Văn hóa tin tức quốc gia và công dân có thông tin – Phần I


Nếu việc được thông tin đầy đủ có nghĩa là có trong tay những thông tin tin cậy về cộng đồng và quốc gia, về thế giới toàn cầu như nó ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, thế giới tự nhiên và thế giới nghệ thuật, thì trước đây người dân Mỹ chưa bao giờ được thông tin đầy đủ và phục vụ chu đáo bởi các phương tiện phát thanh, truyền hình, báo chí và xuất bản đến như vậy.

Tuy nhiên, nếu việc được thông tin đầy đủ có nghĩa là có một thế giới quan đủ vững chắc để sắp đặt trật tự đống thông tin bề bộn chung quanh chúng ta và có đủ mối liên quan cá nhân với mọi người, các ý tưởng và sự việc ngoài thế giới riêng của chúng ta để tiếp nhận và sử dụng thông tin, thì có rất ít lý do để tự mãn. Ý nghĩa thứ hai này gần hơn với cái mà chúng ta muốn đề cập, hay nên đề cập, khi nói đến cụm từ “công dân được thông tin đầy đủ”. Công dân được thông tin đầy đủ được định nghĩa không phải bằng sự quen thuộc của một người tiêu dùng đối với danh mục hiện hành những thông tin sẵn có, mà bằng tập hợp được định hình những mối quan tâm của một công dân mà sử dụng danh mục đó không phải như một nỗ lực ngẫu nhiên. Các phương tiện truyền thông càng ngày càng có khả năng cung cấp tư liệu cho công dân có thông tin nhưng chúng không và không thể tạo ra một công dân được thông tin. Công dân được thông tin xuất hiện trong một xã hội mà trong đó việc được thông tin là một lợi thế và đó chính là một chức năng không phải của đặc tính cá nhân hay chất lượng truyền thông mà của văn hóa chính trị, theo nghĩa rộng.

Những thông tin đưa một cách chính xác, không bị kiểm duyệt, cũng không mang lại sự dân chủ. Đưa tin đầy đủ và chính xác về hồ sơ và vị thế chính sách của các ứng cử viên, ngay cả khi chúng ta có được nó, cũng không giúp cho cử tri được thông tin đầy đủ. Vậy thì tác động của tất cả những thông tin chung quanh chúng ta là gì? Đối với loại người nào chúng có thể tạo ra hay chí ít là tạo điều kiện thuận lợi? Chúng ta là ai, những người có thông tin, những người hàng ngày phải tiêu hóa các vụ bê bối chính trị ở nơi này và một trận động đất ở nơi khác, một làn sóng tội phạm ở quê hương chúng ta và một phong trào du kích ở El Salvado, một lệnh cấm rượu ở bãi biển địa phương và một báo cáo của bộ trưởng y tế cộng đồng về hút thuốc thụ động, một kháng nghị đối với những phát triển địa phương và một báo cáo đáng lo ngại về hiện trạng nợ của thế giới thứ ba? Phải chăng chúng ta bất lực với sự bão hòa truyền thông? Phải chăng chúng ta lú lẫn hay u mê hay ít nhất là tụt hậu do sự tràn ngập thông tin?

Tôi không cho rằng đó là những gì đang diễn ra. Ngày nay, mọi người có thể lú lẫn suốt cả cuộc đời họ như trước kia đã từng như vậy (mặc dù điều này có thể không đúng với những cư dân nghèo nhất ở những khu da đen ở đô thị). Thật vậy, sự lú lẫn của họ có thể có một chút tia sáng hơn với suy nghĩ rằng thế giới này nằm trong sự điều khiển của họ. Những vấn đề căn bản về sinh sản, nạo thai, thỏa mãn tình dục, giảm nhẹ nỗi đau và mối liên hệ từ xa với những người khác hơn bao giờ hết là tất cả những gì nằm ngoài khả năng của con người, kể cả sự kiểm soát cá nhân. Đồng thời, những nhóm người khác nhau trong xã hội cảm thấy họ được trao quyền mới để kiểm soát cuộc sống của mình – nổi bật là người da đen và phụ nữ – và họ tìm thấy sự hỗ trợ rộng lớn về chính trị cho cảm giác được trao quyền đó.

Sự phát triển của truyền thông, sự bùng nổ của thông tin và sự đau đầu nhức óc của công chúng không ngan cản điều đó mà trái lại giúp cho nó trở nên trôi chảy hơn. Các nhà bình luận truyền thông lo lắng và sợ tận thế nhất đã quên mất những điều này và cả những thực tế căn bản khác. Không đặt dấu chân mình một cách vững chắc trên mảnh đất xã hội học, họ nhìn nhận truyền thông ngoài ngữ cảnh xã hội, tự tô điểm mình như những kỹ nghệ độc lập chứ không phải là những tập quán xã hội lỗ chỗ, và họ thường tự hỏi vu vơ rằng phải chăng “nghệ thuật” hay “sự thật” bắt nguồn từ truyền thông.

Thường thì những người chỉ trích tìm thấy nguyên nhân chủ yếu cho sự báo động trong một khuynh hướng hay một diễn biến trong một năm, năm năm hay một thập kỷ qua mặc dù, trong một phạm vi nào đó rộng hơn, môi trường truyền thông của chúng ta không thay đổi. Truyền thông ở Mỹ trong những năm 1990, cũng như trong những năm 1960, được các tập đoàn tư nhân kiểm soát một cách hoàn hảo hơn truyền thông ở bất kỳ nước công nghiệp nào khác trên thế giới. Phạm vi của quan điểm chính trị trong truyền thông đại chúng ở Mỹ nhỏ hơn hầu hết các nước Tây Âu; điều này không chỉ đúng ở thế hệ trước mà còn xuyên suốt phần lớn lịch sử nước Mỹ. Đồng thời, sự tự do điều tra và xuất bản của truyền thông Mỹ được nguồn lực của các định chế hỗ trợ và hiến pháp bảo vệ nhiều hơn ở bất kỳ nước nào khác, cả ngày nay cũng như ba mươi năm về trước.

Bất chấp những tính liên tục căn bản này trong truyền thông ở Mỹ, những thay đổi trong ba mươi năm qua đã làm đổi thay sâu sắc kinh nghiệm của một người bình thường về văn hóa phổ cập và đại chúng và chắc chắn đã nhân rộng vai trò của truyền thông, đặc biệt là các phương tiện thông tin đại chúng. Một bằng chứng cho sự thay đổi đó là bản thân khái niệm “truyền thông” đã trở nên không thể bỏ qua được. Thuật ngữ truyền thông (đặc biệt là các phương tiện thông tin đại chúng) không được sử dụng nhiều trước những năm 1970. Tôi cho rằng nó được đưa vào sử dụng một phần là do thuật ngữ báo chí, dùng để chỉ cả báo in lẫn báo hình, báo tiếng, dường như đã trở nên hạn chế (mặc dù thuật ngữ này vẫn tồn tại trong cách sử dụng như vậy). Thuật ngữ truyền thông bùng nổ nhờ sự bất hòa kéo dài của chính quyền Nixon đối với “các phương tiện thông tin”. Nixon thừa hưởng từ cuộc Chiến tranh Việt Nam và “sự mất tín nhiệm” của Lyndon Johnson. Ông ta và Phó Tổng thống Spiro Agnew  tuyên chiến với các phương tiện thông tin đại chúng, tranh luận công khai và riêng tư rằng các định chế thông tin hàng đầu của đất nước là một nguồn độc lập cho quyền lực chính trị do những người tự do mềm lòng và những người ghét Nixon đến tận xương tủy quản lý. Sự công kích mạnh mẽ này đã giúp tạo ra đối tượng công kích mà báo chí tìm cách mô tả. Nó hiển nhiên đặt cho đối tượng đó một cái tên.

Tương tự như vậy, Việt Nam và Watergate là những sự kiện dẫn đến cái mà Hedrick Smith mô tả như là “sự chấn động chính trị” của năm 1974. Do sự kiện Việt Nam đã phá vỡ sự đồng thuận giữa nhánh hành pháp và Quốc hội về việc tiến hành chính sách đối ngoại, giữa phái diều hâu và bồ câu trong Quốc hội, giữa các bậc phụ huynh và con cái ngay cả trong những gia đình mà bố mẹ là quan chức trong Nội các hay biên tập của tờ New York Times, nên các phương tiện truyền thông đã giật lấy cơ hội để chỉ ra những bất hòa này. Khi các nhà lãnh đạo chính quyền phát ngôn một cách thống nhất thì báo chí cũng vậy, còn khi sự mâu thuẫn trở nên gay gắt ở Thượng viện thì nó làm bùng nổ truyền thông. Nếu truyền thông theo sau chứ không phải là dẫn đến việc chia rẽ sự đồng thuận, thì tức là truyền thông học hỏi từ kinh nghiệm một phong cách báo chí mới. Nhắc đến sự kiện Việt Nam và Watergate, các nhà báo không từ bỏ “tính khách quan” tới mức có thể nhận thức ra bóng đen ảm đạm của báo cáo khách quan mà họ đã trung thành với nó trong cả một thế hệ. Báo chí tìm cách, đôi khi lúng túng, đôi khi vô trách nhiệm, đôi khi dũng cảm và thông minh, để tạo ra sự độc lập mà nó hằng đòi hỏi từ lâu. Điều này cũng giúp tạo ra “truyền thông” như là một thể chế khác biệt.

Cảm giác bất an hiện nay về sự bùng nổ rộng khắp của truyền thông và quá tải thông tin bắt nguồn một phần từ sự xuất hiện mạnh mẽ, hữu hình này của truyền thông với tư cách à một thể chế. Nó cũng xuất phát từ việc gia tăng quốc gia hóa các phương tiện thông tin đại chúng và việc đồng nhất bản thân đất nước như là một “cộng đồng tưởng tượng”, theo cách gọi của Benedict Anderson, với tin tức quốc gia. Nó cũng xuất phát từ những chuyển biến khác trong đặc tính của thông tin được truyền thông đại chúng hóa – xóa mờ ranh giới giữa tin tức và giải trí, sự kết hợp giữa công và tư và sự chính trị hóa của những vấn đề mà trước đây chỉ mang tính cá nhân, và việc nâng  cao hiệu quả của các tổ chức “hướng” những thông điệp đến độc giả chuyên biệt. Tất cả những điều này làm cho người dân Mỹ trở thành họ hàng với nhau về mặt thông tin, ngay cả khi chúng ta không phải là một gia đình gắn bó. Đó chính là những đặc điểm của sự chuyển biến văn hóa mà tôi muốn trao đổi trong những phần tiếp theo.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s