Bộ Tứ và ASEAN: Quan điểm của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á – Phần III


Hành động của Ấn Độ cũng phù hợp với luận điệu này. Chính quyền Modi đã lựa chọn bước đi tiếp theo là tăng cường các mối quan hệ song phương thay vì lôi kéo sự can dự của cả khối ASEAN. Ví dụ, Ấn Độ đã nâng cấp quan hệ đối thoại với Việt Nam lên thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2016, đồng thời đẩy mạnh quan hệ quốc phòng với quốc gia Đông Nam Á này. Ấn Độ đang xem xét xuất khẩu tên lửa hành trình BrahMos và tên lửa phòng không Akash tiên tiến sang Việt Nam. Trong chuyến thăm Ấn Độ của Bộ trưởng Quốc phòng Singapore Ng Eng Hen vào năm 2017, Ấn Độ và Singapore đã hàon tất thỏa thuận song phương về hợp tác hải quân, thỏa thuận cho phép hải quân hai nước tạm thời triển khai lực lượng từ cơ sở hải quân của nhau và hỗ trợ nhau về mặt hậu cần. Trong chuyến thăm Indonesia của Thủ tướng Modi vào năm 2018, Ấn Độ đã đồng ý phát triển cảng Sabang gần eo biển Malacca, một vị trí quan trọng về mặt chiến lược ở Ấn Độ Dương.

Sự thay đổi về quan điểm của Ấn Độ đối với ASEAN có thể bắt nguồn từ việc nước này không có khả năng kiềm chế sự hiếu chiến của Trung Quốc hoặc duy trì luật pháp quốc tế ở biển Nam Trung Hoa. Trước việc Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh quân sự và có khả năng chia rẽ ASEAN bằng việc sử dụng kết hợp các biện pháp khuyến khích và trừng phạt kinh tế, cộng đồng quốc tế ngày càng nghi ngờ khả năng của ASEAN trong việc kiềm chế hoặc kiểm soát hành động của Trung Quốc. David Brewster lập luận: “Việc giảm thiểu đáng kể mức độ liên quan của các thể chế lấy ASEAN làm trung tâm cuối cùng có thể khiến Ấn Độ lựa chọn vượt lên trên các tổ chức khu vực hiện có và đối phó trực tiếp với các cường quốc khác ở châu Á – Thái Bình Dương”.

Lập luận trên đã thôi thúc Ấn Độ đi theo Bộ tứ. Nhóm này mang lại cho Ấn Độ cơ hội tăng cường sức mạnh quốc gia bằng cách hợp nhất các thế mạnh và phối hợp hành động của họ với cách tiếp cận cảu các cường quốc hàng đầu ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – Nhật Bản, Australia và Mỹ. Ấn Độ gia nhập Bộ tứ để có thể đối trọng với sức mạnh vật chất ngày càng tăng của Trung Quốc, vốn không chỉ đe dọa sự cân bằng sức mạnh quân sự mong manh ở khu vực biên giới trên dãy Himalaya mà còn khiến Ấn Độ mất đi vị thế hàng đầu ở Nam Á và Bắc Ấn Độ Dương.

Kể từ khi thành lập, Bộ tứ đóng vai trò là nền tảng phối hợp hành động và thúc đẩy quan hệ song phương giữa các thành viên. Do đó, về mặt quân sự, Ấn Độ có khả năng phối hợp một cách hợp lý với các cường quốc khác trong khu vực. Ấn Độ đã ký thỏa thuận mua bán và cung cấp dịch vụ với Nhật Bản và Mỹ. Nước này cũng đã ký Thỏa thuận trao đổi và hợp tác cơ bản và Thỏa thuận tương thích và an ninh truyền thông với Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi thông tin giữa quân đội hai nước. Ngoài ra, Ấn Độ thường xuyên tập trận với quân đội Mỹ và Nhật Bản. Từ chỗ chỉ là cuộc tập trận song phương giữa Ấn Độ và Mỹ, cuộc tập trận hải quân Malabar đã chứng kiến sự tham gia của Nhật Bản vào năm 2007 và của Australia vào tháng 10/2020. Phát biểu tại Đối thoại Raisina vào tháng 4/2021, Đô đốc Hải quân Ấn D(ộ Karambir Singh tuyên bố lực lượng hải quân Bộ tứ có độ tương tác cao và có thể nhanh chóng phối hợp hành động khi có cơ hội. Tất cả những diễn biến này chứng tỏ quân đội Ấn Độ có cơ hội lớn hơn để thể hiện sức mạnh ở khu vực lân cận mở rộng. Về mặt kinh tế, Ấn Độ cũng sẵn sàng hưởng lợi từ việc sắp xếp lại các chuỗi cung ứng trong thời kỳ hậu COVID-19. Tháng 9/2020, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia đã công bố Sáng kiến phục hồi chuỗi cung ứng nhằm mục tiêu khuyến khích dịch chuyển các chuỗi cung ứng từ Trung Quốc sang các nước khác thông qua cơ chế tài chính.

Bộ tứ cũng cho phép Ấn Độ đóng góp nguồn lực với các thành viên khác để tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc ở Nam Á và Đông Nam Á. Hiện tại, Ấn Độ có quan hệ hợp tác thực chất nhất về kết nối và phát triển cơ sở hạ tầng với Nhật Bản. Trong chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe năm 2017, hai nước đã quyết định coi việc cung cấp cơ sở hạ tầng chất lượng là trọng tâm của quan hệ song phương này. Ấn Độ và Nhật Bản đang cùng nhau phát triển cảng container phía Tây tại Colombo ở Sri Lanka. Theo đề án Hành lang tăng trưởng Á – Phi được triển khai vào năm 2017, hai nước cũng đã bắt tay phát triển cơ sở hạ tầng ở châu Phi. Hơn nữa, Ấn Độ đã công bố các khoản đầu tư của Nhật Bản vào khu vực Đông Bắc đất nước và đang tìm cách thông qua các khoản đầu tư này hội nhập và kết nối khu vực Đông Bắc, Nepal, Bhutan và Bangladesh với Đông Nam Á.

Quan điểm của Nhật Bản về ASEAN và Bộ tứ

Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã rút khỏi các vấn đề quốc tế và thông qua một hiến pháp theo chủ nghĩa hòa bình, nghiêm cấm sử dụng vũ lực. Nhật Bản thời hậu chiến đã áp dụng học thuyết Yoshida, chú trọng việc phục hồi kinh tế hơn là tái vũ trang. Vào thời điểm này, Nhật Bản coi Đông Nam Á, nơi họ đã để lại vết sẹo chiến tranh, là khu vực giữ vai trò then chốt trong việc cung cấp tài nguyên, lao động và thị trường. Vì vậy, Nhật Bản đã xây dựng lại quan hệ với Đông Nam Á, thường là thông qua các biện pháp khắc phục hậu quả chiến tranh, hỗ trợ kinh tế và mở rộng tương tác thương mại. Tuy nhiên, đến cuối những năm 1970, các nhà hoạch định chính sách Nhật Bản lại nhận định rằng môi trường an ninh không thuận lợi và do đó cần phải định hướng lại chính sách. Quan điểm này xuất phát từ thực tế. Thứ nhất, việc Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1973 và việc Mỹ rút lui khỏi khu vực báo hiệu sự suy giảm các cam kết của Mỹ đối với châu Á. Tokyo cho rằng sự rút lui này sẽ để lại khoảng trống quyền lực, tạo điều kiện cho sự thâm nhập của chủ nghĩa cộng sản. Thứ hai, các nước trong khu vực nhìn chung có quan điểm tiêu cực về các cam kết thương mại của Nhật Bản. Điều này được thể hiện rõ sau sự kiện Malari – sinh viên Indonesia tiến hành các cuộc biểu tình bạo loạn phản đối chuyến thăm của Thủ tướng Nhật Bản Kakuei Tanaka đến nước này vào năm 1974. Một trong những nguyên nhân của bạo loạn là quan niệm cho rằng Nhật Bản đang bóc lột các quốc gia Đông Nam Á. Trước những diễn biến này, năm 1977, Nhật Bản đã đưa ra học thuyết Fukuda, khẳng định nước này có vai trò lớn hơn trong lĩnh vực chính trị, chứ không chỉ dừng lại ở lĩnh vực kinh tế. Theo đó, Nhật Bản đã tăng cường tham gia diễn đàn ASEAN về các vấn đề chính trị-an ninh và tìm kiếm các quan hệ đối tác bình đẳng. Thái độ cơ bản này vẫn được duy trì  trong chính sách đối ngoại hiện tại của Nhật Bản đối với Đông Nam Á.

Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc vào năm 1991, Nhật Bản lại chứng kiến một môi trường an ninh bất ổn. Trong khi cộng đồng quốc tế ăn mừng việc thế giới thoát khỏi tình trạng thù địch và chuyển sang chú ý tới vấn đề tái hội nhập châu Âu cũng như các mối đe dọa an ninh mới nổi ở Trung Đông và các nơi khác, thì Nhật Bản lại phải đối mặt với cuộc Chiến tranh Lạnh tiếp diễn ở châu Á. Nhật Bản nhận thấy mối quan tâm và cam kết an ninh của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương bắt đầu suy giảm trong khi Trung Quốc đang trỗi dậy với những đường hướng không chắc chắn. Bối cảnh này thôi thúc Nhật Bản đảm nhiệm vai trò lớn hơn trong các vấn đề toàn cầu và mở đường cho Nhật Bản đóng góp vào các hoạt động quốc tế vì hòa bình. Tương tự, ở châu Á – Thái Bình Dương, Nhật Bản cũng nhận thấy sự cần thiết của việc mở rộng cam kết chính trị với cơ chế ASEAN, bên cạnh việc duy trì liên minh với Mỹ bằng cách áp dụng cách tiếp cận đa phương về an ninh – một thay đổi đáng kể so với mối quan hệ kinh tế song phương truyền thống của Nhật Bản với các nước trong khu vực. Nhật Bản đã tham gia xây dựng diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) vào năm 1989, nhưng phải đến tháng 7/1991, Ngoại trưởng Taro Nakayama mới đề xuất chính sách chuyển sang các thỏa thuận an ninh đa phương. Mặc dù đề xuất của ông không được chú ý ngay lập tức, nhưng nó đã tạo tiền đề cho cuộc tham vấn tiếp theo giữa các nước có liên quan. Theo đề xuất đó, Nhật Bản đã hỗ trợ phát triển Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) cũng như tham gia tích cực vào việc phát triển diễn đàn ASEAN+3 (APT), bao gồm 10 nước thành viên ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc. Nước này cũng vận động các nước ủng hộ sự phát triển của Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), đồng thời lôi kéo Australia, New Zealand và Ấn Độ vào APT. Nhật Bản muốn thông qua các diễn đàn này xây dựng một thể chế an ninh khu ực nhằm duy trì đối thoại giữa các nhà lãnh đạo chính trị, đảm bảo sự minh bạch về chính sách và thúc đẩy các cam kết có tính chuẩn mực. Trên thực tế, những sáng kiến như vậy hướng tới xây dựng lòng tin ở châu Á – Thái Bình Dương. Nhóm hỗ trợ liên ngành (ISG) đầu tiên của ARF về các biện pháp xây dựng lòng tin (CBM) đã họp tại Tokyo vào năm 1996. Nhật Bản đồng chủ trì cuộc họp với Indonesia và thăm dò khả năng áp dụng các CBM tiên tiến và thiết thực trong các lĩnh vực quân sự, chẳng hạn như lập danh sách vũ khí trong khu vực cũng như thông báo và quan sát các cuộc tập trận. Nhật Bản cũng đồng chủ trì với Singapore cuộc họp ISG về CBM vào năm 1999 – 2000, đưa ra các đề xuất cụ thể nhằm tăng cường các biện pháp ngoại giao phòng ngừa khả thi trong khu vực. Điều này cũng dẫn đến những nỗ lực lên án các vụ thử hạt nhân của Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Triều Tiên tại các diễn đàn này.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện nghiên cứu Nam Á, Quỹ hòa bình Sasakawa, tháng 10/2021

CVĐQT – số 11/2021

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s