Biện chứng pháp Nāgārjuna – Phần II


Hơn nữa:

IV. Nếu bạn nghĩ rằng sự giống nhau duy trì đúng sự phủ định của phủ định (pratiședhapratiședha) cũng vậy, đó là sai lầm. Đó là lời đề nghị của bạn mà bằng kết quả đặc tính định rõ của nó thì được giải thích thiếu sót (lakșanato dūsyate), không phải là lời đề nghị của tôi.

Bạn có lẽ nghĩ: “Theo đúng pháp (anenaiva kalpena), sự phủ định của phủ định cũng không thể xảy ra; vậy sự phủ định của bạn về cách phát biểu đang phủ định tự tánh của tất cả các pháp là không thể xảy ra (tatra yad bhavān sarvabhāvasvabhāva-pratiședhavacanam pratiședhayati tad anupapannam iti)”. Theo trường hợp này, chúng ta đáp: sự phủ định này cũng là sai lầm. Tại sao? Bởi kẻ phản biện áp dụng [duy nhất] cho đặc tính định rõ về lời đề nghị của bạn, chứ không phải lời đề nghị của tôi. Đó là do bạn nói rằng tất cả các pháp là không, không phải tôi. Luận đề bắt đầu (pūrvakah pakșah) không phải là luận đề của tôi. Trong những trường hợp này, sự phát biểu của bạn về lời đề nghị đó, vậy là trường hợp (evam sati) sự phủ định của phủ định cũng không thể xảy ra, thì không có giá trị.

Hơn nữa:

V. Bây giờ, nếu [bạn nói rằng] bạn phủ nhận các pháp sau khi đã hiểu chúng xuyên qua sự nhận thức (pratyakșa), [chúng ta đáp:] sự nhận thức xuyên qua các pháp được hiểu thì không hiện hữu (tan nāsti pratyakșam bhāvā yenopalabhyante).

Bạn không thể nói rằng bạn phủ nhận tất cả các pháp bằng cách phát biểu này “Tất cả các pháp là không”, sau khi đã hiểu chúng xuyên qua sự nhận thức. Tại sao? Bởi ngay cả sự nhận thức, công cụ nhận thức đúng (pramāna), là không, được bao gồm trong tất cả các pháp (sarvabhāvān-targatatvāt). Người mà hiểu các pháp này (yo bhāvān upalabhate) cũng là không. Như vậy, không có pháp nào như sự hiểu biết xuyên qua sự nhận thức, công cụ nhận thức đúng (tasmāt pratyakșena pramānena nopalambhabhāvah); và sự phủ định về điều không hiểu nổi thì không có khả năng luận lý (anupalabdhasya ca pratiședhānupapattih). Trong các trường hợp này, sự phát biểu của bạn tất cả các pháp là không thì không có giá trị.

Bạn suy nghĩ, có lẽ (syāt te buddhih), rằng bạn phủ nhận tất cả các pháp (sarvabhāvavyārtanam kriyate) sau khi đã hiểu biết chúng xuyên qua sự suy luận (anumāna), thân chứng (āgama) hoặc so sánh (upamāna).

Theo trường hợp này, chúng ta đáp:

VI. Trong sự bác bẻ của chúng ta về tri giác, chúng ta đã bác bẻ sự suy luận, thân chứng và sự so sánh rồi, cũng như các đối tượng được thiết lập bởi sự suy luận, thân chứng và ví dụ (anumānāgamasādhyā ye ‘rthā drștāntasādhyāś ca).

Chúng ta đã bác bẻ suy luận, sự so sánh và thân chứng rồi, trong sự bác bẻ của chúng ta về “công cụ nhận thức đúng (pramāna)”, tri giác. Chính như tri giác, “công cụ nhận thức đúng”, là không bởi vì tất cả các pháp là không (sarsvabhāvānām śūnyatvāt), vậy cũng là sự suy luận, sự so sánh và thân chứng là không bởi vì tất cả các pháp là không. Những đối tượng đó là được thiết lập bởi sự suy luận, thân chứng và sự so sánh cũng là không, bởi tất cả các pháp là không. Người mà hiểu các pháp xuyên qua sự suy luận, sự so sánh và thân chứng, cũng là không. Như vậy, không có sự hiểu biết về các pháp (tasmād bhāvānām upalambhābhāvah), và sự phủ định về tánh của các pháp mà không hiểu nổi thì không có khả năng luận lý (anupalabhānām ca svabhāvapratiședhānupapattih). Trong những trường hợp này, sự phát biểu của bạn tất cả các pháp là không thì không có giá trị.

Hơn nữa:

VII. Người biết trạng thái của các pháp (dharmāvasthāvido janāh) nghĩ rằng các thiện pháp có tánh thiện (kuśalānām dharmānām manyante kuśulam svabhāvam). Sự phân biệt giống nhau (viniyoga) được thực hiện với số còn lại [của các pháp] cũng vậy (các bất thiện pháp, và vân vân).

Lời bình về kệ này là sự liệt kê dài về 119 thiện pháp (kuśaladharmas) và các pháp (dharmas) khác, mà nó thiên hướng không ưa thích riêng trong luận thuyết về biện chứng pháp. Hoàn toàn là một số thuật ngữ chuyên môn vẫn được dùng, hơn nữa, không chắc chắn. Cf. Text, tr. 167, n. 173, mà nó đề cập đến bài báo của E.H. Johnston “Nāgārjuna “s List of Kuśaladharmas” (Bản liệt kê các thiện pháp của Long Thọ), trong Tạp chí (xuất bản ba tháng một kỳ) Lịch sử Ấn Độ, XIV, tr.314 – 323.

Trong Lời giới thiệu của họ (tr 39-40), những người thu thập và xuất bản quán sát: “Trong khi bản này được chia thành hai phần, 20 bài kệ trình bày những phê bình của kẻ đối lập về quan điểm của ngài Long Thọ và 50 bài kệ đưa ra sự giải đáp của Ngài, những kẻ phản biện không phải thật sự là tất cả đã thực hiện bởi sự phê bình giống nhau này. Những nhà lý luận dharmāvasthāvid về bài kệ 7 rõ ràng là người theo Phật giáo; dẫu khó để xác định được trường phái của họ, những chi tiết ở lời bình này loại trừ khả năng của những người theo Nhất thiếtu hữu bộ, theo họ lý thuyết về các pháp phần nhiều về sự tranh luận ở nơi khác sẽ áp dụng”. Giáo sư Tucci khẳng định cùng quan điểm này (Pre-Dinnāga Buddhist Texts on Logic, tr. Xiii). Với tôi, tôi thiên hướng dùng để nghĩ rằng tác giả của sự phản biện này chính là Naiyāyika, ông sử dụng để phản biện lại Long Thọ, một Phật tử, lập trường của những người theo thuyết duy thật của Phật giáo. Cf infra, tr.68, n 64, ở mục LV.

VIII. Và các pháp ấy dẫn đến sự giải thoát (nairyānika) có tự tánh dẫn đến sự giải thoát (nairyānikasvabhāva). Tương tự với các pháp mà chúng không dẫn đến sự giải thoát, và vân vân (anairyānikādīnām), các pháp đã được đề cập sự liên quan với trạng thái của các pháp (dharmāvasthoktānām).

Lời bình này đưa ra một số pháp và lúc ấy nói, như ở cuối lời bình này trên bài kệ đứng trước: Vậy, vì tự tánh của các pháp đang ở cách này được thấy là những loại (anekaprakāra) khác nhau, sự phát biểu của bạn tất cả các pháp là không có tự tánh và sự hiện hữu không có tự tánh, nên chúng là không (nihsvabhāvāh sarvabhāvā nihsvabhāvatvāc chūnyā iti), thì không có giá trị.

Xa hơn nữa:

IX. Nếu các pháp không có tự tánh, thì ngay cả cái danh “vắng bóng tự tánh” sẽ không hiệu hữu (nihșvabhāva ity evam nāmāpi bhaven naivam); vì không có danh thì không có đối tượng [được đặt tên] (nāma hi nirvastukam nāsti).

Nếu tất cả các pháp là không có tự tánh, hẳn sẽ, tuy nhiên, là sự vắng mặt tự tánh (yadi sarvadharmānā svabhāvo na bhavet tatrāpi nihsvabhāvo bhavet). [Nhưng] lúc ấy, thậm chí cái danh “vắng mặt tự tánh” sẽ không hiện hữu (tatra nihvabhāva ity evam nāmāpi na bhavet). Tại sao? Bởi không có danh thì bất cứ vật gì cũng không có đối tượng [được đặt tên] (nāma hi nirvastukam kincid api nāsti). Như vậy, vì cái danh hiện có (nāmasadbhāvāt), thì có tự tánh của các pháp; và vì chúng có tự tánh, nên tất cả các pháp là không phải không (aśūnya). Sự phát biểu của bạn, vì lẽ đó, tất cả các pháp là không có tự tánh và cách phát biểu ấy là không tánh, nên tất cả các pháp là không, thì không có giá trị.

Hơn nữa:

X. Bây giờ bạn có lẽ nói: Có tự tánh, nhưng tự tánh không thuộc về các pháp (sa ca dharmānām na vidyate). Lúc ấy có tự tánh nhưng không có các pháp (dharmair vinā svabhāvah), và bạn nên giải thích nó thuộc về cái gì (sa yasya tad yuktam upadeștum).

Bây giờ bạn có thể tưởng tượng: cứ cho rằng không có danh thì không có đối tượng; có một tự tánh, nhưng nó không thuộc về các pháp; như vậy, không tánh của các pháp bởi vì là không có tự tánh của chúng sẽ được lập (evam dharmaśūnyatā nihsvabhāatvād dharmānām siddhā bhavișyati), và cái danh sẽ là không có đối tượng [được đặt tên]. Theo trường hợp này, chúng ta đáp: Bạn sẽ giải thích đối tượng ấy, ngoài các pháp ra, bây giờ thuộc về tự tánh ấy như thế (evam yasyedānīm sa svabhāvo dharmavinirmuktasyārthasya sa yuktam upadeștum arthah). Thế nhưng, bạn đã không giải thích trường hợp ấy. Kể từ đó, sự giả định của bạn (kalpanā): “Có tự tánh nhưng không thuộc về các pháp”, thì bị bác bỏ (hīnā).

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: E.H. Johnston & Arnold Kunst – Biện chứng pháp Nāgārjuan – NXB PĐ 2014

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s