Ảnh hưởng khu vực và hạn chế trong chính sách của Mỹ đối với Biển Đông – Phần I


Vấn đề Nam Hải (Biển Đông) là điểm tựa quan trọng để Mỹ kiểm soát các vấn đề an ninh ở châu Á – Thái Bình Dương. Song song với việc tiếp tục chính sách Nam Hải của Chính quyền Trump, Chính quyền Biden càng coi trọng hơn nữa việc dựa vào các đồng minh và đối tác để cùng gây sức ép với Trung Quốc, khiến vấn đề Nam Hải trở thành yếu tố quan trọng tiếp tục gây trở ngại cho Trung Quốc. Để bảo vệ lợi ích biển của nước mình và lợi ích chung của các nước trong khu vực, Trung Quốc cần hết sức chú ý đến việc Mỹ can dự vào vấn đề Nam Hải, vạch trần các âm mưu địa chính trị của Mỹ và đoàn kết các nước trong khu vực lại để cùng duy trì hòa bình và ổn định ở Nam Hải.

Chính sách Biển Đông của Chính quyền Biden vẫn mang xu hướng cứng rắn với Trung Quốc

Kể từ khi Chính quyền Obama đề ra Chiến lược tái cân bằng châu Á – Thái Bình Dương đến nay, vấn đề Nam Hải đã trở thành một trong những điểm tựa chính để Mỹ tập hợp các đồng minh và đối tác nhằm kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Trong thời kỳ Trump, Mỹ không ngừng kiềm chế và gây sức ép đối với Trung Quốc, và chính sách Nam Hải của Mỹ cũng trở nên gay gắt hơn. Chính sách Nam Hải của Chính quyền Biden tiếp tục quan điểm của chính quyền tiền nhiệm, 13/17 thành viên chủ chốt của đội ngũ xây dựng chính sách của chính quyền này từng làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến quân đội, các thành viên cốt cán như Avril Haines, Jake Sullivan, Salman Ahmed và Michele Flournoy đều từng làm việc cho Chính quyền Obama. Trong số 13 người này, Kurt Campbell là người tích cực thúc đẩy nhất “hành đ6ọng tự do hàng hải” ở Nam Hải, Sullivan là người tích cực vận động các đồng minh lợi dụng vấn đề Nam Hải để cùng gây sức ép đối với Trung Quốc, Ely Ratner là người ủng hộ chính sách can thiệp mạnh mẽ vào các vấn đề Nam Hải, nhấn mạnh lựa chọn chiến lược dựa vào hệ thống đồng minh để định hình lại Trung Quốc. Trong bối cảnh đội ngũ cầm quyền đầy thành kiến với Trung Quốc và tin chắc rằng tình hình an ninh căng thẳng ở Nam Hải có lợi cho việc thực hiện các mục tiêu chiến lược của Mỹ, sự can dự của Chính quyền Biden vào vấn đề Nam Hải tiếp tục được tăng cường.

Đề cao ngăn chặn và răn đe quân sự

Tăng cường cấu trúc an ninh Tây Thái Bình Dương do Mỹ lãnh đạo và ngăn Trung Quốc trở thành bá chủ ở khu vực Đông Á là những mục tiêu cơ bản trong chính sách Nam Hải của Chính quyền Biden. Lợi thế chiến lược lớn nhất của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương là sự hiện diện quân sự của họ, và Nam Hải là khu vực chính để quân đội Mỹ thể hiện sức mạnh. Chưa đầy một tháng sau khi Biden lên nắm quyền, hoạt động tập trận với sự tham gia của hai tàu sân bay của quân đội Mỹ ở Nam được triển khai trở lại, các nhóm máy bay tác chiến trên tàu sân bay USS Theodore Roosevelt và USS Nimitz của Hải quân Mỹ đã tiến hành các cuộc tập trận quân sự ở Nam Hải. Ngoài ra, tàu sân bay USS Carl Vinson, tàu khu trục USS Kidd (DDG-100), tàu tác chiến ven bờ USS Tulsa và tàu chiến đấu ven biển USS Charleston cũng đã nhiều lần tiến hành các cuộc tập quân sự đơn phương ở Nam Hải. Ba tháng sau khi Biden lên nắm quyền, tần suất các tàu chiến Mỹ hoạt động trong vùng biển tiếp giáp Trung Quốc tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm 2020, tần suất hoạt động của máy bay do thám tăng hơn 40%. Trong khoảng thời gian 6 tháng, quân đội Mỹ đã tiến hành trinh sát tầm gần đối với Trung Quốc gần 2000 lần, các tàu hải giám đã theo dõi Trung Quốc tới 161 ngày, gần như ngày nào cũng có một tàu hải giám của Mỹ hiện diện ở khu vực Nam Hải. Ngoài việc liên tục hiện diện quân sự, Mỹ còn lôi kéo các đồng minh “phô trương sức mạnh” ở Nam Hải. Tháng 8/2021, quân đội Mỹ cùng với hải quân Nhật Bản, Anh và Australia đã tổ chức Cuộc tập trận toàn cầu quy mô lớn (LSGE21) kéo dài 25 ngày ở Nam Hải để kiểm tra khái niệm tác chiến toàn khu vực và khả năng phối hợp tác chiến của máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5. Tháng 10/2021, 2 tầu sân bay của Mỹ, 1 tàu sân bay của Anh và 14 tàu chiến của Nhật Bản, Hà Lan, Canada và New Zealand đã tổ chức các cuộc tập trận quân sự ở Nam Hải và vùng phụ cận. Ngoài các cuộc tập trận quân sự quy mô lớn với tần suất dày đặc, tính đến tháng 9/2021, quân đội Mỹ đã tiến hành 5 đợt “hoạt động tự do hàng hải” trên Nam Hải. Mặc dù các cuộc tập trận của quân đội Mỹ ở Nam Hải vẫn chuẩn bị đầy đủ các kỹ năng thực chiến, nhưng trọng tâm chiến lược quân sự đối với Trung Quốc vẫn là răn đe, với mục đích là ngăn cản Trung Quốc sử dụng vũ lực trong các tranh chấp khu vực. Để răn đe Trung Quốc, máy bay ném bom B-52 của Mỹ đã quay trở lại căn cứ Guam. Đạo luật Ủy quyền quốc phòng năm 2021 của Mỹ lần đầu tiên đưa ra “Sáng kiến răn đe Thái Bình Dương”, với kế hoạch đầu tư 6,9 tỷ USD trong các năm tài chính 2021 và 2022 để nâng cao năng lực tác chiến liên hợp của quân đội, tối ưu hóa cơ cấu lực lượng, củng c1ô quan hệ với các đồng minh và đối tác quân sự, đồng thời cải thiện khả năng tương tác và chia sẻ thông tin. Mỹ đang lên kế hoạch xây dựng lại Hạm đội 1, tập trung vào khu vực Nam Hải và Đông Ấn Độ Dương, Lầu Năm Góc thậm chí còn đề xuất thành lập một “lực lượng đặc nhiệm hải quân” ở khu vực Thái Bình Dương nhắm trực tiếp vào Trung Quốc như cách làm thời Chiến tranh Lạnh. Tháng 9/2021, các nhà lãnh đạo của ba nước Mỹ, Anh và Australia đã ra một tuyên bố chung thông báo về việc thiết lập Quan hệ đối tác an ninh ba bên (AUKUS), một trong những nội dung quan trọng của quan hệ đối tác này chính là Mỹ và Anh sẽ giúp Australia phát triển các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân.

Tập hợp một “liên minh cùng chí hướng” để can thiệp vào vấn đề Biển Đông

Một trong những đặc điểm lớn nhất trong chính sách đối ngoại của Chính quyền Biden là coi trọng việc khôi phục quan hệ với các đồng minh và đối tác, dựa vào sức mạnh của các đồng minh và đối tác để thúc đẩy chương trình ngoại giao đối với Trung Quốc. Đặc điểm của chính sách này được thể hiện rõ trong vấn đề Nam Hải.

Nhật Bản, Australia, Ấn Độ, Anh, Pháp và Đức là các đối tượng chính để Chính quyền Biden xây dựng một hệ thống liên minh chính sách các nước ngàoi khu vực Nam Hải. Dựa vào Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, chính sách Nam Hải của Biden đã đưa sách lược của Mỹ đối với Trung Quốc vào khuôn khổ “chủ nghĩa đa phương”, dẫn dắt các nước lớn ngoài khu vực can thiệp sâu vào các vấn đề an ninh của Nam Hải. Để xâydựng hệ thống chính sách này, sau khi lên nắm quyền, Biden luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một mặt trận thống nhất chống Trung Quốc với các đồng minh và đối tác. Biden và các thành viên quan trọng trong êkíp của ông không chỉ nhiều lần nhắc lại cam kết với Nhật Bản rằng quần đảo Điếu Ngư có thể nằm trong khuôn khổ của Hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật, mà còn ra mặt bênh vực Australia, bôi nhọ cuộc chiến kinh tế mà Trung Quốc phát động nhằm vào Australia. Trong chuyến thăm đến Ấn Độ, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin gọi Trung Quốc là “mối đe dọa cấp bách”, nhấn mạnh rằng mục tiêu của Mỹ là “đảm bảo rằng Mỹ có khả năng và kế hoạch tác chiến để có thể thực hiện các biện pháp răn đe đối với Trung Quốc hoặc bất kỳ quốc gia nào muốn đối đầu với Mỹ”. Song song với việc lợi dụng cơ chế Bộ tứ để lôi kéo Nhật Bản, Ấn Độ và Australia can thiệp vào vấn đề Nam Hải, Chính quyền Biden còn sư dụng Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và ý thức hệ để lôi kéo các nước châu Âu như Anh, Pháp và Đức can thiệp vào các công việc ở Nam Hải, xúi giục các nước châu Âu cùng với Mỹ thành lập một mặt trận thống nhất, chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh chiến lược lâu dài với Trung Quốc. Dưới sự dẫn dắt của Mỹ, Nhật Bản và Australia đã trở thành những “tay sai đắc lực” giúp Mỹ khuấy đảo Nam Hải, trong khi tàu chiến của các nước như Anh, Pháp và Đức cũng đã tiến vào Nam Hải để phô trương sức mạnh.

Các nước ASEAN có tuyên bố chủ quyền ở Nam Hải là các đối tượng lôi kéo chính của Chính quyền Biden. Sử dụng thủ đoạn “chia để trị”, lôi kéo các nước ASEAN xung quanh Nam Hải như Philippines, Việt Nam, Malaysia và Indonesia đối đầu với Trung Quốc là trọng tâm chính sách của Mỹ. Kể từ khi Biden lên nắm quyền, trong các sự kiện như Trung Quốc hiện diện quân sự ở đá Ba Đầu, kỷ niệm 5 năm Tòa trọng tài ra phán quyết về Biển Đông và việc Trung Quốc ban hành Luật hải cảnh, Mỹ nhiều lần bày tỏ với Philippines rằng Mỹ bác bỏ các yêu sách về Nam Hải của Trung Quốc, ủng hộ phán quyết về Biển Đông của Tòa trọng tài và nhấn mạnh cam kết của Mỹ về an ninh hàng hải của Philippines. Ngoài ra, Mỹ và Philippines đã khôi phục Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng. Việt Nam là đối tượng hợp tác mới mà chính sách của Mỹ đối với Nam Hải đang nhắm tới. Giai đoạn 2011 – 2021, Mỹ đã đầu tư hơn 450 triệu USD để hỗ trợ quốc phòng và an ninh cho Việt Nam. Để tăng cường quan hệ với Việt Nam, các quan chức cấp cao của Mỹ như Thứ trưởng Ngoại giao Wendy Sherman, Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin và Phó Tổng thống Kamala Harris lần lượt đến thăm Việt Nam và bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác an ninh Việt – Mỹ. Để tăng cường quan hệ với các nước như Indonesia và Malaysia, Ngoại trưởng Mỹ Tony Blinken tuyên bố rằng M4y tự hào là đối tác quốc phòng lớn nhất của Indonesia và sẽ ủng hộ Indonesia đối đầu với Trung Quốc ở khu vực Nam Hải bao gồm vùng biển ngoài khơi quần đảo Natuna; Mỹ sẽ cung cấp cho Malaysia khoản viện trợ an ninh trị giá 220 triệu USD để hỗ trợ Malaysia phát triển các nguồn tài nguyên biển mà không gặp bất kỳ mối đe dọa nào. 

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu các vấn đề quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 24, 25, 26/06/2022

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s