Thị trường là động lực tối thượng – Phần II


Hầu hết những ngân hàng lớn tại châu Á hiện đang cung cấp các dịch vụ ngân hàng thông qua các kênh điện tử (e-banking) hoặc qua môi trường di động (m-banking). Các nhà bán lẻ đang tích cực tung ra các nền tảng trực tuyến như một phương tiện thay thế để thực hiện các hoạt động kinh doanh với khách hàng. Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp ô tô và giao thông vận tải đang cung cấp các ứng dụng trực tuyến và/hoặc ứng dụng di động nhằm mang lại trải nghiệm số cho các khách hàng của họ. Ngay cả khu vực công cũng đang trở nên sôi nổi hơn với dịch vụ quản trị điện tử (e-gorvernance) dựa trên nền tảng kỹ thuật số cho các công dân.

Không cần nói cũng thấy công nghệ đã đặt ra một thách thức lớn cho hầu hết các doanh nghiệp dưới hình thức những xáo trộn thị trường. Nhưng dưới sự đe dọa của những thách thức cũng còn đó những cơ hội cho những doanh nghiệp nào dám đương đầu với tình thế một cách sáng tạo.

Diện mạo mới của cạnh tranh

Những xáo trộn gây ra bởi công nghệ không chỉ giúp loại bỏ ranh giới cạnh tranh giữa các quốc gia như Harold Sirkin đã đề cập. Số hóa cũng làm mất ranh giới giữa các ngành nghề. Cạnh tranh ngày nay có thể xảy ra ở bất kỳ ngành công nghệ hay lĩnh vực nào.

Hãy thử xem qua một ví dụ khác trong ngành khách sạn. Các khách sạn không chỉ cạnh tranh với những đối thủ của mình, mà còn phải đối mặt với những mối đe dọa từ các doanh nghiệp như Airbnb, nơi chỉ đơn giản là tập hợp các danh sách những căn hộ cho thuê tại một thành phố cụ thể. Trang web của doanh này có trên 1.500.000 danh sách ở 190 quốc gia và 34.000 thành phố và cung cấp đủ loại hình lựa chọn cho các khách du lịch dựa trên giá, chất lượng chỗ ở và địa điểm. Được thành lập vào tháng 8/2008 và có trụ sở tại San Francisco, California, Airbnb là một công ty được điều hành và sở hữu tư nhân (Brennan, 2011).

Các công ty vận tải truyền thống dường như đang “hoảng loạn” khi phải đối mặt với mối đe dọa thực sự. Sự nổi lên của các mạng lưới vận tải dựa trên nền tảng trực tuyến như Uber – tương tự như một số loại hình khác tại châu Á – Grab của Malaysia, Didi Chuxing của Trung Quốc (trước đó là Didi Kuaidi), và GoJek của Indonesia – đã tạo nên một làn sóng phản ứng tiêu cực từ các doanh nghiệp vận tải truyền thống, đặc biệt từ những nhà cung cấp dịch vụ taxi. Về phía các chính phủ liên uan cũng đang gánh chịu nhiều áp lực. Họ đang phải đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan đặc biệt kể từ khi những mạng lưới vận tải với nền tảng trực tuyến ngày càng trở nên phổ biến đối với khách hàng, dù cho vẫn còn tồn tại câu hỏi rằng có nên cho phép những mạng lưới này phát triển mạnh mẽ hay không khi mà chúng đang ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp vận tải truyền thống. Các doanh nghiệp này nhận thấy được tình thế bất lợi vì sự tiện nghi cùng mức giá cả hợp lý mà những công ty vận tải thay thế mang lại thậm chí các công ty này có thể không tuân thủ theo những quy định hoạt động chung.

Những sự xáo trộn tương tự từ lâu đã xuất hiện ở các ngành công nghiệp khác. Craigslist, một trang web quảng cáo rao vặt, nơi liên kết những người mua và người bán địa phương lại với nhau, đã làm cho vị thế của báo chí trở nên lỗi thời. Trang Amazon.com đã gây nên sự xáo trộn đối với các nhà xuất bản và những hiệu sách. Google và Baidu đã làm cho các thư viện trở nên ít được quan tâm hơn. Và danh sách này vẫn còn kéo dài. Trên thực tế, ngay cả những lĩnh vực bảo thủ như ngân hàng cũng không còn tránh được ảnh hưởng từ những sự xáo trộn nữa. Hiện tại, các ngân hàng đang phải cạnh tranh với những đối thủ mới, từ các nhà khai thác viễn thông và các công ty tài chính (Khung 3.1).

Khung 3.1: Các đối thủ mới trong ngành ngân hàng châu Á

Hệ thống tiền di động

Hệ thống tiền di động, còn được biết đến với tên gọi thanh toán di động hay ví điện tử, là các dịch vụ thanh toán hoạt động dưới các quy định, luật lệ về tài chính và được thực hiện từ hoặc thông qua một thiết bị di động. Thay vì phải chi trả bằng tiền mặt, chi phiếu, hoặc thẻ tín dụng, khách hàng có thể sử dụng điện thoại di động để thanh toán cho một loạt các sản phẩm và dịch vụ khác nhau.

Theo số liệu từ Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2012, các nước có tỷ lệ tài khoản ngân hàng chính thức thấp nhất ở hu vực châu Á lần lượt là: Campuchia đứng đầu với 3,6%, xếp thứ hai là Pakistan với 10% và Indonesia xếp thứ 3 với 19,5%; Việt Nam và Philippines lần lượt chiếm 21 và 26%. Ở khu vực Nam Á, có khoảng 33% người từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại một tổ chức tài chính chính thống vào năm 2012, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới. Số liệu này cũng cho thấy rằng 67% dân số tiềm năng chưa có giao dịch tài chính tại các ngân hàng, điều này làm cho Nam Á trở thành một trong những khu vực tăng trưởng tiềm năng nhất trên thế giới đối với ngành công nghiệp thương mại di động.

Sandy Shen, giám đốc nghiên cứu của công ty Gartner cho biết: “Đối với khu vực phi ngân hàng, các ngân hàng không nắm giữ vai trò dẫn dắt. Khu vực này đang được kiểm soát chủ yếu bởi ngành viễn thông với phạm vi phủ sóng rộng hơn về mạng lưới phân phối và có mối quan hệ khách hàng tốt hơn với những người sử dụng dịch vụ di động của họ”.

Cho vay ngang (Peer-to-Peer Lending)

Cho vay ngang hàng (P2P Lending) là việc cung cấp các khoản vay cho các cá nhân hoặc doanh nghiệp thông qua các dịch vụ trực tuyến giúp kết nối người đi vay người cho vay lại với nhau. Do các công ty cho vay theo hình thức P2P cung cấp những dịch vụ này hoàn toàn dựa trên nền tảng trực tuyến nên họ có thể hoạt động với chi phí quản lý thấp hơn và cung cấp các dịch vụ với mức giá rẻ hơn so với các tổ chức tài chính truyền thống. Vì vậy, những người cho vay thường kiếm được phần lợi nhuận cao hơn so với các sản phẩm tiết kiệm và đầu tư mà ngân hàng cung cấp, trong khi người đi vay có thể vay tiền với lãi suất thấp hơn, ngay cả sau khi công ty cho vay P2P đã thu một khoản phí cho việc tìm đối tác cho vay cũng như kiểm tra khả năng trả nợ của người đi vay.

Theo Tổ chức Quốc tế các Ủy ban chứng khoán, Hàn Quốc và Trung Quốc là những quốc gia chiếm thị phần lớn nhất trong thị trường tài chính P2P và thị trường chứng khoán vào năm 2013. Một báo cáo khác từ công ty nghiên cứu và tư vấn Celent đã chỉ ra rằng thị trường cho vay P2P ở Trung Quốc đã đạt đến mức giao dịch 940 triệu USD Mỹ vào năm 2012 và được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng vào những năm sắp tới.

Ngân hàng chỉ hoạt động trực tuyến

Các nhà khởi nghiệp công nghệ ở Trung Quốc là những người tiên phong trong lĩnh vực ngân hàng chỉ hoạt động trực tuyến tại châu Á. Ngân hàng trực tuyến đầu tiên của Trung Quốc là một liên doanh được điều hành bởi tập đoàn Tencent Holdings – nơi sản xuất, phát hành các trò chơi và mạng xã hội. WeBank là một trong năm tổ chức được cấp giấy phép hoạt động theo một chương trình thí điểm của chính phủ nhằm thành lập những ngân hàng do tư nhân điều hành, đây được xem như là một phần trong các động thái mở rộng ngành ngân hàng Trung Quốc. Các ngân hàng được cấp phép trong chương trình này dự kiến sẽ tập trung vào việc mở rộng tiếp cận tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ, cũng như cho các cá nhân.

Tencent nắm quyền quản lý WeChat – ứng dụng nhắn tin di động và mạng xã hội rất phổ biến và là một trong những mạng xã hội lớn nhất tại Trung Quốc, với 549 triệu người dùng hoạt động hàng tháng (tính đến quý I năm 2015). WeChat hiện đã cung cấp các dịch vụ tài chính cho người dùng dưới dạng thẻ ngân hàng kết nối với tài khoản WeChat của họ cùng với nền quản lý tài sản của Tencent, mang đến cho khách hàng cơ hội đầu tư vào các sản phẩm đầu tư của bên thứ bên thứ ba thông qua điện thoại thông minh của họ.

WeBank phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt đến từ tập đoàn mua sắm trực tuyến Alibaba Group Holding Ltd. và đối tác tài chính – dịch vụ của tập đoàn này là Ant Financial Services Group. Tập đoàn Ant Financial điều hành một ngân hàng trực tuyến với tên gọi Mybank và đã bắt đầu đợt huy động vốn lần thứ hai vào năm 2016. Một năm trước đó, Ant Financial đã huy động được hơn 12 tỷ NDT (1,82 tỷ USD) trong đợt huy động vốn đầu tiên từ các nhà đầu tư bên ngoài.

Mức độ mà những đối thủ trực tuyến có thể thâm nhập và làm xáo trộn ngành ngân hàng Trung Quốc phần nào vẫn còn phụ thuộc vào những quy định của chính phủ Trung Quốc. WeBank và Mybank có thể chưa phải là mối đe dọa đối với các ngân hàng Trung Quốc hiện tại, nhưng trong tương lai có thể thấy rằng những đối thủ mới sẽ bắt đầu thay đổi viễn cảnh về ngành ngân hàng ở Trung Quốc.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hermawan Kartajaya, Philip Kotler, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Advertisements

Thị trường là động lực tối thượng – Phần I


Mọi người đang có sự chuyển dịch toàn bộ hành vi của mình, từ thế giới phi kỹ thuật số sang môi trường điện thoại di động, từ việc đặt xe taxi đến mua sắm, thanh toán cho các dịch vụ, xe video hay liên lạc với gia đình.

Mod Khairil Abdullah, Tổng giám đốc nhánh Dịch vụ Kỹ thuật số tại Công ty Axiata

Thị trường là nơi mà các tác lực cung và cầu hoạt động. Đây là nơi mà các công ty – những nhà cung cấp giá trị – cạnh tranh với nhau để chiếm lĩnh được tâm trí cũng như chinh phục được trái tim của khách hàng – những người đòi hỏi giá trị. Trong thế giới kinh doanh, thị trường đóng vai trò như một cửa sông tập trung những dòng thay đổi xảy ra ở tầm vĩ mô chảy về. Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghệ cũng thúc đẩy những sự thay đổi về mặt kinh tế, chính trị – luật pháp và văn hóa – xã hội, tất cả những thay đổi đó đều có ảnh hưởng đến thị trường.

Một vài quốc gia tại châu Á đã trải qua sự thay đổi trong cơ cấu thị trường, điều này chắc chắn dẫn đến những cuộc cạnh tranh lớn hơn. Công nghệ phát triển, theo đó tính hiện hữu của thông tin ngày càng cao, đã thúc đẩy những sự thay đổi sâu sắc trong hệ thống chính trị tại một số quốc gia. Một nền kinh tế mở như vậy đồng nghĩa với việc ranh giới của những rào cản độc quyền đã bị suy giảm đáng kể. Trong một số ngành công nghiệp quan trọng như viễn thông và ngân hàng, chúng ta chứng kiến sự đổ xô của những nhà đầu tư cá nhân, cả trong và ngoài nước, tham gia vào thị trường. Môi trường kinh doanh với cường độ cạnh tranh ngày một tăng buộc những bên tham gia phải liên tục đổi mới và nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động của mình. Khách hàng là người hưởng lợi nhiều từ sự phát triển này, không chỉ đơn thuần ở việc lựa chọn đa dạng hơn sản phẩm và dịch vụ.

Bên cạnh đó, công nghệ cũng không ngừng có những bước tiến mới. Sự nổi lên của Internet cùng với các công nghệ liên quan đã làm cho “thế giới phẳng”, như Friedman (2005) đã tuyên bố trong quyển sách The World id Flat (Thế giới phẳng) của mình. Các rào cản giữa các quốc gia dường như đã bị nhấn chìm trong làn sóng thay đổi được biết đến với tên gọi Toàn cầu hóa 3.0. Trong bối cảnh này, Sirkin và cộng sự (2008) đã chỉ ra rằng thế giới kinh doanh sẽ phải đối mặt với một hiện tượng gọi là “tính toàn cầu”, theo đó một công ty sẽ phải cạnh tranh với mọi đối thủ ở khắp mọi nơi, về mọi mặt. Ông viết, “Bạn đang nhìn vào tương lai, khi mà các công ty Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản và các công ty từ những thị trường bão hòa khác không chỉ cạnh tranh với nhau, mà còn cạnh tranh với các công ty Trung Quốc và các công ty có khả năng cạnh tranh cao đến từ mọi nơi trên thế giới: Argentina, Brazil, Chile, Ai Cập, Hungary, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Mexico, Ba Lan, Nga, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam và cả những nơi bạn không ngờ tới được”.

Tuy nhiên, điều duy nhất bất biến chính là sự thay đổi. Cuộc cách mạng công nghệ hiện tại tiếp tục tạo ra những biến động thị trường mới, đặc biệt là ở khu vực châu Á. Bài này tập trung thảo luận về vấn đề cuộc cách mạng kỹ thuật số đã thay đổi bộ mặt của những lực lượng thị trường như thế nào. Cạnh tranh đang ngày càng trở nên sôi nổi hơn trong khi khách hàng ngày càng trở nên gắn kết. Tất yếu, thị trường tự bản thân nó phải đặt ra yêu cầu cho sự ra đời của một mô hình tiếp thị mới.

Khi Công nghệ gây xáo trộn Thị trường

Christensen (1997, giáo sư của Trường Kinh doanh Harvard, trong tác phẩm Tình thế lưỡng nan của nhà cải cách: Khi công nghệ làm cho những công ty vĩ đại nhất thất bại của mình đã giới thiệu thuật ngữ công nghệ gây xáo trộn, mà trước đó thuật ngữ này đã được ông sử dụng nhưng với một cái tên khác – cách tân xáo trộn. Tuy nhiên, xuất phát điểm của thuật ngữ công nghệ gây xáo trộn có lịch sử lâu đời hơn, thuật ngữ này được Schumpeter sử dụng lần đầu tiên vào năm 1942. Trong quyển sách của mình, tác giả đã miêu tả công nghệ xáo trộn là sự đổi mới về công nghệ, sản phẩm hoặc dịch vụ áp dụng một “chiến lược gây xáo trộn” chứ không phải một chiến lược “mang tính cách mạng” hay “duy trì” để lật đổ các công nghệ đang chiếm ưu thế hiện tại hoặc các sản phẩm hiện có trên thị trường. Bảng 3.1 chỉ ra một số ví dụ về công nghệ gây xáo trộn.

Bảng 3.1 Các ví dụ về công nghệ gây xáo trộn
Công nghệ gây xáo trộn Sản phẩm bị đào thải hoặc lỗi thời
Nhiếp ảnh kỹ thuật số Máy ảnh cơ
Điện thoại di động Thư, điện tín, điện thoại truyền thống
Máy tính xách tay, máy tính bảng Máy tính để bàn
Tải nhạc Các loại đĩa nén, CD
Sách điện tử Sách giấy
Internet Xuất bản truyền thống, báo chí, tạp chí in…

Đối mặt với những xáo trộn diễn ra ngày càng nhanh này, các doanh nghiệp cần phải hành động nhanh chóng để xác định và thích nghi với những sự thay đổi công nghệ chính yếu, từ đ1o tránh được rủi ro bị đào thải khỏi thị trường do cạnh tranh. Ngành công nghiệp dịch vụ bưu chính tại châu Á với tuổi đời gần một thế kỷ có lẽ đang cảm nhận được mối đe dọa ngày càng rõ ràng từ công nghệ di động. Tuy nhiên, việc triển khai các chiến lược đa dạng hóa trong vài năm qua đã mang lại những kết quả khích lệ rất đáng ngạc nhiên. Báo cáo của ngành bưu chính toàn cầu năm 2013 chỉ ra rằng tổng doanh thu ngành tại châu Á đã tăng 10,8% trong giai đoạn 2011 – 2012. Chiều hướng tích cực này chủ yếu là kết quả của sự tăng trưởng doanh số các hình thức phi thư tín với mức tăng trung bình là 56,4%. Do đó, trong thời kỳ mà lượng thư từ giảm 3,1%, các công ty dịch vụ bưu chính vẫn có thể bù đắp được từ các nguồn thu khác, trong đó đặc biệt là lượng giao dịch các bưu kiện đã tăng lên đến 4% (theo tổ chức International Post Corporation, 2013).

Mặc dù sự phát triển của công nghệ di động và công nghệ kỹ thuật số đã làm cho các dịch vụ thư tín thông thường từng là trụ cột của các công ty dịch vụ bưu chính trở nên ít phổ biến hơn, nhưng các công ty vẫn có thể tận dụng và khai thác các cơ hội nảy sinh từ tiến bộ công nghệ. Chẳng hạn, sự tăng trưởng nhanh chóng của các giao dịch thương mại điện tử ở châu Á đã làm gia tăng đáng kể lượng hàng hóa vận chuyển. Điều này có ý nghĩa tích cực đối với việc kinh doanh vận chuyển bưu kiện do các công ty dịch vụ bưu chính quản lý. Sự đa dạng hóa cũng có thể được triển khai dưới hình thức các dịch vụ tài chính được cung cấp cho khách hàng. Khả năng kết nối rộng lớn hơn thông qua dịch vụ bưu chính tại các khu vực nông thôn tỏ ra đặc biệt hữu ích vì nó có thể được sử dụng làm kênh trung gian cho các giao dịch tài chính, bao gồm việc thanh toán, nhờ sự hợp tác với khu vực ngân hàng.

Để xây dựng một doanh nghiệp bền vững trong kỷ nguyên kết nối hiện nay, một cách khác là áp dụng công nghệ rộng rãi hơn. Cứ theo đuổi các phương thức kinh doanh cũ sẽ chỉ khiến các khách hàng ngoảnh mặt lại với mình. Ngày nay, tất cả những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau đang mở rộng việc sử dụng công nghệ số và di động trong kinh doanh với mức độ áp dụng khác nhau: một số doanh nghiệp chỉ đơn giản sử dụng mạng xã hội để tương tác với khách hàng trong khi một số khác đang cung cấp các ứng dụng hoặc dịch vụ di động riêng như các giá trị phụ trội hay xây dựng những nền tảng giao dịch trực tuyến riêng cho mình.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hermawan Kartajaya, Philip Kotler, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Chính trị – pháp luật, kinh tế, văn hóa xã hội là những động lực chính – Phần cuối


Số hóa và xu hướng văn hóa – xã hội mới

Châu Á có nhiều loại hình di sản văn hóa khác nhau của nhiều quốc gia, xã hội và các nhóm dân tộc trong khu vực. Về mặt địa lý, châu Á không phải là một lục địa riêng biệt, và về mặt văn há, có rất ít sự thống nhất hay lịch sử chung giữa nhiều nền văn hóa và dân tộc Á châu. Vùng này thường được chia thành các tiểu vùng địa lý và văn hóa, bao gồm Trung Á, Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á và Tây Á.

Đông Á bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Hàn Quốc. Các đặc điểm chính của khu vực này gồm có chữ viết bắt nguồn từ Hán tự, cũng như những tôn giáo chung như Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo. Ở Nam Á, bốn tiểu bang Nam Ấn và các vùng khác ảnh hưởng di sản của người Indo-Aryan (nền văn minh Vệ Đà). Văn hóa của các quốc gia Đông Nam Á cũng đa dạng không kém, từ văn hóa bộ tộc đến các nền văn minh đã tạo nên những kỳ quan kiến trúc như Quần thể đền Angkor của Campuchia và Đền Borobudur của Indonesia. Ngoài ra, nghệ thuật và văn học của Đông Nam Á rất đặc biệt vì một số đã bị ảnh hưởng bởi văn học Hồi giáo, Ấn Độ, Hindu, Trung Quốc và Phật giáo.

Mặc dù châu Á có nền văn hóa khá đa dạng nhưng chúng tôi tin rằng có ba tiểu văn hóa mới đang đóng vai trò quan trọng trong khu vực này, đó là tiểu văn hóa thanh niên (để phân biệt với cao niên), nữ giới (để phân biệt với nam giới), và cư dân mạng (để phân biệt với công dân bình thường) (xem hình 2.1).

Tiểu văn hóa đầu tiên là thanh niên giới trẻ. Cộng động này đang ngày càng thách thức sự ảnh hưởng của người cao niên, những người trước đây là baby boomers (những người sinh ra vào Thời kỳ bùng nổ trẻ sơ sinh sau Thế chiến thứ hai) nhưng giờ đang suy giảm số lượng trên khắp thế giới. Thanh niên đóng một vai trò quan trọng trong việc “dẫn dắt tâm trí”. Và họ có thể làm như vậy bởi vì họ quen “nhận biết và phản ứng” hơn là “chỉ huy và kiểm soát” như thế hệ người lớn tuổi. Sự phát triển của công nghệ thông tin (ICT) thực sự đòi hỏi khả năng nhận biết tốt hơn những thay đổi chóng mặt và phản ứng nhanh nhạy hơn một cách hợp lý. Nếu không, đối thủ có phản ứng nhanh hơn sẽ đánh bại chúng ta. Một đặc điểm khác của thanh niên là sự năng động; họ nhanh chóng thích ứng với những thay đổi trong môi trường bên ngoài ngày càng khó dự đoán và kiểm soát. Chính giới trẻ sẽ dẫn dắt sự thay đổi ở châu Á trong tương lai. Hong Kong vào năm 2014 là một ví dụ điển hình. Một loạt các cuộc phản đối trên đường phố – được gọi là Umbrella Revolution (Cách mạng Dù) – diễn ra từ ngày 26/9 đến ngày 15/12 chủ yếu là do lực lượng sinh viên trẻ dẫn dắt.

Phụ nữ là nhóm tiểu văn hóa thứ hai. Các tiến bộ văn hóa và xã hội đã cho thấy tầm quan trọng ngày càng lớn của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Trong gia đình, phụ nữ ngày càng có quyền chi phối việc ra quyết định, đặc biệt là khi mua hàng hóa và dịch vụ. Một báo cáo của EIU (Cơ quan nghiên cứu kinh tế toàn cầu) về “Người tiêu dùng nữ châu Á năm 2014” cho thấy sự gia tăng tính độc lập của phụ nữ trong việc xử lý tài chính. Hơn hai phần ba số người cho biết họ có tài khoản ngân hàng riêng của mình (ở mức cao đến 76% ở Trung Quốc hay thấp khoảng 47% ở Ma Cao) và 48% có thẻ tín dụng riêng. Hầu hết phụ nữ cho biết họ phụ trách các quyết định ngân sách về hàng tạp hóa, quần áo, phụ kiện và sản phẩm dành cho trẻ em và ít nhất là đồng quyết định trong hầu hết các loại sản phẩm khác như điện tử và dịch vụ du lịch.

Ngoài xã hội, sự ảnh hưởng của phụ nữ tăng lên là do họ có thể đưa ra ý kiến rộng rãi nhờ thông tin truyền miệng, bắt nguồn từ bản chất tự nhiên của họ trong việc chia sẻ thông tin với bạn bè và người quen. Khi mà việc quảng cáo truyền miệng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định của người tiêu dùng thì vai trò của phụ nữ vì vậy cũng ngày càng trở nên quan trọng. Thật không sai khi nói rằng phụ nữ đóng vai trò “quản lý thị trường”.

Tiểu văn hóa thứ ba là của cư dân mạng. Cộng đồng mạng đang làm biến đổi đáng kể vai trò của công dân trong thế giới thực. Xét về sự thâm nhập của Internet và điện thoại di động ở các nước châu Á, ý kiến dư luận không còn bị dẫn dắt bởi các phương tiện truyền thông chính thống nữa mà bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các phương tiện truyền thông xã hội và sự tham gia tích cực của cư dân mạng. Công nghệ Internet cho phép cư dân mạng xử lý thông tin “sâu và rộng”. Bằng cách đó, họ có thể truyền bá những ý kiến có thể tác động đến hàng triệu người. Điều đó đủ để nói rằng cư dân mạng đóng một vai trò trong việc “hình thành tâm lý” đám đông.

Sự nổi lên của bộ phận tiểu văn hóa thứ ba cần sự chú ý mạnh mẽ từ các nhà tiếp thị ở châu Á. Họ nên thiết kế những chiến lược và các chương trình tiếp thị nào có thể thu hút cư dân mạng tích cực tham gia. Sự phát triển của công nghệ số ngày càng giúp công ty và tiêu văn hóa cư dân mạng hợp tác với nhau dễ dàng hơn.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Philip Kotler, Hermawan Kartajaya, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Chính trị – pháp luật, kinh tế, văn hóa xã hội là những động lực chính – Phần II


Việc quần chúng có khả năng tụ tập lớn và nhanh chóng như vậy – gần bảy triệu tin nhắn được gửi đi trong tuần đó – khiến các nhà lập pháp của nước này hoảng sợ và quyết định chuyển hướng, cho phép đưa ra bằng chứng chống lại tổng thống. Số phận của Estrada đã được quyết định: vào ngày 20/01, ông ta ra đi. Sự kiện này đánh dấu việc lần đầu tiên phương tiện truyền thông xã hội đã giúp cách chức một nhà lãnh đạo quốc gia. Estrada đổ lỗi cho “thế hệ nhắn tin ngắn” đã gây ra sự thất bại của mình.

Khung 2.1: Sự chuyển dịch chính trị của Sri Lanka và vai trò của công nghệ

Nằm ở phía nam của Ấn Độ, hòn đảo nhiệt đới Sri Lanka thu hút du khách trong nhiều thế kỷ bằng vẻ đẹp tự nhiên của mình. Nhưng đất nước này cũng phải chịu vết sẹo là cuộc nội chiến đau thương dai dẳng phát sinh từ sự căng thẳng sắc tộc giữa tộc Sinhalese chiếm đa số và tộc thiểu số Tamil ở phía đông bắc. Sau hơn 25 năm bạo lực, cuộc xung đột kết thúc vào tháng 5 năm 2009 khi lực lượng chính phủ giành được khu vực cuối cùng bị kiểm soát bởi quân nổi dậy Tamil Tiger (Những con hổ giải phóng Tamil). Chiến thắng đã đem lại cho tổng thống Mahinda Rajapakssa nhiều quyền lực chính trị hơn.

Vào tháng 1/2015, Sri Lanka tổ chức thăm dò cho một cuộc bầu cử lịch sử. Lần đầu tiên kể từ khi hòn đảo được độc lập vào năm 1948, một vị tổng thống đương nhiệm đã bị bãi nhiệm. Cuộc bầu cử được khởi xướng  bởi chính tổng thống Rajapaksa. Ban đầu, động thái này được tính toán là để gia hạn nhiệm kỳ của ông trước khi tình hình kinh tế xấu đi bắt đầu “ăn” vào đa số phiếu đại cử tri của ông. Vì phe đối lập không thể đưa ra được một ứng cử viên sáng giá vào thời điểm đó, nên Rajapaksa chắc chắn mình sẽ giành chiến thắng.

Nhưng hai ngày sau khi công bố bầu cử, Rajapaksa đã bị sốc. Bộ trưởng Y tế của ông, Maithripala Sirisena, tuyên bố từ chức và ra tranh cử với sự ủng hộ của phe đối lập. Trong suốt chiến dịch ngắn, Sirisena đã tập hợp lượng đồng minh lớn không ngờ. Và sau đó Maithripala Sirisena đã gây bất ngờ cho thế giới khi ông đánh bại ông chủ cũ Mahinda Rajapaksa trong cuộc bầu cử tổng thống của nước này. Quốc gia này giờ đang đặt trọng tâm vào một chương trình cải cách rộng khắp.

Điều thú vị đằng sau sự chuyển đổi chính trị của Sri Lanka là việc ứng cử viên Sirisena đã được dàn xếp bằng điện thoại vệ tinh để tránh bị giám sát. Truyền thông vệ tinh là một phương tiện giao tiếp toàn cầu thông qua vệ tinh. Một vệ tinh phóng lên không gian cho mục đích viễn thông sẽ nhận và truyền các tín hiệu được gửi từ điện thoại vệ tinh về Trái Đất. Khu vực mặt đất nhận tín hiệu được truyền lại này gọi là vùng vệ tinh phủ sóng.

Do đó, thay vì sử dụng điện thoại di động, thiết bị dễ bị theo dõi bởi công nghệ hiện đại, Sirisena và liên minh của ông đã sử dụng điện thoại vệ tinh, rất khó để theo dõi và đánh chặn, đặc biệt nếu các cơ quan chức năng không có công nghệ cần thiết. Kết quả đúng như mong đợi: phần lớn các thành viên của Đảng Tự do Sri Lanka (SLFP) không biết rằng Sirisena đã được cho phép rời khỏi chính phủ cùng với một số Bộ trưởng Chính phủ quan trọng. Sau đó, ông có thể tham gia tranh cử thực sự để phản đối Tổng thống Rajapaksa trong cuộc bầu cử tổng thống và giành chiến thắng.

Nhà tiếp thị nên quan tâm đến những thay đổi chính trị ở châu Á nếu muốn phát triển kinh doanh trong khu vực này. Mọi quá trình dẫn tới sự chuyển đổi chính trị ở châu Á cần được theo dõi sát sao để nhận thức kịp thời nhữung mối đe dọa và cơ hội đang nổi lên. Ví dụ điển hình về một thị trường đang mở ra và khiến nhiều người phấn khích là Myanmar. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài quyết định đầu tư vào nước này, tiến bộ mà Myanmar đã thực hiện được xem như là một điều tích cực (Kotler & cộng sự, 2014). Nếu doanh nghiệp không xác định nhanh chóng những cơ hội xuất hiện từ bối cảnh chính trị đang thay đổi này, các đối thủ cạnh tranh sẽ chiếm trước lợi thế cạnh tranh của họ.

Số hóa và những thách thức kinh tế của châu Á

Con lắc kinh tế bắt đầu quay về phía Đông vào nửa sau của thế kỷ 20 khi Nhật Bản phát triển như một thế lực công nghiệp mới. Quyền lực chính trị từng tập trung ở phương Tây dần chuyển sang châu Á nhờ vào điều kiện kinh tế của các nước đang phát triển. Trong nhiều thập kỷ, nền kinh tế của các nước trong khu vực này đã có sự tăng trưởng ấn tượng và phát triển nhanh chóng. Xu hướng này được Zakaria (2008) gọi là “sự đi lên của phần còn lại”.

Nhưng những gì chúng ta quan sát trong 10 năm qua thậm chí còn ngoạn mục hơn nữa. Trung tâm kinh tế của thế giới đã chuyển sang Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế mới nổi khác với tốc độ chưa từng thấy. Người Anh đã mất 150 năm để tăng gấp đôi sản lượng đầu người; Trung Quốc và Ấn Độ sau công nghiệp hóa đạt được thành tích này chỉ trong 12 và 16 năm. Sự tăng tốc này nhanh gấp 10 lần tốc độ sau Cách mạng Công nghiệp Anh (Thompson & cộng sự, 2015).

Châu Á tiếp tục được xem là động cơ tăng trưởng chính của thế giới vào năm 2016 giống như trong vài năm qua. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng nằm của thế giới vẫn ở nguyên mức 4%, trong đó các nước đang phát triển ở châu Á đóng góp 2,3%, tức khoảng 60%. Đối với châu Á nói chung, tăng trưởng được dự báo ở mức 6,3% vào năm 2016 (ADB, 2015). Nhưng nếu chúng ta nhìn kỹ, có một khoảng cách đáng kể trong tăng trưởng kinh tế giữa các nước châu Á (Bảng 2.1). Khoảng cách này chỉ là một trong số các vấn đề kinh tế lớn khác đe dọa khu vực châu Á

Mặc dù số liệu cho thấy sự tăng trưởng kinh tế đáng kinh ngạc, châu Á vẫn là một khu vực phải đối mặt với nhiều vấn đề kinh tế vẫn chưa được giải quyết. Những thách thức kinh tế ở châu Á là những thách thức điển hình của nền văn minh hiện đại; đói nghèo, tỷ lệ thất nghiệp cao và bất bình đẳng về thu nhập. Trong nỗ lực giải quyết những vấn đề này, cả chính phủ và các khu vực tư nhân ở châu Á đã liên tục thực hiện nhiều sáng kiến. Và các công nghệ kỹ thuật số, cả Internet và điện thoại di động, là những nhân tố quyết định để hỗ trợ sự thành công của các sáng kiến này.

Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey (2015) đã chỉ ra rằng việc truy cập Internet là một động lực thúc đẩy phát triển mạnh mẽ. Phân tích năm 2011 của tổ chức này về tác động kinh tế của Internet tại 13 nền kinh tế lớn nhất thế giới cho thấy Internet đã tạo ra 21% tăng trưởng GDP trong năm năm qua. Báo cáo tiếp theo năm 2012 về 30 “quốc gia và vùng lãnh thổ đang lên” (gồm cả Malaysia, Đài Loan và Việt Nam) đã thấy rằng số lần truy cập Internet tăng 25% mỗi năm trong 5 năm vừa rồi.

Vào năm 2014, các công ty và dịch vụ di động tạo ra 4,7% GDP ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, một đóng góp tri giá hơn một nghìn tỷ USD trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ. Con số này không bao gồm các tác động kinh tế xã hội gia tăng như tiếp cận với giáo dục và dịch vụ y tế được cải thiện nhờ vào ứng dụng di động. Đến năm 2020, sự đóng góp của điện thoại di động dự kiến sẽ tăng trưởng nhanh hơn so với phần còn lại của nền kinh tế, chiếm 5,9% GDP của khu vực (GSM Association, 2015).

Mối liên hệ giữa hiệu quả kinh tế và số hóa, đặc biệt ở châu Á, là dấu hiệu sớm cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà tiếp thị thấy được tầm quan trọng của công nghệ và vai trò của nó trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế trong khu vực. Sự hợp tác hỗ trợ bởi công nghệ giữa hai bên sẽ tiến một bước dài trong việc giúp những người nghèo tiếp cận nguồn tài chính, hỗ trợ cộng đồng nông thôn tiếp cận với thông tin, tạo việc làm, và giải quyết các thách thức kinh tế khác. À khi công nghệ đi kèm với sáng tạo, những vấn đề này có thể được giải quyết nhanh hơn nữa, đồng thời tạo ra những ảnh hưởng đáng kể về tài chính đối với các doanh nghiệp liên quan.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Philip Kotler, Hermawan Kartajaya, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Chính trị – pháp luật, kinh tế, văn hóa xã hội là những động lực chính – Phần I


Ngày nay, công nghệ đang trao sức mạnh cho người dân. Công nghệ buộc các chính phủ phải xử lý khối lượng dữ liệu khổng lồ và đưa ra các câu trả lời không phải trong 24 giờ mà là trong 24 phút.

Narendra Modi, Thủ tướng Ấn Độ

Thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Cuộc cách mạng trong công nghệ kỹ thuật số dự kiến sẽ tạo ra hiệu ứng hòn tuyết lăn, dần dần sẽ thay đổi trật tự các yếu tố ở cả cấp vĩ mô. Điều này đang xảy ra ở khắp mọi nơi kể cả ở châu Á. Làn sóng công nghệ di động và Internet đang nhanh chóng lan khắp châu Á, góp phần trực tiếp lẫn gián tiếp vào những thay đổi trong các khía cạnh chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa xã hội trong khu vực này. Những khía cạnh này cấu thành các động lực chính ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân ở bất kỳ quốc gia nào bởi vì chúng định hình nên những quy tắc và tiêu chuẩn trong tương tác giữa các công dân.

Châu Á là một thị trường lớn. Với dân số chiếm hơn một nửa dân số thế giới, châu Á có tiềm năng kinh doanh to lớn. Một lý do khác để lạc quan về thị trường châu Á là sự tăng trưởng kinh tế đáng kể mà nhiều quốc gia đạt được trong thập kỷ qua. Châu Á không chỉ rộng lớn mà còn cực kỳ đa dạng, từ Nhật Bản giàu sang và già cỗi tới Trung Quốc kém giàu có hơn nhưng cũng đang già đi, tới Ấn Độ và Indonesia nghèo hơn nhưng trẻ hơn, tới những thị trường mới nổi như Myanmar mới mở cửa sau nhiều thập kỷ bị cô lập chính trị (The Economist Intelligence Unit [EIU], 2014). Các nhà tiếp thị cần phải hiểu được sự đa dạng và năng động của khu vực này để xây dựng các chiến lược hiệu quả giúp đối phó với những thách thức lẫn nắm bắt các cơ hội phát sinh.

Bài này nêu tổng quan về hệ thống chính trị và pháp luật, điều kiện kinh tế vĩ mô và bức tranh văn hóa xã hội của châu Á. Sự đa dạng tồn tại giữa các nước châu Á được nói đến ở đây sẽ là hướng dẫn chung cho các doanh nghiệp muốn phát triển thành công trong khu vực này. Ngoài ra, những thay đổi trong các khía cạnh trên cũng sẽ được nêu lên và phân tích để đánh giá xem các công nghệ kỹ thuật số đã góp phần thay đổi khu vực đến mức nào.

Những thách thức chính trị – pháp luật ở châu Á

Trong số nhiều yếu tố thúc đẩy bộ máy chính trị ở châu Á, dân chủ hóa là yếu tố luôn được nhấn mạnh, nhất là trong giới quan sát phương Tây. Cuộc tranh luận dai dẳng về dân chủ cứ mãi tồn tại bởi vì hiếm khi người ta đạt được bất kỳ sự đồng thuận nào về cách thức đo lường nó; định nghĩa về dân chủ luôn bị tranh cãi và không ngừng phát triển. Chẳng hạn, trong danh sách các ưu tiên về chính sách đối ngoại của Mỹ, việc thúc đẩy dân chủ luôn xếp ở thứ hạng cao, nhưng trong chính phủ Mỹ lại không có sự đồng thuận về điều gì tạo nên một nền dân chủ. Một nhà quan sát nhận định: “siêu cường duy nhất trên thế giới, bằng cả luận điệu lẫn quân đội, đang truyền bá một hệ thống chính trị mà vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng và họ đặt cược sự tín nhiệm lẫn nguồn lực của mình trong việc truyền bá này” (Rodrik, 2012).

Những mâu thuẫn về hệ thống chính phủ lý tưởng nhất cho các nước ở châu Á sẽ tiếp tục đi đôi với những thử nghiệm chính trị của các nhà lãnh đạo trong khu vực. Do sự khác biệt về nguồn gốc văn hóa và các tiêu chuẩn phát triển kinh tế khác nhau nên mỗi quốc gia cũng khác nhau khi nói về mối quan hệ lý tưởng giữa đảng cầm quyền và người dân. Nhiều hệ thống chính trị khác nhau tồn tại ở châu Á đã thể hiện rõ điều đó: quân chủ lập hiến, các chế độ quân chủ chuyên chế, các quốc gia một đảng, liên bang, lãnh thổ, chế độ dân chủ tự do…

Chỉ một số ít các nước khu vực Đông Nam Á trong Cộng đồng An ninh – Chính trị ASEAN (APSC) mà đã có nhiều hệ thống chính trị đa dạng. Brunei là nước theo chế độ quân chủ trong đó Sultan (Quốc vương) có quyền lực tuyệt đối; Campuchia trải qua quá trình chuyển đổi từ chế độ một đảng sang đa đảng; Đảng Hành động Nhân dân lãnh đạo Singapore kể từ khi nước này trở thành một đảo tự trị của Anh quốc vào năm 1959. Tương tự, các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng có những hệ thống chính trị đặc thù của quốc gia mình (Chong and Elies, 2011).

Việc áp dụng chế độ dân chủ theo các tiêu chuẩn phương Tây không đảm bảo rằng các nước châu Á sẽ có chế độ chính trị và kinh tế tốt hơn. Singapore là trường hợp dù bị phương tiện truyền thông chỉ trích vì hệ thống chính trị “ít dân chủ” hơn nhưng vẫn cho thấy một thành tích kinh tế nổi bật và GDP bình quân đầu người cao hơn hầu hết các nước phát triển, chưa kể đến tỷ lệ thất nghiệp thấp, giá cả bình ổn, chính phủ hiệu quả và không tham nhũng. Một ví dụ nữa là Trung Quốc. Dù không thực thi hệ thống dân chủ tự do theo kiểu phương Tây nhưng Trung Quốc vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế xuất sắc ở mức 7% trong ba năm qua. Điều này đã khiến nhiều nhà quan sát đặt câu hỏi về ý tưởng nền dân chủ cho các nước đang phát triển, có ý kiến cá nhân cho rằng dân chủ không phải là điều mong muốn ở những khu vực nơi mà tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo đói mới là những ưu tiên hàng đầu (Wafawarova, 2013). Tuy nhiên, ngay cả khi người ta than phiền về chế độ dân chủ ở các nước đang phát triển thì vẫn có những người tin vào lợi ích nó mang lại dưới hình thức phân quyền, và cuộc tranh luận này sẽ vẫn tiếp tục song song với những nỗ lực tìm ra hình thức chính quyền lý tưởng nhất cho các nước đang phát triển.

Số hóa và những thay đổi về Chính trị – Pháp luật

Cách mạng công nghệ số rõ ràng đã giúp ai cũng có thể dễ dàng tiếp cận được thông tin. Điều này cũng có nghĩa là những hành động tham nhũng hoặc chuyên quyền sẽ không thể phát triển được nhiều nữa vì người dân dã không còn mù mờ về chức trách của chính phủ. Ở mức độ cơ bản, việc phổ biến thông tin giúp nâng cao nhận thức của người dân về tình hình chính trị. Trong giai đoạn tiếp theo, công nghệ thông tin trở thành một phương tiện hiệu quả để các đảng đối lập tham gia vào các lực lượng chính trị. Khi quần chúng bên ngoài chính phủ có cùng mong muốn tạo ra một sự thay đổi thì sẽ khó để duy trì được tình trạng hiện tại.

Ví dụ, phương tiện truyền thông xã hội đóng góp rất lớn vào quá trình thay đổi chính trị ở Ai Cập mà cuối cùng đưa đến việc lật đổ tổng thống cầm quyền. Thật thú vị, những người tham gia vào quá trình cách mạng không chỉ đến từ quân đội hay một đảng với bộ máy chính trị có tổ chức. Bất cứ ai có quyền truy cập vào Internet cũng có thể tham gia, ví dụ như một giám đốc điều hành trẻ tuổi của Google, Wael Ghonim đã chia sẻ những ý kiến mạnh mẽ về chủ đề này thông qua trang Facebook của mình (Coker & cộng sự, 2011). Wael Ghonim về sau được vinh danh trong Time Magazine 100, danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2011 (ElBaradei, 2011).

Một xu hướng tương tự cũng đang càn quét châu Á. Chế độ độc tài tồn tại trong 32 năm ở Indonesia cuối cùng đã sụp đổ vào năm 1998. Và đó không chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi mà vào thời điểm đó điện thoại di động bắt đầu trở thành sản phẩm đại trà dược tất cả các tầng lớp ở nước này sử dụng Điều tương tự cũng đã xảy ra ở Sri Lanka (Khung 2.1) và Philippines. Để minh họa ảnh hưởng của công nghệ đối với những thay đổi chính trị ở Philippines, Shirky (2011) đã viết như sau trong bài đăng tạp chí Foreign Affairs:

Ngày 17/01/2001, trong phiên tòa xét xử Tổng thống Philippines Joseph Estrada, những người trung thành với Tổng thống Philippines đã bỏ phiếu để gạt qua những bằng chứng quan trọng chống lại ông. Chưa đầy hai tiếng đồng hồ sau khi quyết định đưa ra, hàng ngàn người Philippines, tức giận vì Tổng thống tham nhũng này có thể được xóa tội, đã tập hợp tại đại lộ Epifanio de los Santos, một ngã tư lớn ở Manila. Cuộc phản đối đã được sắp đặt trước một phần nhờ vào việc lan truyền tin nhắn: “Đến đại lộ Epifanio de los Santos. Mặc đồ đen”. Đám đông nhanh chóng mở rộng, và chỉ trong vài ngày sau đó, hơn một triệu người đã đến tập hợp, làm tắc nghẽn giao thông ở trung tâm thành phố Manila.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Philip Kotler, Hermawan Kartajaya, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Công nghệ là động lực căn bản – Phần cuối


Trực tuyến so với ngoại tuyến

Công nghệ Internet mang lại cho chúng ta sự tiện nghi cùng với hiệu năng cao trong quản lý cuộc sống hằng ngày. Hiện nay, sự tương tác giữa công ty và khách hàng có thể diễn ra bất cứ khi nào và ở bất kỳ nơi đâu. Điều này đang thúc đẩy các công ty ở châu Á lần lượt xâm nhập vào thế giới trực tuyến, họ bắt đầu xây dựng các trang chủ chính thức, nuôi dưỡng những cộng đồng trực tuyến, và thiết lập các nhóm truyền thông mạng xã hội đặc biệt để xây dựng các mối quan hệ với khách hàng. Nhưng trên thực tế, môi trường trực tuyến vẫn còn nhiều hạn chế, điều này có nghĩa là các phương pháp tiếp cận thông thường đối với môi trường ngoại tuyến vẫn không thể bị thay thế hoàn toàn. Dù cho việc sử dụng Internet ngày càng gia tăng và dường như đã có sự cải thiện về hiểu biết công nghệ tại châu Á thì hầu hết người tiêu ùng vẫn chưa hoàn toàn quen thuộc với việc sử dụng các dịch vụ kỹ thuật số hoặc đơn giản là họ không đủ tự tin để hòa vào dòng chảy xu hướng kỹ thuật số. Để các công ty trở nên số hóa, rõ ràng cần phải dành nhiều sự quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục nhận thức khách hàng trong thế giới trực tuyến ngày nay.

Về vấn đề này, các công ty thương mại điện tử ở châu Á đang bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của việc hợp nhất các trải nghiệm mua sắm trực tuyến và ngoại tuyến cho khách hàng. Mặc dù việc kinh doanh qua môi trường thương mại điện tử đang nhận được nhiều sự khuyến khích, nhưng vẫn còn tồn tại một thực tế không thuận lợi cho các doanh nghiệp đó là một bộ phận lớn các khách hàng châu Á vẫn còn dè dặt trong việc thanh toán trực tuyến, Zalora, một nhà bán lẻ thời trang trực tuyến có trụ sở tại Singapore, đã đưa ra một hình thức thanh toán độc đáo vượt ra khỏi phạm vi của phương thức thanh toán trả tiền mặt khi nhận hàng thông thường. Trang web của Zalora cho phép khách hàng có thể thanh toán thông qua hình thức nhờ thu tiền mặt – một phương thức được sử dụng khá phổ biến ở Đài Loan và Nhật Bản. Thông qua việc hợp tác với một số chuỗi cửa hàng tiện lợi, các khách hàng của Zalora có thể đến nhận hàng và thanh toán đơn hàng của họ tại những cửa hàng này (Kotler & cộng sự, 2014).

Nhận xét về sự hợp nhất các tương tác trực tuyến cùng ngoại tuyến, Kasireddy từ công ty Fonterra ở Trung Quốc cho biết: “tách biệt trực tuyến và ngoại tuyến là sai lầm. Điều quan trọng hơn là phải làm cho các phương pháp ngoại tuyến và trực tuyến phối hợp cùng với nhau một cách nhịp nhàng” (The Economist Corporate Network, 2015).

Hình thức so với bản chất

Sự phát triển của Internet đã tạo ra những mô hình mới trong việc tiếp nhận thông tin. Đối với các ấn phẩm in truyền thống, người đọc thường quen thuộc với lối văn phong trau chuốt, tập trung vào các đặc điểm và những câu chuyện có chiều sâu hơn, trong khi người đọc  của các trang tin tức điện tử lại quen thuộc với các bài viết ngắn và có phần dễ hiểu. Trên các màn hình điện thoại di động kích thước nhỏ, việc có quá nhiều nội dung trong một văn bản không chỉ khiến người dùng cảm thấy không thân thiện với người dùng mà còn khiến họ thấy nhàm chán. Để làm nội dung trở nên hấp dẫn đồng thời giúp nâng cao hiệu quả thiết kế, những người xây dựng nội dung thường phải sử dung các yếu tố liên quan đến thị giác như hình ảnh và đồ họa. Trong quyển sách Visual Hammer (Chiếc búa hình ảnh), Ries (2012) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của khía cạnh thị giác như là một tác nhân hỗ trợ định vị bên cạnh từ ngữ để khắc sâu một nhận thức nhất định vào trong tâm trí của khách hàng. Xu hướng này trong thế giới kỹ thuật số đòi hỏi những người sáng tạo phải xây dựng được phần “hình thức” trong nội dung được triển khai.

Tuy nhiên, các công ty không thể đơn thuần chỉ dựa vào khía cạnh hình thức (như hình ảnh, âm thanh, thiết kế,…) mà mong muốn thông tin cung cấp sẽ chạm đến được khách hàng, cả về mặt lý tính và cảm tính. Các nhà sáng tạo nội dung kỹ thuật số sẽ phải thiết lập một sự cân bằng trong việc tạo ra những nội dung ngắn gọn và thú vị, nhưng cũng không làm mất đi bản chất cốt lõi của nó. Chẳng hạn, các nhà sản xuất video quảng cáo trên Youtube sẽ phải rất sáng tạo để thiết kế nên một thông điệp có thể thu hút sự chú ý của người xem chỉ trong vòng 5 giây đầu tiên để họ không bỏ qua đoạn video đó. Đó chính là sự thể hiện về mặt hình thức. Nhưng bên cạnh đó, một thông điệp ấn tượng vẫn có thể truyền tải thông tin quảng cáo về sản phẩm đến khách hàng một cách hiệu quả, và đó chính là những gì thuộc về “bản chất”.

Phương thức giao tiếp máy – với máy so với người – với – người

Số hóa đã mở ra khả năng tương tác giữa các sản phẩm công nghệ với nhau. Các dữ liệu hiện có trên các thiết bị cầm tay của chúng ta có thể được chuyển đến các thiết bị công nghệ khác dưới hình thức những chỉ dẫn, thao tác để thực thi một tác vụ nào đó hoặc mang lại một kết quả cụ thể. Khái niệm này mang tên Internet vạn vật (Internet of Things – IoT) hay công nghệ máy – với – máy (machine – to – machine – M2M). Không gian của người tiêu dùng là một yếu tố quan trọng trong thế giới của M2M mà rất nhiều người tham gia đang nỗ lực tập trung vào, trong đó có cả các nhà cung cấp dịch vụ di động lẫn các nhà sản xuất thiết bị phần cứng. Chẳng hạn các thiết bị đeo tay cùng với tiềm năng của những “ngôi nhà thông minh” (smart homes) hiện nay đang nhận được nhiều sự quan tâm đặc biệt (GSM Association, 2015).

Một loạt các thiết bị đeo tay mới đã được tung ra trong vài năm qua như đồng hồ thông minh Samsung Gear và vòng đeo tay thông minh LG Lifeband. Các thiết bị này được trang bị cảm biến có khả năng kết nối cho phép người dùng tận hưởng một lối sống thông minh hơn, hiệu quả hơn, và các thiết bị cá nhân như điện thoại và máy tính bảng có thể được kết nối với các thiết bị trong ngôi nhà của họ để kích hoạt khả năng tự động hóa. Điều này giúp cho người dùng có thể điều khiển từ xa các chức năng trong nhà của mình, từ việc bật đèn cho đến các hệ thống bảo mật cơ bản. Samsung Electronics tuyên bố 90% sản phẩm của họ – từ điện thoại thông minh cho đến tủ lạnh – sẽ có thể truy cập Web vào năm 2017, và đến 2020, tất cả các sản phẩm của hãng đều sẽ được kết nối với Internet (CNET, 2015).

Tuy nhiên, công nghệ không vì thế mà biến con người trở thành một cỗ máy vô cảm. Thay vào đó, công nghệ kỹ thuật số, đặc biệt là các phương tiện truyền thông mạng xã hội, đã chuyển hóa con người thành những chủ thể biết bộc lộ cảm xúc hơn. Điều này chính là lý do tại sao phương thức kết nối giữa người – với – người (human to human – H2H) không được phép bị lãng quên. Công nghệ phải được tối ưu hóa để tạo nên quan hệ tương tác H2H linh hoạt hơn (không bị giới hạn bởi không gian và thời gian) chứ không phải tạo ra một môi trường biệt lập mà tại đó những cách thức giao tiếp thân mật thông thường có thể dần bị thay thế.

Zappos, một nhà bán lẻ trực tuyến được Amazon mua lại vào năm 2009 với mức giá 1,2 tỷ USD, có một cách thức độc đáo trong việc xây dựng mối quan hệ tương tác H2H với các khách hàng của họ. Mặc dù Zappos rất tích cực sử dụng các mạng xã hội như Twitter, Youtube và Facebook để giao tiếp với khách hàng, nhưng công ty vẫn không từ bỏ việc sử dụng điện thoại. Tony Hsieh, Tổng giám đốc Zappos phát biểu: “Chúng tôi không thực sự xem Twitter như là một công cụ tiếp thị, vì thế chúng tôi không nhìn vào những con số mà nó truyền tải vào kết quả kinh doanh. Điều mà chúng tôi quan tâm là làm thế nào để có thể kết nối với khách hàng ở mức độ cá nhân hơn. Và chúng tôi thực hiện điều đó thông qua điện thoại, cùng với mạng xã hội Twitter. Không một ai viết về điện thoại bởi vì nó không phải là một mẩu tin tức thú vị, nhưng chúng tôi tin rằng điện thoại thực sự là một trong những thiết bị làm công tác xây dựng thương hiệu tốt nhất hiện có”.

Điện thoại cho phép Zappos gọi cho các nhân viên trung tâm để thiết lập kết nối cá nhân (H2H) với khách hàng của họ. Sự thể hiện của nhân viên được đánh giá dựa trên sự hài lòng của khách hàng về các cuộc gọi mà họ xử lý. Và cũng không có sự giới hạn về thời lượng của các cuộc gọi. Cuộc gọi dịch vụ khách hàng dài nhất được ghi nhận kéo dài gần 6 giờ đồng hồ. Điều này làm cho Zappos trở thành một trong những thương hiệu được đánh giá rất cao bởi các khách hàng cả họ (Frei & cộng sự, 2009).

Qua đó ta thấy cả ba nghịch lý của số hóa thực sự có thể được giải quyết đồng thời mà không cần phải có sự phủ định lẫn nhau. Tự bản thân các công ty hãy trở thành cách nghịch lý sáng tạo, vừa xây dựng được các trải nghiệm trực tuyến vừa tích hợp vào đó những trải nghiệm ngoại tuyến, xây dựng nội dung đảm bảo cả về mặt bản chất lẫn hình thức, cũng như phát triển công nghệ M2M được hỗ trợ bởi kết nối H2H. Thành công của công ty trong việc quản trị ba nghịch lý này sẽ tạo nên một lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ để có thể chiến thắng được tâm trí cũng như chinh phục được trái tim của các khách hàng kỹ thuật số tại châu Á.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phillip Kotler, Hermawan Kartajaya & Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Công nghệ là động lực căn bản – Phần III


+ Các nhà phân phối và Nhà bán lẻ

Sự tồn tại của những công ty phân phối có ý nghĩa quan trọng đối với sự thâm nhập của di động và Internet tại châu Á. Thông qua một mạng lưới rộng khắp, các công ty phân phối giúp cho những người dân ở khu vực nông thôn cũng có được các thiết bị di động cầm tay và thẻ SIM. Nhưng theo thời gian, những kênh phân phối với những cửa hàng cụ thể như thế này bắt đầu thay đổi và chuyển thành những kênh phân phối điện tử, giúp dễ dàng quản lý đầu tư và quản lý cơ sở hạ tầng. Sự tăng trưởng của thương mại điện tử và các sàn giao dịch trực tuyến đã kích thích sự thâm nhập của điện thoại thông minh tại các khu vực thành thị với mức giá phải chăng hơn. Sự hợp tác thành công giữa Xiaomi và các công ty thương mại điện tử Lazada và Flipkart ở Ấn Độ đã hình thành nên một bệ phóng cùng với mô thức phân phối có khả năng tiếp cận tương đối rộng rãi và hiệu quả về mặt chi phối, từ đó dẫn đến mức doanh số khổng lồ trên khắp khu vực châu Á.

+ Nội dung, các ứng dụng và những dịch vụ khác

Nền công nghiệp phát triển với tốc độ và mức tăng trưởng phi thường, có thể được nhận thấy rõ ràng từ sự gia tăng nhanh chóng của các dịch vụ tin tức trực tuyến, các phương tiện truyền thông mạng xã hội, dịch vụ nhắn tin tức thời, các nhà phát triển ứng dụng và rất nhiều loại hình khác nữa. Ngoài những công ty đa quốc gia như Google, Yahoo và Facebook, các doanh nghiệp địa phương và cả những công ty khởi nghiệp cũng đã và đang cung cấp các ứng dụng, dịch vụ tin tức trực tuyến… Ở Trung Quốc, số lượng người dùng hoạt động hàng tháng của Weibo, một trang mạng xã hội dưới hình thức viết blog ngắn, đã đạt 193 triệu vào tháng Ba năm 2015, tăng hơn 38% so với năm trước (The Econoomist Corporate Network, 2015). Các công ty phát triển ứng dụng cũng đã tăng nhanh tại các quốc gia đang phát triển châu Á, đi kèm với họ là một khoản tiền lớn được những nhà đầu tư mạo hiểm trên toàn cầu rót vào. Bên cạnh đó, sự tham gia của các thành phần địa phương là cần thiết để gia tăng phần nội dung mang tính địa phương có liên quan và được tiếp nhận bởi cộng đồng châu Á nói chung.

Tác động của số hóa

Việc sử dụng điện thoại di động và Internet ngày càng nhiều tạo ra một tác động sâu sắc. Người tiêu dùng giờ đây có thể mang theo bên mình những thiết bị mạnh mẽ, có khả năng truy cập được Internet tại bất cứ nơi nào họ đến. Vì thế, họ luôn luôn trong trại thái kết nối được, luôn luôn tiếp cận được, và thậm chí vị trí chính xác của họ cũng có thể theo dõi được. Mohd Khairil Abdullah, Giám đốc điều hành các dịch vụ kỹ thuật số tại Axiata, một công ty viễn thông có trụ sở tại Malaysia hoạt động trên toàn khu vực châu Á, chia sẻ rằng:

Điện thoại di động đang dần trở thành một nền tảng mà mọi người dựa vào đó để quản lý cuộc sống của họ. Hiện đang có một sự chuyển dịch toàn bộ hành vi của mọi người từ thế giới phi kỹ thuật số sang môi trường điện thoại di động, từ đặt taxi đến mua sắm, thanh toán các dịch vụ, xem video hoặc kết nối với gia đình (The Economist Corporate Network, 2015).

Tác động sâu sắc cảu công nghệ di động và Internet không chỉ dừng lại ở phong cách sống của người tiêu dùng. Cả về mặt kinh tế, số hóa cũng có sự đóng góp đáng kể cho các quốc gia châu Á và còn nhiều hơn thế nữa. Vào năm 2014, các công nghệ và dịch vụ di động đã tạo ra 4,7% GDP tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương – một sự đóng góp với giá trị kinh tế hơn 1000 tỷ USD của 50 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau (GSM Association, 2015). Bên cạnh đó, giữa số hóa và sự tăng trưởng kinh tế cũng có một mối tương quan chặt chẽ. Theo chỉ số infostate – một chỉ số của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) dùng để đo lường khoảng cách số – những quốc gia với chỉ số infostate cao nhất (nghĩa là quốc gia có mức độ số hóa cao nhất) cũng là những nước có GDP cao nhất; tương tự, những quốc gia có chỉ số infostate thấp nhất là nhóm các nước có GDP thấp nhất. Nghiên cứu được thực hiện bởi Liên minh Viễn thông Quốc tế – International Telecommunication Union (2008) cũng cho thấy rằng sự thâm nhập của Internet cũng tỷ lệ thuận với GDP bình quân đầu người ở các nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) (Kotler và cộng sự, 2014).

Quá trình số hóa cũng trực tiếp góp phần vào công tác đẩy lùi đói nghèo và thất nghiệp tại các quốc gia đang phát triển. Vào năm 2014, hệ sinh thái di động mang lại việc làm trực tiếp cho 6,5 triệu người ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và con số này ước tính sẽ tăng lên gần 8 triệu người vào năm 2020. Hoạt động kinh tế phát sinh trong hệ sinh thái cũng gián tiếp tạo ra gần 6 triệu việc làm trong nền kinh tế với quy mô rộng lớn hơn vào năm 2014, và con số này được kỳ vọng sẽ tăng lên gần 7 triệu vào năm 2020 (GSM Association, 2015).

Khoảng cách xã hội cố hữu giữa những khu vực thành thi và nông thôn cũng có thể được rút ngắn thông qua việc sử dụng một cách hợp lý công nghệ kỹ thuật số. Công nghệ vượt qua các rào cản địa lý và cho phép các cư dân ở khu vực nông thôn trên toàn thế giới có thể tiếp cận được với những sản phẩm và dịch vụ mà trước đây nằm ngoài tầm với của họ. Giao dịch ngân hàng và các phương thức thanh toán qua thiết bị di động đang mở rộng việc tiếp cận tài chính cho mọi người và thương mại điện tử hiện đang thúc đẩy tiêu dùng tại những khu vực ít có các cửa hàng buôn bán (Thompson và cộng sự, 2015). Không có gì ngạc nhiên khi chúng ta thấy những gã khổng lồ công nghệ toàn cầu – những công ty tương tự như Google và Facebook – tung ra các sáng kiến nhằm cải thiện kết nối giữa hàng triệu người dân nông thôn với nhau lại là vai trò của chính phủ. Mức độ cam kết của chính phủ để xây dựng cơ sở hạ tầng di động và Internet tại các khu vực lạc hậu càng cao thì sự ảnh hưởng tích cực được tạo ra từ việc tận dụng tối ưu xu hướng số hóa ngày càng lớn.

Về phía các doanh nghiệp, số hóa tạo ra cho họ nhiều cơ hội trong thời kỳ đầy rẫy những thách thức không lường trước. Công ty được hưởng lợi rất nhiều từ các công nghệ mới – họ có thể lựa chọn những phương thức mới mẻ hơn, tiết kiệm hơn để tiếp cận đến khách hàng. Các xu hướng mớii nổi như Big Data (Dữ liệu lớn) và trí tuệ nhân tạo tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát huy khả năng tự điều chỉnh sao cho phù hợp với các mô hình hành vi khách hàng Công nghệ cũng làm cho mối quan hệ giữa công ty và khách hàng trở nên ngang bằng hơn. Khách hàng không còn là những đối tượng bị động nữa mà họ cũng phải có sự liên hệ, đóng góp và tham gia tích cực cùng với các công ty.

Về mặt khó khăn, số hóa cũng đã thúc đẩy việc tạo ra những quan hệ cạnh tranh mới. Các tờ báo in truyền thống phải cạnh tranh với những trang tin tức điện tử có thể phát tán thông tin chỉ bằng một cú nhấp chuột. Các công ty vận tải truyền thống ngày càng bị đe dọa bởi việc sử dụng rộng rãi các dịch vụ vận tải trực tuyến thông qua các ứng dụng di động. Các nhà bán lẻ lớn thì lo ngại sự nổi lên của thương mại điện tử cũng như các sản giao dịch trực tuyến được quản lý bởi nhiều nhà cung cấp có quy mô nhỏ. Do đó, điều này đòi hỏi một sự thay đổi tất yếu trong các quan điểm cũng như chiến lược quản lý doanh nghiệp.

Ba nghịch lý của số hóa

Hơn 20 năm trước, trong quyển sách The Age of Paradox (Kỷ nguyên nghịch lý), Handy (1995) đã gọi nhiều sự kiện thế giới, bao gồm cả sự phát triển của công nghệ, là một nghịch lý. Nhiều trong số những nhận định này của ông vẫn giữ nguyên được giá trị của nó cho đến ngày nay – bằng chứng là các nhà làm chính sách và các nhà tiếp thị đang chứng kiến vô vàn sự thay đổi, đáng chú ý nhất là trong thế giới công nghệ. Để có thể cạnh tranh trong kỷ nguyên mới này, các doanh nghiệp cần phải hiểu rõ và quản trị 3 nghịch lý sau đây một cách thích hợp và hiệu quả (xem hình 1.2).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phillip Kotler, Hermawan Kartajaya & Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.