Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần V


Ngoài cơ chế dịch chuyển nguồn lực như kênh truyền dẫn thương mại đến tăng trưởng kinh tế và tăng năng suất, còn có các kênh truyền dẫn khả thi khác như phân tán công nghệ tiên tiến hơn từ nước ngoài thông qua hoạt động xuất khẩu và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Mở cửa nền kinh tế làm tăng năng suất ngành chế tạo dường như trái ngược với lập luận của ý tưởng bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ. Có một số bằng chứng cho rằng quá trình học thông qua làm có thể nâng cao năng suất và cho phép những ngành mới trở nên mang tính cạnh tranh hơn. Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp cho thấy không có bằng chứng chứng minh các ngành công nghiệp được bảo hộ tăng trưởng nhanh hơn những ngành khác và thông thường chi phí bảo hộ (như người tiêu dùng phải trả giá cao hơn) vượt quá lợi ích của bảo hộ. Liên quan đến nghiên cứu thực nghiệm về tác động của thương mại quốc tế đến tăng trưởng, công trình nghiên cứu của các tác giả J.A. Frankel và D. Romer, trả lời câu hỏi thương mại có dẫn đến tăng trưởng hay không bằng phương pháp kinh tế lượng sử dụng biến công cụ là đặc tính địa lý của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu. Kết luận cuối cùng của các tác giả là thương mại có tác động lớn về mặt định lượng, tác động dương và có ý nghĩa thống kê đến thu nhập của các quốc gia.

Còn từ mô hình của Thirlwall, ngoài những nghiên cứu thực nghiệm của chính tác giả này, có nhiều công trình nghiên cứu khác cho thấy thương mại có tác động mạnh đến tăng trưởng của nền kinh tế. G. Britto và J.S.L McCombie sử dụng mô hình trong các nghiên cứu của Thirlwall để ứng dụng trong phân tích tăng trưởng cân bằng dài hạn của Brazil. Trong nghiên cứu, các tác giả sử dụng mô hình để xem xét các nhân tố tăng trưởng dài hạn của Brazil giai đoạn 1951 – 2006. Mô hình của các tác giả sử dụng là mô hình mở rộng từ mô hình cơ bản của Thirlwall bao gồm cả dòng vốn.

Tóm lại, có rất nhiều các nghiên cứu sử dụng mô hình tăng trưởng tân cổ điển, tăng trưởng nội sinh để tìm hiểu các yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Nhiều nghiên cứu trong thời gian qua tập trung phân tích tác động của thương mại đến tăng trưởng thông qua tăng vốn và công nghệ sử dụng các mô hình tăng trưởng lý thuyết nêu trên.

d/ Mô hình tăng trưởng bao trùm

Mô hình tăng trưởng kinh tế truyền thống ít chú ý đến chiều cạnh xã hội, đặc biệt là vấn đề nghèo đói và bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội cho dù đó là một nền kinh tế có tăng trưởng nhanh. Nghiên cứu của Banerjee và Duflo sử dụng phương pháp phi tham số để nghiên cứu dữ liệu chéo giữa các quốc gia đã chỉ ra rằng ảnh hưởng của bất bình đẳng đến tăng trưởng có dạng hình chữ U ngược theo nghĩa khi bất bình đẳng thu nhập còn ở mức thấp thì các nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh hơn bằng cách chấp nhận bất bình đẳng cao hơn, tuy nhiên khi bất bình đẳng thu nhập cao, vượt qua một ngưỡng nhất định sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế.

Tăng trưởng bao trùm (inclusive growth) được định nghĩa là mẫu hình tăng trưởng, trong đó mọi người dân đều được tham gia vào quá trình tăng trưởng và hưởng lợi từ quá trình này. Một quốc gia có chỉ số tăng trưởng bao trùm cao là quốc gia đạt được tăng trưởng nhanh, bền vững và không để ai bị bỏ lại ở phía sau. Hay nói cách khác, quốc gia đó không những duy trì được tăng trưởng nhanh mà còn kiềm chế được sự gia tăng bất bình đẳng một cách có hiệu quả. Mô hình tăng trưởng bao trùm chú ý nhiều hơn tới sự bền vững trong dài hạn, trong đó đảm bảo sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội nhằm hướng đến mục tiêu cuối cùng là phát triển con người. Mô hình tăng trưởng bao trùm nhấn mạnh đến cả kết quả lẫn sự tham gia. Mọi người được bình đẳng tham gia đóng góp và chia sẻ lợi ích có được từ tăng trưởng kinh tế. Thay vì chỉ nhằm vào các nhóm dân cư có mức thu nhập thấp hơn (mô hình tăng trưởng vì người nghèo), mô hình tăng trưởng bao trùm hướng tới việc bao quát tất cả các thành viên trong xã hội, bao gồm cả người nghèo, cận nghèo, trung lưu và người giàu; cả nam và nữ; cả các dân tộc thiểu số; cả các cộng đồng tôn giáo khác nhau; cả những người có các nghề nghiệp khác nhau.

Mô hình tăng trưởng bao trùm có một số đặc trưng sau:

+ Tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, đảm bảo cho thu nhập đầu người tăng nhanh và ổn định theo. Tăng trưởng nhanh là cơ sở để tạo thêm nhiều cơ hội kinh tế cho mọi người trong xã hội. Tăng trưởng bao trùm hàm ý một sự tăng trưởng liên tục và ổn định và trên cơ sở đó người dân trong xã hội có điều kiện liên tục cải thiện thu nhập để thoát nghèo và làm giàu.

+ Quá trình tăng trưởng góp phần giảm nghèo, đặc biệt là nghèo tuyệt đối trong nền kinh tế. Tiêu chí giảm nghèo có quan hệ khá chặt với tiêu chí gia tăng việc làm. Tăng trưởng mà tạo thêm nhiều việc làm sẽ góp phần tích cực vào giảm nghèo. Thành công trong giảm nghèo đóng góp rất nhiều vào sự tăng trưởng kinh tế trong dài hạn bởi những người thoát nghèo có thể nâng cao cơ hội phát triển trong tương lai thông qua các hoạt động đầu tư vào giáo dục, tư liệu sản xuất vật chất, điều mà họ không thể hoặc rất khó thực hiện được khi con đang dưới ngưỡng nghèo. Chiến lược giảm nghèo hiệu quả phải bao gồm hai nhánh, thứ nhất là tăng trưởng kinh tế theo hướng giảm nghèo và bao phủ rộng khắp được dựa trên các biện pháp kích thích khu vực tư nhân để tạo thêm các cơ hội việc làm; và thứ hai là đầu tư công vào giáo dục phổ thông, y tế và hạ tầng cơ sở. Hai nhánh này cần được kết hợp với mạng lưới an sinh xã hội để bảo vệ cho những người nghèo và dễ bị tổn thương.

+ Tăng trưởng tạo ra việc làm, đặc biệt là việc làm có năng suất. Tác giả Chang Christian khi thảo luận về tăng trưởng bao trùm cho rằng số đông người nghèo làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nếu tăng trưởng việc làm hay các cơ hội việc làm đến từ nơi họ sinh sống thì sẽ dễ dàng hơn cho họ để họ có thể thoát nghèo và nhận được lợi ích từ tăng trưởng. Tăng trưởng bao gồm cả tăng trưởng đi đôi với giảm nghèo, nhưng không chỉ có vậy, tăng trưởng tạo ra việc làm có năng suất để có thể giúp người dân cải thiện thu nhập và làm giàu. Mô hình tăng trưởng này khuyến khích những ngành thâm dụng lao động có kỹ năng cao và tăng năng suất.

+ Tăng trưởng bao trùm chú ý đến sự phát triển của bản thân người lao động nói riêng và con người nói chung. Phát triển con người như vậy đúng nghĩa là mục tiêu cuối cùng của tăng trưởng bao trùm. Tăng trưởng bao trùm kết hợp tăng trưởng về kinh tế và nâng cao năng lực của người lao động bao gồm cả trình độ, sức khỏe và ý thức của người lao động. Việc chỉ chú tâm vào phía cầu lao động mà không chú ý cải thiện năng lực người lao động để duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững là quan điểm khiếm khuyết. Con đường để nâng cao năng lực cho người lao động chính là từ khả năng cung cấp các dịch vụ giáo dục, chăm sóc sức khỏe tốt cũng như định hướng đúng đắn của xã hội về tầm quan trọng của học vấn, sức khỏe và ý thức làm việc đối với sự phát triển của bản thân mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội. Trong mô hình tăng trưởng bao trùm, giáo dục và y tế được xem là một thang đo quan trọng phản ánh mức độ bình đẳng về cơ hội mà người dân quốc gia đó đang được thụ hưởng. Việc phát triển năng lực không chỉ bao gồm thể lực và trí lực của con người mà còn nâng cao ý thức (đạo đức) và mỹ học (thưởng thức cái đẹp của nghệ thuật). Các yếu tố đức, trí, thể mỹ cần phải hòa quyện và thúc đẩy nhau phát triển để tạo ra một nguồn lao động có chất lượng, một xã hội có con người phát triển toàn diện.

+ Tăng trưởng bao trùm chú ý đến thu hẹp bất bình đẳng trong đó bao hàm cả bình đẳng về chia sẻ kết quả của tăng trưởng lẫn bình đẳng về tiếp cận cơ hội. Dưới cách tiếp cận của mô hình tăng trưởng bao trùm sẽ rất khó có thể duy trì sự tăng trưởng cao và bền vững nếu như để bất bình đẳng gia tăng. Tăng trưởng bao trùm bao gồm việc tạo ra cả cơ hội và khả năng tiếp cận cơ hội bình đẳng với tất cả mọi người và doanh nghiệp trong tiếp cận cơ hội và nguồn lực tăng trưởng. Sự bình đẳng về tiếp cận cơ hội sẽ góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế và giảm bất công trong xã hội. Khi đó, khả năng tồn tại của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân có thể đóng góp cho ngân sách nhà nước tốt hơn và tận dụng nguồn nhân lực hiệu quả hơn.

Song hành với bình đẳng về tiếp cận nguồn lực, việc phân phối kết quả tăng trưởng một cách công bằng giữa các cá nhân và doanh nghiệp cũng có thể đóng góp tích cực trở lại vào quá trình tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế, qua đó đạt được mục tiêu tăng trưởng bao trùm. CAFOD đã kết luận rằng, tăng trưởng bao trùm cần đảm bảo rằng các thực thể trong nền kinh tế, bao gồm các cá nhân và doanh nghiệp được chia sẻ một cách công bằng những lợi ích của tăng trưởng, tăng trưởng bao trùm hàm ý sự tham gia và chia sẻ lợi ích một cách công bằng. Việc phân phối kết quả tăng trưởng chênh lệch quá mức sẽ hình thành nên những nhóm thiểu số có tầm ảnh hưởng quá lớn trong nền kinh tế, và nhóm này có thể quay trở lại tác động tiêu cực lên sự bình đẳng về cơ hội tiếp cận quyền lực, lúc này mức độ bao trùm của tăng trưởng sẽ bị tổn hại.

+ Tăng trưởng bao trùm chú trọng đến an sinh xã hội như một chiều cạnh quan trọng. Đây là khía cạnh cần được đặc biệt nhấn mạnh vì an sinh xã hội giúp những người nghèo cùng cực và nghèo kinh niên có được mức sống tối thiểu, đồng thời cũng giúp nhóm cận nghèo và nhóm trung lưu lớp dưới, những người vốn chỉ có mức thu nhập đủ sống, có được một hàng rào bảo vệ để tránh bị tổn thương. An sinh xã hội tạo điều kiện để các hộ gia đình yên tâm đầu tư cho tương lai, qua đó giúp thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

+ Tăng trưởng bao trùm đảm bảo người dân và doanh nghiệp được tiếp cận nguồn lực tài chính là nguồn lực quan trọng để đầu tư, đảm bảo sinh kế bền vững và khả năng chống chọi với những rủi ro bên ngoài, đảm bảo khả năng hiện thực hóa các cơ hội kinh tế đến với các cá nhân và doanh nghiệp. Sự phát triển lành mạnh của hệ thống tài chính có vai trò then chốt hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư kinh doanh và vì vậy có đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế. Một hệ thống tài chính bao trùm sẽ đảm bảo cho tất cả những người nghèo và nhóm yếu thế có thể tiếp cận các dịch vụ tài chính mà không phải gặp rào cản mang tính phân biệt nào. Điều đó cho phép họ tiết kiệm và vay mượn để tích lũy của cải, đầu tư vào giáo dục và hoạt động kinh doanh, qua đó giúp nâng cao mức sống của họ. Các chương trình tín dụng vi mô rất cần thiết để góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Các chương trình này giúp mở rộng khả năng tiếp cận tài chính cũng như khôi phục khả năng sinh kế đối với các hộ thu nhập thấp, những hộ có chỉ số xếp hạng tín dụng thấp.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s