhắc xem liệu Bowman đã giải quyết nhu cầu và lo ngại của công chúng hiệu quả hay không hiệu quả.

Sự thành công và thất bại của việc lãnh đạo trong những thảm họa thiên nhiên: Bài học về sự lãnh đạo khủng hoảng hiệu quả

Bài học 1: Sự lãnh đạo hiệu quả rất quan trọng để giải quyết khủng hoảng.

Bằng cách nào mà sự chỉ huy nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng của Jeff Bowman trở nên quan trọng?

Bài học 2: Các nhà lãnh đạo phải xuất hiện trong cuộc khủng hoảng.

Jeff Bowman đã xuất hiện như thế nào trong khủng hoảng?

Bài học 3: Lãnh đạo nên tạo dựng một danh tiếng tốt trong thời gian trước khủng hoảng nhằm có được những thiện chí từ người khác.

Jeff Bowmna có tạo dựng danh tiếng tốt với các bên liên quan trước khủng hoảng hay không?

Bài học 4: Lãnh đạo nên cởi mở và thành thực sau khi cuộc khủng hoảng xảy ra.

Jeff Bowman đã cởi mở và thành thực như thế nào sau khi có khủng hoảng?

Bài học 5: Những nhà lãnh đạo quản lý khủng hoảng thành công phải tạo ra các cơ hội cho sự phục hồi.

Jeff Bowman đã tạo ra các cơ hội phục hồi như thế nào?

Bài học 6: Lãnh đạo nên hợp tác với các bên liên quan trong khủng hoảng và tạo được sự đồng tâm nhất trí.

Jeff Bowman đã hợp tác với các bên liên quan và tạo được sự đồng thuận như thế nào sau khi có khủng hoảng?

Bài học 7: Sự lãnh đạo kém có thể làm khủng hoảng tệ hơn.

Sự lãnh đạo của Jeff Bowman khiến cuộc khủng hoảng trở nên tốt hơn hay tệ hơn?

Bài học 8: Các nhà lãnh đạo phải thay đổi phong cách lãnh đạo của mình cho phù hợp với các tình huống bất ngờ trong khủng hoảng.

Jeff Bowman đã thay đổi phong cách lãnh đạo như thế nào trong cuộc khủng hoảng?

Bài học 9: Một phản ứng hợp tình hợp lý của lãnh đạo tổ chức đối với cuộc khủng hoảng có thể là hữu hiệu nhất trong việc tạo ra sự ủng hộ và phục hồi.

Công tác truyền thông của Jeff Bowman hợp tình hợp lý như thế nào?

Bài học 10: Các nhà lãnh đạo có nghĩa vụ thông tin cụ thể về việc kiểm soát và học hỏi từ khủng hoảng.

Jeff Bowman đã quản lý các nghĩa vụ truyền thông như thế nào sau khi có khủng hoảng? và đã rút ra bài học gì?

Tóm tắt

Vụ cháy năm 2003 tại California cho thấy vai trò của việc lãnh đạo sau khủng hoảng không chắc chắn và nguy hiểm. Sau khi có kinh nghiệm làm việc trong khoảng ít hơn một năm, Jeff Bowman đã can thiệp vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng rất khó kiểm soát. Thêm vào đó, ông còn phải thừa hưởng những kế hoạch đối phó với khủng hoảng và ngân quỹ nghèo nàn danh cho một sự kiện như thế này. Phản ứng của ông rất cởi mở và trung thực với công chúng và duy trì công tác  truyền thông không ngắt quãng với các bên liên quan. Jeff Bowman đã thực hành nhiều bài học về sự lãnh đạo hiệu quả. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất trong sự sẵn sàng và phản ứng của ông ta chính là những mối quan hệ trước khủng hoảng mà ông thiết lập được với giới truyền thông và những bên liên quan khác trước khi xảy ra vụ cháy.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Robert R. Ulmer, Timothy L. Sellnow & Matthew W. Seeger – Truyền thông hiệu quả trong khủng hoảng – NXB TT 2009.

Advertisements

Các ví dụ về thành công và thất bại truyền thông trong thảm họa tự nhiên – Phần IV


Sự cộng tác

Không tổ chức nào có thể đối phó một cách hiệu quả với khủng hoảng mà không thiết lập những mối quan hệ chặt chẽ với các bên liên quan. Evans (2005) đã đưa ra 3 loại cộng tác có thể giúp tổ chức hoàn thành nhiệm vụ.

1 – Đối với chúng tôi, để tạo ra được những tiến bộ thực sự và đơn giản chỉ cần kết nối những khả năng nòng cốt của các bên tham gia – mỗi tổ chức được phép làm điều nó làm được tốt nhất. Đối với các thảm họa quốc tế, mạng lưới toàn cầu có uy tín của chúng tôi bắt đầu với 180 tổ chức Chữ thập đỏ Quốc gia khác và các đoàn thể Lưỡi liềm đỏ, cộng với Hội Magen David Adom ở Israel.

2 – Sức tàn phá của thảm họa này cùng với tính phức tạp của công việc khắp 2 châu lục… đã kéo 90 mạng lưới quốc gia bao gồm cả chúng tôi xích lại với nhau, cùng với những tổ chức cứu trợ quốc tế như Liên hợp quốc, và những tổ chức phi chính phủ khác đặt trụ sở tại Mỹ.

3 – Sự cộng tác giữa các tổ chức chính phủ, phi chính phủ và Chữ thập đỏ – kết hợp với những kế hoạch đối phó khẩn cấp ưu việt của địa phương và các cá nhân đã cứu sống nhiều người và giúp đỡ họ trên con đường phục hồi.

Rõ ràng là Hội Chữ thập đỏ phải làm việc với đa dạng các tổ chức để đối phó với các thảm họa thiên nhiên.

Sự chịu trách nhiệm

Sự chịu trách nhiệm là phần nhiệm vụ cuối cùng của Hội Chữ thập đỏ trong việc phản ứng với các thảm họa thiên nhiên. Evans (2005) đã nói đến 3 vấn đề cốt yếu:

1 – Tổ chức Chữ thập đỏ Hoa Kỳ được Quốc hội giao trách nhiệm là một cộng sự luôn sẵn sàng của Mỹ và là tổ chức đứng đầu trong việc đối phó với thảm họa. Và chúng tôi cũng sẵn sàng để giúp đỡ bất cứ tổ chức Chữ thập đỏ quốc gia nào nếu được yêu cầu – bất cứ nơi đâu, bất cứ thời điểm nào và bằng bất cứ cách nào.

2 – Chúng tôi xác định rõ rủi ro khác hẳn, chứ không bó buộc kế hoạch của mình trong phạm vi biên giới địa lý.

3 – Chúng tôi cũng có trách nhiệm giải trình đối với việc triển khai ngay lập tức nhân lực, tiền bạc và thiết bị cứu trợ khẩn cấp.

Hội Chữ thập đỏ có trách nhiệm đi đầu trong việc sẵn sàng đương đầu và đối phó với khủng hoảng, không chỉ ở Mỹ mà trên toàn thế giới. Tổ chức này cũng chịu trách nhiệm chuẩn bị trước cho cộng đồng về những thảm họa và việc cứu trợ khẩn cấp có tổ chức và gây quỹ. Hiển nhiên, Hội Chữ thập đỏ cũng phải cởi mở trong công tác truyền thông về những trách nhiệm này nếu họ muốn duy trì về mặt pháp lý như một tổ chức hàng đầu của thế giới trong việc cứu trợ thảm họa.

Như chúng tôi đã trình bày, Hội Chữ thập đỏ vẫn hoạt động năng động ở Đông Nam Á, tiếp tục nỗ lực cứu trợ nạn nhân sóng thần. Trang web của tổ chức (www.redcross.org) cung cấp những mốc thời gian đối với những nỗ lực cứu trợ của mình và những tiến triển tổ chức đạt được cũng như những mục tiêu trong tương lai.

Bạn là người quyết định

Sau khi nghiên cứu trường hợp này, đến lúc phải quyết định xem liệu Hội Chữ thập đỏ đã truyền thông một cách hiệu quả cho các bên liên quan về cuộc khủng hoảng hay chưa. Trước tiên, hãy gợi lại trong trí óc những bài học về việc truyền thông hiệu quả và không hiệu quả trong suốt các cuộc khủng hoảng. Những bài học này sẽ hướng dẫn bạn đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức Hội Chữ thập đỏ trong việc đối phó với khủng hoảng. Khi bạn suy ngẫm về những câu hỏi trên, cân nhắc xem liệu Hội Chữ thập đỏ đã hiệu quả hay không hiệu quả trong việc giải quyết thành công những áp lực gia tăng mà nó đối mặt trong quá trình đối phó với khủng hoảng.

Truyền thông hiệu quả và không hiệu quả trong các thảm họa thiên nhiên: Bài học về truyền thông hiệu quả trong các tình huống khủng hoảng

Bài học 1: Xác định nhữg mục tiêu của bạn đối với việc truyền thông khủng hoảng.

Marsh Evans đã minh họa những mục tiêu rõ ràng trong việc truyền thông khủng hoảng bằng những cách nào?

Bài học 2: Trước một cuộc khủng hoảng, hãy xây dựng những mối cộng tác bình đẳng thực sự với những tổ chức và các nhóm đóng vai trò quan trọng đối với tổ chức của mình.

Marsha Evans đã xây dựng những mối cộng tác với các bên liên quan trước khi sóng thần xảy ra như thế nào?

Bài học 3: Coi những bên liên quan, kể cả phương tiện truyền thông là những đối tác khi quản lý khủng hoảng.

Bằng cách nào Marsha Evans đã coi những bên liên quan như những cộng sự trong nỗ lực cứu trợ sóng thần?

Bài học 4: Các tổ chức cần phát triển những mối quan hệ tích cực với các bên liên quan có lợi chủ yếu và thứ yếu.

Tổ chức Hội Chữ thập đỏ đã phát triển mối quan hệ vững chắc với các bên liên quan bằng cách nào?

Bài học 5: Truyền thông khủng hoảng hiệu quả đòi hỏi sự lắng nghe ý kiến của các bên liên quan.

Có bằng chứng cho việc Marsha Evans đã lắng nghe hoặc thấu hiểu nhu cầu của các bên liên quan hay không?

Bài học 6: Hãy sớm truyền đạt thông tin về cuộc khủng hoảng thừa nhận những sự không chắc chắn và đảm bảo với công chúng rằng bạn sẽ duy trì liên lạc với họ về rủi ro hiện thời và tương lai.

Marsha Evans thông tin cho công chúng về cuộc khủng hoảng bao nhiêu lần và như thế nào?

Bài học 7: Tránh trả lời tuyệt đối và chắc chắn với công chúng và giới truyền thông cho đến khi có đầy đủ thông tin.

Marsha Evans có thông tin với sự chắc chắn quá mức về cuộc khủng hoảng hay không?

Bài học 8: Đừng nói quá về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đối với các bên liên quan.

Marsha Evans có nói quá về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng không?

Bài học 9: Công chúng cần những tuyên bố hữu ích và thực tế về khả năng phát huy hiệu quả trong khủng hoảng.

Marsha Evans có đưa ra những tuyên bố về khả năng phát huy hiệu quả sau khi khủng hoảng xảy ra hay không?

Bài học 10: Các nhà truyền thông khủng hoảng hiệu quả thừa nhận rằng những nhân tố tích cực nhất có thể xuất hiện từ chính những cuộc khủng hoảng của tổ chức.

Bằng những cách nào Marsha Evans chấp nhận rằng những nhân tố tích cực có thể xuất hiện là kết quả của khủng hoảng?

Tóm tắt

Trận sóng thần năm 2005 ở Đông Nam Á bất ngờ đổ ập đến. Tuy nhiên, Hội Chữ thập đỏ đã nhanh chóng phản ứng và giúp đỡ những người bị ảnh hưởng nặng nhất của trận sóng thần này. Đó là minh chứng ngya từ đầu rằng Hội Chữ thập đỏ đã học được kinh nghiệm từ các cuộc khủng hoảng trước. Kết quả là tổ chức này đã truyền thông cho các bên liên quan về trách nhiệm giải trình, sự cởi mở và việc chịu trách nhiệm. Công chúng cần phải biết những khoản từ thiện họ đóng góp cho những nỗ lực cứu trợ sẽ được sử dụng hợp lý. Hơn nữa, các bên liên quan cần nhận thấy rằng Hội Chữ thập đỏ đã gây được ảnh hưởng đối với những nỗ lực cứu trợ. Thông qua truyền thông hiệu quả cho đa dạng các bên liên quan, Hội Chữ thập đỏ có thể phản ứng hiệu quả đối với một khủng hoảng kịch tính và bi thảm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Robert R. Ulmer, Timothy L. Sellnow & Matthew W. Seeger – Truyền thông hiệu quả trong khủng hoảng – NXB TT 2009.

Các ví dụ về thành công và thất bại truyền thông trong thảm họa tự nhiên – Phần III


Hội Chữ thập đỏ và tiền ủng hộ sau cuộc khủng hoảng sóng thần

Vào ngày 7 tháng 1 năm 2005, khoảng hơn 1 tuần sau cơn sóng thần, Hội Chữ thập đỏ tuyên bố một kế hoạch hồi phục bao hàm toàn diện, ước tính chi phí là 400 triệu USD (Chương trình phục hồi sau sóng thần, 2005). Thành công của Hội Chữ thập đỏ trong việc gây quỹ cho thảm họa với quy mô lớn này được minh họa trong các con số sau đây:

+ Trang web sóng thần của Hội Chữ thập đỏ bị sập sau khi có 650.000 lượt truy cập trong 24 giờ đầu tiên được tung lên mạng.

+ Số tiền ủng hộ của các tập đoàn và tổ chức cho cứu trợ sóng thần ước tính vượt quá số tiền cho vụ khủng bố 2001.

+ Tổ chức Princeton Area Community đã ủng hộ 10000 USD cho Quỹ Phản ứng trước thảm họa Quốc tế của Hội Chữ thập đỏ Mỹ, trích từ quỹ tự do của tổ chức.

+ Harvard đặt ra một tiền lệ trong hệ thống giáo dục đại học – trường đại học này công bố rằng trường sẽ ủng hộ một số tiền bằng với số tiền ủng hộ của khoảng 20.000 sinh viên và 15.000 nhân viên, bao gồm tất cả số tiền ủng hộ trước khi thông báo này được đưa ra (ở mức tối đa là 100 USD) (Chương trình phục hồi sau sóng thần, 2005).

Một sự bực mình mà các tổ chức như United Way và Hội Chữ thập đỏ phải thường xuyên phải trải qua là, trong khi họ phải phản ứng trước những thảm họa kinh hoàng như sóng thần ở Đông Nam Á, họ đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm với số tiền mà những người có liên quan cung cấp để phản ứng trước cuộc khủng hoảng. Hội Chữ thập đỏ đã rất thành công trong việc gây quỹ từ rất nhiều đóng góp khác nhau. Tuy nhiên, xác định xem quỹ này nên được chi tiêu như thế nào là rất quan trọng trong một cuộc khủng hoảng. Những người ủng hộ tiền muốn bảo đảm rằng tiền của họ được dùng theo cách mà họ chỉ định. Họ cũng muốn bảo đảm rằng số tiền mà họ ủng hộ đang làm nên một sự khác biệt trong nỗ lực cứu trợ. Trong trường hợp này, Hội Chữ thập đỏ muốn thành công trong truyền đạt thông tin sau khủng hoảng, họ sẽ phải xử lý cả hai vấn đề này làm vừa lòng những người ủng hộ.

Truyền đạt thông tin sau sóng thần

“Hội Chữ thập đỏ Mỹ đã nhận được gần 535 triệu USD tiền ủng hộ cho các nỗ lực cứu trợ sóng thần” (Evans, 2005). Ngay cả với tất cả số tiền ủng hộ, Hội Chữ thập đỏ đã cẩn trọng thông báo với mỗi người có liên quan về việc số tiền ủng hộ của họ sẽ được dùng như thế nào. Đây là một sự thay đổi và là kết quả của việc học hỏi từ cuộc khủng hoảng 11 tháng 9, khi một vài người ủng hộ không được thông báo rằng số tiền ủng hộ của họ có thể được dùng cho các mục đích không liên quan đến thảm họa đó (Cohen, 2004). Nhờ sự ủng hộ không thể tin được, chỉ một tháng sau cuộc khủng hoảng, Hội Chữ thập đỏ đã công bố rằng hội đã đạt được mục tiêu về tài chính cho việc phản ứng trước cơn sóng thần. Vào ngày 26 tháng 1 năm 2005, Hội Chữ thập đỏ công bố:

Liên Hội Chữ thập đò và Lưỡi liềm đỏ Quốc tế hôm nay công bố rằng số tiền 1,2 tỷ USD được toàn thế giới ủng hộ trong vòng 30 ngày sau cơn sóng thần đã đủ để trả toàn bộ chi phí cho chương trình cứu trợ sóng thần của Hội Chữ thập đỏ. Dưới sự lãnh đạo của Liên hội, Hội Chữ thập đỏ Mỹ tin rằng, những sự ủng hộ và đóng góp từ dân chúng Mỹ sẽ đủ để thực hiện các kế hoạch lập tức và lâu dài của hội để giúp những người sống sót trong cơn sóng thần chế người đánh tràn bờ vào ngày 26 tháng 12 năm 2004 (Hội Chữ thập đỏ quốc tế, 2005).

Marsha J. Evans, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Mỹ, đã bàn về vai trò của Hội Chữ thập đỏ trong các nỗ lực cứu trợ sóng thần với việc truyền đạt thông tin có hiệu quả và ủng hộ những người cần nó nhất trong một cuộc khủng hoảng. Bà miêu tả 3 mục tiêu chính: trách nhiệm phải giải thích – quan hệ đối tác – và trách nhiệm phải gánh vác, là một phần của các phản ứng của Hội Chữ thập đỏ trước các thảm họa tự nhiên.

Trách nhiệm phải giải thích

Trách nhiệm phải giải thích là một nhân tố chủ chốt trong việc truyền đạt thông tin sau khủng hoảng của hội. Tổ chức đã quyên góp được một số tiền lớn sau cơn sóng thần và muốn chắc chắn rằng, những người đóng góp biết chính xác sẽ được dùng như thế nào. Hội Chữ thập đỏ bàn luận về hai khởi đầu chính, liên quan đến mục tiêu trách nhiệm phải giải thích của họ:

1/ Hội Chữ thập đỏ Mỹ nghiêm chỉnh tuân thủ nguyên tắc hành xử của Phong trào Chữ thập đỏ và Lưỡi liềm đỏ Quốc tế và các tổ chức phi chính phủ trong cứu trợ thảm họa. Một trong mười nguyên tắc chúng tôi làm theo là, chúng tôi có trách nhiệm giải thích với cả những người chúng tôi cố gắng giúp đỡ và những người cung cấp tài chính cho chúng tôi.

2/ Với tư cách một tổ chức, chúng tôi đã học từ các ý kiến trái ngược nảy sinh từ sau sự kiện 11 tháng 09 là các hành động của chúng tôi phải rõ ràng. Chúng tôi biết rằng, sô tiền ủng hộ phải được dùng theo cách mà những người ủng hộ tiền có thể hiểu được, để đạt được những thay đổi mà những người ủng hộ hình dung ra khi họ giúp đỡ người khác (Evans, 2005).

Marsha Evans (2005) tiếp tục giải thích hai mục tiêu này đã được thực hiện như thế nào trong cuộc khủng hoảng sóng thần:

Đó là lý do vì sao trong tháng 01, đúng một tháng sau khi các con sóng thần xảy ra, chúng tôi dừng việc tích cực gây quỹ cho sóng thần, vì chúng tôi tin rằng chúng tôi đã nhận được đủ sự ủng hộ và cống hiến từ các cá nhân, doanh nghiệp, và tổ chức để đáp ứng các nhu cầu mà chúng tôi nhận thấy.

Hội Chữ thập đỏ Mỹ giúp cung cấp sự hỗ trợ ngay lập tức trong tình huống khẩn cấp qua phân phát thực phẩm, hỗ trợ khẩn cấp về sức khỏe, nước và vệ sinh, hỗ trợ về tâm lý, về phân phát các nhu yếu phẩm cứu trợ khác để giúp những người sống sót nấu ăn, tính trữ nước, giữ vệ sinh cho bản thân, và che chắn mình khỏi thiên nhiên. Trong sáu tháng đầu tiên, hơn 105 triệu USD đã được chi vào các hoạt động phản ứng khẩn cấp trong các nước bị ảnh hưởng bởi sóng thần.

Tuy nhiên, Chủ tịch Evans (2005) giải thích rằng, ngoài trách nhiệm phải giải thích đầu tiên, Hội Chữ thập đỏ cũng phải có trách nhiệm giải thích về kiểm soát sức khỏe và dịch bệnh cộng đồng, phục hồi và xây dựng lại cộng đồng, chuẩn bị sẵn sàng cho các thảm họa trong tương lai. Bà làm rõ ý rằng Hội Chữ thập đỏ sẽ giữ việc truyền đạt thông tin công khai với dân chúng và sẽ cố gắng củng cố danh tiếng của mình trên toàn thế giới:

Từ tháng 12 năm ngoái, chúng tôi đã đăng các bản báo cáo tiến triển trên trang web của chúng tôi, redcross.org, và chúng tôi sẽ tiếp tục làm vậy. Chúng tôi muốn mọi người liên tục được cung cấp thông tin.

Chúng tôi cũng chịu trách nhiệm trước công chúng Mỹ và cố gắng hết sức để khiến những hành động và các quyết định của mình trở nên minh bạch, từ đó mọi người thấy được số tiền quyên góp ủng hộ của họ đang phát huy tác dụng.

Liệu công chúng có thừa nhận rằng chúng tôi đang hoạt động tốt hơn. Và họ đã nhận thấy điều đó. Một cuộc khảo sát gần đây cho thấy khi được hỏi họ tin tưởng thế nào với các tên trong danh sách các cơ quan của xã hội Mỹ, 91% câu trả lời là về tổ chức Chữ thập đỏ Hoa Kỳ (The American Red Cross) – một mức độ vượt trội nhờ vào những người lính cứu hỏa.

Rõ ràng, việc truyền thông cởi mở và minh bạch hóa là những khía cạnh quan trọng trong truyền thông sau khủng hoảng của Hội Chữ thập đỏ. Thêm vào đó, Hội Chữ thập đỏ tin việc truyền thông này sẽ truyền một mức độ niềm tin của công chúng đến cho tổ chức và giúp nó đạt được những mục đích đề ra. Mối quan hệ giữa Tổ chức Chữ thập đỏ và công chúng đóng vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, có những mối quan hệ khác dường như có tính quyết định đối với Hội Chữ thập đỏ. Evans đã đề cập sâu hơn về những sự cộng tác này.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Robert R. Ulmer, Timothy L. Sellnow & Matthew W. Seeger – Truyền thông hiệu quả trong khủng hoảng – NXB TT 2009.

Các ví dụ về thành công và thất bại truyền thông trong thảm họa tự nhiên – Phần II


Hiểu phản ứng của Ban Thời tiết Quốc gia trước trận lũ lụt Thung lũng Sông Đỏ

Nhiều bài học đã được rút ra từ phản ứng của Ban Thời tiết Quốc gia trước trận lũ lụt Thung lũng Sông Đỏ năm 1997. Hầu hết các bài học này tập trung vào vai trò của truyền đạt thông tin trong các cuộc khủng hoảng phức tạp như thảm họa tự nhiên. Sau đây là một số vấn đề chủ chốt:

+ Ban Thời tiết Quốc gia thú nhận rằng: “Những người dự báo mức nước đáng lẽ có thể nhấn mạnh hơn nữa sự không chắc chắn trong dự đoán của họ” (Không chứng cứ, 1997, C1).

+ Việc thông báo mức nước của cả Ban Thời tiết Quốc gia và những người lãnh đạo cộng đồng đều quá tự tin.

+ Việc chuẩn bị cho lũ lụt của vùng bị cản trở bởi cả các công đoạn đo nước và thất bại trong truyền đạt thông tin.

+ Các nhà khí tượng học làm giảm sự không chắc chắn khi truyền đạt thông tin với quần chúng.

+ Việc truyền đạt thông tin của cả Ban Thời tiết Quốc gia và các nhà khí tượng học đều không để tâm đến sự sai lệch và không chắc chắn gây ra bởi các nhân tố khác, ví dụ như các vùng tuyết và khí hậu thất thường (Sellnow, Seeger & Ulmer 2002, p275 – 287).

Các bài học này cho thấy, truyền đạt thông tin về các sự thật xung quanh một cuộc khủng hoảng có thể là rất khó khăn. Trường hợp này cung cấp cho chúng ta một ví dụ về vai trò của sự không chắc chắn trong các thảm họa tự nhiên. Ngay cả với sự đo lường định lượng, các nhà truyền đạt thông tin hiệu quả trong khủng hoảng nên kết hợp một ít sự không chắc chắn tự nhiên của cuộc khủng hoảng vào sự truyền đạt thông tin của mình.

Bạn là người quyết định

Sau khi nghiên cứu trường hợp này, bây giờ là lúc xác định xem liệu Ban Thời tiết Quốc gia đã đối phó với sự không chắc chắn của họ một cách hiệu quả chưa. Đầu tiên, hãy dành một chút thời gian để khơi lại trong trí nhớ của bạn các bài học đã được thiết lập về việc kiểm soát sự không chắc chắn. Các bài học này sẽ giúp các bạn xác định các điểm mạnh và điểm yếu trong phản ứng trước khủng hoảng của Ban Thời tiết Quốc gia. Khi bạn trả lời các câu hỏi sau đây, hãy cân nhắc xem liệu Ban Thời tiết Quốc gia có hiệu quả hay không trong việc đối phó với khủng hoảng từ đầu đến cuối. Chúng tôi viết lại các bài học dưới dạng các câu hỏi để bạn có thể dễ dàng tập trung vào các vấn đề chủ chốt trong trường hợp này.

Kiểm soát sự không chắc chắn trong các thảm họa tự nhiên: Các bài học về sự không chắc chắn và truyền đạt thông tin trong khủng hoảng

Bài học 1: Những thành viên trong một công ty phải chấp nhận rằng một cuộc khủng hoảng có thể xảy đến nhanh và bất ngờ.

Trận lũ lụt năm 1997 ở thung lũng sông Đỏ đã gây ngạc nhiên như thế nào? Nó có bất ngờ không?

Bài học 2: Các công ty không nên phản ứng trước các cuộc khủng hoảng bằng những giải pháp theo thông lệ.

Các phản ứng trước cuộc khủng hoảng có theo thông lệ không?

Bài học 3: Mối đe dọa là thuộc tri giác.

Mối đe dọa đi kèm với trận lũ lụt này thuộc tri giác như thế nào? Cách hiểu cuộc khủng hoảng này khác nhau thế ào giữa những người có liên quan?

Bài học 4: Những nhà truyền đạt thông tin trong tình trạng khủng hoảng phải truyền đạt thông tin nhanh chóng và thường xuyên sau khi khủng hoảng xảy ra, ngay cả khi họ có thông tin thiết thực về cuộc khủng hoảng đó hay không.

Ban Thời tiết Quốc gia có truyền đạt thông tin nhanh chóng và thường xuyên về khủng hoảng hay không?

Bài học 5: Các công ty không nên cố tình làm tăng sự không rõ ràng của một cuộc khủng hoảng để lừa dối hoặc làm rối trí quần chúng.

Có các vấn đề không chắc chắn hoặc không rõ ràng cho những người có liên quan sau khủng hoảng không?

Ban Thời tiết Quốc gia có làm tăng thêm sự không rõ ràng về thảm họa không?

Bài học 6: Hãy sẵn sàng bảo vệ cách hiểu của bạn về một bằng chứng xung quanh một cuộc khủng hoảng.

Ban Thời tiết Quốc gia có bảo vệ cách hiểu của họ về các mức nước lụt không?

Bài học 7: Nếu không có ý định tốt trước khi một cuộc khủng hoảng xảy ra, việc hồi phục là rất khó, thậm chí là không thực hiện được.

Ban Thời tiết Quốc gia có hình thành các mối quan hệ vững chắc với những người có liên quan trước khủng hoảng hay không?

Bài học 8: Nếu bạn tin rằng mình không phải chịu trách nhiệm trong một cuộc khủng hoảng, bạn cần có lý lẽ rõ ràng về việc ai là người phải chịu trách nhiệm và vì sao.

Có cần thiết phải có lý lẽ rõ ràng về việc ai là người phải chịu trách nhiệm trong cuộc khủng hoảng này không?

Bài học 9: Các công ty cần chuẩn bị cho sự không chắc chắn bằng các tình huống mô phỏng và việc rèn luyện.

Có bằng chứng nào cho thấy rằng bất cứ tổ chức nào có liên quan có sự chuẩn bị cho khủng hoảng bằng các tình huống mô phỏng và rèn luyện không?

Bài học 10: Các cuộc khủng hoảng thách thức cách mà một công ty nghĩ về và tiến hành công việc của mình.

Trận lũ lụt năm 1997 ở North Dakota có thách thức cách Ban Thời tiết Quốc gia truyền đạt thông tin về khủng hoảng cho quần chúng không?

 Tóm tắt

Trận lũ lụt tại North Dakota năm 1997 cho thấy vai trò của sự không chắc chắn và không lường trước được trong truyền đạt thông tin trong khủng hoảng. Do sự phức tạp của các thảm họa tự nhiên, việc dự đoán ảnh hưởng của các sự kiện này đối với một cộng động là rất khó, nếu không muốn nói là không thể thực hiện được. Ban Thời tiết Quốc gia đã không để tâm đến sự sai lệch của mức nước lũ trong việc truyền đạt thông tin của họ. Do đó, việc truyền đạt thông tin của họ đã không tính đến sự không lường trước được của trận lũ lụt hay sự không chính xác có thể có của các máy đo lũ. Bởi vậy, dân chúng bị bối rối và bực mình trước sự không chính xác mà Ban Thời tiết Quốc gia truyền đạt thông tin trong một tình huống căng thẳng và có tính đe dọa.

Cứu hộ sóng thần và Hội chữ thập đỏ

Ngày 26 tháng 12 năm 2004, vào lúc 7h58 sáng, một trận động đất (9 độ Richter) đã xảy ra ở ngoài khơi đảo Sumatra, Indonesia, gây ra cơn sóng thần làm thiệt hại về người lớn nhất trong lịch sử. Cuộc khủng hoảng bắt đầu khá nhanh chóng và trở thành một trong những ảnh hưởng rộng lớn nhất của một thảm họa tự nhiên trong lịch sử (Hội Chữ thập đỏ Quốc tế, 2005).

+ Trong vòng một giờ, cơn sóng thần đầu tiên tới Indonesia.

+ Trong giờ thứ 2, cơn sóng tới bờ biển Thái Lan.

+ Trong giờ thứ 3, cơn sóng thần tới Sri Lanka.

+ Trong giờ thứ 4, cơn sóng tới Maldives.

+ Trong giờ thứ 7 sau động đất, sóng thần tới Bắc Phi.

Sau khi cuộc khủng hoảng xảy ra, các bệnh viện và nhà xác nhanh chóng bị tràn ngập. Trước ngày 28 tháng 12, con số người thiệt mạng đã lên tới 60.000 và việc chôn cất tập thể bắt đầu được tiến hành. Một vài giờ sau khi sóng thần đến Indonesia, Hội Chữ thập đỏ đã triệu tập hội nghị để bàn luận về các nhu cầu của các nạn nhân và một phản ứng hợp lý (Chương trình phục hồi sau sóng thần, 2005). Hậu quả của cơn sóng thần làm 300.000 người chết, và các cộng đồng ven biển từ Indonesia đến Somalia bị thiệt hại nặng nề, khiến cho gần 5.000.000 người mất nhà cửa.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Robert R. Ulmer, Timothy L. Sellnow & Matthew W. Seeger – Truyền thông hiệu quả trong khủng hoảng – NXB TT 2009.

Các ví dụ về thành công và thất bại truyền thông trong thảm họa tự nhiên – Phần I


Thảm họa tự nhiên là một trong các cuộc khủng hoảng mạnh mẽ và có sức hủy hoại lớn nhất mà chúng ta trải qua. Các thảm họa tự nhiên như lũ lụt, gió xoáy, cháy rừng, động đất, hoặc bão, thường xuyên đòi hỏi số tiền hồi phục lên đến hàng triệu, thậm chí hàng tỷ USD. Thêm vào đó, các thảm họa tự nhiên gây thiệt hại tính mạng, có thể gây ảnh hưởng mạnh về mặt tâm lý cho mọi người. Sự không chắc chắn về việc bao giờ một thảm họa tự nhiên sẽ diễn ra và làm thế nào để phản ứng trước một thảm họa tự nhiên là một thách thức đối với mọi cộng đồng người. Truyền đạt thông tin trong sự không chắc chắn này đòi hỏi sử dụng các nguyên lý truyền đạt thông tin hiệu quả trong khủng hoảng đã bàn luận đến.

Số lượng các thảm họa tự nhiên xảy ra ở Mỹ và các nước khác cho thấy, kiểu khủng hoảng này là một lực lượng áp đảo trong xã hội hiện đại. Trong năm 2005, Cơ quan Quản lý Khẩn cấp Liên bang (FEMA) đã tuyên bố về 44 thảm họa lớn, bao gồm Bão Katrina và Rita. Thêm vào đó, cũng cùng khoảng thời gian đó, có 33 tuyên bố về yêu cầu sự giúp đỡ kiểm soát các đám cháy ở Mỹ. Ảnh hưởng của các thảm họa tự nhiên đối với các cộng đồng người và cả quốc gia là rất nặng nề và tốn kém. Trong bài này, chúng tôi sẽ đưa ra 3 ví dụ về các thảm họa tự nhiên nguy hiểm và gây chết người, đã có những ảnh hưởng khốc liệt đối với các cộng đồng mà chúng gây ra.

Đầu tiên, chúng ta sẽ áp dụng các bài học về kiểm soát sự không chắc chắn vào vụ lũ lụt năm 1997 ở thung lũng sông Đỏ, North Dakota. Thứ hai, chúng ta sẽ áp dụng các bài học về truyền đạt thông tin có hiệu quả trong khủng hoảng vào các nỗ lực cứu viện của Hội Chữ thập đỏ sau cơn sóng thần 2004 ở châu Á. Cuối cùng, chúng ta sẽ dùng các bài học về khả năng lãnh đạo có hiệu quả để hiểu hơn phản ứng của lực lượng cứu hỏa San Diego trong các vụ cháy năm 2003 ở miền nam California.

Vũ lũ lụt năm 1997 ở thung lũng sông Đỏ

Vào năm 1997, các thành phố Fargo và Grand Forks ở North Dakota, Moorhead và East Grand Forks ở Minnesota đã phải làm việc để kiểm soát một trong những trận lũ lụt tốn kém nhất và gây hủy hoại mạnh nhất trong lịch sử. Thung lũng sông Đỏ, nằm dọc theo biên giới bang North Dakota và Minnesota, có một trận mưa tuyết dữ dội trong mùa đông năm 1996 – 1997. Thung lũng này thực ra là một lòng hồ từ thời xa xưa, và có xu hướng trở lại trạng thái đó trong mùa xuân. Sau trận mưa tuyết lớn vào mùa đông, sang mùa xuân tuyết tan chảy vào dòng sông chảy về phương bắc một lượng nước khổng lồ.

Mặc dù, các thành phố đã lên kế hoạch chuẩn bị cho lũ lụt vào năm đó, dự báo lụt của Ban Thời tiết Quốc gia thấp hơn rất nhiều so với những gì vùng này đã trải qua (Snellnow, Seeger & Ulmer, 2002). Sự chênh lệch giữa dự đoán và những gì thực sự diễn ra đã tạo ra sự không chắc chắn cao độ cho người dân ở North Dakota và Minnesota. Điều làm cho sự việc phức tạp hơn là niềm tin của người dân vào các thông tin về các mức nước khác nhau mà Ban Thời tiết Quốc gia truyền đạt cho dân chúng. Thông tin này rất quan trọng đối với các thành viên trong cộng đồng, bởi họ dùng các thông báo này để chặn các vùng bằng bao cát và thiết kế đê.

Dự đoán nước lũ của thung lũng sông Đỏ

Đối mặt với những trận mưa tuyết lớn lịch sử và khả năng một trận lụt dữ dội, người dân ở Minnesota và North Dakota đã tìm kiếm thông tin về mức độ lụt ở từng vùng. Các số đo nước theo quy ước và dự đoán của sông Đỏ được dựa trên một loạt các máy đo cung cấp các số đo cụ thể về độ sâu của nước. Về phương diện lịch sử, các số đo định lượng này có hiệu quả trong việc dự đoán mức nước cho lũ lụt bình thường vào mùa xuân. Tuy nhiên, sự phức tạp của toàn bộ hệ thống đã khác đi rất nhiều do một lưu lượng nước mưa chưa từng gặp phải. Trong trường hợp này, lưu lượng nước mưa đã tác động tới nền đường, cầu, và thậm chí cả đập, khiến cho việc dự đoán tầm cao của sông khó khăn. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng xấu đến khả năng dự đoán mức nước lũ của Ban Thời tiết Quốc gia (Sellnow, Seeger & Ulmer, 2002):

Trong mùa đông, tuyết cao đến 75 cm trong các vùng, nhiều gấp hai lần mức bình thường.

Băng trôi làm hỏng các máy đo trên sông.

Mua lớn và nhiệt độ thay đổi làm cho việc theo kịp mức nước thay đổi khó khăn.

Mỗi nhân tố này đều làm ảnh hưởng đến khả năng Ban Thời tiết Quốc gia sử dụng các máy đo của mình một cách hiệu quả. Các bãi tuyết tạo ra một lượng lớn nước tan chảy vào sông Đỏ. Băng trôi thường xuyên làm hỏng các máy đo trên sông, khiến cho các số đo mức nước sai được thông báo cho dân chúng. Thêm vào đó, mưa lớn và nhiệt độ thay đổi gây ra sự thay đổi trong mức nước. Rõ ràng là mỗi nhân tố này đều khiến cho việc truyền đạt thông tin về trận lũ lụt này gặp khó khăn, đặc biệt vì Ban Thời tiết Quốc gia không thể có lúc nào chắc chắn rằng các máy đo của họ đo chính xác mức nước ở sông. Thêm vào đó, có quá nhiều nhân tố có thể làm thay đổi các số đo từ ngày này sang ngày khác.

Truyền đạt thông tin cho quần chúng về mức nước

Trong khi các thành phố của North Dakota và Minnesota không chắc chắn về mức nước ngập, Ban Thời tiết Quốc gia gặp khó khăn trong việc truyền đạt thông tin bởi sự phức tạp của cuộc khủng hoảng. Sau đây là một số vấn đề chủ chốt trong trận lũ lụt:

+ Khi lũ lụt mới xảy ra, người dân ở Fargo được khuyên nên mới chuẩn bị cho mức ngập cao tới 11 mét. Trước lũ lụt, 11,4 mét được coi là rộng rãi.

+ Vào ngày 10 tháng 4 năm 1997, Ban Thời tiết Quốc gia tăng dự đoán mức nước lên 11,7 tới 11,85 mét.

+ Hai ngày sau, vào ngày 12 tháng 4 năm 1997, dự đoán này đã được thay đổi. Dự đoán mới là 11,25 mét. Người dân trong khu vực rất bực mình vì sự khác nhau thất thường giữa hai dự đoán đến tận 60 cm.

+ Các máy đo bị đổ lỗi cho các số đo sai. Sự hỏng hóc bị đổ cho băng trôi và nhiệt độ khắc nghiệt (Sellnow, Seeger & Ulmer, 2002, p276 – 280).

Ban Thời tiết Quốc gia đã thay đổi mức dự báo của mình nhiều lần trong cuộc khủng hoảng. Tuy nhiên, mỗi dự báo này đã không để tâm đến mức độ khác nhau. Ban Thời tiết Quốc gia thường xuyên đưa ra các số đo cụ thể và chính xác cho quần chúng, và rồi họ lại phải quay lại và sửa lại các dự đoán đưa ra từ trước. Sự không nhất quán này gây ra bực mình cho những người dân đắp bao cát và xây đập. Sự sửa lại thường xuyên, cộng với sự thiếu niềm tin của người dân vào các máy đo, thực ra đã gây thêm sự không chắc chắn trong một tình huống vốn đã phức tạp.

Cuối cùng mức nước đã dâng đến mức chưa từng thấy trong vòng hơn 100 năm. Thành phố Grand Forks nhìn thấy các đập cố định của mình bị nhấn chìm trong dòng nước lũ. Toàn bộ dân số 50000 người phải đi sơ tán, vì gần như toàn bộ thành phố bị ngập. Ảnh hưởng về tài chính được ước tính là “5 tỷ USD, khiến cho đây là một trong những trận lũ lụt gây thiệt hại nhất trong lịch sử nước Mỹ” (Sellnow & Seeger, 2001, p156).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Robert R. Ulmer, Timothy L. Sellnow & Matthew W. Seeger – Truyền thông hiệu quả trong khủng hoảng – NXB TT 2009.

Truyền thông và phát triển và liên hệ Việt Nam – Phần cuối


2/ Một vài liên hệ Việt Nam

Một và nét về công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa bằng con đường hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Đây được gọi là công cuộc Đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo Giáo sư Nguyễn Duy Quý (2011), nguyên Viện trưởng Viện KHXH Việt Nam thì đổi mới ở Việt Nam diễn ra từ hai chiều: “từ dưới lên” tức là ở các hợp tác xã, doanh nghiệp và “từ trên xuống” tức là các quyết định của Đảng và Nhà nước. Đó là đặc điểm nổi bật của quá trình đổi mới ở Việt Nam, vừa có sự chỉ đạo từ trên xuống, vừa có sự sáng tạo của nhân dân từ bên dưới. Cũng theo ông, khác với các nước Đông Âu và Liên Xô, ở Việt Nam nhu cầu đổi mới các chính sách xuất phát từ chính lĩnh vực kinh tế, chứ không phải là hệ quả của những biến động chính trị. Một trong những lý do chính Việt Nam áp dụng mô hình phát triển thống lĩnh chậm hơn một số quốc gia khác như Nhật Bản, Trung Quốc là vì Việt Nam giành được thắng lợi thống nhất đất nước năm 1975, 30 năm sau Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc.

Có thể nói, công cuộc Đổi mới đã đạt được nhiều mục tiêu về kinh tế, nhưng chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu ghi nhận thành tựu đổi mới lớn và nổi bật trong chính trị, văn hóa, xã hội dù việc áp dụng mô hình này ở Việt Nam được đánh giá là có sự tương tác giữa các tổ chức sản xuất địa phương với các chính sách vĩ mô của Nhà nước và Chính phủ (Nguyễn Duy Quý, 2011).

Truyền thông phát triển ở Việt Nam

Theo tìm hiểu của tác giả, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung về truyền thông phát triển ở Việt Nam. Hầu hết các đề cập về thực hành truyền thông phát triển ở Việt Nam thường xuất hiện trong các báo cáo, xuất bản phẩm của các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP), Tổ chức bảo vệ quyền trẻ em (UNICEF)…

Thực tế, bất kể dự án phát triển nào dù là dự án trong kinh tế, nông nghiệp, nước sạch, cơ sở hạ tầng, hay sức khỏe thì nó cần sự tham gia, đối thoại giữa các bên có liên quan (Mefalopulos, 2008). Nói cách khác, các hoạt động phát triển đều cần sử dụng đến truyền thông như một công cụ, một phương pháp để đạt được mục tiêu mà các hoạt động này đề ra.

Đặt ở bối cảnh, Việt Nam vẫn đặt chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 sẽ trở thành một nền kinh tế công nghiệp hiện đại, thu nhập đầu người là 3000 USD và đạt mức tăng trưởng GDP trung bình 7 – 8%/năm. Như vậy tính từ năm 1996 trở lại đây, Việt Nam đã có gần 30 năm để thực hiện con đường phát triển thông qua hiện địa hóa và công nghiệp hóa đất nước như mô hình thống lĩnh về phát triển đề xướng. Trong các văn kiện đại hội Đảng hoạch định chiến lược phát triển kinh tế, xã hội chưa chỉ rõ các cách tiếp cận cụ thể để thúc đẩy sự tham gia của các bên liên quan cũng như dựa trên các nghiên cứu khoa học cụ thể để đạt được các mục tiêu phát triển toàn diện. Các nội dung của chiến lược còn khá nặng về lý luận và có sự khác biệt sâu rộng giữa lý luận và thực tế trong việc triển khai thực hiện.

Theo UNICEF (2001), một số nguyên nhân chính của tình trạng lý luận và thực tế khác xa nhau bao gồm: sự tín nhiệm của bộ máy từ trên xuống dưới sử dụng phong cách truyền thông mang tính mô phạm; thiếu hụt các nghiên cứu trước khi có các can thiệp truyền thông; sự phối hợp yếu kém trong các hoạt động truyền thông giữa các đơn vị, lĩnh vực; không xác định được phân khúc công chúng phù hợp nên kết quả cuối cùng là đưa một thông điệp không phù hợp cho toàn xã hội nói chung và một nhóm công chúng cụ thể nói riêng; nhu cầu được tạo ra bởi thông điệp truyền thông không phải lúc nào cũng phù hợp; tài liệu phát triển và phân bố không được quan tâm đúng mực.

Ngày nay, khi việc giải quyết được các thách thức xã hội cũng là xem một thước đo quan trọng tương đương như các chỉ số chỉ sự phát triển về kinh tế thì có rất nhiều yêu cầu đặt ra với truyền thông về phát triển ở Việt Nam. Đầu tiên, có lẽ là việc xem xét, nghiên cứu nội hàm khái niệm này và việc ứng dụng các cách tiếp cận về truyền thông phát triển trong điều kiện văn hóa, xã hội, kinh tế Việt Nam. Đồng thời cũng không thể đặt lên vai truyền thông phát triển nhiều vai trò cùng một lúc vì làm như vậy sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn.

Đề xuất nêu trên xuất phát từ một nghiên cứu về truyền thông trong thông tin giáo dục cảu Laverack, G & Dao, Huy Dap (2003). Trong nghiên cứu này thì cách hiểu khái niệm truyền thông thông tin giáo dục information education communication – IEC ở Việt Nam có một số nghĩa khác so với nhận thức nguyên bản. IEC ở Việt Nam cần có sự kết hợp cả định hướng truyền thông và tư tưởng. Thuật ngữ cũng bao hàm rất nhiều các tư tưởng phức tạp khác như là xã hội hóa, tuyên truyền, giáo dục.

Đến nay, vẫn có một số tranh cãi trong việc tìm những ưu tiên nhất định trong các giai đoạn của phát triển. Nhất là việc xem xét Việt Nam có cần lấy công nghiệp hóa hiện đại hóa làm thước đo và làm mục tiêu tiến lên của cả đất nước hay không? Một số ý kiến chuyên gia cho rằng, chiến lược phát triển đất nước bằng con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chưa dựa trên thế mạnh và nền tảng lịch sử phát triển của Việt Nam. Nếu cho rằng con đường này là tất yếu, tốt nhất và phù hợp nhất thì truyền thông về tiến trình phát triển này đã thực sự hoàn thành nhiệm vụ của mình chưa?

Trong quá trình phát triển đất nước về phương diện kinh tế, có rất nhiều các thách thức xã hội phát sinh. Do vậy, việc xây dựng chiến lược truyền thông phát triển phù hợp là việc cần làm và cần phải dựa vào các nghiên cứu khoa học nghiêm túc và đúng đắn. Việc lưu ý và đầu tư xứng đáng cho truyền thông phát triển của các cơ quan hữu quan sẽ là điều kiện và đòn bẩy giúp cho Việt Nam phát triển một cách bền vững.

3/ Kết luận

Như đã nói trên, lĩnh vực truyền thông phát triển được nghiên cứu khoảng hơn 7 thập kỷ và vẫn đang thay đổi hàng ngày qua ứng dụng thực tiễn. Bài viết mới chỉ đề cập đến các nội hàm cơ bản của các khái niệm phát triển, truyền thông phát triển và sơ lược về lĩnh vực này cũng như mới chạm tới lớp vỏ của các cách tiếp cận truyền thông về phát triển trong thực tế. Các từ khóa quan trọng của truyền thông phát triển như bền vững, tương tác, đối thoại, trao quyền… vẫn chưa được đề cập một cách cụ thể và thỏa đáng. Phần liên hệ Việt Nam còn nông cạn và thiếu căn cứ khoa học. Tác giả rất mong sẽ có những nghiên cứu liên quan, bổ sung nhằm giúp cho bài viết này khắc phục được các thiếu sót.

Nguồn: ĐHKHXHNV – ĐHQGHN – 25 năm nghiên cứu và đào tạo báo chí truyền thông – NXB ĐHQGHN 2015.

Truyền thông và phát triển và liên hệ Việt Nam – Phần II


Mô hình sự phụ thuộc (Dependency): Mô hình này được coi là mô hình đối lập với mô hình thống lĩnh. Những năm 60 của thế kỷ XX, khi tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bị chỉ trích là “Âu hóa”, thuyết sự phụ thuộc nổi lên như là một mô hình có tính chất thay thế cho mô hình thống lĩnh (Mefalopulos, 2008). Các nhà khoa học ủng hộ thuyết sự phụ thuộc buộc tội thuyết hiện đại hóa là lấy phương Tây làm trung tâm, từ chối hoặc lờ đi các con đường khác để có được sự phát triển. Thuyết tập trung làm rõ sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố kinh tế với các yếu tố xã hội, lịch sử.

Theo Mefalopulos (2008) thì một trong những vấn đề gai góc hiện nay là nhu cầu cho một sự trao đổi các chương trình truyền thông, thông tin, văn hóa một cách cân bằng, công bằng hơn giữa các quốc gia giàu và nghèo. Theo ông, dù thuyết này nhấn mạnh đến sự liên hệ mật thiết giữa truyền thông và văn hóa cũng như đạt được những dấu ấn nhất định, đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, nó dần mất đi ưu thế của mình do các mô hình kinh tế mà nó đề xuất không gặt hái được các thành công như mong muốn. Thuyết này đã đề cấp đến sự tương quan, ảnh hưởng lẫn nhau giữa sự phát triển về kinh tế với các vấn đề của con người và xã hội, tuy nhiên, phương thức truyền thông của mô hình vẫn tương tự như của mô hình thống lĩnh hiện đại hóa, đó là truyền thông một chiều (Mefalopulos, 2008).

Mô hình mới nổi: Sự tham gia (Participation): Khi những lời hứa của mô hình hiện đại hóa, mô hình sụ phụ thuộc không được thực hiện thành công, các phương pháp của nó làm tăng các tranh cãi, đặc biệt là những vấn đề ô nhiễm môi trường ở Âu – Mỹ, Nhật Bản, khủng hoảng năng lượng sau năm 1973 theo sau bởi các cuộc chiến tranh (Rogers, 1976), đồng thời các nhà lý thuyết độc lập cũng không đạt được thành công trong việc cung cấp thêm một mô hình thay thế các mô hình cũ, một phương pháp tiếp cận khác tập trung vào sự tham gia của con người bắt đầu nổi lên gọi là mô hình sự tham gia (participatory model) (Mefalopulos, 2008; Nobuya Inagaki, 2007; McPhail, 2009).

Rogers (1976) coi “sự tham gia” là nhân tố cốt lõi giúp hình thành nên mô hình mới này. Mô hình này ít tính định hướng đến các khía cạnh chính trị, kinh tế và bén rễ vào các thực tiễn văn hóa của sự phát triển. Theo Mefalopulos (2008) thì khi mô hình này nổi lên, trọng tâm của phát triển đã được chuyển dịch từ sự tăng trưởng kinh tế tới việc bao gồm cả các phương diện xã hội khác, đặc biệt là ông đồng tình với quan điểm của Liên hợp quốc trong các chương trình mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (The Millennium Development Goals) là cần đặt tính bền vững của sự phát triển làm ưu tiên hàng đầu.

Mefalopulos (2008, p28) nhấn mạnh rằng “Sự tham gia có ý nghĩa không thể xảy ra được nếu thiếu truyền thông”. Rogers (1976) nhìn rõ xu hướng thay đổi của các phương thức trao đổi thông tin từ rất sớm, ngay từ khi Internet chưa ra đời. Ông cũng nhấn mạnh vào các mạng lưới liên cá nhân (interpersonal networks), chính các mạng lưới liên cá nhân này sẽ tạo ra được các dòng chảy truyền thông mới. Khoảng hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX, công nghệ thông tin thế giới có những bước phát triển vượt bậc với sự ra đời của Internet, truyền hình vệ tinh, máy tính và nhiều ứng dụng truyền thông khác đã khiến cho phương thức truyền thông một chiều gặp phải những rào cản và bộc lộ những điểm hạn chế.

Chính vì lẽ đó, mô hình sự tham gia này sử dụng truyền thông hai chiều và đối thoại để truyền tải các thông điệp và để đạt được sự tham gia của các bên liên quan dựa trên các nghiên cứu cụ thể đồng thời đảm bảo được tính bền vững của sự phát triển.

Melkote (2003, p133) tổng kết rằng các lý thuyết sử dụng trong lĩnh vực truyền thông phát triển có thể được nhóm vào hai “gia đình” lớn như sau: Gia đình thứ nhất bao gồm truyền thông và thuyết Hiện đại hóa, thuyết Khuếch tán sáng chế, cách tiếp cận tiếp thị xã hội và các chiến lược giáo dục giải trí. Gia đình thứ hai bao gồm mô hình nghiên cứu hành vi tham gia và trao quyền.

Khái niệm truyền thông phát triển (development communication)

Theo World Bank, truyền thông phát triển (development communication – viết tắt là DevComm) được xem như là một lĩnh vực liên ngành dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm giúp xây dựng sự đồng thuận trong khi nó tạo điều kiện cho sự chia sẻ kiến thức để đạt được các thay đổi tích cực trong các sáng kiến phát triển. Nó không chỉ là việc truyền bá thông tin một cách hiệu quả mà còn sử dụng các nghiên cứu thực nghiệm và truyền thông hai chiều giữa các bên có liên quan.

Năm 1997, Đại hội đồng Nghị quyết 51/172 của Liên hợp quốc cũng đưa ra một khái niệm về truyền thông phát triển trong đó nhấn mạnh nhu cầu hỗ trợ cho hệ thống truyền thông hai chiều nhằm thúc đẩy đối thoại và cho phép các cộng đồng thể hiện quan điểm, bày tỏ khát vọng, mối quan tâm và tham gia vào các quyết định liên quan đến sự phát triển của các cộng đồng đó.

Định nghĩa khác về DevComm nổi lên sau Hội nghị toàn cầu đầu tiên về truyền thông phát triển tổ chức tại Rome, Italy tháng 10 năm 2006, với sự đồng thuận của hơn 900 người tham gia “DevComm là một quá trình xã hội dựa trên đối thoại sử dụng hàng loạt các công cụ và phương pháp. Nó chính là việc tìm kiếm thay đổi ở các mức độ khác nhau bao gồm lắng nghe, xây dựng lòng tin, chia sẻ tri thức, kỹ năng, xây dựng chính sách, tranh luận, học tập vì sự thay đổi bền vững và có ý nghĩa. Nó không chỉ là quan hệ công chúng hay truyền thông tổ chức” (Mefalopulos, 2008, p5 – 8).

Phân biệt truyền thông phát triển với một số hình thức truyền thông khác

Với Mari Lee (2010), một học giả quan tâm nghiên cứu nhiều về truyền thông phát triển tại một số quốc gia châu Phi, truyền thông phát triển phải coi sự phát triển bền vững trong sự dài hạn không phải là một dự án ngắn hạn vì mục đích quảng bá hoặc các lợi ích khác. Nó cũng có thể được hiểu như truyền thông để đẩy mạnh sự phát triển xã hội và để tạo ra các thay đổi tích cực về mặt xã hội.

Đặc điểm chính của DevComm khiến nó khác biệt với một số cách tiếp cận truyền thông khác theo Mari Lee (2010) đó là (1) nhấn mạnh vào việc nhận được sự tham gia và nhắm vào các đối tượng công chúng mục tiêu khi thiết kế chiến lược truyền thông; (2) tập trung vào việc thay đổi suy nghĩ hoặc hành vi theo các phương thức xác thực, có thể đo lường được; (3) thúc đẩy sự phát triển về mặt xã hội quan tâm tới bối cảnh của cá nhân và xã hội đó.

Sue Goldstein, quản lý cao cấp của chương trình nghiên cứu “Linh hồn đô thị” và là thành viên của Ủy ban Hội nghị Thế giới về Truyền thông phát triển không chỉ đồng tình với Mari Lee về tính dài hạn; sự tương tác và đối thoại trong quá trình thực hiện truyền thông phát triển, Sue còn nhấn mạnh sự cam kết của các tổ chức liên đới.

Paolo Mefalopulos (2008, p5) hệ thống đặc điểm, chức năng của một số hình thức truyền thông phổ biến trong tương quan với truyền thông phát triển như sau:

Hình thức Mục tiêu/Định nghĩa Các chức năng chính
Truyền thông tổ chức (Corporate communication) Truyền thông sứ mệnh và các hoạt động của tổ chức chủ yếu cho các nhóm công chúng bên ngoài. Sử dụng các phương tiện, sản phẩm truyền thông để đẩy mạnh sứ mệnh và giá trị của tổ chức, thông báo cho các nhóm công chúng được lựa chọn về các hoạt động có liên quan.
Truyền thông nội bộ (Internal communication) Điều phối các dòng chảy thông tin trong nội bộ tổ chức hoặc dự án. Đôi khi, lĩnh vực này có bao gồm bên trong truyền thông tổ chức. Đảm bảo một cách kịp thời đúng lúc và sự chia sẻ hiệu quả các thông tin liên quan giữa các nhân viên, bộ phận của tổ chức. Nó khuyến khích sự cộng hưởng và tránh sự sao chép.
Truyền thông vận động (Advocacy communication) Ảnh hưởng sự thay đổi của công chúng hoặc chính sách và thúc đẩy các vấn đề liên quan đến phát triển. Tăng cường nhận thức trong các vấn đề phát triển nóng bỏng; sử dụng các phương pháp truyền thông và phương tiện truyền thông để gây ảnh hưởng đến một nhóm công chúng cụ thể và hỗ trợ cho sự thay đổi có chủ ý.
Truyền thông phát triển/truyền thông vì phát triển (Development communication) Hỗ trợ các thay đổi bền vững trong quá trình thực hiện phát triển bằng giao kết của các bên liên quan chính yếu. Thiết lập các môi trường dẫn dắt cho việc đánh giá rủi ro và cơ hội, truyền bá thông tin, tạo ra các thay đổi hành vi và thay đổi xã hội.

(còn tiếp)

Nguồn: ĐHKHXHNV – ĐHQGHN – 25 năm nghiên cứu và đào tạo báo chí truyền thông – NXB ĐHQGHN 2015.