Mỹ tăng cường hợp tác với ASEAN


Theo tạp chí Eurasia Review ngày 01/6, nhiều thay đổi đã diễn ra kể từ cuộc gặp đầu tiên giữa các quan chức Mỹ và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 1977. Tuy nhiên, sau 45 năm gắn bó, mối quan hệ giữa Mỹ và ASEAN vẫn không ổn định.

Cuộc chiến ở Ukraine đã tạo động lực mới để khởi động lại quan hệ Mỹ – ASEAN theo những cách thực tế. Các nhà lãnh đạo của Mỹ và ASEAN đã gặp nhau tại Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt ở thủ đô Washington vào tháng 5/2022. Tại sự kiện này, quan điểm luôn thay đổi của Mỹ với khu vực Đông Nam Á kể từ sau Chiến tranh Việt Nam là chủ đề tiếp tục được tranh luận, đặc biệt là về sự nhất quán và độ tin cậy của Mỹ.

Một thực tế đã nổi lên đó là khu vực này cần sự hiện diện của Mỹ, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh và kih tế. Các nhà lãnh đạo ASEAN đã hoan nghênh lời mời của Tổng thống Joe Biden khi nó được đưa ra lần đầu tiên vào tháng 10/2021.

Mối quan hệ Mỹ – ASEAN đã được định hướng bởi các lợi ích kinh tế và an ninh chung lâu đời giữa hai bên. Nhưng sự trỗi dậy của các cường quốc mới như Trung Quốc, Nga và Ấn Độ đã khiến đối thoại cấp cao nhất giữa Mỹ và ASEAN trở nên cấp thiết hơn.

Niềm tin của các nhà lãnh đạo ASEAN đối với vai trò của Mỹ trong khu vực đã tăng lên dưới thời chính quyền Biden vì ông Biden cam kết sớm họp với các đồng nghiệp ASEAN. Tại hội nghị thượng đỉnh ở Washington, ông Biden đã bổ nhiệm một trong những cố vấn thân cận của mình, ông Yahannes Abraham, làm đặc phái viên mới của Mỹ tại Ban Thư ký ASEAN sau 6 năm bỏ trống. ASEAN đã hoan nghênh quyết định này của ông Biden.

Điều quan trọng cần lưu ý là Trung Quốc đã không bỏ lỡ hơn hai chục hội nghị cấp cao liên quan đến ASEAN kể từ khi Bắc Kinh trở thành đối tác đối thoại với ASEAN vào năm 1992. Các cuộc họp cấp cao thường xuyên đã củng cố quan hệ ASEAN – Trung Quốc và biến nó thành quan hệ đối thoại năng động nhất của khối. Quan hệ Trung Quốc – ASEAN đã được nâng cấp lên quan hệ đối tác toàn diện vào năm 2021. Trong bối cảnh đó, Mỹ cũng đã nhân cơ hội Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt ở Washington để nâng cấp quan hệ với ASEAN thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Australia cũng đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với ASEAN vào năm ngoái.

Với cuộc chiến Nga – Ukraine đang diễn ra, Mỹ đang cố gắng tăng cường sự ủng hộ của ASEAN đối với lệnh trừng phạt Nga, một vấn đề mà Mỹ và ASEAN đang có quan điểm khác nhau. Hai bên đã rất khó khăn trong việc xác lập lập trường chung về tình hình Ukraine trong Tuyên bố Tầm nhìn chung Mỹ – ASEAN. Tuyên bố chung, nhắc lại lời kêu gọi của ASEAN về việc “chấm dứt ngay lập tức các hành động thù địch”. Nhưng chính quyền Biden muốn có thêm một sự đảm bảo từ ASEAN rằng họ sẽ không đi ngược lại các cơ chế trừng phạt đang được áp dụng khi cuộc chiến ở Ukraine vẫn tiếp diễn.

ASEAN cũng có các ưu tiên khác trong các vấn đề khu vực – bao gồm khủng hoảng Myanmar, xung đột Biển Đông, Bán đảo Triều Tiên và khai thác tài nguyên xuyên biên giới ở tiểu vùng sông Mekong. VIệc Mỹ gây quá nhiều áp lực với ASEAN để buộc ASEAN ngả về phương Tây có thể sẽ phản tác dụng. Các bài học kinh nghiệm từ phản ứng của Ấn Độ trước sức ép chung của Mỹ và châu Âu rất hữu ích. Không thành viên ASEAN nào muốn làm tổn hại đến mối quan hệ lâu đời của họ với Nga và Trung Quốc. Singapore có thể khác biệt nhưng nước này sẽ đứng một mình.

Từ đầu năm 2021, chính quyền Biden đã nhận ra rằng để giành được sự ủng hộ và hợp tác từ ASEAN thì cần phải thực dụng và linh hoạt hơn. Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPEF) mới được công bố, một phần của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, dược thiết kế để đáp ứng lợi ích của cả Mỹ và các nước khu vực. 7 trong số 10 thành viên của ASEAN nằm trong số 13 nước tham gia thể hiện mong muốn thúc đẩy hợp tác kinh tế chặt chẽ hơn với Mỹ và các đồng minh. IPEF vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và các cuộc thảo luận và đàm phán về nội dung IPEF sẽ mất thời gian do sự khác nhau về các quan điểm và thực tiễn kinh tế.

Để tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mới, Mỹ nên tập trung vào các cách thức để tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh với ASEAN, từ đó sẽ thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN. Phải mất gần một thập kỷ nước Mỹ dưới thời chính quyền Obama mới chấp nhận vai trò lãnh đạo của ASEAN trong các vấn đề khu vực. Kể từ bây giờ, Washington phải thể hiện sự sẵn sàng hợp tác trong khuôn khổ chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương theo các đường hướng do ASEAN khởi xướng.

ASEAN đã ưu tiên bốn lĩnh vực hợp tác trong khuôn khổ Triển vọng ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – hợp tác hàng hải, kết nối, phát triển bền vững và hợp tác kinh tế. Mỹ phải cởi mở khi hợp tác với ASEAN vì các khuôn khổ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương khác đã cam kết làm như vậy. Bất kỳ dấu hiệu nào của sự thiếu khoan dung sẽ làm tổn hại đến uy tín của nước Mỹ.

Điều này sẽ xoa dịu sự lo lắng của ASEAN về nhóm không chính thức được gọi là Bộ Tứ, bao gồm Mỹ, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ. Hợp tác chung trên các khuôn khổ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương giữa Mỹ và ASEAN sẽ tăng cường vai trò trung tâm của ASEAN và giải quyết các thách thức trong khu vực. Một lĩnh vực thử nghiệm là Đối tác vaccine Bộ Tứ, có kế hoạch cung cấp một tỷ liệu vaccine COVID-19. Theo thời gian, cả hai bên có thể mở rộng hợp tác từ dịch COVID-19 và an ninh y tế toàn cầu cho đến khí hậu, cơ sở hạ tầng bền vững, các vấn đề hàng hải, giáo dục, giao lưu nhân dân và can dự kinh tế.

Chính quyền Biden đã khôn ngoan khi không lợi dụng hội nghị thượng đỉnh để đưa ASEAN ra chống lại Trung Quốc và Nga. Nếu không, Mỹ sẽ làm tổn hại thêm quan hệ với ASEAN và cán cân quyền lực ở Đông Nam Á. Để nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mới, cả hai bên bây giờ nên tập trung vào việc thúc đẩy chương trình nghị sự song phương và tận dụng sức mạnh tổng hợp của mình trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Các nhóm vũ trang sắc tộc Myanmar thời hậu đảo chính


Ở các vùng biên giới của Myanmar, những hành động tàn bạo của quân đội không phải là điều gần đây mới xảy ra. Do đó, cư dân thuộc các nhóm sắc tộc sinh sống ở các khu vực này đã phải đối mặt với kết quả của cuộc đảo chính tháng 2/2021 với các mức độ can dự khác nhau và với những chiến lược riêng biệt. Họ cũng đã phải đối mặt với những hậu quả theo những cách không giống nhau.

Những tuần gần đây đã chứng kiến những nỗ lực mới nhằm cùng nhau đoàn kết dưới một ngọn cờ, trong khi cùng lúc chính quyền quân sự đã mời các nhóm vũ trang tham gia đàm phán. Cơ hội cho một Myanmar được giải phóng với nhiều quyền tự trị hơn cho các nhóm sắc tộc và vai trò của Chính phủ Thống nhất Quốc gia (NUG) trong một Myanmar như vậy sẽ như thế nào? Yawd Serk, thủ lĩnh của một trong những nhóm vũ trang sắc tộc có ảnh hưởng nhất ở Myanmar, trước đây đã kịch liệt chỉ trích chế độ sát hại gần 2000 thường dân. Ngày nay, ông được nhà lãnh đạo của chính quyền quân sự tiếp đón trong cung điện. Ngay sau cuộc đảo chính, Yawd Serk tuyên bố rằng các nhà lãnh đạo của hội đồng quân đội “phải chịu trách nhiệm”, đồng thời “10 nhóm vũ trang kiên quyết đứng lên bảo vệ người dân”. Nhóm vũ trang sắc tộc Quân đội Nhà nước Shan-miền Nam (SSA-S) của Yawd Serk là một trong số 10 nhóm vũ trang trước đây đã ký Thỏa thuận ngừng bắn trên toàn quốc (NCA), nhưng sau khi quân đội tiếp quản, họ tuyên bố ủng hộ Phong trào Bất tuân dân sự (CDM) – một phong trào nhằm tìm cách làm tê liệt cơ quan hành chính, lĩnh vực năng lượng của chính quyền quân sự và khuyến khích quân đội đào ngũ.

Năm 2019, Yawd Serk cũng từng phát biểu rằng “đầu tiên, hệ thống quản trị của chúng ta phải là một hệ thống dân chủ liên bang. Tất cả chúng ta đều biết rằng chế độ độc tài quân sự là hoàn toàn không tốt”. Vào thời điểm đó, nhà lãnh đạo của SSA-S đã chỉ ra sự cần thiết phải thay đổi Hiến pháp năm 2008 và “tập trung thảo luận về việc quân đội Myanmar sẽ làm thay đổi vấn đề an ninh như thế nào”. Tuy nhiên, đến giữa năm 2022, sau một năm chiến đấu và hàng nghìn người trên khắp bang Shan, bang Kayah và các nơi khác trên đất nước bị mất nhà cửa, Yawd Serk là đại diện đầu tiên của các nhóm vũ trang sắc tộc bắt tay với chế độ để tiến hành các cuộc đàm phán hòa bình. Yawd Serk cho biết các cuộc đàm phán đã diễn ra “suôn sẻ” và hai bên không có nhiều khác biệt.

Trong khi đó, thông tin về các cuộc tấn công của các lực lượng của chế độ quân sự, chẳng hạn như vụ phóng hỏa hơn 40 ngôi nhà ở bang Shan, vẫn tiếp tục xuất hiện. Nhiều người bày tỏ sự phẫn nộ trước việc Yawd Serk giúp chính quyền quân sự củng cố tính hợp lệ, trong khi đối với những người khác, đó là một lời nhắc nhở rất rõ ràng về thực tế rằng tất cả những người nắm giữ vũ khí ở Myanmar đều không có tính hợp pháp dân chủ. Những diễn biến này diễn ra sau khi có các thông tin căng thẳng ngày càng tăng giữa các cư dân của bang Shan – vùng lãnh thổ lớn nhất của Myanmar. Tháng 3/2022, người đứng đầu của một tổ chức sắc tộc khác – Đảng Quốc gia Ta’ang – đã bị sát hại cùng với gia đình của mình. Nhiều người đổ lỗi cho SSA-S về hành động đó nhưng nhóm này bác bỏ cáo buộc, nói rằng vụ việc này nhằm cố ý gây thiệt hại cho SSA-S. Tuy nhiên, sự kiện đã gieo rắc nghi ngờ vào các mối quan hệ thân tình giữa các nhóm sắc tộc khác nhau ở bang Shan. Do Myanmar thời hậu đảo chính không tiến hành một cuộc điều tra đáng tin cậy, các lời cáo buộc lẫn nhau càng tăng lên gấp bội.

Trước đây, những nỗ lực nhằm đoàn kết các nhóm vũ trang sắc tộc ở bang Shan do các nhóm tôn giáo khởi xướng đều đã thất bại. Điều đó xảy ra bất chấp những chỉ trích về cuộc đấu đá giữa các nhóm sắc tộc mà theo nhiều nhà bình luận địa phương, có đặc điểm của các cuộc chiến tranh ủy nhiệm được tiến hành vì lợi ích của quân đội, Trung Quốc, hoặc cả hai, hơn là vì người dân. Tình hình luôn phức tạp, phản ánh tính phức tạp của các vấn đề nội bộ ở các khu vực khác. Thành lập một liên minh quân sự giữa các nhóm vũ trang sắc tộc và Lực lượng Phòng vệ Nhân dân (PDF), các lực lượng đứng về phía NUG, chính phủ lưu vong của Myanmar, trên thực tế là một “cuộc đàm phán bất khả thi” – một nhiệm vụ không thể hoàn thành.

Sự chia rẽ đã tồn tại và sẽ còn tiếp tục kéo dài. Mặc dù nhiều nhóm vũ trang đã thực hiện cách tiếp cận chờ đợi và quan sát ngay sau khi cuộc đảo chính diễn ra, song chính quyền quân sự đã có thể động viên hoặc lấy lòng được một số lãnh đạo của các nhóm vũ trang này trong những tháng gần đây. Điều này đã được chứng minh bằng danh sách những người tham gia các cuộc đàm phán hòa bình do các tướng lĩnh dẫn dắt. Theo tuyên bố của phát ngôn viên hội đồng quân sự, Thiếu tướng Zaw Min Tun, Myanmar có 21 tổ chức vũ trang sắc tộc, 10 trong số đó đã chấp nhận lời mời tham gia các cuộc đàm phán. Gần đây, 7 nhóm đã nhận được danh hiệu danh tự từ chính quyền quân sự, tạo tiền đề cho quá trình đàm phán hòa bình diễn ra suôn sẻ. Tuy nhiên, một số nhóm – chẳng hạn như Liên minh Quốc gia Karen, Quân đội Độc lập Kachin, Đảng Tiến bộ Quốc gia Karenni và Mặt trận Quốc gia Chin – đang tích cực tham gia đấu tranh vũ trang chống lại chế độ độc tài, phản đối cuộc đàm phán, cho rằng cuộc đàm phán này không có phổ quát sau khi NUG và PDF bị loại trừ.

Trước tình hình đó, nhiều người tin rằng các cuộc hòa đàm sẽ không mang lại một nền hòa bình lâu dài, do chế độ quân sự lâu nay luôn có “truyền thông” phá vỡ các cam kết của chính họ và rằng các cuộc gặp chỉ là cái cớ để kích động chia rẽ và thuyết phục các nhóm vũ trang rời xa NUG. Nhìn bề ngoài, những sự kiện gần đây là một đòn giáng mạnh vào NUG. NUG đã tìm cách tự định vị mình là đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân Myanmar với chiêu bài thống nhất và dân chủ. Nhưng nhìn sâu hơn, thành công PR của chính quyền quân sự được xây dựng trên địa hình không ổn định vì rất khó có khả năng họ sẽ trao quyền tự quyết dưới bất kỳ hình thức nào cho các cộng đồng sắc tộc như hy vọng của các nhà lãnh đạo được mời. Các nhà lãnh đạo cuộc đảo chính gần đây đã tái khẳng định sự cần thiết phải duy trì Hiến pháp năm 2008, loại bỏ cơ hội sẽ có bất kỳ quyền tự trị thực sự nào.

Vì chế độ quân sự có kế hoạch tổ chức một cuộc tổng tuyển cử vào năm tới, các cuộc đàm phán về chế độ liên bang sẽ bị hoãn lại cho đến khi đó. Tuy nhiên, những người chỉ trích nghi ngờ rằng nếu không thay đổi hiến pháp, một quốc gia liên bang có thể được xây dựng trong tương lai hay không. Do đó, rất có thể, trong những tháng tới, chúng ta sẽ chứng kiến cuộc đấu tranh vũ trang giữa các bên cạnh tranh với nhau sẽ còn kéo dài, với nhiều phe nhóm sẽ đứng về phía chính quyền, hoặc ít nhất là đứng ngoài cuộc chiến này. Trong bối cảnh đó, một thành viên của chính phủ lưu vong gần đây đã gặp bộ trưởng ngoại giao Malaysia. Việc bộ trưởng Ngoại giao Malaysia kêu gọi các thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mở các kênh không chính thức với NUG làm dấy lên câu hỏi họ đã sẵn sàng và quyết tâm tới mức nào để thay đổi tình trạng của Myanmar và cuộc xung đột nội bộ của quốc gia này.

Tuy nhiên, với sự hậu thuẫn của Trung Quốc và Nga, chính quyền quân sự Myanmar không phải lo lắng nhiều. Sức ép của quốc tế đã mang lại kết quả rất hạn chế và các nhóm kháng chiến vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh của họ, yêu cầu phương Tây cung cấp vũ khí sau khi chứng kiến những gì đã xảy ra ở Ukraine. Nhìn vào quốc gia châu Áu đó, nhiều người tự hỏi liệu Liên minh châu Âu (EU), Mỹ và các nước khác có làm mọi thứ có thể để hỗ trợ các lực lượng ủng hộ dân chủ hay không. Sức mạnh của sự phản kháng chống lại cuộc chiến của Putin đã khiến nhiều nhà quan sát choáng váng, chưa nói đến chính bản thân Putin, người đã tính toán quá kỹ các cơ hội của mình.

Với việc “Myanmar phải hứng chịu tình trạng sự chú ý của các phương tiện thông tin đại chúng hay bị thay đổi” như James Rodehaver của Liên hợp quốc đã nói, cuộc khủng hoảng ở Đông Nam Á này có thể đang rơi vào khu vực bị sao nhãng, thờ ơ và im lặng. Myanmar được chú ý ít hơn nhiều so với Ukraine.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Hợp tác Anh, Australia và ASEAN nhằm tăng cường an ninh mạng trong lĩnh vực hàng hải – Phần I


Tóm tắt

+ Lĩnh vực hàng hải Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương an toàn và đảm bảo là rất quan trọng đối với sự thịnh vượng quốc gia của Anh, Australia và các quốc gia Đông Nam Á. Mặc dù có những mục tiêu chung, khả năng và lĩnh vực thế mạnh khác nhau.

+ Đông Nam Á và Australia cùng các đối tác quan trọng khác, đã có lịch sử hợp tác đa phương lâu dài. Trong bối cảnh hậu Brexit và Chính phủ Anh ngả sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, London sẽ được hưởng lợi trong việc phối hợp hài hòa các cam kết hàng hải của mình với các đồng minh như Australia và sắp xếp các đồng minh như Australia và sắp xếp các hoạt động của mình cho phù hợp với ưu tiên của các đối tác Đông Nam Á.

+ Mặc dù hợp tác an ninh trên biển có xu hướng bị chi phối bởi các hoạt động, chương trình và chiến dịch hải quân, nhưng các bên nên có cách tiếp cận toàn diện đối với hợp tác an ninh hàng hải, bao gồm quan hệ đối tác với các chủ thể phi quân sự và xem xét các khía cạnh an ninh hàng hải có liên quan đến dân sự.

+ Trong việc tìm kiếm một vai trò làm gia tăng giá trị trong không gian hợp tác an ninh hàng hải và xây dựng năng lực, vốn đã có nhiều bên tham gia, nhóm tác giả khuyến nghị các bên thăm dò hợp tác Anh – Australia – ASEAN về các vấn đề công nghệ, an ninh mạng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số trên biển. Đó là những khía cạnh có khả năng biến đổi tình hình và sẽ xác định tương lai của các hoạt động hàng hải ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, ảnh hưởng đến an toàn, an ninh, sinh kế và khả năng cạnh tranh kinh tế trong khu vực của Đông Nam Á.

+ Báo cáo đánh giá này khuyến nghị Anh, Australia và ASEAN hợp tác để nâng cao và đẩy mạnh việc khám phá mối quan hệ an ninh mạng – hàng hải.

Giới thiệu: Hiểu về an ninh hàng hải ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Các khái niệm chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được ban hành bởi Nhật Bản (tái khẳng định vào năm 2016), Mỹ (2017), Australia (2017), Ấn Độ (2018), Đức (2020), Hà Lan (2020), Liên minh châu Âu (EU) (2021), Pháp (tái khẳng định vào năm 2021), Anh (2021) và các nước khác cho thấy ý nghĩa địa chiến lược của khu vực. Mặc dù các khái niệm này khác nhau đáng kể về phạm vi, bản chất và chiến lược, nhưng chúng có một điểm chung: ý tưởng về các đại dương kết nối, trong đó các quốc gia Đông Nam Á nằm ở trung tâm và tạo thành tâm điểm của sự canh tranh nước lớn, vốn đã trở thành đặc trưng của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Khu vực này đã trở nên “tấp nập” hơn khi các bên tham gia trong dài hạn cũng như các bên tham gia mới đẩy mạnh các sáng kiến can dự.

Nhưng Đông Nam Á không chỉ là một đấu trường cạnh tranh: Khu vực này còn hàm chứa sức mạnh, dù dưới dạng một thể thống nhất hay tập hợp các nền kinh tế riêng lẻ. Các quốc gia ASEAN có thể thúc đẩy các đối thủ cạnh tranh và đối tác hướng tới việc đáp ứng các ưu tiên của riêng họ. Họ cũng đã có có thể hướng sự can dự toàn cầu tới nghị trình chính trị – quân sự, kinh tế, cơ sở hạ tầng và môi trường. Mặc dù lợi ích bao trùm của họ có sự hội tụ, nhưng Anh, Australia và các đồng minh thân cận nhất nên nhận thức được rằng đôi khi giữa họ và các nước ASEAN có thể sẽ có sự khác biệt trong cách tiếp cận, hoạt động và giá trị cơ bản.

Trong Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương năm 2019, 10 quốc gia thành viên đã công nhận lĩnh vực hàng hải là lĩnh vực hợp tác hàng đầu. Tuy nhiên, ý nghĩa chính xác của “an ninh hàng hải” vẫn chưa được xác định rõ ràng. Các cuộc thảo luận về an ninh hàng hải chủ yếu tập trung vào việc thực thi pháp luật trên biển, bảo vệ các tuyến giao thông hàng hải (SLOC), quản lý nghề cá và tài nguyên ngoài khơi đúng mức và duy trì biên giới chủ quyền trên biển. Nhìn chung, các vấn đề an ninh hàng hải có xu hướng tập trung vào các lĩnh vực an ninh khu vực, hoạt động tội phạm xuyên quốc gia, quản lý kinh tế và tài nguyên, môi trường biển và an toàn hàng hải.

Nghị trình hàng hải được ASEAN và các đối tác chia sẻ trong thể chế tập trung vào cơ chế đối thoại về an ninh sâu rộng có số lượng thành viên lớn nhất, đó là Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), bao gồm Australia, Canada, Trung Quốc, EU, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Nga và Mỹ cùng với các quốc gia thành viên ASEAN.

Anh ngả sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Theo văn kiện “Nước Anh toàn cầu trong thời đại cạnh tranh: Đánh giá tích hợp về an ninh, quốc phòng, phát triển và chính sách đối ngoại” của Chính phủ Anh, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là một khu vực có tầm quan trọng địa chính trị và kinh tế ngày càng cao trong thập kỷ tới. Văn kiện này đồng thời cho rằng sự cạnh tranh sẽ diễn ra trong bối cảnh “quân sự hóa khu vực, căng thẳng hàng hải và cạnh tranh về các quy tắc và chuẩn mực liên quan đến thương mại và công nghệ”. Do đó, việc tìm cách can dự chặt chẽ hơn với các quốc gia ở Đông Nam Á là một phần thiết yếu của chiến lược nhằm đưa Anh vào vị thế của một bên tham gia toàn cầu trong kỷ nguyên cạnh tranh chiến lược.

Điểm tựa cho sự can dự mới của Anh với Đông Nam Á về an ninh hàng hải

Anh đã trở thành đối tác đối thoại mới nhất của ASEAN vào năm 2021 – dấu mốc đầu tiên sau khi chính phủ nước này tuyên bố “ngả sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Trong bối cảnh Anh rời khỏi EU, London đã và đang xem xét các lý do đúng đắn để giải thích cho các ưu tiên của mình và tìm cách để thực sự tách mình khỏi, cũng như phối hợp khi có thể với các cách tiếp cận Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà EU, Pháp, Đức và Hà Lan đã khởi xướng song song.

Mặc dù xu hướng ngả về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là mới mẻ, nhưng sự hiện diện của Anh trong khu vực, đặc biệt là sự hiện diện trên biển, thì không. London duy trì sự hiện diện ở mức hạn chế ở Đông Nam Á sau khi Anh rút lui vào những năm 1960 và 1970 dưới hình thức các đợt triển khai quy mô nhỏ nhằm duy trì cam kết song phương với một số quốc gia nhất định. Trong hai thập kỷ qua, Anh cũng đã tham gia các cuộc tập trận đa phương lâu đời có sự tham gia của các nước ASEAN, chẳng hạn như cuộc tập trận Bersama Lima và SEACAT. Những cuộc tập trận này liên quan đến một số lượng lớn các quốc gia ASEAN và các đối tác bên ngoài, tập trung vào việc xây dựng năng lực trong các lĩnh vực hàng hải khác nhau. Các hoạt động này nhằm mục đích giải quyết nhiều vấn đề, bao gồm các mối quan ngại hiện nay về sự ổn định và an ninh khu vực, cũng như các nỗ lực lâu dài trong hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai (HADR). Việc triển khai tàu HMS Tamar và Spey gần đây đến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là những ví dụ về sự can dự của Anh với Thái Bình Dương. Việc theo dõi xem liệu điều này có thể trở thành phương án khả thi cho việc mở rộng phạm vi trong tương lai tới toàn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương rộng lớn hơn hay không là một vấn đề thú vị.

Nỗ lực an ninh hàng hải mới của Anh nhằm thu hút các quốc gia ASEAN đã và đang xoay quanh chiến dịch Fortis, với sự tham gia của Nhóm tác chiến tàu sân bay số 21 (CSG-21), để tiến hành một loạt cuộc tập trận trong và xung quanh Đông Nam Á từ tháng 6 đến tháng 12/2021. Khuôn khổ này bao gồm các cuộc tập trận song phương (PASSEX) với Thái Lan, Malaysia và Việt Nam theo đó các tàu chiến đi qua biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) vào năm 2021.

Một yếu tố trong nỗ lực này là khả năng của Anh trong việc duy trì tính bền vững và sự hiện diện thường xuyên trên biển. Hoạt động ngoại giao ban đầu của London và các hoạt động theo xu hướng ngả sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vẫn cần phải được hiệu chỉnh. Tuy nhiên, với các sáng kiến mới, London cũng cần phải nhạy cảm với nhận thức của các bên và thậm chí là những rủi ro về danh tiếng trong khu vực. Một phần sự hoài nghi về vai trò của Anh ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương xuất phát từ thực tế là khát vọng “nước Anh toàn cầu” có trọng tâm chủ yếu là châu Âu – Đại Tây Dương. Các lập luận cũng nhấn mạnh sự phụ thuộc mạnh mẽ hơn của Anh vào Mỹ để bù đắp cho việc từ bỏ sự kết nối với châu Âu.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện Chính sách chiến lược Australia

CVĐQT – số 5/2022

Campuchia “qua mặt” Việt Nam khi cho Trung Quốc đặt căn cứ hải quân


Theo đài RFA, Việt Nam thất bại trong việc ngăn chặn Trung Quốc đặt căn cứ quân sự ở sát vách, cách Phú Quốc chỉ 30 km.

Báo Washington Post ngày 7/6 đăng thông tin cho biết Trung Quốc sẽ tổ chức khởi công dự án xây dựng cơ sở hải quân tại Campuchia vào ngày 9/6 tới. Tờ báo cũng cho biết một phần căn cứ quân sự mới sẽ dành riêng cho quân đội Trung Quốc.

Tờ The Guardian (Anh) ngày 7/6 nhận định rằng sự hiện như vậy sẽ đánh dấu sự mở rộng đáng kể về khả năng tiếp cận quân sự của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Một quan chức phương Tây cho rằng các kế hoạch mở rộng được chốt lại hồi năm 2020 có điều khoản về việc quân đội Trung Quốc “sử dụng độc quyền phần phía Bắc của căn cứ, tuy nhiên, sự hiện diện không được công khai”.

Washington Post cho biết một quan chức Bắc Kinh xác nhận quân đội Trung Quốc sẽ sử dụng “một phần” căn cứ, nhưng phủ nhận rằng họ sẽ sử dụng độc quyền. Quan chức này cho biết Trung Quốc không tham gia bất kỳ hoạt động nào trên phần thuộc Campuchia ở căn cứ này.

Người phát ngôn chính phủ Campuchia Phay Siphan xác nhận rằng hai nước Campuchia và Trung Quốc sẽ động thổ 2 dự án liên quan đến cảng tại căn cứ này. Tuy nhiên, ông bác bỏ tuyên bố cho rằng Trung Quốc sẽ có bất kỳ quyền tiếp cận độc quyền nào ở đó.

Theo Bloomberg, Phay Siphan cho rằng lễ động thổ ngày 8/6 liên quan đến việc xây dựng một xưởng sửa chữa tàu và một đường trượt ở ụ tàu. Bất kỳ việc sử dụng quân sự độc quyền nào đối với căn cứ sẽ vi phạm hiến pháp của quốc gia.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên cho biết việc cải tạo căn cứ Ream là nhằm tăng cường khả năng của hải quân của Campuchia trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ hàng hải và chống lại tội phạm hàng hải.

Triệu Lập Kiên nhấn mạnh sự hợp tác trên diện rộng là công khai, minh bạch, hợp lý và công bằng, điều này không chỉ mang lại lợi ích cho hai quốc gia, mà còn là tấm gương về xây dựng một kiểu quan hệ quốc tế mới và cộng đồng với một tương lai chung cho nhân loại.

Ông Sam Roggeveen, Giám đốc chương trình an ninh quốc tế của Viện Lowy nhận định giá trị thực tế của căn cứ này đối với Bắc Kinh sẽ là cho phép Trung Quốc triển khai các tàu chiến và tàu tuần duyên đến xung quanh khu vực một cách dễ dàng hơn và đơn thuần là có nhiều sự hiện diện hơn.

Ý định đặt căn cứ hải quân ở Campuchia của Trung Quốc đã bị báo chí phương Tây tiết lộ từ năm 2019, tuy nhiên, giới chức của cả Campuchia và Trung Quốc liên tiếp phủ nhận. Tờ Washington Post đăng thông tin cho thấy những lời phủ nhận trên chỉ là đòn đánh lạc hướng.

Việt Nam nên làm gì?

Là nước đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, Việt Nam được cho là đã cố gắng thuyết phục Campuchia chọn vị trí trung lập và không để Trung Quốc đặt căn cứ hải quân trên đất của mình, nhưng giờ đây, những nỗ lực trên đã thất bại.

Căn cứ Hải quân Ream của Campuchia là vị trí mà Trung Quốc chọn để thiết lập sự hiện diện quân sự lâu dài đầu tiên ở một quốc gia Đông Nam Á và là tiền đồn quân sự hải ngoại thứ 2 của Trung Quốc sau khi đã xây dựng một căn cứ tại Djibouti ở vùng Sừng châu Phi. Điều đáng chú ý là căn cứ này chỉ cách đảo Phú Quốc của Việt Nam chưa đầy 30 km.

Trước đó, trong chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tới xứ Chùa tháp hồi tháng 12/2021, hai bên đã ra Tuyên bố chung, trong đó nhấn mạnh nguyên tắc không cho phép bất cứ lực lượng thù địch nào sử dụng lãnh thổ của nước mình để phương hại đến an ninh của nước kia.

Giáo sư Carl Thayer của Đại học New South Wales (Australia) cho biết phía Việt Nam từng tin tưởng rằng Campuchia sẽ không để Trung Quốc đặt căn cứ quân sự: “Phía Việt Nam cho biết là họ đã đạt được đồng thuận với Campuchia về việc sẽ không để bên thứ ba thiết lập sự hiện diện quân sự và gây tổn hại đến lợi ích của bên còn lại”.

Bình luận về việc Campuchia “nói một đằng, làm một nẻo”, Giáo sư Carl Thayer cho rằng cả Campuchia và Trung Quốc trước đó đều “chơi chữ” với các nước trong khu vực.

Ngoài căn cứ hải quân, Trung Quốc được cho là đang xây dựng một sân bay với vỏ bọc dân sự, nhưng có thể được chuyển sang mục đích quân sự trong tình huống khẩn cấp.

Với hai cơ sở trên, Giáo sư Thayer cho rằng, trong tình huống căng thẳng với Việt Nam, Trung Quốc có thể huy động cả hải quân và không quân để đối phó: “Trung Quốc sẽ có đủ năng lực thực địa để chuẩn bị cho tình huống căng thẳng với Việt Nam. Rất nhanh chóng, máy bay chiến đấu và tàu chiến của Trung Quốc sẽ xuất hiện ở sau lưng Việt Nam”.

Theo Giáo sư Carl Thayer, Việt Nam có rất ít khả năng để đảo ngược tình huống, thay vào đó, Việt Nam nên tập trung nghiên cứu hậu quả của việc bị Trung Quốc đặt căn cứ hải quân sát với phần lãnh thổ phía Nam của nước mình: “Trước hết, Việt Nam cần phải huy động lực lượng tình báo để tìm hiểu xem Trung Quốc đang thực sự xây cái gì ở Campuchia và phân tích xem lợi ích của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng ra sao, cả trong trường hợp xấu nhất, nhưng Việt Nam hiện không có khả năng để đe dọa hoặc đưa Campuchia trở lại quỹ đạo của mình”.

Giáo sư Carl Thayer đồng thời cho rằng, ở thời điểm hiện tại, Việt Nam chưa bị đe dọa, nhưng về lâu dài thì tình hình có thể thay đổi.

Nguồn: TKNB – 09/06/2022

Tâm điểm của Đối thoại Shangri-La 2022


Trang mạng của Viện Nghiên cứu các vấn đề chiến lược quốc tế (IISS) (Anh) mới đây đăng bài viết của chuyên gia James Crabtree, Giám đốc phụ trách khu vực châu Á của IISS, cho biết các đại biểu đang tập trung tại Singapore để tham dự Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á (còn được biết đến với tên gọi Đối thoại Shangri-La), và đây sẽ là cơ hội hiếm có để Mỹ và Trung Quốc thảo luận về một danh sách dài các bất đồng cũng như các chủ đề cùng quan tâm.

Đối thoại Shangri-La 2022 diễn ra từ ngày 10 – 12/6 (Đối thoại Shangri-La bị tạm hoãn trong năm 2020 và 2021 do dịch COVID-19), bắt đầu với bài phát biểu quan trọng của Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida. Tuy nhiên, các đại biểu chắc chắn sẽ tập trung nhiều hơn vào các bài phát biểu của Mỹ và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ giữa 2 siêu cường này ngày càng xấu đi. Có 5 khía cạnh quan trọng sẽ được chú trọng trong đối thoại năm nay.

Thứ nhất, bối cảnh của cuộc chiến ở Ukraine càng củng cố vai trò của Mỹ và Trung Quốc như những nhà lãnh đạo của các khối địa chính trị đối địch. Mặc dù không công khai ủng hộ các hành động của Nga ở Ukraine, song Bắc Kinh đã từ chối lên án Moskva. Ngay trước cuộc xung đột Nga – Ukraine, Nga và Trung Quốc đã ra một tuyên bố chung nhấn mạnh sự hợp tác, đồng thời khẳng định “tình hữu nghị giữa hai quốc gia không có giới hạn và không có vùng cấm”. Đã có những dấu hiệu cho thấy sự hợp tác này đang diễn ra trên thực tế. Cuối tháng 5 vừa qua, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã đến Tokyo để gặp gỡ những người đồng cấp trong nhóm Bộ tứ – đó là các nhà lãnh đạo của Australia, Nhật Bản và Ấn Độ. Đáp lại, Trung Quốc và Nga đã tiến hành các cuộc tuần tra chung với các máy bay ném bom chiến lược có khả năng mang hạt nhân là Xian H-6 (của Trung Quốc) và Tu-95 (của Nga).

Thứ hai, căng thẳng Mỹ – Trung về “điểm nóng” Đài Loan ngày càng sâu sắc. Tổng thống Biden đã gửi tín hiệu sai về vấn đề “Đài Loan độc lập”, điều này rất nguy hiểm. Mối quan hệ giữa 2 bờ Eo biển Đài Loan trong tương lai vẫn rất bấp bênh, không loại trừ khả năng Trung Quốc dùng vũ lực để thu phục hòn đảo này. Mặc dù về mặt chính thức, Mỹ cho biết các chính sách lâu nay của nước này đối với Đài Loan không thay đổi; song rõ ràng Bắc Kinh khó có thể yên tâm khi nghe những tuyên bố lặp đi lặp lại của ông Biden về vấn đề này. Gần đây nhất, trong chuyến công du Nhật Bản, ông Biden đã nói rằng Mỹ sẽ sử dụng vũ lực để bảo vệ Đài Loan trước sự xâm nhập của quân đội Trung Quốc, khiến các quan chức Mỹ phải nhanh chóng nói rõ rằng điều này không thể hiện sự thay đổi quan điểm của Mỹ.

Thứ ba, các đời bộ trưởng quốc phòng Mỹ gần đây đã sử dụng các bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La để khẳng định các cam kết của họ ở châu Á. Các quan chức Lầu Năm Góc nhiều lần cho biết Mỹ có ý định rút khỏi Trung Đông và các nơi khác để dành nhiều nguồn lực quân sự hơn cho châu Á. Tuy nhiên, tiến độ này diễn ra rất chậm chạp, ngay cả trước các sự kiện ở Ukraine. Các đại biểu đến từ các nước trong khu vực sẽ theo dõi chặt chẽ bất kỳ tín hiệu nào cho thấy Mỹ sẽ tăng tốc đầu tư vào các sáng kiến về vị thế khu vực – một chủ đề được đề cập sâu hơn trong chương mở đầu của Đánh giá An ninh Khu vực châu Á – Thái Bình Dương của IISS năm nay. Các động thái an ninh ngày càng được tăng cường của Trung Quốc tại khu vực cũng sẽ được theo dõi chặt chẽ, trong bố cảnh có những thông tin về thỏa thuận an ninh giữa Trung Quốc và Quần đảo Solomon cũng như việc Trung Quốc đang xây dựng một cơ sở hải quân ở Campuchia.

Thứ tư, sự cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng giữa hai siêu cường đang tạo ra những vấn đề của riêng hai nước. Chính quyền Biden hiện gọi chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc là “cạnh tranh trong hàng rào an toàn” – nghĩa là Washington tìm cách cạnh tranh mạnh mẽ với Bắc Kinh, nhưng vẫn tránh nguy cơ làm suy thoái nghiêm trọng và gây tổn hại trong lĩnh vực an ninh. Tuy nhiên, Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Biden, được công bố hồi tháng 2/2022, đã thẳng thừng đề cập đến mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho các lợi ích của Mỹ, cho rằng “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang kết hợp sức mạnh kinh tế, ngoại giao, quân sự và công nghệ để mở rộng phạm vi ảnh hưởng ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và tìm cách trở thành cường quốc có ảnh hưởng nhất thế giới”. Chính quyền Biden hiện phải đối mặt với những lựa chọn phức tạp về cách cạnh tranh với Trung Quốc. Mỹ nhận ra rằng Mỹ không thể cạnh tranh một mình, do đó Washington tập trung vào việc thắt chặt quan hệ với các “đồng minh  và đối tác”, như những gì Mỹ đã thể hiện trong các liên minh AUKUS (gồm Australia, Anh, Mỹ) và Bộ tứ (gồm Nhật Bản, Australia, Ấn Độ, Mỹ). Trong khi đó, Trung Quốc cũng hành động tương tự, thể hiện ở Sáng kiến An ninh Toàn cầu được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khởi động gần đây cho đến các kế hoạch của Trung Quốc về một “Tầm nhìn phát triển chung” mới với 10 quốc đảo Thái Bình Dương.

Thứ năm, vấn đề liên lạc giữa Bắc Kinh và Washington, hoặc việc thiếu kênh liên lạc, là thách thức cuối cùng. Tháng 4/2022, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin và Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phương Hòa đã có cuộc điện đàm lần đầu tiên để thảo luận về cuộc chiến ở Ukraine và các chủ đề khác. Cuộc điện đàm thu hút sự chú ý vì trước đó Lầu Năm Góc đã nỗ lực thiết lập các cuộc điện đàm với một quan chức cấp cao khác của Trung Quốc, Tướng Hứa Kỳ Lượng – Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Một số quan chức cấp cao khác của Mỹ, trong đó có Cố vấn An ninh Quốc gia Jake Sullivan, sau đó cũng đã có các cuộc điện đàm với các quan chức tương ứng của Trung Quốc. Nhưng nói chung, những cuộc đối thoại như vậy vẫn hiếm khi xảy ra trong một mối quan hệ song phương được đánh dấu bằng những mối liên hệ ít ỏi. Sự thiếu thông tin liên lạc này sẽ là nguyên nhân gây lo lắng trong bất kỳ cuộc khủng hoảng khu vực nào trong tương lai.

Các sự kiện như Đối thoại Shangri-La sẽ tạo cơ hội để Mỹ và Trung Quốc thảo luận về các vấn đề cùng quan tâm, với việc cả hai quốc gia đều đưa các phái đoàn quan trọng tới hội nghị. Tuy nhiên, khả năng cải thiện quan hệ giữa các siêu cường là rất nhỏ. Nguy cơ mối quan hệ Mỹ – Trung “lao dốc” hơn nữa đã thực sự được kiểm soát trong những năm gần đây do đại dịch COVID-19, với việc các nhà lãnh đạo của cả hai nước đều phải tập trung vào việc phục hồi trong nước. Điều này có thể tiếp tục diễn ra trong năm 2022 do Tổng thống Biden phải tập trung vào cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ, còn Chủ tịch Tập Cận Bình phải tập trung chuẩn bị cho Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XX, cả hai đều sẽ diễn ra vào tháng 11 tới. Tuy nhiên, những rủi ro mà Kurt Campbell – điều phối viên của Mỹ phụ trách khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – gọi là “bất ngờ chiến lược” có thể xảy ra trong ngắn hạn sẽ khó có thể giảm bớt, và cùng với đó là nguy cơ rạn nứt quan hệ vẫn gia tăng

Nguồn: TKNB – 13/06/2022

“Cánh cửa mới” cho giao thương Trung Quốc – ASEAN


Theo giới chuyên gia, việc Trung Quốc đang xúc tiến xây dựng cảng thương mại tự do ở tỉnh đảo Hải Nam, cực Nam Trung Quốc, sẽ mở ra những cánh cửa giao thương mới giữa “gã khổng lồ châu Á” này với các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, thành công sẽ đòi hỏi một bước nhảy vọt lớn về sự tin cậy và tinh thần tiên phong.

Theo kế hoạch, Bắc Kinh sẽ biến tỉnh đảo có diện tích 35.000 km2 này thành cảng thương mại tự do lớn nhất thế giới vào năm 2035, thu hút các nhà đầu tư, doanh nghiệp và doanh nhân thông qua mức thuế suất thấp hơn, đồng thời thu hút khách du lịch và tài năng nước ngoài thông qua biện pháp đơn giản hóa thủ tục cấp thị thực nhập cảnh. Hệ thống hải quan độc lập cho tỉnh đảo này cũng sẽ được triển khai vào năm 2025.

Nằm ở cực Nam của Trung Quốc, cảng thương mại tự do Hải Nam có vị trí thuận lợi trong việc tăng cường quan hệ thương mại với các nước ASEAN vốn đã vượt qua Liên minh châu Âu (EU) để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong năm 2020. Các công ty của ASEAN sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi để đầu tư vào Hải Nam, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ, nhờ việc nới lỏng những rào cản và giảm thuế. Đây là tuyên bố của Phó tỉnh trưởng Hải Nam Shen Danyang tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao diễn ra hồi tuần trước. Đánh giá về tiềm năng du lịch, ông Shen cho rằng tỉnh đảo Hải Nam trong tương lai cũng sẽ trở thành một phần của lịch trình du lịch cho du khách quốc tế, mà trước hết là du khách đến từ khu vực Đông Nam Á, khi Hải Nam đang được quy hoạch trở thành một đảo du lịch quốc tế và một trung tâm thương mại miễn thuế. Các công ty lữ hành của nước ngoài sẽ có thể thiết lập văn phòng đại diện tại tỉnh đảo – điều vốn không được phép đối với Đại lục. Quan chức tỉnh đảo lập luận: “Khách du lịch có thể đến Hải Nam trước khi đến thăm các nước như Việt Nam, Campuchia, Indonesia và Singapore. Họ cũng có thể mua sắm hàng hóa miễn thuế và có thể được mang xách tay về nước, với tổng giá trị mặt hàng lên đến khoảng hơn 15.000 USD mỗi người”. Bên cạnh đó, Hải Nam cũng sẽ là địa điểm thăm quan đầu tiên của du khách Đông Nam Á trước khi đặt chân lên Đại lục. Nhấn mạnh về những tiềm năng ngầm ẩn, ông Shen cho biết: “Tiềm năng du lịch sẽ mở rộng quy mô hoạt động du lịch qua lại giữa dư khách của Trung Quốc và du khách của Đông Nam Á đồng thời tạo cơ hội cho hợp tác giáo dục và lao động”. Tỉnh đảo cũng sẽ sớm có các chính sách cho phép người lao động nước ngoài có kỹ năng nhập cảnh để làm việc ở Hải Nam tùy thuộc vào những nhu cầu của thị trường.

Trong năm 2019, lượng khách du lịch đi lại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN đã lên đến 65 triệu lượt với gần 4500 chuyến bay, tăng so với 57 triệu lượt và 4000 chuyến bay trong năm 2018. Theo ông Shen, giới đầu tư ở Trung Quốc Đại lục cũng được khuyến khích đăng ký đầu tư ở Hải Nam và khi đó các khoản chi tiêu ở nước ngoài của họ sẽ được hưởng miễn thuế thu thập.

Trong chuyến thăm Hải Nam hồi đầu tháng 4 vừa qua, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh tỉnh đảo này cần trở thành một cảng thương mại tự do có tầm ảnh hưởng trên phạm vi quốc tế song vẫn mang những đặc trưng của Trung Quốc. Tuy nhiên, vẫn còn những quan ngại về việc cảng Hải Nam sẽ hoạt động như thế nào trong tương la khi các hệ thống hải quan, thuế quan và tài chính độc lập với các hệ thống của Đại lục. Tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao, ông We Xiaoqiu – nguyên Phó Hiệu trưởng trường Đại học Nhân dân Trung Quốc hiện là Viện trưởng Viện nghiên cứu Thị trường Vốn Trung Quốc – cho rằng “chính quyền Bắc Kinh cần có một kế hoạch cụ thể về những đặc điểm của một hải cảng thương mại tự do hiện đại trong thế kỷ 21, những chính sách về pháp lý, thu hút tài năng, thu hút vốn cũng như những chính sách và chiến lược khác không nằm trong hệ thống chính sách của Đại lục”.

Kế hoạch chuyển đổi Hải Nam thành cảng thương mại tự do quốc tế cũng phù hợp với chiến lược “tuần hoàn kép” của Bắc Kinh vốn nhằm thúc đẩy cả tiêu dùng trong nước và tăng cường khả năng độc lập về kinh tế với các nước bên ngoài nhằm ngăn chặn những tác động do tình trạng bất ổn bên ngoài gây ra đối với hoạt động kinh tế của Trung Quốc.

Ngoài ra, kế hoạch xây dựng cảng thương mại tự do cũng là một phần kế hoạch của Tập Cận Bình nhằm duy trì dòng chảy thương mại dịch vụ và thương mại toàn cầu khi Mỹ đang dọa “phân tách” với Trung Quốc và vai trò của Hong Kong là một trung tâm tài chính quốc tế cũng đang phải đối mặt với những thách thức khó lường sau khi Đại lục triển khai luật an ninh quốc gia gây tranh cãi tại đặc khu hành chính này.

Quá trình chuyển đổi Hải Nam thành cảng thương mại quốc tế thường được so sánh với quá trình chuyển đổi Thâm Quyến thành đặc khu kinh tế trong những năm 1980. Từng là nơi mà người dân sinh sống bằng nghề đánh cá, Thâm Quyến giờ đây đã trở thành một đặc khu kinh tế phát triển mạnh mẽ, thu hút đầu tư và thương mại nước ngoài. Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Wu, thành công của Thâm Quyến đã cần đến rất nhiều tinh thần tiên phong và chấp nhận vấp váp để “hái quả ngọt”. Ông Wu nói: “Hải Nam cần có đủ tinh thần kiên cường để gánh vác những trọng trách, không thể biết chắc được rằng đâu sẽ là con đường đi đúng đắn trong giai đoạn tìm tòi hướng đi hiện nay. Có thể có những con đường vòng (để thành công) song chúng ta vẫn phải kiên định đi theo con đường đã chọn hiện nay”.

Theo ông Bert Hofman, Giám đốc Viện nghiên cứu Đông Á thuộc Đại học Quốc gia Singapore, Hải Nam cũng cần “có chỗ đứng” trong Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) vốn là một thỏa thuận thương mại tự do lớn nhất thế giới tính đến thời điểm hiện nay. RCEP bao gồm 15 thành viên và chiếm gần 1/3 dân số và khoảng 30% GDP toàn cầu. Cũng tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao, ông Hofman cho rằng Hải Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Singapore khi xây dựng cảng thương mại tự do song cần lưu ý một điểm khác biệt là Singapore là mọt quốc gia còn Hải Nam chỉ là một tỉnh đảo. Do đó, ông Hofman cho rằng Hải Nam vẫn cần gắn kết với chính quyền trung ương để vẫn tồn tại như một “mắt xích” trong hệ thống chung của Trung Quốc và đây chính là điều cốt lõi.

Nguồn: TKNB – 29/04/2022

Sự không tương xứng trong quan hệ Mỹ – ASEAN – Phần cuối


Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa và là người ủng hộ thương mại tự do John Cornyn cho rằng IPEF (hiện đang được Quốc hội xem xét) là “sự thay thế yếu kém cho thực tế”. Tại cuộc hội thảo của CSIS, Cornyn nói rằng “IPEF được đưa ra như một giải pháp thay thế. Nhưng nó không phải là những gì tôi kỳ vọng khi nói đến việc đạt được các thỏa thuận thương mại mới”.

Các thượng nghị sĩ có mặt tại phiên điều trần ngày 31/3 của Ủy ban Tài chính Thượng viện Mỹ cũng chỉ trích việc IPEF thiếu khả năng tiếp cận thị trường, cho rằng khuôn khổ này đã “bỏ lỡ” các dấu ấn đối với những gì mà chính phủ các nước ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mong muốn. Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Bob Menendez của bang New Jersey nói rằng đại sứ của các nước có ý định tham gia IPEF đã nói với ông rằng khuôn khổ này không đủ tham vọng. Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa Mike Crapo của bang Idaho nói: “Hiện đang có nhiều quốc gia ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương kêu gọi các cuộc đàm phán thương mại tự do với chúng ta để họ có thể tăng cường mối quan hệ giữa hai bên về kinh tế, thay vì bị ràng buộc với Trung Quốc”.

Chuyên gia nghiên cứu Đông Nam Á và Thái Bình Dương thuộc Viện Hudson có trụ sở tại Washington Riley Walters cho rằng IPEF đòi hỏi chính phủ các nước ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương phải thực hiện tiêu chuẩn cao hơn trong các quy tắc và quy định, nhưng lại không đưa ra những động lực khuyến khích họ làm như vậy. Nó giống như việc yêu cầu ký kết một thỏa thuận thương mại có tất cả các biện pháp thực thi nhưng không có quyền tiếp cận thị trường. Tất cả đều là cây gậy và hoàn toàn không có củ cà rốt nào.

Trong lĩnh vực an ninh, động lực ngược lại là đúng – Mỹ muốn hợp tác an ninh nhiều hơn để chống lại Trung Quốc, nhưng đây lại là điều mà ASEAN nhìn chung ít quan tâm hơn. Thay vào đó, các chuyên gia nhận thấy Mỹ lại đang có cùng quan điểm với các thành viên khác của nhóm Bộ tứ và liên minh AUKUS và đang đẩy nhanh sự hợp tác trong hai cơ chế này. Tại cuộc hội thảo của CSIS, Cooper nói rằng “Nếu ai đó đòi hỏi nhà lãnh đạo của các nước thuộc nhóm Bộ tứ về mục tiêu của nhóm này là gì, thì thường họ sẽ trả lời rằng đó thực sự không phải là để chống lại Trung Quốc mà là vì tất cả các hàng hóa công cộng khác. Nhưng ở cấp cơ sở, Ấn Độ, Mỹ, Australia và Nhật Bản có điểm điểm gì chung mà các nước khác không có? Câu trả lời sẽ là chúng tôi sẵn sàng chống lại Trung Quốc”.

Theo Cooper, điểm chung lớn nhất của 4 nước thuộc nhóm Bộ tứ là sẵn sàng thực hiện một số nỗ lực để cân bằng những khó khăn về an ninh. Đó là lý do tại sao trong nhiều thời điểm Mỹ khó trao đổi với ASEAN – hiệp hội này về cơ bản là không sẵn sàng thực hiện các nỗ lực để cân bằng những khó khăn về an ninh. Điều này đã làm nổi bật sự căng thẳng của Mỹ khi can dự sâu hơn vào khu vực này. Mỹ có thể và nên có nhiều hành động thực tế hơn với ASEAN.

Những ngụ ý

Trong khi đó, vai trò chủ đạo về kinh tế của Trung Quốc trong khu vực đang tăng lên, điều mà sẽ khiến Washington lo lắng nếu sự trao đổi của nước này với ASEAN tiếp tục chậm lại. Thương mại song phương giữa Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á đã tăng 6,7%, đặt 685 tỷ USD trong năm 2020, gần gấp đôi kim ngạch thương mại giữa Mỹ và ASEAN trong năm 2020 với 362 tỷ USD.

Trung Quốc cũng đang đầu tư mạnh mẽ vào khu vực này và đã nộp đơn xin gia nhập Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Mỹ sẽ bị “bỏ lại phía sau” xa hơn nếu nước này không đầu tư nhiều hơn vào việc xây dựng các mối quan hệ về kinh tế bên cạnh các mối quan hệ về an ninh ở khu vực này.

Theo Cornyn, điều rất quan trọng đối với Mỹ là phải tiếp tục xây dựng những mối quan hệ đó trong khu vực, không chỉ từ khía cạnh an ninh mà cả từ khía cạnh kinh tế. Đó là cách tốt nhất để kiểm soát bước tiến của Trung Quốc trong việc củng cố sức mạnh cả về kinh tế và quân sự của nước này trong khu vực.

Điều đó cho thấy có những lĩnh vực hợp tác khác với ASEAN mà Mỹ đang thực hiện tốt, ngoài các mối quan hệ về an ninh và kinh tế. Mỹ có lợi thế đặc biệt về quyền lực mềm, như bà Elina Noor thuộc Viện chính sách xã hội châu Á đã nêu lên trong cuộc hội thảo của CSIS. Theo bà Elina, Sáng kiến thủ lĩnh trẻ Đông Nam Á, chương trình trao đổi văn hóa do Mỹ tài trợ, vẫn được đánh giá cao và rất phổ biến trong giới trẻ Đông Nam Á. Mỹ cũng đã tham gia nhiều chủ đề và khía cạnh mà thế hệ trẻ trong khu vực quan tâm như vấn đề biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, sự tham gia của Mỹ về kinh tế vẫn còn thiếu và việc nước này đẩy mạnh “mặt trận này” là một cách để họ có thể trấn an ASEAN rằng Mỹ không chỉ “chót lưỡi đầu môi” đối với vai trò trung tâm của ASEAN, mà còn thực sự quan tâm đến việc tăng cường các cam kết của mình với khu vực này. Ngược lại, nếu Mỹ tiếp tục đầu tư quá ít vào ASEAN, thì cả hai bên sẽ trở nên “đáng thương hơn” vì điều đó.

Nguồn: TLTKĐB – 29/04/2022

Sự không tương xứng trong quan hệ Mỹ – ASEAN – Phần đầu


Tờ The Straits Times ngày 11/04/2022 đăng bài bình luận của tác giả Charissa Yong về những điều không phù hợp trong cách tiếp cận của Mỹ nhằm tăng cường quan hệ với ASEAN, nội dung cụ thể như sau:

So với khoảng thời gian dành cho công tác sắp xếp và tổ chức Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt Mỹ – ASEAN, mối quan hệ hợp tác an ninh giữa Mỹ với các đồng minh trong Đối thoại an ninh Bộ tứ (gồm Mỹ, Australia, Ấn Độ và Nhật Bản) dường như lại tiến triển nhanh hơn nhiều.

Các nhà lãnh đạo của nhóm Bộ tứ đã tổ chức nhiều cuộc họp trực tuyến kể từ khi Tổng thống Mỹ Joe Biden lên cầm quyền vào tháng 01/2021 và tổ chức hội nghị thượng đỉnh trực tiếp đầu tiên tại Washington vào tháng 9/2021.

Trong khi đó, công tác chuẩn bị cho cuộc gặp trực tiếp giữa các nhà lãnh đạo của ASEAN với Biden đã kéo dài gần một năm rưỡi, và đến nay vẫn đang trong quá trình chuẩn bị.

Một cuộc họp được lên kế hoạch diễn ra vào cuối tháng 3 vừa qua đã bị hoãn lại do các vấn đề liên quan đến lịch trình. Hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN bị đình trệ là một điều đáng lo ngại vì những cuộc gặp như vậy thường là cơ hội để Mỹ thể hiện cam kết của mình với khu vực Đông Nam Á. Các cuộc gặp này cũng có xu hướng là sự bắt đầu cho một quá trình hợp tác sâu rộng hơn, là nơi đưa ra các thông báo quan trọng. Kurt Campbell, điều phối viên của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cho rằng Hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN có ý nghĩa nhằm phục vụ một mục đích như vậy.

Tại một cuộc hội thảo do Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) tổ chức ngày 5/4, Kurt Campbell nói rằng: “Tôi tin rằng một khi chúng ta có thể thực hiện điều này thì về cơ bản sẽ giúp thúc đẩy mối quan hệ của chúng ta với ASEAN trong tương lai ngày càng phát triển”. Cũng tại cuộc hội thảo này, Thứ trưởng Thương mại Mỹ Panela Phan đã gọi Hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN là một phần quan trọng để thúc đẩy mối quan hệ hai bên. Bà Pamela Phan nói thêm rằng Chính quyền Biden đang coi Hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN là một diễn đàn tiềm năng để khởi động Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPEF) được mong đợi từ lâu cho chiến lược kinh tế của Mỹ trong khu vực này.

Cùng ngày, Mỹ tuyên bố sẽ hợp tác với Australia và Anh liên quan đến tên lửa siêu thanh theo Hiệp ước an ninh AUKUS – đây là kết quả hoàn toàn trái ngược với tình trạng rất nhiều lần “nếu và có thể” trong quan hệ với ASEAN.

Sự trái ngược này làm nổi bật sự thụt lùi của quan hệ Mỹ – ASEAN và sẽ khiến Mỹ lo ngại bởi vì điều này sẽ mang lại cho Trung Quốc – đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng trong khu vực – không gian để lôi kéo ASEAN.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc gần đây đã miêu tả công tác chuẩn bị lịch trình cho Hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN là sự phản ánh cho “phong cách hách dịch” của Mỹ và là một ví dụ về việc ASEAN đã nhiều lần bị xếp sau chương trình nghị sự khác. Tờ báo này viết: “Ngay cả khi Hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN được tổ chức vào cuối năm nay, vẫn còn đó những hoài nghi về việc liệu nó có thể thực sự giúp thúc đẩy quan hệ hai bên hay không. Mỹ sẽ chỉ tập trung sự quan tâm vào những chủ đề liên quan đến lợi ích của nước này, chứ hoàn toàn không quan tâm đến lo ngại và nhu cầu của ASEAN”.

Sự trái ngược này cũng khiến ASEAN lo ngại, hiệp hội này cảm thấy không thoải mái khi bị nhóm Bộ tứ đẩy ra bên lề cuộc chơi – không còn là trung tâm của cấu trúc an ninh khu vực, ngay cả khi hai tổ chức này là rất khác nhau về bản chất. Nghiên cứu viên cấp cao của Viện doanh nghiệp Mỹ Zack Cooper cho biết: “Chúng ta có thể nói nhiều về cách Bộ tứ tôn trọng vai trò trung tâm của ASEAN. Nhưng nếu nhìn lại những gì đã xảy ra ở Mỹ trong 5 năm qua, thì bạn sẽ nhận thấy Mỹ đã nỗ lực như thế nào? Mỹ đã đầu tư vào những cơ chế như nhóm Bộ tứ và AUKUS”. Mỹ nên nhận thức được sự không phù hợp giữa lời nói và hành động thực tế này, và ủng hộ “những tuyên bố” của mình về vai trò trung tâm của ASEAN bằng những hành động thực tế. Điều quan trọng nhất cần theo dõi trong tương lai gần là IPEF và mức độ mà khuôn khổ này có thể đáp ứng những mong muốn của khu vực liên quan đến vấn đề kinh tế.

Lý do khiến sự trao đổi giữa Mỹ và ASEAN diễn ra chậm hơn?

Những khó khăn về logistics và thời điểm không tốt có thể phần nào lý giải cho sự trao đổi giữa Mỹ và ASEAN diễn ra ở tốc độ chậm hơn mong muốn. ASEAN gồm có 10 nước thành viên, lớn hơn nhiều so với nhóm Bộ tứ chỉ có 4 nước. Hơn nữa, do ASEAN có các hệ thống chính trị và nền kinh tế rất khác biệt nên thường rất khó để đạt được một thỏa thuận. Chiến tranh Ukraine chắc chắn cũng đã gây ra nhiều tác động và khó khăn cho các kế hoạch và sự “sẵn sàng” của Mỹ – ngay cả cuộc họp các nhà lãnh đạo nhóm Bộ tứ tại Nhật Bản ban đầu được đề xuất diễn ra vào cuối tháng 4 này, cũng được cho là sẽ hoãn lại đến tháng 5. Tuy nhiên, có một lý do sâu xa hơn – có sự không phù hợp cơ bản trong những gì mà Mỹ và ASEAN mong muốn nhất ở mỗi bên. Nhìn chung, đứng đầu danh sách những điều mà ASEAN “mong muốn” là được tiếp cận thị trường nhiều hơn và tự do hóa thương mại lớn hơn. Nhưng đây lại là sự khó khăn về mặt chính trị đối với Washington và Chính quyền Biden đã phát đi tín hiệu họ khó có thể làm được như vậy.

Mỹ đã sẵn sàng triển khai IPEF của mình, khuôn khổ vốn sẽ thúc đẩy thương mại công bằng và linh hoạt hơn, thúc đẩy khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng, cơ sở hạ tầng, năng lượng sạch và giảm thiểu khí thải carbon… Tháng 10/2021, tại Hội nghị cấp cao Đông Á, Biden lần đầu tiên công bố các kế hoạch của Mỹ đối với IPEF, và sau đó Nhà Trắng cho biết IPEF sẽ được đưa ra vào đầu năm nay. Cho đến nay, chưa có thông tin chi tiết, cụ thể nào về những quốc gia nào có thể được đưa vào khuôn khổ này. Nhưng gần đây, Bộ Thương mại Mỹ và Văn phòng đại diện thương mại Mỹ đã kêu gọi đóng góp ý kiến công khai về những gì mà IPEF nên đưa vào.

Họ đã dừng việc lấy ý kiến công khai, và trong cuộc hội thảo của CSIS ngày 5/4, bà Pamela Phan cho biết Mỹ có thể triển khai trong tháng 5. Tuy nhiên, khuôn khổ này cũng sẽ không đạt được tiêu chuẩn của một thỏa thuận tự do khi tham gia các thỏa thuận thương mại mới, cũng như mở rộng hơn nữa tiêu chuẩn tiếp cận thị trường.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 29/04/2022

ASEAN trong cuộc đọ sức Mỹ – Trung – Phần cuối


ASEAN đứng giữa

Phó giáo sư Hoo Tiang Boon từ Trường nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam thuộc Đại học Công nghệ Nanyang cho rằng để đối phó với ưu thế ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực, các quốc gia ASEAN đang hướng tới Mỹ như một sự lựa chọn phòng ngừa rủi ro. Về phía Washington, Chính quyền Joe Biden đã hướng sự chú ý trở lại khu vực với hàng loạt chuyến thăm ngoại giao cấp cao sau nhiều năm thờ ơ dưới thời Tổng thống Donald Trump.

Dữ liệu từ cuộc khảo sát cho thấy người dân Đông Nam Á hoan nghênh Đối thoại An ninh Bộ tứ – một nhóm an ninh do Mỹ dẫn đầu cũng bao gồm Australia, Nhật Bản và Ấn Độ – với 58,5% số người được hỏi nhất trí rằng việc tăng cường nhóm Bộ tứ và hợp tác hữu hình trong những lĩnh vực như an ninh vaccine và biến đổi khí hậu là tích cực và làm yên lòng khu vực. Tỷ lệ này tăng so với cuộc khảo sát năm 2020 với chưa đến một nửa số người trả lời (45,8%) coi nhóm Bộ tứ có ảnh hưởng tích cực đến an ninh khu vực.

Về hiệp ước an ninh AUKUS bao gồm Australia, Anh và Mỹ, 36,4% số người được hỏi cho rằng nó sẽ giúp cân bằng sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc, mặc dù cũng có đến 22,5% số người được hỏi cho rằng nó làm leo thang một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực và 18% cho rằng nó làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN.

Giáo sư Hoo cho rằng ASEAN không mong muốn trở thành một phần đế quốc Mỹ. Ông cũng cho rằng mục tiêu của Trung Quốc trong ngắn đến trung hạn có thể là đảm bảo rằng ASEAN vẫn trung lập và không công khai đứng về phía Mỹ, và bất kỳ quyết định nào của ASEAN không làm xói mòn những lợi ích của Trung Quốc.

Nói tóm lại, khu vực Đông Nam Á phải đối mặt với sự cân bằng mong manh giữa việc lấy lòng Mỹ mà không làm mất lòng Trung Quốc. Giáo sư Hoo cho biết: “Mọi quốc gia Đông Nam Á đều mong muốn tối đa hóa sự linh hoạt và tự chủ chiến lược của mình, để làm những gì tốt nhất cho chính lợi ích quốc gia của mình”.

Những chia rẽ ngày càng tăng

Các nhà quan sát nhất trí rằng cách tốt nhất để ASEAN đối phó với cuộc đọ sức giữa hai siêu cường là duy trì đoàn kết và thái độ trung lập, nhưng điều này đang bị đe dọa bởi sự chia rẽ nội bộ ngày càng tăng. Ví dụ, đối với cuộc khủng hoảng Myanmar, những người trả lời khảo sát ở ASEAN có sự chia rẽ, 37% tán thành cách thức khối này đối phó với vấn đề, 33,1% không đồng ý và 29,9% có thái độ trung lập.

Những sự chia rẽ này là đáng kể khi chúng được phản chiếu qua lăng kính của sự cạnh tranh Trung – Mỹ và đe dọa làm tê liệt khả năng của ASEAN trong việc ứng phó với các vấn đề then chốt của khu vực. Cuộc khảo sát của ISEAS cho thấy 92% số người được hỏi ở Myanmar nói rằng họ sẽ chọn liên kết với Mỹ nếu buộc phải lựa chọn. Họ xa lánh Trung Quốc vì nhận thức được sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với chính quyền quân sự cầm quyền ở Myanmar.

Ở phía bên kia là Campuchia và Lào, nơi đại đa số (81,5% số người trả lời ở Campuchia và 81,8% ở Lào), lựa chọn Trung Quốc thay vì Mỹ. Giáo sư Thitinan nhận định trong khi các vấn đề như tranh chấp biển Nam Trung Hoa đã chia rẽ ASEAN trong thập kỷ qua, với các nước tuyên bố chủ quyền như Việt Nam và Philippines rõ ràng đứng một bên còn phía bên kia là Lào và Campuchia, cuộc khủng hoảng Myanmar đã “gây thiệt hại sâu sắc” cho khả năng duy trì lập trường trung lập của ASEAN.

Theo ông, sẽ rất khó khăn để ASEAN cất lên cùng một tiếng nói và có cùng quan điểm đòi hỏi phải có sự thống nhất nào đó trong khi các nước không đồng quan điểm với các vấn đề then chốt như biển Nam Trung Hoa và Myanmar. ASEAN đã nếm trải những chia rẽ có thể dẫn đến tê liệt vào năm 2016 khi Campuchia thân thiện với Bắc Kinh đã cản trở khối đưa ra Tuyên bố chung ASEAN về vấn đề biển Nam Trung Hoa.

Cuộc khảo sát năm nay của ISEAS là một dấu hiệu cảnh báo rằng khi sự đối đầu Mỹ – Trung tăng lên, những căng thẳng này sẽ ngày càng gây khó khăn cho ASEAN. Như tiến sỹ William Choong đặt vấn đề: “Việc duy trì tính trung lập và không chọn bên là một tấm ván hẹp mà ASEAN cần phải bước lên, nhưng tấm ván đang ngày càng trở nên nhỏ lại.

Nguồn: TLTKĐB – 21/03/2022

ASEAN trong cuộc đọ sức Mỹ – Trung – Phần đầu


Theo bài viết trên báo The Straits Times ngày 02/03, bất chấp sự lôi kéo của Trung Quốc, những hoài nghi vẫn tồn tại ở Đông Nam Á. Lập trường của Bắc Kinh về cuộc chiến của Nga ở Ukraine có thể làm gia tăng những lo ngại ở khu vực này. Nội dung bài viết như sau:

Trong hai năm qua, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã thực hiện ba chuyến công du đến Đông Nam Á. Tại đây, ông đã đến thăm tất cả 10 nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Mỗi lần ông đều đến với những lời đề nghị về vaccine, viện trợ kinh tế và đầu tư cho khu vực bị đại dịch COVID-19 hoành hành này.

Khi ASEAN và Trung Quốc kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ đối thoại vào tháng 11/2021, sự hào phóng của Trung Quốc cũng được thể hiện – ngoài vaccine, Bắc Kinh còn cam kết mua nông sản của các nước ASEAN trị giá lên tới 150 tỷ USD trong 5 năm tới. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khi đó phát biểu: “Trung Quốc đã, đang và sẽ luôn luôn là người láng giềng tốt, người bạn tốt và đối tác tốt của ASEAN”.

Nằm ngay ngưỡng cửa của Trung Quốc và vắt ngang các tuyến đường thương mại then chốt, Đông Nam Á có tầm quan trọng chiến lược đối với Bắc Kinh. Tuy nhiên, bất chấp những đề nghị hào phóng, Trung Quốc vẫn vừa được yêu vừa bị ghét ở Đông Nam Á, như cuộc khảo sát gần đây đối với các nhà tư tưởng, giới doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách của khu vực do Viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore) thực hiện cho thấy.

Báo cáo khảo sát “Tình trạng Đông Nam Á 2022” của Viện ISEAS-Yusof Ishak được công bố gần đây cung cấp một cái nhìn sơ lược về cách mà thái độ yêu-ghét này được thể hiện trong khu vực trong bối cảnh đối đầu Mỹ – Trung ngày càng căng thẳng. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hơn là khảo sát này cũng ám chỉ những chia rẽ ngày càng lớn trong nội bộ tổ chức khu vực ASEAN trong việc đối phó với cuộc đối đầu địa chính trị này.

Yêu và ghét

Được tiến hành hàng năm, khảo sát mới nhất của Viện ISEAS-Yusof Ishak là cuộc khảo sát lần thứ tư và cũng như các khảo sát trước đó, Trung Quốc được nhiều người đánh giá là cường quốc có ảnh hưởng nhất trong khu vực. Tuy nhiên, nhiều người lo lắng về ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc (64,4% lo lắng về ảnh hưởng kinh tế và 76,4% lo lắng về ảnh hưởng chính trị và chiến lược ngày càng tăng của Trung Quốc). Hơn một nửa (58,1%) không tin tưởng Trung Quốc “làm điều đúng đắn” để đóng góp cho hòa bình, an ninh, thịnh vượng và quản trị toàn cầu. Tỷ lệ này giảm nhẹ so với 59,6% trong báo cáo năm 2021 và cao hơn so với 51,5% trong cuộc khảo sát đầu tiên vào năm 2019.

Tiến sĩ William Choong, chuyên gia Viện ISEAS-Yusof Ishak, đã mô tả quan hệ của ASEAN với Trung Quốc là “vừa yêu vừa ghét”. Ông cho rằng các quốc gia ASEAN thấy rõ tiềm năng và sự hứa hẹn của can dự về kinh tế với Trung Quốc, nhưng đồng thời Trung Quốc cũng là một thực tế địa chính trị không thể phủ nhận.

Cuộc khảo sát cho thấy những lo ngại sâu sắc về các thiết kế của Trung Quốc đối với khu vực. Hơn 68% số người được hỏi coi Trung Quốc hoặc là cường quốc theo chủ nghĩa xét lại hoặc dần dần chiếm lấy vai trò của Mỹ với tư cách là nhà lãnh đạo khu vực. Ngay cả những người có quan điểm tích cực về mối quan hệ với Bắc Kinh cũng nêu lên những lo ngại hàng đầu của mình là các chiến thuật mạnh tay của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và sông Mekong cũng như ảnh hưởng kinh tế và chính trị ngày càng tăng của Trung Quốc đối với đất nước họ.

Tập Cận Bình đã nói với những người đồng cấp ASEAN của mình rằng Trung Quốc không tìm kiếm bá quyền hay bắt nạt các nước láng giềng nhỏ hơn, nhưng quan điểm của các quốc gia Đông Nam Á lại cho rằng lời nói của Trung Quốc không đi đôi với việc làm. Dưới sự cai trị của ông, Bắc Kinh đã quân sự hóa các đảo ở biển Nam Trung Hoa và ngày càng quyết đoán hơn về các tuyên bố chủ quyền của mình đối với các hòn đảo đang có tranh chấp với Việt Nam, Philippines, Brunei và Malaysia.

Các dự án trong Sáng kiến Vành đai và Con đường đã khiến các quốc gia như Lào mắc nợ nặng nề. Giáo sư Thitinan Pongsudhirak, Giám đốc Viện an ninh và nghiên cứu quốc tế thuộc Đại học Chulalongkorn, lưu ý rằng Lào gần như đã trở thành nước được Trung Quốc bảo trợ về kinh tế.

Sau khi từ chối việc coi Nga sử dụng vũ lực ở Ukraine là một hành động xâm lược và vi hạm luật pháp quốc tế, Bắc Kinh khó có thể xoa dịu được mối nghi ngờ ở Đông Nam Á. Nhà ngoại giao kỳ cựu của Singapore Tommy Koh đã nhiều lần nói rằng đối với các nước nhỏ, luật pháp quốc tế vừa là lá chắn vừa là thanh gươm để bảo vệ và đảm bảo lợi ích cho họ.

Đối với ASEAN – một tổ chức khu vực gồm các quốc gia nhỏ và vừa phụ thuộc vào việc tiếp cận thị trường Trung Quốc, đây là một trong số ít công cụ mà họ có thể sử dụng để đối phó với nước láng giềng lớn hơn và mạnh hơn rất nhiều khi tranh chấp phát sinh. Giờ đây khi Trung Quốc nhìn theo cách khác – quả thực Bắc Kinh cáo buộc Washington là thủ phạm gây ra những căng thẳng hiện tại – khi đối tác chiến lược của họ là Nga hành động thô bạo với một quốc gia có chủ quyền khác, điều đó cho thấy họ tin rằng các nước lớn không bị rằng buộc bởi các quy tắc quốc tế và lẽ phải thuộc về kẻ mạnh.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 21/03/2022