Kế “hoãn binh” đe dọa nền dân chủ Malaysia


Trong bài bình luận gần đây đăng trên tờ Malaysiakini, tác giả Steve Oh cho rằng Malaysia đang trong tình trạng khẩn cấp nhưng không phải vì lý do như chính phủ đưa ra là chống COVID-19 mà chỉ là cái cớ “hoãn binh” cho Thủ tướng Muhyiddin Yassin, đồng thời đẩy nền dân chủ Malaysia vào tình trạng “hôn mê”.

Theo bài viết, tình trạng khẩn cấp có thể mang những ý nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau, song điều chắc chắn là một quốc gia trong tình trạng khẩn cấp cần được sự quan tâm khẩn cấp, giống như một người bệnh hoặc bị thương cần được hỗ trợ y tế khẩn cấp. Giới quan sát khẳng định rằng việc ban bố tình trạng khẩn cấp chỉ là cái cớ bởi Thủ tướng Muhyiddin Yassin sợ gặp phải Waterloo (một địa danh của Bỉ nơi xảy ra trận chiến vào năm 1815, đánh dấu sự kết thúc những trận chiến của Napoleon) nếu các cuộc bầu cử đột xuất diễn ra tại thời điểm này.

Rốt cuộc, không có quốc gia nào khác trên thế giới có nhiều ca nhiễm COVID-19 đình chỉ hoạt động quốc hội của họ. Hậu quả là đưa nền dân chủ vào trạng thái “hôn mê”. Vào thời điểm này, một quốc gia cần tất cả những nghị sĩ được bầu, dù có năng lực tốt hay không tốt, để nỗ lực giải quyết cuộc khủng hoảng quốc gia và toàn cầu này, chứ không phải để cho nhiều thành viên của chính phủ và phe đối lập rơi vào tình trạng bất khả kháng vì quốc hội ngừng hoạt động.

Việc ban bố tình trạng khẩn cấp không giúp ích gì mà còn gây trở ngại vì điều này làm gia tăng nguy cơ bất trắc đối với tình hình dịch bệnh vốn đang gây không ít hoang mang cho cộng đồng. Chính phủ có tất cả quyền lực cần thiết để chiến đấu với COVID-19 mà không cần sử dụng sức mạnh của việc ban bố tình trạng khẩn cấp. Malaysia đã từng ban bố sắc lệnh này trước đây. Công tác điều hành và sống trong tình trạng khẩn cấp chỉ gây khó khăn hơn cho cuộc sống của mọi người. Cho dù cái cớ nói trên bị chỉ trích nhiều như thế nào, người ta không thể bỏ qua tình trạng khẩn cấp thực sự để không bị lây nhiễm COVID-19 và không bị hủy hoại bởi chủng virus này. Một quốc gia thất bại trong cuộc chiến chống COVID-19 còn biểu hiện những thực trạng gây ảnh hưởng hơn rất nhiều so với chủng virus có thể đánh bại được này. Các “virus” vô hình và cứng đầu đang lây nhiễm vào Malaysia gây ra một mối đe dọa lâu dài hơn cho đất nước. Vì vậy, tác giả bài viết cho rằng việc ban bố tình trạng khẩn cấp thực sự không chỉ nhằm đối phó với đại dịch COVID-19 và sự quản lý yếu kém như một chính trị gia đã viết. Thay vào đó, tình trạng khẩn cấp ở đây nhằm đối phó với công tác quản lý yếu kém của toàn thể đất nước nói chung. Ngày nay, mạng xã hội không thiếu những bài báo phẫn nộ, chủ yếu do người Mã Lai viết, những người đã chán ngấy các nhân vật chính trị gia mà họ từng ủng hộ bởi họ đã trở thành những kẻ tham nhũng, phản bội và xấu hổ về chủng tộc và tôn giáo của họ kèm theo đó là lừa dối quốc gia.

Thiếu năng lực

Dịch bệnh, thậm chí là một đại dịch, không phải là lý do để vô hiệu hóa nền dân chủ của một quốc gia, trừ khi có sự hỗn loạn hoàn toàn và nguy cơ gây bất ổn dân sự. Việc ban bố tình trạng khẩn cấp là một cách đánh lạc hướng vô ích và không hiệu quả khi nó vi phạm Lệnh kiểm soát dịch chuyển (MCO) vẫn đang được áp dụng ở nhiều nơi tại Malaysia.

Đại dịch COVID-19 ập đến không báo trước. Các vấn đề khác đang lây nhiễm trong nền chính trị Malaysia mang tính chất mãn tính, một số vấn đề mang tính hệ thống, trong khi một số vấn đề khác mang tính hệ tư tưởng, khiến một quốc gia phải đối mặt với nhiều vấn đề khác nhau và một tương lai không được đảm bảo.

Các vấn đề vẫn tồn tại không được giải quyết không phải vì chính phủ thiếu năng lực mà vì sự chủ tâm và do thiếu một chính quyền trong sạch, hoạt động hiệu quả, đáng tin cậy, công bằng và công tâm. Đơn giản là không có cơ chế an toàn cho người dân khi những người nắm quyền phải sử dụng chính trị như một công cụ bất công, vi hiến và thậm chí bẩn thỉu. Đại dịch xảy ra và sẽ kết thúc. Tuy nhiên, nếu không có cải cách triệt để thì Malaysia sẽ phải hứng chịu những hậu quả tồi tệ kéo dài mà một hệ thống tham nhũng gây ra, một hệ thống do giới lãnh đạo không phải do dân bầu ra, không đáng tin cậy và vô kỷ luật vận hành.

COVID-19 có thể không phải do con người tạo ra nhưng “những virus hủy diệt quốc gia” lại do con người tạo ra và những loại “virus” này là sản phẩm của hệ thống chính trị và nguy hiểm hơn nhiều, lan rộng hơn và gây ra nhiều hệ quả hơn. Làm thế nào để có thể tiêm phòng chống lại “virus” lạm dụng, tham nhũng và đồi bại về đạo đức trong một chính phủ rạn nứt nghiêm trọng do các chính trị gia không đáng tin cậy lãnh đạo? Người dân từng hy vọng cuộc tổng tuyển cử năm 2018 (GE14) sẽ đem lại “phương thuốc” chưa bệnh cho tìnht rạng trên, song chỉ để nhận ra đó là một trò ngu ngốc. Tuy nhiên, nếu bạn không thành công, hãy thử lại nhiều lần cho đến khi đạt được nguyện vọng của người dân về chính phủ quản trị tốt. Đừng bao giờ bỏ cuộc.

Cách điều trị là loại bỏ

Thay đổi chính trị không phải là trò chơi dành cho những trái tim yếu ớt. Đó là một thách thức cho những người tuyệt vọng bị đè nén bởi nạn tham nhũng của các chính trị gia. Nếu bạn từ bỏ sự phấn đấu để có được quản trị tốt thì hãy từ chức để sống trong tình trạng thất bại. Và hãy chuẩn bị chịu đựng.

Đã đến lúc những người Malaysia có cùng chí hướng từ mọi tầng lớp xã hội đoàn kết lại tại thời điểm quan trọng và thuận lợi nhất trong lịch sử để loại bỏ những kẻ phản bội chính, những kẻ cướp bóc, những kẻ cuồng tín tôn giáo, những kẻ cùng tín và những kẻ thù thực sự của Malaysia đãđược chứng minh. Nguy cơ xảy ra tình trạng phân tán số phiếu trong cuộc tổng tuyển cử lần thứ 15 (GE15) là có thật. Những người thúc đẩy cải cách muốn thay thế các chính trị gia đương nhiệm ở Putrajaya phải vượt lên trên tham vọng cá nhân và chính trị để áp dụng một chiến lược thành công chung. Nếu có một ý chí, sẽ có một con đường. Các cử tri không được để những virus độc hại mang màu sắc chính trị của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, tôn giáo cực đoan và tham nhũng lây nhiễm vào hệ thống chính trị và đánh lừa họ. Hãy tăng cường khả năng kiểm tra chéo giữa các cơ quan ban ngành. Do đó, điều quan trọng là tăng cường vai trò của một nền dân chủ hoạt động hiệu quả. Và nếu hệ thống bị “nhiễm bệnh”, hãy điều trị bằng cách loại bỏ “virus” gây bệnh. Kêu gọi bầu cử và loại bỏ những chính trị gia làm lây lan “virus”. Không bỏ phiếu cho các chính trị gia tham nhũng và bỏ phiếu miễn nhiệm khi họ bị phát hiện là tham nhũng. Chỉ các cử tri mới có thể sử dụng “vaccine bầu cử” quan trọng trước khi cuộc tổng tuyển cử lần thứ 15 (GE15) diễn ra vì chính phủ đương nhiệm sẽ không để các chính trị gia khác kêu gọi tiến hành một cuộc bầu cử bất ngờ. Ban bố tình trạng khẩn cấp là đòn phủ đầu ngăn chặn mà mọi người đã tiên liệu được.

Trước khi xảy cuộc bạo luận chính trị tại khách sạn Sheraton ở thủ đô Kuala Lumpur, chính phủ đã ở trong tình trạng bất ổn. Niềm tin của công chúng vào chính phủ hiện đang ở mức thấp nhất trong thời gian gần đây. Mặc dù đại dịch COVID-19 giống như một “cơn giông tố” đang càn quét, để lại một làn sóng virus vô hình kéo dài, nạn phân biệt chủng tộc, tôn giáo quá khích, tham nhũng, bỏ bê nhu cầu cốt yếu đang gây ra những cơn gió độc mãn tính mang theo dịch bệnh.

Malaysia cần được điều trị khẩn cấp. Liệu Thủ tướng Muhyiddin Yassin có đủ khả năng thực hiện những thay đổi triệt để hay không là một vấn đề cần bàn. Nếu không cải cách, Malaysia sẽ chìm nghỉm. Muhyiddin cần phải suy nghĩ thấu đáo, song câu hỏi là phải làm như thế nào trong bối cảnh ông ta đang rơi vào vực thẳm chính trị? Ông bị “trói tay, trói chân” về mặt chính trị. Việc ban bố tình trạng khẩn cấp chỉ là kế “hoãn binh” cho ông ta và những người khác.

Những tội phạm chính trị vẫn đang hoạt động và là mối đe dọa đối với nhà nước pháp quyền. Họ không chỉ sở hữu hàng đống tiền mà còn liều lĩnh điều hành chính phủ. Malaysia phải đối mặt với một tương lai ảm đạm nếu không sửa chữa những cách làm sai và loại bỏ những chính trị gia bị kết án.

Vaccine chống lại sự quản lý tồi mang tên “DVIKON” – viết tắt của cụm từ “Don’t Vote In, Kick Out Now” (tạm dịch: Đừng bỏ phiếu, hãy loại bỏ) những phần tử “con sâu làm rầu nồi canh” trong chính trị. Và những chính trị gia này sẽ phải đối mặt với phản ứng dữ dội còn kinh hoàng hơn cả việc mất chức.

Nguồn: TKNB – 03/02/2021.

Sách lược phát triển kinh tế biển của Malaysia – Phần III


Chính sách biển quốc gia là một cách gọi chung để chỉ các quy hoạch chính sách kế hoạch vĩ mô hoặc cụ thể của nhà nước và chính phủ trong giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực biển, nó thường thể hiện trong các văn bản chính sách cụ thể. Trên cơ sở nhu cầu của chiến lược phát triển quốc gia, cùng với các vấn đề và thách thức đối với phát triển kinh tế biển của Malaysia, điều đặc biệt quan trọng là việc xác định chiến lược phát triển biển và thực hiện các cơ chế cụ thể của các chiến lược liên quan thông qua việc quy hoạch chính sách hợp lý. Với sự hỗ trợ của Kế hoạch chuyển đổi kinh tế, Tầm nhìn quốc gia 2030 và Chương trình quốc gia 2020, chiến lược phát triển kinh tế biển của Malaysia đặt trọng điểm vào 3 ngành nghề trụ cột của kinh tế biển là thúc đẩy khai thác tài nguyên dầu mỏ, vận tải biển và du lịch biển. Cụ thể, trong lĩnh vực khai thác tài nguyên dầu mỏ, thông qua ngoại giao thực dụng để xây dựng môi trường hòa bình, hóa giải những tranh chấp tài nguyên, thực hiện tối đa hóa lợi ích dầu mỏ quốc gia. Trong phát triển kinh tế vận tải biển, cải thiện hệ thống hỗ trợ dịch vụ trong nước, tăng cường kết nối với sáng kiến “Vành đai và con đường” của Trung Quốc, phát triển quan hệ đối tác quốc tế và khu vực, cải thiện hiệu quả môi trường trong và ngoài nước để phát triển kinh tế vận tải biển. Trong kinh tế du lịch biển, trên cơ sở tăng cường quy hoạch, cần chú trọng cả tuyên truyền quảng bá và bảo vệ tài nguyên để xây dựng nền tảng phát triển kinh tế du lịch biển.

2/ Khai thác tài nguyên dầu mỏ ở khu vực biển tranh chấp

Nguồn tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi là một trong những nền tảng quan trọng nhất trong phát triển kinh tế biển của Malaysia, cũng là một nguồn quan trọng đối với doanh thu tài chính quốc gia Malaysia. Chiến lược quốc gia của Malaysia về khai thác tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi chủ yếu dựa vào Đạo luật phát triển dầu khí ban hành năm 1974 và Chính sách năng lượng quốc gia năm 1979. Hai văn kiện này đã xác định việc khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ là nội dung chính trong chính sách năng lượng đa dạng, bền vững của Malaysia. Hiện nguồn năng lượng dầu mỏ của Malaysia chủ yếu là ở ngoài khơi. Malaysia đã phát hiện tổng cộng 45 mỏ dầu và 47 mỏ khí chủ yếu ở lưu vực Mã Lai, Sarawak, Sabah. Trong đó, khu vực Sarawak và Sabah đều nằm trong vùng biển Nam Hải, có thể nói Nam Hải là nơi sản xuất dầu mỏ chủ chốt của Malaysia. Trữ lượng dầu mỏ của Malaysia tại khu vực Nam Hải lớn nhất khoảng 5 tỷ thùng, đứng đầu trong số các quốc gia ven biển ở Nam Hải. Những năm 1990, 70% lượng dầu mỏ xuất khẩu của Malaysia là từ khu vực Nam Hải. Năm 2017, do bị tác động bởi khó khăn về tài chính, Malaysia tuyên bố đầu tư 2 tỷ USD để thành lập công ty thăm dò dầu mỏ và khí tự nhiên ngoài khơi tại Sarawak và hợp tác với Công ty dầu khí quốc gia được thành lập trước đó tiến hành hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ở Nam Hải. Có thể thấy, mức độ khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải có tác động tương đối lớn đến tình hình tài chính quốc gia của Malaysia, liên quan đến tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Tầm quan trọng của kinh tế biển với trọng điểm khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải cũng quyết định đến việc Malaysia cần phải định ra chính sách Nam Hải hợp lý, đặc biệt là chính sách ở những vùng biển tranh chấp, điều này gắn với việc xây dựng môi trường hòa bình để khai thác dầu mỏ của Malaysia. Một khi xảy ra xung đột giữa Malaysia với các nước xung quanh tại Nam Hải, việc khai thác tài nguyên dầu mỏ tất yếu sẽ bị ảnh hưởng. Kể từ những năm 1980 trở lại đây, một trong những nội dung quan trọng trong chính sách Nam Hải của Malaysia là thúc đẩy hòa bình và ổn định ở Nam Hải. Năm 2018, cựu Thủ tướng Mahathir đã chỉ ra tốt nhất là Malaysia không có tàu quân sự hoạt động ở vùng nội thủy Nam Hải và eo biển Malacca, ông mong muốn Nam Hải là vùng biển hòa bình, giao thương và thương mại. Không khó để nhận ra, mặc dù vùng biển Nam Hải tồn tại tranh chấp, nhưng việc duy trì và tạo ra những lợi ích của Malaysia tại Nam Hải mới là mục tiêu hàng đầu cảu Chính phủ Malaysia, chính sách chủ yếu là thông qua ngoại giao thực dụng để xây dựng môi trường hòa bình, giải quyết các tranh chấp tài nguyên, thực hiện tối đa hóa lợi ích dầu mỏ ngoài khơi quốc gia.

2.1/ Xây dựng môi trường xung quanh hòa bình để Malaysia khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải

Môi trường hòa bình xung quanh là vấn đề then chốt đối với Malaysia trong khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải. Tranh chấp biên giới giữa các nước xung quanh bắt đầu gia tăng chủ yếu gắn liền với việc phát hiện tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải. Trong các nước ASEAN, các nước có tranh chấp tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải với Malaysia chủ yếu gồm Thái Lan, Việt Nam, Brunei và Indonesia. Tranh chấp giữa Malaysia với những nước này bắt đầu bùng phát từ cuối những năm 1960. Năm 1968, Ủy ban điều phối thăm dò chung nguồn tài nguyên khoáng sản ở vùng biển ngoài châu Á thuộc Ủy ban kinh tế Liên hợp quốc về châu Á và Viễn Đông công bố báo cáo điều tra thực địa đã cho thấy ở khu vực Nam Hải có nguồn tài nguyên dầu mỏ phong phú, đã kích thích sự ham muốn mở rộng lãnh thổ của các nước xung quanh Nam Hải. Từ đó về sau, các nước xung quanh Nam Hải đua nhau hướng sự tập trung vào thăm dò và khai thác dầu mỏ ở Nam Hải, Malaysia cũng từng bước tham gia vào đó, việc duy trì lợi ích kinh tế với trọng tâm là khai thác năng lượng ở Nam Hải trở thành những tính toán quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia của Malaysia và Malaysia cũng trở thành một trong những quốc gia ASEAN sớm nhất phát triển kinh tế thông qua khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải.

Để xoa dịu mâu thuẫn với các nước liên quan, thực hiện tối đa hóa lợi ích dầu mỏ, chính sách mà Malaysia lựa chọn là thông qua khai thác chung, thực hiện hợp tác năng lượng, tích cực xây dựng môi trường hòa bình khu vực khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải. Malaysia áp dụng mô hình khai thác chung nguồn tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải, nội dung cốt lõi của mô hình này là Malaysia và các nước láng giềng thiết lập khu vực quản lý chung theo tỷ lệ mỗi bên là 50%, thực hiện cùng nhau chia sẻ tài nguyên. Malaysia đã thực hiện hợp tác khai thác dầu mỏ ở Nam Hải đầu tiên với Thái Lan. Xung đột chủ yếu giữa Malaysia và Thái Lan là vấn đề phân định thềm lục địa. Năm 1979, hai bên đã ký Bản ghi nhớ, cùng khai thác chung tài nguyên biển ở khu vực tranh chấp và đã thành lập cơ chế đàm phán gồm các ngành như ngoại giao, năng lượng, tài chính, hải quân, trải qua 11 năm, cuối cùng đã đạt được thỏa thuận vào năm 1990. Năm 1992, tại thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia, hai nước đã thành lập cơ chế khai thác chung Malaysia – Thái Lan. Năm 1994, hai bên đã ký thỏa thuận khai thác chung trong thời hạn 50 năm và thành lập Cơ quan quản lý chung Malaysia – Thái Lan để điều phối những mâu thuẫn lợi ích ở Nam Hải. Biện pháp này đã làm cho chính sách xây dựng môi trường khai thác tài nguyên hòa bình của Malaysia bắt đầu có hiệu quả rõ rệt. Malaysia và Việt Nam cũng tồn tại những tranh chấp tương tự. Năm 1992, hai bên đã ký Bản ghi nhớ để giải quyết vấn đề này, cũng quyết định cùng khai thác chung nguồn tài nguyên biển ở vùng biển tranh chấp. Tiếp đó, hai bên phân định khu vực khai thác chung, ký thỏa thuận thương mại khai thác chung, thành lập Ủy ban điều phối chịu trách nhiệm sắp xếp tổng thể công việc khai thác cụ thể. Brunei và Malaysia tồn tại xung đột trên biển tương đối lớn. Năm 2009, cuối cùng hai bên đã ký thỏa thuận, giải quyết tranh chấp phân định biên giới lâu dài. Năm 2010, Malaysia và Brunei đồng ý khai thác chung tại hai khu vực gần đảo Borneo, ký kết thỏa thuận khai thác chung có hiệu lực 40 năm, tháng 9/2011, tuyên bố bắt đầu khoan thăm dò. Tiếp đó, Malaysia giải quyết tranh chấp biên giới với quốc gia láng giềng Indonesia và cuối năm 2011 hai bên đã đạt được thỏa thuận cùng nhau khai thác tài nguyên dầu mỏ ở phía Tây đảo Borneo trong khu vực tranh chấp giữa hai nước. Đến thời điểm đó, ngoại giao kinh tế biển với các nước xung quanh của Malaysia đã có những tiến triển rất quan trọng, thực hiện được khai thác chung tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi với gần như toàn bộ các quốc gia láng giềng, cơ bản tạo được môi trường hòa bình với các nước xung quanh trong khai thác tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi.

Ngoài ra, ngày 6/6/2011, tại Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á – Shangri-La, Thủ tướng Malaysia khi đó là Najib đã đề xuất thành lập cơ quan chuyên môn, tập hợp tất cả các nước lên tiếng có chủ quyền tại khu vực này, bỏ qua thành kiến chủ quyền, hợp tác khai thác tài nguyên ở Nam Hải, đặc biệt là tài nguyên dầu mỏ. Có thể thấy, tư duy của Malaysia vẫn là hợp tác khai thác là chính, xây dựng môi trường khai thác hòa bình. Cần phải nói rằng, trong hợp tác khảo sát và khoan thăm dò, các bên tranh chấp đã ngầm đạt được thỏa thuận, có thể thiết lập nguyên tắc hợp tác và quy tắc hành động mang tính tạm thời, từ đó tạo môi trường khai thác tài nguyên ổn định để các công ty tài nguyên giải quyết xung đột. Chính sách hợp tác khai thác chung năng lượng, trong mấy chục năm qua đã xoa dịu mâu thuẫn của Malaysia với các quốc gia ASEAN láng giềng. Malaysia tích cực xây dựng môi trường hòa bình khai thác tài nguyên dầu mỏ tại Nam Hải, xây dựng nền tảng khu vực tốt đẹp để giành được lợi nhuận của mình.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

CVĐQT số 11/2020.

Sách lược phát triển kinh tế biển của Malaysia – Phần II


Sự chú trọng toàn diện phát triển kinh tế biển của Malaysia chủ yếu khởi đầu từ cuối những năm 1980. Trước hết là tăng cường xây dựng cơ chế phát triển biển quốc gia. Năm 1986, hội nghị nội các Liên bang Malaysia đã quyết định thành lập Ủy ban hàng hải quốc gia, chịu trách nhiệm quy hoạch và điều phối các vấn đề biển. Năm 1999, Cục Hàng hải Malaysia được thành lập, có trách nhiệm thúc đẩy hợp tác chiến lược về lĩnh vực biển giữa Malaysia với quốc tế, phát huy tiềm năng nghiên cứu và phát triển biển, thúc đẩy, tăng cường mục tiêu hợp tác giữa các cơ chế hàng hải trong nước. Mặt khác, xây dựng kế hoạch thống nhất và quy hoạch phát triển ngành hàng hải, tăng cường xây dựng vận tải biển, thương mại và xây dựng cảng biển, làm tốt công tác bảo vệ nguồn tài nguyên biển. Năm 1990, Malaysia thông qua Kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ 6 giai đoạn 1990 – 1995, đề xuất tăng cường chú trọng thương mại biển, ngành chế tạo hàng hải trên cơ sở phát triển ngành dầu mỏ ngoài khơi và du lịch biển. Trong một vài kế hoạch phát triển quốc gia sau đó, ngành vận tải biển của Malaysia cũng được chú trọng hơn. Trong nhiều năm qua, các cảng chủ yếu của Malaysia như Port Klang, Tanjung Pelepas, Penang Johor, Kuantan, Kemaman, Bintulu, Malacca… phát triển tương đối nhanh. Năm 2018, lượng hàng hóa xuất nhập qua 8 cảng này chiếm 64% tổng lượng hàng hóa qua các cảng của Malaysia. Theo số liệu của hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển, Malaysia đứng thứ 5 thế giới về phương diện kết nối tuyến đường biển, thậm chí còn vượt cả Hà Lan và Mỹ. Cần phải nói rằng, kinh tế vận tải biển là ngành thúc đẩy chủ chốt của nền kinh tế biển Malaysia với thương mại là chủ đạo.

Tuy nhiên, về tổng thể, hiện Chính phủ Malaysia không có chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, chuyên biệt, ưu thế biển của Malaysia vẫn chưa được phát huy đầy đủ, tiềm lực kinh tế biển cần phải được đẩy mạnh khai thác hơn nữa, đồng thời việc phát triển kinh tế biển cũng đang đối mặt với một loạt các thách thức.

1.3/ Những thách thức đối với phát triển kinh tế biển

Mặc dù, Chính phủ Malaysia ngày càng coi trọng phát triển kinh tế biển, nhưng do sự thay đổi của môi trường địa chính trị, cục diện thương mại biển, kế hoạc phát triển biển quốc gia và cơ chế bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn còn khiếm khuyết, phát triển kinh tế biển Malaysia còn bị động, đối mặt với một số thách thức sau:

Một là, việc khai thác dầu mỏ ngoài khơi ở Nam Hải đang trong bối cảnh tranh chấp. Việc khai thác dầu mỏ và khí tự nhiên của Malaysia gần như thực hiện toàn bộ trên biển, đặc biệt là khu vực Sabah và Sarawak ở Nam Hải. Hiện nay, Chính phủ Malaysia đã nhận thức được khả năng phòng thủ quân sự của họ còn hạn chế, cho rằng quân đội dựa vào thực lực hiện có của mình phải đối mặt với những thách thức để bảo vệ lợi ích quốc gia trong vùng biển tranh chấp. Do không thể bảo vệ khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ bằng quân sự, nên việc tạo ra một môi trường hòa bình để khai thác tài nguyên là vô cùng quan trọng đối với Malaysia. Trước năm 2010, Malaysia và các nước Thái Lan, Việt Nam, Brunei, Indonesia đã cơ bản giải quyết được vấn đề khai thác dầu mỏ ở vùng biển tranh chấp. Tuy nhiên, vẫn chưa giải quyết được mâu thuẫn với Trung Quốc, tranh chấp ở Nam Hải giữa Trung Quốc và Malaysia cũng luôn xoay quanh vấn đề khai thác tài nguyên dầu mỏ của Malaysia. Chẳng hạn, năm 2013, tàu hải cảnh của Trung Quốc đã thả neo tại cụm bãi cạn Nam Luconia, cách Sarawak của Malaysia chỉ có 84 hải lý và từng gây ra những căng thẳng đối với Malaysia và phải triệu tập phiên điều trần trước quốc hội. Phải nói rằng những tồn tại về tranh chấp ở biển Nam Hải giữa Trung Quốc và Malaysia là một thách thức biển tiềm ẩn đối với Malaysia.

Hai là, ngành vận tải biển gặp phải những trở ngại, không đủ sức cạnh tranh hàng hải trong khu vực. Thời gian gần đây, do thương mại toàn cầu chậm lại và ở vào vị thế yếu hơn trong cạnh tranh hàng hải so với Singapore, ngành vận tải biển của Malaysia càng giảm mạnh, Liên minh hãng tàu mới gồm có cac hãng tàu như CMA, CGM, COSCO, Orient Overseas, Evergreen đã chuyển dịch hoạt động kinh doanh sang Singapore, khiến chỉ riêng cảng Port Kelang của Malaysia đã mất đi hơn 1/3 doanh thu. Trong cạnh tranh với Singapore, mặc dù chi phí lao động cao hơn Malaysia nhưng quãng đường qua eo biển Malacca đến cảng Singapore ngắn hơn 600 km so với đến cảng Port Kelang nên tiết kiệm được chi phí đáng kể. Ngoài ra, cơ sở hậu cần của cảng Singapore hiện đại hơn cảng Port Kelang, hơn nữa Chính phủ Singapore không ngừng đầu tư kinh phí và khám phá những công nghệ mũi nhọn như xe dẫn đường tự động không người lái hoặc máy cảm biến thông minh. Có thể nói rằng, sự sụt giảm năng lực cạnh tranh hàng hải ở tầm khu vực và toàn cầu đã hạn chế sự phát triển của ngành vận tải biển Malaysia.

Ba là, vấn đề phá hoại nguồn tài nguyên trong phát triển kinh tế biển đang ngày càng nghiêm trọng. Cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa và khai thác tài nguyên biển gia tăng, Malaysia cũng đối mặt với rất nhiều thách thức trong việc duy trì lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Chẳng hạn, việc đánh bắt quá mức và mang tính tận diệt, axit hóa đại dương, phá hoại hệ sinh thái ven biển, sự cố tràn dầu và xâm nhập của sinh vật, ngoài ra có những mối đe dọa mới như rác thải đại dương… Sự tồn tại của những vấn đề này gây bất lợi đối với việc bảo vệ hệ sinh thái và tài nguyên biển, cơ bản đã tác động đến cơ sở vật chất trong phát triển kinh tế biển của Malaysia.

Bốn là, Chính sách biển quốc gia thiếu cơ chế điều phối. Từ trước đến nay, Chính phủ Malaysi thiếu cơ chế hàon thiện để điều phối sự phát triển biển quốc gia. Hai kế hoạch phát triển quốc gia của Malaysia giai đoạn 1991 – 2000 đã chỉ ra rằng chính phủ chưa tận dụng hết tiềm lực biển, sự chồng chéo thẩm quyền của Liên bang, các bang, khu vực tư nhân đã dẫn đến các vấn đề như quy hoạch và phát triển cảng biển không nhịp nhàng, chính sách vận tải biển của quốc gia không cụ thể. Báo cáo quốc gia năm 2006 của Malaysia đã chỉ ra do nước này không có chính sách rõ ràng để quản lý và sử dụng tài nguyên ven biển và đại dương nên đã gây ra sự chồng chéo trong quản lý không gia biển của các ngành khác nhau. Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng việc nhà nước thiếu cơ chế điều phối giữa các cảng biển là một trong những nguyên nhân chính khiến hai cảng lớn nhất của Malaysia là cảng Tanjung Palapas và Port Kelang tụt hậu so với Singapore. Có thể thấy việc thiếu cơ chế điều phối là trở ngại chính của sự phát triển kinh tế biển của Malaysia. Việc lựa chọn phương hướng phát triển kinh tế biển của Malaysia được quyết định bởi phương hướng chiến lược kinh tế quốc gia. Từ khi thành lập nước đến nay, Malaysia đã thông qua kế hoạch phát triển và chuyển đổi mô hình quốc gia, công bố tầm nhìn và kế hoạch phát triển quốc gia để xác định mục tiêu và phương hướng phát triển trong tương lai. Một trong những đại diện đó là Kế hoạch 5 năm phát triển quốc gia. Malaysia xây dựng kế hoạch phát triển 5 năm một lần, tính đến năm 2020 đã đưa ra 11 kế hoạch 5 năm, 2021 – 2025 là thời gian thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của nước này với mục tiêu chủ yếu là tăng cường thực lực kinh tế, môi trường bền vững và tái tạo xã hội. Hai là, tầm nhìn và kế hoạch phát triển quốc gia. Hiện tầm nhìn quốc gia được công bố của Malaysia được chia thành Tầm nhìn quốc gia 2020 và Chương trình quốc gia 2030. Tầm nhìn quốc gia 2020 là phương châm chính trị được cựu Thủ tướng Mahathir đưa ra tại Hội nghị Kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ 6, với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 Malaysia trở thành quốc gia tiên tiến; Chương trình quốc gia 2030 là quy hoạch do cựu Thủ tướng Najib đưa ra năm 2016 với mục tiêu là thực hiện kinh tế phát triển bền vững và chuyển đổi kinh tế. Ngoài ra, ngày 25/10/2010, Malaysia đã khởi động Kế hoạch chuyển đổi kinh tế quốc gia, mục tiêu là nâng thu nhập bình quân đầu người tăng từ 6700 USD năm 2010 lên 15000 USD năm 2020, đưa Malaysia phát triển thành nền kinh tế thu nhập cao.

Trong kế hoạch, tầm nhìn và chương trình phát triển quốc gia gần đây của Malaysia, kinh tế biển đều là một nội dung quan trọng. Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của Malaysia (2021 – 2025) đãoci inh tế xanh đại dương, công nghệ xanh và tái sinh nguồn năng lượng đại dương là nội dung quan trọng trong phát triển bền vững. Mục tiêu chính của Chương trình quốc gia 2020 và Tầm nhìn quốc gia 2030 đều bao gồm thúc đẩy phát triển bền vững biển, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa biển, mà Kế hoạch chuyển đổi kinh tế năm 2010 của Malaysia nhằm thực hiện các điều chỉnh chiến lược đối với 12 lĩnh vực phát triển trọng điểm quốc gia, 12 lĩnh vực đề cập đến các nội dung như tài nguyên dầu mỏ, du lịch biển, ngành nghề chế tạo biển. Cần phải nói rằng những chiến lược phát triển quốc gia này đã đưa ra sự chỉ dẫn đối với Malaysia trong lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế biển. Mặc dù, Malaysia đã nâng cao mức độ coi trọng kinh tế biển, nhưng đáng tiếc nước này hiện vẫn không có kế hoạch phát triển kinh tế biển quốc gia chuyên biệt, chiến lược phát triển kinh tế biển chủ yếu thể hiện trong kế hoạch và tầm nhìn phát triển kinh tế quốc gia.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

CVĐQT số 11/2020.

Sách lược phát triển kinh tế biển của Malaysia – Phần I


Malaysia có biển bao quanh, là quốc gia biển điển hình ở khu vực Đông Nam Á. Cùng với tầm quan trọng của biển trong phát triển kinh tế và chính trị thế giới ngày càng gia tăng, việc dựa vào tài nguyên biển và ngành nghề biển để thúc đẩy kinh tế biển trở thành nội dung quan trọng trong phát triển và chuyển đổi kinh tế quốc gia của Malaysia. Ngày 27/3/2019, tại Hội nghị hàng hải toàn quốc Malaysia, Thủ tướng Mahathir Mohamad đánh giá cao vai trò của biển đối với việc thúc đẩy chuyển đổi mô hình kinh tế và phát triển của quốc gia trong tương lai. Ông cho rằng Malaysia không được coi nhẹ sự phụ thuộc lâu dài vào biển, biển mang lại giá trị chiến lược về môi trường, xã hội và kinh tế to lớn cho quốc gia. Do đó, nghiên cứu xây dựng cơ chế và sách lược phát triển kinh tế biển đối với Malaysia là vô cùng quan trọng.

Hiện nay, nghiên cứu của giới học thuật trong nước đối với chính sách biển của Malaysia chủ yếu tập trung vào lĩnh vực an ninh biển, đặc biệt là chính sách Nam Hải (Biển Đông) của Malaysia. Các nghiên cứu về phát triển kinh tế biển của quốc gia này vẫn còn thiếu và phần lớn nằm rải rác trong các cuộc thảo luận về kinh tế biển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) hoặc cả khu vực Đông Nam Á: Ví dụ như phân tích sự đóng góp của lĩnh vực biển chủ yếu của Malaysia đối với nền kinh tế quốc gia theo quan điểm của ASEAN của học giả Vương Cần; phân tích về kinh tế biển ở khu vực Đông Nam Á của học giả Vương Hiểu Huệ đã nêu về vấn đề thực trạng ngành kinh tế biển của Malaysia. Tuy nhiên, hiện các nghiên cứu độc lập về kinh tế biển của Malaysia chủ yếu vẫn do các học giả nước ngoài nghiên cứu là chính, hơn nữa mối quan tâm chính là vấn đề các ngành nghề liên quan và sự phát triển của kinh tế biển Malaysia, chẳng hạn như Rahman đã có giới thiệu tổng quan về ngành kinh tế biển của Malaysia; còn Nazery Khalid thì cho rằng Chính phủ Malaysia đã thiếu những đánh giá có giá trị về ngành kinh tế biển, thiếu quy hoạch chiến lược kinh tế biển toàn diện để sử dụng bền vững nguồn tài nguyên biển và ven biển; Mohd Rusli Yacob lấy khu du lịch đảo Redang làm ví dụ để đánh giá về giá trị kinh tế của du lịch sinh thái đối với du lịch biển của Malaysia. Phải nói rằng, những nghiên cứu hiện có chưa thực sự đi sâu tiến hành nghiên cứu, phân loại và đưa ra cơ chế cho phát triển kinh tế biển của Malaysia cùng những nguyên nhân của nó, bài viết này tiến hành nhìn nhận từ nhiều cấp độ trên cơ sở phân tích tầm quan trọng, quá trình phát triển và những thách thức của kinh tế biển Malaysia.

1/ Quá trình phát triển và những thách thức của kinh tế biển Malaysia

1.1/ Tầm quan trọng của kinh tế biển đối với Malaysia

Trong hệ thống toàn cầu, biển không chỉ có hàm ý chính trị, mà còn mang nội hàm kinh tế sâu sắc. Kinh tế biển đã trở thành bộ phận cấu thành và động lực phát triển quan trọng của nền kinh tế quốc gia. Chủ yếu thể hiện ở những mặt sau:

Thứ nhất, kinh tế biển là trụ cột quan trọng của nền kinh tế quốc dân đối với quốc gia biển. Bắt đầu từ đầu những năm 1990, kinh tế biển ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong các quốc gia biển. Giả sử tổng giá trị ngành kinh tế biển trên toàn cầu hàng năm tương đương với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một quốc gia, thì biển là nền kinh tế lớn thứ 7 của thế giới, với tổng giá trị tài sản biển chủ yếu vượt trên 24.000 tỷ USD.

Hai là, sự phát triển kinh tế biển trở thành tiêu chí quan trọng để đánh giá sức mạnh tổng hợp quốc gia. Các ngành kinh tế biển hiện đại chủ yếu gồm ngành dầu mỏ, vận tải biển, du lịch biển và nghề cá, các ngành kinh tế biển phát triển và hệ thống phân công lao động thường đồng nghĩa với trình độ phát triển kinh tế ở mức tương đối cao. Hơn nữa, sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của các nước trên thế giới lại không thể tách rời trụ cột ngành hàng hải. HIện nay, kinh tế biển đã trở thành một trong những bộ phận không thể thiếu trong hệ thống tiêu chuẩn đánh giá kinh tế quốc dân, trở thành phương tiện truyền đạt quan trọng để mở rộng không gian phát triển kinh tế, xã hội và là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức cạnh tranh tổng hợp quốc gia.

Ba là, kinh tế biển cũng là nội dung quan trọng trong cạnh tranh giữa các quốc gia biển. Lịch sử quan hệ quốc tế trong thế kỷ 20 đã thể hiện rõ tầm quan trọng của biển và quyền lợi biển. Bất luận là thời kỳ chiến tranh thế giới hay trong thời đại toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, sự cạnh tranh về tài nguyên biển, kinh tế biển và khoa học kỹ thuật biển sẽ trở thành sự lựa chọn tất yếu. Tranh giành, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên biển, phát triển mạnh mẽ kinh tế biển đã trở thành sự lựa chọn chiến lược trong phát triển của các quốc gia biển.

Kinh tế biển có vai trò vô cùng quan trọng đối với Malaysia. Hiện nay, tài nguyên dầu mỏ đã trở thành sản phẩm xuất khẩu đơn lẻ lớn nhất của Malaysia, việc khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ phong phú đã mang lại lợi ích to lớn cho Malaysia. Số liệu báo cáo tài chính nội bộ của Công ty dầu khí Malaysia cho thấy lợi nhuận ròng dầu khí của nước này năm 2011 đạt 20,1 tỷ USD, năm 2016 doanh thu từ tài nguyên dầu mỏ chiếm hơn 20% doanh thu tài chính. Đồng thời, kinh tế biển là trụ cột quan trọng trong phát triển kinh tế công nghiệp Malaysia. Năm 2016, tổng kim ngạch vận tải của Malaysia là 1480 tỷ Ringgit, 98,4% thương mại toàn quốc được thực hiện thông qua đường biển; năm 2016, ngành công nghiệp đóng tàu biển đã tạo ra doanh thu 7,36 tỷ Ringgit, đã cung cấp một lượng lớn việc làm; hải sản là một trong những nguồn chủ yếu trong các món ăn của Malaysia, có khoảng 400.000 hộ gia đình mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá. Cuối cùng, ngành du lịch cũng dựa nhiều vào biển để bán sản phẩm là chủ yếu và du lịch biển đang trở thành nguồn thu nhập chủ yếu ngoài dầu mỏ và vận tải biển của Malaysia. Năm 2018, du lịch biển là ngành đóng góp lớn thứ 3 cho GDP của Malaysia, tỷ lệ đóng góp vào GDP khoảng 5,9%. Thông qua phân tích định lượng, một số học giả đã đánh giá ngành du lịch biển của Malaysia có ưu thế cạnh tranh điển hình, điều này cũng nói lên tầm quan trọng của ngành du lịch biển trong phát triển kinh tế của Malaysia.

1.2/ Quá trình lịch sử phát triển kinh tế biển của Malaysia

Từ quá trình lịch sử phát triển kinh tế biển của Malaysia có thể thấy mặc dù kinh tế biển vô cùng quan trọng, nhưng trong thời kỳ đầu, Chính phủ Malaysia chưa quan tâm đúng mức đến kinh tế biển, mức độ quy hoạch không cao.

Năm 1963, sau khi thành lập nước, Malaysia không thành lập cơ quan quản lý biển chuyên trách. Xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế quốc gia, chính sách kinh tế biển Malaysia giai đoạn đầu chủ yếu là khai thác tài nguyên dầu mỏ, đặc biệt coi trọng khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải với cách làm chủ yếu là cơ chế chuyển nhượng quyền khai thác. Năm 1974, Công ty dầu khí quốc gia Malaysia được thành lập, chịu trách nhiệm chính về thăm dò, khai thác dầu khí và quản lý tất cả các trình tự thủ tục cấp phép liên quan. Hiện nay, Công ty dầu khí quốc gia Malaysia là doanh nghiệp duy nhất của Malaysia nằm trong top 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới. Malaysia có cơ sở sản xuất khí tự nhiên hóa lỏng lớn nhất trên thế giới, tính đến năm 2018, Malaysia là quốc gia xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng lớn thứ 3 thế giới. Việc phát triển ngành dầu mỏ ngoài khơi đã trở thành một trong những nội dung cốt lõi trong chính sách kinh tế biển của Malaysia. Vào những năm 1970, ngành du lịch biển bắt đầu được chính phủ quan tâm, được đưa vào Kế hoạch phát triển quốc gia Malaysia lần thứ 2 giai đoạn 1971 – 1975. Năm 1972, Malaysia đăng cai tổ chức hội nghị Hiệp hội du lịch khu vực Thái Bình Dương lần thứ 21 nhằm mở rộng du lịch biển, cũng trong năm đó đã thành lập Công ty phát triển du lịch, thay Bộ Du lịch chịu trách nhiệm phát triển ngành du lịch biển quốc gia. Tuy nhiên, xét về tổng thể, từ khi thành lập nước đến những năm 1970, mức độ coi trọng của Malaysia đối với kinh tế biển vẫn còn tương đối hạn chế, điều này có thể nhận thấy thông qua 5 kế hoạch phát triển quốc gia của Malaysia từ năm 1960 đến năm 1990.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

CVĐQT số 11/2020.

Vai trò dẫn dắt của ASEAN ở Biển Đông


Trang Diễn đàn Đông Á của trường Đại học Quốc gia Australia ngày 18/12/20 đăng bài viết của tác giả Sourabh Gupta, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Mỹ – Trung Quốc (ICAS), Washington DC, đưa ra một số nhận định về tình hình Biển Đông trong năm 2021 như sau:

Ngày 6/5/2009, Malaysia và Việt Nam cùng gửi một bản đệ trình lên Ủy ban Liên hợp quốc về giới hạn của thềm lục địa (CLCS), với nội dung ngầm tuyên bố rằng các đảo Trường Sa không có khả năng tạo ra các quyền vượt quá giới hạn lãnh hải 12 hải lý của các đảo.

Ngày hôm sau, Trung Quốc đã đáp trả bằng một công hàm kèm theo một bản đồ “đường 9 đoạn” gây ra một loạt công hàm phản đối. Sau đó, tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) do Hà Nội chủ trì vào tháng 7/2010, với sự ủng hộ của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, 12 trong số 27 thành viên của nhóm, bao gồm 5 nước ASEAN, đã chỉ trích hành vi của Bắc Kinh ở Biển Đông.

10 năm sau, vào ngày 12/12/2019, Malaysia gửi một thông báo khác tuyên bố ngầm rằng quần đảo Hoàng Sa cũng không có khả năng tạo ra các quyền vượt quá 12 hải lý. Thông báo này đã lôi kéo Australia, Pháp, Đức và Anh vào cuộc. Ngay cả đất nước nhỏ bé Brunei cũng tham gia.

Nỗ lực của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo nhằm đẩy tình hình căng thẳng thành quan điểm chống Trung Quốc tại cuộc họp ARF (một lần nữa) do Hà Nội chủ trì đã gặp phải sự phản đối kiên quyết của các quốc gia “cân bằng” của ASEAN – Indonesia và Singapore. Đáng chú ý, ngay cả nhật báo Yomiuri bảo thủ của Nhật Bản và thân Mỹ cũng có bài xã luận kêu gọi Mỹ thúc đẩy hòa bình khu vực thay vì “cố gắgn tạo ra “những vết nứt” giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á liên quan”.

Vậy trong năm 2021 tình hình sẽ diễn biến theo chiều hướng nào?

Thứ nhất, ASEAN và Trung Quốc tiếp tục coi giai đọa hậu phán quyết trọng tài là thời điểm cơ hội chiến lược trong quan hệ Biển Đông. Điều này phần lớn là do sự thay đổi trong quan hệ Trung Quốc – Philippines. Sự đồng thuận lỏng lẻo của ASEAN về vấn đề này ít nhất được dẫn dắt bởi chính sách Trung Quốc hay thay đổi của Manila trong hai thập kỷ qua.

Về phần mình, Trung Quốc đã tuân theo ranh giới đỏ của Philippines. Bắc Kinh đã không tuyên bố thêm chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông, chiếm đóng bất kỳ thực thể hoặc lãnh thổ mới nào, hoặc xây dựng các công trình trên bãi cạn Scarborough. Bắc Kinh không còn gây trở ngại cho hoạt động tiếp tế của Philippines cho tàu của nước này bị mắc cạn ở Bãi cạn Thomas.

Liên quan đến việc khai thác dầu và khí đốt trên thềm lục địa của Philippines, Bắc Kinh đã tránh chủ nghĩa đơn phương và thay vào đó xây dựng một thỏa thuận “hợp tác phát triển” có tầm nhìn xa. Thỏa thuận này mặc nhiên thừa nhận các quyền chủ quyền và quyền tài phán độc quyền của Manila, tuân theo điều khoản bảo hộ quốc gia của hiến pháp Philippines và phù hợp với Phán quyết trọng tài. Nó cũng thổi luồng sinh khí vào nguyên tắc phát triển chung mà Đặng Tiểu BÌnh đã đề xuất với các nhà lãnh đạo Philippines vào cuối những năm 1980.

Về các hành vi sai trái của ngư dân ở vùng biển Philippines, Trung Quốc – hay đúng hơn là Hiệp hội Bảo hiểm Tương hỗ nghề cá Quảng Đông của Trung Quốc – thậm chí còn đi xa đến mức đưa ra lời xin lỗi bất thường vào tháng 8/2019. Sự ủng hộ của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte đối với việc đình chỉ thực hiện Phán quyết trọng tài và hạn chế các cuộc tập trận song phương trên Biển Đông của Manila chỉ trong giới hạn 12 hải lý sẽ được duy trì.

Thứ hai, mọi chu kỳ xấu đi trước đây của mối quan hệ ASEAN – Trung Quốc (1992 – 1998) và 2009 – 2016) ở Biển Đông đều bắt đầu bằng việc Bắc Kinh đưa ra yêu sách về chủ quyền biển gây tranh cãi. Lần này, Trung Quốc hầu như không đề cập đến “đường 9 đoạn”. Trong một lần đề cập duy nhất, Bắc Kinh sử dụng thuật ngữ “đường chấm”. Lần đề cập này cũng chỉ để làm rõ và giới hạn, chứ không khuếch đại tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh trong vùng biển này. Mặt khác, các tàu Trung Quốc vẫn đã ngang nhiên thực hiện hoạt động khảo sát bất hợp pháp trên thềm lục địa của Việt Nam và Malaysia vào năm 2019 và 2020. Bắc Kinh không có cơ sở luật pháp quốc tế để làm như vậy và phải kiềm chế các tàu của mình.

Hơn nữa, nếu Bắc Kinh có thể mở rộng mô hình “hợp tác phát triển” của mình tới Kuala Lumpur và Hà Nội, họ sẽ có thể loại bỏ những tranh chấp liên quan đến chủ quyền này.

Cuối cùng, trong năm 2020, Mỹ đã thể hiện lập trường ngoại giao và quân sự với Trung Quốc (và thân ASEAN) về Biển Đông ở mức cứng rắn chưa từng thấy trong ba thập kỷ, nhưng lại nhận được rất ít lợi ích từ các quốc gia. Đúng là ASEAN không muốn chọn bên. Một sự thực nữa là trong thời kỳ có cơ hội chiến lược trong quan hệ Trung Quốc – ASEAN, Mỹ sẽ không bao giờ tìm thấy một bên tranh chấp trong khu vực đủ bị kích động để Washington có thể dẫn dắt để khẳng định sự liên quan của Mỹ trong vùng biển này ngoài việc tiến hành các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) không thường xuyên, hạn chế thị thực và kiểm soát xuất khẩu mang tính biểu tượng.

Mặt khác, các hoạt động do thám của Washington có thể kích động BắcKinh thiết lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ). Diện tích của khu vực này có thể tương đương với vùng thông tin bay (FIR) Tam Á do Tổ chức hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO) quản lý và bao trùm quần đảo Hoàng Sa – giống như ADIZ của Nhật Bản ở Biển Hoa Đông theo dõi FIR Fukuoka và bao trùm Senkakus.

Các vấn đề vẫn có thể xấu đi ở Biển Đông vào năm 2021. Thỏa thuận dầu khí giữa Philippines và Trung Quốc có thể bị đình chỉ giống như thỏa thuận Nhật Bản – Trung Quốc. Hà Nội có thể đưa Bắc Kinh ra tòa án quốc tế để làm rõ các quyền tài phán của mình. Việc Bắc Kinh tham gia đàn phán Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) ở Biển Đông có thể khiến Manila quốc tế hóa phán quyết của Tòa Trọng tài The Hague. Các cuộc đàm phán COC có thể làm trầm trọng thêm những khác biệt ngoài những cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và ASEAN. Chính quyền của Biden cũng vẫn là một ẩn số.

Tuy nhiên, về mặt tổng thể, có nhiều điều để hy vọng hơn là sợ hãi.

Nguồn: TKNB – 21/12/2020.

Tổng thống Philippines bị chỉ trích vì “tống tiền” Mỹ để duy trì VFA


Đài VOA dẫn truyền thông Philippines cho biết, các chính khách Philippines mạnh mẽ chỉ trích Tổng thống Duterte vì đã đòi Mỹ trả tiền để duy trì Hiệp định thăm viếng quân sự (VFA) cới Mỹ. Phát biểu trước các binh sĩ tại căn cứ không quân Clark ngày 12/2/2021, Tổng thống Duterte nói: “Tôi muốn thông báo là từ giờ trở đi, nếu các ông muốn duy trì VFA thì phải trả tiền. Đây là trách nhiệm chung, nhưng phần trách nhiệm của các ông (Mỹ) không miễn phí, bởi vì chung cuộc, nếu chiến tranh bùng nổ, tất cả chúng ta đều phải trả giá”.

VFA trị giá 16 tỷ USD

Tờ Daily Inquirer (Philippines) dẫn lời điện Malacanang, phủ Tổng thống Philippines nói ngày 15/2 rằng, để đánh đổi VFA, Mỹ phải trả Philippines 16 tỷ USD, số tiền mà Pakistan được Mỹ hỗ trợ để chống khủng bố từ năm 2001 – 2017. Người phát ngôn của Tổng thống Duterte Harry Roque nói rằng so với Pakistan, Philippines chỉ nhận được tổng cộng 3,9 tỷ USD trong cùng thời gian. Để bảo vệ yêu cầu của mình, ông Duterte tố cáo Mỹ đang toan tính biến Vịnh Subic thành một căn cứ quân sự và đang trữ vũ khí trên đất Philippines, nhưng không đưa ra bằng chứng nào về những cáo buộc này mà chỉ cho biết ông nhận thông tin từ các lực lượng vũ trang Philippines.

Một bài báo trên trang mạng Benar News ngày 17/2 trích lời một quan chức Philippines phản báo cáo buộc Mỹ biến Subic thành căn cứ quân sự. Bà Wilma Eisma, Chủ tịch Cơ quan đô thị vịnh Subic (SBMA) khẳng định, các cuộc thăm viếng của các tàu quân sự tới Vịnh Subic theo thỏa thuận VFA chỉ kéo dài vài ngày, đủ để binh sĩ đổ bộ và lên tàu trở lại, hoặc ghé vài ngày để mua đồ tiếp tế: “Những cuộc thăm viếng của Mỹ không có cách nào để biến đổi cảng Freeport của Vịnh Subic thành một căn cứ quân sự”.

Bà Wilma Esima nói thêm rằng, tàu bè của nhiều nước khác cũng được tiếp cận Vịnh Subic như vậy, kể cả Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, Hàn Quốc và Indonesia. Tuy nhiên, bà Eisma không bình luận về các cáo buộc của ông Duterte rằng Mỹ trữ vũ khí tại Philippines.

Phản ứng trong nước

Báo Asian Journal trích lời Phó Tổng thống Philippines Leni Robredo chỉ trích ông Duterte rằng, những lời lẽ của ông ấy (Duterte) “nghe giống như một kẻ tội phạm tống tiền người khác”.

Phát biểu trên chương trình phát thanh Biserbisyong Leni ngày 14/2, bà Robredo nói rằng tuyên bố của ông Duterte khiến bà cảm thấy “xấu hổ” và cho biết, nếu muốn hủy VFA, lẽ ra Chính phủ Philippines phải đưa ra những lý do thay vì nói tới tiền bạc. Phó Tổng thống Robredo nói thỏa thuận đó được dựa trên lợi ích chung giữa hai bên, chứ khôg phải “chúng ta là bạn chỉ vì các ông trả tiền cho chúng tôi”.

Dòng tweet này hiện đã bị xóa, nhưng Thượng nghị sĩ Lacson giải thích: “Tổng thống Duterte có lẽ đã dùng những lời lẽ nặng nề để truyền thông điệp tới người Mỹ. Rõ ràng là có một cách lịch sự và tương xứng hơn với phong cách của một chính khách để yêu cầu một đồng minh lâu năm đền bù, qua các kênh ngoại giao, để đạt được kết quả mong muốn”.

Phủ Tổng thống Philippines đã lên tiếng bênh vực ông Duterte, nói rằng yêu cầu của ông phù hợp với lợi ích quốc gia, chứ không phải là tống tiền Mỹ. Người phát ngôn của Tổng thống Duterte, ông Harry Roque nói ngày 15/2 rằng: “Đối với những người nói như vậy là tống tiền thì tôi xin giải thích, đây không phải là tống tiến, đây là vì lợi ích quốc gia, bởi vì chúng ta phải chi ra rất nhiều cho dịch COVID-19”.

Theo lời ông Roque, số tiền từ Mỹ có thể được dùng để tài trợ thêm cho chương trình Chăm sóc Y tế quốc gia (UHC) để đối phó với dịch COVID-19, cung cấp thức ăn miễn phí cho học sinh… Ông Roque nhấn mạnh, VFA sẽ bị hủy bỏ nếu Mỹ từ chối yêu cầu của Tổng thống Duterte.

VFA là gì?

VFA là “Thỏa thuận về các lực lượng thăm viếng” hay “Thỏa thuận thăm viếng quân sự” là một thỏa thuận song phương giữa Mỹ và Philippines ký kết vào năm 1998, cho phép các lực lượng Mỹ tới Philippines tập trận chung với binh sĩ Philippines, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa thiên tai.

Nói cách khác, VFA trao tư cách pháp lý cho sự hiện diện của các lực lượng Mỹ trên đất Philippines, tạo điều kiện cho Mỹ phản ứng bất kỳ trước một cuộc khủng hoảng hay các tình huống khẩn cấp khác, cũng như để thực hiện các trách nhiệm theo Hiệp ước Phòng thủ chung.

Ngoài việc cho phép binh sĩ Mỹ hiện diện trên đất Philippines, VFA còn cho phép Chính phủ Mỹ duy trì quyền tài phán đối với các công dân Mỹ, kể cả các binh sĩ, trong trường hợp họ phạm tội ở Philippines.

Sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực từ lâu vẫn được coi như một lực đối trọng thiết yếu chống lại chính sách bành trướng của Trung Quốc và các hành động hung hăng hon của nước này.

VFA còn hiệu lực đến bao giờ?

Vào năm 2020, Tổng thống Duterte ra lệnh chấm dứt VFA sau khi Mỹ hủy bỏ thị thực của Thượng nghị sĩ Ronald “Bato” Dela Rosa, vì vai trò lãnh đạo cuộc chiến chống ma túy đẫm máu tại Philippines của ông này. Thế nhưng, quyết định này đã được hoãn thi hành nhiều lần. Lần mới nhất là vài ngày sau khi ông Biden đắc cử, lúc đó, Philippines thông báo Manila gia hạn thêm 6 tháng áp dụng đối với quyết định hủy bỏ VFA. Điều đó có nghĩa, nếu không được gia hạn hoặc ký kết lại, VFA sẽ chấm dứt vào ngày 9/8/2021.

Trong tuyên bố gửi Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien để loan báo quyết định tái gia hạn quyết định hủy VFA, Ngoại trưởng Philippines Teodoro Locsin viết: “Tình hữu nghị và liên minh Mỹ – Philippines muôn năm!”.

Ngoại trưởng Locsin trước đó nhấn mạnh rằng, sự hiện diện thường xuyên của lực lượng quân sự Mỹ đã ngăn Trung Quốc thực hiện những hành động quyết liệt hơn ở Biển Đông, Philippines gọi là Biển Tây Philippines.

Phản ứng của Mỹ

Tại Washington, Bộ Ngoại giao Mỹ không bình luận trực tiếp về những cáo buộc mới nhất của Tổng thống Duterte, chỉ tái khẳng định: “Mỹ trân trọng liên minh lâu dài nhất của Mỹ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đối thoại cởi mở giữa các đồng minh là điều thiết yếu để duy trì sức mạnh của liên minh, vốn là điều có tầm quan trọng quyết định cho an ninh của cả hai nước”.

Nguồn: TKNB – 22/02/2021.

Liệu Việt Nam có thể lãnh đạo ASEAN?


Trang mạng newmandala ngày 22/1 đăng bài viết với nhan đề: “Liệu Việt Nam có thể lãnh đạo ASEAN?”, nội dung như sau:

Các quốc gia thành viên ASEAN, cũng như phần còn lại của thế giới, đang phải đối mặt với nhiều thách thức còn tồn tại có mối liên hệ với nhau như: đại dịch toàn cầu, biến đổi khí hậu, suy thoái kinh tế và bất ổn chính trị. Tuy nhiên, Việt Nam dường như đang quản lý những vấn đề này tốt hơn nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là so với Indonesia. Liệu điều này có đặt Việt Nam vào vị trí tốt nhất để dẫn dắt ASEAN vượt qua những vấn đề này?

Vai trò của Việt Nam trong chính sách quốc tế về biến đổi khí hậu

Mục tiêu phát triển bền vững thứ 13 của Liên hợp quốc là hành động vì khí hậu; các quốc gia phải đạt được 5 mục tiêu, bao gồm các biện pháp giảm lượng khí thải carbon và đầu tư vào khả năng chống chịu với khí hậu. Việt Nam đã thực hiện các biện pháp này, trong khi các nước khác, bao gồm Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Singapore và thậm chí hầu hết các quốc gia châu Âu, đang bị tụt lại phía sau. Theo Báo cáo phát triển bền vững 2020, Việt Nam là nước Đông Nam Á duy nhất đạt được điều này. Việt Nam đang đi trước phần còn lại của Đông Nam Á khi thúc đẩy sự phụ thuộc nhiều hơn vào năng lượng tái tạo. Ngoài ra, theo báo cáo của Viện toàn cầu McKinsey về việc khám phá các giải pháp thay thế cho tương lai năng lượng của Việt Nam, Việt Nam có tài nguyên thiên nhiên to lớn với năng lượng mặt trời từ 4 – 5 Kwh/m2 và 3000 km đường bờ biển với luồng gió ổn định trong phạm vi thích hợp, tạo thuận lợi cho việc sản xuất năng lượng Mặt Trời và năng lượng gió ở Việt Nam.

Ngược lại, theo Global Forest Watch, Indonesia là quốc gia phát thải khí nhà kính lớn thứ 5 thế giới và là quốc gia có lượng khí thải từ rừng lớn nhất, hàng năm thải ra từ 240 – 447 triệu tấn CO2 từ nông nghiệp, chuyển đổi rừng giàu carbon thành rừng trồng và các mục đích sử dụng khác. Indonesia cũng là quốc gia có 4 khu vực lọt vào tốp đầu lên tới 52% tổng số cây bị mất độ che phủ từ năm 2001 – 2019. Thật không may, cho đến nay, có rất ít tiến bộ trong việc giảm phát khí thải từ đất liền ở Indonesia.

Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển bất chấp đại dịch COVID-19

Ngay cả trong những thời điểm khó khăn bất thường này, nền kinh tế Việt Nam đã có khả năng phục hồi đáng kể. Việt Nam đang ở vị trí tốt để có thể thoát khỏi bẫy kinh tế do COVID-19 gây ra vì ít nhất 3 lý do: Thứ nhất, chính phủ Việt Nam có các chính sách khuyến khích giảm thuế, chậm nộp thuế và chậm trả tiền sử dụng đất cho các doanh nghiệp. Thứ hai, Luật đầu tư ở Việt Nam cũng đã được sửa đổi nhiều lần, chủ yếu áp dụng cách tiếp cận có lợi cho các nhà đầu tư bằng cách giảm bớt hành chính và tạo thuận lợi cho đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Do đó, hơn 12 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được đăng ký từ tháng 1 đến tháng 4/2020. Thứ ba, do dòng vốn đầu tư đang tăng chưa từng có, Việt Nam có tiềm năng trở thành nền kinh tế kỹ thuật số phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á.

Trong 4 năm qua, khoảng 1 tỷ USD vốn tài trợ đã đổ vào lĩnh vực thương mại điện tử của Việt Nam. Ngày 29/6/2020, Việt Nam đã phê chuẩn một thỏa thuận thương mại mang tính bước ngoặt với Liên minh châu Âu (EU) – EVFTA. Ngoài ra, Việt Nam xuất siêu hơn 9,9 tỷ USD, cũng là mức cao nhất so với 4 năm trước. Tăng trưởng kinh tế tổng thể của Việt Nam năm 2020 cũng đạt 2,9%.

Trong khi đó, nền kinh tế Indonesia đang trong thời kỳ suy thoái và thực sự phải chịu áp lực ngay cả trước khi xảy ra đại dịch COVID-19. Trong suốt quý 2/2020, Indonesia đã chứng kiến mức tăng trưởng kinh tế giảm khoảng 5,32%. Indonesia đã phải vật lộn để kiềm chế COVID-19 trên cả nước với gần 900.000 ca lây nhiễm. Tỷ lệ thất nghiệp đã đạt mức cao nhất trong 9 năm là 7,07%.

Việt Nam là một quốc gia ổn định chính trị tại Đông Nam Á

Sự ổn định về kinh tế và chính trị của Việt Nam là một lợi thế lớn so với các quốc gia châu Á khác. Sự ổn định chính trị là một trong những yếu tố chính giúp Việt Nam theo đuổi chính sách phát triển kinh tế. Kể từ năm 1990, hầu hết các quốc gia khu vực khác, ngoài Singapore, đã trỉa qua các cuộc đảo chính hoặc khủng hoảng chính trị. Thái Lan thường xuyên chứng kiến các cuộc biểu tình gia tăng, Malaysia đã phải chịu đựng cuộc khủng hoảng kép, trong khi đó, tại Indonesia xảy ra các phong trào biểu tình phản đối luật xe buýt. Việt Nam dự kiến sẽ tahy đổi ban lãnh đạo tại Đại hội Đảng XIII nhưng bất kỳ nhà lãnh đạo nào sắp tới cũng phải duy trì sự tập trung của đất nước vào các chính sách cải cách và ủng hộ doanh nghiệp.

Việt Nam có thể thay thế vị trí của Indonesia trong ASEAN?

Việt Nam, nước Chủ tịch ASEAN 2020, đã thể hiện mình là một nhà lãnh đạo hiệu quả, đặc biệt là với sự điều hành chủ động trong xử lý đại dịch COVID-19, tham gia một cách nghiêm túc và lâu dài vào các vấn đề biến đổi khí hậu và ổn định chính trị. Ngược lại, Indonesia đã thất bại trong việc bảo vệ giới kinh doanh khỏi những tác động tiêu cực của đại dịch. Điều đó có thể thấy được từ các chương trình kích cầu tài trợ cho các ngành trong nước tương đối ít.

Một mặt, Việt Nam có thể cần sự lãnh đạo mang tính định hướng về địa chính trị của Indonesia để duy trì sự ổn định trong khu vực vì Indonesia là nước Đông Nam Á duy nhất đã tham gia Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi G20, quốc gia đa dạng nhất và là một trong những quốc gia sáng lập Phong trào không liên kết. Mặt khác, Indonesia cũng cần sự quản trị chủ động của Việt Nam, cho dù trong việc chống lại đại dịch COVID-19, các vấn đề biến đổi khí hậu hay nền kinh tế kỹ thuật số. Cùng nhau, cả hai quốc gia có thể thay đổi môi trường an ninh của ASEAN và dẫn dắt tổ chức hướng tới các mục tiêu cá nhân và tập thể của các thành viên.

Nguồn: TKNB – 26/01/2021

Lý do Việt Nam muốn Myanmar ổn định


Theo đài RFI, hơn 200 doanh nghiệp Việt Nam đang đầu tư, kinh doanh tại Myanmar, trong đó có những tập đoàn lớn như Viettel, Vietnam Airlines, Hoàng Anh Gia Lai, Ngân hàng BIDV… với tổng đầu tư đạt hơn 2,2 tỷ USD (theo số liệu năm 2019). Theo phát biểu của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ trong chuyến công du tháng 6/2019, Myanmar là một thị trường mới, đầy tiềm năng, nên các nhà đầu tư cần “bền chí” để gặt hái thành quả trong tương lai. Sự kiện quân đội Myanmar đảo chính ngày 01/02 khiến Việt Nam cũng như thế giới bất ngờ. Như nhiều nước đầu tư vào Myanmar, Việt Nam phản đối việc dùng bạo lực để giải quyết khủng hoảng chính trị vì cần phải bảo vệ hoạt động kinh tế cũng như những dự án đầu tư tại nước này. Nhà nghiên cứu Claire Trần, giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á đương đại (Irasec) tại Bangkok (Thái Lan) phân tích:

Quan hệ giữa doanh nghiệp Việt Nam và tập đoàn quân sự/chính phủ dân sự Myanmar

Cần đặt mối quan hệ của các doanh nghiệp Việt Nam với tập đoàn quân sự và chính phủ dân sự trong khuôn khổ mối quan hệ song phương.

Từ nhiều năm nay, Việt Nam được coi là một mô hình cải cách, phát triển và hội nhập quốc tế đối với Myanmar. Hà Nội đã thúc đẩy mối quan hệ với Naypidaw, nhất là từ chuyến thăm Myanmar của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào tháng 8/2017. Hai bên đã ký kết thỏa thuận Đối tác hợp tác toàn diện nhằm tăng cường trao đổi thương mại và đầu tư. Hai năm sau, vào tháng 4/2019, bà Aung San Suu Kyi đã có chuyến thăm chính thức đầu tiên đến Việt Nam.

Một ví dụ cho thấy mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và tập đoàn quân sự đó là trường hợp tổng công ty viễn thông Viettel – một nhà đầu tư lớn vào Myanmar, kiểm soát 49% cổ phần của Mytel. Đây là công ty liên doanh giữa quân đội Myanmar và quân đội Việt Nam. Mytel là nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động được thành lập gần đây nhất là vào năm 2017 và hiện có 10 triệu thuê bao tại quốc gia có 54 triệu dân này. Điều này cho thấy tầm quan trọng của mối quan hệ giữa quân đội hai nước.

Ngoài ra, Viettel được cho là cung cấp cho quân đội Myanmar nhiều nguồn tài chính ngoài ngân sách, nên bị tố cáo tham nhũng. Trước đây, đã từng có nhiều chiến dịch tẩy chay Mytel. Nhà cung cấp viễn thông này còn bị cáo buộc chuyển thông tin và dữ liệu cá nhân của khách hàng cho quân đội Myanmar.

Tóm lại, mối quan hệ diễn ra tốt đẹp, thậm chí còn là rất tốt đối với một số công ty. Có thể nói, Việt Nam tỏ ra thận trọng về cuộc đảo chính ở Myanmar, nhưng sẽ thử mọi cách để nội bộ ASEAN không cô lập tập đoàn quân sự, cũng như để có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh và tránh để Myanmar ngả thêm về phía Trung Quốc.

Thị phần của các doanh nghiệp Việt Nam tại Myanmar

Năm 2019, trao đổi thương mại giữa Myanmar và Việt Nam đạt 943 triệu USD, trong khi năm 2020, tổng đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam là 2,2 tỷ USD. Việt Nam tự nhận là nhà đầu tư lớn thứ 7 vào Myanmar, nhưng theo nhiều nguồn khác ở Myanmar, Việt Nam là nhà đầu tư thứ 10, ngang với Ấn Độ. Ngoài Việt Nam, các nước ASEAN đầu tư vào Myanmar còn có Singapore, Thái Lan, Malaysia, Brunei. Có thể thấy, Myanmar là nước nhận được rất nhiều đầu tư từ các nước ASEAN.

Ngoài ra, vai trò quan trọng của Myanmar đối với Việt Nam, đặc biệt là trong dự án Hành lang Kinh tế Đông – Tây, góp phần thúc đẩy trao đổi giữa hai nước. Mục tiêu của dự án Hành lang Kinh tế Đông – Tây là xây dựng một trục đường quan trọng dài 1700 km nối Việt Nam với Myanmar đi qua Lào và Thái Lan để tiếp cận thị trường Ấn Độ. Hành lang dự kiến xuất phát từ Đà Nẵng đến Mawlamyine (bang Môn) và kéo dài thêm đến Yangun. Con đường thương mại này còn có mục đích giúp khu vực giảm bớt phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc, gia tăng trao đổi thương mại giữa các nước ASEAN.

Tác động đến Việt Nam nếu phương Tây trừng phạt tập đoàn quân sự Myanmar?

Tất nhiên, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ bị tác động trực tiếp vì cuộc đảo chính và do tình hình sẽ rất khó khăn trong năm 2021 sau khi vừa trải qua một năm lao đao với cuộc khủng hoảng COVID-19. Vì thế, các nhà đầu tư sẽ phải hết sức chú ý và có nguy cơ mất niềm tin. Nếu tình hình căng thẳng tiếp diễn, nhiều khả năng, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ rời Myanmar sang nơi khác.

Cơ quan xếp hạng tín dụng Fitch đã nhấn mạnh những rủi ro này. Fitch đã giảm dự báo tăng trưởng của Myanmar xuống còn 2% cho năm tài khóa 2020 – 2021 và 2021 – 2022, so với mức thẩm định trước đó là 5,6% và 6%. Nếu phương Tây trừng phạt Myanmar, các dự án cơ sở hạ tầng và đầu tư trực tiếp của nước ngoài có nguy cơ bị hoãn hoặc bị hủy.

Cần lưu ý tầm quan trọng của nền kinh tế kỹ thuật số trong sự bùng nổ kinh tế của Myanmar. Các biện pháp trấn áp bằng cách cắt Internet và điện thoại di động đe dọa đến nền kinh tế kỹ thuật số. Do đó, Viettel sẽ bi tác động trực tiếp vì biện pháp này.

Về những biện pháp trừng phạt nói chung, chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden đã ban hành những biện pháp trừng phạt đầu tiên, nhưng mới chỉ hạn chế ở giới tướng lĩnh. Thực ra, chính quyền Biden hiểu rõ nguy cơ tập đoàn quân sự Myanmar ngả về phía Bắc Kinh nếu áp dụng trừng phạt trong khi nền kinh tế Myanmar đã phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc. Năm 2019, trao đổi thương mại với Trung Quốc chiếm đến 30% tổng trao đổi của Myanmar. Do đó, có lẽ các biện pháp trừng phạt của một số nước phương Tây và Nhật Bản hiện chỉ hạn chế ở giới quân sự về đề xuất một giải pháp thay thế để hạn chế hậu quả nền kinh tế Myanmar chuyển hướng sang Trung Quốc.

Việt Nam và ASEAN đóng vai trò như thế nào?

Hiện Việt Nam tỏ ra thận trọng nhưng chắc chắn Hà Nội phản đối căng thẳng và ủng hộ đối thoại. Việt Nam sẽ làm hết khả năng có thể trong khối ASEAN để có thể đi theo hướng này.

Ngay sau khi xảy ra đảo chính, ASEAN đã thể hiện sẽ không bảo vệ phe quân đội Myanmar một cách rõ ràng. ASEAN muốn hành động trong vai trò trung gian hòa giải để xử lý nhanh chóng cuộc khủng hoảng này trước khi các cuộc đối đầu giữa người biểu tình và lực lượng an ninh trở nên xấu đi. ASEAN không muốn cô lập tập đoàn quân sự để tránh phe quân đội ngả vào tay Trung Quốc.

Một cuộc họp đặc biệt của ngoại trưởng các nước ASEAN được dự trù vào tuần đầu tiên của tháng 3, do Indonesia khởi xướng, để phác thảo lộ trình đưa Myanmar trở lại tình hình trước đây. Tuy nhiên, người biểu tình Myanmar không chấp nhận lời hứa của tập đoàn quân sự là tổ chức lại bầu cử. Họ yêu cầu tái lập chính phủ hợp pháp của bà Aung San Suu Kyi.

ASEAN không muốn xảy ra bạo lực, mà giải quyết vấn đề một cách ôn hòa thông qua đối thoại và hợp tác. Thậm chí, ASEAN sẵn sàng điều tra những cáo buộc gian lận bầu cử trong đợt tổng tuyển cử tháng 11/2020. Có nghĩa là ASEAN hợp tác với tập đoàn quân sự về vấn đề này. Tóm lại, ASEAN phản đối các biện pháp trừng phạt, vì người dân Myanmar bị tác động đầu tiên.

Theo tờ Nikkei (Nhật Bản), nếu tập đoán quân sự Myanmar vẫn khăng khăng ASEAN có thể sẽ buộc Myanmar tạm rời ASEAN. Hiến chương ASEAN không cho phép loại một thành viên, nhưng đó là một khả năng được nêu lên. Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp cuối cùng và sẽ là một sự kiện chưa từng có trong lịch sử ASEAN. Tập đoàn quân sự Myanmar và ASEAN cần nhanh chóng hành động để đạt được một thỏa hiệp và đàm phán để tránh trừng phạt của quốc tế vì biện pháp này có nguy cơ hủy hoại những thành tựu kinh tế của Myanmar trong những năm vừa qua.

Nguồn: TKNB – 03/03/2021.

Trung Quốc quản lý và kiểm soát mạng lưới truyền tải điện của Lào


Trang mạng rfa.org/lao vừa đăng tải bài viết nhận định về việc Chính phủ Lào ngày 11/03 đã ký thỏa thuận tô nhượng với Công ty truyền tải điện quốc gia (EDLT), một liên doanh giữa Tập đoàn Truyền tải điện miền Nam Trung Quốc (CSG) và Công ty Điện lực Lào (EDL), cho phép liên doanh do phía Trung Quốc nắm cổ phần chi phối này quản lý và kiểm soát mạng lưới truyền tải điện của Lào. Phóng viên TTXVN tại Lào lược dịch bài viết của RFA nhận định về vấn đề này.

Theo bài viết, một ban lãnh đạo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào cho biết, Trung Quốc đã được nhượng quyền xây dựng và quản lý hệ thống đường dây tải điện tại Lào, sau khi Chính phủ nước này đồng ý ký thỏa thuận với EDLT – liên doanh do Trung Quốc làm chủ đầu tư để bảo đảm việc truyền tải và xuất khẩu điện an toàn, ổn định với các quốc gia láng giềng khu vực.

Quan chức trên cho biết: “Thỏa thuận được thực hiện theo hình thức Công ty cổ phần trong thời gian 25 năm; sau khi hết thời hạn trên, hoạt động của dự án sẽ được chuyển giao cho Chính phủ Lào”.

Quan chức này cho biết thêm, EDLT sẽ xây dựng và quản lý hệ thống đường dây tải điện từ 230 KV trở lên và xây dựng hệ thống hạ tầng mạng lưới điện của Lào kết nối với các nước xung quanh, đưa Lào trở thành “Bình ắc quy của Đông Nam Á” theo Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Lào. Trong khi mạng lưới đường dây tải điện dưới 230 KV sẽ vẫn do EDL xây dựng và quản lý như trước đây.

Chia sẻ với RFA về vấn đề sử dụng điện, một người dân ở tỉnh Savannakhet, Trung Lào cho biết ông chẳng hy vọng gì về việc người dân Lào sẽ được sử dụng điện miễn phí khi nhiều đập thủy điện lớn và hệ thống truyền tải điện tại Lào không phải do Chính phủ Lào đầu tư và rằng người dân sẽ tiếp tục phải trả giá điện cao hơn.

Đề cập tới vấn đề này, một người dân Thủ đô Vientiane cho rằng việc Trung Quốc tham gia xây dựng mạng lưới truyền tải điện cũng là vấn đề hợp lý, là hoạt động đầu tư thông thường. Tuy nhiên, nếu để cho công ty Trung Quốc hoàn toàn chịu trách nhiệm xây dựng, quản lý và vận hành hệ thống mạng lưới điện tại Lào là không phù hợp. Nếu như không còn lựa chọn, nên vay tiền của nước ngoài để triển khai dự án hơn là để cho Trung Quốc quản lý.

Đánh giá về vấn đề này, một chuyên gia về năng lượng điện thuộc Bộ Năng lượng và Mỏ Lào giấu tên cho biết, trong bối cảnh nền kinh tế Lào suy thoái cùng với tình trạng nợ công cao, để phát huy mọi nguồn lực nhằm đạt mục tiêu đưa Lào thoát khỏi tình trạng quốc gia kém phát triển, Chính phủ Lào không còn lựa chọn nào khác ngoài việc để Trung Quốc hợp tác đầu tư.

Theo chuyên gia trên, Trung Quốc có điều kiện về tài chính, lao động và công nghệ hiện đại để tham gia quá trình xây dựng, quản lý hệ thống truyền tải điện tại Lào, nhằm giúp Lào thực hiện mục tiêu trở thành “Bình ắc quy của Đông Nam Á”.

Tuy nhiên, chia sẻ với RFA, một người dân Lào cho biết, trong hợp tác lần này giữa Lào và Trung Quốc, phía Lào bị mất nhiều hơn được, đặc biệt trong vấn đề chuyển giao công nghệ cao cho lao động Lào, do không có điều khoản yêu cầu công ty Trung Quốc thực hiện nên cũng như các dự án đầu tư lớn khác, lao động Lào không được chuyển giao kiến thức, chuyên môn và kỹ thuật.

RFA cho biết, hợp tác lần này bắt đầu khi Công ty Điện lực Lào (EDL) và Tập đoàn Truyền tải điện miền Nam Trung Quốc (CSG) ký hợp đồng góp vốn – khai thác hệ thống lưới điện quốc gia và thành lập Công ty Truyền tải điện quốc gia Lào (EDLT) vào tháng 9/2020. Theo thỏa thuận này, hai bên sẽ cùng góp vốn đầu tư khoảng 2 tỷ USD để thực hiện dự án. Và ngày 11/3/2021, EDLT đã ký thỏa thuận với Chính phủ Lào để được nhượng quyền xây dựng và quản lý hệ thống truyền tải điện tại Lào trong thời gian 25 năm. Thỏa thuận này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Mặc dù thông tin chi tiết về Thỏa thuận được giữ kín, nhưng trong Báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ Lào số 475/NNM của Bộ Năng lượng và Mỏ ngày 30/04/2020 về việc đề xuất thành lập Công ty EDLT giữa EDL và CSG, Bộ Năng lượng và Mỏ đã đề nghị Thủ tướng Lào cho phép thành lập EDLT. Theo đó, EDL chỉ giữ 10% cổ phần, trong khi CSG giữ tới 90% cổ phần. Về cơ cấu lãnh đạo dự kiến, Báo cáo đề xuất Hội đồng quản trị và Ban điều hành của EDLT có tất cả 7 người (5 người Trung Quốc và 2 người Lào). Theo đó, Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành là người của CSG; Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị và 1 Phó Giám đốc là người của EDL.

Mặc dù chưa rõ thỏa thuận ký ngày 11/03 giữa EDLT và Chính phủ Lào có những nội dung chi tiết gì, nhưng theo đánh giá của phóng viên TTXVN tại Lào, việc một công ty nhà nước của Trung Quốc được quyền nắm mạng lưới truyền tải điện của Lào trong 25 năm sẽ đem lại cho Trung Quốc vô số lợi ích.

Thứ nhất, Trung Quốc vừa được tiếng giúp Lào phát triển kinh tế, vừa tận dụng được mạng lưới này để bán điện từ một loạt nhà máy điện mà nước này đã đầu tư tại Lào, ví dụ như chuỗi 7 nhà máy thủy điện Nam-U 1-7. Chỉ tính riêng tiền đầu tư cho chuỗi dự án có tổng công suất 1.272 MW này, Trung Quốc đã bỏ ra 2,8 tỷ USD.

Thứ hai, trong bối cảnh Trung Quốc đang tăng cường tìm mọi cách để tạo ảnh hưởng tại Lào nói riêng và Đông Nam Á nói chung, việc Trung Quốc nắm được quyền điều hành mạng lưới điện của Lào trong hàng chục năm sẽ giúp nước này có thể tác động tới an ninh năng lượng không chỉ của Lào, mà còn của các nước trong khu vực đã, đang và sẽ nhập khẩu điện của Lào (Việt Nam là một trong số đó với số lượng điện mua ngày càng lớn). Sau khi chi phối nguồn nước sông Mekong, việc Trung Quốc có thể tác động tới an ninh năng lượng khu vực sẽ giúp nước này có thêm công cụ để “mặc cả” hoặc “răn đe” các nước trong khu vực. Ngoài ra, trong bối cảnh Lào đang ngập trong nợ và đang đối mặt với nguy cơ vỡ nợ như một số tổ chức tín dụng trên thế giới cảnh báo, việc Trung Quốc tiếp tục cho Lào vay nợ sẽ khiến nước này lún sâu vào “bẫy nợ”, buộc Vientiane phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 17/03/2021.

Mỹ, Trung Quốc và thế tiến thoái lưỡng nan ở Biển Đông


Trang mạng chinafocus ngày 17/12 đăng bài viết phân tích về sự cạnh tranh Mỹ – Trung, đặc biệt tại khu vực Biển Hoa Nam (Biển Đông). Nội dung như sau:

Cạnh tranh Mỹ – Trung đang diễn ra một cách sâu sắc, đa chiều và bất đối xứng. Tuy nhiên, nếu có một vị trí địa lý, nơi sự cạnh tranh giữa các siêu cường trong thế kỷ 21 là sâu sắc và có khả năng bùng nổ nhất, đó là Biển Đông.

Ở Biển Đông, tại trung tâm hàng hải của châu Á, tham vọng hàng hải của Trung Quốc đã vấp phải quyết tâm bất di bất dịch của Mỹ trong việc duy trì sức mạnh hải quân ưu việt ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Điều khiến cho vấn đề phức tạp hơn, đó là Biển Đông cũng là nơi mà một loạt các đồng minh và đối tác chiến lược của Mỹ cũng có các tranh chấp với Bắc Kinh.

Chính quyền Tổng thống Joe Biden sắp tới, đã từ chối sự liều lĩnh chiến lược trong cách tiếp cận của chính quyền Trump, đã thề sẽ khôi phục các cam kết của Mỹ đối với trật tự quốc tế tự do. Tuy nhiên, tương lai mối quan hệ Mỹ – Trung sẽ không chỉ được xác định bởi hành động của các nhà lãnh đạo hai nước, mà còn cả của các cường quốc tầm trung và các đồng minh của Mỹ ở châu Á cũng như những xung đột cấu trúc sắp xảy ra trong bất kỳ cuộc cạnh tranh cường quốc nào. Tuy nhiên, trong khi sự đối địch Trung – Mỹ khó có thể sớm thay đổi, có một cơ hội duy nhất để thiết lập lại các điều khoản về sự can dự và cạnh tranh ở nơi được cho là tuyến đường biển quan trọng nhất của thế giới.

Trong khi chính quyền George W. Bush thực hiện chính sách tân bảo thủ tích cực, dẫn đến những vụ can thiệp “thúc đẩy dân chủ” thảm họa ở Trung Đông, chính quyền Obama đã cố tránh các cam kết quy mô lớn ở nước ngoài để ủng hộ chủ nghĩa đa phương theo cách tiếp cận “cầm đầu từ phía sau”. Đối với chính quyền Trump, Mỹ đã theo đuổi chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ và chính sách đối ngoại đối đầu, không chỉ đối với các đối thủ chiến lược như Trung Quốc và Iran, mà còn cả các đồng minh chủ chốt ở châu Âu và châu Á.

Về một số mặt nào đó, ông Biden giống với cựu Tổng thống Dân chủ Bill Clinton, người cũng thể hiện sự linh hoạt chiến lược đáng kể khi còn đương nhiệm. Nhìn lướt qua các quan điểm chính sách của họ có thể nhận thấy, các Tổng thống Bush, Obama và Trump, đều chắc chắn và có chủ ý, đưa ra các luận điểm đối nghịch với người tiền nhiệm. Đối với ông Biden và Clinton, họ là những chính trị gia năng động, có xu hướng điều chỉnh một cách linh hoạt tùy thuộc vào hoàn cảnh hiện tại.

Từ Chiến tranh Việt Nam, đến Chiến tranh Iraq và hậu quả thảm khốc của nó, ông Biden đã chuyển từ một anh hùng phản chiến thành một người theo chủ nghĩa can thiệp công khai, một nhân vật phản chiến kiểu mới. Trong nhiệm kỳ phó Tổng thống dưới thời Obama, ông Biden trở thành người theo chủ nghĩa hòa bình, thường xuyên xung đột với các thành viên nội các diều hâu hơn, bao gồm cả cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton và đặc biệt nhất là cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates. Tuy nhiên, việc chuyển đổi chiến lược của ông Biden đối với Trung Quốc mới là đáng chú ý nhất.

Một thập kỷ trước, với tư cách là Phó tổng thống của ông Obama, ông Biden đã ủng hộ “sự đồng cảm chiến lược” đối với Bắc Kinh. Sau chuyến thăm Trung Quốc năm 2011, ông Biden tự tin tuyên bố, “một Trung Quốc đang trỗi dậy là một sự phát triển tích cực, khả quan, không chỉ cho Trung Quốc mà cho cả nước Mỹ và trên thế giới”.

Ông Biden đã có những khoảng thời gian đặc biệt nồng ấm với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sau vô số cuộc trò chuyện cá nhân thân mật, khi cả hai nhà lãnh đạo đều tập trung vào các lĩnh vực cùng quan tâm hơn là xung đột. Tuy nhiên, chưa đầy một thập kỷ sau, chúng ta thấy Tổng thống sắp tới của Mỹ áp dụng quan điểm cứng rắn hơn đối với Trung Quốc, chỉ trích cả chế độ cộng sản và lãnh đạo cao nhất của nước này bằng những từ ngữ hung hăng.

Sự thay đổi trong luận điệu của ông Biden về Trung Quốc vừa có những tính toán vừa là dấu hiệu cho thấy chính sách đối ngoại của đảng Dân chủ có chiều hướng diều hâu hơn. Nói một cách dễ hiểu nhất, Tổng thống Biden hiểu rõ hai sự phát triển quan trọng và đan xen nhau: (i) Những bước tiến đáng kể của Trung Quốc trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và sức mạnh quân sự chỉ trong thập kỷ qua, và (ii) sự lo lắng ngày càng tăng của người Mỹ, không chỉ giới chính sách mà còn cả người dân Mỹ, vì vị thế ngày càng giảm sút của họ trong hệ thống toàn cầu.

Ví dụ, các cuộc khảo sát cho thấy rằng ngay cả trước đại dịch COVID-19, quan điểm của công chúng Mỹ về Trung Quốc đã theo hướng tiêu cực nhất định. Đối với giới tinh hoa chính sách của Mỹ, ngày càng có nhiều sự đồng thuận rằng Trung Quốc đặt ra mối đe dọa chưa từng có đối với vị thế thống nhất toàn cầu của Mỹ. Trong bối cảnh của sự đồng thuận hoài nghi về Trung Quốc ở Washington, việc quay trở lại thời kỳ “gắn kết” và “hợp tác G2” của Tổng thống Obama có vẻ ngày càng khó xảy ra, thậm chí còn khó hơn khi các đồng minh chủ chốt như Nhật Bản, Ấn Độ, Australia cũng như các cường quốc châu Âu, cụ thể là Anh, Pháp và Đức, cũng đã áp dụng lập trường cứng rắn hơn đối với Bắc Kinh.

Trong một bài tranh luận hồi đầu năm, chính ông Biden đã lập luận: “Mỹ cần phải cứng rắn với Trung Quốc. Nếu Trung Quốc làm theo cách của họ, họ sẽ tiếp tục cướp công nghệ và tài sản trí tuệ của Mỹ và các công ty Mỹ”. Xem xét các lựa chọn nội các hàng đầu của ông Biden cho thấy sự đi lên của các nhân vật diều hâu đối với Trung Quốc trong số những người được cho là theo đường lối tự do. Ngoại trưởng sắp tới Anthony Blinken và Cố vấn An ninh Quốc gia Jake Sullivan là những người ủng hộ mạnh mẽ nỗ lực xây dựng liên minh do Mỹ dẫn đầu nhằm hạn chế tham vọng của Trung Quốc, cho dù trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng hay tranh chấp hàng hải ở châu Á.

Lựa chọn hàng đầu ban đầu của ông Biden cho vị trí Bộ trưởng Quốc phòng là cựu quan chức cấp cao của Lầu Năm Góc Michèle Flournoy, được biết đến với lập trường tương đối diều hâu đối với các can thiệp của Mỹ ở Trung Đông và ủng hộ “sự cần thiết phải có thêm ngân sách quốc phòng”. Có lẽ gây tranh cãi nhất là phát biểu hồi tháng 6 của bà Flournoy rằng: Mỹ nên phát triển năng lực để “có thể đe dọa đánh chìm tất cả các tàu quân sự, tàu ngầm và tàu buôn của Trung Quốc ở Biển Đông trong vòng 72 giờ”. Tuy nhiên, điểm khác giữa các lựa chọn các nhân vật thực thi các chính sách đối ngoại và quốc phòng của ông Biden với ông Trump là các nhân vật này đều coi trọng chủ nghĩa đa phương và tầm quan trọng của các liên minh, trái ngược với chủ nghĩa đơn phương và chủ nghĩa bảo hộ trong những năm gần đây.

Chính phủ sắp tới của Mỹ có thể sẽ áp dụng cái mà Henry Kissinger gọi là cách tiếp cận “khác biệt” để tránh xung đột thảm khốc trong khi theo đuổi hợp tác về các mối quan tâm chung trên toàn cầu như biến đổi khí hậu, sức khỏe cộng đồng toàn cầu, phổ biến hạt nhân và thương mại tự do. Tuy nhiên,để chính sách ngoại giao ngăn cách của chính quyền Biden phát huy hiệu quả, phải đặt trong bối cảnh vấn đề Biển Đông. Đây đang là khu vực tranh chấp có xác suất lớn nhất để hai siêu cường lớn nhất thế giới vướng vào một cuộc xung đột toàn cầu. Lịch sử cho thấy rằng thường chỉ cần một cuộc giao tranh đẫm máu ngoài ý muốn, tình hình có thể leo thang đến mức nguy hiểm, kéo Mỹ và các đồng minh vào một cuộc đối đầu tàn khốc với một Trung Quốc.

Do đó, điều quan trọng là không chỉ Mỹ và Trung Quốc, mà cả các bên liên quan khác trong khu vực cùng bắt tay vào một nỗ lực bền vững và được thể chế hóa để giảm leo thang căng thẳng và thương lượng một cách chân thành các thông số về một kết quả được cả hai bên chấp nhận, phù hợp với luật pháp quốc tế và lợi ích của các quốc gia nhỏ hơn.

Biển Đông là một cuộc xung đột gay gắt đến mức chúng ta không thể sai lầm và sự xuất hiện của một chính quyền theo đường lối đa phương và tính toán hơn ở Washington sẽ mang đến cơ hội lịch sử để thiết lập lại chiến lược lâu dài.

Nguồn: TKNB – 21/12/2020.