Lý do người dân Đông Á, Đông Nam Á cần hiểu biết về luật biển quốc tế


Theo bài viết trên trang lowyinstitute.org ngày 6/4, để ứng phó với những mưu đồ của Bắc Kinh tại Biển Đông, những quốc gia nhỏ hơn trong khu vực đã mở rộng và hiện đại hóa các lực lượng bảo vệ bờ biển hoặc những lực lượng hải quân và không quân bảo vệ biển của mình. Điều cần làm lúc này là phổ biến hệ thống quốc tế hiện nay để thiết lập luật lệ và trật tự hàng hải. Cho dù xét theo luật lệ và nguyên tắc hay xét theo những hoạt động thực sự trên biển, các quốc gia thường hành động với biện minh rằng hành động đó là nhằm bảo vệ lợi ích của người dân trong nước của họ. Vì vậy, điều cần làm đối với các nước này là nâng cao nhận thức của người dân trong nước về hệ thống luật lệ quốc tế và UNCLOS, để họ hiểu rằng đây là những công cụ cần thiết để thiết lập một trật tự hàng hải công bằng, hợp lý và có lợi.

Về mặt lý thuyết, luật lệ quốc tế hiện hành, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) có thể cung cấp phần lớn giải pháp đối với những mâu thuẫn và xung đột lợi ích này. UNCLOS bao gồm những quy định và luật lệ cơ bản để giải quyết những tuyên bố chủ quyền chồng lấn giữa các nước có tranh chấp lãnh hải. Do đó, tồn tại một mối liên hệ trực tiếp giữa việc duy trì và củng cố luật lệ và trật tự hàng hải quốc tế và việc theo đuổi và bảo vệ hệ thống luật lệ vốn được đưa ra trong UNCLOS. Tuy nhiên, cần có một cách tiếp cận thận trọng giữa việc khích lệ chủ nghĩa đươn phương và thúc đẩy chủ nghĩa đa phương nhằm giải quyết những nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng hỗn loạn và xáo trộn trong quá trình áp dụng và triển khai luật lệ và trật tự hàng hải.

Thông thường, giới học giả, chuyên gia và quan chức chính phủ có hiểu biết sâu rộng về những vấn đề liên quan đến hệ thống quốc tế và UNCLOS. Tuy nhiên, công dân của các chính phủ này cũng cần nắm bắt và hiểu biết những hệ thống luật lệ này, nhất là cộng đồng ngư dân của các nước đó, để toàn bộ người dân trong nước có thể hiểu được đầy đủ lý do và tác động khi các chính phủ của họ đưa ra những chính sách và hành động vốn được biện minh là đại diện cho người dân.

Cho dù những hoạt động của chính phủ có thể là một cuộc đấu khẩu căng thẳng về mặt ngoại giao hay một cuộc tập trận mang tính hợp tác với các nước khác, thì người dân của họ cần hiểu rõ những lợi ích của việc duy trì hệ thống luật lệ quốc tế hiện hành mà cốt lõi là UNCLOS. Giới học giả và chuyên gia cần phổ biến những diễn giải của mình đến đông đảo người dân, chứ không nên chỉ bó hẹp đối với giới chức chính phủ và các lực lượng chức trách trên biển.

Quá trình phổ biến kiến thức và hiểu biết về luật lệ quốc tế đối với người dân cần tiến hành một cách khẩn trương hơn và đòi hỏi này có thể thực hiện được, nhất là nhờ khả năng phát tán thông tin hiện nay thông qua các phương tiện truyền thông hiện đại. Sự hiện diện phổ quát của mạng xã hội cùng với sự hiểu biết và khả năng nhạy bén ngày càng gia tăng của người dân đối với những tranh chấp lãnh hải không còn là điều mới mẻ ở khu vực Đông Á. Tuy nhiên, nếu không có sự hướng dẫn và chỉ đạo tích cực với luồng thông tin phù hợp, thì người dân sẽ có xu hướng phát triển quan điểm dân tộc chủ nghĩa hoặc quan điểm thiển cận. Hệ quả là những người dân này có thể muốn các nước khác thì đơn giản tuân thủ những yêu cầu và quan điểm của họ mà không nhận thức được rằng họ cũng cần phải cân bằng và thỏa hiệp lợi ích theo cách phù hợp với hệ thống luật lệ vốn được thiết lập nhằm đạt được mục đích cân bằng đó.

Nhằm ngăn chặn những xu hướng này, điều cần thiết là đảm bảo rằng các kế hoạch và chương trình nâng cao nhận thức cho người dân cũng cần phải thúc đẩy quan điểm và hiểu biết mang tính quốc tế rộng lớn cho người dân, để họ đóng vai trò là những thành viên của những quốc gia thực sự tồn tại theo một hệ thống luật lệ quốc tế được công nhận. Nói cách khác, việc nâng cao nhận thức cộng đồng phải đi kèm với việc trang bị cho họ một thế giới quan mang bản chất quốc tế chủ nghĩa mở rộng. Đây là cách thức để giải quyết xu hướng người dân các nước có thể đi theo quan điểm chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa đơn phương đối với những vấn đề chung của các quốc gia.

Chắc chắn, các nước nhỏ hơn ở Đông Á cần phải ủng hộ nhiều hơn đối với trật tự luật pháp đa phương và thực tế vốn được UNCLOS và hệ thống luật pháp quốc tế hiện hành đề cập. Do đó, những nỗ lực theo hướng này có thể sẽ được hoan nghênh và sẽ thu hút được nhiều động lực và cổ vũ hơn nữa trong những năm tới.

Nguồn: TKNB – 08/04/2022

Trung Quốc lo ngại “cuộc chiến dư luận quốc tế” của Việt Nam về Biển Đông


Tờ Thời báo Hoàn Cầu (Trung Quốc) ngày 25/03 đăng bài viết của Ngô Sĩ Tồn, Chủ tịch Hội đồng Trung tâm Nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc – Đông Nam Á và là Chủ tịch sáng lập Viện Nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc, thừa nhận Trung Quốc lo ngại “những nỗ lực tuyệt vời và biện pháp đổi mới không ngừng” của Việt Nam trong cuộc chiến dư luận quốc tế về vấn đề Biển Đông.

Theo Ngô Sĩ Tồn, Mỹ đang lợi dụng cuộc tập trận chung Mỹ – Philippines sắp tới và việc Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ thổi phồng hoạt động xây dựng quân sự của Trung Quốc trên các đảo và đá ngầm ở Biển Đông.

Điều đáng cảnh giác hơn nữa là trong những năm gần đây, dư luận quốc tế và giới học thuật đã có một số bình luận phủ nhận “quyền lịch sử” của Trung Quốc ở Biển Đông và cho rằng “đường 9 đoạn” không có cơ sở luật pháp quốc tế. Đặc biệt, báo cáo “Giới hạn biển” số 150 về “Yêu sách Biển Đông của Trung Quốc”, được Bộ Ngoại giao Mỹ ban hành vào tháng 01/2022 nhằm phản ánh quan điểm của chính phủ Mỹ về Biển Đông, cáo buộc rằng các “đường 9 đoạn” và yêu sách quyền lịch sử của Trung Quốc ở Biển Đông không phù hợp với luật quốc tế và cần được loại bỏ.

Một số quốc gia quen với việc bẻ cong sự thật lịch sử, diễn giải luật quốc tế một cách phiến diện và có chọn lọc, cố tìn che đậy chân tướng sự thật, hoạch định chiến thuật, chiến lược từ thượng tầng chế độ, tập hợp nguồn lực để kể “câu chuyện Biển Đông” của mình cũng như giới thiệu yêu sách trên các diễn đàn quốc tế, trên các ấn phẩm cũng như các phương tiện truyền thông chủ lưu của phương Tây.

Lấy Việt Nam làm ví dụ, Trung Quốc có thể rút ra một số gợi ý từ “những nỗ lực” của Việt Nam trong cuộc chiến dư luận quốc tế về Biển Đông.

Liên quan đến vấn đề xuất bản, chính phủ VIệt Nam không chỉ tạo ra các “cổng thuận tiện” cho việc xuất bản các công trình nghiên cứu về Biển Đông mà còn trợ cấp và khuyến khích các học giả trong và ngoài nước xuất bản “kết quả nghiên cứu” phù hợp với yêu sách Biển Đông của họ thông qua các kế hoạch chuyên đề. Theo thống kê, hàng năm Việt Nam chỉ tài trợ cho các học giả trong nước xuất bản hơn 10 cuốn sách chuyên khảo về Biển Đông bằng tiếng Việt, tiếng Anh và các thứ tiếng khác trong và ngoài nước.

Từ năm 2009 đến nay, “Hội thảo chuyên đề quốc tế về các vấn đề Biển Đông” do các cơ quan hữu quan của Việt Nam tổ chức mỗi năm đã mời 300 đến 400 nhà ngoại giao, học giả và đại diện truyền thông từ hàng chục quốc gia trong và ngoài khu vực tham dự. Các cuộc hội thảo này đã trở thành diễn đàn quan trọng để Việt Nam thiết kế các chủ đề về vấn đề Biển D(ông, mở rộng “vòng tròn bạn bè” ủng hộ yêu sách của mình, có lợi cho quyền phát ngôn về vấn đề Biển Đông.

Ngoài ra, các chuyến du lịch liên quan đến Biển Đông do cấp quốc gia và địa phương tổ chức cũng trở thành một phương pháp quan trọng để các quan chức Việt Nam truyền tải cho công chúng cái nhìn lịch sử từ góc độ Việt Nam. Ngày 8/3 năm nay, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa ban hành trong các trường trung học phổ thông và trung học cơ sở kế hoạch 5 năm tổ chức triển lãm kỹ thuật số mang tên “Trường Sa và Hoàng Sa – lịch sử và chứng cứ pháp lý”. Ngoài việc nhắm vào đối tượng sinh viên trẻ và các nhân sĩ xã hội VIệt Nam, các hình thức triển lãm lưu diễn tại Việt Nam cũng được lên kế hoạch sử dụng bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan… để tạo tác động nhận thức đến người nước ngoài tại Việt Nam.

Ngô Sĩ Tồn nhấn mạnh, việc xây dựng quyền phát ngôn ở Biển Đông là một phần không thể thiếu và quan trọng trong việc bảo vệ vững chắc các quyền và yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhiệm vụ cấp bách của Trung Quốc là phải bác bỏ và phản bác một cách thuyết phục những nhận xét của giới học thuật và dư luận phương Tây cho rằng “Trung Quốc thay đổi hiện trạng Biển Đông”, “Trung Quốc vi phạm Công ước”, “Trung Quốc cần từ bỏ đường đứt đoạn”, “Trung Quốc nên tuân thủ phán quyết”.

Thứ nhất, Trung Quốc nên coi trọng việc nghiên cứu lịch sử vấn đề Biển Đông từ các khía cạnh thiết kế chính sách, xây dựng khoa học, đào tạo nhân tài và đầu tư kinh phí, lấy các nghiên cứu lịch sử vững chắc làm cơ sở lý luận và căn cứ dữ liệu lịch sử hỗ trợ các dự án có hệ thống về bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, đặt cơ sở vững chắc cung cấp chuỗi chứng cứ cho giải quyết tranh chấp ở Biển Đông trong tương lai.

Thứ hai, lấy sức ảnh hưởng quốc tế làm định hướng, kiên trì kể “câu chuyện Biển Đông” của Trung Quốc với cộng đồng quốc tế.

Thứ ba, việc tạo dựng quyền phát ngôn về vấn đề Biển Đông cần có những phương pháp đổi mới. Đấu tranh dư luận quốc tế liên quan đến vấn đề Biển Đông cũng nên xem xét tính hiệu quả của các phương thức tuyên truyền, lợi dụng đầy đủ các nền tảng mạng xã hội có ảnh hưởng khác nhau để phổ biến kịp thời những tiếng nói và đề xuất liên quan của Trung Quốc về Biển Đông.

Thứ tư, tích hợp các lý luận, phương pháp và lợi thế nhân tài trong các lĩnh vực khác nhau như lịch sử, luật pháp quốc tế, quan hệ quốc tế, tạo ra “lợi thế đặc biệt” trong việc xây dựng quyền phát ngôn trong vấn đề Biển Đông để chủ động giành chiến thắng trong cuộc đấu tranh dư luận mới liên quan đến Biển Đông.

Nguồn: TKNB 28/03/2022

Các phương tiện truyền thông và quá trình dân chủ – Phần cuối


Dân chủ quá mức. Cuối cùng, chúng ta cần xem xét quan điểm của Samuel Huntington cho rằng vấn đề của nền dân chủ ngày nay chính là sự dân chủ quá mức. Theo Huntington, chính phủ sẽ làm công việc của mình tốt hơn nếu mọi người đừng quan tâm thái quá. Ông thấy rằng một bộ phận những người có tri thức tỏ ra sốt sắng với công việc của chính phủ đến nỗi các cơ quan quản lý cảm thấy rất khó tránh được những bế tắc trong chính trị. Ông viết: “Hệ thống chính trị hoạt động hiệu quả cần thiết phải có sự lãnh đạm trong một số cá nhân hay nhóm người trong xã hội”.

Nhưng để tìm được điểm tương đồng giữa quan điểm trên với quan điểm dân chủ chính xác thật không dễ. Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng việc trình bày quá nhiều bức xúc sẽ làm chậm lại quá trình ban hành chính sách. Tất cả chúng ta đều biết các ủy ban hoạt động tốt hay không tốt như thế nào. Mấy năm trở lại đây, nhiều người tỏ ra lo lắng rằng các nhóm lợi ích quan tâm đến một vấn đề riêng lẻ – như nhóm chống phá thai hay Hiệp hội súng trường quốc gia hay một số tổ chức bảo vệ những vùng haong dã – có thể chống lại luật hay chính sách mà hầu hết các cử tri quan tâm. Việc duy trì và bảo vệ các nhóm thiểu số là một phần không thể thiếu trong một xã hội dân chủ, nhưng quyền lực của họ càng tăng thì ảnh hưởng đến số đông những nhóm còn lại càng gây rối loạn.

Nhưng Huntington cho rằng việc khuyến khích thái độ dửng dưng với chính trị là không thể chấp nhận được. Nếu những người tham gia vào một tiến trình chính trị không thể thương lượng sao cho hệ thống chính trị có thể hoạt động thông suốt thì biện pháp đầu tiên có thể nghĩ tới không phải là buộc họ rời bộ máy mà thay vào đó phải đào tạo họ về “nghệ thuật thương lượng”. Giống như nhiều người khác, Huntington tỏ ra quan tâm đến việc người dân ngày càng hiểu biết hơn và vì vậy có xu hướng tham gia vào chính trị nhiều hơn, nhưng sau đó ông quay ngược lại phủ nhận rằng họ là những người có thể đào tạo được về chính trị. Ông loại bỏ khả năng có thể giáo dục chính trị thực sự cho người dân. Tôi không cho rằng có đủ lý do để chúng ta đạt được sự dân chủ trong chính trị.

Việc ngày càng có nhiều các bộ phận cử tri thiên về một vấn đề có liên quan đến sự sụt giảm số lượng các tổ chức chính trị theo kiểu cũ. Công đoàn, nhà thờ, các đảng phái – các tổ chức chính trị phân cấp với một số người lãnh đạo, còn đa số phục tùng – đang dần mất ưu thế trước các nhóm được thành lập theo sở thích của công chúng với “sự chính xác cao hơn”. Những nhóm mới này mang tính chất định hướng vấn đề và dựa vào “sự nhạy cảm ngày càng cao về hệ tư tưởng giữa các cử tri với nhau”. Ngày nay có nhiều người sử dụng “những kỹ năng cần thiết để cụ thể hóa những yếu tố trừu tượng trong chịnh trị”. Đang có một thứ mà Ronald Inglehart gọi là “huy động nhận thức” diễn ra trong nền dân chủ công nghiệp tiên tiến.

Albert Hirschman đưa ra một lời kiến giải thú vị về hiện tượng gia tang các nhóm quan tâm đến vấn đề riêng lẻ này. Ông cho rằng hình thức thể hiện việc tham gia chính trị trong các chế độ dân chủ tự do – hình thức bỏ phiếu – là một hình thái tham gia thuần phục một cách quá mức. Thực chất hình thức này không làm mọi người thỏa mãn vì không cho họ đủ cơ hội “bộc lộ những cảm tưởng về những vấn đề công cộng mà họ đã trải nghiệm”. Hirschman còn lý giải rằng việc hình thàn hình thức bỏ phiếu như một kiểu tham gia chính “dẫn đến sự thất vọng với các cơ hội tiếp cận hạn chế và khiến cho các mối quan tâm này giảm sút”. Ông cho rằng việc gia tăng các nhóm có mối quan tâm đến một vấn đề riêng lẻ chính là hậu quả của hình thức bỏ phiếu:

Có thể mọi người tham gia vào các phong trào này không nhiều bởi họ tin vào tầm quan trọng của một vấn đề cụ thể nào đó và họ còn muốn chứng tỏ với thế giới, với bạn bè và bản thân họ rằng họ có khả năng giải quyết được một số vấn đề nhức nhối của xã hội. Bằng cách này, một hệ thống chính trị trong đó bầu cử được coi là hoạt động chính trị duy nhất có thể dẫn đến những hoạt động chính trị duy nhất có thể dẫn đến những hoạt động chính trị khác theo phương thức mới, tạo ra mối nguy hại tiềm tàng đe dọa đến chức năng đúng đắn của nền dân chủ.

Dù lý giải như thế nào thì sự thật hiển nhiên vẫn là đã từng tồn tại một loại hình tham gia chính trị mới mà hệ thống chính trị sẽ phải thích ứng. Nhiệm vụ của báo chí không phải là khuyến khích hay không khuyến khích những hình thức chính trị này mà chỉ đơn giản đưa tin về chúng.

Hơn nữa, các phương tiện truyền thông có thể hoạt động như những nhà giáo dục chính trị. Điều đó không có nghĩa là trưng khẩu hiệu hay đưa ra những bài thuyết giáo. Điều đó có nghĩa là các phương tiện truyền thông bằng những hoạt động của mình khuyến một quan điểm chính trị thấu đáo hơn so với những gì mà các tổ chức đó có hoặc – vô tình hay có chủ định – phổ biến và củng cố quan điểm của các tổ chức đó. Truyền thông không thể đứng ngoài được. Truyền thông phải gắn kết công việc với một quan điểm chính trị nhất định và có thể thực hiện điều này bằng nhiều cách.

Chẳng hạn, hầu hết các thành viên của các nhóm áp lực quan tâm đến một vấn đề duy nhất thường có quan điểm chính trị phức tạp hơn nhiều so với quy mô của tổ chức mà họ tham gia. Theo hầu hết các bài báo viết về quan điểm của công chúng, không có cách nào để nhận biết được điều đó. Một lần nữa tầm quan trọng của việc thăm dò ý kiến được nhắc đến và điều này dẫn đến khuynh hướng cho rằng thái độ của công chúng là không thay đổi và được hình thành từ trước. Trong cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 1980, tờ Wall Street Journal đưa ra một cuộc thăm dò ý kiến đơn giản và họ, cũng như những tờ báo khác, vẫn tiếp tục sử dụng phương thức này. Tờ Wall Street Journal đã làm theo sự chỉ dẫn của các nhà nghiên cứu thị trường – không chỉ đưa ra các cuộc thăm dò có quy mô quốc gia mà cả các cuộc thăm dò có quy mô nhỏ, “các nhóm trọng điểm” có quy mô vừa nhằm nắm bắt tường tận điều mà người tiêu dùng nghĩ và cách thức người dân đi đến với những mong muốn đó. Họ chia người dân làm hai nhóm: nhóm lao động trí óc (cổ trắng) và nhóm lao động chân tay (cổ xanh) để tạo lập các cuộc thảo luận chung về chính trị. Người ta không thể đọc những bài báo này nếu không bị bắt buộc bỏ qua định kiến của họ về tầng lớp lao động hay giới trung lưu. Điều này không chỉ ra rằng “mọi người cũng như nhau” – cũng xuất hiện các tầng lớp khác nhau, nhưng chúng phức tạp hơn và đòi hỏi phải có suy nghĩ thấu đáo hơn so với mức độ thông thường.

“Các nhóm trọng điểm” tất nhiền là “không khoa học” – nhưng các nhà nghiên cứu thị trường coi đây là cách thức nghiên cứu điều tra bổ sung quan trọng nếu họ không thể hiểu được các khách hàng tiềm năng. Cách thức này cũng là giải pháp thay thế tuyệt vời mà các phương tiện truyền thông có thể sử dụng nếu truyền thông muốn tìm kiếm và giúp độc giả/khan giả có cái nhìn sâu sắc hơn về chính trị – và là thứ chỉ ra cho chúng ta phạm vi suy nghĩ và thỏa hiệp mà trên thực tế là đặc trưng của đại đa số công chúng.

Kết luận: Ưu điểm của sự ảo tưởng

Các nhà tâm lý cho rằng những người không đặt ra mục tiêu cho mình sẽ không đạt được gì nhiều, thế nhưng ngay cả những người đặt ra mục tiêu cao nhất cũng có thể như vậy. Những ai đặt ra mục tiêu cao, nhưng là những mục tiêu có thể với được, thường làm công việc tốt hơn. Các nhà tâm lý khuyên rằng nên có những ước mơ xa hơn nhưng đó phải là những ước mơ có thể đạt được và không quá viển vông.

Lời khuyên này có thể áp dụng đối với các cơ quan báo chí. Nhà báo cũng như những người làm việc trong lĩnh vực khác đã không đề ra mục tiêu. Họ chỉ muốn làm việc suôn sẻ và hoàn thành công việc đúng kế hoạch. Nhưng xuất phát từ suy nghĩ này, đôi khi họ lại làm quá đi và nghĩ rằng họ phải biến công chúng thành những nhà quan sát kỹ lưỡng các hoạt động chính trị và là người tham gia tích cực vào đời sống chính trị của đất nước. Họ cố gắng tạo ra một thế giới mà trong đó quan niệm về hình thức dân chủ cổ điển vẫn có chỗ đứng.

Tôi đã cố gắng phản biện rằng những mục tiêu cao ngất cho dù không đạt được nhưng trong nhiều trường hợp lại là sự chỉ dẫn tuyệt vời cho nghề báo. Tôi đề nghị rằng các nhà báo nên đưa báo chí vào đời sống và không phải tất cả công dân đều là những người thông minh, có lý trí và luôn tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị. Trong trường hợp các cử tri hiểu biết và quan tâm đến các hoạt động chính trị không tồn tại, báo chí vẫn phải có trách nhiệm đáp ứng các hình thức thay thế để bảo đảm tính dân chủ. Họ có thể giữ vai trò là người đại diện cho công chúng, là người bảo đảm rằng giới cầm quyền (được bầu ra – trong trường hợp là chính phủ; không được bầu – trong trường hợp là các doanh nhân, các nhà vận động hành lang, và các nhóm lợi ích) phải có trách nhiệm với mục tiêu mà họ đã đặt ra và những mục tiêu khác mà công chúng tán thành. Họ có thể thực hiện điều này đơn giản bằng quyền lực là người dẫn đường của công chúng và bằng việc tạo lập sự chỉ dẫn đó thường xuyên hơn.

Như tôi đã nói, điều này có thể làm cho giới truyền thông ảo tưởng và hành động như thể dễ dàng xây dựng được một xã hội dân chủ mà không cần những cử tri hiểu biết và quan tâm đêén chính trị. Ưu điểm của ảo tưởng này thể hiện ở chỗ cả hai điều trên có thể đúng trong những hoàn cảnh khác nhau. Các nhà báo có thể làm tốt cả hai việc này bởi vì thế giới mà họ đưa tin cũng tồn tại hai (hay nhiều) khả năng. Và tôi cho rằng trong thực tế này ẩn chứa không chỉ sự phức tạp mà còn cả cơ hội nữa.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003

Các phương tiện truyền thông và quá trình dân chủ – Phần V


Thái độ hoài nghi của Lippmann. Nếu Lippmann đúng khi nói rằng tất cả những điều đúng đắn nhất mà công chúng có thể làm được là bộc lộ đặc tính và sự phức tạp trong những sở thích của họ vài năm một lần và làm việc đó trong bối cảnh thiếu thông tin cần thiết, khi đó báo chỉ chẳng thể làm tốt chức năng cổ điển của nó. Nhưng báo chí lại có thể thực hiện tốt các chức năng khác. Nếu báo chí không thể cung cấp thông tin đầy đủ về chính phủ cho người dân thì ít nhất báo chí cũng có thể bảo đảm rằng các thống đốc sẽ chịu trách nhiệm cung cấp thông tin cho một số ít người có quyền lực. Báo chí có thể đại diện cho công chúng, bảo đảm các thống đốc bang chịu trách nhiệm không phải với công chúng (những người thực sự không mấy quan tâm) mà với những quy tắc của bản thân thể chế xã hội dân chủ.

Những điều tôi đề cập không mấy phức tạp. Ủy ban Pulitzer hàng năm đều trao giải thưởng cho các bài báo đã thực hiện một cách tuyệt vời trách nhiệm trước công chúng. Thông thường, giải thưởng này được trao cho một bài báo được viết nên nhờ nỗ lực phi thường nhằm điều tra và vạch trần một vấn đề. Điều này có nghĩa là người viết sẽ tự chọn lựa vấn đề và tạo dựng chi tiết cho bài báo. Các bài báo này không tùy tiện chọn một số giá trị mà các nhà báo thường đưa vào. Thay vào đó, họ sẽ dựa trên một số đạo luật do chính phủ ban hành (luật hay quy tắc được xã hội thừa nhận) hay một lời phát biểu chính thức của chính phủ (một hứa hẹn trong chiến dịch tranh cử) và quan sát xem các nhà chính trị có tuân thủ luật hay thực hiện những hứa hẹn đó không. Xét về khía cạnh này, báo chí không có nhiều quyền lực để tạo ra những giá trị mới nhưng lại có cơ hội để quan sát xem liệu trên thực tế người ta có làm theo những giá trị đó hay không. Phóng viên điều tra Dvaid Burnham nói rằng, với vai trò một phóng viên điều tra, chiến lược của ông là phải giữ cho các cơ quan chính phủ và các tổ chức khác mà ông điều tra thực hiện đúng những mục tiêu đã đề ra. Câu hỏi ở đây không phải là họ đang làm đúng hay làm sai mà là họ có thể thực hiện điều đã cam kết hay không? Đây là câu hỏi có thể được trả lời bằng các phương thức báo chí truyền thống, theo kiểu bám chặt vào các nguyên tắc khách quan. Đồng thời, đó cũng là một câu hỏi khẳng định trách nhiệm của báo chí với vai trò là cơ quan bảo đảm trách nhiệm giải trình của nhà nước trước công chúng.

Sự suy tàn của các đảng phái chính trị. Dường như quyền lực của truyền thông không bị ảnh hưởng bởi sự suy tàn của các đảng phái chính trị. Đúng như vậy. Tuy nhiên, sự suy tàn của các đảng phái chính trị không hoàn toàn nằm ngoài quyền lực của truyền thông. David Broder nhận thấy rằng những dịp tương đối hiếm hoi báo chí đưa tin về hội nghị của các đảng và những cuộc họp giữa nhiệm kỳ đã lại làm công chúng quan tâm tới hoạt động của các đảng.

Các nhà báo có lẽ cũng không xác định rõ được giới hạn trong đó báo chí có thể chủ động tránh đưa tin về các đảng phái chính trị. Báo chí, đặc biệt là truyền hình, thường tỏ rõ thái độ ủng hộ các cuộc bầu cử sơ bộ phổ thông hơn là các họp kín trong nội bộ đảng, coi đây như một cách để lựa chọn các đại diện ra ứng cử tại hội nghị đề cử quốc gia. Ví dụ như năm 1986, CBS News chỉ đưa có một mẩu tin về các bước lựa chọn ứng cử viên không qua bầu cử sơ bộ bất chấp thực tế rằng năm đó 60% ứng cử viên ứng cử được lựa chọn theo phương thức không qua bầu cử sơ bộ. Các cuộc bầu cử sơ bộ có lẽ mang tính dân chủ cao hơn – tất nhiên nếu nhìn từ bên ngoài. Nhưng tôi không tin rằng đây là ý kiến đánh giá của giới báo chí. Báo chỉ chỉ đưa ra nhận xét chuyên môn chứ không phải nhận xét mang tính chính trị rằng các cuộc bầu cử có tính thông tin thường sống động hơn so với các cuộc họp kín trong nội bộ đảng. Theo Richard Rubin, báo chí không phải là nơi đầu tiên đưa ra thông tin về những cuộc bầu cử sơ bộ chọn ứng cử viên cho chức vụ tổng thống, nhưng “khi thấy rằng các cuộc bầu cử sơ bộ đem lại lợi ích chuyên môn, họ đã đánh bóng chúng như những thứ sẽ thúc đẩy và ủng hộ nền dân chủ kiểu Mỹ trong công cuộc giải quyết vấn đề đại diện bên trong đảng”.

Bản thân báo chí không thể làm gì để ngăn chặn quá trình suy tàn của các đảng. Tuy nhiên, báo chí có thể xem xét các cách thức mà nó vô tình tạo lập quan điểm phản đối các đảng phái – không đưa trên các trang xã luận mà qua việc đưa tin bài. Báo chí thường xuyên đưa ra những nhận xét có sức ảnh hưởng lớn mà không hề biết. Lập trường phản đối các đảng phái có thể là một trong số đó. Nhận biết điều này có lẽ là bước đầu tiên hướng tới những thay đổi và giúp báo chí có thể chủ động đưa tin một cách hiệu quả hơn về các đảng phái.

Địa vị ưu tiên của các doanh nghiệp lớn. Báo chí có thể làm gì đối với cái mà Lindblom đã lập luận là vị trí ưu tiên cho các doanh nghiệp? Vẫn chưa có lời giải đáp cho câu hỏi này. Bản thân truyền thông đang ngày càng trở thành doanh nghiệp lớn và được quyền ưu tiên tiếp cận với cá chính sách chính phủ ban hành đối với các tập đoàn lớn. Các phương tiện truyền thông cũng được các doanh nghiệp hỗ trợ tài chính – thường thì các doanh nghiệp địa phương có quy mô nhỏ tài trợ cho báo viết; các tập đoàn lớn tầm cỡ quốc gia tài trợ cho truyền hình. Vì vậy, không thể hy vọng là giới truyền thông có thể làm tổn hại đến lợi ích của các tập đoàn lớn.

Tôi không nghĩ là điều này có thể làm giảm những mối lo ngại mà Lindblom nêu ra. Ông không cho rằng doanh nghiệp không làm tốt trách nhiệm được giao phó, cũng không cho rằng các doanh nghiệp đang lạm dụng các đặc quyền được ưu tiên. Điều mà Lindblom muốn nói là hệ thống chính quyền hiện tại của Mỹ không phù hợp với những hiểu biết thông thường về dân chủ và có nhiều vấn đề cần quyết định, ngoài vấn đề bầu cử, trong đó vai trò và ảnh hưởng của các doanh nghiệp trong việc đưa ra quyết định cuối cùng ngày càng lớn, khó nhận thấy và không công khai.

Liệu có thể thay đổi được tình hình này không? Nhiệm vụ của báo chí không phải là tìm hiểu xem giới doanh nghiệp đã có quá nhiều hay quá ít quyền lực hay mức độ quyền lực hợp lý là như thế nào mà là đăng tải các thông tin về các hoạt động chính trị. Nhiệm vụ của báo chí trong trường hợp này là tìm hiểu và đưa tin bằng cách nào giới doanh nghiệp đã trở thành đối tác của chính phủ.

Hãy suy nghĩ trong giây lát về cách báo chí đưa tin về công việc lập pháp của Quốc hội – một biện pháp để bảo vệ môi trường, một luật dự thảo tăng hay giảm thuế. Cách thức báo chí đưa tin, hơn 500 nghị sĩ Quốc hội quyết định cách thức bỏ phiếu là “cảnh” chính. Có lẽ một số người chú ý đến các bài báo đặc biệt hay các bài phân tích thông tin về những điều diễn ra tại “hậu trường” – các nhà vận động hành lang đang tích cực như thế nào, họ là ai, quan điểm của họ là gì? Mặc dù đây là một phần không thể thiếu trong quá trình ban hành bất cứ điều luật nào, nhưng giới báo chí lại chẳng mấy khi chú ý đến nó. Tại sao vậy? Tôi nghĩ rằng không phải vì các phóng viên đang cố gắng bảo vệ các nhà vận động hành lang khỏi con mắt tò mò của công chúng. Đơn giản là xét cho cùng họ phải đưa tin về việc các nhà lập pháp sẽ bỏ phiếu thông qua như thế nào. Suy cho cùng thì chính các nhà lập pháp mới là người quyết định liệu những kiến nghị về thuế kia có trở thành luật không. Điều này hoàn toàn hợp lý. Báo chí sẽ coi những nhà lập pháp và những phụ tá của họ là tâm điểm đưa tin. Tuy nhiên, cũng vì quan niệm như vậy nên báo chí đã bỏ quên một bộ phận quan trọng trong quá trình lập pháp “trong bóng tối”.

Có lẽ có một số biện pháp đơn giản như đưa tin đầy đủ và thường xuyên hơn về các quyết định trong lĩnh vực tư nhân vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách công cộng. Thậm chí trong lĩnh vực công cộng cũng có một số cách để cung cấp tin chính xác hơn mà vẫn chỉ ra được sự liên kết giữa quyền lực công với quyền lực của tư nhân. Các tờ báo có thể xác định một số dự luật chủ chốt trong mỗi phiên họp của Quốc hội hay cơ quan lập pháp bang và giám sát các dự luật đó. Báo chí sẽ kiểm tra xem dự luật đó đang ở trong khâu nào – trong phiên điều trần, trong ủy ban, trong phòng họp hay các cuộc hội thảo. Báo chí cũng chú ý đến các nhóm áp lực khác – không chỉ giới kinh doanh mà cả các nhóm lợi ích có quan điểm của công chúng về dự luật đó – và báo chí phải tóm tắt lại những quan điểm của tất cả những nhóm này. Thậm chí báo chí còn phải xác định các điểm sẽ được luật dự thảo đưa ra mà ít hay nhiều có ảnh hưởng đến các nhóm kể trên. Rõ ràng là không phải lúc nào các nhóm này cũng ảnh hưởng tới quá trình lập pháp. Nhưng báo chí sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thông tin đầy đủ tới các cử tri về những vấn đề chủ chốt này và làm cho các nhà vận động hành lang có trách nhiệm nhất định trước công chúng.

Liệu tất cả mọi người sẽ đọc những điều lộn xộn này?  Tất nhiên là không. Nhưng hãy nhớ rằng chúng ta đang bàn luận về truyền thông. Trng phần mở đầu, tôi không đòi hỏi các nhà báo phải coi độc giả của họ là những người được thông tin, có lý trí và tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị. Họ chỉ cần nghĩ rằng sẽ có một nhóm các độc giả quan tâm đến những tin tức như vậy. Trên thực tế, cũng có thể chỉ có một số ít người quan tâm đến các thông tin đó. Về mặt lý thuyết, nhóm người này sẽ chỉ là các phóng viên và các biên tập viên. Bởi vì nếu chúng ta đặt quan điểm cổ điển và công chúng có lý trí quan tâm đến chính trị sang một bên, khi đó giới truyền thông có thể được coi là những người bảo vệ công chúng, người đại diện thực hiện việc giám sát cho công chúng và đại diện cho công chúng giám sát tiến trình chính trị thay vì là người truyền đạt thông tin cho công chúng.

Nếu chúng ta xem xét vấn đề theo hướng này, có lẽ báo chí phải có nhiều mục tiêu và chuẩn mực hơn thông thường. Nếu xét như vậy, ý kiến buộc các cơ quan chính phủ hành động theo các mục tiêu đã đặt ra của David Burnham là rất có lý. Ông không cần phải giả sử rằng người dân sẽ quan tâm đến chính trị; ông chỉ cần giả định các chuẩn mực quốc gia và các quy tắc công cộng đã được đưa vào công việc lập pháp cho các cơ quan đang được nhắc đến này hay trong các buổi nói chuyện công khai do các nhà lãnh đạo các cơ quan này thực hiện. Khi đó, điều này đặt ra một chuẩn mực đối với phóng sự điều tra của báo chí vì lợi ích của công chúng.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003

Các phương tiện truyền thông và quá trình dân chủ – Phần IV


Báo chí đã làm tốt công cuộc đưa tin về các cuộc bầu cử đến mức nào? Làm thế nào để đưa tin có hiệu quả hơn? Rõ ràng là để trình bày vấn đề này phải mất cả một chương, cả một cuốn sách hay một vài cuốn sách. Tôi chỉ muốn nêu một điểm. Tất cả các cuộc nghiên cứu khoa học xã hội về báo chí trong vòng 10 đến 15 năm trở về đây đều phát hiện ra rằng báo chí đại diện quá nhiều cho quan điểm của các quan chức chính phủ. Trong một chừng mực nào đó thì khó tránh được điều này vì các thông tin chính chủ yếu tập trung vào chính phủ và vì vậy chúng tất nhiên do các quan chức chính phủ cung cấp. Tuy nhiên, điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến mục đích nâng cao tính dân chủ của báo chí.

Một cuộc nghiên cứu về các cuộc bầu cử Quốc hội do Peter Clarke và Susan Evans tiến hành cho thấy giới báo chí đưa nhiều thông tin về các quan chức đương nhiệm hơn các đối thủ cạnh tranh. Hầu như các quan chức đương nhiệm đều được bầu lại; kể từ năm 1968, hơn 90% các nghị sĩ đương nhiệm tham gia vận động tái cử cho nhiệm kỳ tiếp theo thành công, và tiếp tục hưởng những lợi ích do chiến thắng này mang lại. Một số nguyên nhân có thể giải thích cho hiện tượng “tại vị” này. Các nghị sĩ Quốc hội có nhiều nguồn hỗ trợ hơn – chẳng hạn họ có một số đặc quyền nêu quan điểm công khai, được phép đi lại và có nhiều cơ hội, đặc quyền khác với chi phí cho một nghị sĩ lên tới 100 triệu USD cho mỗi năm bầu cử. Hơn nữa, khi các hoạt động liên bang được triển khai và người dân tiếp xúc nhiều hơn với các cơ quan liên bang, người dân ngày càng coi họ là chiếc cầu nối giữa người dân địa phương và các cơ quan liên bang, vì vậy, trong con mắt của người dân, họ là người cung cấp các dịch vụ xã hội. Thêm vào đó, các cử tri khó tiếp cận được với các đảng, do đó sự quen thuộc của nghị sĩ đương nhiệm mang lại lợi thế quan trọng. Thế nhưng còn có những yếu tố khác để chúng ta xem xét: báo chí thường đưa tin về những người đương nhiệm nhiều hơn so với đưa tin về các đối thủ cạnh tranh của họ.

Đây không phải là kết quả của sự lựa chọn chính sách trực tiếp. Báo chí đã hết sức nỗ lực đưa tin về các đối thủ cạnh tranh không kém gì nỗ lực đưa tin về các quan chức đương nhiệm. Nhưng các quan chức đương nhiệm rốt cuộc vẫn đưa ra nhiều thông tin hơn. Dường như người dân quan tâm đến nhân cách của các ứng cử viên với mức độ không kém gì các cuộc tranh luận trong các tổ chức chính trị của họ. Nhưng quan điểm của các quan chức đương nhiệm được đưa ra nhiều hơn. Vì sao vậy? Như Clarke và Evans đã nói, nguyên nhân đơn giản chỉ vì “các đối thủ cạnh tranh không có đủ các yếu tố hỗ trợ cơ bản – kinh nghiệm, các kỹ năng lập pháp và tiếp xúc với cử tri”. Một phần vì các phóng viên thường né tránh đưa tin toàn bộ và đưa tin về các vấn đề gây bất lợi, mặc dù tiến hành chiến dịch “giải quyết vấn đề” là một trong những cách chủ yếu mà các đối thủ cạnh tranh có thể làm.

Thế khi một quan chức đương nhiệm không ra ứng cử cho nhiệm kỳ tiếp theo thì các cuộc tranh luận sẽ diễn ra như thế nào? Đây có lẽ là cơ hội tuyệt vời để báo chí đối xử công bằng với các ứng cử viên và nhấn mạnh vào các vấn đề chính trị. Nhưng Clarke và Evans nhận thấy rằng “công chúng không thích các cuộc chạy đua mở này”. Trong các cuộc chạy đua này, không ai trong số các ứng cử viên từng đạt được thành tích hợp thức được công chúng biết đến. Kết quả là báo chí chẳng đưa tin về ai cả. Truyền hình cũng không quan tâm. Các thông tin của truyền hình thường mang tính chất quốc gia nên cũng không đưa tin về các cuộc chạy đua vào Quốc hội. Không phải báo chí mà chính là truyền hình trong hầu hết các cộng đồng chẳng xấu hổ khi đưa tin về kinh doanh và dành ít thời gian để phát sóng cho các ứng cử viên và các vấn đề của bang.

Vì vậy, sự chú ý của giới truyền thông đến các quan chức chính phủ, dù có lợi hay có hại, cũng sẽ tạo nên ảnh hưởng đối với các cuộc bầu cử vào Quốc hội và tích cực ủng hộ các quan chức đương nhiệm khi những người này chạy đua và giảm sự chú ý của công chúng đối với các cuộc chạy đua mở. Đây là một trong những cơ hội tốt để nâng cao tính dân chủ nhưng báo chí thay vì ủng hộ và khuyến khích lại gây cản trở. Có thể nói, báo chí đã không làm tốt nhiệm vụ cung cấp “đầy đủ thông tin” cho công chúng.

Báo chí có thể làm nhiều điều để nâng cao hoạt động. Chỉ cần nhận thức được vấn đề là đã có thể làm báo chí hoạt động tốt hơn. Những nỗ lực đặc biệt để tìm hiểu về quan điểm chính trị của các đối thủ cạnh tranh và đưa tin về các quan điểm này cũng như đăng tải những câu chuyện xung quanh đó cũng có tác dụng tốt. Một số hoạt động đơn giản khác cũng mang lại kết quả tốt. Chẳng hạn, công chúng có thể đọc được về thông tin của ứng cử viên thuộc khu vực của mình ở mục nào trong tờ báo? Ở các thành phố lớn, công chúng khó tìm thấy các thông tin này. Không dễ để công chúng đọc được những thông tin này trong tờ báo và thậm chí họ cũng không biết thông tin đó có đáng xem hay không, bởi vì tin tức về các cuộc tranh cử khác nhau thường được đăng trên nhiều số. Nếu đưa tin và trình bày đơn giản và rõ ràng hơn thì chắc chắn sẽ tạo nên sự thay đổi lớn. Điều này sẽ tiêu chuẩn hóa việc đưa tin về các cuộc chay đua và làm lượng tin này giảm đi, được sắp xếp gọn gàng trong các mục – điều gì sẽ xảy ra tại quận bốn, điều gì đang xảy ra trong quận sáu… Báo chí đã từng làm như thế để giúp độc giả có thể kiểm soát thế giới của họ theo nhiều cách – mục kết quả thể thao, mục thông tin về các chỉ số thị trường chứng khoán. Tại sao lại không làm tương tự đối với các cuộc bầu cử địa phương, ở cấp quận? Thậm chí nên đăng tải các thông tin về cuộc bầu cử trong một mục riêng, đăng mỗi ngày trước khi cuộc bầu cử diễn ra vài tuần. Truyền hình địa phương có thể đưa thêm phần tin về bầu cử bên cạnh các tin tức chung, tin thể thao và thời tiết hàng tuần trước cuộc bầu cử, song có lẽ họ không làm điều đó.

Những thay đổi này không làm biến chuyển thế giới. Nhưng nếu các nhà báo nghiêm túc đặt ra câu hỏi mà tôi đưa ra ở đây – truyền thông có thể làm những gì để đẩy nhanh tiến trình dân chủ tại Mỹ, giả sử một bộ phận cử tri sáng suốt và quan tâm đến chính trị – họ sẽ tìm ra các cách thức để tạo ra sự khác biệt, bằng cách này hay cách khác.

Các nhà báo, giống như những người theo nghề nghiệp khác, sẽ trở nên lười biếng, bị cuốn vào một lối mòn và quên đi nhiệm vụ đầu tiên của báo chí. Các khẩu hiệu của báo chí về Tu chính án thứ nhất, hay quyền được thông tin thông thường, đã bị lái theo hướng bảo vệ giới báo chí khỏi những tấn công, chỉ trích chứ không phải theo hướng suy nghĩ nghiêm túc về những gì báo chí có thể làm để nâng cao tính nâng dân chủ trong nền chính trị. Hầu hết các nhà báo đều cho rằng họ không có thời gian để suy nghĩ nghiêm túc về báo chí. Clarke và Evans chỉ chỉ ra rằng những người đã làm việc đó thường làm công việc báo chí tốt hơn. Một số bằng chứng chứng minh rằng những nhà báo có đọc Columbia Journalism Review thường làm tốt nhiệm vụ đưa tin về các ứng cử viên trong các chiến dịch bầu cử Quốc hội.

Hoàn toàn không phải là điều gì to tát lắm khi đề xuất việc nhà báo nên suy nghĩ nhiều hơn nữa. Tuy nhiên, suy nghĩ không thể tách rời thực tế là cần phải có được cơ sở thể chế. Các cơ quan báo chí có thể làm được rất nhiều để các nhà báo có thời gian nghiêm túc suy nghĩ về nghề báo. Giảm thời gian làm việc và xem xét lại chính sách nghỉ phép là một ý tưởng đáng cân nhắc. Gửi một phóng viên tới Harvard vào nhóm nghiên cứu Nieman có lẽ là cách tốt nhất để phóng viên đó được chuyển tới một tờ báo có uy tín hơn. Tuy nhiên, thông qua cách thiết lập mối quan hệ với các trường đại học và gửi phóng viên tới đó trong những ngày nghỉ phép ngắn hạn là một cách để các phóng viên có thời gian suy nghĩ và tiện thể liên hệ với các học giả (các tòa báo thường thiếu mối liên hệ kiểu này). Các học giả có những nguồn thông tin hết sức bổ ích.

Đây là những đề xuất nhỏ, nhưng hết sức thiết thực, cho sự cần phải tiếp tục gửi các nhà báo tới các khóa học tại chức. Tôi không cho rằng giới truyền thông đã làm tất cả để có thể cung cấp ngày càng nhiều thông tin bổ ích và cần thiết cho công chúng. Tôi cũng không tin họ đã đầu tư đủ để tìm ra các biện pháp khả thi có thể thực hiện được điều này.

Đối mặt với các thực tế chính trị: Đáp ứng các nguyện vọng dân chủ trong những điều kiện không thuận lợi

Có nhiều việc có thể làm nếu các cơ quan báo chí giả định công chúng là những người có lý trí, thông minh và sẵn lòng tiếp nhận thông tin. Một lần nữa, đây đôi khi là sự mô tả hợp lý về công chúng – có thể thường xuyên hơn những gì chúng ta dự đoán.

Đồng thời, không có lý do nào cho rằng đây là một bức tranh toàn cảnh về hoạt động của hệ thống chính trị. Vai trò và nhiệm vụ của báo chí là gì nếu những người nghi ngờ về sự dân chủ kia đúng? Nếu Lippmann đã đúng khi nói rằng công chúng còn lâu mới tham gia hiệu quả vào các hoạt động chính trị? Nếu nhiều nhà phê bình đã đúng khi cho rằng các đảng phái chính trị thực ra đã hết thời? Hay nếu Lindblom đã đúng khi cho rằng doanh nghiệp đã có ảnh hưởng quá lớn tới nền chính trị Mỹ? Nếu Huntington không sai khi nói rằng khả năng điều hành là vấn đề quan trọng nhất đối với xã hội dân chủ? Hãy để tôi lần lượt xem xét những câu hỏi này.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003

Các phương tiện truyền thông và quá trình dân chủ – Phần III


Đây không phải là một cấp tiến cực đoan. Đây là một nhà khoa học chính trị theo dòng chủ lưu, là chủ tịch Hiệp hội khoa học chính trị Mỹ năm 1981. Ông không cỏ vũ cho hệ thống chính trị nào khác nhưng sự lên án của ông về những điều trên gây xúc phạm nhiều người.

Vai trò của truyền thông đại chúng trong tất cả những điều này là cái gì? Lindblom giống như Huntington viết về khả năng điều hành và giống như các nhà lý luận của các đảng phái chính trị, không đặt truyền thông đại chúng vào trung tâm. Ông ít chú ý vào truyền thông hơn và chú giảng rằng vai trò kinh doanh vượt quá cả truyền thông đại chúng. Không phải là không có tiếng xấu đối với việc kinh doanh trên báo chí, không phải là doanh nghiệp không thực sự can dự vào những việc mà đôi khi bị phơi bày trên báo chí, nhưng những tranh cãi xung quanh việc kinh doanh trên các phương tiện truyền thông luôn quan tâm đến các vấn đề thứ hai mà các nhà doanh nghiệp hàng đầu vẫn thường không nhất trí. Mặc dù các tập đoàn và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp lớn không thường xuyên đóng vai chính diện trong các bộ phim của công chúng hay giải trí truyền hình, song các câu hỏi chủ yếu về vai trò của doanh nghiệp tư nhân và sự ủy thác quyền lực của chính phủ đối với doanh nghiệp nằm ngoài lĩnh vực thảo luận chính trị hợp thức.

Vậy những đánh giá khác về nền dân chủ Mỹ – vốn tất cả đều ảm đạm – hiện đặt chúng ta ở đâu? Và về mặt giả thuyết, chúng đặt các phương tiện truyền thông đại chúng có chức năng cải thiện được tiến trình dân chủ ở vị trí nào?

Vai trò của truyền thông

Nếu ai đã từng đọc những nhận xét của Walter Lippmann về phương diện ý kiến công chúng, Gerald Pomper và những người khác nữa về các đảng phái chính trị, Samuel Huntington và những người khác về sự mất khả năng điều hành của các nước dân chủ tự do hiện đại và Charles Lindblom về vai trò không tương xứng của doanh nghiệp trong hệ thống chính trị cầm quyền của Mỹ, không dễ để nắm bắt hết quan niệm tầm thường về nền dân chủ vốn là điểm mấu chốt của lĩnh vực nằm trong và xung quanh báo chí. Các nhà báo và những người giảng dạy báo chí vẫn trung thành với lý tưởng dân chủ cổ điển vốn được phác họa một cách lỏng lẻo. Song bản thân lý tưởng đó không phải là không tốt. Những đánh giá thực tế hơn về nền dân chủ xác định tình thế ảm đạm đến nỗi họ bắt đầu giải quyết trước dựa trên khái niệm về khả năng thay đổi. Họ có lẽ dường như hài lòng với việc làm cho khoa học chính trị, chứ không phải là kinh tế, trở thành một chuyên ngành ảm đạm.

Quả thực, việc báo chí không nắm bắt được lối quan niệm hiện tại trong khoa học chính trị về nền dân chủ lại có một lợi ích nhất định. Nó có lợi cho truyền thông, làm cho truyền thông hoạt động như thể chúng là các công cụ giáo dục phổ biến trong một nền dân chủ hồi sinh và phong phú. Rốt cuộc, bất chấp có môn khoa học chính trị, điều này đôi khi là sự thật. Trong một số bang hay thành phố nào đó, xét đến một số vấn đề hay các chiến dịch nào đó, trong suốt thời gian nhận thức chính trị tăng cao nào đó, đó lại là nơi nền dân chủ đang tồn tại – có một quá trình dẫn tới bình đẳng chính trị, sự tham gia tương đối hiệu quả của một lượng người lớn và thảo luận công cộng linh hoạt hơn và sôi nổi hơn giữa những người tham gia nhằm đạt đến sự hiểu biết thỏa đáng về các vấn đề thảo luận.

Tôi đề xuất rằng các phương tiện truyền thông nên tự ý thức được những cư xử bất thường trong những nỗ lực nhằm thể hiện chức năng chính trị dân chủ. Các phương tiện truyền thông nên ủng hộ nền dân chủ mà khoa học chính trị cho rằng chúng ta không có nhiều cơ hội để vươn tới và đồng thời họ nên đáp lại thực tế giàu tưởng tượng về nền chính trị tạm thời mà các học giả đã quan sát thấy. Tôi sẽ lần lượt đề cập mỗi chiến lược, thảo luận cả phần triết học đại cương mà báo chí đòi hỏi lẫn một vài thay đổi cần phải có trong báo chí.

Hướng tới hình thức dân chủ cổ điển: Cung cấp cho công chúng có lý trí những thông tin có ích hơn

Giả sử công chúng là những người có lý trí, quan tâm đến lĩnh vực công và có quyền tham gia một cách hiệu quả vào các hoạt động chính trị. Học thuyết dân chủ cổ điển giả định rằng điều đó hiển nhiên đúng. Quan niệm cổ điển về báo chí cũng cho điều đó là đúng. Do đó, nhiệm vụ của giới truyền thông là giúp công chúng có được cái mà Robert Dahl gọi là “đầy đủ thông tin” về các vấn đề chính trị. “Nắm bắt đầy đủ thông tin” luôn phải là mục tiêu hàng đầu của truyền thông.

Điều này có hàm ý gì? Khi Dahl sử dụng khái niệm “nắm bắt đầy đủ thông tin” như là một tiêu chí đánh giá nền dân chủ, ông nhấn mạnh rằng, trong một nền dân chủ, người dân phải có đủ sự hiểu biết để “khám phá” những sở thích và ưu tiên của riêng họ. Ông không cho rằng công chúng khi hình thành những sở thích của họ đã không biết rằng sở thích của mình là gì. Do đó giáo dục chính trị không chỉ đơn thuần là nêu ra thực trạng chính trị để công chúng có thể tìm một nhân vật chính trị thích hợp, có sở thích và thị hiếu trùng với sở thích và thị hiếu vốn có của người đó. Đó cũng là nhiệm vụ định hình sở thích chính trị của công chúng của truyền thông.

Điều kỳ lạ là chúng ta quên mất điều này. Chúng ta thường có khuynh hướng cho rằng người giàu sẽ phản đối đánh thuế vào những người có thu nhập cao, người da đen sẽ bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ và những người thuộc tầng lớp trung lưu nghiêng về các chính sách giảm lạm phát hơn là các chính sách giảm tỷ lệ thất nghiệp. Có thể nhiều người, nhưng không phải là tất cả nghĩ như vậy. Các nhà xã hội học và các nhà tư vấn marketing chính trị có thể chỉ và giải thích cho chúng ta những giả định này đúng ở mức độ nào. Chính trị – nghệ thuật xây dựng liên minh, tạo nên các thỏa hiệp, thuyết phục người dân rằng những lợi ích của họ rồi sẽ thay đổi khi họ thắng cử – đã trở thành thứ yếu; những lợi ích này chỉ tồn tại khi các nhà xã hội học và các nhà marketing chính trị không còn quyền lực. Nếu người ta luôn luôn chỉ bỏ phiếu cho những người thuộc cùng đảng phái hay chủng tộc với họ thì chúng ta luôn biết trước kết quả bầu cử. Lúc đó, chính trị sẽ không còn thú vị nữa. Tuy nhiên, chính trị vẫn tồn tại và hấp dẫn bởi vì không thể nào biết trước đượoc sở thích của mọi người, người dân có thể chuyển từ ủng hộ bên này sang ủng hộ bên kia, họ có thể bị thuyết phục (và có thể là bị lừa phỉnh); và họ sẵn sàng tiếp nhận các ảnh hưởng chính trị. Trên thực tế, vấn đề cốt lõi của chính trị không phải là khéo léo nắm bắt những sở thích đã có từ trước, mà là hình thành và lựa chọn những giá trị dựa trên những tiêu chuẩn đạo đức.

Một xã hội dân chủ được hình thành dựa trên chính điều này. Đó là niềm tin được củng cố theo năm tháng bằng kinh nghiệm của bất cứ ai đã từng hơn một lần thành công trong việc thuyết phục người khác thay đổi quyết định, hay bởi chính kinh nghiệm của một người thay đổi ý kiến của mình vì bị ảnh hưởng bởi những nỗ lực chính trị có tính toán của một người khác. Tuy nhiên, niềm tin này cũng có một trở ngại, kẻ thù hùng mạnh – đó là học thuyết quyết định. Học thuyết này khẳng định con người có những sở thích có thể xác định được, họ biết những sở thích đó, do đó họ sẽ bỏ phiếu cho những điều họ thích. Có hai cách để báo chí chống lại quan điểm của học thuyết này.

Thứ nhất, báo chí có thể phủ nhận học thuyết này và mỗi khi đưa ra những thông tin cung cấp cho công chúng và báo chí sẽ làm một số người nhìn nhận vấn đề theo cách khác. Thứ hai, báo chí không ủng hộ mù quáng cho những đồng minh mạnh nhất của học thuyết quyết định. Trong những năm gần đây, một trong những đồng minh đáng tin cậy của học thuyết quyết định là các cuộc thăm dò dư luận. Bản thân việc thăm dò ý kiến không sai trái nhưng người ta luôn vật chất hóa nó khiến cho việc thăm dò ý kiến tạo nên sức ảnh hưởng vượt quá thực tế. Họ cho rằng thăm dò ý kiến có nghĩa là người dân đã có những sở thích từ trước, vì vậy giáo dục chính trị hay khả năng lãnh đạo chính trị không tác động được đối với ý chí của con người. Đương nhiên là điều này hết sức vô nghĩa. Khi Nixon ra lệnh đổ bộ quân vào Campuchia năm 1970, chỉ có 7% dân Mỹ ủng hộ quyết định này. Sau khi tổng thống vẫn tiến hành việc đổ bộ quân, số người ủng hộ tăng lên tới 50%. Như Charles Lindblom đã nói, “ý chí” của công chúng thay đổi “nhanh chóng và dễ dàng theo hành động và lời khuyên của các nhà lãnh đạo”.

Hơn thế nữa, nếu các nhà chính trị hiểu sai về các cuộc thăm dò dư luận, thì công chúng cũng có thể như vậy. Chúng ta phải hình dung là bản thân những người dân bình thường cũng bị ảnh hưởng phần nào bởi kết quả của các cuộc thăm dò dư luận như thể “ý kiến” mà họ nhận được có một mức độ vĩnh cửu nào đó. Một điều mà báo chí có thể làm là thông báo kết quả các cuộc thăm dò dư luận một cách khôn ngoan hơn. Chẳng hạn như báo chí nên cố gắng đặt các cuộc thăm dò dư luận trong bối cảnh lịch sử, không nên chỉ đưa ra kết quả các cuộc thăm dò dư luận gần nhất mà phải so sánh kết quả với những lần trước đó. Và không nên thông báo như cách thông báo chỉ số Down Jones hay tỷ số thể thao. Các cuộc thăm dò đơn thuần không quan trọng và có độ chính xác cao như một bản báo cáo về tình hình thế giới – ngay cả nếu chỉ cho một ngày – cũng như chẳng mang tính chất quyết định hay đáng tin cậy như hướng dẫn hành động. Báo chí nên hết sức thận trọng, không công bố cẩu thả các số liệu thăm dò ý kiến để không làm ảnh hưởng xấu đến việc giáo dục chính trị.

Tuy nhiên, điều này chưa mấy quan trọng. Điều quan trọng ở đây là báo chí còn có thể làm nhiều điều hơn nữa để mở rộng chức năng thông thường: cung cấp thông tin cho mọi người để họ có thể hiểu biết đầy đủ hơn về chính trị, trong đó bao gồm cả các sở thích của họ, và để người dân tham gia một cách hiệu quả vào đời sống chính trị của đất nước. Chẳng hạn, hãy xem xét về những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt của cuộc bầu cử. Báo chí đã làm tốt công cuộc đưa tin về các cuộc bầu cử đến mức nào? Làm thế nào để đưa tin có hiệu quả hơn?

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003

Các phương tiện truyền thông và quá trình dân chủ – Phần II


Hiện đang có một khối lượng tác phẩm văn học lớn viết về sự suy giảm của các đảng phái chính trị Mỹ, được tóm gọn trong tiêu đề cuốn sách của David Broder mang tên Hết thời đảng phái (The Party’s Over). Các đảng phái này đã không thể đưa ra các chính sách và các quan điểm rõ ràng. Các đảng này không thu hút được công chúng. Các công dân không còn thấy muốn quan tâm đến các đảng này. Nếu truyền thông là quyền lực thì giới truyền thông có quá nhiều việc phải làm để lấp chỗ trống khi các đảng phái đang tan rã và cũng có nhiều việc phải làm với sự tự đề cao của báo chí và các mang lưới truyền hình.

Học thuyết dân chủ cổ điển không chú ý nhiều đến các đảng phái; trên thực tế, những người sáng lập các học thuyết này phản đối các đảng phái và có một quan điểm chống đảng phái mạnh mẽ tồn tại trong suốt đầu những năm 1950 của nền cộng hòa Mỹ. Nhưng các nhà quan sát gần đây coi đảng phái là thước đo quyết định “sự tồn tại của bản thân nền dân chủ”. Các đảng đứng giữa những nhà cầm quyền và công chúng, có khả năng phát âm, lập luận các quan điểm của công chúng rõ ràng và nhấn mạnh vào sự thích ứng của các quan chức cầm quyền đối với các quan điểm này. Điểm này được James Gazlay chỉ rõ:

Quần chúng hiếm khi từng thấy hơn một mục tiêu chính trị tại một thời điểm không rõ ràng. Họ giành được sự ủng hộ ngẫu nhiên hoặc lời hứa hẹn ủng hộ, là người ủng hộ những ứng cử viên; và vì dễ dàng hơn nhiều và chắc chắn an toàn hơn trong một vài trường hợp khi ủng hộ một người hơn là ủng hộ những nguyên tắc của người đó, và vì việc này giúp tránh rắc rối khi có nhiều quan điểm, nên người dân có xu hướng ủng hộ nhiệt tình những người đó, tại thời điểm khi họ cho là họ đang ủng hộ nguyên tắc: Thế nhưng nếu đó chỉ là một nguyên tắc họ hướng tới, thì cần phải có một tổ chức rõ ràng, nếu không họ sẽ trở thành các công cụ tầm thường của những người có quyền lực, điều mà họ ít mong đợi nhất.

Thật là tốt khi biết rằng ông Gazlay vviết điều này năm 1826. Kỷ nguyên hậu chiến không phải là thời gian đầu tiên các đảng chính trị Mỹ suy yếu một cách đáng kể, mặc dù đây là thời gian đầu tiên kể từ ngày của ông Gazlay. Ngày nay, một nhà khoa học chính trị lý luận rằng “đảng chính trị kiểu Mỹ hầu như không lớn hơn là mấy so với một trong số nhiều nhóm, không khác nhau nhiều về sự ảnh hưởng trong việc tham gia vào các cuộc bầu cử. Đảng giảm quy mô từ mô hình gần giống một tổ chức chính trị của công chúng xuống thành hiệp hội tư nhân. Đã có thời từng là nguồn gốc quyền lực, đảng đã trở thành một đối thủ khác tranh giành trong hệ thống đa nguyên.

Nói một cách cụ thể hơn, đảng mất quyền lực trong cuộc bầu chọn tổng thống: các tổ chức cá nhân hậu thuẫn các ứng cử viên độc lập đã trở thành đối thủ của các tổ chức đảng. Các cuộc bầu cử quan trọng thay thế các phiên họp kín của đảng để đề cử tại nhiều bang. Truyền thông đại chúng thế ngay vào chỗ đó với các phóng viên chính trị toàn quốc hoạt động như một “ủy ban điều tra” những ứng cử viên tổng thống. Các luật quy định việc tài trợ cho các chiến dịch vận động hạn chế các nguồn tài trợ cho các đảng. Trợ cấp liên bang chỉ dành cho các ứng cử viên, không dành cho các đảng. Thêm vào đó, luật bầu cử nhấn mạnh rằng các nhóm (các ủy ban hành động chính trị tốt và nổi tiếng ngày nay) có thể tùy ý tăng thêm tài trợ miễn sao các khoản tài trợ này không liên kết với các đảng chính trị. Tất cả đã làm tăng thêm xu hướng tách ra khỏi các đảng của các cử tri. Số cử tri được xem là người ủng hộ thuần túy giảm từ 42% năm 1960 xuống còn 23% trong năm 1972. Các cử tri mới và trẻ đặc biệt được coi như các cử tri độc lập.

Theo Gerald Pomper, điều này dẫn đến “việc mất kiểm soát công chúng qua các chính sách công cộng và lại mất khả năng của các yếu tố ít đặc quyền hơn trong việc gây ảnh hưởng định mệnh xã hội của họ”. Kết quả này gây sốc cho một số người vốn coi đảng chính trị như người bảo trợ cho các đặc quyền, song đặc biệt ở Tây Âu và thậm chí ở Mỹ , các đảng này vẫn hoạch định các đường lối linh hoạt cho giai cấp công nhân và các nhóm thiểu số.

Sự suy giảm của đảng là một lý do giải thích tại sao đánh giá của Lippmann về nền dân chủ Mỹ, mặc dù không rõ nghĩa, nhưng vẫn không đủ tàn nhẫn đối với những người quan sát đương thời về vấn đề đương thời. Thế nhưng, các nhà quan sát vẫn đưa ra hai lý do cho tình trạng ảm đạm của nền chính trị dân chủ: việc giảm khả năng điều hành xã hội và việc tăng ảnh hưởng của các tập đoàn.

Các nhà xã hội học và các nhà khoa học chính trị bảo thủ mới tranh cãi rằng “vấn đề dân chủ” ngày nay không phải là làm cách nào để tăng sự tham gia một cách dân chủ mà là điều hành xã hội khi nhiều người tham gia như thế nào. Nhiệm vụ này không nhằm làm cho một nền dân chủ tự do có tính tham gia lớn hơn mà là nhằm làm cho một nền dân chủ tự do có tính tham gia ngày càng lớn trở nên quản lý tối thiểu được. Họ lo lắng về sự sụp đổ những hình thái kiểm soát xã hội truyền thống, “một sự phi hợp pháp hóa hình thức cầm quyền chính trị và các hình thức cầm quyền khác”, và “sự quá tải các yêu cầu lên chính phủ”. Samuel Huntington cho rằng khả năng tồn tại lâu dài của nền dân chủ trong những năm 1960 đã “mang lại sự gia tăng đáng kể các hoạt động chính phủ và giảm đáng kể quyền lực chính phủ”. Giống như Joseph Schumpeter trước đó, Huntington tin rằng mỗi xã hội dân chủ đòi hỏi công dân phải có một mức độ không quan tâm rất lớn để chính phủ vận hành hiệu quả hơn. Khi các nhóm thắng cử nhờ đa số phiếu sít sao có tiếng nói hiệu quả trong hệ thống chính trị, hệ thống này phải kiểm soát được các nhu cầu mà nó không thể thỏa mãn hết được. Huntington lo sợ về sự sụt giảm hay sự mất đi của toàn bộ đường lối dân chủ, như trong trích dẫn của John Adams: “Không bao giờ có chế độ dân chủ nào mà không tự kết liễu bản thân nó cả”.

Charles Lindblom lại quan niệm về điều này hoàn toàn khác. Ông nghi ngờ về viễn cảnh của chế độ dân chủ để từ bỏ thế giới “dân chủ”. Ông nghiêng về quy tắc số đông, luật của số đông, hơn là “dân chủ”, luật của công chúng. Ông chỉ ra sự tham gia của công dân vào chính phủ ở mức độ thấp và đưa ra các dữ liệu thăm dò thích đáng. Chỉ có 28% người Mỹ cố gắng thuyết phục những người khác bầu cho người họ chọn, 26% từng vận động cho một ứng viên, 20% từng liên hệ với một quan chức chính quyền địa phương và chỉ có 8% ít ỏi là thành viên của một câu lạc bộ hay tổ chức chính trị. Nhưng mối quan tâm chính trong cuốn Chính trị và thị trường (Politics and Markets) của Lindblom là sự ảnh hưởng không tương xứng của kinh doanh trong hệ thống chính trị.

Trong “các chế độ luật của số đông” theo định hướng thị trường như Mỹ, có hai hình thức đối chọi về kiểm soát quyền lực chính trị. Rõ ràng có một hệ thống bầu cử. Song, như Lindblom lập luận, cũng có một hệ thống riêng của những sự kiểm soát kinh doanh có đặc quyền. Các doanh nhân có các chức năng trong các xã hội thị trường và đây chính là các chức năng của chính phủ trong hệ thống khác – các quyết định về cái gì sẽ được sản xuất, ai sẽ có việc làm, sẽ phân phối các sản phẩm như thế nào. Và các giám đốc điều hành phải tự quyết định phần lớn trong các vấn đề này. Chính phủ ủy thác những quyết định này cho doanh nghiệp: “Như vậy các doanh nhân trở thành một loại công chúc của công chúng và sử dụng các chức năng công cộng dựa trên quan điểm rộng rãi về vai trò của họ”. Tương tự như vậy, họ cũng giành được các đặc quyền như một “bán viên chức công quyền”. Họ có thể tiếp cận đặc biệt vớic ác quan chức chính phủ, thu hút sự chú ý của các nhà lãnh đạo công quyền mà không nhóm người nào khác có được. Các tổng thống, do nhận thức được dịch vụ công cộng mà các doanh nghiệp mang lại, đôi lúc sẽ cố gắng bảo vệ cho doanh nghiệp khỏi những điều không chắc chắn trong xu thế củ tiến trình chính trị. Cả Tổng thống Johnson và Tổng thống Nixon đều giấu kín các báo cáo từ các ủy ban về chống tờ-rớt của mình như để giữ một đề tài “doanh nghiệp” tồn tại được trong đấu trường chính trị thông thường.

Những doanh nghiệp không chỉ có được phạm vi ảnh hưởng riêng của chính họ và có con đường riêng dẫn tới Nhà Trắng và Quốc hội, cơ quan lập pháp và các tòa nhà lớn của chính phủ, mà, với quyền lực ngày càng tăng, họ còn có khả năng thay đổi xu hướng trong đấu trường chính trị. Mặc dù các nhà quan sát chính trị nghiêng về coi doanh nghiệp và người lao động ngang nhau như các nhóm áp lực chính trị đối ttrọng, nhưng hai nhóm này luôn mất cân đối. Trong cuộc chạy đua vào Thượng viện và Hạ viện, các cá nhân giàu có vẫn quyết định tỷ lệ đóng góp cho chiến dịch vận động – năm 1990, 43% doanh thu từ chiến dịch vận động cho hạ nghị sĩ đương nhiệm và 53% cho những người tham gia cuộc chạy đua; 69% cho thượng nghị sĩ đương nhiệm và 60% cho những người thách thức. Ảnh hưởng của các ủy ban hành động chính trị (PAC) tăng trong suốt thập kỷ qua. Chúng tăng từ 600 năm 1974 lên 4100 vào năm 1991. Đóng góp của các ủy ban này tăng rõ rệt, chiếm 48% doanh thu từ chiến dịch vận động cho các hạ nghị sĩ đương nhiệm trong năm 1990, tăng từ mức 34% năm 1980. Tài chính của PAC chủ yếu do đóng góp của doanh nghiệp, các tổ chức thương mại và các PAC chuyên nghiệp mặc dù họ có xu hướng dàn trải quỹ cho các nghị sĩ đương chức có thế lực của cả hai đảng trong khi các PAC lao động tập trung vào ủng hộ Đảng Dân chủ. Kết quả của việc tăng các ủy ban hành động chính trị và sự khác nhau trong chiến dịch tài trợ cho nền dân chủ không hiện rõ nhưng không ở đâu trong trận tranh cãi dữ dội về các đề xuất cải cách lại có các đề nghị làm suy yếu liên minh của chính phủ thông qua doanh nghiệp tư nhân đến như vậy. Lindblom kết luận trong cuốn sách của ông rằng: “Công ty tư nhân lớn phù hợp với học thuyết và tầm nhìn dân chủ một cách lạ lùng. Trên thực tế, các công ty này không hề phù hợp”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003

Các phương tiện truyền thông và quá trình dân chủ – Phần I


Liệu truyền thông tin tức có góp phần tạo nên một xã hội dân chủ hơn? Câu hỏi này đã quá quen thuộc và nhàm chán với những người thường xuyên lui tới những bữa tiệc trao giải thưởng báo chí, hội nghị của Hiệp hội các chủ bút báo Mỹ hay lễ trao bằng của các trường viết báo. Tất nhiên là truyền thông tin tức có thể góp phần tạo nên một xã hội dân chủ hơn. Nhiệm vụ của báo chí là tạo ra lượng cử tri được thông tin nhiều hơn. Những công dân được thông tin nhiều hơn sẽ tạo ra nền dân chủ toàn vẹn hơn và tốt đẹp hơn.

Đó là câu trả lời trong giới báo chí. Còn với những người ngoài cuộc thì dường như đây là câu trả lời ngây thơ cho một câu hỏi đơn giản. Phần lớn các nhà khoa học xã hội và phê bình xã hội với nhiệm vụ chẩn đoán các căn bệnh của nền dân chủ Mỹ không nhìn nhận truyền thông như một nguyên nhân căn bản của căn bệnh dân chủ mà là hệ quả của nền chính trị yếu kém. Họ quả quyết rằng bước tiến triển thực sự trong các lĩnh vực chính trị của nước Mỹ không phải bắt nguồn từ truyền thông. Một số nhà nghiên cứu chính trị nổi tiếng còn đi xa hơn khi cho rằng vấn đề  của nền dân chủ hiện đại là có quá nhiều người tham gia và có thể là có quá nhiều chứ không phải quá ít thông tin. Họ cho rằng, nếu truyền thông có thể làm một điều gì đó có ích, thì truyền thông nên ngăn cản mọi người quan tâm đến chính trị.

Tôi tin truyền thông tin tức có thể góp phần cho một xã hội dân chủ hơn và nó cần nỗ lực thực hiện điều đó. Câu hỏi ở đây là nỗ lực như thế nào? Nói một cách chính xác hơn, làm thế nào, dưới quan điểm của những người hoài nghi phủ nhận hoàn toàn khả năng tạo nên sự khác biệt của truyền thông, để có thể có được một sứ mạng chính trị phù hợp cho những định chế tin tức?

Điều này không nhằm khẳng định mục đích duy nhất của truyền thông là, hay nên là, tạo ra một nền dân chủ tốt đẹp hơn. Mục đích của truyền thông là nhằm mang lại nhiều lợi ích hơn cho người sở hữu, tạo việc làm cho người lao động, gây dựng danh tiếng so với những phương tiện thông tin khác, đem lại sự giải trí cho người dân – đây đều là những mục đích hợp pháp. Tuy nhiên, truyền thông cũng đòi hỏi một nhiệm vụ đặc biệt là thông tin cho công dân để tạo ra một chính phủ dân chủ, đặt ra yêu sách đối với các đặc quyền (các quyền trong Tu chính án thứ nhất) và đặc lợi (ví dụ như mức cước phí bưu điện đặc biệt) dựa trên vị thế duy nhất của nó như là “cấp thứ tư của chính quyền”. Giả sử việc biến xã hội Mỹ trở nên dân chủ hơn là mục tiêu duy nhất hay hàng đầu của truyền thông tin tức thì truyền thông cần làm gì để đạt được mục đích này một cách hiệu quả nhất?

Những luồng tư tưởng chủ đạo trong khoa học chính trị và học thuyết chính trị tập trung vào nền dân chủ mà không bao giờ lấy truyền thông làm trung tâm. Song điều này có ý nghĩa quan trọng, và tôi sẽ tìm cách phân tích, đối với một báo giới đóng một vai trò rất quan trọng trong nền dân chủ.

Mô hình duy thực và cổ điển của nền dân chủ

Các nhà lý luận về dân chủ thế kỷ XX đã công kích cái họ gọi là “quan điểm cổ điển về nền dân chủ” – quan điểm cho rằng nền dân chủ bao gồm “những công dân tích cực và có lý trí tìm cách nhận thức một điều tốt đẹp được thừa nhận chung thông qua bước khởi đầu mang tính tập thể, các cuộc thảo luận và quyết định về các câu hỏi trong chính sách liên quan đến lĩnh vực công cộng, và những người đại diện cho chính quyền trước các tổ chức (các quan chức chính phủ được bầu) trong việc phổ biến rộng rãi những quyết định do đa số cử tri đã thông qua”. Tôi cho rằng quan điểm này vẫn có người ủng hộ. Họ lập luận rằng trong mô hình này chỉ có chính nền dân chủ mới tìm ra lý lẽ để chứng minh điều đó là đúng và đó không phải là hình thái tồi tệ nhất của chính phủ mà là hình thái với những yếu tố tích cực. Vai trò của “giáo dục trong trách nhiệm công cộng” mà mô hình cổ điển đòi hỏi đã đóng góp cho lý tưởng của sự phát triển và nhân phẩm con người. Trong mô hình này, tiến trình ra quyết định và những lợi ích của nó cho cá nhân, cũng như kết quả của việc đưa ra các quyết định và hậu quả của nó đối với những lợi ích của tập thể, được nhận định và đánh giá là có tính nhân văn. Những người ủng hộ hiện nay cho rằng ý niệm cổ điển về nền dân chủ này “được hun đúc từ một mục đích quá tham vọng: việc giáo dục toàn bộ dân chúng đến một mức độ mà trí tuệ, cảm xúc và tư cách đạo đức của họ có thể vươn tới khả năng trọn vẹn và họ được kết nạp một cách linh hoạt và tự do vào một cộng đồng đích thực”.

Những người hoài nghi và những người có xu hướng duy thực nói rằng tất cả điều đó đều tốt, nhưng nếu như nó mang một số nét tương tự như một cuộc họp của thị trấn ở vùng New England, nó có thể không mang chức năng của bất cứ hình thái hiện đại rộng lớn nào từng được biết đến. Nếu chúng ta tìm kiếm một mô hình như một mục tiêu thiết thực chứ không phải là ảo tưởng, thì cần thiết phải xác định khái niệm dân chủ là gì hẹp hơn nữahay nền dân chủ có thể có nghĩa là gì.

Một trong những nhà tư tưởng đầu tiên và lỗi lạc nhất thừa nhận mô hình duy thực của nền dân chủ trong mối quan hệ với các phương tiện truyền thông là Walter Lippmann. Lippmann được tôn sùng như nhà lý luận hàng đầu của giới báo chí Mỹ. Ấy vậy mà, trong suốt cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông bác bỏ niềm tin rằng báo chí có thể làm rất nhiều để cải thiện nền dân chủ Mỹ. Các công trình nghiên cứu chủ yếu của ông về báo chí như Quan điểm công chúng (Public Opinion) Công chúng ảo tưởng (The Phantom Public) đều thừa nhận rằng giới tinh hoa cai trị trong một nền dân chủ, rằng chúng ta không thể trông đợi vào cái gì khác hay báo chí không thể cải tổ chính bản thân nó để thay đổi vấn đề này. Lippmann lập luận rằng báo chí phụ thuộc hoàn toàn vào các thế lực bên ngoài để ghi lại các hoạt động của hệ thống chính trị: “Nó chỉ thường có thể ghi lại những điều đã được ghi lại cho nó bởi công việc của các tổ chức”. Nơi nào có cái mà ông gọi là “cỗ máy ghi chép tốt” như thị trường chứng khoán, thì các tin tức có thể đầy đủ và chính xác. Nơi mà không có cỗ máy ghi chép tốt, tin tức phải được thu thập lại từ các hãng thông tấn báo chí, từ nơi chuyên “đánh hơi tin tức” do may mắn và tất cả những việc này không có cơ cấu tổ chức chính xác. Hy vọng lớn nhất nằm trong việc thành lập các văn phòng điều tra độc lập và các nhóm chuyên gia độc lập có nhiệm vụ tập hợp và chuyển giao tin tức cho giới báo chí về các lực lượng cầm quyền trong xã hội.

Quan điểm có tính chất kiềm chế về khả năng của giới báo chí trong cuốn Quan điểm công chúng thậm chí còn đi đến chỗ tối tăm hơn khi được thể hiện trong cuốn Công chúng ảo tưởng. Lippmann cho rằng công dân không có chủ quyền mà “sống trong một thế giới không thể nhìn thấy, không thể hiểu và không thể tiếp cận được”. Và không có giải pháp nào cho vấn đề này. Chúng ta chỉ còn có thể trông mong vào giả định thế nào là nền dân chủ và vai trò được hiểu của ý kiến công chúng là gì. Lippmann đã viết rằng công chúng không phải là đa số các công dân hay đa số cử tri: “Công chúng chỉ là những người quan tâm đến một lĩnh vực nào đó và chỉ có thể ảnh hưởng đến nó bằng cách ủng hộ hay phản đối các diễn viên”. Nếu các cá nhân không quan tâm đến lĩnh vực nào đó thì họ không phải là công chúng của lĩnh vực đó. Nếu họ quan tâm và có thể ảnh hưởng đến nó bằng cách hình thành chính sách, lúc đó họ là người trong cuộc, chứ không phải người ngoài cuộc, là những người có quyền lực liên quan đến lĩnh vực đó, chứ không phải là công chúng. Công chúng là một thực thể được chú ý mà quyền lực của nó bị giới hạn trong việc ủng hộ hay phản đối ban lãnh đạo.

Và theo Lippmann, đó là tất cả tính chất và tính chất có thể của một nền dân chủ hiện đại:

Chúng ta phải từ bỏ ý niệm cho rằng mọi người dân nắm quyền cai trị. Thay vào đó, chúng ta cần phải áp dụng lý thuyết cho rằng, bằng cách thỉnh thoảng huy động họ như một đa số, mọi người dân thường ủng hộ hay phản đối các cá nhân trên thực tế đang cầm quyền. Chúng ta phải nói rằng quần chúng sẽ không nhằm vào các cá nhân đó thường xuyên nhưng đôi khi có thể gây cản trở họ.

Lippmann không đưa ra hy vọng đối với việc công chúng có thể được giáo dục đối với việc tham gia đầy đủ hơn vào lĩnh vực chính trị. Ông không tin rằng vai trò của giới báo chí là hướng các công dân tới việc tạo lập những nhận xét có hiểu biết và hợp lý. Điều tốt nhất có thể làm là cung cấp những dấu hiệu rõ ràng và đơn giản để phục vụ “những hướng dẫn tới hành động phù hợp cho việc sử dụng những người không có thông tin”. Nhiệm vụ của chế độ dân chủ là tìm ra các con đường để cho người dân hành động “thông minh nhưng thiếu hiểu biết”.

Một rắc rối xảy ra với các quan điểm về nền dân chủ như những điều mà Lippmann tiếp nhận và tranh cãi chống lại là chúng tô vẽ một chính phủ ở một đầu, quảng đại quần chúng ở đầu kia và không có gì ở giữa ngoại trừ giới báo chí với tính chất là đường dẫn thông tin. Tuy nhiên, tiếp theo những quan điểm của Tocqueville, các nhà khoa học xã hội đã tranh cãi từ lâu rằng nhân tố duy trì nền dân chủ chính là những nhóm trung gian hoặc các hiệp hội – nơi mọi người xích lại gần nhau, đề ra, nói rõ ràng, cô đọng các ý kiến và mang lại nền tảng mang tính tập thể cho hoạt động chính trị. Các nhóm này bao gồm cả hàng loạt các tổ chức, từ Hiệp hội súng trường quốc gia đến tổ chức Sinh viên vì một xã hội dân chủ, từ Câu lạc bộ sư tử của địa phương đến Liên đoàn các cử tri nữ. Nhưng phần lớn trong số đó có các đảng phái chính trị – và những tổ chức này luôn do dự trong việc liệu có nên trở thành con đường dẫn tới việc cầm quyền của công dân hay không.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003

Phải chăng đã từng có một phạm vi công chúng? – Phần cuối


Thủ tục bầu cử. Stanley Kelley viết trong một nghiên cứu năm 1960 về vận động chính trị rằng những giả định căn bản trong nghiên cứu của ông là “thảo luận vận động tranh cử cần giúp cử tri có được những quyết định bầu cử hợp lý”. Dường như đây là một giả định đúng đắn. Liệu chúng ta có thể thể hiện được điều đó khi trong lịch sử Mỹ việc thảo luận vận động tranh cử lại giống như một lý tưởng?

Michael McGerr xem xét chủ đề này trong cuốn Sự suy tàn của chính trị đại chúng (The Decline of Popular Politics), trong đó, ông nghiên cứu việc vận động tranh cử ở Bắc Mỹ từ giữa thế kỷ XIX đến những năm 1920. Nói ngắn gọn, ông ghi chép việc vận động tranh cử từ thời kỳ mà sự tham gia của người dân vào nền chính trị của Mỹ lên cao nhất đến khi nhanh chóng giảm xuống mức thấp nhất vào những năm 1920, điều đã không xảy ra kể từ trước năm 1840 và không thể lặp lại cho đến những năm 1970. Khi tìm ra những nhân tố khác nhau góp phần vào sự suy giảm số lượng cử tri, McGerr đã thu hút được sự chú ý của mọi người đến với ảnh hưởng của quan niệm về chính trị trong các nhà cải cách ưu tú vốn xem thường những cuộc vận động chịu sự chi phối của đảng phái và cảm xúc trong thời kỳ Nội chiến. Các nhà cải cách này chê bai nền chính trị “kỳ diệu” và tìm cách thay thế nó bằng “nền chính trị có giáo dục”. Theo họ, sách, chứ không phải diễu hành, mới là cách thức hợp lý để vận động tranh cử.

Trong cách thức kỳ diệu của chính trị, các tổ chức đảng địa phương thiết lập những câu lạc bộ đặc thù, các nhóm diễu hành và các tổ chức dân sự tham gia các cuộc diễu hành, biểu tình, dã ngoại và những hình thức giải trí chính trị ngoài trời khác. Những hình thức này được mọi người tham gia rộng rãi, hơn bất kể hình thức nào khác trong nền chính trị Mỹ trước đó, nhưng điều này không có nghĩa là mọi người đều tham gia một cách dân chủ. Như Michael McGerr nhận xét, các thành viên của tầng lớp thượng lưu nắm giữ những vụ quan trọng nhất ở địa phương, và các cuộc diễu hành “dừng lại tại nhà những người giàu có để ca tụng họ và nghe những lời nói khôn ngoan của họ”. McGerr lập luận rằng sự kỳ diệu của nền chính trị thế kỷ XIX góp phần tạo nên “quyền cai trị của tầng lớp thượng lưu”.

Do đó, chính trị trở thành một nghi thức cộng đồng hơn là một hành động tham gia của một cá nhân hay một nhóm vào thảo luận phê bình có lý trí. Chính điều này đã tạo nên hình thức bỏ phiếu kín. Lá phiếu được lập ra bởi các đảng phái, chứ không phải một cơ quan nhà nước chung, và cử tri thường sẽ bỏ vào những hòm riêng biệt. Cho đến cuối thế kỷ XIX ở Mỹ vẫn chưa có hình thức bỏ phiếu kín và luật bỏ phiếu tương đối công khai. Những người bên cạnh không chỉ biết việc bạn có bầu cử mà còn biết bạn bầu cho ai. Lá phiếu do các đảng in làm cho cử tri khó lựa chọn: chúng làm việc hối lộ trở nên dễ dàng hơn vì các nhà lãnh đạo đảng có thể biết được cử tri được hối lộ có bỏ phiếu hay không bỏ phiếu theo cam kết của họ. Bản thân cuộc bầu cử, một hình thức giao tiếp chính trị, trở thành một thực tiễn rất khác biệt so với ngày nay. Nó được tổ chức với ít lựa chọn hợp lý trong suy nghĩ của cử tri. Xét theo một khía cạnh nào đó, cử tri không được coi như một cá nhân mà là một thực thể được đặt trong và xác định bởi tình trạng xã hội và sự trực thuộc đảng.

Sự chuyển biến của vận động tranh cử từ nghi thức cộng đồng thành nơi mua bán chính trị, một sự biến đổi diễn ra chủ yếu trong giai đoạn 1880 – 1920, một phần là nỗ lực có ý thức của các nhà cải cách nhằm xóa bỏ nạn tham nhũng trong hệ thống đảng – hối lộ và dồn phiếu – và biến cuộc bầu cử thành tiếng nói của nhân dân tìm những lợi ích của họ trên cơ sở đánh giá  có thông tin. Các nhà cải cách thúc đẩy cái mà họ gọi là vận động “mang tính giáo dục”, thay thế các cuộc diễu hành với lời lẽ đả kích và tập hợp ngoài trời bằng việc đọc báo ở nhà. Các nhà cải cách thành công đã tạo ra một thể chế cho vận động bầu cử, minh họa hình ảnh cá nhân cô lập như đối tượng cuối cùng trong nỗ lực của nó. Cá nhân riêng lẻ nhưng có lý trí này tập hợp thông tin từ nhiều khía cạnh khác nhau, đánh giá những thông tin đó và cẩn trọng đưa ra quyết định. Điều nực cười về mong muốn của nền chính trị thế kỷ XIX là nó tìm cách hiện thực hóa lý tưởng mà bản thân lý tưởng đó chỉ được xây dựng trên những quan điểm chính trị mang tính cộng đồng, nghi thức và với sự tham gia cuồng tín.

Kết luận

Xét trên bất kỳ phương diện nào thì dường như thảo luận phê bình có lý trí cũng không thể hiện được nền chính trị Mỹ trong thời kỳ thuộc địa. Sự bạo loạn theo định hướng chính trị là một mô hình hoạt động chính trị quen thuộc hơn bài học rút ra từ những nguyênt ắc chính trị. Nếu một số tác giả đương đại viết tốt đẹp về tính tự phát của những cảm xúc chính trị như vậy thì những người khác lại nghi ngờ về việc những cuộc bạo loạn đó luôn mang tính tự phát. Trong thế kỷ XIX, khi việc tham gia chính trị tăng lên mạnh mẽ thì diễn thuyết chính trị rõ ràng không mang tính phê bình và có lý trí. VIệc kết luận về nền chính trị thế kỷ XVIII từ thực tế rằng các tài liệu Người liên bang xuất hiện trên các tờ báo hay kết luận về nền chính trị thế kỷ XIX từ những cuộc tranh luận giữa Lincoln và Doghlas quả thực giống như việc minh họa nền chính trị Mỹ những năm 1970 qua thực tế rằng những tranh luận hoài nghi trong Ủy ban tư pháp Hạ viện trong năm 1974 được phát trực tiếp trên truyền hình và bàn tán rộng rãi và sôi nổi trong mọi tầng lớp công chúng. Tất cả những sự kiện này thật đặc biệt; không một sự kiện nào đại diện cho ngôn ngữ chính trị thông thường trong thời kỳ đó.

Tôi thấy khái niệm phạm vi công chúng này là không thể thiếu được. Nó như một hình mẫu mà xã hội tốt đẹp cần vươn tới. Đối với tôi, nó là một ý niệm then chốt về học thuyết chính trị hay xã hội. Tôi cho rằng đó thực sự là một hình mẫu có ích tạo nên hàng loạt những câu hỏi về chính trị trong quá khứ và hiện tại. Điều tôi đã cố gắng làm ở đây, và vẫn đang làm, chỉ là đặt ra những câu hỏi về thế nào là mô hình phạm vi công chúng tốt đẹp trong những giai đoạn trước đây trong lịch sử nước Mỹ. Nếu tôi biến những câu hỏi của mình thành vấn đề quan trọng chứ không phải là sự hướng dẫn thì đó là để xua tan những quan niệm không thực tế trong quá khứ đã che khuất quá nhiều phân tích văn hóa và chính trị đương thời. Vị trí của chúng ta trong thế giới ngày nay khác xa với người Mỹ trong thế kỷ XVIII hay XIX, nhưng tôi cho rằng nó không kém đi. Khi suy ngẫm về những điều kiện và khả năng để có được hoạt động chính trị công bằng, không thiên vị, mang tính phê bình và có lý trí hơn trong thế giới hiện nay, chúng ta sẽ thấy việc du trì những ảo tưởng về đặc trưng của phạm vi công chúng trong những ngày đã qua là một điều không có lợi.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Phải chăng đã từng có một phạm vi công chúng? – Phần IV


Trái lại, báo chí trong thời hoàng kim của sự tham gia chính trị ở Mỹ, từ năm 1840 đến năm 1900, lại mang sắc thái khác. Những tờ báo này điển hình cho sự trung thành với các đảng phái chính trị; chúng hoạt động như những nhân tố thúc đẩy thông tin cho một tổ chức chính trị riêng biệt. Nền chính trị Mỹ nhận thấy sự tham gia ở mức độ cao nhất chỉ bắt đầu khi các tổ chức đảng phái tự nhận thức phải thoát ra khỏi lập trường theo hệ tư tưởng. Như trong tài liệu của Ricahrd Hofstadter đã nêu, từ những năm 1840, các đảng phái chính trị chuyển từ hình thức theo hệ tư tưởng trong một nhóm có quyền lực sang hình thức liên minh có tổ chức đua tranh giành cử tri. Họ tìm kiếm sự trung thành của cử tri trên cơ sở này và cả trên cơ sở đoàn kết cộng đồng và xã hội. Nền chính trị Mỹ trong kỷ nguyên này được mô tả là chia cắt theo những ranh giới chủng tộc – người dân bầu cử trong sự đoàn kết với các cộng đồng thiểu số và tôn giáo của họ chứ không phải vì sự trung thành với một học thuyết chính trị và không cần trao đổi kỹ lưỡng hay cân nhắc những lựa chọn bầu cử thay thế. Mọi người thường không lựa chọn một đảng phái hay học thuyết chính trị với ý nghĩa nhiều hơn so với khi lựa chọn một tôn giáo. Vào ngày bầu cử, phần lớn cử tri cũng chẳng nhận thức việc họ có lựa chọn giữa những bầu cử thay thế khác hơn việc một người thuộc Hội Giám lý tưởng tượng vào một sáng Chủ nhật anh ta có sự lựa chọn giữa Nhà thờ thuộc Hội Giám lý và Nhà thờ Quốc hội ở bên kia dãy phố. (Nếu mọi người tìm cách có được lựa chọn hợp lý giữa các đảng phái, vấn đề này cũng không trở nên dễ dàng hơn. Các đảng phái thế kỷ XIX cho thấy sự nhất quán trong hệ tư tưởng tương đối thấp. Ballard Campell viết rằng, đến những năm 1890, sự chia rẽ hai đảng giữa đảng viên Cộng hòa và đảng viên Dân chủ ở cấp bang trong các cơ quan lập pháp Trung Tây là về vấn đề lỏng lẻo này. Đây là một vấn đề thuộc loại “gần như là thú tội”, theo cách nói của Burnham, mà theo đó các đảng phải có sự nhất quán nhưng không chính đảng nào đưa ra một chương trình hay học thuyết chính trị thống nhất).

Tương tự như vậy, các tờ báo cổ vũ cho các đảng phái mà chúng đại diện. GIới báo chí, theo cách nói của Michael McGerr, “áp đặt một sự đồng nhất văn hóa khiên cưỡng” đối với độc giả. Báo chí khuyến khích công dân nhìn nhận chính trị theo quan điểm thiên lệch. Trong khi báo chí giúp công dân nắm bắt quan điểm chính trị thì nó cũng giúp họ nhìn nhận chính trị theo cách đơn giản nhất: “Bằng việc giảm bớt quan điểm chính trị thành những giá trị tuyệt đối đúng-sai, báo chí lôi kéo sự ủng hộ thiên lệch mang tính bè phái. Những đảng viên Cộng hòa hay Dân chủ tận tụy không cần phải giải đáp về những thực tế và lập luận mâu thuẫn; trên báo chí, những đảng viên này luôn có thể tìm thấy những vị trí phù hợp với bất cứ ứng cử viên nào và với mọi vấn đề”. Sau này, khi chỉ cần trên một tờ báo riêng lẻ cũng có thể tìm thấy được nhiều hướng quan điểm hơn, các chủ bút lại sợ rằng độc giả có thể nhận thấy sự rắc rối này. Trong tài liệu chính trị trung lập giữa thế kỷ XIX, nếu một người có thể hình dung ra một điều như vậy, thì quan điểm phiến diện về vũ đài chính trị được duy trì không chỉ bằng vviệc công kích đảng đối lập và những ứng cử viên của nó, mà phần lớn là do không thể đề cập cả đảng đối lập lẫn các ứng cử viên cùng lúc. Gộp chung các tờ báo chính trị, đọc theo quan điểm của từng phía một, chắc chắn sẽ thấy gần giống với hình thức diễn thuyết phê bình có lý trí, hay ít nhất cũng giống một loại tranh biếm họa, lối viết nhố nhăng theo hình thức “vấn đề/vấn đề tương phản” mà chương trình “Saturday Night Live” thường nhạo báng. Nhưng chẳng có gì chứng tỏ mọi người đọc các tờ báo theo cách này, cũng như chẳng có ai có mong đợi những người theo giáo phái Rửa tội (trong đạo Tin lành) đọc kỹ những bản tin nhà thờ của vị Trưởng Giáo hội.

Đảng phái. Trong bất kỳ trường hợp nào, nếu không có cách giới hạn tranh luận, xác định các vấn đề và hạn chế những biện pháp thay thế, thì chẳng có tranh cãi nào có lý cả. Để có ý nghĩa thì tranh luận chính trị không thể là một tập hợp những phương trình đồng nhất mà chỉ cần một chiếc máy vi tính cũng có thể xử lý được. Tranh luận chính trị phải là tập hợp những khả năng thay thế có thể nhận thấy, phân chia đồng đều đủ để kiểm tra dễ dàng trong cùng một thời điểm. Đảng phái chính trị có thể làm được điều này. Như Maurice Duverger nói, “các đảng phái tạo ra công luận nhiềunhư chúng muốn thể hiện nó; chúng tạo ra công luận chứ không phải bóp méo công luận; cần có đối thoại chứ không phải là bắt chước. Nếu không có các đảng phái thì chỉ có những xu hướng mơ hồ, theo bản năng, và có mức độ khác nhau phụ thuộc vào cá tính, trình độ giáo dục, thói quen, vị trí xã hội,… Các đảng phái không xuyên tạc dư luận ban đầu mà làm cho dư luận này rõ ràng hơn. Như Duverger đã viết, các nhà phê bình “không hiểu được rằng dư luận ban đầu rất mơ hồ, rằng chỉ có thể diễn đạt dư luận đã được định hình và phương pháp diễn đạt cần đặt ra một khung điều chỉnh cho dư luận đó”. Nếu đúng như thế thì những nền dân chủ hiện đại chịu ơn lớn không chỉ từ giai cấp tư sản nói chung mà còn của nước Mỹ nói riêng vì đã sáng tạo ra hình thức đảng dựa trên quần chúng trong những năm 1840.

Đồng thời, chính trị đảng phái không nhất thiết phải đồng nhất với bầu cử có lý trí và có thông tin. Trong mô tả của William Gienapp về chính trị giai đoạn 1840 – 1860 có nhiều bằng chứng về sự tham gia hơn là thảo luận nghiêm túc. Gienapp lưu ý tính phổ biến rộng rãi của các bài hát vận động tranh cử mà mục đích của chúng là “đem lại sự giải trí và tạo nên niềm lạc quan khi đả kích phe đối lập”. Bàn luận chính trị phổ biến ở các bang miền Tây, và chính trị giúp thoát khỏi tình trạng cô lập về xã hội. Có phải đây cũng là sự giáo dục chính trị tốt? Thật khó có thể khẳng định được. “Vận động tranh cử tạo ra mối quan tâm rộng rãi nhưng đôi khi cảnh tượng ngoạn mục này được đặt lên trên việc phổ biến thông tin chính trị”. Nếu đó là một loại chính trị giống như văn hóa đại chúng mà Christopher Lasch nhìn lại một cách ngây ngô, thì không phải tất cả những người đương thời đều cảm thấy như vậy. Edward Everett Hale, một người trong số đó, than phiền rằng chiến dịch của Đảng Cộng hòa năm 1856 với một chiếc lều, một kẻ diễn thuyết thô ráp đi khắp nơi rêu rao và một câu lạc bộ phiếm “đã biến chính trị giống như một gánh xiếc lưu động”.

Cần lưu ý rằng vận động tranh cử kiểu Lincoln-Douglas cũng bị chỉ trích vào thời của Lincoln. Hale thấy rằng diễn thuyết bầu cử là “một trong những chiều hướng đi xuống” của thời kỳ đó, ưu tiên cho giới trẻ sung sức hơn là cho các nhà lãnh đạo già dặn, có thể khôn ngoan hơn, và dành nhiều cơ hội cho những người dám mạo hiểm. Ngày nay, trong kỷ nguyên mà người ta ngờ vực về truyền hình – và đáng ngờ một phần là bởi vì truyền hình dường như ưu ái bề ngoài đẹp đẽ và khả năng tạo ra hình ảnh quảng cáo bắt mắt – điều quan trọng là phải nhớ rằng kỷ nguyên của các nhà hùng biện cũng có những vấn đề liên quan. Diễn thuyết giỏi trước công chúng cũng không bảo đảm trở thành một nhà lãnh đạo. Diễn thuyết trước công chúng thường sử dụng một “phương tiện trung gian” với những thuộc tính đặc biệt giống như phỏng vấn trước ống kính camera. (Do vậy, diễn văn trước công chúng của các ứng cử viên trong thế kỷ XIX là không giống nhau, ít nhất là trong chiến dịch tranh cử tổng thống. Ví dụ, trong chiến dịch năm 1888, tổng thống đương nhiệm Grove Cleveland chỉ đọc một bài diễn văn ghi nhận sự đề cử còn ứng cử viên Benjamin Harrison lại nói quá nhiều nhưng cả hai đều đọc tại tiền sảnh nhà họ ở bang Indiana). Trong bất cứ trường hợp nào, vào thời gian mà sự trung thành với đảng phái được duy trì mạnh mẽ, mọi người theo dõi các cuộc tranh luận giữa Lincoln và Douglas chứ không phải nghe chúng để tạo suy nghĩ cho riêng mình. Họ ở đó để tập hợp bên các ứng cử viên, dù cho ông ta phát biểu gì đi chăng nữa. Đây kkhông phải là cuộc thi với tư cách cá nhân mà cũng chẳng phải là cuộc tranh luận mà người chiến thắng được mọi người công nhận là đã đưa ra những lập luận đúng đắn nhất.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.