Cuộc chiến tranh thông tin của Mỹ giành quyền thống trị thế giới – Phần cuối


Chiếm được đất của người da đỏ, bọn xâm lược tuyên bố các dân cư gốc của nó là người nước ngoài. Theo luật Mỹ (có hiệu lực tới tận 1924!), người da đỏ không phải là công dân đất nước này, và chẳng có quyền lợi gì cả. Chính phủ “dân chủ” Mỹ bằng cách đe dọa giết để buộc đại diện các bộ lạc da đỏ ký với họ hợp đồng bán đất “tự nguyện”. Bằng sức mạnh họ gom 400 từ số 17 nghìn người da đỏ bộ lạc Chiroki tới “cuộc họp toàn bộ lạc”. Bọn xâm lược buộc “cuộc họp toàn dân” chấp thuận hợp đồng, và nó mau chóng được Nghị viện Mỹ phê chuẩn. Vậy là người Chiroki bị tước mất 7 triệu hecta đất đai thuần thục. Đuổi hết người Chiroki, quân đội dần nhân dân vào vùng “lãnh thổ da đỏ” sau Mississipi. Trong số 17 nghìn người da đỏ Chiroki, trong thời gian di cư có 4 nghìn người chết. Sau này cả vùng đất giành cho người Chiroki ấy cũng bị tước mất. Bọn xâm lược đã tước của họ cả thảy 81,2 triệu hecta đất…

Điều chủ yếu trong ý thức xã hội Mỹ – đó là tiền, hàng. Cuộc sống tuân theo một cuộc chạy đua bất tận theo những dạng hàng hóa và dịch vụ mới hơn. Cuộc chạy đua tiêu thụ, biến con người thành “chiếc máy kiếm tiền” – đó là luật của xã hội Mỹ. Hệ thống Mỹ cuốn vào cuộc chạy đua tiêu thụ với bất cứ giá nào hàng chục triệu con người, biến họ thành nô lệ của trật tự thế giới xấu xa, mâu thuẫn với bản chất tinh thần con người, biến họ thành một sinh vật thô thiển và rỗng tuếch…

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ngày nay là một ví dụ rõ nhất trong lịch sử thế giới sự ăn bám kinh tế. Chỉ chiếm 5% dân số thế giới, họ sử dụng 40% tài nguyên tiêu dùng của cả thế giới. Lấy của nhân loại phần lớn tài nguyên, đất nước này gần như chẳng làm gì cho họ. Hơn thế nữa, lại còn để lại một thiên nhiên chết chóc, các dòng sông và không khí bị nhiễm độc. Một phần ba tất cả ô nhiễm môi trường trên thế giới là do Mỹ. Theo tiêu chuẩn kinh tế toàn cầu, một sản phẩm tạo ra ở Mỹ thực ra không thuộc về Mỹ mà là toàn bộ nhân loại bị họ bóc lột. Mỗi một người Mỹ ngày nay tiêu thụ bằng 8 người dân trên trái đất…

Cuộc khủng hoảng sinh thái gây ra do sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa khả năng thiên nhiên và áp lực lên nó của nền kinh tế tiêu thụ Mỹ. Cộng đồng thế giới cần phải đặt thứ thuế đặc biệt đối với Mỹ, bằng với thiệt hại mà họ gây ra cho môi trường trái đất.

Sự phân hóa quốc tế là hậu quả chính sách đòi hỏi hiếu chiến của Mỹ đối với các nước khác, nơi nhiều người dân hiểu được bản chất ăn bám của Mỹ. Giữa Mỹ và đại đa số các nước khác có sự gia tăng mâu thuẫn, mà Mỹ không thể gỡ bỏ do cơ cấu nội bộ của mình. Theo thăm dò dư luận tiến hành ở nhiều nước, đa số nhân loại căm thù Mỹ và người Mỹ, và mong muốn họ biến đi…

Kinh tế Mỹ như chiếc xe xuống dốc không phanh, không thể dừng lại vì không có cơ cấu tự hạn chế. Khả năng phát triển đã hết. Các công nghệ tiên tiến nhất đã lạc hậu so với quá trình cạn kiệt tài nguyên, hậu quả của cuộc chạy đua tiêu thụ. Vì vậy, để nuôi nền kinh tế tiêu thụ của mình, Mỹ càng phải lấy nhiều hơn của kẻ khác, điều mà trong điều kiện hiện nay là khó khăn.

Nhiều chục năm chủ yếu định hướng vào việc cướp bóc kinh tế của các nước khác, qua việc thay đổi tỷ giá quốc tế và giá trị đồng USD, Mỹ dần dần đánh mất vị thế dẫn đầu về công nghệ cao. Nếu vào đầu thập niên 70 Mỹ chiếm 30% xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao của thế giới, thì tới những năm 80 tỷ lệ này giảm xuống 21% và tới thập niên 90 sẽ không hơn 5 – 10%. Vai trò dẫn đầu về công nghệ cao chuyển sang tay Nhật Bản và nhiều nước châu Á khác”.

Hệ thống quan điểm và sự kiện kể trên, tạm thời mới được một phần tương đối nhỏ của xã hội chấp nhận, nhưng dần dần đi vào nhận thức của càng nhiều người. Tại nước Nga, điều này được kích thích bởi hành động của đám “cải cách” được điều khiển từ Mỹ. Chúng hứa hẹn một thiên đường thị trường, nhưng đã phá tan đất nước, biến hai phần ba dân chúng thành bần cùng, hình thành lớp nô lệ thực tế, lao động không có lương, đẩy khoa học, văn hóa và y tế tới bờ tiêu diệt.

Tất nhiên khi nói về Mỹ, không thể bỏ qua về đóng góp to lớn của họ cho sự phát triển của nền văn minh hiện đại, về nền sản xuất cao cấp, về phương tiện thông tin liên lạc, về sự tổ chức lao động chặt chẽ, về vai trò dẫn đầu của họ trong phát triển các hệ thống thông tin. Các chuyên gia và nhà khoa học làm việc trong các lĩnh vực khoa học rất đáng được kính trọng. Nhưng các quá trình xảy ra trong nước, và cả hành động thiển cận của ban lãnh đạo đã đe dọa chính nước Mỹ, vì chính tương lai của nhân dân Mỹ.

Ngày nay có thể nói về sự thống trị của Mỹ trong thế giới hiện đại và cả sự bất ổn đang tới gần. Trước hết là về tình hình tài chính. Nước Mỹ có một món nợ nhà nước khổng lồ, đã tung ra rất nhiều đồng USD mà thực sự đã trở thành đồng tiền quốc tế. Ngoài ra, có sự cách biệt giữa khối tư bản tài chính và tư bản sản xuất. Trong vòng quay tài chính lưu hành một khối tiền giấy khổng lồ không có gì bảo đảm cả. Nhờ cái giá trị ảo đó, Mỹ một mặt có thể làm nổ tung bất cứ kẻ cạnh tranh nào, nhưng mặt khác có thể làm nổ ra cơn bão táp tài chính trên chính nước Mỹ.

Dạng bất ổn tiếp theo liên quan tới việc tất cả sự thịnh vượng của nước Mỹ dựa trên sự áp dụng liên tục các công nghệ mới vượt trội. Để làm được điều này cần có một lượng dự trữ khoa học, và trước hết đó là dự trữ trong khoa học cơ bản. Vấn đề áp dụng thực tế được làm tốt không chỉ ở Mỹ, mà tại nhiều nước phát triển khác. Trên quan điểm này, thì hành động của Chính quyền Clinton ủng hộ các biện pháp của đám “cải tổ” tiêu diệt khoa học ở nước Nga, ít ra là hơi bất thường.

Hiện nay, Mỹ lựa chọn việc dùng sức mạnh, cứng rắn và đe dọa, nhưng cái chính sách ấy có thể gây ra sự bùng nổ căm thù và tình trạng bất ổn ngay tại nước Mỹ.

Nếu nói về tương lai xa hơn, thì xã hội tiêu thụ mâu thuẫn đối kháng với tình trạng sinh thái của trái đất. Chính nước Mỹ đẩy thế giới ngày càng gần tới vạch tận cùng.

Hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại, cần phải có một chiến lược để thoát khỏi các mâu thuẫn toàn cầu của nền văn minh hiện đại. Khi xem xét các hành động cụ thể của ban lãnh đạo Mỹ, có cảm tưởng là họ chỉ nhìn thấy mục tiêu gần, đi theo lối mòn, và không hiểu thực tế. Về mặt này, ban lãnh đạo Đảng Dân chủ đang cầm quyền ở nước Mỹ có điểm giống với Breznhev. Chỉ có khác thay cho ông lão già nua là một sự lố lăng kiểu khác. Điều này được phương tiện thông tin đại chúng ở Mỹ nói tới nhiều. Xin trích bài trên báo “Luận chứng và sự kiện”:

Những người già không còn nhớ trường hợp khi báo chí Mỹ để đọc trong gia đình và đưa ra tài liệu với dòng cảnh báo nó không dành cho trẻ em. Bây giờ điều này xảy ra khi công bố báo cáo đặc biệt của thẩm phán Keneth Star. Trong tài liệu 453 trang này trình bày chi tiết chuyện quan hệ tình ái giữa Tổng thống William Jefferson Clinton và cô thực tập sinh trẻ Monica Lewinski.

Năm 1998 có thể gọi là bước ngoặt trong lịch sử chiến tranh. Trong chiến tranh trước đây, hai lực lượng xung đột với nhau, việc tham gia vào chiến trận gắn với nguy hiểm và đòi hỏi ít nhiều dũng cảm. Trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI xuất hiện một tình thế mới. Trong các cuộc tấn công bằng tên lửa vào Iraq, Sudan, Afghanistan, người Mỹ chẳng bị chút thiệt hại nào, với họ chẳng tồn tại nguy hiểm. Đó đơn giản là sự bắn giết người và phá hoại cơ sở hạ tầng. Tại Iraq số người chết và bị thương theo số liệu của Bagdad là 1200 người. Nói cách khác, người ta bắn giết người Arab Iraq như chó điên vậy.

Trong khi đó, luật pháp quốc tế, nghị quyết của Liên hợp quốc thể hiện sự độc tài của nước Mỹ, mà tổng thống của nó ra giấy phép bắn giết người. Lần cuối cùng giấy phép như vậy được phát ra bằng lệnh của Clinton ngay trước ngày bỏ phiếu luận tội tại Hạ viện. Điều này không cần phải bình luận gì thêm. Đáng chú ý là tình trạng ý thức xã hội tại Mỹ. Nhiều người ở đó sống trong một thế giới ảo, phi lý, do máy tính và phương tiện thông tin đại chúng tạo ra. Đối với họ, việc bắn giết người, hình ảnh đứa trẻ mất cánh tay, người đàn bà bị thương quằn quại, cũng chẳng khác gì trò chơi máy tính. Không phải ngẫu nhiên mà sau các cuộc tấn công bằng bom – tên lửa, tỷ lệ ủng hộ Clinton tăng vọt. Trong các điều kiện đó, tình trạng ý thức xã hội như vậy có thể trở thành hiểm họa cho toàn nhân loại. Ban lãnh đạo dân chủ của Mỹ cũng cảm thấy rõ tình trạng ý thức xã hội, nhưng đồng thời họ lại là con tin của các quyền lợi trước mắt. Trong một giai đoạn ngắn thì con đường ấy là hiệu quả, nhưng trong tương lai sẽ dẫn tới ngõ cụt và thảm họa. Trước hết là với chính nước Mỹ.

Như vậy, hiện nay trên thế giới đã xác lập trật tự mới. Theo đó với bất cứ nước nào, bất cứ khi nào, theo lệnh của tổng thống Mỹ, cái chết có thể ập tới. Trước cuộc bỏ phiếu luận tội tại Thượng viện Mỹ, có thể chờ đợi các cuộc tấn công bằng bom – tên lửa vào Nam Tư hay Iran, Belgrad hay Tehran bốc cháy, các thi thể người Serbia hay Iran có thể lại cho phép nâng tỷ lệ ủng hộ Clinton và tránh được cuộc luận tội.

Hiểm họa bị tiêu diệt hoàn toàn đang treo trên đầu nước Nga. Xét theo hành động của ban lãnh đạo Mỹ, thì điều này sẽ xảy ra sau khi vô hiệu hóa được lực lượng vũ trang của đất nước từ bên trong. Bài thơ “Săn cáo” của Vưsotski đã diễn tả rất hình tượng tình hình này.

Hiện nay đang diễn ra cuộc săn đuổi nhân dân Nga. Tác động thông tin, qua đó làm lệch lạc nhận thức con người, được sử dụng để tổ chức tiêu diệt họ. Còn con người “lao đầu một cách sai lầm” vào hướng đã được vạch sẵn. Chỉ có thể thoát thân nếu vượt qua được vòng các nhận thức sai lầm do bọn người tổ chức cuộc chiến tranh thông tin nhồi vào đầu.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý – TC2 1999.

Advertisements

Cuộc chiến tranh thông tin của Mỹ giành quyền thống trị thế giới – Phần VIII


Nhiệm vụ chiến lược thứ ba – chiếm lấy các tài nguyên chủ yếu của hành tinh (hoặc thiết lập sự kiểm soát đối với chúng). Đó là dầu mỏ của Iraq và biển Caspian, nhưng chủ yếu là của Nga. Chiếm được sự kiểm soát nước Nga, Mỹ thông qua các tay sai của mình biến nó thành bãi thử nghèo, đói, chết chóc. Đó cũng chính là tương lai ẩn giấu dưới các từ về dân chủ, quyền con người, quan hệ thị trường mà họ đã chuẩn bị cho các dân tộc khác, cho toàn thế giới. Tại nước Nga đã bị chinh phục, họ sẽ đưa ra các công nghệ mới của chiến tranh tâm lý. Kế hoạch tiếp theo của Mỹ đối với nước Nga như thế nào?

Chính phủ Nga dưới sự chỉa đạo của các cố vấn Mỹ đã tiến hành công cuộc chuẩn bị to lớn. Quân đội bị phá hoại – chẳng bao lâu nữa nó chẳng thể chống cự lại ngay cả một quốc gia hạng trung. Dân chúng bị chết đói. Diễn ra cuộc thanh lọc người Nga ở phía Bắc, Siberi, và Viễn Đông. Tại đó người dân phải sống trong điều kiện cố tình tạo ra không phải dành cho con người, với cái cớ là thiết lập kinh tế thị trường. Họ buộc phải rời bỏ nhà cửa, tài sản và đi về các vùng trung tâm. Phương tiện thông tin đại chúng tuân lệnh Mỹ, đã phát để thăm dò trên tivi một người Chukchu nói là họ muốn sáp nhập vào Mỹ.

Tại Mỹ đang triển khai chuẩn bị cuộc xâm lược nước Nga với mục tiêu chiếm vùng Siberi, Viễn Đông, và Bắc Nga. Điều này được nói trong bài Lý tưởng điên rồ là gì, của cải của Mỹ sẽ gắn bó với Siberi của Kvhéc-tahinxki – Sự thật số 123, 12/11/1998:

Những kẻ ủng hộ việc thu nhận Siberi vào Mỹ trước hết bắt đầu cuộc tấn công đã được lên kế hoạch tốt vào trí óc và trái tim đồng bào mình. Nhiều bức thư được gửi tới các nghị sĩ với các đề nghị cụ thể. Các doanh nhân thì nhận được từ fax bản đồ Siberi với chú dẫn về “tài nguyên con người”. Đám quân nhân thì được giải thích lưu loát về ý nghĩa chiến lược của các căn cứ hải quân tương lai của Mỹ ở Vladivosktok và Dikson. Để làm được điều này cần phải tạo các điều kiện sao cho tình hình kinh tế ở Nga càng tệ hơn, và chắc chắn dẫn tới tình trạng bất ổn về chính trị và xã hội. Theo nguyên tắc “càng xấu càng tốt”, người Mỹ cho rằng sẽ càng hay hơn nếu kích động những người Kazak và Hồi giáo chính thống tại các vùng khác của nước Nga. Điều này mở ra chân trời rộng lớn cho các “cố vấn” Mỹ trong các cơ cấu của tổng thống và thương mại ở Nga, các tình báo nước ngoài khác, các chuyên gia về chiến tranh tâm lý. Tất nhiên không thể thiếu hoạt động của mạng lưới điệp viên ảnh hưởng và dấy lên sự ầm ĩ cần thiết trong phương tiện thông tin đại chúng “dân chủ” ở Nga”.

Trên báo chí cũng thảo luận một kịch bản khác. Đám Taliban được trang bị tận răng bằng vũ khí của Mỹ, kể cả tên lửa và vũ khí hạt nhân, tràn vào vùng Trung Á, để lại sau lưng các thành phố Taskent, Dusanbe, Biskek và Alma-Alta bị đốt trụi. Phía Bắc và Siberi quân Mỹ đổ bộ vào với cái cớ bảo vệ nơi này khỏi Taliban, và sáp nhập nó vào Mỹ theo “yêu cầu” của dân chúng địa phương ở Chukotka, Iakuti và vài vùng khác của Nga. Các khoản tiền khổng lồ được tung ra cho bầu cử ông tướng – độc tài, người sẽ đặt vũ khí nguyên tử và hạt nhân dưới sự kiểm soát của Mỹ, mở đường cho việc phân chia nước Nga thành nhiều quốc gia nhỏ. Tiếp theo là sự khiêu khích người Do Thái, và tại các thành phố lớn của Nga “cộng đồng thế giới” sẽ đưa quan sát viên vào để bảo đảm sự an toàn cho họ. Người nông dân Nga bị đuổi khỏi đất đai được mua với giá rẻ mạt.

Sau khi bọn Taliban đã hoàn thành vai trò của mình, thì với sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, sẽ diễn ra cuộc tiêu diệt các quốc gia Hồi giáo, và họ cũng nằm dưới sự kiểm soát toàn diện của Mỹ. Trong thời gian diễn ra các sự kiện này thì Tây Âu cũng bị thiệt hại nặng nề. Một số thành phần trong kịch bản này đã ló dạng ngay từ bây giờ. Nhân đây nhớ lại câu chuyện thời Hitler: “Người ta nói với tôi – người cộng sản đang bị bắt bớ, nhưng tôi không phải cộng sản và tôi không phản đối; sau đó người ta nói với tôi – người Do Thái đang bị bắt bớ, nhưng tôi không phải Do Thái và tôi cũng không phản đối; rồi người ta nói với tôi – người xã hội đang bị bắt bớ, nhưng tôi không phải người theo chủ nghĩa xã hội và tôi không phản đối; còn sau đó người ta tới bắt tôi, nhưgn chẳng còn ai để phản đối”.

Mỹ như kẻ bá chủ thế giới

Sau khi Liên Xô thua trong cuộc chiến tranh thông tin, Mỹ chiếm vị thế độc tôn trên thế giới. Họ có tiềm năng hùng mạnh và kinh nghiệm to lớn trong chiến tranh thông tin, có các vũ khí hủy diệt hàng loạt và chính xác hiện đại nhất, có khả năng tài chính đủ phá vỡ nền kinh tế của bất cứ nước nào. Sử dụng ba cần tác động này, Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ thế giới. Nhưng trong cuộc chiến này không phải mọi thứ đều xuôi chiều. Hơn nữa, có thể nói đã bắt đầu một giai đoạn mới. Tại Nga sự tuyên truyền của “các lực lượng dân chủ” thông qua phương tiện thông tin đại chúng, xuyên tạc lịch sử Nga, bôi nhọ các anh hùng trong quá khứ, khen ngợi tất cả những gì từ phương Tây, dần dần đã bắt đầu đem lại hiệu quả ngược với ý đồ. Trong xã hội đã nổi lên mối quan tâm tới lịch sử đích thực và tội ác của “dân chủ” phương Tây. Ví dụ tiêu biểu của sự phân tích lịch sử và tình hình hiện tại ở Mỹ là bài của O.A. Platonov, người nhiều năm nghiên cứu lịch sử và kinh tế Mỹ, đã từng đi khắp nước Mỹ, nói chuyện với hàng trăm người Mỹ đủ mọi tầng lớp xã hội. Chúng tôi trích vài đoạn đặc trưng trong bài này:

Vấn đề là, một chế độ chống chúa trời, chống con người và cực kỳ độc tài như của Mỹ nói chung không có quyền tồn tại, như mọi đế chế tội ác. Chế độ của Mỹ là một sự tồn tại ăn bám, sống nhờ tài nguyên của người khác, bạo lực, lừa đảo, bóc lột và ăn cướp các quốc gia khác, cần phải bị tiêu diệt bằng nỗ lực chung của nhân loại.

Nước Mỹ chẳng phải một quốc gia hay dân tộc. Đó chỉ là một lãnh thổ lớn, tại đó tạm thời sinh sống những người từ các nước khác. Điều chủ yếu là nước Mỹ thiếu một cơ sở nền tảng cho một quốc gia bền vững – một dân tộc hạt nhân. Cái được gọi là nhân dân Mỹ không phải là một thực thể xác định, tự nhiên, mà chỉ là một tập hợp nhân tạo các cá nhân, được kết hợp bởi ham muốn chung là hưởng thụ và làm giàu và bản năng sợ trách nhiệm trước loài người về những tội ác chung. Cái tập hợp này chỉ có thể tồn tại trong một thời gian không lâu. Nước Mỹ là một quốc gia sống nhờ sự nô lệ và bóc lột tàn nhẫn người da đen. Dân tộc Mỹ được hình thành bằng máu, xương, đất và tài sản của hơn 100 triệu thổ dân bị giết và hành hạ, những chủ nhân thực thụ của đất nước này. Báo chí tới tận giờ vẫn nhồi cho mọi người ý nghĩ là nước Mỹ được khai hóa bằng bàn tay của người da trắng. Thật ra phần lớn đất đai đã được thổ dân trồng trọt trước khi người da trắng tới đây. Người da trắng là kẻ xâm chiếm, cướp bóc, xây dựng sự giàu có của mình trên cái chết và đau khổ của hàng chục triệu thổ dân và nô lệ”.

Cũng trong bài này đã nêu chi tiết lịch sử chế độ nô lệ và tiêu diệt thổ dân trên lãnh thổ Mỹ. Hệ thống buôn bán nô lệ được tổ chức như sau:

1/ Trên lãnh thổ châu Phi hình thành các đại lý của bọn buôn nô lệ, tìm mọi cách để bắt người da đen (cưỡng bức, mua chuộc, lừa đảo), đóng xiềng xích vào họ.

2/ Từ Mỹ sẽ gửi tới các tàu chở đầy rượu cồn, sau khi đã dỡ hàng “nước lửa” xuống, đưa nô lệ da đen được dồn xuống hầm tầu và đóng nắp lại. Thức ăn và nước được truyền qua một lỗ hẹp mà một người không thể bò qua được. Trước khi tàu rời bến đi Mỹ, thuyền trưởng –buôn nô lệ sẽ thanh toán với đại lý. Cứ mỗi nô lệ được trả 400 lít cồn pha (thường là rượu rum) hoặc 40 kg thuốc súng, hoặc là 18 – 20 USD tiền mặt.

3/ Các tàu buôn nô lệ tới Mỹ, và ở đây thông qua mạng lưới bán lẻ người da đen bị bán đi khắp nước. Giá một nô lệ lên tới 2000 USD. Cho tới giữa thế kỷ XVIII một phần sáu dân số các bang miền đông là nô lệ da đen.

Sự thật theo các nguồn sử học, thường chỉ có một phần mười số nô lệ da đen tới được bờ nước Mỹ. Chỉ trong giai đoạn 1661 – 1774 có gần 1 triệu nô lệ da đen sống sót được chở từ châu Phi sang Mỹ. Còn hơn chục triệu người đã chết trên đường đi…

Vào thế kỷ XVII khi thực dân châu Âu bắt đầu chinh phục Bắc Mỹ, lãnh thổ này có rất nhiều bộ lạc thổ dân sinh sống. Những kẻ xâm lược chẳng đếm xỉa gì tới luật lệ của chủ nhân và quyền lợi các bộ lạc, ngay từ đầu đã tuyên bố chiến tranh để tiêu diệt họ. Tất nhiên, được vũ trang bằng cung và tên, người da đỏ đã không thể chống cự lại kẻ xâm lấn. Trong các cuộc xung đột, cứ mỗi kẻ xâm lược bị giết thì có nhiều chục thổ dân ngã xuống. Tàn sát như vậy với đám đàn ông, bọn thực dân tấn công dân chúng da đỏ chỉ còn lại toàn đàn bà, trẻ nhỏ, người già, và giết họ không thương tiếc. Với những bộ lạc không thể tiêu diệt bằng sức mạnh vũ khí, họ tiêu diệt bằng thủ đoạn lừa lọc. Phương pháp phổ biến kiểu này là bán cho người da đỏ chăn mùng bị nhiễm đậu mùa hay các căn bệnh đáng sợ khác, cả rượu tẩm thuốc độc.

 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý – TC2 1999.

Cuộc chiến tranh thông tin của Mỹ giành quyền thống trị thế giới – Phần VII


Mối lo ngại lớn hơn nhiều do có “sự gia tăng thù nghịch đối với dân Do Thái trong số người da đen ở nước này.

“Tại Mỹ tổ chức người Hồi giáo da đen “Dân tộc Hồi giáo” có một ảnh hưởng khá lớn, do Luis Farrachan lãnh đạo và có một nguồn tài chính khá mạnh.

Nền tảng tư tưởng nhận thức bài Do Thái của vị lãnh tụ da đen “Dân tộc Hồi giáo” cũng không có gì mới và độc đáo. Thật ra, ngoài những lời buộc tội dân Do Thái thông thường, ông ta còn coi tội lỗi chính của họ là “chính các nhà buôn Do Thái vô đạo đức đã đưa tổ tiên của họ tới đất nước này… bắt họ làm nô lệ”.

Cuộc chiến tranh thông tin do Mỹ tiến hành chống nhân dân Do Thái trên toàn thế giới là một hỗn hợp cháy giữa chủ nghĩa Sionism và bài Do Thái. Mục tiêu của nó là biến người Do Thái thành kẻ ngoan ngoãn thực hiện ý đồ của họ, thực hiện các công việc “bẩn thỉu”. Làm sao cho mọi người ở khắp nơi đều nhìn thấy người Do Thái đứng hàng đầu (như Topol đã viết, chính quyền ở nước Nga nằm trong tay Do Thái). Như vậy người Do Thái phải chịu trách nhiệm về cuộc diệt chủng hàng loạt dân Nga – giết hại (chết) 8 triệu người; về việc phá hoại văn hóa – tiêu diệt đội ngũ khoa học chiếm 1/4 thế giới; về sự cướp bóc toàn bộ nước Nga. Tất cả điều này dẫn tới triển vọng là dân Do Thái sẽ bị xua đuổi trên toàn thế giới. Quá trình này diễn ra, như Gorbi nói. Còn theo sắc lệnh 20/1, kẻ tổ chức hành động vô tiền khoáng hậu chống dân Do Thái này – ban lãnh đạo Mỹ – có thể nói: “Chúng tôi không liên quan, đó là việc riêng của họ”.

Về chiến lược toàn cầu của Mỹ

Chiến lược của Mỹ nhằm thiết lập sự thống trị thế giới. Nhiệm vụ thứ nhất – thiết lập “trật tự mới” trong nền kinh tế thế giới – bao gồm việc khuất phục về kinh tế và tài chính toàn bộ phần còn lại của thế giới. Để đẩy một nước nào đó vào cuộc khủng hoảng, họ dùng đến vũ khí tài chính, kể cả việc sử dụng IMF. Các nước Đông Nam Á kể cả Indonesia và còn Mexico, Argentina, Hàn Quốc đã trở thành nạn nhân của khủng hoảng. Tiếp theo là dùng đến vũ khí thông tin. Người dân được nhồi vào đầu sự cần thiết của các đơn thuốc tài chính, nhờ đó đất nước có thể sẽ liên kết được với thế giới văn minh, và trong tương lai sẽ thoát ra khỏi khủng hoảng với sự đổi mới. Trong khi đó, thêm vào số 4 tỷ người sống trong tình trạng nghèo khổ, lại có thêm hàng đoàn người mới. Nhưng các phương tiện thông tin đại chúng đã che giấu tình hình thực tế. Hơn thế nữa, phương tiện thông tin đại chúng ở Nga còn tâng bốc Argentina như là sự thần kỳ về kinh tế, liên tục đề nghị theo con đường của Argentina để thoát khỏi khủng hoảng. Thế điều gì thực tế xảy ra ở Argentina bắt đầu từ 1991 thực hiện theo đơn thuốc của IMF. Ta hãy trích các số liệu thực tế:

Mức sống của phần lớn dân số 33 triệu người Argentina năm 1992 vẫn thấp hơn mức sống giữa những năm 70. Hai phần ba dân số sống trong tình trạng nghèo khổ. Gần một nửa dân Argentina không đủ tiền để mua các hàng hóa tối thiểu, mặc dù ở chợ và cửa hàng đầy hàng hóa, phần lớn đó là nhập khẩu. Nhà giáo, công chức, công nhân nhận lương 4 lần thấp hơn mức tối thiểu của gia đình trung bình. Người nghỉ hưu đặc biệt khó khăn.

Tới năm 1995… việc chậm trả lương, tiền hưu bổng đã gây ra những phản ứng xã hội. Kinh tế bị phân rã làm các trang trại thua lỗ, và các nhà sản xuất phá sản. Theo thông báo của Hiệp hội thương mại Liên bang Argentina, gần 42 nghìn doanh nhân đã đóng cửa sản xuất. Chỉ trong tháng 5 năm 1995 buôn bán thực phẩm giảm 15%, thuốc men giảm 25%, sản phẩm dệt 41%. Thất nghiệp chính thức là khoảng 18,6%, còn không chính thức thì tới 25%. Nợ nước ngoài chính thức tăng thêm 5,7 tỷ USD, còn theo thống kê của các chuyên gia độc lập – tới 10 tỷ. Cuối năm 1994, nợ nước ngoài thực tế là 111 tỷ USD, và trong năm 1995 đã tăng lên tới 122,3 tỷ USD. Không phải ngẫu nhiên mô hình “điều hành tiền tệ” bây giờ thường được gọi là “mô hình tăng nợ”.

Để đáp ứng đòi hỏi của IMF về cắt giảm thâm hụt ngân sách, Argentina thực hiện sự bóc lột khắc nghiệt nền sản xuất đang yếu kém, thông qua mức thuế rất cao. Còn để tạo ảo tưởng sự ổn định, đất nước tràn ngập ngoại tệ. Tới tháng 6/1996, Argentina có mức thâm hụt rất cao – 2,5 tỷ USD, còn thâm hụt cả năm vượt quá 4 tỷ USD. Tới cuối tháng 7/1996, mức thất nghiệp ở nước này là 17%, so với mức 6% vào năm 1991. Còn trong số những người làm việc, chỉ có 46% nhận được mức lương ổn định. Đặc biệt thấy rõ là sự suy giảm mức sống và hệ thống y tế giáo dục ở tỉnh bị tàn phá. Trong những vùng nông thôn mức thất nghiệp vượt quá 20%.

Vào tháng 4 năm 1996 có chiếu bộ phim tài liệu về đời sống ở Rosario – một thành phố lớn của Argentina với một triệu dân, được tâng bốc như là Chicago của Mỹ Latinh.

Khán giả truyền hình nhìn thấy cư dân của các căn nhà ổ chuột, họ bắt và ăn thịt mèo. Bình luận viên giải thích là trong đất nước có thời tự hào về thịt bò và tài nguyên giàu có của mình, người ta phải ăn thịt mèo, rắn, rùa vì chẳng đủ tiền để mua các thực phẩm bình thường. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành phố này đã lên tới 27%, còn tỷ lệ tử vong của trẻ em thì ngang với mức của châu Phi là 39 em trên 1000 trẻ mới sinh. Hai tuần sau, giám đốc điều hành của IMF tới Argentina và yêu cầu không được đi chệch cải cách thị trường tự do”.

Đó là sự thật về kết quả điều hành kinh tế của Mỹ và IMF tại Argentina mà phương tiện thông tin đại chúng Nga đã tâng bốc lên tận mây xanh.

Nhiệm vụ chiến lược thứ hai – đánh vào những nước có tinh thần chống đối. Với những nước này các phương pháp chiến tranh thông tin thông thường chưa đủ hiệu quả. Bởi vậy bước cần thiết tiếp theo là tiêu diệt về thể chất phần lớn dân số các nước này. Họ là các nước: Belorusia, Nam Tư, Iran, trên thực tế chẳng đe dọa ai cả.

Belorusia đã mất hơn 1/4 dân số trong Chiến tranh Vệ quốc (3 triệu trong số 10 triệu người), nhưng không khuất phục Hitler. Hiện nay chiến dịch chống Belorusia do Mỹ tổ chức thật đáng kinh ngạc. Belorusia che chắn cho nước Nga khỏi sự xuất hiện của NATO trên cửa ngõ vào Moskva. Thế mà ORT và các kênh truyền hình khác của Cộng hòa Liên bang Nga đã đổ làn sóng căm thù, thể hiện ban lãnh đạo Belorusia như là kẻ thù chính của Nga. Với bất cứ cớ gì, các nước phương Tây liên tiếp mở các chiến dịch chống Belorusia, trì hoãn việc tiếp nhận nó vào Cộng đồng châu Âu, đồng thời công khai ủng hộ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở Latvia và Estonia.

Chiến dịch chống Nam Tư cũng được triển khai. Như đã biết, người Serbia trong hàng trăm năm đã che chắn Tây Âu khỏi sự xâm lược của người Thổ – Osman. Trong Thế chiến thứ nhất, người Serbia kháng cự quyết liệt trước liên quân Áo – Hung. Trong Thế chiến thứ hai, hơn 1,5 triệu người Serbia bị giết, nhưng bọn phát xít không thể bẻ gãy được sức kháng cự của du kích. Vào đầu thập nhiên 90 dưới tác động trực tiếp của phương Tây, Nam Tự đã bị phân rã. Khối NATO hiếu chiến đã truy đuổi người Serbia, dân tộc cứng đầu này phải bị tiêu diệt về thể chất.

Mỹ công khai thể hiện sự căm ghét của mình với Iran. Cách mạng Hồi giáo, với sự lãnh đạo của giáo chủ Khomeini, đã chấm dứt sự cầm quyền của nhà Vua. Dưới thời nhà Vua đời sống vật chất có khá lên, nhưng kèm theo là sự phá vỡ các giá trị truyền thống của xã hội Iran, giới cầm quyền xa rời đạo Hồi và chuyển sang tôn thờ sự giàu có, người nước ngoài thống trị trong nước. Chính sự khinh thường các đấng thiêng liêng và giá trị dân tộc đã gây sự bùng nổ. Lò xo tinh thần phản kháng bị nén lại nay đã bung ra. Người sáng lập nước Cộng hòa Hồi giáo Iran là Khomeini đã nói về tình hình trong nước và thế giới:

Sự thống trị của Mỹ – đó là nguyên nhân mọi nỗi khổ của các dân tộc bị áp bức… Mỹ tuyên bố: “chúng tôi có quyền lợi trong vùng này”. Tại sao họ lại phải có quyền lợi trong vùng của chúng tôi, và tại sao quyền lợi của người Hồi giáo lại liên quan tới nước Mỹ?

Nước Mỹ – kẻ tội phạm bẩm sinh, kẻ gây hấn trên khắp thế giới. Họ và tên đồng lõa Sionism trên con đường đi tới mục tiêu của mình đã gây các tội ác không thể bào chữa được.

Phương tiện thông tin đại chúng phương Tây không tiếc sơn đen khi mô tả về nước Cộng hòa Hồi giáo của chúng tôi. Nhưng “tội lỗi” duy nhất của chúng tôi là đã chống chọi với Mỹ.

Người ta từ lâu nhồi sọ chúng tôi là mọi điều tốt đều tới từ phương Tây. Nhưng không phải vậy: phương Tây chỉ có mỗi khả năng biến con người thành súc vật biết vâng lời.

Dân tộc tôi, cũng như mọi dân tộc khác có quyền tự quyết định số phận của mình. Đó là quyền tự nhiên của con người và nó được thể hiện trong Hiến chương Quyền con người của Liên hợp quốc. Đáng tiếc là nhiều quốc gia chỉ rêu rao về quyền con người, nhưng lại hành động ngược lại. Đạo Hồi không chỉ răn dạy mà còn tuân thủ quyền con người…

Sức mạnh quân sự và vũ khí hiện đại không thể đứng vững trước sự căm thù cách mạng và thiêng liêng của dân tộc”.

Để đáp lại, Mỹ cố gắng tổ chức cuộc phong tỏa Iran, đổ quân lên lãnh thổ của họ, bắn cháy máy bay dân sự với hơn 300 hành khách. Bây giờ lại tiến hành cuộc chiến tranh thông tin. Logic của sự kiện rất đơn giản – trước hết cần tiêu diệt các dân tộc cứng đầu.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý – TC2 1999.

Cuộc chiến tranh thông tin của Mỹ giành quyền thống trị thế giới – Phần VI


Chính ông trùm tài phiệt Boris Abramovich Berezovski đã theo gương Aldof Hitler, yêu cầu cấm Đảng Cộng sản hoạt động. Một trong những cơ sở cho việc này là việc lãnh tụ Đảng Cộng sản Nga Zuganov đã dùng từ “Sionism” như một hình thức của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Theo phương tiện thông tin đại chúng thì điều này thậm chí mâu thuẫn với “Từ điển bách khoa Xô Viết”. Ta trích đoạn cụ thể từ cuốn “Từ điển bách khoa Xô Viết”:

Sionism (theo tên gọi ngọn đồi Sion ở Jerusalem), hệ tư tưởng và chính sách sô vanh phản động của tư sản Do Thái. Xuất hiện cuối thế kỷ 19, nhằm lôi kéo quần chúng lao động Do Thái khỏi cuộc đấu tranh cách mạng, bảo vệ sự thống trị của chóp bu tư sản. Hành động dưới khẩu hiệu thành lập một Nhà nước Do Thái qua việc thuộc địa hóa Palestine. Còn sau 1948 thì tích cực ủng hộ mọi mặt cho Israel. Như một đội quân xung kích của chủ nghĩa tư bản, đặc tính của Sionism là chủ nghĩa sô vanh hiếu chiến, phân biệt chủng tộc, chống cộng, chống Xô Viết. Theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc thứ 30 (1975) thì Sionism được coi là hình thức của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc”.

Như đã thấy, về chủ nghĩa Sionism thậm chí có cả nghị quyết đặc biệt của Liên hợp quốc. Có cảm giác hành động của Berezovski là bằng mọi cách, kể cả với lý do giả tạo, để kích động tình thế trong nước. Nhân đây xin trích bài phỏng vấn cựu Chủ tịch KGB Sebarsin trên báo “Thanh niên Moskva”, trong đó có đánh giá tình hình hiện tại:

“- Ông cho rằng Sionism có tồn tại?

+ Không phải tôi cho rằng. Sao mà cho được, khi nó đã là hiện thực rõ ràng trong đời sống hiện tại trên thế giới và của chúng ta? Chủ nghĩa Sionism hiếu chiến. Chủ đề này ngày nay rất mốt trong một số nhóm nhất định, cũng như chủ đề về chủ nghĩa sô vanh Nga.

Những kẻ sô vanh đã mất cả triệu người trong một năm, mà còn dám huênh hoang về chuyện này. Hãy chết đi, những người Nga, và đừng có phàn nàn. Đây đâu phải người sắc tộc Nga? Đây tất cả là người nước Nga, nói tiếng Nga. Vậy nên sự phục sinh lòng tự hào dân tộc Nga – đó là một hiện tượng tích cực, còn nó ra thế nào cũng khó nói.

Năm 1988 vào cao điểm của tải tổ, trên tạp chí “Ngọn cờ” đăng bức thư mang tính bài Do Thái cực kỳ bẩn thỉu. Hai tuần sau phát hiện ra rằng (các nhân viên của chúng tôi ra tay) tác giả của nó là một kẻ Sionist tích cực.

Tôi đã từng nói về chiến lược rất rõ ràng của phương Tây đối với nước Nga. Có chiến lược thì phải có người thực hiện nó từ bên trong.

– Và họ là ai?

+ Tôi sẽ không nêu tên ai cụ thể. Nhưgn chúng nhận được khá nhiều tiền vì công việc này. Dưới dạng tiền trả cho bài giảng, cổ phiếu doanh nghiệp, hay tiền nhuận bút. Chỉ có nước Nga cứu nước Nga thôi. Các quá trình khách quan không nằm trong khuôn khổ các chiến lược bí mật hay rõ ràng.

– Ông không sợ bị lên án về chủ nghĩa dân tộc Nga và bài Do Thái sao?

+ Chủ nghĩa dân tộc Nga đối với tôi không có nghĩa xấu. Tôi chẳng thể là người theo chủ nghĩa dân tộc Pháp hay Mỹ được. Ở bất cứ quốc gia nào, bất cứ công dân nào trong hàng thứ nhất, thứ hai, thứ ba gì đó đều có quyền lợi dân tộc. Còn về chủ nghĩa bài Do Thái, thì hiện tượng này đối với tôi thật xa lạ và ghê tởm. Không chỉ riêng tôi, chỉ cần nhìn vào thành phần chính phủ của chúng ta thì có thể hiểu được là tại nước Nga chủ nghĩa bài Do Thái không tồn tại…”

Đáng ngạc nhiên là kẻ tổ chức truyền đơn bài Do Thái (tức là khiêu khích trực tiếp) lại là người Sionist. Nhiều người còn nhớ chiến dịch được triển khai sau đó, lên án người Nga vì chủ nghĩa bài Do Thái và cuộc tàn sát đang tới gần.

  1. Topol trong bức thư ngỏ của mình đã nói về khả năng một thảm kịch Do Thái. Vấn đề không phải ở cuộc tàn sát. Tình thế thật ra xấu hơn nhiều. Hitler đã từng tiêu diệt người Do Thái về thể chất. Ban lãnh đạo Mỹ qua các phương tiện của cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý, đã cố gắng tách người Do Thái ra khỏi dân số thế giới, là họ kiệt quệ về tinh thần, đổ cho họ mọi trách nhiệm về các hành vi tội ác của mình. Điều này trong thế giới bất ổn định của chúng ta là một hiểm họa tiềm năng to lớn. Đó chính là cội nguồn của THẢM HỌA DO THÁI đang tới gần.

Tại nước Nga, như chúng ta đã thấy ở trên, những kẻ thực sự tạo ra yếu tố cho chủ nghĩa bài Do Thái chính là đám lãnh đạo cuộc tư hữu hóa đen tối, là Chubais và Kox. Đám này có thể coi như những người kế tục công việc của Eihman và Ollendorf.

Sự định hướng người Do Thái theo Mỹ có thể dẫn tới đâu? Tại Ba Lan, hoạt động của Công đoàn Đoàn kết đã phá vỡ tình hình đất nước những năm 1980 – 81 được lãnh đạo bởi trung tâm đầu não gồm các trí thức Do Thái có thế lực, dựa vào Mỹ. Hậu quả của tình hình đất nước khi chuyển qua phe dân chủ phương Tây như thế nào:

Trong số các tổ chức cánh tả và cực tả, thời gian gần đây tích cực hoạt động có Đảng ROP (từ viết tắt, dịch ra có nghĩa là Phong trào Phục hưng Ba Lan). Hệ tư tưởng của nó được thể hiện một phần trong “Lời kêu gọi dân Do Thái và người có nguồn gốc Do Thái”. Tài liệu này mở đầu bằng câu: “Chúng tôi kêu gọi dân Do Thái và người có nguồn gốc Do Thái với yêu cầu họ đừng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Ba Lan”. Có nghĩa là người Do Thái và “người có nguồn gốc Do Thái” bị loại ra khỏi đời sống chính trị – xã hội. Tài liệu đưa ra cơ sở cho sự đòi hỏi này là: người Do Thái là khách ở Ba Lan, mà khách thì không nên chỉ bảo chủ nhà phải bày biện đồ đạc trong nhà như thế nào. Tài liệu nói người Ba Lan rất hiếu khách và biết chịu đựng. Nhưng “sự can thiệp Do Thái” có thể làm họ hết kiên nhẫn…”

Bất cứ công việc “tốt” nào đều có kết cục xứng đáng của nó. Còn người Mỹ thì lại vứt bỏ tay sai của mình. Mỹ luôn hy sinh những kẻ làm việc cho họ nếu điều này có lợi. Ví dụ cụ thể – người Armenia được họ tôn vinh trong cuộc xung đột ở Karabakh. Nhưng bây giờ vì quyền lợi dầu mỏ, Mỹ lại ủng hộ kẻ thù của họ, mặc dù cộng đồng người Armenia rất có thế lực ở Mỹ. Một ví dụ khác – các nhà hoạt động phong trào Hồi giáo như Rabbani, Hecmatiar, Ahmad, Sad Masud khi cần thì được Mỹ tích cực ủng hộ. Sau đó họ bị Mỹ phản bội, trao vũ khí để tiêu diệt họ cho đám tay sai Taliban. Người Mỹ đã hứa là Taliban sẽ không đụng tới nhà cựu lãnh đạo Afghanistan Nazibulla, ông ta được đảm bảo tính mạng. Nhưng Nazibulla đã bị tra tấn cực kỳ dã man, và sau đó bị treo cổ. Đó có lẽ là sự thắng lợi của “dân chủ” kiểu Mỹ. Một trong những thể hiện thái độ đích thực của Mỹ đối với người Do Thái là việc ủng hộ các điều luật phân biệt chủng tộc ở Latvia và Estonia, theo đó chỉ công dân là những người đã sinh sống tại đây trước 1939 hay các hậu duệ của họ. Theo nguyên tắc tiền lệ trong luật pháp, thì chỉ những người đã sống tại Israel trước 1948 hay các hậu duệ của họ mới được coi là công dân của Israel.

Còn điều gì đang xảy ra ngay tại nước Mỹ? Bài Chủ nghĩa bài Do Thái ở Mỹ của V. Nhicolai – Sự thật, 1/08/1996 viết:

…Tại Mỹ có hàng trăm các “nhóm ầm ĩ”, lên tiếng chống “đàn áp Sionist”. Thành viên của các nhóm này thường tự gọi mình là yêu nước và thề thốt tình yêu của mình đối với “đất nước đang bị giặc xâm chiếm”. Chính quyền Washington cũng khinh bỉ gọi những “người yêu nước” này là ZOG, tức là Chính phủ bị Sionist xâm chiếm”.

Nhận thức lý thuyết của những người bài Do Thái ở Mỹ cũng chẳng khác gì quan điểm của các đồng chí của họ tại các nước khác. Một trong những lãnh tụ của họ ở bang Texas George Stout tin rằng người Do Thái kể từ thời Babilon đã “âm mưu chống lại các dân tộc khác; mọi phong trào chính trị đều nằm dưới sự kiểm soát của họ, và họ nắm giữ toàn bộ nền kinh tế và tài chính của thế giới hiện đại”.

Trong lời thề khi gia nhập một trong những tổ chức cực đoan có viết: “Chúng tôi tuyên bố đang ở trong tình trạng chiến tranh, và sẽ không buông súng chừng nào kẻ thù Do Thái chưa bị ném xuống biển, đất đai được hứa cho cha ông chúng tôi chưa được giải phóng…”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý – TC2 1999.

Cuộc chiến tranh thông tin của Mỹ giành quyền thống trị thế giới – Phần V


– Và chưa bao giờ thảo luận riêng về việc này?

+ Không. Chúng tôi đơn giản nhận thấy sự mất cân đối ấy, và cả các cố gắng chen vào chính quyền của các ông trùm tài chính người Nga. Nhưng chúng đều không có kết quả.

–  Tại sao? Và làm sao mà toàn bộ hay gần như toàn bộ tiền của đất nước này lại nằm trong tay người Do Thái?

Chẳng nhẽ không còn những nhà tài phiệt Nga tài giỏi? Nước Nga trước đây cũng có những tài năng buôn bán kiệt xuất như MOrozov, Tretiakov…

+ Anh biết không, – B.A. nói, – tất nhiên trong số người Nga cũng có những ông chủ nhà băng giỏi. Nhưng trong cái nghề này còn yếu tố quan trọng thứ hai – phải có ý chí. Người Do Thái biết thua và lại đứng dậy. Đây có lẽ là kinh nghiệm lịch sử của chúng tôi. Còn ngay cả những người Nga mới tài giỏi nhất cũng không chịu đòn đánh. Họ sau lần thất bại đầu tiên đã rời khỏi cuộc chơi mãi mãi. Đáng tiếc.

– Cứ cho là như thế. Khi toàn bộ quyền lực tài chính đã nằm trong tay các ông, còn chính phủ bao gồm những người nửa Do Thái như Kirienko và Chubais, thì ông có cảm thấy toàn bộ sự mạo hiểm mà các ông gây cho dân tộc chúng ta trong trường hợp nước Nga rơi vào vực thẳm? Các làn sóng bài Do Thái có thể biến thành một cuộc diệt chủng Do Thái mới?

+ Điều này không thể có, – B.A. nói, – Anh có biết bây giờ tỷ lệ chủ nghĩa bài Do Thái ở Nga là bao nhiêu không? Chỉ có 8%! Điều này đã được khoa học kiểm nghiệm.

– Boris Abramovich, tôi bây giờ sẽ không công bố tất cả nội dung hai cuộc gặp của chúng ta. Vấn đề không phải ở đó. Mà ở chỗ là hai tháng trôi qua kể từ ngày chúng ta gặp nhau, nước Nga đã rơi vào vực thẳm tài chính và chỉ còn cách sự điên loạn xã hội có một bước. Còn bản thân ông, và các ông trùm Do Thái khác vẫn chưa nhận thức được đây chính là thảm họa DO THÁIi.

+ Phải, sau khi Liên Xô tan rã và chính quyền Xô Viết sụp đổ thì chúng ta đã gần chiếc bánh hơn những người khác. Tài năng, sự dũng cảm Do Thái và sức mạnh tinh thần đã giúp chúng ta không bỏ lỡ cơ hội và biết nhân nó lên. Nhưng nếu ông nghĩ rằng đấy là công lao cá nhân của mình, thì ông đã sai lầm tai hại! Còn nếu ông cho rằng tự nhiên mình được Chúa trời ban cho thành nhà siêu tài phiệt và siêu trùm, thì ông đã mắc tội nghiêm trọng.

– Vâng, chúng ta được Chúa chọn, và ta là dân tộc được Người lựa chọn. Nhưng ta được chọn không phải để làm giàu cho cá nhân, mà chỉ để dẫn dắt nhân dân thế giới từ nơi man rợ tới thế giới của mười điều răn văn minh – không giết người, không ăn trộm, không ham muốn vợ người thân của mình… Và quá trình này chưa kết thúc, chưa đâu! Do vậy mà chúng ta được ban cho tài năng, lòng dũng cảm, trí óc nhanh nhạy, và cái ý chí mà ông rất mực tự hào ấy.

Sự việc là ông chưa sử dụng tài năng chúa bạn cho, và cả tiền của mình vào cho lợi ích của đất nước và nhân dân, – đó giống như sự tự sát”.

Trong bức thư của mình, Topol đã vén bức mạn che của một trong những chiến dịch lớn nhất của chiến tranh thông tin. Sau cuộc lật đổ dân chủ, đất nước giống như thời xưa bị rơi vào sự cướp bóc. Tại nước Nga diễn ra một cuộc tư hữu hóa đen tối. Tài sản được tích tụ ở Liên Xô qua hàng chục năm và là sở hữu toàn dân, đã bị phân tán với giá rẻ mạt. Kết quả, như lời Berezovski, “quyền lực tài chính nằm trong tay người Do Thái”. Nguyên nhân tạo nên tình trạng này (theo Berezovski) là sự thiếu khả năng của dân Nga: họ “không chịu nổi đòn đánh” (thế các anh hùng ở Stalingrad, Sevastopol, vòng cung Kursk đã “không chịu nổi đòn đánh” hay sao). Tất nhiên một số người có thể xuất phát từ quan điểm chủng tộc như Hitler đã làm. Nhưng theo quy luật thống kê, tình hình thế này không thể xảy ra ngẫu nhiên, thậm chí nếu như có “tài năng, lòng dũng cảm Do Thái, và ý chí tinh thần”. Tất cả được cố tình thực hiện – tiến hành một chiến dịch trong chiến tranh thông tin chống lại người Nga cũng như người Do Thái. Chiến dịch này là một thành phần của kế hoạch của Dulles nhằm đẩy các sắc tộc ở nước Nga chống lại nhau, gây ra các cuộc xung đột sắc tộc.

Các trùm tài phiệt Do Thái nắm trong tay phần lớn của cải của nước Nga chẳng phải là các siêu tài năng, hay siêu kẻ cướp gì. Tất cả thực ra đã được lên chương trình từ trước. Trong quá trình tư hữu hóa, các ông trùm tươn glai được giành cho những phầnngon nhất theo chỉ đạo của Mỹ từ sau hậu trường. Đáng chú ý là các nhân vật gốc Do Thái được đẩy lên trước một cách cố ý và khiêu khích. Nên mọi tội lỗi từ chính sách của mình đối với người dân Liên Xô, Mỹ đã đổ lên đầu người Do Thái, biến họ thành con tin của mình. Về mặt này, hành động của Mỹ rõ ràng mang tính bài Do Thái.

Những kẻ tổ chức trực tiếp hành động này là người điều hành cuộc tư hữu hóa – Chubais và Kox. Chính nhờ hành động của họ mà xuất hiện lớp trùm tài chính Do Thái cực kỳ giàu có. Trong khi đại đa số dân Nga bị bần cùng hóa, chịu đói rét. Chính điều này đã dần dần hình thành cơ sở cho các cuộc xung đột sắc tộc.

Người Do Thái tại Liên Xô và Nga là mục tiêu chú ý đặc biệt trong chiến tranh thông tin. Họ chịu tác động tâm lý tăng cường từ phía phương Tây và đội quân thứ năm của họ ở trong nước, nhằm mục đích chia rẽ họ với quê hướng đích thực của mình – nước Nga, nơi đã cứu họ khỏi bị Hitler tiêu diệt. Người gốc Do Thái đã liên hệ rất chặt chẽ với nhân dân Nga và các dân tộc khác ở Liên Xô. Tại Liên Xô họ có tỷ lệ người có học vấn cao nhất so với mọi nước và mọi dân tộc. Họ đã có đóng góp rất to lớn vào khoa học, văn hóa, nghệ thuật. Có nhiều người là tình báo viên, chỉ huy quân sự, anh hùng Liên Xô. Những Isaac Levitan, Leonid Uchiosov, Mark Vernes, Akady Raikin, Leonid Eitingon, David Dragunski, Lev Landau, Iuli Hariton – là niềm tự hào của đất nước ta. Nhưng tác động thông tin – tâm lý, và tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc đã có tác dụng. Người Do Thái đã rời khỏi Nga đi tỵ nạn hàng loạt.

Tuy nhiên, không phải mọi người Do Thái đều nghe theo những lời tuyên truyền. Trong cuộc đấu tranh chống đám “cải tổ”, đã có nhiều tác giả là người gốc Do Thái. Trong số này có thể kể đến bài của Moisei Gelman, vạch trần hoạt động của Chubais và Brevnov phá hoại nước Nga. Có khá nhiều người Do Thái theo đạo Chính thống như là biểu thị sự sẵn sàng chia sẻ số phận với người dân Nga. Trong số người Do Thái có những người tham gia biểu tình, bị đánh đập bằng dùi cui dân chủ, có những người rất dũng cảm. Tôi từng gặp người cựu chiến binh gốc Do Thái, xuất thân từ một thành phố ở Belorusia, nơi bọn Hitler đã treo cổ người thân của ông. 17 tuổi đã ra mặt trận cùng với Hồng quân. Hơn 40 năm sau, trong thời kỳ đen tối nhất sau cuộc lật đổ dân chủ, ông gần như đơn độc chỉ với vài người cảm tình đã đứng ra tổ chức phong trào phản kháng và phục hồi chị bộ Đảng ở trường đại học. Bị mọi người chỉ tay, nhạo báng, nhưng ông vẫn tiếp tục công việc của mình.

Tuy nhiên những kẻ tổ chức cuộc chiến tranh thông tin đã thành công trong việc lôi kéo một bộ phận người Do Thái. Bọn Sinonist liên hệ chặt chẽ với Mỹ, tiếp tục các hoạt động tích cực chống Nga. Hoạt động này mang tính chất đa dạng. Hình thành những tổ chức chống phát xít giả tạo, tại đó chỉ nói từ “Nga” thôi là nổi lên tiếng kêu gào về chủ nghĩa bài Do Thái. Thế mà có thời những thành viên của các tổ chức đã rời Moskva có tổ chức tới Belorusia để gây mất trật tự, với mục đích phân biệt chủng tộc. Có thể kể ra các vụ khiêu khích. Ví dụ, trên báo “Hôm nay” đã nói về một công dân Israel tên Brener đã “quan hệ với vợ” ngay cạnh tượng Puskin trước con mắt kinh ngạc của mọi người. Việc chiếu phim “Sự cám dỗ cuối cùng của Chúa” trên kênh NTV do Chủ tịch nghị viện Do Thái Nga Gusinski điều hành, đã bị nhiều giới xã hội lên tiếng phản đối, kể cả nhà thờ Chính thống giáo. Đại hội Nghị viện Do Thái ở Nga tiến hành tháng 8 năm 1998 không thể hiện lo ngại về sự diệt chủng người dân Nga, không lên tiếng chống lại sự phân biệt chủng tộc ở Latvia và Estonia, không đòi hỏi tòa án đối với bọn SS ở Latvia đã đánh đập một quân nhân về hưu 75 tuổi từng cứu người Do Thái khỏi bị diệt chủng. Họ lại lên án thời kỳ Xô Viết, khi mà những người tham gia Đại hội đã có được mọi khả năng để học tập và sinh sống bình thường.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý – TC2 1999.

Cuộc chiến tranh thông tin của Mỹ giành quyền thống trị thế giới – Phần IV


Cuộc khủng hoảng tài chính giáng đòn mạnh vào Indonesia: đất nước đang phát triển này bị đẩy ngược khá xa. Mức sống giảm mạnh (2 lần), sự bất ổn lan rộng trong nước. Tổng thống Suharto phải từ chức. Đáng chú ý là các quốc gia với nền kinh tế tự do, hoạt động theo đơn thuốc của IMF lại bị thiệt hại nhiều nhất. Trung Quốc và Đài Loan, nơi sự điều tiết của Nhà nước đóng vai trò lớn, thì gần như không bị thiệt hại. Malaysia để thoát khỏi cuộc khủng hoảng đã vứt bỏ mô hình kinh tế thuộc địa (tự do) do Mỹ áp đặt, và tiến hành các biện pháp điều tiết của Nhà nước.

Về tổng thể, chiến dịch do Mỹ tiến hành đã thành công. Vùng châu Á – Thái Bình Dương, kể cả Nhật Bản, như là các đối thủ cạnh tranh đã bị hất lùi trở lại. Có cả các chiến dịch chiến tranh thông tin bí mật chống Trung Quốc. Chủ nghĩa ly khai ở Tân Cương được hỗ trợ. Những người bảo vệ “quyền con người” đã gần 10 năm tiến hành các chiến dịch liên quan tới sự kiện ở Quảng trường Thiên An Môn, nhưng lại im lặng về các hành động khủng bố chống Sudan của Chính quyền Clinton, giết chết nhiều người vô tội.

Tây Âu và Mỹ

Còn một đối thủ cạnh tranh nữa của Mỹ – đó là Tây Âu, đang phát triển với tốc độ khá cao. Tây Âu đang liên kết với nhau ngày càng chặt hơn, đưa ra đồng tiền chung mới là euro mà có thể sẽ là đối thủ cạnh tranh khó chịu đối với đồng USD. Mặt khác, Mỹ và Tây Âu lại trong một khối quân sự chung là NATO, đang mở rộng từ tây sang đông với nhiệm vụ đặt nước Nga dưới sự kiểm soát toàn diện của mình, chiếm lấy đất đai và tài nguyên của nó. Do vậy chiến lược của Mỹ đặt ra hai mục tiêu. Một là mở rộng NATO sang phía Đông. Hai là có các hành động ngăn chặn lại sự lớn mạnh của Tây Âu, trước hết là nước Đức.

Ta có thể kể ra các hành động theo hướng này.

Thứ nhất là gây tình hình bất ổn ở châu Âu. Chính Mỹ thông qua các điệp viên của mình đã đẩy nhân dân Nam Tư đối chọi với nhau, gây mâu thuẫn căng thẳng giữa họ, và tổ chức cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Những người Serbia chính thống giáo, Serbia Thiên chúa giáo, Serbia Hồi giáo đã bị đẩy đối chọi nhau. Bị tấn công nhiều nhất là người Serbia theo chính thống giáo sống tại Liên bang Nam Tư đã bị cắt xén gần hết, bao gồm Serbia và Monternegro. Tình trạng cấm vận kinh tế và chính trị khắc nghiệt hình thành vào giữa thập niên 90 được mô tả trong bài của Milichevich:

Đất nước bị phong tỏa từ biển bởi hạm đội của Mỹ và NATO. Các nguồn cung cấp dầu mỏ, xăng, gas, thuốc men đều bị cắt đứt. Tất cả vận chuyển đường không, đường sắt và đường bộ đều bị cấm. Tất cả các mối liên hệ chính trị, thương mại, văn hóa với thế giới bên ngoài đều bị cắt đứt. Bầu trời của nước cộng hòa do các phi đoàn của Mỹ kiểm soát. Cái đói, lạnh, thiếu thuốc men, chiếm giữ bầu trời, chiếm giữ biển Adriatic, liên tục đe dọa ném bom – đó là các đòn bẩy “kiến tạo hòa bình” của Clinton và đồng bọn. Trong khi đó thì có bao nhiêu lời rêu rao về chủ nghĩa nhân đạo, quyền con người của Mỹ! Dưới cái ô của những lời nói dối, chúng tiến hành các công việc đen tối của mình, liên tục tạo ra các lò lửa xung đột đẫm máu, ném bom, gây biết bao khổ cực cho người tỵ nạn, đàn bà, trẻ em, người già”.

Zirinovski đã viết cảm tưởng của mình về chuyến thăm Nam Tư:

Công luận thế giới đã phải chứng kiến một cuộc ăn cướp quốc tế do Mỹ và đồng minh của họ là NATO gây ra, tiến hành một chiến dịch quân sự lớn chưa từng có kể từ sau Thế chiến thứ hai tại Bosnia. Khắp nơi các thành phố bị tàn phá. Vukovar trông giống như Stalingrad, một thành phố bị phá trụi hoàn toàn. Có vài vùng gặp nạn đói, bởi đất nước bị cấm vận. Do đó trẻ em chết, người dân thì nghèo khổ. Đang diễn ra một cuộc tiêu diệt người Slave, trước hết là người theo chính thống giáo…

Nam Tư như một đất nước bị xâm lược. Tất cả đều do phương Tây gây ra để đặt Nam Tư bị chia nhỏ dưới sự kiểm soát của mình, nhằm mục đích cướp bóc. Tại Bosnia trong gần 4 năm nội chiến đã có 200 nghìn người bị giết và bị thương, gần 4 triệu người trở thành dân tị nạn. Một phần ba số bệnh viện, một nửa số trường học và hai phần ba nhà ở đã bị phá hủy hay thiệt hại nặng nề”.

Tất cả điều này xảy ra giữa trung tâm châu Âu. Người Serbia bị đè nén, các cố gắng siết cổ họ bằng cấm vận, đe dọa ném bom đã đặt thùng thuốc nổ vào Balcan và mang lại cho Tây Âu mối nguy hiểm tiềm tàng to lớn. Mỹ bằng hành động của mình làm tình hình ở Kosovo thêm căng thẳng. Họ thản nhiên lên kế hoạch ném bom tổng lực Serbia (tới 600 máy bay và tên lửa). Chỉ riêng việc sẵn sàng tiêu diệt hàng loạt những người vô tội đã nói lên tính hiếu chiến và tội lỗi của khối NATO. Đồng thời Mỹ lại đặt mìn dưới chân người Đức. Bởi vì Hitler đã giết hại 1,5 triệu người Serbia, nên hành động của NATO có sự tham gia của nước Đức sẽ được nhiều người coi như việc tiếp tục chính sách tiêu diệt người Serbia của Hitler.

Thứ hai, hành động của Mỹ gắn với việc tạo nên dòng người tị nạn đổ sang Tây Âu. Rất nhiều người từ các nước Hồi giáo muốn chạy qua đây. Việc hình thành số lượng khổng lồ những người mất nhà cửa, bị bần cùng hóa ở Đông Âu sẽ làm tăng mạnh dòng người này. Hậu quả có thể là sự thay đổi thành phần dân số, thất nghiệp gia tăng, thậm chí là xuất hiện bệnh dịch hàng loạt.

Thứ ba, chính sách tiêu diệt khoa học ở nước Nga do bọn tay sai của Mỹ tiến hành sẽ đánh một đòn mạnh vào nước Đức và cả Tây Âu nói chung. Tiềm năng khoa học cơ bản của Liên Xô nếu như được bảo tồn, có thể sẽ đóng vai trò quan trọng trong sự tăng tốc phát triển công nghệ mới của Đức. Còn nhiều hành động ngăn chặn khác của Mỹ đối với Tây Âu, mà hiện giờ vẫn còn nằm trong vòng bí mật.

Đẩy châu Âu tới tình trạng bất ổn và xung đột vũ trang. Mỹ có thể vĩnh viễn loại được nước Đức như một kẻ cạnh tranh.

Mỹ và tương lai của người Do Thái

Cuộc chiến tranh thông tin giành quyền thống trị thế giới của Mỹ đã kéo người Do Thái trên toàn thế giới vào quỹ đạo của mình. Tình thế ở đây khá phức tạp. Một mặt, Mỹ sử dụng rộng rãi trong cuộc chiến tranh thông tin nhiều tổ chức Do Thái. Mặt khác, họ thực hiện chiến dịch ngụy trang bí mật với nhiều người. Trên thực tế Mỹ cố gắng đổ cho người Do Thái trách nhiệm về việc phá hoại nền kinh tế quốc dân, khoa học, văn hóa Nga, việc 8 triệu người chết trong những năm “cải tổ”. Họ thực hiện theo đúng nguyên tắc chính của sắc lệnh 20/1 – chúng ta (người Mỹ) không chịu trách nhiệm. Nhà văn Eduard Topol đã cảm nhận thấy “thảm họa Do Thái” đang tới gần, và ông viết thư cho các ông trùm Bereovski, Gusinski, Smolenski, Khodopkovski và những người khác. Trước đó ông đã hai lần gặp Boris Abramovich Brezovski và thể hiện sự lo ngại về tình hình diễn ra. Chúng tôi trích bức thư của ông:

Boris Abramovich, ý nghĩa thật sự của cuốn sách của tôi là như thế này. Trên truyền hình có chương trình “Búp bê”. Trong đó có các con rối Elsin, Iastrembski, Chernomưdin, Kulikov và nhiều con khác. Những người điều khiển rối chính lại ở ngoài màn hình, tên của ông là Senderovich. Còn trong cuộc đời thực có Chính phủ Nga – Elsin, Kirienko, Fedorov, Stepasin. Nhưng người điều khiển rối chính có một cái tên Do Thái rất dài – Berezovski, Gusinski – Smolenski – Khodopkovski… Tức là lần đầu tiên sau một nghìn năm kể từ khi người Do Thái nhập cư vào nước Nga, chúng ta có được một quyền lực thực tế ở đất nước này. Tôi muốn hỏi thẳng: ông định sử dụng nó như thế nào? Ông định làm gì với đất nước này? Đẩy nó vào vòng chiến tranh hay nâng nó lên từ vũng bùn? Ông có hiểu là điều này nghìn năm chỉ có một lần? Ông có cảm thấy trách nhiệm về hành động của mình trước nhân dân?

+ Anh biết không… – B.A. hơi khó trả lời – Chúng tôi tất nhiên thấy rằng quyền lực tài chính đã nằm trong tay người Do Thái. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ nhìn nó trên quan điểm trách nhiệm lịch sử.

 (còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý – TC2 1999.

Cuộc chiến tranh thông tin của Mỹ giành quyền thống trị thế giới – Phần III


Trong bài [Sẽ dáng trả quân xâm lược, Tri thức – quyền lực Số 31, 1998] còn đưa ra cương lĩnh hành động cụ thể: “Làm gì?”

1/ Có một cuộc chiến tranh toàn diện được triển khai chống lại đất nước ta, được thực hiện bằng các phương pháp thông tin. Mục tiêu của cuộc chiến này là tiêu diệt nước Nga, thâu tóm các tài nguyên quặng, năng lượng và con người của đất nước.

2/ Bất kỳ cố gắng nào che giấu nhân dân về thực chất của cuộc chiến này đều là hành động phản bội tổ quốc và nhân dân. Số phận những kẻ phản bội sẽ được xử theo luật thời chiến.

3/ Tất cả những ai nhận thức được hiểm họa treo trên đầu đất nước, bắt đầu tự giác tuyên truyền các hiểu biết về phương pháp và hình thức chiến tranh thông tin, bằng cách này chống lại nó.

4/ Nỗ lực của từng chiến sĩ được tổ chức trong khuôn khổ Phong trào toàn dân thống nhất vì độc lập và an toàn cho Tổ quốc”.

Thật ra nhân dân ta không được bảo vệ và thiếu tổ chức trong cuộc chiến tranh thông tin. Cần phải vạch trần cơ cấu hình thành các huyền thoại do phương tiện thông tin đại chúng nhồi vào ý thức xã hội, vạch trần bản chất của nó là hướng tới đàn áp và tiêu diệt con người.

Cuộc đấu tranh của Mỹ chống thế giới Hồi giáo

Thế giới Hồi giáo ngày càng có ảnh hưởng đối với các quá trình quốc tế. Nó được đạo Hồi liên kết lại. Đạo Hồi là một tôn giáo của quần chúng, đó là ý thức xã hội, tập thể. Nền tảng của nó tận gốc rễ khác biệt với chủ nghĩa cá nhân và sự thống trị của đồng tiền – hệ tư tưởng của Mỹ. Theo phân tích, Mỹ đã bắt đầu một cuộc chiến tranh thông tin chống lại đạo Hồi. Vai trò chủ đạo được họ đặt vào phong trào Taliban. Chúng tôi trích một số đánh giá trên báo chí có quan điểm khác nhau về phong trào này:

Vấn đề ở chỗ đằng sau lưng đám Taliban đã chiếm Kabul không chỉ có Pakistan, nơi chúng được huấn luyện quân sự, mà còn có Mỹ cung cấp tiền và vũ khí. Chiến lược của Mỹ rất đơn giản: khẳng định mình ở Afghanistan với sự trợ giúp của Taliban, đặt lãnh thổ nước này dưới sự kiểm soát của mình, từ đó gây ảnh hưởng lớn tới các quốc gia bên cạnh, kể cả Iran và Nga. Không có gì khó hiểu, là họ đặt ra một nhiệm vụ: hất Nga ra khỏi Trung Á. Các chuyên gia về Afghanistan nói với tôi rằng sự can thiệp của Mỹ vào đất nước này là một phần của cuộc tấn công tổng thể của Mỹ, đang cố gắng khẳng định tại những điểm quan trọng chiến lược nhất của hành tinh. Thiếu điều này thì không thể hiểu được “cuộc chiến vùng Vịnh”, cuộc ném bom Bosnia và Iraq, sự cô lập Iran, và cố gắng mở rộng NATO tới biên giới phía Tây của Nga.

Chỉ có chính sách toàn cầu này của Mỹ mới cho phép giải thích các sự kiện tưởng như không thể hiểu nổi, ví dụ như sự ủng hộ của Mỹ đối với Taliban ở Afghanistan. Người Mỹ luôn miệng nói về hiểm họa đối với thế giới xuất phát từ chủ nghĩa Hồi giáo chính thống tập trung ở Iran. Trong khi đó họ lại ủng hộ những kẻ chính thống cực đoan như Taliban, đại diện cho phái Hồi giáo hiếu chiến và cực đoan nhất. Các sự kiện ở Kabul cho thấy họ không dừng bước trước bất cứ thứ gì, dùng vũ lực bắt dân Afghanistan theo đạo Hồi, đưa họ quay trở về thời trung cổ. Ngay khi vào được Kabul, Taliban chém và treo cổ hàng trăm người không chịu chấp hành luận sariat”.

“Ngày nay chẳng còn bí mật với ai chuyện phong trào “Taliban”, gồm toàn sắc tộc Pashtun gốc Bahhabit, do tình báo Pakistan và Mỹ chỉ đạo. Mục tiêu là thiết lập sự kiểm soát toàn diện trên lãnh thổ Afghanistan để khai thác các tài nguyên quốc gia, sau này khi thiết lập các đường liên lạc cần thiết sẽ hút cả tài nguyên của nước các nước cộng hòa Trung Á thuộc Liên Xô cũ. Đồng thời Mỹ cũng muốn đẩy dòng chính thống Sunni của Taliban đối chọi với dòng Shiite của Iran. Dành lấy chính quyền là một chuyện, giữ được nó lại là chuyện khác. Để làm được điều ấy Taliban không chỉ cần phải xử sự nhân đạo, mà còn phải áp dụng các biện pháp xây dựng quốc gia. Nhưng những kẻ phá hoại văn hóa, phá hoại toàn bộ dấu tích văn minh ở Kabul, trong cơn cuồng tín đã đập phá máy phát vô tuyến, sơn đen cửa sổ để đàn bà không nhìn ra phố và ngoài phố không thấy họ, liệu họ có khả năng kiến tạo không?”.

“Theo thông tin từ nhiều nguồn, thì đời sống ở Kabul trở nên không thể chịu nổi… Hơn nữa, các đơn vị vũ trang của Taliban làm tất cả để gây cảm giác khó chịu trong dân chúng không chỉ ở Kabul, mà còn ở các tỉnh nằm phía bắc thủ đô mà từ đó xuất phát cả trận tấn công. Ví dụ, tại Baglan các chiến binh đã phá hủy tượng con đại bàng mà dân sở tại coi như vật thánh. Ban lãnh đạo phong trào Taliban ra tuyên bố là việc phá hủy các biểu tượng “xa lạ với đạo Hồi” sẽ vẫn tiếp tục. Nhất là với các tượng phật ở tỉnh Bamian, nơi có nhiều người dòng Shiite sinh sống. Có hai bức tượng được tạc vào trong núi, chiều cao là 55 và 38 mét, được tạo ra khoảng 2 nghìn năm trước và đã sống qua thời xâm chiếm của Thành Cát Tư Hãn và người Mông Cổ. Đã tám lần máy bay của Taliban ném bom bức tượng, nhưng tạm thời chúng vẫn đứng vững”.

Trong các bài này thể hiện đầy đủ các sự kiện, nhưng thiếu sự phân tích các mối quan hệ nhân quả. Cũng giống như cuộc chiến tranh thông tin chống Liên Xô có sử dụng các nhà tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô, Mỹ đã cài vào trong ban lãnh đạo Taliban (thông qua tình báo) những người sẵn sàng thực hiện bất cứ mệnh lệnh nào của họ. Taliban được cung cấp nguồn vũ khí và đạn dược từ kho của Mỹ. Mỹ cũng phải chịu chung trách nhiệm với phong trào Taliban do họ dựng lên và kiểm soát, vì đã báng bổ đạo Phật, vì các hình phạt dã man và tra tấn kiểu trung cổ. Có lẽ họ coi chuyện này là dân chủ và “quyền con người” theo kiểu Mỹ.

Khi Taliban thực hiện xong các nhiệm vụ được giao cho họ, thì Mỹ thoe đúng sắc lệnh 20/1 sẽ tuyên bố không dính líu gì, và tất cả là do bàn tay của đạo Hồi. Khi đó Taliban phải bị tiêu diệt. Đã có các tấm gương cụ thể. Mỹ đã phản bội Hecmatiar, Ahmad Sah Masud, Rabbani khi không cần tới họ. Mỹ đã có kinh nghiệm để tiêu diệt hàng loạt người theo đạo Hồi ở Iraq, tổ chức hại hàng loạt trẻ em Iraq thông qua cấm vận, giết hại những con người vô tội khi bắn tên lửa vào Sudan. Trong tương lai, thế giới đạo Hồi sẽ gặp phải những thảm họa do việc Mỹ thống trị.

Hành động ở Đông Á và Đông Nam Á

Vùng châu Á – Thái Bình Dương, nhất là Nhật Bản đã trở thành kẻ cạnh tranh với Mỹ. Trong nhiều ngành sản xuất hiện đại Nhật đã đuổi kịp Mỹ. Nếu xét theo tốc độ phát triển hồi cuối thập niên 80, thì Nhật sẽ vượt Mỹ về tỷ lệ tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người. Đây là vấn đề quyết định trong việc của các nhà kinh tế Mỹ. Nhưng những năm gần đây, tốc độ phát triển trong vùng này đã chậm lại. Đầu năm 1998 đã nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính, liên quan ít nhiều tới tất cả các nước trong vùng (trừ Trung Quốc và Đài Loan). Xuất hiện nạn thất nghiệp hàng loạt và bất ổn chính trị. Các ông trùm tài chính Mỹ đóng vai trò to lớn trong cuộc khủng hoảng, đẩy các đối thủ cạnh tranh của mình lùi xa về sau. Về sự xuất hiện của cuộc khủng hoảng tại Hàn Quốc được nói tới trong bài [Nỗi buồn “dân chủ” kiểu Pinoche, Sự thật năm 15/01/1998]:

“Cuộc khủng hoảng tài chính đã làm chấn động mạnh Hàn Quốc, nơi cách đó không lâu được coi là biểu tượng cho sự ổn định về kinh tế và tài chính trong vùng. Hồi mùa hè năm ngoái các chuyên gia của IMF còn nói về tình hình tốt đẹp tại vùng này, thế mà hôm nay họ đã buộc phải khuyên chính phủ và các định chế tài chính phương Tây thật mau chóng giúp các nước này thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, bằng cách đổ các khoản tiền khổng lồ vào nền kinh tế các nước này. Theo những thông tin mới nhất thì Hàn Quốc đã nhận được khoản vay 60 tỷ USD. Tại sao Mỹ lại lo lắng về Hàn Quốc như thế? Một số nhà bình luận cho rằng vai trò chính ở đây là yếu tố chính trị: người Mỹ coi Hàn Quốc là bàn đạp chiến lược quan trọng nhất của mình trong vùng châu Á – Thái Bình Dương, và họ không muốn mất nó trong bất cứ điều kiện nào. Theo tôi, đó là yếu tố quan trọng, nhưng không phải là duy nhất. Có điều khác còn quan trọng hơn. Hàn Quốc là nơi tư bản phương Tây cũng như Nhật đầu tư vào. Nhật Bản theo sau các “con hổ” châu Á cũng sắp rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính. Điều này có thể dẫn tới tiền của Nhật được rút khỏi Hàn Quốc, thậm chí cả của Mỹ nữa. Đừng quân rằng Nhật vẫn còn là nhà đầu tư và cho vay lớn nhất của Mỹ. Nếu tư bản của Nhật được rút khỏi Mỹ và Hàn Quốc thì chẳng mấy chốc sẽ có cuộc khủng hoảng toàn cầu. Thoạt nhìn, kết luận này có vẻ mâu thuẫn với môi trường kinh tế ổn định ở Mỹ. Nhưng đừng quên là sự ổn định đó dựa trên món nợ khổng lồ của nước tư bản lớn nhất này”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý – TC2 1999.