Ưu thế đang lên của thông tin – Phần IV


Hoa Kỳ cũng có thể hoàn tất những cam kết liên minh của mình bằng cách chuyển giao ưu thế thông tin chứ không cần thiết phải triển khai quân đội. Đặc biệt là cách viện trợ này có thể nới lỏng việc hợp nhất các quốc gia mới gia nhập các liên minh của Hoa Kỳ. Thật vậy, Hoa Kỳ đã nhấn mạnh sẽ cung cấp cho các quốc gia là “đối tác vì Hòa Bình” các hệ thống dựa trên cơ sở tình báo, coi đó là một bước nhằm tiến tới nhất thể hóa hàon toàn. Khác với việc quan hệ với các thành viên của liên minh, viện trợ thông tin có thể được cung cấp theo mức độ khác nhau cho từng nước cụ thể, tùy theo sự sẵn sàng của nước đó tiến tới thiết lập các mối quan hệ chặt chẽ hơn (thí dụ Cộng hòa Czech so với Tajikistan có thể được giúp đỡ tốt hơn). Những dữ liệu thu lượm từ xa (mỗi năm một thêm đáng giá) có thể thay thế công việc tuần tiễu biên giới vốn tốn kém và mạo hiểm. Được trang bị như vậy, các đồng minh có thể không cần phải xâm phạm qua bên kia biên giới mà vẫn có thể bảo vệ biên giới của mình chống lại mọi sự xâm nhập (chẳng hạn như cuộc truy quét năm 1995 của Thổ Nhĩ Kỳ đối với phiến loạn PKK người Kurd và Iraq).

Tương tự như trên, chuyển giao ưu thế thông tin có thể giúp phát triển an ninh khu vực. Các quốc gia cũng chỉ vì nghi kị các nước láng giềng, nên thường chuyển sang tích trữ quân bị, rồi chuyển thành xúc tiến chạy đua vũ trang. Nay nếu mọi nước đều có thể thấy rõ ý đồ của nước láng giềng muốn làm gì (nhờ có “dòng bits” do Hoa Kỳ cung cấp) và nếu mỗi nước cũng hiểu rằng việc tiếp cận với thông tin của Hoa Kỳ sẽ tùy thuộc vào việc quốc gia đó từ bỏ vũ khí tiến công và giữ vững một tư thế tốt, thì mọi việc khích lệ tìm kiếm vũ khí cũng sẽ được giảm đi. Thí dụ tại châu Á, nơi có các nước tuy về mặt chính thức thì liên kết với Hoa Kỳ (Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia) nhưng lại vẫn nhìn nhau với con mắt nghi kị, thì việc viện trợ được tiến hành như trên có thể làm dịu đi các mối lo sợ cũ, đồng thời không gây thêm những mối lo âu mới.

Gìn giữ Hòa Bình có thể là một ứng dụng khác nữa. Hiệp nghị Sinai giữa Israel và Ai Cập được tăng cường bởi các hệ thống cảm ứng của Hoa Kỳ, cho phép mỗi bên theo dõi những cuộc chuyển quân có thể là dấu hiệu về một cuộc tiến công của phía bên kia. Các hệ thống thông tin đến một lúc nào đó trong tương lai sẽ được người ta triển khai trên khu vực cao nguyên Golan, có thể cung cấp các thông tin không những chỉ rõ các cuộc tấn công sắp xảy ra, mà còn cả thông tin phát hiện mục tiên – khiến bất kỳ người xâm phạm khu phi quân sự đều là nguy hiểm. Hai thí dụ về an ninh khu vực và gìn giữ hòa bình trên đây đủ minh họa việc Hoa Kỳ không cần phải cung cấp một “con người cầm một khẩu súng đứng trên mặt đất” mà vẫn có thể có tác động ảnh hưởng đến các vùng xa xôi, vì lợi ích ổn định và hòa bình.

Để phát triển và duy trì một năng lực như thế cần có một số đổi mới về trang bị lực lượng. Trong danh mục khí tài của Hoa Kỳ vốn sẵn có các hệ thống cảm ứng có năng lực nhất (như tuần dương hạm Aegis và máy bay AWACS và JSTARS) như mọi người đều thấy rõ. Năng lực đó cần được phân bổ cho các mục tiêu, làm sao có thêm nhiều đối tượng được cung cấp, bao gồm những đối tượng ít có giá trị. Cần thiết nữa là những kỹ thuật tích hợp “dòng bits” với các hệ thống tác chiến đạn dược và chỉ huy xạ kích của các nước khác và với hệ thống cảm ứng của bản thân các nước đó. Bởi lẽ các đồn gminh ngày mai có thể bao gồm cả những nước thoạt đầu còn có ý nghi ngại (như Kuwait năm 1990) hoặc những nước vốn ở bên ngoài trách nhiệm phòng vệ của Hoa Kỳ (như Hàn Quốc năm 1950), việc tích hợp cần thực hiện sao cho đạt thời gian gần thực.

Nếu chuyển giao ưu thế thông tin trở thành phương thức có ích giúp đỡ được các nước khác, thì nó có thể tác động tương đối trực tiếp đến địa chiến lược. Thí dụ, cho một “dòng bits” phải đi qua không gian, nên việc nhận “dòng bits” ở bất kỳ nơi nào trên thế giới cũng phải chi phí tốn kém như nhau. Vì vậy trên thực tế, người ta không cần thiết phải đến tận nước Mỹ mới nhận được viện trợ.

Tuy nói như thế nhưng nhân tố địa lý vẫn là quan trọng đối với việc thu thập thông tin. Không gian tác chiến càng gần đất bạn, hoặc ít ra gần lãnh hải quốc tế, sẽ càng thuận tiện cho việc sử dụng khí cụ cảm ứng không vận hoặc đặt ở biển xanh. Xây dựng và thử nghiệm các phần mềm mô phỏng nếu không có kiến thức dựa trên quan sát trực tiếp chiến trường, sẽ trở thành một công việc khó khăn. Cũng như người ta từng ghi nhận rằng một biện pháp thuần túy chỉ dựa vào “dòng bits” thường là không thực tế. Công việc chuyển giao khoản mục cùng với việc cử nhân viên liên lạc – đó đúng là những việc có tính liên kết cụ thể. Do vậy khái niệm cho rằng viện trợ có thể được thực hiện, bất chấp địa lý, là lời nói thái quá và mỗi năm qua đi người ta càng ít nói những lời lẽ như thế.

Điều khiển học không gian xúc tiến ổn định như thế nào

Trao ưu thế thông tin cho đồng minh khiến các cường quốc lớn có thể tác động ảnh hưởng đến các sự kiện mà không mấy quan tâm đến địa lý. Và trên thực tế, kể từ năm 1945, Hoa Kỳ đã tỏ rõ năng lực sử dụng lực lượng vũ trang tại những nơi xa xôi nhất và thực hiện việc chỉ huy lực lượng với thời gian thực. Nhưng đạt tới việc chỉ đạo lực lượng của các quốc gia khác với thời gian thực – đó mới thật sự là một chiến tích. Nhưng bản thân việc đó vẫn không làm thay đổi tính toán cơ bản của một quốc gia dân tộc về an ninh quân sự.

Cái có khả năng làm thay đổi những tính toán này – đó chính là năng lực điều khiển học không gian tạo điều kiện để có thêm nhiều vai mới tham dự trò chơi an ninh, bao gồm cả những quốc gia dân tộc kém sung túc cũng như các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xuyên quốc gia, thậm chí cả các cá nhân hữu quan.

Cơ chế cơ bản của nó rất đơn giản: chỉ riêng các quốc gia dân tộc mới có quyền hợp pháp về sử dụng lực lượng vũ trang và chỉ những quốc gia giàu có mới đủ khả năng chi phí cho các hệ thống phức tạp phục vụ việc sử dụng lực lượng. Những thông tin quan trọng nhất – cơ sở của mọi tác chiến quân sự tương lai được toàn cầu hóa một cách nhanh chóng. Mọi việc trở nên minh bạch rõ ràng khiến tiến công là công việc khó khăn hơn so với việc phòng ngự và cũng khiến thách thức đối với hiện trạng là khó khăn hơn so với duy trì nó. Như vậy cũng có nghĩa là thông tin toàn cầu hóa đã bắt đầu chi phối việc sử dụng thuần túy lực lượng quân sự.

Dễ hiểu nguyên nhân vì sao lại như thế, chúng ta hãy xem xét “Mạng thế giới” (World Wide Web), sự vụ Rodney King, cuộc tiến công của Croatia vào Krajina và tàu vũ trụ Clementine là những báo hiệu về các nhân tố tác động ảnh hưởng đến an ninh toàn cầu trong thế kỷ XXI.

a/ Mạng Web giờ đây đã là yếu tố quen thuộc trong đời sống văn hóa đại chúng Mỹ, nó trở thành một khí cụ để bất kỳ ai cũng có thể dùng nó nhắn tin vào vũ trụ. Người ta không cần biết phải chăng nó có thể trở thành thư viện lớn nhất, hoặc là tấm biển quảng cáo lớn nhất của thế giới về lĩnh vực thông tin, nhưng rõ ràng ngày càng có thêm nhiều người nhận thức rằng người ta có thể dễ dàng có được điện tín toàn cầu, đi đôi với sự xuất hiện phần mềm có khả năng dạo quanh khắp nơi để thu lượm những “sợi nhung – điện toán” đủ để may nên một bộ đồ thời trang. Trường hợp một sự thật bất kỳ, nếu có thể trình bày được, thì sẽ có thể đưa được vào mạng. Và một khi sự thật đã có mặt mà bất kỳ ai thấy hứng thú và chăm chú theo dõi thì rốt cuộc cũng đều có thể tìm thấy được.

b/ Sự vụ Rodney King chứng tỏ rõ là người ta có thể dễ dàng biến đổi đời sống đường phố trở thành một khu hành chính, ở đó khắp mọi nơi đều có mặt sự giám sát tư nhân. Trong một thành phố lớn với số dân hàng triệu của châu Á ngày mai phải chăng rồi cũng có cơ may có một sự giám sát tương tự như thế? Sự kết hợp giữa giao thông trên đường phố tấp nập với chi phí gia tăng của mọi người mua các mặt hàng tiêu phí như máy quay camera video và các hệ thống điện thoại số, chứng tỏ người ta chỉ còn trải qua một vài bước nhảy cóc nữa thôi là có thể tiến tới bước tiến vọt từ sự kiện đến hình ảnh, “dòng bits” và điện tín toàn cầu. Đương nhiên hầu hết những gì người ta thu lượn được có thể còn vụt vặt. Nhưng sau khi có đủ số lượng, chọn mẫu một cách rộng rãi, sàng lọc kỹ lưỡng, tổng hợp một cách thông minh, sẽ đủ bảo đảm rằng không một điều có ý nghĩa nào lại không được đưa vào quan sát.

Những gì con người “tài tử” bỏ qua, thì các nhà báo chuyên nghiệp sẽ nắm bắt được. Những ỹ thuật như vệ tinh truyền phát trực tiếp (đi đôi với nén ép mã số để nén tín hiệu nhiều gấp bốn đến mười lần trên mỗi kênh), cộng với cạnh tranh toàn cầu làm sao tranh thủ được nhiều hơn nữa các nhà báo đi tới nhiều vũ đài khác nhau, đều nhằm bảo đảm phổ cập thông tin rộng khắp hơn nữa. Tại một hội nghị mùa hè năm 1995 do Hội đồng chiến lược quốc gia tài trợ nhóm họp ở ngoại ô Chicago, người ta đã rõ được rằng các nhà quân sự Hoa Kỳ thừa nhận sự có mặt phổ biến của báo chí trong các cuộc xung đột ngày mai. Và người ta cũng kết luận không thể có cách gì che mắt báo chí, không cho họ biết các công việc được tiến hành.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Advertisements

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần III


Một đối thủ tiềm tàng làm thế nào có thể chống lại một hệ thống các hệ thống như thế? Hiển nhiên nó cần phải kiềm chân các lực lượng can thiệp ở cách xa chiến trường, xa chừng nào tốt chừng nấy. Sử dụng vũ khí giết người hàng loạt cũng có thể là một biện pháp, và cách sử dụng tốt nhất là không nhằm đe dọa quân can thiệp mà nhằm vào các quốc gia chủ nhà có thể sẽ chứa chấp quân can thiệp. Nhưng dù sao đi nữa, ở vào kỷ nguyên phổ cập kỹ thuật thông tin và phát triển mạnh mẽ các thị trường vũ khí, thì một đối tượng cạnh tranh tuy không có những vũ khí như thế (cũng như mối nguy hiểm do các loại vũ khí đó gây nên) vẫn có khả năng kiềm chế không cho Hòa Kỳ tiếp cận. Bởi vì người ta có thể tổ hợp một hệ thống các hệ thống với giá thành tương đối thấp và không tốn mấy công sức bằng cách sử dụng kỹ thuật của nước (hoặc các bên) thứ ba về ảnh vệ tinh, khí cụ hàng không không người lái, máy ảnh số, hệ thống liên lạc tế bào và kỹ thuật ảnh địa   hình chi tiết trên CD-ROM. Dựa vào những phương tiện đó, các nước chưa phải là giàu có vẫn có thể phát hiện, trông thấy được tài sản của Mỹ và do đó uy hiếp số tài sản đó ở ngay bên trong hoặc ở gần các chiến trường xung đột.

Buộc Hoa Kỳ phải hoạt động ở ngoài xa không đến nỗi làm cho tài sản của đối phương khó bị phát hiện, song nó tăng thêm tầm xa cần thiết và do vậy tăng giá chi phí đánh phá những tài sản đó – vấn đề chính là ở đó. Chống lại một kẻ địch đã phân bố thành công lực lượng quân sự của nó trong nhiều đơn vị, thì một đòn đánh từ cự ly xa là tốn kém, buộc phải tốn phí những tên lửa hành trình trị giá hàng triệu USD để tiến công một quân đội bao gồm những “kỹ thuật” quân sự (những xe tải nhẹ với vũ khí tự động). Có như thế mới đủ làm kiệt quệ một cuộc can thiệp.

Như vậy Colin đúng hay sai khi ông nói: yếu tố quyết định cuối cùng trong chiến tranh là “con người cầm súng” trên chiến trường? Câu trả lời là đúng và cũng không đúng. Đối với Hoa Kỳ, người ta có thể nói rằng trong bối cảnh thường quy của tương lai, Hoa Kỳ có thể giải giáp vũ khí hạng nặng của đối phương. Nhờ vậy, các đồng minh sở tại của Hoa Kỳ lúc ấy vẫn tiếp tục duy trì được lực lượng hạng nặng của mình, dựa vào đó sẽ có thể chi phối chiến trường, mặc dù lúc đầu họ ở vào thế yếu. Còn trong trường hợp thay vào một sự lựa chọn khác, cả hai đều không có lực lượng hạng nặng, thì vẫn cái kiến trúc đã tạo nên “dòng bits” thắp sáng chiến trường, lại được sử dụng để giúp các đồng minh. Thực hiện được như vậy, đối với Hoa Kỳ, có nghĩa là vai trò của vũ lực và địa lý càng thêm được biến đổi.

Trang bị thông tin cho đồng minh

Trong thế kỷ này Hoa Kỳ đã năm lần tiến hành các cuộc chiến tranh lớn ở ngoài nước, nhằm bảo vệ một hoặc nhiều nước đồng minh: Pháp và Anh trong chiến tranh thế giới I, Anh trong chiến tranh thế giới II và sau đó là Triều Tiên, Nam Việt Nam và Saudi Arabia. Một cách dàn xếp như thế trong điều kiện vắng mặt một đối thủ cạnh tranh tương xứng, thậm chí vẫn là một đặc điểm trong 20 năm sắp đến. Và mục đích chính hàng đầu của cuộc chiến tranh can thiệp bằng quân sự của Hoa Kỳ, sẽ nhằm che chở, bảo vệ các quốc gia khác. Khi cuộc chiến đấu kết thúc thì an ninh tương đối của các đồng minh của Hoa Kỳ sẽ là điều kiện quyết định các mục tiêu trước mắt của cuộc can thiệp.

Thông tin có thể giúp cho một cuộc can thiệp như thế được thực hiện một cách dễ dàng hơn và làm giảm đi các trở ngại về mặt địa lý vốn tồn tại rất lớn đối với những hoạt động viện trợ thông thường. Nếu cuộc chiến đấu diễn biến trở thành cuộc “trốn-và-tìm” và cùng lúc các hệ thống săn tìm có thể tách rời các lực lượng mà chúng phục vụ, thì Hoa Kỳ có thể thực hiện công việc viện trợ không những đầy đủ như bây giờ họ vẫn đang làm về trợ giúp vũ khí và nhân viên thường quy, mà sự giúp đỡ sẽ được thực hiện thường xuyên hơn, thời gian kéo dài hơn và bằng viện trợ gián tiếp chứ không phải là trực tiếp. Bằng cách cung cấp ưu thế thông tin cho đồng minh, Hoa Kỳ có thể không bộc lộ mình mà vẫn nhân gấp bội sức mạnh của đồng minh trên một số mặt tăng gấp 10, hoặc gấp 100 lần. Hoa Kỳ sẽ thực hiện như vậy bằng cách gửi cho đồng minh của mình những “dòng bits”: chủ yếu là thông tin thời gian thực về không gian tác chiến, gồm cả hồ sơ bối cảnh (thí dụ như tư liệu bản đồ) và phần mềm tích hợp, mô phỏng và bảo trì các hệ thống. Người ta cho rằng để sử dụng được những viện trợ đó, trường hợp tốt nhất đó sẽ là một đồng minh có vũ khí chính xác, yêu cầu định vị mục tiêu được đưa vào chương trình vi tính. Tuy nhiên, nếu là trường hợp đồng minh có trang bị kém hơn, thì họ vẫn có được cái lợi lớn là nắm bắt được xác thực tài sản của đối phương trong thời gian thực.

Xét trên một số mặt thì việc chuyển giao ưu thế thông tin là một biến thể của việc cung cấp vũ khí truyền thống. Nhưng so với tiếp tế vũ hí thì cung cấp “dòng bits” không để lại dấu tay như vũ khí. Hai là “dòng bits” nhân lực lượng lên gấp bội, còn vũ khí chỉ cộng thêm vào. Ba là “dòng bits” dễ dàng được chuyển giao và cũng dễ dàng được cắt bỏ (nào có ai dám chắc rằng tên lửa Stinger tiếp tế cho quân phiến loạn Afghanistan cuối cùng không rơi vào tay bọn khủng bố). Bốn là một khi “dòng bits” được sinh ra, thì một bản sao thứ hai sẽ rẻ tiền hơn, còn chiếc xe tank gửi ra nước ngoài cũng là chiếc xe tank mà không bao giờ người ta còn có nữa. Và sau hết, cung cấp cho đồng minh một hình ảnh được rọi sáng về không gian tác chiến so với sự tiếp tế về vật chất, thì chúng ta đạt được hiệu quả lớn hơn trong việc làm cho họ hiểu cách nhìn nhận của chúng ta đối với cuộc xung đột. Vả chăng trong thực tế không phải Hoa Kỳ chỉ giúp đồng minh có được các “dòng bits” chứ không giúp sức người và vật chất. Bởi vì ngay cả các đồng minh có vũ khí tinh vi, họ vẫn cần đến những đầu đạn PGM (khí tài điều khiển chính xác) thông minh và các bộ cảm ứng mặt đất. Sĩ quan liên lạc và tác chiến đặc biệt sẽ phải giúp các đồng minh về phần tích hợp ấy.

Cũng nên ghi nhận thêm một kiểu thị trường nữa tương tự thị trường vũ khí: tuy Hoa Kỳ có thể sẽ là nước đầu tiên có khả năng cung cấp viện trợ thật sự mà không bộc lộ mình trên thực tế, song phần lớn những thứ có thể tạo nên ưu thế về thông tin đều xuất xứ từ thị trường thương mại, rất ít thứ chịu sự kiểm soát chặt chẽ về công nghệ. Những năng lực này vì vậy cũng nằm trong tầm tay của nhiều cường quốc lớn tiềm tàng khác.

Để minh họa thêm về khả năng ứng dụng ưu thế thông tin được chuyển giao, ta hãy nhìn qua “Chiến dịch chiến sĩ cảnh giác”. Tháng 10/1994, Hoa Kỳ đã tiến hành cuộc tập trận công khai cùng với Kuwait, nhằm phản ứng đối với Iraq dường như chuyển quân về phía Nam. Cuộc tập trận này biểu thị khả năng của Hoa Kỳ sẵn sàn ngăn chặn một cuộc xâm lược có thể có. Cuộc tập trận tốn phí tới 1 tỷ USD (chống lại một việc mới chỉ là giả thiết của phía Iraq với chi phí ít tốn kém hơn nhiều). Và bây giờ ta lại xem thử cũng với 1 tỷ USD được dùng theo cách khác. Kuwait sẽ mua vài nghìn tên lửa chống thiết giáp và đem chôn rải rác trong hầm với số lượng nhiều hơn gấp 10 lần số tên lửa. Nếu thiết giáp vượt qua biên giới, các ký hiệu mục tiêu bổ sung ứng với thời gian thực do một hệ thống các hệ thống của Hoa Kỳ thực hiện, sẽ thay thế các ký hiệu mục tiêu giả trong những tên lửa đó, nhờ vậy một phần lớn lực lượng tiến công có thể bị phá hủy và bị loại bỏ khỏi vòng chiến. Việc chống thiết giáp trên đây có lẽ là thí dụ thích hợp nhất biểu hiện năng lực này, nhưng tư tưởng cơ bản của nó còn có thể được ứng dụng bằng cách sử dụng kỹ thuật để chống lại một cuộc uy hiếp đến từ trên không, hoặc chống lại các hoạt động lật đổ có thể được tiến hành một cách bí mật hơn tại các khu vực đồi núi. Với cách làm gửi “dòng bits” cho các lực lượng phòng ngự được chuẩn bị chu đáo, Hoa Kỳ sẽ không phải mạo hiểm đưa lực lượng vào mà vẫn đạt được mục đích đề ra và còn có thể hành động tự do hơn nhiều. Chưa kể như vậy Hoa Kỳ còn mở rộng hơn không gian hữu ích giữa tiếp xúc với quan sát thụ động.

Vũ trang thông tin cho đồng minh còn có những ứng dụng khác nữa. Chẳng hạn Hoa Kỳ muốn ủng hộ một phía trong cuộc xung đột không rõ rệt – như những người Hồi giáo Bosnia – mà không cần mạo hiểm đưa quân vào, hoặc không khiến các cường quốc khác phải can thiệp. Trong trường hợp này cung cấp “dòng bits” một cách bí mật có thể nhân hiệu quả tác chiến và vũ khí của phía được Hoa Kỳ giúp đỡ. Dù cho các cường quốc lớn thân hữu với phía bên kia trong cuộc xung đột có thể nghi Hoa Kỳ đang thực hiện sự viện trợ đó, song do tính chất của viện trợ là bí mật nên nó cũng ít gây phản ứng so với phản ứng do một sự viện trợ công khai gây ra.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần II


Khi thông tin thay thế vũ lực

Sự biến đổi của địa lý về mặt quân sự có căn nguyên của nó, đó là sự phát triển của khí tài điều khiển chính xác có tính năng được xác định là phối chuẩn tọa độ của vũ khí với mục tiêu. Ngày nay các kho vũ khí hiện đại nói chung bao gồm ba loại vũ khí điều khiển chính xác (PGMs): vũ khí có người chủ động điều khiển (thí dụ, vũ khí chống tank điều khiển hữu tuyến và bằng tín hiệu laser phản hồi); vũ khí săn đuổi mục tiêu theo ký hiệu đã cho (thí dụ, tên lửa hồng ngoại và ngư lôi âm thanh) và lớp vũ khí mới có gần đây nhất phóng tới các tọa độ cụ thể (thí dụ, tên lửa hành trình theo bản đồ, tên lửa đạn đạo hoa tiêu theo quán tính và các loại vũ khí tương lai điều khiển theo tọa độ). Vũ khí điều khiển chính xác (PGMs) được phát triển để có thể phá hủy các mục tiêu di động bằng cách tự điều khiển đường bay của chúng hợp theo các tọa độ không ngừng được điều chỉnh bổ sung. Cũng bởi việc chuyển đổi từ vũ khí do con người điều khiển sang vũ khí điều khiển bằng tín hiệu khiến người ta không còn cần đến sự điều khiển tại chỗ nữa, cho nên bước chuyển đổi tiếp thêm nữa từ vũ khí điều khiển bằng tín hiệu sang vũ khí điều khiển bằng tọa độ, khiến người ta có thể chuyển “mạng thông minh” của bản thân vũ khí điều khiển chính xác sang hệ thống xây dựng đường bay của nó.

Và ở những nơi nào có đầy đủ đến mức dồi dào vũ khí điều khiển chính xác, thì những gì bị phát hiện và bị nhận dạng trên chiến trường có nghĩa là chúng sẽ bị phá hủy hoặc bị sát thương. Tuy nói thế nhưng đương nhiều người ta vẫn có thể bảo vệ các mục tiêu tránh khỏi bị phá hủy, bằng cách nghi trang (như tạo ra các dấu hiệu giả, những dấu hiệu gây nhiễu), tạo vỏ bọc thép, thực hiện lẩn tránh và bắn lại. Như thế cuộc giao tranh giữa người lùng sục và những kẻ bị săn đuổi còn xa mới đi đến kết thúc, nhưng hiển nhiên thời gian mỗi năm qua đi, phía những người lùng sục ngày càng giành thêm nhiều lợi thế.

Loại công nghệ trên đây về phần nó, đã làm thay đổi toàn bộ những tính toán trong các cuộc xung đột thông thường. Tức là trước kia thắng lợi phần lớn được quyết định bởi ai sẽ là người tung ra trước số lượng lớn lực lượng được đưa vào sử dụng. Còn ngày nay xung đột thông thường có nghĩa gần như là một cuộc đi trốn và đi tìm.

Kỹ thuật tìm kiếm đang tiến bước nhanh chóng, bởi vì nó sử dụng điện tử và các vi khí cụ khác, tương tự như các thứ ra đời trong cuộc cách mạng điện tử thương mại toàn cầu. Thế mạnh tương đối của Hoa Kỳ cho đến nay vẫn là ở năng lực của nó: một là Hoa Kỳ đã quân sự hóa việc ứng dụng các phương tiện đó, hai là đã hợp nhất chúng vào một hệ thống mà toàn bộ thì hoàn hảo hơn từng bộ phận một. Và sau hết, đã kết hợp chúng với các hệ thống tiến công tầm rất xa (thí dụ, tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo, máy bay oanh kích có thể tiếp dầu và các tàu chiến đại dương với những đợt hoạt động dài ngày tại các vị trí trực chiến.

Mai đây việc tìm kiếm sẽ được thực hiện bằng phương tiện mà phó tham mưu trưởng liên quân – đô đốc Williams Owen gọi là một “hệ thống các hệ thống” phức tạp và gồm nhiều lớp. Lớp trên cùng của hệ thống này bay trên quỹ đạo không gian. Những vệ tinh của ngày hôm nay là những vệ tinh vài ngày một lần thu lượm hình ảnh, sẽ được thay thế dần bằng một hệ thống được trang bị tốt hơn nhằm thực hiện các công việc đúng thời gian thực. Lớp nữa là hệ thống không vận với một hệ thống tốn kém có người điều khiển của ngày hôm nay sẽ phải nhường chỗ cho những đám mây dày đặc hơn rất nhiều hợp thành bởi những khí cụ bay không người lài (UAVs – hầu hết sẽ bay và có thể gồm một số trôi). Lớp đáy sẽ bao gồm các thiết bị thám trắc ngoài biển (sử dụng cho săn – chống ngầm kiểu truyền thống và săn mìn, thám trắc không gian ven biển) và thám trắc bên trên mặt đất. Bộ phận thứ hai nói trên đây bao gồm các thiết bị quang học, các thiết bị đọc radar phản hồi, các thiết bị thám trắc cải tiến về nhiệt, áp suất, từ tính, sinh hóa và có lẽ bao gồm cả thám trắc hiện tượng trọng lực; thiết bị thám trắc địa chấn và âm thanh tầm gần và ngoài khơi xa bờ biển. Thêm vào đó là những thiết bị bức xạ, tạo hồi âm, thiết bị xử lý các dữ kiện tổng hợp và thiết bị truyền thông có thể đưa thông tin đến bất kỳ nơi nào cần thiết. Rồi trải qua một thời gian nữa, một số lượng lớn các thiết bị thám trắc, bức xạ và xử lý sẽ được cấu thành để làm việc trực tiếp với nhau: một khí cụ thám trắc không gian khi phát hiện một hiện tượng nghi vấn, có thể yêu cầu một khí cụ thám trắc không gian không người lái thu thập thêm tư liệu; và những tư liệu ấy có thể gợi ý cho nhiều khí cụ thám trắc trên mặt đất kéo dài thêm thời gian hoạt động, để tiếp sau đó thể tạo ra cho chúng có được một “khoảng không điện từ” quý báu, báo cáo thêm nhiều các phát hiện chi tiết, mà nếu chỉ sử dụng các khí cụ thông thường sẽ không thể nào tìm kiếm được.

Người ta có thể đặt câu hỏi vì sao phải nêu lên tường tận các chi tiết trên đây? Chỉ với một lý do, đó là nhằm khắc họa những thông số mới của sự liên kết, nhất thể hóa. Colin Gray lập luận rằng mặc dù “các phương tiện tiến hành chiến tranh trên đất liền, trên biển, trên không và trong không gian đang được cải tiến mạnh mẽ, nhưng điều đáng ghi nhận là chiến tranh vẫn được tiến hành trong môi trường”. Tuy vậy chúng ta cứ thử xem xét hàng loạt thiết bị sau đây gồm các bộ cảm ứng, bức xạ, liên lạc, điều chỉnh hướng, phát ký hiệu, sàng lọc, xác định, phân loại và tạo ra những quyết định về mục tiêu. Rồi chúng ta định ra những đường nhân tạo phân ranh giới giữa chúng với nhau, tách bạch chúng ra đưa vào làm tài sản riêng của không lực, hải quân, hải quân lục chiến và của lục quân; sau đó từng bộ phận một sẽ báo cáo lên những mắt xích chỉ huy riêng rẽ. Như thế rõ ràng là phức tạp, nhưng dù sao đi nữa, trải qua bao nhiêu năm tranh cãi, những sự liên kết mà người ta mong muốn đạt tới được như ngày hôm nay, chung quy vẫn là làm sao xác định cho được một phương thức, khiến các thiết bị đó một khi có lệnh là có thể nói chuyện trực tiếp với nhau được. Colin đưa ra một giả thiết: vấn đề không phải ở chỗ bất kỳ phần công việc nào muốn được hoàn thành tốt trong tác nghiệp liên hợp thì trước hết nó phải được hoàn thành tốt trong môi trường riêng của nó; vấn đề lại là khi đứng trước các loại vũ khí với đủ loại tầm xa gần và các mối quan hệ giữa các loại vũ khí và các khí cụ cảm ứng ngày nay, người ta không còn có thể xác định được một môi trường nào là độc đáo, riêng biệt.

Chi tiết được nêu ra trên đây cũng có tác dụng giúp vào việc minh họa một số khác biệt giữa từng khí cụ cảm ứng khi được đưa vào không gian tác chiến. Những khí cụ cảm ứng được đặt tại không gian vũ trụ, trên biển xanh hoặc ngang qua biên giới (thí dụ, radar vượt quá đường chân trời) có thể được sử dụng cả trong hòa bình cũng như trong chiến tranh. Những khí cụ cảm ứng đặt ngang qua đất liền, không phận, hoặc vùng ven biển của một quốc gia khác có lẽ cần phải được quốc gia bị quan sát cho phép. (Hậu quả về việc bắt giữ một khí cụ cảm ứng không người lái đặt tại không gian của một quốc gia, mãi cho đến nay vẫn còn là vấn đề chưa được phân xử). Tuy Hiệp nghị về khoảng không mở có thừa nhận lợi ích quốc tế trong việc quan sát không vực, song các hiệp nghị đó mới chỉ là sự bày tỏ chưa chín muồi về các điều khoản mới của “buôn bán thông tin” tại một quốc gia khác.

Nếu “hệ thống các hệ thống” hoạt động, thì một cuộc xâm lược cổ điển vượt qua biên giới được công nhận sẽ là một việc làm tự sát trước Hoa Kỳ, hoặc trước bất kỳ một lực lượng nào khác được trang bị tương tự. Các mục tiêu di động tự chúng tạo ra nhiều tín hiệu phong phú mà một lực lượng được trang bị tốt đứng ngoài (hoặc một lực lượng khó bị phát hiện như máy bay tàng hình) có thể tóm bắt được chúng một cách khá dễ dàng. Tiếp tế hậu cần trong nhiều trường hợp khẩn cấp có thể được giảm đi ghê gớm. Khoảng 93% tiếp tế của Hoa Kỳ cho Vùng Vịnh được chuyển bằng đường biển – Colin Gray suy ngẫm lại nhận thấy nếu đem so sánh thì sức chuyên chở của một chiếc máy bay sẽ là nhỏ nhoi biết nhường nào. Song vấn đề là ở chỗ rút cuộc thì hầu hết những hàng tiếp tế đi lại được chuyển ngược trở về trước. Nghĩa là nếu thực hiện được sự tiếp tế đi trước một cách chính xác, người ta sẽ có thể giảm nhu cầu về quân khí. Trong trường hợp năng lực vận tải đường không không bị cắt giảm nhiều, cộng với việc nắm bắt mục tiêu chính xác, đi đôi với việc sử dụng điều khiển học không gian nhằm mục đích kiểm soát từ xa và sử dụng khí cụ cảm ứng mà không sử dụng người thám trắc tại chỗ, thì đối với việc tiếp tế cho một cuộc chiến tranh tương đương, người ta có thể thực hiện hầu hết bằng vận tải đường không.

Mặc dù giờ đây việc tiến công qua biên giới chỉ tạo nên những uy hiếp nhỏ đối với an ninh, nhưng người ta vẫn cứ nên ghi lại khả năng nó sẽ mất đi không còn là công cụ của chính trị dựa trên sức mạnh nữa, ít nhất là trên một số phương diện. Bởi vì nó chính là bối cảnh mà hầu hết các nước đã căn cứ vào đó để tổ chức lực lượng của mình. Một hệ thống các hệ thống nếu ở vào tình huống chưa rõ ràng hoặc trong tình hình khó khăn, (thí dụ như đối với Bosnia trước khi có thỏa thuận Dayton) thì sẽ phải đảm nhận thêm nhiều công việc nữa. Các đối tượng đến rồi lại đi và ít bị nhận dạng. Do vậy quan sát cần đi đôi với tiếp xúc, song mức độ tiếp xúc trên thực tế không cần phải nhiều. Thí dụ, vị trí và đặc điểm của các thiết bị đối địch mộit khi bị phát hiện tức sẽ được truyền đi – và chỉ sau đó chúng mới bị tiến công. Trong tương lai, khi người ta có thể biểu thị đầy đủ mối tương quan đối chiếu giữa hình ảnh được trông thấy và hình ảnh bị phá hủy, thì việc truyền lệnh trong tương lai người ta sẽ đòi được trông thấy tận mắt mục tiêu đối kháng bị loại khỏi vòng chiến. Như vậy sự tiết kiệm trong hậu cần (chưa kể trận chiến đấu còn được truyền hình tại chỗ) sẽ loại bỏ thêm nữa một hàng rào về địa lý đối với sự can thiệp của Hoa Kỳ.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần I


Martin Libicki

Nhờ có điều khiển học không gian – có thể được hiểu như là tổng số những khâu nối và nút điện toán toàn cầu – mà bất kỳ một dữ liệu nào cũng có thể có mặt gần như tức thời ở bất cứ nơi đâu.

Phải chăng như vậy điều khiển học không gian sẽ xóa bỏ địa lý? Ông Colin Gray, trong bài viết rất hay, đã nêu lên lập luận đúng đắn, trả lời rằng không phải như vậy. Ông cho rằng người ta không thể tùy tiện bất chấp ý nghĩa của bối cảnh địa lý đối với chính trị quốc tế dựa trên sức mạnh. Nếu vậy người ta nêu lên câu hỏi sau đây có đích đáng không? Phải chăng người ta có thể làm cho địa lý của an ninh quốc gia biến đổi đến mức không còn nhận ra được nữa? Và nếu đúng như thế, nó sẽ biến đổi như thế nào?

Phần lớn những kiến thức về địa lý và địa chính trị của chúng ta sẽ còn có thể được áp dụng, chừng nào nhân loại vẫn còn sử dụng những công cụ được giới hạn trong những môi trường chậm chạp của nó – chẳng hạn như vận tải trên bộ hoặc trên biển. Nhưng rồi với sự ra đời của một phương tiện mới, sẽ xuất hiện một logic địa lý mới; và khi tầm quan trọng của phương tiện mới gia tăng, thì logic của nó sẽ không chi phối những phương tiện cũ mà còn làm biến đổi cả những phương tiện cũ nữa. Thí dụ, với sự phát minh ra máy bay, nước Anh mặc dù vẫn có hạm đội đó, nhưng có thể bị tiến công trực tiếp từ châu Âu. Còn chiến dịch của Hoa Kỳ tiến đánh Nhật  đã phải chịu sự chi phối chung của cùng một phương thức: tìm kiếm từng hỏn đảo nhằm tiếp cận mỗi lúc một gần hơn bằng đường không đối với Nhật Bản. Khi tên lửa đạn đạo sử dụng không gian làm môi trường xung đột, thì Hoa Kỳ và Liên Xô đều có thể gây nguy hiểm trực tiếp cho nhau. Và yếu tố đó rồi cũng chi phối luôn cuộc đối đầu giữa các siêu cường xuyên qua Trung Âu.

Bài viết này đề cập hai trong số bốn chủ đề của Colin Gray. Đó là ý nghĩa của địa lý khi đứng trước công nghệ biến đổi và khi đối mặt với những mối quan hệ của sự liên kết. Những người bênh vực cho địa lý viện vào căn cứ chủ yếu: hậu cần vẫn tồn tại (từ đó người ta bênh vực cho cả lực lượng hải quân) cùng với những nhu cầu của kiểm soát mặt đất (tức là lực lượng trên bộ). Những người thuộc phía phản biện thì đưa ra lập luận nhận định rằng: do người ta đã có đầy đủ thông tin, nên chiến tranh có thể trở nên chuẩn xác đến mức không cần đến phần lớn hậu cần nữa và việc kiểm soát cũng không nhất thiết phải được thực hiện như là một hiện tượng xảy ra cục bộ tại chỗ (ít ra là đối với Hoa Kỳ).

Điều khiển học không gian được người ta khẳng định phần lớn vẫn là những gì thuộc về tương lai. Nhưng nếu nhìn nhận theo một định nghĩa rộng, thì giờ đây nó đã có thể khiến các công ty đa quốc gia điều hành công việc gần thời gian thực; khiến việc chỉ huy và kiểm soát được mở rộng vượt qua các đại dương; khiến các thị trường quốc tế được hình thành; khiến phương tiện xuyên quốc gia (như CNN) được ra đời, đi đôi với việc trao đổi thông tin khoa học và công nghệ được tiến hành trên toàn cầu, thông qua Internet. Mặc dù vậy, những công dụng ấy nếu đem so với ngày mai, thì sẽ chẳng thấm gì. 20 năm sắp tới, phương tiện điện thoại của thế giới thứ 3 theo quy hoạch, sẽ tăng với số lượng khổng lồ. Cáp quang đang được đặt với nhịp độ nhanh qua đất liền và dưới đại dương. Những ứng dụng vi tính có thể được sử dụng liên mạng hiện thời thì vẫn đang còn ở thời kỳ non trẻ. Trên thực tế qua 5 năm nữa, hiệu lực của kỹ thuật điện tử sẽ được phát huy gấp thêm 10 lần nữa và qua 10 năm tiếp theo sau nữa sẽ được phát huy gấp thêm 100 lần. Điều khiển học không gian của ngày mai với sự phổ cập rộng lớn như thế đương nhiên sẽ trở thành một lĩnh vực được người ta quan tâm thích đáng.

Những người giữ ý kiến cho rằng điều khiển học không gian sẽ xóa bỏ địa chính trị thường quả quyết là điều khiển học không gian (cũng như hàng không vũ trụ) tạo ra những lợi ích và thể chế vượt ra khỏi ranh giới quốc gia. Các thể chế cũng như lợi ích đó đều làm suy yếu năng lực của một quốc gia trong việc huy động tài nguyên vì những lý do dân tộc chủ nghĩa, song đồng thời nó cũng tạo ra những mối quan hệ quý giá mà một khi chiến tranh xảy ra thì những quan hệ đó bị phá hủy. Cái giá của chiến tranh như vậy đã tăng và nguy cơ chiến tranh có thể xảy ra cũng sẽ giảm.

Lập luận ấy tuy cũng có giá trị trong một chừng mực nào đó, nhưng lại thường gây nên những tranh cãi không đi đến đâu cả. Chẳng hạn người ta nêu lên rằng 50 năm qua các nước giàu có trên thế giới không đe dọa lẫn nhau. Phải chăng đó là vì họ đã vượt lên trên vũ lực, hoặc họ đã liên kết lại vì phải đối mặt với một kẻ thù lớn hơn (cũng với cách giải thích theo đường mòn ấy họ cho rằng kể từ khi bức tường Berlin sụp đổ người ta đã không thấy xảy ra chuyện các nước cắt quan hệ bang giao). Về điểm này người ta còn đưa ra một lập luận khác: điều khiển học không gian có xu hướng xóa bỏ địa chính trị bằng cách tác động ảnh hưởng đối với an ninh quân sự, chứ không phải với cách tác động (hoặc tối thiểu là cộng thêm vào) đối với chính trị quốc tế.

Một lập luận như vậy có thể tỏ ra là nghịch lý, vì đó là lý lẽ sáo mòn cơ bản của học thuyết quốc gia – dân tộc cho rằng thương mại thúc đẩy hợp tác quốc tế. Do đó, người ta đưa ra giả thiết: giới đại diện thương mại có xu hướng toàn cầu, còn giới quân sự có xu hướng địa phương – và bất kỳ những gì khiến chủ nghĩa toàn cầu giảm được phí tổn cũng là tạo thuận lợi cho thương mại. Như vậy nếu điều khiển học không gian không thông qua thương mại để xóa bỏ địa chính trị, thì vì sao nó lại thông qua an ninh để làm việc đó?

Lập luận trên xuất phát từ cái được gọi là cuộc cách mạng quân sự, khai thác ở đó những phương tiện mới của quyền lực quốc gia có khả năng xóa bỏ địa lý và đạt tới đỉnh cao là những phương tiện thực hiện việc dàn xếp an ninh quốc tế có xu hướng xóa đi những hoạch định địa lý cổ điển. Nó dựa trên ba điều quan sát cơ bản dưới đây:

Khí tài hiện đại, nhất là khí tài điều khiển chính xác (PGMs) đã gia tăng tầm quan trọng tương đối của thông tin chiến thuật trong xung đột. Trong chiến tranh thế giới II người ta cần tới 2500 quả bom để phá hủy một mục tiêu. Phá hủy một mục tiêu ở Viêt Nam nhờ có hệ thống ngắm chính xác hơn nên người ta cần khoảng 50 quả bom. Trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh, để làm việc này chỉ cần tới một quả bom điều khiển bằng laser. Những “tín đồ” của chiến tranh thông tin loan báo rằng 20 năm nữa, kể từ bây giờ, muốn đạt kết quả mong muốn, người ta có thể biết một cách chính xác chỉ cần phá hủy một mục tiêu nào trong số 50 mục tiêu được đặt ra.

Bằng cách tách thông tin ra khỏi vũ lực, người ta có thể không cần đến những trang bị hậu cần thông thường mà vẫn có thể tác động ảnh hưởng tới các cuộc xung đột ở xa và do đó cũng không còn bị hạn chế bởi địa lý trong chiến tranh.

Bằng việc tổ hợp các “dòng bits” từ các nguồn toàn cầu – của cả chính phủ và tư nhân – các liên mạng thông dụng có thể giúp các quốc gia thực hiện được việc đề phòng đối với các ý đồ của các nước láng giềng.

Và khi thời gian chín muồi, điều khiển học không gian có thể trở thành môi trường, tại đây thông tin về an ninh được làm ra và đem bán; trở thành nơi hội tụ các “dòng bits” và tiến hành việc điều tiết sản xuất và tiêu thụ các thông tin, chẳng khác gì các thị trường kinh tế điện tử vẫn điều tiết sản xuất và tiêu dùng các mặt hàng và dịch vụ vậy.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Chính trị – pháp luật, kinh tế, văn hóa xã hội là những động lực chính – Phần I


Ngày nay, công nghệ đang trao sức mạnh cho người dân. Công nghệ buộc các chính phủ phải xử lý khối lượng dữ liệu khổng lồ và đưa ra các câu trả lời không phải trong 24 giờ mà là trong 24 phút.

Narendra Modi, Thủ tướng Ấn Độ

Thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Cuộc cách mạng trong công nghệ kỹ thuật số dự kiến sẽ tạo ra hiệu ứng hòn tuyết lăn, dần dần sẽ thay đổi trật tự các yếu tố ở cả cấp vĩ mô. Điều này đang xảy ra ở khắp mọi nơi kể cả ở châu Á. Làn sóng công nghệ di động và Internet đang nhanh chóng lan khắp châu Á, góp phần trực tiếp lẫn gián tiếp vào những thay đổi trong các khía cạnh chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa xã hội trong khu vực này. Những khía cạnh này cấu thành các động lực chính ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân ở bất kỳ quốc gia nào bởi vì chúng định hình nên những quy tắc và tiêu chuẩn trong tương tác giữa các công dân.

Châu Á là một thị trường lớn. Với dân số chiếm hơn một nửa dân số thế giới, châu Á có tiềm năng kinh doanh to lớn. Một lý do khác để lạc quan về thị trường châu Á là sự tăng trưởng kinh tế đáng kể mà nhiều quốc gia đạt được trong thập kỷ qua. Châu Á không chỉ rộng lớn mà còn cực kỳ đa dạng, từ Nhật Bản giàu sang và già cỗi tới Trung Quốc kém giàu có hơn nhưng cũng đang già đi, tới Ấn Độ và Indonesia nghèo hơn nhưng trẻ hơn, tới những thị trường mới nổi như Myanmar mới mở cửa sau nhiều thập kỷ bị cô lập chính trị (The Economist Intelligence Unit [EIU], 2014). Các nhà tiếp thị cần phải hiểu được sự đa dạng và năng động của khu vực này để xây dựng các chiến lược hiệu quả giúp đối phó với những thách thức lẫn nắm bắt các cơ hội phát sinh.

Bài này nêu tổng quan về hệ thống chính trị và pháp luật, điều kiện kinh tế vĩ mô và bức tranh văn hóa xã hội của châu Á. Sự đa dạng tồn tại giữa các nước châu Á được nói đến ở đây sẽ là hướng dẫn chung cho các doanh nghiệp muốn phát triển thành công trong khu vực này. Ngoài ra, những thay đổi trong các khía cạnh trên cũng sẽ được nêu lên và phân tích để đánh giá xem các công nghệ kỹ thuật số đã góp phần thay đổi khu vực đến mức nào.

Những thách thức chính trị – pháp luật ở châu Á

Trong số nhiều yếu tố thúc đẩy bộ máy chính trị ở châu Á, dân chủ hóa là yếu tố luôn được nhấn mạnh, nhất là trong giới quan sát phương Tây. Cuộc tranh luận dai dẳng về dân chủ cứ mãi tồn tại bởi vì hiếm khi người ta đạt được bất kỳ sự đồng thuận nào về cách thức đo lường nó; định nghĩa về dân chủ luôn bị tranh cãi và không ngừng phát triển. Chẳng hạn, trong danh sách các ưu tiên về chính sách đối ngoại của Mỹ, việc thúc đẩy dân chủ luôn xếp ở thứ hạng cao, nhưng trong chính phủ Mỹ lại không có sự đồng thuận về điều gì tạo nên một nền dân chủ. Một nhà quan sát nhận định: “siêu cường duy nhất trên thế giới, bằng cả luận điệu lẫn quân đội, đang truyền bá một hệ thống chính trị mà vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng và họ đặt cược sự tín nhiệm lẫn nguồn lực của mình trong việc truyền bá này” (Rodrik, 2012).

Những mâu thuẫn về hệ thống chính phủ lý tưởng nhất cho các nước ở châu Á sẽ tiếp tục đi đôi với những thử nghiệm chính trị của các nhà lãnh đạo trong khu vực. Do sự khác biệt về nguồn gốc văn hóa và các tiêu chuẩn phát triển kinh tế khác nhau nên mỗi quốc gia cũng khác nhau khi nói về mối quan hệ lý tưởng giữa đảng cầm quyền và người dân. Nhiều hệ thống chính trị khác nhau tồn tại ở châu Á đã thể hiện rõ điều đó: quân chủ lập hiến, các chế độ quân chủ chuyên chế, các quốc gia một đảng, liên bang, lãnh thổ, chế độ dân chủ tự do…

Chỉ một số ít các nước khu vực Đông Nam Á trong Cộng đồng An ninh – Chính trị ASEAN (APSC) mà đã có nhiều hệ thống chính trị đa dạng. Brunei là nước theo chế độ quân chủ trong đó Sultan (Quốc vương) có quyền lực tuyệt đối; Campuchia trải qua quá trình chuyển đổi từ chế độ một đảng sang đa đảng; Đảng Hành động Nhân dân lãnh đạo Singapore kể từ khi nước này trở thành một đảo tự trị của Anh quốc vào năm 1959. Tương tự, các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng có những hệ thống chính trị đặc thù của quốc gia mình (Chong and Elies, 2011).

Việc áp dụng chế độ dân chủ theo các tiêu chuẩn phương Tây không đảm bảo rằng các nước châu Á sẽ có chế độ chính trị và kinh tế tốt hơn. Singapore là trường hợp dù bị phương tiện truyền thông chỉ trích vì hệ thống chính trị “ít dân chủ” hơn nhưng vẫn cho thấy một thành tích kinh tế nổi bật và GDP bình quân đầu người cao hơn hầu hết các nước phát triển, chưa kể đến tỷ lệ thất nghiệp thấp, giá cả bình ổn, chính phủ hiệu quả và không tham nhũng. Một ví dụ nữa là Trung Quốc. Dù không thực thi hệ thống dân chủ tự do theo kiểu phương Tây nhưng Trung Quốc vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế xuất sắc ở mức 7% trong ba năm qua. Điều này đã khiến nhiều nhà quan sát đặt câu hỏi về ý tưởng nền dân chủ cho các nước đang phát triển, có ý kiến cá nhân cho rằng dân chủ không phải là điều mong muốn ở những khu vực nơi mà tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo đói mới là những ưu tiên hàng đầu (Wafawarova, 2013). Tuy nhiên, ngay cả khi người ta than phiền về chế độ dân chủ ở các nước đang phát triển thì vẫn có những người tin vào lợi ích nó mang lại dưới hình thức phân quyền, và cuộc tranh luận này sẽ vẫn tiếp tục song song với những nỗ lực tìm ra hình thức chính quyền lý tưởng nhất cho các nước đang phát triển.

Số hóa và những thay đổi về Chính trị – Pháp luật

Cách mạng công nghệ số rõ ràng đã giúp ai cũng có thể dễ dàng tiếp cận được thông tin. Điều này cũng có nghĩa là những hành động tham nhũng hoặc chuyên quyền sẽ không thể phát triển được nhiều nữa vì người dân dã không còn mù mờ về chức trách của chính phủ. Ở mức độ cơ bản, việc phổ biến thông tin giúp nâng cao nhận thức của người dân về tình hình chính trị. Trong giai đoạn tiếp theo, công nghệ thông tin trở thành một phương tiện hiệu quả để các đảng đối lập tham gia vào các lực lượng chính trị. Khi quần chúng bên ngoài chính phủ có cùng mong muốn tạo ra một sự thay đổi thì sẽ khó để duy trì được tình trạng hiện tại.

Ví dụ, phương tiện truyền thông xã hội đóng góp rất lớn vào quá trình thay đổi chính trị ở Ai Cập mà cuối cùng đưa đến việc lật đổ tổng thống cầm quyền. Thật thú vị, những người tham gia vào quá trình cách mạng không chỉ đến từ quân đội hay một đảng với bộ máy chính trị có tổ chức. Bất cứ ai có quyền truy cập vào Internet cũng có thể tham gia, ví dụ như một giám đốc điều hành trẻ tuổi của Google, Wael Ghonim đã chia sẻ những ý kiến mạnh mẽ về chủ đề này thông qua trang Facebook của mình (Coker & cộng sự, 2011). Wael Ghonim về sau được vinh danh trong Time Magazine 100, danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2011 (ElBaradei, 2011).

Một xu hướng tương tự cũng đang càn quét châu Á. Chế độ độc tài tồn tại trong 32 năm ở Indonesia cuối cùng đã sụp đổ vào năm 1998. Và đó không chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi mà vào thời điểm đó điện thoại di động bắt đầu trở thành sản phẩm đại trà dược tất cả các tầng lớp ở nước này sử dụng Điều tương tự cũng đã xảy ra ở Sri Lanka (Khung 2.1) và Philippines. Để minh họa ảnh hưởng của công nghệ đối với những thay đổi chính trị ở Philippines, Shirky (2011) đã viết như sau trong bài đăng tạp chí Foreign Affairs:

Ngày 17/01/2001, trong phiên tòa xét xử Tổng thống Philippines Joseph Estrada, những người trung thành với Tổng thống Philippines đã bỏ phiếu để gạt qua những bằng chứng quan trọng chống lại ông. Chưa đầy hai tiếng đồng hồ sau khi quyết định đưa ra, hàng ngàn người Philippines, tức giận vì Tổng thống tham nhũng này có thể được xóa tội, đã tập hợp tại đại lộ Epifanio de los Santos, một ngã tư lớn ở Manila. Cuộc phản đối đã được sắp đặt trước một phần nhờ vào việc lan truyền tin nhắn: “Đến đại lộ Epifanio de los Santos. Mặc đồ đen”. Đám đông nhanh chóng mở rộng, và chỉ trong vài ngày sau đó, hơn một triệu người đã đến tập hợp, làm tắc nghẽn giao thông ở trung tâm thành phố Manila.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Philip Kotler, Hermawan Kartajaya, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

1999: Thắng lợi không cần chiến tranh? – Phần cuối


Nixon nói một cách lo lắng: “CNCS phủ nhận sự tồn tại của Thượng Đế, nhưng tối thiểu họ vẫn đưa ra cho nhân dân của họ một cái gì đó làm tín ngưỡng. Trong một thời gian trải mấy thế hệ con người, đã có ngàn vạn người ôm ấp đức tin đó… Vậy bây giờ chúng ta nêu lên một đức tin gì để thay thế đức tin đó?”. Nhưng rồi xem ra thì ông Nixon cũng chẳng có kế sách gì hay, ông chỉ còn biết cầu xin Thượng Đế: “Giai điệu chủ yếu và quan trọng nhất là phục hưng tôn giáo và quan niệm về giá trị gia đình. Có như vậy mới có thể kêu gọi tuyệt đại đa số người Mỹ sáp lại với nhau”. “Tóm lại, nước Mỹ ngày nay cần phải là tấm gương có giá trị cho mọi người soi chung, nhưng tấm gương này của chúng ta đã bị những vấn đề quốc nội ngày một nhiều thêm làm hoen ố”.

Đồng thời Nixon không phải là thiếu sáng suốt khi nhìn thấy: “Con đường để lý tưởng tự do của chính trị và kinh tế phương Tây giành toàn thắng hiện nay đã được trải rộng. Nhưng trên toàn thế giới, nhất là ở khu vực Liên Xô cũ và các nước Đông Âu thì lý tưởng đó vẫn đang còn phải trải qua thử thách. Hoàn toàn chưa thể khẳng định rằng lý tưởng đó rồi sẽ thắng thế”. “Từ bỏ CNCS và CNXH chưa có nghĩa là CNTB đã thắng lợi”. “Chế độ TBCN không phải là hoàn mỹ không có khuyết tật gì”. “Thế giới cũng không phải là tấm vải vẽ còn trắng nguyên để chúng ta tùy ý sử dụng bút vẽ và màu”. Nixon lo rằng nước Nga “Trước khi quá độ cuối cùng chuyển hóa đi tới nền chính trị tự do, kinh tế tự do và chính sách đối ngoại không xâm lược, thì trước sau vẫn còn tồn tại nguy cơ lực lượng tàn dư của đế quốc Liên Xô đã bị đập tan, quay lại đánh trả thế giới một đòn, gây nên hậu quả tai hại”. Nixon nhận định: “Nước Nga đang tiến hành một canh bạc chính trị và kinh tế tự do với số tiền đặt cọc lớn, tỉ lệ được thua rất chênh lệch”. Tất cả vẫn còn chưa ngã ngũ.

Còn một điều đáng chú ý nữa: Cũng như trước đây, Brzezinski và Nixon trong các tác phẩm mới xuất bản này, đã dùng khá nhiều trang viết để bàn về Trung Quốc. Có lẽ người ta có thể nói rằng bởi vì Liên Xô đã giải thể, nên họ càng chú ý nhiều hơn, như lời của Nixon “nhằm vào Trung Quốc – nước lớn siêu cường cộng sản đang còn tồn tại”.

Xét về mặt này, “góc độ” của Brzezinski khiến mọi người phải suy ngẫm sâu xa. Ông này thấy rằng: Trong thế giới ngày nay, “coi chính trị dựa trên sức mạnh chỉ là dấu vết cũ của lịch sử, đó là thói thời thượng. Hiện thời người ta chưa tiến tới giai đoạn đó”. Ngược lại, “Xét theo nghĩa rộng, số dân toàn thế giới có thể được chia làm hai loại lớn: Người giàu và người nghèo”. “Đi đôi với số dân thế giới tăng trưởng thì hiện tượng phân phối không đều của cải của thế giới sẽ càng thêm nổi bật”. “Các hiện tượng không đồng đều trên toàn cầu tất yếu trở thành vấn đề trọng đại của chính trị thế giới thế kỷ XXI”.

Dù cho Brzezinski ngậm miệng, kị không nói gì về căn nguyên của hiện tượng không bình đẳng, song ông ta vẫn thấy rằng: “Nếu có một mô hình cụ thể và một lãnh tụ cụ thể nào đó có năng lực đối lại cân bằng thật sự với phía phương Tây giàu có và đồng thời lại có thể thiết lập được một trật tự xã hội có khả năng giải quyết một cách vững chắc và thành công các hiện tượng phi chính nghĩa nghiêm trọng trong xã hội trong nước, thì mối quan tâm của mọi người vốn được tập trung vào các hiện tượng phi nghĩa trên toàn cầu sẽ được biểu hiện dưới hình thức về mặt chính trị, người ta sẽ thuần phục theo cái mô hình đó và vị lãnh tụ cụ thể đó”.

Theo phân tích của Brzezinski, “Trung Quốc có thể đứng ra đảm đương vai trò lãnh đạo đó. Chỉ dựa riêng vào bản thân mình Trung Quốc đã có thể thách thức với thế giới bất bình đẳng. Trung Quốc là một nước lớn với số dân hơn 1 tỷ người, đang giữ vững cuộc đấu tranh không mệt mỏi, chống các hiện tượng không bình đẳng; ít ra thì cho tới thời điểm này, cuộc đấu tranh đó là rất có hiệu quả”.

Sau khi điểm lại một lần nữa nhận định Trung Quốc đang thực hiện chủ nghĩa cộng sản thương mại, Brzezinski vạch rõ: “Xét trên tổng thể, cần phải nói thành tích Trung Quốc giành được khiến người ta phải khâm phục”. “Nếu cơ cấu hạ tầng và thu nhập cá nhân được cải thiện đồng bộ với nhịp độ kinh tế tăng trưởng thì Trung Quốc rất có thể được nhân dân nhiều nước đang phát triển trên thế giới, nhất là nhân dân các nước Cộng hòa Liên Xô cũ nhìn nhận, coi đó là mô hình lựa chọn ngày càng có sức hấp dẫn lớn hơn và có thể được sử dụng thay thế cho chế độ CSCN đã tuyên bố thất bại cũng như chế độ dân chủ được xây dựng trên cơ sở của thị trường tự do”. “Đến lúc đó Trung Quốc có khả năng trở thành mẫu mực mở ra một con đường khác và trở thành một nguồn lực lượng, nêu lên thách thức trên quốc tế, đối với sự phân bố lực lượng toàn hiện hành… Trung Quốc có thể tuyên bố: Giữa khuôn mẫu CSCN Liên Xô cũ và nền dân chủ tư sản đang tồn tại con đường thứ ba. Hiện tượng phân hóa hai cực trên thế giới hiện thời ngày càng nghiêm trọng thêm, vũ khí giết người hàng loạt được phân bố tới khắp nơi, người ta khao khát có một định hướng để nói lên các ước vọng của họ, đồng thời lấy đó làm ngọn đèn rọi sáng tương lai đẹp đẽ. Trong một thế giới như hiện nay, tuy Trung Quốc còn khá lạc hậu và có trở ngại về ngôn ngữ, nhưng Trung Quốc vẫn có thể đáp ứng được niềm khát vọng mà mọi người đều cảm nhận thấy. Về mặt này, so với nước Nga Xô viết cũ thì Trung Quốc có sức hấp dẫn và thuyết phục lớn hơn”.

Trong cuốn Vượt qua hòa bình, Nixon nhiều lần nhấn mạnh rằng Trung Quốc ngày càng TBCN hóa và đang thực hiện CNTB có bộ mặt Trung Quốc; thừa nhận rằng kinh nghiệm của Trung Quốc chứng tỏ: “Tăng tiến sự hòa nhập với kinh tế thế giới sẽ có thể đem lại tự do kinh tế và từ đó sản sinh áp lực nội bộ to lớn đòi thực hiện tự do về chính trị”. Nixon còn nhận định: “Phải cải tổ và các nhà doanh nghiệp chủ trương thực hiện nền kinh tế thị trường tự do của Trung Quốc là lực lượng nắm trong tay chiếc chìa khóa tương lai của Trung Quốc”; “Bóng ma tham nhũng và dục vọng tham lam đang quấy nhiễu Trung Quốc”. Tuy nhiên Nixon vẫn nhìn thấy: “Đến giữa thế kỷ XXI, Trung Quốc với tư cách là nước lớn siêu cường về kinh tế và quân sự sẽ đặt Mỹ đối mặt với cạnh tranh”.

Nixon sau khi so sánh cải tổ của Trung Quốc với cải tổ của nước Nga, đã viết: “Một vấn đề sâu sắc vẫn còn chờ người ta tìm lời giải: tức là phải chăng CNTB dân chủ Nga có thể là đối thủ của CNTB cộng sản Trung Quốc. Nếu không thể như vậy và nếu những người lãnh đạo bảo thủ của nước Nga thắng thế thì những người lãnh đạo có đường lối cứng rắn của Trung Quốc cùng với các nhà độc tài khác trên thế giới sẽ giành được sự cổ vũ. Còn nếu cải tổ của Trung Quốc thành công thì chính trị và kinh tế tự do sẽ là làn sóng dân trào trong thế kỷ XXI”.

IV

1999…

Chúng ta không những đã thấy Cải tổ và tư duy mới của Gorbachev dẫn tới cuộc rút lui có tính lịch sử của CNCS tại các nước Liên Xô…., khiến Liên Xô dễ dàng tự diệt vong (Lời trong cuốn Bút ký lịch trình Liên Xô giải thể của nguyên Đại sứ Liên Xô tại Mỹ Madrock). Tên sách của Nixon 1999: Thắng lợi không cần chiến tranh và Lời nguyền của Brzezinski Thất bại lớn của CNCS dường như đánh đổi đúng cho nhau. Tuy nhiên cũng vẫn hai ông này đều cho rằng sự thể không phải như thế là đã được định đoạt. Thậm chí còn có thể ngược lại. Đồng thời người ta còn nhận thấy, những năm gần đây đi đôi với khủng hoảng kinh tế và chính trị ngày một gay gắt thêm của nước Nga sau khi chuyển hóa, thì quan điểm của Brzezinski và Nixon gần như đi tới một thứ nhận thức chung. Tháng 7 năm 1998, tờ Frankfurt của Đức đăng bài viết của Arbatov (Nga) “Từ CNXH hiện thực đến CNTB tiền sử – Các nước phương Tây đứng đầu là Mỹ làm thế nào đưa nước Nga từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác”. Vị học giả từng có vai trò quan trọng đối với mối quan hệ Mỹ – Xô này viết: Vào lúc Liên Xô gần đi đến chỗ kết thúc… người ta có ảo tưởng rằng tất cả mọi vấn đề sẽ được giải quyết ngay. Sau đấy một chút, sự chờ đợi đẹp đẽ đó biến thành nỗi nghi hoặc, thất vọng và hết tin cậy”. “Hiện nay công chúng Nga đã nhận thấy, phương Tây muốn thông qua Quỹ Tiền tệ Quốc tế, áp đặt cho chúng ta một thứ cải cách kinh tế có thể làm cho nước ta suy yếu, hạ thấp mức sống và làm cho một bộ phận lớn nhân dân đi tới chỗ bị bần cùng hóa”. “Một điều thoạt đầu đã không thể tránh khỏi và ai nấy đều đã rõ, đó là: Lợi ích chính trị của Nga và của Mỹ khác nhau, có rất ít cái có thể thật sự nhất trí với nhau”. Mặt khác, ngày 30 tháng 8 cùng năm này tờ Thời báo New York Times của Mỹ đã đăng bài viết Moskva phá vỡ giấc mộng của Mỹ cho biết GIáo sư Koean, Đại học New York chuyên nghiên cứu vấn đề về Nga đưa ra nhận định sau đây: “Mưu toan biến nước Nga thành vật phục chế của CNTB dân chủ Mỹ và trở thành một đồng chí nhỏ của Mỹ trong các vụ việc quốc tế, đó là việc làm ngu xuẩn của Phong trào cải tổ của Mỹ vốn lấy cái tôi làm trung tâm”.

Người ta còn nhận thấy, tuy nước Mỹ đã thắng trong chiến tranh lạnh, trở thành bá chủ toàn cầu, song đúng như Nixon từng nói, kết quả đó không làm cho Mỹ sống sung sướng hơn, trái lại Mỹ càng thấy khó chịu hơn. Năm 1997, Brzezinski viết một cuốn sách mới nữa lấy tên Bàn cờ lớn – Địa chính trị của Mỹ và chiến lược địa duyên của nó. Trong cuốn sách này, Brzezinski viết: “Sự thất vọng phổ biến đối với hậu quả chiến tranh lạnh kết thúc khiến người ta càng thêm mất lòng tin. Không những người ta chưa thấy sự xuất hiện của một trật tự mới của thế giới được thiết lập trên cơ sở nhận thức chung và sự hòa hợp mà còn thấy những cái dường như đã thuộc về quá khứ bỗng dung ngược trở lại là những cái của tương lai”. “Nói gọn lại, Mỹ với tư cách là nước lớn quan trọng bậc nhất trên thế giới quả thật đang phải đối mặt với một cái cửa sổ cơ may có tính lịch sử không rộng lắm. Trước mắt nền hòa bình tương đối trên toàn cầu này có thể chỉ là tạm thời mà thôi”. Những lời ông nói vừa dứt thì bắt đầu từ tháng 7 cùng năm, cơ bão tiền tệ Đông Nam Á nhanh chóng lan rộng, trở thành đầu đề câu chuyện của thế giới hiện nay, thậm chí người ta còn dấy lên một sự lên án đến mức nào đó, đối với chế độ TBCN. Trung tuần tháng 9 năm 1998, tuần báo Người quan sát mới của Pháp phát biểu bài viết của Thủ tướng Pháp Jospin: Khủng hoảng thế giới và chúng ta. Trong đó viết “Nếu nói rằng kể từ năm 1989 đến nay CNTB đã mất đi đối thủ và kẻ cạnh tranh trước kia của nó nhưng không phải vì vậy mọi việc đều êm đẹp. Kẻ thù tệ hại nhất của CNTB có thể là chính bản thân CNTB”. Như một điều không hẹn nhưng diễn ra tương tự, ngày 15 tháng 9 The Wall Journal Street của Mỹ đăng bài viết của Soros Khủng hoảng TBCN toàn cầu. Trong đó, con cá sấu tiền tệ lớn này than rằng: “Hệ thống TBCN toàn cầu từng đem lại cho chúng ta sự phồn vinh khiến mọi người phải chú ý đang mấp mé đến chỗ tan rã”. Theo tin của Báo cải tổ Trung Quốc số ra ngày 19 tháng 11, gần đây trong bài diễn văn đọc tại thủ đô của Bulgaria, Soros vạch rõ rằng: “Những người theo chủ nghĩa thị trường chính thống cho rằng thị trường có thể giải quyết hết mọi chuyện. Đó là một khái niệm giả dối. Hiện nay mối đe dọa do thị trường gây nên còn lớn hơn cả bất kỳ một hệ ý thức độc đoán nào. Dựa quá đáng vào chủ nghĩa thị trường chính thống sẽ nguy hại cho xã hội”.

Tóm lại, “Ai nào ngờ bức tường Berlin sụp đổ mới gần 10 năm, thế giới lại lung tung như vậy” (Thời báo The Financial Times của Anh ngày 14/9/1998) – “Kể từ khi bức màn sắp ập đổ sập đến nay, cuộc tiến quân thắng lợi của CNTB kiểu Mỹ từng được diễn tả có khí thế không gì ngăn được rõ ràng là đã gặp trắc trở”. (Tuần báo Tấm gương của Đức 7/9/1998). Chẳng trách Thủ tướng Blair ở đó hối hả tìm kiếm con đường thứ ba. Và một điều đặc biệt khiến người ta suy nghĩ sâu xa, đó là Tập san hàng tuần Tin tức của Mỹ số ra ngày 12 tháng 10 lại là số đặc biệt về kinh tế. Đầu đề lớn ngoài bài viết Toàn cầu chấn động. Có một tiêu đề nhỏ đề xuất vấn đề: “Marx có đúng không?” Trong đó còn cóo bài viết dẫn một đoạn dài trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, kèm theo ảnh của Marx, với chú thích viết: Đối với Marx, giai cấp tư sản toàn cầu sản xuất trước hết là người đào mồ chôn bản thân nó.

Nói tóm lại, chúng ta đã nhận thức rõ: Quy luật khách quan của lịch sử phát triển không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai. “Nhân dân và chỉ có nhân dân mới là động lực sáng tạo lịch sử thế giới” (Mao Trạch Đông Bàn về chính phủ liên hợp). Dù cho sự nghiệp XHCN càng thêm gian nan và khúc khuỷu, nhưng quy đến cùng “giai cấp tư sản bị diệt vọng cũng như giai cấp vô sản thắng lợi, đều là điều không thể tránh khỏi”. (Tuyên ngôn ĐCS). Có vô số sự thật nêu rõ: “1999: Thắng lợi không cần chiến tranh” thật sự cần được thêm vào đó một cái dấu hỏi lớn.

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: TN 2000 – 01 & 02

1999: Thắng lợi không cần chiến tranh? – Phần III


Mùa hè năm 1989 một quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao Mỹ tên là F. Fukuyama viết một bài có đầu đề Sự cáo chung của lịch sử? Ông ta viết: “Hoặc có thể những gì chính mắt ta trông thấy không phải chỉ là sự kết thúc của chiến tranh lạnh và không chỉ riêng là sự trôi đi không trở lại của một thời kỳ đặc biệt nào đó trong lịch sử sau chiến tranh mà là sự cáo chung của lịch sử: Sự cáo chung của những diễn biến của của hệ ý thức của loài người và cáo chung bằng sự phổ cập của tự do dân chủ phương Tây với tư cách là hình thức thống trị cuối cùng của loài người”.II

Lúc đó Tổng thống Mỹ Bush trong Báo cáo về tình hình quốc nội đọc ngày 28/01/1992, đã tấu trình đấng thượng đế: Trong năm qua trên thế giới đã xảy ra những biến đổi gần như trong Kinh Thánh vậy… trong năm này chủ nghĩa cộng sản đã bị diệt vong”. “Trong đời tôi – trong cuộc đời chúng ta thì sự kiện quan trọng nhất xảy ra trên thế giới này là: Ơn nhờ Thượng Đế, nước Mỹ đã thắng trong chiến tranh lạnh”.

Nixon là người dự báo năm 1999: Thắng lợi không cần chiến tranh, “đương nhiên sẽ là người không giấu nổi niềm vui sướng. Tháng 4 năm 1994 trong tác phẩm cuối cùng lúc ông ta còn sống “Vượt trên hòa binh”, Nixon từng tuyên cáo một cách thỏa thê với người đời rằng: “47 năm trước đây lúc tôi đến Washington, chúng ta phải đối mặt với một vấn đề lớn nhất: làm thế nào nước Mỹ có thể ngăn chặn được mối đe dọa do CNCS gây ra ở trong và ngoài nước. Và thỏa mãn lớn nhất trong đời tôi là đã sống cho đến ngày được trông thấy các nước phương Tây chiến thắng CNCS…”.

III

Năm 1956 nhân Khrutshev chống Stain với khí thế lớn tại Đại hội lần thứ XX của ĐCS Liên Xô, chủ nghĩa đế quốc đã phát động cuộc tiến công dữ dội, đẩy các nước XHCN vào tình cảnh khó khăn. Trong tình hình đó và căn cứ vào cuộc thảo luận tại hội nghị mở rộng Bộ chính trị TW ĐCS Trung Quốc, tờ Nhân dân Nhật báo số cuối năm đã cho đăng bài của Ban biên tập “Lại bàn về kinh nghiệm lịch sử của chuyên chính vô sản”. Trong cuốn sách “Nhớ Mao chủ tịch”, Ngô Lãnh Tây có để lộ rằng: “Mao Trạch Đông chủ trì cuộc thảo luận, bàn đi bàn lại rất nghiêm túc. Mao Trạch Đông còn sửa chữa bài viết này tới mấy lần, ông tỏ ra rất hài lòng với lời kết cuối bài viết. Trong đó vạch rõ: Trước tình cảnh khó khăn của các nước XHCN, “Kẻ địch vui mừng, các đồng chí và bạn hữu thì đau lòng hoặc dao động, như thế đều không đúng. Giai cấp vô sản gánh vác việc quản lý nhà nước là lần đầu, muộn thì mới có vài năm, sớm cũng chỉ được mấy chục năm, đòi họ không để xảy ra bất kỳ một thất bại nào, đó là điều không thể có. Thất bại trong thời gian ngắn, trong phạm vi cục bộ không những trước đây đã có, hiện nay có và trong tương lai cũng sẽ có. Nhưng bất kỳ một người nào có tầm nhìn xa đều sẽ không vì thế mà thấy thất vọng hoặc bi quan. Thất bại là mẹ thành công. Thất bại có tính cục bộ trong thời gian ngắn trước mắt đã gia tăng kinh nghiệm chính trị cho giai cấp vô sản quốc tế, từ đó chuẩn bị điều kiện cho những thành công vĩ đại cho những năm tháng trong tương lai”.

Từ năm 1989 đến năm 1991 một loạt nước XHCN Đông Âu sụp đổ và Liên Xô tan rã đương nhiên là tai họa to lớn và nghiêm trọng hơn nhiều so với tình hình năm 1956. Nhưng sự thể này cũng không thể xoay ngược bánh xe tiến lên của lịch sử. Đúng như Đặng Tiểu Bình từng nói trong Giang nam du ký chuyện năm 1992: “Chủ nghĩa xã hội sau khi trải qua một quá trình phát triển dài tất yếu thay thế CNTB. Đó là xu thế chung không thể đảo ngược của xã hội phát triển, nhưng đường đi còn khúc khuỷu. CNTB trải mấy trăm năm thay thế chủ nghĩa phong kiến đã từng phát sinh bao nhiêu lần phục hồi vương triều? Vì vậy cũng có thể nói trên một ý nghĩa nhất định, một sự phục hồi tạm thời nào đó cũng là hiện tượng có tính quy luật khó có thể hoàn toàn tránh khỏi. Một số nước xuất hiện sự trục trặc nghiêm trọng, CNXH dường như suy yếu đi, nhưng nhân dân được rèn luyện, hấp thu được bài học, sẽ thúc đẩy CNXH phát triển theo hướng lành mạnh hơn nữa. Vì vậy không nên lúng túng, hốt hoảng. Không nên nhận định rằg chủ nghĩa Marx đã tiêu tan, không còn dùng được nữa, đã thất bại rồi. Nào đâu có chuyện như vậy! (Văn tuyển Đặng Tiểu Bình, Tập 3, tr 382 – 383).

Nếu còn chưa tin thì đã có Nixon và Brzezinski có thể làm chứng. Sách “Vượt trên hòa bình” của Nixon đã nói ở trên và trước đó, còn cuốn của Brzezinski “Vượt khỏi sự kiểm soát – Sự hỗn loạn toàn cầu vào đêm trước thế kỷ XXI” xuất bản đầu năm 1993 là hai thí dụ. Những sách này cho thấy, ngay cả các chính khách đế quốc chống cộng, chống chủ nghĩa Marx kiên định và triệt để Nixon và Brzezinski tuy bị hạn chế bởi bản chất giai cấp, nhưng do cần phải kiềm chế kẻ thù và nắm chắc phần thắng, nên khi quan sát thời thế họ vẫn phải có mặt tỉnh táo và cầu thực. Phần trên của bài viết này có đoạn văn của Nixon: “Điều khiến tôi thỏa mãn nhất là tôi đã sống được đến ngày trông thấy các nước phương Tây chiến thắng CNCS”. Tiếp đó, Nixon còn viết thêm: “Và bắt đầu tiến hành một cuộc chiến đấu mới, cũng to lớn và gian khổ như thế, cũng cao cả như thế, nhằm bảo đảm chắc chắn cho tự do giành được thắng lợi ở trong và ngoài nước”. Ông ta viết hai câu này không phải do ngẫu hứng là kết quả của sự suy nghĩ, cân nhắc sâu sắc.

Trong cuốn sách “Vượt khỏi sự kiểm soát”, Brzezinski cũng giội chậu nước lạnh lên những người đồng hành của ông ta: “Lịch sử chưa phải đã kết thúc nhưng dồn nén lại một chỗ”. “Thừa nhận rằng nhịp độ phát triển của lịch sử loài người đang tăng nhanh rõ rệt cùng với tính không xác định của quỹ đạo phát triển. Đó là điểm xuất phát tất yếu trong các lập luận của tôi”.

Brzezinski nhận định: Chiến tranh lạnh sau khi kết thúc thì nước Mỹ đã ở trên đỉnh của thế giới. Xét về lực lượng tổng hợp toàn cầu, Mỹ là nước lớn toàn cầu và là người dẫn đầu toàn cầu có một không hai, vô địch trong thiên hạ. “Nước ngoài bắt chước, làm theo Mỹ đã là hiện tượng của toàn thế giới”. Tuy nhiên nước Mỹ không phải đẹp như người ta vẫn tô vẽ và tưởng tượng. Nước Mỹ có 20 vấn đề nan giải cơ bản trong việc bài trừ các tệ nạn, nâng cao phúc lợi. Các vấn đề này cấu thành chương trình nghị sự chấn hưng nước Mỹ để khẳng định lại một cách có hiệu lực rằng Mỹ có năng lực thực hiện lâu dài nhiệm vụ của nó trên toàn cầu. Đáng chú ý là “Sự buông thả vô độ trong cảnh giàu có” khiến Mỹ trở thành “Một xã hội mà địa vị trung tâm của các chuẩn mực đạo đức ngày càng bị hạ thấp, trong khi đó phong trào theo đuổi những ham muốn vật chất để thỏa mãn cái tôi gia tăng ngày càng thêm cháy bỏng.” Vì vậy “Mặc dầu có những bức tranh được xuyên tạc đi để nói lên sự giàu sang của Mỹ khiến người ta phải đố kị, song loại hình ảnh trên đây lại biểu hiện sự tầm thường đến cực đoan tinh thần trống rỗng ở Mỹ, khiến người ta càng thêm hoài nghi đối với những ý nghĩ cho rằng Mỹ còn có thể cung cấp cho thế giới ngày nay những gợi ý còn sâu sắc hơn nữa”.

Mặt khác Brzezinski cũng vạch rõ: “Trong thế giới sau CNCS thì những khốn khó trong lịch trình chuyển hóa theo CNTB có thể sẽ gây tổn hại cho sự hấp dẫn của luân lý dân chủ”.

Thí dụ, “Từ trước đến nay nước Nga vẫn bị thúc giục cần phải đồng sáng lập dân chủ và thiết lập nền kinh tế thị trường tự do. Lời khuyên này cũng được một lớp người thuộc giới tinh anh tiếp nhận và nâng lên thành giáo điều. Họ không hiểu lắm về mối quan hệ vốn rất nhạy cảm giữa văn hóa với kinh tế và đối với thị trường tự do về mặt chữ nghĩa, thì họ lại rất dễ chạy theo thứ chủ nghĩa hình thức tủn mủn. Chẳng khác gì những người thuộc lớp tiền bối của họ, trong khi miệng tuyên bố xả thân vì công cuộc xây dựng CNXH thì họ lại làm theo chủ nghĩa hình thức một cách tủn mủn”. “Thoạt đầu sự sụp đổ của Liên Xô khiến những người đại biểu cho phương Tây hoặc định hướng châu Âu không còn gì phải e ngại. Họ điềm nhiên hướng dẫn các cuộc thảo luận của công chúng bàn về vấn đề tiền đồ nước Nga trong thời kỳ quá độ sau CNCS. Dần dà song song với những khó khăn ở trong nước do sự quá độ gây nên khiến người ta phát sinh hoài nghi đối với cái công thức tự do hóa và phương thuốc của phương Tây, rồi sau đó người ta cũng bắt đầu nghe thấy các ý kiến khác nhau”. “Người ta không còn mê khẩu hiệu dân chủ và thấy thất vọng đối với trật tự kinh tế mới. Những điều đó khiến người ta càng thêm khao khát tìm kiếm các chân lý mới khác để lấp chỗ trống vì CNCS đã tiêu tan và ảo tưởng đối với chủ nghĩa tự do thì ngày càng tan vỡ thêm”.

Những sự thay đổi rất đáng để mọi người lắng lại suy nghĩ đó có lẽ cũng đã khiến Brzezinski lẳng lặng sửa đổi cách nhìn của bản thân ông ta. Brzezinski viết: “Dân chủ thiết lập trên cơ sở của thể chế thị trường tự do hiện nay gần như đã giành được thắng lợi. Nhưng được như thế chủ yếu là vì CNCS đã thất bại chứ không phải vì đó là sự biểu hiện thành công của lý tưởng dân chủ tung ra toàn cầu đều đúng”. Cũng vì vậy “Mỹ cần phải biết kiềm chế tình cảm xúc động kiểu giáo sĩ truyền đạo và phải thừa nhận sức mạnh của họ là có hạn”. “Mỹ không thể trở thành cảnh sát toàn cầu và cũng không thể là nhà ngân hàng toàn cầu, thậm chí để trở thành một nhà đạo đức toàn cầu, Mỹ cũng không làm nổi”.

Tiếp sau Brzezinski, trong cuốn Vượt trên hòa bình, Nixon đã phát triển thêm quan điểm tương tự. Ông ta nhận định rằng: “Thất bại của CNCS là một thanh kiếm hai lưỡi”. “Sau kkhi CNCS tan rã trong chiến tranh lạnh và kẻ xâm lược bị đánh bại trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh thì nhiều nhà quan sát rút ra kết luận: Chúng ta đang nhìn tận mắt trật tự thế giới mới đang tới. Nhưng họ đã nhầm. Chiến tranh lạnh làm cho thế giới bị chia cắt, song hòa bình vẫn chưa làm cho thế giới đoàn kết lại. Những gì chúng ta trông thấy ở nhiều nơi trên thế giới, đó không phải là trật tự mà là hỗn loạn”. “Sau chiến tranh lạnh, chúng ta phát hiện thấy chúng ta lại đối mặt với thách thức lớn hơn so với trong thời kỳ chiến tranh lạnh”.

Cũng giống như Brzezinski, Nixon một mặt tuyên bố đắc ý rằng “Chúng ta ở vào thế đang đi lên”. “Mỹ sẵn có lực lượng lãnh đạo thế giới và thế giới cũng cần sự lãnh đạo của Mỹ”. Nhưng mặt khác, ông ta vẫn tự mâu thuẫn với mình, ông lo lắng vì nỗi nước Mỹ còn đang lắm vấn đề. Nixon nói: “Nước Mỹ trong thời đại ngày nay còn quá nhiều nhân tố – khác biệt về chủng tộc và văn hóa, giữa người già với người trẻ không tin cậy nhau, cách biệt giữa người giàu và người nghèo – làm cho nước Mỹ chia năm xẻ bẩy, trong khi đó sức mạnh thôi thúc họ sáp lại với nhau thì rất yếu”. “Chiến tranh lạnh kết thúc càng khiến những vấn đề trong nước chúng ta xấu đi hơn nữa”. Nixon thậm chí phải lớn tiếng kêu lên rằng: “Kẻ thù của chúng ta chủ yếu là ở nội bộ chúng ta”.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: TN 2000 – 01 & 02