Cộng đồng tưởng tượng – Phần cuối


Khái niệm và định nghĩa

Trước khi giải quyết vấn đề đặt ra trên đây, có lẽ chúng ta nên xem xét qua khái niệm “dân tộc” và đưa ra một định nghĩa khả thi. Các lý thuyết gia chủ nghĩa dân tộc thường lúng túng, nếu không muốn nói bực tức, trước ba nghịch lý này: (1) Tính hiện đại khách quan của dân tộc trong mắt các sử gia đối lập với tính cổ xưa chủ quan của chúng trong mắt các nhà dân tộc chủ nghĩa. (2) Sự phổ biến về mặt hình thức của dân tộc tính (nationality) như là một khái niệm xã hội hóa văn hóa – trong một thế giới hiện đại mà mỗi người đều có thể, và cần phải, mang một quốc tịch (nationality) như anh ta hay cô ta “mang” một giới tính – đối lập với tính đặc thù cố hữu trong những biểu hiện cụ thể của nó, chẳng hạn theo định nghĩa, dân tộc (nationality) “Hy Lạp” là một tồn tại độc nhất. (3) Quyền lực “chính trị” của các chủ nghĩa dân tộc đối lập với sự nghèo nàn, thậm chí thiếu thống nhất về mặt triết học của chúng. Nói cách khác, không giống như phần đa các chủ nghĩa khác, chủ nghĩa dân tộc chưa bao giờ sản sinh ra những tư tưởng gia vĩ đại của nó: không Hobbes, không Tocqueville, không Marx hay Weber. Sự “trống rỗng” này dễ dàng làm nảy sinh, trong các trí thức theo chủ nghĩa thế giới và trí thức đa ngữ, một sự coi nhẹ nhất định. Giống như Gertrude Stein khi gặp lại Oakland, người ta có thể nhanh chóng kết luận rằng “chẳng còn gì ở đó”. Điều này khiến ngay cả một chuyên gia về chủ nghĩa dân tộc đầy đồng cảm như Tom Nairn cũng viết rằng: ““Chủ nghĩa dân tộc” là thứ bệnh lý của lịch sử phát triển thời hiện địa, không thể thoát khỏi nó giống như không thể thoát khỏi chứng “loạn thần kinh” ở mỗi cá nhân, với cùng một đặc tính mờ nhòe bản chất đi kèm, một khả năng cố hữu giống nhau trong việc suy thoái thành chứng mất trí, bắt nguồn từ trong những nan giải bất lực ập tới hầu khắp thế giới (tương đương với bệnh ấu trĩ của các xã hội), và gần như vô phương cứu chữa”.

Một phần khó khăn nằm ở chỗ trong vô thức người ta có xu hướng hiện thực hóa sự tồn tại của khái niệm Chủ nghĩa dân tộc (tương tự việc hiện thực hóa sự tồn tại của khái niệm Tuổi), rồi phân loại “nó” thành một ý thức hệ. (Lưu ý rằng nếu như ai cũng có một độ tuổi, thì Tuổi chỉ là một cách biểu đạt để phân tích). Tôi nghĩ sẽ dễ dàng hơn nếu ta coi chủ nghĩa dân tộc tương đồng với “dân tộc” và “tôn giáo” hơn là với “chủ nghĩa tự do” hay “chủ nghĩa Phát xít”.

Trong một tinh thần nhân học, tôi đề xuất định nghĩa sau về dân tộc: dân tộc là một cộng đồng chính trị tưởng tượng – được tưởng tượng có giới hạn và chủ quyền một cách cố hữu.

Nó được tưởng tượng nên bởi lẽ các thành viên của ngay cả những dân tộc nhỏ nhất cũng không bao giờ biết hết đồng bào của mình, gặp họ hay thậm chí nghe nói về họ, nhưng trong ý thức mỗi người vẫn duy trì một hình ảnh về cộng đồng mình. Renan từng đề cập tới hành vi tưởng tượng này bằng một lối châm biếm khéo léo khi ông viết rằng “Thế mà bản chất một dân tộc là mọi cá nhân đều có rất nhiều điểm chung, đồng thời họ cũng thường quên đi nhiều điều” [tiếng Pháp trong nguyên văn – ND]. Dù có phần cực đoan, nhưng Gellner đã đưa ra một luận điểm gần gũi khi ông cho rằng “Chủ nghĩa dân tộc không phải là sự thức tỉnh ý thức tự giác của các dân tộc: nó sáng tạo ra các dân tộc tại những nơi mà chúng không tồn tại”. Tuy nhiên hạn chế của lập luận này nằm ở chỗ, do quá nóng lòng chứng minh sự giả trang ngụy tạo của chủ nghĩa dân tộc, Gellner đã đồng nhất “sáng tạo” (invention) với “bịa tạo” (fabrication) và “ngụy tạo” (falsity) hơn là với “tưởng tượng” (imagining) và “chế tạo” (creation). Theo cách này ông ám chỉ rằng vẫn tồn tại những cộng đồng “thực sự” nếu so sánh với các dân tộc. Tuy nhiên trên thực tế, tất cả những cộng đồng có quy mô lớn hơn các làng mạc nguyên thủy có tiếp xúc trực tiếp (và có lẽ ngay cả những làng mạc này) đều được tưởng tượng nên. Các cộng đồng được khu biệt nhau không phải bởi tính ngụy tạo/chân thực của chúng mà bởi cách thức mà chúng được tưởng tượng. Dân làng ở Java luôn hiểu rằng họ có mối liên hệ với những cư dân mà họ chưa bao giờ gặp mặt, nhưng mối ràng buộc này lại được tưởng tượng một cách đặc thù trong quá khứ – trong tư cách những mạng lưới thân tộc và bảo trợ (clientship) có thể mở rộng không giới hạn. Mãi đến tận gần đây, tiếng Java vẫn không có từ nào trỏ khái niệm trừu tượng “xã hội”. Ngày nay chúng ta có thể nghĩ về quý tộc Pháp thời quân chủ (ancien régime) như là một giai cấp; nhưng chắc chắn phải rất muộn về sau nó mới được tưởng tượng theo cách này. Với câu hỏi “Ai là Bá tước X?” thì câu trả lời thông thường không phải là “một thành viên quý tộc”, mà là “lãnh chúa của xứ X”, “bác của Nam tước Y” hoặc “khách của Công tước Z”.

Dân tộc được tưởng tượng có giới hạn bởi ngay cả các dân tộc lớn nhất trong số chúng, có thể lên tới hàng tỷ cư dân, vẫn có những ranh giới xác định – dù có thể thay đổi – và nằm ngoài ranh giới đó là các quốc gia khác. Không một dân tộc nào tưởng tượng mình giáp ranh với cả nhân loại. Ngay cả các nhà dân tộc chủ nghĩa có tư tưởng cứu thế mạnh mẽ nhất cũng không nghĩ một ngày nào đó tất cả thành viên của nhân loại sẽ gia nhập dân tộc của họ theo kiểu, chẳng hạn, trong những thời đại nhất định, người người Công giáo có thể mơ về một hành tinh chỉ có tín đồ Công giáo.

Dân tộc được tưởng tượng có chủ quyền bởi khái niệm này ra đời trong một kỷ nguyên mà Khai sáng và Cách mạng đã triệt tiêu tính hợp pháp của các vương triều thiêng liêng và tôn ty. Các dân tộc trưởng thành trong một giai đoạn của lịch sử nhân loại khi mà ngay cả những tín đồ sùng đạo nhất của bất cứ tôn giáo phổ quát nào đều không thể đối mặt với chủ nghĩa đa nguyên sống động giữa các tôn giáo và sự khác biệt giữa tuyên ngôn bản thể luận của mỗi niềm tin với phạm vi lãnh thổ của chúng. Trong một thời đại như thế, các dân tộc mong muốn được tự do và được tự do – nếu chịu sự chi phối của Chúa – một cách trực tiếp. Vật làm tin và biểu tượng cho sự tự do này là nhà nước có chủ quyền.

Cuối cùng, dân tộc được tưởng tượng như một cộng đồng, bởi lẽ bất chấp tình trạng bất bình đẳng và bóc lột thực tế có thể đang lan tràn ở mỗi nước, dân tộc luôn được hình dung như một thứ tình đồng chí sâu sắc, bình đẳng. Rốt cuộc chính thứ tình cảm anh em (fraternity) này đã khiến trong hai thế kỷ qua hàng triệu người giết nhau và sẵn sàng chết cho những tưởng tượng giới hạn đó.

Những cái chế này khiến chúng ta phải đối mặt ngay lập tức với vấn đề trung tâm mà chủ nghĩa dân tộc đặt ra: điều gì khiến cho những tưởng tượng bị thu hẹp và chỉ mới xuất hiện này (không quá hai thế kỷ) lại dẫn tới những hy sinh khổng lồ như vậy? Tôi tin rằng xuất phát điểm của câu trả lời nằm ở các cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng –  LHNB 2019.

Advertisements

Cộng đồng tưởng tượng – Phần đầu


Có thể chưa gây được nhiều chú ý, nhưng một chuyển biến căn bản trong lịch sử của chủ nghĩa Marx và các phong trào Marxist vẫn hiện diện trước mắt chúng ta. Dấu hiệu rõ rệt nhất của chuyển biến này là các cuộc chiến tranh gần đây giữa Việt Nam, Campuchia và Trung Quốc. Những cuộc chiến này có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử thế giới bởi lần đầu tiên chúng diễn ra giữa hai thể chế mà sự độc lập và uy tín cách mạng là điều không thể chối cãi và bởi không một bên tham chiến nào thực sự nỗ lực biện minh cho các xung đột đẫm máy này bằng một quan điểm lý thuyết Marxist chấp nhận được. Dù vẫn có thể giải thích các xung đột biên giới Trung – Xô năm 1969 và những can thiệp quân sự của Liên Xô ở Đức (1953), Hungary (1956), Tiệp Khắc (1968) và Afghanistan (1980) bằng các thuật ngữ – tùy theo quan niệm của mỗi người – “chủ nghĩa đế quốc xã hội chủ nghĩa”, “chủ nghĩa xã hội phòng vệ”, nhưng theo tôi sẽ không một ai thực sự tin rằng những cụm từ như vậy lại liên quan đáng kể tới những gì đã diễn ra tại Đông Dương.

Nếu việc xâm lược rồi chiếm đóng Campuchia của Việt Nam vào tháng 12 năm 1978 và tháng Giêng năm 1979 điển hình cho cuộc chiến tranh thông thường quy mô lớn đầu tiên do một thể chế Marxist cách mạng này tiến hành chống lại một thể chế Marxist cách mạng khác, thì cuộc tấn công Việt Nam của Trung Quốc vào tháng Hai năm 1979 nhanh chóng xác nhận cho tiền lệ này. Chỉ những ai giàu niềm tin nhất mới dám cược rằng trong những năm cuối cùng của thế kỷ này bất cứ bùng phát chiến sự quy mô nào giữa các quốc gia chắc chắn sẽ chứng kiến sự hậu thuẫn hoặc tham chiến của Liên Xô và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa – chưa tính các nước xã hội chủ nghĩa nhỏ hơn – trong cùng một phe. Ai dám chắc vào một ngày nào đó Nam Tư và Albania không đánh nhau? Những lực lượng khác nhau yêu cầu Hồng quân rút khỏi các trại lính ở Đông Âu cần phải tự nhắc nhở rằng chính mức độ hiện áp đảo của Hồng quân sau 1945 đã loại trừ xung đột quân sự giữa các thể chế Marxist trong khu vực này.

Những suy xét như vậy sẽ làm nổi bật một thực tế rằng kể từ sau Thế chiến thứ hai tất cả các cuộc cách mạng thành công đều tự định nghĩa chúng trong các phạm trù dân tộc – Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam… – và bằng cách đó, cố định chúng trong một không gian lãnh thổ và xã hội được thừa hưởng từ quá khứ tiền cách mạng. Ngược lại việc có chung một đặc điểm hiếm hoi với Liên hiệp Anh và Bắc Ireland ở sự chối bỏ dân tộc (nationality) trong danh xưng cho thấy rằng Liên Xô không những là kẻ kế thừa các nhà nước vương triều tiền dân tộc trong thế kỷ XIX mà còn là tiền thân của một trật tự quốc tế chủ nghĩa trong thế kỷ XXI.

Eric Hobsbawm hoàn toàn đúng khi cho rằng “các phong trào và các nhà nước Marxist có xu hướng trở thành dân tộc không chỉ trong hình thức mà còn trng cả bản chất, tức trở thành chủ nghĩa dân tộc. Không có một dấu hiệu nào cho thấy khuynh hướng sẽ không tiếp diễn”. Khuynh hướng này cũng không chỉ giới hạn trong khối xã hội chủ nghĩa. Gần như hàng năm Liên hợp quốc đều kết nạp các thành viên mới. Nhiều “cựu dân tộc” từng được coi là cực kỳ cố kết nay nhận ra phải đối mặt với những thách thức của các chủ nghĩa dân tộc “ngoại vi” bên trong biên giới của mình – những chủ nghĩa dân tộc dĩ nhiên nuôi giấc mộng phá bỏ tính chất ngoại vi này vào một ngày đẹp trời nào đó. Thực tế hoàn toàn giản dị: “sự cháo chung của kỷ nguyên dân tộc chủ nghĩa”, như đã tiên đoán từ lâu, lại không hề diễn ra. Trên thực tế, tính dân tộc (nation-ness) là giá trị hợp pháp phổ biến nhất trong đời sống chính trị của thời đại chúng ta.

Thế nhưng nếu những thực tế này rõ ràng thì việc giải thích chúng vẫn là một vấn đề gây tranh luận lâu dài. Dân tộc (nation), dân tộc tính (nationality), chủ nghĩa dân tộc (nationalism) – tất cả đều nổi tiếng khó định nghĩa, chưa nói tới phân tích. Trái với ảnh hưởng to lớn của chủ nghĩa dân tộc đối với thế giới hiện đại, ta dễ nhận thấy sự thiếu hụt của những lý thuyết thỏa đáng về nó. Hugh Seton-Watson, tác giả của một công trình xuất sắc và toàn diện nhất bằng Anh ngữ về chủ nghĩa dân tộc, đồng thời là người kế thừa truyền thống phong phú của sử học và khoa học xã hội khai phóng, đã buồn bã nhận xét: “Bởi vậy tôi buộc phải đi tới kết luận rằng không thể đưa ra một “định nghĩa khoa học” nào về dân tộc; song hiện tượng này đã và vẫn đang tồn tại”. Tom Nairn, tác giả của công trình có tính mở đường Sự tan rã của Vương quốc Anh và là người kế thừa truyền thống không kém phần phong phú của sử học và khoa học xã hội Marxist, đã nhận xét thẳng thừng: “Lý thuyết về chủ nghĩa dân tộc tiêu biểu cho thất bại lịch sử vĩ đại của chủ nghĩa Marx”. Nhưng ngay cả thú nhận này cũng dễ gây nhầm lẫn, bởi nó có thể khiến chúng ta hiểu rằng tác giả đang ngầm chỉ kết quả đáng tiếc của một cuộc tìm kiếm lâu dài và tự giác nhằm xác định tính minh bạch về mặt lý thuyết. Sẽ chính xác hơn nếu nói rằng chủ nghĩa dân tộc đã trưng ra một bất thường không hề dễ chịu cho lý thuyết Marxist và chính vì lý do đó nó thường bị lý thuyết Marxist xem nhẹ, không được giải quyết một cách chính diện. Còn cách nào khác giải thích tại sao Marx không cắt nghĩa tính từ then chốt trong phát ngôn khó quên của ông năm 1848: “Giai cấp vô sản ở mỗi nước đương nhiên phải giải quyết trước hết giai cấp tư sản của chính mình”? Còn cách nào khác giải thích việc sử dụng, trong vòng hơn một thế kỷ, khái niệm “tư sản dân tộc” (national bourgeoisie) mà không có bất cứ nỗ lực nghiêm túc nào biện minh về mặt lý thuyết sự liên đới của tính từ này [dân tộc – ND]? Tại sao sự phân tách này của giai cấp tư sản – một giai cấp thế giới trong chừng mực được định nghĩa bằng các quan hệ sản xuất – lại có tầm quan trọng về mặt lý thuyết?

Mục đích của cuốn sách này là đưa ra một số giả thuyết có tính thử nghiệm nhằm cung cấp một diễn giải thỏa đáng hơn sự “bất thường” này của chủ nghĩa dân tộc. Tôi thấy rằng về chủ đề này cả lý thuyết Marxist lẫn lý thuyết của chủ nghĩa tự do đều tỏ ra yếu ớt trong một nỗ lực muộn màng kiểu Plotemy nhằm “cứu vãn các hiện tượng”; bởi vậy ở đây chúng ta cần nhanh chóng định hướng lại quan niệm theo tinh thần Copernicus. Xuất phát điểm của tôi là việc coi dân tộc tính (nationality), hoặc nếu thích nhìn từ các biểu nghĩa đa dạng của từ này, tính dân tộc (nation-ness), cũng như chủ nghĩa dân tộc, là những tạo tác văn hóa (cultural artefacts) đặc thù. Để hiểu chúng chính xác, chúng ta cần xem xét cẩn thận chúng đã tồn tại như thế nào trong lịch sử, ý nghĩa của chúng đã thay đổi ra sao theo thời gian và tại sao ngày nay chúng lại có được một sự hợp thức sâu sắc về mặt cảm xúc như vậy. Tôi sẽ tìm cách lập luận rằng việc chế tạo ra những tạo tác này vào cuối thế kỷ XVIII là sự kết tinh tự nhiên của một “giao cắt” phức tạp giữa các động lực lịch sử riêng biệt; nhưng một khi được tạo nên, chúng sẽ trở thành “mô hình”, có thể được “bứng chuyển”, với nhiều mức độ tự giác khác nhau, sang vô số lĩnh vực xã hội, để kết hợp và được kết hợp vào hàng loạt mô thức (constellations) chính trị và ý thức hệ tương ứng. Tôi cũng sẽ tìm cách chỉ ra tại sao những tạo tác văn hóa đặc thù này lại làm nảy sinh những gắn kết sâu sắc như vậy.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng –  LHNB 2019.

Chuyển biến trong xã hội Việt Nam đương đại qua sách của chuyên gia Pháp


Theo đài RFI, Việt Nam thay đổi một cách sâu sắc kể từ khi thực hiện chính sách Đổi Mới năm 1986. Đối với nhiều nhà nghiên cứu Pháp, hình ảnh Việt Nam không chỉ còn gắn với thời Pháp thuộc, mà họ bị cuốn hút vào hình ảnh một sức mạnh đang trỗi dậy ở châu Á.

Quan sát, nghiên cứu, phân tích những biến chuyển về mọi lĩnh vực trong xã hội Việt Nam đương đại là mục tiêu chính của cuốn “Histoire du Vietnam de la colonisation à nos jours” (Lịch sử Việt Nam từ thời thuộc địa đến nay), được phát hành ngày 15/3/2018. Điểm đặc biệt, tác phẩm là công trình của nhiều chuyên gia thuộc ba thế hệ nhà nghiên cứu Pháp ngữ và thể hiện rõ cách phân tích, quan điểm riêng của mỗi thế hệ.

Giám đốc nghiên cứu Benoȋt Tréglodé, chủ biên cuốn Histoire du Vietnam de la colonisation à nos jours, nói:

Việt Nam vẫn là một câu chuyện tình ở Pháp. Có rất nhiều tác phẩm về Việt Nam từ lâu. Với một tác phẩm như cuốn sách này, được xuất bản dưới dạng sách bỏ túi, nhỏ nhắn, với khoảng 300 trang, mục đích là giới thiệu những thay đổi gần đây nhất trong xã hội Việt Nam.

Xã hội đương đại Việt Nam từng bước thay đổi như thế nào?

Điều đầu tiên cần nói là một xã hội không hẳn được tóm gọn trong việc lược lại lịch sử, những sự kiện lớn dẫn đến chiến tranh Việt Nam, nền độc lập của Việt Nam và sự mở cửa của đất nước lúc Đổi Mới.

Còn nhiều mặt khác cũng rất quan trọng. Phải đề cập đến nền kinh tế từ năm 1986, cũng phải nói đến con người, cách thức xã hội và người Việt đã thay đổi, phát triển và thích nghi với thời đại mới. Đây chính là điều các tác giả quan tâm, đề cập trong cuốn sách. Không chỉ nói về lịch sử và kinh tế, chúng tôi còn nghiên cứu về mối quan hệ xã hội, sự trao đổi trong xã hội Việt Nam được tiến hành như thế nào trong thời đại ngày nay. Các tác giả cũng tìm hiểu xem xã hội thời 2.0 đã chuyển hóa sâu sắc như thế nào mối quan hệ xã hội ở Việt Nam đương đại.

Cuốn sách còn đề cập đến vấn đề môi trường vì môi trường cũng là một cách để tầng lớp trung lưu và xã hội Việt Nam nghĩ khác đi về mối quan tâm của họ với chính trị. Chúng tôi cũng trở lại với cách đặt vấn đề liên quan đến tôn giáo. Theo nhãn quan lâu nay ở Pháp, lịch sử Việt Nam vẫn bị gò bó trong một số chủ đề như chiến tranh, kinh tế và nông thôn. Việt Nam còn có nhiều điểm khác. Việt Nam là một xã hội chuyển biến nhanh chóng, người Pháp ngày nay không hiểu hết vì vuột khỏi tầm tay họ.

“Thêm bạn, bớt thù”

Chính sách “thêm bạn, bớt thù” được Việt Nam theo đuổi cũng được đề cập trong sách. Việt Nam luôn vận hành theo thực tế và theo nhu cầu tìm được sự cân bằng để bảo vệ quyền lợi quốc gia trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Việt Nam không thật sự có một đường lối, theo Liên bang Xô viết hay ngả theo Trung Quốc. Trong quá khứ, Việt Nam luôn có những dàn xếp, thương lượng cho phép người Việt có thể từng bước bảo vệ lợi ích của chính mình trong bối cảnh tái cân bằng sức mạnh trên trường quốc tế.

Chiến tranh Lạnh kết thúc vào cuối thập niên 1990, ngân sách nhà nước trống rỗng, theo đúng thời thế, Việt Nam hướng đến những “kẻ thù xưa”; bình thường hóa quan hệ với Bắc Kinh, hòa nhập trên trường quốc tế… Đó là một thách thức thực tế lớn đối với giới tinh hoa Việt Nam.

Quan hệ với Trung Quốc đã có tác động đến sự xoay chuyển thực dụng này và hiện vẫn được chú trọng trong cách Việt Nam cố bảo vệ, duy trì quyền tự chủ, độc lập quốc gia và thế cân bằng trong người dân qua việc quan hệ với cả Washington và Bắc Kinh.

“Nhà nước – Đảng” và “Nhà nước và Đảng”

Hai khái niệm này khác nhau như thế nào? Đây là một vấn đề có từ lâu và góp phần làm sôi nổi hướng suy nghĩ của cộng đồng nghiên cứu về Việt Nam, cũng như trong số các bạn đồng nghiệp Việt Nam.

Kể từ khi đất nước mở cửa năm 1986, hình ảnh mà Việt Nam muốn truyền tải ra nước ngoài, ở cả trong nước, là dần dần có sự độc lập giữa Đảng và Nhà nước. Nhà nước không còn trực tiếp phụ thuộc vào Đảng nữa và điều này được đi theo hướng dân chủ hóa hệ thống chính trị nội bộ Việt Nam…

Việt Nam có ý định từng bước chứng minh là hệ thống chính trị dần dần được dân chủ hóa, thậm chí một cách nào đó còn theo xu hướng phương Tây. Trên thực tế, vẫn tồn tại một quy tắc chủ đạo, đó là quy tắc Đảng vẫn là động lực chính của hệ thống chính trị Việt Nam.

Nguồn: TKNB – 28/03/2018

Ai cai trị thế giới này?


Câu hỏi mà nhan đề cuốn sách này đưa ra không thể có một câu trả lời đơn giản và rõ ràng. Thế giới này quá đa dạng, quá phức tạp, để có thể có một câu trả lời như vậy. Nhưng không khó để nhận ra những khác biệt sắc nét trong khả năng định hình các vấn đề quốc tế, và để xác định các tác nhân nổi bật và có ảnh hưởng hơn.

Trong số các nhà nước, kể từ sau Thế chiến II Hoa Kỳ là nước đứng đầu, và vẫn là nước đừng đầu. Nó chủ yếu vẫn đặt ra những vấn đề cho dòng tranh luận toàn cầu, từ những mối quan tâm như Israel-Palestine, Iran, Mỹ Latin, “cuộc chiến chống khủng bố,” tổ chức kinh tế quốc tế, các quyền và công lý, và các vấn đề tương tự đến những vấn đề sống còn của nền văn minh (chiến tranh hạt nhân và sự hủy hoại môi trường). Tuy nhiên, sức mạnh của nó cũng đã suy giảm sau khi đạt đỉnh lịch sử chưa từng có vào năm 1945. Và với sự suy giảm không thể tránh khỏi, quyền lực của Washington đang được chia sẻ ở một mức độ nhất định trong “chính phủ thế giới trên thực tế” của “những ông chủ của vũ trụ,” mượn lời của báo chí thương mại—tức là những cường quốc tư bản hàng đầu (các nước G7) cùng với các thể chế mà họ kiểm soát trong “thời đại đế quốc mới,” như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các tổ chức thương mại toàn cầu.

“Những ông chủ của vũ trụ” dĩ nhiên không hề là đại diện của người dân các cường quốc thống trị. Ngay cả trong các nước dân chủ hơn, người dân cũng chỉ có tác động hạn chế đối với các quyết định chính sách. Ở Hoa Kỳ, các nhà nghiên cứu nổi tiếng đã đưa ra bằng chứng thuyết phục rằng “giới tinh hoa kinh tế và các nhóm có tổ chức đại diện cho những lợi ích kinh doanh có tác động độc lập đáng kể đối với chính sách của chính phủ Hoa Kỳ, [trong khi] công dân da trắng trung bình và các nhóm lợi ích dựa trên quần chúng có rất ít hoặc không có ảnh hưởng độc lập.” Kết quả nghiên cứu của họ, các tác giả kết luận, “cung cấp sự hỗ trợ đáng kể cho các lý thuyết về Sự thống trị của giới tinh hoa kinh tế (Economic Elite Domination) và các lý thuyết về Chủ nghĩa đa nguyên thiên vị (Biased Pluralism), mà không phải cho các lý thuyết về Dân chủ bầu cử đa số (Majoritarian Electoral Democracy) hay Chủ nghĩa đa nguyên đa số (Majoritarian Pluralism).” Các nghiên cứu khác đã chứng minh rằng phần lớn dân số, ở cuối thang đo thu nhập/tài sản, trên thực tế bị loại bỏ khỏi hệ thống chính trị, ý kiến và thái độ của họ bị những người đại diện chính thức của họ bỏ qua, trong khi một nhóm nhỏ ở đầu lại có ảnh hưởng áp đảo; và trong một thời gian dài, kinh phí của chiến dịch là một yếu tố dự báo tương đối tốt về những lựa chọn chính sách.

Một hệ quả của điều này là cái gọi là sự thờ ơ: không buồn bỏ phiếu. Nó có một mối tương quan giai cấp đáng kể. Những lý do thích hợp đã được một trong những học giả hàng đầu về chính trị của bầu cử, Walter Dean Burnham, thảo luận cách đây 35 năm. Ông liên kết việc không bỏ phiếu với một “đặc thù so sánh quan trọng của hệ thống chính trị Hoa Kỳ: sự vắng mặt hoàn toàn của một đảng quần chúng xã hội chủ nghĩa hay lao động trong vai trò đối thủ cạnh tranh có tổ chức trong thị trường bầu cử,” điều mà ông cho rằng lý giải phần lớn “tỷ lệ không bỏ phiếu lệch giai cấp” cũng như hạ thấp các lựa chọn chính sách có thể được người dân nói chung hỗ trợ nhưng trái với lợi ích của giới chóp bu. Những quan sát này vẫn đúng đến ngày nay. Trong một phân tích kỹ lưỡng về cuộc bầu cử 2014, Burnham và Thomas Ferguson cho thấy tỷ lệ bỏ phiếu “gợi lại những ngày đầu của thế kỷ 19,” khi quyền bỏ phiếu gần như bị giới hạn trong nhóm nam giới tự do có tài sản. Họ kết luận rằng “cả bằng chứng thăm dò trực tiếp và lẽ thông thường đều xác nhận rằng số lượng lớn người Mỹ hiện nay thận trọng với cả hai đảng chính trị lớn và ngày càng khó chịu về những triển vọng trong dài hạn. Nhiều người tin rằng một vài lợi ích lớn đang kiểm soát chính sách. Họ mong muốn sự hành động hiệu quả để đảo ngược suy thoái kinh tế dài hạn và bất bình đẳng kinh tế không kiểm soát, nhưng không gì trên quy mô cần thiết sẽ được cung cấp cho họ từ tay một trong hai đảng lớn được thúc đẩy bằng tiền bạc của Mỹ. Điều này chỉ có thể đẩy nhanh sự tan rã của hệ thống chính trị vốn thể hiện rõ trong cuộc bầu cử quốc hội 2014.”

Ở châu Âu, sự suy thoái của dân chủ cũng không ít ấn tượng hơn, khi việc ra quyết định về các vấn đề quan trọng được chuyển sang bộ máy quan liêu Brussels [Liên minh châu Âu] và những quyền lực tài chính mà nó chủ yếu là đại diện. Sự khinh miệt đối với dân chủ của họ bộc lộ trong phản ứng dã man hồi tháng 7 năm 2015 với chính ý tưởng rằng người dân Hy Lạp có thể có tiếng nói trong việc quyết định số phận xã hội của họ, bị phá vỡ bởi các chính sách thắt lưng buộc bụng tàn bạo của troika (ủy ban ba bên)—Ủy ban châu Âu, Ngân hàng Trung ương châu Âu, và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (đặc biệt là các nhân tố chính trị của IMF, chứ không phải những nhà kinh tế của nó, những người đã chỉ trích các chính sách phá hoại). Các chính sách thắt lưng buộc bụng được áp đặt với mục đích được tuyên bố là giảm nợ cho Hy Lạp. Nhưng trên thực tế chúng đã làm tăng nợ so với GDP, trong khi kết cấu xã hội Hy Lạp bị xé tan thành từng mảnh, và Hy Lạp đã phục vụ như một kênh truyền tải các gói cứu trợ tới những ngân hàng Pháp và Đức vốn tạo ra các các khoản vay rủi ro.

Có đôi chút ngạc nhiên ở đây. Chiến tranh giai cấp, thường là đơn phương, có lịch sử lâu dài và cay đắng. Vào buổi bình minh của thời đại tư bản nhà nước hiện đại, Adam Smith đã lên án “những ông chủ của nhân loại” trong thời của ông, “giới thương nhân và giới sản xuất” của Anh, “kiến trúc sư chính yếu” của chính sách, những người đảm bảo lợi ích của mình “được phục vụ đặc biệt nhất,” bất kể tác động “đau thương” đến đâu đối với những người khác (chủ yếu là những nạn nhân của “sự bất công man rợ” của họ ở nước ngoài, nhưng phần lớn cũng là người dân nước Anh). Thời đại tân tự do của thế hệ đã qua đã thêm tác động của riêng nó vào bức tranh cổ điển này, với những ông chủ bước ra từ hàng ngũ đứng đầu của các nền kinh tế ngày càng độc quyền hóa, các tổ chức tài chính khổng lồ và thường trục lợi, các công ty đa quốc gia được quyền lực nhà nước bảo vệ, và các nhân vật chính trị chủ yếu đại diện cho lợi ích của họ.

Trong khi đó, hiếm có ngày nào trôi qua mà không có báo cáo mới về những khám phá khoa học đáng lo ngại về tốc độ tàn phá môi trường. Không hề thoải mái khi đọc được rằng ở những vĩ độ trung bình của bán cầu Bắc, nhiệt độ trung bình đang tăng với tốc độ tương đương với việc di chuyển về phía Nam khoảng 10 mét mỗi ngày, một tốc độ “nhanh gấp khoảng 100 lần so với phần lớn sự biến đổi khí hậu mà chúng ta có thể quan sát được trong lịch sử địa chất”—và có lẽ nhanh gấp 1.000 lần, theo những nghiên cứu kỹ thuật khác.

Không ít ảm đạm hơn là mối đe dọa ngày càng tăng của chiến tranh hạt nhân. Cựu bộ trưởng quốc phòng đầy hiểu biết William Perry, không phải Cassandra, coi “khả năng xảy ra một tai họa hạt nhân ngày nay cao hơn” trong Chiến tranh Lạnh, khi thoát khỏi một thảm họa không thể hình dung nổi gần như là một phép lạ. Trong khi đó các cường quốc lại kiên trì theo đuổi những chương trình “phi an ninh quốc gia” của họ, mượn lời của nhà phân tích lâu năm Melvin Goodman của CIA. Perry cũng là một trong những chuyên gia kêu gọi Tổng thống Obama “phá hủy tên lửa hành trình mới,” một vũ khí hạt nhân có độ chính xác được cải thiện và hiệu năng thấp hơn vốn có thể khuyến khích “chiến tranh hạt nhân hạn chế,” nhanh chóng bị các động lực quen thuộc làm leo thang và dẫn đến thảm họa. Tệ hơn, tên lửa mới có cả hình thức hạt nhân và phi hạt nhân, do đó “một kẻ thù bị tấn công có thể nghĩ đến khả năng tồi tệ nhất và phản ứng thái quá, bắt đầu cuộc chiến tranh hạt nhân.” Nhưng có rất ít lý do để hy vọng những lời khuyên này sẽ được chú ý, khi kế hoạch tăng cường trị giá nghìn tỷ USD của Lầu Năm Góc vào hệ thống vũ khí hạt nhân vẫn tiến triển nhanh chóng, trong khi những quyền lực thấp hơn cũng tiến những bước của riêng mình đến Armageddon.

Những nhận xét trên đây đối với tôi dường như đã phác họa tương đối dàn diễn viên của các nhân vật chính. Các chương tiếp theo sẽ tìm cách khám phá những câu hỏi về ai cai trị thế giới này, họ tiến hành những nỗ lực của mình như thế nào, và chúng sẽ dẫn tới đâu—và làm thế nào “những quần thể dân số tiềm ẩn,” mượn cụm từ hữu ích của Thorstein Veblen, có thể hy vọng vượt qua được sức mạnh của thương mại và học thuyết chủ nghĩa dân tộc và trở nên, theo lời ông, “còn sống và phù hợp để sống.”

Thời gian không còn nhiều.

Nguyễn Huy Hoàng dịch,

Nguồn: https://hoanghannom.com/

Noam Chomsky là Giáo sư Danh dự (Institute Professor Emeritus) tại Khoa Ngôn ngữ học và Triết học thuộc Viện Công nghệ Massachusetts. Đây là Lời giới thiệu cuốn sách vừa được xuất bản, Who Rules the World?(Metropolitan Books, 10 tháng 5, 2016) của ông

Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về kinh dịch – Phần cuối


Tôi đã nói rằng “tôi dựa vào” sự bình giải này. Điều đó có nghĩa là tôi có thể yên tâm dịch các đoạn văn và tôi có thể tìm ra ở đây cách khai thác nó. Tương tự, các thuật ngữ Trung Hoa thế kỷ XVII chỉ có nghĩa trong quan hệ với ngữ cảnh mang tính khái niệm riêng biệt, từ đó người ta nhận ra sự phát triển độc lập của chúng so với chúng ta (và dựa vào các đối lập theo kiểu: cường – nhược, âm – dương,…) với những thuật ngữ như vậy không thể chuyển dịch trực tiếp sang thế giới các biểu hiện của chúng ta; tương tự, tôi cần bắt đầu công việc từ việc rút sự bình giải này ra khỏi các mã hóa mà nó hàm chứa trong đó, đối diện với chúng ta, theo truyền thống riêng của nó, lần lượt lý giải lại chúng, theo từng bước, các đối lập này. Từ một phía khác, ngay khi ông ta đề cập đến các chủ đề chung nhất, thì sự bình giải của WFZ vẫn bị phân tán, theo cách của Trung Quốc, trong mạch công thức điển quy, cho phép tôi liên kết từ chúng, tất cả các ghi chú nhằm hướng tới việc thử xây dựng lại, xuất phát từ chúng, tình huống tổng quát. Cuối cùng, giá trị được gia tăng này (với bài bình chú Trung Hoa) sẽ còn mở rộng ra từ mặt trái của tình huống – bởi vì nó cũng đóng vai trò thiết thực. Khi chuyển tải tư tưởng của WFZ vào khoảng trời của chúng ta, tôi đã làm cho chúng tác động qua lại với nhau. Thế là, mọi sự thúc ép đưa tới một thực tế giả tạo mà tại đó chúng, ở mức độ riêng biệt, sẽ trở nên biệt lập, khép kín. Cái khó khăn mà ta cảm nhận được ở đây là việc khi sắp xếp chúng vào một tổng thể không những không hề soi sáng các khu vực không thể hiểu nổi của chúng ta ngay cả khi làm chúng hiện ra, cái này tiếp cái kia, trong cách lựa chọn hàm ẩn của chúng. Khi đọc bên ngoài cùng lúc với đọc bên trong (khi chuyển hóa cái vốn văn hóa ngoại tại của tôi thành phương tiện phát hiện vấn đề), tôi đã thử nghiệm suy tư đồng thời với cái đã được đề cập đến trong tư tưởng và cả với cái chưa được tư tưởng đó đề cập tới, không chỉ trong những cái mà tư tưởng xuất phát mà ngay cả trong những cái mà tư tưởng chuyển hướng, hoặc là tư tưởng bỏ trống, hoặc tư tưởng né tránh: đối chất cái này với cái kia, hai cách thể hiện được hiểu một cách đúng đắn hơn mà độ lệch giữa chúng tạo cho ta một khoảng lùi.

IV – Trong số các điểm, ở đó, sự khác biệt là dễ cảm nhận nhất, đồng thời tạo ra cách nhìn tương hỗ bổ sung, là sự đụng chạm đầu tiên tới bản chất của cuốn sách này. Trong văn hóa phương Tây, lời nói là nguồn cội, văn bản chỉ hiện ra khi nó được ghi lại: anh hùng ca của Homer là “lời ca” của một nghệ nhân hát rong và từ “miệng” của Nữ thần thơ Muse mà Hésiode biết được sự ra đời của các thần; tương tự, trong thông điệp của sự Thần khải, Kinh Thánh là lời nói trước khi nó được viết thành Thánh thư và, như người ta vẫn thường ghi nhận, nó gắn liền với truyền thống mục ca của dân tộc Do Thái khi người chăn cừu nói với bầy cừu của anh ta. Thế nhưng ở Trung Hoa, không có cả lời nói thiêng liêng lẫn sử thi, ý thức được sinh ra từ các đường nét. Và Kinh Dịch là tác phẩm tuyệt vời về các nét được viết ra, những đường nét tự nó mang tính chất khởi thủy. Một nét đầu tiên, trọn vẹn, liên tục –, mà không thể cá biệt hóa tí gì, hoặc không thể thay đổi, kết nối chúng ta lại, qua tính trực tuyến rõ ràng, qua sự đơn giản mang tính bản chất của nguồn cội; và chỉ duy nhất qua sự đứt quãng của nó – – mà sinh ra giá trị khác biệt. Nhưng bản thân nó vốn mang tính chung, nó không còn tạo ra qua nó theo kiểu ký hiệu nữa; với chúng cả hai, nét liền và nét đứt không bao giờ chuyển hóa thành mật mã thông điệp nhưng cũng đủ để tạo sinh, chỉ qua quan hệ tương khắc – tương sinh của chúng, quy tụ mọi việc vào một thực tại; và bởi các cách thức hoán đảo khác nhau của chúng ngay trong chính biểu tượng, chúng sẽ cho thấy sự chuyển hóa liên tục. Cũng thế, loạt các biểu tượng được tạo ra từ hai kiểu nét này, và từ đó mà cuốn sách được xác lập, nó có thể tái hiện, theo quan niệm của người Trung Hoa một thánh kinh vừa mang tính nguyên thủy, vừa mang tính cơ bản, hết sức đơn giản, lại nắm bắt trực tiếp tính chất năng động của sự vật và tạo ra sự chuyển tiếp từ trò chơi với các đường nét, luôn biến đổi, mang lại cho chúng ta cảnh quan về thế giới, và cảnh quan này, được chính xác hóa và mã hóa, riêng biệt so với ngôn ngữ của con người: nhờ vào nét vạch cơ bản này, cho dù không thể tạo ra kiểu phát âm mang tính cá biệt của một ngôn ngữ, mà nó đưa chúng ta vào trong khoảng giữa hiện tượng và ký hiệu, Kinh Dịch tạo ra sự trung chuyển giữa hệ thống của tự nhiên và hình thức logic của nó. Về sự khác biệt so với ký hiệu ghi ý, quẻ đơn và quẻ kép (quẻ tam hào và quẻ lục hào) tạo ra cơ sở cho cuốn Điển thư không hề biểu thị một ý nghĩa nào nhưng các thành tố của nó lại xác lập một ma trận. Cũng như vậy, theo quan điểm phả hệ học được tạo ra bởi một lý thuyết văn học Trung Quốc, chúng tạo ra một nguyên văn bản (proto – texte) đảm bảo chắc chắn sự tiếp diễn của sức mạnh biểu tượng với các công việc trong thế giới và sáng tạo một văn bản viết; ngay cả khi chúng đã trở thành một cổ – văn bản (arché – texte), cái mà trong hệ thống liên kết và biến đổi, sẽ chứa đựng mọi văn bản có thể, mà từ đó những cái khác sẽ luôn luôn chỉ là sự minh thị vĩnh hằng.

Sự đối lập đằng sau giữa lời nói và các vạch có một sự chạm trán khác giữa huyền thoại (mythe) và đồ hình “Đồ hình”, sơ đồ của Kinh Dịch, có nền tảng là các vạch, nó có hai nghĩa cho cùng một tên gọi: với tư cách là vạch, nó hướng tới tái hiện một cách chung nhất các tác tố của tổng thể (ở đây, là sự rút gọn thành hai) và thiên hướng tương lai (được nhìn nhận thành một mặt cắt; như người ta thường nói, chẳng hạn, đồ hình của bông hoa); và đồng thời với tư cách là nét vạch nhằm thể hiện, dưới hình thức biểu đồ, sự mở ra và biến đổi của hiện tượng (giống như người ta nói về đồ thị của một cơn sốt). Hướng vào sự trợ giúp của thần thoại, như chúng ta khá quen thuộc điều này trong văn hóa phương Tây, và sự sử dụng sơ đồ dạng đồ hình vốn rất riêng của Điển thư về sự chuyển hóa, sự so sánh là xưa cũ, và tự biện giải dần dần về nhiều vấn đề; cái này và cái kia, trong thực tế, nhằm khơi dậysự vật mà nó vượt qua khả năng nhận hiểu bằng ngôn ngữ trừu tượng hoặc nó không chỉ ra cho ta điều gì cả; để làm điều đó, chúng phải dựa vào hoặc cái này hoặc cái kia với một cách thể hiện bằng hình ảnh (theo Điển thư chẳng hạn, nhà hiền triết “thiết lập các biểu tượng về quẻ bói” để “giải thích toàn bộ ý nghĩa”); rốt cuộc, cái này tiếp cái kia được tổ chức thành các lớp. Xuất hiện một cách khá mỹ mãn như thế, từ cái nền khung chung này, các vấn đề đối lập khác biệt, và chính chúng cũng liên kết với nhau từ một phương diện đủ để thể hiện thành các mảng dài. Tôi muốn đề xuất cách lược đồ hoạt hóa tương tự với các nét đứt: khi huyền thoại tái hiện một cảnh kịch, như một câu chuyện lịch sử, thì đồ hình của Kinh Dịch, thể hiện sự phát triển (thông qua chuyển hóa); khi mà cái thứ nhất gọi tên các tác nhân (các diễn viên), thì cái thứ hai tạo ra sự tham dự của các tác tố được tạo thành (âm – dương, nét liền hoặc nét đứt); khi mà cái thứ nhất là giải thích được, một cách thông suốt và dẫn tới một nguyên nhân (so sánh chức năng truy nguyên học của thần thoại), thì cái thứ hai mang tính chỉ dẫn cho một khuynh hướng; cuối cùng, khi mà cái thứ nhất mang tính sáng tạo và cần cho sự tưởng tượng, thì cái thứ hai đóng vai trò thám thính (phù hợp với chức năng đầu tiên của nó, chức năng bói toán). Từ sự khởi đầu của sự phân chia này cho thấy sự khác biệt về mặt bố cục: thần thoại có quan hệ với cái siêu thường; còn các đồ hình của Kinh Dịch, là sự khải lộ về cái nội tại.

Cái riêng biệt của tư duy được định hướng bởi cái siêu thường là tìm cách khai thác cái khác trong một cái khác (có nghĩa là qua nó cái khác thực sự là một cái khác và có thể được tạo ra từ tính khách quan bên ngoài). Đối lập với cách khám phá về thế giới bên kia, cái riêng của tư duy về cái nội tại là tìm cách làm nổi bật, tạo tác tất cả những gì cùng thuộc bên trong của cái khác và dẫn tới sự tương liên giữa chúng. Trong thực tế tư tưởng của Kinh Dịch phụ thuộc vào logic ghép đôi, ghép cặp dẫn tới chức năng lưỡng cực và ở đó diễn ra một cách tự ý sự phối thuộc triền miên. Bởi vậy đối tượng duy nhất của cuốn sách là tìm ra mối quan hệ nội tại của mọi quá trình. Đối tượng duy nhất của chúng tôi, với chúng tôi, là tìm cách nhận ra sau đó cái gì có thể là cái logich của cái nội tại này.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: François Jullien – Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về kinh dịch – NXB ĐN 2007.

Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về kinh dịch – Phần II


Sự lựa chọn của tôi là sự đảo ngược cương quyết. Cần phải coi Kinh Dịch từ những gì đã tạo ra truyền thống Trung Hoa. Tác phẩm này là khác biệt mọi tác phẩm khác ngay từ nguồn gốc của quy định bên trong. Tuy thế tôi vẫn thử đọc nó như đọc một cuốn sách thông thường; hay đúng hơn là, tôi thử đọc nó bằng cách dựa vào chính tôi từ cái đặc thù với cả sự phán quyết của nó. Và thực tế, điều này có nghĩa là tôi sẽ bảo vệ sự chuyển hóa của các biểu tượng được gắn chặt với nhau, sự chuyển hóa này tạo ra nền tảng cho tập hợp và ý nghĩa mà chúng không ngừng lôi cuốn các nhà chú giải. Chắc là, các biểu thức phục vụ cho việc bình giải các biểu tượng này sẽ khiến chúng ta kinh ngạc bởi các tính chất khác thường và võ đoán của chúng; phải lật từng trang để nhận ra rằng các hình ảnh được khơi dậy phải nhờ đến những bộ nhớ rất khác biệt nhau và được tổ chức hết sức khác nhau trong những mạng lưới liên tục: cái hố sâu hoắm hiện ra khi ấy giữa một bên là sự thích hợp của thao tác bằng tay về các biểu tượng và một bên là sự lúng túng của chúng ta khi giải thích văn bản. Tuy nhiên, những người Trung Hoa không ngừng đến với văn bản này, họ khai thác không mệt mỏi từ nó mọi khả năng. Bởi vì văn bản này vốn được tự phát triển từ các tầng bậc kế tiếp nhau, nó có thể ít được bao quanh tổ hợp hơn là chồng tiếp lên nó. Và, từ mọi phương diện, nó tồn tại như một sự vật nhất định không bị xóa đi, và cũng từ đó mà kết quả có thể là vô tận, từ sự gặp gỡ đầu tiên được sinh ra từ một vị thế mang tính hình thức, cũng như vậy đến đây nó trở thành trò chơi của các biểu tượng và một khoảng trời từ ngữ. Theo cách mà người Trung Hoa nhận thức, một vài sự vật được khơi dậy khi ta tiếp xúc với các lược đồ này, một ý nghĩa tìm ra ở đây được phác họa lại, sẽ đương đầu trực tiếp như là một hoạt động của thế giới. Như vậy, từ cái nhánh khởi nguồn của ngôn ngữ con người về một hệ thống bên trong tới các sự vật, các nhà tư tưởng Trung Hoa, bằng mọi giá, giữ không đi lệch hướng; nhưng nhờ sự lao động bền bỉ rất đáng ngợi ca, họ tìm cách rút từ đây cách nhìn trong tư thế tương hỗ, hết sức rõ ràng, của thực tại: cách nhìn thế giới cho phép người ta hiểu ra rằng, ngược lại với những gì có trong ý niệm đầu tiên của chúng ta, nó không hướng vào sự tư biện về thế giới mà hướng tới bao quát thế giới, nó chỉ dựa vào một sự kiểm chứng rất tỉ mỉ của “lý tính” về các sự vật (cái của Trung Hoa) và tạo sức bền “hợp lý” nhất cho đạo đức, luân lý.

III – Công trình giải thích này không thể chỉ dừng lại với hàng loạt các bình chú bình giải được qui cho Khổng Tử, mà cho tới khi kết thúc thời kỳ cổ địa, dựa trên các bình chú bình giải ấy, đã là một tác phẩm mang tính pháp điển. Từ thời đại này sang thời đại khác, vượt qua suốt hơn hai ngàn năm, cuốn “cổ thư” (Điển thư) đã tạo thành đối tượng của sự bình chú khổng lồ. Bởi vì, với mỗi thời đại, người Trung Hoa không thể không xem lại Kinh Dịch phụ thuộc theo những ưu tư cá nhân của họ và biến nó thành công cụ chủ yếu giúp họ tư duy. Người ta cũng có thể nói rằng, trong ý nghĩa này, tư tưởng Trung Hoa được đổi mới một cách có chu kỳ, qua việc đọc Kinh Dịch, hay đúng hơn là xuất phát từ nó: cũng vậy, với Wang Bi (Vương Bật), ở thế kỷ III sau Công nguyên, hay với những nhà tư tưởng “hậu Khổng Tử” khi phản ứng lại ảnh hưởng của Phật giáo, từ thế kỷ XI và kéo dài nhiều thế kỷ sau đó. Do đó, không thể nào tìm đọc cuốn Điển thư tách rời với lịch sử được hoặc, ít hơn, bởi vì sẽ là quá dài để xem xét lịch sử trong tổng thể, mà không tìm lấy một chỗ đứng chân trong tiến trình phát triển này; bởi lẽ đây duy nhất là xuất phát điểm của một cách neo đậu mà để làm sáng tỏ cuốn sách vốn xuất hiện trong một thế giới trí tuệ xác định thì cũng cần tới những may mắn có tính quyết định. Trong thực tế, chúng tôi cũng đã tự đặt ra vấn đề này – bởi vì đề cập đến ở đây là một sự lựa chọn chỉ đạo toàn bộ việc đọc: khi đối chất với nó qua hàng loạt các câu hỏi then chốt, bởi vì được nuôi dưỡng bằng mọi tư tưởng hơn thua của thời đại, khi nhận thức nó tương tự như trong một phạm vi khái niệm vốn vừa rất cụ thể vừa rất tương liên, phải chăng chúng ta không cần tới một cách thức tốt nhất để đánh giá vì sao cuốn sách này có thể phục vụ hoàn hảo đến như vậy và đâu là ý nghĩa đích thực của nó?

Điểm tựa thích hợp nhờ đó có thể đi vào cuốn sách, tôi đã chọn thế kỷ XVII như là điểm tựa này, với Vương Phu Chi (Wang Fuzhi – còn gọi là Vương Thuyền Sơn – Wang Chuanschan, 1619  – 1692). Không chỉ cách làm mà cả điểm nhìn rất riêng của tác giả này, tuy khá muộn so với truyền thống Trung Hoa, cũng mang lại một sự tổng kết đầy đủ các cách đọc trước đây. Ít ra cũng có hai lý lẽ, mà về phần tôi, cũng đủ để biện minh cho sự lựa chọn như thế. Cái dấu hiệu mang tính chất bước ngoặt mà theo cách nhìn của tác giả này, nó bao gộp cách giải thích của ông về Kinh Dịch. Bởi vì ông sống vào một trong những thời đại rối ren nhất của lịch sử Trung Hoa, khi mà bọn loạn đảng hoành hành ở triều đình và các cuộc khởi nghĩa rộng lớn của nông dân với những cảnh cướp bóc ở các tỉnh. Bắc Kinh thất thủ, triều đại cũ bị sụp đổ (Nhà Minh vào năm 1644), Trung Quốc bị xâm lược bởi người Mãn Châu. Cho nên, ở vào vị trí cần tìm kiếm một cội nguồn để giải thích sự hỗn độn của thế giới, cũng tương tự như sự ẩn dật bằng cách lang thang, được nâng đỡ bằng niềm tin Phật giáo, nhưc ách thức tạo ra một số đông từ những người cùng thời với ông, Vương Phu Chi (Wang Fuzhi – WFZ) không ngừng trở lại với Kinh Dịch nhằm rút ra từ đây những thành tố về sự liên kết nhằm diễn tả cái thực tại ấy, nếu nó khá mơ hồ khi hiện ra từ đầu đối với chúng ta thì nó lại được trực tiếp hiểu ngay (không cắt đứt với dòng chảy trực tiếp của các hiện tượng hay các biến cố và vượt qua chúng bằng lòng tin): tại cuộc khủng hoảng nằm ngay tại ngưỡng cửa của thế giới ấy, người ta có thể phát hiện ra những dấu hiệu chỉ đường của logic công việc và nó cho phép chúng ta giữ vững niềm tin trong tiến trình đi tới. Như vậy, việc đọc Kinh Dịch này là tâm điểm của suy nghĩ của ông và dựa trên sự suy nghĩ này mà ông khám phá ra tính hợp lý của các quá trình nổi trội từ tự nhiên hoặc từ lịch sử. Một lý do nữa mà tôi quan tâm vì tác giả này nắm bắt được yêu cầu lý luận như là yêu cầu bắt buộc đối với ông. Người ta thường nói quá lên rằng người Trung Hoa thích phương pháp trực cảm cho sự suy luận tiếp theo và họ ít tha thiết đến phương pháp lôgic. Trái lại, người ta phát hiện ra vời WFZ tư tưởng không chỉ hoạt động một cách tinh tế và táo bạo khác thường mà còn, hơn thế nữa, biết tạo ra một cách hết sức chính xác các vấn đề ông quan tâm và còn triển khai chúng một cách chặt chẽ.

Khi tôi dựa từ đầu đến cuối vào một nhà bình giải cho công trình nghiên cứu này, và ngay cả khi, chính xác hơn là dựa vào bài bình giải cuối cùng của tác giả này (bài Nội chuyện – Commemtaire intérieur – Neizhuan), tôi rất mong đưa ra được con đường tiếp cận Kinh Dịch khả dĩ, cho dù rất ngắn, cho phép mình vượt qua hai chướng ngại vậy mà chúng tôi đã nhận thấy tới ngay từ đầu: sự lôi cuốn dễ dãi cũng như sự vứt bỏ như một cái dị thường. Thực tế con đường này bao gộp toàn bộ một viễn cảnh, tôi hy vọng với các thể hiện này trong Điển thư nó đạt tới sự liên kết và minh bạch. Xa hơn nữa sự diễn giải mà chúng tôi thu được từ WFZ đã mang lại một cách rất riêng vừa chi tiết trong sự phân tích của ông vừa triệt để trong các tình huống; sự diễn giải này cũng giúp chúng ta vượt qua mà không phải dừng lại trước sự giải thích triết học, tức là hiểu đúng từng chữ của văn bản, cho tới tranh luận triết học, tức là hiểu đúng từng chữ của văn bản, cho tới tranh luận triết học, cái càng ngày càng trở thành một sự đánh đố. Ngay cả khi nó bắt đầu nhập cuộc, thậm chí rất hăng hái, bởi vì nó sẵn sàng trả lời cho tấn bi kịch của thời đại ông, nó nắm bắt cách thức đạt tới các nguyên lý và cách tạo ra một tác phẩm thuần lý; ngay cả khi nó được mở ra và nắm chắc các phạm vi ứng dụng khác biệt nhau, nó vẫn trở nên sống động bởi cách quan tâm nhằm đạt tới khả năng có thể hiểu được về cái toàn thể. Từ đây, nó tạo ra ưu thế tuyệt vời nhằm đạt tới tính hệ thống một cách chắc chắn mà không phải luôn luôn cố chấp với sự thích nghi về một hệ thống (sự sai lệch cuối cùng này là thường xảy ra đối với người bình giải Kinh Dịch khi chuyển hóa cách sắp xếp của cuốn sách thành ra cơ chế lặp lại một cách máy móc). Cũng như vậy, độc giả có thể theo dõi ở đây cách thức hình thành các văn bản quy phạm liên quan chặt chẽ với các biểu tượng và hình thành ý nghĩa các biểu tượng này; con đường đã hoàn tất, cần khám phá ra ở đây cái gì có thể là tư tưởng mà ở đó mọi cái chỉ được bao phủ từ các “biểu tượng – quẻ” (hơn là các quan niệm) cho tới các tên gọi theo quá trình. Cuối cùng, với tên gọi theo quá trình, nó trở thành cách định giá khả năng tư duy về sự chuyển hóa nhằm giải thích, chỉ với nó mà thôi, toàn bộ thực tại.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: François Jullien – Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về kinh dịch – NXB ĐN 2007.

Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về kinh dịch – Phần I


I – Về mọi cuốn sách ra đời từ các nền văn minh đã được viết hoặc sẽ được viết, cuốn Kinh Dịch hay Điển thư về chuyển hóa (nói cách khác là Giáo khoa về “sự chuyển hóa” hoặc giáo khoa về “sự chuyển hóa”) là cuốn sách lạ kỳ nhất. Không phải là từ thông điệp nó mang theo mà, trước tiên, là do cách thức mà nó được tạo ra. Bởi lẽ, cuốn sách này ngay từ đầu không phải là một, lược đồ đầu tiên của cáh sách không được “viết”, mà nó định vị trước chúng ta không dưới vài ngàn năm so với nền văn hóa sách vở chúng ta đã tạo ra; nó không phải được tạo ra ngay từ đầu bằng các con chữ mà chỉduy nhất bằng công cụ hai vạch, không thể nào đơn giản hơn thế, nét liền và nét đứt, vạch đầy và vạch khuyết, – và – -; và mọi thứ bắt đầu từ những kết hợp khác nhau khởi nguồn từ hai kiểu nét vạch này, cũng không phải từ lời trần thuật của một diễn ngôn, từ sự trình bày một nghĩa, mà văn bản của nó được hình thành. Cho nên cuốn sách này chưa có mặt trong một ngôn ngữ nào, nó không chiếm hữu, hoàn toàn không, một ngôn ngữ riêng cho mình (như cách chúng ta tạo ra một mã đơn giản, một lối nói bí mật): ngay từ đầu, cuốn sách không ghi lại một cái gì cả, không cả suy tư không cả ý muốn, nó chỉ là một trò chơi đơn giản với các biểu tượng của nó, với các hiệu quả đối lập hoặc tương đồng của các biểu tượng này, với những khả biến mang tính chuyển hóa của chúng nhờ đó ý nghĩa được tạo sinh. Về phương diện đọc cũng thế, tác phẩm này là riêng biệt: ở đó không hề có một cốt lõi thật sự dẫn dắt chúng ta từ đầu đến cuối, mà là một cách thức sử dụng phải tuân thủ, một thiết chế để thao tác; và cái kịch bản tự thân này như là chức năng của mọi thao tác cũng luôn luôn được ứng tác.

Cho nên đây là một cuốn sách mà theo nguyên lý soạn sách không nhằm cung cấp một ý nghĩa, nó chỉ là trường hợp về biểu tượng và về các chỉ dẫn cho việc quan sát, cho phép “tham khảo” bằng phép “đọc” và không cung cấp cho chúng ta một lược đồ hoặc một trật tự xác định. Nhưng mà cuốn sách này, với tư cách như thế, hiện ra không như cách một cuốn sách vẫn ra đời, đã phục vụ cho việc lý giải sâu sắc về toàn bộ một nền văn minh. Phải chăng vấn đề chỉ duy nhất, trong trường hợp của cuốn sách này, là tàn tích tâm linh cổ đại, “tiền logic”, được bảo tồn một cách thành kính tại một nước có bề dày truyền thống như Trung Hoa? Hay, trái lại, nó là vấn đề về một hệ thống vững bền về sự liên kết – bền vững tới mức mà nó tự phát triển, cho tới chúng ta?

Đây là kho tàng minh triết hay là cách đố chữ? Tình thế bắt buộc phải công nhận rằng, sau khi nhiều người phương Tây đã bắt đầu tìm hiểu cuốn sách này, họ bị chia tách thành hai thái độ đối lập. Bởi vì cuốn sách này đã gây nên một sự ngờ vực, người ta đã thử làm chỉ để thấy nó như một quầy tạp hóa lớn của những điều dị đoan hay mộng tưởng. Ngay cả khi họ thừa nhận tầm quan trọng của cuốn sách, phần lớn các chuyên gia Trung Quốc thừa kế nó như một cuốn đại thư về các thể thức và hình ảnh, do đó sự nhận thức trở thành cần thiết cho phép đọc các văn bẳn khác, hơn là cho một cuốn sách mà nó xứng đáng được nghiên cứu ngay chính nó và cho một sự lý giải về nó. Cũng giống như mảnh đất bị bỏ trống, những người thầy tinh thần liền chiếm lĩnh nó: những gì mà kiến thức bỏ rơi, trí tưởng tượng liền chiếm lấy và từ sự ngờ vực đối lập lại của nhiều người, thì bằng sự phản hưởng, lại là sự hâm mộ của những người khác. Thế là các vạch, các con số, các biểu tượng này, không quên kèm theo những đồng tiền và các thẻ (mục đích để rút quẻ) là chia khóa tốt nhất để mở các bí ẩn, dẫn tới một sự cuồng nhiệt đáng yêu về những cái lạ kỳ. Càng ít hiểu về các biểu thức của cuốn sách, thì các biểu thức này càng tác động mê hồn, mạnh mẽ. Nó không phải với bằng hai tâm tiết của tiêu đề, “Kinh Dịch” (theo lối phiên âm của chữ Hán sang chữ Latinh (pinyin) thì được viết là Yijing) mà từ nền tảng “Đông phương”, hai chữ này mang giá trị của một sự thần diệu.

Mục tiêu của tiểu luận này là lời mời vượt qua hai thái độ, quay lưng lại: để nhằm đưa cuốn sách này vượt ra ngoài sự ngờ vực mà người ta đã nắm giữ một khối kiến thức, mà không bỏ mặc nó, trong một chừng mực, với ảo ảnh duy tâm. Nói cách khác, đơn giản là đề xuất cuốn sách này như là một công cụ cho suy nghĩ của chúng ta. Cuốn sách này, trong thực tế, là vô cùng phong phú, khởi đầu từ nguồn gốc bói toán của nó, đã làm phong phú rất nhiều cho tư tưởng Trung Hoa, cũng như vậy, trong suốt hàng ngàn năm, để người ta có thể lưỡng lự khi cầm lấy nó một cách nghiêm chỉnh. Và khi đó vấn đề không còn chỉ là những kiến thức theo kiểu sắp xếp nó dưới ánh sáng “minh triết” mà là kiến thức về “triết học”, theo đúng nghĩa của từ này, theo kiểu truyền thống phương Tây tiếp nhận nó (một cách thoát ra khỏi cuốn sách bằng cách tán dương nó); bởi lẽ một công trình nghiên cứu phải từ đề xuất trước tiên, là điều không thể chối cãi về bản chất và về cái hơn thua mang tính triết học: cái được tái diễn giải từ những thuật ngữ logic của chúng tôi khi bắt đầu làm việc với cuốn Điển thư và qua sự chối chiếu về cách nhìn của chúng tôi với các sự vật, từ sự tạo ra một cách triết học. Như chúng tôi đã thông báo về tên cuốn sách trong thực tế, Kinh Dịch được đề xuất như một “Điển thư” mà theo cách đó chúng tôi suy nghĩ ít hơn về việc nó có thể trở thành đối tượng của một Điển thư: mà như là, từ “sự biến dịch”. Cho nên khi thay đổi nó không phải là không trung thành, mà nó là thực tại duy nhất và thực tại duy nhất này có được tính tương liên của nó. Cũng tương tự, chúng tôi không quên khám phá trong cuốn sách này những gì tác động không chỉ đến một số trong những sự lựa chọn siêu hình chung nhất (dành cho “hữu thể”, “thượng đế”, “chân lý”) mà đến cả những gì mà nó đem lại từ những tác động ấy tới niềm tin trong khuôn khổ và sự bổ sung. Điều này có nghĩa là, với con đường đã vạch ra, chúng tôi như có dịp xem xét lại ngoài những gì mà chúng tôi nắm bắt chắc chắn (và những cái đó tạo ra những nếp gấp trong trí tuệ chúng tôi, theo nghĩa mà ở đó người ta thường nói “làm thành một thói quen, làm thành một nếp tư duy”): chính những điều như vậy ngay từ buổi đầu, chúng đã được ghi lại trong lịch sử triết học và chúng tôi không tự hỏi, và cũng không nghĩ là sẽ hỏi bởi vì với chúng tôi sự đăng quang cũng chính là Lý trí.

II – Dẫn luận này về Kinh Dịch sẽ là, nói một cách cụ thể, một dẫn luận về cách đọc tác phẩm. Bởi vì, không kể đến sự khác biệt về cách thức tổ chức, cũng như nguồn cội của cách thức sử dụng nó, Kinh Dịch được kết thúc bằng việc tạo ra một cuốn sách. Cũng có thể nói rằng tôi đã phản ứng lại một bộ phận đã nắm lấy việc hia tách sự kết hợp vốn ngay từ đầu tác phẩm là những tầng bậc văn bản được liên kết nhau một cách liên tục và như là cách thức để lý giải. Như vậy, khi mà người ta sẵn sàng tập trung chú ý vào cái đầu tiên, khi mà cái đầu tiên này mang lại các hệ thống hết sức đa dạng một cách phù hợp, thì người ta đã thử chỉ quan tâm tới các khía cạnh thứ hai để nhằm tìm ra ở đây một sự khẳng định cho cách sử dụng riêng của nó, thậm chí người ta đã bỏ qua hoàn toàn. Sự quá tải vô ích hay sự nhiễu loạn đáng tiếc. Hiển nhiên ví dụ như vậy, theo cách này, đã từng có trước chúng ta. Giám mục Joachim Bouvet là một trong những người đầu tiên giới thiệu Kinh Dịch cho độc giả châu Âu, trong thời gian truyền giáo đã giải thích khá cặn kẽ về điều đó trong một bức thư gửi Leibnitz: sự kết hợp được tạo ra từ một loạt các biểu tượng là tác phẩm của một “tài năng đặc biệt” và tạo ra một “phương pháp chung cho mọi khoa học” vì nó “hết sức hoàn hảo”; nhưng tác phẩm này “bị phá hỏng” bởi các nhà bình giải, và nó chỉ còn “gần như tối nghĩa theo tiến trình năm tháng”. Ông cũng biện bạch bằng các từ này về sự tiến triển trong tương lai của nó:

Và, vì tất cả những lời bình giải này đã được các vĩ nhân đưa ra từ gần ba ngàn năm, mà Khổng Tử là một trong số các vĩ nhân đó, đều tỏ ra rất riêng biệt, rắc rối, tối nghĩa hơn so với ý nghĩa đích thực của nó. Và để mở rộng cái bí ẩn, họ đã gạt sang một bên những lời bình giải này, còn tôi, tôi chỉ gắn mình với biểu tượng, tôi cho rằng mỗi biểu tượng đều mang nghĩa khác nhau, và sau khi đã tổ hợp và tái tổ hợp cái mà đối với tôi nó hiện ra hết sức bền vững theo nguyên tắc cổ xưa nhất của các nền khoa học của chúng ta, […] tôi hoàn toàn không nghi ngờ khi tôi, cuối cùng, đã khám phá ra mọi bí mật, hoặc chí ít cũng là một con đường chắc chắn và khá dễ để đạt tới điều đó…”.

Từ “cái chỉ pháp giá siêu hình” này, ông đã khám phá ra qua một sự khảo sát duy nhất, giám mục Bouver đã không khó khăn gì để nhận ra lần lượt hệ thống của “Pithagore và của Platon”, thậm chí cả “những con số ma thuật (nombres du Sabat)” và cả của “cựu giáo (ancienne Kabale)”; Ông sẽ nhận ra ở đây cả một hệ đếm nhị phân hoàn toàn đúng khớp như in điều ông đưa ra trong bức thư gửi Leibnitz… Ngay đối với hiện nay cũng vậy, ông đi trực tiếp vào một loạt các biểu tượng trong máy điện toán của ông để biện luận một cách khó khăn về những tổ hợp có thể xảy ra, tin rằng có thể khám phá ra ở đây một vài “biểu tượng phổ quát” (“các nguyên lý trừu tượng nhất của mọi khoa học”, như Giám mục Bouvet đã trù liệu tới), và lại phải tiếp nhận một sự lạ lùng êm dịu nữa. Hoặc, trái lại người ta sẽ tìm tới như cách mà Hegel đã làm là tổ hợp các vạch này, cứ sau mỗi lần tăng lên, nó lại không bao giờ đạt tới một hệ thống “cụ thể”; bởi vì để vượt qua một phương diện thẳng đứng “của sự trừu tượng hóa của chất liệu” – thì sự tổ hợp này quay về với cái trống rỗng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: François Jullien – Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về kinh dịch – NXB ĐN 2007.